Tuyến Hỏa Xa Ngầm

Lượt đọc: 84 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
INDIANA
thưởng 50 đô la

Đứa con gái da đen tên là SUKEY đã bỏ đi khỏi nhà tôi vào khoảng 10 giờ tối ngày thứ Sáu (mà không vì bất cứ nguyên do nào). Nó khoảng 28 tuổi, có nước da sáng, gò má cao, dáng người mảnh khảnh và thon gọn. Khi đi nó mặc một chiếc váy may vải chéo kẻ sọc. Gần đây Sukey thuộc sở hữu của L.B.Pearce, Esq. còn trước kia thuộc về ông William M.Heritage, đã qua đời. Hiện tại nó là thành viên chính thức của Hội Giám lý ở địa phương, và chắc chắn hầu hết các thành viên của nhà thờ đều biết nó.

JAMES AYKROYD

Ngày 4 tháng Mười

Bây giờ cô trở thành một học trò tụt hậu, bị những đứa trẻ thiếu kiên nhẫn vây quanh. Cora tự hào vì mình có tiến bộ khi học đọc ở Nam Carolina và trên phòng áp mái. Tự hào về nền tảng sơ sài với mỗi từ mới, mỗi lĩnh vực mới mà cô có - để đánh vật với từng chữ từng chữ. Cô quả quyết mỗi vòng đọc từ đầu đến cuối cuốn niên lịch của ông Donald là một chiến thắng, sau đó cô quay lại trang đầu để tiếp tục một vòng khác.

Lớp học của Georgina cho thấy thành tích học tập của cô chẳng nhiều nhặn gì. Hôm nhập lớp ở nhà sinh hoạt chung, cô không nhận ra lời trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Cách phát âm của lũ trẻ trong lớp nhanh và trôi chảy, khác xa với cách đọc cứng nhắc của Michael ở đồn điền Randall. Bây giờ âm nhạc sống trong các từ ngữ, và giai điệu tự vang lên khi mỗi đứa trẻ bạo dạn và tự tin đọc khi tới lượt nó. Những cô bé, cậu bé đứng dậy khỏi ghế, lật trang giấy mà chúng đã chép các từ vào rồi hát lên lời hứa của Những người khai quốc.

Thêm Cora, lớp học có tất cả hai mươi lăm học sinh. Những đứa nhỏ nhất - chỉ sáu, bảy tuổi - được miễn đọc. Chúng thì thầm, gây ồn cho đến khi Georgina ra hiệu cho chúng im lặng. Là người mới nhập lớp, và là người mới đến trang trại còn bỡ ngỡ với nếp sống ở đây, Cora không tham gia phần đọc đó. Nhiều tuổi hơn, và tụt hậu so với tất cả các học sinh khác, cô cảm thấy mình gây chú ý. Cora hiểu tại sao ở lớp học của cô Handler ông già Howard lại khóc. Một người xâm phạm quyền lợi của người khác, giống như một con chuột gặm nhấm trong tường.

Người cấp dưỡng rung chuông, báo giờ học đã kết thúc. Sau bữa ăn, các học sinh nhỏ tuổi hơn sẽ trở lại với bài học trong khi các học sinh lớn hơn sẽ làm việc. Trên đường ra khỏi nhà sinh hoạt chung, Cora chặn cô Georgina lại và nói: “Cô đã dạy những đứa nhóc da đen cách đọc đúng, chắc chắn như vậy”.

Cô giáo nhìn quanh để bảo đảm rằng lũ học trò của cô không nghe thấy những gì Cora vừa nói. Rồi cô nói: “Ở đây chúng tôi gọi chúng là trẻ em”.

Má Cora nóng bừng. Cô vội nói thêm rằng cô không thể hiểu điều đó có nghĩa là gì. Bọn trẻ hiểu những từ to tát đó có nghĩa là gì chăng?

Georgina đến từ Delaware và có cái kiểu thích gây khó dễ của các quý cô Delaware, khoái chơi đố chữ. Cora đã gặp vài người như vậy ở trang trại Velentine và không để ý đến bản tính đặc trưng cho vùng miền này, dù họ biết cách làm một chiếc bánh nướng ngon. Georgina nói rằng trẻ em hiểu những gì chúng có thể hiểu. Những gì hôm nay chúng không hiểu, ngày mai chúng sẽ hiểu. “Tuyên Ngôn Độc Lập giống như một tấm bản đồ. Bạn tin rằng nó đúng, nhưng chỉ khi cất bước đi và trực tiếp trải nghiệm bạn mới biết những gì trên tấm bản đồ đó”.

“Cô tin nó ư?” Cora hỏi. Qua vẻ mặt của cô giáo, Cora không biết cô nghĩ gì.

Bốn tháng trôi qua kể từ buổi đầu tiên cô đến lớp học. Mùa thu hoạch đã kết thúc. Những người đến sau khiến Cora không còn là người mới đầy bỡ ngỡ. Hai người đàn ông tầm tuổi Cora, là những nô lệ bỏ trốn đầy háo hức và dốt nát hơn cả cô, đã gia nhập lớp học ở nhà sinh hoạt chung. Họ lướt ngón tay trên sách như thể chúng đã được phù phép, có phép màu. Cora biết cách xoay xở. Biết chuẩn bị bữa ăn cho bản thân bởi vì người cấp dưỡng làm hỏng món xúp, biết mang theo khăn choàng bởi đêm ở Indiana khiến người ta lạnh run, lạnh hơn cô từng biết. Cô biết những chỗ yên tĩnh để ở một mình.

Giờ đây Cora ngồi bàn đầu trong lớp học, và khi Georgina sửa sai cho cô - khi viết chữ, làm tính hoặc nói - cô không còn cảm thấy khổ sở nữa. Họ trở thành bạn. Georgina thích tán chuyện tầm phào đến nỗi các bài học thường bị trì hoãn vì những tin tức không lúc nào cạn về chuyện xảy ra ở trang trại. Người đàn ông lực lưỡng từ Virginia đến có vẻ ranh mãnh, các bạn có nghĩ như vậy không? Chúng ta quay đi một lát là Patricia ăn hết móng giò rồi. Một điều khác nữa là phụ nữ Delaware thích nói huyên thuyên.

Trưa nay khi chuông reo Cora ra ngoài cùng với Molly. Cô ở chung lều với mẹ con cô bé. Molly mười tuổi, mắt tròn xoe, nhút nhát, không dễ bộc lộ tình cảm. Cô bé có nhiều bạn nhưng thích đứng ngoài lề hơn. Cô bé có một cái lọ màu xanh lục trong phòng để đựng những đồ vật quý của cô - những hòn bi, đầu mũi tên, một hình trái tim - và thích bày những thứ đó ra sàn, dùng má cảm nhận thạch anh mát lạnh hơn là chơi ở bên ngoài.

Đó là lý do tại sao lịch sinh hoạt muộn của họ lại khiến Cora vui thích. Cora bắt đầu tết tóc cho cô bé vào buổi sáng khi mẹ cô bé rời lều đi làm sớm, và vài ngày gần đây, khi tan học, Molly đã chìa tay về phía cô. Một điều mới mẻ giữa họ. Molly kéo cô đi cùng, siết chặt tay cô, còn Cora thì thích được dẫn đi như thế. Sau Chester cô chưa được bất cứ đứa trẻ nào lựa chọn.

Không có bữa ăn trưa vì hôm đó có bữa tối thứ Bảy cải thiện, mùi của thức ăn thúc giục các học sinh tìm tới những hố nướng thịt. Cánh đàn ông phụ trách việc nấu nướng đã mổ lợn và chế biến thịt từ nửa đêm, khiến mùi thơm hấp dẫn tỏa khắp trang trại. Đâu chỉ một người từng nằm mơ được ăn no nê cả một bữa tuyệt ngon rồi thức dậy trong niềm thất vọng. Mấy tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ ăn. Cora và Molly nhập hội với những người chực chờ bữa ăn ngon trong cơn đói.

Những chiếc gậy dài xiên qua hai con lợn được nướng trên những cục than gỗ rừng tỏa khói. Jimmy là một chuyên gia làm đồ nướng. Mẹ của ông lớn lên ở Jamaica và đã để lại cho ông bí quyết dùng lửa của người Maroon. Jimmy dùng ngón tay chọc thịt nướng, rồi cời than, đi quanh đống lửa như thể đang tính toán để vật đối thủ. Ông là một trong những cư dân lớn tuổi ở trang trại, từ Bắc Carolina tới cách đây chưa lâu lắm sau những cuộc tàn sát, và muốn món thịt nướng mình chế biến phải thật mềm. Ông chỉ còn hai cái răng.

Một người học việc của ông lắc lắc lọ giấm và hạt tiêu. Anh ta ra hiệu cho một cô bé đứng bên đống lửa rồi hướng dẫn cô bé phết thứ gia vị hỗn hợp đó vào mặt trong của con lợn nướng. Mỡ chảy nhỏ giọt xuống những cục than trong rãnh. Những cuộn khói trắng khiến đám đông lùi lại phía sau và khiến cô bé kêu ré lên. Đó sẽ là một bữa ăn ngon.

Cora và Molly hẹn nhau về nhà làm một việc chung. Họ không phải đi bộ mấy. Giống như hầu hết các khu nhà ở dành cho người lao động ở trang trại, những căn lều gỗ cũ hơn nằm co cụm tại rìa phía đông, được dựng vội vàng trước khi người ta kịp biết cộng đồng dân cư ấy sẽ trở nên đông đúc nhường nào. Dân tứ xứ, từ các đồn điền, thích kiểu nhà này kiểu nhà kia, vậy nên lều lán được dựng theo nhiều kiểu khác nhau. Những người mới đến -bổ sung kịp thời cho nhu cầu thu hoạch ngô - dựng lều quy củ hơn, với những gian phòng rộng hơn, và được phân chia tài sản chặt chẽ hơn.

Từ khi Harriet lấy chồng rồi chuyển đi, trong lều đó chỉ còn Cora, Molly, và Sybil, họ ngủ trong hai phòng ở gian chính. Thường thì mỗi căn lều gồm ba gia đình sinh sống. Thi thoảng những người mới đến và khách ở chung phòng với Cora, nhưng trong hầu hết thời gian, hai chiếc giường khác đều bị bỏ trống.

Phòng riêng của cô. Món quà ngoài mong đợi từ trang trại Valentine sau tất cả những nhà tù mà cô đã trải qua.

Sybil và con gái chị tự hào về ngôi nhà của họ. Họ dùng vôi sống quét mặt tường bên ngoài rồi phủ một lớp thuốc nhuộm màu hồng lên. Màu sơn vàng nhạt điểm những vạch trắng khiến cho phòng sinh hoạt trở nên sinh động dưới ánh mặt trời. Nhờ được trang trí hình những bông hoa dại vào mùa nắng ấm, căn phòng sang thu vẫn giữ được vẻ dễ chịu với những vòng lá màu đỏ và vàng ruộm. Những bức rèm màu mận chín xếp nếp phía trong các ô cửa sổ. Hai người thợ mộc sống trong trang trại thi thoảng lại kéo đồ nội thất đến - họ phải lòng Sybil và cố ý làm đôi tay bận rộn để không phải suy nghĩ đến thái độ hững hờ của chị. Sybil đã đem nhuộm mấy cái vỏ bao tải làm thành một tấm thảm mà Cora thường nằm lên khi bị đau đầu. Tiền phòng đón gió mát nên những cơn đau dịu đi.

Khi họ về tới cổng, Molly cất tiếng gọi mẹ. Mùi rễ thổ phục linh đang được sắc làm thuốc bổ cho Sybil át cả mùi thơm của thịt nướng. Cora đi thẳng đến chỗ chiếc ghế chao mà ngay ngày đầu tiên cô đã nhận là của mình. Molly và Sybil không thấy phiền. Chiếc ghế kêu ghê lắm, và là công trình của một người đàn ông không mấy khéo tay trước kia từng theo đuổi Sybil. Sybil cho rằng anh ta cố tình làm chiếc ghế kêu to như vậy để nhắc chị nhớ anh ta đã chu đáo nhường nào.

Sybil xuất hiện từ sau nhà, lau tay vào tạp dề. “Jimmy đang làm việc chăm chỉ ở ngoài đó”, chị nói, lắc đầu trong cơn đói.

“Con không đợi nữa đâu”, Molly nói. Cô bé mở ngăn tủ bằng gỗ thông bên lò sưởi và lôi chiếc chăn của họ ra. Cô nhất quyết làm xong công trình mới nhất của mình trước bữa tối.

Họ bắt đầu việc đó. Từ ngày Mabel ra đi, ngoài việc khâu vá đơn giản, Cora không buồn cầm kim. Mấy người đàn bà ở Hob cố dạy cô nhưng vô ích. Ở lớp học, Cora thường phải nhìn các bạn để học thêu thùa. Cô cắt bỏ hình con chim, một chú sẻ lông đỏ mà cô đã thêu, nó trông cứ như bị chó gặm. Sybil và Molly vẫn khích lệ cô - họ mè nheo bắt cô tham gia vào thú vui thêu thùa của họ - nhưng chiếc chăn bị chắp vá. Cô khăng khăng rằng lũ rệp đã tìm đến chiếc chăn. Những đường khâu dúm dó, các góc chăn bị bung ra. Chiếc chăn đó tiết lộ dòng suy nghĩ quanh co nơi cô: Thử đưa ra một ý kiến và xem mọi người có chấp nhận nó hay không, giống như quốc kì của cái đất nước ngông cuồng của cô. Cô muốn dẹp việc đó, nhưng Sybil không cho. “Xong việc này đã rồi hãy sang việc khác”, Sybil nói. “Việc này đã xong đâu”.

Cora không cần lời khuyên về tính kiên trì. Nhưng cô cầm chiếc chăn lên để trong lòng và nhặt sạch xơ vải ở chỗ cô thêu dở.

Sybil hơn cô chừng một giáp. Những chiếc váy của chị khiến chị trông mảnh khảnh, nhưng Cora biết rằng chính thời gian thoát khỏi cuộc sống ở đồn điền đã tác động lên người phụ nữ này theo cách tuyệt vời nhất: cuộc sống mới đòi hỏi một dạng sức mạnh khác. Chị tỉ mỉ trong dáng điệu, thẳng tưng như một cái giáo biết đi, quả là một trong những người đã bị buộc phải khuất phục và sẽ không chịu khuất phục thêm nữa. Sybil kể với Cora rằng chủ của chị tàn ác kinh hoàng, một chủ đồn điền thuốc lá hằng năm luôn ganh đua với các chủ đồn điền lân cận hòng trở thành người có vụ mùa đạt năng suất cao nhất. Kết quả không như ý kích động lão trở nên ác độc. “Lão bắt chúng tôi lao động cật lực”, chị nói, tâm trí chị bất thình lình quay lại với nỗi bất hạnh trước kia. Những lúc như vậy, dù đang ở đâu Molly cũng đến bên chị, sà vào lòng chị.

Ba người bọn họ lặng im làm việc cùng một lúc. Mỗi lần người ta lật những con lợn đang nướng, tiếng reo từ chỗ nướng thịt lại vọng tới chỗ họ. Đầu óc Cora để ở tận đẩu tận đâu nên cô không tránh khỏi mắc lỗi thêu thùa. Tình mẫu tử không lời giữa Sybil và Molly luôn khiến cô cảm động. Đứa bé giúp mẹ mà không cần nói, và người mẹ chỉ tay, gật đầu, hướng dẫn bằng động tác để cô con gái bớt lúng túng. Cora không quen với một căn lều yên tĩnh - ở Randall luôn có tiếng gào thét, khóc lóc, hoặc tiếng thở dài phá vỡ một khoảnh khắc - và tất nhiên cô không quen với tình mẫu tử như thế này.

Sybil mang theo Molly bỏ trốn khi con gái chị mới hai tuổi, chị vất vả tha lôi con suốt cả hành trình. Vì tin đồn rò rỉ từ nhà lớn rằng ông chủ của họ muốn bán một số tài sản để trang trải nợ nần sau vụ mùa thất bát. Sybil đứng trước nguy cơ bị đem bán công khai. Chị bỏ trốn ngay đêm hôm đó - đêm trăng tròn mang may mắn cho chị, dẫn lối để chị băng rừng. “Molly không hề gây ra tiếng động nào”, Sybil nói. “Nó biết chúng tôi định làm gì”. Vượt ba dặm đường qua biên giới Pennsylvania, họ đánh liều ghé vào một căn nhà của người da màu. Người đàn ông ở đó đã cho họ ăn uống, đẽo đồ chơi cho cô bé, và qua những người làm trung gian, ông liên hệ được với tuyến hỏa xa ngầm. Sau một thời gian ở Worcester làm việc cho một người chuyên làm mũ, Sybil và Molly lên đường tới Indiana. Tiếng tăm về trang trại đã lan khắp nhiều nơi.

Rất nhiều nô lệ bỏ trốn tìm đến trang trại Valentine - khó lòng mà biết được ai từng ghé qua nơi đó. Một buổi tối Cora hỏi Sybil, liệu chị có tình cờ quen một phụ nữ nào đến từ Georgia không? Khi đó Cora đã sống với họ được vài tuần. Một, hai lần ngủ được trọn giấc đêm, để rồi lại bị gánh nặng mà cô trút bỏ trong phòng áp mái đè nặng. Lũ ve sầu ngừng kêu bỏ lại một khoảng lặng trong đêm cho một câu hỏi. Một phụ nữ đến từ Georgia, có thể mang tên Mabel, có thể không?

Sybil lắc đầu.

Tất nhiên chị không biết. Một phụ nữ bỏ rơi đứa con gái ruột đã trở thành một người khác để che giấu nỗi hổ thẹn. Nhưng Cora cũng hỏi tất cả mọi người ở trang trại, mà trang trại này chính là một trạm trung chuyển, một nhà ga, thu hút dân tứ xứ. Cô đã hỏi những người từng ở Valentine nhiều năm, cô đã hỏi tất cả những người mới đến, làm phiền cả người ghé thăm trang trại. Những người đàn ông và phụ nữ da màu tự do, các nô lệ bỏ trốn đã ở lại trang trại, và cả những người sẽ đi đến nơi khác. Cô đã hỏi họ trên cánh đồng ngô giữa một bài ca lao động, trong tiếng ồn sau xe ngựa trên đường đến thành phố: đôi mắt xám, vết sẹo trên mu bàn tay phải do bị bỏng, một phụ nữ tên là Mabel, liệu họ có biết một người nào như vậy không?

“Có lẽ bà ấy đang ở Canada”, Lindsey trả lời khi Cora quyết định hỏi bà. Lindsey là một phụ nữ mảnh khảnh, nhanh nhẹn mới từ Tennessee tới, người có tiếng reo hoang dại mà Cora không hiểu nổi. Từ những gì cô đã thấy, Tennessee là hỏa hoạn, bệnh dịch và bạo lực. Dù đó chính là nơi Royal và các bạn của anh đã giải cứu cô. “Nhiều người bây giờ thích Canada”, Megan nói. “Mặc dù lạnh khủng khiếp”.

Những đêm lạnh dành cho những con người lạnh lùng.

Cora gấp tấm chăn lại rồi lui về phòng. Cô nằm cuộn tròn, chìm trong những ý nghĩ về các bà mẹ và con gái. Cô lo lắng cho Royal, anh trễ hẹn đã ba ngày rồi. Cơn đau đầu ập đến như đám mây báo hiệu mưa giông. Cô quay mặt vào vách, nằm im không nhúc nhích.

Bữa tối được tổ chức ở bên ngoài nhà sinh hoạt chung, căn nhà lớn nhất trong trang trại. Huyền thoại kể rằng căn nhà đó được xây dựng chỉ trong đúng một ngày trước khi buổi hội họp đầu tiên ở trang trại được tổ chức, khi họ hiểu rằng một cuộc hội họp diễn ra trong nhà ở của Valentine là không còn phù hợp. Vào hầu hết các ngày trong tuần, nơi đó được trưng dụng làm trường học. Vào Chủ nhật nó là nhà thờ. Vào các tối thứ Bảy trang trại có bữa ăn tập thể và một số hoạt động giải trí. Cánh thợ nề xây dựng trụ sở tòa án ở phía nam trở về trong tình trạng đói lả, các cô thợ may trở về sau một ngày làm thuê cho những quý bà da trắng ở địa phương, mặc bộ đồ tươm tất của mình. Họ không được phép uống rượu, trừ tối thứ Bảy, khi những thành viên với tửu lượng tốt đến tham dự và có gì đó để mà nghĩ tới vào buổi thuyết giáo sáng hôm sau.

Người ta xử lý những con lợn đầu tiên, chặt chúng trên chiếc bàn dài bằng gỗ thông và rưới nước sốt lên. Cải xanh, cải củ, những miếng khoai lang nóng hổi cùng một số món khác của nhà bếp được bày trên những chiếc đĩa đẹp đẽ của trang trại Valentine. Các cư dân giữ ý đứng túm tụm lại với nhau, tới khi món nướng của Jimmy được mang ra - đám đàn bà con gái bắt đầu huých nhau. “Chuyên gia” nướng thịt cúi đầu trước mỗi lời khen ngợi, thầm tính cách chế biến món thịt nướng lần sau ngon hơn nữa. Cora khéo léo giật được một cái tai lợn nóng giòn, thứ mà Molly thích, rồi đưa nó cho cô bé.

Valentine đã thôi đếm xem bao nhiêu gia đình sống trên đất của ông. Một trăm người là con số chắc chắn khiến ông ngừng đếm - một con số không thể tưởng tượng nổi - ấy là chưa kể những nông dân da màu đã mua những mảnh đất liền kề nơi đó để sống độc lập. Trong số đó có khoảng năm mươi trẻ em, hầu hết dưới năm tuổi. “Tự do khiến chúng ta được mùa người”. Georgina bình luận. Cora nói thêm rằng, cũng bởi họ tin họ sẽ không bị bán. Các phụ nữ tại khu nhà tập thể dành cho người da màu ở Nam Carolina đã tin rằng mình biết đến tự do, nhưng con dao của bác sĩ phẫu thuật cắt mất một phần cơ thể họ để chứng minh điều ngược lại.

Khi những con lợn nướng “bốc hơi”, Georgina cùng vài phụ nữ trẻ khác dẫn bọn trẻ con tới chỗ kho thóc để chơi trò chơi và múa hát. Bọn trẻ không chịu ngồi im trong suốt buổi hội họp ở nhà sinh hoạt chung. Khi chúng vắng mặt, người lớn dễ tập trung bàn bạc và chú ý tới những điều then chốt hơn; suy cho cùng, họ bàn bạc cũng là vì bọn trẻ. Dù người lớn đã thoát khỏi xiềng xích, chế độ nô lệ vẫn cướp đi biết bao thời gian. Chỉ thế hệ trẻ mới mong có đầy đủ lợi thế để biến ước mơ thành hiện thực. Nếu người da trắng để cho chúng làm điều đó.

Nhà sinh hoạt chung đầy người. Cora ngồi cùng một băng ghế với Sybil. Tối nay họ sẽ bàn bạc một vấn đề. Tháng tới sau khi thu hoạch mật ong, trang trại sẽ tổ chức buổi họp quan trọng nhất để bàn xem nên đi hay ở. Gia đình Valentine đã giảm bớt hoạt động giải trí ở trang trại vào các tối thứ Bảy. Thời tiết dễ chịu - và mùa đông Indiana đang đến, cái mùa khiến những người chưa từng thấy tuyết cảm thấy sợ hãi - khiến họ bận rộn. Những chuyến đi tới thị trấn biến thành những cuộc khám phá kéo dài. Những cuộc ghé chơi dây dưa đến tối đã khiến nhiều người da màu ở lại trang trại, một đội quân tiên phong cho một cuộc di trú lớn.

Nhiều người đứng đầu của trang trại không có mặt ở thị trấn. Bản thân Valentine đang ở Chicago gặp các chủ nhà băng, hai con trai ông giờ đây đã đủ lớn để giúp việc sổ sách. Lande đi với một tổ chức theo chủ nghĩa bãi nô New York, trong một chuyến diễn thuyết ở New England; họ khiến anh bận rộn. Những gì anh học được khi thăm vùng nông thôn chắc chắn sẽ giúp anh đóng góp cho buổi họp quan trọng này.

Cora quan sát những người hàng xóm của cô. Cô hy vọng những con lợn của Jimmy sẽ quyến rũ Royal về kịp, nhưng anh và các đồng sự vẫn đang bận với nhiệm vụ liên quan đến tuyến hỏa xa ngầm. Không có tin tức gì về nhóm của họ. Tin đồn đáng sợ bay đến trang trại: một đội quân cảnh đã treo cổ vài người da màu vào đêm hôm trước. Chuyện đó xảy ra cách đây ba mươi dặm về phía nam, và các nạn nhân bị cho là làm việc cho tuyến hỏa xa ngầm, nhưng không có thông tin cụ thể. Một phụ nữ mặt đầy tàn nhang mà Cora không quen biết - giờ đây có nhiều người lạ ở trang trại - oang oang nói về các vụ hành hình kiểu lin-sơ. Sybil quay sang bảo chị ta im lặng, sau đó, khi Gloria Valentine bước lên bục phát biểu, chị ôm vội Cora một cái.

Khi John Valentine gặp Gloria, bà đang làm công việc giặt giũ ở một đồn điền trồng chàm. “Hình ảnh ngọt ngào nhất mà đôi mắt này từng thấy”, Valentine thích kể với những người mới tới trang trại như vậy, kéo dài từ “ngọt ngào” như đang múc kẹo caramen nóng hổi. Hồi ấy Valentine chẳng có thói quen đi thăm nô lệ, nhưng ông hợp tác với chủ của Gloria để chuyển thức ăn gia súc bằng đường tàu biển. Cuối tuần đó, ông bỏ tiền mua tự do cho Gloria. Một tuần sau họ cưới nhau.

Bà vẫn ngọt ngào, duyên dáng và điềm tĩnh như sắp hoàn thành chương trình học ứng xử dành cho các tiểu thư da trắng. Bà quả quyết rằng bà không thích thay mặt chồng, nhưng vẻ tự tin, thoải mái của bà trước đám đông lại phản bác điều đó. Gloria đã nỗ lực rèn luyện để rũ bỏ âm điệu đồn điền trong giọng nói - Cora nhận thấy sơ hở của bà khi cuộc trò chuyện trở nên suồng sã - nhưng bà là người có khả năng gây ấn tượng một cách tự nhiên dù nói chuyện với người da màu hay người da trắng. Khi những bài diễn văn của Valentine trở nên cứng rắn, khi tính nết thực dụng lấn át lòng hào hiệp của ông, Gloria lập tức có mặt để xoa dịu tình hình.

“Tất cả các bạn đã có một ngày thú vị chứ?” Gloria hỏi khi mọi người trật tự. “Tôi ở dưới hầm bảo quản thực phẩm cả ngày và khi quay lên tôi thấy món quà mà Chúa mang đến cho chúng ta hôm nay. Bầu trời đó. Và những con lợn nướng…”

Bà xin lỗi vì chồng bà vắng mặt. John Valentine muốn nhân vụ mùa bội thu để thương lượng lại với bên cấp vốn. “Chúa biết, ngoài khơi có nhiều sóng gió, và thật tốt khi tâm trạng yên bình một chút”. Bà cúi xuống phía Mingo đang ngồi ở hàng ghế đầu, bên cạnh đó là một chỗ trống vốn dành riêng cho Valentine. Mingo là người đàn ông tầm thước, khỏe khoắn, với làn da của người Tây Indiana được bộ com-lê kẻ carô đỏ tôn lên. Ông ta nói “Amen” đoạn quay về phía những người đồng minh có mặt trong buổi họp để gật đầu chào.

Sybil khẽ huých Cora khi người ta thừa nhận có tranh luận chính trị trong trang trại, từ đó công nhận vị trí của Mingo. Giờ đây, mọi người bàn tán thường xuyên về hiện tượng người đổ về miền tây, nơi các thành phố của người da màu mọc lên ở bờ kia sông Arkansas. Đến những nơi không có chung đường biên giới với các bang có nô lệ, chưa từng tán thành cái ghê tởm của chế độ nô lệ. Mingo ủng hộ việc ở lại Indiana, nhưng phải cắt giảm khắt khe số người tới lưu trú: hạn chế các nô lệ bỏ trốn, những người lang thang. Những người như Cora. Những vị khách có danh tiếng lui tới làm nhiều người biết đến trang trại, khiến nơi này trở thành một biểu tượng cho sự tiến bộ của người da màu - và là một mục tiêu. Suy cho cùng, bóng ma nổi dậy của người da màu, tất cả những khuôn mặt da đen tức giận vây quanh họ đã khiến người da trắng rời khỏi miền nam. Họ đến Indiana, và ngay kề bên lại là một vương quốc của người da đen đang trỗi dậy. Chuyện đó luôn kết thúc trong bạo lực.

Sybil khinh bỉ Mingo vì cái tính thớ lợ và thói lừa bịp không thay đổi; bản chất hống hách ẩn đằng sau vẻ đàn đúm của ông ta. Đúng vậy, người đàn ông đó ra vẻ mình là một huyền thoại đáng kính: Sau khi tự giải phóng bản thân và nhận làm công việc cuối tuần, ông ta mua tự do cho bà vợ, rồi cho các con, và cuối cùng cho chính bản thân. Sybil chỉ nói qua loa về kỳ tích này - người đàn ông đó gặp may với chủ nô của ông ta. Mingo không hơn gì một kẻ cơ hội, chuyên gây rắc rối cho trang trại vì quan điểm về sự tiến bộ của người da màu. Cùng với Lander, ông ta sẽ lên tiếng trong cuộc họp tháng tới để quyết định tương lai của họ.

Cora không dè bỉu ông ta như Sybil. Mingo dè chừng cô bởi các nô lệ bỏ trốn làm trang trại bị chú ý, và khi nghe nói cô bị truy nã vì tội giết người, ông ta tránh xa cô. Tuy nhiên, ông ta đã cứu gia đình mình và có thể đã bỏ mạng trước khi làm xong việc này - đó là điều phi thường. Trong ngày đầu tiên cô đến trường học, hai con gái của ông ta, Amanda và Marie, đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập rất tự tin. Chúng là hai cô bé đáng ngưỡng mộ. Nhưng không, Cora không thích phần nói chuyện khôn khéo của ông ta. Có điều gì đó trong nụ cười của Mingo khiến cô nhớ tới Blake, gã đàn ông tự mãn trong quá khứ. Mingo không cần một chỗ để đặt chuồng chó, chắc chắn ông ta đang chờ thời cơ để mở rộng lãnh địa cơ.

Gloria quả quyết rằng họ sẽ được thưởng thức âm nhạc ngay bây giờ. Tối nay không có những đối tượng mà Valentine gọi là “những nhân vật được trọng vọng” - ăn vận đẹp, nói giọng Yankee - mặc dù có mấy vị khách từ hạt vừa mới ghé qua trang trại. Gloria đề nghị họ đứng dậy và giới thiệu để họ được đón chào. Đã đến giờ giải trí. “Trong khi các bạn tận hưởng bữa ăn ngon đó, chúng ta sẽ có một điều thú vị”, bà nói. “Các bạn có thể nhận ra anh vì trước đây anh từng tới thăm trang trại Valentine, một quý ông trẻ tuổi rất nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật”.

Thứ Bảy trước, có một ca sĩ thính phòng từ Montreal tới. Thứ Bảy trước nữa, một nghệ sĩ chơi vi-ô-lông từ Connecticut đã ghé thăm và khiến một nửa số phụ nữ ở đây rơi lệ vì xúc động. Buổi tối nay thuộc về thi sĩ. Rumsey Brooks là một người đàn ông mảnh khảnh, mặc bộ com-lê đen, đeo cà vạt đen. Anh trông giống nhà truyền giáo lưu động.

Ba tháng trước anh có mặt ở đó cùng một đoàn khách từ Ohio. Trang trại Valentine có xứng với tiếng tăm của nó không? Một phụ nữ da trắng cao tuổi, người tận hiến vì sự tiến bộ của cộng đồng da đen, đã tổ chức chuyến đi. Là vợ góa của một luật sư nổi tiếng ở Boston, bà tổ chức quyên góp tài trợ cho nhiều chuyến đi, cũng như cho hoạt động xuất bản và phổ biến văn chương của người da màu. Sau khi nghe một bài diễn thuyết của Lander, bà đã thu xếp để phát hành hồi ký của anh; đơn vị in cuốn sách đó từng in rất nhiều kịch của Shakespeare. Sau ít ngày, số lượng bản in lần thứ nhất được bán hết veo, một ấn bản đẹp với cái tên Elijah Lander dát nhũ vàng. Gloria cũng cho biết bản thảo cuốn sách của Rumsey sẽ được xuất bản vào tháng tới.

Chàng thi sĩ hôn tay vị chủ nhà, xin phép được chia sẻ vài bài thơ của anh. Không phải là anh không có tài năng, Cora thừa nhận. Theo Georgina, Rumsey theo đuổi một cô gái vắt sữa ở trang trại, nhưng lại dễ dãi đi “nịnh đầm” đến nỗi hiển nhiên anh là một chàng trai trẻ sẵn lòng đón nhận bí ẩn ngọt ngào của số phận. “Ai biết định mệnh nào đang chờ chúng ta”, trong chuyến thăm trang trại đầu tiên anh bảo với Cora, “và người nào chúng ta có diễm phúc được biết?” Royal đột nhiên xuất hiện bên cạnh cô, kéo cô tránh xa lời đường mật của chàng thi sĩ.

Đáng lẽ cô nên nhận ra ý tứ của Royal. Giá cô ý thức được hễ anh biến mất là cô thấy khó ở nhường nào thì cô đã cự tuyệt anh.

Với lời chúc của Gloria, chàng thi sĩ hắng giọng. “Tôi đã nhìn thấy một điều kỳ diệu”, anh ngâm thơ, giọng anh lên bổng xuống trầm như đang chống chọi với một cơn gió thổi ngược. “Bay qua cánh đồng, trên đôi cánh thiên thần và giơ lên tấm khiên lấp lánh…”

Hội trường vang lên tiếng “Amen” và tiếng thở dài. Rumsey cố nín cười trước phản ứng của họ, do tiết mục ngâm thơ của anh mà ra. Cora không hiểu những bài thơ của anh lắm: nào là điều kỳ diệu viếng thăm, kẻ kiếm tìm chờ đợi một thông điệp. Nào là cuộc chuyện trò giữa một quả sồi, một mầm cây nhỏ và một cây sồi lớn. Rồi lại còn lời tri ân dành cho Benjamin Franklin và trí tuệ của ông. Thơ làm cô lạnh lẽo. Những bài thơ quá giống lời nguyện cầu, chỉ khuấy động cảm xúc nuối tiếc mà thôi. Chờ đợi Chúa đến cứu bạn nhưng việc đó lại tùy vào bạn. Thơ ca và lời cầu nguyện đều nhồi những ý nghĩ vào đầu con người ta khiến họ bị giết, làm họ xao nhãng cỗ máy tàn nhẫn của thế giới.

Sau tiết mục thơ, các nhạc công lên biểu diễn, vài người vừa mới đến trang trại. Chàng thi sĩ đã tạo được không khí hứng khởi cho màn khiêu vũ, khiến họ say sưa với ảo ảnh trốn thoát và được giải phóng. Nếu điều đó khiến họ hạnh phúc thì Cora là ai mà xem thường họ kia chứ? Dần dần họ biến mình thành các nhân vật của chàng thi sĩ, ghép khuôn mặt của họ thành nhân vật trong các vần thơ của anh. Họ có nhận ra chính họ trong con người Benjamin Franklin hay trong các tạo tác của ông không? Các nô lệ là công cụ, vậy nên có lẽ họ là tạo tác của ông, nhưng không ai ở đây là nô lệ hết. Một ai đó ở nơi xa lắm đã đếm họ như tài sản, chứ không phải ở đây.

Trang trại Valentine là một điều vượt ngoài sức tưởng tượng của cô. Gia đình Valentine đã tạo nên một điều kỳ diệu. Cô nằm trong số những chứng nhân cho điều ấy; hơn thế, cô là một phần của nó. Cô đã dễ dàng tin vào hứa hẹn hão huyền của Nam Carolina. Giờ đây phần cay đắng trong cô từ chối những kho báu của trang trại Valentine, dù mỗi ngày sự may mắn ở đây vẫn bừng nở. Trong cô bé đang nắm tay cô. Trong nỗi lo sợ cho một người đàn ông mà cô có cảm tình.

Rumsey khép lại buổi sinh hoạt khi kêu gọi cả người trẻ lẫn người già nuôi dưỡng tinh thần nghệ sĩ, “để đốt lên lửa than hồng Apollo [24] trong mọi con người”. Một người mới đến trang trại đẩy bục phát biểu sang phía bên kia sân khấu. Một tín hiệu cho nhóm nhạc công, và cho Cora. Giờ đây Sybil đã biết tính của bạn mình và chị hôn tạm biệt Cora. Hành lang đầy người; bên ngoài trời lạnh và tối. Cora rời khỏi nhà sinh hoạt chung trong tiếng ầm ĩ của những chiếc ghế băng được xếp lại để lấy chỗ cho buổi khiêu vũ. Trên đường về, cô đi ngang qua ai đó và người ấy nói: “Này cô, cô đi nhầm đường rồi!”

Về đến nhà, cô nhìn thấy Royal đang đứng dựa vào cột hiên. Dáng anh, trầm lặng trong bóng tối. “Anh đã nghĩ khi cái đàn ban-dô ấy cất tiếng thì em sẽ đến”, anh nói.

Cora thắp đèn lên, nhìn thấy bên mắt thâm đen của anh, một vết sưng bầm. “Trời ơi”, cô nói, ôm chầm lấy anh, gục mặt vào vai anh.

“Một trận ẩu đả thôi”, anh giải thích. “Bọn anh thoát được”. Cora rùng mình và anh thì thầm: “Anh biết em lo lắng. Anh cảm thấy không thích hợp để xuất hiện ở đó với mọi người tối nay nên tính đợi ở đây”.

Họ ngồi trên chiếc ghế của người thợ mộc thất tình, nhìn vào đêm tối. Anh nhích lại gần để vai họ chạm nhau.

Cô kể cho anh nghe những gì anh bỏ lỡ trong những ngày vắng mặt, về chàng thi sĩ và bữa ăn tối thứ Bảy.

“Còn nữa”, anh nói. “Anh có thứ này cho em”. Anh lục chiếc túi da của mình. “Đây là ấn bản của năm nay, anh nghĩ em sẽ thích dù bây giờ là tháng Mười mất rồi. Khi nào anh đến một nơi có ấn bản của năm tới, anh sẽ mua”.

Cô nắm bàn tay anh. Cuốn niên lịch phảng phất mùi xà bông thơm là lạ, và khi cô lật các trang, nó phát ra tiếng lách tách như lửa. Trước đây cô chưa bao giờ là người đầu tiên mở một cuốn sách.

Royal đưa cô tới đường hầm bỏ hoang ấy sau một tháng ở trang trại.

Cora bắt đầu ngày làm việc thứ hai với những ý nghĩ rối rắm về khẩu hiệu của Valentine. “Ở lại và đóng góp”. Một đề nghị, và là một phương thuốc. Cô đóng góp trước tiên ở nhà giặt. Một phụ nữ tên Amelia, người đã quen biết gia đình Valentine ở Virginia và theo về đây từ hai năm trước, phụ trách giặt giũ. Chị nhẹ nhàng cảnh báo Cora “đừng hành hạ quần áo”. Ở đồn điền Randall, Cora là một nô lệ nhanh nhẹn. Lao động bằng đôi tay ở trang trại khiến cô nhớ lại quá khứ đồn điền. Cô và Amelia quyết định rằng có lẽ cô sẽ thích công việc khác hơn. Cô giúp việc trong nhà vắt sữa một tuần và làm việc cùng Aunty, trông mấy đứa trẻ trong khi cha mẹ chúng làm việc. Sau đó, khi lá ngô ở Indiana ngả vàng, cô tham gia bón phân trên cánh đồng. Khi Cora cúi xuống những hàng ngô, chốc chốc cô lại ngó trước ngó sau đề phòng một đốc công với cảm giác như bị ma ám.

Một tối tháng Tám sau khi Lander diễn thuyết, Royal nói với cô: “Trông em có vẻ mệt mỏi”. Bài diễn thuyết của Lander gần giống một bài giảng đạo, nó nhắc đến cảnh tiến thoái lưỡng nan kiếm tìm mục đích khi bạn đã thoát khỏi ách nô lệ. Những nỗi thất vọng về đời sống tự do muôn màu vẻ. Giống như hầu hết những người khác ở trang trại, Cora kính nể người đàn ông ấy. Anh là một hoàng tử ngoại lai, chu du tới miền đất xa xôi để dạy cho họ biết con người ở những nơi văn minh cư xử như thế nào. Những nơi xa lắc xa lơ mà những tấm bản đồ không chạm tới.

Cha của Elijah Lander là một luật sư da trắng giàu có ở Boston, sống công khai với người vợ da màu. Họ bị người quen biết quở trách, và phải nghe lời xì xào miêu tả con cái họ là kết quả cuộc hôn phối giữa một nữ thần châu Phi và một người da trắng. Á thần. Nghe những nhân vật được trọng vọng nói khi họ dông dài giới thiệu phần diễn thuyết của anh, có thể thấy từ nhỏ Lander đã bộc lộ trí thông minh. Là một đứa trẻ ốm yếu, anh coi thư viện gia đình như sân chơi, mải mê với những tập sách mà anh cố nhấc xuống từ giá sách. Sáu tuổi anh chơi dương cầm như một nghệ sĩ châu Âu. Anh tự biểu diễn âm nhạc cho phòng khách lúc vắng người, cúi chào trong tiếng vỗ tay thầm lặng.

Những bằng hữu của gia đình can thiệp để anh trở thành sinh viên da màu đầu tiên tại một trong những trường đại học danh tiếng dành cho người da trắng. “Họ phát cho tôi giấy chứng nhận tự do dành cho nô lệ”, anh kể lại, “và tôi dùng tờ giấy đó để bày trò tinh nghịch”. Lander sống trong một căn buồng xép; không ai chịu ở chung phòng với anh. Sau bốn năm, các bạn học bầu anh là sinh viên tiêu biểu được đọc diễn văn trong lễ tốt nghiệp. Anh nhảy nhót giữa muôn vàn trở ngại như một người nguyên thủy đánh lừa thế giới hiện đại. Lander đã có thể làm bất cứ nghề gì anh muốn. Một bác sĩ phẫu thuật, một thẩm phán. Các nhà trí thức lớn thuyết phục anh đến thủ đô để ghi dấu ấn chính trị. Anh đã làm nên chuyện ở một góc nhỏ trong thành công của người Mỹ, nơi chủng tộc anh không nguyền rủa anh. Ai đó có thể đã sống hạnh phúc trong môi trường ấy, thăng tiến một mình. Nhưng Lander muốn dành chỗ cho những người khác. Con người ta đôi khi có thể là bầu bạn tuyệt vời.

Cuối cùng anh chọn làm diễn giả. Trong phòng khách của cha mẹ anh - với khán giả là những thượng khách người Boston, sau đó là tại nhà những người Boston ưu tú ấy, trong các phòng sinh hoạt chung dành cho người da màu, các nhà thờ của Hội Giám lý và các giảng đường trên khắp New England. Đôi khi anh là người da màu đầu tiên đặt chân đến những tòa nhà, ngoài những người đã xây dựng và những phụ nữ lau dọn chúng.

Những tay cảnh sát trưởng mặt đỏ phừng phừng bắt giữ anh vì tội xúi giục nổi loạn. Anh bị bỏ tù vì kích động nổi loạn - mà thực chất không hề có nổi loạn, chỉ là những cuộc hội họp êm hòa, không gây ồn ào. Thẩm phán danh giá Edmind Harrisson của bang Maryland ra lệnh bắt anh, quàng vào cổ anh tội “truyền bá tôn giáo gây ảnh hưởng tiêu cực cho kết cấu của một xã hội tốt đẹp”. Đám đông da trắng quá khích đã đánh đập anh trước khi anh được những người từng nghe anh đọc Tuyên ngôn về quyền của người da đen ở Mỹ cứu thoát. Từ Florida đến Maine, những cuốn sách tuyên truyền và sau này là hồi ký của anh, bị đem đốt cùng hình nộm của anh. “Làm hình nộm còn hơn làm người thật”, anh nói.

Không ai biết rằng ẩn sau thái độ bình thản ấy, những niềm đau riêng giày vò anh. Anh vẫn điềm tĩnh và khác người. “Tôi là những gì mà các nhà thực vật học gọi là vật lai”, Lander nói trong buổi đầu tiên Cora nghe anh diễn thuyết. “Một sự pha trộn giữa hai nòi giống. Ở cỏ cây hoa lá, hiện tượng giao thoa như vậy khiến người ta ưng mắt. Khi nó xảy ra trong máu thịt, người ta bất bình. Nhưng trong căn phòng này chúng ta chấp nhận những gì là chính nó - một vẻ đẹp mới của đời sống, và bừng nở khắp quanh ta”.

Khi Lander kết thúc bài diễn thuyết vào tối tháng Tám đó, Cora và Royal ngồi trên bậc thềm của hội trường. Người ở trang trại đi ào ào qua chỗ họ. Những lời của Lander đưa Cora vào tâm trạng u sầu. “Em không muốn họ đuổi em đi”, cô nói. Royal lật bàn tay cô lên, anh lướt ngón tay cái trên những chỗ da tay bị chai của cô. Anh nói không cần phải buồn phiền vì điều đó. Anh gợi ý cô một chuyến đi để được thấy Indiana nhiều hơn, như một ngày nghỉ giữa những ngày lao động.

Ngày hôm sau, họ khởi hành trên một chiếc xe được hai chú ngựa ô kéo. Với khoản tiền công lao động, cô mua một bộ váy mới và một chiếc mũ. Chiếc mũ che đi phần lớn vết sẹo trên thái dương cô. Gần đây vết sẹo khiến cô lo lắng. Trước đó cô chưa bao giờ nghĩ ngợi quá lâu về những dấu sắt nung, dấu sắt nung hình chữ X và T, hình cỏ ba lá mà các chủ nô đóng dấu lên tài sản. Một cái dấu hình móng ngựa tạo sẹo trên cổ Sybil, xấu xí và thâm đen - chủ nô đầu tiên của chị nuôi ngựa kéo. Cora tạ ơn Chúa vì da thịt cô chưa từng bị đóng dấu theo cách ấy. Nhưng tất cả chúng ta đều bị đóng dấu dù bạn không thể nhìn thấy, ở bên trong nếu không phải là ở bên ngoài - và vết thương do cây gậy của Randall cũng như vậy thôi, nó đánh dấu cô là tài sản của lão ta.

Thành phố thì Cora đã đến nhiều rồi, thậm chí đã trèo lên bậc của một cửa hiệu bánh mỳ của người da trắng để mua bánh. Royal dẫn họ đi theo hướng khác. Bầu trời tựa một phiến đá xám nhưng thời tiết vẫn ấm áp, một trưa tháng Tám khiến ta biết rằng tiết trời này sắp trôi qua. Họ dừng lại nghỉ bên một đồng cỏ, dưới tán cây táo dại. Anh đã gói mang theo ít bánh mỳ, mứt và xúc xích. Cô để anh gối đầu lên lòng cô. Cô đang nghĩ sẽ vuốt những món tóc xoăn mềm mại gần tai anh, nhưng lại kiềm chế khi một ký ức bạo lực trong quá khứ trỗi dậy.

Trên đường về, Royal cho xe chạy vào một con đường mòn đầy cây cỏ. Nếu không có cây cỏ mọc cao thì Cora đã nhìn thấy nó. Những cây dương đen che khuất lối cổng vào. Anh nói anh muốn cho cô xem một thứ. Cô nghĩ chắc đó là một hồ nước, hoặc một nơi yên tĩnh không ai hay biết. Thay vì thế họ quẹo vào một lối rẽ, dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ xiêu vẹo, trơ trọi, xám xịt như miếng thịt bị nhai nát. Những cánh cửa chớp nghiêng lệch, cỏ hoang rủ xuống thành vòm. Bị hư hại do mưa nắng - ngôi nhà chẳng khác gì chú chó lai bị đánh. Cô đứng lưỡng lự trước ngưỡng cửa. Bụi bẩn, rêu phong khiến cô có cảm giác đơn độc, ngay cả khi cô ở đó cùng Royal.

Cỏ cũng mọc khắp sàn gian phòng chính. Cô lấy tay bịt mũi vì mùi hôi thối. “Nó khiến thứ phân đó có mùi ngọt ngào”, cô bình luận. Royal bật cười, nói rằng anh luôn nghĩ phân có mùi ngọt ngào. Anh nhấc tấm cửa lật dẫn xuống hầm rồi thắp một cây nến. Cầu thang dẫn xuống hầm kêu cọt kẹt. Chuột bọ chạy nhốn nháo dưới hầm, bất bình vì không gian bị xâm phạm. Royal đếm sáu bước rồi bắt đầu đào. Anh dừng lại khi phát hiện ra tấm cửa lật thứ hai, và họ đi xuống một ga tàu. Anh nhắc cô cẩn thận với những cái bậc xám xịt, trơn dốc.

Đó là ga tàu buồn thảm, tồi tàn nhất. Không có một đường dốc nào dẫn xuống đường tàu - đường ray bắt đầu ngay tại chân cầu thang và chạy sâu vào đường hầm tối. Một chiếc xe goòng nhỏ nằm yên trên đường tàu, cái bơm sắt của nó nằm đó chờ đợi bàn tay con người khởi động. Giống như trong mỏ mica ở Bắc Caronila, những tấm ván gỗ và xà dài chống đỡ tường và trần hầm.

“Nó không được xây dựng cho tàu hỏa chạy qua”, Royal nói.

“Đường hầm này quá nhỏ, em thấy đấy. Nó không nối với những phần khác của tuyến hỏa xa”.

Lâu lắm rồi không có ai đặt chân tới đó. Cora hỏi đường hầm dẫn tới đâu.

Royal cười xếch đến mang tai. “Nó có từ trước thời của anh cơ. Người trưởng ga mà anh thế chỗ đã chỉ cho anh khi anh tiếp quản phần này. Anh đã đẩy chiếc xe goòng kia đi vài dặm trong hầm, nhưng nó ọp ẹp quá. Những bức tường thu hẹp dần, rồi khép lại”. Cora biết không nên hỏi ai đã xây dựng nó. Tất cả những người đàn ông làm việc cho tuyến hỏa xa này, từ Lumbly tới Royal, với thái độ khác nhau, đều chặn cô bằng câu hỏi: “Cô nghĩ ai đã xây dựng nó? Ai đã tạo ra tất cả mọi thứ?” Cô quyết định rằng, vào một ngày nào đó cô sẽ khiến anh kể cho cô nghe.

Royal nói rằng, tất cả những ai từng biết đều bảo đường hầm ma mị này chưa bao giờ được sử dụng. Không ai biết nó được đào khi nào, hoặc ai đã sống bên trên nó. Cánh kỹ sư kể với anh rằng một chuyên gia vẽ bản đồ địa chính có thâm niên, như Lewis và Clark - những người từng thám hiểm và vẽ bản đồ các vùng đất hoang sơ của nước Mỹ, đã xây dựng ngôi nhà đó. “Nếu em từng được thấy toàn bộ đất nước”, Royal nói, “từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương, từ thác Niagara và sông Rio Grande, em sẽ dựng nhà ở đây, trong khu rừng của Indiana này chứ?” Người trưởng ga trước đây cho rằng ngôi nhà này là của một vị thiếu tướng trong cuộc Chiến tranh giành Độc lập [25] , người đã chứng kiến bao máu đổ rồi rút lui khỏi quốc gia non trẻ, sau khi góp phần khiến nó ra đời.

Câu chuyện về một người sống ẩn dật có lý hơn, nhưng Royal đoán rằng người ta đã thêu dệt chi tiết về quân đội để gây tiếng thơm. Cora nhận ra không có dấu hiệu nào cho thấy nơi đây có người từng sống, thậm chí chẳng có lấy một cái tăm hay vết đóng đinh trên tường.

Một ý niệm lờ mờ hiện lên trong đầu cô: ga tàu này không phải là điểm xuất phát của tuyến hỏa xa mà là điểm cuối. Công trình đó không bắt đầu ở bên dưới ngôi nhà này mà ở đầu kia hố đen. Cứ như thể trên thế giới chẳng có nơi nào để chạy thoát, chỉ có những nơi để lẩn trốn mà thôi.

Trong hầm nhà ở bên trên ga tàu, chuột bọ bắt đầu hoạt động, cào kèn kẹt.

Cái hố nhỏ đầy âm khí này. Bất cứ chuyến đi nào khởi đầu tại đây cũng có thể là chuyến đi xui xẻo. Lần gần đây nhất, cô có mặt ở một trong những ga khởi hành của tuyến hỏa xa ngầm, một nhà ga được thắp sáng, khá tiện lợi, đã đưa cô đến với Valentine hào phóng. Đó là ga Tennessee, bấy giờ họ đợi để được đưa đi sau cuộc ẩu đả gay go với Ridgeway. Những chuyện xảy ra đêm hôm đó vẫn khiến tim cô đập nhanh.

Ngay khi họ rời khỏi chỗ tay trùm săn nô lệ và chiếc xe ngựa của hắn, những người đã cứu cô giới thiệu cho cô biết tên họ. Royal là chàng trai đã dõi theo cô lúc cô bị Ridgeway đưa vào thành phố; bạn của anh là Red, vì anh ta có mái tóc xoăn màu nâu đỏ. Người xem chừng nhút nhát là Justin, một nô lệ bỏ trốn giống cô, không quen huơ huơ con dao trước những người đàn ông da trắng.

Sau khi Cora đồng ý đi với họ - chưa bao giờ điều chắc chắn sẽ xảy ra lại được đề nghị lịch thiệp như vậy - ba người đàn ông vội xóa dấu vết cuộc ẩu đả. Nghĩ rằng Homer đang ẩn nấp đâu đó trong bóng tối, họ càng thêm khẩn trương. Với khẩu súng trường trong tay, Red đứng canh chừng cậu ta, còn Royal và Justin xích Boseman cùng Ridgeway vào xe ngựa. Trong khi đó tay trùm săn nô lệ, với cái miệng đầy máu, không nói năng gì, chỉ nhìn Cora cười khinh bỉ.

“Cái đó”, cô vừa chỉ tay vừa nói, vậy là Red xích hắn vào cái vòng mà những kẻ bắt giữ cô đã dùng để xích Jasper.

Họ đánh xe ngựa của tay trùm săn bắt nô lệ vào góc xa của đồng cỏ để nhìn từ trên đường người ta không thể thấy nó. Red xích Ridgeway năm lần, sử dụng tất cả những sợi xích trong ngăn để hành lý của xe ngựa. Anh ta ném chìa khóa vào đám cỏ dại. Họ thả những con ngựa ra, cho chúng chạy xa khỏi chỗ đó. Về phần Homer, tuyệt nhiên không có động tĩnh gì; có lẽ cậu bé lẩn khuất bên ngoài vùng ánh sáng đèn. Bất cứ sự khởi đầu thuận lợi nào mà các biện pháp này có thể mang lại cũng sẽ phải là đủ. Khi họ rời khỏi đó, Boseman trút một tiếng thở hắt đáng xấu hổ ra, và Cora nghĩ đó là tiếng nấc hấp hối của gã.

Chiếc xe ngựa của nhóm người giải cứu cô nằm trên con đường cách trại của Ridgeway một đoạn ngắn. Cô và Justin giấu mình bên dưới một tấm chăn dày phía sau xe, họ lên đường, với vận tốc có thể gây nguy hiểm - xét trên thực tế trời tối và chất lượng đường sá ở Tennessee rất kém. Royal và Red bị trận ẩu đả làm cho rối trí đến nỗi họ quên bịt mắt “hàng hóa” mà họ vận chuyển suốt mấy dặm đường. Royal ngập ngừng giải thích nguyên tắc đó. “Để bảo đảm an toàn của ga xe lửa, cô gái ạ”.

Chuyến đi thứ ba trên tuyến hỏa xa ngầm bắt đầu bên dưới một chuồng ngựa. Giờ đây, một ga tàu nghĩa là đi xuống những bậc sâu hun hút và khám phá ga tiếp theo. Người chủ ngôi nhà đi vắng, Royal thông báo như vậy khi anh tháo tấm vải che mắt họ, một mẹo nhằm giữ bí mật cho chủ ga tham gia vào công việc ở tuyến hỏa xa ngầm. Cora không hề biết tên chủ ga tàu này, cũng như tên thành phố có điểm khởi hành này. Cô chỉ biết rằng ông là một con người nữa của những đường dốc dưới lòng đất, và ông thích loại đá trắng nhập khẩu. Tường nhà ga đều được ốp đá trắng.

“Mỗi lần chúng tôi xuống dưới này, ở đây đều có một điều gì đó mới mẻ”, Royal nói. Bốn người ngồi đợi tàu bên một chiếc bàn được phủ khăn màu trắng, họ ngồi trên những chiếc ghế chắc nịch được sơn đỏ sẫm. Những bông hoa tươi cắm trong lọ hoa và những bức tranh vẽ cảnh nông trang được treo trên tường. Trên bàn có sẵn một bình pha lê chứa đầy nước, giỏ trái cây và một ổ bánh to làm từ lúa mạch đen.

“Đây là nhà của một người giàu”, Justin bình luận.

“Ông ấy thích giữ cho mình luôn vui vẻ”, Royal trả lời.

Red nói rằng anh ta thích loại đá trắng, đó quả là bước tiến so với những tấm ván gỗ thông từng được ốp ở đó trước kia. “Tôi không biết ông ấy tự ốp chúng lên tường bằng cách nào”.

Royal thì nói rằng anh hi vọng người phụ giúp chủ ga tàu này cũng là người biết giữ mồm giữ miệng.

“Cậu đã giết người đàn ông đó”, Justin nói. Anh ta bị đơ. Trước đó, họ phát hiện ra chai rượu vang trong một cái tủ và người nô lệ bỏ trốn ấy bèn uống thả phanh.

“Hãy hỏi cô gái xem hắn có đáng bị như vậy không”, Red đáp.

Royal nắm lấy cánh tay của Red để ngăn cơn giận run người của anh ta. Từ trước tới giờ, bạn anh chưa từng cướp đi mạng sống của ai. Sự cố bất ngờ ấy đủ khiến họ bị treo cổ, nhưng tội giết người chắc chắn sẽ đi kèm với đòn tra tấn khủng khiếp. Sau này, khi Cora kể cho anh nghe cô bị truy nã vì tội giết người ở Georgia, Royal không khỏi sửng sốt. Khi trấn tĩnh lại anh nói: “Vậy thì định mệnh đã sắp đặt con đường của chúng ta kể từ khoảnh khắc anh nhìn thấy em, trên đường phố bụi bặm đó”.

Royal là người đàn ông đầu tiên tự do từ khi chào đời mà Cora gặp. Có nhiều người tự do ở Nam Carolina, những người chuyển tới đó vì “cơ hội”, nhưng họ đều từng là nô lệ. Royal được hưởng tự do từ hơi thở đầu tiên.

Anh lớn lên tại Connecticut; cha anh là thợ cắt tóc, còn mẹ anh là bà đỡ. Họ đều sinh ra là người tự do, đến từ bang New York. Theo sự sắp đặt của cha mẹ, Royal học việc ở một xưởng in ngay khi anh đủ lớn. Cha mẹ anh tin vào giá trị đích thực của những nghề chân chính, họ hình dung các thế hệ trong gia đình như những cành cây vươn tới tương lai, thế hệ sau thành công hơn thế hệ trước. Nếu miền bắc đã xóa bỏ chế độ nô lệ thì một ngày nào đó cái thể chế đáng ghê tởm ấy sẽ sụp đổ ở mọi nơi. Người da đen có thể đã có khởi đầu thấp kém trên đất nước này, nhưng một ngày nào đó họ sẽ chạm tới thắng lợi và nền thịnh vượng.

Nếu cha mẹ anh hiểu rõ tác động mạnh mẽ từ hình dung của họ đối với cậu con trai, biết đâu họ lại e dè hơn khi kể cho anh nghe về thành phố quê hương. Mười tám tuổi Royal bỗng dưng lên đường đến Manhattan, và cảnh tượng đầu tiên mà anh thấy về thành phố nguy nga - từ lan can chiếc phà - đã xác nhận số phận của anh. Anh thuê phòng cùng ba người đàn ông khác tại một khu nhà trọ trong phố Five Points và treo biển hiệu của thợ cắt tóc lên, tới khi anh gặp ngài Eugene Wheeler nổi tiếng. Người đàn ông da trắng ấy bắt chuyện với Royal trong một buổi hội họp chống chế độ nô lệ; bị anh gây ấn tượng, Wheeler bảo anh hôm sau hãy đến văn phòng của ông. Royal đã đọc những thành tựu của ông trên báo - là luật sư, người tham gia vận động bãi nô, là nỗi phiền muộn của chủ nô cũng như đám tay sai làm những việc bẩn thỉu. Royal thám thính nhà tù của thành phố để tìm những nô lệ bỏ trốn mà luật sư Wheeler có thể bảo vệ, truyền tin giữa những nhân vật bí ẩn, phân phát quỹ hỗ trợ của các hội chống chế độ nô lệ để giúp nô lệ bỏ trốn tái định cư. Anh tham gia chính thức vào tuyến hỏa xa ngầm trong một thời gian.

“Anh tiếp dầu cho các pit-tông”, anh kể. Royal truyền tin bằng mật mã, thông báo cho các nô lệ bỏ trốn và trưởng tàu về điểm khởi hành. Anh hối lộ các thuyền trưởng và cảnh sát, dùng thuyền nhẹ chở phụ nữ mang thai run lẩy bẩy qua sông và chuyển lệnh thả người của các thẩm phán đến những lão quản lý trại giam cau có. Anh thường đi với một đồng minh da trắng, nhưng nét lanh lợi và vẻ kiêu hãnh của Royal khẳng định rõ ràng rằng màu da của anh không gây trở ngại gì cả. “Một người da đen tự do bước đi khác với một người nô lệ”, anh nói. “Người da trắng nhận ra điều đó ngay lập tức, dù họ không biết chắc. Cách bước đi khác, nói năng cũng khác, có dáng dấp khác. Cái đó xuất phát từ trong xương”. Đám cảnh sát chưa bao giờ cản trở anh, còn bọn bắt cóc thì tránh xa anh.

Mối quan hệ giữa anh và Red bắt đầu từ công việc ở Indiana. Red bỏ trốn từ Bắc Carolina, sau khi lũ kiểm soát viên treo cổ vợ con anh. Anh đi hàng dặm dọc Đường Tự Do tìm thi thể của họ để nói lời vĩnh biệt. Anh không tìm nổi - con đường của xác chết dường như kéo dài vô tận về mọi hướng. Khi Red đi về phía bắc, anh biết tới tuyến hỏa xa ngầm và, bằng khả năng tháo vát, anh cống hiến cho mục đích chung. Nghe chuyện Cora giết cậu bé da trắng ở Georgia ngoài ý muốn, anh mỉm cười và nói: “Giỏi”.

Ngay từ đầu, nhiệm vụ giúp Justin bỏ trốn đã bất bình thường. Tennessee nằm ngoài lộ trình của Royal, nhưng kể từ thời điểm ở đó xảy ra hỏa hoạn, chẳng ai liên lạc được với người đại diện của tuyến hỏa xa ngầm địa phương. Hủy bỏ tuyến đó thì thật tai hại. Do không tìm được ai khác đảm nhận nhiệm vụ ấy, cấp trên của Royal buộc phải cử hai trưởng ga da màu đến vùng đất xấu Tennessee.

Mấy khẩu súng là ý tưởng của Red. Trước đó, Royal chưa từng cầm súng.

“Nó vừa với tay anh”, Royal nói, “nhưng nó nặng như một khẩu đại bác”.

“Trông anh có vẻ sợ hãi”, Cora nói.

“Lúc đó trong người anh run lắm, nhưng anh không để lộ ra ngoài”, anh giải thích với cô.

Chủ của Justin thường cho thuê anh ta làm thợ nề, và một người chủ lao động giàu lòng trắc ẩn đã thay mặt anh ta thu xếp với tuyến hỏa xa ngầm. Có một điều kiện: Justin khoan hãy bỏ trốn cho tới khi anh ta xây xong dãy tường đá bao quanh mảnh đất của người chủ nọ. Họ thỏa thuận rằng Justin cứ xây cách quãng một khoảng bằng ba hòn đá là có thể chấp nhận được, miễn sao anh ta để lại chỉ dẫn hoàn thiện bức tường.

Vào ngày được ấn định, Justin lên đường đi làm thuê lần cuối. Đến tối mới có người phát hiện ra anh ta vắng mặt; người chủ thuê anh ta làm thợ nề khăng khăng nói rằng sáng hôm đó Justin không xuất hiện. Mười giờ Justin đã ở trên xe ngựa của Royal và Red. Kế hoạch thay đổi khi họ gặp Cora trong thành phố.

Con tàu tiến vào ga Tennessee. Đó là cái tàu hỏa đẹp nhất, dù qua màn bồ hóng màu sơn đỏ bóng loáng của nó vẫn phản chiếu ánh sáng đèn lấp lánh. Người lái tàu vui tính, có giọng nói oang oang và mở cửa toa hành khách đầy kiểu cách. Cora ngỡ tưởng đường hầm điên rồ này luôn khiến những người lái tàu sầu não, không trừ một ai cơ.

Sau khi trải nghiệm toa tàu ọp ẹp đầu tiên rồi đến cái toa tàu không có vách chắn đã đưa cô tới Bắc Carolina, việc bước lên một toa hành khách tử tế - được trang bị đầy đủ, tiện lợi như những toa tàu cô đọc trong niên lịch - thật tuyệt vời. Có đủ chỗ ngồi cho ba mươi người, êm ái và rộng rãi, với đồ nội thất cố định bằng đồng, sáng lấp lánh ở những chỗ ánh nến chiếu tới. Mùi véc-ni mới làm cô cảm thấy mình như một hành khách khai trương chuyến tàu đầu tiên, màu nhiệm. Lần đầu tiên không xích xiềng, thoát khỏi tầng áp mái u ám, Cora nằm trên ba chiếc ghế ngủ ngon lành.

Khi cô tỉnh dậy, chú ngựa sắt vẫn đang chạy rầm rầm xuyên đường hầm. Những lời nói của Lumbly quay lại trong tâm trí cô: Nếu muốn thấy trọn vẹn đất nước này, cô phải đi tàu hỏa. Hãy nhìn ra ngoài khi tàu chạy băng băng, và cô sẽ thấy khuôn mặt thật của nước Mỹ. Lúc ban đầu, đó là câu nói đùa. Trong những cuộc hành trình của cô chỉ có bóng tối ở bên ngoài cửa sổ tàu, chỉ bóng tối mà thôi.

Ở ghế phía trước Justin đang nói. Anh ta nói rằng người anh trai và ba cô cháu gái mà anh chưa từng gặp hiện đang sống ở Canada. Anh sẽ chỉ ở trang trại Valentine ít ngày, sau đó sẽ lên phía bắc.

Royal quả quyết với người nô lệ bỏ trốn rằng tuyến hỏa xa này luôn sẵn sàng đưa anh ta đi. Cora ngồi dậy, và anh nhắc lại điều anh vừa nói với người nô lệ cùng cảnh với cô. Cô có thể tiếp tục đi tàu đến một điểm chuyển tiếp tại Indiana, hoặc ở lại trang trại Valentine.

Royal kể rằng dân da trắng coi John Valentine là người của chủng tộc họ. Da ông sáng màu. Nhưng bất cứ người da màu nào cũng nhận ra gốc gác Ethiopia của ông ngay lập tức. Vẫn cái mũi đó, cặp môi đó, dù có râu tóc rậm hay không. Mẹ ông là thợ may, còn cha ông là người bán hàng rong da trắng thường cứ vài tháng lại ghé qua. Khi mất, ông cụ để lại đất đai cho con trai, lần đầu tiên ông thừa nhận con trai ở bên ngoài bốn bức tường nhà họ.

Valentine thử gây dựng một trang trại trồng khoai tây. Ông thuê sáu người tự do làm việc trên đất của mình. Ông chưa từng nhận những gì không phải là mình, nhưng cũng chẳng làm cho bàn dân thiên hạ hết rối bời vì mớ giả định của họ. Khi Valentine mua Gloria, đâu có ai bận tâm. Một cách để giữ người đàn bà là giữ cô ta làm nô lệ, đặc biệt nếu, giống như John Valentine, bạn vốn lạ lẫm với những mối quan hệ bất chính lả lơi. Chỉ có John, Gloria và một vị thẩm phán ở đầu kia của bang biết Gloria đã là người tự do. Ông thích sách và giúp vợ mình học chữ. Họ nuôi dạy hai đứa con trai. Hàng xóm thì nghĩ vì lòng hào hiệp, nếu không muốn nói là hoang phí, mà ông để họ được tự do.

Khi đứa con trai cả của ông lên năm, một trong những người đánh xe của Valentine - Joe - bị treo cổ và thiêu vì tội dám nhìn phụ nữ da trắng. Bạn bè của Joe khăng khăng rằng ngày hôm đó anh không lên thành phố; còn một nhân viên nhà băng thân thiết với Valentine chia sẻ tin đồn rằng: người đàn bà kia đang cố làm cho gã nhân tình của bà ta ghen. Nhiều năm trôi qua, Valentine nghiệm thấy bạo lực do nạn phân biệt chủng tộc chỉ càng ngày càng trở nên xấu xa, độc ác. Nó sẽ không phai nhạt hoặc biến mất trong ngày một ngày hai, và sẽ không phai nhạt hoặc biến mất ở miền nam. Ông và vợ quyết định rằng Virginia là nơi không thích hợp để định cư lâu dài. Họ bán trang trại, chuyển chỗ ở. Đất đai ở Indiana rẻ. Ở đó cũng có dân da trắng, nhưng mật độ không dày.

Valentine đã tìm hiểu đặc tính của cây ngô ở Indiana. Ba vụ mùa may mắn liên tiếp. Khi trở lại Virginia thăm họ hàng, ông ngợi ca những lợi thế của nơi ở mới. Ông thuê bạn bè chí thân đã lớn tuổi, họ thậm chí có thể sống trên đất nhà ông đến khi gây dựng được cơ ngơi riêng; ông mở rộng diện tích đất đai của mình.

Họ là những vị khách mà ông mời tới. Theo như Cora tìm hiểu, trang trại ra đời vào một tối mùa đông, sau đợt tuyết rơi dày và chậm tan. Người phụ nữ xuất hiện trước cửa nhà họ gây choáng váng, nửa người cô bị đóng băng, cô sắp chết. Magaret là một nô lệ bỏ trốn khỏi Delaware. Hành trình cô tìm tới trang trại Valentine đầy hiểm nguy - một nhóm người tàn nhẫn đã đưa cô đi khỏi chủ nô theo đường dích dắc. Nào là một tay bẫy thú, nào là một gã diễn trò bán thuốc. Cô lang thang hết thành phố này đến thành phố khác với một nha sĩ lưu động cho tới khi lão trở nên hung bạo. Trận bão tuyết ập xuống giữa lúc cô đang lang thang. Margaret cầu xin Chúa cứu cô, hứa sẽ chấm dứt thói xấu xa và những thiếu sót về đạo đức mà cô đã bộc lộ khi bỏ trốn. Ánh đèn từ ngôi nhà của Valentine hiện ra trong cảnh tối tăm mù mịt.

Gloria hết lòng săn sóc vị khách của bà; rồi bác sĩ cưỡi ngựa đến. Những cơn run vì lạnh của Margaret không hề giảm. Vài ngày sau cô tắt thở.

Một lần khác, khi đang trên đường đi lo công chuyện ở miền đông Valentine chợt bắt gặp tấm biểu ngữ của một hội nghị chống chế độ nô lệ. Người phụ nữ đứng trong tuyết là phái viên của một bộ lạc bị tước quyền sở hữu. Ông mong muốn giúp đỡ họ.

Mùa thu năm đó trang trại của ông trở thành trạm mới nhất của tuyến hỏa xa ngầm - rất nhộn nhịp với những nô lệ bỏ trốn và các trưởng tàu. Một số nô lệ bỏ trốn lưu lại trang trại của ông; nếu họ đóng góp cho trang trại, họ có thể ở lại bao lâu tùy thích. Họ trồng ngô. Trên một miếng đất đầy cỏ mọc, người trước kia là thợ nề của một đồn điền xây xưởng rèn cho người thợ rèn đã bỏ trốn khỏi một đồn điền. Xưởng rèn đó dồn dập cho ra lò những chiếc đinh. Cánh đàn ông đẵn cây dựng lều. Một nhà hoạt động chống chế độ nô lệ có tiếng tăm - trên đường đến Chicago - đã dừng chân tại trang trại một ngày, rồi một tuần. Những người có sức ảnh hưởng, các nhà diễn thuyết và nghệ sĩ hiện diện để thảo luận về người da màu mỗi tối thứ Bảy. Chẳng hạn một phụ nữ tự do có em gái ở Delaware đang gặp khó khăn; người em gái tây tiến để tìm khởi đầu mới. Valentine và các bậc cha mẹ ở trang trại trả lương cho cô để cô đến dạy lũ trẻ học, mà nơi đây thì luôn có thêm trẻ con.

Royal nói rằng, với khuôn mặt trắng trẻo Valentine đến hạt để mua quà cho bạn bè da đen của ông, những người trước kia làm việc đồng áng, những nô lệ bỏ trốn nương náu trong trang trại. Họ đã tìm thấy mục đích sống. Khi gia đình Valentine tới định cư, vùng thượng du ấy của bang Indiana chưa có dân cư sinh sống. Khi các thành phố mọc lên nhanh chóng trong cơn khát khôn nguôi của người Mỹ, trang trại đó của người da đen tồn tại như một yếu tố tự nhiên trong vùng, như một ngọn núi hoặc con sông. Phân nửa số cửa hiệu của người da trắng trong vùng phụ thuộc vào khách hàng từ trang trại; cư dân trang trại Valentine cũng đi bán đồ thủ công khiến các quảng trường và khu chợ Chủ nhật trở nên đông đúc. “Đó là nơi hàn gắn và chữa lành”, Royal nói với Cora trên chuyến tàu lên phương bắc. “Là nơi cô có thể cân nhắc và chuẩn bị cho chặng tiếp theo của hành trình”.

Đêm hôm trước ở Tennessee, Ridgeway đã gọi Cora và mẹ cô là vết nhơ trong kế hoạch của người Mỹ. Nếu hai người phụ nữ là một vết nhơ thì cả một cộng đồng là gì nhỉ?

Royal không đề cập đến những cuộc tranh luận nặng triết lý chi phối các cuộc hội họp hằng tuần ở đó. Mingo, với hàng đống kế hoạch cho giai đoạn sắp tới vì sự tiến bộ của người da màu, và Lander, người có những lời kêu gọi nhã nhặn nhưng không rõ ràng, chẳng đưa ra được phương cách dễ dàng nào. Anh cũng tránh nói đến cơn giận đang sôi của người định cư da trắng khi người da đen đến xây dựng những khu dân cư tại biên giới. Các phân khu đó dần dần sẽ làm họ bị chú ý.

Khi con tàu chạy ầm ầm qua đường hầm tựa như chiếc tàu thủy nhỏ xíu trên đại dương vô hình, Royal đã xác nhận được một việc. Cora đập tay xuống tấm nệm của toa tàu và nói rằng trang trại đó rất phù hợp với cô.

Justin ở lại đó hai ngày, ăn no căng bụng, sau đó lên đường đến với người thân ở phương bắc. Anh gửi thư cho họ để kể anh đã được đón chào ra sao, và công việc mới của anh tại một công ty xây dựng. Lũ cháu gái nghịch ngợm, thơ ngây của anh ký tên vào bức thư bằng mực khác màu. Khi trang trại Valentine trải ra trước mắt cô biết bao cơ hội đầy quyến rũ, chắc chắn sẽ không có chuyện Cora rời khỏi đó. Cô đóng góp cho cuộc sống tại trang trại. Cô chấp nhận lao động, cô hiểu những kiến thức cơ bản về mùa vụ và gieo trồng, những bài học về các mùa luân chuyển. Cô chỉ hình dung lờ mờ về cuộc sống thành phố thôi - cô thì biết gì về những nơi như New York và Boston chứ? Cô lớn lên với đôi bàn tay lấm lem trong đất.

Một tháng sau khi cô đến đó, ngay tại lối vào đường hầm u ám ấy, Cora vẫn giữ nguyên quyết định. Cô và Royal sắp sửa trở về trang trại thì một cơn gió mạnh xộc lên từ đường hầm sâu hút, tối tăm. Cứ như có gì đó đang chuyển động về phía họ, một thứ gì đó xưa cũ và đen tối. Cô nắm lấy cánh tay Royal.

“Tại sao anh lại đưa em tới đây?” Cora hỏi.

“Bọn anh không được nói về những gì mình làm ở dưới này”, Royal giãi bày. “Hành khách cũng không được phép nói về hoạt động của tuyến hỏa xa ngầm - nếu không giữ bí mật thì nhiều người tốt sẽ bị đẩy vào vòng nguy hiểm. Họ có thể nói nếu muốn, nhưng họ không nói”.

Đúng vậy. Khi kể chuyện mình bỏ trốn, cô tránh nhắc tới những đường hầm. Đó là chuyện riêng tư, một bí mật mà không bao giờ bạn nảy ra ý định chia sẻ cả. Không phải là một bí mật xấu xa, nhưng riêng tư đến mức là một phần con người bạn, không thể tách rời. Nó sẽ chết nếu bị chia sẻ.

“Anh cho em thấy đường hầm này bởi vì em đã thấy nhiều nhánh của tuyến hỏa xa ngầm hơn hầu hết mọi người”, Royal tiếp tục nói. “Anh muốn em thấy nó - tuyến hỏa xa khớp với nhau như thế nào. Hoặc không”.

“Em chỉ là một hành khách thôi”.

“Đó là lý do tại sao”, anh nói. Anh dùng vạt áo sơ mi lau kính. “Tuyến hỏa xa ngầm lớn hơn quy mô hoạt động của nó - cũng như con người em vậy. Những nhánh rẽ nhỏ, những tuyến đường chính. Bọn anh có những đầu tàu mới nhất và những động cơ cổ lỗ sĩ, và cả những chiếc xe goòng như chiếc này. Nó đi khắp mọi nơi, tới những nơi bọn anh biết và chưa biết. Đường hầm này tồn tại ở đây, chạy ngay bên dưới chỗ chúng ta đang đứng, và không ai biết nó sẽ dẫn đến đâu. Nếu bọn anh duy trì hoạt động của tuyến hỏa xa, và không ai trong tổ chức của bọn anh có thể biết rõ về nó, thì có lẽ em có thể biết”.

Cô nói với anh rằng cô không biết tại sao đường hầm này lại tồn tại ở đó hoặc nó mang nghĩa gì. Tất cả những gì cô biết là cô không muốn chạy trốn nữa.

Tháng Mười Một làm họ cạn kiệt sinh lực vì cái lạnh của bang Indiana, nhưng có hai sự kiện khiến Cora quên đi thời tiết lạnh giá. Thứ nhất là việc Sam xuất hiện ở trang trại. Khi anh gõ cửa lều của cô, cô ôm chầm lấy anh, ôm chặt tới khi anh xin cô buông anh ra. Họ khóc. Trong khi họ trấn tĩnh lại, Sybil hãm trà thảo mộc.

Bộ râu rễ tre loăn xoăn của anh đã ngả màu muối tiêu, bụng anh bắt đầu phệ, nhưng anh vẫn là anh chàng hay nói đã giúp đỡ cô và Caesar suốt những tháng dài trong quá khứ. Cái đêm tay trùm săn nô lệ đến thành phố đã tách anh khỏi cuộc sống mà anh sống bấy lâu. Ridgeway đã giật Caesar khỏi nhà máy trước khi Sam kịp cảnh báo anh. Giọng của Sam ngập ngừng khi kể cho cô nghe người bạn của họ đã bị đánh đập trong tù như thế nào. Caesar không hé răng khai ra những người bạn, nhưng một gã đàn ông tố đã nhìn thấy Caesar nói chuyện với Sam không chỉ một lần. Rằng Sam đã bỏ quán rượu vào giữa ca làm việc - vả lại, có người trong thành phố biết Sam từ khi còn bé và ghét tính tự mãn của anh - lý do đủ để khiến nhà anh bị đốt.

“Nhà của ông tôi. Nhà của tôi. Tất cả mọi thứ của tôi”. Lúc đám đông quá khích lôi Caesar từ trong tù ra, đánh đập anh dã man, Sam đang trên đường lên phía bắc. Anh trả tiền cho người bán hàng rong để được chở đi và lên tàu đến Delaware vào hôm sau.

Một tháng sau đó lợi dụng màn đêm, lũ mật vụ đã tập trung vây kín lối vào đường hầm bên dưới nhà anh. Ga tàu của Lumbly cũng bị xử lý y như thế. “Họ không muốn phải mạo hiểm”, anh nói. Người ta mang về cho anh một kỷ vật, một chiếc cốc bằng đồng bị lửa làm méo mó. Anh không nhận ra nó nhưng vẫn giữ nó.

“Tôi là một trưởng ga. Họ tìm cho tôi những việc khác để làm”. Sam chở nô lệ bỏ trốn tới Boston và New York, khảo sát để vạch ra những tuyến đường bỏ trốn, lo thu xếp những bước then chốt để cứu mạng một nô lệ bỏ trốn. Anh thậm chí còn giả làm một tay trùm săn nô lệ tên là James Olney, theo dõi các nô lệ từ trong tù với lý do để giao họ về cho chủ nô. Cảnh sát và những tay cai tù ngốc nghếch. Trước vẻ thích thú của Cora và Sybil, anh đóng giả kẻ săn nô lệ có giọng nói và thái độ nghênh ngang.

Anh vừa đưa nô lệ bỏ trốn tới trang trại Valentine - một gia đình gồm ba người đang trốn ở New Jersey. Họ lẩn được vào cộng đồng da màu ở đó, Sam nói vậy, nhưng một tay săn nô lệ đã đánh hơi thấy, vì thế họ phải chạy trốn. Đó là nhiệm vụ cuối cùng của anh cho tuyến hỏa xa ngầm. Anh sắp đi miền tây. “Tất cả những người tiên phong mà tôi từng gặp đều thích whisky. Họ sẽ cần người quản lý quầy bar ở California”.

Cora mừng khi thấy người bạn của cô vui vẻ và béo khỏe. Nhiều người trong số những người giúp đỡ Cora đã phải chịu số phận khủng khiếp còn gì. May sao cô đã không khiến Sam bị giết.

Sau đó Sam cho cô biết tin tức ở đồn điền Randall, điều thứ hai khiến cô quên đi tiết trời buốt giá của Indiana.

Terrance Randall đã chết.

Các nguồn tin cho biết lão chủ nô đó ngày càng căm giận Cora. Lão bỏ bê công việc đồn điền. Ngày lại ngày lão mải miết sai bảo đám lâu la đê tiện trong nhà lớn và đem các nô lệ ra làm trò giải trí, bắt họ phục vụ lão nhằm thay thế cho Cora. Terrance Randall tiếp tục đăng tin treo thưởng cho bất cứ ai bắt được cô, rải đầy những dòng miêu tả chi tiết tội trạng của cô trên mục rao vặt của các báo ở những bang xa xôi. Lão tăng mức tiền thưởng hậu hĩnh lên không chỉ một lần - chính Sam đã đọc tin rao vặt đó và không khỏi kinh ngạc - tiếp đón bất cứ tay săn nô lệ nào ghé qua, để cung cấp chân dung đầy đủ và cái xấu xa của Cora, đồng thời để làm nhục gã Ridgeway kém cỏi, kẻ đã khiến cha lão, rồi đến lão thất vọng.

Terrance chết ở New Orleans, trong căn buồng một nhà thổ của người Creole. Tim lão suy kiệt sau nhiều tháng chơi bời phóng đãng.

“Hoặc tim lão đã mệt vì quá độc ác”, Cora bình luận. Đoạn cô hỏi về Ridgeway.

Sam phẩy tay. “Bây giờ hắn là một trò cười. Hắn đi toi sự nghiệp rồi”, anh dừng lời giây lát, “thậm chí trước cả vụ ở Tennessee cơ”.

Cora gật đầu. Hành vi giết người của Red không được nói thẳng ra. Tuyến hỏa xa ngầm thải hồi anh khi họ biết toàn bộ câu chuyện. Red không phiền lòng. Anh đã có những ý tưởng mới xem làm thế nào để phá vỡ vòng kìm kẹp của chế độ chiếm hữu nô lệ và không chịu buông súng. Royal nói: “Một khi đã bắt đầu làm việc gì thì cậu ấy sẽ không dừng lại đâu”. Royal buồn bã nhìn bạn ra đi, sau khi ở Tennessee họ đã chẳng còn nhất trí. Anh có thể biện hộ rằng Cora giết người là nhằm tự vệ, nhưng tính khát máu không che đậy nơi Red lại là chuyện khác.

Khuynh hướng bạo lực và trí óc ì trệ một cách kỳ quặc của Ridegeway khiến hắn rất khó tìm được những người tự nguyện đồng hành với mình. Tiếng xấu của hắn, cộng với cái chết của Boseman và mối nhục vì bị những người da đen sống ngoài vòng pháp luật qua mặt, đã biến hắn thành một kẻ mạt hạng trong hàng ngũ săn nô lệ. Các cảnh sát trưởng tại Tennessee vẫn truy nã những nô lệ giết người, tất nhiên, nhưng Ridgeway không được dự vào cuộc săn lùng đó. Kể từ mùa hè ấy, không ai còn nghe nói gì về hắn.

“Cậu bé đó ra sao, Homer ấy?”

Sam đã nghe nói về cậu trai lạ lùng nọ. Chính cậu ta là người cuối cùng cứu tay trùm săn nô lệ kia. Cách cư xử lạ lùng của Homer chẳng giúp gì cho danh tiếng của Ridgeway cả - cặp chủ tớ này chỉ khiến thiên hạ suy đoán không đích đáng. Dù sao hai người đó cũng biến mất cùng nhau, mối dây gắn kết giữa chủ và tớ không bị phá vỡ sau vụ đụng độ với nhóm của Royal. “Một cái hang nhớp nháp”, Sam nói, “thích hợp với những đồ khốn vô tích sự ấy”.

Sam ở lại trang trại ba ngày, tán tỉnh Georgina nhưng không ăn thua. Anh ở đó đủ lâu để tham gia cuộc thi bóc ngô của trang trại.

Cuộc thi diễn ra vào tối đầu tiên của tuần trăng tròn. Bọn trẻ dành cả ngày để xếp ngô thành hai đống lớn, trong một đường biên được xếp bằng lá đỏ. Mingo chỉ huy một đội - năm thứ hai liên tiếp Sybil theo dõi cuộc thi với cảm giác chán ghét. Mingo chọn đội gồm toàn đồng minh của ông ta mà không thèm quan tâm đến việc trang trại có biết bao người. Oliver, con trai cả của Valentine, tập trung một nhóm gồm những người mới đến và người lớn tuổi. “Và vị khách đặc biệt của chúng ta, tất nhiên”, Oliver nói rồi gật đầu với Sam.

Một cậu bé thổi còi, vậy là cuộc thi bóc vỏ ngô hối hả bắt đầu. Phần thưởng của năm nay là một chiếc gương lớn bằng bạc mà Valentine đã kiếm được ở Chicago. Chiếc gương được đặt giữa những đống ngô, được thắt dải nơ màu xanh dương, phản chiếu ánh sáng da cam từ dãy đèn bí ngô. Các đội trưởng oang oang ra mệnh lệnh cho thành viên trong khi khán giả reo hò, vỗ tay ầm ĩ. Người nhạc công kéo vĩ cầm chơi một khúc nhạc đệm vui nhộn. Lũ trẻ nhỏ chạy quanh những đống ngô, thỉnh thoảng chộp được những vỏ ngô khô trước khi chúng rơi xuống đất.

“Lấy bắp ngô đó đi!”

“Cậu ở đằng kia khẩn trương lên!”

Cora đứng ngoài theo dõi cuộc thi, bàn tay của Royal đặt trên hông cô. Tối hôm trước Cora cho phép anh hôn cô, điều mà anh coi là - không hẳn vô lý - một dấu hiệu cho thấy Cora cuối cùng cũng đồng ý để anh theo đuổi cô. Cô đã khiến anh phải đợi. Anh sẽ đợi thêm. Rốt cục, tin tức về cái chết của lão Terrance cũng làm cô mềm lòng, dù cô còn mường tượng đầy ác ý. Cô tưởng tượng thấy chủ nô cũ của mình bị quấn trong mớ vải lanh, cái lưỡi tím tái của lão thè ra khỏi miệng. Lão kêu cứu nhưng chẳng ai thèm cứu giúp. Người Terrance nát bấy trở thành một đống máu me nhoe nhoét trong quan tài, sau đó lão phải chịu tra tấn dưới địa ngục. Ít nhất Cora cũng tin vào phần đó trong Kinh Thánh. Nó miêu tả đồn điền nô lệ bằng mật mã.

“Bây giờ ở đồn điền Randall không phải mùa thu hoạch”, Cora nói. “Khi chúng em hái bông, đó là mùa trăng tròn, luôn luôn có máu”.

“Em đâu còn ở Randall nữa”, Royal nói. “Bây giờ em tự do rồi”.

Cô vẫn giữ tâm trạng ấy và thì thầm: “Vậy thì sao nào? Đất đai là tài sản. Công cụ là tài sản. Rồi ai đó sẽ đem đấu giá đồn điền Randall, và cả các nô lệ nữa. Khi một người chết, bà con họ hàng của ông ta sẽ xuất hiện. Em vẫn là tài sản, dù ở Indiana này”.

“Ông ta chết rồi. Không anh em họ hàng nào của ông ta bận tâm đến việc tìm bắt em trở lại đâu, không giống như ông ta”. Anh nói, “Em tự do rồi”.

Royal cất tiếng hát để đổi chủ đề và để nhắc cô nhớ rằng vẫn có những hoạt động làm cơ thể con người cảm thấy dễ chịu. Một cộng đồng đã tập hợp lại, từ gieo trồng, gặt hái đến vui chơi tập thể. Song bài hát mà Royal hát lên lại là bài ca lao động mà Cora biết giữa những hàng cây bông, nó kéo cô trở lại đồn điền Randall tàn khốc, khiến tim cô đập thình thịch. Connelly thường hát bài này coi như một dấu hiệu bắt người nô lệ quay lại hái bông sau trận đòn roi.

Làm sao một điều cay đắng như thế lại trở thành phương tiện giải trí được? Mọi chuyện ở trang trại Valentine hoàn toàn khác. Lao động không nhất thiết phải gắn liền với khổ đau, lao động có thể đoàn kết mọi người. Một đứa trẻ vui vẻ như Chester có thể phát triển như Molly và các bạn của cô bé. Một bà mẹ nuôi đứa con gái bằng tình yêu và lòng nhân hậu. Một tâm hồn đẹp như Caesar có thể trở thành bất cứ điều gì anh muốn ở đây, và tất cả họ đều có thể: sở hữu một mảnh đất, trở thành một giáo viên, đấu tranh cho quyền của người da màu. Thậm chí trở thành thi sỹ nữa. Trong cảnh khổ sở tại Georgia cô đã mường tượng về tự do, và nó không giống thế này. Tự do là một cộng đồng lao động vì điều gì đó đẹp đẽ, hiếm hoi.

Mingo giành chiến thắng. Người của ông ta công kênh ông ta quanh những đống lõi ngô trong tiếng reo hò. Jimmy nói ông chưa từng thấy một người da trắng nào lao động cật lực như vậy, lời nhận xét của ông khiến Sam cười rạng rỡ vì vui thích. Tuy nhiên, Georgina vẫn chẳng xiêu lòng.

Hôm Sam rời đi, Cora ôm anh và hôn lên bên má có những sợi tóc mai dài của anh. Sam nói rằng khi nào anh ổn định chỗ ở, dù là ở đâu, anh cũng sẽ viết thư cho cô.

Họ đang ở trong thời kỳ ngày ngắn đêm dài. Cora thường xuyên đến thư viện khi thời tiết thay đổi. Những khi rủ được Molly đi cùng, cô thường đưa cô bé tới đó. Họ ngồi bên nhau, Cora với một cuốn sách lịch sử hoặc tiểu thuyết lãng mạn, còn Molly ngồi lật trang một cuốn truyện cổ tích. Ngày nọ, một người đánh xe chặn họ lại khi họ sắp sửa bước vào thư viện. “Ông chủ nói điều duy nhất nguy hiểm hơn một tên mọi có súng”, anh ta nói với họ, “là một tên mọi đọc sách. Vậy thì đó chắc chắn phải là một đống thuốc súng màu đen!”

Khi vài cư dân giàu lòng biết ơn đề nghị xây thêm một gian phòng để Valentine lưu trữ sách của ông, Gloria bèn gợi ý hãy xây hẳn thư viện. “Như thế thì bất cứ ai muốn tìm sách đều có thể tới đó lúc rảnh rỗi”. Xây một thư viện riêng biệt như vậy cũng khiến gia đình bà được riêng tư hơn. Họ hào hiệp, nhưng điều gì cũng có giới hạn mà.

Họ xây thư viện cạnh nhà hun khói. Căn phòng có mùi khói dễ chịu mỗi lần Cora ngồi xuống một chiếc ghế lớn với những cuốn sách của Valentine. Royal nói rằng đó là bộ sưu tập sách của người da đen lớn nhất tại khu vực này của Chicago. Cora không biết có đúng như vậy không, nhưng chắc chắc cô không thiếu sách đọc. Ngoài những chuyên luận về nghề nông và hoạt động canh tác những loại cây trồng đa dạng, có hàng dãy sách lịch sử. Tham vọng của người La Mã, thắng lợi của người Moor, và hoàng gia phong kiến châu Âu. Những tập sách quá khổ kèm theo bản đồ về biết bao vùng đất mà Cora chưa từng nghe nói, những phác thảo về phần thế giới chưa được khai phá.

Ở đó cũng có những tác phẩm văn chương đa dạng về các bộ tộc da màu. Những hoàng đế châu Phi và người nô lệ Ai Cập đã xây dựng Kim Tự Tháp màu nhiệm. Cánh thợ mộc của trang trại là những nghệ nhân thực sự - họ giữ được tất cả những cuốn sách đó không nhảy khỏi giá sách, để chúng chứa đựng bao điều kỳ diệu. Những tập thơ của các thi sỹ da đen, tự truyện của các diễn giả da màu. Phillis Wheatley và Jupiter Hammon. Có một tác giả tên là Benjamin Banneker, người đã biên soạn niên lịch - những cuốn niên lịch! Cô đọc chúng ngấu nghiến, và không quên say mê Thomas Jefferson, người soạn bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Cora còn đọc những câu chuyện kể người nô lệ sinh ra trong xiềng xích và học chữ. Về những người bị bắt cóc, bị giật khỏi quê hương và gia đình, biết bao nỗi thống khổ của kiếp nô lệ và sau đó là hành trình bỏ trốn cam go của họ. Cô nhận ra câu chuyện của họ cũng là chuyện của chính cô. Đó là câu chuyện về tất thảy người da màu mà cô từng biết, về những người da đen chưa được sinh ra, nền tảng thắng lợi của họ.

Người ta đã ghi tất cả những câu chuyện đó ra giấy trong những căn phòng nhỏ xíu. Một số người thậm chí có nước da đen giống cô. Điều đó khiến Cora bối rối mỗi lần mở cánh cửa thư viện. Cô sẽ phải bắt đầu đọc ngay lập tức nếu định đọc tất cả những ghi chép đó.

Một buổi trưa, Valentine bước vào phòng đọc cùng cô. Cora khá thân thiện với Gloria, người gọi cô là “cô gái phiêu lưu mạo hiểm” - vì bao trắc trở trong hành trình của cô, nhưng cô chưa từng nói chuyện với chồng bà bên ngoài những cuộc hội họp. Món nợ của cô lớn đến mức không thể nói ra được, vậy nên cô tránh mặt ông.

Ông nhìn bìa cuốn sách cô đang đọc, một tác phẩm văn học kể về một cậu bé người Moor trở thành mối đe dọa của Bảy Đại dương [26] . Ngôn từ của cuốn đó đơn giản nên cô đọc khá nhanh. “Tôi chưa đọc cuốn này”, Valentine nói. “Tôi nghe nói cô thích đến thư viện lắm. Cô từ Georgia tới phải không?”

Cô gật đầu.

“Tôi chưa bao giờ tới đó, những câu chuyện ở đó buồn quá, tôi có thể sẽ mất tinh thần và khiến vợ tôi trở thành góa phụ”.

Cora đáp lại nụ cười của ông. Ông thường chỉ xuất hiện trong những tháng hè, coi sóc vụ ngô Indiana. Những người lao động biết về cây tràm, cây thuốc lá - và tất nhiên, cây bông - nhưng cây ngô khó xử lý hơn. Khi chỉ dẫn người lao động, ông rất vui vẻ, kiên nhẫn. Còn vào lúc giao mùa hiếm khi thấy ông xuất hiện. Người ta nói vào khoảng thời gian đó ông cảm thấy khó ở. Ông dành hầu hết thời gian trong nhà, làm sổ sách.

Ông bước tới các giá sách chứa những tấm bản đồ. Giờ đây, vì họ ở trong cùng một gian phòng, Cora buộc phải khơi chuyện dù trước đó cô nín hàng tháng. Cô hỏi về tình hình chuẩn bị buổi họp.

“Phải rồi, cuộc họp đó”, Valetine nói. “Cô nghĩ nó sẽ diễn ra chứ?”

“Nó phải diễn ra ạ”, Cora đáp.

Cuộc họp đã bị hủy hai lần vì Lander đến diễn thuyết. Bên bàn ăn của Valentine, ông và các bạn của ông - sau đó là giới học giả và các nhà bãi nô nổi tiếng - thường nán lại cho tới nửa đêm, tranh luận về người da màu. Nào là nhu cầu đối với trường dạy nghề, trường Y. Nào là cần một tiếng nói trong Nghị viện, nếu không phải là một đại diện thì phải là một liên minh có sức mạnh với những người da trắng mang tư tưởng phóng khoáng. Làm thế nào để xoa dịu tổn thương tinh thần do chế độ nô lệ gây ra - rất nhiều người tự do vẫn là nô lệ cho nỗi kinh hoàng mà họ phải chịu đựng trong quá khứ.

Những cuộc thảo luận vào bữa tối đã thành lệ, mở rộng ngoài phạm vi tư gia của Valentine, lan tới tận nhà sinh hoạt chung, rốt cục Gloria ngừng phục vụ thức ăn và đồ uống, để mặc họ tự lo liệu. Những người ủng hộ quan điểm chậm-chắc vì sự tiến bộ của người da màu châm chọc những người muốn gấp gáp hơn. Khi Lander tới, - người đàn ông da màu có khả năng hùng biện và đáng tôn trọng nhất mà bất cứ ai trong số họ từng gặp - các cuộc tranh luận trở nên cục bộ hơn. Hướng đi của quốc gia là một chuyện; tương lai của trang trại là một chuyện khác.

“Mingo hứa hôm đó sẽ là dịp đáng nhớ”, Valentine nói. “Một cơ hội để thể hiện khả năng hùng biện tuyệt vời. Hi vọng họ kết thúc sự kiện tuyệt vời đó sớm để tôi đi ngủ đúng giờ”. Phát mệt trước những hoạt động hành lang của Mingo, Valentine đã nhường người khác tổ chức buổi họp mặt.

Mingo sống ở trang trại này được một thời gian dài rồi, và như lời kêu gọi của Lander - cũng tốt khi có một tiếng nói của cư dân trang trại. Ông ta không phải là nhà hùng biện, nhưng nguyên là một nô lệ, lên tiếng thay cho đông đảo cư dân tại đây.

Mingo tận dụng khoảng thời gian hoãn họp mặt để đẩy mạnh những mối quan hệ đã được cải thiện với một số thành phố của người da trắng. Ông ta gây ảnh hưởng với dăm ba người từ trại của Lander - chẳng phải những gì Lander nghĩ trong đầu đều rõ rành rành. Lander thẳng thắn nhưng không phải là người ruột để ngoài da.

“Điều gì sẽ xảy ra nếu họ quyết định chúng tôi nên rời khỏi đây?” Cora ngạc nhiên vì mình khó cất lời đến thế.

“Họ ư? Cô là một trong số chúng ta mà”. Valentine ngồi xuống chiếc ghế Molly thích ngồi khi đến thư viện. Nhìn gần, chiếc ghế cho thấy gánh nặng của rất nhiều tâm hồn trút xuống. Người đàn ông này thì cho thấy nỗi mệt mỏi. “Tình hình có thể đã vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi”, ông giãi bày. “Những gì chúng tôi gây dựng ở đây… có quá nhiều người da trắng không muốn chúng tôi có trang trại, kể cả khi họ không nghi ngờ chúng tôi liên hệ với tuyến hỏa xa ngầm. Hãy nhìn xung quanh mà xem. Nếu họ giết một nô lệ chỉ vì anh ta học chữ thì họ cảm thấy thế nào trước một thư viện đây? Chúng ta đang ở trong một căn phòng đầy ắp ý tưởng. Quá nhiều ý tưởng cho một người da màu. Hoặc một phụ nữ da màu”.

Cora nâng niu những kho báu vượt ngoài sức tưởng tượng trong trang trại Valentine tuyệt đối đến mức quên rằng đó là điều bất khả sở hữu. Trang trại, và những khu dân cư lân cận hoạt động vì lợi ích của người da màu, đã trở nên quá lớn và thịnh vượng. Một cộng đồng da đen biệt lập trên quốc gia non trẻ. Di sản đen của Valentine đã được biết tiếng từ nhiều năm trước. Một số người cảm thấy bị lừa gạt khi họ đối xử công bằng với một người da đen - sau đó bị người da đen kiêu hãnh ấy làm mất mặt vì anh ta dám trở nên thành công.

Cora kể cho Valentine nghe chuyện xảy ra tuần trước, khi cô đang đi trên đường và suýt bị một chiếc xe ngựa kéo đâm vào. Người đánh xe chửi cô bằng những lời ghê tởm. Cora đâu phải là nạn nhân duy nhất bị ngược đãi. Đám người mới đến những thành phố lân cận, bọn du côn và lũ người da trắng hèn hạ bắt đầu gây hấn khi cư dân trang trại tới mua nhu yếu phẩm. Tuần trước, một cửa hàng thực phẩm treo biển CHỈ PHỤC VỤ NGƯỜI DA TRẮNG - cơn ác mộng từ miền nam trườn tới đe dọa họ.

Valentine nói: “Theo luật pháp, chúng ta có quyền ở đây với tư cách là công dân Mỹ”. Nhưng Luật Nô lệ bỏ trốn cũng là luật. Tuyến hỏa xa ngầm làm mọi chuyện trở nên phức tạp. Những kẻ săn nô lệ không thường xuyên xuất hiện, nhưng đâu phải là không ai hay biết về tuyến hỏa xa ngầm. Mùa xuân trước, hai kẻ săn nô lệ bất chợt xuất hiện với lệnh khám xét toàn trang trại. Người mà bọn chúng săn tìm đã rời khỏi đó từ lâu, nhưng toán săn nô lệ cho thấy cuộc sống của những người lưu trú tại đây mới bấp bênh làm sao. Khi bọn chúng lục soát lều trại, một người nấu bếp sợ quá đã phải tè vào hộp dụng cụ nấu ăn của anh ta.

“Indiana là một bang tồn tại chế độ nô lệ”, Valentine tiếp tục nói. “Cái xấu xa đó thấm cả vào đất. Người ta nói nó ngấm vào đất và trở nên mạnh hơn. Biết đâu đây chưa phải là chỗ thích hợp. Đáng lẽ sau khi rời Virginia, tôi và Gloria nên đi tiếp”.

“Tôi cảm nhận được điều đó khi vào thành phố”, Cora nói. “Nhìn vào mắt họ tôi biết”. Cô nhận ra đó không chỉ là Terrance, Connelly, Ridgeway, những kẻ độc ác. Cô đã quan sát những khuôn mặt trong công viên ở Bắc Carolina giữa ánh sáng ban ngày, và ban đêm, khi họ tụ tập lại vì những hành động tàn bạo. Những khuôn mặt da trắng tròn trịa hệt như một cánh đồng bất tận đầy quả nang bông, tất cả đều như nhau.

Hiểu được nỗi thất vọng của Cora, Valentine trấn an cô: “Tôi tự hào về những gì chúng tôi đã gây dựng ở đây, chúng tôi đã khởi sự một lần rồi. Chúng tôi có thể làm lại. Bây giờ tôi có hai đứa con trai khỏe mạnh giúp sức, và chúng tôi có khá nhiều đất đai. Gloria luôn muốn thấy Oklahoma, dù tôi không biết lý do tại sao. Tôi sẽ cố gắng làm vui lòng bà ấy”.

“Nếu chúng ta quyết định ở lại”, Cora nói, “Mingo sẽ không cho phép những người như tôi. Những kẻ bỏ trốn. Những người tứ cố vô thân”.

“Bàn bạc cũng tốt thôi”, Valentine nói. “Khi bàn bạc với nhau, ta sẽ rõ thái độ của mọi người và cô sẽ hiểu thực chất vấn đề. Chúng ta sẽ xem thái độ chung của cả trang trại. Trang trại là của tôi, nhưng cũng là của mọi người. Của cô nữa. Tôi sẽ chờ mọi người quyết định”.

Cora nhận thấy cuộc tranh luận đã khiến ông mệt lử. “Tại sao lại làm điều đó cơ chứ”, cô hỏi. “Vì tất cả chúng ta ư?”

“Tôi nghĩ cô là một người thông minh”, Valentine nói. “Cô không biết sao? Người da trắng sẽ không làm điều đó đâu. Chúng ta phải tự làm lấy”.

Nếu người chủ trang trại đến thư viện để tìm một cuốn sách thì ông đã rời khỏi đó tay không. Gió rít qua cánh cửa để mở và Cora thắt chặt tấm khăn choàng. Nếu tiếp tục đọc, cô có thể bắt đầu đọc được một cuốn sách vừa đúng giờ ăn tối.

Cuộc họp hệ trọng ở trang trại Valentine diễn ra vào một tối tháng Mười Hai lộng gió. Trong những năm sau này, những người sống sót đã kể lại biến cố xảy ra vào tối hôm ấy, và lý do tại sao. Đến tận ngày cuối đời, Sybil vẫn khăng khăng Mingo là mật thám. Khi đó chị đã là bà lão, sống bên một cái hồ tại Michigan cùng đàn cháu thường xuyên nghe những câu chuyện quen thuộc của bà chúng. Theo Sybil, Mingo đã báo với cảnh sát rằng trang trại đang che giấu nô lệ bỏ trốn và cung cấp thông tin cặn kẽ để phục kích. Cuộc phục kích dữ dội đã cắt đứt mối liên hệ giữa trang trại với tuyến hỏa xa ngầm, chặn đứng dòng suối vô tận những người da đen khốn khổ đổ về đây và sự trường tồn của trang trại. Khi được hỏi ông ta có nhúng tay vào bạo lực hay không, Sybil bặm môi, không nói thêm gì nữa.

Một nhân chứng sống sót khác - ông Tom thợ rèn - kể rằng cảnh sát đã truy tìm Lander suốt nhiều tháng. Anh là mục tiêu bị nhắm sẵn. Tài hùng biện của Lander đã thổi bùng khát khao; kích động nổi loạn; anh quá kiêu hãnh để có thể được phép tự do. Tom chưa bao giờ đọc nhưng thích khoe tập sách Lời kêu gọi của Lander, chính nhà diễn thuyết nổi tiếng ấy đã ký tặng ông.

Joan Watson sinh ra ở trang trại. Tối hôm ấy, khi sự cố xảy ra, cô bé mới sáu tuổi. Vì cuộc tấn công mà cô bé phải lang thang trong rừng suốt ba ngày, nhai hạt sồi tới tận lúc một chiếc tàu hỏa chở hàng phát hiện ra cô. Lớn lên, cô tự nhận mình là người học lịch sử nước Mỹ. Cô nói rằng các thành phố của người da trắng đã liên kết lại chỉ hòng xóa bỏ thành trì của người da đen nằm giữa chúng. Cô nói đó là cách hành xử của chủng tộc châu Âu. Nếu không thể điều khiển một thứ gì đó, họ sẽ phá hủy nó.

Nếu có bất cứ ai ở trang trại biết chuyện gì sẽ xảy đến thì họ cũng không biểu lộ. Ngày thứ Bảy trôi đi yên tĩnh và biếng nhác. Cora dành hầu như cả ngày trong phòng ngủ với cuốn niên lịch mới nhất mà Royal tặng cô. Anh kiếm được nó ở Chicago. Nửa đêm, anh gõ cửa phòng cô để trao cuốn sách; anh biết cô còn thức. Đã khuya rồi mà cô thì không muốn làm ảnh hưởng đến Sybil và Molly. Lần đầu tiên Cora để anh vào phòng mình.

Cô ngây người khi nhìn cuốn niên lịch của năm mới. Dày bằng sách kinh cầu. Cora kể cho Royal nghe về những ngày trong phòng áp mái ở Bắc Carolina, nhưng khi nhìn thấy năm trên bìa cuốn niên lịch - một điều đến từ tương lai - Cora được khích lệ đến với phép màu của chính cô. Cô kể với anh về tuổi thơ ở đồn điền Randall, nơi cô hái bông nhét đầy bao tải. Về bà Ajarry của cô, người đã bị bắt cóc khỏi gia đình ở châu Phi và về miếng đất tí xíu, thứ duy nhất cô gọi là tài sản của mình. Cora nói về mẹ cô, Mabel, người đã bỏ trốn, để mặc cô lại đó cho cuộc đời đoái thương kiểu được chăng hay chớ. Về Blake, cái chuồng chó và chuyện cô đương đầu với gã bằng rìu. Khi cô kể với Royal về cái đêm bọn chúng lôi cô ra phía sau nhà hun khói và xin lỗi anh vì đã để chuyện đó xảy ra, anh bảo cô đừng nói vậy. Anh bảo cô mới là người đáng được nhận lời xin lỗi - vì tất cả nỗi đau khổ mà cô phải chịu đựng. Anh bảo mọi kẻ thù của cô, tất cả chủ nô và đốc công từng gây đau khổ cho cô, sẽ bị trừng phạt, nếu không ở kiếp này thì ở kiếp sau, bởi vì công lý có thể đến chậm và vô hình đấy, nhưng cuối cùng nó luôn hoàn trả phán quyết đích thực. Royal ôm cô thật chặt trong vòng tay anh hòng làm dịu cơn run bần bật và cơn nức nở của cô, cứ thế họ ngủ thiếp đi trong gian phòng phía sau một căn lều của trang trại Valentine.

Cô không tin điều anh nói về công lý, nhưng thật dễ chịu khi nghe anh nói điều đó.

Sáng hôm sau cô tỉnh dậy, cảm thấy dễ chịu hơn, và phải thừa nhận rằng cô tin điều đó, dù chỉ chút ít.

Nghĩ rằng Cora ngủ dậy bị đau đầu, gần trưa Sybil mang cho cô chút thức ăn. Chị trêu Cora chuyện Royal ở qua đêm. Chị đang sửa chiếc váy mà chị sẽ mặc cho buổi họp mặt hệ trọng thì “cậu ta mò đến cầm đôi giày cao cổ trong tay, trông như chú chó vừa mới trộm được mẩu thức ăn”. Cora chỉ cười.

“Đêm qua chàng trai của cô không phải là người duy nhất mò đến đây đâu”, Sybil nói. Lander đã trở lại.

Điều đó giải thích tại sao Sybil vui vẻ đến thế. Lander gây ấn tượng mạnh mẽ với chị, hễ anh ghé thăm trang trại là chị liền cảm thấy mạnh mẽ hơn trong nhiều ngày sau đó. Những lời ngọt ngào của anh. Giờ đây anh đã trở lại trang trại Valentine. Buổi họp mặt sẽ diễn ra, kết quả như thế nào không ai biết. Sybil không muốn chuyển đến phía tây, không muốn rời bỏ ngôi nhà của chị, điều mà mọi người cho là giải pháp của Lander. Kể từ khi mọi người bắt đầu bàn tán chuyện định cư, chị đã kiên quyết ở lại. Nhưng chị không tuân theo điều kiện mà Mingo đưa ra, rằng họ ngừng đón nhận những người gặp khó khăn. “Không có nơi nào như nơi này, không phải ở bất cứ đâu cũng có. Ông ta muốn xóa sổ nó”.

“Valentine sẽ không để ông ta phá hoại nó đâu”, Cora nói, mặc dù sau khi trò chuyện với ông trong thư viện, cô cảm thấy dường như ông đã nghĩ đến việc bỏ cuộc.

“Rồi chúng ta sẽ thấy”, Sybil đáp. “Có thể tôi sẽ phải lên tiếng, và tôi sẽ nói với họ điều họ phải nghe”.

Tối hôm đó, Royal và Cora ngồi hàng ghế đầu - bên cạnh Mingo và gia đình của ông ta, người vợ và mấy đứa con mà ông ta chuộc khỏi cảnh nô lệ. Angela, vợ ông ta, im lặng như mọi khi; muốn nghe bà ta mở miệng, hẳn bạn phải nấp bên dưới cửa sổ nhà họ khi bà ta bí mật xúi bẩy chồng. Mấy đứa con gái của Mingo mặc váy màu xanh dương tươi tắn, những túm tóc đuôi ngựa của chúng được buộc ruy-băng trắng. Lander chơi đố vui với đứa con út của ông ta trong khi các cư dân kéo vào hội trường. Tên đứa bé là Amanda. Cô bé cầm một bó hoa vải; anh bông đùa về bó hoa và cả hai bật cười. Khi Cora bắt gặp Lander trong giây phút ấy, khoảng thời gian ngắn giữa các tiết mục, anh làm cô nhớ tới Molly. Sau tất cả những cuộc nói chuyện thân thiện của anh, cô lại nghĩ anh thích ở nhà một mình, chơi nhạc trong những căn phòng trống hơn.

Anh có những ngón tay thanh mảnh. Thật lạ rằng một người chưa bao giờ hái một quả nang bông hoặc đào một con mương hoặc nếm mùi cái roi chín đuôi lại hiện diện để cất tiếng nói cho những người từng nếm trải. Anh gầy gò, với nước da sáng màu cho thấy anh là con lai. Cô chưa bao giờ thấy anh cuống quýt, vội vã. Người đàn ông này cử động bình tĩnh, tế nhị, hệt một chiếc lá bay trên mặt hồ, vẽ ra đường riêng của mình trên những gợn sóng nhè nhẹ, hiền hòa. Thế rồi anh cất tiếng, và bạn thấy sức lôi cuốn mạnh mẽ nơi anh làm bạn phải có mặt.

Đêm nay không có khách da trắng. Tất cả mọi người sống và lao động ở trang trại đều có mặt, cũng như những gia đình trong các trang trại da màu gần đó. Chứng kiến tất thảy họ trong một căn phòng, lần đầu tiên Cora thấy cộng đồng này mới lớn làm sao. Có những người trước đây cô chưa từng gặp, chẳng hạn như cậu con trai tinh nghịch nháy mắt với cô khi họ tình cờ nhìn nhau. Những người lạ nhưng là gia đình, các anh chị em họ nhưng chưa bao giờ được giới thiệu với nhau. Vây quanh cô là những người đàn ông, đàn bà được sinh ra ở châu Phi, hoặc sinh ra trong cảnh nô lệ, những người đã tự giải phóng mình hoặc bỏ trốn khỏi chủ nô. Bị đánh dấu, đánh đập, cưỡng hiếp. Bây giờ họ có mặt ở đây. Họ tự do, họ là người da đen và làm chủ số phận mình. Điều đó khiến cô run rẩy.

Valentine bám lấy gờ bục diễn thuyết để đứng vững. “Tôi không lớn lên như các bạn. Mẹ tôi chưa từng phải lo sợ cho sự an toàn của tôi. Không kẻ buôn bán nô lệ nào định giật tôi khỏi gia đình vào ban đêm và bán tôi xuống miền nam. Những người da trắng nhìn nước da của tôi, chỉ vậy thôi cũng đủ để họ để tôi yên. Tôi tự nhủ mình chẳng làm gì sai cả, nhưng tôi quyết định không bận tâm đến nó trong suốt những năm tháng ấy. Cho tới khi các bạn đến đây gây dựng cuộc sống với chúng tôi”.

Valentine kể rằng ông đã rời khỏi Virginia để tránh cho các con ông khỏi tác động tai hại của thành kiến, của những kẻ bắt nạt và bạo lực. Nhưng chỉ cứu hai đứa trẻ thôi thì chưa đủ khi mà Thượng Đế ban tặng cho ta thật nhiều. “Một phụ nữ tìm đến chỗ chúng tôi giữa mùa đông khắc nghiệt - ốm yếu và tuyệt vọng. Chúng tôi không thể cứu cô ấy”. Giọng Valentine nghèn nghẹn. “Tôi đã lơ là bổn phận của mình. Chừng nào một người trong gia đình chúng ta còn phải chịu nỗi đau khổ của kiếp nô lệ thì chừng đó tôi mới chỉ là người tự do trên danh nghĩa. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn với tất cả những người đã ở đây giúp tôi sửa chữa điều đó. Dù là một trong số chúng ta được nhiều năm hay mới chỉ tới đây vài giờ thì các bạn cũng cứu rỗi cuộc đời tôi”.

Ông nói ấp úng. Gloria lên với ông, ôm ông trong vòng tay. “Bây giờ có vài người trong gia đình chúng ta muốn chia sẻ cùng các bạn đôi điều”, Valentine hắng giọng. “Tôi hi vọng các bạn sẽ lắng nghe họ như đã lắng nghe tôi. Có đủ chỗ cho những quan điểm khác nhau về con đường của chúng ta trên đất nước rộng lớn này. Khi mà đêm tối mịt mùng và đầy những bước chân xảo trá”.

Người sáng lập trang trại rút lui khỏi bục diễn thuyết, Mingo thế chỗ ông. Các con của Mingo bước theo sau, hôn tay ông ta để chúc may mắn trước khi chúng trở lại ghế ngồi.

Mingo mở lời bằng câu chuyện về hành trình của ông ta, những đêm ông ta cầu xin Chúa dẫn dắt, những năm dài mua tự do cho gia đình. “Nhờ sức lao động lương thiện, tôi đã cứu được từng người thân của tôi, cũng giống như các bạn đã tự cứu mình”. Ông ta đưa tay lên dụi mắt.

Sau đó ông ta chuyển hướng. “Chúng tôi đã làm được điều không tưởng, nhưng đâu phải ai cũng có chí khí như chúng tôi. Đâu phải tất cả chúng ta đều có thể đạt được điều đó. Một số người trong chúng ta đã đi quá xa rồi. Ách nô lệ làm trí óc họ rối loạn, quỷ dữ đã xâm nhập vào đầu họ gieo những ý nghĩ xấu xa. Họ buông thả bản thân trong rượu và cảm giác dễ chịu giả tạo của rượu. Buông thả trong nỗi vô vọng cũng như cái xấu xa triền miên của nó. Các bạn đã thấy những người lầm lạc này ở các đồn điền, trên đường phố của các thành phố - những con người sẽ không, không thể tôn trọng bản thân. Các bạn đã thấy họ ở đây, nhận diễm phúc của nơi này nhưng không có khả năng hòa nhập. Họ luôn biến mất vào đêm tối bởi vì sâu thẳm trong tim họ biết bản thân vô giá trị. Đối với họ thì quá muộn rồi”.

Vài người bạn chí thân của ông ta ngồi phía cuối phòng nói “Amen”. Họ phải đối mặt với sự thật, Mingo giải thích. Người da trắng sẽ không thay đổi chỉ sau một đêm. Mơ ước của trang trại là xứng đáng và đúng đắn, nhưng chúng ta cần giành lấy từ từ. “Chúng ta không thể cứu được mọi người, việc làm ra vẻ chúng ta có thể sẽ gây tai họa cho tất cả. Các bạn nghĩ người da trắng - chỉ cách đây vài dặm - sẽ chịu đựng thái độ xấc láo của chúng ta mãi ư? Chúng ta cho thấy cái yếu kém nơi họ. Chúng ta che giấu những kẻ bỏ trốn. Các trưởng ga của tuyến hỏa xa ngầm có súng đến rồi đi. Những kẻ bị truy nã vì tội giết người. Những tên tội phạm”. Cora siết tay thành nắm đấm khi Mingo nhìn về phía cô.

Trang trại Valentine đã có những bước tiến đáng kể cho tương lai, ông ta bình luận. Các nhà hảo tâm cung cấp sách vở cho trẻ em - tại sao ta không đề nghị họ quyên góp tài chính cho tất cả trường học? Và không chỉ một, hai trường mà là hàng chục trường? Mingo viện lý lẽ rằng: bằng cách chứng minh đức tính tằn tiện và thông minh của người da đen, ông ta sẽ bước vào xã hội của người Mỹ như một thành viên hữu ích với đầy đủ các quyền. Tại sao lại đặt những gì chúng ta dày công gây dựng vào vòng hiểm nguy? Chúng ta cần chậm lại. Cần thỏa hiệp êm xuôi với những người “hàng xóm”, và dừng làm những việc khiến họ trút cơn thịnh nộ lên ta. “Chúng ta đã tạo lập được điều đáng kinh ngạc ở đây”, ông ta kết luận. “Đó là điều quý giá cần được bảo vệ, nuôi dưỡng, nếu không sẽ tàn héo như bông hoa hồng trong trận sương giá bất ngờ”.

Trong khi tiếng vỗ tay giòn giã vang lên, Lander thì thầm với đứa con gái nhà Mingo và họ lại cười khúc khích. Cô bé rút một bông hoa vải và cài nó lên khuyết áo trên cùng của chiếc gi-lê anh mặc. Lander vờ hít hà hương thơm rồi làm điệu bộ ngất ngây.

“Đã đến lúc rồi đấy”, Royal nói khi Lander bắt tay Mingo và tiến đến bục diễn thuyết. Royal đã dành cả ngày với Lander, đi dạo quanh trang trại và trò chuyện. Royal không tiết lộ Lander sẽ nói gì tối hôm đó, nhưng anh có thái độ lạc quan. Trước đây, khi nhắc đến chuyện tái định cư, Royal chia sẻ với Cora rằng anh thích Canada hơn miền tây. “Ở đó họ biết cách đối xử với những người da đen tự do”. Thế còn công việc của anh với tuyến hỏa xa ngầm? Royal nói, rồi cũng sẽ đến lúc phải an cư. Không thể nuôi nấng, chăm sóc con cái khi cứ chạy quanh các nhánh hỏa xa ngầm. Mỗi khi anh nói đến chuyện đó Cora lại đổi chủ đề.

Giờ thì cô đã thấy - tất cả bọn họ đã thấy - những gì người đàn ông đến từ Boston ấy ấp ủ trong đầu.

“Người anh em Mingo vừa đưa ra những lý lẽ thú vị”, Lander cất tiếng. “Chúng ta không thể cứu mọi người. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể cố gắng. Đôi khi ảo tưởng hữu ích tốt hơn sự thật vô ích. Không gì phát triển nổi trong thời tiết giá lạnh này, nhưng chúng ta vẫn nuôi trồng được những đóa hoa.

Đây là một ảo tưởng: rằng chúng ta có thể thoát khỏi chế độ nô lệ. Chúng ta không thể. Những vết sẹo không bao giờ mờ đi. Khi bạn chứng kiến mẹ của bạn bị bán đi, cha bạn bị đánh đập, em gái bạn bị chủ nô hoặc lão đốc công ngược đãi, bạn có nghĩ bạn sẽ ngồi đây hôm nay, không xiềng xích, không gông cùm, giữa một gia đình mới? Tất cả những gì bạn từng biết nói với bạn rằng tự do là lừa phỉnh - nhưng ở đây bạn tự do. Chúng ta vẫn bỏ trốn, theo ánh sáng của đêm trăng tròn, để tìm đến nơi ẩn náu.

Trang trại Valentine là một ảo tưởng. Ai đã nói với các bạn rằng người da đen xứng đáng có được một nơi nương náu? Ai đã nói với các bạn rằng các bạn có quyền đó nhỉ? Từng giây phút thống khổ trong cuộc đời các bạn đã lập luận khác kia. Mọi thực tế của lịch sử cho thấy một nơi như thế này là bất khả tồn tại. Nơi này chắc hẳn là một ảo tưởng. Nhưng chúng ta đang ở đây.

Và nước Mỹ cũng là một ảo tưởng, ảo tưởng lớn nhất trong mọi ảo tưởng. Chủng tộc da trắng tin - bằng cả trái tim - rằng họ có quyền chiếm đoạt đất đai. Có quyền tiêu diệt người da đỏ. Có quyền gây chiến tranh. Có quyền bắt những người anh em làm nô lệ. Nếu có chút công bằng nào trên thế giới thì quốc gia này sẽ không tồn tại, bởi vì nền tảng của nó là giết chóc, trộm cướp và thói tàn ác. Tuy nhiên chúng ta đang ở đây.

Ai đó cho rằng tôi sẽ đáp lại lời kêu gọi của Mingo để trang trại phát triển từ từ, để khước từ những người cần giúp đỡ. Ai đó cho rằng tôi sẽ hưởng ứng những người nghĩ nơi này ở quá gần tầm ảnh hưởng tai hại của chế độ nô lệ, và rằng chúng ta nên chuyển về phía tây. Tôi không có câu trả lời cho các bạn. Tôi không biết chúng ta nên làm gì. Tôi dùng từ ‘chúng ta’. Điểm chung duy nhất mà chúng ta có là màu da. Tổ tiên của chúng ta đến từ khắp nơi trên lục địa châu Phi. Nó khá rộng lớn. Người anh em Valentine có những tấm bản đồ thế giới trong thư viện tuyệt vời của ông, và các bạn có thể tự tra cứu lấy. Họ có lối sống, phong tục tập quán khác nhau, nói hàng trăm ngôn ngữ khác nhau. Và sự pha trộn lớn lao ấy đã được mang tới Mỹ trên những con tàu chở nô lệ. Đến miền bắc, miền nam. Những đứa con trai và con gái hái thuốc lá, trồng bông, làm việc trên những địa điền rộng lớn nhất cho tới những trang trại nhỏ bé nhất. Chúng ta là những thợ thủ công và bà đỡ, các nhà truyền giáo và người bán hàng rong. Bàn tay của người da đen đã xây dựng lên Nhà Trắng, trụ sở của chính phủ quốc gia. Tôi dùng từ ‘chúng ta’. Chúng ta không phải là một tộc người mà là nhiều tộc người khác nhau. Làm sao một người có thể phát ngôn cho chủng tộc vĩ đại và đẹp đẽ này - không phải là một chủng tộc mà là nhiều chủng tộc với cả triệu niềm khát khao, hi vọng, mong ước cho bản thân chúng ta và con cháu chúng ta?

Vì chúng ta là người Phi ở Mỹ. Một điều mới mẻ trong lịch sử thế giới mà không có hình mẫu nào hết.

Màu da hẳn là đủ. Màu da đưa chúng ta đến với buổi tối hôm nay, đến với cuộc họp mặt này, và sẽ đưa chúng ta vào tương lai. Tất cả những gì tôi thực sự biết là, chúng ta đứng dậy và ngã xuống trong một khối thống nhất, một gia đình da màu sống bên cạnh một gia đình da trắng. Chúng ta có thể không biết cách đi xuyên rừng, nhưng có thể nâng nhau dậy khi vấp ngã, và chúng ta sẽ cùng đến đích”.

Nhiều năm sau, khi những cựu dân ở trang trại Valentine nhớ lại khoảnh khắc đó, khi kể cho những người lạ và những đứa cháu chắt của mình họ đã từng sống như thế nào và cuộc sống ở đó kết thúc ra sao, giọng của họ vẫn còn run. Ở Philadelphia, ở San Francisco, trong những thị trấn xa xôi biệt lập và những trại gia súc ở phía tây của Bắc Mỹ, nơi mà cuối cùng họ đã đến định cư, họ thương tiếc những người thiệt mạng vào ngày hôm đó. Không khí hội trường trở nên căng thẳng, bị một lực vô hình dồn đẩy. Dù sinh ra là người tự do hay trong xiềng xích, họ đều cùng hít thở bầu không khí đó, ai cũng như ai: khoảnh khắc đó khi bạn nhằm ngôi sao phương Bắc và quyết định bỏ trốn. Có lẽ họ đang ở bên bờ của một trật tự mới, sắp gieo nguyên nhân cho hỗn loạn, dùng tất cả những bài học lịch sử để lao vào tương lai. Hoặc có lẽ thời gian đã cho dịp đó mượn một lực hấp dẫn mà nó không sở hữu, và mọi điều đúng như Lander đã khẳng định: Họ ảo tưởng.

Nhưng điều đó không có nghĩa nó không phải là thật.

Viên đạn găm trúng ngực Lander. Anh ngã vật ra, kéo đổ cả bục diễn thuyết. Royal là người đầu tiên đứng dậy. Khi anh chạy về phía người vừa ngã xuống, ba viên đạn găm vào lưng anh. Người anh giật mạnh như một vũ công của Thánh Vitus và gục xuống. Sau đó là cả mớ âm thanh hỗn loạn của tiếng súng trường, tiếng la hét, tiếng kính vỡ, một cuộc loạn đả diễn ra khắp hội trường.

Những gã đàn ông da trắng từ bên ngoài reo hò, hú hét trong cuộc chém giết. Trong cảnh hỗn loạn, người lưu trú ở trang trại vội tìm tới những cửa ra vào, nằm ép mình giữa những hàng ghế, trèo qua những chiếc ghế và trèo qua nhau. Khi lối cửa chính bị nghẽn, mọi người bò qua các cửa sổ. Thêm nhiều khẩu súng kêu lách cách. Những đứa con trai của Valentine giúp cha họ di chuyển ra cửa. Ở cánh trái của sân khấu, Gloria cúi xuống giúp Lander. Bà nhận thấy không còn gì để làm, bèn theo gia đình thoát ra ngoài.

Cora ôm đầu Royal vào lòng, giống như trong buổi trưa họ đi dã ngoại. Cô luồn những ngón tay vào mớ tóc quăn của anh, lay người anh và khóc. Royal mỉm cười trong khi máu trào ra môi anh. Anh bảo cô đừng sợ, đường hầm sẽ lại cứu cô. “Hãy tới ngôi nhà ở trong rừng. Em có thể kể cho anh biết đường hầm dẫn đến đâu”. Người anh bỗng chùng xuống.

Hai người đàn ông túm lấy cô, lôi cô ra khỏi Royal. Ở đây không an toàn, họ nói vậy. Một người trong số họ là Oliver Valentine, đã quay lại để giúp những người khác thoát khỏi hội trường. Anh kêu gào và la hét. Cora vùng vẫy hòng thoát khỏi những người giải cứu cô khi họ đưa cô ra ngoài và dẫn cô xuống bậc thềm. Trang trại rung chuyển. Đám cảnh sát da trắng lôi những người đàn ông và đàn bà đi trong bóng tối, bộ mặt gớm guốc của chúng tắm trong vẻ khoái chí. Một khẩu súng hỏa mai đã bắn trúng một trong những thợ mộc của Sybil - anh đang ôm đứa con nhỏ trong tay và cả hai cha con họ đổ gục xuống đất. Chẳng ai biết nên chạy đi đâu, và không một giọng nói có lý nào có thể được nghe thấy trong cơn ầm ĩ đó. Ai có thân người ấy lo, như họ đã từng.

Amanda, con gái của Mingo, run rẩy, gia đình của cô bé đã biến mất. Bị bỏ rơi trong bụi đất. Bó hoa của cô rụng cánh tả tơi. Cô bé vẫn cầm chặt những cuống hoa trơ trụi, những cành hoa bằng thép mà người thợ rèn đã kéo trên chiếc đe vào tuần trước, dành riêng cho cô. Cô bé nắm chúng chặt đến nỗi những sợi dây thép cứa rách lòng bàn tay cô. Thêm nhiều máu trong cát bụi. Đêm nay, đã là một bà lão, cô đọc về Cuộc đại chiến ở châu Âu rồi nhớ lại cảnh tượng đêm hôm đó. Cô đã định cư ở Long Island, sau khi lang bạt khắp đất nước, trong một ngôi nhà nhỏ với một thủy thủ người Shinnecock phải lòng cô. Cô dành nhiều thời gian tại Louisiana và Virginia, nơi cha cô mở các trường học dành cho người da màu và tại California. Cô sống ở Oklahoma một thời gian, nơi gia đình Valentine đến định cư. Cuộc xung đột ở châu Âu thật khủng khiếp và đầy bạo lực, cô bình luận với chàng thủy thủ, nhưng cô phản đối cái tên của nó, “Cuộc đại chiến” luôn là giữa người da trắng và người da đen cơ. Luôn luôn là như vậy.

Cora gọi Molly. Cô không nhìn thấy bất kỳ ai mà mình quen biết; những khuôn mặt đã biến dạng vì sợ hãi. Hơi nóng từ những đám cháy quét qua cô. Ngôi nhà của Valentine cháy rực. Một vại dầu phát nổ trên tầng hai, phòng ngủ của John và Gloria đang cháy. Những cánh cửa sổ của thư viện bị đập vỡ, Cora nhìn thấy sách cháy trên các giá sách ở bên trong. Cô bước hai bước về phía nó trước khi Ridgeway tóm được cô. Họ giằng co và đôi cánh tay to của hắn ghì chặt người cô, chân cô đá trong không khí như chân của một người bị treo cổ trên cành cây.

Homer đi cùng hắn - đó là cậu trai cô nhìn thấy giữa những hàng ghế trong hội trường, người đã nháy mắt với cô. Cậu ta mặc chiếc quần có dây đeo cùng áo sơ mi trắng, trông như một đứa trẻ ngây thơ nếu cậu ta ở một thế giới khác. Nhìn thấy cậu ta, Cora góp thêm giọng vào dàn đồng ca của những tiếng than khóc vang vọng khắp trang trại.

“Có một đường hầm, thưa ông”, Homer nói. “Tôi nghe thấy anh ta nói vậy”.

« Lùi
Tiến »