Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đóng Rác Cũ - Nguyễn Công Hoan

66 trả lời, 131 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 12:43:15 bởi Thanh Vân>
 
Đóng Rác Cũ - Nguyễn Công Hoan
 
* * *
I
MỘT NGÔI NHÀ CỦA MỘT NGƯỜI  
Ngôi nhà này bè bè, thô thô như một anh chàng to ngang mà lùn. Đó là tại khi xây dựng, không có kiểu vẽ trước? Hay tại toán thợ nề quê mùa nào đó, muốn khoe là tay cừ mỹ thuật? Họ đem nhồi nhét, trộn hổ lốn vào trong tác phẩm cỏn con này tất cả những cái họ đã nhìn qua loa thấy ở nhà kiểu Tàu, ở nhà kiểu Tây làm theo thời trung cổ, thời hiện đại? Hay tại tiền khoán nhà thì to mà tài thợ thì nhỏ? Cho nên để nuốt món đó cho khỏi hóc, họ đành liều lĩnh, phóng tay làm cho cái nhà trở thành không ra lối lăng gì.
Thôi mặc kệ. Ta tìm hiểu làm gì cái điều không lợi cho ta ấy? Nhà này dù đẹp, dù khéo, dù xinh, hay lố lăng, kệch cỡm, lòe loẹt, thì nó cũng là một sự kiện đã rồi.
Nhà có hai tầng. Tầng gác dẹt đen đét như bụng người nhịn đói. Vì ở phía trước, có chừa ra một cái sân rộng. Ở hai tường hai bên, trên bộ của chóp sơn xanh, có đắp một cái gờ dài. Gờ là mặt hổ phù dang hai chân trước. Mặt hổ phù có đủ cả mắt, mũi, miệng, răng, râu. Chân hổ phù có năm móng cong và nhọn. Mặt, mũi, miệng, răng, râu và móng, đều bôi đen, vàng, đỏ, nâu, trắng, tím. Mình hổ phù trổ vây mặt nguyệt, nhỏ li ti, mỗi mặt nguyệt tô một màu sặc sỡ khác nhau. Xin nói thêm, cửa đây là cửa chớp giả, mà ngay thời Dân chủ cộng hòa này, ta còn trông thấy ở nhiều nhà trong thị xã Hải Dương. Không mở được vì nó đắp bằng vữa. Nhưng ở cửa chớp thật bằng gỗ, hàng răng lắp vào khung thế nào, thì ở cửa chớp giả này, cũng y hệt như thế. Lại có đủ cả từng ấy chiếc bản lề, cũng đắp bằng vữa, nhuộm đúng màu sắt. Phía trước mặt tầng dưới, dưới ba cái mái cong, nổi lên những dòng ngói ống kiểu tàu sơn tím, có ba cửa tò vò, nhưng lại xây bịt kín. Lèo cửa bộ giữa chạy nho sóc, hai bộ bên chạy qua điệp. Để lên gác, một cái thang cuốn xây áp vào tường, gồm chừng hai chục bậc. Thang có mái, là một con rồng uốn tròn, đứng bằng mười chân, dính vào bậc, tức là tay vịn. Ba mặt sân gác có ba hàng bao lơn, mỗi cái bao lơn nặn hình con tiện, mỗi con tiện sơn một màu khác nhau. Ở một góc sân gác, dựng một cái giàn xây, với hàng xà ngang xi-măng xếp đều tăm tắp, như kiểu giàn dây leo ở công viên các thành phố. Mái gác trát nhân bằng vữa màu gạch. Trên đường bờ chính giữa, gắn một chiếc đồng hồ giả, kim ngắn chỉ thẳng lên con số 12, nhưng kim dài nằm ngang với con số 3. Những con số đều viết chữ La-mã. Trên đỉnh đồng hồ, có nhoi lên cái cổ nậm rượu, dưới thắt cổ bồng, trên phình ra, rồi thon dần. Dọc đường bờ, bên phải và bên trái cái đồng hồ, đi bát tiên bằng xi-măng. Và ở hai đầu, hai con phượng ngậm cuốn thư, uốn quặt cái đuôi lại.
Phía mặt gác trông ra sân, có ba bộ cửa. Hai bên tả hữu, là lối cửa bức bàn, cánh nào phần trên cũng là đường triện triết chi lá giát, và phần dưới, bịt kín, trổ bốn thứ cây mai, lan, cúc, trúc. Tôi quên không nói là nhà này không làm bằng tí gỗ nào, dù là các cánh cửa, toàn là xi-măng và vữa thôi. Chỉ trừ có cái cửa giữa gác, vì cần cho ánh sáng lọt vào trong, nên là kính. Cả một mặt kính lắp sau bức diềm y môn vữa màu đỏ. Tuy mưa nắng lâu ngày đã làm kính hơi mờ đi, nhưng ở ngoài trông vào vẫn rõ. Rõ là rỗng trơ. Trên sàn, không bày bàn ghế, tủ sập. Và trên tường, không treo hoành phi, câu đối. Chỉ có mỗi một cái. Cái này là tấm truyền thần bán thân một người bằng sơn màu. Tấm truyền thần dựng kín cả mặt tường hậu. Xin mở một dấu ngoặc để than thở vài câu về cái công trình thuộc về mỹ thuật này. Nhất định tấm truyền thân đây không phải là vẽ. Thời này, muốn truyền ai, nhất là những người giàu, thích hệt ảnh màu, thì mấy ông thợ vẽ lười vẽ đã phát minh ra một cách làm việc, vừa đỡ tốn công, vừa giống in như ảnh. Có gì đâu. Các ông nhận ảnh của khách hàng, đem chụp lại vào kính, rồi phóng cho to ra. Quần áo và các thứ trang trí, ai muốn thế nào, các ông cho được như thế tuốt. Vì đã có sẵn những mẫu cũ. Chỉ cần khách trả một món tiền ngang với giá trị những thứ làm tăng giá trị con người vẽ. Còn cái mặt, đáng lẽ truyền khó và lâu nhất mới giống thì các ông có ở ảnh rồi. Chỉ còn việc lấy thuốc màu, tô cho nước da hồng, cho đôi môi đỏ. Rồi phết một lượt quang dầu lên trên. Thế là chu. Giống ảnh không chê được! Và bền cố hỉ!
Bức truyền thần bày trong nhà này là chân dung một ông. Thường thì các ông đi mượn vẽ hay bắt bẻ người thợ vẽ đã vẽ không giống mình trong ảnh mà mình thuê phóng, chứ không bao giờ quan tâm đến việc ảnh có giống mình hiện tại, tức là lúc mình đến đưa nó cho người ta vẽ hay không. Bởi vì bao giờ các ông cũng chọn cái ảnh đã chụp bất cứ vào năm nào, miễn là nó đẹp nhất. Nghĩa là nó phải đáp ứng đủ ba tiêu chuẩn: mặt mũi trắng béo, quần áo bảnh chọe, và đáng điệu oai vệ. Nếu khi chụp, người thợ ảnh đã có thói quen về một thứ mỹ thuật nào đó, biết xóa hết trong kính đã rửa những nét nhăn nheo trên mặt, để khi in ra giấy, cái mặt ấy được chỉnh lý, cải biên nhiều nhiều, cho xinh đẹp nhiều nhiều, thì khi ngắm ảnh, khách hàng càng khen nhiều nhiều.
Cái ông trong tấm truyền thần này, mặt ngửa lên. Rõ rằng là người tự hào hơn cả một người có cái gì đáng tự hào. Vẻ mặt tự hào của ông này lại đi đến mức độ có thể gọi là vênh váo. Ông ta đã dùng một vật trang trí nhân tạo, làm cảnh cho đôi mắt, để mình được ngờ là học giả. Đó là cặp kính trắng tròn, lớn, gọng đồi mồi. Ria ông ta cũng làm cảnh cho miệng ông. Vật trang trí này tuy thiên nhiên, nhưng không khỏi không được đặt vào đó công lao động sáng tạo. Nó đen nhánh, hai bên đối nhau. Đầu ria hướng phía nhân trung thì rậm và to, nhưng đuôi ria quẫy ra phía cạnh mép thì cắt nhọn hoắt và uốn vểnh lên. Thuở này, gọi kiểu râu này là râu Tây, dù nó mọc trên môi bất cứ người nước nào. Đáng lẽ một nạm râu chổi sể còn phải đâm thẳng từ cằm ông ta xuống nữa mới hợp lý. Nhưng Tây cạo nó đi, thì ông ta cũng cạo nó đi. Cho nên đôi môi mỏng và cái cằm lẹm của ông, vì phải theo thời, mà không được ngụy trang. Tóc ông ta cũng đen như râu. Rẽ giữa. Hai bên chải lật hai múi, gồ và cong như hai cái cổng tò vò.
Tóm lại, ông này, mặt phình và nhẵn như mặt một cậu con trai, nhưng lại lạc vào đó hai con nong nóc ở trên mép. Khó lòng mà đoán được ông ta bao nhiêu tuổi.
Ông ta mặc Âu phục. À, ra nếu ông ta để râu cằm, thì làm sao ta nhìn thấy được cái cổ cồn là bóng lộn và cái ca-vát màu cánh trà, gài vào sơ mi bằng chiếc ghim có đầu bằng hạt ngọc xanh. Ở lỗ khuyết ve áo len màu tím, có đeo lủng lẳng cái vuốt hổ trắng bịt vàng, lòng thòng một cái dây vàng, chui vào miệng cái túi con ở áo ngực bên phải. Đây là dây đồng hồ. Để người ngoài hiểu ngầm rằng nó thả vào trong túi một chiếc đồng hồ quả quýt, và tất nhiên, cũng bằng vàng. Trên ngực này của áo ông ta đeo hai cái để ai cũng phải chú ý. Một cái hình chữ nhật, ngang độ hai đốt, dọc độ ba đốt ngón tay, màu kem, giữa là một dòng năm chữ nho, tô đỏ, đủ cả nét rất rõ. Đó là tấm bài ngà. Và năm chữ là Hàn lâm viện đãi chiếu. Cạnh thẻ ngà, là cái mà thời ấy gọi là mền-đay. Mền-đay này là thứ có miếng vải sọc xanh và vàng, đeo toòng teng một cái đầu rồng ngoác mồm bằng kim khí. Đó là tấm An-nam long bội tinh của vua ban.
Vậy thì, ái chà chà! Nhà này là nhà của một vị rất danh giá và rất đáng kính trọng. Vì có quan tước và có công với triều đình. Nhưng chắc chắn lão ta không là quan thật. Vì mặc Tây, chứ không vận phẩm phục. Vả lại, cái Hàm đãi chiếu là thứ hàm hạng bét, mà ngay một chức quan hạng bét cũng được đối ngay với một hàm cao hơn nhiều. Các bạn muốn biết lão ta là ai làm nghề ngỗng gì, xin đọc những chữ đề ở dưới bức truyền thần:
 
Monsieur TRAN ĐUC THUA dit ALBERT THUA Medecin annamite brevete de la Chine Journaliste Concessionnaire Amateur Membre de la Chambre des Representants du peuple du Tonkin Han lam vien Dai chieu Decore du Dragon d’Annam Decede le 20 du 2e mois de la 12e annee du regne Bao Đai


Vậy đây là một nhà cứu dân độ thế, một nhà doanh nghiệp, một tay ngôn luận, một nghị sĩ, đã đội nhiều ơn mưa móc. Và cái biệt thự này là cố cư của ông ta. Xin nhận rằng người thật đúng thế thật. Nhưng nhà không phải là cố cư. Vì tôi quên chưa nói nhà này không ở được. Nó chỉ có tầng gác là rỗng, còn tầng dưới thì lèn đặc những đất thó. Và tôi cũng quên, không nói ngay từ trên kia, là nhà này bé thôi, chỉ rộng có một thước mốt, dài hai thước, và cao một thước hai. Nó xây ở giữa đồng.
Vậy nó là cái mả?
Phải. Mả ông Trần Đức Thừa, tức An-be Thừa, thầy thuốc An-nam đỗ bằng của nước Trung Hoa, nhà báo, chủ đồn điền, chủ tàu thủy, nghị viên viện Nhân dân đại biểu Bắc kỳ, Hàn lâm viện đãi chiếu, thưởng thụ An-nam long bội tinh, tạ thế ngày 20 tháng thứ 2 năm thứ 12 triều vua Bảo Đại. Dịch theo minh tinh bằng tiếng Pháp trên kia là như thế.
Mả ông An-be Thừa nằm giữa một khu năm sào, vuông vắn, xung quanh bao vây bằng tường gạch cao ba thước. Có cái cổng xây mái kiểu mái nhà táng. Dưới mái, đắp một dòng chữ Pháp, gần giống với những chữ: CIMETIÈRE DE FAMILLE. Nghĩa là nghĩa trang gia đình. Hẳn là yết thị cho người ngoài đừng chôn ẩu xị vào đó. Bên niên hiệu, đề Long phi Đinh sửu niên. Bên lạc khoản ghi Thế nghị Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Thái thường tự khanh. Tuần phủ chi sự Lê Văn Bản bái văn.
Đôi câu đối này, một vế ý nói Nghị trường vắng tiếng từ nay, những tư tưởng nhân đạo, những trang báo nảy lửa đã vang động đến cửu trùng, đổi nắng hạn thành mưa Âu móc Á. Một vế ý nói âm phủ muốn chừng thiếu thầy thuốc giỏi, hai mươi năm xây dụng cơ đồ, làm giàu cho nhà, cho nước, nêu tấm gương sáng về Pháp - Nam thân thiện.
Câu đối là thứ văn chương xa xỉ phẩm để thù tạc. Khen ngợi người chết không biết cãi và không biết ngượng, câu đối được mặc sức nói huênh hoang. Huống hồ chữ nghĩa của một vị đại khoa, nghĩ ra để “lạy và than” người “bạn thân” đã khuất, thì phần văn chương nhất định được coi là cần thiết hơn sự thật.
- Sung sướng quá! sống ở nhà đẹp, chết ở nhà cũng đẹp!
Người thèm tiền nói thế. Nhưng người thèm ruộng thì mỉa:
- Chỗ này còn chôn được khối người họ Trần mới chật hết đất!
* *   *
Nhưng nghĩa trang này đã chôn thêm ai đâu? Từ Bảo Đại thập nhị niên tới nay, Cũng mới chỉ có thon lỏn có mỗi một ngôi trong khu vực mênh mông này.
Thế thì người trong gia đình ấy đâu? Không có ai, hay chưa có ai chết? Chưa có ai chết, hay đã có người chết mà chôn ở chỗ khác? Cái đó khó lòng mà đoán được. Lý do thế nào, chốc nữa ta sẽ rõ. Còn như trong gia đình có những ai thì ta có thể biết được một cách tương đối đúng. Tương đối thôi.
Ngày ông An-be Thừa chết không kể một nghìn cáo phó in giấy riêng, bay như bươm bướm ra khắp bốn phương trong nước, báo tin buồn cho các cụ, các quan, các ông, các bà, thân bằng cố hữu, còn có cáo phó thuê đăng trên tất cả các báo hằng ngày ở Hà thành. Thì những hôm cữu còn quàn trong nhà, ngày đầu tiên, lần lượt có ba người con trai, trạc mười lăm mười sáu tuổi trở lại, đến nhận là con ông và xin mũ gậy. Ngày hôm thứ hai, buổi sáng, một thiếu phụ, mặt mũi hiền lành, dắt đứa con độ lên hai tuổi đến, xin cho cả hai mẹ con được mặc đại tang. Vì bà ta nói cả bà lẫn con đều là con ông An-be. Không ai hiểu là tại làm sao. Lại đến buổi chiều, một bà độ ngót bốn mươi, vừa đến cổng, đã bù lu bù loa lên: “Ới anh ơi là anh ơi, anh đi đâu anh bỏ tôi!”. Rồi ngồi xổm bên quan tài, quệt nước mũi vào gót chân, bà ta tự giới thiệu: “Tôi là ma-đam An-be Thừa!”
Và vân vân.
Tất cả những nhân vật tự xưng là vợ, là con ông Thừa, hẳn là vợ con phi pháp, đều chưa một lần nào gặp những người gọi là vợ, là con hợp pháp của ông. Họ cũng chưa một lần nào gặp mặt nhau. Cho nên tất cả cùng làm cho nhau ngơ ngác. Và, sau khi họ cãi nhau không đến nỗi kịch liệt lắm, thì những người lạ mặt bị một thứ tiếng the thé dọa kiện đền danh giá, mắng chửi cho thêm vài câu, và bị đuổi đi hết.
Song, có một bà thân hình gầy đét đến, không làm ai ngơ ngác tí nào, còn làm cho nhiều người e ngại nữa. Bà này tóc đã hoa râm, chân đi tập tễnh. Đôi mắt đau có che bằng mảnh the thâm, rủ từ khăn xuống kín một nửa mặt. Bà mặc cái váy cũn cỡn và cái áo dài nâu bỏ xóng tràng. Bà đến nhà ông An-be vào lúc năm giờ sáng, trước lễ chuyển cữu hai giờ đồng hồ. Vừa đến cổng, bà đã nước mắt ròng ròng. Bà không chào hỏi ai, đi thẳng tuột vào chỗ thờ, vắt miếng the che mắt lên khăn để nhìn cho rõ, rồi ôm áo quan vật vã khóc: “Thầy thằng Mão ơi!”. Bà kể lể là giận nhưng vẫn thương. Đến khi thấy đông người đứng quanh, bà chuyển những lời tâm sự với người chết sang những lời xói móc người sống. Đứng cạnh bà là một người thanh niên lẹm cằm, tức là Mão, con bà. Tóc Mão để sù, bồng lên. Mặt Mão đầy nốt trứng cá. Tay Mão đút trong túi quần, hình như thủ một cái gì đó, hung hăng nhìn mọi người. Rõ rằng là Mão đứng đó để yểm hộ cho mẹ, sẵn sàng ứng chiến với ai dám gây sự với mẹ hoặc với mình.
Bà này là vợ cưới lần thứ nhất của ông Thừa. Và Mão là con thứ nhất còn sống của ông ta. Song, họ chỉ là vợ cái con cột trên lý luận thôi. Thực tế, họ đã bị ông Thừa ruồng bỏ từ lâu. Muốn dứt khoát với những người mà ông coi như chướng ngại vật, cản trở hạnh phúc của ông, ông nhờ pháp luật vịn vào cớ vợ hư, con đốn, để ly dị vợ và từ con. Không có chứng cớ rõ rằng, pháp luật đành chịu bất lực. Vì vậy, ông phải tự lực đuổi hai mẹ con Mão ra khỏi nhà.
Từ hơn hai chục năm nay, ông Thừa ở với người vợ khác. Người này là Tây lai - chứ không phải đầm lai, vì không mặc đầm - tên là Ma-ri. Ma-ri đã lần lượt đẻ ở nhà ông tám lần, nhưng còn lại hai trai và ba gái, năm nay con út đã mười lăm tuổi. Cả năm cô cậu đều đặt tên Tây hết. Hai trai là Pôn Thừa, và Giăng Thừa. Ba gái là Rô-da-lin Thừa, Ma-gơ-rít Thừa và Ca-mê-li-a Thừa. Cả năm cô cậu đều học trường Tây, trường Lít-xê. Đến năm ba tiểu thư choai choai, thu hút được nhiều bạn trai, thì bọn bạn gái của Pôn và Giăng xui các cô đặt biệt hiệu Việt Nam. Rô-da-lin lấy tên là Bạch Hường, Ma-gơ-rít là Kim Cúc, Ca-mê-li-a là Trà Mi. Người ngoài, những kẻ hiếu sự, thường đem việc ông Thừa đặt tên Tây cho con, có dính tiếng Thừa vào sau tên tiếng Tây, để đánh năm cái dấu hỏi khá lớn. Họ thì thầm rằng tại sao không có đứa nào lấy họ Trần, và đứa nào cũng “thừa”. Ý họ tán rằng những đứa con này đều là con thừa, do Tây đúc cốt. Ông Thừa chỉ làm việc tráng men thôi. Rất hả hê về dư luận này, bà mẹ Mão thêm một ý kiến đanh thép. Bà vin vào tiêu chuẩn cụ thể là máu mủ ông Thừa thì phải lẹm cằm. Bà tựa vào cái thứ kinh nghiệm chủ nghĩa ấy để gây chiến tranh lạnh với bà Ma-ri. Cho đến năm bọn con của người Tây lai lớn lộc ngộc, đứa nào cũng ngỗ nghịch, hung hăng, thì bà đâm hoảng, đành ngậm miệng mà vĩnh viễn chịu cái tai nạn xâm lăng. Bây giờ, nghe tin ông Thừa chết, bà mới đến nhà ông, để khóc ông một tiếng. Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận. Dù sao cũng ăn ở cho phải đạo làm vợ.
Mão là con trai, nên cứng hơn mẹ. Hắn không chịu nước ức. Thỉnh thoảng hắn đón đường, gặp bố, để vòi tiền. Nhưng thấy hắn lêu lổng, hư đốn quá, không bao giờ ông Thừa thí cho một xu. Hắn dọa giết Ma-ri, giết lũ con riêng của ông và giết ông. Ông sợ quá, phải đi trình cẩm.
Không hiểu vì sao lần này ông Thừa ốm, Mão lại biết tin. Hắn nhân lúc nhà vắng người, lọt vào được với ông. Hắn bắt ông chia của. Nhưng ông còn đủ sức để chửi hắn và đuổi hắn ra khỏi ngoài, ông ra lệnh cho gia nhân từ nay phải cấm cửa hắn. Nếu hắn cứ xồng xộc vào, thì lập tức phải đi báo đội sếp. Ông lại bắt Pôn và Giăng luôn luôn ở cạnh ông để canh cho ông.
Từ hôm Mão đến, ông Thừa bực mình, đâm ra ốm nặng thêm. Bà Ma-ri không dám dùng đơn của đốc-tờ Pi-ca là bác sĩ của gia đình nữa, mà mời ông thầy Cắm-xềnh ở Quảng Đông mới sang, để xem mạch bốc thuốc cho ông. Rồi cả bác sĩ Tây, bác sĩ Ta, lẫn ông lang Tàu, ông lang Ta, đều cam đoan rằng bệnh ông không can gì, chỉ vì ông nghĩ ngại phiền uất, nên có vẻ nặng mà thôi. Bà Ma-ri đến cả điện ở nhà cô Bé Tý Hàng Bạc để cầu và xin thẻ. Ngài dạy bản mệnh vững. Bà càng yên lòng.
Song, ông Thừa chết, chết một cách đột ngột. Hôm ấy bà Ma-ri đi lễ, Pôn và Giăng đã không nghe lời bố mà canh cho bố, lại nghe lời bạn gái nó rủ đi đánh cá ngựa. Thế là Mão lọt được vào trong nhà. Hắn vào buồng ông Thừa, khóa trái cửa lại. Hắn ở đấy độ mười phút rồi ra. Nhưng vừa mới đến cổng, bất thình lình, hắn gặp bà Ma-ri về. Biết là có sự chẳng lành, bà hô hoán lên, sai người bắt Mão lại, nhốt hắn vào nhà ô tô.
Lúc bấy giờ, trên giường bệnh, ông An-be đang phì phò thở rốc. Chân tay ông co quắp, mặt mũi ông nhăn nhó. Trông y như người đương dùng hết sức lực để đánh nhau. Bà Ma-ri lay gọi, nhưng ông bất tỉnh. Bà bật đèn lên, thấy chăn đệm xô lệch và miệng ông méo xệch, môi dưới lại rơm rớm máu. Ông không cựa được và cũng không nói được. Rồi độ năm phút sau, chân tay vẫn co quắp, mặt vẫn nhăn nhó, miệng vẫn méo xệch, ông lịm dần. Bà Ma-ri bật ra tiếng khóc. Từ giờ phút này, ông là người thiên cổ, là bạn trăm năm của bà có một phần năm thời gian.
Nghi là Mão giết ông An-be, song bà Ma-ri vẫn giữ được nghị lực. Tuy một mặt bà lo tang lễ sao cho xứng đáng, tuy một mặt bà định trình tòa khám nghiệm tử thi của chồng, nhưng bà không quên sai các con bà lục soát nhiều lần rất kỹ trong buồng, để tìm chùm chìa khóa két. Song, cuộc khám nghiệm không tìm ra dấu vết khả nghi. Trên da thịt không có một thương tích. Trong máu không có một chất gì có thể ngờ là thuốc độc. Không có hiện tượng để kết luận rằng đây là vụ giết người, tự sát hay bức tử. “Sở dĩ ở môi dưới của người chết có tí máu, là vì trước khi thở hơi cuối cùng, trong một trường hợp nào đó, và vì một lý do nào đó, ví dụ vì lý do tắt thở bất ngờ và trong trường hợp người ốm đã mê man loạn óc, thì có thể là tự mình mím miệng để chính răng cửa của mình cắn vào thịt. Chỗ sây sát của môi là do răng gây nên. Bề ngang bề dọc của vết thương và bề ngang bề dọc của răng đã được đo và khớp với nhau rất đúng”.
Vì vậy, việc ông An-be Thừa chết, theo biên bản của tòa, không phải là một vụ án bí mật có thể viết thành truyện trinh thám ly kỳ. Vả lại, bà Ma-ri cũng mong nó như thế thôi. Để khỏi gây ra dư luận, để khỏi mấy ông nhà báo đến điều tra, phỏng vấn, và dọa phóng đại để làm tiền. Lôi thôi và phiền phức lắm.
Nhưng khi tìm khắp buồng, thì bà vẫn không thấy chùm chìa khóa. Việc mất trộm này mới là hệ trọng! Bà đoán chắc rằng Mão đã cố cướp chùm chìa khóa ở trong túi áo ông An-be. Mà ông thì nhất định chống giữ. Cho nên môi ông mới mím chặt, mặt ông mới nhăn nhó và chân tay ông mới co quắp. Chùm chìa khóa ấy, ông vẫn bảo với bà là phải để ông giữ. Ông sợ giao cho bà thì, chiều nuông lũ con, bà mở két, lấy tiền cho chúng nó tiêu xài, vung phí hết.
Mất chùm chìa khóa là mất cả. Tiền ở trong két, chúc thư, văn tự cũng ở trong két. Không thể nào những thứ này lại lọt vào tay Mão. Nhưng, trong lúc ông An-be vừa nằm xuống, tang gia bối rối, thì bà là chủ nhà, càng phải bình tĩnh. Bà đã giam Mão lại một nơi rồi. Thế là yên trí. Người còn ở trong nhà, thì chìa khóa chưa thể ra ngoài. Mai kia, đòn hội chợ của nhà săng-tan sẽ giúp bà lấy lại được. Bây giờ, bà phải để hết tâm lo lắng ma chay cho ông. Kẻo thiên hạ người ta trông vào.
Nhưng bà Ma-ri có được để hết tâm trí vào việc lo lắng ma chay cho ông An-be đâu. Chốc chốc lại một vợ, chốc chốc lại một con của ông đến khóc lóc, xin khăn áo, xin mũ gậy. Bà đã cương quyết được với bọn này, thì thình lình bà mẹ của Mão tới. Và cũng không hiểu là làm thế nào, cũng lúc này, Mão ra thoát nhà xe, chạy đến chỗ thờ, đứng cạnh mẹ hắn.
Nhìn thấy Mão, bà Ma-ri không lo hắn sinh sự, đánh hay giết người, bằng lo hắn mang chùm chìa khóa ra khỏi nhà. Bà sai Pôn và Giăng phải cởi áo sô, bỏ mũ nùn rơm ra, cố sống cố chết, lấy lại cho kỳ được. Pôn và Giăng rình khởi thế công. Mão cũng ngầm giữ thế thủ. Lúc nào tay hắn cũng thu thu trong túi quần, hình như sẵn sàng rút khí giới ra để nghênh chiến.
Từ lúc bà mẹ Mão thấy có con đứng cạnh, thì bà được vững tâm. Bà không kể lể, nói cạnh nói khóe bà Ma-ri nữa. Bà có thể để không cần làm chiến tranh lạnh. Và bà Ma-ri cũng muốn gây ra chiến tranh nóng, để trong lúc loạn xạ, hai con bà có dịp xông vào Mão, cố cướp lại chùm chìa khóa. Bà bỏ mũ mấn, cởi áo sô bằng vải màn, và tụt cái quần chúc bâu xổ gấu. Bà búi tóc ngược lên, gài cho thật chặt.
Khi hai bên đối phương đã tự nguyện tự giác đánh nhau, thì chiến tranh dễ bùng nổ thôi. Bắt đầu là những lời lăng mạ trực tiếp. Bà mẹ Mão chửi bà Ma-ri là con đĩ lang ben. Bà Ma-ri chửi bà mẹ Mão là con nhà thổ. Hai bà cùng đổ lẫn tội cho nhau là cướp chồng của mình. Thế là giai đoạn quân sự kế tục giai đoạn chính trị ngay. Chiến tranh được dàn ra hai trận tuyến. Một trận tuyến là hai bà. Ở đây, có những tiếng soàn soạt vải bị xé. Trên thực tế, hai bà không ai cầm khí giới, nên không có việc đổ máu. Nhưng trên lý luận, tai người ngoài có nghe thấy những tiếng khí và tiếng máu. Kịch liệt hơn là ở trận tuyến bọn thanh niên. Pôn và Giăng có lợi thế, là đứng hẳn lên trên mặt áo quan cho cao. Hai anh em nhảy vào Mão. Vật lộn khá lâu. Cuối cùng, vì biết một mình không địch nổi với hai đứa, Mão làm kế thoát thân. Hắn không dùng tay để chống với Pôn và Giăng, mà dùng tay để thọc vào túi quần. Ai cũng tưởng hắn rút dao ra đâm. Chẳng hóa ra hắn rút chùm chìa khóa, rồi quăng ra thật xa. Tiếng loẻng xoẻng như reo. Có lẽ cả bà Ma-ri lẫn các con của bà cũng như reo ở trong bụng. Tức thì, cả ba người bỏ địch đấy, chạy đến góc nhà vồ lấy chùm chìa khóa. Bà mẹ Mão vừa thở, vừa ngồi vấn lại khăn. Còn Mão thì đứng sát lưng vào tường để giữ thế thủ, rồi đút tọt một cái gì cầm ở trong tay vào miệng. Pôn đâm nghi, chạy lại phía Mão. Bất thình lình, một vật nữa ở tay Mão rơi xuống đất. Mão vội vàng cúi xuống nhặt, và lại đút tỏm vào miệng. Vật ấy, mọi người đã trông thấy, nó nhỏ như hạt ngô, cũng màu vàng như màu ngô, nhưng óng ánh. Pôn ôm lấy Mão. Giăng bóp cổ Mão. Cuộc xô xát lại tiếp diễn.
* *   *
Trong nhà trong ồn ào là thế, nhưng vì cửa đóng kín, lại cách nhà ngoài một cái sân dài, nên khách khứa tịnh không ai nghe thấy tiếng gì. Các cụ tuần, cụ án, các quan phủ, quan huyện các quan nghị, quan hàn, vốn quan liêu đã đành, cho đến các ông chủ thầu, chủ báo, nhà văn, các ông lang, các bạn bè ông An-be, các bạn bè bà Ma-ri, các bạn bè của Pôn, của Giăng, các bạn bè của Rô-da-lin, của Ma-gơ-rít và của Ca-mê-li-a không ai biết gì hết. Rô-da-lin và Ma-gơ-rít, vì lớn tuổi và thạo đời, được cắt vào việc tiếp khách. Hai cô vẫn đánh phấn, bôi son, chải tóc bóng nhẫy như ngày thường. Hai cô còn thấy mình đẹp hơn ngày thường, vì mặc toàn đồ trắng bằng voan, chứ không bằng vải màn như mẹ. Quần áo trắng làm nổi nước da trắng những phấn. Lắm lúc soi mình vào gương, hai cô hãnh diện và tự hào, thấy mình không khác gì những cô đầm khoác tay người yêu vào nhà thờ làm lễ cưới. Hai cô gióng giả người nhà pha nước, lấy thuốc lá, lấy trầu, như những cô gái đảm đương và quán xuyến.
Khách đứng hoặc ngồi thành từng bọn, theo nghề nghiệp của họ. Khách quý được mời vào buồng đặc biệt. Họ nói chuyện với nhau về nghề nghiệp, về sinh hoạt hàng ngày. Ít người nhắc đến ông An-be. Nhiều người nhắc đến việc làm ăn, đến canh mạt chược hoặc chầu hát tối hôm trước. Ít người để ý đến kẻ khác giới của mình. Nhưng nhiều người giới nam để ý đến những người giới nữ, nhất là đến hai chị em cô Rô-da-lin và Ma-gơ-rít nhí nhảnh. Nhà văn Thanh Xuân đã nhân dịp này, tặng được hai Nàng Thơ một bài cú Đường luật, mà ông làm đã lâu, nhưng chưa đưa tận tay. Cụ án Trần cũng quên tuổi mình mà nói giỡn rất lâu với hai cô, như với bạn.
Song, tuy hai cô tiếp khách văn có vẻ niềm nở, chu đáo, mà không phải trong bụng không có điều gì băn khoăn. Hai cô biết là trong nhà có con mẹ nhà thổ và thằng du côn, thì thế nào, cũng xảy ra chuyện lôi thôi, không khéo thì có án mạng. Nhưng nếu hai cô chỉ băn khoăn về việc này, thì tất nhiên thỉnh thoảng phải lắng tai hoặc để mắt vào phía trong. Hai cô chỉ lắng tai và để mắt ra phía ngoài cổng. Cho đến bảy giờ kém bảy phút, một chiếc xe cao su đỗ xịch ở hè, một người Pháp bụng tròn, khệ nệ chống ba-toong đi vào, thì hai cô mới mừng rỡ. Hai cô đon đả đón, nhoẻn miệng, nhún cẳng, bắt tay và mời vào. Đây là trạng sư Rô-măng, ân nhân của gia đình, được ông An-be bao để thầu tất cả các việc thuộc về pháp luật của ông. Người Pháp vào buồng khách đặc biệt. Tất cả tiếng ồn ào bằng ngôn ngữ Việt Nam đều im lặng. Dân thuộc địa đứng cả dậy để tỏ lòng kính trọng quan bảo hộ. Người da trắng được đưa đến ngồi cùng bàn với các quan cụ da vàng. Cô Ma-ga-rít giới thiệu từng vị. Cô cũng kéo ghế ngồi ở đó và sai người mở rượu bia.
Cô Rô-da-lin ở nhà ngoài. Cô vẫn chưa hết băn khoăn, chốc chốc cô lại nhìn ra cổng. Đám ma cha cô có một người Pháp đi đưa, đã là giá trị lắm rồi. Nhưng cô chưa thỏa mãn. Gia đình quen thân với rất nhiều quý quan. Những vị này đã nhận được cáo phó cả rồi. Thế nào ông đốc tờ Pi-a, bác sĩ riêng của nhà, chẳng đến. Thế nào ông cẩm mật thám Pha-lăng-xô chẳng đến. Song, cô mong nhất một người Pháp nữa, đã hẹn là thế nào cũng đến. Người này là một công chức trẻ ở sở Lục Lộ, người bạn cởi mở đầu tiên trong đời con gái của cô. Đưa cha đến chỗ ở cuối cùng, cô buồn lắm. Có chàng cùng đi, thì cô vui. Vắng chàng trong lúc này, cô chịu sao nổi trống trải gấp đôi ở trong lòng. Cô mong từng phút từng giây. Có chiếc xe nhà sơn màu cánh dán nào sắp tới, cô cũng hồi hộp. Thấy không phải người mình mong đợi, cô lại thở dài, bụng trách ngầm ai lỗi hẹn.
Song, ý trung nhân của Rô-da-lin không lỗi hẹn. Người Pháp thầy cãi đến được hơn ba phút, thì người Pháp Lục lộ đến. Cô gái mừng rơn, chạy ra, nói cười rối rít. Miệng chúm chím, cô đi song song với bạn thân ái, đưa hắn vào trong buồng đặc biệt. Rồi cô sực nhớ rằng trong nhà trong đương có chuyện rắc rối, không khéo thì phải hoãn giờ chuyển cữu. Sai lời là phụ lòng quý khách. Nghĩ vậy, cô vội vàng bỏ bạn, chạy vào. Cô định dọa dẫm mọi người ở trong nhà là có hai ông Tây đến đưa đám, thì đúng bảy giờ, thế nào cũng phải chuyển cữu. Để người trên phải chờ đợi, là bất nhã.
Lúc ấy là bảy giờ kém một phút. Cô Rô-da-lin gõ cửa mạnh để gọi, nhưng ở phía trong, không có tiếng trả lời. Cô sốt cả lòng cả ruột. Phen này thì mất hết sĩ diện. Từ ngoài cổng đi vào người chủ hiệu đòn đám ma, đã lừng lững dẫn hai mươi phu đòn đương tiến vào. Cô giơ cổ tay, nhìn chiếc đồng hồ vàng nhỏ xíu: kém ba giây nữa là đúng bảy giờ. Ruột cô như mớ bòng bong. Rồi kém hai giây, một giây nữa. Rồi đúng bảy giờ. Cô thở dài đánh thượt. Bỗng tiếng khóa kêu lạch xạch: hai cánh cửa mở toang. Hai lá màn đen từ từ kéo cao lên, như màn sân khấu. Lửa nến trong buồng tối lấp lánh như sao. Người mặc trắng đứng lố nhố, nhưng im phăng phắc. Thật là không ngờ. Cô Rô-da-lin hởi lòng hởi dạ.
* *   *
Nguyên là ban nãy, Mão bị Pôn ôm và Giăng bóp cổ, thì hắn đau và nghẹt thở. Hắn phải há miệng lè lưỡi. Cái vật ngậm ở trong suýt nữa rơi xuống đất. Thì may làm sao, một giọng ồm ồm của người chú họ ông Thừa, vẫn gọi là cụ điều Hai, nói to:
- Thôi! Đôi bên! Không được đánh nhau nữa! Đến giờ chuyển cữu rồi!
Quả vậy, cụ vừa dứt lời, thì chiếc đồng hồ trẩm cầm treo ở tường đã ngân nga buông bốn hồi đàn véo von, báo một vòng của kim lớn đã trọn. Rồi tiếng chuông thứ nhất của bảy giờ bắt đầu điểm.
Pôn và Giăng buông Mão ra. Mặt còn hầm hầm, nhưng nhanh thoăn thoát, hai người đội nùn rơm, mặc áo sô, cầm chiếc gậy tang, đứng trước gương để buộc cái thắt lưng bện bằng bẹ chuối cho tề chỉnh.
Trong khi ấy không để lỡ dịp tốt, Mão trợn mắt, nhăn mặt, cố nuốt chửng ba lần cho hết những thứ hắn đã bỏ vào miệng.
Bà Ma-ri cũng đã chải xong cho bộ tóc xõa xuống vai. Bà buộc dải áo, rồi trùm lên đầu cái mũ mấn. Không ai nhìn thấy mặt bà bị sây sát.
Mọi người chuẩn bị xong thì đồng hồ đánh dứt tiếng thứ bảy. Cụ Hai giơ cao cánh tay cầm cuốn Thọ Mai gia lễ, giao hẹn:
- Im lặng nhé!
Vừa nói, cụ vừa vặn khóa, rồi mở rộng hai cánh cửa.
Sự im lặng làm tăng vẻ tôn nghiêm. Ở nhà ngoài, trong giờ phút thiêng liêng, cũng không có một tiếng động.
Thấy phu đòn tiến vào, bà Ma-ri nhắc khẽ các con bưng miệng và cúi mặt. Bất đồ, lúc ấy, bà thấy áo bà lấm, vì ban nãy bà đã vứt vội nó xuống nền gạch để đánh nhau. Sợ mất sĩ diện, bà nhanh trí khôn, vội vàng nằm ềnh xuống đất, lăn lộn cạnh quan tài, cho áo lấm thêm. Các bà bạn thân ở nhà ngoài chạy vào, phải khuyên giải khéo lắm, bà mới chịu lánh ra. Người ta phủi cho bà và ôm lưng bà để dìu đỡ cho bà khỏi ngã.
Cữu trùm vải thâm có điểm những chấm trắng như hình giọt lệ, được bốn mươi cánh tay khỏe mạnh của hai mươi người lực lưỡng bắt vào. Người nào cũng mặc quần đen, áo dài đen, đội nón đen. Pôn và Giăng đứng sau, còng xuống, trông thê thảm như người quá buồn phiền, không đủ sức đứng cho lưng thẳng, tay phải bưng miệng, tay trái chống gậy. Phía dưới hai con trai, bà Ma-ri ôm ngục, vai rung lên. Sát với bà, ba cô con gái đứng ngang hàng. Ba cái mũ mấn nhọn đầu và ba bộ áo voan mỏng tang, trắng muốt, bay bay dưới làn gió của chiếc quạt trần, đẹp như ba cô văn công đóng vai cào trắng sắp nhảy múa. Đứng hàng dưới, là họ hàng ông Thừa, toàn là đàn bà, đếm vừa đúng chục người, cũng mũ mấn trắng, áo dài trắng.
Từ lúc làm lễ phát khốc, các bà này là những người khóc to nhất, và kể lể thảm thiết nhất.
Cụ điều Hai thay mặt hiếu chủ, ra nhà ngoài, xin lỗi quan khách, là vì bà Ma-ri quá thương ông An-be, nên giờ chuyển cữu chậm mất ba phút.
* *   *
Viết đến đây, tác giả cần dành một vài dòng để ghi công cụ hai Điều trong mấy ngày hôm nay.
Ông chủ hiệu đòn đám ma chẳng qua là vì tiền mà làm cho rước xách được trọng thể, đẹp mắt. Nhưng cụ Hai thì khác. Là máu mủ trong nhà, cụ chỉ lấy tình mà giúp cho nghi lễ đám tang được đúng như đám những nhà đại gia. Đặc biệt là cụ lại có nhiều sáng kiến. Trong những ngày cữu còn tạm quàn ở nhà, thì mỗi lần có ai đến phúng viếng, cụ bắt điểm một tiếng trống cái đánh thùng để làm hiệu báo. Thế là quanh quan tài, nam đứng một bên, nữ ngồi một bên, vọ con ông Thừa đã tập họp đông đủ, tiếng khóc nổi lên như ri để đón khách. Không rõ những ai khóc, vì mặt bà Ma-ri và ba cô lấp sau mũ mấn, và hai cậu Pôn và Giăng thì còng lưng, cúi đầu và bưng miệng. Kèn trống nổi lên, lanh lảnh và rộn ràng. Khách lễ một lễ, ngần ấy cái đầu trắng cũng thụp cả xuống đất. Khách lễ một lễ nữa, vợ con ông Thừa lại đáp lại. Theo lời cụ Điều, bất kể khách sang hay hèn, bà Ma-ri và các con chỉ còn tỏ chữ nghĩa chữ hiếu bằng cách thay chồng và cha, không dám nhận một lễ nào của ai. Rồi khách khom lung vái người chết ở giữa và vái những người sống ở hai bên, vái mấy vái, bà và các con bà phải tạ ngần ấy vái.
Cứ nhìn những mũ áo trắng lôm lốp dưới ánh vàng của mấy chục ngọn nến, lại nghe tiếng khóc xót thương người quá cố, thì dù là những bạn ông Thừa, hay bạn bà Ma-ri, hay cả bạn các cô, các cậu, lúc thường chơi với nhau hay cợt nhả đến mấy, thì lúc này cũng phải hết sức lễ độ với chủ, có khi thấy cảnh thê thảm, uy nghiêm, còn rợn cả người là đằng khác.
Bởi thế, buổi tối cuối cùng, cậu Pôn có một cô bạn đến chia buồn. Vì không muốn người yếu bóng vía bị xúc động, cậu rủ cô lên buồng riêng ở trên gác. Bỗng nghe tiếng trống tùng báo có khách đến, cậu lúng túng suýt không xuống kịp để đáp lễ. Vì cậu đương ngồi trên đùi cô bạn, và cô này, nghe tiếng trống, lại cứ trêu cậu, miệng cười sằng sặc, hai tay ghì giữ cậu lại, không cho cậu đi. Cậu phải vừa lạy van, vừa quẫy mãi, mới đánh tháo được. Cái áo sô bằng vải màn mỏng, vì giằng co, rách soạt mất một miếng ở vạt sau.
Nghi lễ đã tề chỉnh, ông chủ nhà đòn trịnh trọng đến trước hai cậu Pôn và Giăng cùng bà Ma-ri. Ông cầm mũ ở tay, nói mấy lời xin phép cho ông được làm việc. Đứng trước linh sàng, ông chắp tay, vái dài hai vái, rồi móc túi lấy chiếc còi bằng sắt tây, để vào miệng, ông huýt hai tiếng ngắn đều nhau, rồi tiếng thứ ba, kéo dài. Tức thì, như làm động tác thể dục, quan tài được nâng cao, theo nhịp của những tiếng tuýt tuýt lừ lừ tiến ra sân, đến nhà ngoài.
Ở đây, khách đã đứng giạt sang hai bên, nghiêm chỉnh. Ai có mũ thì cầm ở tay. Ai không bận tay cầm thuốc lá để hút thì chắp lại. Ít người nhìn xuống quan tài để tưởng tượng đến người chết nằm ở trong. Nhưng nhiều người nhìn qua ba chiếc mũ voan thấp thoáng. Xem những con mắt huyền có chú ý đến nét mặt buồn rầu của mình hay không.
Quan tài được đặt trong chiếc xe mui luyện sơn đen, kéo bằng bốn ngựa. Ngựa cũng trùm vải đen. Hai người giong xe cũng mặc đồ đen. Họ đội thứ mũ riêng, mũ hai sừng, như kiểu mũ đô đốc thủy quân, cũng màu đen.
Ông chủ đòn cũng mặc như đô đốc. Cũng đen từ chân đến đầu. Ông to lớn. Mép ông để một cục ria, kiểu Hoa-kỳ. Áo lông là thứ lễ phục riêng, vạt trước ngắn, vạt sau dài đến gói, như đuôi tôm. Khuy đóng kiểu chàng mạng bằng xa-tanh. Lon cũng bằng xa-tanh. Hai vai đeo hai cái ngù quan binh. Đầu đội mũ hai sừng. Chân đi ủng cao đến bọng. Lúc nào ông cũng dính cái còi ở mồm, và giơ cái gậy chỉ huy lên cao để ra lệnh.
Đám ma mà muốn tổ chức nửa ta nửa Tây, cho đẹp mắt như kiểu đám ma ông An-be, thì phi ông chủ hiệu này, không ai làm được giỏi hơn, Làm nghề nghiệp mà ông cho là phúc đức đã hơn mười năm, ông không hề cạnh tranh một cách ti tiện với đồng nghiệp, ông không bẩn thỉu như họ, thông đồng với các thầy thuốc, để biết tin bệnh nhân, hoặc lễ lạc các viên chức phòng sinh tử giá thú ở sở Đốc lý, để biết hôm ấy có những đám nào chết, ông cũng không cần cho người do thám những nhà có người già ốm. Và ông cũng không thèm nói xấu để dìm dập nhà khác. Hữu xạ tự nhiên hương. Chính một lần muốn phản ông, nhà Quảng Thiện, khi giong xe không từ nghĩa trang về, đã cho ngựa lồng vào ngựa của ông đương kéo một xe tang. Nhưng ông đã đối phó được nguy hiểm. Xe không đổ, quan tài không văng xuống đất. Chỉ có ít người đi đưa đám yếu bóng vía, chạy toán loạn một lúc thôi.
Đám ma ông An-be được ông sắp xếp rất trật tự. Câu đối bằng lượt, bằng vóc, bằng nhiễu, bằng cẩm châu, bằng đũi tây, màu trắng màu đen, màu tím, màu lam, cái nào đẹp và của người danh giá mới được rước đi. Còn những cái xấu, cái bằng vải chúc bâu và cát bá, cái của người thường đưa đến phúng, thì để ở nhà. Đội kèn bú-dích vui vẻ và hùng tráng thì thổi La-mắc, Ma-đơ-lông trước long đình. Phường nhạc của rạp Quảng Lạc hòa những bài Vương cô nương toán mệnh, Ngọc mỹ nhân, Xuân nữ véo von, thì kèm kiệu linh sa. Kiệu linh sa sơn son thếp vàng hai mươi bốn người mặc áo ni đỏ khênh, trong bày bức truyền thần ông Thừa bằng sơn màu. Tức là bức rồi sau này để ở mả ông đó. Bức ấy được người thợ vẽ làm rất nhanh, chỉ có hai mươi bốn giờ là xong. Bộ bát âm đi điệu Lâm khốc thê thảm và điệu Lưu thủy Bình bán nhịp nhàng, thì rước cữu, cho tăng vẻ vừa sầu não vừa uy nghi.
Ông chủ đòn lại khéo xếp đặt chỗ rất hợp cho các cụ quan viên đi rước nến. Hai chục cụ, cụ nào cũng râu ria cẩn thận, trông rất đạo mạo, đi hàng đôi trước linh sa. Các cụ đội mũ tế bằng vải trắng, mặc áo thung trắng, cố nhiên là quần trắng và dận giày Chí Long. Mỗi cụ bưng khuỳnh trước ngực một cây nến đồng, bước thong thả như tiến tước lúc tế. Ai không tường là làng cử các cụ chức sắc kỳ mục ra đưa đám quan Hàn Nghị. Nhưng không phải. Khi đến đầu cầu sông Cái, quan tài chuyển từ xe ngựa lên ô tô để về quê, thì các câu đối, câu nào của khách phúng được xếp riêng vào một cuộn, giao cho cụ điều Hai, còn câu thuê ở hiệu đối trướng nào, được cuộn riêng vào cuộn ấy, để ông chủ đòn nhận trả hộ. Lúc này, các cụ quan viên cũng biến đâu mất hết. Người ta chỉ còn thấy hai chục ông già, mặt mũi chân tay đen chùi chũi, đầu trần, chân giẫm đất, đương vén ống quần đùi nâu đến bẹn, đứng tồ tồ ngay ở dệ đê. Ông nào cũng cắp ở nách đôi giày Chí Long, cầm ở tay một cuộn nào áo thụng trắng, nào quần trắng, nào mũ tế trắng đã xếp bẹt lại, và chiếc nến đồng có cắm ở đầu một ống nhỏ cuộn bằng giấy bìa màu trắng, trông như hệt cây nến. Tất cả các thứ này trả lại ông chủ đòn. Ông này khám cẩn thận từng thứ, để xem có cái nào hư rách, thì mắng và trừ tiền.
Và ông cũng trả tiền luôn một thể mười người đàn bà khóc mướn mà ông thuê cho đám tang, để giả là có đông họ hàng.
Về việc này, ta nên phục tài nhà nghề của ông. Vì ông đã khéo chọn được những người rất tận tâm. Từ hôm làm lễ phát khốc, luôn mấy ngày liền, lúc nào họ cũng tỏ ra mẫn cán. Họ khóc không biết mệt, khóc giỏi nhất, kể lê thảm thiết hơn cả vợ con người chết. Đi đám này, họ hãnh diện là nếu không có họ, thì không thành đám ma.
Họ cũng là những người lắm điều nhất. Thế mà sau khi nhận khăn áo họ trả lại, ông chủ nhà đòn điều đình với họ ổn thỏa ngay, ông chỉ chi cho họ tiền khóc khoán. Còn tiền thưởng, ông bảo họ xin cụ hai Điều. Họ bằng lòng, vì họ bảo nhau là đối với ông, bận này còn bận khác.
Nhưng cụ Điều hẹn họ về nhà hãy hay. Vì cụ đương cuống lên về việc đưa tiền phong bao cho những người xúm xít xung quanh cụ.
Lệ đưa phong bao để tiễn tiền xe cho người đi đưa đám, thì từ xua đến giờ, ở Hà Nội, chưa có đám ma nào dám làm. Có thể nói ở nước Nam này, lần này là lần đầu tiên, đám ma An-nam có phong bao. Bà Ma-ri đã bắt chước kiểu hào phóng ấy ở đám cụ Thoóng, chủ hãng Tài-fú-dzin ở Hải Phòng. Mỗi phong, bà gói hai tờ giấy một đồng và ba điếu thuốc lá. Cụ hai Điều đưa tiền phong bao cho những người đi đưa đám. Cụ đưa cả cho những người đứng xem, và những người qua đường. Cụ làm thế để tránh tiếng ma chê cưới trách.
Sau đám ma linh đình này, cụ hai Điều, tính phác phí tổn. Cụ giật nảy mình, thấy rằng món tiền ấy có thể chôn được bốn người mà không kém sang trọng. Cụ nghiệm nhiều lần rằng quan viên Hà Nội, khôn làm giàu thật, nhưng vẫn dại tiêu tiền. Vì vậy, cụ nhất định xin với bà Ma-ri cho cụ được trả ơn quan Hàn lần cuối cùng, là trông nom việc xây mộ cho quan. Cụ lại nói với bà là nên tậu thêm ruộng ở xung quanh để xây tường cho kín đáo. Lăng - cụ dùng tiếng lăng - một người có quan tước, phải cho có bề thế hẳn hoi. Cụ đã chọn trong các câu đối, thấy rằng câu của cụ Tuần Nghè Lê Văn Bản hay nhất, chí tình nhất. Cụ giảng cho bà Ma-ri nghe, và nói rằng định khắc câu ấy ở cổng. Cụ xin cả việc cáng đáng cỗ bàn mời mọc làng nước. Bà Ma-ri tin cụ, thôi thì sẩy cha còn chú, nên khoán cả những công việc ở quê nhà cho cụ. Kết quả là cái cimetière de famille này được thành lập. Và cũng kết quả là cụ hai Điều tậu thêm được hai mẫu ruộng riêng cho cụ.
* *   *
Năm 1939, sở Mật thám tỉnh xin công sứ bắt các làng mở rộng đường cho ô tô của chúng vào được để bắt hội kín. Việc này được duyệt y. Sở Lục lộ phụ trách cắm đường và bắt dân đắp. Con đường vào làng ông An-be Thừa lại đi đúng qua mả của ông, Huyện sức cho dân, ai có phần mộ chôn ở mặt đường sắp làm, đều phải chạy đi hết.
Mả ông An-be Thừa, đến ngày cuối hạn, cũng không cất. Có phải vợ con ông ương ngạnh với lệnh trên không? Không phải. Họ chỉ ương ngạnh với nhau thôi. Bà Ma-ri theo đúng đạo tam tòng, nói rằng phu tử tòng tử. Nhưng các con bà đều giở luân lý và luật pháp ra để đùn cho nhau trách nhiệm phải tiêu tiền. Mấy cô con gái đều đã có chồng, lấy nê là nữ nhân ngoại tộc. Giăng đi vắng, sang Pháp học luật khoa để về nước làm quan. Nhưng mãi hắn chưa đỗ tú tài. Lại có tin là hắn lấy vợ đầm. Vì học luật, nên hắn thạo luật. Hắn viết thư trả lời Pôn rằng chiếu Hoàng việt tân luật, mục chia gia tài, bao giờ người con cả cũng được riêng một phần hương hỏa lấy trước đi, rồi còn đâu mới chia đều cho các đầu con. Thế thì hắn không có bổn phận phải đóng góp vào việc cất mộ. Nhưng Pôn không chịu. Pôn vin một lý do khiến ai nấy cứng họng: hắn là dân Tây, không nhận bố An-nam. Vả lại vợ hắn đi đạo, không theo tục lệ bên đời.
Thế là ông An-be Thừa cứ nằm khểnh một mình ở mả.
Đến hôm làm đường sát tới nơi, làng mới nói lần cuối cùng với cụ hai Điều. Nhưng cụ cười khẩy một tiếng ngắn và vẫn đáp:
- Kệ! Việc gì đến tôi!
Sau hết, mộ ông An-be Thừa cũng được chạy đi chỗ khác. Vợ con họ hàng của ông không cáng đáng, thì người dưng nước lã cáng đáng. Tuần làng phải bắt tay vào việc này.
Họ làm không kèn không trống ồn ào như ngày họ chôn ông. Họ làm lặng lẽ như đã cất làm phúc những mả vô thừa nhận khác.
📎 dong-rac-cu--..enCongHoan
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
II
CON BÒ LẠC  
Hồi mà con đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn mới nối thêm đoạn lên đến đồn Na Sầm, thì ở đồn Đồng Đăng, ga Đồng Đăng chưa như bây giờ. Nhà ga nhỏ. Chỉ có hai người làm việc. Một người là sếp ga. Một người là phu kíp.
Ta cần biết một ít về ông sếp ga Đồng Đăng hồi ấy. Vì, dù đây không phải là chuyện ông ta, nhưng không phải ông ta không dính dáng gì đến tiểu thuyết này.
Ông ta tên là Nguyễn Văn Sơ, người Hải Dương, năm ấy độ ngoài bốn mươi tuổi. Làm việc ở mạn ngược, nước độc, đất lại chưa yên, vì luôn luôn Tây còn phải đánh dẹp toán quân ông Đề Thám, cho nên ông Sơ chỉ đi có một mình, để vợ con ở nhà. Nhà ga có ba gian. Một gian đầu là buồng giấy, chỗ bán vé. Gian giữa để hành khách đợi mua vé. Còn một gian đầu bên kia, là chỗ ở của ông sếp.
Hằng ngày công việc cũng nhàn. Chỉ có hai chuyến xe ngược, hai chuyến xe xuôi. Bất thường lắm mới có chuyến chở hàng đi qua, gọi là tàu vít. Mỗi ngày dây lắt nhắt ra bốn lượt, thật sự ông sếp ga chỉ phải làm việc mất độ một tiếng đồng hồ. Vì vậy, ông ký Sơ có nhiều thì giờ rỗi. Ngoài lúc đi lại giao du với các thầy cai, ngài đội, quan quản ở trên đồn, hoặc với ông chủ nhà dây, tức là nhà bưu điện, vả họ cũng hay đến với ông để nhờ tán số tử vi, ông còn có hai cái thú. Một là bóc trước báo hằng ngày ở Hà Nội gửi lên bằng xe lửa, nếu bác phu trạm chưa đến ga để nhận mang về phân phát cho độc giả mua năm. Ở nơi quá tĩnh mịch, cái thèm biết thời sự và nghêu ngao ngâm thơ trở nên một bệnh nghiện. Cái thứ thứ hai là đi bắn. Bác Thoan người ở bên phố, có chiếc súng kíp. Lần nào bác đi săn cũng rủ ông cùng đi. Thỉnh thoảng, ông lại mượn súng của bác để vào rừng một mình.
Có một hôm ông mang súng đi một mình. Bỗng trong một khoảng rậm rạp, ông gặp một toán ba thằng thổ phỉ, trói giải một người. Ông sợ quá. Nhưng tránh chúng không kịp. Chúng trông thấy ông rồi. Về phía bọn kia, chúng cũng không kịp tránh ông. Chúng sợ ông, vì ông có súng. Chúng chỉ có dao và mác. Hai bên thế tất phải đương đầu với nhau, ông nạp đạn, bắn một phát chỉ thiên. Ba tên kẻ cướp chạy tán loạn. Ông bắn theo một phát nữa. Nhưng không trúng. Người bị nạn được ông cởi trói. Hắn nói thứ tiếng gì mà ông không hiểu. Nếu phải tiếng Thổ, thì ông có biết lõm bõm. Hẳn là tiếng Tàu.
Người Trung Hoa vẫn vừa nói vừa ra hiệu. Thấy hắn có vẻ lương thiện, ông đoán đây là một tay nhà giàu bị bắt cóc để phải chuộc mạng bằng tiền.
Tuy không giết chết chim muông nhưng cứu sống được một người, ông ký Sơ rất sung sướng. Hắn với ông ngôn ngữ bất đồng, líu lo líu lường, chẳng ai hiểu ai, nhưng ông cũng biết hắn là người được ông cải tử hoàn sinh, thì hẳn hắn nói những câu để cảm tạ ông. Ông dẫn hắn ra khỏi rừng, đưa hắn về nhà, cho uống nước, nghỉ ngơi một lát, rồi trỏ cho hắn lối về cửa ải Nam Quan. Hắn chắp hai tay, vái ông lia lịa, rồi nói một thôi một hồi nữa. Để làm như hiểu, ông cười cười vỗ vai hắn mấy lượt, rồi bắt tay hắn.
Việc cứu người Tàu bị thổ phỉ bắt cóc này, ông sếp ga kể lại cho vợ chồng anh phu kíp nghe. Bởi vì ông ăn cơm trọ nhà anh ta. Vợ chồng anh này cũng người Hải Dương, cho nên ông lấy làm thân.
Về phía anh phu kíp, vì việc không liên quan đến anh, nên anh nghe thoáng qua thôi. Rồi ngày tháng trôi, chuyện nào cũng thành cũ, ông ký Sơ vẫn làm những việc hằng ngày, bán vé, thu vé, giơ cờ hiệu cho tàu đứng, huýt còi cho tàu chạy, bóc xem trộm nhật trình và mượn súng đi bắn. Ông quên dần việc nghĩa cử của ông.
Vì nhàn rỗi, lại ở lâu ngày trên chỗ nước độc, ông Sơ cũng có nhiều thì giờ để ốm nữa. Giữa trưa mùa hè hẳn hoi, nắng như đốt lửa, nóng như nấu, như nung, mà đứng thu vé ở cửa, ông vẫn tùm hum cái khăn bịt và xù xù cái ba-đờ-xuy. Hành khách trên các toa đương nhễ nhại mồ hôi, khi nhìn xuống, thấy ông ăn mặc trái khoáy thì chỉ trỏ, và nhăn răng cười với nhau. Họ không biết ông đương lên cơn sốt rét, run bần bật.
Ông ký Sơ ốm ngã nước, không có thuốc uống, nên đâm ra kiết lỵ. Cơm cháo không ăn được. Một ngày một đêm, ông đi đến năm sáu chục lần, rồi đến trăm lần. Trước ông còn làm việc gượng, sau mệt quá, ông phải nhờ anh phu kíp làm thay hộ. Đến khi tay chân ông chỉ còn cái da bọc cái xương, và được người Tây cắt vé nhìn thấy, ông mới được phép về nhà thương Hà Nội để chữa.
Ga Đồng Đăng vắng sếp, anh phu kíp được tạm quyền.
Anh phu kíp tên là gì, người ngoài không biết. Thấy ông sếp ga gọi anh là bác Kíp, người ta cũng theo thói thông thường, gọi nhau bằng chức vị, cũng gọi anh là bác Kíp. Chả ai tò mò hỏi tên thật của anh làm gì.
Từ ngày anh lên quyền sếp ga, anh được gọi là ông hoặc thầy sếp quyền, ký quyền.
Anh ta trạc ngoài hai mươi tuổi. To lớn khỏe mạnh. Trông người thì ra dáng quê mùa, nhưng muốn chừng đáo để lắm. Ngay hôm mới đến Đồng Đăng, anh ta đã khoe với mọi người rằng anh là viên chức nhà ga kia. Anh làm phu kíp chẳng qua là tạm bợ. Chứ đọ sức học, thì anh đáng làm thông ký như ai, hay ít ra, cũng làm cai chào mào đi Tây, chứ không kém.
Anh cũng như mọi anh phu kíp khác, chỉ dám đi lại với những người ngang hàng, như phu trạm, lính đồn. Anh chen chèo với cả ông chủ nhà dây, với các cai đội, chủ hiệu. Những người bốc nên giàu có, như tay Chánh Cù, tay đội Trí, khét tiếng về buôn lậu, anh cũng mon men làm quen. Anh nói tiếng Tây giả cầy, hoặc chêm tiếng bồi vào câu chuyện với cả những người không biết tiếng Tây. Anh coi thường ông sếp Sơ, cho là sống lâu lên lão làng, chứ so chữ nghĩa với anh, chưa chắc mèo nào đã cắn nổi mỉu nào. Anh tự ví như lưỡi gươm sắc, chưa được dùng đúng, nên bây giờ tạm phải chém ruồi.
Anh kể với ông Sơ tại sao anh đi làm phu kíp, mà lại lên tận Đồng Đăng này.
Trước kia anh có đi học ở trường Pháp Việt đến lớp ba. Vì cả tổng chỉ có một trường sơ đẳng. Anh học nữa thì thày hết chữ, nên anh bỏ học. Nhà có ít ruộng, nhưng anh cũng không thích làm. Làm ruộng vất vả, may lắm mới đủ ăn. Anh chỉ muốn kiếm việc ở Hà Nội. Ở Hà Nội, cái gì cũng sẵn. Người Hà Nội sung sướng, ai cũng đẹp. Tuy Hà Nội người khôn của khó, nhưng hễ tháo vát thì sống được, gặp may thì phong lưu, gặp vận thì giàu, cũng chưa biết chừng.
Anh có một người dì họ làm nghề lấy Tây. Tên người này, khi ở nhà, thì là cái Ĩnh con. Nhưng bây giờ, năm thì được gọi là bà Xà-phòng, năm thì được gọi là cô Đội. Chắc là trong những thời gian này, cô ở được anh Tây chủ hiệu Xà-phòng bao, hoặc lấy anh đội lính Tây, hoặc đội sếp nào đó. Cái ngày anh phu kíp nhờ dì kiếm việc hộ, là ngày mà người ấy được gọi là bà Đốc. Bà Đốc về làng chuyến này, trông ra phết lắm. Không kể cổ, tai, tay, ngộn lên những hột vàng, hoa vàng, nhân ba-dê vàng, mà ai cũng biết tỏng là đồ Mỹ-ký, thì bà Đốc dận giày da mũi nhọn, chứ không lệt sệt đôi dép Nhật Bản rơm, mặc quần lĩnh hoa thâm, áo the trơn trắng tà viền đăng-ten, vấn tóc trần, lõng thõng cái đuôi gà giả chấm vai, và đội cái nón dừa bọc vải chúc bâu, rủ một hàng diêm chun xuống chung quanh. Hắn lại hay cười, để khoe hàm răng văn minh mới cạo. Thấy cô ở sang trọng hơn trước, lại khoe với mọi người là “nhà tôi bây giờ là ông Đốc”, người làng biết là hắn khá, đã lên chức. Hạng này không khéo thì sau cũng có tàn có tán như cô Tư Hồng không biết chừng. Quả thế. Hắn về quê để tìm một người kéo xe nhà cho hắn, cơm nuôi, không công. Hắn dỗ dành là: “Chỉ kéo tôi đi chơi mát mỗi chiều một vài giờ, chứ không kéo ông ấy đâu. Ông ấy có xe bình bịch”.
Anh phu kíp đã lớn và đã có vợ con. Mẹ ghẻ anh thấy anh không làm nghề ngỗng gì chỉ ăn hại, nên không ngày nào không nhiếc móc anh. Bà ta xui bố anh bắt vợ chồng anh ra ở riêng. Bởi vậy, muốn đẩy anh đi, bố anh khuyên anh bằng những lý do rất chính đáng.
- Tao ức một nỗi cai Tăng cũng đi dẹp giặc như tao, kể công hắn không bằng công tao, nhưng chỉ vì hắn nhanh mồm nhanh miệng, khéo luồn lọt mà hắn được ra làm tri huyện. Còn tao, giặc yên tao không được lên lon cai, về làng, chịu là anh bếp quèn suốt đời. Mà ở làng, ở nước, bao giờ nghèo hèn cũng khổ nhục. Mấy lần mày phải đi phu, bị đàn anh ức hiếp, đánh chửi, mày cũng sáng mắt ra rồi đấy. Bây giờ nhà nước đương cần người sang Tây để dẹp giặc Đức dã man cho Mẫu quốc. Tao tưởng không còn dịp nào tốt cho mày như dịp này. Người ta nghe tin bắt lính thì trốn như trạch, đến nỗi hương lý phải lùng bắt. Vậy mày tình nguyện mà ứng mộ đi chào mào. Chắc rằng cái tâm đó, nhà nước sẽ thấu. Mày có lương để nhà cho vợ mày ăn. Chúng mày không phải bám vào cái khố rách của bố. Rồi sang bên ấy, mày hết sức trung thành, can đảm, lập được công to, thì thế nào mày cũng được ra làm quan như cai Tăng. Mày giàu sang. Vợ con mày sung sướng. Tao cũng được thơm lây.
Nhưng anh phu kíp không nghe bố. Vì anh nhát. Anh sợ sang Tây thì chết bỏ mạng ở bên ấy.
Song, không lẽ anh làm khổ bố mãi, anh toan liều nhận đi làm với người vợ Tây. Nhưng bố anh cáu với anh, vì anh không nghe lời ông, nên lại nghĩ những lý do để ngăn anh:
- Giấy rách phải giữ lấy lề. Tao chả gì cũng đóng lon bếp. Mày lại biết chữ, đã chết đói đâu mà chực đi kéo xe cho con đĩ!
Sợ bố, anh nhờ người vợ Tây kiếm hộ việc khác. Dì thương cháu mồ côi mẹ, sểnh mẹ bú dì, hắn mặc cả với anh là phải tạ ba tháng lương đầu, “vì ông ấy cũng phải đi nói với người ta”. Bất cần biết người ta với người ngô là ai, anh xin vâng. Hắn gật đầu: “Được, để dì bảo chú một tiếng. Me-xừ Giô-dệp Phăng-đi thần thế, và hay làm ơn cho người, chẳng lẽ vợ nói mà không đắt!”.
Hơn một tháng sau, cô Ĩnh con đánh giấy về gọi cháu đi làm. Nói chống là làm ga. Từ đó, người làng mới rõ me-xừ Giô-dệp Phăng-đi là thứ đốc gì. Hắn là đốc công nhà máy xe lửa.
Anh thanh niên đương khát khao được dịp bỏ nhà, nay có việc, mà chắc chắn là làm bàn giấy ở Hà Nội, thì mừng rơn. Nhưng gặp dì nói rõ, anh mới ngã ngửa ra, là anh đi làm phu kíp, mà lên tận ga Đồng Đăng này. Dì anh dỗ rằng Đồng Đăng gần Hà Nội, nước lành, công việc phu kíp phải người có chữ nghĩa mới làm nổi. Hắn khuyên anh không nên bỏ lỡ dịp hiếm có mà phụ lòng tử tế của me-xừ Giô-dệp Phăng-đi. Nếu anh khéo chiều chuộng quan trên, nốt-xê được tư bồồng [1] luôn, thì sẽ ăn lên, dần dần thăng làm sếp kíp.
Không lẽ lại quay về làng thì xấu hổ, anh thanh niên đành lên Đồng Đăng làm phu kíp. Để giữ trọn cái tiếng là ra Hà Nội làm ga.
Anh phu kíp được ông sếp Sơ là người nhiều tuổi, đứng đắn, hiền lành và tử tế, nên dễ chịu lắm. Công việc của anh rất nhẹ nhàng, nhẹ nhàng hơn cả công việc của ông sếp. Hằng ngày, mỗi khi tàu sắp tới, anh mới phải cầm cờ, cầm pháo ra xem xét đường sắt, nhìn lại đầu ghi. Tàu qua, anh sai vợ quét qua loa cái nền ga cho khỏi rác. Về xơ-vit [2], ông sếp chả nói được anh chỗ nào. Rồi thì buồn, cho nên những hôm biết chắc chắn không có công-tôn [3] Tây lên, anh xui ông ký Sơ cứ đi bắn xa, công việc đã có anh làm hộ đâu vào đấy.
Mấy lần đầu thì đâu vào đấy thật. Nhưng những lần sau, thế nào hành khách cũng ỉ eo. Người phàn nàn thầy ký trả lầm, thiếu mất một hào. Trình thầy ngay lúc ấy, thì thầy bảo chốc nữa, vì còn đương bận phát vé. Đến chốc nữa, vào kêu, thì thầy đổ lầm lẫn là ở mình, thầy không biết. Người ca kiết rằng thầy ký có khối xu lẻ, cất trong ngăn kéo, thế mà trả lại tiền thừa, thầy nói là không đủ, chịu của người này một xu, của người kia hai xu, chả biết bao giờ mới đòi được. Cho nên mỗi bận ông sếp ga đi vắng, thì y như đến buổi chiều, anh phu kíp nhà ta phì phèo thuốc lá, nét mặt hớn hở như một người phát tài. Anh ta thích thứ thuốc mê-li-a bọc bằng giấy bóng đỏ, vì mua gói nào cũng được thêm cái ảnh đầm cởi truồng.
Dư luận về anh phu kíp đến tai ông sếp Sơ. Ông không dám cả tin anh nữa.
Anh ta đến Đồng Đăng, có đem vợ con đi theo. Đứa con gái sáu tháng trông rất kháu. Nó lành như cục đất. Bú no xong, là nằm cười toét mồm một mình, rồi một lúc, ngủ khì. Ông sếp nhớ con, nên yêu nó lắm. Ngày nào, ăn xong cơm ông cũng gần nó một lúc. Ông khen nó giống mẹ nó.
Thật thế, chị Kíp không đẹp cũng không xấu. Con gái nhà quê mà như thế thì là có duyên đấy. Chị hiền lành, thật thà. Chỉ phải cái tội ít nói, mà ăn nói thì cộc lốc, cục cằn. Thấy lương chồng có sáu đồng một tháng không đủ, chị buôn bán thêm cặp vào. Chị mở hàng nước và quà bánh ở ngay trước cửa ga. Mỗi tháng lời lãi kiếm thêm được hai, ba đồng.
Đáng lẽ một gia đình hai vợ chồng trẻ và một đứa con thơ thì êm hòa, vui vẻ lắm mới phải. Nhưng đằng này, trái lại, anh chị lục đục với nhau luôn. Hai người hay cãi nhau nhất là về việc anh chồng mê đánh bạc ở sòng, vợ can bảo thế nào cũng không nổi. Hôm thua, chồng về cáu kỉnh với vợ con. Hôm được cũng không yên chuyện. Anh ta có tiền thì chè chén ở đâu, mồm sặc mùi rượu, về cũng gây sự với vợ.
Ông sếp Sơ ở xa gia đình nên nhớ vợ nhớ con. Nay nhìn thấy một người xử với vợ con như vậy, ông càng nhớ vợ con mình và thương vợ con người, ông muốn gia đình anh Kíp được yên ấm để nỗi quạnh hiu trong lòng ông được vợi đôi chút. Cho nên ông lấy tình thân là người cùng tỉnh, khuyên bảo anh. Vì anh Kíp chỉ bằng tuổi con ông Sơ, lại sợ ông là người trên, tư nốt-xê anh, cho nên anh ngồi im lặng, chẳng nói chẳng rằng. Vả ông ngọt ngào, giảng giải hết lẽ:
- Tôi vẫn biết là chị ấy ăn nói vụng về, nhưng phốt  [4] là phốt ở anh nhiều hơn. Sòng bạc có phải là chỗ cho mình kiếm tiền đâu. Nhà nước mở ra nó để lấy hồ thay cho thuế, vì trên này người thưa, ruộng ít. Cho nên ở các tỉnh miền ngược, chỗ nào có đông người là có sòng. Tôi ví dụ anh đánh bốn mươi tiếng bạc, hai mươi tiếng thua, còn hai mươi tiếng được. Thế thì anh có lấy lại hòa vốn không? Không. Anh chỉ còn mười chín đồng. Bởi vì mỗi đồng bạc được giam, anh phải trừ ngoém mất năm xu hồ. Cờ bạc là bác thằng bần. Cần tiền đánh bạc thì đi vay chày, vay cối, ăn bớt ăn xới của công, hoặc lấy cắp tiền ăn của vợ con. Chỉ kẻ dại dột mới đâm đầu vào sòng, để rồi xỏ chân vào cùm. Ta có học, là phông-xon-ne [5] nhà nước, đàn đúm làm gì với những kẻ dại dột cho mang tiếng?
Y như ông bị sếp đi guốc vào trong bụng, anh Kíp có tật giật mình. Anh buộc chỉ cổ tay, thề rằng hễ ông còn nghe nói anh vào sòng nữa, thì anh cứ xin làm kiếp chó ăn cứt.
Ông Sơ thấy lời mình có công hiệu thì mừng lắm. Ông bày cho chị Kíp cách buôn bán có lời hơn, để anh Kíp khỏi sốt ruột về chuyện túng tiền mà quay lại sòng, hòng dậy hóa. Sẵn xe lửa đó, ông bảo chị nhờ mua lên những thứ ở trên này hiếm, là muối và thuốc lào. Để đem vào các bản đổi lấy thóc lúa, gà vịt, mật ong, v.v…
Thấy vợ làm được đồng ra đồng vào, anh Kíp biết ơn và quý mến ông Sơ. Một hôm, vui miệng, anh nói:
- Thú thực với cụ, ngày trước, cháu mê đố chữ, có phải là mong có một hai đồng bạc để tiêu vặt đâu. Cháu chỉ muốn kiếm ngay một cái vốn khá để theo gót ông chánh Cừ, Ông đội Tri. Làm cái khoản ấy, phát tài lắm, cụ ạ. Rồi bị thua tháy mãi, cháu bực mình, mới lập tâm kiếm tiền bằng cách khác. Cháu định dò đích xác được chuyến buôn lậu nào là cháu đi báo để lĩnh thưởng. Có món hỏa hồng to này mới tính đến chuyện to được. Thấy của thiên hạ, cháu cứ ngốt lên, cụ ạ.
Muốn anh Kíp đừng có thì giờ bỏ không để nghĩ đến làm bậy, ông Sơ lại tập cho anh thói quen giống mình, là bắt nghiện nhật trình, ông nói:
- Thích cái này thì tự khắc mất hết những cái thích khác.
Ý ông muốn nói là văn chương, thời sự, đăng trong tờ báo.
Anh Kíp chiều ông Sơ, nhưng ngày nào cũng đọc báo mà anh không thấy được mở mang trí tuệ. Là vì động cầm đến nó, y như rằng anh buồn ngủ díp mắt lại. Thấy chồng đặt báo lên bụng, ngáy pho pho, vợ anh cằn nhằn:
- Xem nhật trình bằng mắt, chứ xem bằng rốn, thì chó cũng làm được.
Ông sếp ga cười:
- Thà ngủ cho béo mắt còn hơn đi đánh đeo với bạn xấu. Thế mới biết, đối với ai, tờ báo cũng có ích.
Có một lần, anh Kíp bộc lộ về lối đọc báo của anh:
- Chả giấu giếm gì cụ. Cháu không xem được những bài dài, cụ ạ. Cháu cũng biết rằng văn chương, ý tứ cao xa thâm thúy thật, nhưng cháu thấy buồn lắm. Cháu nể cụ thì cháu cầm tờ báo, chứ sự thực, cháu chỉ xem những quảng cáo.
- Thì cũng tốt chứ sao. Để biết ở Hà Nội hàng nào bán ở đâu, khi mình về, đi mua, đỡ phải tìm. Trong một tờ báo, mục nào chả có ích.
Anh Kíp lắc đầu:
- Hàng nào à? Bán ở đâu à? Toàn thuốc lậu với tiêm la, cụ ạ. Cháu thuộc lòng hết cả. Ai lại một tờ báo bốn trang, mà đến hai trang rưỡi là quảng cáo. To nhỏ 17 cái quảng cáo, thì 15 cái là thuốc. Mà trong 15 quảng cáo thuốc, 13 cái bán thuốc chữa bệnh phong tình, 2 cái bán thuốc cai nha phiến! Bất cứ hôm nào rỗi, cụ mở ra mà đếm, không đúng thế, cháu cứ đi đằng đầu!
Ông sếp Sơ khuyến khích:
- Anh thuộc lòng những quảng cáo cũng được. Hễ chán quảng cáo, anh phải đọc sang mục khác.
Anh Kíp cho là có lý, song vẫn nói:
- Nhưng buồn lắm cụ ạ. Cháu chỉ ngại hay đọc nhật trình thì dễ ngã nước.
Ông Sơ không hiểu, hỏi, thì anh giảng:
- Tại dễ ngủ.
Một hôm, ông Sơ đi bắn một mình đến tối chưa về, anh Kíp chờ cơm mãi, mới nói đùa với vợ:
- Dễ thường cụ cứu được một chú bị Tàu bắt cóc nữa, hay lại bị thổ phỉ nó bắt cóc sang Tàu rồi.
Chị Kíp gắt:
- Ỉa vào mồm thầy cái đĩ nói càn!
Lúc ông sếp ăn cơm, ông kể chuyện vì sao ông về chậm:
- Tôi về sớm, nhưng tại lúc lội qua suối, chân tôi vấp phải một cái gì răn rắn, tròn tròn, đương trồi ở dưới nước. Tôi cúi lấy lên xem, thì ra là cái đầu lâu.
Anh Kíp trợn tròn mắt:
- Ô! Thế thì may cho ông chánh Cừ nhỉ.
Sở dĩ anh Kíp biết ngay đầu lâu này là của bố chánh Cừ, là vì từ sáng đến giờ, Đồng Đăng đồn ầm lên về việc mả bố lão này bị quật và mất cái hoa. Người ta biết cả người đào là đội Trí. Vì hai tay buôn lậu này vốn vẫn hiềm khích với nhau, ít lâu nay vốn triệt nhau ra mặt. Ông sếp gật đầu:
- Còn của ai vào đấy nữa. Cho nên tôi mách cho ông chánh Cừ đi mà tìm về.
Chị Kíp gật gật:
- Phúc ông ta mà được cụ thấy hộ, chứ không, nó trôi mãi về xuôi, thì nhà ấy chỉ có mà lụn bại.
- Ông ta có mời tôi ở lại ăn cơm, nhưng tôi không ở. Tôi sợ về chậm, anh chị chờ.
Anh Kíp im lăng một lát, rồi tặc lưỡi:
- Đồ chó đá! Thế mà chỉ mời được bữa cơm.
- Thì cũng là tình cờ, chứ mình có định bụng giúp người ta đâu mà kể là ơn huệ?
Anh Kíp hút thuốc lào. Bỗng anh sực nghĩ ra một ý. Anh vội vàng dựng điếu, ngồi xổm lên trước mặt ông Sơ:
- Cháu tiếc rằng cháu không vớ được việc này. Phải tay cháu ấy à, thế nào cháu cũng xoay cho lời tiền ra cháu mới bảo. Mà cháu ăn cả của nhà chánh Cừ lẫn nhà đội Trí, chứ không tha. Hoài của, cụ vứt đi mất toi một trăm bạc. Hai thằng cùng đểu, cho một vố cũng đáng đời.
Rồi anh bày cái mưu của anh:
- Cháu như cụ, thì cháu cột cái đầu lâu lại, dúi nó vào trong bụi, để giấu đi đã. Rồi cháu đánh tiếng bảo chánh Cừ đến nhờ cụ bấm cho một quẻ độn.
Ông sếp cười:
- Tôi có biết bấm độn đâu?
- Có ai dám ngờ người thạo tử vi mà lại không biết bấm độn không nào? Cụ lấy cho đủ ba chục bạc. Nếu không đủ, cụ dọa rằng quẻ không ứng. Lúc ấy, cụ hãy thắp hương, suỵt soạt khấn khứa, giả vờ nói hươu nói vượn một lúc, mới bảo đến nơi là hiện nay vong linh ông cụ đương bị ngâm dưới nước về hướng đông nam, hay tây bắc gì đó.
Anh chép miệng tiếc món hoạnh tài:
- Cụ không thạo cái món giả vờ, chứ cháu mà lòe ai, thì cứ y như thật, đố ai dám ngờ.
Chị Kíp ôm con vào lòng, dấm dẳn nói với nó:
- Thế là thầy mày mới được có ba chục. Những một trăm kia mà, đĩ nhỉ.
Anh Kíp quay sang vợ:
- Phải rồi. Thế tao hãy hỏi mày, khi chánh Cừ tìm được đầu lâu bố rồi, nó có đi trình Châu không, và có kiện thằng đào mả là đội Trí hay không? Hẳn không đời nào nó cam tâm mà ngồi yên. Thế là, cụ ạ, cháu xoay đến đội Trí. Thằng này mà nghe tiếng cháu bấm độn giỏi, tất thế nào cũng mò đến tìm cháu. Nếu nó không tìm cháu, thì cháu tìm nó. Cháu sẽ bảo cho nó biết số nó tháng này có hạn quan tụng lớn. Cháu dọa nó, những là sạt nghiệp với tù tội, cho nó mất vía lên, mới vẽ cho cách gỡ, là cúng giải hạn được, vì có sao gì, sao gì đó cứu mệnh. Cháu khoét cho đủ năm mươi đồng. Cháu mua lăng nhăng mấy cái mũ giấy, mấy con ngựa giấy, rồi ê a cúng dềnh dàng độ một giờ đồng hồ thôi.
Ông sếp Sơ cười:
- Thế là biết tử vi thì biết cả bấm độn lẫn làm thầy cúng! Ngộ chánh Cừ cứ kiện, quan xử đội Trí thưa thì làm sao?
Anh Kíp cau mặt, vênh váo đập tay vào áo mình:
- Thì tiền thấy bỏ túi rồi, sống chết mặc bay chứ? Nó có trách, thì cháu đổ là tại nó không thành tâm. Phải sửa lễ khác để cúng thêm. Lại moi được chục bạc nữa, không biết chừng. Nhưng nói thế thôi, chứ lấy tiền cũng nên lấy cho có nhân, có nghĩa. Chánh Cừ mà muốn kiện đội Trí, thì thế nào cũng phải nhờ cháu bấm hộ xem, nếu có thật được mới dám đưa đơn. Vì anh kiện là kiện tình nghi, kiện vu vơ, không có tang chứng. Nó mạnh thầy, quật lại thì anh bỏ đời. Chánh Cừ đã tin cháu độn hay, chắc phải tin mãi. Lúc này, cháu khuyên nó là dĩ hòa vi quý, không nên khuấy nước để béo cò, chỉ tổ nhờn mõm ông quan. Cháu nói rõ là số nó không được kiện, dù có lên đến thống sứ, toàn quyền, quyết là đơn cũng phải bỏ đi. Ngay như nếu quan Châu Đồng Đăng có xui nó kiện, xử cho nó được hẳn hoi, nhưng rồi việc lên đến tỉnh, thế nào tòa đệ nhị cấp cũng xử hòa. Cương quyết rằng số như thế, giời cũng không có phép gì thay đổi được. Chẳng lẽ chánh Cừ khôn sặc gạch, lại kiệt lõ đít, mà không tin thầy bấm độn giỏi, lại nghe người khác xúc xiểm để mất thêm tiền à?
Chị Kíp cười:
- Thầy mày làm giàu nhanh thật. Nhưng vẫn còn thiếu hai mươi đồng.
Anh Kíp mắng:
- Hai mươi đồng mà lấy ngay nữa thì rõ rằng mình là con người tham lam, bú dù ạ. Nhưng hãy hỏi từ đó mà đi, chánh Cừ là một, đội Trí là hai, mỗi bận anh đi hàng, anh có khỏi nhờ tôi bấm cho một quẻ xem chuyến ấy có trót lọt hay không đã? Thế là mỗi lần cháu nói liều một câu, lại không lại bằng mấy tháng phải bẻ ghi không, cụ nhỉ.
Thấy anh Kíp là người khôn ngoan, nhưng lắm thủ đoạn, cho nên về Hà Nội chữa bệnh, ông sếp Sơ không lo anh làm không chạy việc bằng lo anh làm bậy.
Thật vậy, bây giờ “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” để mà e dè, sợ sệt, lại được người ta gọi là ông hoặc thầy sếp quyền, ký quyền, anh Kíp tha hồ làm tướng ở ga Đồng Đăng. Lại xì xào những tiếng hành khách phàn nàn nhà ga trả thiếu tiền lẻ. Luôn luôn báo hằng ngày giao cho nhà bưu điện chậm trễ. Có tờ rách cả băng đề tên người mua. Có tờ gấp tám như cũ, nhưng lại gấp trái, tên báo vào trong. Buồng ở của ông sếp Sơ trở thành nơi tụ tập của ông sếp quyền với các bạn hữu đến khuya. Dầu tây của công chưa cuối tháng đã hết. Có một lần, người ta bắt gặp cái Múi, con gái đội Trí gửi một cái hòm vào buồng ấy, và hình như nó ngủ ở đó suốt đêm, để sáng hôm sau xuôi sớm xuống Hà Nội. Chuyến tàu đến Lạng Sơn bị lính đoan khám, thấy hòm ấy có hai đáy, đáy dưới chứa mấy bánh nhựa. Nhưng không biết là của người nào, vì hòm để ở giữa toa không ai nhận. Lại một lần nữa, có tiếng the thé cãi nhau, trong buồng sếp ga. Người ta lắng tai nghe, thì rõ rằng một người là cái Múi, một người là cái Châu, con nhà Vạn Lợi. Tối hôm ấy, cái Châu vào sòng, thua xóc đĩa, hết cả tiền, thì gặp thầy sếp quyền đưa về ga. Chẳng may, hai người chạm trán cái Múi ở đó. Đôi bên ghen nhau, cãi nhau, chửi nhau ỏm tỏi. Thiên hạ còn đồn rằng cái Múi đã có mang với thày sếp quyền và sắp lấy lẽ thầy ta.
Còn thầy sếp quyền thì độ này có vẻ phởn phơ lắm. Trong túi lúc nào cũng có một gói thuốc lá Mê-li-a đỏ, và hàng chục ảnh đầm cởi truồng.
Nhưng cô sếp quyền thì buồn thiu buồn thỉu, đã ít nói, càng thêm ít nói. Hai mắt cô trũng sâu và thâm quầng như mắt những người thức nhiều và khóc nhiều. Thỉnh thoảng, trên mặt cô lại tím lên một vết lằn, như vết thương do cái gậy đánh mạnh.
* *   *
Một hôm, có một người Trung Hoa vào ga Đồng Đăng hỏi ông sếp. Người ấy đưa cho anh Kíp một chiếc phong bì lớn, rồi đi ngay về phía Nam Quan.
Anh Kíp bóc phong bì. Thì lạ quá, anh không hiểu là cái gì. Một tờ giấy dày, rộng, ngoài những dòng chữ, có in cái khung rất đẹp. Dấu lớn và nhỏ hình vuông đóng đỏ lòe. Có vẻ là một tấm bằng. Nhưng bằng ở đâu phát và phát cho ai, mà không in một bên chữ Pháp, một bên chữ nho như mọi cái, mà lại toàn in chữ nho! Ba tờ giấy hoa tiên hẹp khổ, màu đỏ, màu xanh, màu vàng, viết đặc những chữ nho, nhỏ lắt tắt, bằng bút lông.
Anh ngợ quá. Xong việc, anh khóa cửa ga, đem chiếc phong bì sang phố, để nhờ người giảng hộ xem nó là cái gì.
Mấy người lõm bõm biết chữ xúm nhau lại, vừa đọc vừa đoán chữ, vừa đoán vừa tán nghĩa.
Bức thư trong giấy hoa tiên như sau này:
Túc hạ nhã giám.
Từ ngày tôi được túc hạ cứu thoát tay bọn côn đồ, lòng tôi cảm bội vô hạn, tiếc vì túc hạ là người An-nam, tôi là người Trung Hoa, không biết tiếng của nhau, cho nên không thể nói chuyện với nhau được.
Tôi là một văn quan. Hôm ấy có vài người bạn rủ tôi vào rừng săn bắn. Tôi theo họ đi. Nhưng chẳng may, đến một nơi rậm rạp, tôi bị lạc. Tôi gọi to các bạn, không thấy trả lời. Vì không nhớ lối nên đi nhầm sang địa hạt bên quý quốc. Chính ở chỗ này mà tôi bị nạn. Và cũng chính nhân dịp này mà tôi được may mắn gặp túc hạ cải tử hoàn sinh. Viết đến đây, sực tôi lấy làm phiền. Nước tôi vì chính quyền chưa ổn định, nên sinh ra những kẻ bất lương, đón người ở chỗ vắng để cướp của, hoặc bắt cóc để vòi tiền chuộc. Nhưng chính quyền của nước Đại-Pháp ở Đông Dương đã ổn định từ lâu, há rừng Việt Nam lại vẫn là sào huyệt dung thân cho bọn thổ phỉ được hay sao?
Tôi không biết lấy gì đền cái ơn cứu sống của túc hạ cho xứng đáng. Hôm ấy, tôi muốn biết quý danh, nhưng không làm thế nào cho túc hạ hiểu được. May mà túc hạ đưa tôi về quý thự, nên tôi biết túc hạ là trạm trưởng trạm hỏa xa Đồng Đăng. Muốn tạ tấm lòng hào hiệp của túc hạ, tôi nghĩ rằng nếu tôi gửi tặng tiền bạc của nước tôi, thì dù nhiều bao nhiêu đi nữa, hoặc tặng phẩm hàm của nước tôi, thì dù quý bao nhiêu đi nữa, nhưng đối với một người An-nam, bây giờ chịu dưới quyền bảo hộ của người Pháp, những thứ ấy đều là không có giá trị. Cho nên tôi đã mạn phép túc hạ mà kính dâng túc hạ một tấm bằng làm thuốc, gọi là vật kỷ niệm nhỏ mọn để đền ơn. Tấm bằng này, đối với túc hạ, có thể bị coi như một tờ giấy bỏ đi, nếu túc hạ không biết lợi dụng nó. Nhưng ở nước tôi, để được tấm bằng này, thì một người, nếu không cố gắng công phu học hành vài năm, tất cũng phải mua mất bốn mươi đồng Chính phủ mới cấp cho. Tấm bằng này sẽ là một chứng thực về nghề nghiệp để làm sinh kế. Ở Việt Nam hiện nay, tuy người Pháp có mở trường dạy y học Thái Tây, nhưng lòng người còn tin thuốc bắc của Trung Hoa không phải đã mất. Cho nên một tấm bằng làm thuốc của nước tôi tặng túc hạ, vẫn có thể giúp nhiều cho túc hạ trong việc mưu sinh. Tôi muốn vật kỷ niệm cho ân nhân của tôi phải có thực ích. Tôi mong túc hạ hiểu cho, mà coi tấm bằng này là một vật giá trị. Ở vào thời buổi khó khăn, người khôn ngoan phải xoay xỏa nhiều mưu kế mới sống nổi. Tôi tiếc vì không biết quý tính cao danh, cho nên phải để trống tên. Cúi xin túc hạ tha lỗi mà điền mấy chữ vào đó hộ.
Tôi viết thư này đã dài, nhưng chưa thể nói hết những ý muốn nói. Tôi xin thưa trước với túc hạ vài câu. Là một ngày kia, túc hạ có dời gót ngọc đến thăm tiện quốc, thì mời túc hạ hạ cố quá bộ đến tệ xá, cho tiện nội được chiêm ngưỡng dung nhan. Và sau này, nếu bên quý quốc có ai cần đến bằng làm thuốc nữa, thì túc hạ thương lượng giá cả với người ấy. Còn như đối với tôi, túc hạ chỉ cần gửi lại cho một hiện vật tương đương với ba mươi đồng bạc của Đông Dương đương lưu hành mà thôi. Tôi rất lấy làm hân hạnh được tiếp tục đền ơn túc hạ mãi mãi.
Song, cũng vì muốn báo đáp cái nghĩa nặng ân sâu của túc hạ, mà tôi phải thành thực lưu ý túc hạ những điều sau này. Là các Chính phủ của chúng tôi thường không được vững bền lâu dài, số phận còn mất như quả chín trên cây. Mà thân thế của tiện chức, chẳng qua cũng cùng cảnh phù du như thân thế của Chính phủ. Thế thì chỉ trong thời kỳ kẻ chịu ơn này còn ở trong Chính phủ đương trị vì, thì các bằng cấp phát hành mới có giá trị. Cho nên tôi mong rằng túc hạ nên lợi dụng cơ hội ngắn ngủi và hiếm có này mà tiêu thụ nốt cho cái số 24 tấm bằng còn lại.
Mấy lời tâm phúc thô thiển, ngửa trông túc hạ lượng xét.


Sau bức thư là một dòng đề năm Dân quốc, tháng, ngày. Rồi ký tên TỐNG BỘI ĐÌNH. Bên cạnh tên, có ghi chức tước và địa chỉ.
Nghe xong bức thư, thầy ký quyền ngắm nghía tấm bằng, nhưng bằng đôi mắt hờ hững thôi. Thầy cũng chẳng quan tâm đến những lời lẽ văn hoa trong thư. Bởi vì nó chả lợi gì cho thầy. Đây là người ta gửi cho ông sếp Sơ. Thầy gấp các giấy má rồi về nhà, định bụng bao giờ ông Sơ lên làm việc, thì đưa trả ông ta. Ông ta là người tử tế, thầy phải ăn ở tử tế lại.
Nhưng ông Sơ không bao giờ trở lại Đồng Đăng nữa. Thần Chết đã đem ông đi rồi. Cái bằng làm thuốc giả dối và bức thư của người quan văn con buôn, thầy sếp quyền cho là không cần giữ làm gì, mới cuộn lại, gài lên mái tranh.
Phải, nó có ích cho thầy sao bằng cái giường khung, đôi chiếu hoa và cái chăn chiên, cùng mấy bộ quần áo rét của ông Sơ bỏ lại trong buồng. Thầy dọn tất cả những thứ ấy, đem về nhà dùng.
Không bao lâu, ga Đồng Đăng có ông sếp Thìn bổ lên, thay ông Sơ.
Ông sếp quyền lại trở về địa vị cũ, là anh phu kíp quèn. Được gọi là ông sếp, thầy ký, được nghe “Thưa thầy phát cho con cái vé, thầy cho con lĩnh cái vé” quen tai đi rồi, anh khó chịu với ông sếp Thìn. Tuổi ông này, không bằng tuổi ông Sơ, mà hay gọi anh xách mé là anh Kíp, thỉnh thoảng lắm mới bác Kíp, xừ Kíp.
Đôi khi xét nét cả với đời tư của anh, ông Thìn lên mặt người trên mà cự anh. Anh cho như vậy ông ta làm mất tự do.
Thế là lòng tự ái làm anh hay hục hặc với ông ta. Có một lần, anh bảo hẳn ông ta:
- Cũng là kiếp nô lệ làm đầy tớ thằng Tây cả, chứ vu chẳng hơn moa đâu mà làm bộ[6].
Buồn nản quá, anh Kíp muốn xin đổi đi ga khác.
Độ này, anh còn bị dồn dập những đau khổ. Con bé con nhà anh ngoan ngoãn là thế, mà lăn đùng ra chết. Nó không hay quặt quẹo, nhưng hễ động ốm là bạo bệnh. Nó chỉ đau bụng có một đêm thôi. Anh thì chớm sốt rét. Rồi có lẽ vì trời nóng quá, anh bị bệnh thiên trụy, đi khạng nạng như người thọt. May làm sao, có người mách cho thuốc hay mà dễ kiếm, nên không tốn tiền, anh khỏi được bệnh. Nhưng qua được nguy hiểm này, anh mắc đến bệnh kiết lỵ.
Đã từ lâu, chị Kíp không muốn cho chồng ở Đồng Đăng nữa. Nhiều cái tai hại lắm rồi. Đất không lành thì cò không đậu. Cho nên, lại nhân dịp chị sắp ở cữ, vợ chồng bàn nhau nên xin đổi về xuôi.
Vì dò biết ông Thìn định tống anh lên Na Sầm, anh nhất quyết phen này làm cho ông biết tay. Anh cho chị về tìm được dì Đốc, kè nhè với dì nói với me-xừ Giô-dệp Phăng-đi cho anh về Hà Nội.
Chị Kíp tìm mãi, chẳng thấy dì ở nhà cũ. Chú Giô-dệp Phăng-đi đã cút về Tây từ bao giờ rồi. Chị phải hỏi thăm mãi mới gặp dì. Thì ra con người làm dâu ngoại quốc lành nghề này không chịu một ngày nào thất nghiệp bạn trăm năm. Hắn được chuyển ngay từ lòng người đốc công sang lòng người sếp văn phòng, cũng ở sở xe lửa. Người được nâng khăn sửa túi mới tên là Phi-lô-mát, gọi là quan sếp chánh.
Bà sếp chánh nhận một lạng cao hổ cốt của cháu, rồi gật đầu:
- Được, để bà lớn trình với ông lớn cho.
Hai tuần sau, anh Kíp nhận được giấy đổi về Hà Nội. Anh trả thù được ông Thìn. Hả lắm! Anh nói với bạn hữu:
- Về Hà Nội thì làm cạnh Tây, việc bận và khó đấy. Nhưng thà Tây nó chửi, nó đánh, còn không nhục bằng An-nam nó nói một câu!
Hôm dọn nhà, anh sực nhìn thấy chiếc phong bì gài trên mái tranh. Anh tính cho nó vào bếp lửa. Nhưng anh tiếc công gìn giữ mấy tháng nay. Song, mang nó đi thì được ích gì? Anh ngắm nghía tấm bằng một lát, rồi tặc lưỡi bảo với vạ:
- Tội đếch gì mà vứt đi! Chả gì cũng để treo cho đẹp nhà.
Vợ anh cau mặt:
- Của mình chó đâu mà đẹp!
Lời nói như xui anh chiếm của kẻ khác làm của mình. Anh mượn bút mục, rải phẳng tấm bằng, nắn nót, điền vào chỗ trống, ba chữ: TRẦN ĐỨC THỪA.
Anh Thừa đem con bò lạc về Hà Nội.
 
Chú thích:
1)
2)
3)
4)
5)
6)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
III
CU-LI CÚT-KÍT  
 
Anh Thừa được ở ga Hà Nội. Tên sếp chánh Phi-lô-mát cho anh vào làm trong văn phòng tên sếp phó, là Tu-nô. Nó rộng cho anh nghỉ hai hôm, để thuê nhà của xong, mới đến nhận việc.
Anh vừa mừng vừa lo. Thế là tránh được cái tên là phu kíp. Nhưng chữ nghĩa ít, anh biết làm ăn thế nào? Bà lớn sếp chánh khuyên anh đừng thuê nhà ở đâu cho xa và đắt tiền. Bà bảo sẽ dùng quyền, bắt bà sếp phó cho anh ở một gian trong bếp nhà bà ấy. Nhà gạch, có đèn điện, có nước máy, sang trọng lắm. Anh cảm ơn Trời Phật phù hộ người dì anh lấy chồng làm to, cho anh hưởng sung sướng lây! Bây giờ anh được gần dì, có việc gì, dì che chở cho. Vả lại anh ở ngay trong nhà quan thầy, người ngoài trông vào, ai chẳng phải nể.
Hôm đầu tiên, anh ăn mặc thật chững chạc: khăn xếp, quần là, áo cổ cồn, giày tây. Anh sắm cả cái tay áo giả bằng vải tây thâm để lồng vào cánh tay, phòng khi ngồi viết khỏi hại áo. Anh hăm hở đến sở rất sớm. Anh đứng chờ ở hành lang. Mãi đến chín giờ, quan sếp phó mới ra bàn giấy. Nó đi khệnh khạng, phải chống bằng ba-toong. Anh chào nó và xưng tên, nó hiểu ngay, gật đầu, vẫy anh đi theo.
Anh vào buồng, hồi hộp, đứng nhìn quanh. Cả cái buồng rộng, đặt có một cái bàn lớn ở giữa. Trên mặt bàn, xếp từng chồng giấy má. Sau bàn, bày một cái ghế dựa. Anh đương suy nghĩ xem mình ngồi ở chỗ nào, thì Tu-nô trỏ phía cuối tường, vừa giơ tay lên, hạ tay xuống, để làm hiệu, vùa nói lơ lớ:
- Kéo, kéo mạnh. Biết?
Anh biết. Thì ra chán ngán quá, anh làm việc kéo quạt.
Một lát, có người thư ký vào. Tu-nô nhìn anh và nói với người ấy. Người ấy gật đầu, thông ngôn lại cho anh nghe:
- Phải quét tước lau chùi buồng này cho sạch sẽ. Kéo quạt. Đi việc vặt. Đấy công việc có vậy. Làm cho chu đáo. Ông ấy bảo thế.
Anh cúi đầu:
- Vâng ạ.
Anh nhìn thấy hình của anh in trắng lôm lốp ở kính cửa như một thầy ký. Lố quá! Anh thở dài khẽ và nghĩ thầm: “Thế này thì làm phu kíp còn oai hơn. Không ngờ bây giờ mình lại làm việc của thằng nhỏ”.
Lúc Tu-nô cúi mặt xuống bàn, anh mới dám ngắm nó. Nó không có vẻ là Tây thật. Hình như Tây lai thì phải. Nhưng sao nó không nói tiếng ta. Anh không thể đoán được nó bao nhiêu tuổi. Lúc nó cúi xuống, thì trông già. Nhưng khi nó ngẩng lên thì lại trẻ. Má, môi và cằm nó xám những chân râu quai nón. Thế thì nó hai mươi, ba mươi hay bốn mươi? Có thể là nó hiền lành, chứ không hung hăng, ác tợn như lũ Tây cắt vé râu cáo. Bọn này là Tây thật, nên không thương gì người An-nam. Chúng đến toa nào là toa ấy hành khách len lét. Thế mà hơi một tí là chúng quát tháo, tát, đá người ta. Thằng này là người lai, khi đối xử với An-nam, ít ra nó phải nghĩ đến mẹ nó.
Bỗng đương làm việc, Tu-nô nhăn mặt, xuýt xoa, hai tay ôm chỗ nào, vì lấp bàn, anh không rõ. Anh vội vàng kéo mạnh quạt và trông đi chỗ khác.
Hẳn trong người nó có cái gì làm nó đau đớn. Cái nhọt hay vết thương? Phải rồi, anh nhớ ra. Nó đi phải chống ba-toong. Thế thì có lẽ nó bị thương ở chiến trường, bắn nhau với quân Đức.
Quả bàng cửa kêu lạch xạch. Cánh mở ra. Một người đầm nhỏ nhắn vào, tay cầm một gói gì, đi thẳng đến Tu-nô.
Anh nghe hai người nói với nhau, toàn là mày tao. Anh đoán người này không phải viên chức đến bàn công việc. Nếu phải người trên kẻ dưới, họ lễ phép với nhau, gọi nhau bằng vu, chứ không bằng tuy, toa [7] như thế này.
Một lát, người đầm nhìn anh, hất hàm, nói bằng tiếng ta rất sõi:
- Cho nghỉ một lát. Ra ngoài kia. Đóng cửa lại. Không cho ai vào. Nói là quan sếp phó bận, không tiếp.
Anh Thừa cúi đầu để tỏ ý vâng lệnh một cách lễ phép, đi rón rén ra cửa, đứng ở hành lang. Sao có lắm việc làm anh phải suy nghĩ thế? Người đầm này không thể không là lai. Tóc đen. Mắt đen. Chỉ bộ lông mi dài, cong và nước da trắng có chấm tàn hương là khác ta. Hắn mặc đồ ta, đố ai bảo là đầm. Hắn mặc đầm, người ta bảo An-nam giả đầm. Có lẽ vì hắn An-nam quá, nên có nói tiếng Tây cũng chẳng ai nghe. Đúng là hắn chỉ độ hai mươi tuổi, chứ không nhiều. Trông hắn khá xinh. Thịt lẳn, chắc, có vẻ mát rượi. Hắn vào đây làm gì? Hắn là gì mà vào đây? Sao hai người ở trong buồng với nhau lại đuổi mình ra, và cấm người vào. Hay là…
Anh đương nghĩ dở dang thì cánh cửa mở. Người đầm đi ra. Anh cúi đầu chào và để ý nhìn. Tóc hắn không rũ rượi. Váy hắn không xộc xệch như cái Múi hôm gặp anh lần đầu tiên ở buồng ga đi ra.
Tay hắn vẫn cầm cái bọc. Đến trước mặt anh, hắn hất hàm:
- Tên là Thừa phải không?
Anh đáp:
- Thưa bà lớn, vâng ạ.
- Mai dọn đến bếp nhà tôi mà ở. Biết nhà chưa?
- Bẩm chưa.
- Ở phía kia, cứ hỏi nhà ông sếp phó hay ông Tu-nô, hiểu chưa? Chưa biết tôi là ai à? Bà Tu-nô đây.
Anh giật mình đánh thót. Nhưng khi thấy đôi mắt sáng của hắn nhìn anh chớp chớp mấy cái, và hắn mỉm cười, anh đỡ sợ hãi, được nhẹ nhõm cả đầu óc.
Anh chắp tay:
- Thưa bà lớn, vâng ạ.
Người đầm lai hất ngón tay cái vào trong:
- Ông ấy ốm, không chịu được nóng. Vào mà kéo quạt. Làm việc cho tốt.
Nói xong, hắn thoăn thoắt bước đi. Anh Thừa muốn hỏi hắn một vài câu về bệnh tật quan ông cho ra tình thày trò, nhưng không kịp. Anh đành ngậm miệng đi vào. Anh lại móc cái đầu dây thừng quạt vào ngón chân cái, tựa lưng vào tường cho vững, rồi co cẳng để đạp cho khỏe. Dây quạt chạy trên bánh xe rít dầu, kêu cút kít như người nghiến răng.
Buổi tối hôm ấy, anh Thừa lại chụp khăn, mặc áo dài và dận giày tây cho đàng hoàng để đến thăm dì.
Bà lớn sếp chánh có nhà, nhưng ông lớn còn đi la mát.
Anh nói cho dì biết về công việc hàng ngày của anh. Anh hỏi về quan thày của anh.
- Ông ấy là người lai, nhưng mà tốt lắm, chứ không bạc tình như quân Tây lai khác, ông ấy biết tiếng ta, nhưng ít khi nói. Ông ấy bảo chỉ nghe hiểu, chứ không nói được nhiều. Vì thuở bé, ông ấy vào trường, ở lẫn ngay với con Tây.
Anh hỏi Tu-nô bị đau gì. Dì anh nhăn mặt, lắc đầu:
- Cũng tại ông ấy thôi. Bệnh này khó nói lắm. Chữa mãi không khỏi.
Anh khoe đã gặp bà sếp phó, được bà bảo đến ở buồng dưới bếp. Người dì gật đầu:
- Rồi mỗi tháng, anh nên đưa bà ấy hai đồng, cũng như tiền thuê nhà và tiền điện nước. Ở như vậy mà chỉ tốn như vậy là hời lắm. Có hơn là thuê cái nhà gianh lụp sụp, thắp đèn dầu tối mù, và phải đi gánh nước xa hay không?
Thấy mình bị nạn sĩ diện của cái bà lớn hợm hĩnh rởm, anh thở dài:
- Tôi tưởng bà ấy cho ở nhờ. Lương có sáu đồng, mà nhà ở mất hai đồng!
Người vợ Tây cười:
- Là bà lớn tính hộ anh như vậy, còn tùy anh nói chuyện với bà ấy. Bà ấy là đầm, dễ chả lấy tiền thuê nhà của anh đâu mà lo. Ấy là bà lớn muốn anh ăn ở cho ra con người biết điều…
- Cứ như tôi thì tôi tính thế này. Tôi đi làm, có lương đã đành, nhưng không đủ ăn. Nhà tôi lại không buôn bán, được đồng ra đồng vào như ở trên Đồng Đăng. Nay mai nó lại nằm nơi. Cho nên tôi định nói với bà ấy cho nó làm những việc lặt vặt trong nhà, như quét tước cái bàn cái ghế, giặt giũ cái quần, cái áo cho bà ấy, rồi tháng tháng, bà ấy chi cho thế nào cũng được, miễn là có thêm đồng nào quý đồng ấy. Hay là bà ấy nuôi hẳn nhà tôi làm con sen. Hẳn là cơm nước cho ông ấy đã có bồi bếp, nhà tôi làm chẳng nổi, nhưng cơm nước cho bà ấy, thì nó làm được.
Bà sếp chánh bĩu môi, lắc đầu:
- Không được đâu. Bà ấy không mượn đâu. Gì bà ấy cũng làm lấy tuốt. Cơm cho ông ấy, bà cũng thổi đấy. Anh tính lương có ba chục một tháng, ăn uống, may mặc, phấn son, hà tiện lắm mới đủ, để thỉnh thoảng còn tiêu khiển bằng cây bài lá bạc, thì tiền đâu mà dám thuê người.
Anh Thừa ngạc nhiên hỏi:
- Bà ấy làm ở đâu. Tôi tưởng là đầm thì được lương cao lắm?
Bà sếp chánh không đáp. Một lát, bà nói giọng đay:
- Đầm! Đầm xu bốn!
Rồi bà giảng:
- Cũng mới ăn mặc đầm, vì ông ấy bắt thế.
Anh Thừa ngạc nhiên. Có lẽ bà này chẳng qua cũng như dì anh, cho một thằng Tây thuê thân thể lấy mỗi tháng ba chục. Nhưng vì bà ta trẻ và đẹp, nên Tu-nô bắt mặc đầm để nhìn cho thích. Quần áo ta không hợp với mắt người Tây, anh suy đến dì anh, nhiều tuổi hơn, xấu hơn, lại ăn mặc ta, chắc giá thuê chỉ hai chục một tháng.
Hẳn người dì biết anh nghĩ gì.
Hắn đánh trống lảng bằng vài câu khuyên bảo lối người trên:
- Nên tu chí mà làm ăn. Quan sếp phó tốt lắm. Bà ấy tốt lắm. Rồi nhờ vả người ta còn nhiều. Đừng giai gái, cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện, thuốc sái. Hà Nội là đất ăn chơi. Anh mà hư thì mang tiếng bà lớn đấy.
Không muốn nghe thêm bài luân lý, anh đứng dậy, xin về. Người dì gật đầu:
- Được. Nhưng bà lớn dặn một điều, anh cần nhớ. Là anh đừng năng đi lại thăm bà lớn. Nếu cùng bất đắc dĩ phải đến, thì anh nên đến vào lúc ông lớn có nhà, mà ăn mặc xoàng thôi nhé.
Rồi phải giảng rõ cho anh khỏi băn khoăn, hắn nhoẻn miệng:
- Vì sợ ông lớn nghi, anh có hiểu không? Tây người ta có biết đâu ai là họ hàng, máu mủ? Người ta cứ thấy có đàn ông trẻ đến với vợ người ta vào những lúc người ta không có nhà, thì thế nào người ta cũng cho là nhân ngãi. Có lần cô Bé Tý cho em ruột của mình ngủ nhờ một tối, mà hôm sau mất việc đấy! Em ruột thật chứ có phải em ruột giả đâu! Mà là cô Bé Tý đấy nhé!
Anh Thừa không lấy những lời dọa dẫm dân chúng bằng người vợ Tây nổi tiếng ấy làm sợ. Anh sực nghĩ đến bà Tu-nô, sàn sàn tuổi anh, lại cho anh ở chung nhà. Có đáng ngại hay không.
* * *
Không đáng ngại tý nào.
Tu-nô ở nhà công của sở xây cho viên chức Pháp. Nhà có hai tầng, mỗi tầng hai buồng. Theo chế độ chung, ai độc thân thì ở một buồng. Ai có gia đình thì ở hai buồng. Có gia đình nghĩa là có vợ Pháp. Ăn ở với người đàn bà bản xứ chỉ được coi là chứa tạm bợ bên cạnh mình một công cụ mua vui, không được kể là một người, thì không là có gia đình. Dù là cấp cao, cũng chỉ được một buồng.
Hai buồng tầng dưới nhà này có hai người ở. Đáng lẽ Tu-nô cũng chỉ được một buồng, vì người đàn bà của nó, tuy là lai, nhưng hai đứa không phải là vợ chồng cưới xin hợp pháp hẳn hoi. Song, nó láu cá. Nó bảo người ấy ăn mặc đầm để có hình thức là dân Mẫu quốc, cho nó có tiêu chuẩn chiếm hai buồng. Nó được ở cả hai buồng trên gác nhà này.
Sở dĩ anh Thừa biết được điều ấy, là vì sau này, hỏi dò la về bà chủ, các bạn nói cho anh nghe như vậy.
Hai người Tây ở tầng dưới chỉ dùng buồng làm chỗ ngủ. Không hiểu họ ăn ở đâu. Có thể là họ ăn chung bếp với những bạn độc thân của họ ở nhà khác. Có thể là họ ăn ghép với một người nào có gia đình. Cũng có thể là họ ăn tháng ở ô-ten. Nhiều tối, đến tận khuya, họ mới về. Nhiều tối, họ dắt gái về, nô đùa với nhau đến tận khuya.
Cách căn nhà chính một cái sân hẹp, là nhà phụ bốn gian. Một gian có bếp lò xây. Hai gian giữa bỏ không. Gian cuối ngăn đôi. Một ngăn có vòi nước ở trong chắc để rửa ráy, tắm giặt. Một ngăn là chuồng tiêu. Hai gian giữa, hẳn một gian là buồng cho bồi ở, một gian là buồng cho bếp ở. Vì cả ba người ở nhà trên không nuôi bồi bếp, nên hai gian đều bỏ không. Anh Thừa dọn đến buồng thứ ba.
Sở dĩ anh ở gần một công cụ mua vui, mà người thuê thuộc vào hạng có tính đa nghi, nhưng không đáng ngại tý nào, là vì một người ở trên cao, một người ở dưới thấp, không trông thấy nhau được. Người đàn bà ấy, không xuống sân bao giờ. Cửa ra sân vì là cửa sau, nên khóa. Cửa ra đường ở phía trước. Vả lại không ai dùng đến gian buồng bếp, cạnh chỗ anh ở. Chắc là bà Tu-nô thổi nấu giặt giũ ngay ở trên gác, và bà kiêm cả chức bếp, bồi cho chồng.
Cho nên, từ hôm đi làm đến bây giờ, sở dĩ anh Thừa đã nhớ được mặt người đầm lai, là vì ngày nào hắn cũng đến buồng giấy sếp phó một lần, vào khoảng từ mười giờ đến mười giờ rưỡi sáng. Cũng như lần đầu tiên anh thấy hắn, lần nào hắn cũng cầm một bọc nhỏ, và nói chuyện với Tu-nô những gì, rồi bảo anh ra ngoài một lát.
Công việc của anh tuy nhàn, anh lại được ở nhờ nhà không mất tiền thuê, nhưng nghĩ đến đời mình về lâu về dài, anh không khỏi không có điều oán thán.
Một là kéo quạt, lau bàn ghế, cửa rả, thì một thằng bé con làm cũng nổi, chứ không phải người đương sức trai mà lại biết chữ như anh. Mỗi ngày, mọi người ở sở có bảy tiếng đồng hồ, sáng từ bảy đến mười một giờ, chiều từ hai đến năm giờ. Nhưng anh phải có mặt trong buồng giấy ít ra là mười tiếng. Là vì buổi sáng, Tu-nô dậy muộn, đến chín giờ, chín giờ hơn nó mới sang làm việc. Và ngồi cho đến mười hai giờ. Buổi trưa, nó ngủ. Bốn giờ nó mới tới, ngồi cho đến bảy giờ tối. Hôm bận, nó ngồi muộn hơn.
Người khác hết giờ thì về. Nhưng anh, không lẽ chủ còn đó, đã bỏ đi. Anh không dám đến muộn như nó. Cứ chuông làm việc là anh đã ở sẵn trong buồng giấy rồi.
Mà kéo quạt là một công việc rất dễ chán. Sức anh khỏe, phải làm việc nhẹ, cho nên sốt ruột lắm. Không thể kéo mạnh được. Kéo mạnh thì cái quạt giật gió phình phịch, không đẹp mắt, không êm tai. Mà lại chóng đứt dây. Cho nên anh dễ mỏi, hay buồn ngủ. Anh luôn luôn phải đổi thế, lúc đứng tựa vào tường, lúc ngồi phệt xuống đất, lúc kéo bằng tay, lúc đạp bằng chân, mà nhiều lúc hai mắt cứ díp lại.
Thằng Tu-nô lại chẳng bao giờ nói chuyện với anh. Chắc nó cho là anh không biết tiếng Tây, mà nó thì chỉ nghe được, chứ không nói được tiếng ta. Giả thử nó cứ nói với anh bằng những tiếng dễ dễ, thì anh cũng hiểu. Rồi được học nghe, học nói cho quen tai quen miệng. Anh chỉ mong lúc vợ nó đến, hoặc lúc người thư ký ở buồng bên cạnh sang, để cảnh có hoạt động, có tiếng nói, cho đỡ lặng buồn, và để tập nghe tiếng Tây.
Điều oán thán thứ hai của anh, là anh thấy giá trị của anh nó còm, nó thụt đi dần. Buổi đầu, ở làng bước ra, anh tưởng được làm bàn giấy. Không ngờ là lên Đồng Đăng làm phu kíp. Những người chữ nghĩa chỉ bằng anh, như ông Sơ, ông Thìn, thì được là hạng thầy. Còn anh, người ta chỉ gọi bằng anh, trọng lắm thì bằng bác, là cùng. Có lúc ông Thìn nể không ra nể, khinh không ra khinh, gọi anh bằng cái tiếng giữa anh, giữa bác là xừ. Nhưng mà, thôi thì anh cũng được, bác cũng được, mà xừ cũng được, không đến nỗi nào đâu. Bây giờ, làm ở đây, anh bị gọi là cu-li, cu-li cút-kít. Thằng Tây nó gọi: “Ê! Cu-li!”. Thật là nhục. Đã là cu-li thì không đáng là hạng anh, hạng bác, hạng xừ như làm phu kíp. Mà là hạng thằng! Đúng thế, cu-li chỉ là thằng. Người ta mày tao với cu-li. Mấy người thư ký thấy anh lớn tuổi, không nỡ mày tao như với bọn bé con kéo quạt khác, song, vì cu-li không đáng được gọi bằng anh, cho nên muốn bảo anh điều gì, họ toàn nói trống không. Nhiều lúc, thấy lũ bé con cãi nhau, chửi nhau, hoặc phải mắng, phải đánh, anh vừa nhục, vừa tủi, vừa bực.
Anh dồn tất cả những oán thán trên kia vào một người, là dì anh. Anh nghĩ mà giận. Cho nên, nói chuyện với vợ, anh không gọi là dì ấy, bà ấy, mà đốp phăng ngay là con mẹ, hoặc con mụ. Anh thấy rằng con mụ nó đểu quá. Cho là nó lấy Tây thì có thế lực, anh nhờ nó xin việc. Tưởng việc gì, chả hóa ra là đi làm phu kíp tại Đồng Đăng. Việc thế mà nó nhẫn tâm ăn lễ của anh ba tháng lương! Rồi bây giờ nó nhận của anh một lạng cao hổ cốt, tưởng chạy được chỗ tốt hơn, nào ngờ đâu là làm thằng cu-li cút-kít! Thế mà nó toan sĩ diện với vợ thằng sếp phó, làm anh suýt mất mỗi tháng hai đồng bạc nhà! Nó còn dở thối, tự xưng là bà lớn! Bà lớn với bà bé gì! Bà lớn mà không dám tiếp cháu ở trong nhà, trong lúc ông lớn đi vắng! Chẳng qua nó chỉ là con giăng há, bán trôn nuôi miệng, nay thằng này, mai thằng khác, cho nên thằng Tây nó mới sinh nghi. Anh không lạ gì màu mẽ bà lớn sếp chánh nữa rồi! Lần sau, gặp khó khăn mà anh còn nhờ nó, dễ thường nó xếp cho anh một chân giặt quần trong hầu bọn nó, cơm nuôi, không công chắc!
Anh Thừa đã làm quen với vài người làm bồi, làm bếp cho những Tây khác của sở.
Anh thấy họ, người thì tám đồng, người thì mười đồng lương một tháng, nhưng tháng nào cũng phát tài, ăn bớt được của chủ có khi đến ba bốn đồng. Xong việc, họ diện giày giôn, quần ống sớ, áo sa hoa, lên cao lâu ăn phở, miệng phì phèo điếu thuốc lá, phởn phơ như những ngày anh ở Đồng Đăng, bán vé hộ cho ông sếp Sơ. Bây giờ kéo quạt, lương ba cọc ba đồng, anh không thể hy vọng gì hơn được. Tháng sau, vợ anh sắp ở cữ, anh đành muối mặt cho về quê nhờ người dì ghẻ vậy.
Hôm cuối tháng, sắp ngày phát lương, Tu-nô gọi anh đến gần, hỏi nhỏ anh về gia đình và số lương anh lĩnh ở Đồng Đăng. Anh ngạc nhiên quá. Nó nói bằng tiếng ta rất sõi, không lơ lớ như hôm anh mới đến. Thôi đúng là thằng này thạo tiếng ta, nhưng giấu. Thấy nó tử tế mà hỏi thăm cho đậm tình thầy trò, anh chắp tay lễ phép:
- Thưa quan lớn, con có vợ sắp đẻ. Lương con sáu đồng một tháng.
Nó trợn mắt:
- Nhưng mày là cu-li cút-kít, ba đồng thôi!
Như nghe tiếng sét, anh lặng đi. Một lát, mới nói được:
- Thưa quan lớn, con biết tiếng Tây. Quan lớn cho làm loong-toong [8].
Nó bĩu môi, nhún vai:
- Sở không thiếu loong-toong.
Nó gãi cằm, rồi hất hàm ra hiệu cho anh về chỗ kéo quạt:
- Được, tao xét.
Hôm sau, muốn chừng để thử thách anh, Tu-nô sai anh một việc. Nó viết mấy chữ vào tờ giấy, đưa anh một chục bạc, dặn anh đến hiệu bào chế Mông-tét, phố Tràng Tiền, và mang thuốc về cho nó.
Anh cắm cổ đi cho thật mau để định về cho thật mau. Nhưng đến nơi, anh rất sốt ruột, vì phải chờ đợi lâu, người bán hàng mới xem giấy của anh và giềnh giàng mãi mới trao anh thuốc. Người ấy dặn:
- Anh nói với ông ấy là thứ thuốc này sắp hết, ông ấy nên mua để giữ lại, kẻo hiệu bán cho người khác mất.
Được dịp để tò mò, anh hỏi:
- Đây là thuốc chữa gì, hả ông?
Người ấy đáp bằng hai tiếng cộc lốc:
- Sa đì!
Anh bật cười. Hèn nào Tu-nô đi khạng nạng! Nhưng quái, không biết nó bị từ bao giờ, mà gần một tháng nay, anh vẫn thấy nó chống ba-toong. Thế thì nó phải tốn lắm tiền thuốc rồi. Ngày ở Đồng Đăng, anh cũng đau như nó. Nhưng may quá, chữa khỏi ngay, chẳng mất một xu thuốc. Có nên mách nó cách chữa không? Nó có thèm chữa bằng thứ thuốc không mất tiền không? Nó có tin thuốc mình mách là hay không? Nhất là hỏi nó có tiện không? Hay là hỏi thì làm nó xấu hổ? Rồi anh nghĩ: “Phúc tinh ở ngay cạnh mày, mà mày không biết, thì cho chết, con ạ!”.
Anh đem thuốc về cho Tu-nô và nhắc lại lời người bán hàng dặn nói. Tu-nô bĩu môi:
- Nó muốn thuốc chạy thì nó lòe là sắp hết. Ai mua thuốc quen nó chả lừa thế. Tao tốn mấy trăm bạc với nó rồi!
Nói đoạn, thằng Tây lại tháo thắt lưng, để trên bàn, rồi cởi hết khuy quần ra, vạch ngay trước mặt anh Thừa cái bộ phận mà loài người phải che giấu ở trong quần. Nó cầm, nó ngắm tự do như ở chỗ không người, như không có anh. Thừa đứng lù lù ngay ở cạnh. Nó đếm xỉa gì đến anh, dù anh biết nhìn, biết nghĩ?
Anh Thừa vụt thấy mình rất nhục nhã. Nó khinh An-nam đến thế là cùng. Anh quay mặt đi, cho chính nó phải ngượng ngập. Nhưng thằng Tây lại không nhìn anh. Nó mải nhìn xuống chỗ đau của nó. Rồi nhăn nhó, tặc tặc lưỡi. Anh Thừa cáu quá, nhắc lại trong óc câu anh nghĩ ban nãy cho hả: “Phúc tinh ở ngay cạnh mày mà mày không biết, thì cho chết, con ạ!”.
Anh liếc nhìn, cái bìu của nó sưng to, căng tròn như quả bóng, đỏ hon hỏn. “Mày mà không là Tây, ông chỉ cầm cái thước này vụt vào đấy cho một cái là bỏ đời!”.
Nghĩ vậy, anh đi xuống chỗ kéo quạt.
Tu-nô loay hoay với thuốc, với chỗ đau một lúc, rồi nó mặc quần, gài khuy, thắt lưng. Nó lại cúi xuống bàn làm việc.
Anh căm giận thằng Tây lai. Anh càng căm giận con mụ dì của anh, nói rằng quan sếp phó tốt lắm. Tây nào không đểu giả, thô bỉ. Tây nào không khinh An-nam. Tây nào trong bụng không coi An-nam như súc vật. Nhưng khổ cho anh, anh chỉ là thằng cu-li kéo quạt, lương tháng sáu đồng. Không nhẫn nhục mà sống bám vào nó thì đói. Còn nói gì đến trả thù?
Bỗng anh sực nghĩ ra. Anh trả thù nó được. Anh phải trả thù nó. Đợi đến lúc Tu-nô xếp giấy má, sắp về, anh đến gần nó, nói:
- Thưa quan lớn, quan lớn bị bệnh này đã lâu mà con không biết. Con có cách chữa, cam đoan với quan lớn là khỏi được và khỏi ngay.
Tu-nô nhìn anh, cau mặt:
- Thuốc gì? Tao tốn nhiều tiền thuốc rồi, mày có biết không?
- Vâng, nếu thuốc không hay thì quan lớn mất bao nhiêu tiền cũng không khỏi. Mà thuốc hay thì mất ít cũng khỏi ngay.
- Thuốc mày là thuốc gì, thuốc tàu hay thuốc tây?
- Thuốc An-nam.
Anh Thừa vừa nói, vừa như hãnh diện. Nhưng thằng Tây lai nhún vai, bĩu môi, hỏi:
- Thuốc An-nam?
Thấy nó tỏ vẻ khinh bỉ, anh đáp to cho nó sợ:
- Vâng, nhất định hay hơn cả thuốc tàu và thuốc tây.
- Mày nhạo tao? Sao mày dám chắc thế?
- Là vì trước kia ở Đồng Đăng, con đã bị như quan lớn và con đã uống thuốc ấy.
- Mày khỏi?
- Vâng.
- Khỏi ngay?
- Vâng.
Thằng Tây cười mỉa mai:
- Thế thì lạ thật!
Anh Thừa nói bằng giọng tự ái:
- Vâng, quan lớn cứ thử dùng. Không lạ đâu.
- Mày biết thứ thuốc ấy?
- Vâng.
- Mất bao nhiêu tiền?
Anh Thừa suy nghĩ. Không phải để tính toán giá thuốc mà tính toán giá của cái tội nó khinh anh.
Một lát, anh đáp:
- Độ một trăm bạc.
Thằng Tây lai ngồi yên. Có lẽ nó cũng tính toán. Nó gật gù:
- Một trăm? Không nhiều. Nếu khỏi.
Thấy nó bắt đầu xiêu lòng, anh Thừa quả quyết:
- Nhất định khỏi. Không khỏi, quan lớn đòi tiền lại.
- Được, mày lấy thuốc cho tao, mày cần gì?
- Con cần tiền và nghỉ vài ngày.
- Được. Mấy ngày? Đi xa hay gần?
Anh nói liền:
- Đi Đồng Đăng.
- Được, tao cho giấy, mày ngồi toa hạng ba. Năm ngày có đủ không?
- Đủ.
- Mày lấy bao nhiêu tiền?
- Thuốc không phải của con. Mà mua thì phải tiền ngay, đưa tất cả một lúc.
- Cả một trăm?
- Vâng.
- Được, tao đưa mày. Nếu khỏi, tao không tiếc tiền. Tao phải vay ba tháng lương để chữa bệnh này rồi. Một trăm bạc không là mấy.
Nó đưa tiền cho anh Thừa. Anh sung sướng vì móc nổi của thằng tự phụ một món tiền lớn. “Thằng ngu ngốc là thằng đáng khinh”. Anh nhìn nó như chửi vào mặt nó câu ấy, rồi chào nó. Bỗng nó gọi anh lại. Nó vẫy anh đứng gần, giơ ngón tay trỏ vào mặt anh:
- Tao cấm mày mách với ai là tao đã nói với mày bằng tiếng An-nam, nghe chưa?
Anh lộn ruột, lặng thinh, không đáp.
Hôm sau, anh Thừa nghỉ việc. Anh không phải lên tận Đồng Đăng mới kiếm được thuốc. Anh sắm quần áo tây cho anh, và đôi khuyên vàng cho vợ anh. Hai người về nhà quê chơi.
Ngày hôm thứ năm, anh sửa soạn ra Hà Nội. Anh dặn vợ là nếu đẻ con trai, thì đặt tên là Mão. Nếu đẻ con gái, thì nói với ông nội đặt tên cho. Rồi anh cầm con dao, đến cây gạo đầu đình, lấy ra một mảnh vỏ, to hơn bàn tay, gói vào tờ giấy, để mang đi.
Thuốc chữa bệnh thiên trụy cho chủ anh chỉ có thế. Đáng lẽ cạo qua một lần muội ở vỏ, rồi cứa vài nhát, để đun với nước cho dễ ngấm, anh phải làm văn hoa hơn, để ngụy trang vị thuốc, bịt mắt thằng Tây lai. Anh băm vỏ gạo cho thật nhỏ, rồi nấu với thịt bò phi hành mỡ cho thơm, thành món xúp.
Anh hỏi Tu-nô ăn cơm tối vào lúc mấy giờ. Nó đáp:
- Tám giờ.
Đúng giờ ấy, thấy chủ đã ở trên gác, anh bưng xúp lên. Khói bốc, tỏa một mùi thơm ngào ngạt.
Bất đồ, lúc anh vừa thò cổ lên gác, thì quan sếp phó của anh đương ngồi xổm ở gần thang, hì hục giã cái chày vào cái lon. Một mâm cơm bày trên bàn, có hai bát đũa, bày thon lỏn một đĩa rau muống và một đĩa đậu phụ rim.
Tu-nô vội vàng đứng dậy để che cho khuất. Mặt nó đỏ gay. Nó quắc mắt nhìn anh. Chính anh cũng ngượng không kém gì nó. Anh vẫn tưởng nó ăn cơm tây, mới nấu cho nó món xúp thịt. Nào ngờ nó hốc rau muống, muối vừng, đậu phụ. Hèn nào nó không nuôi bếp. Xúp của anh thật là vô duyên, vì nhỡ tàu.
Tu-nô đỡ liễn thuốc bằng một tay. Anh nói:
- Quan lớn xơi món xúp cho nóng.
Bất đồ, còn một tay, thằng Tây lại giơ thẳng cánh, tát anh đánh đốp.
- Ai cho phép mày tò mò lên đây! Tò mò! Con lợn!
Bị đánh thình lình, anh đinh tai, nảy đom đóm mắt, loạng choạng, khuỵu ngã lăn xuống, hàm răng vập vào cạnh bậc lim. Máu chảy ra ngoài môi. Anh đau điếng, định nói, thì thấy hơi thều thào khó thành tiếng. Anh sờ tay vào miệng. Thì ra anh gãy cái răng nanh.
Thằng Tây lai vẫn không nguôi giận, lại quát đuổi anh. Anh sợ, vội vàng chạy xuống. Anh biết rằng bị đòn không phải vì anh đã tò mò liếc nhìn vợ nó, mà chính là vì đã tò mò liếc nhìn mâm cơm nó ăn.
Hôm sau, buổi làm việc, anh không hỏi thăm bệnh nó ra sao. Nó cũng không hỏi thăm anh đau đớn ra sao.
Nhưng hôm sau nữa, Tu-nô gặp anh, nó cười hớn hở giơ tay ra bắt:
- Tao cám ơn mày, thuốc của mày tốt lắm, ngon lắm, bùi lắm. Tao đi, không phải chống gậy. Bìu nhỏ lại nhiều và bớt đỏ nhiều. Mày lấy thuốc nữa cho tao.
“Tao còn phải trả thù!”. Nghĩ thế, anh đáp:
- Xin quan lớn một trăm bạc nữa.
- Thế trăm bạc trước được có ngần ấy thuốc thôi à?
- Vâng.
- Được, tao không tiếc.
Rồi ôn tồn, nó hỏi:
- Thuốc của mày hay thật, nhưng sao đắt tiền thế, mỗi lần phải mất những một trăm?
Thấy nó đã đau xót, anh Thừa hả giận, đáp:
- Vâng, thuốc hay thì tất đắt. Con không biết có những vị gì, chỉ thấy ông lang đưa thêm một gói mùn vàng. Ông ấy nói mùn nhỏ như bụi, sợ trộn ngay với thuốc thì rơi đi mất. Ông ấy gói riêng, giao tận tay cho con. Thuốc đắt tiền vì có vàng, ông ấy bảo vàng có tinh chất hút mủ thiên trụy.
Thằng Tây lai ngẩn ra suy nghĩ, rồi làm như hiểu, nó gật gật:
- Có lẽ.
Năm hôm sau, anh Thừa lại nấu xúp vỏ cây gạo cho chủ ăn. Lần này, anh không dại, để gãy thêm cái răng nữa. Anh đứng dưới sân, gọi bà đầm xuống mà bưng lên.
Con mụ lai lúc này mặc quần lụa trắng và áo cánh cộc tay. Hắn chạy xuống, hắn nhìn anh bằng con mắt hiền dịu, rồi lắc đầu, mỉm cười:
- Tội nghiệp anh.
Hắn giơ hai cánh tay trắng như bột để đỡ liễn xúp, nói nhẹ nhàng:
- Cảm ơn nhé.
Anh thấy hắn không kịp mặc quần thâm – quần trắng là thứ quần mặc ngủ - anh thấy da hắn trắng, ngực mông phây phẩy, mà rạo rực cả người. Anh nhìn theo hắn. Lúc sắp quành ra cửa trước, hắn quay lại anh, mỉm cười và khẽ gật đầu. Anh đánh bạo, cũng cười và gật đầu.
“Không trách thằng chồng nghi cũng phải!”. Nghĩ vậy, anh thở một cái dài. Hai hôm sau, Tu-nô khoe với anh:
- Tao khỏi rồi. Cảm ơn mày. Có phải uống thêm thuốc không?
- Tùy quan lớn. Muốn khỏi dứt thì cứ uống thêm.
- Mày mách cho tao chỗ lấy thuốc, để sau này, lỡ ra mày không làm ở đây, thì tao nhờ người khác đi hộ.
Anh Thừa cho là bây giờ không cần giấu giếm chủ, mới khoe:
- Thuốc của con làm đấy.
Tu-nô tròn đôi mắt, giơ cả hai tay ôm lấy vai anh rung một hồi:
- Cảm ơn! Cảm ơn! Tốt! Tốt! Tốt!
Anh vui vẻ:
- Sở dĩ con nói dối là lên tận Đồng Đăng, vì con biết rằng nếu nói thật là thuốc của con, thì không bao giờ quan lớn tin là hay mà cho chữa.
Nó cười rất giòn, gật lia lịa:
- Đúng, đúng thế. Vì cái gì của An-nam cũng tồi. Mày học môn thuốc ấy ở đâu?
Sực nhớ đến cái bằng làm thuốc của ông Sơ, anh đáp:
- Con học ở bên Tàu, đã có bằng.
- Tốt lắm. Cho tao xem bằng. Tao giúp mày không phải kéo quạt nữa.
Anh Thừa về nhà, lấy tấm bằng đưa cho Tu-nô xem. Nó nhìn một lát, rồi bĩu môi:
- Bằng này, tao biết, chùi đít không đáng. Tao đã ở bên Quảng Tây mãi. Tao thấy đứa nào cũng có. Chính phủ này đã đổ từ hai năm nay rồi, mày có biết không? Lúc sắp đổ, nó đem bán rao ở khắp phố Quế Lâm.
Anh Thừa như bị kiến bò trong gáy.
Anh nhớ đến lời lẽ văn hoa trong thư người quan văn con buôn. Thế này thì chưa chắc người gửi thư đã là quan văn thật. Nó là một tên bịp bợm, một thứ thổ phỉ kiểu khác.
Thấy anh Thừa có vẻ nghĩ ngợi, Tu-nô hỏi:
- Mày có biết nhiều thuốc không?
Anh đáp:
- Nhiều.
- Có hay không?
- Hay.
- Thế thì mày đợi gì mà không mở hiệu thuốc, lại làm cu-li cút-kít một tháng sáu đồng. Tháng này, mày đã thu nổi hai trăm bạc lãi.
Được hả hê vì trả mối thù, anh Thừa cười sung sướng. Tu-nô tiếp:
- Mà thuốc mày hay thật, mày cần phải dựa gì vào tờ giấy giả dối này.
Một lát, bỗng nó nghiêm nét mặt:
- Thế thì tao biết. Mày không học thuốc ở bên Tàu ngày nào. Mày bịp tao. Thuốc của mày không có mùn vàng. Mày lấy không của tao hai trăm bạc! Đồ khốn nạn!
Rồi mặt thằng Tây lai tía dần. Nó nhìn anh, chòng chọc nhìn anh. Bỗng nó quát:
- An-nam ăn cắp! Giống nòi nhơ bẩn! Cút đi kéo quạt!
Anh Thừa không ngờ cái nòi vô ơn nó trở mặt như trở bàn tay. Anh sợ nó đánh, vội vàng tránh xa nó.
- Từ tháng sau, sở chỉ cho mày ba đồng lương. Không bằng lòng thì bước! Tao khỏi rồi, không nóng nữa. Tao không cần quạt!
 
Chú thích:
7) gọi nhau bằng vu, chứ không bằng tuy, toa ( Vu=vous Tuy tou ( tu toi, )
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 11:05:27 bởi Thanh Vân>
IV
MA-RI  
 
Em khổ với nó mấy tháng trời đấy, mình ạ. Mình chữa nó khỏi, thật là phúc cho em. Bệnh hoạn như thế, mà nó có tha em đâu. Sau em sợ lây, phải lấy mồm thay. Cực hơn nữa, là độ ấy lâu ngày không biết đàn ông, em đứng trên gác, trông thấy mình ở dưới ngon quá, em ghét lạ!
- Ghét thế nào?
- Tại sao mình chỉ trò chuyện với vợ mình?
Anh Thừa nhếch mép cười, để lộ chiếc răng vàng óng ánh:
- Em sếp phó ạ…
- Không, gọi tên của em cơ!
- Thế thì gọi là gì?
- Là em Ma-ri của mình!
Nói đoạn Ma-ri lắc tay anh Thừa, nũng nịu hỏi:
- Thế hôm nay mình có trò chuyện với em không, hay cũng như cái hôm nào ấy?
Muốn cho tiểu thuyết này khỏi đứt quãng từ chỗ anh Thừa chắp tay thưa bẩm với bà lớn sếp phó, đến chỗ anh say sưa “trò chuyện” với Ma-ri, ta nên quay ngược lại thời gian từ mấy tháng trước.
Tu-nô khỏi bệnh. Vài hôm sau, nó phải đưa một đoàn kỹ sư từ Pháp mới sang, vào Vinh nghiên cứu đoạn từ Vinh đến Đông Hà để đặt nốt quãng đường sắt cho liền Hà Nội - Đà Nẵng.
Được chủ đi vắng, anh Thừa lén nghỉ ở nhà. Anh nằm vắt tay lên trán, suy nghĩ đến đời anh. Anh như nhìn thấy trước mắt những bạn bồi bếp mới của anh, họ rủng rỉnh có tiền, thỉnh thoáng thết anh cốc xê-cấu. Anh nhớ lại thái độ và hành động của thằng Tây lai đối với anh. Không lẽ anh cứ làm cu-li kéo quạt suốt đời. Anh hối hận vì đã trót nói liều “thà thằng Tây nó chửi, nó đánh còn không nhục bằng An-nam nó nói một câu”. Bực với ông Thìn thì anh tưởng thế. Chứ bây giờ anh mới rõ. Kẻ làm cho anh nhục là thằng Tây nó phát lương cho anh. Cái làm cho anh nhục, là cái nghèo không có tiền, phải chịu hèn đi làm đầy tớ. Cha anh ở làng vì nghèo, nên hèn, anh cũng phải khổ vì bị nhục lây. Cha anh ước ao anh được sang giàu. Ở đời này, có ai dám khinh người giàu. Nhưng anh làm gì để giàu, cho kẻ khác trọng? Cha anh muốn anh dẹp giặc để lập công. Nhưng anh nhát, sợ chết. Thằng Tu-nô khuyên anh làm thuốc, vì nó tưởng anh biết thuốc. Nhưng sự thực anh có biết gì đâu?
Anh Thừa vùng ngồi dậy, lấy tấm bằng nhận chằng mở rộng ra trước mặt để ngắm. Anh đặt mồi thuốc lào vào điếu, châm lửa. Anh vừa hút, vừa chăm chắm nhìn ba chữ tên của anh. Anh nghĩ đến lời khuyên của người tự xưng là văn quan. Hắn nói đúng. Thời buổi này khó khăn thật. Anh không phải người ngu đần. Vậy anh có nên lợi dụng cái bằng vô giá trị này để xoay xở mà sống hay không?
Chợt ở buồng cạnh có tiếng hát véo von giọng sa mạc, làm anh đứt mối suy nghĩ.
 
Mấy lời moa xu-hết a-mua,
Xăng-tê thì cứ túa-dua phe-bồng.
Anh lắng tai. Rõ rằng là tiếng bà sếp phó:
Ác-dăng giàu cẩm Đờ-mông,
Hon-nơ mắm-xốt cái ông Bảy xồm.


Anh tủm tỉm cười một mình. Tiếng hát to hơn trước:
 
Đơ nu đơ phận phăm om,
Cu-xoong cái kiếp chồng Phăng-xe, vợ A-na-mít, xăng tăng tí ti vài tháng, mà ôm hận sầu!/[9]
 
Tiếng kim như rót vào tai. Anh Thừa sực nhớ đến hình ảnh người đầm lai trẻ này, trắng nõn, phây phây, đã một lần nhìn anh bằng con mắt dịu dàng, và cười với anh bằng cái miệng tươi tắn. Người ấy không xuống bếp bao giờ. Bây giờ chồng đi vắng, lại đến bên anh để hát, là có ý gì? Cô Bé Ty còn thế nữa là! Vậy có nên bắt lời không? Anh cố moi óc để nhớ cho đủ hai câu mà bây giờ anh quên biến đi mất. Hai câu ấy như hệ cảnh của anh và người ôm hận sầu, có bốn tiếng kín cổng cao tường. Giá mà anh nhớ hết, anh quyết hát trả lời. Nhưng anh nghĩ trái lại. Chẳng rõ là con mụ biết có người ở bên này, nên hát trêu, hay vì không biết có người nghe thấy, mà hát chơi một mình? Anh tưởng tượng đến bà chủ anh, lúc vào bàn giấy của chồng, qua mặt anh thì nhìn thẳng, đáp tiếng chào của anh, thì khẽ gật, và nếu có nói với anh, thì chỉ trống không. Anh vẫn trông trộm. Lần nào cũng vậy. Thôi, chớ có vuốt râu hùm mà oan gia! Anh bèn đằng hắng. Anh cho cách đánh tiếng bâng quơ này là khôn ngoan. Vì nó có hai ý nghĩa. Một là có tôi nghe đây, cứ hát đi. Hai là có tôi nghe đấy, đừng hát nữa.
Ai muốn hiểu thế nào, tùy ý.
- Anh Thừa có nhà đấy à?
Người đầm lại hỏi thế, rồi cười khanh khách một mình.
- Thưa vâng ạ.
Anh vừa nói xong, bỗng anh sửng sốt. Ma-ri đã hiện ra trước cửa buồng anh, thoang thoảng mùi nước hoa và mùi phấn thơm phưng phức.
Từ thuở bé, chưa bao giờ mắt anh được trông thấy một thứ tươi đẹp và khêu gợi như thế này. Không khác ảnh Mê-li-a một tí nào, mà lại là người thật! Tấm mình cá trê ấy mặc bộ đồ ngủ bằng nhiễu tây, đen nhánh. Áo may chét vào lườn, hở cổ, hở cánh tay, trắng nõn. Quần may chét vào mông, không hở chỗ nào, nhưng hình như chả chỗ nào là không hở. Tóc không búi, lòa xòa rũ xuống hai vai. Trông y như người vừa mới nằm dậy, hoặc sắp đi nằm.
Anh Thừa như lạc trí, không biết hai tay nên làm cái cử chỉ gì cho đúng việc của nó lúc này. Giá phải là Múi hay Châu trên Đồng Đăng nhỉ! Nhưng đây là bà vợ ông chủ. Anh luống cuống, cuốn cái bằng lại. Nhưng Ma-ri xông đến, giật lấy, mở ra xem.
- Cái gì thế này?
Anh toan giật lại, cho hai tay đụng chạm vào nhau, để tiến từ cái đụng chạm nhỏ và nhanh dần sang cái đụng chạm lớn và lâu hơn. Nhưng anh không dám.
- Thưa, cái bằng làm thuốc của tôi ạ.
Chưa dám tiến bằng cử chỉ, thì anh tiến bằng lời nói. Anh đã không dùng tiếng bẩm bà lớn và không xưng là con.
Lúc này, không phải lúc nên tự hạ. Biết đâu, cô đầm lai lại chẳng muốn nâng anh lên ngang hàng!
Ma-ri đứng yên mấy phút như để chờ đợi một cái gì. Anh cũng đứng yên để chờ đợi một dịp mà tiến. Ma-ri nhìn anh. Anh cũng nhìn Ma-ri. Tình trong như đã. Nhưng không ai khơi ngòi. Ma-ri mới hỏi thăm anh về gia đình. Thấy anh đáp là vợ anh về quê để đẻ, anh ở một mình, hắn cười:
- Thế thì buồn nhỉ!
Rồi hắn nói hết chuyện nọ đến chuyện kia. Anh cũng khoe những điều anh biết, để tỏ ra mình là thạo đời.
Sau hết, Ma-ri thở dài, chào anh, rồi đi ra. Nhưng đến cửa, bỗng hắn quay lại:
- À, anh Thừa! Tôi sực nhớ ra điều này. Phải thì anh nghe. Không phải thì anh bỏ ngoài tai nhé.
- Vâng.
Đôi mắt anh đắm đuối nhìn hắn.
- Chẳng giấu gì anh, tôi chơi một bát họ một nghìn. Mỗi tháng đóng bốn chục. Hôm nay là ngày nhà cái đến thu, nhưng hôm qua tôi quên khuấy đi mất, không bảo ông ấy để tiền ở nhà. Anh vừa mới có hai trăm, chắc chưa tiêu hết, anh cho tôi giật lửa bốn chục, vài hôm nữa ông ấy về, tôi sẽ trả anh, có được không?
Máu sĩ diện làm anh Thừa đáp nhanh nhẩu:
- Tưởng bao nhiêu, chứ bốn chục có là mấy. Bao giờ bà cho lại cũng được.
Anh mở hòm, đếm tiền.
Trong khi chờ, Ma-ri lại véo von khẽ:
- Đơ nu đơ phận phăm om.
Cu-xoong cái kiếp chồng Phăng-xe, vợ A-na-mít, xăng-tăng tí ti vài tháng mà ôm hận sầu.
Hát xong, hắn cười ngặt nghẽo. Rồi thêm:
- Vợ mê-tít [10] mới đúng, anh nhỉ!
Hắn nhắc đi nhắc lại:
- Mê-tít, mê-tít! Anh hiểu không?
Anh Thừa gật gật:
- Vâng, vâng tôi hiểu, tôi hiểu.
Nhưng hình như người đầm lai thấy anh chẳng hiểu gì cả. Hắn giơ tay:
- Thôi, cảm ơn anh nhé.
Anh nắm vào tay hắn. Nóng hôi hổi, hay mát rười rượi? Hắn cầm tay anh thật chặt, rung mấy cái, rồi buông ra, vừa tủm tỉm, vừa thong thả lắc đầu:
- Còn nhút nhát lắm!
Nói đoạn hắn đi.
Anh Thừa đứng một mình, bâng khuâng. Rõ rằng là người tiếc món ăn ngon kề đến tận miệng mà không biết ăn.
Một lúc, lại hồn, anh thở dài. Anh nằm sóng soài trên giường, ôn lại cái phút thần tiên vừa qua. Thật là đồng tiền của anh làm anh được hưởng cảnh sung sướng.
Bốn hôm sau, Tu-nô về. Anh Thừa lại đi làm việc. Đến gần cuối buổi, nó gọi anh, hất hàm hỏi:
- Thế nào, mày muốn lĩnh lương ba đồng hay sáu đồng?
Anh cười cười:
- Xin quan lớn sáu đồng.
- Được, sáu đồng, nhưng mà…
Nó im để nhìn anh, rồi cũng cười cười, nó nói nhỏ:
- Mày bảo vợ mày đến với tao.
Anh Thừa tức điên ruột. Anh không lẽ phép nữa:
- Tôi không làm thế.
Nó nhún vai, mắng:
- Dại như chó!
Anh im lặng. Nó cũng im lặng. Bỗng nó trừng trừng vào mặt anh:
- À, vợ mày về quê. Mày sống một mình ở đây. Thế thì mấy hôm tao đi vắng, thế nào mày cũng ngủ với vợ tao! Đồ khốn nạn!
Nói xong nó hầm hầm cầm cái thước kẻ cạnh đồng, vụt túi bụi vào mặt anh:
- Bước! Bước! Mày không được ở trong sở này một phút!
Anh Thừa vừa giơ hai tay ra đỡ đòn, vừa chạy. Nó đuổi theo anh đến tận hành lang, rồi vào, đóng sầm cửa lại.
Bị đòn oan, anh tức quá. Anh biết không thể làm với cái thằng có máu điên này mãi được. Phải bỏ việc thôi, về chỗ ở, anh dọn dẹp đồ đạc vào hòm. Anh nhớ đến món tiền con mụ vay anh. Phải lên gác để đòi. Nhưng suy đi tính lại, anh không dám đến với vợ nó, trong lúc vắng nó. Máu ghen nó lại nổi lên, thì nó bắn anh chứ không tha. Vả lại, dù là đòi nợ thì việc ấy cũng đủ làm tang chứng rằng anh đã gặp riêng vợ nó. Anh nghĩ lại. Không biết thật vợ nó vay anh, hay chính nó xui vợ nó làm thế, để rồi sinh sự đuổi anh, quỵt nợ. Anh muốn sự thực là nó lừa anh, để được đổ cho nó là thằng ăn cắp. Nó bảo anh là ăn cắp. Nhưng chính nó mới là thằng ăn cắp. Đã vậy, anh không thèm đòi nợ, để khắc sâu vào trong lòng, tin rằng lũ Tây là đồ ăn cắp.
Ngay tối hôm đó, anh khênh hòm, rời khỏi bếp nhà thằng Tu-nô.
Anh không thèm cầu cứu dì anh. Anh biết những hạng làm đĩ với Tây chỉ bẻo lẻo cái mồm, chứ không giúp đáp được gì. Nói với chúng, chỉ tổ phí lời, còn làm cho chúng lên mặt được.
* * *
Muốn giữ kín tiếng bị đuổi, anh Thừa vẫn ở lại Hà Nội đến trọ ở một quán cơm trước cửa ga, tên là Đông Phương khách sạn. Vì thấy nhà Đông Phương ế hàng, anh mặc cả với chủ là nếu anh giới thiệu được khách, thì chủ trả cho anh mười phần trăm hoa hồng. Việc này kiếm ăn được. Vì tất cả các chuyến xe lửa từ Na Sầm, Lao Cai, Hải Phòng, Vinh tới ga, hoặc các chuyến tàu thủy từ Tuyên Quang, Chợ Bờ, Nam Định, Hải Phòng… tới bến, anh đều có mặt và mời được người đến đây để trọ.
Cũng vì làm nghề chào khách cho hàng cơm, mà một hôm anh gặp Múi trên chuyến xe lửa Na Sầm về. Anh không thể tránh mặt người mà anh muốn phụ. Trái lại, Múi rất mừng rỡ, nói rằng định xuôi tìm anh, đương chưa biết hỏi thăm thế nào, thì trời dun dủi anh đi đón.
Anh đưa Múi về Đông Phương, nói dối chủ nhà là vợ. Múi kể rằng bây giờ bụng to rồi, mà ở Đồng Đăng dư luận xôn xao đã đến tai ông bà đội. Cha mẹ Múi dỗ dành Múi xem Múi đã trót dại với ai. Múi phải thú thật, ông bà mới cho Múi xuống Hà Nội tìm anh, để khuyên anh nên cưới xin tử tế, che mắt thế gian. Không những ông bà cho không người, mà tốn kém bao nhiêu tiền, nếu anh không lo nổi, ông bà cũng cho hết.
Anh Thừa rất khó nghĩ. Anh chưa biết nói với Múi thế nào cho ổn thỏa. Vợ anh mới đẻ con trai. Chắc ít lâu nữa, chị sẽ bế con ra ở với anh. Nếu anh lấy Múi nữa, thì tất là không thể được. Đành rằng anh không phải nuôi Múi, mà chắc chắn là Múi có của, còn bù đắp cho anh nhiều, nhưng mà…
- Được, mợ đừng lo.
Múi lau nước mắt:
- Sao cậu lại bảo em đừng lo. Em không lo sao được? Cậu ở Đồng Đăng đổi về Hà Nội, cậu có chào hỏi, dặn dò em một nửa lời nào không? Rõ rằng là cậu trốn em. Rồi từ ngày ấy đến giờ, cậu có thư từ giấy má lên hỏi thăm em sống chết thế nào không? Bây giờ em bàn với cậu tính toán cho em, cậu nghe thầy mẹ em làm cái cách giữ cho vuông tròn tiếng tăm, thì cậu im, mãi mới nói: “Được, mợ đừng lo”. Đấy, xem thế, thì cậu bảo em không lo sao được. Nếu thật cậu định bụng bỏ em, thì em nhờ cậu kiếm cho em một chỗ ở Hà Nội. Để tạm lánh Đồng Đăng, cho đến ngày đẻ xong, em sẽ liệu. Chứ em không có chồng mà chửa hoang, ai chịu cái nhục ấy cho em?
Múi lại rưng rức khóc.
Anh Thừa để tay lên vai Múi, an ủi:
- Đàn ông chúng anh không hay nói ra miệng, nhưng nghĩ trong óc thì nhiều, ông bà có lòng tốt như thế, thế nào anh chả xin vâng. Sở dĩ anh chưa nói gì, vì anh còn đương tính toán xem đôi ta làm cách nào để hưởng cho hoàn toàn hạnh phúc. Mợ hiểu chưa? Còn cái việc trước kia, sở dĩ anh đổi về Hà Nội mà không cho mợ biết, là không phải lỗi ở anh. Dù sao thì anh cũng đã có vợ. Còn mợ thì còn cha mẹ. Vợ anh nó cấm anh đến với mợ, ông bà cũng ngăn không cho anh gặp mợ. Vị chi anh như con chạch bỏ giỏ cua, mang tiếng oan là thằng trai sở khanh mà không than thở với ai được.
Múi sụt sịt, không đáp. Anh Thừa tiếp:
- Thôi, em đừng khóc mãi. Cứ tin anh. Một lời anh đã hứa là bất di bất dịch. Anh hứa là chúng ta sẽ gây hạnh phúc cho nhau. Mai mợ về nhà nói với ông bà là đã gặp anh và bàn bạc xong công việc rồi. Mợ xin ông bà giúp anh lo cưới, và cho chút ít để mợ làm vốn. Cái đó tùy bụng ông bà, thương con nhiều thì con được nhiều, và giữ được tiếng với thế gian, mà thương con ít, anh cũng không dám oán thán.
- Nhưng cưới xong cậu định cho em ở đâu?
- Đã là vợ chồng thì ở với nhau một nhà, chứ ở đâu. Còn con mụ mặt sắt đến xương, anh sẽ bắt nó ở nhà quê nuôi con.
- Nhưng liệu nó có chịu không?
- Mợ tin ở tài anh.
Múi vẫn nói giọng đay nghiến:
- Phải, em tin tài cậu, tán cứ ngọt xót, cho nên em mới nhỡ nhàng thế này. Em chỉ sợ cậu lạy van nó không nổi, lại làm em nhỡ nhàng thêm.
Anh Thừa cương quyết:
- Đối với nó, bảo tử tế mà không chuyển, thì đã có roi vọt. Hẳn mợ đã biết là vì mợ, nó bị bao nhiêu trận đòn nên thân rồi.
Múi cười, âu yếm nhìn anh.
* * *
Do cái nghề kiếm ăn bằng quảng cáo, anh Thừa biết thêm được một nghề mới nữa, hợp với khả năng của anh hơn. Đó là nghề diễn thuyết để bán thuốc. Trước giờ một chuyến xe lửa chuyển bánh, trước giờ một chuyến tàu thủy nhổ neo, trong khi xe điện đợi nhau ở chỗ đường tránh, hoặc lợi dụng chỗ đông người, như trong chợ, trước cửa rạp hát, rạp chiếu bóng, người bán hàng chỉ việc đọc thuộc lòng bài quảng cáo, đọc cho rõ rằng, dõng dạc, trơn tru, thế là bán nổi một ít thuốc. Anh Thừa làm thêm nghề này. Anh đắt hàng hơn bạn đồng nghiệp, vì anh khôn ngoan. Anh biết nhấn mạnh lời, khi kể đến những biến chứng của bệnh, khiến người nghe phải chú ý, và biết bịa thêm công hiệu của thứ thuốc mà anh bán. Trong bài quảng cáo, hiệu thuốc đã hoàn tán vào đó nhiều chất nói phét. Nhưng anh cho là chưa đủ liều. Anh đã rút được nhiều kinh nghiệm trong nghề. Khi diễn thuyết, anh để ý nhìn mọi người. Ai nghe hờ hững thì anh mặc. Nhưng ai mà nhìn anh, anh biết là người ấy lắng tai. Hẳn người ấy có bệnh, hoặc quen người có bệnh mà anh đương quảng cáo thuốc. Thế là anh chỉ quay lại nói với những người ấy. Trong lúc này, anh còn tùy nét mặt của họ mà tăng vào lời thêm nhiều chất dọa dẫm để khủng bố và thêm nhiều chất nói phét để làm họ ngã lòng.
* * *
Một lần anh Thừa bị sốt rét ba hôm liền. Anh đã thử uống mấy thứ thuốc mà anh vẫn quảng cáo là công hiệu. Nhưng chẳng ăn thua gì. Thế là đã tiêu hết lãi, anh lại ăn vào vốn. Bữa chiều qua anh chưa trả ông chủ tiền cơm. Bữa sáng nay, tất ông không cho chịu. Bây giờ nhóc nhách được, anh phải đi bán thuốc để kiếm tiền ngay. Nhưng từ sáng đến giờ, anh bị ế hàng. Anh lo quá. Không còn một xu dính túi! Đành phải nhịn đói mất! Anh lang thang đi. Thì tình cờ, đến đầu phố Hàng Khay, anh gặp một người làng anh, tên là Xi, đang lững thững dắt một cái xe cao su nhà. Anh Thừa và anh Xi vốn là đôi bạn thân và cùng một cảnh gia đình, nên gặp nhau thì mừng lắm. Hai người rủ nhau đến ngồi trên chiếc ghế đá, trước cửa hiệu Gô-đa, kể thật công việc làm ăn của mình cho nhau nghe. Anh Xi nói:
- Tớ trốn đi chào mào, cho nên tớ ra đây, kéo xe cho cái Ĩnh con, cơm nuôi, một năm hai bộ quần áo.
Anh Thừa cau mặt:
- Tội đếch gì mà đi ở không công, để nó tưởng mình đói, nó khinh cho. Đằng ấy khỏe, nên kiếm việc khác mà làm.
Anh Xi cười:
- Nếu không có lợi khác thì tớ không làm đâu. Nói về việc kéo nó, thì mỗi ngày tớ chỉ mất độ một giờ, đi thong thả ở các phố tây. Tớ hiểu là nó đi rấm sẵn nhân tình để phòng khi chồng nó bỏ. Còn cả ngày, tớ chỉ chơi. Vì nó giao cho tớ phải giữ xe cẩn thận, cho nên tớ bảo nó để tớ mang xe về nhà tớ trọ. Thế là tớ tự do làm chủ cái xe này. Ngoài giờ phải kéo nó, tớ cho thuê. Ai thuê xe không, hay thuê cả tớ kéo, tớ cũng đi.
Anh Thừa trố mắt nhìn bạn:
- Xe nhà cũng có người thuê?
- Vô khối. Này, muốn sang trọng, khi đám cưới, cô dâu phải ngồi xe nhà nhé. Đám ma, ông sư phải ngồi xe nhà nhé. Vả lại, ở Hà Nội còn vô số thằng muốn lòe ta giàu, ta sang, có xe nhà đây. Thì nó thuê của tớ. Chẳng ngày nào tớ không có khách. Tớ phát tài rồi, cho nên chả nghĩ đến đòi công.
Nhìn thấy khách qua lại tấp nập, Việt Nam, Hoa Kiều, Tây, đầm, người nào cũng ăn mặc sang trọng, có người đỗ ô tô ở đầu phố, để đi bộ vào các cửa hiệu sắm hàng. Anh Thừa trỏ tay, nói với anh Xi:
- Trông ngứa mắt chưa! Ở nhà quê có cái ngứa mắt ở nhà quê, ở tỉnh có cái ngứa mắt ở tỉnh. Thằng nghèo như chúng mình, ở đâu cũng khổ, chịu bắt nạt đủ cách.
Anh Xi tặc lưỡi:
- Chà! Chỉ hào nhoáng bề ngoài chứ túi rỗng tuếch đấy. Tớ biết hết. Con Ĩnh con cũng vậy, lắm tối thua bạc, tớ biết là hết cả tiền, thế mà hôm sau đi diện phố, vẫn õng ẹo cái ví bẹp cắp ở nách.
- Hà Nội vẫn tin cái hào nhoáng bề ngoài. Ngay như tớ, tớ cũng phải bóp bụng mà sắm quần áo, để lúc cần thì thắng bộ vào, trông ra phết công tử. Chẳng thằng chó nào dám khinh.
Anh Xi cười. Một lát, anh Thừa hỏi:
- Nó đánh bạc?
- Phải, cái giống ấy, vô công rồi nghề, nên hay làm hai việc. Một là đánh chắn. Hai là đi lễ. Thỉnh thoảng, thằng Phi-lô-mát đi vắng xa, con Ĩnh con lại vào sòng, định ăn to kia.
- Hà Nội cũng có sòng?
Anh Xi gật đầu:
- Thiếu giống! Có một lần, tớ theo nó vào để xem.
- Xem chứ không đánh à?
Anh Xi lắc đầu:
- Chịu! Mình quê mùa, dúng vào đó mà mê thì chết! Nhưng ngất lên về của, đằng ấy ạ. Trên chiếu, trắng xóa những bạc. Đứng nhìn, có lúc mình ngứa ngáy, giá không kiên gan, không chịu được.
Anh Thừa cười:
- Tớ cũng máu mê. Nghe đằng ấy nói, tớ cũng ngứa ngáy rồi. Chỉ còn có cách đánh bạc, mới kiếm nhanh được nhiều tiền. Lúc nào đằng ấy đưa đằng này đi nhé.
Anh Xi lắc đầu:
- Đằng này không biết hiệu gọi cửa. Phải gọi đúng thì sòng mới mở cho vào. Để lần nào tớ kéo cái Ĩnh con đi sòng, tớ mấy cho đằng ấy theo.
Anh Thừa thở dài:
- Ước ao vậy, chứ đằng này làm gì có tiền.
Anh than thở với anh Xi, nói thật tình cảnh hiện tại, vừa mới ốm khỏi, còn yếu, mà vẫn phải đi bán hàng, nhưng mà có thể phải nhịn đói sáng nay. Anh Xi thương hại, nhanh nhẩu móc túi lấy ra vừa xu, vừa chinh, đếm vừa đủ hai hào:
- Không may cho đằng ấy, tớ vừa gửi tiền về nhà hôm qua. Còn có ngần này để diêm thuốc, đằng ấy cầm lấy mà tiêu, rồi về nhà mà nghỉ, kẻo ốm nữa thì khốn.
Anh Thừa cảm động.
- Đằng ấy ăn bằng gì?
- Kệ tớ. Tớ còn gạo. Ngày kia tớ lại có độ dăm hào. Đằng ấy có cần, tớ giúp.
Anh Thừa mỉm cười như mếu, tay run run, bỏ món tiền vào túi.
* * *
Múi về Hà Nội, cô đánh dây thép trước cho anh Thừa biết. Đúng giờ xe lửa đến, anh Thừa diện quần áo tây, ra đón ở ga.
Hôm ấy, Múi chít khăn nhưng màu nâu, kiểu vành dây, chải tóc rất công phu. Món ở đường ngôi tụt xuống nửa trán, che lấp thái dương và tai. Món ở gáy, xòe ra như lưỡi trai. Trong lần áo sa tây mỏng, óng ánh màu hoa lý của cái áo dài lụa. Trong lần áo dài lụa hoa lý, có bóng ra hai giọt thắt lưng hoa đào, thõng xuống gần đến gấu áo. Dưới hai ống quần lĩnh, tuy buông chùng đến gót, nhưng vẫn hở đôi chân đi bít tất trắng, và đôi mũi giày dát cườm.
Múi đưa va li cho anh Thừa xách, và tuy mặt trời đã lặn, Múi cũng lấy kính đen ra để đeo, và giương ô lục soạn cánh trả ra để che.
Hai anh chị mới tập ăn mặc, đi song song với nhau, trông như đôi uyên ương bằng gỗ.
Anh Thừa không dẫn Múi đến nhà trọ Đông Phương như lần trước. Ở đấy, chỗ ăn chỗ nằm luộm thuộm lắm. Bây giờ anh có tiền, và chắc Múi cũng nhiều tiền, nên anh thuê buồng nhà săm Đồng Lợi, ở phố Hàng Lọng. Buồng số tám, trên gác, rất xinh, cửa mở ra phố, có cây cao, lá um tùm, thẳng vút.
Múi ngắm cái giường lò xo trải đệm trắng muốt, ngắm cái tủ có chiếc gương to soi rất thật mặt, thì vui thích lắm. Muốn Múi tận hưởng cảnh sung sướng của Hà thành hoa lệ, anh Thừa bắt đầu bằng việc đưa tình nhân lên Bách thú, về nhà Gô-đa, rồi đến Hàng Buồm, ăn ở hiệu cao lâu Đông Hưng viên. Qua Hàng Bông, anh không quên bảo Múi vào hiệu Mỹ Chương, chụp tấm ảnh làm kỷ niệm.
Trong giờ phút được nếm những vị ngon lành, Múi không giấu giếm người mà trước kia Múi cho là bạc tình. Múi khoe rằng bố chỉ cho một trăm, nhưng mẹ thấy ít, thương con, giúi cho trăm nữa. Song, Múi vẫn chưa vừa lòng. Nhân lúc bố mẹ ngủ say, Múi lẻn vào buồng, cạy hòm, lấy thêm được một trăm bạc. Cộng với hai trăm vốn riêng, thế là Múi có tất cả năm trăm. Múi muốn sắm giường lò xo, tủ gương, như của săm Đồng Lợi, bàn đá xoay, ghế gụ, như của hiệu Đông Hưng viên. Múi toan đưa tiền cho người yêu đi đặt mua ngay, nhưng hiện giờ không đem theo, vì món tiền ấy cất trong vali, để lại ở buồng nhà săm. Thừa trợn mắt:
- Chết! Bản mệnh đấy. Đi đâu phải giắt trong mình. Để ở nơi tứ chiếng, lỡ mất, không bắt đền ai được.
Vì vậy, hai người ăn xong, phải vội vàng về ngay nhà săm, Múi kiểm lại đồ đạc, tiền nong. Không suy suyển gì. Anh Thừa muốn Múi được dự cuộc vui buổi tối:
- Mợ xem tuồng, xem chèo, hay xem chiếu bóng, để anh đi lấy vé trước?
Múi thích quá:
- Gì cũng xem một lần cho biết. Phải lấy vé trước kia à?
- Không thì hết vé. Mợ xem tuồng nhé.
Múi gật. Anh Thừa chải lại tóc:
- Anh đi một mình. Anh về ngay. Mợ có mệt thì nằm nghỉ. Tối nay còn phải thức nhiều đấy nhé. Giao hẹn trước thế!
Múi liếc anh, rồi khẽ tát vào má:
- Khỉ.
Múi cởi áo, lên giường, ngả lưng xuống, dún dún mấy cái, để xem lò xo bập bềnh.
Anh Thừa đứng trước gương, đương thắt ca vát. Bỗng Múi hỏi:
- Cậu đi có lâu không? Em sợ ở đây một mình thì buồn, lỡ thiu thiu ngủ, rồi kẻ gian vào, nó lấy trộm hết. Hay là cậu giữ tiền nhé. Nhân tiện cậu qua các hàng, xem ở đâu bán giường, tủ, bàn ghế đẹp, thì đặt mua. Rồi còn phải sắm từ cái chổi, cái rế, cái đanh, nhiều thứ lắm, cậu ạ.
Múi mò va li, lấy cuộn giấy bạc đưa cho chồng sắp cưới, thỏ thẻ nói:
- Của em là của cậu, của cậu là của em. Tiền này là của đôi ta.
Anh Thừa cảm động, kề môi vào má Múi, hít hít một hơi dài. Múi sung sướng, ngực phồng lên rồi dẹp dần xuống.
Anh Thừa đến rạp Thắng Ý ở Hàng Quạt, lấy hai cái vé hạng nhất, rồi sang Hàng Đàn, xem đồ gỗ.
Về đến đầu phố Hàng Lọng, chọt anh gặp anh Xi. Anh Xi đặt xe bên đường, đứng sát vào tai bạn, nói nhỏ:
- Thằng Phi-lô-mát đi vắng tối nay, cái Ĩnh con đến sòng, đằng ấy có muốn làm giàu thì theo tớ.
Đèn phố bật sáng. Mắt anh Thừa cũng sáng ngời. Nhưng trong khoảnh khắc, anh lờ đờ nhìn xuống, cắn môi. Anh Xi hỏi:
- Nghĩ gì? Không đi à? Tớ vội đến đón cái Ĩnh con đây. Đằng ấy có đi thì cứ đợi trước ở đầu Ngõ Gạch.
Anh Thừa lững thững về phía nhà săm. Đến nơi, anh ngước nhìn lên gác, chỗ cánh cửa chớp buồng số tám. Bỗng anh tặc lưỡi một cái. Anh đã quyết định, anh thuê xe đến Ngõ Gạch. Đánh một lát thôi. Anh có về muộn thì tối mai đi xem hát cũng được.
Anh chờ ở đầu phố một lúc thì gặp dì anh. Người vợ Tây thấy anh ăn mặc sang trọng thì ngạc nhiên. Hắn hỏi thăm anh bây giờ làm ở đâu, lương bao nhiêu. Anh giấu chuyện bán thuốc, nói khoác là làm thuốc. Anh xin hắn cho theo vào sòng. Hắn bằng lòng.
Sòng bạc lúc ấy chưa đông. Người chủ mời các khách ngồi chơi. Anh muốn uống cà phê, chè đường, rượu bia, hay nước chanh, tùy ý mà gọi. Vợ Phi-lô-mát làm ra thạo, giảng cho anh:
- Cứ uống tự do, không mất tiền đâu.
Rồi hắn nói chuyện với người chủ sòng.
Anh Thừa lặng im, vừa ngắm xung quanh, vừa uống, vừa nghe, và vừa nghĩ đến Múi.
Vợ Phi-lô-mát nói:
- Nghe đâu độ này họ rình sòng ông cả Vệ dữ lắm, cho nên ít người dám đến.
Người chủ đáp:
- Chà! Rình để làm tiền. Có tiền là yên hết.
- Không, sao bảo lão chánh mật thám này nghiêm, nó ghét đánh bạc lắm mà?
- Nó ghét đánh bạc thật, nhưng nó có đi bắt bạc đâu. Nó sai người khác. Người nào trong Sở mật thám không là người đã được chúng tôi đấm mõm?
- Tôi nghe nói độ này ngày nào báo cũng đăng tin. Một xâu dài.
- Xâu ở đâu, chứ xâu nào ở nhà này ra. Đấy là những sòng làm ăn không cẩn thận, canh phòng hớ hênh, cứ mở cửa bừa cho khách không quen cũng vào, mà còn không cho tụi họ ăn, thì tránh sao khỏi bị bắt. Chơi ở sòng này, được chắc chắn nhất. Chúng tôi có tay trong cả trên Thống sứ.
Vợ Phi-lô-mát gật gật để chứng thực lời nói của người chủ sòng. Nhưng nghe người ấy, anh Thừa sực nhớ đến lúc anh đi bán thuốc rong. Người chủ sòng tiếp:
- Lão chánh mật thám này nghiêm thật. Bà nói đúng. Lão ấy muốn trị sòng bạc, nhưng chúng tôi có cách đối lại.
Người vợ Tây tròn mắt:
- Đối lại?
- Vâng. Chúng tôi đẩy lão ấy đi. Và muốn cho lão ấy thứ về việc phải đi này, chúng tôi đã góp nhau, bỏ tiền ra vận động cho lão ấy thăng chức Sở mật thám Bắc Kỳ. Lão Mát-xa-ma thay lão ấy ở Hà Nội. Mát-xa-ma thì tốt lắm. Rồi sòng bạc, tiệm hút, nhà thổ lậu tha hồ mọc lên như nấm. Các ông các bà đọc báo mà xem, chỉ trong tuần lễ này, thế nào cũng đăng việc thay đổi những tay chóp bu Sở mật thám ở mục Đại hiến thuyên chuyển.
Tất cả các con bạc nhận được tin hay thì ồn ào khen người chủ sòng, và mừng cho nhau.
Độ mười lăm phút sau, khách đến đã đông. Tiếng bốn đồng tiền giấy xóc trong bát bắt đầu rung rền lên ba cái thái bình. Khách quen, tìm chỗ cũ để ngồi.
Anh Thừa bỡ ngỡ, đứng bên cạnh người cái.
Anh Thừa nghe từng tiếng bạc. Anh rút những bài học cũ trong sòng trên Đồng Đăng. Lần này, anh cẩn thận hơn. Tuy trong túi anh có vốn trường thật, nhưng nó là hạnh phúc một đời của Múi. Vì vậy anh theo nhà đỏ và khi dò đích xác tiếng nào chẵn, tiếng nào lẻ, anh mới dám đánh. Qua sáu tiếng, anh được một trăm.
Anh muốn ăn non, đi về, kẻo Múi đợi. Nhưng lệ bảo mật không cho ai được ra khỏi sòng giữa chừng. Đó là một kế để không cho ai mang nổi tiền được về nhà. Và cũng để bắt kẻ máu mê còn vốn liếng trong túi bao nhiêu, phải dốc ra cho nhẵn nhụi. Nhưng anh Thừa nhất định gan. Anh ngồi xem thôi, không đánh nữa. Có những tiếng bạc, nhà cái bán hàng nghìn, anh đoán mười mươi là mà ra thế nào cũng ăn. Nhưng anh không đánh. Và đúng như thế thật. Anh mê mải theo dõi chiếu bạc. Đã có người kêu mất một bè gỗ. Đã có người kêu mất nửa cái nhà phố Hàng Đào.
Mà sòng bạc chỉ cốt lấy hồ, cho nên bao giờ một tiếng bạc, nhà cái cũng tính bên chẵn bên lẻ cân nhau, để lấy tiền bên thua giam cho bên được. Nếu lẻ hoặc chẵn nặng hơn nhau bao nhiêu, thì bán bớt đi. Ai muốn đắt, nghĩa là muốn mua, có tiền chồng kiến tại, thì mở bát.
Bỗng có tiếng nói:
- Bà đầm u-ve, moa măng-đê đít biết[11].
Anh Thừa ngẩng lên nhìn xem bà đầm nào mà biết đánh xóc đĩa. Trước anh còn ngợ. Sau, nhìn kỹ, anh nhận ra đích xác: bà lớn sếp phó của anh. Con mẹ Tu-nô! Vợ Tu-nô dang rộng hai cánh tay, ra vẻ thất vọng, lắc đầu, trả lời:
- Nông. Pec-đuy tú, phi-ní tú [12].
“Mày không quỵt nổi của ông bốn chục nữa”. Anh nghĩ thế. Anh đứng dậy, đến gần hắn và chào hắn. Không phải anh cần lễ phép với bà chủ cũ, nhưng anh chỉ cốt báo cho hắn biết tin là hắn không thoát được việc trả nợ anh.
Ma-ri nhận ra anh. Hắn mỉm cười giơ tay ra bắt. Hơi hắn truyền vào người anh. Anh như bị thôi miên. Thế là anh hết cả giận. “Nó không có lỗi, chồng nó mới có tội”. Nghĩ vậy, anh thấy được nhẹ nhõm. Mặt đỏ nhừ, Ma-ri hỏi thăm anh công việc làm ăn, rồi lắc đầu:
- Thua mãi. Anh thế nào?
Được dịp sĩ diện, anh khoe anh làm thuốc, rồi móc túi lấy cuộn giấy sáu trăm bạc ra cho Ma-ri nhìn. Ma-ri gật gật, như mừng cho anh.
Ma-ri đánh cò con ba tiếng nữa, cũng đều thua liền. Luôn luôn hắn lấy mùi soa vỗ vào trán, vào mũi, vào má. Mặt hắn chín tím. Hắn đánh tiếng thứ tư. Cũng lại thua. Bỗng hắn quay ngoắt về phía anh:
- Ra đây tôi bảo.
Ma-ri đưa anh đến chỗ uống nước, gọi lấy cà phê.
Hai người ngồi đối diện nhau. Ma-ri yên lặng cho tĩnh trí một lúc, rồi móc ví, lấy hai tờ giấy hai chục, mỉm cười, đưa anh:
- Đây là tiền của anh. Tôi đánh nữa thì thua hết. Hôm nọ tôi thử bụng anh, chứ tôi có đóng họ đâu mà vay. Đáng lẽ tôi đưa lại anh ngay, nhưng xuống nhà tìm, thì anh đã dọn đi từ bao giờ. Tôi phàn nàn một mình mãi. Tu-nô nó ác với anh quá!
Bây giờ anh Thừa mạnh dạn rồi. Anh phải tấn công. Đôi mắt tít lên, anh hỏi:
- Bà thử tôi để làm gì?
Ma-ri hất hàm, hỏi lại:
- Anh không nghĩ ra à?
Anh thò tay định vớ lấy tay Ma-ri để bóp, bỗng nghe tiếng huỳnh huỵch chân người. Sòng xóc đĩa bị mật thám đột nhập vào bắt. Con bạc chạy tán loạn.
Anh Thừa hốt hoảng, vội vàng cũng chạy. Anh thấy người nhảy qua tường chuồng xí, người trèo lên mái nhà, người nấp vào xó cửa, sau mắc áo. Đương luống cuống, thì anh nhìn thấy ở gần đấy, có cái giường. Anh nhảy tót lên nằm, tung chăn ra đắp, gọn thon lỏn, ngáy như người đương ngủ say. Trống ngực anh đánh thình thịch.
Bỗng có bàn tay lật chăn anh ra, khẽ lay vai anh. Anh mở mắt và nói ú ớ. Một thằng mật thám cúi xuống anh, nói bằng giọng đùa cợt:
- Này, sốt đấy à, sao lại đắp chăn? Bận sau có ngủ thì nhớ cởi giày ra nhé!
Chợt anh nghĩ ra là chân anh còn đôi giày tây. Anh không thể cãi là oan. Thằng mật thám rút túi lấy cái xích, bắt anh giơ chụm hai tay lại.
Nhưng Ma-ri nhanh nhẹn chạy đến. Anh ngạc nhiên quá. Hắn không bị bắt?
Người đầm lai nghiêm nét mặt, trỏ vào anh, bảo với người đương xích bằng tiếng Pháp:
- Đây là ông An-be, dân Tây. Tôi biết. Anh ta ở tôi. Đừng bắt ông ấy. Tôi bảo đảm.
Lập tức anh Thừa được buông ra. Anh thở đánh phào, hớt hải nói:
- Cảm ơn bà. Tôi về. Chào bà.
Ma-ri bưng miệng cười ngặt nghẽo, nói khẽ:
- Khoan! Chờ tôi. Tôi còn cứu dì anh. Đấy, anh thấy chưa? Là đầm có lợi không? Quen đầm có lợi không?
Nói đoạn, Ma-ri thoăn thoắt vào nhà trong, ra nhà ngoài, rồi lên gác. Một lát, hắn xuống, nháy một mắt, hất ngón tay cái lên phía trên:
- En sắp được tha, ông cẩm La-vanh giữ lại bắt đền ơn một tí thôi!
Nói đoạn, hắn rúc rích để thưởng thức câu nói hóm hỉnh.
Một xâu dài gần ba chục người bị giải đi, qua trước mặt anh Thừa. Anh chưa hết sợ, lại chào Ma-ri:
- Thưa bà, tôi xin về.
Ma-ri giơ tay ra ngăn:
- Cùng về với tôi. Mấy khi! Đã khuya đâu mà vội!
Vừa xót ruột xót gan về Múi, vừa muốn đi cho thoát chỗ nguy hiểm, nhưng không lẽ từ chối, anh đáp:
- Vâng.
Ma-ri dẫn anh đi bộ ra bờ sông. Luôn luôn hắn nhìn trước nhìn sau và giao hẹn:
- Đừng nói chuyện vội.
Ma-ri cùng hắn qua Chợ Gạo, sang bên kia đường, đi đến hai bến tàu Nam. Giờ này, tàu Phi Phượng của Ký Bưởi, tàu Long Môn của hiệu khách, ở Nam Định sắp lên đến nơi. Một vài hàng nước đã thắp đèn hoa kỳ sáng linh tinh để chờ khách.
Anh Thừa muốn đi nhanh qua chỗ này. Anh tránh gặp mấy bà hàng quen, và mấy thằng bạn chào khách của anh. Nhưng Ma-ri đứng lại, nhìn ra phía sông. Bởi thế, luôn luôn anh phải lấy mùi soa, giả vờ lau má, để che mặt.
Bỗng có tiếng kêu thất thanh:
- Ôi ông đội sếp ơi! Nó giật khăn của tôi!
Thằng ăn cắp cắm cổ chạy rẽ về phía Ngõ Gạch. Nó nhảy qua và giẫm lên những người phu phen, không có nhà cửa, nằm ngổn ngang ở hè Chợ Gạo, rồi chui vào trong chợ tối om.
Anh Thừa được dịp, giục Ma-ri:
- Thôi, đi, ở đây lắm kẻ cắp.
Ma-ri nghe theo, nhưng thỉnh thoảng quái cổ lại nhìn, như muốn tìm một cái gì.
Đường thưa người dần.
Đến một chỗ vắng, anh Thừa lại dụng cơ hội, dịch sát vào Ma-ri. Ma-ri vớ lấy tay anh. Anh không run nữa, bóp chặt bàn tay mũm mĩm của hắn. Hai người nắm tay nhau.
Lúc này Ma-ri thổ lộ những câu tình tứ, mình mình em em, như ta đã biết từ đầu chương này.
Anh Thừa hiểu nghĩa tiếng “trò chuyện” của Ma-ri, thì nóng ran cả người. Anh đáp:
- Hôm nay thì chuyện ra chuyện chứ! Ông An-be kia mà! Nó đi vắng à?
Ma-ri gật:
- Nó lại đi Vinh. Em thoát nạn được vài hôm. Em chán cái kiếp lấy Tây quá rồi. Chả nói, mình cũng thừa hiểu. Nhục nhã lắm, mình ạ. Rồi thế nào em cũng phải kiếm một tấm chồng An-nam để mà nương tựa. Sớm ngày nào hay ngày ấy.
Anh Thừa im lặng. Chưa bao giờ đũa mốc lại hòng chòi lên mâm son. Nhưng anh không khỏi không vấn vương.
Anh thương Ma-ri là con người có nhan sắc, lại có bụng tốt đối với anh. Ma-ri không đợi anh phải đòi, đã lấy món tiền còn lại cuối cùng trong ví để trả nợ sòng phẳng. Ma-ri lại cứu anh khỏi bị bắt. Bây giờ, Ma-ri sẵn sàng hiến thân cho anh, lại không giấu giếm anh, than thở cảnh ngộ với anh.
Tự nhiên, anh nghĩ đến Múi.
Hiện nay, Múi đương bị anh giam, là tù nhân của anh. Còn anh tuy không bị mật thám giam, nhưng bị Ma-ri áp giải, thì cũng đương là tù nhân của Ma-ri. Xử thế nào đây? Bỏ Ma-ri hay bỏ Múi?
Anh so sánh hai trường hợp.
Bỏ Ma-ri thì còn Múi, tức là được cả người lẫn của. Bỏ Múi thì còn Ma-ri, chỉ được có người không.
Tiền của Múi? Hiện giờ anh đã nắm trong tay. Còn người của Múi? Cô gái đồng rừng ấy, anh đã quá quen thuộc. Vậy thì Múi không còn gì cho anh thèm thuồng nữa.
Còn như Ma-ri? Ma-ri là đầm lai! Ngon xơi quá! Lại là một người An-nam kiết. Mấy đời cú được gặp tiên! Mấy đời anh được hưởng của lạ, của quý! Bây giờ anh lại ở trong tay Ma-ri, nhất định không thể về với Múi. Về với Múi, anh không được gì hơn. Đi với Ma-ri, anh vẫn có tiền của Múi, lại được thêm người mới.
Vả lại, dây dưa với Múi một lần này, là dây dưa mãi, suốt đời phải đèo bòng gánh nặng. Nhưng dây dưa với Ma-ri một lần này là chỉ một lần. Ra khỏi cửa săm thì có thể dứt, lòng vẫn nhẹ tênh tênh. Đã có lần miếng ngon tự kề tận miệng, mà không ăn, anh đã tiếc ngẩn tiếc ngơ. Ai chẳng muốn ăn ngon, biết ăn ngon. Và thèm ăn ngon. Nhưng độ ấy, anh không dám ăn ngon. Còn như bây giờ, anh dám rồi. Tu-nô! Mày muốn vợ tao thì bây giờ tao báo thù mày! Đứa nào thắng?
Anh đương suy tính vẩn vơ, bỗng Ma-ri đập vào vai anh:
- Nghĩ gì thế, mình? Nói chuyện cho vui chứ?
Anh giấu tâm trạng thực:
- Anh giận thằng Tu-nô. Anh thương mình.
Ma-ri giương cả đôi mắt sáng, sửng sốt nói:
- Có thật không?
- Thật.
Ma-ri ngửa mặt lên trời, tay vuốt ngực:
- Em chỉ cần nghe thấy một người nói rằng thương em, là em được đỡ khổ.
Không hiểu là câu nói thật tình hay khách sáo. Anh Thừa nghĩ đến cảnh mình. Anh cười khẩy, ra ý không tin:
- Mình mà khổ!
- Mỗi người có một cảnh khổ, mình ạ. Kiếp lấy Tây là kiếp sống nay đây mai đó. Cho nên em chỉ muốn quay về lấy chồng An-nam. Ăn rau ăn cháo mà biết thương nhau, còn sướng hơn.
Hai người cùng thở dài. Ma-ri tiếp:
- Thằng Tu-nô là thằng đểu nhất hạng. Em giận nó lắm, nhưng thế phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Nó cho em mỗi tháng ba chục, nhưng làm tình làm tội đủ thứ. Hiện nó còn nợ em hai tháng lương. Tiền ăn của nó, em cũng phải tạm ứng cho nó.
Anh Thừa mủi lòng:
- Thế mà vừa rồi mình thua, lại trả nợ anh. Mình hết tiền. Mai lấy gì mà ăn?
Nói đoạn, anh móc túi, đưa Ma-ri hai tờ giấy bạc:
- Đây, bốn chục của mình. Mình cứ lấy lại. Bao giờ mình trả cũng được. Anh còn nhiều.
Anh dúi tiền vào tay Ma-ri. Nhưng Ma-ri hất ra:
- Không. Em giật tạm quanh chỗ chị em cũng xong. Vả lại em phải đòi nợ nó, lấy cho kỳ hết, mới có thể tính đến việc làm lại cuộc đời được.
Anh Thừa vỗ nhẹ vào vai Ma-ri:
- Mình làm anh phục mình.
Ma-ri hiểu:
- Đồng tiền quý thật, nhưng tùy từng người em mới lấy. Với thằng giàu, dù trăm, nghìn, vạn, em cũng không tha. Nhưng mình nghèo như em, thì thà em tiêu tiền của em để đỡ gây cho mình khó khăn sau này có hơn không?
Anh Thừa cảm động:
- Anh trông bề ngoài, tưởng mình…
- Thích bom xu như người khác phải không?
- Không. Anh khá tinh mắt. Thề với mình là không bao giờ anh nghĩ thế. Anh bảo tưởng, là tưởng mình sung sướng.
- Sung sướng? Vì anh cho cứ là Tây đầm thì sang trọng à? Nếu thằng Tu-nô sang trọng, ngày nó chữa bệnh, nó đã thuê y tá đến tiêm. Nhưng nó kiệt, nó bắt em học để tiêm cho nó. Anh biết đấy, ngày ấy, hôm nào em chẳng phải sang buồng giấy đưa thuốc cho nó.
Anh Thừa gật gật:
- À, bây giờ anh mới rõ.
Rồi anh tò mò:
- Tại sao mỗi bận mình đến, nó cứ bắt anh ra ngoài?
Ma-ri đập đánh đét vào lưng anh:
- Có khỉ gì đâu. Tại nó phải nói với em bằng tiếng An-nam. Nó sợ ngượng với anh. Nó không muốn cho người ngoài nghe thấy nó nói tiếng An-nam sõi và thạo.
Anh Thừa căm giận:
- Đồ khốn! Thằng Tu-nô khinh An-nam, thì mẹ nó là người nước nào!
- Trái lại, em chỉ biết có mẹ, chẳng biết bố là ai.
Anh Thừa gật đầu, nắm chặt tay Ma-ri:
- Đúng. Cho nên hôm nay mình với anh mới đi với nhau.
Ma-ri ngước mắt nhìn anh Thừa, nhoẻn cười, khẽ vuốt má anh.
Hai người mải nói chuyện, không ngờ đã đi đến gần ga. Nhà săm Đồng Lợi hiện ra sừng sững ở trước mặt.
Anh Thừa ngẩng lên nhìn. Cửa chớp buồng số tám vẫn mở. Đèn vẫn sáng. Hẳn là Múi vẫn thức, đương nóng lòng chờ anh.
Muốn quên hình ảnh trước mắt, anh đi sát vào Ma-ri, quàng cánh tay qua lườn Ma-ri.
Quanh đây không còn nhà săm nào có buồng sang trọng, xứng đáng hơn, để được tiếp người ngọc. Anh đưa Ma-ri vào nhà Đồng Lợi. May cho anh làm sao. Các buồng đều có khách cả, duy còn một buồng chưa có ai hỏi thuê. Buồng ấy ở trên gác, buồng số chín.
Anh đành bằng lòng lấy buồng ấy. Anh cầm chìa khóa, dắt tay đỡ Ma-ri lên cầu thang.
Ma-ri vào trong buồng, thì đến ngay trước gương, chải tóc lại, và vỗ thêm tí phấn. Anh Thừa đứng cạnh, sát vào vai Ma-ri. Tám con mắt cùng đắm đuối. Bốn cái miệng cùng nhoẻn cười. Hai đôi mắt cùng quay nhìn nhau.
Anh dìu tay Ma-ri ngồi xuống ghế:
- Ở đời, không ai học đến chữ ngờ, nhỉ!
Ma-ri tủm tỉm, nói bằng giọng thân mật hơn:
- Toa thì thế, nhưng moa không thế. Vì moa đã định từ lâu.
Anh Thừa sung sướng, rạo rực cả người. Ma-ri thỏ thẻ ra lối ngây thơ:
- Thật đấy, tại mỗi lần gặp Ma-ri, Ma-ri cứ thấy toa nhìn trộm. Hẳn là toa thèm lắm. Cho nên Ma-ri cứ muốn trêu toa. Cái lần thằng chết tiệt đi vắng, Ma-ri muốn cho toa đỡ thèm, thì toa lại nhút nhát quá!
Anh Thừa vuốt nhẹ vào má Ma-ri:
- Tại ngày ấy moa chưa là An-be!
- Toa có tiếc không?
- Tiếc.
- Thế An-be dọn đi. An-be có nhớ Ma-ri không?
- Đã không dám thì còn nhớ gì!
- Đúng, toa nói thật. Trái lại, mỗi lần Ma-ri ở trên gác nhìn xuống không thấy a-mua, Ma-ri cứ nhớ nhớ là!
Anh Thừa lại sung sướng. Anh hỏi:
- Toa nói thật nhé. Tại sao toa lại thích moa?
- Cái đó dễ hiểu lắm. Moa thích toa là thích An-nam, vì moa chán Tây. Mà An-nam ở quanh nhà, còn có ai ngoài toa? Rồi ngắm toa lâu, moa quen mắt đi, chỉ thấy đẹp thôi.
- Moa tưởng đầm lai thì thích Tây thật, để đẻ con ra nó là Tây. Thích An-nam thì chỉ có con là An-nam. Ở đời, ai chẳng muốn lên, sao toa lại muốn xuống? Ngay như thằng Tu-nô nó bắt toa ăn mặc đầm, và không muốn nói tiếng An-nam.
- Thói thông thường vẫn là thế. Nhưng riêng moa thì khác. Bởi vì, như moa nói ban nãy, moa chỉ biết có mẹ, chẳng biết bố là ai. Moa không khinh An-nam.
- Cho nên toa không khinh moa?
Ma-ri lắc đầu:
- Không. Moa chỉ khinh những đứa cứ làm cho moa khinh mãi, như bọn ký lục chẳng hạn. Còn như toa, làm cu-li mà dám ngắm bà chủ, là moa không khinh.
Anh Thừa phì cười. Ma-ri vẫn nghiêm mặt:
- Thật đấy. Nhiều người An-nam cứ muốn để Tây khinh. Toa không giống những người An-nam ấy.
- Tại moa dám ngắm bà chủ của moa?
Hai người cùng cười. Ma-ri nói:
- Người An-nam khác không bạo dạn như toa. Họ khúm núm, sợ Tây lắm.
Anh Thừa lắc đầu:
- Không phải. Toa lầm. Bởi vì toa là nửa Tây nửa An-nam, cho nên chỉ nhìn thấy bề ngoài người An-nam. Moa là An-nam nên moa rõ người An-nam hơn toa. Người An-nam không khúm núm đâu. Họ khúm núm vì các toa muốn họ như vậy. Vả họ nghèo, không có cách gì sống khác cái nghề làm với các toa. Như moa, mấy tháng về trước đây. Cho nên họ đành khúm núm, khúm núm cái lưng thôi, chứ không khúm núm cái đầu óc. Trời có sinh ra người lưng cong đâu. Các toa hay chúng moa, lúc cha mẹ đẻ ra lưng đều thẳng. Rồi sau chỉ những người có tiền mới giữ mãi được cái lưng thẳng, và bắt người đứng trước mặt mình phải còng lưng xuống, phải khúm núm. Trước kia, moa sợ thằng Tu-nô, chịu cho nó sỉ nhục, đánh đập là vì nó phát lương cho moa. Nhưng từ ngày moa không làm với nó, moa không sợ nó nữa. Moa có tiền, moa đếch sợ Tây. Trước kia, moa sợ cả toa, nhưng bây giờ, hôm nay, giờ này moa…
Anh Thừa định ôm Ma-ri. Nhưng Ma-ri hất ra, tủm tỉm. Anh tiếp:
- Moa kiếm ra tiền, công việc làm ăn không phải nhờ vả đến người Tây. Tây đứng trước moa, lưng họ thẳng, thì moa đứng trước Tây, lưng moa cũng thẳng. Hai người như nhau. Cũng như bây giờ, moa với toa, bình đẳng.
Ma-ri đùa:
- Toa diễn thuyết đấy à?
Anh Thừa sực nhớ đến nghề bán thuốc rong, tự nhiên anh rũ ra cười, rồi tiếp:
- Để moa nói nốt. Khi người ta có tiền, dù người ta là An-nam, người ta cũng mạnh dạn, dám làm tất cả. Mà khi người ta không có tiền, thì dù là Tây, người ta cũng…
Ma-ri giơ tay để xua, vừa cười ngặt nghẽo, chế nhạo:
- Thế sao ngày nọ, toa có hai trăm bạc mà toa nhút nhát thế?
Anh Thừa cũng cười. Anh dằn từng tiếng để tự hào:
- Nhưng hôm nay, moa mạnh dạn, Ma-ri của moa ạ. Moa vừa nói với toa là người An-nam, dù không có tiền, họ cũng chỉ khúm núm cái lưng, chứ không khúm núm cái đầu óc. Như moa chẳng hạn, thân danh chỉ là thằng cu-li cút-kít, nhưng moa đã báo thù thằng Tu-nô lắm vố cay. Moa đã lấy không của nó hai trăm bạc. Moa đã làm cho nó không dám khinh thuốc An-nam, tức là không dám khinh An-nam. Và tối nay đây, moa đã cướp được vợ nó…
Anh Thừa hãnh diện nhìn Ma-ri. Ma-ri gật đầu, ỏn ẻn nói:
- Toa làm cho moa hả lòng!
Anh Thừa đắc chí, vênh váo, trỏ vào ngực mình:
- Toa coi, An-be có anh hùng không?
Ma-ri gật đầu, nhấn mạnh:
- Anh hùng!
Rồi nhìn đồng hồ. Ma-ri giao hẹn:
- Ma-ri chỉ ở đây với anh hùng được đến mười hai giờ thôi đấy nhé.
Hai người lặng nhìn nhau. Hai miệng cùng tủm tỉm. Anh Thừa đứng dậy. Ma-ri tỉ tê hát khẽ:
Anh hùng thì có thuyền quyên.
Hỏi rằng anh đã có thuyền hay chưa.
Anh Thừa phá lên cười, khen:
- Hay, hay tuyệt! Ma-ri cũng là văn sĩ!
Rồi anh áp má anh vào má Ma-ri, tay vuốt ve bộ tóc óng mượt.
- Thuyền quyên của moa! Rồi người An-nam không nhút nhát với Tây, với đầm như moa, mỗi ngày một nhiều, toa ạ.
Hai người cùng ngây ngất nhìn nhau ở trong gương. Ma-ri nhoẻn miệng, ngước mắt lườm anh rất tình tứ, trỏ tay ra phía cửa:
- Toa ra xem lại, đã khóa cẩn thận chưa?
Anh Thừa buông Ma-ri, đi ra phía cửa. Cửa buồng số chín vẫn khóa.
Nhưng bên buồng số tám, hình như cửa chưa khóa. Lúc ấy, có tiếng cánh cửa kẹt mở ra, lại đóng vào.
Từ nãy, ở bên ấy, luôn luôn có tiếng kẹt cánh cửa như thế.
 
Chú thích:
9)
10)
11)
12)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
V
LẠI MỘT NGHỀ NỮA KHÔNG CÓ GHI Ở TRONG LÒNG MINH TINH  
Đến mười hai giờ rưỡi đêm, Ma-ri mặc quàng xống áo, lấy năm đầu ngón tay chải mái tóc cho đỡ rối, rồi cắp ví vào nách. Hắn tủm tỉm nhìn anh Thừa.
- Mãn nguyện nhé!
Hắn chìa bàn tay để bắt tay. Anh Thừa lóng cóng buộc mãi dây giày không xong.
Vì lúc này, óc anh nghĩ lung lắm. Từ nãy đến giờ, trong khi ở buồng bên này im lặng, thì luôn luôn bên buồng số tám kẹt cửa, rồi đóng. Bây giờ anh đi với Ma-ri qua đấy, lỡ đúng vào lúc Múi mở cửa, bắt gặp hai người mặt mũi phờ phạc đi với nhau, thì anh biết ăn nói làm sao!
Thấy anh lúng túng mãi, Ma-ri có vẻ sốt ruột, hỏi:
- Anh cũng về à?
Anh Thừa gật đầu:
- Moa tiễn toa.
Bất đồ Ma-ri bĩu môi:
- Thôi, đừng giở thối ra nữa! Anh tưởng làm thế thì lừa nổi tôi là anh yêu tôi, anh nhớ tôi, lúc rời tôi thì bịn rịn không dứt chứ gì!
Hắn lắc đầu:
- Không! Anh yêu tôi thế nào được! Vả, tôi có cảm anh đâu? Tôi có nghĩ gì đến anh nữa đâu. Chẳng qua tôi vắng chồng, anh vắng vợ, thì qua một đêm với nhau cho đỡ buồn đấy thôi, chứ tình nghĩa quái gì!
Anh Thừa như bị giội gáo nước là lên đầu. Không còn giọng dịu dàng, âu yếm, nũng nịu nữa. Không còn tiếng moa, toa, An-be, Ma-ri đầy ân ái, hoặc kém hơn, tiếng mình, em nhưng cũng rất thân mật nữa.
Ma-ri cười lạnh lùng:
- Anh ngây thơ lắm! Anh tưởng tôi xin tha cho anh, tôi trả lại tiền anh là tôi thương anh, vì tôi mê anh phải không? Anh lầm quá! Nếu hôm nay tôi đã có người hẹn hò rồi, thì tôi kệ cho mật thám giải anh đi. Tôi đã trả anh bốn chục bạc. Việc đó, không phải vì tôi tốt với anh đâu. Tôi quỵt, anh cũng không làm gì nổi. Anh có vì không tiền mà chết đói, tôi cũng mặc xác. Lỗi đâu tại tôi? Nhưng tôi trả nợ anh, là tôi đã dùng tiền của anh, chứ không thiệt riêng của tôi một xu nào, để mua anh một cách chắc chắn, làm anh không thể gỡ thoát. Thật thế. Dù lúc ấy, anh nhận được tin bố anh sắp chết đến nơi, hãy hỏi anh có dám rời tôi mà về với bố anh không? Ấy thế đấy. Ở đời, có những việc thật giản dị nhưng lại hay làm người ta tưởng là khó hiểu, cứ phải mệt trí mà suy nghĩ. Thôi, anh ở lại, ngủ cho lại sức!
Ma-ri không cười, lại giơ tay:
- Nào, ô-rơ-voa[13].
Ma-ri lạnh nhạt, cầm lỏng lẻo tay anh, rồi buông ra, chứ không rung. Hắn cười khẩy:
- Còn lần nào nữa mà ô-rơ-voa!
Từ nãy anh Thừa như nghe những lời sỉ vả nhục nhã. Anh không có thì giờ nói xen vào một câu nào. Mặt anh cứ tái dần đi.
Ma-ri quay ngoắt ra cửa. Mở cánh, rồi đóng lại. Anh Thừa nhìn theo. Không thấy Ma-ri ngoảnh lại anh lần cuối cùng.
Anh thở dài, ngồi trên ghế gục xuống. Tâm hồn anh như bị đảo lộn. Bên buồng cạnh còn người mong anh từ chiều. Người ấy phó thác hạnh phúc cho anh. Thần trí người ấy chắc không còn ở trong đầu óc người ấy, mà đương lang thang lạc lõng trong khắp phố Hà Nội xa lạ, để mong tìm thấy anh. Nhưng thật là giản dị, như Ma-ri nói, anh ngồi ngay buồng bên này, cách người ấy có vài thước. Thế mà người ấy đương suy nghĩ mệt trí. Anh có nên đến với con người thật sự trông đợi anh, để qua nốt mấy giờ còn lại của đêm nay không? Người ấy gặp anh, sẽ hết lo lắng, nghi ngờ, khổ tủi. Một câu anh bịa ra lý do về muộn, sẽ lại làm cho người ấy vui vẻ và tin cậy anh như trước, óc anh cũng sẽ được thảnh thơi, không nặng trình trịch như bây giờ.
Cánh cửa buồng số tám lại kẹt mở, rồi đóng. Anh tưởng tượng được ra nét mặt của Múi lúc này.
Anh thở dài, uể oải, chống hai tay vào gối để đứng dậy. Anh thong thả ra cửa, nắm quả bàng. Rồi để nguyên tay như thế, không nhúc nhích.
Anh lại tính toán. Và anh chờ.
Anh chờ cho đến lúc cánh cửa buồng số tám kẹt mở và vừa đóng lại rồi, anh mới vặn quả bàng cửa buồng anh, rồi khẽ khép lại. Anh nín thở, kiễng chân đi thật mau qua, và xuống thang…
Anh Thừa về tuột nhà trọ Đông Phương. Anh dọn hết đồ đạc vào hòm. Anh giấu ông chủ quán chỗ ở mới. Anh khênh hòm ra hè, thuê xe, đến nhà anh Xi. Qua săm Đồng Lợi, anh đội mũ sụp xuống, rồi nghếch mắt lên nhìn buồng số tám. Anh thở dài. Rồi vắt chân chéo khoeo. Anh hãnh diện nhìn những người nằm ở hai bên vỉa hè. Anh mỉm cười. Có tiền có khác. Anh vừa qua những giờ phút mà không bao giờ anh dám tưởng là anh được hưởng. Bây giờ anh lại ngồi xe, bắt một người kéo.
Người này chỉ vì nghèo, nên quá nửa đêm rồi mà chưa được nghỉ ngơi. Anh muốn hỏi người ấy về đời sống. Nhưng anh không hỏi. Người sang trọng không ai chuyện trò với cu-li xe.
Đến nơi, anh bảo anh Xi:
- Từ nay, tớ ở chung với đằng ấy, nhưng đằng ấy chớ nói với ai là chúng mình ở với nhau. Đằng ấy cứ gọi đằng này là ông An-be. Lấy tên Tây có lợi. Người ngoài nghe, thì không biết tớ là An-nam. Vả lại có tên Tây, đằng này không bị ai để ý mà theo dõi.
Anh Xi đáp:
- Ở chung cũng được, nhưng sao đằng ấy phải giấu giếm? Việc này lăng nhăng thế nào ấy. Cứ nói cho thật, đằng này bàn cho. Hay là đằng ấy vừa bị bắt bạc mà trốn?
Anh Thừa gật đầu:
- Cũng tương tự như thế. Tớ trốn một người cho tớ một món tiền. Người ấy đương đợi tớ. Nhưng tớ không muốn gặp nữa. Vì dù có gặp cũng không bị đòi lại tiền nhưng không khác gì tớ tự đem nộp mình để vào ngồi tù chung thân.
Anh Xi lắc đầu:
- Bố ai hiểu được!
Từ hôm sau, anh Thừa nghỉ đi bán thuốc, cả tuần lễ, anh không dám thò mặt ra phố.
Được rỗi rãi, anh lo lắng đến tương lai.
Anh không muốn kiếm ăn theo lối nhờ giấy tờ của người bán rong thuốc, lấy hỏa hồng nữa. Anh có vốn rồi. Phải sinh nhai cho ra người có vốn.
Anh thuê một căn gác của một nhà khá rộng ở giữa phố Hàng Bông. Tầng dưới là cửa hàng tạp hóa của bà chủ.
Anh mướn thợ kẻ cái biển lớn, vừa chữ Pháp, vừa chữ quốc ngữ, dài suốt bề ngang nhà, treo tận lên cao:
CÔNG TY VÔ DANH TỔNG PHÁT HÀNH TOÀN ĐÔNG DƯƠNG THUỐC TRUNG NAM BẮC Chánh giám đốc: ALBERT THUA


Ở chân thang đặt cái bảng nhỏ:
 
Giờ tiếp khách: Sáng: Từ 12 đến 14 giờ Chiều: Từ 18 đến 21 giờ Chủ nhật và ngày lễ: nghỉ


Gác ngăn làm đôi. Nửa ngoài, ngay cầu thang lên, là chỗ làm việc. Có bộ xa lông tiếp khách và bàn giấy ông chủ. Trên mặt bàn, có lọ mực thủy tinh, có ống bút sứ, có bàn thấm mạ kền và có ngăn giấy gỗ sưa. Lại có cả mấy điện thoại sơn đen bóng.
Ngăn cách với nửa trong, là bức bình phong căng bằng vải xanh. Đứng ngoài, không trông thấy ở đấy có những gì. Chắc là kho thuốc của công ty.
Anh Thừa đã quen nhiều bạn có tiền, muốn sinh lợi, nhưng có lẽ vì công ty mới khai trương, anh chưa muốn gọi thêm cổ phần. Cho nên mới có hai cổ đông. Hai người này là anh và anh Xi. Anh Thừa là chánh giám đốc. Chức trách giám đốc làm việc giao dịch và làm như công ty to, có cả phó giám đốc. Anh Xi là người kéo xe nhà cho ông chánh giám đốc khi đi làm việc giao dịch.
Đã từ lâu, trong thời kỳ còn đến các hiệu lấy thuốc đi bán rong, anh Thừa đã nhận xét được vài điều. Một là trừ thuốc lậu là thứ nhiều nhà làm, còn những thuốc khác, như thuốc đau bụng, thuốc cam sài trẻ con, thuốc ngã nước, chẳng hạn, thì mỗi dược phòng chỉ chế một thứ chuyên môn của mình để bán thôi.
Hai là các chủ nhà thuốc ăn lãi nhiều quá. Mua một biếu một nghĩa là giá thật chỉ đáng bằng nửa giá đề ở nhãn. Để một đồng, bán năm hào. Bán năm hào để còn tính vào đấy hỏa hồng mười phần trăm cho người buôn quen, buôn nhiều và trả tiền ngay. Thế thì giá thành của thuốc là bao nhiêu, để ông chủ còn phải ăn lãi? Mà lãi này, hẳn phải là phần to lớn nhất. Ba là phần lớn thuốc không hay, chỉ quảng cáo là hay. Người dùng thuốc lâu mà chưa khỏi bệnh, thì được giảng là chưa đủ liều, phải mua thêm, chữa dở dang thì phí tiền. Những người hay dùng, hay thử thuốc, thường là những người giàu. Họ phí chút ít, mua phải thuốc dở cũng không xót. Bốn là, điều này anh chưa chắc lắm, có vài thứ là thuốc tây, chỉ màu và mùi là khác.
Cho nên phần lớn các dược phòng đều bị tai tiếng là lừa bịp, làm xấu lây cả giới dao cầu thuyền tán.
Công ty vô danh tổng phát hành toàn Đông Dương thuốc Trung Nam Bắc tự đặt cho mình cái nhiệm vụ lừa bịp thay cho các dược phòng. Nhiệm vụ này, trong quảng cáo, anh Thừa gọi là nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang. Hai tiếng lừa bịp được anh viết bằng hai tiếng giúp đỡ. “Bởi vì, theo quảng cáo, bản công ty phát hành toàn những thuốc nổi tiếng của các dược phòng được tín nhiệm nhất Đông Dương. Bản công ty phụng sự lợi ích nhanh chóng cho bệnh nhân. Người Bắc Kỳ không phải chờ mất lâu thì giờ gửi mua tận Trung hoặc Nam Kỳ mới có thuốc trứ danh ở trong ấy. Người Nam, Trung Kỳ cũng không phải gửi mua tận ngoài Bắc mới có được thuốc hay. Vì bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào, bản công ty cũng đều đặt chi nhánh phát hành”. Cuối cùng, bản quảng cáo kêu gọi: “Xin quốc dân đồng bào các giới ủng hộ cho bản công ty!”.
Ông chánh giám đốc công ty không ăn lương, ông là người bỏ cả vốn, cho nên có quyền ăn cả lãi. Ông định lương cho anh Xi mỗi tháng mười hai đồng, nhưng phát có mười đồng. Muốn tách bạch món tiền này, anh Thừa đã tính với anh Xi như sau:
- Cơm ăn của đàng ấy thì vợ thằng Phi-lô-mát phải nuôi. Vì đằng ấy kéo cho nó. Đằng ấy cho tớ thuê xe, mỗi tháng, tớ đưa tám đồng, và hai đồng bạc thuê kéo, vị chi là mười đồng. Mười đồng một tháng, là hơn ba hào một ngày. Tớ đi xe hàng không mất ngần ấy đâu, nhưng vì xe nhà, và đằng ấy là chỗ anh em, cho nên tớ không kỳ quản. Còn hai đồng là công đằng ấy giúp thêm việc cho công ty. Nhưng đằng ấy không lấy hai đồng này ngay. Đằng ấy để góp dần từng tháng vào công ty, làm cổ phần, cuối năm chia lãi. Thế là đằng ấy yên trí hơn tớ.
Anh Xi nghe bùi tai. Nhiều lần, mắt nhìn thấy cách làm ăn của anh Thừa, lại chính tay mình góp sức với anh ta, anh Xi biết rồi công ty này sẽ phát đạt to, lãi trông thấy. Anh cho là làm ăn không chính đáng. Anh bảo anh Thừa rút cổ phần của anh ra. Nhưng anh Thừa không nghe. Anh Thừa khuyên anh Xi là ở đời, có dịp được mở mày mở mặt thì không nên bỏ lỡ. Phải biết căm thù cái nghèo, nó làm người ta hèn. Anh nhắc lại cho anh Xi nhớ những lần ở làng, hai người bị khổ nhục mà vẫn phải chịu. Anh nói rằng phải trả thù đời. Phải có tiền. Cách nào làm được tiền cũng cứ mạnh dạn mà xông vào. Anh Xi yên lặng, nhưng sợ quá. Bởi thế, nhiều lần không muốn làm với anh Thừa; nhưng nghĩ đến món tiền bỏ vào công ty, anh thấy như bị ràng buộc với bạn.
Từ hôm công ty khai trương, mỗi ngày anh Xi phải kéo ông chánh giám đốc An-be Tuy-a có một buổi sáng, không cần chạy nhanh. Anh Thừa cũng nể anh, nên hay đi bộ. Anh chỉ phải dắt xe theo. Và nếu anh Thừa vào nhà nào, anh đỗ xe ở hè để chờ.
Anh Xi thấy anh Thừa lúc nào cũng vui vẻ. Anh Thừa không phân biệt trên dưới như cái Ĩnh con. Hai người vẫn ở chung với nhau một nhà, ăn chung với nhau một mâm, ngủ chung với nhau một giường, nói với nhau, vẫn đàng này đàng ấy, mình mình tớ tớ. Thỉnh thoảng anh Thừa lại rủ anh Xi ăn cơm hiệu. Một lần, anh Thừa cho anh mượn quần áo. Anh không ngờ là anh Thừa dắt anh đi hát ở dưới ấp Thái Hà. Bị cô đầu trêu, anh sợ quá, cho nên lừa lúc không ai để ý, anh thổi phụt tắt đèn, rồi chuồn về. Anh sợ anh Thừa đam mê, mới khuyên bạn cho vợ ra Hà Nội. Nhưng anh Thừa bảo:
- Chả bao giờ tớ cho vợ tớ ra để mất tự do. Mấy lị ông chánh giám đốc thế này, mà bà chánh giám đốc như thế, thì mất mẹ uy tín!
Ông chánh giám đốc ăn mặc ra phết một tay kinh doanh kếch xù thật. Lúc nào cũng chỉnh tề, có thắt ca-vát cẩn thận. Không bao giờ bỏ sơ-mi trần, dù là bằng lụa. Quần áo ngoài là hàng mùa thu, một bộ màu xám sắt, một bộ màu tro nhạt. Ít khi ông vận đồ đũi, dù là hàng đũi thật chứ không phải đũi giả. Bất cứ đi đâu, ông cũng xách một chiếc cặp da khoa… bóng nhoáng, bốn ngăn phồng những giấy má. Trong một ngăn thế nào cũng có một tập giấy viết thư và phong bì. Cả hai đều in cái ảnh trụ sở công ty đồ sộ, hai tầng, và ở đầu góc, những chữ đề trên biển son. Có hai loại giấy viết thư và phong bì. Một loại chỉ in nguyên những chữ không biển, để gửi quanh Hà Nội, và các tỉnh gần. Một loại, ngoài những dòng ấy, có in thêm số điện thoại, để gửi đi các tỉnh xa ở Bắc Kỳ và đi Trung, Nam Kỳ, Ai-lao, Cao-miên. Không phải để các nơi ấy gọi dây nói đến công ty cho chóng. Nhưng để các nơi ấy sợ phí tổn nhiều, không dám gọi. Vì thế, cái máy điện thoại trên bàn giấy ông chánh giám đốc không có dây truyền ra ngoài đường, cố nhiên, con số điện thoại ghi trong giấy viết thư là con số bịa.
Buổi đầu, anh Thừa bỏ vốn ra buôn thuốc cao đơn hoàn tán chuyên môn của những dược phòng được khách, mà anh đã biết. Vì quen và trả tiền ngay, anh được bớt từ ba mươi nhăm đến bốn mươi phần trăm theo nửa giá mua một biếu một. Anh thuê các bạn đồng nghiệp cũ của anh đem ra bán rong, nhân tiện phát quảng cáo cổ động cho công ty. Bản thân anh lại đi xe nhà, xách cặp phồng, đưa mẫu hàng đến chào tại những nhà không biết mặt anh. Vì đã xé nhãn hiệu bào chế cũ, lại bán rẻ, cho nên nhiều dược phòng mua buôn của anh để lấy thêm mặt hàng. Những nhà này còn thấy cái lợi nữa là được anh Thừa cho phép để tên hiệu của họ làm nhãn sản xuất vào gói thuốc, để bán cất hoặc bán lẻ. Như vậy, họ không phải làm, mà được tiếng là có nhiều thuốc gia truyền, quảng cáo thêm tiếng tốt cho họ.
Như anh Thừa đã mặc cả, anh Xi giúp thêm việc cho công ty, là ngồi xé vứt nhãn hiệu cũ ở gói thuốc cất về, và dán thay bằng nhãn hiệu mới, đề tên công ty.
Một dạo, ở Hà Nội, nhà Địa cầu trước chỉ làm thuốc bổ thận, sau có nhãn sản xuất cả trên gói thuốc lậu, thuốc điều kinh, thuốc ho lao. Cũng như Nguyễn Đình Xung dược phòng chuyên chữa lậu, cũng gửi cả đến đại lý các tỉnh nhiều thuốc đề tên phòng ấy, như thuốc bổ thận, thuốc cai nha phiến, thuốc phòng tích, thuốc đau dạ dày.
Dần dần, vì là khách tiêu thụ sộp của những hiệu thuốc lớn, kể cả ba hiệu thuốc tây ở phố Tràng Tiền, anh Thừa buôn không phải trả tiền ngay. Họ tín nhiệm ông Albert Thưa, một nhà tư bản có Pháp tịch, lúc nào cũng bệ vệ, đàng hoàng, đứng đắn, nhã nhặn, và có óc bình đẳng. Nhiều hiệu được đặt món hàng lớn quá phải làm vội vàng mới kịp.
Không cần bỏ vốn buôn thuốc ở Bắc kỳ nữa, anh Thừa dồn nó vào việc lấy hàng ở trong Trung và Nam.
Ngoài bệnh ở cơ thể, người giàu Hà Nội còn thêm bệnh ở tinh thần, là hay tham thanh chuộng lạ, thích dùng thử những thuốc ở xa. Cái lối tin bóng tin gió Thích Ca ngoài đường là thiêng này, khuyến khích công ty buôn nhiều thuốc miền trong ra Bắc. Ông An-be Tuy-a trở thành khách quen và khách bở của những tiệm thuốc ở Huế, ở Chợ Lớn và Sài Gòn. Dây thép đánh vào lấy bao nhiêu là có ngay bấy nhiêu. Công ty buôn bằng cách lĩnh hóa giao ngân, nhưng nhiều lần gửi ngay ngân phiếu kèm với thu mua hàng, chẳng bớt một đồng nào.
* * *
Vì làm ăn lối kẻ cả, để cho người khác tin mình trước cho nên công ty được lắm người tin. Nhiều nhà thuốc miền trong, muốn cạnh tranh với nhau, viết thư xin ông An-be cứ việc lấy hàng, với hỏa hồng nhiều hơn trước. Nếu chưa có thời giờ thanh toán ngay, thì cứ cuối tháng, hoặc sau vài chuyến nhận hàng, công ty hãy gửi ngân phiếu một thể cũng được.
Những thuốc Trung Nam lấy về, anh Xi cũng bóc nhãn hiệu cũ để dán nhãn hiệu của công ty. Để rồi đến dược phòng sau, nhãn hiệu này vẫn được giữ nguyên, hay được thay một lượt nữa, là tùy người buôn cuối cùng.
Như vậy là công ty có gần hai chục thứ thuốc chuyên môn để đem bán buôn. Nhưng xưởng sản xuất chỉ có tí huỷn ở nửa cái gác. Làm việc pha chế một anh Xi. Đồ dùng pha chế là một niêu hồ tẻ và ít mảnh giấy nhỏ. Nhưng ở đợt giấy viết thư mới in, anh Thừa thêm một dòng nữa, dưới dòng đề địa chỉ cửa hàng. Đó là địa chỉ xưởng chế thuốc và kho chứa thuốc, viết lăng nhăng là: Trại Tây Hồ, Bưởi. Cũng có số điện thoại như số điện thoại trên bàn giấy ông chánh giám đốc.
Sau vài tháng, khi được tín nhiệm hẳn hoi đối với rất nhiều bạn đồng nghiệp trong Trung, Nam, anh Thừa mới thực hiện ý định. Họ ở xa, không thể kiểm soát, thì bây giờ anh có thể bớt của họ mỗi tháng một số tiền. Ví dụ, bán hết một chuyến hàng, đáng lẽ anh phải trả cả một trăm bạc, thì anh chỉ gửi tám chục thôi, nói rằng còn chỗ ứ đọng, khi tiêu thụ hết sẽ thanh toán sau. Nhưng anh vẫn làm ra dáng sòng phẳng, đòi gửi trả ngay món thuốc còn lại, cố nhiên cước phí về phần nhà buôn phải chịu, chứ không phải công ty.
Còn ai nỡ lòng không tin người khách hàng xưa nay vẫn buôn bán đàng hoàng, từ trước đến giờ, tháng nào cũng tiêu thụ hết hàng, tháng nào cũng thanh toán đủ tiền! Người ấy là người Tây, đứng đầu một công ty tổng phát hành thuốc toàn Đông Dương tại Hà Nội. Có cửa hàng đồ sộ, có xưởng chế tạo rộng lớn, nơi nào cũng có đặt tê-lê-phôn! Họ đều trả lời xin ông chánh giám đốc cứ giữ lại chỗ thuốc còn lại để bán lẻ, hoặc để tính gộp với chuyến hàng sau. Như vậy, vừa giữ vững lòng tin nhau, vừa tránh khỏi cước phí vô ích.
Thế là anh Thừa vẫn được tín nhiệm, mà còn được tín nhiệm hơn trước.
Nhưng anh Thừa không ăn bớt trôi được mãi mãi tiền của những nhà thuốc ở xa vẫn tin cậy anh. Nếu nghề này làm anh giàu ùn ùn, thì anh còn theo đuổi nó, việc gì phải thay đổi xoành xoạch, làm ông lang, làm ông nhà báo, làm ông chủ đồn điền v.v… Khốn nỗi, việc đời nó không xuôi chiều mãi như nước chảy. Nó gặp vật chướng ngại cản dòng. Cho nên sông mới uốn khúc và thay dòng luôn luôn. Đời anh Thừa cũng uốn khúc và thay dòng như rứa.
Số là vì công ty đặt hàng quá, mà anh Xi một mình phải luôn thức quá khuya, nên việc làm kém cẩn thận. Có nhiều gói thuốc, anh không xé hết nhãn hiệu cũ. Có nhiều gói thuốc này, anh dán tên thuốc nọ. Vì vậy, tháng trước, tòa án Hà Nội nhận được hai lá đơn của người uống lầm thuốc, kiện cả ba nhà có tên trong ba nhãn hiệu dán đè lên nhau trên một gói thuốc. Một nguyên đơn là người đau đầu kinh niên uống phải thuốc đau lậu kinh niên. Hẳn anh Xi đã trông chữ lậu ra chữ đầu! Tòa không biết truy tố ai là thủ phạm, bởi vì ai cũng nhận là thủ phạm, để nhận thuốc là của nhà mình làm ra. Họ chịu phạt tiền, còn hơn chịu mất tiếng là buôn chằng thuốc.
Tháng này, mới từ ngày 1 đến ngày 15, số đơn kiện đã tăng lên đến bốn lá. Một lá kiện cả ba nhà như những đơn tháng trước. Hai lá kiện đích danh công ty vô danh của ông An-be Tuy-a. Một lá ác hơn, kiện ông An-be ăn cắp lối pha chế của nhà thuốc mình.
Kế đó, tòa nhận vô số đơn khác của các nhà thuốc kiện lẫn nhau và buôn bán bịp bợm, lừa đảo.
Thấy những vụ kiện như loại trên, một ngày một nhiều, tòa phải nhờ Sở mật thám mở cuộc điều tra.
May cho anh Thừa, là anh đã quen những tờ báo đăng quảng cáo cho công ty, lại đã nhiều lần mời mấy tay phóng viên đi ăn, đi hát, và biếu không thuốc bổ thận, thuốc lậu cho họ, nên họ viết bài bênh anh. Anh lại chạy tên mật thám Pha-vrơ và nhờ hai trạng sư Pi-mắc và Rô-nét cãi hộ, nên có tin là tòa sẽ chỉ bắt công ty đóng cửa thôi.
Bị mất mối lợi gần đến bạc nghìn rồi, anh Thừa tiếc lắm. Anh định thế nào cũng chống án lên tòa trên. Nhưng làm sao tìm được người đưa vào lọt chưởng lý Mo-rô. Anh biết Mo-rô uy quyền, và nhất là không từ chối đồng tiền. Hắn mà nhận giúp, thì tội giết người cũng được trắng án như bỡn. Anh hỏi thăm, biết Mo-rô hay hút thuốc phiện ở một tiệm lậu của một người Việt Nam vào Pháp tịch, tên là Ăng-toan. Làm sao gặp được vợ Ăng-toan là chủ. Vì mụ này nhân tình với Mo-rô.
Buổi tối hôm ấy, anh đội mũ cói Pa-na-ma, mặc quần lĩnh thâm, áo sơ-mi lụa, dận giày cườm, cầm can bịt bạc, đi bộ ra Bờ Hồ. Đã lâu lắm anh mới được lang thang như thế này. Nhưng phiền quá. Đầu óc rối như bát canh hẹ, thế mà luôn luôn tai anh cứ phải nghe những lời mời của những người phu xe ế khách, hỏi anh có đi giờ không, hoặc những tiếng thì thào của tụi ma-cô, giới thiệu món sộp ở nhà quê mới ra. Song, tuy anh khó chịu, mà anh cũng tự hào. Anh tự hào về cách ăn mặc ra lối công tử ăn chơi của anh. Ít lâu nay, vì có tiền, anh đã có nhiều bạn vào hạng sang trọng. Đồng tiền đã nâng anh lên địa vị làm ông. Anh đã quen những ông chủ hiệu, chủ thầu, những ông đốc, ông tham, là những người giàu có. Anh lại cũng đánh bạn cả với mấy tay viết báo, tuy kiết xác, nhưng hễ có xu, là ăn chơi nổ trời. Họ rủ anh đi hát. Anh cũng thết lại họ những chầu không kém đàng hoàng. Anh đã nhân tình với cô Nhạn, cô Trà ở dưới xóm cô, cứ chập tối đến, thì phấn son vào, mặc áo xanh, áo đỏ, ngồi ở hè, chờ khách. Thấy bóng anh đến, là các cô mừng rỡ như gặp thần tài. Cô thì làm ra dáng say mê anh, thút thít bên tai anh, trách móc anh hững hờ. Cô thì làm ra bộ ghen tuông, đay nghiến anh là có mới nới cũ, rồi ỏn thót rằng, nếu anh còn yêu, thì cho chiếc khăn xa-tanh, hoặc chiếc nhẫn vàng, sống cạnh các nàng tiên, anh thường so sánh với vợ anh, và với cái Múi, cái Châu trên Đồng Đăng. Anh thấy những người này thô kệch. Họ chỉ xứng đáng với anh phu kíp, với thằng cu-li cút-kít. Còn sánh vai với một ông, một ông chánh giám đốc một công ty tổng phát hành thuốc trong một Đông Dương? Họ chỉ đáng xách dép cho những ngôi sao băng này thôi! Anh lại nực cười về cái tiếng chơi trèo mà ngày trước, ở trên Đồng Đăng, anh vẫn bị mỉa mai. Bây giờ mà nếu những bọn quản, bọn đội, bọn cai lính tập, ngay cả cái thầy ký dây thép, làm lâu năm, được bổ làm chức ông chủ nữa, bây giờ mà những người hạng này mon men làm quen anh, thì chính họ bị mỉa mai là chơi trèo. Hiện nay, vô khối người muốn chơi trèo với anh, để được anh cho đi ăn, đi hát.
Đương vẩn vơ nhớ lại quãng đời cũ, thì anh đến dãy hàng kem.
- Mời ông vào xơi nước!
- Mời anh vào đây, anh ơi!
Đối với bọn phu xe, đối với bọn ma-cô họ mời anh, anh có thể không thèm trả lời, cứ yên lặng mà đi thẳng. Nhưng đây là những tiếng oanh, những giọng đon đả, cho nên anh không thể lờ như một người có tính khinh người. Anh bắt buộc phải nhìn họ để trả lời từ chối họ. Nhưng anh không khỏi không bực, vì bị đứt mối suy nghĩ.
Chợt cái quán cuối cùng làm anh chú ý. Bên cạnh ngọn đèn đất, anh trông cái mặt thấp thoáng, hình như là Ma-ri. Anh cố ý nhìn. Thì ra Ma-ri thật. Ma-ri mặc ta, lối Huế, quần trắng, áo lam, rẽ đường ngôi lệch. Thấy con vợ Tây bỏ cái váy đầm gần quét đất, để theo cái mốt rất mới của mấy cô gái Hà Nội thích diện này, anh Thừa đoán ngay rằng chắc Ma-ri đã bỏ thằng Tu-nô rồi.
Thoạt tiên anh định giả vờ quay sang phía bên kia để đi thật mau. Anh sực nhớ đến những lời cứng cỏi cuối cùng ở săm Đồng Lợi, của cái con bé nó đối với anh chẳng có cảm tình gì. Gần một năm rồi đã chắc gì cái người ưa chuộng của lạ nó dùng anh chốc lát trong khi chồng nó đi vắng, đã nhớ anh là ai. Nhưng anh chợt nghĩ lại. Biết đâu Ma-ri lại chẳng quen những người cùng nghề, là vợ Ăng-toan, hoặc là một người khác nào, có thế lực, có thể giúp anh được.
- Mời anh vào xơi kem ở hàng em.
Nghe hai tiếng “anh và em” quen thuộc cũ, anh Thừa như bị một sức hút. Anh vào hàng của Ma-ri, lẳng lặng đến một bàn xa, bày cạnh gốc cây đa, lấp lánh ánh sáng các đèn. Chỗ này vắng, một bàn nữa có khách, nhưng cách đấy đến năm thước. Một người ngồi một mình đương ngắm nước hồ. Trên bàn, chưa bày một thứ ăn uống nào.
Anh Thừa ngắm Ma-ri. Có vẻ trẻ hơn trước. Nhưng gầy một chút. Anh định hỏi thăm Ma-ri về chồng con, về công việc làm ăn. Còn anh, anh sẽ hãnh diện khoe, làm cho Ma-ri phải ngạc nhiên vì thấy anh giàu, tên tuổi An-be Tuy-a được khắp Trung Nam Bắc biết.
Ma-ri nhanh nhẹn đi đến phía gốc cây. Vạt áo mỏng bay bay trước gió. Ống quần vòi voi nhún nhảy trên đôi guốc phi mã gót cao.
Ma-ri đến bàn kia trước. Anh Thừa vờ quay đi, như không nhìn, không nghe. Bỗng anh thấy tiếng rúc rích cười khẽ:
- Khỉ! Có người kia kìa!
Anh liếc mắt nhìn. Ma-ri đứng sát vào người khách, vừa cười vừa phải đánh đét vào tay người ấy.
Anh hiểu rồi. Ít lâu nay, anh chỉ xuống xóm, chưa bao giờ hưởng cái phong vị này của việc ăn kem. Có cô hàng kem không chỉ bán kem, mà kiêm cả nghề bán mình. Muốn cạnh tranh với đồng nghiệp, trong lúc bán hang, đứng cạnh khách, nhiều cô sẵn sàng để cho tay khách được tự do du lịch vào thân thể mình. Hàng kem này được mệnh danh là kem sờ.
Ma-ri chạy đi lấy kem cho người khách, rồi đến bàn anh Thừa. Anh tủm tỉm, giơ tay ra bắt, nhưng cố lấy giọng khinh khỉnh:
- Ma-ri!
Ma-ri nhìn, bỗng rú lên như mừng rỡ:
- Anh Thừa!
Rồi vừa cười sằng sặc, vừa hỏi lau láu:
- Lâu nay anh đi chết ở đâu mà em không gặp mặt thế, hở! Hở! Hở! Hở!
Hắn đánh nhịp những tiếng “hở” bằng những cái phát đen đét vào vai anh.
Lại cử chỉ thân mật, giọng âu yếm và tiếng xưng hô dịu dàng. Anh Thừa như vụt nhớ lại cái cảnh đêm trước. Anh cười duyên dáng, nhắc nhở việc cũ:
- An-be chứ! Quên rồi à?
Ma-ri đáp:
- Quên sao được! Ừ, thì An-be!
Anh Thừa sung sướng, nói thật thong thả cho Ma-ri nghe rõ từng tiếng:
- Để kỷ niệm lần ấy, từ đó, anh lấy tên là An-be.
Ma-ri khanh khách cười:
- Hân hạnh! Thế nào, lâu nay làm gì? Có khá không?
Rồi the thé giọng trách móc:
- Kỷ niệm gì mà từ hôm ấy biệt tăm, chả đoái hoài đến người ta nữa!
- Tại em nói thế.
Ma-ri ngớ mặt:
- Em nói gì nhỉ?
Nhưng hắn không chờ anh Thừa trả lời:
- Dù em nói thế nào, cũng mặc em, còn việc anh, anh cứ làm chứ!
Anh Thừa cau mặt nhìn Ma-ri, lắc đầu:
- Thật là khó hiểu.
Ma-ri tủm tỉm, nhắc lại câu vẫn quen nói:
- Giản dị lắm. Có gì là khó hiểu?
Anh Thừa giơ tay mời:
- Ngồi xuống đây, phải nói lâu kia. Chính anh cũng muốn hỏi thăm về em nhiều.
Ma-ri vén vạt áo sau, toan ngồi, bỗng đứng dậy:
- Khoan. Toa uống gì? Ăn gì?
- Có gì, cho cái ấy.
- Rum nhé. Moa cũng uống với toa một cốc. Cố nhân lại gặp cố nhân!
Nói đoạn, Ma-ri đến bàn hàng, lấy khăn rộng rải trùm lên trên, vặn tắt ngọn đèn đất, rồi móc ở gậm, lấy ra hai cái cốc, một chai rượu uống dở, và một đĩa bánh ngọt.
Ma-ri đặt các thứ lên bàn anh Thừa, nói:
- Thôi, nghỉ bán. Cũng chẳng còn khách đâu.
Ma-ri kể cho anh nghe việc bỏ Tu-nô, và việc xin được môn bài bán kem từ đầu mùa hè.
Người khách ngồi gần muốn chừng không còn hy vọng gì, đến trả tiền Ma-ri. Ma-ri lễ phép nói:
- Xin lỗi ông nhé.
Thấy người ấy dùng dằng chưa đi, Ma-ri đuổi khéo:
- Thưa ông đã cho đủ tiền rồi ạ.
Người khách có vẻ lúng túng, bước đi một bước, rồi quay lại. Anh ta móc túi lấy một cuộn chừng năm, sáu quyển sách mỏng, rút ra một quyển, vặn bút máy, cúi xuống bàn, lật tờ bìa, ngoay ngoáy viết vào trang sau, và loằng ngoằng ký tên. Rồi bằng hai tay, anh ta đưa sách cho Ma-ri:
- Kính tặng quý nương.
Anh Thừa ngắm từng ly từng tí cái người cao lêu đêu, gầy khẳng khiu, đen thui thủi, làm anh mất thì giờ này. Anh có vẻ sốt ruột lắm.
Ma-ri nhận sách:
- Cám ơn.
Người ấy cúi chào Ma-ri rồi đi, Ma-ri nhìn theo, nói thầm với anh Thừa:
- Văn sĩ đấy nhé. Hoài Tân Tứ. Làm thơ hay đáo để.
Thấy anh Thừa không để ý đến việc không dính dáng gì đến anh, Ma-ri tiếp:
- Moa đã nộp đơn xin làm y tá ở nhà thương Đồn Thủy. Chỉ nay mai là được gọi.
- Phải rồi, đầm thì chữa cho Tây. Nhưng đầu đuôi làm sao toa lại là y tá?
Ma-ri nghiêm trang, giảng:
- Vì em biết tiêm. Thằng Tu-nô bắt em tiêm, rồi em tiêm thạo. Nhân thế, em bảo nó cho em đi học việc ở nhà thương Phủ Doãn. Lúc nó bỏ em, em xin nó cái giấy chứng thực là em làm y tá ở nhà ga.
Hai người cùng phá lên mà cười. Ma-ri hỏi:
- Bây giờ đến lượt anh kể chuyện anh.
Anh Thừa nói lại công việc của anh. Anh không giấu những mánh khóe. Cuối cùng, anh than thở việc công ty sắp bị đóng cửa.
- Toa có cách gì cứu vãn được tình thế này không? Nếu toa chạy được cho công ty vẫn buôn bán như thường, thì moa cũng tính công của toa như cổ phần đóng vào với công ty để chia lãi.
Ma-ri nghe xong, đáp:
- Thế mà ngày nọ, anh bảo với em là anh làm thuốc! Thôi, nhưng quan hệ gì cái ấy? Đàn ông khai nghề nghiệp với đàn bà, cũng như đàn bà khai tuổi với đàn ông, đều được miễn thật thà. Em khen anh tiến bộ trông thấy, khá thạo về mặt làm tiền! Nào!
Vừa nói, Ma-ri vừa rót cho đầy hai cốc, rồi chạm cốc với anh Thừa:
- Mừng ông chánh giám đốc An-be Tuy-a của công ty!
Uống xong hụm rượu, Ma-ri đặt mạnh cốc xuống bàn nói:
- Nhưng em quái lạ về anh! Anh có óc xoay xỏa, sao anh còn sợ công ty bị đóng cửa? Như em nghĩ, anh cứ mặc cho công ty đóng cửa, bởi vì một khi nó tai tiếng, một khi nó mất tín nhiệm, thì khó lòng nó phát đạt như cũ. Cái xe bị lăn xuống dốc, thế mình không giữ nổi, thì đừng giữ. Đồ đạc sẽ theo xe xuống, đổ vỡ nát hết. Có khi còn kéo cả mình ngã theo. Chi bằng bây giờ nhân lúc xe chưa lao mạnh, anh dỡ hết đồ đạc ra để ở lại với anh, mặc cho xác xe theo đà của nó. Ở xã hội này đất hoạt động của bọn mình mỗi ngày một rộng. Thiếu gì nghề kiếm ăn được? Anh có đọc báo không? Anh Thu An là ở báo Trung Bắc, bài của anh ta viết nhạt quá, chẳng ai buồn đọc. Bây giờ anh ta lấy tên là Cô Tô. Cái nhà thơ ban nãy, biệt hiệu trước là Tiểu Lãng, ra cuốn thơ Tình muôn thuở, chẳng ma nào mua, bây giờ tuy[14] viết tiểu thuyết, ký tên là Hoài Tân Tử. Nào ai biết Thu An với Cô Tô là một và Tiểu Lãng với Hoài Tân Tử cũng là một?
Anh Thừa được nghe bài học khôn. Anh lừ đừ con mắt, gật gật khẽ:
- Em nói có lý.
Ma-ri cao hứng:
- Em biết vậy, vì mấy anh văn sĩ ấy, em quen thân, vả lại, mỗi bận họ viết chỗ nào lúng túng, họ thường đọc cho em nghe, để hỏi em ý kiến.
Anh Thừa vẫn im lặng. Bỗng Ma-ri phát đánh đét vào đùi mình, như chợt nghĩ ra một điều hay:
- Anh ạ, em hiến anh một kế này nhé! Anh nhân dịp công ty chưa bị đóng cửa mà vét lấy một món.
Anh Thừa trố mắt nhìn. Ma-ri bàn:
- Thế này nhé. Bây giờ tòa chưa xử, người ngoài chưa rõ trắng đen ra sao. Thì ngay từ ngày mai, anh hãy ách việc trả tiền nợ các nhà thuốc lại. Không những vậy, anh còn buôn thêm thật nhiều nữa vào, rồi bán ngay để lấy tiền ngay. Đến ngày công ty đóng cửa, anh quỵt ráo, mà cũng chả phải trốn đi. Đố ai biết đứa nào tên là An-be Tuy-a mà đòi nợ, mà kiện nợ đấy! Có phải lúc ấy, túi anh bẫm thêm không nào!
Anh Thừa toát mồ hôi trán:
- Hay! Hay quá! Nào! Cạn cốc! Moa mừng toa!
Ma-ri nghe thấy tiếng khen hay, thì nhớ lại cái đêm trong săm Đồng Lợi. Ma-ri dùng những tiếng cũ để khuấy cho vui câu chuyện:
- Thế là anh không anh hùng bằng đàn bà nhé!
Anh Thừa cúi rạp đầu:
- Anh phục thuyền quyên của anh.
Hai người giơ bắt tay nhau.
Một lát, Ma-ri hỏi:
- Cái thuyền của toa đâu?
- Ở nhà quê. Anh không cho ra Hà Nội. Anh gửi tiền về nuôi hai mẹ con. Thỉnh thoảng anh về thăm. Nhưng từ ngày đê Gia Lâm vỡ, làng anh cũng bị lụt. Anh chẳng được tin tức chúng nó sống chết thế nào. Thôi thế là may, nếu đường sá không mắc nghẽn, mẹ con nó bồng bế nhau ra đây, thì cái ngữ hãm tài này, nếu anh để cho khách hàng của anh trông thấy, tất công ty vỡ từ lâu rồi!
- Nói ngắn lại là toa vẫn được tự do, hả? Thì chốc nữa, toa theo moa về nhà. Đến cho biết chỗ moa ở.
- Được. Vả moa cũng mong được gặp toa luôn. Nhưng moa hãy hỏi, toa ở với chồng toa chứ?
Ma-ri lắc đầu:
- Không, vẫn độc thân. Thủ tiết. Bây giờ moa tu. Gái tơ cần kén chồng.
Nói đoạn, Ma-ri đứng dậy, dọn hàng vào chiếc xe nôi. Anh Thừa giúp Ma-ri, xếp ngược các ghế đẩu đặt trên mặt bàn.
Độ mười phút, việc xong, hai người cùng đẩy xe, đi song song thong thả ở sau.
Gió hiu hiu. Mặt trăng lên tới đỉnh đầu, rắc mảnh vàng trên mặt nước hơi gợn sóng. Tà áo Ma-ri phần phật dính vào ống quần anh Thừa. Ma-ri thở dài:
- Tiếc rằng cái xe nôi chỉ chở chai cốc!
Anh Thừa tiếp:
- Và chúng nu không là… [15]
Ma-ri vội vàng xua tay ngăn:
- Không cần nói đến nơi! Hiểu ý là đủ rồi.
Anh Thừa cười:
- Toa là bạn của văn sĩ có khác!
- Những lúc nào lãng mạn thì ra lãng mạn, mà lúc nào làm ăn thì ra làm ăn. Nhớ lời anh nói ngày nọ, em về, em suy nghĩ mãi, em mới nhất quyết bỏ thằng Tu-nô, đi lập thân lấy. Sống không nhờ vả người, có khỏi khúm núm thật, anh ạ.
Im một tý, Ma-ri tiếp:
- Cho nên, nếu em có bằng làm thuốc, lại có óc kinh doanh như anh, em chả chịu bán thuốc, vẫn phải sống dựa vào người. Chưa khỏi khúm núm.
Rồi bỗng Ma-ri cười sằng sặc, hỏi:
- Hay anh không biết làm thuốc?
Anh Thừa thấy Ma-ri đùa bằng giọng chế nhạo, thì cười khẩy và nghiêm trang đáp:
- Anh không biết làm thuốc, lại dám bán thuốc? Chỉ tại ngày ấy anh không có tiền thuê nhà mở phòng thăm bệnh, vả lại, bằng thuốc của anh là do anh du học bên Tàu, được chính phủ Dân quốc cấp phát, thì biết bệnh nhân người mình có tin giá trị của nó hay không. Còn như về nghề làm thuốc, nếu mắt em chưa trông thấy anh chữa cho thằng Tu-nô, thì anh cũng có thể tuyên bố rằng anh khinh đứt mấy ông đốc-tờ Tây, mấy ông thầy lang Tàu ở Hà Nội này.
Ma-ri gật đầu:
- Được đấy.
Anh Thừa cau mặt:
- Sao lại được? Được cái gì?
Ma-ri vẫn gật gù:
- Em chẳng rõ anh có biết làm thuốc thật hay không nhưng nếu em là bệnh nhân, mà nghe anh nói câu sau cùng vừa rồi, thì thế nào em cũng tin anh mà phó thác tính mệnh cho anh!
Ngừng một lát, Ma-ri lại tiếp:
- Thế mới biết ở Hà Nội kiếm ăn còn dễ. Muốn làm nghề gì, thì trước khi học nghề, hãy học nói phét đã!
Anh Thừa cười lạt, nhạo lại:
- Thế thì anh chắc rằng em không làm cái câu anh hùng thuyền quyên, em không quen mấy nhà văn sĩ, và em chưa biết cái ống tiêm ngược xuôi đầu nào.
Ma-ri hích vai vào vai anh, dí dỏm đáp:
- Óc anh còn non thế, không trách cho anh lo cho công ty anh khỏi bị đóng cửa là phải. Người ta nói phét là nói phét với người không biết mình, chứ ai dại gì nói phét với người biết mình? Nếu anh không tin em, thì anh cứ mở phòng khám bệnh đi. Em sẽ làm y tá giúp anh.
- Thật nhé?
Ma-ri lại cười:
- Kể ra làm giúp anh, thì mình làm cho mình, không phải khúm núm trước mặt ai. Nhưng anh để em nghĩ, vì em đương xin việc ở nhà thương Đồn Thủy. Sở dĩ em nói vậy, là vì thấy anh không tin là em biết nghề y tá. Thế giấy chứng nhận của thằng Tu-nô là giấy lộn à?
Rồi Ma-ri vẫn lau láu:
- Anh phải biết, về nghề chữa thuốc, em cũng chẳng kém ai. Nếu pháp luật cho phép, thì với sự thông thạo nghề của em bây giờ, em cũng có thể mở phòng khám bệnh, kê đơn cho bệnh nhân.
Thấy anh Thừa quay nhìn mình, Ma-ri dở đùa dở thật, tiếp:
- Thật đấy, nếu bệnh nhân em chữa mà không khỏi, thì họ đến nhờ người khác chữa hộ. Họ có chết, thì họ đổ tại số. Mấy lại, dù không biết thuốc, em cứ mở phòng khám bệnh, cũng làm được như thường. Cứ kê đơn bứa bừa, miễn là bệnh nhân trả tiền mình sòng phẳng. Một nghìn người phải lừa, là em có thừa một nghìn bạc!
Ma-ri nghiêm lại:
- Cho nên em khuyên anh nên mở phòng khám bệnh, làm thuốc, có hơn đi cậy cục bọn trạng sư với quan tòa giữ cho anh cái nghề bán thuốc hay không. Bọn này không hơn gì bọn làm thuốc chúng mình đâu. Có khi họ còn kém mình là mình có lương tâm hơn họ. Cùng là phường nói dối để lấy tiền cả, nhưng chỉ những người làm thuốc không lành nghề mới vô tình mà giết người vô tội, còn trạng sư, quan tòa, càng lành nghề, càng cố ý tha cho kẻ có tội.
Hai người cùng phá lên mà cười, rồi cùng yên lặng. Bỗng anh Thừa nói:
- Hai óc này mà đấu nhau lại để hợp tác với nhau, thì liệu hồn những nhà giàu! Em tính toán kỹ xem có thể giúp anh trong nghề làm thuốc không?
Ma-ri ra vẻ suy nghĩ:
- Em sẽ trả lời anh sau.
 
Chú thích:
13)
14)
15)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 11:07:38 bởi Thanh Vân>
VI
MẶC CẢ VỚI CON CÁI CỦA MỘT NGƯỜI ĐÃ DÀY CÔNG TU NHÂN TÍCH ĐỨC  
 
 
Anh Thừa đương thảo dở bản giao kèo thuê nhà để mở phòng thăm bệnh. Bỗng anh ngừng bút. Có tiếng giày lên gác. Anh vội vàng chặn tờ giấy trắng lên trên.
Quả nhiên anh có khách: Ma-ri đến.
Hôm nay, Ma-ri ăn mặc đầm, diện lắm. Thế mà mặt thì buồn rười rượi:
- Không có người lạ chứ? Nói chuyện riêng được không?
Anh Thừa gật đầu, bắt tay Ma-ri. Hai người cùng ngồi ở xa-lông.
Ma-ri lấy mùi soa vỗ vào mặt để thấm mồ hôi, rồi than thở:
- Bực mình lắm, anh ạ. Nếu anh quyết định mở phòng khám bệnh, em quyết định giúp việc anh.
Anh Thừa mừng rỡ, nắm chặt lấy tay Ma-ri, rung một hồi:
- May quá! May quá!
Nhưng vẫn thấy Ma-ri không cười, anh hỏi:
- Anh thì vui lòng thế, sao em lại bực mình?
- Em bực mình việc khác kia. Ông bố em là một người suốt đời tu nhân tích đức. Thế mà trời không có mắt, bắt em phải khổ. Người ta bảo ăn ở hiền lành dành phúc cho con, là nói láo!
Anh Thừa vẫn ngớ mặt. Ma-ri nói:
- Tòa vừa bác cái đơn em xin vào làng Tây.
Anh Thừa hiểu:
- À, để em làm y tá ngạch Tây, lĩnh lương Tây cho nhiều. Bây giờ đơn em bị bác, mùa hè lại sắp hết, bán kem không chạy nữa, em mới chịu làm với anh. lĩnh lương ngạch An-nam. Có thế phải không?
Ma-ri gật:
- Đúng thế. Vả lại em còn bực thế này nữa. Tháng trước, em đưa đơn xin hẳn quốc tịch Pháp kia. Tòa bảo những người muốn được quốc tịch Pháp, phải có danh vọng, làm vinh dự cho nước Pháp. Như em là không được. Nhưng tòa bảo những người con Tây lai đẻ hoang, có thể vào làng Tây bằng cách xin pháp luật nhận cho là con Tây. Em đành theo cái cách ê chề thế vậy. Hôm nay, mẹ em ra tòa, khai rằng năm nào đấy, có ăn nằm với một người Tây tên là gì đấy, rồi đẻ em ra. Xét việc này, Tòa chỉ cần có hai người Tây làm chứng, nhận thực là mẹ em có ngủ với người Tây ấy. Nhưng ngờ đâu trong hai chứng của mẹ em, tòa xét một người là gian, vì cái năm bố em ở bên An-nam này, người ấy còn ở Mạc-xây.
Anh Thừa hỏi:
- Sao bà cụ không nói với ông cụ ra tòa nhận thực, có đỡ phải chứng tá không?
- Vì ông cụ không còn ở Hà Nội nữa. Chứ bắt một người đàn bà An-nam già, phải ra đứng trước mọi người, để thú rằng mình đã ngủ với Tây và đẻ hoang, là bắt người ta phải nói một điều nhục nhã. Cho nên việc hỏng, em thương mẹ em, và bực với tòa lắm. Em chỉ tiếc rằng; bố em một đời ăn ở hiền lành, dày công tu nhân tích đức, chỉ làm cho người khác được hạnh phúc, mà chính em là con, lại không được hưởng hạnh phúc!
Anh Thừa muốn an ủi, hỏi:
- Ông cụ làm nghề gì. Quan binh, quan cai trị hay giáo sư?
- Không phải. Bố em là cha đạo, anh ạ.
Anh Thừa không dám cười. Anh muốn tìm ý khác làm cho Ma-ri đỡ tủi thân. Anh hỏi:
- Bà cụ ở đâu? Làm gì?
Ma-ri tặc lưỡi, đáp nhuế nhóa như để đánh trống lảng:
- Úi chà! Lúc ở Bờ Sông với con này, lúc ở ô Đống Mác với con nọ.
Anh Thừa sực nghĩ ra. Lần đầu tiên anh đi với Ma-ri ở sòng bạc đến săm Đồng Lợi, Ma-ri đưa anh ra bờ sông, cứ đứng nhìn các hàng nước ở bãi bến tàu Nam. Hẳn mẹ Ma-ri bán hàng nước.
Biết Ma-ri muốn giấu, anh không hỏi thêm nữa. Anh nói:
- Vào làng Tây thì được nhiều quyền lợi thật. Nhưng anh trông, cứ cái tên em, đố ai bảo em là An-nam. Ngay như anh, chỉ lấy có một tí tên Tây, mà cũng vô khối người trọng vọng, tín nhiệm.
Ma-ri lại lau mồ hôi:
- Thôi, nhưng mà thế là may cho anh. Em quyết định làm y tá giúp anh.
Anh Thừa vui thích lại bắt tay Ma-ri thật chặt và rung thật nhiều, như để thề với nhau là không thay đổi lời hứa.
Ma-ri tươi tỉnh dần, nói:
- Bây giờ chúng ta nên bàn đến công việc. Trước hết, chúng ta phải dứt khoát với nhau về tiền lương.
Anh Thừa gật đầu:
- Đó là việc cần nhất. Em định lấy bao nhiêu thì đủ tiêu?
- Vô chừng, anh ạ. Em có trăm cũng hết, có nghìn cũng hết. Nhưng đã gọi là cộng tác, thì em phải tính với anh một số lương phải chăng. Em không bắt anh phải trả em như nhà thương Đồn Thủy trả y tá đầm. Buổi đầu công việc còn khó khăn, em chỉ lấy của anh ba chục thôi.
Anh Thừa khen:
- Em thật biết điều. Anh tin rằng em còn làm lợi cho anh gấp đôi.
- Cái đó đã hẳn. Cho nên em mới nói là buổi đầu. Còn sau này, phòng thăm bệnh đông khách, ta sẽ nói chuyện với nhau sau.
Anh Thừa gật gù:
- Cái đó, cố nhiên. Em chả cần phải nói, tự khắc anh làm vừa lòng.
- Thế còn giờ giấc làm việc? Hẳn là em chỉ phải có mặt ở phòng trong giờ tiếp khách. Còn ngoài ra, em được tự do.
- Đã đành.
- Em nói vậy, nghĩa là nếu bệnh nhân muốn mời riêng em ngoài giờ, em được tự do đến chữa cho họ, anh không ngăn cản?
- Đó là quyền em. Miễn là trong giờ tiếp khách, em tận tâm với anh, chứ không tận tâm với em để lấy khách riêng.
- Không, em không trẻ con như thế đâu. Nhưng nếu ngoài giờ làm việc, anh chữa đâu mà cần em theo, tin em làm thêm giờ nào, anh trả thêm giờ ấy. Mỗi giờ một đồng bạc.
- Đúng.
Bỗng Ma-ri xòe bàn tay, dọa dọa vào mặt anh Thừa, nói bằng giọng láu lỉnh:
- Đã mặc cả thì mặc cả cho hết. Toa với moa không là vợ chồng, thì moa cử chỉ, nói năng với khách thế nào, moa cấm toa không được ghen đấy. Đời tư của moa, toa không có quyền can thiệp.
Anh Thừa cũng đùa:
- Được. Miễn là toa đừng làm loạn phòng thăm bệnh của moa thôi.
Nói đoạn, anh cười. Ma-ri cũng nhoẻn miệng:
- Cũng nên dứt khoát cả khoản này nữa. Là hiện nay, moa là gái kén chồng, cần giữ tiếng tăm cho tốt. Nhưng toa lại là trai vắng vợ, sống tự do một mình. Vậy moa cấm toa xâm phạm đến thân thể moa, cấm nghĩa là nếu toa xâm phạm, moa cũng bằng lòng, nhưng tùy theo hành động và thì giờ, toa phải tính tiền trả moa hơn cái giá moa làm thêm ngoài giờ. Có điều là toa được hưởng giá đặc biệt.
Anh Thừa bật cười:
- Toa hiểu người và chu đáo quá! Về chi tiết, ta sẽ thỏa thuận với nhau sau.
- Phải dứt khoát từ việc to đến việc nhỏ, thì làm với nhau mới bền.
Anh Thừa dở đùa dở thật:
- Toa làm với moa, toa sẽ có nhiều khoản để phát tài, thế mà toa lấy lương những ba chục một tháng kia à?
Ma-ri nhún vai, không đáp. Anh Thừa nghiêm mặt:
- Nhân em nói đến tiếng cấm, thì anh cũng giao hẹn với em, là anh cấm em những điều này. Một là về công việc chuyên môn, anh cộng tác với một ông cụ nhà nho, học vấn uyên thâm, đã làm thuốc mấy chục năm ở Huế. Vậy nếu em không được anh hỏi ý kiến, thì em đừng bàn bạc đến việc thuốc thang. Có được không?
- Em còn mong được thế đấy, anh ạ.
- Tốt lắm. Hai là khi vắng anh và ông nhà nho uyên thâm, anh cấm em nói tốt, khen ngợi hai người với khách.
Ma-ri ngạc nhiên:
- Sao lại thế?
- Phải, em chỉ được phép nói xấu thôi. Ví dụ, nói về anh, em kể tội là hết giờ làm việc, mà em cứ phải đợi anh xong mới về. Nhưng anh thì cứ miệt mài nghiên cứu thuốc thang, lắm bận quên đi, em phải ở lại đến tám giờ tối. Em cũng nên nói xấu là thấy người nhà mách rằng anh hay đọc sách đến quá nửa đêm, không biết giữ gìn sức khỏe. Ai khuyên cũng không nghe. Về ông nhà nho uyên thâm, em oán ông cụ nghiêm nghị như ông long thần, và kín đáo như cái hòm khóa, cả kinh đô biết cái việc cụ chữa cho vua Khải Định, mà cụ chả nói hở ra với ai. Có hỏi dò thì cụ lại mắng. Khen cụ là thuốc hay cụ cũng không bằng lòng.
Ma-ri rũ ra cười. Anh Thừa tiếp:
- Mà muốn cho khách kính trọng ông nhà nho và kính trọng anh, thì, nói với họ, em đừng gọi là cụ ấy, mà là Cụ không thôi. Gọi anh thì là ông Trần. Nói với anh thì dùng hai chữ tiên sinh. Trước công chúng, ta cần giữ với nhau rất lễ phép. Đừng để ai biết chúng ta.
Ma-ri cười ngặt nghẹo, phát vào vai anh Thừa:
- Khỉ!
- Nói với em, anh cũng một điều thưa bà đốc, hai điều thưa bà đốc.
Ma-ri giơ tay ra ngăn:
- Không! Thưa cô đốc chứ! Em là gái tơ!
- Ừ, thì cô! Và nếu có ai hỏi về em, anh cũng hết sức nói xấu em như kiểu trên. Nói xấu để khen ngầm còn được tin bằng vạn nói tốt. Chúng ta làm ra vẻ tôn kính lẫn nhau, phục lẫn nhau, tự khắc khách hàng tôn kính ta, phục ta. Còn điều này, dù anh biết dặn em cũng là thừa, nhưng anh cứ nói. Là khi chúng ta cùng làm với nhau, thì nhất thiết phải thành thực với nhau, và nhất thiết phải không thành thực với người ngoài.
Ma-ri mỉm cười:
- Em vẫn làm thế. Em đã chẳng nói một lần với anh, là trước khi học nghề, hãy phải học nói phét để lừa bịp là gì.
Hai người cùng cười rũ rượi. Anh Thừa khen:
- Em là người lắm mưu trí. Em còn giúp anh được nhiều việc.
Ma-ri cầm ví đứng dậy:
- Muộn rồi, em về nhé! Anh còn muốn dặn dò gì nữa không?
Anh Thừa ngước mắt nhìn lên trần, đáp chậm rãi:
- Chúng ta cần ngay từ bây giờ bắt tay vào việc. Nhất định anh mở phòng thăm bệnh, và nhất định em sẽ giúp anh. Muốn em chắc chắn về lời nói của anh, em hãy cầm tạm cái này.
Anh Thừa mở ví, lấy tập giấy bạc. Đếm mười lăm đồng, đưa cho Ma-ri:
- Đây là nửa tháng lương, em cầm lấy mà tiêu. Từ nay đến tháng phòng thuốc khai trương, em hãy tiêu nửa tháng lương thôi. Bao giờ phòng mở cửa, em đến làm việc, em sẽ lấy cả lương.
Ma-ri cầm tiền cất vào ví:
- Cảm ơn anh.
- Không phải cảm ơn, vì anh giao cho em hai việc. Một là ngay từ hôm nay, gặp ai em cũng cổ động cho phòng khám bệnh, cổ động cho uy tín của anh. Cổ động thế nào, anh tin ở tài của em. Em thạo nói phét rồi, đỡ được công học, thì bây giờ em phải học nghề. Em giả vờ đau ốm gì đó, đến phòng thăm bệnh của ông đốc tờ Ta-mít mà nhìn. Ở đấy, có người nữ y tá. Em xem người ấy như thế nào, thì bắt chước.
Ma-ri nhăn mặt, nũng nịu:
- Phiền nhỉ?
- Không phiền đâu. Anh cũng biết em đã học việc ở nhà thương Phủ Doãn. Nhưng em ạ, người y tá làm tư khác với người y tá làm ở nhà thương công. Họ không rẻ rúng, hắt hủi khách vì sợ bận việc đâu.
- Được rồi. Em sẽ nghe anh. Anh còn cần gì em nữa không?
- Còn. Một việc lớn nữa.
- Anh cứ nói.
- Là em đừng đến với anh trong một tuần lễ. Để cho anh yên tĩnh làm xong những việc cuối cùng của công ty mà em đã xui anh hôm nọ. Nhưng ác quá! Thứ hai sau tòa đã xử vụ này. Không khéo anh không có đủ thì giờ làm hết việc. Anh đã nhờ trạng sư xin tòa hoãn đến phiên sau. Họ đòi thêm hai chục.
Ma-ri trợn mắt:
- Họ đòi thêm những hai chục à? Anh nhận lời chưa?
- Chưa. Bọn này lèn anh đau quá rồi. Anh còn chịu họ tiền, đã đưa hết đâu mà dám nhận lời.
Ma-ri hớn hở:
- Tốt lắm. Em có cách làm cho tòa hoãn.
Anh Thừa cau mặt, nghiêm chỉnh nhìn Ma-ri như không thích nghe đùa cợt. Nhưng Ma-ri không đùa cợt, hỏi:
- Thế anh có thấy nói thỉnh thoảng trạng sư xin tòa hoãn xử một vụ án trong mười lăm hôm không? Hoãn để làm gì, anh có biết không?
- Hoãn để họ nghiên cứu thêm về bản án.
Ma-ri lắc ngón tay trỏ:
- Không phải, Họ nói thế thôi. Thực ra, là để đòi nốt của khách hàng món tiền thuê cãi.
Anh Thừa giương đôi con mắt ngạc nhiên:
- Thật à?
- Sao lại không thật. Họ phải sống về nghề của họ chứ! Anh cứ chịu lại tiền đi. Thế nào trạng sư cũng phải xin tòa hoãn. Anh sẽ không mất thêm hai chục, lại được những mười lăm hôm, chứ không phải vài hôm.
Anh Thừa cười khoan khoái:
- Em tài quá!
Ma-ri sung sướng, long lanh nhìn anh, rồi nói:
- Em mà như anh, thì em không dại gì cho tòa bắt công ty đóng cửa. Cứ tự đóng cửa ngay từ bây giờ mới tránh được tiếng. Khó quái gì! Anh đăng lên báo lời cáo biệt như của những tờ báo đình bản vì lỗ vốn ấy. Nhưng không cần nói mập mờ như họ, là vì một lẽ riêng, mà tuyên bố rõ hùng, là công ty tạm đóng cửa ít lâu để chấn chỉnh, khuếch trương to lớn hơn.
Anh Thừa tặc tặc lưỡi:
- Hay! Hay quá! Em tôi.
Ma-ri đứng dậy, bắt tay anh Thừa. Nhưng anh sực nghĩ ra:
- Khoan! Từ hôm nọ đến nay, toa bày cho moa bao nhiêu kế, mà moa chưa đền công toa.
Anh móc ví, lấy một chục bạc, đưa cho Ma-ri. Ma-ri làm bộ yểu điệu, nghẹo cổ, mỉm cười:
- Cảm ơn. Mình thật dứt khoát. Đúng là cung cách người biết làm ăn to. Em tín nhiệm mình.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 11:12:36 bởi Thanh Vân>
VII
MỘT CUỘC DIỄN KỊCH: NGOÀI SÂN KHẤU VÀ TRONG HẬU TRƯỜNG  
 
 
Khách ngồi trong các xe điện, trong các hiệu cao lâu, trong các phòng cắt tóc, ở Hà Nội, đều thấy có một cái gì khác thường nó đập vào mắt. Đó là tờ quảng cáo mới dán, in năm màu, trên giấy láng bóng, rất đẹp.
Những phố đông người, nhà nào cũng nhận được quảng cáo ấy. Không ai bỏ qua mà không xem, vì chữ to, câu ngắn, đọc không mất thì giờ. Lại vì có ba cái ảnh ba người in rất rõ, cho nên đọc xong, không ai nỡ xé hoặc vứt đi. Người ta dựng sau kính tủ chè, hoặc để trên mặt bàn, cho đẹp mắt. Người khác trông thấy, lại đọc chữ và ngắm ảnh.
Trang trước, khoảng trên, có những dòng chữ cỡ lớn như sau:

Một tin mừng trong giới! Một sự hợp tác giữa thuốc bắc, thuốc nam và thuốc tây! Biển Thước, Lãn Ông và Pasteur tái sinh!
 
Rồi đến chữ lớn hơn:

PHÒNG THUỐC NHÀ GIÀU Đúng ngày Trung thu sắp tới sẽ khai trương tại NHÀ VÀNG BỜ HỒ ngay chỗ đầu đường xe điện Hà Đông, Cầu Giấy, Bưởi, Bạch Mai.
 
Từ đây trở xuống là chữ cỡ thường:

PHÒNG THUỐC NHÀ GIÀU tại NHÀ VÀNG BỜ HỒ chỉ chữa cho bệnh nhân nhà giàu. Vì sao? Vì nếu không phải người giàu thì không có đủ tiền mua những vị thuốc quý.

Khoảng dưới chia làm đôi. Một bên là ảnh người, một bên là chữ.
Ảnh thứ nhất, một thư sinh, vẻ mặt hiền lành, đội mũ cát-két, mặc áo cổ đứng, như kiểu người Trung Hoa. Với bộ ria tơ lún phún trên mép, nhất là với cặp kính trắng không vành, trông người ấy rõ ra nhà thông thái.
Cạnh ảnh in những chữ:

Thuốc Bắc do ông TRẦN ĐỨC THỪA, du học lâu năm tại Trung Hoa, đỗ y sĩ số một. Có bằng của Chính phủ Dân quốc cấp phát.

Ảnh thứ hai, một ông già phương phi, râu quai nón. Ông đội khăn xếp mỏng nếp, đeo kính gọng đồi mồi, mặc áo gấm hoa bông tròn, bệ vệ như một đường quan:

Thuốc nam do cụ TRẦN XUÂN ĐIỀU, cụ đã dày kinh nghiệm hai chục năm tận tụy với nghề tại Đế đô. Đã từng dâng thuốc lên được Ngài Ngự khen thưởng và các Cụ khen ngợi.

Ảnh thứ ba là một cô rất trẻ, đội mũ vải trắng, mặc áo choàng trắng. Ai cũng phải ngắm nghía ảnh này, vì cô duyên dáng như một đào chiếu bóng. Mặt cô hơi gầm xuống, nhưng mắt cô nhìn lên, miệng tủm tỉm cười. Y như cái lối trách nhưng mà trách yêu. Đôi mắt ấy cứ như nhìn theo người ta, bất cứ người ta để ảnh ở trước mặt hay ở bên cạnh:

Thuốc tây do cô MARIE, một nữ y tá lành nghề người Pháp. Vì lòng yêu tha thiết người Việt Nam, cô quyết tâm thôi việc ở nhà thương Đồn Thủy, về thi thố tài chấn hưng y nghiệp ở PHÒNG THUỐC NHÀ GIÀU tại NHÀ VÀNG BỜ HỒ.

Trang sau của tờ quảng cáo in hai màu thư Minh tạ lương y của người khỏi bệnh. Người Hà Nội, người các tỉnh ở Bắc-kỳ đã đành, có cả người ở Trung-kỳ, Nam-kỳ, Ai-lao, Cao-mên nữa. Ngoài ra, có thư của sinh viên y khoa người Việt, người Lào, người Mên du học tại Pháp và của Hoa kiều buôn bán ở An-giê-ri. Nhưng đặc biệt nhất, in ngay ở đầu trang, chữ đậm, là nguyên văn một bức thư bằng chữ Pháp của một người Pháp, đứng đầu một sở ở Hà Nội. Bên cạnh là bản dịch ra quốc ngữ:
Giấy chứng nhận Tôi, Tu-nô, sếp phó văn phòng sở Đường sá và Nhà cửa ga Hà Nội, chứng nhận ông Trần Đức Thừa, đỗ bằng y khoa của Trung Hoa Dân quốc, đã bằng hai chén thuốc, chữa khỏi một viên chức người Pháp bị mắc lâu ngày một bệnh hiểm nghèo. Vậy cấp giấy chứng nhận này làm bằng. Ký tên và đóng dấu Tu-nô
Trong ba nhân vật quan trọng kể trên đây của Phòng thuốc nhà giàu, chúng ta đã biết rõ hai vị. Là “ông Trần Đức Thừa, du học lâu năm tại Trung Hoa, đỗ y sĩ số một, có bằng của Chính phủ Dân quốc cấp phát” và “cô Ma-ri, một nữ y tá lành nghề người Pháp, vì lòng yêu tha thiết người Việt Nam, cô quyết làm thôi việc ở nhà thương Đồn Thủy, về thi thố tài chấn hưng y nghiệp” để cứu mạng dân thuộc địa. Nhưng chúng ta chưa biết cái cụ Điều tận tụy với nghề trong hai mươi năm ở Huế, đã từng chữa cho nhà vua, và các đại thần lục bộ là ai.
Các bạn đọc! Nếu đọc cuốn tiểu thuyết này, các bạn không bỏ qua cả những tên người chỉ được kể phớt một hai lần, thì chắc cũng nhớ rằng ở chương đầu, có thấy cái tên Điều, được viết là cụ Điều Hai, hoặc cụ hai Điều.
Cụ Điều là chú họ của anh Thừa. Chúng ta đã rõ rồi. Chúng ta đã chắc chắn rằng cụ biết chữ nho, vì có một lúc, cụ cầm cuốn Thọ Mai gia lễ ở tay. Vì cụ là con thứ hai, cho nên người làng và người nhà gọi cụ là hai Điều. Nhưng khi cụ ra Hà Nội, giúp Phòng thuốc nhà giàu thì anh Thừa thấy cái tiếng Điều là tên riêng của người, không lợi bằng cái tên chung của nghề, mới đảo lộn ngược hai tiếng của tên cụ, mà gọi là Điều Hai. Lối gọi này sang trọng hơn, quan cách hơn, và hợp lý hơn cho nghề làm thuốc.
Việc đặt lại tên cho ông già này là do óc con buôn muốn khuếch khoác của anh Thừa. Ta không lạ gì. Cái mà ta lấy làm ngạc nhiên, là cớ sao cụ Trần Xuân Điều được đức Kim thượng Khải Định ban thưởng và các cụ lớn thượng thư khen ngợi, danh giá là thế, mà không chịu làm thuốc ở kinh đô, lại ra Hà Nội giúp việc cho cái thằng cháu mít xoài này?
Vậy xin nói ngay là giá có ai hỏi cụ rằng đế đô ở đâu, chắc cụ không biết. Và có ai giơ tay cho cụ bắt mạch, có thể cụ nắm cả bàn tay của cụ vào cổ tay người ta!
Tuy cụ là hàng trên anh Thừa, nhưng từ hôm ra nhận việc, động nhìn thấy anh Thừa là cụ cứ len lét như rắn mồng năm. Vì cụ học mãi chưa nói được cho tự nhiên những tiếng Huế, như đắtmắc, hàogiác, vào, nhàphố, quả dứatrái thơm v.v… Cả bốn tiếng sông Hương núi Ngự, cụ cũng cứ lẫn mãi là sông Ngự núi Hương.
Thuở bé, cụ là người hay nói, lắm điều, cho nên cha mẹ đặt tên là Điều. Lớn lên, cụ vẫn giữ cái thói quen ấy. Cụ làm như thạo đời, bất cứ việc gì cũng thích bàn choạc vào. Nói nhiều, nhưng rút cục chẳng ăn thua đâu vào với đâu. Có cái nên thạo nhất, là làm thế nào để tự mình kiếm lấy miếng ăn, thì cụ lại vụng. Tóm lại, cụ Điều nói nhiều, nhưng không vì lời nói mà kiếm được ra tiền. Bởi thế, anh Thừa bảo cụ:
- Muốn làm ra tiền, thì ông đi Hà Nội giúp tôi. Ông đừng nói một tiếng nào, sẽ kiếm được vô khối!
Anh Thừa thấy mã người của chú, béo, đẹp, tốt lão, thì dùng làm cảnh cho phòng thuốc, tức là phong cho chú làm cụ Điều. Nhưng anh ra lệnh tuyệt đối là cấm cụ nói.
Anh giao hẹn mấy kỷ luật như sau:
- Một là ông không được nói với người ốm về bệnh và thuốc. Việc ấy đã có tôi với cô đốc. Hai là thấy ngày thường, tôi với cô đốc nói năng, cử chỉ với nhau như thế nào, ông không được đem về quê mách nhà tôi! Cô đốc là cố vấn của tôi. Không có cô ấy thì phòng thuốc này không có. Tôi sẽ đói, ông cũng sẽ đói. Nhà tôi mà ra đây để phá tôi với cô đốc, tức là phá phòng thuốc. Ba là ông đừng tò mò về tung tích cô đốc. Cô ấy là ai, nghề nghiệp hay dở thế nào, ông không cần biết. Bốn là có ai hỏi về tôi hay về cô đốc, ông không được nói thật. Bất cứ với ai, tôi cũng khoe về ông như những lời trong quảng cáo, thì ông cũng như những lời trong quảng cáo mà khoe về cô đốc với tôi.
Anh định lương tháng cho cụ bằng lương của anh Xi, là mười hai đồng. Anh bảo thế là quá hậu rồi. Vì anh Xi phải kéo xe và tán thuốc khó nhọc. Còn cụ, cụ không có việc gì nặng, chỉ thỉnh thoảng làm phụ cho anh Xi mà thôi. Lúc tiếp khách, cụ mới cầm tay bệnh nhân, kiểu như xem mạch, và hỏi bệnh nhân ăn, ngủ, ỉa, đái thế nào. Rồi im. Ra dáng suy nghĩ. Không được nói nửa lời khác.
Bây giờ anh Xi không kéo xe cho cái Ĩnh con nữa. Anh làm hẳn Phòng thuốc nhà giàu với anh Thừa. Anh được trả công như trước là mười hai đồng, tuy không có cơm nuôi, nhưng lấy cả mười hai đồng. Như vậy là anh thiệt. Song, anh Thừa so sánh lương anh với lương cụ Điều Hai là bậc cha chú, người quan trọng nhất của Phòng thuốc nhà giàu, thì anh vui lòng ngay. Vì thấy anh đã thuộc kỷ luật, nhất là cái khoản không được tiết lộ bí mật nhà nghề, nên anh Thừa không phải dặn dò nhiều.
Mặc cả công sá với người giúp việc xong, anh Thừa phải cho anh Xi cái áo tây cũ, để ở nhà thì mặc như bác loong-toong, và mua cho anh bộ quần áo trắng bốp, cái nón lợp vải xanh và đôi xà-cạp xanh, để khi kéo xe cho cụ Điều Hai, thì như cậu lính lệ.
Anh Thừa may sắm cho cụ Điều Hai rất chững chạc: chiếc khăn xếp, cặp kính trắng, bộ quần áo chúc bâu là phẳng nếp, cái áo đoạn huyền, và đôi giày ban da láng bóng lộn. Cái áo gấm trong ảnh là cụ đã mượn của hiệu để mặc, chụp cho oai.
Cụ Điều thắng bộ vào, trông ra phết một vị tổng đốc, tuần phủ tại chức.
Anh Thừa lại dạy cụ tập cái dáng đi lừ lừ đôi mắt nhìn xuống, chẳng nói chẳng rằng. Chính Ma-ri, hôm mới trông thấy cụ, cũng phải lắc đầu lè lưỡi, thầm thì với anh:
- Trông cụ phúc hậu, nhưng mà dữ tướng nhỉ!
Học được điệu bộ đó, cụ hai Điều mới học nghề sau. Đó là theo cái bí quyết làm giàu bất di bất dịch của anh Thừa. Anh đưa tiền cho cụ đến nhà một ông lang để nhờ xem mạch. Cụ đã quan sát ông ấy làm những gì, nói những gì, rồi về, cụ tập dượt nhiều lần với anh.
Khi cụ đã thành thạo, anh Thừa làm cuộc tổng diễn tập. Cụ Điều được ăn mặc đẹp, được ngồi xe nhà cho anh lính lệ Xi kéo. Đi qua mặt anh Thừa, cụ được anh đứng dậy, khúm núm, thưa bẩm rất lễ phép. Không ngờ mình hóa ra danh giá, cụ Hai Điều đắc chí lắm.
Từ ngót một tháng nay, anh Thừa chuẩn bị cái việc cho Phòng thuốc nhà giàu khai trương đúng hẹn.
Cái nhà anh thuê có nhiều buồng. Buồng ngay ở đường vào là buồng đợi. Chính giữa buồng, treo cái bằng làm thuốc đóng khung sơn son thếp vàng. Nhiều ghế cho khách ngồi kê sát tường. Phía trên mỗi ghế có dán một tờ quảng cáo. Phía trên quảng cáo là những tấm vẽ lớn những bộ máy hô hấp, bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa v.v… là những tranh khoa học các trường dùng để dạy học sinh. Ngoài ra, có một số ảnh màu chụp phong cảnh Hàng Châu, phong cảnh Huế và phong cảnh Pa-ri.
Ở một góc buồng đợi, có cái bàn nhỏ sơn trắng, Ma-ri ngồi đó để tiếp khách. Tiếp khách có nghĩa là chài khách. Và sau khi biên tên tuổi và bệnh của khách vào một mảnh giấy vuông nhỏ, gọi là phiếu, Ma-ri hỏi khách xem muốn được ông Trần hay Cụ (chứ không nói cả hai tiếng cụ Điều) hay cả hai người cùng xem cho, thì ghi ký hiệu riêng vào phiếu, rồi đưa anh Xi. Anh này cầm phiếu vào buồng thăm bệnh, để úp mặt giấy lên bàn. Khi anh Thừa ra làm việc, thì lật ngửa chồng phiếu lại. Như vậy, người ghi tên trước được mời vào trước.
Buồng thăm bệnh nhỏ hơn buồng đợi. Buồng này không trang trí gì. Nhưng các tường và trần căng toàn vải màu đỏ. Màu đỏ để làm bệnh nhân ghê rợn, tăng uy phong cho ông thầy. Màu đỏ cũng để ông thầy nhìn sắc mặt bệnh nhân mà đo ngay được trình độ bệnh. Chỉ có một cái bàn bầu dục, phía trong bày hai chiếc ghế mây, cho hai ông thầy, và phía ngoài, chiếc ghế bành cho bệnh nhân. Bệnh nhân được ngồi thoải mái, đặt cổ tay lên cái gối bông nhỏ, để ông thầy bắt mạch.
Hôm tổng diễn tập, thấy cụ điều Hai đứng, ngồi, cầm tay và hỏi han bệnh nhân như ông lang thật, anh Thừa khen mãi.
Cạnh buồng thăm bệnh là buồng gọi là buồng luận bệnh. Sau khi xem mạch kỹ lưỡng và hỏi han bệnh nhân cặn kẽ, thì hai ông thầy vào đấy để luận bệnh và bàn cách chữa.
Buồng phát thuốc ở nhà trong, cách nhà ngoài một cái sân, trên có giàn thiên lý, hoa thoang thoảng mùi thơm nhẹ. Đây mới là chỗ chính của Ma-ri ngồi làm việc. Buồng không trang hoàng gì. Chỉ có một cái gương lớn cho Ma-ri soi. Khi được phòng luận bệnh cho giấy vào lấy bao nhiêu thứ thuốc gì, thì Ma-ri gói đủ để đưa cho bệnh nhân, rồi thu tiền. Sát ngay buồng của Ma-ri, là buồng pha chế thuốc, do anh Xi phụ trách. Pha chế nghĩa là nghiền nhỏ biến những viên thuốc mà trước kia công ty của ông An-be Tuy-a chưa bán hết, rồi trộn với thuốc tây cùng loại, cũng đã được tán thành bột. Nếu khách muốn dùng thuốc nước, thì anh Xi đã có sẵn nước cam thảo để hòa những bột thuốc ấy vào.

Nhưng khách muốn uống thuốc chén, thì cụ điều Hai tự tay bốc cho. Thang thuốc không khác gì thang thuốc ông lang bốc cho nhà nghèo. Nhưng vì phòng thuốc này chỉ chữa cho nhà giàu, nên phải có vị đắt tiền. Vị này bí truyền, cho nên nó đã được tán nhỏ biến, gói riêng, khi sắc xong mới hòa vào. Sự thật, vị này là vị mà anh Xi nghiền, tức là trộn ẩu tí thuốc bắc và thuốc tây cùng loại.
Gác nhà ngoài là chỗ ở của anh Thừa. Gác nhà trong là chỗ ở của cụ Điều và anh Xi. Hai gác thổi nấu chung ở bếp. Cạnh bếp, có cổng sau mở ra phố cầu Gỗ. Anh Thừa tìm mãi mới được nhà thông ra hai phố, cho nên dù phải trả đắt một tí, anh không tiếc tiền.
Ma-ri vẫn ở nhà riêng trước Cột đồng hồ, ngoài bờ sông, có lẽ gần nhà mẹ. Nhưng sau, vì anh Thừa cần đến hắn luôn, mà đi bộ thì mỏi chân, đi xe thì xót tiền, hắn thuê được cái gác, cách Phòng thuốc hai nhà.
Tìm được chỗ như ý, anh Thừa mượn thợ quét vôi vàng thẫm như nghệ. Hai tường đầu hồi, mặt ra phố, thì quét hẳn bằng sơn màu cá vàng. Vì vậy, Phòng thuốc nhà giàu gọi là Nhà vàng Bờ Hồ.
Nhưng không phải anh Thừa chỉ trông mong vào tài nói của anh và của Ma-ri mà hy vọng làm ăn vững được. Anh không biết thuốc. Chú anh không biết thuốc. Còn Ma-ri, anh cũng không tin hắn biết thuốc nốt. Nhiều lần, anh bất chợt hỏi hắn về thuốc, thấy hắn trả lời lúng túng, nếu không lúng túng thì nói liều hoặc đánh trống lảng. Anh đoán rằng hắn chẳng học y tá ở nhà thương Phủ Doãn ngày nào. Có lần, anh vờ làm như không biết, hỏi hắn đường sá trong nhà thương ấy, thì thấy hắn toàn nói sai. Nhưng sai thì sai, mà tài quá, hắn nói rất trôi chảy.
Có một bận thôi, muốn biết đích xác giấy chứng nhận của thằng Tu-nô là chứng nhận thật hay chứng nhận dối, anh Thừa lòe Ma-ri để bắt nọn:
- Hôm anh đến bảo nó viết giấy chứng nhận rằng anh đã chữa cho nó khỏi bệnh thiên trụy, nó không dám từ chối. Nó thấy anh ăn mặc oai thì bắt tay và kéo ghế mời ngồi, gọi anh bằng ông. Nó xin anh rộng cho nó một điều là được giấu tên thật của nó và giấu bệnh thật của nó. Vì thấy lời ông sếp phó sở Đường sá và Nhà cửa có giá trị hơn lời của bệnh nhân, cho nên anh bằng lòng và nó nói bệnh hiểm nghèo thì rồi mình muốn bịa là bệnh gì chẳng được. Viết xong giấy cho anh, ý chừng muốn anh yên tâm là nó vẫn chứng nhận cho người khác như cho anh, nó khoe rằng đã cấp cả cho em một tờ như vậy, để em xin chân y tá ở nhà thương Đồn Thủy.
Nói đoạn, anh tủm tỉm nhìn Ma-ri, như để chế nhạo con người bị lộ tẩy. Nhưng Ma-ri không cười, trái lại, mặt hắn hầm hầm, chửi mãi thằng Tu-nô là nói điêu. Rồi hắn ôm mặt khóc:
- Đứa nào không biết thuốc mà nói dối là biết, thì chỉ đáng làm con chó ăn cứt. Anh không tin em, lại tin thằng đểu giả ấy à?
Anh Thừa thấy lời thề khá độc, thì chạm nọc. Tuy không lần nào anh hỏi nữa, nhưng anh vẫn tin rằng Ma-ri không nói thật. Song, cũng vì thế mà anh rất mừng. Mừng vì đối với anh, Ma-ri vẫn còn lừa bịp, thì chắc khi cộng tác với anh, hắn chẳng tha ai. Với nhan sắc xinh tươi này, và với mồm miệng bùa bả này, thì vô khối thằng giàu híp mắt lại, hoặc nhắm mắt cho Ma-ri xỏ mũi. Rồi đến đây, họ bị cái uy phong và cái im lặng của cụ Điều lẫm liệt nó thôi miên, thì có là thánh cũng không thoát nổi tai nạn.
Nhưng không phải khách chỉ phải lòng mặt Ma-ri và tin hóng cụ điều Hai mà đủ cho họ phải bỏ tiền ra. Họ phải có thuốc chứ?
Việc cho bệnh nhân thuốc, anh Thừa tự nhận là trách nhiệm của anh. Từ ngày còn ở Đồng Đăng, nể ông Sơ mà đọc báo, anh đã nhìn thấy nhiều số có đăng những bài thuốc kinh nghiệm. Anh tìm mua những tờ ấy, cắt những bài ấy, rồi giao cho Ma-ri.
- Đó là sự nghiệp của anh. Trong thời gian du học ở bên Tàu, anh nghiên cứu nhiều bài thuốc gia truyền của người ta, lại sưu tầm nhiều bài thuốc gia truyền của người mình. Anh dùng những bài ấy để thí nghiệm chữa bệnh và đã sửa đổi một vài vị cho thật công hiệu. Cho nên anh đã đề là những Bài thuốc kinh nghiệm, đăng lên báo cho quốc dân dùng. Nay anh muốn xuất bản. Nhưng vì anh không phải là văn sĩ, nên nhiều câu đặt chưa trôi chảy. Em là người có đầu óc thích thơ, chắc là biết viết gọn hơn anh. Vậy em sửa chữa lại lời văn cho anh. Câu nào nên thêm bớt thế nào. Tùy em được tự tiện.
Ma-ri vui thích, hỏi:
- Thế khi in ra sách, anh có cho em đứng tên là san nhuận hay không?
Anh Thừa cười:
- Anh làm việc này không cần cầu danh, cũng không phải cầu lợi. Nếu em xét là cần. Thì cả hai người chúng ta cùng đứng tên là soạn giả, anh cũng bằng lòng.
Ma-ri sung sướng, nói:
- Tăng giá trị cho em, là tăng giá trị cho Phòng thuốc nhà giàu. Độc giả An-nam sẽ càng tin sách thuốc này có toàn bài hay, vì thấy có cả người Pháp nghiên cứu kinh nghiệm.
Ma-ri đem những mảnh báo về, xóa bớt những tiếng thì, mà cho khỏi rườm, đặt lại một vài câu cho khác đi, để gọi là có công phu sửa chữa.
Anh Thừa thuê đánh mấy tập Bài thuốc kinh nghiệm ra nhiều bản. Anh chưa đem in, nhưng hãy đóng thành sách, đặt tên là Truyền thuốc bí truyền.
Tập Truyền thuốc bí truyền chỉ dùng làm quảng cáo cho hai soạn giả thôi. Một bản bày ở buồng đợi cho khách nhìn thấy. Một bản bày trên bàn tiếp khách của Ma-ri cho hắn khoe tài. Một bản bày trong buồng thăm bệnh để lòe người ốm. Một bản bày ở buồng phát thuốc của Ma-ri để làm quyền tác giả. Còn hai bản, một bản cất kín trong buồng luận bệnh và một bản trong buồng cân thuốc của cụ Điều, để dùng vào việc quan trọng nhất.
Sau khi ông Trần hoặc cụ điều Hai, hoặc cả hai người bắt mạch kỹ càng và hỏi han tỉ mỉ người ốm, thì cùng vào buồng luận bệnh. Luận bệnh, tức là mở cuốn Truyền thuốc bí truyền ra xem đơn chép trong bài thuốc có những vị gì, thì, nếu người khách yêu cầu uống thuốc chén, cụ Điều cân y nguyên như thế. Và cố nhiên, thang thuốc có kèm thêm gói bột, vị đặc biệt của Phòng thuốc nhà giàu bán cho bệnh nhân nhà giàu.
* * *
Hôm Phòng thuốc nhà giàu khai trương, Ma-ri đánh phấn hồng, bôi môi son, đội mũ trắng, mặc áo choàng trắng, ngồi ở buồng đợi. Anh Thừa đội mũ cát-két, mặc áo cổ đứng, đeo kính trắng, chờ ở buồng thăm bệnh. Cụ Điều Hai cũng ăn mặc kiểu cụ lớn, đi bách bộ trên gác quanh giường cụ nằm. Ba người không khác gì những vai đóng kịch, chờ sân khấu có khách là ra trò.
Nhưng ác một nỗi là diễn viên thạo nghề đã dày công luyện tập, nhưng rạp hát không có ai đến xem.
Giờ tiếp khách yết ở biển, buổi sáng từ 8 đến 10 giờ, buổi chiều từ 3 đến 5 giờ, nhưng sáng hôm ấy, gần đến 10 giờ rồi, không có một người nào vào xin thăm bệnh.
Ma-ri có vẻ sốt ruột, không hiểu vì sao những người quen hẹn đến mà không đến. Hắn đã nghi ngờ những bạn bị bại thận và bị phòng tích của hắn nói phượu. Hắn đã nghi ngờ cả hắn cổ động không thành công. Nhưng anh Thừa vẫn bình tĩnh như thường.
Chiều hôm ấy, anh quyết định không tiếp bệnh nhân. Anh bảo anh Xi ngồi ở buồng đợi. Hễ có khách, thì nói với họ sáng mai hãy đến. Lý do là ông Trần đi Hải Phòng từ sáng sớm, chữa biến chứng nguy cấp cho ông Bạch Thái Bưởi bị bán thân bất toại. Cụ Điều thì vừa được quan Thiếu Hà Đông cho ô tô mời vào trong ấy chữa cho cô Lan hay lợm buồn nôn. Còn cô đốc Ma-ri, cô phải đi làm thuốc cho ba đám ở xa, đến tối mới về.
Nhưng anh Xi thuộc lòng bài học ấy, mà không được đọc với ai một lần nào. Vì, cũng như buổi sáng, Nhà vàng Bờ Hồ mở cửa ra chỉ để gió thu phủ lượt bụi vào bàn ghế.
Để cứu vãn tình hình bất lợi này, chiều hôm ấy, Ma-ri hỏi ý kiến cụ Điều và anh Xi. Hắn tỏ vẻ lo lắng, nói rằng đã hết sức đi cổ động các nơi quen biết rồi. Anh Xi cũng kể công mình đã đưa quảng cáo đến khắp các phố đông người. Cụ hai Điều nhiều tuổi hơn, nên khôn ngoan hơn. Cụ suy bụng ta ra bụng người, để tìm ra vì đâu Phòng thuốc chưa có khách đến. Bụng cụ từ thuở bé đến giờ chỉ chứa có loài thảo mộc. Nó thèm loài cầm thú. Vì vậy cụ phát biểu:
- Chẳng biết ở Hà Nội thế nào, nhưng cứ như ở nhà quê chúng tôi, hễ định làm việc gì mà không mời người ta chén một bữa, thì đố có thành. Tôi khuyên ông Trần nên làm bữa tiệc mời khách khứa đến chứng kiến Phòng thuốc nhà giàu khai trương.
Anh Thừa bật cười, chế nhạo cụ:
- Ông thì chỉ ngậm miệng mới ăn tiền, chứ nói ra là mất tiền. Tôi mà nghe ông thì toi mấy chục đồng bạc để cho một lũ khỏe như vâm chúng nó đến phá hại. Những đồ này trời đánh cũng không chết, có bao giờ phải vác mặt đến phòng thuốc của mình! Mà dù chúng nó có ốm, thì cũng mang xác đến nhờ xem bệnh chạc, xin thuốc chạc, chứ chịu xùy cho mình đồng xu nào! Vả lại, giá tôi có thiển nghĩ mà nghe ông xui dại, thì ông là một, tôi là hai, nhất định hai người không dự. Cô đốc sẽ đại diện cho phòng thuốc làm chủ bữa tiệc, vì cô thạo giao thiệp, ông với tôi mà ló mặt ra, thì người ta coi thường, gần chùa gọi bụt bằng anh. Phải nói dối là cụ Điều với ông y sĩ vừa được mời đi chữa bệnh ở tỉnh xa, không kịp về.
Ma-ri tủm tỉm, nhưng cụ hai Điều thở dài. Anh Thừa tiếp:
- Nếu buổi đầu mà chúng ta có đông khách ngay thì tốt thật. Nhưng hãy hỏi, từ xưa tới nay, có hàng nào mới mở mà có đông khách ngay không? Cho nên chúng ta phải coi đây là một sự thường. Dần dần, phòng thuốc sẽ có khách. Chúng ta mong sao khách đến một ngày một đông, chứ không mong buổi đầu đông khách, rồi một ngày một vắng. Chúng ta không nên thấy ế hàng mà đã vội nao núng. Hôm nay là ngày tết, đáng lẽ chúng ta uống rượu trông trăng, thì sao chúng ta lại buồn. Chúng ta cũng phải vui chung với thiên hạ.
Anh Thừa đã có ý định, nhưng vì muốn giữ sĩ diện với mọi người, nên không tiện nói ra. Anh muốn có một việc bất thường sẽ diễn ra trước Phòng thuốc nhà giàu, cho mọi người đồn nhau, và cho báo đăng vào mục thời sự, quảng cáo không công cho anh. Anh đưa anh Xi mười đồng bạc, lên Hàng Ngang, mua pháo Vương Tường Thành chính hiệu để treo giải múa sư tử.
Bốn tràng pháo dài được buộc vào đầu bốn chiếc sào, buông từ trên cao xuống đất, quây bốn bên một gói tiền năm đồng, cũng treo lên tận cao. Một chậu thau đầy nước đặt trước trên mặt đất, phía dưới giải thưởng. Sửa soạn xong, anh Thừa rủ cụ điều Hai và anh Xi lên gác ngoài, ngồi sau cửa sổ nhìn ra đường.
Một đám rước sư tử sắp tới. Đi đầu là năm lá cờ dọc bằng lụa năm màu, bay phần phật, rồi đến đuốc và đèn. Đuốc nứa được tẩm dầu hỏa, cháy ngùn ngụt. Đèn cá rập rình mang và vây, đèn thiềm thừ há miệng đớp đớp, đèn mặt trăng xoay như con chong chóng. Ánh nến đỏ như nổi lênh bênh trên ánh trăng xanh. Độ một chục tay du côn, mặt đỏ gay vì rượu, bảo vệ cho đám rước, vừa đi vừa múa chiếc côn lớn, dài độ một sải. Người nào cũng mặc lối xì thẩu, quần thâm, quấn xà-cạp trắng, áo thâm bỏ vào trong quần, đội khăn bịt đầu thâm, để trùm xuống tận vai. Họ quấn quanh lườn chiếc thắt lưng xanh hoặc đỏ. Hai người xì mẩu đi sau cùng mặc đẹp hơn. Họ có gài giữa ngực cái hoa tết bằng lụa, lòng thòng cái dải dài bay bay sang hai bên. Họ không cầm côn. Chắc là họ biết võ tàu thạo môn đánh quyền.
Cụ hai Điều được hưởng tết Trung thu lần đầu tiên ở Hà Nội. Thấy bọn du côn sát khí đằng đằng, cụ tặc tặc lưỡi.
Đầu sư tử to bằng cái bồ hạng trung, mắt lớn như hai quả trứng gà, trong có đèn điện pin, thỉnh thoảng lại lóe sáng. Người đội cái đầu giấy chỉ thò ra ngoài có hai ống quần quấn gọn trong xà-cạp sặc sỡ. Hắn múa theo nhịp trống và hất cái hàm dưới có râu bạc dài để đớp vờn hòn ngọc bằng giấy dử trước mặt. Người múa đuôi cũng không kém hoạt động. Hắn cầm tràng vải màu đỏ, tung lên, hạ xuống, và cũng theo nhịp trống, nhảy bên phải, nhảy bên trái. Chiếc trống cái và chiếc thanh la lớn được để trên xe bò tết lá nhãn theo vòng cổng uốn bằng tàu dừa. Một người như nhảy lên để nện dùi vào mặt trống cho mạnh. Một người ngồi trên thành xe, dang thẳng cánh để đập thanh la cho đều.
Anh Xi nhìn thấy ở lòng xe bò có thò ra những đầu bó đuốc trữ sẵn để đốt tiếp, thì mách cụ Điều:
- Thế nào ở dưới lượt đuốc cũng có vô số xẻng, cuốc, gậy sắt với xà beng. Họ lấy nê rước sư tử để gây sự, đánh nhau với bọn không cùng cánh với họ.
Anh Thừa cười:
- Nhưng họ có bị thương, mình cũng không hy vọng gì, vì họ không phải là nhà giàu.
Cụ Điều có ý trách anh Thừa:
- Treo giải thưởng làm gì cho họ đánh nhau!
Anh Thừa cười, nói thực ý mình:
- Để xem cho đỡ buồn. Nếu xảy ra đánh nhau trước cửa nhà mình, thì thế nào mai báo cũng đăng. Tôi chỉ cần bỏ tiền ra để báo nhắc đến bốn chữ Phòng thuốc nhà giàu, quảng cáo cho mình.
Thấy đám rước đi đến nơi, anh Thừa bảo anh Xi châm đốt bánh pháo ngắn, vứt ra giữa đường.
Biết hiệu mời lấy giải, đám rước dừng lại.
Bọn xì thẩu cầm ngang côn, chặn hai bên hè nhà Phòng thuốc nhà giàu để dẹp chỗ cho sư tử múa.
Trước hết, theo nhịp trống rung dồn từng hồi, cái đầu bằng giấy đứng vào giữa. Nó tiến lên, gật gật, cúi rạp xuống đất, rung rung bộ râu, rồi lui, rồi lại tiến và gật gật.
Lễ xong, nó bắt đầu múa. Đầu sư tử nâng cao lên, quay bên phải, quay bên trái, dáng điệu oai hùng. Tràng nhạc buộc ở chân người múa kêu loẻng xoẻng.
Cụ Điều được thấy cảnh lạ mắt thì thích lắm. Cụ khen sư tử gãi đẹp, múa khéo, nhảy nhót nhanh nhẹn.
Trước khi lấy giải, con vật còn phải trổ một tài nữa, là phải uống cho cạn chậu nước đầy, đặt ở đó.
Cụ Điều chú ý nhìn.
Cái đầu giấy gục xuống thau, rồi ngẩng ngửa lên trời, lắc lắc như để nuốt. Mỗi lần như vậy, nước trong chậu vợi đi một ít.
Cụ lo ngại cho người múa đến phải vỡ bụng về nước. Nhưng anh Thừa trỏ cho cụ nhìn rõ. Thì cụ thấy rằng sư tử cũng biết lừa bịp. Mỗi lần đầu nó che lấp cái chậu, thì có cánh tay nhúng khăn mặt lớn vào, rồi luồn khéo ra đàng sau, cho người cầm đuôi lén vắt cho hết nước đi.
- À! Sư tử đái bậy! Ông đội sếp ôi! Sư tử đái đường! Bốn hào phạt!
Trẻ con vỗ tay, reo lên như thế. Nhưng sư tử không làm việc phi pháp, nên không sợ đội sếp. Chỉ một loáng thau nước cạn hết.
Thế là bắt đầu lấy giải.
Anh Xi đốt bốn tràng pháo dài cùng một lúc. Tiếng lạch tạch nổ vang. Khói đặc ngùn ngụt. Lửa bắn tứ tung. Nhưng ông Chúa sơn lâm cứ lăn xả vào nơi nguy hiểm.
Vì tiền treo ở trên cao, bọn xì thẩu phải đứng lên vai nhau, làm thang cho sư tử trèo.
Giữa lúc ấy, có đám rước nữa thùng thình kéo tới. Đám này không đi thẳng, mà dừng lại trước Phòng thuốc nhà giàu.
Anh Xi đoán ngay:
- Thế nào cũng đánh nhau. Hẳn đây là cánh Sầm Công với cánh Ngõ Trạm. Hai cánh ngày thường vẫn hầm hè nhau, nay mới có dịp trị nhau.
Quả nhiên, bọn đương lấy giải bỏ cái đầu giấy đấy, cầm côn ra giữa đường:
- Thế nào, các bậc đàn anh muốn đọ côn phỏng?
Thế là đường phố trở thành chiến trường.
Tiếng gỗ đập chan chát. Tiếng sắt kêu cheng cheng. Nảy tia lửa. Người xem chạy tán loạn.
Cụ Điều khiếp đảm, nổi trống ngực, không dám nhìn trận huyết chiến. Cụ bảo anh Xi:
- Hay gì cái trò giết nhau vì đồng tiền này!
Cụ muốn hưởng cái gì thật thà và dịu dàng hơn của tết Trung thu. Anh Xi rủ cụ đi phố.
Cụ mặc thêm áo dài, nhưng vẫn để đầu trần. Cụ sợ đến chỗ vắng, như ở bãi lầy bụi rậm sau chợ Hàng Da, lỡ ra kẻ cắp giật mất khăn, vả bọn nhà thổ ở Hàng Mành, ở nhà Yên Thái hay trật khăn khách đi đường để bắt người ta phải vào.
Cụ đến phố Hàng Gai và phố Hàng Thiếc xem các nhà bán vét đồ chơi tháng Tám bằng giấy và bằng sắt tây. Cụ sang Hàng Bồ, ngắm cái đèn cù ánh ra những cái hình người cử động được theo dây bằng tóc: anh chồng trèo dừa, hái quả, vứt xuống cho chị vợ ôm váy lên để hứng; Quan Công cầm thanh long đao đâm Tào Tháo, con ngựa Xích thố nhảy lên chồm chồm v.v…
Chán rồi cụ đi thẳng sang Hàng Bạc, rồi về Hàng Đào. Ở hai phố này có nhiều nhà bày cỗ trông trăng trong sân, cho công chúng tự do vào thưởng thức. Các cô thiếu nữ cấm cung, một năm mới được dịp này khoe tài khéo để ganh nhau kén chồng. Cụ đứng rất lâu để ngắm cỗ của hiệu Phúc Lâm, một nhà có nền thấp, thụt hơn mặt hè phố ba bậc. Quả đu đủ ngâm trong nước màu hồng, màu tím, được tỉa thành đóa thược dược, cánh hoa mỏng dính, lượn như làn sóng, trổ rất đều đặn. Con gà luộc được uốn thành ông Lã Vọng đội nón đứng thả cần câu. Múi bưởi đào xếp thành con kỳ lân lông xù, ngẩng mặt, nhe răng hột bưởi ra như dọa.
Và vô số bánh: bánh dẻo, bánh nướng, bánh gừng, bánh quế, bánh sâm, bánh hoài, bánh su xê, bánh mảnh cộng, trông rất ngon mắt.
Cụ Điều sợ khuya, không dám ở lại đến nửa đêm để xem chậu quỳnh nở một lượt chín bông hoa trắng muốt. Cụ rất tiếc, về nhà, nói chuyện với anh Thừa, cụ tấm tắc khen mãi cỗ của nhà Phúc Lâm. Cụ giục anh Thừa đi mà xem. Nhưng anh không đi.

* * *

Hôm sau, hồi 5 giờ chiều, tờ báo hàng ngày Trung Bắc tân văn phát hành số mới tại tòa soạn ở phố Hàng Bông.
Trẻ bán báo ôm phần báo của mình, chạy tung đi các ngả, miệng rao:
- Báo Trung Bắc mới ơ! Ai mất ví ơ! Ai mất năm trăm bạc đi mà nhận ơ!
Việc trả lại ví tiền là cái đinh trong từ báo ngày hôm ấy.
Quả vậy, ở mục Việc vặt Hà Nội, không tường thuật những đám rước sư tử đánh nhau, nhưng có đăng một bài như sau:
Ai mất ví?

Bản quán nhận được bài lai cảo sau đây, xin cứ nguyên văn đăng báo.

Hôm qua, buổi sáng, Phòng thuốc nhà giàu ở Nhà vàng Bờ Hồ có đông khách đến nhờ xem bệnh. Khi hết giờ, chúng tôi thấy ở phòng đợi có cái ví đầm của bà nào bỏ quên, trong có năm trăm đồng bạc và một vài thứ lặt vặt khác. Vậy bà nào có cái ấy, xin mau mau đến Nhà vàng Bờ Hồ mà nhận. Nếu nói đúng những thứ lặt vặt trong ví là những thứ gì, sẽ được trả lại ngay.

Xin hỏi chúng tôi là y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa, chủ nhân phòng thuốc, hoặc cụ hai Điều, hoặc cô y tá Pháp tên là Marie.
Kính cáo
Y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa

Bài báo của anh Thừa viết có hiệu quả ngay.
Sáng hôm sau, lần lượt có bốn bà đến Nhà vàng Bờ Hồ nhận chằng cái ví bịa ấy là của mình.
Thấy những mồi ngon tự đem thân đến nộp, tuy trong bụng Ma-ri cười thầm, nhưng ngoài mặt, tiếp họ rất niềm nở. Hắn phải vồ ngay lấy họ, làm cho họ không ra thoát Phòng thuốc mà không nhờ xem bệnh.
Ngay từ lúc sáu giờ rưỡi, cửa Nhà vàng Bờ Hồ, Ma-ri chưa đến, đã có một bà đập và ấn cánh gỗ thình thình.
Bà ta béo chụt chịt, cằm tụt vào cổ, cho nên có sức khỏe để phát đen đét vào cánh thật mạnh và thật lâu, đến nỗi tiếng động lọt được vào tận gác trong. Anh Xi vội vàng chạy xuống.
- Tôi hỏi y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa. Vâng.
- Thưa bà, ông Trần chúng tôi đêm qua có ô-tô quan Thiếu Hà Đông đánh ra đón vào trong ấy chữa cho cô Lan hay lợm buồn nôn. Hiện nay chưa về.
Bà khách có vẻ băn khoăn. Anh Xi tiếp:
- Đến tám giờ, mời bà lại.
- Vâng, Thế cô y tá đầm tên là Ma-di?
- Vâng, cô Ma-ri có nhà. Nhưng tám giờ mới đến làm việc.
- Tôi cần gặp cô Ma-di lắm. Vâng. Cô ấy có nói được tiếng ta không? Vâng.
- Thưa bà được.
- Vậy tôi nhờ anh đến gọi cô ấy ngay. Anh nói là một bà bạn thân, hỏi cô ấy có tí việc cần nhé. Vâng.
- Vâng, thế thì mời bà ngồi đợi.
Anh Xi đi ra phố. Nhưng bà khách gọi giật lại:
- Này anh! Vâng, từ sáng đến giờ, đã có bà nào đến đây hỏi gì chưa?
- Chưa.
- Thôi, nhờ anh đi mau lên. Vâng.
Chừng độ nửa giờ sau, Ma-ri trang điểm xong, mới sang Phòng thuốc. Hắn quấn tóc trần, mặc quần trắng, áo màu cặn vang, đi guốc phi mã cao gót.
Thoạt tiên thấy bà khách, thì hắn ngợ. Hắn chưa từng gặp cái người nhận là bạn thân này bao giờ. Và có lẽ cái bà bạn thân ấy nhìn thấy Ma-ri ăn mặc ta, cũng không ngờ chính là cô gái đầm mà bà cần gặp.
Hai người phải hỏi nhau là ai, mới bắt đầu nói chuyện với nhau.
Bà khách xưng tên là bà cử Dần. Và nói rằng ông cử đương học trường Hậu bổ, sắp thi soóc-ti [16] để đi tri huyện.
Tự giới thiệu xong, bà khách thêm một tiếng để trả lời mình:
- Vâng.
Rồi nói tiếp như cháo chảy:
- Vâng, sáng hôm qua, tôi đến đây, nhờ ông y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa xem bệnh, rồi bỏ quên cái ví. Vì đau ốm, đầu óc rối loạn, vâng, cho nên tôi quên khuấy, không nhớ là mất cái ví ấy ở đâu. Ông cử nhà tôi cứ gắt. Vâng, mãi chiều hôm qua, đọc báo, mới thấy bài của ông y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa, vâng, tôi mừng quá. Vậy tôi đến đây để xin cô cho lại cái ví. Vâng, vâng.
Ma-ri vốn mồm miệng liến láu, nhưng vừa toan nói, thì bà khách đã cướp ngay mất lời:
- Vâng, ông y sĩ Trung Hoa dân quốc Trần Đức Thừa là người thật thà hiếm có. Nếu phải là tôi bỏ quên ở nhà thuốc khác, thì vâng, chắc mất. Ở đời, thiếu gì kẻ tham lam hở cô? Vâng.
Ma-ri nhìn rõ rằng thấy cái đuôi của người nói dối. Nhưng hắn không tóm, chỉ khẽ hắt ra, cho bà khách khỏi ngượng. Hắn vẫn lễ phép:
- Thưa bà, thế thì chắc bà để quên cái ví của bà đâu đấy. Cái ví mà chúng tôi đăng báo là để quên ở đây, thì tối hôm qua, đã có một bà đến nhận rồi. Chúng tôi thấy bà ấy nói đúng màu ví và những thứ đựng ở trong, nên đã hoàn lại ngay.
Muốn chừng bà cử hết hy vọng, nên chữa thẹn:
- Vâng. Thế à? Vậy thì tôi bỏ quên ví của tôi ở đâu nhỉ? Vâng, sáng hôm qua, tôi ngồi ở chỗ kia, cô có nhớ không? Vâng.
Ma-ri suýt bật cười, nhưng vẫn tươi, đáp:
- Thưa bà có ạ.
Thấy con người dại dột tự đút đầu vào cạm, Ma-ri quyết khóa cẳng lại:
- Bà cũng cầm cái ví, tôi có trông thấy.
- Vâng. Thế mà mất đấy, cô ạ. Vâng. Chỉ tại trong mình ốm yếu, đầu óc không nhớ được cái gì. Vâng.
Bà đứng dậy:
- Vâng. Thôi, tôi vô phép cô nhé. Vâng.
- Mời bà ngồi chơi, tôi hỏi thăm một tí. Thưa bà, bà đã xơi hết chỗ thuốc hôm qua chưa ạ?
Muốn chừng bà khách quên là mình đương nói dối cho nên không nghĩ ra là người ốm thì phải dùng thuốc. Bà ngớ mặt:
- Thuốc nào nhỉ? Vâng.
Nhưng sực nhớ vai trò của mình đương đóng, bà gật gật:
- À, à! Vâng. Đã ạ. Thuốc công hiệu lắm, cô ạ. Vâng. Ở đây, các ngài chữa giỏi lắm.
Cho là đãi bôi như vậy thì tháo thân dễ, bà cử tủm tỉm nhìn Ma-ri. Nhưng Ma-ri được dịp chôn chân bà sâu hơn:
- Thế thì mời bà lấy thêm thuốc đã uống cho thật khỏi, kẻo chữa dở chừng thì phí công, phí tiền.
Bà cử vâng khẽ, rồi im lặng. Ma-ri nói:
- Chúng tôi gọi là Phòng thuốc nhà giàu, tiếng rằng chỉ chữa cho nhà giàu, nhưng sự thực thì thuốc rẻ hơn các nơi khác nhiều. Đến nhà khác, bệnh nhân phải dùng năm thang mới chuyển, nhưng đến nhà này, chỉ uống một hai thang là khỏi ngay. Một thang của nhà này có cao hơn một thang của nhà thuốc khác thật, nhưng nó công hiệu gấp hai, gấp ba. Nếu so sánh món tiền phải trả cho nhà này với món tiền phải trả cho nhà khác, các ông các bà mới thấy chữa ở nhà này rẻ hơn. Chúng tôi thường làm thuốc hầu các quan. Nhiều quan hậu cũng đã nhận ra cái lợi ấy. Hẳn quan hậu nhà cũng thấy thế. Các ngài khoa mục bao giờ cũng tinh mắt hơn đời. Chúng tôi trông bà, nước da vẫn còn xanh lắm. Nếu bà không chữa cho thật khỏi bệnh, tôi e rằng nay mai nó phát nặng ra, chữa vừa khó, vừa tốn tiền.
Bà cử đương lúng búng miếng trầu, tìm mãi không thấy ống nhổ, cho nên không cãi được là mình khỏe, để tránh phải mua thuốc thêm. Nhưng bà nghĩ ngay ra rằng bà không thể cãi được, vì chính bà vừa khai láo là mới đến nhờ thăm bệnh, để lấy lý do bỏ quên ví. Tiến thoái lưỡng nan, bà đành cứ để nước quết trầu ở trong miệng để có cớ mà im. Còn Ma-ri được dịp tốt, lại tấn công:
- Thưa bà, độ này bà xơi cơm có bằng trước không ạ?
Bà cử trót nói là ốm, mới ngửa mặt cho quết trầu khỏi tràn ra ngoài môi, đáp:
- Vâng. Tôi còn ăn yếu lắm, cô ạ.
Ma-ri lấy tạm cái bô vẫn để sân cho khách trẻ con phóng uế, đưa bà cử nhổ. Bà vỗ tay vào bụng hai ba lượt:
- Lúc nào cũng đầy ành ạch. Vâng.
Ma-ri làm vẻ mặt ái ngại:
- Vâng, tôi nghe tiếng bồm bộp cũng đoán ra. Thế tối, bà ngủ có được không ạ?
- Ít thôi, thỉnh thoảng lại hay mơ. Vâng. Rồi người cứ bàng hoàng, trằn trọc đến hàng giờ mới lại chợp được. Vâng.
Nhưng bà chữa ngay:
- Thế mà từ hôm uống thuốc của nhà ta, thì tôi khá hơn trước nhiều, cô ạ. Vâng.
Ma-ri lại tóm được cái đuôi thò ra dài hơn. Rõ rằng là bà khách không biết Phòng thuốc nhà giàu mở cửa từ hôm nào. Hắn nói:
- Để tôi đưa thêm bà thuốc. Bà không nên tiếc tiền. Nhiều ông bà, nhất là các bà, chứ các ông thì ít ông hà tiện, nhiều ông bà cứ không muốn bỏ ra mấy đồng bạc để uống thuốc chặn bệnh; rồi bệnh phát ra, thành thử mất đến hàng chục, hàng trăm. Chúng tôi ở trong nghề lâu năm, nên chúng tôi có kinh nghiệm. Nhiều người tưởng mình khỏe mạnh, không có bệnh tật gì, nhưng kỳ thực là cơ thể suy nhược, phủ tạng kiệt quệ, chỉ ông thầy xem mới biết.
Muốn bà cử tin lời nói của mình, Ma-ri cầm cuốn Truyền thuốc bí truyền, quay bìa trước quyển sách lại phía bà, vờ phe phẩy quạt vào mặt.
Bà cử hỏi:
- Vâng. Cứ như tôi thì cô bảo bệnh tôi là bệnh gì?
- Nói về bệnh, là quyền của ông Trần, của Cụ tôi. Nhưng vì hai vị không có ở đây, tôi có thể mạn phép mà nói rằng bà tuy bề ngoài như vậy, mà trong mình còn nhiều bệnh tật lắm. Tôi mời bà chờ đến tám giờ, hai ông thầy xem mạch lại cho.
- Vâng. Tôi bận cô ạ. Xin để khi khác.
- Thế thì tôi cứ vị thuốc hôm nọ, lấy thêm cho bà dùng. Chả tốn mấy đâu, bà ạ.
Nói đoạn, Ma-ri đứng phắt dậy, nhanh nhẹn vào nhà trong, lấy một lọ thuốc bổ thường, đưa cho bà cử:
- Thuốc này tốt lắm, chỉ bán đặc biệt cho khách quen. Cụ Tuần bà Sơn Tây đòi mua, tôi có dám bán đâu, vì gần hết rồi. Phải để dành cho những người đang uống nó.
Ma-ri ấn thuốc vào tay bà cử. Bà ngần ngừ. Muốn bà không thể từ chối, hắn lấy ngòi bút cậy ngay cái nút ra, rồi rót thuốc vào cốc, ngọt ngào nói:
- Mời bà chị xơi ngay. Bà chị lười thế là không được.
Không thể đừng được, bà cử cầm cốc thuốc, nhắp một hụm, rồi nghe. Ma-ri cười:
- Có phải lứa thuốc này thơm hơn và dịu hơn lứa thuốc trước không?
Bà cử không biết trả lời thế nào, chỉ nói bằng tiếng quen miệng:
- Vâng, vâng.
Ma-ri đậy nút lọ thuốc, lấy vạt áo lau cẩn thận bên ngoài, rồi dặn:
- Bà cứ xơi vào lúc đói. Một ngày ba lượt, trước bữa cơm. Mỗi lượt một thìa xúp.
Bả cử tìm được cớ để chối từ:
- Vâng, nhà tôi lại không có thìa xúp, chỉ có thìa cà-phê. Vâng.
Ma-ri vừa ấn lọ thuốc vào tay bà, vừa nói:
- Thưa bà, ba thìa cà-phê là một thìa xúp ạ.
Bà cử không thể nói thêm:
- Vâng. Bao nhiêu tiền nhỉ? Vâng.
- Thưa vẫn giá như cũ ạ.
- Bao nhiêu nhỉ? Tôi ít lâu nay tâm thần bất định. Hay quên lắm.
Ma-ri cười:
- Thế mà bà chị cứ lười uống thuốc, không trách ông anh tôi hay gắt là phải. Thưa lứa thuốc này tốt hơn trước, nhưng rẻ hơn trước. Giá chỉ có mười đồng thôi ạ.
Bà cử đau điếng người, móc túi lấy tiền đưa Ma-ri, rồi thở dài, cầm lọ thuốc ra về.

* * *

Ba bà khác định đến nhận chằng ví, cũng được Ma-ri trả lời là ví đã có người lấy trước rồi. Và cũng bị Ma-ri lừa giật vào tròng.
Người khỏe mạnh mấy mà nói chuyện với thầy thuốc một lúc, thì thế nào cũng thấy mình ốm. Huống hồ đây là các bà yếu tinh thần, vô phúc chui đầu vào Phòng thuốc đương đói khách. Nhưng khác với bà cử Dần, ba bà này đến trước sau nhau không mấy, lại vào lúc gần đến tám giờ. Bởi thế Ma-ri không cần phải lòe nhiều. Chính ba bà lại khủng bố lẫn nhau, rồi phải nhờ y sĩ Trần giải quyết hộ - nói nhã là xem mạch lại - mới thấy là mình ốm đến nơi mà không biết. Rồi bà thì uống thuốc bột, bà thì uống thuốc nước, bà thì mang thuốc sống về nhà sắc.
Bốn bà nói ở trên, sở dĩ biến thành bệnh nhân, là do tài của nhân vật phụ trong Phòng thuốc nhà giàu, là cô y tá Ma-ri khéo dọa dẫm. Vậy thì vai trò của anh Thừa và cụ điều Hai thế nào?
Hai vai chính này, cũng sáng hôm nay, được trổ tài ngay. Vào khoảng chín giờ, khi người đàn bà thứ ba vừa ra khỏi Nhà vàng, để anh Thừa và Ma-ri ở lại, rúc rích cười với nhau, khen lẫn nhau, thì một lúc sau, anh Thừa trả lại cho buồng đợi cái không khí nghiêm trang của một phòng thuốc. Anh vào buồng thăm bệnh, ngồi tựa lưng vào ghế, ghếch hai cẳng lên bàn, lấy nhíp nhổ râu.
Bỗng anh nghe thấy có tiếng đàn ông khanh khách cười với Ma-ri ở buồng ngoài. Anh lắng tai:
- Mình đọc báo mới biết bây giờ cô nàng không bán kem nữa, lại làm y tá ở đây. Giết chết mấy nhân mạng rồi?
Ma-ri đùa lại:
- Phải, chỉ làm y tá để giết bớt những thằng làm thơ thối thôi.
- Thế cô y tá tiêm cho thằng làm thơ thối, hay thích cho thằng làm thơ thối tiêm cho cô y tá?
Hai nhịp cười giòn tan. Ma-ri nói:
- Đứa nào muốn tiêm cho cô, cô cũng cứ để cho mà tiêm. Như thường! Như thường!
Thấy hai người đùa nhau nhả nhớt, anh Thừa hơi khó chịu.
- Đây muốn tiêm cho cô! Nào! Nào! Ông tiêm đây! Ông tiêm đây!
Ma-ri cười sằng sặc:
- Khỉ! Không trẻ con! Bệnh nhân đếch gì lại thế! Liệu hồn!
Tiếng người đàn ông:
- À? Chạy à?
Anh Thừa nổi cơn ghen, toan ra phá đám. Nhưng anh cố bình tĩnh. Ma-ri vẫn vừa cười vừa nói:
- Vào Phòng thuốc để nhờ xem bệnh, chứ để giở bài bây à? Ốm bệnh gì? Nói đi. Đây chữa cho!
- Phải, đây có bệnh. Đây ốm. Bệnh Tề Tuyên! Ốm tương tư! Có chữa nổi không?
Anh Thừa không đừng được, mở của, tiến ra buồng đợi. Anh vẫn giữ nét mặt thản nhiên, mỉm cười, cúi chào người đàn ông mà anh ngờ ngợ, hình như đã gặp ở đâu một lần rồi. Người này cũng lễ phép chào lại anh. Thấy dáng ẻo lả, có vẻ làm điệu, anh sực nhớ ra cái người vừa đen vừa cao này rồi. Ma-ri giới thiệu người bạn với anh:
- Thưa tiên sinh, đây là ông Hoài Tân Tử, nhà văn sĩ trứ danh, tác giả cuốn thơ Tình muôn thuở.
Rồi giới thiệu với nhà văn sĩ:
- Ông Trần, y sĩ Trung Hoa dân quốc.
Anh Thừa long lanh đôi kính, cúi đầu một lần nữa, giơ tay bắt:
- Hân hạnh được biết ngài. Cô đốc Ma-ri đã nói chuyện nhiều lần với tôi về ngài. Tôi vẫn khát khao được gặp tác giả cuốn Tình muôn thuở rất có giá trị, mà tôi rất say mê. Tình cờ hôm nay, tôi được cái may mắn ấy. Nếu ngài không có việc vội vàng, tôi mời ngài cho tôi được hầu chuyện.
Muốn chừng ông khách biết ngượng về lời ăn tiếng nói quá lễ độ của ông chủ, vả lại chuồn ngay thì mang tiếng là làng văn đa tình, ông đành ở lại.
Hai người kéo ghế ngồi ở bàn tiếp khách của Ma-ri. Anh Thừa kiểm lại từng chiếc khuy của cái áo cổ đứng màu tro nhạt, rồi khẽ nghiêng mình sang phía Ma-ri, nói nhỏ:
- Nhờ cô làm ơn bảo anh Xi cho tôi cái điếu. Tôi còn hầu chuyện ngài lâu.
Ma-ri nhanh nhẹn vào nhà trong, rồi ra, cùng ngồi ở bàn. Ông văn sĩ đáp lại sự nhã nhặn của ông y sĩ:
- Chúng tôi đọc quảng cáo, được biết ngài mới ở bên Tàu về.
- Thưa vâng, cũng may mà còn nhớ đủ tiếng ta để tiếp khách. Hà! hà! hà!
Anh Xi đặt trên bàn cái điếu ống thuốc lào bằng đồng đánh sáng nhoáng. Anh Thừa dặt thuốc vào nõ, thổi phụt phụt cái cuộn giấy dính than đỏ ở đầu. Ngọn lửa bùng cháy. Anh châm hút, thở xong lần khói thơm nhẹ, anh ấp hai bàn tay quanh cái điếu, ôm đặt vào lòng, chậm rãi dằn từng tiếng:
- Vừa đây, đệ nghe ngài nói với cô đốc đến ba tiếng ốm tương tư. Hề! hề! Thưa ngài, quả tương tư làm cho con người ốm thật. Nó là một bệnh. Trong luận án của đệ gửi sang Bắc Kinh để lấy bằng bác sĩ y khoa, đệ đã nghiên cứu tỉ mỉ cái bệnh mà y giới đông tây cổ kim ít chú ý, là cái bệnh mà ngài vừa mới nói, cái bệnh tương tư.
Ông văn sĩ lắng tai nghe. Ma-ri nhìn anh Thừa, mắt chớp chớp.
- Thưa ngài, tương tư, xét cho cùng, là một bệnh khá nguy hiểm. Do là phủ tạng con người ta, tâm thần con người ta suy nhược. Nếu kẻ thư sinh này phân tách sinh lý, tâm lý để nói kỹ, e rằng dài quá, mất thì giờ của ngài. Xin lấy ngay những ví dụ trước mắt. Như nhân huynh và đệ là nam giới, và như quý tiểu thư đây là nữ giới, hẳn chúng ta không giấu giếm nổi nhau rằng, trong đời ta, đã không có ít ra là một lần tương tư. Ta gặp một người đẹp, có duyên, ta yêu. Xa người ấy, ta nhớ. Gần người ấy, ta vui. Ấy là ta tương tư đấy. Người mắc bệnh tương tư thường hay đãng trí, thờ thẫn, lắm lúc như dại, như ngây.
Bởi vì sinh lý và tâm lý của người ấy bị sinh lý và tâm lý của người yêu chiếm đoạt. Nó bị chiếm đoạt vì nó yếu. Cho nên muốn khỏi bệnh tương tư, thì sinh lý và tâm lý cần phải khỏe. Và muốn cho khỏe, phải uống thuốc. Phải không, thưa ngài. Hà! hà! hà!
Nghe lời giảng rành rọt bằng giọng ngọt xớt, ông Hoài Tân Tử gật gù:
- Ngài nói rất chí lý.
- Thưa ngài, đệ đã nghiên cứu bệnh tương tư để làm luận án lấy bằng bác sĩ. Ý kiến sai đúng chỗ nào, xin ngài bổ chính cho.
- Hay lắm! Vấn đề vẫn chỉ được coi là tầm thường, nhưng nghĩ kỹ ra, thật là quan trọng.
- Vâng, trên thế gian, hiện giờ này, có hàng triệu triệu nam nữ mắc bệnh tương tư. Nếu không có thuốc chữa cho họ, họ sẽ thành phế nhân. Thật là đáng tiếc.
Anh Thừa chỉnh lại cái mũ cát-két cho ngay ngắn, thong thả lắc đầu hai ba lượt rồi thở dài. Ma-ri hỏi:
- Thưa tiên sinh, dám hỏi tiên sinh, là tiên sinh đã tìm ra thuốc chưa ạ?
Anh Thừa cười, vẫn nói thong thả:
- Thưa đã. Hiện tôi đang chữa cho một người. Chính cô vẫn cho thuốc mà cô không biết. Bởi vì, làm ông thầy, nhiều khi, cần nói dối bệnh với bệnh nhân, để giữ danh dự cho bệnh nhân. Một người con trai hay một người con gái, thấy trong mình ốm, không ăn được, không ngủ được, óc nhọc mệt, người bần thần, không biết là bệnh gì. Người ấy đến nhờ ông thầy chữa cho. Ông thầy xem mạch, hỏi han một vài triệu chứng, biết đích xác là bệnh tương tư, thì không bao giờ dám nói thật với bệnh nhân là họ mắc bệnh ấy. Bởi vì họ sẽ thấy xấu hổ, không dám chữa. Thưa cô, hẳn cô còn nhớ hôm kia, vào buổi sáng, có một thiếu nữ đến cho tôi thăm bệnh, tôi nói là đau tim.
Anh mỉm cười, lắc lắc ngón tay trỏ:
- Không phải đau tim đâu! Bệnh thì nói là đau tim. Nhưng thuốc thì thật ra, chữa tương tư, thưa cô ạ.
Ma-ri trợn tròn mắt để nhìn nhà văn sĩ và há tròn mồm để thoáng khẽ một tiếng:
- À!
Anh Thừa nói với ông Hoài Tân Tử:
- Đệ nghe ngài vừa nói ngài mắc bệnh tương tư. Đệ chắc ngài cho là ngài nói đùa thôi. Nhưng chỗ bạn đàn ông với nhau, đệ cứ xin mạnh dạn mà thưa rằng đúng là ngài mắc bệnh tương tư thật. Và nhất định ngài nên chữa bệnh. Bệnh này rất nguy hiểm. Nó sinh ra nhiều biến chứng lạ lùng không ngờ, có ảnh hưởng không nhỏ đến văn nghiệp của ngài. Một người làm thuốc mắc bệnh tương tư, thì chữa không hay nữa. Một người làm thơ, viết tiểu thuyết, mắc bệnh tương tư, thì viết cũng kém đi. Ác một nỗi là bệnh này không trông thấy, không nghe thấy, không sờ thấy, không ngửi thấy, không nếm thấy. Nó là bệnh vô hình. Ít người mắc bệnh tương tư mà biết mình mắc bệnh tương tư. Bởi vì không phải ta chỉ tương tư người yêu, ta còn tương tư một cảnh đẹp, tương tư một tư tưởng hay. Tóm lại, tất cả cái gì nó xâm chiếm tâm tư ta, làm cho ta phải suy nghĩ, phải nhớ nhung, phải mong mỏi, đều là thủ phạm của bệnh tương tư hết. Ngày trước, dạo đệ còn du học ở bên Tàu, có một người bạn cho đệ xem một tập thơ của Lý Thái Bạch. Đệ vốn không phải người thích thơ, nhưng đọc thơ của họ Lý, đệ mê quá. Đệ đâm ra tương tư Lý Thái Bạch. Đệ học kém hẳn các bạn. Đệ mới tìm nguyên nhân. Đệ tự phân tích tâm lý và sinh lý của đệ. Nhờ đó, đệ tìm được một thứ thuốc, để mình tự chữa cho mình. Vì vậy, đệ nghĩ rằng các ngài văn sĩ, khi thấy mình làm thơ hoặc viết tiểu thuyết không hay - điều này công chúng độc giả dễ nhận hơn mình - thì nên mau mau uống thuốc. Vì chắc chắn nhà văn sĩ ấy đương bị bệnh tương tư nó làm hại.
Nói đến đây, anh Thừa yên lặng cho ông làm thơ thối suy nghĩ đến tác phẩm của ông đã xuất bản và tác phẩm của ông đương viết. Quả nhiên, mặt ông có vẻ băn khoăn. Anh dùng cái tài cũ, là tài diễn thuyết để bán thuốc:
- Triệu chứng của bệnh tương tư hiện ra rất nhiều vẻ. Có khi ta thích thẩn thơ đứng một mình, như con người ít nói, hay trầm tư mặc tưởng. Có khi ta lại đùa nghịch, nói giỡn, nói với bạn quá con người láu lỉnh tinh quái.
Anh lại yên lặng cho cái thằng muốn tiêm cho cô y tá suy nghĩ đến mình xem nó có thế hay không. Quả nhiên, mặt ông Hoài Tân Tử bây giờ băn khoăn hơn ban nãy.
Ma-ri thấy đến lượt mình phải đóng vai trò cò mồi:
- Thưa tiên sinh. Thế thì chỗ người nhà, cho nên dù tôi là nữ giới, tôi cũng không dám giấu tiên sinh là chính tôi cũng có những triệu chứng mà tiên sinh vừa kể.
Anh Thừa cười:
- Đó là tôi đơn cử một vài triệu chứng làm ví dụ, chứ thật ra, còn nhiều nữa, nhiều nữa. Thưa cô, nếu vậy, cô cũng nên chữa đi. Đàn bà mắc bệnh tương tư, có thể tịt đẻ.
Ma-ri trợn mắt, sợ hãi, vội vàng thở dài thật to:
- Thế thì may cho tôi được gặp tiên sinh.
Anh Thừa đáp:
- Chữa không khó. Cái khó là người có bệnh có muốn và thật tâm chữa hay không. Và người chữa bệnh có thuốc hay hay không. Vậy cô cứ yên tâm. Vài bận uống thuốc của tôi, cô sẽ khỏi hẳn.
Bỗng anh cười:
- Gọi là thuốc của tôi, chưa được đúng lắm. Phải nói là thuốc của Phòng thuốc nhà giàu. Vì ta không nên quên ơn Cụ đã tham bác nhiều ý kiến rất tốt.
Anh quay nói với khách:
- Thật vậy, thưa ngài ạ. Hẳn ngài đọc quảng cáo, đã thấy là Phòng thuốc nhà giàu có ba người cộng tác với nhau. Cô đốc đây với đệ là hai, còn một người nữa, chắc ngài cũng biết. Đó là cụ Điều chúng tôi. Ngài là bậc thức thời, chắc tiếng tăm của Cụ, ngài không lạ gì. Đệ gọi Cụ là hậu thân của cụ Lãn Ông, cũng không ngoa chút nào. Cụ thật là một ông lười. Lười làm quan!
Anh nói với Ma-ri:
- Nhiều lần tôi khuyên cô đừng tò mò mà hỏi chuyện Cụ về Huế, Cụ không bằng lòng đâu. Cô không biết rằng Cụ rất khiêm tốn và rất kín đáo à? Giá phải người khác, ở hai mươi năm trong Huế, thì bây giờ về Bắc, thế nào cũng trọ trọe ni ni, tê tê, nớ nớ đố ai hiểu. Nhưng Cụ cố bỏ tiếng Huế, giọng Huế mà nói ngay tiếng Bắc, giọng Bắc. Thỉnh thoảng, Cụ lại vờ như người chưa biết Huế ở đâu và nói đảo ngược là sông Ngự núi Hương mới buồn cười chứ! Chính tôi đã bị Cụ quở mãi, vì trong quảng cáo, tôi nói rõ là Cụ đã làm thuốc hai mươi năm ở đế đô và đã chữa không cho vua Khải Định. Cụ muốn giấu việc ấy. Cụ bảo hữu xạ tự nhiên hương, không cần khoe khoang làm gì. Có một chuyện tôi cứ lừa cho Cụ nói, mà không bao giờ Cụ tiết lộ. Sau, tôi dùng lối bắt nọn, Cụ mới nhận là đúng. Đó là chuyện Cụ chữa cho vua Khải Định. Hôm nay, nhân vui miệng mà nói, tôi xin cô giữ kín, đừng cho ai biết việc bí mật ấy. Nhất là chớ bảo với ai là tôi nói, kẻo Cụ biết, Cụ lại quở tôi. Cụ thường bảo cái tên gọi là ngự y hay điều hộ không làm gì. Cái chính là thuốc mình phải hay thôi.
Ông Hoài Tân Tử và Ma-ri đều trố mắt để lắng tai.
- Thưa ngài với thưa cô, chính đức Vĩnh Thụy là công của cụ đấy.
Ma-ri nhanh miệng hỏi:
- Sao? Sao? Con của Cụ à?
Anh Thừa cau mặt:
- Xà! Nhảm! Công của Cụ chữa cho đức Khải Định. Ngài mới sinh được Đông cung. Nguyên do thế này. Khi đức Kim thượng của ta chưa lên ngôi, Ngài còn là đức ông Hoàng Cả, thì Ngài chỉ buồn nỗi hiếm muộn, mà sinh ra rượu chè, chơi bời, bài bạc, thuốc xái. Còn chính phủ Bảo hộ muốn đền ơn đức Đồng Khánh, định mời Ngài lên cai trị thiên hạ ngay cái năm ông Thành Thái bị đi đày kia. Nhưng ngặt vì Ngài chưa có con, không lẽ vua lại không có hoàng tử Đông cung, thì sau này ai nối ngôi, cho nên các quý quan phải tạm lập vua Duy Tân. Đức ông Hoàng Cả thấy vậy càng buồn, càng đâm ra rượu chè, chơi bời, cờ bạc, thuốc xái hơn trước. Thì may cho nước Nam mình làm sao! Có người giới thiệu Cụ với Đức ông. Cụ dâng ba chén thuốc lên Đức ông. Thế là Đức ông khỏi bệnh liệt dương. Và vì thuốc công hiệu, Đức ông cường tráng quá. Không những ngài chỉ giao thiệp với nữ giới trong Hoàng gia, với kim chi ngọc diệp các thế tộc, mà còn hạ cố đến cả đàn bà con gái nhà thường dân. Trong bọn được hầu hạ Đức ông, có một người là thị tỳ. Người này thụ thai, sau sinh hạ được hoàng nam, tức là đức Vĩnh Thụy. Việc là thế, nhưng nhiều người không biết, cứ nghi hoàng tử Vĩnh Thụy của chúng ta bây giờ là con thằng bồi ngựa với con vú mà đức Khải Định nhận chằng là con. Hoàn toàn sai với sự thật! Họ còn dám khi quân, nói rằng mặt Hoàng thượng dài ngoằng ngoẵng như mặt chó tây, thì đẻ thế nào ra được hoàng tử mặt lồn lột phốp pháp. Lại càng hoàn toàn sai với sự thật! Hoàng tử Vĩnh Thụy chính là con đẻ của đức Khải Định. Cả nước Nam này chỉ có một mình Cụ là biết rõ. Vì chính tay Cụ dâng thuốc lên Ngài. Bởi Cụ có công lao to lớn như vậy, cho nên ngay hôm đức Khải Định đăng quang, Ngài đã hạ chỉ cho Thái y viện tìm Cụ vào cung. Ngài ban vàng bạc, Cụ không lấy. Ngài phong phẩm hàm, Cụ chối từ. Rồi sợ Hoàng thượng không để Cụ sống yên một đời ẩn dật, lấy việc bốc thuốc, cứu dân độ thế làm vui, Cụ mới trốn ra Bắc. Nhưng đức Khải Định vốn là người đức độ, ăn ở thủy chung. Ngài nghe nói Cụ về Bắc, thì Ngài than thở mãi là đức mọn tài so, cầu hiền không nổi. Vì vậy, vừa rồi, Ngài mới ngự giá Bắc tuần, về việc này, lại có nhiều kẻ không thức thời, đổ là nhà vua tuần du để chơi gái Bắc kỳ, hoặc là ngờ là để ký với quan toàn quyền Xa-rô nhường một vài nơi của Trung - Bắc kỳ làm nhượng địa. Nhưng hoàn toàn sai với sự thật. Dân đen ngu độn, muốn đồn thế nào thì đồn, Thánh thượng quang minh, trung hậu, thì Ngài cứ làm theo bụng Ngài. Ngài ngự giá Bắc tuần, mục đích chính là tìm cho được Cụ để vời Cụ lai kinh, nhận chức Tham tri bộ Lại. Nhưng mũ áo Ngài may sẵn để ban cho Cụ, Cụ chỉ lạy tạ mà không mặc. Bất đắc dĩ, đức Khải Định phải đành lòng hồi loan.
Nghỉ một lát, để hút xong một hơi thuốc lão, anh Thừa lại nói:
- Cụ còn một điều này, chắc các tiên sinh trong làng văn quý Cụ lắm. Là Cụ là bạn thân của cụ Tú Xương, thường làm thơ sách họa với cụ Tú. Cụ Yên Đổ cũng phải khen là hay.
Vừa kể đến đó, vừa nhìn ra cửa, bỗng anh Thừa đứng phắt dậy, lè lưỡi và xua tay, như ra hiệu báo động cho mọi người đề phòng. Rồi Ma-ri cũng đứng dậy. Nhà văn sĩ không hiểu việc gì, cũng đứng dậy.
Thì ra là cụ Điều Hai vừa đỗ xe ở đường đi vào trong nhà. Anh Xi mặc áo lính lệ theo sau. Cụ lầm lì, cúi mặt, bước lộp cộp đôi giày ban bóng lộn. Anh Thừa chắp hai tay, khúm núm vái:
- Thưa Cụ đã về.
Cụ Điều gật đầu. Anh giới thiệu:
- Thưa Cụ, đây là nhà văn sĩ trứ danh Hoài Tân Tử.
Ông khách cúi chào. Cụ xòe năm ngón tay để móng lá lan:
- Mời các ngài cứ ngồi tự nhiên.
Rồi Cụ hỏi anh Thừa:
- Ông coi mạch hầu ngài chưa?
- Thưa chúng con mới đương nói chuyện ạ.
Vì anh Thừa cứ đứng, cho nên khách cũng không tiện ngồi.
Ma-ri bước lại gần Cụ, giơ móng tay, búng khẽ cái bụi nhỏ trên vai áo Cụ. Cụ quay lại:
- Cảm ơn cô đốc.
Thấy anh Thừa và Ma-ri đứng nghiêm chỉnh, không dám nhìn cụ Điều, nhà văn sĩ chỉ dám thỉnh thoảng liếc trộm cụ. Cụ đội cái khăn mỏng nếp, phía sau không trùm hết gáy. Cụ mặc cái áo đoạn huyền dài quá đầu gối. Cụ đeo đôi kính dày gọng. Giả thử cụ dận đôi giày dừa nữa, thì trông cụ đúng là một vị quan kinh. Mặt cụ phương phi, oai vệ, chòm râu đẹp như vẽ. Tiếng cụ nói ồ ồ, rõ ra tiếng người sang. Không trách đứng trước cụ, ông y sĩ và cô y tá kính cẩn như đứng trước một đấng thiêng liêng. Thấy thế, nhà văn sĩ cũng hơi rờn rợn.
Cụ không thay nét mặt, nói với anh Thừa:
- Khá lắm rồi, tiên sinh ạ. Nhưng giá cụ Thiếu mà cứ nghe quan Cử Sen Hồ theo mãi thuốc tây, thì có bận khốn!
Anh Thừa cúi đầu:
- Dạ.
- Tôi cũng vừa thăm cậu Nguyễn Hữu Trí, con trai cụ Tham Trân. Mười phần đã đỡ được bảy, tám. Lại ông cụ lẩm cẩm này nữa. Chỉ tin thầy tàu! Cứ đốc tờ với thầy tàu mãi, rút cục chỉ khổ mình phải gỡ.
Ma-ri mách:
- Thưa cụ, quan huyện Tiền Hải mới lên, cho người mời cụ đến ngay đấy ạ.
Cụ Điều thở dài một hơi như người còn mệt:
- Đến với quan Tiền Hải thì khó lòng về ngay được. Bao giờ ông ấy cũng bắt xem mạch cho cả nhà. Rồi họ hàng, bạn bè ông bà ấy kéo nhau lại. Đến phiền!
Anh Thừa cười:
- Dạ.
Cụ Điều lau lại kính, rồi vuốt râu, dặn:
- Sáng nay, tôi còn bận chế một vài vị đặc biệt cho cô Lan và cậu Trí. Chiều mới lại thăm quan Tiền Hải được. Ông Trần với cô đốc nhớ nhắc giờ tôi nhé.
Anh Thừa chắp tay:
- Dạ.
Ma-ri cũng chắp tay:
- Dạ.
Bỗng cái cuộn giấy làm đóm của điếu thuốc lào đặt trên bàn bị gió thổi lăn rơi xuống đất. Ma-ri trông thấy, vội vàng khom lưng, qua mặt cụ Điều, để cúi xuống nhặt nó lên. Cụ lùi lại lấy chỗ cho Ma-ri đi, rồi giục anh Thừa:
- Tiên sinh chẩn mạch cho ngài đi. Để ngài chờ mãi thế?
- Dạ.
- Có cần đến bỉ nhân không?
Ma-ri hỏi khẽ khách:
- Ông cần một tiên sinh xem mạch thôi, hay cả Cụ thì cho biết.
Ông Hoài Tân Tử lúng túng chưa đáp, thì Ma-ri nhắc:
- Thôi, một mình tiên sinh cũng được. Tiên sinh vẫn chuyên môn về bệnh tâm lý. Để Cụ nghỉ, kẻo Cụ mệt.
Cụ Điều gật, khen:
- Đúng thế. Con khá là đạt! Đêm qua cụ Thiếu bắt thầy thức quá khuya để đàm đạo văn chương thế sự. Trong người thầy mỏi mệt, tinh thần kém sảng khoái, thì xem mạch kém hay. Con để thầy nghỉ là phải.
Nói đoạn, cụ cúi chào mọi người, rồi lừng lững đi vào.
Anh Thừa nhìn theo cụ, lè lưỡi, lắc đầu. Anh vui sướng như người mới giành lại được tự do, giơ tay mời bạn ngồi:
- Thôi, xin phép ngài, cho đệ được hầu mạch, kẻo Cụ quở.
Ma-ri lấy cái áo choàng của mình treo ở mắc, cuộn nhỏ lại làm cái gối, để trên mặt bàn, rồi tự tay nâng cổ tay nhà văn sĩ đặt lên trên:
- Áo thiếp đấy nhé. Đừng sợ bẩn.
Rồi nói với anh Thừa:
- Tạm dùng bàn tôi để khỏi phải vào buồng thăm bệnh. Mời tiên sinh làm việc.
Được tay ấy nâng tay mình đặt lên áo ấy, mặt tác giả Tình muôn thuở tươi như hoa.

* * *
Nhà văn sĩ Hoài Tân Tử ra về, Ma-ri hớn hở vào buồng phát thuốc của hắn. Hắn cộng sổ, đếm lại tiền, rồi phá lên cười với anh Thừa. Nhưng anh Thừa không cười. Anh trầm ngâm lo lắng…
Hết giờ làm việc, chờ cho Ma-ri đi khỏi, anh mới lên gác trong. Nhưng cả cụ hai Điều cùng anh Xi không có ở đấy. Anh vào bếp để tìm.
Cụ Điều cởi trần, mặc quần nâu vén đến tận bẹn, ngồi bệt xuống đất, đương mắm môi mắm lợi, chẻ một khúc củi to. Anh Xi phùng má thổi lửa.
Anh Thừa cau mặt, nhìn họ, bỗng quát một tiếng thật to:
- Hãy ngừng tay lại. Tôi bảo!
Anh đút hai tay vào túi quần, nói:
- Hỏng, hỏng mất!
Cụ Điều thấy cái không khí nghiêm trọng không ngờ, thì đứng phắt dậy, buông vội hai ống quần xuống:
- Thưa sao ạ?
Anh Thừa vẫn giọng gay gắt:
- Buổi này là buổi đầu ông tiếp xúc với khách, nhưng như thế là không được.
Anh Xi để kệ cho bếp khỏi um, đứng nhìn. Anh Thừa tiếp:
- Cũng may cái thằng này là văn sĩ hay đãng trí, lơ mơ, chứ nếu phải người khác, biết nhận xét và biết nhớ, thì lòi đuôi ra là mình dối trá.
Mặt cụ hai Điều xám lại. Chòm râu rung rung, cụ buông thõng hai tay, ngơ ngác nhìn anh Thừa đương hầm hầm:
- Thôi, nhưng mà nếu giận ông thì giận đời. Tôi bảo cho ông biết là ông ngu lắm! Không khéo thì cái Phòng thuốc nhà giàu này vỡ vì ông, chứ không phải vì ế khách.
Anh im một lát, rồi hoạnh:
- Ai bảo ông làm như ở đâu về thế? Sao không làm như ở nhà đi thăm người ốm? Ông có biết rằng tôi vừa sai thằng Xi đem cho tôi cái điếu ống thuốc lào ra trước mặt khách hay không? Thế thì nó kéo xe cho ông đi từ lúc nào để ông về cửa trước, qua buồng đợi? Có về thì phải có đi mới là thật chứ? Thế thằng Xi bay đường nào ra cửa mà khách không trông thấy nó đi, lại chỉ trông thấy nó về? Mà từ lúc nó đem điếu ra cho tôi, đến lúc nó kéo ông về, chỉ cách nhau độ mười lăm phút. Thế mà ông nói luyên thuyên những là cụ Thiếu Hà Đông với cụ Tham Trân? Vô lý! Vô lý!
Cụ Điều tay đưa lên gãi tai, thở dài ồm ồm. Anh Thừa nghiến răng, trỏ vào mặt cụ:
- Tôi đã cấm ông nói nhiều kia mà!
Anh trừng trừng nhìn cụ, rồi im lặng cho cụ có thì giờ mà nhớ lại cái tội đã phạm kỷ luật nghiêm ngặt. Nhưng thấy anh không nói, thì cụ nói:
- Tôi xin ông tĩnh tâm. Những lỗi của tôi, quả là có hết. Còn như ông bảo tôi nói nhiều, thì tôi có phạm vào điều cấm, là nói bệnh, nói thuốc với bệnh nhân đâu?
Anh Thừa giậm chân xuống đất, quát:
- Còn cãi!
Cụ Điều giật nảy mình. Anh Xi cũng giật nảy mình. Anh Xi bảo khẽ:
- Ông đương lúc nóng, thì bác im đi có được không.
Anh Thừa quắc mắt với anh Xi:
- Tao không nóng! Không lúc nào tao nóng! Mày thử nghĩ xem, lão già làm thế có đúng không?
Anh Xi len lét:
- Vâng ạ.
Anh Thừa vẫn còn tức:
- Mấy lị làm gì mà phải nói đi lắm thế. Một cụ Thiếu Hà Đông là đủ rồi, không cần phải kể là đến cụ Tham Trân nữa. Từ sáng tới giờ, thì giờ đâu mà đến được những hai chỗ. Thế là đi chơi, chứ đi thăm bệnh à?
Cụ Điều run run:
- Xin ông nuốt giận làm lành. Tôi nói là đêm qua ở Hà Đông, sáng ra Hà Nội, tôi mới đến thăm cụ Tham Trân, thế là có một chỗ.
Anh Thừa im. Một lát, anh nói:
- Nhưng một mình cụ Thiếu Hà Đông là đủ rồi. Không cần cụ Tham Trân. Nếu muốn kể cả cụ Tham Trân, thì ông phải nói cụ Tham Trân trước, cụ Thiếu Hà Đông sau. Cụ Thiếu Hà Đông với cụ Tham Trân, ai phương diện hơn ai? Sao không kể nhân vật có giá trị của quốc gia sau cùng, để ngoài nghe nhớ lâu? Ông phải biết chuyện riêng của gia đình những bậc tai mắt bao giờ cũng được những kẻ tò mò kháo với nhau. Thế mà mỗi lần họ nhắc đến tên mình một tiếng, có bằng trăm bằng nghìn lời quảng cáo không? Chứ cụ Tham Trân là cái thá gì? Là cái anh lấy vợ thải của thằng Tây Cú ấy à. Danh giá gì điều ấy. Ông kể cụ Thiếu Hà Đông trước, kể cụ Tham Trân sau, tai tôi nghe cứ như đương ăn tiệc nem công chả phượng, đến cuối bữa, nhai phải củ lạc thối ấy!
Anh Thừa nhìn cụ Điều, rồi nhìn anh Xi, hất hàm hỏi:
- Đấy, các người thử nghĩ xem, tôi nói có đúng không?
Cụ Điều xoa hai tay vào nhau:
- Vâng, ông mắng thì tôi phải chịu. Chứ tôi có biết đâu là ông sai anh Xi cầm điếu ra cho ông, mà tôi không về.
Rồi cụ làu nhàu một mình:
- Chỉ có từ cổng trước luồn quanh về cổng sau, cổng sau luồn quanh ra cổng trước cũng khó khăn thế đấy!
Anh Thừa lại giậm chân xuống đất:
- Còn bướng phỏng? Tôi có thuê đắt mới tìm được nhà có hai cổng để các người làm ăn thế à?
Anh Xi can cụ Điều:
- Thôi, bác, để yên ông nói.
Anh Thừa khuỳnh hai tay vào háng:
- Ông có biết lúc ông vào, thì tôi đương chuyện gì với khách không? Tôi đương hết sức khoe mẽ cho ông, bốc ông lên đến trời, thế mà đánh đùng, ông thò cái mặt thớt của ông vào, làm tôi ngượng, không dám nhìn ai nữa. Tôi đã giao hẹn với ông bao nhiêu lần là ở nhà này, ông cứ làm đúng như cái máy cho tôi, tôi vặn thế nào, ông phải y nguyên làm như thế. Đừng sai lời tôi mà hỏng việc của tôi.
Cụ Điều chắp hai tay:
- Vâng, bận này tôi trót dại, bận sau tôi xin chừa.
Anh Thừa nguôi giận:
- Thế thì được. Bị thịt phải biết phận bị thịt.
Rồi anh nói với anh Xi:
- Sáng nay, hai đứa cứ ăn cơm trước đi. Không phải chờ tao. Tao còn bận.
Anh móc túi nhìn đồng hồ:
- Mà đã chết đói hay sao lại thổi cơm sớm thế? Hãy bỏ đấy. Lên tán nốt chỗ thuốc làm dở đi.
Anh quay ra nhà ngoài, quăng lại thêm một câu cuối cùng:
- Chỉ ăn là khỏe thôi! Đồ khỉ!
 
Chú thích:
16)
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VIII
TIN BẤT THƯỜNG  
 
Anh ạ, em thành cô Lan mất rồi. Chắc là vì em không có bệnh ốm tương tư nữa.
Ma-ri hớn hở, ỏn ẻn với anh Thừa câu ấy, rồi tụt cái khăn tua bịt đầu bằng len đen xuống vai, vén cái vạt áo nhưng nâu, hắn đặt đít ngồi lên mặt bàn. Anh Thừa nhích cái bút ra xa cho mực khỏi dây vào tà áo lụa màu hồ thủy mặc trong của Ma-ri. Không hiểu lời nói có ý nghĩa bí hiểm, anh ngớ ra, nhìn Ma-ri:
- Sao?
- Từ mấy hôm nay, em hay buồn nôn buồn ọe, anh ạ.
Thấy Ma-ri báo một tin bất thường như vậy mà lại vui được, anh Thừa cau mặt, hỏi:
- Thật à?
Ma-ri ngoẹo cổ để làm điệu:
- Thật! Anh có nhớ rằng anh đã bảo thằng văn sĩ là đàn bà có bệnh tương tư thì tịt đẻ hay không? Thế thì em ở ngay gần anh, chắc không tương tư anh, cho nên em có mang.
Một nhịp cười hi hí, Ma-ri tự thưởng cho mình câu nói bóng bẩy và tình tứ.
Nhưng anh Thừa vẫn lạnh lùng:
- Có đúng không?
- Sao lại không đúng. Lúc nào cũng buồn nôn buồn ọe.
Anh Thừa lắc đầu, dằn từng tiếng cho rõ:
- Không. Đúng là đúng có mang với anh hay với ai. Anh muốn hỏi thế kia.
Ma-ri tát khẽ vào má anh, rồi giẩu môi và lườm anh, dài giọng để đáp:
- Chả với anh thì với ai!
Anh Thừa thở dài, ưỡn lưng vào lưng ghế:
- Thế thì cho ra ngay đi thôi. Nhà có thuốc đấy.
Ma-ri hơi đổi sắc mặt:
- Không, em không làm thế. Thất đức lắm. Anh không biết bố em là người suốt đời tu nhân tích đức à?
Bỗng hắn vùng vằng, rụt chân lại, đứng phắt xuống đất:
- Anh làm hại một đời tôi!
Anh Thừa vẫn thản nhiên, nhại lại:
- Hại!
- Chứ không là làm hại à? Tôi từng này tuổi đầu, đương hơ hớ son trẻ, tôi đã chán đời đâu mà anh bắt tôi nghĩ đến việc chồng con!
Rồi tay xỉa xói, miệng lau láu, hắn thốc một thôi một hồi:
- Anh định bạc tình thì anh bảo. Anh nghĩ xem, Phòng thuốc nhà giàu này mấy tháng nay đông khách là công của ai? Anh đối xử với tôi thế à? Tôi đã giao hẹn cấm anh không được ghen, sao anh vẫn can thiệp vào đời tư của tôi? Có tối nào anh để cho tôi tự do một mình không? Anh chiếm của công làm của tư. Thế mà anh dám hỏi tôi có mang với anh hay với ai à? Bây giờ anh nghe tin tôi có mang, anh định chạy làng. Anh muốn đổ nợ cho ai?
Nét mặt đanh đá hơn, hắn nói bằng giọng cương quyết:
- Tôi bảo cho anh biết trước, là tôi bắt anh phải lấy tôi, cưới xin cho tử tế. Ít lâu nay, tôi định giữ trinh tiết để lấy chồng, nhưng anh không cho tôi được hẳn hoi. Vậy thì tôi nhắc lại. Anh chọc to tai ra mà nghe. Bố tôi là người tu nhân tích đức, nhất định tôi không uống thuốc phá thai. Tôi đương ở tuổi vui đời, nhưng anh ích kỷ, chiếm của công làm của tư, làm cho tôi chán đời sớm, thì anh phải gánh lấy tôi. Anh phải cưới xin đàng hoàng. Bởi là tôi đã hy sinh vì anh. Tôi là vợ cái con cột của anh. Còn mẹ thằng Mão mà bén mảng ra đây, bà thì xé xác!
Anh Thừa đấu dịu:
- Làm gì mà toáng lên thế, để người ta nói nào.
- Không làm toáng mà được với cái mặt xỏ lá ấy à? Tôi truyền hồn cho anh biết trước, là nếu anh không theo đúng ý muốn của tôi, thì tôi còn làm toáng nữa. Tôi ra giữa đường cái, ngay trước cái nhà vàng này, tôi rêu rao tướng lên rằng anh làm tôi chửa, rồi anh định bỏ. Tôi lột mặt nạ thằng y sĩ Trần Đức Thừa cho thiên hạ nhìn rõ. Như vậy, quân ăn cháo đái bát chỉ còn mỗi một đường thoát thân là đâm đầu xuống sông Cái mà thôi, anh có biết không? Tử tế thì cùng tử tế. Giở mặt thì cùng giở mặt. Đây đéo cần!
Nói đoạn, Ma-ri hầm hầm đi ra, đóng mạnh cánh cửa, kêu đánh rầm. Mấy tờ giấy trên bàn giật bắn lên.
Anh Thừa ở lại một mình, bần thần, thở dài. Độ năm phút sau, bỗng có tiếng gõ cửa. Anh vội vàng đeo kính lên mắt, ngồi ngay ngắn lại:
- Xin cứ vào. Cửa mở.
Hai người đàn bà lạ mặt theo Ma-ri vào. Một bà đứng tuổi, béo, da đỏ đắn, sù sù trong cái áo bông xa-tanh. Một bà trạc tuổi Ma-ri, mặc áo xuyến hoa kép, lót hoa lý. Bà này người thanh thanh, mặt trái xoan, mắt dịu dàng, nhưng ánh đỏ của vải căng trong buồng hắt ra, không làm cho nước da bà hồng hào thêm. Anh Thừa biết là bệnh nhân và đoán ngay được rằng bà ta ốm yếu lắm. Thấy Ma-ri không giới thiệu bệnh nhân bằng phiếu như mọi bận, lại tự hắn dẫn vào, anh Thừa hiểu ngay là hắn ghen, không muốn cho anh một mình trong buồng kín với đàn bà con gái. Song, anh lờ như không biết thâm ý ấy. Anh nghiêm trang đứng dậy.
Ma-ri thoạt thấy anh thì cúi đầu chào, như thể từ sáng tới giờ hai người chưa hề gặp nhau lần nào. Hai bà khách cũng bắt chước, cúi chào ông chủ. Ma-ri đứng thẳng người cho lễ phép, trỏ vào bà béo:
- Thưa tiên sinh, bà cử Dần. Ông cử học trường Hậu bổ dưới phố Lò Đúc, năm nay thi soóc-ti.
Bà Cử cười hề hề:
- Vâng, thưa đúng ạ. Ngài tiên sinh chưa nhận ra tôi đấy thôi. Vâng, tôi là bạn thân của cô đốc, và chính cũng là khách quen của Phòng thuốc nhà giàu. Vâng.
Anh Thừa cúi đầu đáp liều:
- Thưa bà, tôi nhận ra rồi.
Ma-ri nói:
- Bà bạn được tiên sinh chữa cho, nay bà đã xơi được nhiều cơm và ngủ được ngon giấc. Bà giới thiệu với tiên sinh một bà cũng bị bệnh như bà.
Bà Cử vừa cười, vừa vội vàng tranh lời:
- Vâng, cô cho tôi nói. Tôi đến đây, trước hết là để cảm ơn ngài tiên sinh đã ạ. Thưa ngài tiên sinh, bà bạn tôi đây là bà Phúc Lâm, buôn tơ ở phố Hàng Đào. Vâng, bạn thân đấy ạ.
Nghe hai tiếng Phúc Lâm, anh Thừa sực nhớ lại hồi tết Trung thu vừa rồi, cụ Điều khen mãi cỗ trông trăng của nhà này bày khéo. Anh nhìn bà Phúc Lâm, gật gật:
- À, thưa bà, thế thì tôi vẫn đi qua đằng nhà. Nay mới được hân hạnh tiếp bà. Hôm rằm tháng tám, tôi lại được vào hẳn trong sân để xem cỗ. Ai cũng phục hoa tay của bà. Thưa cỗ của nhà ta đẹp nhất Hà Nội đấy ạ.
Nịnh xong, anh hề hề cười, rồi hỏi:
- Thưa bà, bệnh bà ra sao ạ?
Bà cử Dần lại tranh lời:
- Bà bạn tôi bệnh cũng như tôi. Ngài tiên sinh xem cho bà ấy, vâng. Rồi ngài xem lại cho tôi. Vâng.
Rồi như để giao hẹn tiếp với Ma-ri, bà tiếp:
- Hôm nay em lại quên, không đem đồng tiền nào. Khỏe rồi, em chả phải uống thuốc nữa. Vâng.
Thấy những lời giáo đầu đã tạm đủ, anh Thừa nói với Ma-ri:
- Thưa cô đốc, nhờ cô làm ơn bảo lấy thêm cho chiếc ghế nữa. Rước các bà giải tọa.
Ma-ri mở cửa, rón rén ra, nhưng không đóng hẳn lại như mọi bận. Anh Thừa mời bà cử ngồi ghế bệnh nhân ở phía ngoài, rồi bắc xa hai cái ghế của cụ Điều và của anh cho rộng chỗ, và nói với bà Phúc Lâm:
- Rước bà quá bộ vào trong này.
Bà Phúc Lâm tuy không bé bỏng, nhưng vẫn giữ bộ điệu rón rén, e lệ của một cô con gái Hàng Đào. Đứng gần đàn ông lạ, bà ngượng. Bà lấy tay nắm khít hai tà áo để che kín cái tí cạp quần bằng nhiễu đỏ. Anh Thừa nói:
- Xin phép bà cho tôi làm việc.
Anh lấy cái ống nghe tim áp vào ngực bà. Bà giật mình, vội vàng lùi lại. Nhưng anh cười:
- Chính bệnh ở chỗ ấy đấy ạ. Chúng tôi kịch liệt công kích các đốc tờ họ cứ bắt bệnh nhân bất cứ đàn ông hay đàn bà, đều phải cởi áo mới thăm nổi tim và phổi. Bởi vì họ kém. Làm thế, thì thật bất nhã với khách. Chúng tôi không bắt chước Thái Tây.
Như được dỗ ngọt, bà Phúc Lâm đứng yên. Anh Thừa áp tai vào ống. Anh nghe. Không hiểu anh nghe cái gì. Có lẽ anh nghe cái hơi ấm áp, cái nhịp phập phồng ở ngực người đẹp. Nhưng hẳn anh nghe cả tiếng chân của Ma-ri xem đã vào buồng chưa. Mùi thơm thơm, chua chua, đặc biệt của áo phụ nữ, của hơi thở phụ nữ, phả vào mũi anh. Song, anh không dám hưởng lâu cái phút dạt dào ấy. Anh bỏ ống ra, cố nghiêm chỉnh lại, nói:
- Thưa, mời bà thè lưỡi.
Anh cốt ngắm lâu đôi môi ăn trầu cắn chỉ thắm tươi.
Vừa lúc ấy, thì Ma-ri cầm cái ghế mây vào, kiễng chân để đi cho nhẹ nhàng. Anh cười:
- Thưa cô lại mang lấy! Mời cô ngồi.
Anh trỏ phía trước mặt bà cử cho Ma-ri đặt ghế. Ma-ri hỏi:
- Thưa tiên sinh chưa bắt đầu?
Bà Cử toan đáp, thì anh vội vàng đánh trống lấp:
- Mới sơ sơ thôi ạ.
Rồi bắc sát hai ghế của cụ Điều và của anh lại gần nhau, anh khoe:
- Thưa hai bà, cô đốc chúng tôi cũng đương học chữa bệnh cho các bà. Cô rất tiến bộ. Bao giờ thành thạo, cô sẽ mở phòng thăm bệnh riêng. Cô là đàn bà, chữa cho đàn bà, chắc hiểu bệnh hơn đàn ông chúng tôi. Mà bạn gái với nhau, các bà kể bệnh, chả phải e ngại gì.
Anh mời bà Phúc Lâm ngồi. Bà lại ngượng, hai tay kéo áo che cho khắp hai cặp đùi bóng vì quần lĩnh. Bộ xà tích bạc, thõng dài xuống, sáng nhoáng.
Anh Thừa đặt hai đầu ngón tay vào mạch máu ở cổ tay bệnh nhân. Lúc anh nâng lên, lúc anh day mạnh. Mặt anh ngửa lên trần, như nghe, như nghĩ.
Lúc này, trong buồng thật yên lặng. Tưởng chừng như tiếng của bốn trái tim cũng được nghe rõ là mỗi trái đập một nhịp khác nhau. Trái tim bà Phúc Lâm thì liên hồi như trống báo động đề phòng có kẻ gian vào nhà. Trái tim bà cử Dần thì chạy nước kiệu cho êm cái việc bà lợi dụng bạn để ông thầy xem mạch công không cho lần nữa. Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng. Trái tim của Ma-ri thì chạy như con ngựa bất kham bị ghìm, không cho phi nước đại, để nén cơn thịnh nộ vừa qua, và trấn cơn ghen bóng hiện nay. Nó muốn nấp kín một chỗ để rình trộm. Còn trái tim anh Thừa thì ung dung, đi thong thả, bước một, để ngoạn cảnh.
- Thưa bà, gái tay mặt, nhưng bà làm ơn cho tôi thăm cả tay trái. Vì mạch bên này hơi chìm.
Bà Phúc Lâm ngồi lại bằng thế khác. Bà phải cố rụt đầu gối cho khỏi gần đầu gối y sĩ quá. Anh Thừa vẫn thản nhiên, nhưng Ma-ri thở dài đánh thượt.
Độ dăm phút sau. anh buông tay bắt mạch, xích cái ghế ra xa. Rõ rằng bà Phúc Lâm như bị đụng chạm ở chỗ nào. Vai bà rùng lên. Mắt bà đảo nhìn xuống.
Anh Thừa mỉm cười, trông hai bà khách:
- Mạch hai bà giống nhau như đúc. Giá tôi không biết hai bà là bạn, thì tất phải ngỡ là hai chị em ruột.
Rồi anh hỏi bệnh nhân:
- Thưa bà, bà được mấy cháu ạ?
Hai gò má bà Phúc Lâm bỗng đỏ ủng. Hai tay bà luống cuống, vân vê tà áo. Bà cử Dần đỡ lời hộ:
- Thưa ngài tiên sinh, vâng, bà bạn tôi còn cao kén lắm đấy ạ.
Bà Phúc Lâm ngượng, cố giữ nét mặt cho ngây thuỗn như không. Nhưng Ma-ri thì hầm hầm. Hắn xô ghé, đứng dậy, đi thẳng ra khỏi buồng.
- Cô đốc! Cô đốc!
Anh Thừa gọi. Nhưng hắn không quay lại.
Hai người khách không hiểu thái độ ấy. Bà Phúc Lâm khẽ khàng hỏi:
- Thưa tiên sinh, ngài xem bệnh tôi thế nào ạ?
Anh Thừa cười, đáp bằng cái ý anh vẫn trả lời mọi người khác.
- Thưa bà, đối với bà, tôi rất khó nói. Tôi tưởng bà chẳng nên biết làm gì cho thêm lo lắng. Tôi vẫn kịch liệt công kích các ông thầy cứ hay dọa dẫm bệnh nhân. Thưa bà, bà đã tin tôi mà đến đây, xin cũng cứ tin ở thuốc tôi bốc.
Bà Cử híp mắt cười ranh mãnh:
- Tôi hiểu rồi. Vâng.
Giọng dí dỏm làm bà Phúc Lâm hiểu. Mặt bà lại đỏ ửng lên, càng ngây thuỗn hơn.
Anh Thừa hỏi:
- Thưa, bà muốn dùng thuốc bột, thuốc nước, hay thuốc sắc ạ?
Bà Phúc Lâm nhìn bà cử Dần. Bà này đáp hộ:
- Ngài tiên sinh cho thuốc gì cũng được, miễn là thuốc hay. Vâng.
- Thưa nhà tôi thì thuốc nào cũng công hiệu như thần, vì nó làm đặc biệt cho bệnh nhân nhà giàu. Có điều thuốc bột hơi khó uống, thuốc sắc thì lích kích. Xin bà cứ dùng thuốc nước pha sẵn cho tiện.
Nói đoạn, anh ghi mấy chữ vào mảnh giấy con. Anh bấm chuông gọi anh Xi:
- Đưa cô đốc!
Bà Phúc Lâm đứng dậy. Anh nhìn đôi mắt bồ câu của bà:
- Bà cũng nên lấy thuốc chữa cả mắt nữa. Cứ mạch bà, thì hai tháng nữa, bà sẽ đau mắt nặng.
Rồi anh dặn:
- Bận sau bà đến đây, xin cứ đi một mình, đỡ phải phiền bà cử.
Bà Cử nói:
- Phải, trước lạ sau quen. Vâng. Có bệnh thì phải thân với ông thầy. Việc gì mà thẹn với ngượng.
Giữa lúc này, Ma-ri đi qua cửa, để vào phòng phát thuốc. Bà Cử nói tiếp:
- Tôi còn nhiều bà bạn ốm, rồi tôi giới thiệu tất cả đến nhờ ngài tiên sinh chữa cho. Vâng.
Chưa dứt lời, bà đã đứng nhổm lên, với cái gối bông để đặt cánh tay lên.
Bà Cử được xem mạch, mặt tươi như hoa. Bà xuýt xoa, nhắc khéo lại là mình không mua thuốc.
- Vâng, thuốc của ngài tiên sinh công hiệu như thần, bây giờ biết là tôi không cần uống thêm nữa, cho nên tôi chả mang theo đồng tiền nào.
Anh Thừa không thể từ chối, phải đặt ngón tay của anh lên cổ tay bấm ra mỡ ấy. Nhưng anh sực nghĩ ra, Ma-ri không có ở đây, thì bà Phúc Lâm phải đền công anh thay cho bà Cử. Anh mời cả bà Phúc Lâm để tay lên bàn cho anh thử lại. Hai tay anh xem hai mạch, đầu gật gù:
- Giống nhau như đúc.
Đương lúc ấy thì Ma-ri vào. Mắt long lên, nhưng hắn vẫn ôn tồn:
- Thưa tiên sinh, tiên sinh xem mạch xong thì xin phép tiên sinh cho tôi được mời hai bà vào buồng phát thuốc.
Bà Cử vội vàng nói:
- Ấy, tôi có phải uống thuốc đâu! Tôi có đem tiền đi đâu!
Anh Thừa bỏ tay hai bà ra. Bà Phúc Lâm chào anh, ra trước. Bà Cử không có lý do để ở lại, bước theo bạn, nhưng cổ quái lại:
- Thưa ngài tiên sinh, ngài xem tôi thế nào ạ? Vâng.
- Thưa mạch tốt lắm rồi ạ.
Bà Cử ra thứ hai.
Ma-ri đi sau cùng.
Ra đến cửa, hắn khép từ từ cánh lại. Bỗng hắn thò đầu vào trong, nói khẽ thật mau:
- Tiên sư thằng sở khanh! Mày xem mạch thế để trêu gan thêm bà nữa phỏng?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IX
NHỮNG MẶT BẤT THƯỜNG  
 
Chị Thừa bế con ra Hà Nội với chồng. Chị hỏi thăm đến được Bờ Hồ. Nhìn cái nhà có gác sơn vàng, chị chắc là chồng chị ở đấy. Chị không biết chữ. Phải hỏi thăm. Đúng là Phòng thuốc nhà giàu.
Lúc ấy chưa phải giờ làm việc. Thấy mở cửa, chị toan vào. Nhưng ở trong lố nhố những người lạ. Chị đặt thằng Mão xuống hè, đứng đợi. Thỉnh thoảng chị quay liếc vào trong, nhìn từng người một. Toàn là đàn ông, đàn bà đứng tuổi. Hẳn là bệnh nhân. Thế thì chồng chị đâu?
Sợ hỏi mà không phải thì ngượng, chị đành chờ. Chị mua cho thằng Mão cái bánh giò, rồi ngồi xổm xuống, bóc lá, bón cho nó ăn.
Lúc ấy, Ma-ri ở bên nhà, thoăn thoắt đi sang Phòng thuốc nhà giàu. Thấy một người ăn mặc nhà quê ngồi ở hè, thì hắn nhìn. Người ấy gọi con:
- Mão! Mão!
Hắn biết ngay là vợ anh Thừa, vả, trước kia đứng trên gác, hắn vẫn trông thấy chị, nên nhớ mặt. Nhưng chị không biết hắn. Bà sếp phó ở trên, chị ở dưới. Bà không xuống sân. Chị chả gặp bà bao giờ.
Thoạt thấy chị Thừa, Ma-ri tái mặt. Tất cả những việc bàn bạc về đám cưới với anh Thừa mấy hôm nay, như sụp đổ trong đầu óc hắn.
Nhưng hắn giữ ngay được bình tĩnh. Đầu gật gật chào khách ngồi trong buồng đợi, tay hắn với cái nút bấm chuông điện ở cửa.
Anh Xi ra. Hắn bảo:
- Có con mẹ nào bế con đến bày bẩn cả hè. Anh đuổi nó đi, kẻo đội sếp đến, họ phạt rác đấy.
Anh Xi ra cửa, toan đuổi. Bỗng anh trông thấy chị Thừa:
- Kìa, chị!
Chị Thừa ngẩng mặt lên, mừng rỡ nói:
- Kìa, chào anh! Tôi cứ tưởng không phải nhà. Anh đưa tôi vào.
Anh Xi đứng im, ra ý nghĩ ngợi, rồi bảo:
- Chị bế cháu đi theo tôi.
Chị Thừa không hiểu, hỏi:
- Thế tôi ngỡ nhà đây?
Anh Xi đáp:
- Nhưng đi cửa khác chị ạ.
Chị Thừa vai đeo nải, tay bế con. Anh Xi ngắm thằng Mão mỉm cười:
- Giống bố nhỉ! Cái cằm! Chị đưa tôi đỡ cháu cho.
Anh dỗ thằng Mão:
- Ra chú. Chốc nữa chú cho kẹo.
Anh âu yếm vuốt ve thằng bé, rồi hỏi chị Thừa:
- Chị ra làm gì?
- Có tí việc anh ạ.
- Việc gì?
Chị Thừa không muốn nói thực, tặc lưỡi nhắc lại câu vừa nói:
- Có tí việc, anh ạ.
Anh Xi băn khoăn:
- Độ này anh ấy bận lắm, mà chị với cháu ra chơi, không biết anh ấy có bằng lòng không.
- Việc gì mà chẳng bằng lòng. Vợ con chứ người ngoài đâu!
Đi được mươi bước, chị hỏi:
- Anh ạ. Tôi hỏi câu này, anh đừng giấu nhé. Cứ đồn về làng là thầy thằng Mão có vợ bé. Có thật hay không, anh?
Anh Xi ái ngại, nhưng cười lạt:
- Chỉ đồn hão. Làm gì có việc ấy. Chả tin, chốc nữa chị hỏi ông hai mà xem.
- Thế mà ở làng cứ ầm lên. Cuối tháng tám, bà Ĩnh con về tìm người kéo xe thay anh, bà ấy mách ông bà tôi là thấy nó có vợ bé. Bà tôi cứ giục tôi ra ngay. Tôi biết là cái lối dì ghẻ con chồng, bà tôi chả ưa gì nhà tôi, lại muốn đuổi không cho tôi ở chung nhà, nên xúc xiểm cho tôi tức. Bà tôi bảo, mày không giữ nó thì mất chồng. Hôm nọ bà Ĩnh con về thăm ông cụ ốm, lại nói đích là nhà tôi lấy đầm, không khéo thì nó mang về Tây mất. Bà tôi lại giục tôi ra.
Anh Xi lại cười:
- Chà! Mấy đời bánh đúc có xương.
Chị Thừa nói tiếp:
- Mấy năm nay, nhà tôi có chơi bời thật, anh ạ. Tôi hỏi thì thú rằng cái nghề buôn bán phải giao thiệp, học khôn lẫn nhau, chẳng lẽ người ta mời mình vài lần, mình không giả nợ lại người ta được một lần hay sao. Chứ có đam mê gì cô đầu đâu… Chẳng qua là thả con săn sắt để bắt con cá sộp. Tôi thấy thày nó vẫn gửi tiền, mỗi tháng lại về thăm vợ con một vài lần, thì tôi tin là nói thật, chả phải ở bên cạnh để giữ. Mặc cho mà lo lắng làm ăn. Nhưng từ ngày vỡ đường, thầy nó không về được, rồi thưa về dần, mà lần nào cũng đi ngay, kêu là bận. Chả biết có đúng hay không?
Anh Xi thở dài:
- Có bận thật, chị ạ.
- Nhưng tôi xem ý nhà tôi khác trước nhiều lắm. Chả kém gì cái hồi ở với nhau trên Đồng Đăng, anh ạ.
Anh Xi lại thở dài. Chị Thừa hỏi:
- Nhà còn xa không, hở anh?
- Không, ở phố Cầu Gỗ, đàng sau.
Rồi như bị xúc động về lời phàn nàn của chị Thừa, anh Xi than thở:
- Anh ấy bây giờ ăn ở khác trước nhiều lắm thật, chị ạ. Năm ngoái, anh ấy với tôi làm ăn với nhau, thật là vui vẻ. Chả có việc gì to nhỏ là giấu giếm nhau. Hai đứa như hai anh em ruột. Nhưng bây giờ anh ấy hách lắm. Hách cả với ông hai. Nhiều lúc, tôi tủi thân lắm, chị ạ. Chị rẽ đằng này.
- Thế sao bảo thầy nó ở ngay chỗ làm thuốc?
- Phải rồi, nhưng chị đi cửa trước không tiện. Đương khách khứa đầy nhà.
- Sao khách nhiều mà tôi chưa thấy thầy nó nhỉ?
- Anh ấy ở trên gác, đến giờ làm việc mới xuống.
Đến một cái cổng gỗ, anh Xi đập và gọi. Then mở lạch xạch, cánh mở ra.
Cụ Điều thấy chị Thừa thì tròn đôi mắt lẫn cái miệng. Một lúc, cụ mói nói như mắng:
- Mẹ con nhà mày ra đây làm gì? Ai bảo ra?
Chị Thừa lại kể cho cụ nghe những lời đồn đại như đã kể với anh Xi. Cụ bảo:
- Tao chỉ sợ nó gắt mày, rồi gắt lây cả chúng tao.
Cụ và anh Xi băn khoăn nhìn nhau. Chị Thừa đoán biết hẳn là có sự gì thật. Chị hỏi:
- Hay lời đồn là đúng, hả ông?
Cụ Điều cau mặt:
- Có gì mà đúng?
Cụ bảo anh Xi đưa chị lên gặp anh Thừa. Anh Xi đùn cho cụ. Thấy hai người có vẻ lúng túng, ngại ngùng, chị bảo:
- Gác trong hay gác ngoài, lên đường nào? Tôi đi một mình được.
Anh Xi trỏ tay:
- Gác ngoài. Thang lên ở sân có giàn thiên lý ấy.
Chị Thừa xách tay nải, bế con đi.
Vừa lên được nửa cầu thang thì chị gặp anh Thừa xuống.
- Thầy thằng Mão đấy à?
Chị chào anh như thế.
Anh Thừa đứng dừng lại, nhìn. Bỗng anh mừng rỡ, cười vui vẻ:
- À, u thằng Mão mới ra!
Anh chạy xuống mấy bậc, giơ tay đón con, cùng lên gác với vợ. Anh hôn hít thằng Mão, và hỏi chị dồn dập:
- Ra chơi hay có việc gì? Cả nhà ông bà bình yên cả chứ? Đi từ lúc nào mà đến được sớm thế?
Thấy chồng như vậy, chị hết cả ngờ vực. Chị tìm ngay được một lý do để đáp, khỏi phụ lòng chồng:
- Ông bà bảo tôi ra thăm thầy nó vài hôm, xin cho thằng Mão ít thuốc cam.
Anh Thừa ôm con vào lòng, nựng nó:
- Khốn khổ con tôi! Con tôi gầy quá thật!
Chị Thừa không muốn hỏi thêm về con ốm thế nào, chị lúi húi cởi tay nải, lấy ra một gói, đưa cho anh:
- Thầy nó thích khế khô tôi phơi được một ít, cứ để dành, đợi mãi chả về.
Anh Thừa cười ha hả:
- Thế thì thích quá! Lâu nay tôi bận việc, không về thăm hai mẹ con được, tôi nhớ quá! Nhất là thằng chó này!
Anh ghì thằng Mão vào lòng, lại hôn hít nó.
Chị Thừa rất hả hê. Chị bảo con làm tất cả các trò mà nó biết cho anh xem để cười. Nó nhăn mặt làm xấu. Nó gọi bá, gọi chề, tức là thày, gọi u. Nó giả cách cười, giả cách khóc. Anh Thừa vui quá, cười như nắc nẻ. Chị cởi áo bông cánh ra, tìm chỗ vắt. Anh âu yếm nói:
- Để ở đâu chẳng được. Gác này là nhà mình, ông hai với anh Xi ở gác trong.
Chị Thừa có ý nhận xét. Một bàn, một ghế, một tủ và một giường nhỏ. Trên bàn, một ấm, một chén. Trên giường, một gối. Và cạnh thau nước, một khăn mặt. Chị bực mình với những cái miệng thêu dệt, với người vợ tây điêu toa.
Anh Thừa nhấm nháp vài miếng khế, rồi đứng dậy:
- Tôi xuống làm việc nhé. Đây là nhà. Muốn gì, u nó cứ hỏi anh Xi hay ông Hai. Hôm nào rỗi, tôi đưa đi xem Gô-đa với Bách Thú.
Qua mặt chị, anh dùng lại, rón hai ngón tay, tuốt một sợi tóc ở thái dương chị. Chị nhìn theo hỏi:
- Gì thế?
- Có tí bụi.
Thấy chồng âu yếm, chị cảm động, nhìn anh xuống đến hết cầu thang.
Ngồi một mình với con, chị ngắm xung quanh. Tự nhiên, chị thấy cái buồng đối với chị cũng có vẻ đầm ấm. Chị ân hận là đã nghĩ oan con người vẫn thương yêu vợ con. Chị nhớ lại những hôm anh về nhà. Trông anh lúc nào cũng đăm đắm, tất bật, như có cái gì làm bận trí. Chị tưởng anh ăn ở khác trước. Thì ra chẳng qua là anh say mê công việc, chứ không phải say mê gái.
Chị thử mở tủ xem có quần áo sứt chỉ hoặc rách, thì khâu vá lại cho anh. Nhưng cửa tủ khóa. Chị tìm quanh, xem có quần áo bẩn thì giặt đỡ anh. Nhưng không có.
Thằng Mão thiu thiu. Chị vỗ khẽ vào vai nó cho ngủ say, rồi đặt nó trên giường. Chị cầm gói khế khô xuống cụ Điều và anh Xi.
Chị hớn hở nhìn hai người, khoe:
- Thầy cháu thấy tôi với cháu thì mừng rỡ quá. Cũng vừa đi làm việc.
Lúc bấy giờ cụ Điều đương tán thuốc. Cụ ngồi trên ghế đẩu cao, hai chân lăn cái bánh xe bằng sắt cho nó đi lại trên chiếc thuyền bằng gang. Anh Xi xắn quần đến bẹn, đương rửa xe, dầu mỡ nhem nhuốc cả mặt.
Hai người thấy chị Thừa tươi tỉnh, thì đều ngạc nhiên mà nhìn nhau. Chị mời họ ăn khế. Cụ Điều hỏi:
- Anh ấy xuống nhà làm việc rồi à?
- Vừa xuống.
Cụ bảo anh Xi:
- Thôi, rửa mặt mũi chân tay, mặc quần áo vào, kẻo chuông gọi bây giờ. Ra chậm, ông ấy lại gắt cho!
Anh Xi không đáp, hỏi chị Thừa:
- Thỉnh thoảng chị có đến chơi đàng thầy u tôi không? Chả biết có đủ ăn không.
Chị Thừa thở dài:
- Đủ ăn thế nào được! Ba năm rồi, năm kia vỡ đường, năm ngoái lụt úng, năm nay đại hạn!
Cụ Điều hỏi:
- Đại hạn mà không cầu đảo à?
- Có, hôm rước, cả quan huyện cũng về. Nhưng vẫn chả mưa. Gặt hái rồi, nhưng suốt làng, chả ai còn hột thóc. Dân làm đơn lên quan xin miễn thuế, xin phát chẩn. Quan hứa mãi, nhưng đã có gì đâu!
- Thế chị có năng lại thăm nhà tôi với các em không?
- Có. Khóc dở mếu dở đấy ông ạ. Bà dặn ông có dư thì gửi tiền về, chứ cả làng, cả tổng, chả ai có mà vay mượn tạm được.
Chị sực nhớ ra, nói:
- À, ông với anh Xi phải nhớ ngày đóng công sưu mà gửi tiền sơm sớm về. Chứ ở nhà thì chạy đâu ra. Kỳ thuế vừa rồi, các ông ấy kìm kẹp anh Bách thế nào mà gãy cả ngón tay. Tôi cũng phải bảo nhà tôi gửi tiền sưu về mới được. Chả có bà cháu phải nộp, bà cháu cứ chửi tôi.
Cụ Điều và anh Xi rầu rầu. Anh Xi nói:
- Mình ở ngoài này, chả biết gì. Cứ nhìn Hà Nội thì tưởng cả nước phong lưu.
Chị Thừa cười mát mẻ:
- Thế mà vừa rồi, làng còn được mua hai phiếu quốc trái, lấy tiền gửi về Tây cho nhà nước đánh giặc Đức. Quan bảo là được mua đấy nhé.
Nghe nói đến quốc trái, đến Tây, đến Đức, cụ Điều hỏi thăm tin người làng:
- À, thằng Trương có năng thư từ về nhà nó không?
- Đến gần năm nay, chả có giấy má gì. Dễ thường anh ta chết ở bên ấy rồi.
Anh Xi nói:
- Sao tôi thấy báo đăng những thư của lính mộ ta gửi về, thư nào cũng viết khoe là họ sung sướng lắm kia mà? Và ảnh người nào cũng béo tốt. Có người ngồi chụp cả với tây đầm.
Chị Thừa tặc lưỡi ra vẻ không tin:
- Nào ai biết được là thế nào?
Anh Xi lại hỏi:
- Thế ở làng có cái gì mới lạ, vui vui, hay toàn cảnh đói rách?
Chị Thừa nghĩ một lát, đáp:
- Có. Làng ta mới làm cái ấu chữ.
Cụ Điền dừng chân, ngớ mặt, hỏi lại:
- Ấu chữ là cái gì?
- Thằng Mão nhà tôi cũng phải đến ấu chữ một lần, bị cảm nắng suýt chết đấy, ông ạ.
Cụ Điền đoán ra, cười:
- À, thế thì gọi là Ấu trĩ viên, là cái vườn cho trẻ con đến phải không?
- Vâng. Tôi cứ thấy gọi thế thì tôi cũng gọi thế.
- Ấu trĩ viên đặt ở đâu?
- Ở đống bãi tha ma ngay sát đường cái tây ấy.
Anh Xi nói:
- Ở đấy thì xa làng, không tiện nhỉ.
- Nhưng quan bắt làm ở đấy, tiện cho xe pháo đi ở đường cái tây trông thấy. Làng nào ở ven đường ô tô, ven đường đê, đều phải dựng ấu chữ. Làng ta, các cụ đã khấn quan, xin cho làm ở sân đình, nhưng quan không nghe. Chính quan về cắm ở đống bãi tha ma đấy. Đận ấy cũng lại khổ không kém đận mua quốc trái. Cơm đã chả có ăn, thế mà giai gái làng, từ mười sáu trở lên, phải đi phu hết, để cất mả, san đất. Quan hẹn mười lăm hôm phải xong.
Cụ Điều hỏi:
- Thế mười lăm hôm có xong không?
- Không xong có chết với ông ấy! Làng Đông Mạc chậm có hai hôm, mà lý trưởng suýt phải cách đấy. Cho nên ông lý làng ta sợ xanh mắt, ốp ngày ốp đêm, bắt người ta bỏ cả công việc. Cũng sục sạo bắt bớ cùm kẹp dữ tợn như ngày đốc thuế ấy. Thế mà đã hết chuyện đâu. Lại còn phải dỡ đình phường, lấy gỗ, lấy gạch ngói, tải ra đấy xây nhà nữa chứ!
- Ai xây cho?
- Phải thuê chợ. Lại bổ vào dân! Công thợ thì ít, nhưng vào mồm các ông thì nhiều. Bây giờ làng làm xong ấu chữ rồi. Nhưng quan huyện rộng cho là chỉ ngày nào quan Sứ đi qua, thì trẻ con mới phải đến. Còn ngày thường, được miễn. Hôm cuối tháng tám, có giấy huyện sức là quý quan sắp đi qua. Thế là ông lý bắt dân đến ấu chữ, giẫy cỏ, quét sân, lau ghế, rồi cắm cờ, bày hương án bái vọng. Sáng sớm hôm sau, tôi phải bế thằng Mão đến. Khốn nạn, hôm ấy nắng quá. Đường thì xa, nhà thì ẩm, mốc. Tôi cho cháu ra, tưởng được về ngay, nào ngờ chờ cho đến gần chiều mới thấy tiếng còi ô tô. Thành thử mẹ đói, con đói. Trong ấu chữ, suốt ngày lúc nào cũng có tiếng trẻ mỏ khóc như ri. Chúng nó bé mà tinh thế. Dỗ thế nào cũng cứ đòi về.
- Có độ bao nhiêu trẻ?
- Đông. Giấy quan sức ba làng phải đưa trẻ đến cơ mà! Dễ gần một trăm. Chả ai trốn nổi với ông lý. Thằng Nùng, con bác Sẹo, đương ốm, mẹ nó cũng phải bế đi.
Anh Xi hỏi:
- Quái, lại mới có lệ điểm danh trẻ con à?
Cụ Điều cười:
- Anh này mới cổ nhân chứ! Ấu trĩ viên là cái vườn trẻ. Ở các nước văn minh, làng nào cũng có một ấu trĩ viên. Nước ta có ấu trĩ viên, thế là nước ta cũng văn minh. Thật là đáng mừng. Có ấu trĩ viên thì cha mẹ gửi được con để đi làm việc.
- Gởi ai?
- Có người trông, gọi là bảo mẫu.
- Làng ta, ai trông trẻ?
Chị Thừa đáp:
- Bà cụ Tư Tịnh.
- Ôi giời ôi! Con mẹ ấy mà trông trẻ thì nó đánh chết con người ta mất!
- Thật đấy. Ai dám giao con cho bà ấy! Nhưng cũng chỉ mới có một hôm ấy bà ấy ra đấy, gọi là cho có mặt thôi. Chứ mẹ nào vẫn phải trông con ấy. Cho đến lúc nghe tiếng còi ô tô, ông lý mới đuổi chúng tôi ra sau nhà, để một bà cụ ở lại. May quá, trẻ không phải khóc lâu thêm, vì quan sứ thấy các cụ mặc áo thụng ra đường đón thì bảo xe dừng lại một tí, rồi đi ngay.
- Quan sứ không vào ấu trĩ viên à?
- Không.
Anh Xi thở dài:
- Làng ta phải gánh vác nhiều việc, nào quốc trái, nào ấu trĩ viên, khổ nhỉ!
- Nhưng được quan huyện sức về khen.
Bỗng có tiếng chuông gọi. Anh Xi cầm dăm miếng khế, vội vã chạy ra. Chị Thừa hỏi cụ Điều:
- Sao bảo ông cũng bốc thuốc?
Cụ gật:
- Lúc nào cần đến tôi thì tôi bốc. Anh ấy làm một mình cũng được.
- Nghe nói còn những ai giúp việc nữa kia mà?
- Phải, còn cô đốc.
- Cô đốc như đốc Giô-dệp Phăng-đi lấy bà Ĩnh con độ trước ấy à?
- Không. Đây là đốc học, to lắm. Cô này hình như đỗ đốc học.
Chị Thừa ngạc nhiên:
- Kìa, tôi tưởng làm thuốc thì phải là đốc tờ?
Cụ Điều gật đầu:
- Ừ, phải, dễ thường đốc tờ. Công việc bận lắm. Cho nên thấy chị ra, tôi cứ lo là không khéo thì anh ấy gắt.
Một lát chị Thừa lại hỏi dò:
- Ông ơi, hay là nhà tôi có vợ bé mà giấu, ông không biết chăng?
Cụ Điều cười:
- Ăn ở nhà này, ngủ ở nhà này, chứ ở đâu mà tôi không biết?
- Thế cô đốc ăn ở đâu, ngủ ở đâu?
- Ở nhà cô ấy chứ ở đâu? Người ta thiệt đứng đắn là gái chưa chồng, chị đừng hỏi thế, mang tiếng người ta.
- Tên cô ta là gì?
- Là Ma-di.
- Sao lại là Ma-di?
- Hình như là đầm lai. Tôi trông cái mặt không phải là An-nam. Nhưng tôi cũng chả hỏi. Việc ai người ấy biết, người ấy làm. Mấy lị, chị không nên nghi ngờ gì. Anh ấy với cô ấy là chỗ người lớn với nhau. Tuy làm với nhau, nhưng anh ấy một điều thưa cô đốc, hai điều thưa cô đốc, mà cô đốc thì gọi anh ấy là ông Trần, nói với anh ấy thì thưa tiên sinh. Tôi tinh mắt lắm, chả ai làm gì mà giấu nổi tôi. Cho nên tôi cam đoan với chị là hai người thiệt trong sạch như băng tuyết.
Chị Thừa có ý chế nhạo:
- Tôi thấy ông hồ đồ lắm. Cái gì cũng hình như. Tôi yên tâm được, không phải vì tôi tin lời ông, mà vì tôi thấy nhà tôi gặp vợ con thì mừng rỡ. Cho nên tôi chẳng nghi gì.
- Đấy. Ở xa, chỉ nghe tiếng đồn hão. Oan người ta.
Bỗng anh Xi vào gọi cụ Điều ra tiếp khách. Cụ lên gác trong để sắm sửa quần áo. Chị Thừa hết người nói chuyện ra gác ngoài với con.
 
* * *
 
Chờ đến lúc ngớt khách, Ma-ri mới vào buồng thăm bệnh gặp anh Thừa. Hắn cũng giả vờ tươi cười, càng lộ vẻ mặt đanh đá. Hắn hất hàm hỏi:
- Có khách phỏng?
Anh Thừa cười lạt, không đáp. Hắn đay:
- Vui nhỉ! Có người ta ra có khác. Mặt hớn hở như được vàng!
Anh Thừa vẫn im. Ma-ri tiếp:
- Này. Chốc nữa hết giờ, anh sang ngay bên tôi, tôi hỏi một tí nhé.
Anh Thừa gật đầu:
- Được.
Rồi hai người không ai nói với ai. Bỗng giữa bầu không khí nặng nề, Ma-ri bưng mặt, nức lên. Hai vai hắn rung rung. Hắn chạy ù ra ngoài.
Anh Thừa nhìn theo, lắc đầu thở dài. Sau hôm Ma-ri nổi trận lôi đình, thì anh Thừa giận lắm. Anh làm mặt lãnh đạm. Anh chỉ nói với hắn về công việc, bằng những tiếng lẻ, hoặc những câu ngắn nhất. Còn suốt ngày anh lầm lì.
Ma-ri đối với anh cũng vậy, không nói, không rằng.
Tối hôm ấy, để tỏ ý trừng phạt, anh không sang với hắn như mọi khi. Anh nằm trên gác, vặn tắt đèn, cương quyết nuôi căm hờn.
Nhưng càng nghĩ đến Ma-ri, anh càng không ngủ được.
Hết trằn trọc lại thở dài. Y như người nghiện nhớ bữa thuốc vậy. Anh nghĩ đến giờ này, mọi tối, anh được Ma-ri đương đưa anh vào cõi mộng, làm cho anh quên sự thật ở đời. Bây giờ, dưới anh là cái chiếu mỏng với lượt thang giường bằng gỗ cứng. Bỗng anh thở dài như rên. Anh muốn biết trong phút anh sống cô độc thế này, thì Ma-ri làm gì? Hắn cũng buồn khổ như anh, hay vắng trăng thì đã có sao. Được tự do, hắn đương nằm trên tay người khác? Vậy là anh đã dại dột mà thả lỏng hắn để rồi mất hắn à? Anh nhớ tiếng dịu dàng, giọng ỏn ẻn ấy. Anh nhớ dáng dấp tha thướt, cử chỉ nhanh nhẹn ấy. Anh thương con người đau khổ. Anh phục con người nhanh trí khôn. Tự nhiên, anh thấy rằng anh không thể xa cái người đã gần gụi anh mấy tháng nay, tận tâm về công việc như người bạn thân, an ủi về tâm thần như người vợ quý. Ngẫm đến thái độ lạnh nhạt của anh, anh thử xét xem có là quá lắm không? Trước hết, anh thấy là không quá lắm đâu. Anh không hối hận chút nào. Anh phải làm cho Ma-ri thấy rõ là không phải lúc nào anh cũng mềm yếu. Nhưng nghĩ đi anh lại nghĩ lại. Anh có nên quá cứng rắn như thế này không? Anh hơi hối hận. Anh mong Ma-ri mềm yếu hơn anh lúc này, không chịu được nỗi lẻ loi trống trải, phải sang đây xin lỗi anh. Anh dỏng tai để nghe. Có phải có tiếng động của chân Ma-ri nhẹ nhàng bước lên cầu thang không? Anh sẽ được nghe thấy tiếng cười làm lành, hoặc tiếng khóc nũng nịu, làm cho nỗi căm hờn của anh vụt tiêu tan hết. Anh sẽ làm mặt giận nữa để trêu Ma-ri, cho đến lúc Ma-ri nức nở to lên, anh mới sằng sặc cười, rồi loan ôm phượng, phượng bồng loan… Nhưng không có tiếng động nào ở thang gác cả. Đồng hồ nhà thờ lại điểm thêm một tiếng chuông nữa là ba rồi. Thế mà anh vẫn luẩn quẩn. Thỉnh thoảng, anh có chợp mắt một tí, thì lại nằm mê thấy Ma-ri. Nhưng một tiếng soạt của chiếc lá rơi trên mái hiên làm anh sực thức ngay, óc anh đã lôi anh về với thực tại.
Anh vùng ngồi dậy, mở rộng cửa, nhìn ra đường. Gió bấc lọt vào lạnh lùng. Phố vắng tanh, cả Hà Nội đương ngủ say. Chỉ có anh với những ngọn đèn kia là còn thức, nhìn nhau. Anh cố rướn mình ra ngoài để ngó sang nhà Ma-ri xem bên ấy có còn đèn sáng hay không. Nhưng vì vướng cây, anh không nhìn được. Thôi, thế cũng tốt. Bởi vì đèn sáng là tại người còn thao thức, nhưng cũng là tại còn có một chàng nào đó nằm thay chân anh, chưa về.
Anh muốn ngủ đi để khỏi luẩn quẩn. Cái đêm này dài quá! Anh bật đèn, tìm một cuốn sách cũ để đọc cho dễ ngủ. Anh nằm mở từng tờ. Đến một trang rách in bài thơ mất đoạn đầu, anh đọc:
 
Hôm nay không gặp em,
Suốt ngày nằm lịm im,
Mong ngủ chẳng ngủ được,
Chợp mắt là thấy em.
Nhớ tiếng em dịu dàng,
Nhớ dáng em thướt tha,
Thương tình em buồn phiền,
Thương sức em yếu ớt.
Hồi tưởng buổi thu sơ,
Gặp gỡ không hẹn hò,
Hai tâm hồn đau khổ,
Say sưa vì vần thơ.
Đông về, gió bấc lạnh,
Cô miên cùng một cảnh,
Ôm, ấp, ủ, tình nhau,
Bạn bè cũ xa lánh.
Xuân sang tình tốt tươi,
Chén đồng càng nhắp vui,
Vũ trụ cũng là nhỏ,
Chỉ tình yêu to thôi!
Đêm hè trời xanh trong,
Vằng vặc trăng dòm song,
Lăn lóc ta ngâm vịnh.
Thơ hay tình càng nồng.
Mừng trời tựa đôi ta,
Yêu nhau ngày thiết tha,
Hôm nay hơn hôm qua,
Nhưng lại kém mai xa.
Mỗi ngày bao kỷ niệm,
Bút thần tả mới xiết.
Lo tính việc cho nhau,
Tương lai như gấm dệt.
Tan tác có ngờ đâu.
Ái ân chưa bao lâu,
Một phút không nén giận,
Ngàn thu mang hận sầu.
Một ngày không gặp em,
Như mười năm biệt ly!
Một ngày sống xa em,
Lạnh lùng lòng như chết!
Em ơi, em, em ơi!
Trời ơi, trời, hỡi trời!
Kêu trời mãi chẳng thấu,
Gọi em, em xa rồi!
Nhớ ai, gió gào mãi?
Thương ai mưa khóc hoài?
Gió mưa thêm sầu thảm.
Lòng anh càng tơi bời!
Văn nhân với giai nhân,
Gặp gỡ được bao lần?
Trời đã để sum họp,
Sao như áng phù vân?
Hợi xưa, khóc vu quy,
Ngọ sang, khóc tử quy,
Ai ngờ đến năm Thân,
Lại khóc em biệt ly?
Mười năm mất ba bạn,
Nghĩ kiếp mà chán ngán,
Mười năm khóc ba lần,
Mấy hồ lệ không cạn!
Nhớ nhau, tiếng thở dài,
Thương nhau, dòng lệ rỏ,
Tâm sự mình biết mình,
Lặng lẽ mà đau khổ!
Từ nay trên đường đời.
Đôi ta, người một nơi.
Hiu quạnh! Ôi hiu quạnh!
Mái tóc trắng như chơi!


Đọc xong bài thơ, anh Thừa thở dài. Sao mà tâm sự của tác giả giống tâm sự của anh thế!
Anh đọc lại một lần nữa, rồi ngồi lên, lấy bút chép nó ra tờ giấy. Anh đã có ý định. Chép xong, anh đút bài thơ vào túi, nằm vắt tay lên trán.
Lòng được nhẹ tênh tênh, anh thiu thiu.
 
* * *
 
Sáng hôm sau, anh xuống nhà làm việc. Vừa vào buồng, anh đã thấy Ma-ri ở trong ấy, đương xếp lại chồng phiếu ghi tên người ốm. Mắt Ma-ri thâm quầng, mặt Ma-ri rầu rầu, cử chỉ Ma-ri ẻo lả. Đúng là người mệt nhọc vì mất ngủ. Anh làm mặt nghiêm, không nhìn Ma-ri. Ma-ri cũng làm mặt nghiêm, không nhìn anh. Bỗng tự nhiên, không ai bảo ai, hai người cùng trông trộm nhau. Thế là cùng nhoẻn cười. Anh đứng dậy, chạy đến, ôm chầm lấy Ma-ri. Ma-ri cũng chạy lại, ôm chầm lấy anh. Y như giả cách giận nhau, hai người cùng thổn thức.
Thế là xí xóa hết. Quên cả bệnh nhân đương chờ đợi, anh kể nỗi nhớ nhung đêm trước cho Ma-ri nghe. Ma-ri cũng thổ lộ tâm sự sầu thảm cho anh nghe. Anh móc túi, lẳng lặng đưa Ma-ri xem bài thơ chép lại. Ma-ri ngả đầu vào ngực anh để đọc. Đọc xong, Ma-ri ngước lên nhìn anh, thỏ thẻ:
- Em cũng thế.
Đôi mắt và đôi môi mới tình tứ làm sao!
Nhưng hôm nay, chị Thừa bế thằng Mão ra một cách đột ngột.
Anh Thừa bực với vợ lắm, nhưng cố làm như vui vẻ. Song, anh thấy chị không tỏ vẻ gì là định đánh ghen, phá đám cưới, lại còn nói năng âu yếm, đem quà khế để dành cho anh, thì không những anh yên tâm, mà còn cảm động nữa.
Đã có lúc anh đau khổ mà nghĩ đến một ác ý. Bỏ chị này hay bỏ cô kia?
Ma-ri đẹp, khôn, giúp anh được nhiều việc. Nhưng Ma-ri quỷ quyệt, đối với anh chưa thật lòng. Bây giờ Ma-ri muốn lấy anh. Nhưng lúc chán anh, thì có thể thay chồng dễ dàng như thay áo. Vợ anh quê mùa, nhưng thật thà, trung hậu. Bị anh lừa dối, đày đọa bao nhiêu phen, mà vẫn nhẫn nại chịu đựng. Thế mà bây giờ, anh toan làm tình làm tội vợ anh, vì anh bị Ma-ri làm tình làm tội. Vậy có nên bỏ một người hiền lành, vô tội, không bao giờ bỏ mình, để lấy một người quỷ quyệt, tinh quái, vẫn dọa mình là không phải người yêu cuối cùng?
Tự nhiên anh thấy thương quý chị Thừa, và ghét khinh Ma-ri. Anh không thể xử với vợ như đã xử với người nhân tình Múi được.
Việc tổ chức cưới Ma-ri mười phần anh đã tiến hành được đến sáu bảy. Giấy báo hỷ và giấy mời dự tiệc đương in. Nhà thuê để đón dâu đã mặc cả xong. Người đi phù rể, đón dâu và phù dâu, đưa dâu, của hai họ, là những người thế nào, anh đã thỏa thuận với Ma-ri, và về bên nhà trai, anh tìm được gần đủ. Người dự tiệc là những ai, anh và Ma-ri đã đồng ý. Tiệc đặt hiệu nào làm, anh đã đi hỏi. Đám cưới đi đường nào, xe pháo khứ hồi phí tổn bao nhiêu, anh đã ghi vào sổ tay. Cô đầu hàng Giấy, cô đầu Ấp, ai có thanh, ai có sắc, anh đã chấm tên rồi. Hôm cưới, cô dâu ăn mặc thế nào, chú rể ăn mặc thế nào, anh và Ma-ri đã đến các hiệu Phan Đức Thành, Phan Hòa Thành, Phan Thái Thành, Phan Cự Thành, Phan Hưng Thành trên Hàng Ngang xem hàng rồi. Cho đến khoản hồi môn của cô dâu mang về nhà chồng, và khoản cha mẹ chồng mừng cho cô dâu là những gì, anh với Ma-ri đã thu xếp với nhau xong. Chỉ còn việc định ngày cho hai người đi đăng tên ở phòng giá thứ ngoài sở Đốc lý. Ma-ri sẽ lấy tên là Marie Quyên (do hai tiếng Thuyền quyên), và anh, là Albert Thừa. Có mà trời cũng không biết là ai. Nếu có người làm lôi thôi, cản trở đám cưới, thì chỉ là vợ anh. Nhưng vợ anh đang ở nhà quê, không ai biết chữ, lại không ai nói cho mà biết, thì làm sao mà nhờ pháp luật giữ chân anh được? Lúc ấy, anh sẽ làm một việc cuối cùng nữa, là nhờ người xem ngày tốt, thì đón dâu thôi.
Nhưng mà việc cưới xin mới ở trong thời kỳ sửa soạn, chưa thực hiện. Anh có thể thôi hết, miễn là chịu phí một vài món tiền đặt, và miễn là… anh có thể… lật Ma-ri như lật bàn tay.
Lật Ma-ri. Anh tính đến cách lật Ma-ri. Tự nhiên, anh hốt hoảng. Văng vẳng bên tai, anh như nghe thấy những lời Ma-ri dọa là làm toáng lên cho anh tuyệt đường sinh kế. Tất Ma-ri làm thế thật, chứ không chịu yên. Nhưng anh có tuyệt đường sinh kế không? Nhất định không. Ma-ri chỉ có thể phá anh trong một nghề làm thuốc. Khi anh dứt khoát với Ma-ri, anh sẽ đổi nghề. Ở Hà Nội này, thiếu gì cách sống? Chỉ có là láu cá thì làm giàu mau. Cùng lắm, anh làm việc ăn no, vác nặng, đi phu bắt-tê cũng không đói.
Anh đương lan man nghĩ đến đây thì Ma-ri vào. Nghe tiếng Ma-ri hỏi chua chát là có khách, anh bực mình. Khi cái giọng ấy đay nghiến là vui nhỉ, anh đã định đáp: “Chứ không ư?” nhưng khi nghe Ma-ri nức nở, anh mới xót xa làm sao! Y như cổ họng anh bị nghẹt. Y như trái tim anh bị xé nát từng mảnh. Anh cũng nghẹn ngào, dào dạt.
Anh có nỡ lòng đày đọa con người thế kia phải khổ vì anh không? Mấy tháng này, anh được đầy đủ cả về vật chất lẫn về tinh thần, là vì có người này hết sức chiều chuộng. Không biết có người vợ nào khéo lựa ý muốn của chồng, như Ma-ri cư xử với anh hay không? Lúc anh lúng túng, Ma-ri giải quyết giúp. Lúc anh buồn phiền, Ma-ri an ủi, làm anh lại vui vẻ như thường. Không rõ những người lấy vợ Nhật Bản thì được toại nguyện thế nào, chứ mấy tháng, anh ở với Ma-ri, là mấy tháng anh hưởng cảnh thần tiên, quên đời, thoát tục. Anh như sống giữa trung tâm của vũ trụ, quanh mình không có gì, không có ai. Chỉ có hai trái tim hòa theo một nhịp. Thật thế, chỉ có một đêm xa Ma-ri, anh đã thấy nhớ, thấy thương, thấy buồn khổ, chán nản, thấy cô đơn, bỡ ngỡ, buồng phổi như không thở, trái tim như ngừng đập, lạnh lùng lòng như chết. Người ta thường nói mê nhau vì ăn phải bùa mê bả dột của nhau. Nhưng làm gì có bùa bả, việc gì phải bùa bả. Cái nó làm cho trai gái say nhau, gần nhau thì vui, xa nhau thì khổ, ấy là hai tâm hồn hợp nhau… như anh với Ma-ri.
Nghĩ về Ma-ri, anh lại nghĩ đến vợ anh hiện đương ở trên gác. Vậy thì nên bỏ ai?
Bỏ người vợ mà cha mẹ lấy cho anh, nhưng không bao giờ người này có ý định bỏ anh? Hay bỏ Ma-ri mà anh lấy cho anh, nhưng lại chỉ như con bướm, bỏ anh lúc nào anh không lường trước được? Rồi anh nghĩ những ngày anh ở với vợ anh. Ngày ấy, anh làm phu kíp trên Đồng Đăng, làm cu li kéo quạt cho thằng Tu-nô. Ngày ấy, anh nghèo, anh bị khinh, bị nhục. Nhưng từ ngày anh gặp Ma-ri, Ma-ri bày cách cho anh, anh trở nên giàu có, được người đời kính nể, có những bạn hữu sang trọng. Chính Ma-ri cũng giới thiệu với anh quen cả Tây. Hay cái số anh không hợp với vợ anh, và Ma-ri có tướng vượng phu?
Anh như con chạch trong giỏ cua, như người đứng giữa hai ngọn súng lục. Khó xử quá!
Anh thở dài.
Bỗng có tiếng gõ cửa. Anh Xi vào, nói:
- Cô đốc vừa về, nhắn mời anh sang chơi ngay.
Anh Thừa đứng dậy:
- Anh bảo nhà tôi là tôi đi thăm bệnh một lát nhé.
Anh sang nhà Ma-ri.
Ma-ri đương ngồi ủ rũ một mình, thấy anh, lại bưng mặt nức lên. Anh vội vàng chạy lại, vuốt tóc, vuốt vai Ma-ri, khẽ gọi:
- Em! Em!
Ma-ri ngẩng lên, lau nước mắt, chớp chớp nhìn anh, rồi lại òa khóc. Anh lại dỗ:
- Em! Em!
Ma-ri thổn thức:
- Anh cho em khóc hết nước mắt, rồi hãy nói chuyện.
Anh Thừa thở dài, nhăn nhó nhìn Ma-ri. Anh ôm đầu Ma-ri ấp vào ngực anh. Lúc này, anh cũng thấy rõ tim anh đập rộn ràng, như hòa nhịp với tiếng tấm tức của Ma-ri.
Chừng độ năm phút sau, Ma-ri mới nín được. Mặt đau khổ, Ma-ri lại chớp chớp nhìn anh, đôi mắt lờ đờ như ngây. Bỗng một nhịp cười như xé, cười giòn, cười lâu, cười sặc, cười sụa như hóa dại. Anh Thừa ôm chặt lấy Ma-ri, vuốt ngực Ma-ri:
- Em! Em!
Ma-ri không cười nữa. Mệt. Thở hổn hển. Anh Thừa dịu dàng nói:
- Em! Anh có điều gì với em đâu?
Ma-ri lại nức lên mà cười, không đáp. Anh Thừa lại sợ hãi. Một lát, hắn vừa thở, vừa nói:
- Cho em chén nước.
Hắn ngồi lên, uống nước, vấn lại tóc, rồi nói:
- Em chết mất! Tính mạng em là ở trong tay anh.
Anh Thừa đau đớn, đáp:
- Thì có làm sao?
Hắn hổn hển hỏi:
- Anh giết em, hay cho em được sống với anh?
Anh Thừa chưa kịp trả lời, thì Ma-ri trợn ngược mắt, quờ quờ hai tay, ngã lăn xuống, mình mẩy run cầm cập. Anh vội vàng vực Ma-ri lên giường, lấy khăn mặt thấm nước lã, ấp lên trán Ma-ri, và gọi.
Chừng mươi phút, Ma-ri cựa, từ từ mở mắt ra. Ma-ri nhìn anh, nhìn mãi, rồi ứa hai giọt lệ, lăn xuống má.
Anh Thừa lắc đầu, thở dài:
- Em! Em nghĩ về anh thế nào mà đến nỗi như thế này?
Ma-ri thều thào mấy tiếng:
- Anh thế nào thì anh biết hơn em.
- Anh hôm qua thế nào, thì hôm nay vẫn thế. Anh là của em. Bởi vì em là của anh.
Anh ôm đầu Ma-ri, quỳ gối trên sàn gác, cúi xuống hôn vào má. Ma-ri bá lấy cổ anh, hỏi thầm vào tai, kéo dài từng tiếng:
- Có thật không anh?
Anh mỉm cười, cũng dài giọng:
- Thââật!
Cái lối nũng nịu nhau quen thuộc này có sức tiếp sinh khí cho Ma-ri. Ma-ri như khỏe ra. Hắn ngồi dậy, búi tóc, vui vẻ nhìn anh:
- Thế anh định xử thế nào với hắn?
- Ra thì cứ ra. Ở thì cứ ở. Việc ta ta cứ làm.
Ma-ri ôm chầm lấy anh, hí hí cười:
- Thế thì em sống rồi!
Hắn đứng dậy, rút ngăn kéo, lấy cái kẹo, bẻ ra làm đôi, đưa anh một nửa, và ngâm:
- Một lời đã hứa, trăm năm từ đây!
Anh Thừa mỉm cười, thong thả thò tay ra. Anh chưa cầm. Có lẽ vì óc anh đương bối rối. Bỗng tay anh bị phát đánh đét một cái. Mặt Ma-ri sầm lại:
- Không ngon bằng khế khô của người ta phỏng?
Anh Thừa tái mặt. Không ngờ Ma-ri tinh quái, cái gì cũng biết. Hắn lại dồn:
- Ăn nửa cái kẹo sợ no, không ngồi tiếp cơm người ta được phỏng?
Anh Thừa cười:
- Hứa bằng bụng chứ cần gì hứa bằng kẹo. Nuốt kẹo để nuốt lời à?
Ma-ri tươi tỉnh:
- Thế thì được. Em không tủi thân nữa.
Anh Thừa móc cái đồng hồ quả quýt ở túi thắt lưng da ra để xem giờ. Ma-ri hỏi:
- Sốt ruột về với người ta phỏng?
Anh Thừa nghiêm mặt đáp:
- Không sốt ruột, nhưng đến giờ thì phải về. Em nên bình tĩnh, đừng hơi thấy một cử chỉ cỏn con của anh là nghi hoặc, rồi đay nghiến anh, làm cho anh khổ tâm. Em bình tĩnh thì anh được bình tĩnh. Anh bình tĩnh thì em cũng được bình tĩnh. Có bình tĩnh mới để cho nhau làm nổi việc. Việc chúng ta là việc quan hệ, việc trăm năm, lâu dài. Em chỉ nên nghĩ làm sao cho nó có kết quả, đừng để ý những cử chỉ vụn vặt của anh. Nhiều khi vì muốn đạt mục đích chính, mà anh cố ý cho hắn thấy những cử chỉ vụn vặt để đánh lạc hướng mắt hắn đi.
Ma-ri khen:
- Đàn ông trí lớn hơn đàn bà.
- Đúng rồi. Chỉ nghĩ đến những điểm vụn vặt, thì lo toan sao được việc lớn. Nhưng chỉ lo toan những việc lớn mà không nghĩ đến những điều vụn vặt cũng không được. Cho nên trời sẽ cho chúng ta lấy nhau là đúng. Anh định liệu việc lớn lao, trong khi ấy, em quán xuyến việc vụn vặt, thì việc gì không thành công.
Ma-ri cười. Anh Thừa giao hẹn:
- Cho nên từ nay bất cứ anh nói gì, anh làm gì, em không được nghi ngờ, mà phải tin rằng để làm cho đám cưới chúng ta linh đình vui vẻ. Anh đã nói hắn ra thì cứ ra, ở thì cứ ở, việc ta ta cứ làm. Vậy thì anh phải luôn luôn đánh lạc hướng cho hắn không biết một tí gì, không trông, không nghe thấy sự thực.
Ma-ri ngớ mặt:
- Kìa, thế em tưởng hắn ra để phá ta. Hẳn thằng già hay thằng trẻ ở nhà này bắn tin về.
Anh Thừa lắc đầu:
- Không. Tình cờ mà ra thôi.
- Thế thì được. Chứ không, anh phải tra xem đứa nào bép xép, thì vả cho tan họng ra.
Anh Thừa nói:
- Cho nên việc ta, ta cứ tiến hành, nhưng phải kín đáo. Có kín đáo, ta mới cưới nhau ngay trước mắt hắn, mà hắn không biết. Hắn ở Hà Nội với anh, mà suốt ngày chúi trên gác, thì có khác gì bị bịt mắt. Cùng lắm, hắn có hỏi, thì lại hỏi lão già và thằng Xi, chứ còn quen ai nữa. Hỏi hai thằng này, có khác gì không hỏi. Hắn muốn ra khỏi nhà này, thì một là anh, hai là thằng Xi đi kèm, vậy còn biết cái gì. Thằng Xi có thể ăn nói hớ hênh, nhưng đã không nghi, thì hắn chả hiểu được.
- Thế thì anh kèm hắn tốt hơn.
- Anh vẫn làm thế. Cho nên anh mới bảo em là dù anh làm gì với hắn cũng không phải là thay lòng đổi dạ.
Ma-ri gật:
- Em tin lời nói của anh. Nhưng muốn em tin cả việc làm của anh là không thay lòng đổi dạ, thì em giao cho anh một nhiệm vụ.
- Nhiệm vụ gì?
- Để chốc nữa, trước khi anh về, em sẽ nói.
- Em nói đi. Anh về đây.
Ma-ri đứng dậy, ra cửa, khóa lại, rồi rút chìa, đút vào túi. Mặt hắn đanh đá nhưng hắn cố nói cho dịu dàng:
- Việc em muốn bảo, là thế này: em chưa là vợ anh thì không được ghen ngược. Nhưng em yêu anh, không thể không ghen. Dù sao thì trong thời gian vợ anh ở với anh trong một căn gác riêng, em cũng không cho phép anh được trò chuyện với hắn. Muốn vậy, thì mỗi ngày hai lượt, trước khi ngủ trưa và ngủ tối, anh phải sang đây một lát, một lát thôi, với em, để phá sức lực đi.
Thấy Ma-ri tai ngược, anh Thừa chưa biết xử lý thế nào. Anh hỏi đùa:
- Thế thì em phải trả tiền anh chứ? Tại em cơ mà?
Ma-ri cười:
- Anh còn nợ em bao nhiêu, anh có nhớ không?
Rồi nghiêm trang, hắn tiếp:
- Tùy anh đấy. Muốn dò lòng anh, em chỉ có cách ấy. Anh có chiều nổi ý này của em bắt đầu từ trưa hôm nay không?
Anh Thừa cúi sâu đầu, kéo dài tiếng để liều:
- Được!
 
* * *
 
Làm xong nhiệm vụ với Ma-ri, anh Thừa về nhà. Anh vẫn vui vẻ với vợ và con. Chị chưa ăn cơm. Chị chờ anh.
Bữa hôm nay có món thịt chuột, chị mang ở nhà quê ra. Thấy vợ săn sóc đến mình phải xa nơi chôn nhau cắt rốn, anh Thừa vui sướng quá:
- Đi xa thì nhớ nhà, nhớ quê. Thỉnh thoảng được hưởng những thứ của quê nhà, cũng vợi được buồn.
Trong khi ăn, chị nhắc lại cho anh nghe những tin của làng, vừa nói với anh Xi và cụ Điều buổi sáng. Hai người này cũng ngồi quanh mâm để nghe một lần nữa. Anh Thừa hỏi thăm từng người trong họ của anh và của chị đói no thế nào. Anh than thở:
- Tôi chỉ ước ao được rỗi vài ngày, thì về quê, thăm khắp họ hàng, bà con. Ở gần, hay coi thường nhau, nhưng ở xa mới thấy nhớ nhau, mong gặp nhau.
Chị Thừa cho là chồng nói ý nhớ mong mình, chị hể hả lắm.
Ăn xong, cả bốn người không ai muốn đứng dậy, vì không dứt được chuyện. Anh Thừa, cụ Điều và anh Xi hỏi hết việc này đến việc khác ở trong làng.
Nghe chị nhắc việc gửi tiền đóng công sưu, anh Thừa tặc lưỡi:
- Ở đâu đóng thuế đấy cho tiện.
Chị Thừa lắc đầu:
- Không được. Thế là bỏ làng à?
Anh Thừa đáp:
- Nhưng có thẻ nhà quê, mà ở Hà Nội, không có thẻ thành phố, cũng vẫn bị bắt và bị phạt. Chả có khối người mới ở nhà quê ra Hà Nội chơi, đi đường lớ ngớ gặp đội sếp hỏi thẻ đấy à? Thế là bị bỏ bót ngay hai mươi bốn giờ đồng hồ, còn bị nộp tám hào phạt nữa.
Anh thở dài:
- Hay là đóng cả hai nơi?
Cụ Điều cau mặt:
- Ông có tiền mới làm thế được, chứ chúng tôi chịu sao nổi một cổ hai tròng?
Cả bốn người cùng im lặng. Chị Thừa còn kể thêm cả những việc không ai biết mà hỏi. Cụ Điều nghe vui tai, khen chị:
- Con mẹ này ít lâu nay hay nói hơn trước. Anh Thừa cười:
- Chồng phú quý thì vợ phải biết ăn nói để giao thiệp chứ.
Rồi anh khen:
- Nhà tôi được cái tốt là ít lâu nay không biết ghen. Thấy thỉnh thoảng tôi kể là đi cô đầu, nhà tôi cũng chẳng nói gì.
Chị Thừa hơi thẹn:
- Đừng giấu giếm thì chả ghen.
Cụ Điều nói:
- Đàn ông chơi bời là thường. Làm giai năm thiếp bảy thê. Mấy lị anh ấy vẫn bảo giao thiệp để học khôn, sao gọi là chơi bời.
Chị Thừa nhìn chồng, trách bằng giọng âu yếm:
- Ở nhà cứ đồn ầm lên là thầy nó có vợ bé đấy.
Anh Thừa tái mặt, nhưng làm như cứng rắn để thăm dò:
- Thế u nó ra đây để khám phá phải không? Đã đánh ghen với ai chưa?
Chị cười:
- Nào ai tin mà ghen với tuông! Nếu có vợ bé thì trên gác phải khác kia chứ.
Anh nhạo:
- Thế là bế con ra mất công toi! Đã thế, tôi giữ ở lại, không cho về nữa. Thật đấy!
Chị Thừa đỏ bừng mặt.
Buổi trưa hôm ấy, anh Thừa không nghỉ. Chị muốn giục anh đi nằm một tí kẻo làm việc cả ngày mệt nhọc. Nhưng chị giữ ý, sợ chẳng ai biết bụng chị thương yêu chồng, lại cho là chị háo hức thì chị ngượng chết.
* * *
Song, tuy ngày nào chị cũng được chồng đối xử nồng nàn, thân mật, nhưng chị không khỏi không có điều hậm hực. Hậm hực mà không tiện nói ra với ai. Là ngay từ tối đầu tiên, anh đã thú thật với chị để nhận một tội lớn, là anh mắc bệnh giang mai. Chị đay nghiến anh một lúc, nhưng vì anh đã trót dại, cơ sự đã rồi, chị chỉ còn việc khuyên anh nên chữa cho khỏi, kẻo mà không sinh đẻ được nữa.
Ở trên gác với con cả ngày thì buồn, chị hay bắc ghế ra cửa ngồi nhìn đường. Chị muốn qua chơi phố nọ phố kia, nhưng đi một mình sợ lạc. Vì vậy, chị cũng hay sang nói chuyện với cụ Điều và anh Xi. Chị vá quần áo rách cho cụ Điều. Chị tán thuốc, thổi cơm, gánh nước hộ anh Xi. Vốn hay lam hay làm, chị để chân tay không thì buồn, cho nên muốn được hoạt động.
Chị chưa định hôm nào thì về nhà quê. Vì chả mấy khi mới cất công ra thăm chồng, vả lại, trừ cái việc riêng kín của anh chị đối với nhau, mà không ai biết, anh vẫn tỏ ra là một người chồng tốt, biết thương vợ, yêu con. Anh đã đưa chị đi nhiều phố vui ở Hà Nội. Chị đã được nhìn thấy con hổ, con báo. Chị đã đứng xem mãi cái thang máy ở nhà Gô-đa. Và chị cũng đã bốn tối đi xem hát, ở rạp Quảng Lạc, ở rạp Sán Nhiên Đài, ở rạp Đồng Lạc, ở rạp Kinh Kỳ Hý Viện Hàng Quạt. Chị tấm tắc khen đào kép hát hay, phông cảnh đẹp.
Lạ mắt nhất là chớp ảnh. Các ông tây bà đầm chỉ không nói ra tiếng được thôi, còn thì cũng đi đứng, ăn uống, giơ tay chân, mấp máy môi như người thật.
Chị lại được đi xe điện lên Bưởi xem dệt lĩnh. Và được đi xe cao-su xuống chợ Hôm mua thịt quay. Chẳng cứ gì thằng Mão trông thấy phố xá tấp nập những người, thì nó reo suốt dọc đường, chính chị hưởng những cái thứ mới lạ, chị cũng thấy thích.
 
* * *
 
Một hôm, anh Thừa nói với chị là phải đi vắng xa, chẳng biết tối nay có về được không. Chị bảo anh bận việc thì cứ đi, chị ở nhà một mình cũng được.
Anh khuyên chị nên vào chùa Trầm, trong Hà Đông, mà xem phong cảnh. Anh dặn anh Xi dẫn chị.
Thấy chồng thương chị ở nhà một mình, chị cười:
- Được, thầy nó mặc tôi.
Trước khi xuống gác, anh hôn hít thằng Mão mãi, rồi đóng tất cả cửa chớp, cửa kính trông ra đường. Anh nói:
- Để tránh nắng hanh và gió bấc. Con nó khỏi bị cảm. Trời này độc lắm.
Được chồng chu đáo với mình và săn sóc đến con từng li từng tí, chị muốn cảm ơn Trời Phật. Thành thử chị chả thiết đi đâu cả.
Buổi trưa hôm ấy, ăn cơm xong, cụ Điều và anh Xi lên gác trong để nghỉ. Chị Thừa không có ai để chuyện, nên rỗi. Chị về gác ngoài. Thằng Mão đã ngủ. Còn mỗi mình chị thức. Chị đặt con vào chỗ khuất. Rồi ra mở cửa kính, hé một cánh cửa chớp, bắc ghế, ngồi nhìn phố.
Bỗng từ phía tay phải chị, có một đám cưới sắp tới. Bốn người mặc áo the chùng, quần thắt lưng xanh ra ngoài, đội bốn mâm cau tươi, trên trùm chiếc khăn điều. Rồi đến hai quả phù trang sơn son, mỗi quả hai người gánh bằng một cái đòn cũng sơn son. Rồi cuối cùng là bốn con lợn quay, đặt trên bốn cái bàn vuông, mỗi bàn bốn người khênh. Cau, phù trang và lạn đi hàng một, đều được che lọng xanh. Người cầm lọng mặc áo màu nâu đỏ. Sau những thứ dẫn cưới, là một đoàn xe song mã đi lóc cóc bước một. Chị mới được xem đám cưới đi bằng xe cao-su, đã cho là sang lắm rồi. Anh phu xe nào cũng đội nón sơn đỏ, mặc áo cộc đỏ, sau lưng, khâu miếng vải trắng, hình tròn như mặt trời. Cô dâu ngồi xe nhà sơn đen, cho khác với xe hàng sơn cánh gián. Không ai thấy được mặt cô đẹp hay xấu. Vì bị bịt cánh gà hai bên, đàng trước còn đậy kín mít bằng cái nón nghệ quai thao mới, trắng, to tướng. Chỉ thấy ở phía dưới nón, bốn ống quần lĩnh mới của cô dâu và cô phù dâu. Sau xe này là xe con sen, ngồi một mình, đặt trên đùi cái tráp trầu tròn, phủ bằng vuông nhiễu cánh sen. Cuối cùng là xe người đội sếp, quanh áo thắt chiếc thắt lưng da to bản, ống quần quấn xà cạp vải, tay cấm chiếc roi mây. Thế là trẻ phố hỗn hào táo bạo đến đâu cũng phải hốt. Đố đứa nào dám nói trêu, hoặc lách que vào kẽ cánh gà để chọc cô dâu.
Đám cưới xe song mã thì lần này chị Thừa mới được thấy là một. Tất là sang hơn. Vì chỉ những người lắm tiền nhiều của mới thuê nổi những chiếc xe lớn, đẹp, kéo bằng hai ngựa. Chị đếm: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín mười chiếc. Mẹ ơi! Sao mà nhiều thế!
Đoàn xe qua nhà chị. Xe nào cũng để mui trần. Sáu xe đi trước chưa có người ngồi. Chị đoán đây là họ nhà trai đi đón dâu. Xe đầu đến ngã tư, thì đỗ. Các xe sau, lần lượt dừng ở sau. Chiếc thứ bảy, hai cụ ngồi. Hai cụ có búi tóc, chít khăn quấn, cùng mặc áo gấm và quần tây dạ. Một cụ đeo thẻ bài ngà ở ngực. Xe này đến cái nhà cách nhà chị hai căn, thì đỗ. Hai cụ xuống. Pháo nổ ran.
Chị cố né mình ra để nhìn vào họ nhà gái. Nhưng vướng cây và mái hiên. Xe thứ tám qua. Có hai bà đứng tuổi. Bà đeo kính trắng mặc áo xa-tanh. Bà không đeo kính mặc áo gấm, cổ và tay ngộn lên những vàng. Xe thứ chín là ba cô con gái, quấn tóc trần, mặc áo gì hoa ấy, chị không biết, mặt bự những phấn. Đến xe cuối cùng. Bỗng chị ngờ ngợ. Sao có một người giống chồng chị thế? Chị nhìn kỹ. Chồng chị ăn mặc hơi lạ, nhưng có cái cằm lẹm thì trộn đâu cũng không lẫn. Đúng là anh Thừa.
Anh Thừa đội khăn xếp bằng nhung đen, mặc áo gấm hoa màu lam, chân đi giày Huế đỏ thêu. Cạnh anh, là một người trạc tuổi anh, đội khăn lượt, mặc áo xa-tanh đen và quần tây tím, dận giày tây vàng.
Chị tự hỏi xem trong bốn người đàn ông này, ai là chàng rể. Không lẽ là hai ông cụ đi đầu tiên. Không lẽ là chồng chị. Chồng chị đương mắc bệnh tiêm la kia mà! Hẳn là cái anh ngồi cùng xe này. Vì là chú rể ấy, cho nên những người họ nhà trai, chị mới không biết mặt ai.
Nhưng chị nghĩ lại. Giá chú rể ăn mặc như chồng chị mới đúng. Vừa sang trọng hơn, vừa tiện cho khi lễ, khỏi phải cởi giày.
Xe ấy đỗ trước cửa nhà gái. Hai người xuống đất.
Trẻ phố chỉ trỏ chồng chị, lắp bắp nói những gì, xa quá, chị không nghe rõ.
Chị muốn sang gác trong, đánh thức cụ Điều với anh Xi dậy, để mách việc lạ này. Chưa nói được với ai, chị cứ luẩn quẩn nghĩ một minh. Có lý nào chồng chị cưới vợ không? Nhà bên ấy là nhà ai? Chị thử ôn lại xem từ hôm chị ra đây, chồng chị có làm gì đáng nghi là lập tâm lừa dối chị để lấy vợ lẽ giấu chị hay không? Những cử chỉ vồn vã, vui vẻ có là lừa dối không? Những lời lẽ ôn tồn, âu yếm có là lừa dối không? Hay là những buổi đi chơi, xem hát, xem chớp ảnh, là lừa dối? Hay là cả cụ Điều, anh Xi, cũng đều vào hùa với chồng chị mà lừa dối chị? Chồng chị đã lừa dối chị nhiều lần, nay kiếm tiền của thiên hạ cũng bằng cách lừa dối, thì có lý nào riêng đối với chị, độ này anh lại thành thật không?
Chị đứng không yên, ngồi không yên. Chị đắn đo, chị suy xét. Chị muốn biến thành con ruồi, bay sang nhà bên kia để nhìn, để nghe cho rõ sự thực.
Chị lại nhìn ra cửa. Đoàn xe đã quay đầu lại. Chốc nữa, chị sẽ được nhìn cho đến hết đám cưới, xem đích thực chú rể cô dâu là ai.
Có tiếng ho ở trong gác. Chị cuống queo, gọi:
- Ông Hai ơi, anh Xi ơi, ra ngoài này ngay mà xem, có sự lạ lắm!
Hai người đi ra. Chị mở rộng hai cánh cửa, trỏ tay, và tả tỉ mỉ từng người mà chị trông thấy.
Cụ Điều né nhìn xuống đường, rồi ngớ mặt trông anh Xi:
- Quái, nhà cô đốc à?
Anh Xi cũng nhìn:
- Ừ, nhà cô đốc thật.
Cụ Điều hỏi:
- Thế là thế nào nhỉ? Hay đám cưới ai ở nhà ấy họ mời anh ấy chăng?
Rồi cụ lẩm bẩm một mình:
- Có lẽ nào anh Thừa lấy cô đốc mà không mời mình?
Chị Thừa hỏi dồn:
- Thế nào, thế nào, hở ông? Mọi ngày ông thấy nhà tôi với cô đốc có tình ý gì với nhau không?
Cụ Điều ngơ ngác, lắc đầu:
- Không.
- Anh Xi thấy thế nào?
- Tôi cũng không.
- Thế sao nhà tôi lại cưới cô đốc?
Mắt chị trợn, chị run bắn chân tay. Thằng Mão thấy động, thì cựa, rồi khóc. Chị bế nó. Nó vẫn khóc. Hẳn là yên trí thế nào đấy, chị nghiến răng đay nó:
- Khóc mẹ mày đấy à? Bố mày lấy vợ đương vui, mày không cười lên được à!
Chị cắp nó ở cạnh sườn, đăm đăm nhìn ra cửa. Cả cụ Điều lẫn anh Xi cũng nhìn. Chị nói tất cả những điều chị vừa nghĩ về chồng chị cho hai người nghe. Rồi chị đứng im, chờ.
Chừng hơn một giờ đồng hồ sau, bọn trẻ đứng lố nhố ở cửa, bỗng giãn ra hai bên. Chị biết là đám rước dâu bắt đầu.
Chị vội vàng bế thằng Mão, chạy xuống gác.
Cụ Điều kéo áo, giữ chị lại. Nhưng soạt một tiếng, mặc cho áo rách, chị cứ chạy.
Chị ra buồng đợi. Nhưng cửa khóa. Anh Xi nhất định không cho chị mượn chìa để mở. Chị đành chạy về cửa sau, ra phố Cầu Gỗ, sang phố Bờ Hồ.
Hai chiếc xe đầu đã đi qua đến tận nhà ga xe điện. Chị không được thấy những ai. Xe thứ ba, thứ tư, thứ năm. Toàn những người lạ. Đàn ông, đàn bà, ai cũng ăn mặc rất sang. Chị vén vạt sau của áo chị, gài cao lên cho khỏi lòng thòng xuống đất. Chị vừa đi vừa tất tả chạy. Hàng phố có người nhìn theo chị. Lúc chị đến trước cửa Phòng thuốc, thì xe thứ sáu bắt đầu chuyển bánh. Bốn người đương lên xe thứ bảy và thứ tám. Chồng chị với người phù rể đã đứng ở hè. Cô dâu và người phù dâu cũng đã ra khỏi cửa. Chị biết ai là cô dâu, vì ăn mặc khác cô phù dâu. Hai người đều áo gấm huyền, giày văn hài thêu, nhưng cô dâu chít khăn vành dây màu quan lục và gài ở ngực áo một bông hoa to bằng cái bát, tết bằng lụa màu đào. Chị chưa rõ mặt cô dâu, vì cô ta cầm mùi soa lau mắt, đứng quay lưng lại chị để nói gì với một bà già khăn nhiễu tam giang, áo nhung đen. Chắc bà này là mẹ. Trong ngày vu quy, lúc thiếu nữ từ biệt gia đình để rẽ sang đường mới; gánh vác nhiệm vụ mới, không ai không khỏi cảm động, nhớ nhung, tiếc cái đời con gái, gặp khó khăn đều nương vào mẹ cha.
Chị Thừa đứng đợi. Mắt chị đã hoa lên rồi. Tai chị đã ù lên rồi. Trẻ phố nhảy lên câng câng và trỏ vào chồng chị:
- Chú rể! Chú rể lẹm cằm, chúng mày ạ!
Và trỏ vào cô dâu:
- Cô dâu! Tây lai lang ben, anh em ơi! Bạo hơn cô dâu An-nam!
Chị Thừa lạnh toát người, run bắn lên. Không còn ngờ vực nữa! Chính là cô đốc! Chị bế cao thằng Mão bước ra tận mép hè.
Anh Thừa và người phù rể lên xe. Xe qua mặt chị. Chị trông rõ là chồng chị đương cười nói với bạn, và đến nhà, thì ngước nhìn lên gác. Chị muốn nhảy xổ ra, túm lấy tên phụ bạc, cắn, xé, đập, phá, cho tan tành. Nhưng chiếc song mã đã vụt qua.
Xe cô dâu bắt đầu đi. Chị đã thấy mặt kẻ thù và biết hắn là ai rồi.
Xe qua mặt chị. Chị trừng trừng mắt để nhìn cho rõ hơn. Cô đốc cũng trông thấy chị. Không hiểu muốn khiêu khích hay sao, hắn chằm chằm vào chị, rồi bĩu đôi môi đỏ chót, nghẹo cổ một cái.
Bỗng một tiếng thét như xé, chị Thừa ngã lăn ra hè. Thằng Mão vập đầu vào gạch xi-măng, lộn xuống rãnh, cũng khóc thét lên. Mặt chị xám ngoẹt. Chị nằm, bất tỉnh.
Lúc ấy, chiếc xe ngựa đã vụt qua. Cô phù dâu ngoái cổ nhìn lại. Nhưng cô dâu thản nhiên, hỏi:
- Nó ngất thật hay ngất kiểu cánh mình thế?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
X
VIỆC BẤT THƯỜNG  
 
Đoàn xe đám cưới đi thật thong thả, lên Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, qua chợ Đồng Xuân thì rẽ sang Hàng Khoai, quay về Hàng Cót, Hàng Gà, Hàng Điếu, đến bãi chợ Hàng Da thì rẽ sang Ngõ Trạm, để quặt về Hàng Lờ, Hàng Bông cây đa cửa quyền, Hàng Bông đệm, Hàng Hài, sang Hàng Trống, đến nhà Thư viện thì dọc theo Bờ Hồ, đến ga xe điện, rồi quặt về Hàng Tiện.
Từ Phòng thuốc nhà giàu đến nhà cô đốc có năm thước. Từ Phòng thuốc nhà giàu đến nhà thuê tạm hai hôm để cưới ở đầu phố Hàng Tiện, cách nhau độ hai trăm thước. Nhưng đám cưới đã tiến tước quanh co gần khắp các phố chính của Hà Nội. Một tràng pháo dài treo từ sân gác thượng, rủ xuống quá mái hiên, nổ ran, kêu giòn, tỏa khói thơm và tung xác lăn tăn đỏ như rắc cánh hoa xuống mặt đất.
Hàng phố đổ ra xem đông nghịt. Ai cũng chờ xem mặt tân lang và tân giai nhân.
Xe cuối cùng dừng bánh. Ai nấy trầm trồ nhìn. Cô phù dâu giương phứt cái ô máy lợp lụa tím che trước mặt cô dâu. Rồi nâng dắt tay cô đứng dậy. Cạnh hè, lúc ấy, một cô, dễ thường là em chồng, đứng chờ sẵn, giơ tay, đỡ cô dâu xuống đất.
Ba cô phải đứng lại, chờ cho pháo nổ hết. Cái ô được kéo rụt lại cho kín cái mặt đương thẹn thò. Hàng phố được dịp nghiêng ngó, dòm vào tận mặt con người sung sướng. Tiếng thì thào bình phẩm:
- Đẹp quá! Trẻ quá! Thơm quá! Sang quá!
Có người xông xáo dám hất mạnh cái ô lên cao để cho cái mặt phải lộ ra.
Nhưng họ không thấy được. Mặt cô dâu còn được cô che lần nữa bằng cái quạt nan trầm, phết giấy tàu trắng, vẽ sơn thủy xanh đỏ.
Khi tiếng pháo dứt, ba cô bắt đầu vào nhà. Cô dâu đi giữa hai cô dìu hai bên.
Hàng phố còn cãi nhau. Người bảo nước da cô dâu tự nhiên. Người rằng cô có đánh phấn.
Tuy đã giấu mặt thật kín sau cái ô và cái quạt, nhưng cô dâu cũng cúi gằm xuống. Cô rỉ rén, tiến từng bước, y như là bẩm sinh ra không biết đi nhanh. Cô theo hai người đi hai bên, nâng hai cánh tay để dắt.
Ba cô bước lên hè. Ô cụp lại. Nhưng cô dâu vẫn che quạt trước mặt, cúi gằm, đi giữa đám họ hàng đứng lố nhố, đương yên lặng nhìn cô. Cô theo hai người dẫn vào buồng ở lớp nhà trong. Ngồi xuống ghế, cô đặt quạt lên bàn, thở đánh phào, tủm tỉm nhìn bạn.
Chừng mười lăm phút sau, cô em chồng mời cô dâu ra sân tế Tơ Hồng. Cô lè quả ô mai đương ngậm ở miệng ra, rướn mình, nhảy thật cao, để vứt hột qua cái lỗ cửa nhỏ. Cô đánh lại phấn, kẻ lại môi, bôi thêm tí nước hoa, rồi mặc áo thụng bằng nhiễu hoa đỏ xong, cô xòe quạt để che mặt, thong thả bước theo hai cô dìu hai cánh tay, mặt lại cúi gằm.
Bàn cúng Tơ Hồng bày ở sân, quay chếch về hướng nam. Cô không dám nhìn ai, nhưng cô thấy những ống quần và những giày dép. Quần lĩnh dài lượt thượt quét đất, quần chúc bâu là đứng nép, quần tây dạ hẹp ống, dép cong quai nhung, dép Nhật có quả bông đỏ, giày Gia Định mũi vuông, giày mõm nhái mũi nhọn, giày tây vàng mũi cồng, giày ban da láng mũi dẹt. Cô được dắt đến mép cái chiếu hoa mới. Cô thấy giữa chiếu có một người đứng rồi. Cô hơi ngẩng lên. Thấy cái gấu áo thụng lam, đôi ống quần nhiễu trắng, đôi bít tất tơ kẻ màu hạt dẻ, cô biết đó là chàng.
Cô bước chân vào chiếu, định tiến lên cạnh chồng, bỗng có tiếng ông già nói:
- Thôi!
Rồi đến tiếng:
- Cô dâu phải ngồi dưới chú rể một tí mới phải phép.
Cô ngồi, mặt vẫn nấp sau quạt, xếp hai chân bằng tròn cho gọn. Cô phù dâu cúi xuống, kéo cho cô cái vạt áo sau, rải lại vuông vắn, và xếp cái vạt áo trước, che kín hai vế đùi.
Lúc này, xung quanh im lặng, một sự im lặng thiêng liêng. Văn tế chữ nho đọc ngân nga từng tiếng xong, bỗng cô nghe loạt soạt bên cạnh. Cô liếc mắt, vừa thấy chàng bắt đầu lễ, thì có bàn tay ấn đầu cô xuống:
- Lễ đi!
Cô làm theo. Hai tay cô chắp, nhưng vẫn che được quạt trước mặt. Cô cúi lưng, gục xuống chiếu, thì cái quạt từ từ xếp lại. Khi cô thẳng lưng, ngồi dậy, cái quạt lại xòe dần ra mà che kín mặt cô.
Có người thì thào:
- Tây lai mà lễ khéo nhỉ!
Cô thong thả lễ, không rõ đã mấy lần rồi, khi toan cúi lưng lần nữa, thì có cái tay ghìm đầu cô lại. Cô hiểu là đã đủ bốn lễ. Cô đứng dậy, cúi vái ba vái, rồi lùi ra mép chiếu.
Cô toan xỏ chân vào đôi văn hài, thì cô phù dâu níu lại:
- Còn hợp cẩn đã.
Một ông cụ tháo dây thép chằng nút chai sâm banh, lấy ngón tay cái ấn cho cái nút ra dần. Có tiếng nhắc:
- Nghiêng nghiêng cái chai, kẻo rượu phụt ra hết nhé.
Lại có tiếng cười:
- Thời buổi văn minh có khác, hợp cẩn ở ngoài sân, lại bằng rượu sâm banh.
Tất cả mọi người hồi hộp nhìn cái nút chai. Bỗng một tiếng nổ bốp! Ai nấy nảy đánh thót. Riêng cô dâu, tuy không trông thấy, nhưng không giựt mình.
Hai cốc pha lê được rót gần đến miệng. Bọt ngầu ngầu tan dần, hạ thấp mặt rượu xuống. Ông cụ lại rót thêm cho đầy. Rượu vàng sóng sánh trong cốc, in vào thành pha lê những màu quần áo ở xung quanh.
Ông cụ cầm hai tay hai cốc, đưa một cốc cho chú rể, một cốc cho cô dâu.
Cô dâu đương lúng túng vướng cái quạt che mặt, thì cô phù dâu giật phắt lấy. Mặt cô bây giờ thành lộ thiên.
Cô suýt phì cười, vội vàng đưa mắt nhìn xuống, giơ hai tay cầm cốc rượu. Lại có cái tay ấn vào vai cô:
- Ngồi xuống.
Cô ngồi.
- Quay lại chú rể chứ!
Cô quay lại.
Cái tay dí mạnh vào đầu cô. Hai tay cầm cốc rượu, cô lạy chồng hai lạy. Chồng cô cầm rượu, vái trả cô một vái.
Có người nhắc:
- Đứng dậy.
Cô đứng lên.
- Mời rượu chú rể đi.
Cô giơ cốc bằng hai tay, đôi mắt vẫn gằm xuống chiếu. Chú rể đỡ lấy, rồi đưa cốc của mình cho cô.
- Uống đi.
Cô thong thả kề thành cốc vào môi. Mấy chục con mắt nhìn theo. Vì lễ hợp cẩn là quan trọng, cho nên cô dâu nào cũng bắt buộc phải nhấp một tí rượu, nhưng bị cay, cô nào cũng nhăn nhó, nhổ phì phì, trông đến buồn cười. Mọi người cũng chờ để cười đây. Nhưng cô dâu này uống, uống một hơi, cạn hết cốc sâm banh. Cô nhấp môi, đưa cốc cho cô phù dâu.
Người ta không được cười thì trố mắt nhìn nhau. Một tràng pháo nổ ran, reo mừng đôi trẻ thành vợ chồng.
Ông Tơ bà Nguyệt đã làm xong nhiệm vụ. Chàng và nàng đã trao cho nhau cốc rượu xe duyên, nguyện sống với nhau đến đầu bạc răng long. Bây giờ hai người mới lễ mừng tuổi cha mẹ.
Nhưng tuy là chỗ thế gia vọng tộc, đáng lẽ đám cưới cần phải theo nhiều nghi lễ phiền phức, song vì thấy nhà gái tinh giảm, miễn cho nhiều lệ, nên nhà trai cũng noi gương. Hai cụ Hàn là bố mẹ chồng, bởi vì anh Thừa tố lên thế, ngồi trên sập, cụ ông nói với con trai và con dâu bằng giọng dõng dạc:
- Thầy mẹ thì già, việc trăm năm của hai con, thầy mẹ để quyền cho hai con. Thầy mẹ chỉ biết mừng cho hai con thôi. Đáng lẽ theo con là người đã du học bên Tàu lâu năm, đám cưới phải làm đúng như tục lệ bên Tàu. Hợp cẩn xong, hôm nay các con lễ mừng tuổi thầy mẹ, rồi mai, vợ chồng về quê nhà, bái yết gia tiên ở từ đường, và ngày kia, sang nhạc gia làm lễ nhị hỉ. Thầy mẹ cũng nhận rằng thế mới hợp lý, bởi vì thế mới đúng trật tự. Sau đêm động phòng hoa chúc, thấy vợ là người trinh bạch, thì chồng mới về nhạc gia nhận cha mẹ vợ, nhận họ hàng, tổ tiên của vợ là của mình, nhưng vì cụ bên ấy là người giản dị, cụ đã miễn cho từ lễ chạm ngõ, cho đến lễ vấn danh, cụ cũng xin thôi cả lễ nhị hỉ, cho nên thầy mẹ rất phục cụ, tuy là đàn bà, nhưng thức thời, ở thời đại văn minh, thì theo tục lệ văn minh. Vì vậy, thầy mẹ bắt chước cụ, cũng miễn cho hai con không phải lạy. Thầy mẹ mong hai con thương yêu nhau, bách niên giai lão, con độc đẻ cháu đàn, nối dõi tông đường, ngày sau, đứa nào cũng khoa hoạn đều hiển đạt, làm rạng rỡ gia đình, nối nghiệp các cụ nhà ta. Thầy đã hèn không làm quan được, con lại ưa đường thực nghiệp cũng là tốt, nhưng đến đời các cháu, thì nhất định phải nối gót tổ tiên cho thầy mẹ vui lòng. Thầy mẹ nghèo, không có nhà của, ruộng nương cho hai con, chỉ gọi là có tí chút này, cho hai con để kỷ niệm ngày vui vẻ nhất đời của hai con.
Cụ ông nói xong, cụ bà há tròn miệng, nhón hai ngón tay lau vết quết trầu ở đầu mép, rồi đưa cho Ma-ri một cái hộp màu hồng. Cụ mở ra cho mọi người nom thấy. Có hai cái vòng vàng, bọc trong giấy bóng, một cái chạm, một cái trơn. Cụ hỏi:
- Mợ thích cái nào, mẹ đeo ngay cho.
Nhưng không chờ con trả lời, cụ lấy cái vòng chạm mở rộng ra, đeo vào cổ cho Ma-ri.
Cô dâu chắp hai tay, mắt nhìn xuống, miệng tủm tỉm. Cụ gật gật:
- Đẹp! Đẹp!
Rồi cụ mở một hộp nhỏ, lấy ra hai cái nhẫn trơn, vừa cười vừa nói:
- Đáng lẽ nhẫn ba-dê thì cậu tặng cho mợ, mợ tặng cho cậu mới đúng phép văn minh. Nhưng cậu ấy bắt thầy mẹ sắm để cho, thì thầy mẹ cũng chiều lòng. Nào, trước mặt thầy mẹ và hai họ, cậu đeo cho mợ, mợ đeo cho cậu đi!
Cụ đưa cho con trai một chiếc, con dâu một chiếc. Ma-ri nắm bàn tay lại, dựng ngón thứ tư lên để anh Thừa đeo nhẫn cho. Rồi hắn đeo nhẫn vào ngón tay của anh Thừa. Nhưng vì ngượng, hắn chỉ để hờ vào đến giữa đốt thứ hai thôi. Tiếng nói đùa:
- Phải một tay nắm ngón, một tay ấn nhẫn vào mới chặt.
Một nhịp cười rộ vang như để chế cô gái ngây thơ, chưa bao giờ biết da thịt người đàn ông vậy.
Cụ Hàn bà cũng cười để ái ngại cho con dâu đương thẹn:
- Nhà ta có phúc kén được nàng dâu hiền. Trông con bé hiền lành, trung hậu, giống cụ đốc như đúc.
Cụ gọi cụ đốc để chỉ người đẻ ra cô đốc, tức là mẹ Ma-ri, dâu gia của cụ.
Rồi quan viên hai họ chuyện trò với nhau rất vui vẻ, thân mật. Bên nhà trai có hai cụ hàn là bố mẹ chồng, thì bên nhà gái có cụ hậu là cô ruột cô dâu. Quan huyện chú của chàng, tiếp quan tham là cậu của nàng. Cô giáo Chính con bà dì chú rể ngồi cạnh cô đỡ Hoa Tâm gọi cô dâu là chị con bà bác. Cô Mai, em anh Thừa xoắn xuýt lấy cô Tuyết phù dâu. Tóm lại, họ nhà trai có vị danh giá thế nào, thì họ nhà gái cũng tố ngay một ngài danh giá không kém. Hai gia đình đăng đối, danh giá thật xứng đáng với danh giá của tiên sinh y sĩ Trung Hoa dân quốc và cô đốc.
Chừng bốn giờ rưỡi, họ nhà gái xin cáo lui. Cụ hậu thay mặt cụ đốc, khuyên bảo cháu bằng một vài câu luân lý. Cả hai cụ hàn và đôi vợ chồng mới cùng ra cửa tiễn khách.
Ba chiếc song mã còn chờ đó. Bốn người lên một xe, ngồi đối diện với nhau ở hai ghế. Ra đến đầu phố, chiếc ngược lên Hàng Đào, chiếc đi thẳng sang cầu Gỗ, chiếc quặt lại Hàng Gai. Bởi vì ba xe phải đổ khách về từng nhà, ở những phố khác nhau. Ví dụ chiếc thứ nhất qua rạp Quảng Lạc, cho cụ hậu xuống, rồi sang Chợ Gạo là chỗ ở của quan tham, đoạn lên Hàng Giấy, dừng ở nhà cô đỡ Hoa Tâm, mới quặt lên đầu Hàng Đậu, đỗ trước cửa nhà săm, cho cô Tuyết phù dâu về thay quần áo.
Xe thứ hai và thứ ba đại khái cũng thế.
Vào lúc sáu giờ, đèn phố bật, Ma-ri mới không phải ngồi hầu chuyện họ hàng nhà chồng. Hắn vào buồng, cởi khăn áo cô dâu ra, quấn tóc trần, mặc áo thường, bảo với anh Thừa:
- Em về đàng nhà một tí nhé.
- Mấy giờ em lại, ngộ khách ăn tới, em không trang điểm kịp?
- Kịp. Hai mươi phút thôi.
Nói đoạn, hắn đi liền.
Là vì hắn đã hẹn giờ để gặp gỡ những người đã đi đưa dâu, tại nhà hắn.
Hắn đến nhà, thì thấy những người ấy đã đủ mặt. Hắn khen khéo, móc ví trả mỗi người hai đồng. Riêng cụ đốc, hắn thưởng cho thêm đồng nữa là ba. Bọn nhà gái kè nhè xin thêm. Nhưng hắn không cho, nói nửa ngọt nửa xẵng:
- Có mất công khỉ gì, còn được đi song mã, được tiếp đãi như thật, sướng mê, còn muốn thêm nữa à?
Rồi hắn nói với cụ đốc:
- Hôm nay thì vui vẻ cả, nhưng tôi chỉ phàn nàn có một tí là bà cụ hàn lại gọi bà cụ tôi là cụ đốc.
Cụ đốc hỏi:
- Bẻ họe! Còn gọi là gì sang trọng hơn nữa?
- Trừ phi chồng không có chức tước gì mới phải gọi bằng chức tước của con chứ? Sao không gọi bà cụ tôi là cụ cố.
- Sao lại cụ cố?
- Tại ông cụ tôi là cố đạo.
Cụ đốc cười:
- Khỉ, thế cố đạo có vợ à?
Cô đốc nghĩ ra:
- Ừ nhỉ. Thế thì tôi không phàn nàn nữa.
Ma-ri sai cụ đốc đem ngay bốn con lợn quay trả cho hai hiệu cao lâu Đông Hưng Viên và Nhật Tân, cùng bốn buồng cau tươi trả cho nhà An Ký ở phố Hàng Gạo. Hắn dặn cẩn thận là những cửa hàng hoa, phải gượng nhẹ, còn tiền thuê thế nào, hắn với nhà hàng đã thỏa thuận với nhau rồi. Những quả phù trang rỗng không, rước đi đường ban nãy làm vì, thì hắn giao cho quan tham đưa lại hãng xe ngựa, bắt người chủ xem lại cho cẩn thận là không sứt lở tí sơn nào.
Vừa đúng hai mươi phút, hắn đã có mặt tại nhà phố Hàng Tiện. Ở đây, họ nhà trai cũng không còn ai ở lại.
Nhân lúc Ma-ri đi vắng, anh Thừa cũng vội vàng trang trải với những người mà anh thuê. Họ đòi thưởng thêm, nhất là hai vai cụ hàn, không chịu mỗi người chỉ được ba đồng. Hai cụ dọa nếu chú rể không nghe, thì đi mách họ nhà gái ngay lập tức. Anh Thừa không dám găng. Và anh muốn tống họ đi ngay, kẻo Ma-ri về biết thì lộ tẩy. Anh đành chịu họ bắt bí, cho thêm mỗi người hai hào, riêng hai cụ, mỗi cụ năm hào. Anh bực mình:
- Thế này thì bận sau bố ai dám mượn nữa!
 
* * *
 
Khách đến dự tiệc cưới chừng hơn ba chục người. Trái với bọn đi đám cưới, những người này là khách thật. Vì họ là bạn hữu của anh Thừa và Ma-ri.
Đàn bà mười người, ngồi hai mâm ở gian trong. Ma-ri tiếp họ. Đàn ông, quây quanh ba cái bàn dài bày theo hình chữ U ở gian giáp hè phố. Trên bậc hè, ngổn ngang độ hơn một chục kẻ ăn mày.
Khách đàn ông có nhiều hạng. Thầy lang có. Bệnh nhân có. Thầu khoán có. Buôn bán có. Ông tham, ông đốc có. Vô danh tiểu tốt, vô nghệ nghiệp, du thủ du thực cũng có.
Anh Thừa và Ma-ri giới thiệu khách với nhau. Toàn những tên lạ. Duy có mấy ông nhà báo, nhà văn là người ta đã thuộc tên, bây giờ mới biết mặt. Đó là ông Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, tác giả tập thơ Ngọn đèn khuya, bỉnh bút Đông Dương tạp chí và báo Đuốc nhà Nam; ông Hạc Thần Nguyễn Thượng Huyền, cử nhân, làm thơ và làm báo; ông Quán Chi Đào Trinh Nhất, viết văn nghị luận; ông Biền Xa Hoàng Tích Chu, trợ bút tạp chí Nam Phong; ông Kính Đài Nguyễn Thống, tác giả cuốn thơ Tấm lòng son, lấy tên đàn bà là Nguyễn Huệ Kiều; và ông Hoài Tân Tử, nhà thơ, nhà tiểu thuyết. Giới thiệu anh này, anh Thừa có nhã ý giấu tên cuốn Tình muôn thuở của ông.
Năm cô đầu rượu ở Hàng Giấy và ở Ấp, cô Nguyệt, cô Hoa, cô Trà, cô Phụng, cô Mai, được đón đến giúp vui. Chị Bích Ngô và chị Bốn là danh ca, thì hiến các quan giọng hát.
Có hơi rượu và hơi gái, chuyện nở như cơm gạo vàng. Đủ các thứ chuyện. Chuyện đứng đắn. Chuyện nhảm nhí. Chuyện làm ăn. Chuyện ăn chơi. Nịnh hót, tâng bốc nhau, xỏ xiên, dìm dập nhau. Vây vo, hợm hĩnh, huênh hoang, khụng khượng. Chuyện xuê nhất là ở chỗ mấy ông nhà văn, nhà báo mồm mép vốn lém lỉnh. Các nhà ngôn luận ngồi gần nhau, tiếng cười từ chỗ ấy tỏa ra hai bên. Không ai kịp nói xen vào một lời nào với các ngài. Và cũng không ai muốn nói. Họ nhường cho các ngài tán, để được cười cho hả rượu.
Nhà thơ kiêm nhà tiểu thuyết Hoài Tân Tử là cái đích làm cho chúng bạn mua vui. Không biết mấy ông bịa ra hay nói thực, mà các ông làm cho mọi người đau cả bụng.
Bỗng có tiếng ngâm:
 
- Mối sầu trung bối rối lung tung,
Bối rối lung tung gỡ giúp cùng
Gỡ giúp cùng nhau cho khỏi rối,
Cho nhau khỏi rối mối sầu trung.


Mọi người yên lặng nhìn. Thì ra ông Hoài Tân Tử đọc thơ. Ông Mân Châu ha hả cười, gọi:
- Chị Nguyệt, chị mời Hoài Tân Tử tiên sinh một chén, hãm bằng cái câu hôm nọ ấy nhé.
Cô Nguyệt mỉm cười lên giọng:
 
- Hôm xưa yên đổ một lần,
Mà anh phú quốc vô ngần thế nao!
Xin cạn chén đào.


Người hiểu chuyện phá lên cười. Ông Kính Đài giảng:
- Thưa các ngài, dân đi hát chúng tôi gọi chầu chay chi ba đồng là yên đổ, vì ba đồng là tam nguyên. Phú quốc nghĩa đen là giầu nước. Ông bạn tôi hát một chầu chay, nhưng sau nhân huynh đệ cứ lên gạ chuyện, trạc của nhân tỉ muội giầu nước mãi, cho nên chị Nguyệt hãm mừng thế đấy ạ.
Tất cả mọi người đều khanh khách. Ông Đào Trinh Nhất bảo:
- Đặt câu hãm mà phải dùng điển tích là kém. Phải hát câu khác.
Người cô đầu đằng hắng hai ba lượt, rồi cầm chén rượu, ngân nga:
 
- Có anh vừa đen vừa cao,
Ngất nga ngất nghểu tối nào cũng lên.
Xin tặng bạn hiền.
Tiếng cười lại như vỡ nhà.
 
Ông Hoài Tân Tử mặt đã đen, càng xám lại vì xấu hổ. Ông đứng lêu đêu dậy, đỡ lấy chén. Chị Nguyệt chỉ cao đến vai ông, dốc ập cốc rượu vào mồm ông cho tung tóe ra cả ngoài mép, rồi khẽ hỏi:
- Thế nào, anh vừa đen vừa cao còn thề nữa, hay vẫn ngất nga ngất nghểu tối nào cũng lên?
Ông Biền Xa vỗ đùi, át cả tiếng cười và lời nói xỏ ngọt của chị Nguyệt:
- À lại còn cái chuyện nhà thi sĩ của tôi hết tiền, cứ thề mãi là ai mà còn trông thấy mình lên Hàng Giấy nữa, thì mình thế nọ thế kia. Nhưng rút cuộc, ngài vẫn lên hát chịu.
Ông cử Huyền đứng dậy:
- Tôi nhờ chị Bích Ngô ngâm cho tôi bài thơ này mừng ông Hoài Tân Tử nhé. Trước hết tôi xin giảng hai chữ cho chị nghe đã. Chị ở Hàng Giấy. Tiếng Tây, giấy là pa-pi-ê. Chị muốn mua chịu hàng ở nhà quen, chị viết hai tiếng Bon pour có phải không?
- Vâng.
Ông Hạc Thần lên giọng:
 
- Nghe nói hôm qua lại mới thề,
Thề rằng chẳng đến pa-pi-ê,
Thế mà ông cứ Bông pua mãi,
Chui ống, ơ kìa, con cá trê!


Cả mấy chục người vỗ tay, reo lên ồn ào. Bỗng có tiếng ở ngoài cửa:
- Lạy các ông các bà, chả mấy khi có đám có xá, các ông các bà thí bỏ cho kẻ nghèo đồng cơm bát cháo!
Không muốn tiếng xin ăn xen lẫn với tiếng đọc thơ, anh Thừa sai người đuổi bọn hành khất đi, và đóng chặt cửa lại.
Ông Mân Châu ghi bài thơ đưa cho người đào hát. Tiếng phách dồn lách cách. Tiếng đàn thử dây từng tưng tứng. Trống chầu giục ba tiếng tông tông tông.
Ông Đào Trinh Nhất nhại tiếng phách, tiếng đàn và tiếng trống:
- Cô đầu gõ phách gọi kép: “Khách khách khách khách khách!”. Kép lên dây đàn hỏi: “Thằng nào đấy, thằng nào đấy?” Khách đập vào trống đáp: “Ông, ông, ông!”.
Lại hô hố một tràng cười.
Nghe hát, uống rượu. Ăn vã. Hút thuốc lá. Ai cũng cố nghĩ ra một chuyện để khoe là mình có duyên.
Ông Tham Bính đứng dậy, xoa hai tay vào nhau:
- Xin phép các tiên sinh văn sĩ cho tôi kể một câu chuyện cũng là đánh trống qua cửa nhà sấm thôi. Nghe được, thì các tiên sinh bỏ vào tai. Không nghe được, xin các tiên sinh kể như là tôi không nói.
Mọi người thấy lời giáo đầu ngộ nghĩnh thì mủm mỉm và lắng nghe.
- Thưa các ngài, ngày xưa, cái hương án có tám chân, con vịt có một chân, con chó có ba chân, và cô đầu… không có chân nào.
Ông nhìn các cô đầu, làm bộ sợ hãi, lè lưỡi, rồi nói:
- Xin lỗi các chị nhé!
Ông Kính Đài bóp vào đùi cô Trà:
- Nào xem có chân không nào!
Cô Trà kêu đánh oái. Ông tham tiếp tục:
- Thưa đấy là ngày xưa ạ. Một hôm, con vịt đi qua cái hương án. Thấy cái này có nhiều chân, vịt bèn xin một cái. Hương án cho nhưng nói: “Chân này là chân thờ, không được để nó uế tạp”. Thế là con vịt có thêm một chân nữa. Con vịt gặp con chó. Chó hỏi lấy chân ở đâu. Vịt mách đến hương án mà xin. Chó đến xin hương án. Hương án cho chó một chân, và cũng dặn là chân thờ không được để uế tạp. Đến lượt cô đầu gặp vịt và chó. Cô đầu hỏi, rồi cũng đến xin hương án cho hai chân. Hương án lại cho, lại cũng dặn như đã dặn vịt và chó.
Nói đến đây, ông tham ngừng một lát, hút xong hơi thuốc lào mới nói:
- Thế là từ đó, hương án còn bốn chân, nhưng vịt có hai chân, chó có bốn chân, và cô đầu có hai chân.
- Chuyện có thế thôi à?
Có tiếng hỏi như vậy. Ông Tham Bính lại hút xong hơi thuốc nữa, mới trả lời:
- Vâng, chuyện có thế thôi. Cho nên cũng từ đó, khi ngủ vịt sợ mất cái chân thờ, phải rụt nó lên, và khi đái sợ chân thờ bị bẩn, chó phải co một cẳng. Còn, thưa các ngài, khi cô đầu nằm với quan viên, các cô cũng phải dạng hai đùi ra cho chân thờ khỏi uế tạp!
Dứt lời, những tiếng phát đen đét vào lưng ông Tham:
- Phải gió cái anh này! Phải gió! Phải gió! Nhảm! Nhảm! Nhảm!
Cô đầu xúm lại đánh ông Tham đến năm phút. Và tiếng cười cũng ran lên đến năm phút.
Các bà ăn ở mâm trong, thấy nhà ngoài nhộn quá, thì ra cười góp. Nhưng từ lúc đó, không ai dám nhảm nhí nữa. Họ xoay ra chuyện đứng đắn.
Ông Nguyễn Mạnh Bổng có ý kiến tổ chức một thư xã, mua nhà in, xuất bản tùng thư. Ông Đào Trinh Nhất phàn nàn cái nạn khách trú nắm quyền kinh tế ở Nam kỳ, ông đề xuất vấn đề di dân Bắc kỳ vào Nam.
Ông Hoàng Tích Chu nói muốn sang Pháp nghiên cứu nghề làm báo để về nước thay đổi lại từ bộ mặt tờ nhật trình cho đến câu văn. Ông Nguyễn Thượng Huyền làm mặt ưu thời mẫn thế, nói muốn sang Quảng Đông học trường Võ bị Hoàng Phố. Ông Nguyễn Thống ngỏ ý lập mộ sở làm đơn, giúp quốc dân những việc kiện cáo. Riêng ông Hoài Tân Tử bàn về chuyện văn chương, ông định xin ra tờ báo, lấy tên là Văn chương An-nam, mục đích là yêu cầu nhà nước cấm tiệt các báo không được đăng mục Bình phẩm sách mới.
Chuyện đứng đắn dễ trở thành nhạt. Cho nên chưa đến mười giờ, khách khứa đã lục tục xin về.
Anh Thừa giữ năm cô đầu rượu ở lại để tiêm thuốc phiện hầu khách. Năm bàn đèn đặt trên năm cái phản ở hai gác. Ai muốn hưởng thú đi mây về gió thì cứ tự ý. Rồi mặc cho khách tự do với nhau, anh bấm Ma-ri, bảo về nhà bên phố Bờ Hồ để nghỉ kẻo mệt.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XI
VỠ LÒNG  
 
Thấy chị Thừa ngất ngã lăn ra đất, cụ Điều và anh Xi vội vàng chạy xuống, vực chị và bế thằng Mão vào nhà.
Hàng phố không ai hiểu, cho là người đàn bà nghèo có máu động kinh, được Phòng thuốc nhà giàu cứu chữa.
Cụ Điều xoa dầu khắp người chị và lay gọi. Một lát sau, chị tỉnh dần. Chị nghiến răng ken két, quật chân quật tay xuống giường như người lên cơn điên.
Cụ Điều an ủi chị:
- Chưa chi đã ghen. Ngộ không phải thì sao. Phải xem xét kỹ lưỡng kẻo oan anh ấy.
Anh Xi lắc đầu, chỉ thở dài.
Vào lúc hai giờ, có lẽ giờ này, anh Thừa và Ma-ri đương lễ Tơ hồng, chị Thừa gọi cụ Điều:
- Tôi nhờ ông trông hộ cháu một lát, tôi đi đàng này, tôi về ngay.
Cụ can:
- Đi làm gì! Biết anh ấy ở đâu mà tìm.
Chị không đáp.
Chị tất tả sang Hàng Tiện. Qua nhà có đám cưới chị không để ý. Chị đi thẳng Hàng Gai, Hàng Hài, vân vân, rồi đến Vườn hoa bà đầm xòe. Chị hỏi thăm đường ra ga. Người ta trỏ cho chị qua Chợ cửa Nam thì rẽ tay trái, là Hàng Lọng, cứ thẳng đến là Hàng Cỏ. Ga ở đấy.
Chị tìm đến bà lớn sếp chánh, vợ Phi-lô-mát.
Chị nức nở khóc, hối hận rằng đã trót dại không nghe lời dì mách từ mấy tháng trước mà ra giữ chồng, đến nỗi xảy ra cơ sự ngày hôm nay.
Rồi lau nước mắt, chị ngồi xổm xuống đất:
- Con biết rằng chỉ có bà lớn là thương con thôi. Ở Hà Nội này, con chả có ai là máu mủ để than thở.
Người vợ tây thở dài. Chị hỏi:
- Bà lớn có cách gì cứu con được hay không? Con ức đến chết mất!
Vợ Phi-lô-mát chép miệng:
- Khó đấy. Chính con ấy là con mẹ sếp phó Tu-nô, mày còn nhớ không?
Chị Thừa ngớ mặt:
- Ấy! Con thấy gọi là cô đốc kia mà?
Vợ Phi-lô-mát bĩu môi:
- Đốc với đếch chó đâu! Giặt váy cho ký nhà thương không đáng! Vợ của ông sếp phó đấy!
- Thế thì bà lớn trình quan sếp phó cho con.
- Trình! Bỏ nhau từ đời tám hoánh nào rồi còn gì! Tao trông tướng con mẹ ấy, tao biết mà! Ngữ ấy thế nào cũng tranh cướp chồng người.
- Bây giờ bà lớn bảo con làm thế nào được?
Người vợ Tây lẩm bẩm để tính toán:
- Trình cẩm cũng không được. Làm toang hoang ra thì nó đánh, nó giết, nó vu vạ để bỏ tù.
Bỗng sực nghĩ ra, hắn hỏi:
- Chúng mày lấy nhau có giấy giá thú không?
- Thưa cưới ở nhà, làm gì có giấy giá thú?
- Thế thì có gì làm bằng mà kiện ở tòa. Lấy nhau mà không có giấy giá thú, thì kể như nhân tình nhân ngãi, chứ không phải là vợ chồng, bỏ nhau lúc nào cũng được. Kiện về tận Tây cũng chẳng ăn thua.
Yên lặng để nghĩ ngợi một lát, hắn tặc lưỡi:
- Tao như mày ấy à. Đã bạc thì cùng bạc, cần gì đeo đẳng cho nặng mình. Nó lấy vợ khác, thì mày lấy chồng khác. Tội đếch gì!
Chị Thừa rùng mình lên. Chị biết là ngồi đây thêm cũng không ích gì, chỉ tổ bắt con khóc mỏi miệng vì mong mẹ. Chị đứng dậy:
- Con xin phép bà lớn cho con về.
Vợ Phi-lô-mát nói:
- Về làm gì? Về với ai? Ở đây, ăn với tao bữa cơm. Ngộ may tao có nghĩ ra kế gì giúp được chăng.
Nghe bùi tai, chị Thừa ở lại.
Sự thực, trước khi được ăn với bà lớn bữa cơm, thì chị phải làm cơm hầu bà lớn, để bà lớn được rảnh tay đi chầu rìa đám chắn.
Rồi ăn xong, bà lớn mượn chị giặt hộ một đống lớn những quần trong, quần ngoài, áo cộc, yếm đầm, áo dài, và cả áo gối, áo chăn, với một đôi chiếu nữa. Bà lớn đưa chị xuống vòi nước trong buồng của dãy nhà, đúng như cái nhà phụ mà chị đã ở một dạo bên sếp phó. Cũng có hai buồng bồi bếp, không người ở, trong có kê chiếc phản. Bà lớn chỉ cho chị biết chỗ phơi và bảo:
- Mệt thì ngồi nghỉ tạm ở phản, rồi hãy giặt nốt.
Đường phố lên đèn đã lâu, chị mới giặt xong. Chị vừa mệt vừa xót ruột về con. Chị hối hận là không ở nhà. Thế nào sẩm tối hôm nay chồng chị cũng phải về, để xem gặp chị thì ăn nói ra làm sao.
Chị phơi các thứ đã giặt, rồi ngồi trên phản trong buồng có ánh sáng đèn ở ngoài chiếu vào. Chị lên nhà, định giao các thứ cho bà lớn kiểm lại, để chị về. Nhưng buồng khóa. Bà lớn đi vắng. Chị lại phải xuống nhà dưới. Ruột chị rối như mớ bòng bong. Luôn luôn chị thở dài. Chị ngồi chán, lại ra cửa, nhìn lên gác xem buồng ấy bật đèn chưa. Nhìn chán, lại vào phản ngồi. Đầu óc ngổn ngang trăm mối.
Bỗng có hai cánh tay lực lưỡng quàng lấy hai vai chị.
Chị giật mình, quay lại. Thì ra chị đương bị một thằng Tây nó ôm chặt.
Chị biết việc sẽ xảy ra thế nào. Chị giãy giụa, kêu lên. Lập tức, nó nhét mùi soa lấp miệng chị lại. Nó lấy chân đạp cho cánh cửa khép kín, rồi vật chị ngửa ra. Chị hết sức cưỡng, lấy hai tay quào vào mặt nó, nhưng nó túm được, ghì thật chặt. Chị dùng đến hai chân. Chị cựa quậy, cố đạp nó ra xa. Nó suýt ngã xuống đất. Nhưng nó vồ ngay được chị. Lần này thì nó giữ hai tay chị bằng một tay thôi, còn một tay, nó cứ mạng mỡ chị nó thụi. Chị không chịu. Chị còn răng. Chị cắn vào mặt, vào vai nó, xé rách áo nó. Nhưng bị đánh đau quá, chị đành phải thua. Chị nhắm nghiền mắt lại, nằm ườn ra, không còn sức giãy giụa nữa.
Có lẽ cũng lúc này, đám tiệc cưới ở Hàng Tiện bắt đầu.
Thỏa xong thú tính, con quỷ dâm dục huỳnh huỵch đi ra. Chị vừa ngồi dậy, vấn lại khăn, và sờ áo quần xem rách ở những chỗ nào, thì một thằng nữa ập luôn vào. Chị lại phải chống với nó một lát. Nhưng lần này chị đuối súc, không cưỡng được lâu. Chị đành cho nó hiếp.
Rồi thằng thứ hai ra, thằng thứ ba vào thay. Chị rú lên một tiếng, lại vật nhau với nó. Nhưng chân tay chị đã rã rời, chỉ không thể địch với sức đương hăng của con quỷ.
Rồi đến thằng thứ tư. Lần này chị không cựa quậy được chân tay nữa rồi. Chị nằm như cái xác chết.
Thế mà còn thằng thứ năm. Chị mê lên. Chị thiếp đi. Không biết nó ra lúc nào.
Bữa tiệc ở Hàng Tiện giờ này, hẳn đương vào lúc vui nhộn nhất.
May cho chị là không còn thằng thứ sáu! Nhưng chị lả rồi, không ngồi dậy được. Chị đành nằm, rên hừ hừ.
Lúc mở mắt, chị thấy ở kẽ cửa có một vệt ánh sáng. Thì ra chị đã mê man mà nằm ở đây cả một đêm.
Chị ngồi dậy. Mình đau như đần. Chị cố đúng lên, ra mở cửa. Nhưng không tài nào đứng được. Cửa đã khóa.
Chị tru tréo một tiếng, rồi nằm gục xuống đất, thoi thóp thở.
Chị không ngờ là đã sa vào hang hùm. Chị ôn lại cái đêm kinh khủng vừa qua. Chị ôn lại cái ngày đau đớn vừa qua. Chị nhớ thằng Mão. Chị vật vã khóc.
Chị biết là chị bị giam ở đây, để đêm nay lại bị năm thằng nó hiếp lần nữa.
Xung quanh là ba bức tường. Trên là trần. Cửa thì khóa. Trong buồng chỉ mờ sáng. Nhưng chị cũng trông rõ để thấy là không thể tìm được một chỗ nào buộc nổi cái dây lưng để thắt cổ cho thoát khổ nhục. Chị còn phải sống để chịu khổ, chịu nhục. Chị đành lên phản nằm để khóc.
Khóc một lát, chị thiu thiu. Chị thấy chồng chị vồn vã chuyện trò với chị. Chị vui sướng quá, cười khanh khách. Bỗng mở choàng mắt ra, chị biết là chị chiêm bao. Con người bạc bẽo, bất nhân ấy, cưới vợ khác rồi, còn bao giờ vồn vã, chuyện trò với chị nữa.
Rồi chị lại mơ màng. Chị thấy cái đám cưới xe song mã. Lúc xe cô dâu tiến đến trước chị, chị nhảy xổ lên, túm tóc con cô đốc xuống, xé khăn áo nó, và đánh cho nó một thôi một hồi. Chị vui sướng quá, lại cười khanh khách. Mở choàng mắt ra. Thì ra vẫn là chiêm bao. Cái xe cô dâu tiến qua mặt chị, con cô đốc đã bĩu môi với chị, đến nỗi chị tức ngã ngất đi, chứ không phải chị xé nó, đánh nó. Sự thật cay đắng thế, chứ có đẹp đẽ như trong giấc mộng đâu. Bây giờ con cô đốc đã cướp chồng chị, nó như con chim sổ lồng. Còn chị bây giờ, bị nhốt trong buồng tối, để rồi đêm nay, làm mồi cho năm thằng Tây lần nữa.
Chị đập chân đập tay một lúc, rồi nằm yên. Chị thấy thằng Mão đương nằm cạnh chị, hai tay nó vuốt má chị, chân nó gác lên bụng chị, rồi nó trỏ lên cái ảnh treo trên tường, gọi: Chề! Chề! Chị ôm nó, hít hơi thơm của má nó vào ngực. Nó cười sằng sặc, thò ngón tay vào nách chị, làm cho chị buồn.
Chị cựa, tỉnh dậy. Thì ra chị lại chiêm bao. Thằng Mão bây giờ thế nào? Chắc nó khóc mong mẹ đã khản tiếng. Nó ở trong nhà của thầy nó đấy, nhưng thầy nó có nhận nó là con nữa không? Thầy nó cưới vợ khác, đám cưới mới linh đình làm sao? Thế thì thầy nó ở với con mụ lang ben, có nó bên cạnh, thấy nó khóc mếu, hẳn là thầy nó bắt ông Điều hoặc anh Xi trông nó. Nó vắng mẹ thì nó khóc hết hơi, ai thương? Mà có lẽ con cô đốc còn đày đọa, đánh chửi nó cũng nên. Con cướp chồng người ấy thì chỉ muốn giết con của vợ cả. Chị đã qua cái cầu dì ghẻ con chồng. Chị đã bị đày đọa thế nào rồi. Chị thương thằng Mão bé bỏng chưa biết gì đã phải đày đọa như chị.
Nghĩ lan man về con, bỗng chị lại chập chờn thấy thằng Tây nó vào hiếp chị. Chị vật nó ngã ngửa ra, bóp cổ nó. Mặt nó, máu đọng lại, đỏ bừng, nó thè lưỡi, kêu ằng ặc như con lợn bị chọc tiết. Nó van lạy chị. Nhưng chị không tha. Chị bóp cổ nó chặt hơn. Nó chết, đầu lả như đầu gà toi. Nhưng có thằng Tây nữa vào, đánh nhau với chị. Trong lúc bất ngờ, chị bị nó quật xuống đất.
Chị mở mắt ra. Lại vẫn là chiêm bao. Chị không giết được thằng Tây nào, chị không đánh nổi thằng Tây nào. Nhưng tối hôm qua, một thằng đã thụi vô hồi vào mạng mỡ chị. Và năm thằng nó hiếp chị, làm cho chị mệt thiếp như chết. Thế mà hôm nay nữa, nó còn giam chị ở đây. Chưa biết hôm nào chị mới ra thoát cái tổ quỷ này, hay là cứ ở đây để chờ cho bọn ma quái nó hiếp cho đến chết thật, không được về nuôi con nữa.
Rồi chị thấy chị ngồi trên xe song mã, bên cạnh chồng mặc áo gấm lam, đội khăn nhung đen. Trên lòng chị, thằng Mão đương nhảy nhót vì vui sướng. Nó cầm tay chị đặt vào tay thầy nó, rồi nó đấm vào đít người ngồi giong xe ở đằng trước. Người này quay lại, thì ra một thằng Tây. Hẳn là thằng Tây nó hiếp chị. Xe ngựa đi qua Phòng thuốc, con cô đốc đứng ở hè, nó trông thấy chị, nó ngã lăn đùng xuống rãnh đường. Chị bảo xe dừng lại. Con cô đốc bò ra, khóc lóc, lạy van chị, xin chị cho làm vợ lẽ. Nhưng chị lắc đầu.
Chị tỉnh dậy, thì ra vẫn là nằm mê.
Chị không muốn chiêm bao vơ vẩn, toàn những chuyện không đâu cả. Chị chỉ thương thằng Mão, nhớ thằng Mão. Giờ đây nó đương khóc ngằn ngặt bên cạnh người bố lạnh nhạt với nó. Chị thương nhớ con cồn cào cả ruột gan, nhưng lại muốn chỉ nghĩ đến con. Chị ngồi dậy, không nằm nữa.
* * *
Chị Thừa bị nhốt trong buồng này một đêm ngày thứ hai và một tối ngày thứ ba nữa. Đêm với ngày mới dài làm sao! Thằng Tây không nhớ rõ là thứ mấy, hiếp xong, thì nó ra. Chị không thấy có thằng khác vào, thì biết nó là thằng cuối cùng. Chị thấy cánh cửa mở rộng, mà không đóng, chị mừng quá. Dễ thường chúng nó thả cho chị về.
Lũ quỷ thả chị thật. Nhưng không phải do chúng nó. Không phải do chúng nó đã thỏa thê thú tính. Cũng không phải do chúng nhân đạo. Lũ quỷ tha chị, là do chị. Hai đêm, hai ngày ở đây, chị không được ăn, không được uống, không được rửa ráy, không được ngủ. Thân thể chị không còn là thân thể người. Nhiều lúc chị có thấy đói, nhưng lúc nào chị cũng thèm nước, khô cả cổ họng. Cái đói làm cho chị lả ra, nhưng cái khát bắt chị vật vã như điên như cuồng.
Đêm hôm thứ hai, biết rằng cưỡng lại không nổi, chúng nó còn đánh cho đau, khổ thân, nên chị không cưỡng, mặc kệ cho chúng nó làm tình làm tội. Chị chỉ mong rằng thằng nào cũng là thằng cuối cùng, để xong đấy, chị được nằm yên mà nghĩ đến thằng Mão, để nhớ, để thương nó.
Nhưng cũng phải hết năm lượt, chị mới được rảnh thân. Không rõ chúng nó là năm đứa khác nhau, hay chỉ có hai ba đứa nó hiếp đi hiếp lại. Chị không rõ mặt một thằng nào, vì buồng tối như bưng. Chỉ thấy thằng nào cũng thịt xương rắn như sắt, lông lá nhọn như dùi.
Tối hôm thứ ba, chị cũng qua những phút khủng khiếp. Nhưng chị không biết là khủng khiếp nữa. Đầu óc bị căng quá, vì mệt nhọc thân thể, vì đau đớn tinh thần, hai đêm liền, chị không ngủ. Và còn vì rét, không chăn chiếu, chị không sao nằm yên được. Chị đã mê man bất tỉnh, thiếp như chết từ lâu rồi.
Chị lấy tay nắn thớ thịt. Nó nát nhẽo như cái ngày chị ốm, trồi cả xương. Chắc là mặt chị gầy tọp, da nhăn nheo, mắt hõm sâu. Chị không còn hình người, huống chi còn đâu là mẽ đàn bà con gái. Chị là cây gỗ mục, vô tri, vô cảm. Chị là cái xác gần chết. Dù dâm dục đến mấy, lũ quỷ cũng không thèm hiếp một người đã như cây gỗ mục, như cái xác gần chết. Không những thế, quần áo, người ngợm chị, vì không được rửa ráy, nên khắm lặm. Buồng lại có cứt đái, khai thối đến lợm buồn nôn.
Chỉ vì vậy mà lũ quỷ đói phải buông tha chị. Thằng cuối cùng hiếp xong, nó để cửa mở.
Thấy vậy, chị ngồi dậy. Nhưng không còn sức, chị đã dụi xuống phản. Song, chị vẫn còn trí để suy xét rằng nếu không ra thoát ngay khỏi nơi này, thì rồi sẽ chết, nếu không phải chết vì bị hiếp nữa, thì cũng chết vì đói, vì khát, vì mệt, vì rét.
Chị cố đứng dậy. Nhưng không thể bước được. Hai đầu gối chị run lẩy bẩy. Xương như long ra mất rồi. Chị vịn vào tường. Chị hoa cả mắt, choáng váng cả mày mặt. Chị cố gắng đưa cẳng bên phải ra đằng trước, rồi đứng thở. Chị đưa cẳng bên trái ra đằng trước, rồi lại đứng thở. Thế là chị đi được một bước. Một bước. Hai bước. Ba bước. Chị ra được ngoài. Chị nằm vật xuống sân. Thoát thân rồi!
Gió bấc căm căm thổi. Ở trong buồng, chị không bị buốt đến xương như thế này. Vì đói, chị càng thấy rét. Chị không thể nằm thế này mãi. Chị cố ngồi dậy.
Đèn trên nhà gác còn sáng. Bây giờ là mấy giờ rồi? Mới chập tối? Hay nửa đêm? Hay gần sáng? Nhiều lúc nằm nghĩ, chị đã nghi cho con mẹ này nó lừa chị ở lại để dắt mối cho mấy thằng Tây. Chị oán nó hết sức. Bây giờ nó còn thức, chị phải gọi nó để trách nó.
Chị cố lấy hơi để gọi to:
- Bà sếp ơi! Bà lớn ơi! Bà Ĩnh con ơi!
Cửa chớp mở. Có cái đầu thò ra ngoài. Chị thấy rõ là đầu đàn bà. Chị lại gọi:
- Bà lớn ơi! Bà lớn đấy phải không?
- Ai đấy?
- Con đây. Nhà Thừa đây.
Cửa đóng lại. Độ một phút sau, người vợ Tây lẹt bẹt đôi guốc vẹt gót, đã xuống đến sân. Đầu hắn bịt bằng khăn tua. Mình hắn bọc bằng áo len cộc. Hắn cúi nhìn:
- Ô, nhà Thừa thật đây mà. Làm sao thế?
- Con chết mất. Con bị năm thằng nó thay nhau hiếp ba đêm liền.
- Thế nào? Sao lại thế? Đứng đây rét lắm. Theo tao lên nhà, tao hỏi.
Nói đoạn, hắn đi. Nhưng chị gọi:
- Bà lớn ơi! Bà lớn đỡ con, con đi không được.
Vợ Phi-lô-mát quay lại. Hắn vực chị đứng dậy, nhổ bèn bẹt:
- Gớm, bẩn quá!
Chị tập tễnh theo hắn đi. Bỗng chị kêu:
- Bà lớn đi chậm cho con theo.
Hắn gắt:
- Mau lên. Người ngợm thế này mà bắt tao mó tay vào đến bao giờ.
Hắn không dắt chị lên gác. Hắn đưa chị sang buồng nhỏ ở bên cạnh.
- Vào mà rửa ráy đi đã. Gớm! Quàng lên. Đừng bắt tao chờ lâu. Rét lắm.
Hắn lại nhổ đánh bẹt.
Chị vặn nước, tu một hơi, rồi rửa tay, rửa mặt. Dạ dày được căng phồng bằng nước, chị thấy tỉnh người ra. Chị đóng vòi nước, đã thấy khỏe ra được một chút.
Chị đi nhanh hơn, ra với người vợ Tây. Hắn vẫn nhổ, mắng:
- Sao không rửa ráy kỹ một tí, khỉ! Nào, vịn vào vai tao.
Chị theo người dì lên nhà. Chị bước từng bậc thang.
Đầu gối lại như long ra. Cố được đến nơi, chị đứng lại, hổn hển thở. Nhưng hắn cũng chỉ cho phép chị đi đến đấy thôi:
- Có mệt thì ngồi xuống, tao hỏi chuyện. Thế nào, duyên do làm sao?
Chị kể lại nông nỗi, có ý đổ tội cho hắn. Nghe xong, hắn chép miệng:
- Tội nghiệp mày. Có phải tại tao đâu. Tao biết đâu. Tao cứ tưởng mày về rồi. Tao cứ định cho mấy hào mua quà cho thằng bé con.
Câu nói xí xóa tội, xí xóa được sự ngờ vực nó lẩn quẩn mấy hôm nay trong óc chị. Chị lại nhìn hắn bằng con mắt của người cháu nhìn người dì.
Lúc ấy, muốn chừng thằng Phi-lô-mát nghe thấy tiếng xôn xao, nó mở cửa buồng ra xem. Thoạt trông thấy nó, chị lại suýt chết ngất. Người vợ Tây trỏ chồng:
- Quan lớn đấy, việc gì mà sợ.
Không phải chị sợ quan lớn, mà sợ cái thằng có thân hình to lớn, có mũi lõ, tóc quăn, có mắt xanh, da đỏ, có thịt xương như sắt, lông lá như dùi, cùng nòi giống với những con quỷ dâm dục nó hiếp chị.
Chị vẫn run, nhìn nó. Chị thấy mặt nó có một vết tím dài, như vết quào.
Thằng Phi-lô-mát nghe vợ thuật lại việc người đàn bà bị một lũ Tây hiếp, nó gật gật, nói với chị:
- Mày cứ về, yên tâm. Quan lớn sẽ điều tra xem những kẻ làm bậy là ai.
Nói đoạn, nó vào. Người vợ Tây mỉm cười:
- Như thế, mày có bằng lòng không?
- Vâng, trăm sự nhờ quan lớn bà lớn. Con gặp mấy cái hạn. Ở Hà Nội này, chả biết trông cậy vào ai. Ngoảnh đi ngoảnh lại, chỉ có mỗi bà lớn là máu mủ ruột thịt. Xin bà lớn thương lấy con.
- Máu loãng còn hơn nước lã, vả vốn tao hay thương người, bất kể là con cháu hay người dưng. Xưa nay tao đã từ chối mày cái gì chưa? Tự nhiên, tao còn làm ơn cho mày chả vẻ thay nữa là. Chỉ có là mày dại, mày không nghe tao, mày tin chồng mày, cho nên mới phải gánh cái nông nỗi này.
Chị Thừa thở dài, rồi nức lên khóc.
Một lát, chị nhăn nhó kêu đau ở chỗ dạ con. Vợ Phi-lô-mát thương hại. Hắn an ủi:
- Không việc gì đâu. Mày đừng sợ. Ở đây các ông ấy toàn là người tử tế cả. Không ông nào có bệnh để đổ cho mày đâu. Tao biết.
Chị bóp bụng cho đỡ đau, rồi đứng dậy:
- Xin bà lớn cho con về.
- Mày về đâu?
Chị không đáp. Chị cũng chưa nghĩ ra là về đâu thật. Hắn lại hỏi:
- Này, có đói thì tao còn ít cơm nguội ở trong nồi. Bỏ đi cũng phí. Mày lấy ra mà ăn vậy.
Chị vét nồi. Còn độ nửa bát vừa cơm vừa cháy. Chị ăn. Không có thức ăn, chỉ có cơm không. Nhưng sao mà ngon ngọt thế! Chị muốn nhai thật lâu cho đỡ thèm. Nuốt đến đâu chị thấy mát ruột đến đấy.
- Thế mày định về đâu bây giờ?
- Thưa bà mấy giờ rồi ạ?
- Gần mười giờ.
- Con định hãy về chỗ nhà con để thăm cháu.
Vợ Phi-lô-mát gật gù:
- À, lại còn vướng thằng bé nhỉ. Nếu không, tao bảo mày là không thèm về đấy nữa.
- Vâng, con với nhà con bây giờ là mặt giăng mặt giời rồi, không thể nào nhìn thấy nhau được.
- Phải, là kẻ thù hẳn rồi, chứ còn tình nghĩa vợ chồng gì!
Bây giờ chị Thừa đã tỉnh táo hơn trước, đã tính toán được công việc. Chị nói:
- Con định thế này. Sáng mai, con cho cháu về nhà quê. Con mách tội thầy cháu cho ông bà cháu nghe, tùy ông bà cháu định liệu.
Người vợ Tây lắc đầu:
- Không ổn. Mày quẫn trí rồi. Đằng nào thì mày cũng chỉ là con dâu. Nó mới là con đẻ. Thế nào ông Bếp chẳng bênh con. Mấy lị nó giàu, có tiền nuôi ông ấy, thì thế nào ông ấy chẳng về hùa với nó. Không khéo thì ông ấy đuổi mày đi nữa đấy.
- Việc đuổi con đi, bà cháu đã muốn từ lâu rồi.
- Đấy. Mày nghĩ kỹ xem. Cho nên về nhà quê là không được. Lại thêm khổ nhục lần nữa thôi.
Chị Thừa thở dài:
- Thế thì bà lớn bảo con ở đâu? Ở với chồng không được, ở với bố mẹ chồng không xong, chẳng lẽ con về nhà con, nương tựa vào thằng em cậu với con em dì. Ông bà con chết rồi, nhà cửa bị nước lụt làm trôi sạch, bây giờ chúng nó, mỗi người một phận.
Người vợ Tây gãi mép:
- Khó nhỉ, ở nhà quê dù nhờ nhà ai, rồi ông ấy cũng tìm cách xúc xiểm người ta đuổi mày đi. Tao tính mày chỉ ở Hà Nội này là yên. Chẳng ai biết mày là ai. Nhưng ở với chồng mày không được, chẳng lẽ mày lại ở đây với tao! Trên gác này làm gì có chỗ. Mà nhà xép có mấy cái buồng đấy, chả biết mày có dám ở hay lại sợ?
Chị Thừa yên lặng. Hắn tiếp:
- Tao như mày thì tao không chịu nước lép. Sống chết tao cũng báo thù.
- Vâng, con cũng lập tâm thế.
- Mày định thế nào, nên hỏi tao, tao chỉ cách cho mà làm.
Vợ Phi-lô-mát nghĩ một lát, rồi nói tiếp:
- Có hai cách. Một cách là giết nó, phá nó. Nhưng khó lắm, mày không làm nổi đâu. Mà mày định thế, tao cũng khuyên mày là không nên, vì tòa án không để mày yên. Một cách dễ hơn, ai cũng có thể làm được, là thằng Thừa có nhân tình, thằng Thừa lấy vợ khác thì gái này cũng lấy chồng khác. Đã dở mặt thì cùng dở mặt, cho mà biết tay nhau. Thế mới là báo thù.
Chị Thừa im một lát. rồi nói:
- Ban nãy bà lớn bảo con nên ở Hà Nội, con nghĩ cũng phải. Có ở Hà Nội mới giả được thù. Nhưng làm gì để kiếm ăn và ở vào đâu. Hay là…
- Hay là thế nào?
- Con trăm sự nhờ bà lớn. Con biết thổi cơm, con biết khâu vá. Con lại khỏe, làm phu phen cũng được. Bà lớn thì bạn hữu quen thuộc nhiều. Con nhờ bà lớn xem có ai muốn mượn con làm con sen, con đỏ, hay bất cứ làm việc gì, bà lớn mách con. Con chỉ lấy đủ cơm ăn thôi, không cần công xá.
Vợ Phi-lô-mát gật:
- Được, để tao xem.
Chị Thừa đứng dậy:
- Thế bây giờ con lạy bà lớn con về.
- Ừ, mày về. Nhưng tối nay mày ngủ ở đâu?
Rồi hắn như sực nghĩ ra ý kiến hay:
- Này, tao bảo. Cứ đến đây, vào trong buồng ban nãy mà ngủ tạm đêm nay, rồi mai thế nào hãy hay. Có phản cao ráo sạch sẽ. Có cửa giả khỏi rét. Tao cho mượn cái bóng điện. Thắp sáng lên là chả sợ ai. Tao bảo quan ông đưa cho chiếc chìa khóa. Ngủ thì khóa lại, thế là yên trí.
- Vâng, đàng nào con cũng phải đến chỗ thày cháu ở để bế cháu đi.
- Được rồi. Lúc nào về đây, mày cứ gọi cửa mà lấy bóng điện với chìa khóa.
- Đội ơn bà lớn.
* * *
Chị Thừa về đến hết phố Hàng Tiện thì đi thẳng sang phố Cầu Gỗ. Cửa sau Phòng thuốc nhà giàu là cửa chị quen ra vào. Vả đi đằng trước, phải bấm chuông, có thể chị thấy mặt chồng, thì chị lại ngất đi mất. Vào đằng sau, chị gọi anh Xi cho gần.
Anh Xi mở cửa. Anh trông thấy chị không ra hồn người thì giật nảy mình. Anh hỏi vì sao, nhưng chị không trả lời. Chị hỏi lại:
- Thằng Mão nhà tôi đâu?
- Nó ngủ với tôi.
- Mấy hôm nay nó có quấy lắm không?
- Tối đầu, nhớ chị, nó khóc lắm. Nhưng ngày hôm qua, nó chơi. Đến tối, nó mơ đòi đi tìm mẹ.
Chị lắc đầu:
- Tội nghiệp thằng bé! Thế hắn ta đâu?
- Đi vắng từ tối chưa về.
- Hắn ta đối với thằng Mão thế nào?
- Cũng có vài lần dỗ nó, nhưng vì bận, anh ấy giao cho tôi.
- Có biết là tôi biết chuyện không?
- Biết.
- Có nói gì không?
- Có thì cũng chả nói với tôi hay với ông hai.
- Ông hai đâu?
- Đương tán thuốc ở trên gác. Tối nào chúng tôi cũng phải làm việc đến mười hai giờ đêm mới được nghỉ tay.
- Con kia đâu?
- Vẫn ở nhà hắn.
- Không ở bên này à?
- Không. Hai người vẫn chưa ở với nhau.
- Tại vướng có tôi chứ gì. Chắc họ biết là tôi còn ở Hà Nội, nên chưa dám sum họp!
- Tôi cũng nghĩ thế.
Chị Thừa rửa lại chân tay mặt mũi. Anh Xi hỏi:
- Mấy hôm nay chị ở đâu mà xanh xao hốc hác hẳn đi, quần áo rách rưới, trông như con ma lem thế này? Thoạt thấy chị, tôi giật nảy mình.
- Tôi ở nhà quen.
Chị giấu, không dám nói việc bị hiếp, sợ xấu hổ.
- Tôi về đón cháu, lại đi ngay, anh ạ.
- Chị đi đâu? Có nhà có cửa thì ở chứ?
- Nhà đâu của tôi nữa! Hắn ta tệ thế, thì trông mặt nhau làm gì.
Anh Xi thở dài:
- Mấy hôm nay, tôi cứ lo cho chị. Anh ấy tệ thật. Lắm lúc nghĩ chán, tôi cũng định thôi, chả muốn làm với anh ấy. Đối với chị, anh ấy còn thế, nữa là đối với ông hai Điều, đối với tôi.
Rửa ráy xong, chị Thừa lên gác với con. Thấy thằng Mão ngủ ngoan, chị khẽ lật cái chăn trùm đến má nó, cúi hôn khẽ nó một cái. Hai giọt nước mắt rơi xuống mặt nó. Nó cựa, thò tay giụi lau đi. Rồi nó nằm ngửa, hai cánh tay giơ ngược lên đầu.
Bỗng chị khóc nức lên.
Cụ Điều ở gian làm việc, hỏi:
- Thằng Mão lại khóc đấy à?
Chị Thừa đáp:
- Cháu đây, ông ạ.
Cụ Điều vội vàng chạy sang. Thấy chị thì cụ mừng nhưng khi nhìn mặt mũi và áo quần chị, thì cụ ngớ mặt ra. Chị nói với anh Xi:
- Tôi nhờ anh ra gác ngoài, lấy giùm tôi cái tay nải.
Anh Xi lắc đầu:
- Cửa khóa, chìa anh ấy cầm.
Cụ Điều càng ngớ mặt. Anh Xi mới nói rõ cho cụ biết những điều mà chị Thừa vừa nói với anh. Cụ hỏi:
- Chị định đi đâu bây giờ? Đêm hôm khuya khoắt, rét mướt.
- Đi đâu cho khuất mắt thì đi.
Chị sửa soạn quần áo cho thằng Mão, rồi lay gọi nó.
Nó cựa, mở đôi mắt để nhìn. Khi nhận ra mẹ, nó nhoẻn cười, ngồi nhổm dậy hai tay ôm cổ chị.
Chị bế nó vào lòng, khóc rưng rức. Anh Xi ái ngại:
- Chị cứ để nó ngủ yên ở đây. Nó không quấy đâu. Chứ lạnh thế này, chị bế nó đi đâu cho khổ nó, Rồi mai, chị đến lấy quần áo, hãy cho nó đi một thể.
Chị Thừa cương quyết:
- Không, tôi đã định rồi. Đến đây lúc này khỏi phải nhìn thấy mặt con người tệ bạc là may cho tôi. Chứ mai đến đây để hai đứa nó chọc vào mắt tôi ấy à. Tay nải của tôi, tôi không lấy được, thì tôi đành bỏ lại.
Chị cầm gói quần áo của con. Anh Xi cuộn cái chăn chiên của anh, đưa cho chị, và nói:
- Chị đem đi mà đắp với cháu. Chị muốn giả, thì cứ giúi ở khe cánh cửa. Không giả cũng được, tôi đắp chung với ông Hai.
Chị Thừa cảm động, thở dài. Bỗng cụ Điều hỏi:
- Có dễ con mẹ này chiều nay chưa ăn cơm.
Chị thú thật:
- Vâng, tôi cũng thấy đói.
Anh Xi vội vàng xuống bếp lấy chỗ suất cơm của anh Thừa không ăn bữa chiều. Còn một nửa bát canh và hai miếng đậu rim. Anh hâm lại cho nóng, rồi dọn cho chị ăn.
Ngồi cạnh chị Thừa, anh Xi bế thằng Mão vào lòng, hỏi:
- Chị định về quê à?
- Không.
- Thế chị ở đâu? Làm gì để sống?
- Hãy biết đi đã, giời sinh voi sinh cỏ, cần gì.
- Không được, chị phải nghĩ cho kỹ. Liều không được đâu. Hà Nội bây giờ nó bất nhân lắm, chị ạ. Coi không khéo thì phải lừa.
Nói đoạn, anh móc ví, lấy bảy đồng bạc đưa cho chị:
- Chị cầm tạm mà tiêu. Chị nhịn đói được, chứ thằng cháu không nhịn đói được.
- Anh tốt bụng quá! Biết bao giờ tôi giả lại anh đây!
- Có thì giả, chưa có chị cũng đừng nghĩ ngợi gì. Chả giả thẳng tôi thì chị về nhà quê, chị đưa cho thày u tôi. Chị ở đâu, chị cứ cho tôi biết. Mai lúc nào rỗi, tôi đem tay nải đến cho.
Chị Thừa lắc đầu:
- Không phải tôi giấu anh, nhưng tôi không muốn cho hắn ta biết là tôi ở đâu, với ai.
Anh Xi không hỏi nữa:
- Thế thì bận sau muốn gì, chị cứ lại đây bảo tôi. Chị gọi cửa sau.
Chị Thừa đứng dậy, chào hai người. Cả cụ Điều lẫn anh Xi cùng tiễn ra cổng. Gió rít như thở dài.
Hai người trông theo, thấy chị đi về phía Hàng Gai.
Chị Thừa tay bế con, tay ôm bọc chăn chiên với quần áo của thằng Mão, thắt thểu đi, định bụng đến ngủ nhờ vợ Phi-lô-mát.
Bỗng có ba chiếc xe cao su kéo ba thằng lính tây say rượu vừa gục đầu xuống vừa hát rống lên. Chị sực nghĩ đến mấy đêm kinh khủng vừa qua. Không lẽ thoát khỏi tổ quỷ, bây giờ chị lại đâm đầu vào. Chị nhớ lại cảnh ấy như cơn ác mộng. Những thân hình vạm vỡ của mấy thằng tây khỏe như vâm nó đày đọa chị, như hiện ra trước mắt chị. Chị kinh tởm, rợn tóc gáy. Chị không dám đi nữa, quay nhìn lại phía phố Cầu Gỗ. Hay là trở về, ngủ một đêm ở gác trong? Nhưng chị rùng mình. Nhà ấy cũng là cái tổ quỷ nó đày đọa chị.
Vậy thì đi đâu bây giờ? Đường phố vắng tanh. Gió bấc rít mạnh.
Chị nhìn trước nhìn sau. Cứ đành liều thôi!
Đến gần ngã tư hết Hàng Bông đệm, chị thấy một nhà còn sáng đèn. Có tiếng máy chạy rầm rầm, và có nhiều người đi lại tấp nập ở bốn phía sân. Chị đứng ngoài hàng rào dâm bụt nhìn vào. Đây là nhà gì? Hay là trong này có đám cưới? Có một người đi ra cổng. Chị hỏi thăm, biết là tòa báo Trung Bắc tân văn, máy in chạy suốt đêm. Cứ liều bế con vào dưới cái mái hiên kia có được không? Ở đây làm việc đến sáng, thì lúc nào cũng có người thức. Chị được yên tâm, không sợ lính Tây nó dám vào làm bậy. Nghĩ thế thôi, nhưng chị lại đi. Đến giữa ngã tư, chị nhìn phía tay trái. Một con đường hẹp trải gạch vụn còn để lổn nhổn. Cạnh đường là ao sen Nhật Bản. Rồi tối mù mịt, thăm thẳm. Bỗng có tiếng kêu thất thanh ở phía ấy: “Ối giời ôi, nó giết tôi!” Chị Thừa rụng rời cả chân tay. Trước mắt chị, phố này cũng thẳng tắp, cũng thăm thẳm, như dọa chị sẽ gặp một tai nạn bất ngờ. Gió thổi như quất roi vào mặt chị, buốt thon thót. Hai hàm răng thằng Mão đập vào nhau cầm cập. Chị vừa lo cho mình, vừa thương con. Chị không dám đi nữa. Chị quay lại tòa báo, lén hàng rào, đến chỗ có mái hiên.
Chị đặt thằng Mão vào góc tường, khuất lần gió lộng. Chị ru nó ngủ, rồi đặt nó nằm trên nền gạch, đắp chăn kín lên. Chị ngồi ở đầu gió để che cho nó. Rồi mệt, chị tựa vào tường, lả đầu xuống. Đến tận lúc tai nghe tiếng bánh xe sắt lọc cọc trên đường đá, chị mới thức dậy. Quần áo chị đẫm nước sương. Đèn phố đã tắt. Trời đã mờ mờ trắng.
Chị bế con đi loanh quanh để chờ thật sáng, mới ra ga. Xương thịt như rã rời. Chị tập tễnh đi mua bát phở, bón cho con ăn chung, rồi đến nhà Phi-lô-mát.
Người vợ Tây đưa chị chiếc chìa khóa, cho chị mượn bóng điện và manh chiếu. Hắn bằng lòng cho chị thổi cơm nhờ tạm mấy hôm, vì chị xin là cơm của hắn, chị cũng thổi hộ.
Chị mượn cái thùng kín nước và cái chổi sể, rồi xuống buồng cũ. Nhớ lại cảnh mấy đêm trước, chị nhìn từng chỗ. Cái nhà bên sếp phó trước chị ở, cũng thế này. Chồng chị hay đứng ở đây. Con đầm lai ở trên gác kia. Thế mà bây giờ… Chị ôm thằng Mão vào lòng. Bây giờ, chỉ có thằng Mão là mối an ủi của chị.
Chị thở dài, đương bần thần, thì anh Xi đến. Anh mừng rỡ, đưa chị cái tay nải:
- Tôi đoán là thế nào chị cũng ở đây.
Chị Thừa cười:
- Tại sao?
- Tại khắp Hà Nội này, chị không quen ai nữa.
Chị hỏi dò:
- Hắn ta về chưa? Thấy tôi đem thằng Mão đi, có nói gì không?
- Anh ấy về rồi. Không gặp cháu, thì anh ấy gắt tôi là sao để cho chị bế nó đi lúc đêm hôm rét mướt.
Chị cười khỉnh:
- À, ra cũng biết thương con đấy! Nhưng tôi xin anh giữ kín cho, đùng nói là tôi ở đây nhé.
- Chị không phải dặn.
Nói xong, anh Xi yên lặng một lát, rồi nhổ một bãi nước bọt, có ý tìm tòi cái gì:
- Quái, mùi khai thối ở đâu thế nhỉ?
Chị Thừa vừa ngượng vừa sợ, nhưng không đáp vào câu hỏi. Chị nói:
- Tôi đã mượn được cái thùng và cái chổi, sắp cọ nhà thì anh đến. Anh đã gặp bà Ĩnh con chưa?
- Tôi không muốn gặp bà ấy.
Chị yên tâm là anh Xi không biết việc chị bị hiếp, ỉa đái cả ra trong buồng này.
Chị đi xách nước. Anh Xi tranh việc quét. Nhưng nhất định chị giằng cho được chổi. Anh Xi đành giúp chị việc khác, sạch sẽ hơn. Bỗng anh ngạc nhiên, hỏi:
- Quái, sao trên phản lại có máu?
Chị cúi nhìn. Đúng là máu thật. Máu của chị! Tự nhiên chị lại thấy trong mình đau nhói. Chị ôm bụng nhăn nhó. Anh Xi vừa dội nước, vừa nói:
- Quanh đây, có bọn Tây hỗn lắm. Tôi sợ chị ở không yên đâu. Trước kia, tôi cũng ở buồng này, nhưng được một đêm, hôm sau tôi phải đi ngay. Là vì có hai thằng tây nó đến gạ tôi.
Chị Thừa ra ý không tin:
- Anh nói thế! Anh là đàn ông chứ có là đàn bà đâu mà nó gạ?
Anh Xi trợn mắt:
- Thế mới gớm chứ! Chúng nó tưởng tôi cũng làm nghề đĩ đực, cứ vừa cười, vừa vỗ vỗ vào chỗ này.
Anh trỏ mông đít của anh. Chị Thừa không hiểu. Nhưng anh Xi không giảng thêm, nói tiếp:
- Tôi sợ quá, vùng chạy. Thế là chúng nó đuổi theo, đánh tôi túi bụi.
Anh lại nhìn kỹ vết máu, rồi lắc đầu:
- Tôi nghi lắm, chị ạ. Máu là máu mới, cứt là cứt mới. Không khéo thì…
Anh ngừng lại để nghĩ. Anh không nói hết câu.
Từ nãy, chị Thừa giật mình thon thót, cứ phải cúi để quét, sợ anh Xi trông rõ mặt chị biến sắc chăng. Anh Xi lắc đầu:
- Không khéo thì buồng này có ma, chị ạ. Chị không nên ở. Rõ rằng là có người bị giết ở đây, nên mới có máu thế này.
Chị Thừa trả lời:
- Để tôi hỏi bà sếp chánh. Nếu đúng như lời anh nói, thì các vàng tôi cũng không dám ở. Nhưng nếu không phải, thì tôi chả sợ. Tôi có đèn sáng, lại có chìa khóa. Chặp tối đến, tôi vặn đèn lên và khóa ngay cửa lại. Chả đứa nào vào nổi.
- Biết đâu đấy!
- Có xảy ra sự gì thì tôi gọi tướng ông bà sếp chánh lên.
Chị nói vậy, vì chị tin lời thằng Phi-lô-mát nó hứa là sẽ điều tra xem những thằng nào hiếp chị.
Anh Xi lắc đầu:
- Ông bà sếp chánh ấy à? Họ không tốt đâu.
- Nhưng tôi ở đây, không trông cậy vào ông bà ấy, thì trông cậy vào ai?
- Được, hãy biết thế. Để rồi tôi tìm cho chị một chỗ tử tế mà trọ.
- Tôi cảm ơn anh. Nhưng tôi xin anh là nhất định anh không bảo ai là tôi ở đâu.
- Chị đừng ngại điều ấy.
Quét dọn sạch sẽ xong, anh Xi đưa thêm chị Thừa ba đồng nữa. Chị cảm động quá, rưng rưng nước mắt.
Ba hôm sau, vợ Phi-lô-mát xuống buồng chị Thừa. Thấy chị hắn gật gật:
- Ừ, hôm nay trông mày đã ra mẽ con người. Chứ cứ như hôm nọ thì gớm chết! Tao mới hỏi việc được cho mày. Mày muốn đi khâu đầm, hay đi chị hai?
Chị Thừa không hiểu những tiếng mới lạ.
Hắn giảng đi khâu đầm là mỗi ngày hai buổi, đến làm ở một nhà người Tây có vợ, khâu vá cho bà đầm. Làm khâu đầm thì phải ăn mặc cho đỏm dáng. Thường các cô khâu đầm hay mặc quần lĩnh thâm và áo dài nâu non gài khuy. Cô nào mặc buộc vạt thì thắt lưng thâm bỏ giọt. Đi chị hai là trông con cho tây đầm, tức là làm vú em, nhưng không phải cho bú, mà cho ăn sữa. Hết giờ làm việc thì về. Vì giữ con Tây, nên chị hai không mặc như khâu đầm, phải sạch sẽ hơn, tức là cái áo dài phải hồ lơ cho trắng, cái thắt lưng phải nhuộm cho đen, không có trở cũng phải đội khăn trắng, và lúc nào chân cũng phải dận guốc hoặc dép Nhật.
Chị Thừa chưa biết nên làm nghề nào. Chị hỏi:
- Nhưng cháu không biết tiếng Tây thì làm thế nào được với Tây?
- Không ngại. Mới đầu, nhờ bồi bếp người ta thông ngôn hộ cho. Rồi học nói dần. Như tao ấy. Tiếng Tây cũng dễ thôi.
Sẵn có riêng năm đồng, lại có thêm mười đồng của anh Xi cho mượn, chị Thừa may cái quần lĩnh, cái áo dài nâu non, mua cái khăn xa-tanh, cái thắt lưng sạ, cái nón ba tầm, và đôi guốc Sài Gòn. Chị làm nghề khâu đầm cho vợ chồng người Tây, nhà ở xế cửa hội Tam Điểm, ngay gần ga. Chị ở nhờ cái buồng trong nhà phụ của sếp chánh Phi-lô-mát.
Tìm được việc không phải chân lấm tay bùn, chị rất hàm ơn người vợ Tây. Bởi vì chị không rõ rằng phần lớn các cô làm nghề khâu đầm hoặc nghề chị hai là đi học lớp vỡ lòng để làm nghề khác. Là nghề trụy lạc, bán trôn cho Tây để nuôi miệng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 11:20:56 bởi Thanh Vân>
Tập II
 
I
MỘT GIA ĐÌNH HÀ NỘI  
 
 
Hiệu Phúc Lâm ở khoảng đầu phố Hàng Đào, gần trụ sở cũ của hội Đông Kinh nghĩa thục. Nhà thấp và có gác. Nền nhà thụt xuống dưới mặt hè phố ba bậc. Gác chỉ có cửa sổ trông ra sân giữa, còn phía ra đường thì bịt kín, hở có một lỗ vuông nhỏ, lắp hòn gạch hoa tàu thủng, tráng men xanh. Hiệu không đề biển, nhưng viết tên bằng hai chữ nho trên miếng giấy hồng điều, dán ở cột cửa ra phố. Cửa hiệu lắp bằng ván lùa. Chỉ ngày một và ngày sáu, là phiên chợ Đồng Xuân, ván lùa mới tháo ra một nửa bên, vào buổi sáng. Còn ngày dưng, chỉ cất hai cánh cửa giữa cho sáng nhà. Chứ không phải để tiện ra vào. Vì lúc ấy, cái cửa chấn song thấp được lắp thay, lúc nào cũng đóng, then gài ở trong. Phía ngoài cửa, dưới mái hiên, buông chiếc mành mành xanh, đến tối mới cuộn lại.
Vì vậy, ngày thường, đi ngoài hè phố mà nhìn vào, người ta khó lòng thấy được trong nhà có những gì. Họa hoằn, khi mua miếng thịt, mớ rau của hàng gánh rong qua, mới có người ra, nhưng cũng chỉ đứng sau cửa chấn song, chứ không ra hẳn hè. Ít ai thấy đàn bà con gái nhà này thấp thoáng sau mành mành, nhìn phố.
Phản hàng là cái bục kê sát dọc tường. Như để chắn với hè phố, đầu phản bày ba chiếc thạp nhỏ, men xanh. Áp tường là hàng tủ đứng sơn quang dầu, có cánh đặc.
Phía trong cửa hàng là sân, bày các chậu lan, sói, cúc, đào thất thốn, quỳnh, xung quanh cái bể nuôi cá vàng, giữa có hòn non bộ nhỏ. Gọi là sân, nhưng sự thật chỉ có một nửa thấp hơn là lộ thiên, còn một nửa vẫn là nền thông với lớp trong, che bán mái. Phần lộ thiên có đan dây thép ngang dọc với nhau, mắt nhỏ, người không thể chui lọt.
Ở lớp nhà trong, trước bốn cánh cửa bức màn của buồng thờ, lúc nào cũng đóng, bày một bộ trường kỷ con tiện bằng gụ, gỗ lên nước đen nhánh. Ông cụ ngồi đó là cụ Tú. Năm ấy, cụ Tú mới ngót năm mươi tuổi. Búi tóc to, râu rậm, nhưng mặt hom hem, nước da xanh.
Nói đến bộ trường kỷ thì phải nói ngay đến cụ Tú mới không là thiếu sót. Bởi vì hình như trời sinh ra cụ Tú mọc ở trên ghế trường kỷ ấy. Mấy chục năm nay, lúc nào cụ cũng ngồi đấy. Mùa hè, cụ mặc áo trắng dài, vắt chữ ngũ, một chân co, một chân thõng xuống đất. Mùa đông, cụ mặc áo nhiễu đóng bông, xếp bằng tròn, luôn luôn cụ hút thuốc lào, và lúc nào đùi cụ cũng rung tít. Cụ ngồi vậy, mắt nhìn ra cửa, hoặc nhìn xuống đất. Không biết cụ nhìn làm gì. Không biết cụ nghĩ cái gì. Ít khi có tiếng cụ nói. Ngày phiên chợ, khách ngồi đông ngoài cửa hàng, chuyện trò ồn ào, nhưng hình như cụ chẳng nghe, chỉ rung đùi một mình. Cụ bà tiếp khách, nói phải hay nói trái, hình như cụ chẳng để ý. Nếu cụ bà có hỏi gì cụ, cụ mới lắng tai, rồi ngừng rung đùi, đáp:
- Tùy đấy.
Trên bàn trường kỷ bày những thứ cụ Tú hay dùng nhất. Điếu bát cổ để trong chiếc đĩa sứ lúc nào cũng sạch bong, ống bạc đầy thuốc lào, đèn hoa kỳ vặn nhỏ ngọn, và cạnh đèn, độ mươi thanh đóm không. Ngăn dưới bàn là bộ đồ chè, chén tống, chén quân và đĩa dầm đều bịt bạc, xếp ngay ngắn trên chiếc khay gụ chân quỳ, có trùm lên trên một cái khăn lau đã thành màu nâu. Đầu bàn, dưới đất, là cái ống nhổ đồng cao, loe miệng, để gẩy bã điếu, vứt bã chè và tàn đóm.
Cả ngày cụ Tú làm những việc như đã định sẵn trong chương trình.
Sáng dậy thật sớm, cụ uống ấm chè Ninh Thái ô long, rồi ngồi rung đùi. Lúc nào cửa mở thì nhìn ra phố. Chốc chốc, lại hút thuốc lào. Đến chín giờ, cụ ăn cơm. Ngủ một lát trên trường kỷ, đến khi chiếc đồng hồ treo trên tường điểm mười hai giờ, thì cụ dậy. Khăn áo chỉnh tề, cụ cắp ô đến Hàng Buồm, lên gác hiệu Đông-hưng-viên. Cụ lấy hai hào tỉm xắm và một xu chè Long Tỉnh bán lẻ, là hai hào mốt. Mấy chục năm nay, cụ đến Đông-hưng-viên đúng giờ ấy, ngồi đúng cái bàn ấy và ăn đúng từng ấy tiền. Hầu sáng quen mặt cụ, đã biết lệ, không cần cụ gọi thứ gì và mấy đĩa, họ đã xếp sẵn trên bàn cụ vẫn ngồi, đúng hai hào bánh bao nhân ngọt và một xu chè Long Tỉnh. Cụ cứ việc lững thững đến đó, tựa cái ô vào tường, ngồi ăn bánh, uống nước, rung đùi, chẳng nhìn ai. Độ nửa giờ, thì về. Khi cụ xuống gác để trả tiền, hầu sáng không cần hỏi, người thu tiền cũng chỉ nhận đủ hai hào mốt. Nếu cụ không có tiền lẻ, đưa cả đồng, chưa nói gì, thì người ấy đã lấy bảy hào chín trong ngăn kéo, xỉa lên mặt kính quầy, trả lại cụ. Không biết tên cụ, họ gọi cụ là ông Mười-hai-giờ-rưỡi hoặc ông Hai-hào-mốt. Cụ cũng quen mặt những người hầu sáng và người thu tiền. Nhưng lúc đến, cụ chẳng chào ai, lúc đi, cụ cũng chẳng chào ai. Hình như hai bên không có gì cần giao thiệp với nhau. Đó là việc với nhau của hai hào mốt với đĩa chè, đĩa bánh.
Cụ Tú đến hiệu cao lâu hay về nhà, mắt đều nhìn thẳng, không ngắm phố, không trông người. Đến nhà, cụ trật khăn, treo ô ở mắc áo, lại ngồi trường kỷ, hút thuốc lào, rung đùi, cho đến bữa cơm chiều. Nếu cụ bà có nhờ cụ biên chép sổ sách hàng họ, thì cụ làm. Nếu không, cụ cứ ngồi như vậy.
Ăn cơm chiều xong, đến sẩm tối, cụ để búi tóc trần, lững thững đi bách bộ ra bờ hồ Hoàn Kiếm, đứng một mình một lúc. Rồi về uống ấm chè Ninh Thái nữa, mới đi ngủ. Và lại chỉ ngủ trên trường kỷ. Từ ngày con gái cụ chữa bệnh ở Phòng thuốc nhà giàu, lại nghe nói trong phòng thuốc có một cụ Điều là bạn ông Tú Xương thì cụ đi qua Nhà vàng, hay nhìn vào để xem cho biết mặt cụ Điều. Nhưng chả lần nào thấy.
Độ hai tháng một lần, cụ Tú đảo một lượt đi thăm khắp họ hàng, bạn hữu. Cũng chả có chuyện gì để nói, uống tàn ấm nước, hút vài điếu thuốc, nhai giập miếng trầu, thì cụ về. Chủ muốn giữ cụ lâu để hỏi chuyện thêm, cụ cũng không ở, thoái thác rằng bận. Đến nhà ai, chủ đi vắng, cụ cũng không ra ngay. Cụ ngồi lại một mình, uống xong ấm nước mới đứng dậy.
Cụ coi việc đến thăm bà con tựa hồ như là bắt buộc. Nếu không, sợ người ta giận mình là khoảnh, là thị phú, là sơ tình.
Mấy chục năm nay, ngày nào cụ Tú cũng ngồi như thế ở chỗ ấy, và làm những việc ấy. Cụ với chiếc trường kỷ như liền với nhau. Hình ảnh ấy là một sự cố định, một việc dĩ nhiên. Chỉ có một lần, sự việc ấy bất thường, vì bộ trường kỷ vắng cụ. Đó là cái lần cụ bị Tây bắt mất ba hôm. Năm ấy là năm bọn thực dân thống trị đàn áp Đông Kinh nghĩa thục. Chúng thấy cụ là văn thân, nhà ở gần trụ sở Đông Kinh nghĩa thục và cùng phố với cụ cử Lương Văn Can, cụ lại chẳng làm việc gì rõ rệt, nên chúng nghi. Cụ vào nhà giam, vẫn khăn áo chỉnh tề, lúc nào cũng ngồi xếp bằng tròn và rung đùi, nét mặt rất nghiêm, chẳng nói chẳng rằng với ai. Chúng hỏi cụ về cách mạng, chẳng khai thác được thêm gì. Và thấy cụ chẳng quen ai, nên chúng cho là khủng bố cụ như vậy đã làm cụ sợ rồi. Chúng cho cụ về. Cụ lại vẫn thản nhiên như lúc cụ bị bắt. Ta cứ bảo vắng đàn ông quạnh nhà, nhưng hiệu Phúc Lâm vắng cụ mấy hôm, chỉ thấy cái trường kỷ là trống, còn cái nhà chẳng lặng lẽ thêm chút nào.
Ngày bọn đế quốc mở trường sư phạm ở phố Hàm Long để đào tạo tổng sư, bạn hữu khuyên cụ đi học. Nhưng cụ không đi. Lại ngày lớp Giáo ban tuyển khoa mục không biết tiếng Pháp vào học để bổ huấn đạo, cụ cũng từ chối. Cụ có biết rằng lớp giáo ban, cũng như lớp chánh ban, học trò được đem đầy tớ cắp sách, xách điếu theo hầu, đương giữa lớp cũng vít cái xe điếu cần câu, hút kêu xòng xọc, lại được các thầy giáo tân học kính trọng, thưa bẩm bằng ông. Nhưng cụ không thích. Cụ lấy lý do là nhiều tuổi, óc rắn khó học. Sự thực thì cụ không cần ăn lương Tây cũng đủ phong lưu rồi. Cụ bà buôn tơ. Cụ còn một cái nhà ở Hàng Dép, một cái nhà ở Hàng Vải thâm, và một cái nhà ở Hàng Mã vĩ. Cả ba cái cho thuê, đều được tiền.
Cụ bà, trái lại, là người hay nói. Đó là thói quen của các bà buôn bán đảm đang. Nhưng nói ở đâu thì nói, chứ về nhà, thấy cụ ông như vậy, cụ cũng không dám nói nhiều và nói to. Ngay những hôm phiên chợ, khách ngồi đầy bục hàng, ai bô bô và liến láu mặc họ, cụ vẫn chỉ nói khẽ.
Cô con gái cụ Tú tên là cô Lễ. Bà cử Dần, khi đưa cô đến Phòng thuốc nhà giàu, giới thiệu cô là bà Phúc Lâm. Gọi là bà, vì bà cử thấy cô nhiều tuổi, và bà nhận là bạn. Gọi là Phúc Lâm, vì người Hà Nội vẫn có thói quen giấu tên các cô con gái chưa chồng, sợ người ta biết thì viết thư nhảm nhí. Ta lại biết cô Lễ khéo tay, tết Trung thu vừa rồi, cụ Điều đã xem cỗ của cô bày, và tấm tắc khen mãi.
Ta phải nhận rằng cô Lễ giống cụ Tú ông như đúc về cái đức ít nói. Nhờ xem bệnh, mà trước sau cô chỉ hỏi có mỗi một câu. Còn ta toàn nghe thấy tiếng bà Cử vâng vâng liến thoắng để gạ xem mạch không mất tiền. Thấy cô Lễ kén chồng mãi mà chưa được đám nào vừa ý, hàng phố bảo là chỉ vì cô ít nói, chẳng ai biết ý cô muốn thế nào. Nhưng riêng cụ bà hiểu và thương cô. Cô có một nỗi u uất. Bởi sợ thời buổi Tây Tàu nhố nhăng, nên hai cụ muốn cô kén kỹ. Nhiều đám đến hỏi, cô đều từ chối. Đến một đám là học trò, tên là Côn, con một cụ cử bạn cụ ông, cụ bà dò lòng cô, thì thấy cô im, không nói gì. Thế là hai cụ biết cô ưng đấy. Nhưng chẳng may, cậu Côn cũng là học trò trường Đông Kinh nghĩa thục. Cậu bị bắt, rồi chết trong đề lao. Nghe tin ấy, cô cả nghĩ, nên sinh ra ít ăn, ít ngủ. Một tối, cụ bà bắt gặp cô khóc một mình ở trên gác. Cụ hỏi thì cô nói thác là đau bụng. Nhưng cụ biết. Cụ lắc đầu, thở dài. Thế là từ ấy đến năm nay, cô lại treo cao giá ngọc.
Cô Lễ có người em trai tên là Nghĩa, năm nay hai mươi tuổi, đã lấy vợ ba năm rồi, nhưng mới học đến lớp nhất trường Hàng Vôi. Sở dĩ cụ Tú cho cậu đi học muộn, là vì cụ chờ thời. Tức là chờ Tây về nước. Nhưng khi thấy bao nhiêu người phản đối, như quan Đình Nguyên, như ông Đề Thám, cùng bao nhiêu lần bạo động, như vụ đánh thuốc độc quan và lính Tây ở trong thành, vụ ném bom trên Tràng Tiền, đều thất bại, cụ mới ngã lòng. Sau cái năm bị bắt, muốn khỏi bị nghi là có dị chí, cụ mới cho cậu Nghĩa đi học trường Pháp Việt.
Cậu Nghĩa là người hiền lành. Đi học thì chớ, về đến nhà, cậu khẽ khàng, đặt cặp sách trên bàn học, cởi áo ngoài, treo mũ ở mắc, rồi ngồi xếp bằng tròn trên phản, ăn cơm một mình. Ăn xong, cậu ngồi vào bàn, làm bài hoặc học bài, rì rầm như đọc kinh. Có điều gì muốn hỏi chị hay hỏi vợ, cậu chỉ nói nhỏ.
Cậu không chuyện trò với vợ ở nhà dưới, nhất là trước mặt cha mẹ. Bao giờ cậu cũng đợi đến tối, trước khi đi ngủ. Hai người đều bỏ guốc ở chân thang, đi thật nhẹ nhàng lên gác, lau sạch bóng.
Cậu Nghĩa với cô Lễ hay rủ rỉ với nhau. Lúc vắng hai cụ, cậu thường đem chuyện nhà trường, chuyện ngoài phố, kể lại với chị. Và lần nào cậu cũng thêm ý nghĩ của cậu, nhiều khi đáo để, lại nhiều khi hóm hỉnh, để pha trò cho chị và vợ cười.
Ví dụ như cái lần nhà trường chọn một số học trò giỏi và ngoan mới được đi đón vua Khải Định ra Hà Nội, ngự giá Bắc tuần. Cậu ở trong số được cử. Nhưng không những cậu cáo ốm để chuồn, còn xui anh em bắt chước cậu để khỏi làm cóc vái trời. Cậu biết là xe nhà vua từ ga đến dinh ông Bảy, không đi đường thường lệ như các toàn quyền mới đến nhậm chức, là đến Cửa Nam thì sang phố Cột Cờ, thẳng vào cổng sắt phía sau vườn Bách Thú. Nhưng muốn cho thần dân được chiêm ngưỡng mặt rồng, xa giá vua Khải Định đi đến Cửa Nam thì quành lên Hàng Bông, Hàng Gai, rẽ hàng Đào, thẳng đến Hàng Giấy mới sang đường Các-nô [17], rồi quành vào cổng giữa phủ toàn quyền. Các phố được vua đi qua đều phải cắm cờ tam tài và đốt pháo. Kể ra, cậu Nghĩa có thể cứ đứng trên gác mà dòm qua lỗ gạch hoa xuống, cũng rõ bằng một. Mà chẳng ai biết cậu ở chỗ cao hơn vua để bắt tội khi quân đâu. Nhưng cậu không ở nhà. Cậu ra tận phố Hàng Lọng để đợi xem.
Lúc biết là đoàn ô tô sắp qua mặt, cậu cố lách ra phía trước để trố mắt nhìn. Nhưng xe thứ nhất, cậu chỉ thấy ông toàn quyền ngồi một mình, cạnh ông ta, có một cái gì lù lù màu vàng. Xe thứ hai, hai người Tây.
Không lẽ vua lại đi xe thứ ba. Cậu hỏi người bên cạnh:
- Vua đâu?
Người ấy trỏ tay theo xe đi đầu:
- Đấy, đấy, vàng vàng, bên cạnh ông Bảy đấy.
Cậu không ngờ. Bởi vì trên xe ấy, cậu chỉ thấy có một người đương cựa quậy thì cậu biết là ông Xa-rô. Ông ta có ria mép, đeo kính trắng long lanh, đội mũ trắng, mặc quần áo trắng, khoác chéo ở ngực cái băng tam tài. Còn cái vàng vàng ở cạnh, vì vàng róe và không nhúc nhích, cho nên cậu không ngờ là người, tưởng nó là cái gì bằng rơm. Vả lại, từ trước đến giờ, cậu đã được nhìn thấy vua trên sân khấu rạp tuồng, đội mũ sơn đỏ, mặc áo thêu rồng, có bộ râu bằng lông đuôi ngựa che lấp mồm, rủ thẳng xuống tận ngực như lá liễu. Cho nên cậu tưởng tượng vua Khải Định cũng thế.
Vì tiếc công đi xem vua mà không nhìn thấy vua, cậu Nghĩa mới cắm cổ, vừa rảo bước vừa chạy tắt con đường Cột Cờ, đến cửa dinh ông Bảy để đón đầu. May quá, cậu đến nơi thì vừa kịp.
Cậu chăm chú nhìn. Vua ngồi cạnh ông toàn quyền thật. Không đội mũ bình thiên, mặc áo long cổn, mà vận quần áo chẽn, kiểu lạ lắm, vàng róe từ đầu đến chân. Cái nón lợp dạ vàng, đính chi chít những tứ linh bằng vàng. Vua đội khăn vàng chữ nhất, đeo kính bốn mắt, màu vàng. Trên vai vua đeo hai cái ngũ quan binh dát vàng, tua bằng vàng. Áo dài thêu màu vàng, ngắn trên đầu gối, quấn quanh sườn bằng cái thắt lưng to bản kiểu thắt lưng da của tây, nhưng bịt bằng vàng. Lúc vua xuống xe, cậu lại trông rõ hai chân đi ghệt cũng đính nhiều hoa vàng, và đôi giày tây cưỡi ngựa, có cái thúc ngựa ở sau gót bằng vàng.
Vua bước lên bậc thềm. Lính Tây đứng hai bên bồng súng chào. Vua giơ quặc cánh tay phải vào nón để chào lại bằng kiểu nhà binh. Nhưng có lẽ vì thấy cả hai bên phải lẫn bên trái đều có lính chào súng, mà lại là lính Tây, nên vua giơ nốt cả cánh tay trái để chào. Thành thử lúc ấy, nhà vua vẫn nghiêm trang, chân thong thả bước lên thềm, hai cánh tay cùng giơ quặc ngang vai, như người tập thể dục.
Cậu Nghĩa tả tỉ mỉ vua Khải Định cho chị và vợ nghe, rồi bảo:
- Vua giàu hơn ta, vì có nhiều vàng. Nhưng vì thế cho nên vua giống người bện bằng rơm.
Ba người cùng cười. Nhưng theo thói quen, cũng chỉ rúc rích với nhau thôi.
Hiệu Phúc Lâm lại nuôi được một người u già cậy răng cũng không nói nửa lời. Gọi thì dạ, bảo thì vâng, cứ hùng hục suốt ngày ở dưới bếp. Cô Lễ bảo: “Hôm nay rét nhỉ”. U gật đầu: “Ừ”. Chẳng ai hiểu là u thấy rét hay nực. Vì có đức tính hợp với chủ, người này trước là u em nuôi cậu Nghĩa, rồi ở u già luôn.
Vậy thì ta thấy gia đình Phúc Lâm là một gia đình chỉ có người đi ra đi vào nhưng không có tiếng ai nói. Thật là một gia đình yên lặng. Tuy nhiều gia đình khác ở Hà Nội, nhất là những gia đình ở các phố cũ như Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Gai, Hàng Mắm v,v… cũng có những kiểu người như cụ Tú, như cô Lễ, như cậu Nghĩa, nhưng chưa gia đình nào yên lặng toàn bích như gia đình Phúc Lâm này.
Cái mẫu gia đình yên lặng như gia đình Phúc Lâm xuất hiện ở những thành phố cổ, từ ngày bọn thực dân Pháp đặt nền thống trị ở Việt Nam. Không khí ngột ngạt mới chèn ép mọi vật, tạo ra trong giới nhà nho một thứ người ở giữa nơi phồn hoa đô hội, nhưng lại muốn ẩn dật. Họ sống hiền lành, chịu đựng, sợ sệt, đa nghi, không muốn phiền lụy ai, cũng không muốn ai phiền lụy mình.
Song, việc đời nó không đi một nhịp mãi. Thời thế đổi thay. Những gia đình này cũng không phải vì cửa đóng mành che mà có thể ngăn được gió bên ngoài khỏi lọt vào.
 
Chú thích:
17)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 22:26:48 bởi Thanh Vân>
II
GIÓ LỌT  
 
Ta đã nghe bà cử Dần tự giới thiệu là bạn thân của Ma-ri, hôm đầu tiên bà đến Phòng thuốc nhà giàu, định nhận chằng cái ví tưởng tượng đựng năm trăm bạc của anh Thừa. Lại hôm bà dắt cô Lễ đến phòng thuốc ấy để nhờ xem mạch, bà cũng nhận cô làm bạn thân.
Bà Cử là bạn thân của cô y tá người Pháp thế nào, ta đã rõ rồi. Không cần nhắc lại. Ta chỉ nên biết về mối tình của bà với cô Lễ mà thôi.
Bà Cử là người béo. Ta đã được nhìn thấy hai lần cái tấm thân liễu bồ này rồi. Hẳn vì thịt của bà nhiều quá, húp híp, nó lấp tịt cả lỗ đẻ, cho nên đến tận năm nay, không đứa bé con nào có sức khỏe lách nổi khỏi bụng bà để ra ngoài được. Vì thế, lấy ông Cử hơn chục năm rồi, bà chẳng đẻ đái gì. Cho nên ông cần có thêm cái máy đẻ hoạt động tốt hơn. Bà Cử bằng lòng. Bởi vì bà nghĩ về phía bà. Nay mai chồng bà bổ ra làm quan. Bà sẽ làm bà lớn. Bà mà muốn lớn, thì bà phải tỏ ra là mình lớn. Về khía cạnh này, các bà lớn thường cho thiên hạ phục mình là lớn bằng cách đua nhau lấy vợ bé cho chồng. Quan có nhiều vợ là quan sang. Bà chính thất lấy cho quan ông nhiều vợ lẽ, cô hầu, là bà lớn có đức độ. Vì vậy, trong thời kỳ chồng chưa bổ hậu tuyển tri huyện, bà cử Dần đã hậu tuyển bà lớn trước ông. Bà rấm sẵn cho ông một người. Tức là cô Lễ.
Bà Cử say cô Lễ lắm. Một lẽ cô là gái tân, hẳn quan ông sẽ thích mê. Hai lẽ cô là con nhà thi lễ, có nết xưa nay không có tai tiếng gì. Cô lại biết buôn bán, khéo chân tay. Cái đức tính mà bà ưa nhất ở cô, là cái ít nói. Ít nói thì ít cãi nhau với bà, đỡ ầm nhà. Nhưng cái làm bà xoắn xuýt với cô nhất, phải là cái lẽ thứ ba mà bà không nói ra miệng bao giờ. Đó là hai nếp nhà gạch mà sau này cô sẽ được chia.
Bà nhờ người đánh tiếng với hai cụ Tú. Cụ bà hỏi ý kiến cụ ông. Cụ ông tặc lưỡi: “Tùy đấy”. Thế là cụ bà không dám quyết định. Cụ để quyền cho cô Lễ. Vì cô đã lớn. Việc nhân duyên là việc chung thân của cô. Bà không ép.
Bà Cử làm thân với cô. Thấy cô có tính buồn, bà rủ cô đến nhà chơi. Thấy cô ượt ạt, bà lại đưa cô lên Phòng thuốc nhà giàu nhờ xem mạch để uống thuốc bổ. Bà muốn sau này cô vợ lẽ của bà khỏe mạnh, để sinh con đẻ cái, nối dõi tông đường.
Nhưng đến khi cô Lễ được nghe tận tai cái ý của bà Cử, thì cô nói thẳng với bà là cô không thuận. Bà Cử tiếc cái công đi lại, gắn bó bấy lâu nay, bà nhờ cụ Tú lấy tình mẹ con khuyên bảo cho cô nghe ra. Hẳn cụ Tú cũng có một vài lần đả động đến việc trăm năm của cô. Song, cô nhất định từ chối. Cụ mới xui bà Cử:
- Em nó khó bảo. Tôi nói thế nào cũng không chuyển. Hôm nào mời bà đến chơi nhà, tôi giả cách đi vắng, bà sẽ nói cặn kẽ với em.
Bấy giờ ông cử Dần đỗ soóc-ti rồi, mới bổ hậu tuyển huyện Bình Lục. Vài tháng nữa, ông sẽ trọng nhậm hẳn một hạt. Vậy thì việc ông có vợ lẽ để đi theo hầu ông là việc cấp bách đấy. Cho nên độ này bà Cử luôn luôn lên Hàng Đào, thuyết cô Lễ để thúc cô bằng lòng.
Lần ấy, cụ Tú thấy bà Cử đến thì hiểu ý. Ngồi tiếp bà dăm phút, cụ đứng dậy nói:
- Tôi vô phép bà nhé. Tôi có tí việc phải đi một chút.
Bà Cử đánh một hồi trống đuổi:
- Vâng vâng vâng vâng vâng.
Còn một mình bà với cô Lễ, bà mới ngồi nhích lại gần, nói tiếng nhỏ tiếng to. Bà không chỉ nói nhỏ, vì lúc ấy cụ Tú ông ngồi rung đùi ở trường kỷ, cậu Nghĩa lầm rầm học bài, gần chỗ bà chuyện trò với cô Lễ. Bà muốn cho cả hai người cùng nghe tiếng được tiếng chăng mà bùi tai, để liệu lúc khác mà bảo thêm cô cho cô xiêu lòng. Những câu bà Cử nói to là:
- Rồi chúng ta kết nhau làm chị làm em… Tôi bắt chúng nó gọi cô là bà lớn hai… Nhà ông huyện là nhà biết quý người… Tôi thật thà như đếm, cô cũng không phải là người lèo lá, chị em ta ăn ở với nhau chắc suốt đời chẳng có điều tiếng gì… Ngày sau con cô là con tôi, con tôi là con cô… Không phải tôi tham giàu. Sau này ông huyện cũng tậu nhà, tậu đồn điền…
Nói một thôi một hồi xong, cuối cùng, để lùa mạnh tất cả những lời đường mật ngọt xót vào tai cô Lễ, bà dồn một tràng:
- Vâng vâng vâng vâng vâng.
Cô Lễ ngồi chống nẹ, tì cằm vào đầu gối, mắt nhìn xuống chiếu, chỉ nghe mà không nói gì. Thấy xuôi xuôi, bà Cử nắm cổ tay cô:
- Thế ý dì thế nào, dì còn muốn gì, dì bảo cho chị biết, chị chiều được hết. Vâng.
Cô Lễ mỉm cười, cũng không đáp. Bà Cử giục:
- Dì phải nói lên mới được! Vâng. Chỉ có chị với dì. Còn ai ở đây nữa đâu mà dì ngượng? Chị bày tỏ thế là hết lời. Hai cụ cũng giảng cho dì nhiều rồi, nhưng hai cụ cũng để cho dì tự ý. Vâng. Vậy ý dì thế nào, vâng, dì cho chị được nghe một tiếng, một tiếng thôi. Vâng.
Cô Lễ nhặt miếng trầu ở tráp, bỏ vào miệng nhai, vẫn không nói.
Bà Cử làm ra mừng rỡ, rung mạnh cánh tay cô, hềnh hệch cười, hớn hở như vồ lấy vàng:
- Vâng vâng vâng. Chị hiểu dì nói ý rồi. Vâng. Cứ đi cơi trầu rấp ngõ nhé! Vâng.
Cò Lễ ngước nhìn bà Cử, mặt vẫn buồn thiu. Bà dỗ:
- Thế nào! Một tiếng thôi vậy. Vâng. Ừ đi nào? Vâng. Ừ nhé? Vâng.
Có Lễ lắc đầu, đáp khẽ:
- Không.
Bà Cử sợ nghe lầm, hỏi lại:
- Vâng. Thế nào ạ?
Cô Lễ nhắc lại:
- Không ạ.
Bà Cử nhăn nhó, hỏi:
- Tại làm sao?
Mãi cô Lễ mới đáp:
- Tôi nghĩ được, nhưng không nói được hết.
Bà Cử tái mặt, đứng dậy:
- Thôi, vâng, hãy biết thế. Tôi cứ kiên gan, thế nào nước chảy đá cũng mòn. Vâng.
Bà chào cụ Tú ông, chào cậu Nghĩa, rồi nắm tay cô Lễ nói đùa:
- Dì không thoát tay chị đâu! Vâng. Bởi vì chị biết là dì không nỡ cho chị buồn. Vâng.
Cô Lễ tiễn bà Cử, mở cửa chấn song cho bà về, rồi quay vào.
Cụ Tú vẫn ngồi rung đùi. Cụ chỉ nhìn cô thôi. Nhưng cậu Nghĩa đã ra đến gần cô, khẽ thủ thỉ:
- Bà ấy nói nhiều nhỉ!
Cô Lễ tặc lưỡi:
- Chuyện lăng nhăng toàn là vơ vào! Chị có muốn tiếp đâu. Chị sợ rồi bà ấy sẽ đến nữa thì phiền quá.
Cậu Nghĩa nói:
- Chị không muốn tiếp, thì lần sau thấy bà ấy đến, chị lên gác mà ngồi.
Chắc rằng cụ Tú nghe rõ những lời hai con nói chuyện với nhau. Cụ đứng dậy, vào buồng thờ, lấy ra một cái tráp sơn then. Cụ mở tráp, tìm cuốn số tử vi, mở xem lá của cô Lễ. Đùi cụ rung, tay cụ bấm đốt. Một lát, cụ gấp giấy, bỏ vào tráp, rồi cất tráp vào buồng thờ. Cụ lại ngồi xếp bằng tròn trên tràng kỷ, rung đùi, chẳng nói chẳng rằng.
Cô Lễ nhìn cụ thì biết ý, chứ không dám hỏi. Thấy cụ xem tử vi của cô mà lặng thinh, thì tất cụ cho cô là phải. Hẳn là số cô không phải đi làm lẽ, số cô không lấy chồng quan, hoặc số cô năm nay chưa đứng.
Cô mừng lắm.
 
* * *
 
Bà cử Dần hết hy vọng, không bén mảng đến hiệu Phúc Lâm làm gì nữa. Cô Lễ nói với mợ Nghĩa:
- Bà ấy cho chị uống thuốc bổ không bằng!
Thật thế, ít lâu nay trong bụng được thư thái, cô Lễ ăn được ngủ được.
Cụ Tú ông thì cho là sở dĩ độ này con gái có da có thịt, vì ông cụ Điều bạn với ông Tú Xương ở Phòng thuốc nhà giàu đã xem trúng mạch và chữa trúng bệnh. Mấy chục thang thuốc tuy có đắt thật, nhưng rất công hiệu. Cho nên, cụ thấy mấy hôm nay bụng hơi đầy đầy, cụ đến Phòng thuốc ấy, nhờ cắt cho dăm thang. Trong phiếu, cụ ghi là Phúc Lâm chủ nhân, muốn được cụ Điều thăm bệnh.
Cụ Điều mời cụ Tú vào buồng. Cả anh Thừa cũng ngồi ở đấy. Hai cụ vái chào nhau, đúng như hai ông nhà nho. Bởi vì cụ Điều biết Phúc Lâm chủ nhân không những là cha của bà khách quen, mà còn là bậc khoa mục nữa. Và cụ Tú kính trọng cụ Điều, vì ngoài những thành tích về nghề nghiệp in trong quảng cáo, cụ lại còn là chỗ thanh khí, bạn với ông Tú Xương.
Cụ Tú đưa cổ tay cho cụ Điều chẩn mạch.
Anh Thừa ngồi cạnh, nghiêm chỉnh như người học trò trước mặt thầy. Cụ Điều day day, ấn ấn mấy ngón vào mạch của cụ Tú, bỗng gật gật, lùa nhỡn tuyến lên trên mắt mục kỉnh để nhìn anh Thừa, rồi tươi cười:
- Đúng là cái lối mạch tôi vừa nghiên cứu với tiên sinh hôm qua.
Anh Thừa nét mặt mừng rỡ, khúm núm đáp:
- Dạ.
Cụ Điều lại day day:
- Đây nhé. Bây giờ tôi khiến lại nó nhé.
- Dạ.
Cụ ấn ấn thêm mấy cái, rồi như nói với cái mạch:
- Có mà chạy lên mây!
Anh Thừa hớn hở, lại:
- Dạ.
Cụ Điều hất hàm, mời anh Thừa:
- Tiên sinh coi thử. Tôi có nói sai chút nào không?
Anh Thừa đặt ngón tay vào cổ tay cụ Tú, gật gật:
- Dạ, dạ. Bẩm đúng quá ạ.
Cụ Điều cười:
- Thế này thì tôi đố đốc tờ nào tìm ra căn bệnh đấy. Họ thì chỉ vi trùng! Vi trùng! Rồi cho người ta uống thuốc liều! Thế là chỉ khổ bệnh nhân, tốn hàng trăm mà tiền mất, tật vẫn mang.
Rồi cụ nói với cụ Tú:
- Thưa cụ, bỉ nhân xin cam đoan với cụ, là cụ dùng dăm thang, sẽ thấy trong người như thường.
Cụ Tú chắp hai tay:
- Dạ.
Rồi xin thuốc để đem về. Thấy cụ Điều chỉ nói về chuyên môn, vả cụ ấy bận, cụ Tú không muốn ngồi lâu để đàm đạo về thơ ông Tú Xương. Cụ Điều tiễn cụ Tú ra cửa. Cụ Tú nói:
- Được biết tiếng tiên sinh là bạn của ông Vị Xuyên, trước lạ sau quen, lần khác chúng tôi xin đến hầu chuyện tiên sinh lâu.
Cụ Điều khom lưng để cung kính, đáp:
- Đa tạ. Ít lâu nay bỉ nhân mê man về y nghiệp, sao nhãng cả văn chương. Những lúc tửu hậu trà dư, muốn gợi lại cái thú ngâm vịnh, nhưng ngặt vì thiếu tri kỷ. Nếu Chung Kỳ hạ cố, Bá Nha này xin cúc cung.
Nói đoạn hai cụ rạp xuống vái nhau.
Cụ Tú lững thững về, lòng rất tin tưởng gặp thầy gặp thuốc, và rất mến phục con người trang trọng hiếm có. Cụ khuyên cô Lễ nên đến nhờ cụ Điều cắt thêm thuốc bổ nữa mà uống cho thật khỏe. Cô vâng lời, nhưng mách cụ:
- Con thấy người ta khen ông y sĩ Trần giỏi hơn cụ Điều nhiều. Mấy lần trước, ông ta xem mạch cho con, nói cũng đúng lắm.
Cụ Tú gật đầu:
- Tùy đấy.
Một buổi trưa, cụ Tú lên Đông Hưng viên, lúc về, cụ nghe trong nhà có tiếng rúc rích. Cụ biết là cô Lễ và vợ chồng cậu Nghĩa đương cười với nhau. Muốn các con khỏi sợ vì bị cụ bắt chợt đùa nghịch, cụ đằng hắng để đánh tiếng, mới vén mành đi vào. Cụ thấy cô Lễ đeo kính trắng của cụ, đội mũ lưỡi trai của cậu Nghĩa, đương cầm cổ tay bắt mạch cho mợ Nghĩa. Chắc rằng ba ngươi mải cười nên không biết cụ về.
Cô Lễ thấy cụ thì giật mình, vội vàng trật mũ, bỏ kính, vừa bưng miệng vừa ù té chạy vào nhà trong. Vợ chồng cậu Nghĩa lúng túng, xỏ lẫn guốc với nhau, không trốn kịp. Thấy cụ đi qua, mặt vẫn thản nhiên, hai người cố nhịn cười, nhưng càng nhìn nhau càng không thể nín được.
Cụ Tú không mắng. Nhưng cái im lặng của cụ làm cho con và dâu hết hồn.
Cụ ngồi trường kỷ, hỏi mợ Nghĩa:
- Đẻ đâu?
- Thưa thầy đẻ con đi lên chợ ạ.
Cụ mỉm miệng:
- Chúa vắng nhà có khác!
Rồi thản nhiên, cụ hút thuốc lào, rung đùi, nét mặt tươi cười. Bởi vì có điều vui trong bụng. Cụ cho là cô Lễ có khỏe mạnh mới biết đùa bỡn. Cái trò bắt mạch vừa rồi, cụ biết là cô đã bắt chước ông y sĩ Trung Hoa dân quốc ở Phòng thuốc nhà giàu, vì ông này đeo kính trắng và đội mũ lưỡi trai. Cụ suy nghĩ đến lớp tuổi trẻ. Con trai con gái thời này cũng như thời trước không nghịch ra mặt thì cũng nghịch ngầm.
* * *
Một hôm, cụ Tú thấy cô Lễ và cậu Nghĩa phục vị ở phản hàng, cặm cụi xem một quyển sách. Cụ không đọc thạo chữ quốc ngữ, hỏi, thì cậu Nghĩa đáp:
- Thưa thầy đây là quyển sách thuốc ạ.
Cụ chưa nghe rõ, cau mặt:
- Tiểu thuyết thì nhảm nhí, con gái không nên đọc.
Cô Lễ nói to:
- Thưa sách thuốc ạ.
Cụ cười:
- Thế à! Thuốc gì?
- Các thứ thuốc bí truyền ạ.
Cụ ngớ mặt:
- Bí truyền mà in vào sách à?
Cô Lễ đáp:
- Vâng ạ. Cho nên mới gọi tên sách là Truyền thuốc bí truyền ạ.
Cụ Tú nhắc lại từng tiếng:
- Truyền thuốc bí truyền!
Cô Lễ mách thêm:
- Quyển này của ông y sĩ Trần Đức Thừa với cô y tá Ma-ri ở Phòng thuốc nhà giàu làm ra và được cụ Điều duyệt lại đấy ạ.
Cụ Tú ngạc nhiên:
- Thật à?
- Vâng ạ.
- Đưa thầy xem.
Cụ cầm tập sách đánh máy, vì mắt không đeo kính nên xoay ngược để ngắm nghía, rồi đưa cậu Nghĩa:
- Đọc cho thầy nghe một vài bài.
Cậu Nghĩa mở tình cờ một trang, bài chữa sán. Cụ Tú lắng tai nghe các triệu chứng và nguyên nhân của bệnh này. Đến đơn thuốc, cụ bảo con đọc thong thả để cụ biên. Biên xong, cụ xem lại từng vị, rồi gật gù, khen:
- Thuốc đứng đắn lắm.
Cậu Nghĩa đọc đến bài khác chữa đau bụng kinh niên. Thấy đau bụng kinh niên là đau dạ dày, là đau ruột già, là đau ruột non, là đau gan, là đau lá lách, cụ mới được rõ thêm:
- À, thảo nào. Ta cứ cho đau bụng thì gọi là đau bụng. Chữa không đúng thì bệnh hóa kinh niên. Ta lại cứ bảo từ ngày Tây sang mới sinh ra lắm chứng bệnh trước kia không có. Thì ra trước kia hay bây giờ, ta vẫn đau mà ta chưa biết là đau gì, ở đâu.
Khi biên bài thuốc xong, cụ ngẫm nghĩ, lại khen:
- Ừ, thuốc đứng đắn đấy.
Rồi cụ tiếp:
- Không trách Phòng thuốc nhà giàu đông khách. Thì ra thiên hạ có tinh mắt thật.
Mải khen thầy khen thuốc, cụ không hỏi cậu Nghĩa hay cô Lễ là quyển sách quý này, cậu hay cô đã mượn ở đâu, ai cho mượn, và vì sao người ta cho mượn để đem về nhà.
 
* * *
 
Năm 1919, cậu Nghĩa khai sinh lậu bốn tuổi để nếu đỗ sơ học Pháp Việt thì còn được thi vào Ban thành chung trường Bưởi, tức là trường Bảo hộ [18]. Cậu trúng tuyển vào học năm thứ nhất.
Cuối mùa thu năm ấy, suốt trong Nam ngoài Bắc nước ta, xảy ra phong trào để chế Bắc hóa, sau gọi nửa Quảng Đông nửa ta, là tẩy chay hàng Tàu. Thanh niên học sinh tham gia rất hăng hái. Cậu Nghĩa cũng được lôi cuốn theo làn gió mạnh như bão táp ấy.
Cụ Tú thấy tự nhiên không được đến Đông Hưng viên ăn tỉm xắm và uống chè Long Tỉnh, vì ở những phố đông Hoa kiều, như Hàng Ngang, Hàng Buồm, Hàng Bồ v.v… học trò đứng đầy, ngăn người ta vào các hiệu khách. Cụ lại thấy tối nào cậu Nghĩa cũng đi với các bạn, có khi chín mười giờ khuya mới về học bài, cụ biết là cậu đi tẩy chay, nhưng vẫn hỏi:
- Con đi đâu?
Cậu Nghĩa không giấu:
- Thưa thầy, con đến Phòng thuốc nhà giàu in giấy cổ động quốc dân tỉnh ngộ không mua hàng Tàu, dùng nội hóa.
- Dùng nội hóa là phải, nhưng tại sao lại chỉ không mua hàng Tàu?
- Tại bọn Tàu láo lắm ạ.
Cậu mới nói cái nguyên nhân việc tẩy chay cho cả nhà nghe:
- Từ xưa đến giờ, người mình quen dùng hàng Tàu. Ngay như nhà ta, quanh đây, toàn là đồ Tàu.
Cậu trỏ bộ ấm chén, cái đĩa điếu, cái bát ăn cơm và mấy cái chậu ở sân:
- Vì thế, người Tàu sang buôn bán bên ta rất nhiều. Ở Hà Nội, có ít, nhưng ở Hải Phòng thì nhan nhản những khách.
Và ở Sài Gòn. Chợ Lớn, nhất là Chợ Lớn. Tây người ta gọi là thành phố Tàu. Ở Nam Kỳ, khách trú nắm hết quyền buôn bán giàu thiên ức vạn tải. Ở Sài Gòn, người mình vẫn vào ăn uống ở những tiệm khách. Một hôm trong một hiệu cà phê, không biết có điều gì xảy ra, mà một người An-nam đến ăn, bị người chủ hiệu sỉ nhục. Thế là tất cả người mình tức, rủ nhau từ nay không thèm vào cái hiệu hỗn xược này nữa. Mình chỉ định tẩy chay một nhà, nhưng bỗng tự nhiên, có một bức thư của một người khách, tên là Lý Thiên, gửi chửi tất cả đồng bào ta.
Cậu đọc thuộc lòng cả bức thư:
- Chúng bây từ Nam chí Bắc, toàn là đồ man di mọi rợ, hiểu sao đặng chữ Tẩy chay, vân vân.
Rồi cậu hầm hầm:
- Nhục nhã chưa! Bức thư ấy gửi ra Trung Kỳ, Bắc Kỳ, làm quốc dân ta tức điên ruột. Người mình bảo nhau thế thì tẩy chay hàng Tàu, cổ động đồng bào dùng nội hóa, khuyến khích nhau làm công nghệ. Phong trào tẩy chay lan rất nhanh khắp nước, ở các trường, nhiều thầy giáo in giấy cho học sinh đi phát, và đi khuyên bảo mọi người, đừng mua hàng Tàu. Trường Bưởi chúng con phải làm gương cho các trường ở Hà Nội. Mấy hôm nay, chúng con không mấy ai ở nhà. Chúng con đi tẩy chay. Lại được ông chủ Phòng thuốc nhà giàu ở Nhà vàng Bờ Hồ rất tử tế, cho chúng con mượn cái buồng và cho tiền mua thạch, mua giấy để in bản cổ động. Thỉnh thoảng, ông ta lại thết phở. Chúng con làm việc ham mê lắm. Ở các tỉnh, học sinh cũng được các thầy giáo khuyến khích, đi tẩy chay rất hăng. Ở Thái Bình, học trò làm dữ hơn, vào phá cả một hiệu khách. Có người tức, đập tan cả lọ độc bình, lẫn ấm chén sứ Tàu của nhà mình. Có mấy anh là con cháu ông phủ, ông huyện, sẵn có thạch và giấy dùng vào việc quan, các anh ấy lấy in cổ động, gửi đi khắp nơi trong hạt. Đến ngày phiên chợ, các anh ấy bắt lính cơ cầm roi đứng canh trước mấy hiệu khách, bảo ai không nghe, thì sai lính vụt. Thành thử ở đấy, chẳng ai dám mua hàng Tàu. Tẩy chay có quyền, thế mới sướng.
Cụ Tú ông thấy cậu Nghĩa kể chuyện rất hào hứng, bỗng cụ giơ tay ra để ngăn:
- Cổ động dùng nội hóa, khuyến khích làm công nghệ là tốt. Nhưng coi chừng, đừng làm quá, mà cũng đừng làm không đến nơi.
Cô Lễ hỏi:
- Thưa sao ạ?
- Thầy mà là cái ông phủ, ông huyện nào đó, thì thầy nọc cổ lũ trẻ nhà ông ấy, đánh cho mỗi đứa ba roi, vì chúng nó làm quá. Còn làm không đến nơi, là ta chưa có công nghệ ganh đua được với công nghệ nước ngoài, thế mà ta lại có thói quen khinh nội hóa, chuộng ngoại hóa, ta không chịu dùng nội hóa, thì lấy gì để khuyến khích công nghệ ta một ngày một khéo, một tốt hơn. Bây giờ, ta khuyên nhau đừng gánh vàng đi đổ sông Ngô, thì ta có khỏi gánh vàng đi đổ sông Tây không? Người mình được lợi lộc gì?
Cậu Nghĩa yên lặng. Cụ Tú tiếp:
- Tuổi trẻ hay hăng hái. Đã hăng hái thì không suy tính kỹ lưỡng, và dễ chóng chán. Không khéo chỉ bồng bột lúc đầu, rồi vài tháng, đâu lại hoàn đấy. Thế cũng là không làm đến nơi.
Cụ bà than phiền:
- Bây giờ nhà nước lại sinh ra cái tẩy chay nữa. Thật là lôi thôi!
Cậu Nghĩa nói:
- Thưa đẻ, không phải nhà nước xui dân tẩy chay, mà tự người Tàu gây ác cảm, làm cho quốc dân phẫn nộ. Chính việc tẩy chạy ngoại hóa là bắt đầu từ người Tàu trước tiên. Bên Tàu, có một người tên là Hạ Oai, bị một người Nhật buôn bán ngược đãi, đánh đập thậm tệ. Hạ Oai rất căm giận. Nhưng vì bị thương nặng, anh ta không thể trả thù được, phải ngậm hờn mà chết. Bạn hữu đến thăm anh ta, thấy anh ta nắm ở tay một tờ giấy nhỏ viết hai chữ Để chế. Thế là bạn hữu trả thù thay anh ta. Phong trào Để chế Nhật hóa nổi lên đùng đùng, lan ra khắp nước. Cũng nhanh và mạnh như phong trào Để chế Bắc hóa ở nước ta bây giờ vậy. Ở nhờ nước người ta, buôn bán với người ta, mà khinh người ta, thì chỉ có mà cuốn gói xéo sớm.
Cụ bà nói:
- Đẻ là đàn bà, đẻ hay dát. Ngày trước, thầy đã bị cái dớp, nhờ phúc ấm tổ tiên, được tai qua nạn khỏi ngay. Từ đó, đẻ cứ như gà phải cáo. Năm kia, ông Ba, con cụ Cử nổi lên ở Thái Nguyên [19], đẻ chỉ sợ nhà nước lại hỏi han đến thầy. Nhưng may quá, thầy không việc gì. Năm ngoái, đẻ qua Bờ Hồ, thấy học trò trường Bưởi đánh nhau với học trò con Tây trường Lít-xê, một anh bé hơn con, gầy gò hơn con, bị ba đứa nó đánh sưng cả mặt. Đẻ cứ mừng rằng phúc nhà dun dủi cho con đi học muộn, lại học trường Hàng Vôi, chứ nếu phải năm nay, thì thế nào con cũng toạc đầu xẻ tai. Bây giờ đẻ thấy con nhiệt thành tẩy chay, đẻ ngại lắm. Con nghĩ kỹ xem, hay là thôi chăng?
Cậu Nghĩa cười:
- Đẻ đừng sợ. Con dòng cháu giống thì phải yêu nước, thương nòi.
Cụ bà hỏi cụ ông:
- Ông nghĩ thế nào?
Cụ ông đáp:
- Tùy đấy.
Như được khuyến khích, cô Lễ nói:
- Con mà là con giai, con cũng đi tẩy chay.
Cậu Nghĩa nhìn chị:
- Ai cấm con gái?
- Ai lại con gái mà đến Phòng thuốc nhà giàu in giấy cổ động với con giai!
Mợ Nghĩa nói:
- Có làm sao? Không đến in thì đi phát giấy ở các phố.
Cậu Nghĩa gật đầu để biểu đồng tình:
- In cũng được chứ sao? Chị đến Phòng thuốc nhà giàu với chúng em, thì chúng em coi chị như chị, đứa nào dám hỗn láo?
Mặt cô Lễ bừng bừng. Cụ bà cười với cụ ông:
- Thật là chuyện trẻ con! Chưa chi đã cãi nhau! Sao cậu không bảo mợ ấy đi mà in?
Mợ Nghĩa hớn hở:
- Nếu con được thầy đẻ cho đi, con đi ngay.
Cậu Nghĩa lấy trong cặp một tập giấy, tờ khổ to, tờ khổ nhỏ, tờ in máy, tờ in thạch, đưa cho chị và cho vợ.
Cụ ông bảo:
- Đọc thầy nghe.
Cô Lễ đọc:
- Hỡi quốc dân đồng bào! Không gánh vàng đi đổ sông Ngô! Nên dùng nội hóa! Chấn hưng thực nghiệp! Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng…
Mợ Nghĩa tranh cô Lễ:
- Con đọc thầy đẻ nghe cái thư của Lý Thiên. Cậu Nghĩa ngăn vợ:
- Thư ấy thầy đẻ vừa nghe rồi, để con đọc bài hát xẩm, hay đáo để.
Nói đoạn, cậu đọc:
- Ti thì về, ti thì về, cái vộ ôi, ổ lại, tể ngộ ti thì về. Pôn thô pán ế vì các tất Tam Kỳ nó tẩy chay. Thôi nị tành ở lại pên này, ngộ hồ Quảng Tống ti cày tể nôi thân. Cạch tến già không pôn pán với ố nàm nhân…
Cụ ông mỉm cười:
- Các con để chị đọc nốt bài Hỡi quốc dân đồng bào. Bài ấy văn chương nghiêm trang hơn.

Thôi, ta để mặc cho cô Lễ đọc tờ cổ động cho hai cụ Tú nghe. Câu chuyện tẩy chay này, nến viết kỹ, e rằng lạc đề. Ta chỉ nên theo dõi cái phần có quan hệ đến tiểu thuyết này. Tức là tại sao học sinh trường Bảo hộ tâm thành với phong trào Để chế Bắc hóa, lại dùng cái ổ gian dối là Phòng thuốc nhà giàu làm chỗ hội họp để hoạt động? Và cái gì nó xui một cô gái kén chồng, rỉ rén và e lệ, con của một gia đình yên lặng nhất Hà Nội, dám mạnh dạn nói một câu trước mặt cha mẹ lúc nào cũng nghiêm trang: “Con mà là con giai, con cũng đi tẩy chay”.
 
Chú thích:
17)
18)
19)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
III
XUỐNG CHÓ  
 
Ma-ri đẻ con trai. Hắn vui sướng lắm, bàn với anh Thừa đặt tên thằng bé là Pôn. Hắn nựng nó:
- Tên trùng với các ông toàn quyền Pôn Be, Pôn Đu-me, ngày sau thế nào cũng làm to, Pôn nhỉ!
Ma-ri bắt anh Thừa bế con, thì anh bế. Nhưng lần nào anh cũng có vẻ mặt băn khoăn. Anh vạch lót, ngắm thằng bé từ đầu đến chân, rồi thở dài. Anh lại luôn luôn nắn cái xương cằm nó cho đỡ vuông, và cái hàm răng nó cho đỡ vẩu. Anh nghĩ không biết cương vị của anh đối với thằng Pôn thế nào là đúng. Thấy anh như vậy, Ma-ri tìm những lời an ủi cho anh phấn khởi và tin tưởng:
- Con hơn cha là nhà có phúc. Lẹm cằm xấu lắm, toa ạ.
Hắn bảo anh tìm vú em để nuôi thằng Pôn cho hắn giữ lâu được sắc đẹp.
Anh Thừa chiều ý hắn.
Từ ngày có con, đôi vợ chồng này tiến bộ nhiều. Họ thật thà với nhau hơn trước. Bởi vì hai người được ràng buộc chặt chẽ với nhau thêm một tao nữa bằng đứa bé có cái để làm giống. Bây giờ phải vì con mà gánh thêm những nhiệm vụ mới. Tức là bảo vệ lẫn nhau, bảo vệ tính mạng, bảo vệ đời sống cho nhau.
Từ hôm anh Thừa thấy mẹ Mão lừng lững đem con đi, thì anh lo lắm. Chị giận anh, chắc là thế nào cũng phá hạnh phúc mới của anh. Anh đoán chị về nhà quê mách tội với ông bà Bếp. Anh cho anh Xi đi dò la tin tức. Nhưng không phải. Không biết chị đi đâu. Anh càng lo. Hẳn là chị lẩn quất đâu quanh ở Hà Nội, để một ngày nào đó, chị đến Phòng thuốc nhà giàu, bêu rếu anh và Ma-ri. Anh dặn anh Xi và cụ Điều phải đề phòng cửa rả cho cẩn thận. Anh cũng bảo Ma-ri phải thủ thân. Lỡ ra chị gặp hắn ở đường, cơn điên nổi lên, chị có thể liều gây chuyện đánh nhau to, xảy ra án mạng không biết chừng. Anh xui Ma-ri góp dần mỗi tháng ít tiền vào hội Bảo hiểm nhân thọ, để lỡ gặp nạn, thì hội đền cho một món lớn.
Anh với Ma-ri đã là vợ chồng, thì phải nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau, mưu hạnh phúc chung, để cùng hưởng. Muốn hưởng hạnh phúc vật chất, hai người phải cùng tính toán, lo toan cách sinh sống. Muốn hưởng hạnh phúc tinh thần, hai người phải thương yêu nhau. Và chỉ thương yêu nhau, chứ đừng thương yêu người khác. Với anh và Ma-ri, điều kiện này là chủ chốt. Vả lại, gia đình nào có hạnh phúc về tinh thần mới dễ gây hạnh phúc về vật chất.
Vì vợ chồng đã thông suốt về tình nghĩa sơ đẳng nhất của những người được ông Tơ bà Nguyệt xe duyên với nhau, anh Thừa khuyên Ma-ri nên thật thà với anh. Anh nêu gương trước. Là tuy vẫn giấu cái lai lịch của tấm bằng làm thuốc của anh, nhưng anh nói thực về cái tài làm thuốc của cụ Điều. Vì vậy, Ma-ri không đành lòng giữ kín mãi về cái bản chứng nhận làm y tá của hắn.
Ma-ri lo. Anh Thừa cũng lo.
Ma-ri lo, vì sợ anh sẽ kém tin cậy hắn. Anh Thừa lo, vì cả ba người không ai biết thuốc mà dám mở phòng thăm bệnh. Nhiều lần bị khách hàng hỏi vặn về thuốc, anh và cụ Điều đã lúng túng lắm rồi. Thế thì chẳng chóng thì chầy, cứ tiếp xúc hàng ngày với bệnh nhân, thế nào cũng có một ngày anh bị họ trông rõ bộ mặt thực. Nhưng cả anh và Ma-ri đều chưa muốn bỏ nghề này, làm nghề khác, vì phòng thuốc đương phát đạt. Lý do là những người nhà giàu chưa bị lừa hết lượt, hoặc còn có những người chưa nhận thấy là mình bị lừa. Cái ngày Phòng thuốc nhà giàu mất hết tín nhiệm thế tất phải đến. Nhưng nhất định chưa là ngày mai, hoặc tháng sau. Nếu khéo duy trì, thì với cái đà đông khách này, anh còn có thể giữ nó bền một hai năm cũng nên. Vì những người giàu mà dại không phải là hiếm. Anh Thừa cần nghĩ làm sao cho cách kiếm ăn dễ dàng này, là cách bịp nhà giàu bằng nghề làm thuốc, được trôi chảy trong một thời hạn lâu nhất. Anh bảo Ma-ri:
- Cho nên bây giờ moa mới biết phục tụi chủ các dược phòng họ chỉ hoàn tán thuốc để bán. Như vậy, họ không trực tiếp giao thiệp với bệnh nhân, thì mặt họ thế nào, họ không bị lộ chóng.
Hai vợ chồng bàn nhau. Anh Thừa quyết định là từ nay nên làm thật nhiều thuốc để gửi bán ở các đại lý. Về chuyên môn, anh nhận là thạo, nên dám nhận việc hoàn tán, pha chế. Anh nhường việc giao thiệp với ngoài cho Ma-ri.
Con chim bị nhốt bao giờ cũng lồng lộn, muốn ra sống với thiên nhiên. Cho nên Ma-ri phấn khởi như người tù được tuyên bố sắp tạm tha. Hắn đặt kế hoạch công tác.
Bây giờ hắn xinh tươi bằng trước rồi. Hắn sẽ diện ngất, lên phố Tràng Tiền, thương lượng mua buôn thuốc tây với mấy dược sư hạng nhất người Pháp, mở hiệu bào chế ở phố ấy. Hắn nghĩ trong bụng rằng những người có học này không nỡ hôn quỵt mà không trả lại hắn cái gì. Hẳn là họ nhận giao dịch với hắn. Hắn còn làm họ tranh nhau tăng hỏa hồng để được độc quyền cung cấp hàng cho Phòng thuốc nhà giàu. Nhưng hắn sẽ không dại. Hắn phải giữ cảm tình cả ba nhà bào chế. Để hắn chọn thuốc. Thứ nào tốt nhất, do hãng nào sản xuất ở bên Pháp, và gửi bán ở hiệu bào chế nào, thì hắn mới mua của hiệu ấy. Như vậy, hắn sẽ có toàn thuốc tốt.
Anh Thừa cho ý kiến của Ma-ri là chí lý. Nhưng anh bàn lại. Buôn thì cần có lãi nhiều. Nhưng buôn càng thật thà, càng ít lãi. Trái lại, buôn càng có lắm mánh khóe, càng được lãi nhiều. Mua thuốc tây mà phải giao thiệp với tận chủ, thì khó lòng lãi to. Nhiều lắm, được hai mươi phần trăm là cùng. Cho nên, phải điều đình với người làm công. Những người này, vì lương quá hạ, không đủ ăn, thường phải lén lút giấu hàng của chủ, bán cho khách, để lấy tiền bỏ túi.
Anh kể những thí dụ của chính bản thân anh và của các bạn anh cho Ma-ri nghe.
Một lần, anh vào hiệu Giuy-banh mua kính. Anh đương chọn, thì cái người làm công mắt lác nói khẽ với anh: “Tự do nhất nguyên”. Anh hiểu ý, dúi cho người ấy tờ giấy bạc. Người ấy đút tiền vào ống tay áo. Khi anh chọn được cái kính râm gọng vàng vừa ý, người ấy đứng che mắt chủ, để anh cầm kính đi ra, rất tự nhiên.
Một người bạn anh có đồn điền ở Ninh Bình, vẫn mua của người làm công ở nhà Gô-đa từng hòm đạn bắn chim. Nơi nhận hàng và nơi trao tiền là Vườn hoa Pôn Be, sau bảy giờ tối, nhà Gô-đa đóng cửa. Khi tan buổi làm việc, người làm công Việt Nam nào cũng bị Tây đen gác cổng bắt múa phượng hoàng, nghĩa là giơ tay lên trời cho nó nắn người để khám, thế mà không hiểu làm cách nào, họ vẫn mang lọt được hàng kiện lớn ra ngoài.
Anh Thừa kết luận là mua hàng các hiệu tây mà không biết ăn cắp là kém, anh không kém, Ma-ri không kém, tại sao mua bằng cách thật thà?
Nhưng kinh nghiệm cho anh biết rằng bệnh nhân Việt Nam tín thuốc bắc hơn thuốc tây. Vậy Phòng thuốc nhà giàu làm thuốc bắc là chính. Thuốc tây chỉ là phụ. Bán thuốc bắc thì lãi vô hạn. Nhưng phải biết chỗ mua. Bài thuốc đã có ở trong cuốn Truyền thuốc bí truyền. Vả ít lâu nay, cụ Điều và anh còn học thêm được một ít bài nữa. Thế là tạm đủ.
Anh nhất định không cất hàng của nhà anh em họ Phó, dân Đa Ngưu, mở những hiệu lớn ở phố Phúc Kiến. Buôn với họ thì chịu họ ăn lãi một tầng. Anh biết một người chủ thuyền, tên là cả Bùi, ở Trà Cổ, vẫn làm nghề chở lậu thuốc bắc từ Quảng Đông sang Bắc Kỳ. Anh sẽ tìm cả Bùi. Như vậy, thuốc mua tận gốc, được giá rẻ, chỉ phí tổn đài tải, rồi đem bán tận ngọn. Không qua thuế, còn được lợi thêm tiền thuế. Món này không phải nhỏ đâu. Vì có vị nhà đoan đánh ngang, hoặc gấp đôi giá mua. Buôn với cả Bùi thì khoán tất cả cho hắn, không phải nói năng chạy chọt với ai. Cả Bùi đưa thuốc đến chỗ hẹn, mới nhận tiền. Chỉ có một ít phiền, là sao tranh được hàng với những hiệu trên Phúc Kiến, trên Hàng Thuốc Bắc và với một vài dược phòng lớn khác.
Tính toán công việc, anh Thừa mới thấy thiếu anh Xi là thiếu cánh tay phải. Anh này vừa khỏe mạnh, vừa thật thà, vừa quen nghề, vừa quen tính anh. Đức đáng quý hơn cả của anh Xi là chuyện đâu bỏ đấy, không kể lại với người khác.
Anh Xi thôi việc. Bây giờ tìm được một người như thế thật là khó.
Anh Xi không làm với anh Thừa nữa. Cái hôm anh ta xin ra, quả là anh Thừa có giận, nên không lưu lại. Và ít lâu nay, nhiều khi anh Xi đâm ra bướng bỉnh, hay cãi anh Thừa, và luôn luôn cãi Ma-ri. Hình như có điều gì, anh ta hậm hực với Ma-ri. Và Ma-ri cũng ác cảm với anh ta. Ma-ri xui anh Thừa đuổi anh ta, nhưng anh Thừa chưa nỡ, thì anh ta đã xin thôi việc. Anh Thừa còn giận anh Xi hơn nữa, là anh Xi xui cả cụ hai Điều cùng thôi với anh ta. Hai người ra mở riêng phòng chữa bệnh.
Mấy tháng nay, cụ hai và anh ta đã lõm bõm thuộc một ít bài thuốc, chứ không đến nỗi đặc cán mai như những ngày mới. Cụ xem mạch, kê đơn, anh Xi bốc thuốc. Hai người làm ăn chung. Anh Xi đã lấy giấu một cuốn Truyền thuốc bí truyền, định dùng làm cẩm nang. Anh ta nói tức cụ Điều là tội gì phải đi làm công để luôn luôn chịu khinh rẻ, mắng mỏ. Song, cụ không dám mạo hiểm mà phiêu lưu. Cụ bảo vì cụ kém tài ăn nói.
Anh Xi ra Phòng thuốc nhà giàu một mình. Anh về làng làm nghề cũ là cày ruộng, ủy thác đời sống của mình cho thiên thời, cho lòng săn sóc đến dân sinh của các quan bảo hộ.
Thấy anh Thừa có vẻ nhớ tiếc anh Xi, Ma-ri ra ý không bằng lòng. Hắn không nói ra, nhưng có ý nghĩ ngợi.
Giá thử Nguyệt lão không se duyên, thì nó đi một nhẽ khác. Đằng này, dây tơ hồng đã quấn chặt hắn với anh Thừa, thế mà hắn không được anh tin cậy bằng anh Xi trước kia vẫn được anh giao cho hàng trăm. Hắn đòi nâng khăn sửa túi cho anh. Nhưng anh lờ đi. Khăn thì hẳn là anh không có rồi. Còn túi thì anh cương quyết không cho hắn sửa thật. Anh không để tiền trong túi, mà cất vào ngăn kéo riêng có khóa chữ. Tháng tháng, anh vẫn phát lương cho hắn như trước, để hắn góp tiền cơm và tiêu vặt.
Vì không làm ra được bổng ngoại như ngày còn sống tự do, Ma-ri mới nghĩ đến việc sinh lợi để có đồng ra đồng vào, sinh lợi ngoài cách dùng thân thể của hắn. Hắn bán hai chiếc kiềng vàng Mỹ-ký và chiếc nhẫn ba-dê, ăn bớt tiền thuốc hoặc thỉnh thoảng vay chạy hay xin hẳn anh Thừa, lúc dăm đồng, lúc một chục. Hắn cầm cái họ để vay chằng nhà con. Có vốn, hắn mới cho vay, cầm đồ, và buôn lặt vặt bất cứ thứ gì có lời.
Vả cũng bận về con, hắn đỡ lông bông, nên đứng đắn hơn trước. Hắn tập ăn trầu, hút thuốc lá Thành Xương quấn sâu kèn, và uống chè mạn sen. Hắn nhờ bà cử Dần dắt đến làm quen với những bạn của bà, là những bọn kiếm ăn cơ hội.
* * *
Phòng thuốc nhà giàu đã hoàn tán thuốc bắc và chế biến thuốc tây thành thứ thuốc riêng của hiệu. Anh Thừa đặt tên cho thuốc của mình không giống tên thuốc của các dược phòng khác sản xuất. Nào là Thuốc bổ nhà giàu, Thuốc lậu nhà giàu, Thuốc bại thận nhà giàu, Thuốc điều kinh nhà giàu, Thuốc phòng tích nhà giàu, Thuốc nhức đầu kinh niên nhà giàu, thậm chí cả Thuốc ghẻ nhà giàu v.v…
Mới đầu anh chỉ có đủ hàng để bán cho các đại lý ở Hà Nội. Và cũng thử xem kinh nghiệm ra sao thì kinh nghiệm cho anh biết là thuốc của Phòng thuốc nhà giàu đắt tiền quá, lại không công hiệu, cho nên ế.
Ma-ri lo. Nhưng anh Thừa cười:
- Không phải lý do là đắt tiền và không công hiệu. Thuốc nhà khác không rẻ và không hay hơn thuốc nhà mình đâu. Chỉ lại mình không quảng cáo mạnh và không tìm cách cạnh tranh mạnh.
Anh loay hoay viết một bài dài để thuê in. Bài ấy đề là Mấy lời tâm huyết kính cáo quốc dân. Đại ý đoạn đầu, anh giải thích là người làm ra của, chứ không phải của làm ra người. Cho nên người có tiền có bổn phận trọng tính mệnh và sức khỏe của mình. Tiếc tiền dùng thuốc là coi thường bản thân, và nếu ốm yếu thì sẽ nghèo khổ.
Người nghèo khổ mà khôn ngoan biết dùng thuốc của nhà giàu, cũng dễ làm giàu.
Để khách hàng khỏi chê thuốc không công hiệu, anh viết:
Nhà giàu là những người thông minh và kiên tâm. Thông minh thì phân biệt được thuốc hay với thuốc không hay. Kiên tâm thì không dùng thuốc dở chừng đã bỏ. Ai thường không biết phân biệt thuốc hay với thuốc không hay? Ấy là những người kém thông minh và kém kiên tâm. Ấy là những người nghèo chứ không phải người giàu. Bởi vì họ thiếu những đức tính căn bản của hạng người thượng lưu cao quý.
Cuối cùng bản quảng cáo kêu gọi:
Hỡi quốc dân đồng bào! Y sĩ Trần Đức Thừa là người tận tụy với nghề và tận tâm với tương lai của những người nhà giàu chúng ta. Là nhà giàu, chúng ta chỉ dùng thuốc dành riêng cho chúng la. Chúng ta đã tín nhiệm Y sĩ Trần Đức Thừa, một nhà làm thuốc Việt Nam duy nhất có bằng cấp của chính phủ Trung Hoa dân quốc, thì chúng ta càng tín nhiệm hơn nữa để y sĩ phấn khởi, chấn hưng y nghiệp, giữ được mối lợi cho nước nhà. Các bạn nhà giàu là những người giàu lòng yêu mình nghĩ sao? Các bạn nhà giàu là những người giàu lòng yêu nước nghĩ sao?
Ma-ri đọc xong tờ quảng cáo, thì ngỏ ý kiến:
- Nghe được đấy! Toa tán khá lọt tai, nhưng moa chê là toa còn quân tử quá. Phải dìm thuốc nhà khác xuống, thì thuốc nhà mình mới nổi lên được chứ?
Anh Thừa cười:
- Trong quảng cáo, ta chỉ nên nhằm mặt tâm lý, tức là đánh vào lòng tự ái của nhà giàu, dọa là nếu không uống thuốc của Phòng thuốc nhà giàu thì ốm và bị khinh là nghèo. Thế là đủ. Lời văn chỉ nên nhã nhặn, hàm ý từ xa xôi thôi. Còn cạnh tranh để dìm dập nhau, thì mình không nên lộ mặt ra, mà người ta cho là không đứng đắn.
Ma-ri rất phục anh Thừa khôn khéo.
In quảng cáo xong, anh Thừa tổ chức việc cạnh tranh, về mặt này, Ma-ri không chê anh là quân tử nữa.
Anh bỏ tiền ra mua buôn của những dược phòng khác, mỗi thứ thuốc nổi tiếng độ dăm chục lọ. Anh lấy một nửa, tẩm thêm tí cam thảo, rồi thay vào lọ của hiệu anh, và dán nhãn hiệu của Phòng thuốc nhà giàu. Còn một nửa, anh để vào chỗ ẩm cho mốc meo, rồi lấy bớt ra một ít, gói lại tử tế, với nhãn hiệu cũ. Anh để rẻ thuốc này cho những người bán rong.
Người ốm nào dại mà dùng của mốc và đắt nữa!
Còn thuốc của anh pha chế và thuốc dán chằng nhãn hiệu, anh không gửi các đại lý cũ. Anh tìm những đại lý nào của dược phòng khác đông khách nhất thì gửi hàng của anh ở hai nhà hai bên, để chèn. Anh bỏ tiền cho họ đóng một tủ nhỏ, đựng riêng thuốc, và kẻ cái biển bằng sắt tây, viết chữ màu sặc sỡ. Tủ bày ngay gần chỗ ra vào. Biển đóng theo dọc tường, chĩa ra hè phố. Ai đi từ đằng xa, cũng chú ý đến cái biển lắm màu sắc, đúng ngay tầm mắt. Đến nhà ấy, họ thấy ngay thuốc trong tủ như ở trước mặt. Họ được hà tiện mấy bước thì vào mua hàng ở nhà gần. Mua thứ này, nhân tiện họ mua thứ khác. Người bạn mua thuốc cũ ở hiệu cũ, thấy thuốc cũ không dùng được mà còn đắt, thì tiện chân, sang ngay nhà bên cạnh.
Mười hôm sau, anh Thừa đi điều tra kết quả của việc cạnh tranh. Thấy có công hiệu, nên anh cứ tiếp tục.
Anh còn nghiên cứu thêm cách quảng cáo của những hãng thuốc lớn trong Sài Gòn. Anh thấy nhà Đại Quang dược phòng phát không cuốn tiểu thuyết dịch dày gần bốn trăm trang. Xen vào giữa những tờ in truyện, là những bài viết về một thứ thuốc bán ở hiệu ấy. Anh không làm nổi cách quảng cáo tựa vào tính mê truyện của người đời như nhà Đại Quang họ có vốn hàng vạn. Nhưng anh được gợi ý để bắt chước bằng kiểu mèo nhỏ thì bắt chuột con.
Anh đến điều đình với nhà văn sĩ Hoài Tân Tử cho anh mua lại tất cả ngót một nghìn cuốn Tình muôn thuở bị ế, tính giá giấy bán cân. Anh bảo:
- Bác cứ cho phép tôi làm thế nào thì làm, miễn là vẫn giữ tên bác là tác giả.
Nhà văn sĩ mừng lắm, nhưng nói:
- Tôi muốn bác bỏ hẳn tên tôi đi thì hơn.
Anh Thừa ngạc nhiên:
- Tại làm sao?
- Tại giá trị của tên tác giả kém giá trị của giấy in thơ bán cân.
Anh Thừa không chiều được ý của ông Hoài Tân Tử. Anh chỉ có thể dán đè lên trên ba chữ Tình muôn thuở bằng mảnh giấy in tên mới của sách là Đa sầu đa bệnh. Cạnh mỗi tờ thơ, anh đóng thêm một tờ quảng cáo thuốc. Sách bán lấy vốn hai xu một cuốn, có ba hôm đã hết veo.
 
* * *
 
Không khí hoạt động ngùn ngụt trong Phòng thuốc nhà giàu. Người làm, kể cả cụ hai Điều, vần vật suốt ngày, đến quá nửa đêm mới nghỉ tay.
Ma-ri càng hăng say làm giàu bốc. Vì quen biết nhiều bà buôn bán cơ hội, nên hắn nhìn rõ cái cơ hội nó đến từ mấy năm nay rồi, mà hắn không để ý. Hắn phải vớt lấy nó. Bỏ đi thì phí. Hắn thu hết vốn riêng lại, còn bảo anh Thừa đưa thêm tiền cho hắn buôn, chia lãi cho công bằng với bên có công, bên có của. Vì anh Thừa nghĩ việc làm thuốc không bền, cho nên ngay từ bây giờ, phải dò đường khác mà chuyển nghề dần. Anh bằng lòng bỏ vốn vào công ty.
Hồi này, ở Âu châu, chiến tranh đương vào thời kỳ quyết liệt. Giao thông vận tải bằng đường thủy bế tắc hẳn, nên hàng hóa, từ bên Pháp không thể gửi sang Đông Dương được. Do đó, giá hàng Tây tăng vòn vọt, cao hơn trước gấp bội. Một tập giấy thường cho học trò dùng, trước chiến tranh, bán năm, sáu xu, dần dần tăng lên tới hai hào rưỡi, nay, ba hào. Một ngòi bút giá một xu hai chiếc, bây giờ hai xu rưỡi, ba xu một chiếc, vải chúc bâu, dường bâu, càng khan hiếm. Đường miếng từ hai hào một hộp, nay lên sáu hào. Sữa con chim, từ ngót ba hào, nay tới bảy hào. Ấy là đơn cử một vài thứ thường dùng. Còn những xa xỉ phẩm như rượu sâm-banh, cốt-nhất, thuốc xì-gà, máy hát, v.v… thì phi là người có thần thế, đố ai mua được.
Bởi cả nước cần phải có thứ dùng không thể thiếu, cho nên ở Hà Nội, Hải Phòng, nảy ra một hạng người nổi lên giàu đột ngột vì chiến tranh. Họ bỏ vốn ra, vơ vét hàng hóa, rồi tích trữ, để bán với giá gấp bốn, gấp năm, có thứ gấp mười. Người đầu cơ nhỏ ăn nhỏ, người đầu cơ to ăn to.
Ma-ri xông vào việc đầu cơ. Hắn thấy rằng trước kia anh Thừa mở công ty tổng phát hành thuốc Trung Nam Bắc, và bây giờ mở Phòng thuốc nhà giàu, là đã làm ăn quá lương thiện. Nay mới bắt đầu buôn chiến tranh là muộn rồi. Nhưng muộn còn hơn bỏ mất dịp may. Hàng có khan, nhưng không phải là không có. Miễn là phải to gan mà mua tranh những người khác, cần biết rằng giá hàng còn lên nhiều. Xót xa món tiền ngày hôm nay phải bỏ ra buôn, thì mười hôm sau phải xót xa hơn nữa về mất món lãi lớn.
Ma-ri buôn giấy, vải, và cố nhiên là thuốc. Ba thứ cần dùng thôi. Để có thêm vốn vào công ty, hắn thôi không đóng tiền hàng tháng vào hội Bảo hiểm nhân thọ nữa. Hắn đành phí toi ngót hai chục bạc đã góp.
Ma-ri lại muốn ăn to, làm theo kiểu trường vốn, nên chỉ buôn vào mà không bán ra ngay. Bán ra ngay thì lại phải buôn vào bằng cái giá mới cao hơn trước. Lãi ít. Chiến tranh còn quyết liệt, thì hàng còn khan, và giá còn lên. Không sợ! Nhìn đống hàng và nghe thời giá mà sướng mắt sướng tai!
Ma-ri cố vơ vét. Thấy nói ai ở đâu có giấy, có vải, có thuốc, là hắn sục ngay đến mua cho kỳ được, bao nhiêu cũng lấy cho bằng hết, cao mấy cũng trả.
Song, trời chẳng tựa lòng người có gan! Hắn đương mải mê làm việc tích trữ đầu cơ, đương tự đắc là đảm đang, thì bỗng nghe một tin sét đánh: Ở Âu châu đình chiến! Thôi, phen này thì hết nghiệp! Trong khi cả Hà Nội, Tây bắt treo cờ, kết hoa, đốt pháo, lính rước đèn, học trò rước cờ, qua các cổng khải hoàn dựng ở các đầu phố, và diễu quanh hồ Hoàn Kiếm buổi tối thắp đèn xếp, đèn quả bóng bằng giấy xanh, đỏ, vàng, trong khi cả Hà Nội tưng bừng nhộn nhịp mừng đón hòa bình, thì riêng mình Ma-ri ôm mặt khóc lóc, tiếc chiến tranh. Hắn vội vàng bán tống bán tháo cho hết, được đồng nào hay đồng ấy.
Anh Thừa như ngậm bồ hòn, chỉ thở dài.
 
* * *
 
Cay cú vì thua lỗ, Ma-ri đâm lao phải theo lao. Hắn muốn kéo lại cái vốn cũ, cho nên không thiết những món lợi nhỏ nữa. Hắn tìm những việc to để có thể ăn to.
Vì quen mấy ông tham, ông phán, làm ở sở Đốc lý, Ma-ri biết là bây giờ thiên hạ thái bình rồi, thành phố Hà Nội được mở mang rộng. Đất Hà Nội tất sẽ có giá trị dần.
Đất Hàng Đào, Hàng Ngang, đắt nhất thành phố hiện nay, đã lên tới mười đồng một thước vuông. Nhà Hàng Gai, Hàng Bông, là những phố buôn bán sầm uất, rộng độ bốn năm thước, sâu độ hơn ba chục thước, đã bán nổi nghìn bạc. Nhưng nếu mua được nhà, được đất ở những phố này, thì phải có nhiều tiền lắm. Ma-ri để mắt vào nhà ở những phố mới mở, hoặc đất ở những nơi sắp thành đường. Đất còn bỏ không, hiện nay, ở Hà Nội, có vô khối. Nhiều nơi là bãi lầy, bụi hoang, như miếng đất sau chợ Hàng Da, như miếng đất từ vườn hoa Cửa Nam đến Giám, cứ đến tối không ai dám đi qua, sợ bị cánh của Ba Xoàn, với của Tý Sẹo ra bóc lột. Nhiều nơi là đồng ruộng, như chỗ quá Chợ Hôm một tí, đến nhà lục xì, cạnh bóp Bạch Mai, thẳng xuống chợ Mới Mơ, hoặc như sau phố dốc Hàng Gà, từ phía khỏi Hàng Kèn Gốc thì đến Nhà Diêm, chiều chiều, kèn đuổi ma thổi rè rè, nghe rợn cả tóc gáy. Nhiều nơi là hồ ao, đường được thành phố cho xe rác lấp dần bằng rác, mùi hôi thối nồng nặc, không ai chịu nổi, như khu đất quanh Hàng Bún, như khu bờ Hồ Trúc Bạch, phía đường Quan Thánh, từ chỗ xe điện tránh nhau đến nhà cà phê Ba cây, gần sở máy gạch, vẫn đồn rằng có lắm yêu tinh. Lại nhiều nơi đáng sợ hơn, ở gần Vân Hồ, như Trường bắn, như chỗ gọi là Nhà thương lây ở Bạch Mai chỉ có một căn nhà lá chứa vôi bột, còn mênh mông là mả người chết dịch, nhiều ngôi bị lún bẹt bằng mặt đất, nhiều ngôi đắp dối, chồi cả ra ngoài cái đùi đương rữa thịt, vân vân. Những nơi này, nếu nhà nước gọi bán đấu giá, người mua chỉ dám trả mỗi thước ba hào, năm hào, đến tám hào là cùng. Nhưng không biết chừng, nên dấn lên, rồi một năm sau, vài tay cự phú nào đó xây biệt thự ở đấy, là các biệt thự khác sẽ mọc theo. Đất tha hồ mà nổi giá vùn vụt, ghìm không kịp! Và còn xung quanh các hồ, hiện nay lầy lội, đầy rác rưởi, rắn rết, chẳng ai muốn bước chân đến, chẳng khác gì hồ Hoàn Kiếm ngày xưa, như bờ hồ Thiền Cuông, bờ hồ Trúc Bạch, bờ hồ Tây, bờ hồ Bảy Mẫu, gió lộng như đàn, thì Tam Đảo, Đồ Sơn ở đấy chứ ở đâu xa?
Ma-ri đoán việc buôn đất phải có lãi lớn. Buôn hàng tây, ở bên Tây chiến tranh, còn sợ bấp bênh, chứ buôn đất ngay ở Hà Nội, thì chỉ có mà ăn chết. Tây có về nước, thì người Nhật, người Mỹ sang cai trị thay, họ cũng mở mang Hà Nội cho đẹp, cho to. Nếu lại có tiền làm những căn nhà vừa ở để cho thuê, thì chỉ trong dăm năm là thu đủ vốn.
Anh Thừa cũng phục Ma-ri là nhìn đúng tương lai. Nhưng anh đành chịu. Vì đào đâu ra tiền nữa?
Anh chỉ còn vốn để kiếm ăn trong nghề làm thuốc với những người dại dột, cho nên anh chỉ dám vùng vẫy trong giới nhà giàu. Để gần gũi các quan, là hạng thượng lưu xã hội có lắm tiền nhất, anh đã nhờ hai người giới thiệu vào hội Khai Trí Tiến Đức mới thành lập, làm hội viên thường. Được giao thiệp thật với các quan to, anh đã mãn nguyện rồi. Thế mà hồi tháng tư vừa qua, anh còn được mời xuống Giám, dự tiệc sâm banh danh dự do Hội tổ chức, để tiễn quan toàn quyền Xa-rô về Tây, anh lấy làm hân hạnh quá…
Anh khoe với Ma-ri đến hàng tuần lễ mà chưa chán miệng. Anh đã được trông thấy quan Hoàng Trọng Phu, quan Đoàn Triển, quan Thân Trọng Huề, quan Lệ Trung Ngọc, quan Phạm Văn Thụ, quan Trần Văn Thông, cùng biết bao nhiêu quan ở khắp Bắc Kỳ mà anh không tài nào nhớ tên hết. Anh lại được biết mặt ông Nguyễn Văn Vĩnh đội mũ lính tây thuộc địa, ông Phạm Quỳnh gù lưng, đeo kính trắng, và cô Tư Hồng, cô Bé Tý, cô Chánh Giá, béo như đầm, đều là những nhân vật tai to mặt lớn trong nước.
Hôm ấy, anh cố len vào để nghe quan Đoàn Triển đọc đít-cua, chúc người cha của dân tộc Đông Dương được thuận buồm xuôi gió, thượng lộ bình an, nay mai trở lại để, lần thứ ba cầm vận mệnh xứ sở mà ngài yêu như quê hương thứ hai của ngài.
Anh không nghe hết bài trả lời của quan thủ hiến, vì ngài nói dài lắm, đâu bảo những bốn giờ đồng hồ. Anh biết là bài này đã dịch ra quốc ngữ, và đã in thành sách, sắp phát cho tất cả mọi người, vả anh ngại nghe, cũng vì trời nực nữa. Quan toàn quyền đứng giữa đám đông, ngài nói rất hùng hồn, anh không biết tiếng Tây, nên không hiểu, nhưng thấy luôn luôn ngài giơ tay cao, vung tay rộng, lúc nói to như gắt, lúc nói ngọt như dỗ, đến nỗi ướt đầm cả lưng áo, hai anh lính phát mạnh hai chiếc quạt lông ở hai bên, mà cái trán hói của ngài vẫn bóng những mồ hôi.
Anh chỉ nghe người khác nhắc lại ý quan Xa-rô nói Đông Dương như đứa trẻ mới tập đi. Nếu bước một mình thì ngã. Vì thế nước Pháp phải dắt tay để đỡ.
Anh hiểu đây là ngài nói Đông Dương bán khai, chưa tự trị được, phải nhờ nước Đại Pháp nhân đạo, đem đuốc văn minh soi đường hộ. Anh hiểu vậy, vì anh nhớ lại hồi ông Bếp bắt anh ứng mộ làm lính chào mào sang Tây đánh giặc Đức dã man. Ngày ấy, quan huyện về làng hiểu dụ rằng nếu dân An-nam tình nguyện đi lính sang Tây thật nhiều, và bỏ tiền ra mua công trái thật nhiều, thì sau này chiến thắng, nhà nước sẽ cho nước An-nam tự trị.
Hẳn bây giờ nhà nước thắng giặc Đức rồi, nhưng thấy dân An-nam mới như đứa trẻ tập đi, nên không nỡ để nó ngã vì phải bước một mình.
Thôi, nhưng mà việc xin nhà nước cho nước An-nam độc lập hay tự trị, là việc của các quan. Việc của anh chỉ là làm thuốc. Và việc của anh bây giờ là mon men làm quen được nhiều quan. Cho nên lúc dự tiệc, anh cố đứng lẫn với những người đeo thẻ ngà. Anh uống sâm-banh, ăn bánh, ăn kẹo, hút xì-gà, cho bõ tiền hội phí. Thấy nhiều quan lấy cả hộp bánh và hộp xì-gà đút vào túi, anh cũng bắt chước, để đem về cho Ma-ri.
Nhưng Ma-ri không thích bánh, không thích xì-gà. Hắn chỉ thích làm giàu bằng cách tậu đất, tậu nhà. Anh Thừa bảo:
- Nên từ từ thôi. Muốn làm giàu ngay thì không thiếu cách. Mở sòng bạc, buôn thuốc phiện lậu, đi bồi để làm quan, cũng giàu chán, không cứ tậu đất, tậu nhà. Nhưng làm nghề nào, ta chỉ nên dốc hết tâm trí vào nghề ấy. Trừ phi là óc ông Ký Bưởi mới vừa làm được việc to, như buôn tàu, cạnh tranh với tây, với khách, vừa làm được việc nhỏ, như nhớ tên từng người mạch-nô lương ba đồng, nhớ tên từng người thuê đất ở bến tàu ông ta, mỗi tháng đồng rưỡi, để lừa họ. Mấy tháng nay, nhiều dược phòng chết dở với ta. Nhà Cổ kim dược cục rục rịch đóng cửa. Nhà Nguyễn Thinh sắp vỡ nợ. Nhà Biển Hoa đương bán dốc hết thuốc để giải tán công ty. Khách hàng của họ về tay ta. Vậy, một mặt, ta nên giữ vững lấy tín nhiệm của quốc dân, một mặt, ta đề phòng họ phản lại ta, hoặc một nhà thuốc mới mở nào để dìm dập ta thâm ác hơn cách của ta đã dùng để phá những dược phòng trước ta.
Ma-ri không để anh Thừa nói, hắn hỏi:
- Sao toa bảo nghề làm thuốc của toa không bền?
- Phải. Không bền. Nhưng moa biết bắt mạch, cho nên thấy là hiện giờ nó đương khỏe khoắn. Bao giờ nó dở chứng hãy hay.
- Moa chỉ sợ khi nó dở chứng thì xoay xở không kịp.
- Đành vậy. Nhưng bây giờ làm gì có tiền mà tậu nhà, tậu đất. Cái vết thương của vố ngã đau đã lành đâu?
- Moa bày cho toa một cách để có tiền nhé.
Ma-ri xui anh Thừa nhờ mấy tay văn sĩ đứng bảo đảm cho anh vay tây đen, vì các ông chơi bời văng mạng này là khách nọ quen của bọn sét-ty. Hắn đã nghiên cứu kỹ thói quen của mấy anh chủ những nhà cho vay này. Họ không sùng đạo, cho nên chiều thứ sáu, họ không đóng cửa hàng như mấy chú bán vải ở Hàng Đào, khóa cửa nhà, đuổi đầy tớ ra ngoài đường, để đi lễ ở chùa ở phố Hàng Lược, cổng mở trên bờ sông Tô Lịch, chỉ còn nhỏ bằng cái rãnh. Vậy nói khó cho lòng từ tâm của họ là không ăn thua. Họ lại không dám gần đàn bà con gái, sợ đam mê thì bị lừa. Vậy lợi dụng sắc đẹp làm cho họ xiêu lòng cũng không được. Đối với họ, thì văn tự nhà, văn tự ruộng, nghị định bổ làm công chức lương cao, là những vật bảo đảm chắc chắn nhất, để móc được tiền của họ. Môn bài làm thuốc của Phòng thuốc nhà giàu, đối với họ là vật vô giá trị, vì nó không là của chìm. Cửa hàng nay mở mai đóng, người có nợ luôn trốn như chạch, thì họ biết tìm đâu ở cái nước Nam xa lạ này? Vả lại, môn bài ấy còn kém cả tiền nộp tem bán hàng một năm của anh bán phở rong đi các phố. Anh này mỗi ngày mất hai hào thuế, vị chi mỗi năm bảy mươi hai đồng, nhiều gấp mấy môn bài của hiệu. Ma-ri nghĩ chỉ còn mỗi một cách, là có người quen giới thiệu rồi, thì làm ra mặt thật đứng đắn, đến điều đình với bọn sét-ty vào buổi sáng. Buổi sáng thì óc người ta được thanh thỏa. Vả chưa có nhiều khách, thì chủ tiếp chuyện được lâu, mình nói được kỹ. Lúc ấy, lại mới chỉ có một người chủ ở chỗ làm việc trên gác, còn những người khác, đương bận tắm giặt, bôi kem, ăn sáng ở nhà dưới, người ấy sẽ không có ai ở cạnh để bàn bạc, làm cho lắm thầy thối ma.
Nhưng ba buổi sáng, Ma-ri đến, nói rất nhiều, mà lòng người chủ vẫn không chuyển.
Lần nào, anh tượng đồng đen cũng ôm ghì cái két kẽm nhỏ đựng bạc vào lòng, lắc đầu nói:
- Khổng có được. Nhiêu quạ. Hảng chục thì được. Hảng trăm đã là nhiều. Hảng nghìn thì khổng có được! Khổng có được! Có văn tự nhà thì được. Vừa bà vay, vừa bà giả góp hảng tháng.
Ma-ri tán:
- Cả ba ông Bổng, ông Huyền, ông Nhất bảo đảm cho tôi là chắc chắn quá rồi. Tôi cũng đáng tin cậy như các ông ấy, chứ kém à?
Anh oẳn xua tay:
- Bả ông cũng như một thôi. Không một ông nào đáng tin cậy cả. Các ông ấy có tiền thì chơi cô đầu, không giả tôi. Tôi tử tế, không bỏ tù.
- Thế có văn tự nhà tôi thì ông giúp tôi nhé.
- Được.
Tán với sét-ty da đen không câu, Ma-ri định quay về vay sét-ty da vàng.
Bà cử Dần nghe đồn Ma-ri muốn tậu nhà, tậu đất, thì bà đến chơi, mách cho một món bở. Món này là cái nhà mới làm xong, ở trước cửa trường học Cửa Đông, cạnh nhà ô-ten, và gần nhà con mẹ nhà thổ đầm, cuối phố Hàng Nón. Nhà ấy là của chồng người em gái bà, tên là Hàn Xương, định làm để ở, cho nên rất kiên cố. Song, vì một người chú của Hàn Xương, là huyện Sáng, cần tiền chạy đi tri phủ Kiến Xương, Hàn Xương giúp chú, phải để lại cái nhà ở Cửa Đông. Bà cử lại nhân em rể bán nhà, muốn giật chút ít, để lo cho ông đi tri huyện Vụ Bản, cho nên bà đứng ra làm mối hộ.
Không cần biết những lý do mà bà cử Dần kể lể, kệ chú cháu, anh em nhà họ khu xử với nhau, Ma-ri chỉ biết đây là một dịp tốt, có một cái nhà mới làm, lại kiên cố, để mua và mua bằng một giá có thể dìm rẻ được. Hắn nực cười, sao bà cử Dần khôn sặc gạch, lại hớ đến nỗi lạy ông tôi ở bụi này. Ai khảo mà xưng rằng Hàn Xương cần tiền? Hắn rủ anh Thừa đi xem.
Nhà này thật kiên cố. Có gác. Có sân rộng. Hàn Xương trỏ cho hai người thấy những xà ngang toàn bằng xi-măng cốt sắt, và cửa giả, cầu thang, toàn bằng lim. Những hoành và rui thò ra ngoài, vết lim mới cưa màu nâu già, trông rất đẹp. Một căn nhà rộng, làm trong khoảng đất trên hai trăm thước, bằng lim với xi-măng, mà đặt giá có một nghìn rưỡi bạc. Thấy của tốt mà giá hời, cả anh Thừa lẫn Ma-ri đều mê tít.
Song, nói cho đúng, thì người mê tít lại là Hàn Xương. Bởi vì Ma-ri giao thiệp thẳng với cái anh chàng cà khẳng cà khiu này. Hắn mặc cả bằng miệng, nhưng hắn mặc cả cả bằng mắt, cái khóe mắt liếc tình, rất thạo của hắn.
Hắn còn làm bộ không tha thiết cái nhà, mà chỉ tha thiết cái lộc của Hàn Xương. Hắn nũng nịu bắt Hàn Xương hạ từ nghìn rưỡi xuống nghìn tư, từ nghìn tư xuống nghìn ba. Nhưng Ma-ri nói nhất định hắn chỉ có tám trăm để trả. Hàn Xương dỗ dành:
- Nếu là nhà riêng của anh, thì anh hiến không cho em cũng được. Khốn nỗi còn vợ anh. Để cho em rẻ quá, thì nó nghi.
Ma-ri làm mặt giận:
- Em cũng muốn hiến thân em cho anh toại nguyện. Nhưng anh khó tính quá. Vậy xin anh coi em người kém diễm phúc.
Hắn không lại với Hàn Xương, bỏ lửng việc mua nhà đó.
Thế là hắn biết tài nào cái nhà trước trường Cửa Đông cũng về tay hắn. Hắn bắt anh Thừa đi vay ngay tiền. Anh Thừa cũng tin ở mánh khóe ngoại giao của Ma-ri. Để làm những việc cần thiết, có lợi, không những anh vẫn không ghen, nhiều bận anh còn vẽ cho Ma-ri thủ đoạn để xiêu lòng người. Anh thường nói rất bóng bẩy:
- Muốn vào lọt cửa người ta, thì trước hết, phải cho người ta lọt cửa mình.
Vì vậy, thấy Hàn Xương tít mắt nhìn Ma-ri, anh Thừa yên trí là việc mua bán thế nào cũng xong xuôi.
Hiện giờ, Phòng thuốc nhà giàu đương được tiếng, thì anh không cần phải ở phố Bờ Hồ, tránh mỗi tháng một món tiền thuê khí cao. Vả anh định làm thêm hoàn tán, thì ở đâu cũng được, miễn là nhà rộng, có đủ chỗ làm việc. Ma-ri muốn có một cái nhà để có văn tự làm vật bảo đảm vay sét-ty. Có tiền, hắn sẽ buôn nhà, buôn đất, tha hồ mà lãi. Để chuộc tiếng làm chồng suýt khánh kiệt, hắn càng quyết tâm mua cho kỳ được cái nhà của Hàn Xương.
Quả nhiên, Hàn Xương mắc cái mưu cành cơi của Ma-ri. Hắn nhớ Ma-ri, nên phải bò đến Ma-ri để xin lỗi. Việc mặc cả được bà cử Dần đứng giữa dàn xếp khéo léo. Bà thêm một trăm hộ bên này, hạ một trăm hộ bên kia. Bà cò kè hộ cả người bán lẫn người mua. Sau cùng, giá ngã ở chỗ một nghìn năm chục. Bà lấy của Ma-ri năm mươi đồng tiền hỏa hồng làm quà cho mối và nói:
- Rẻ đứt được năm trăm là ít!
Bà lấy của Hàn Xương hai trăm đồng, và cũng nói:
- Lãi ít nhất là năm trăm!
Bạn bè anh Thừa và bạn bè Ma-ri xui là nên đặt tiền để bắt Hàn Xương làm giấy ngay, kẻo hắn đánh tháo. Những bệnh nhân có ơn huệ với lương y, mỗi người giúp một món, nhỏ thì lấy lãi năm phân, lớn thì lấy lãi ba phân. Ma-ri thu tiền hàng để có đủ một nghìn. Trong nhà còn ba chục, thiếu hai chục. Ma-ri đem áo gấm, áo nhung, quần lĩnh của mình, dây đồng hồ vàng và quần áo rét của anh Thừa, lên nhà Vạn Bảo trên phố Mới, của đáng mười cầm lấy một, cho đủ hai chục nữa.
Thế là anh Thừa mua được nhà. Trong văn tự, cả vợ chồng người bán lẫn vợ chồng người mua đều ký tên. Anh Thừa dành dụm tiền hàng trong năm tháng nữa, đủ được món đem đi duyệt văn tự tại tòa. Anh nhẹ nhõm cả người. Anh mượn thợ chữa lại vài chỗ cho hợp với công việc hoàn tán. định hôm nào sửa tiệc mừng, rồi xem ngày tốt, thì dọn về nhà mới.
Nhưng tình cờ, anh thuê đúng bọn thợ làm nhà này, nên họ biết rõ. Anh đương khoe giá rẻ, thì họ nói cho anh biết rằng nhà không phải bằng lim và bằng xi-măng. Xà ngang là gỗ thường, dát lượt xi-măng mỏng ra ngoài. Còn các hoành và rui thì toàn là gỗ tạp cũ, cái nào thò ra ngoài, thì có một mẩu lim đóng đanh vào mà thôi.
Anh Thừa bắc thang, trèo lên để dòm tận nơi, và lấy dao cạo thử cái xà ngang. Quả như lời thợ nói thực. Anh lịm đi, suýt ngã xuống đất.
Anh bảo Ma-ri đi Bình Lục bắt đền bà hậu Dần. Bà hậu ngơ ngác, nói:
- Vâng, tôi biết đâu là nó thế? Chính tôi cũng đương bị lão phán Thanh tòa Nhì trên thống sứ nó lừa mất mấy trăm đồng bạc đây.
Anh phát đơn kiện vợ chồng Hàn Xương điêu bạc. Ma-ri tức uất lên.
Hắn còn tức uất hơn nữa, là về việc kiện, hắn nhờ trạng sư rất cứng là Măng-đét biện hộ đến nửa giờ, mà kết quả tòa vẫn xử hòa. Vì văn tự không nói rõ là nhà gỗ lim có xà xi-măng cốt sắt. Toà xét là với cái giá tiền một nghìn năm mươi đồng, nguyên đơn có bị hớ, nhưng đó là việc thuận mua vừa bán giữa đôi bên, tòa không can thiệp.
Việc tòa xử vụ kiện nhà, báo có đăng, nên cả Hà Nội ai cũng biết. Vì vậy, không những anh Thừa không dám ở, mà anh đề biển cho thuê, cũng không ai dám thuê, cố nhiên, có bán rẻ cũng không ai buồn hỏi. Thế mà tiền vay cứ đẻ ra lãi. Anh than thở với Ma-ri:
- Thật là của thiên trả địa. Không khéo thì còn phải ngồi tù nữa.
Một hôm, nhận được cái thư bảo đảm của người chủ nợ dọa kiện, anh Thừa buồn quá, mới mắng khéo Ma-ri:
- Anh cứ chỉ nghe em bàn bạc công việc làm ăn buôn bán thôi, thì anh tưởng em là người rất đảm đang, thành thạo. Nhưng bây giờ anh mới biết, là xét người đảm đang, thành thạo, không phải chỉ nghe người ấy nói, mà phải nhìn vào kết quả công việc người ấy làm, thất bại hay thành công.
Hôm ấy, anh đi khất nợ. Ma-ri ở nhà một mình. Hắn nghĩ đến tương lai, thì hắn khóc. Lần này, hắn khóc thật. Vì hắn khóc thương hắn. Chứ không phải khóc để ai thương.
Hắn cho là hắn đã tính lầm mà lấy anh Thừa. Nếu hắn cứ độc thân như trước, thì hắn vẫn là cái mồi ngon, biết bao nhiêu người thèm muốn. Đời hắn vẫn mãi mãi có giá trị. Thế mà bây giờ, hắn để cho anh Thừa ngoạm mồi. Hắn tưởng nương tựa vào một người có cái nghề mà đời đang chuộng, thì được giàu có, sung sướng lâu. Ngờ đâu, chính anh lại tin vào lời hắn mà định dựa vào hắn. Từ ngày có chồng thì mất hết bạn. Chẳng trai nào thèm đếm xỉa đến gái có chồng. Đời hắn đi một nhịp, không đổi món, nó mất vui đi. Lúc nào ra vào cũng chỉ gặp một người. Nhẵn như cầu hàng thịt. Thật là chán mớ đời! Mà người thì mặt lẹm cằm, dáng điệu quê mùa, học đòi tỉnh thành, cứng nhăng nhắc, câu chuyện lại không phải vui đùa, tươi trẻ, mà độc chuyện làm ăn, già cằn. Ngấy lên đến cổ! Thế mà lấy anh Thừa, hắn có được nhàn thân đâu. Thỉnh thoảng lại nghe tin mẹ thằng Mão đến. Nghĩ đến hình ảnh người vợ cả của anh Thừa, Ma-ri nghiến răng, trừng trừng mắt, nắm chặt bàn tay. Mụ này chưa gặp hắn. Chứ nếu gặp, thế nào hắn cũng cho một trận nên thân. Để xem lúc này thì anh Thừa bênh ai?
Ít lâu nay, hắn đã tu chí làm ăn, vừa gây vốn riêng, vừa làm lợi cho chồng. Ai ngờ đâu cơ sự nó xoay ngược hẳn lại. Anh Thừa không những tay trắng mà còn có thể ngồi tù.
Ma-ri nghĩ có nên chờ đến ngày anh Thừa bị vào Hỏa lò hãy bỏ anh, hay nên bỏ ngay từ bây giờ. Bỏ anh Thừa, hắn lại được sống đời tự do cũ, tha hồ kẻ đón người đưa, kẻ quý người trọng. Đời lại đẹp như hoa nở.
Bỗng hắn sực nghĩ đến cái thai thứ hai nằm trong bụng hắn. Cái thai này có lẽ là của anh Thừa. Nếu không đúng thế, hắn cũng bắt anh phải nhận cái thai thứ nhất, đẻ ra thằng Pôn. Hắn giận thân. Sao lại mắn quá thế!
Vướng cái thai ấy, cẳng hắn cũng bị vướng. Hắn không thể hãnh diện với phố phường như người không có mang. Đàn ông không thèm để mắt đến một người có cái bụng nghễu nghện, ưỡn phượt ra đằng trước. Có nhìn cũng chỉ chế nhạo dáng đi, chứ không thể ngắm nghía sắc đẹp. Hắn có thể trả thằng Pôn cho anh Thừa nuôi, hoặc cho một người hiếm hoi nào để ra khỏi Phòng thuốc nhà giàu được nhẹ nhõm. Nhưng hắn suy tính. Bỏ anh Thừa ngay bây giờ, thì hắn phải lo mưu sinh ngay đúng vào thời gian mà thân hắn không dùng để mưu sinh được. Không những vậy, đến ngày hắn nằm cữ, thì ai trông nom, lo lắng cho? Thà cứ bám vào cây gỗ mục, để có thể không chết đuối. Dù trong túi không còn một xu, dù ngày hôm sau vào tù nợ, nhưng thấy vợ sắp đẻ, tất hôm nay anh Thừa cũng cố đi lạy van bạn hữu để có tiền sắm sửa cho hắn đi nhà hộ sinh. Như vậy, hắn đùn được cái khó khăn cho anh. Rồi sau khi sinh nở, hắn sẽ kiếm cớ trở mặt, tha hồ làm lại cuộc đời.
Hắn xem bói, nhờ thầy mù chỉ cho thấy tương lai. Hắn lễ điện nhà cô Bé Tý, cầu lấy được phúc của cha hắn để lại.
Về phía anh Thừa, anh đã bắt đầu chán Ma-ri. Cưới Ma-ri làm vợ, anh vừa tốn kém, vừa mang tiếng. Trong mấy năm nay, một tay anh ky cóp, gây dựng nổi cơ đồ, đương có cơ bốc hơn nữa, thì Ma-ri đầu cơ hàng tây, làm anh suýt hết nghiệp. Lấy Ma-ri, anh không vui thú gì hơn ngày chưa lấy. Kém đi là khác nữa. Không còn lời âu yếm, giọng nũng nịu nữa. Toàn những câu trách móc, thở than thua chị kém em. Anh còn mất hết tự do giao du với bạn. Anh đi công việc thì chớ, lúc nhàn rỗi muốn đến nhà ai để giữ cảm tình, Ma-ri cũng nghi là anh đi chơi bời. Thế là hắn kèm anh như kèm kem. Đến nỗi bạn bè chế anh là đi đâu cũng phải boọc sà-lan. Họ còn nói vụng là anh mọc sừng. Vậy mà đối với ngoài, hắn còn làm ra mặt chiều chồng, không biết ghen. Không biết ghen, mà thấy bạn rủ anh xuống xóm, bận mấy, hắn cũng bỏ việc đấy để đi theo, nói khéo rằng thích nghe hát cô đầu lắm. Thành thử có mặt hắn cả khách lẫn cô đầu đều mất hứng, mất vui. Lần nào hắn không theo được thì hắn dở cái thói tai quái. Hắn nói với bạn của anh như thật, là “xin phép các bác cho tôi hỏi nhà tôi một tí”. Hắn gọi anh vào buồng, bắt anh tiêu hết sức lực với hắn, mới thả anh ra. Rồi đến đêm anh về, hắn lại kiểm soát sức lực của anh lần nữa, mới cho anh ngủ yên. Nếu không, hắn dày vò, có lần đạp anh ngã lăn xuống đất.
Anh nhớ như chôn vào ruột cái bận một người bạn sắp bổ tri huyện mời anh đến nhà dự tiệc khao làm quan. Vì hắn không được mời, nhưng biết là có hát cô đầu, hắn chỉ cho phép anh vắng mặt đến chín giờ thì phải về. Hắn lại bắt anh bế thằng Pôn chưa biết ngồi, đi theo, để trói chặt tay anh. Thế mà đến gần chín giờ, hắn đã sai vú em đem chiếc đồng hồ quả quýt đến cho anh, nói rằng: “Cậu bỏ quên, mợ sai mang đến”. Cả khách khứa lần cô đầu hiểu, cười rầm lên. Anh xấu hổ quá, nhưng cứ phải về. Thật là con người thâm hiểm quá đỗi. Đời anh như vậy là bị tước quyền làm chủ. Anh đã có vợ, chứ có phải không đâu. Mẹ Mão quý trọng anh, tin cậy anh, thương yêu anh. Anh làm chủ đời anh, làm chủ cả đời vợ anh. Nhưng bây giờ, người ấy coi anh là thù địch rồi. Còn Ma-ri làm anh vỡ nợ. Anh phải coi là vợ! Cái nhà mà Ma-ri mách anh mua, bây giờ cho ai, người ta cũng không dám lấy. Chính anh cũng không dám ở, để hứng lấy tai nạn đổ sập bất thần, vì nền sụt và tường nứt rồi.
Thế mà nhà bỏ không, thuế vẫn phải nộp, nợ vẫn phải lo.
Anh ta muốn bỏ Ma-ri, nhưng đoán rằng Ma-ri bỏ anh trước. Anh rất mong thế. Con bướm bao giờ cũng chỉ tìm hoa tươi mới đậu. Hoa héo không thể giữ nổi bướm là lẽ đương nhiên. Đối với Ma-ri, tiền làm ra tình. Nhưng đối với anh, anh lấy Ma-ri thì tình chỉ làm hại tiền. Anh có chí biết xoay xỏa và có chí chịu kiên nhẫn, sẽ lại làm giàu được. Ma-ri bỏ anh, tức là trả cho anh tụ do làm lại cuộc đời của anh. Vì vậy, thấy con người hay trở mặt không trở mặt với anh, anh sốt ruột lắm. Anh coi thằng Pôn và cái thai mới nằm trong bụng Ma-ri như những vật chướng ách. Chẳng biết chúng nó là con anh thật, hay anh phải nuôi báo cô những con của đứa nào?
Chưa bao giờ anh Thừa bị nhiều thử thách như bây giờ. Anh đương sa lầy về cái nhà, thì ngọn gió tẩy chay ầm ầm thổi từ trong Nam ra, làm anh suýt ngã nhào.
- À, lại còn cái thằng thầy lang khách này nữa, tẩy chay! Tẩy chay!
Học sinh trỏ vào Phòng thuốc nhà giàu bảo nhau thế, rồi họ chia ra hai toán, vây hai bên Nhà vàng Bờ Hồ, tay phát cổ động, miệng khuyên đồng bảo:
- Nếu các ông các bà có bệnh, mời các ông các bà đến tìm các ông lang ta. Người chủ phòng thuốc này là người cùng nước với tên Lý Thiên nó chửi cả nước Nam ta là man di, mọi rợ, là ấu trĩ đấy!
Cậu Nghĩa cũng đứng trong bọn ấy, thêm:
- Chúng ta không gánh vàng đi đổ sông Ngô, nhưng cũng không gánh vàng đi đổ sông Tây. Trong phòng thuốc này không những người khách làm chủ, mà có cả một con mẹ đầm làm công.
Nói đoạn trỏ tay vào những tờ quảng cáo dán ở tường phòng thuốc:
- Tẩy chay ngoại hóa! Khuyến khích đồng bào dùng nội hóa!
Học sinh hô khẩu hiệu rầm rầm.
Anh Thừa đứng trong nhà, lé mắt nhìn ra. Thấy nguy cơ, anh tái mét mặt.
Anh định chạy ra phân trần với học sinh là anh với Ma-ri cũng là đồng bào da vàng mũi tẹt cả. Nhưng anh không dám. Lỡ đương hăng, mà họ cho là anh nói dối, thì nóng tiết, họ phá nhà. Nhưng để họ lầm mà tẩy chay, thì anh mất hết khách. Tiếng tăm Phòng thuốc nhà giàu bị tẩy chay bay đi, rồi bị xuyên tạc là anh bênh khách trú, thì bọn chủ nợ không để anh yên. Họ sẽ thù ghét anh, kiện để bỏ tù anh.
Anh Thừa đương lúc bối rối, bỗng nghĩ ngay ra một kế.
Anh đội khăn, mặc áo chùng, mở cửa sau, ra phố Cầu Gỗ, rồi vòng về đằng trước, phố Bờ Hồ.
Đến chỗ các xe điện Bạch Mai và Bưởi tránh nhau, thấy đông người, anh trèo lên một cột điện vuông, có bậc, anh đứng trên cao, vỗ tay thật mạnh và gọi:
- Mời đồng bảo nghe tôi nói mấy lời! Mời đồng bảo nghe tôi nói mấy lời!
Năm sáu người lại tới gần anh, rồi mươi, mười hai người. Anh nói:
- Hẳn đồng bảo cũng biết là ở Sài Gòn, một người Nam mình bị một người khách trú chủ tiệm cà phê thống mạ. Thế mà một tên khách trú khác tên là Lý Thiên dám viết bức thư chửi cả nước chúng ta là man di mọi rợ, không tẩy chay nổi họ.
Người nghe đông thêm. Anh Thừa lại dùng tài diễn thuyết bán thuốc mấy năm trước:
- Chúng ta là những người yêu nước. Chúng ta không để bọn ngoại quốc hỗn xược, dám khinh cả nước Việt Nam văn hiến mấy nghìn năm của chúng ta. Nhất định chúng ta phải tẩy chay cho bằng được. Hàng mấy trăm năm nay, đồng bào quen dùng hàng tàu, coi khinh hàng ta. Nhưng từ nay, chúng ta thề với nhau không gánh vàng đi đổ sông Ngô nữa…
Gần một trăm người quây quanh cột điện, ngửa mặt nhìn diễn giả để lắng tai. Anh Thừa tiếp:
- Vả lại, những hàng tàu mà ta quen dùng, có phải thật chỉ là hàng tàu không? Không. Nhiều hàng chính bọn chiệc mua của ta, rồi lại bán cho ta. Thế mà nấm của ta, măng của ta, ta gọi là nấm tàu, măng tàu. Vậy thì ta lầm. Vì ta chuộng của tàu, nên người tàu bán hàng ta, mà ăn lãi của ta. Ngay như chè tàu cũng vậy, có phải là chè tàu nguyên đâu. Tải đến Hải Dương, họ trộn lẫn với chè ta, rồi gửi đi các tỉnh bán cho ta, để ta tin là chè tàu. Vậy thì hàng của ta có đớn hèn đâu, chỉ vì đồng bảo ta sùng bái ngoại hóa, cho nên chính mình dùng hàng mình mà không biết.
Thấy xe điện bị tắc đường, không đi được, vì hàng trăm người vây vòng trong vòng ngoài cái cột điện, lại có người đứng diễn thuyết, tốp học sinh đứng trước Phòng thuốc nhà giàu cũng rủ nhau tới. Anh Thừa càng nói hăng:
- Nước ta nghèo lắm đồng bào ơi! Bởi vì nước ta như cái bể bị rò. Nếu ta không hàn gắn chỗ rò, thì thế nào cũng có một ngày cạn hết nước. Đồng bào thử nghĩ đến cái ngày đau khổ ấy, có xót xa không?
Anh Thừa lấy mù-soa lau mắt. Thính giả bùi ngùi, im phăng phắc.
Bỗng có người đội sếp lách đám đông, đến gần cột sắt, anh Thừa vung tay, nói:
- Vậy đồng bào! Phải tẩy chay! Tẩy chay hàng tàu!
Người đội sếp gọi:
- Này, ông kia, xuống ngay! Tôi biên phạt bây giờ!
Anh Thừa không xuống:
- Phải dùng nội hóa! Tuy nội hóa chưa tốt, chưa đẹp bằng ngoại hóa, nhưng ta về ta tắm ao ta…
Người đội sếp trèo lên cột, lôi chân anh Thừa. Thấy vậy, người nghe la ó:
- Để ông ấy nói! Nam quốc Nam nhân, không nên thế!
Nhưng người đội sếp cứ cố kéo, bất đắc dĩ, anh Thừa phải xuống.
- Bốn hào phạt! Làm huyên náo phố phường!
Anh Thừa cãi:
- Tôi không có tiền! Tôi không làm huyên náo! Tôi là người Việt Nam, tôi làm nhiệm vụ của người Việt Nam yêu nước, yêu đồng bào!
- Tên ông là gì? Làm nghề gì? Ở đâu?
- Tôi tên là Trần Đức Thừa, chữa thuốc, ở Phòng thuốc nhà giàu!
Anh cốt nói thật to cho học sinh nghe rõ. Quả nhiên, học sinh ngơ ngác nhìn nhau.
Anh Thừa bảo người đội sếp:
- Ông không nên phạt tôi, bởi vì ông cũng là An-nam như tôi. Tôi cổ động đồng bào tẩy chay hàng tàu, đáng lẽ ông nên lờ đi mới phải.
- Thôi, không nói lôi thôi. Bận này tôi tha, bận sau ông không được thế nữa. Ông về đi!
- Ông không thể ngăn được lòng nhiệt thành của tôi. Bận sau, tôi cứ làm nữa! Phải trái đã có đồng bào, đã có công luận.
Anh bỏ người đội sếp phải giải tán đám đông, mặt hầm hầm đi thẳng về nhà. Hàng mấy trăm con mắt nhìn theo anh.
Mưu mô của anh Thừa rất công hiệu. Lập tức, mấy người học sinh theo anh vào Phòng thuốc nhà giàu, xin gặp anh.
Anh tiếp họ, hai bên bàn bạc rất tâm đầu ý hợp. Anh mời họ dùng gác trong của Nhà vàng làm chỗ in cổ động. Anh lại cúng thêm ít tiền, và cúng cả chỗ giấy bán ế vì mốc.
Từ hôm đó, học sinh ra vào Phòng thuốc nhà giàu rầm rập.
Họ cho anh là tốt. Thấy anh lớn tuổi, họ hay hỏi ý kiến các bài họ viết, và các việc họ làm.
Biết họ có cảm tình với anh, anh lợi dụng họ cổ động cho Phòng thuốc nhà giàu là nội hóa.
Một hôm, nghe tin trên phố Hàng Ngang, đội sếp bắt năm người học sinh đi tẩy chay, giam ở bóp Hàng Đậu. Thế là thanh niên rủ nhau thật đông, đến xin tha cho bạn. Anh Thừa nói:
- Phải đấy. Cho tôi đi với. Nếu họ không tha, chúng ta đòi họ bắt hết tất cả chúng ta!
Anh Thừa mua một chục chiếc bánh mì chả lợn, và một chục chai nước chanh để đem theo. Anh nói:
- Nếu còn bị nhốt, anh em đỡ bị đói, bị khát. Học sinh cảm động lắm.
Họ đến bóp Hàng Đậu, hơn năm chục người đứng chật cả buồng giấy. Vì họ nói găng quá, tên cẩm nhất định không tha những người bị giam. Nó cũng không cho gửi quà bánh vào. Anh Thừa nhanh trí khôn, chạy ra đường, chỗ gần sân giam người. Anh gọi to những học sinh bị nhốt, ném bánh mì vào cho họ.
Anh Thừa được học sinh coi như người bạn thân của phong trào tẩy chay. Họ quý mến anh, anh càng phóng tài hóa để gây thêm tình cảm với họ.
Anh đối xử đặc biệt nhất với cậu Nghĩa. Anh nói cho các bạn cậu khỏi nghi kỵ và ghen tỵ, rằng cậu là người trong gia đình bệnh nhân quen của Phòng thuốc nhà giàu. Anh thường giữ cậu lại để nói chuyện tâm sự. Sự thực thì là để cậu đừng hỏi anh, Ma-ri là vợ ai, Pôn là con ai. Bởi vì anh đương thả cần câu để câu cô Lễ.
Như ta đã biết ý, có lẽ cô gái cấm cung sắp mắc mồi. Có một lần, cô đội mũ, đeo kính, bắt chước dáng điệu anh Thừa bắt mạch, lại một lần nữa, cô dám mạnh dạn mượn cuốn Truyền thuốc bí truyền đem về nhà. Và độ này, một hai lần, cô cùng cậu Nghĩa đến Nhà vàng Bờ Hồ in cổ động và lấy giấy đi phát các phố.
Cô mắc mồi thật chăng?
* * *
Vì anh Thừa đầu cơ vụ tẩy chay, nên Phòng thuốc nhà giàu được đông khách hơn trước. Anh nhân cơ hội tốt, lợi dụng ngay phong trào để quảng cáo cho Phòng thuốc mạnh hơn nữa. Thấy các phố đông như Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Bông v.v… đều mở mỗi phố một hiệu cao lâu - hình như tẩy chay là ào ào mở cao lâu để địch với cao lâu tàu - những hàng ăn này, mấy ngày đầu có rất nhiều người lui tới, anh giao thiệp với người chủ, đánh đổi quảng cáo. Anh dán quảng cáo Phòng thuốc nhà giàu trong các hiệu ấy, và dán quảng cáo các hiệu ấy trong Phòng thuốc nhà giàu. Hiện giờ, khách ăn ở hiệu của ta mới mở, toàn là người có nhiệt huyết, muốn dùng nội hóa. Nếu họ biết Phòng thuốc của anh, thì khi ốm, họ đến nhờ xem bệnh, vì anh được tiếng là nhiệt thành với phong trào khuyến khích nội hóa. Anh hay vào hiệu cao lâu Đào Thánh, mở ở số nhà 59 phố Hàng Đào, để ăn, cho cậu Nghĩa đi qua, thì trông thấy. Lại nghe nói nay mai mấy nhà công nghệ Việt Nam mở tờ báo hàng ngày, lấy tên là Thực Nghiệp dân báo, người sáng lập là Bùi Huy Tín, có dinh cơ lớn ở ấp Thái Hà, anh Thừa định đăng quảng cáo Phòng thuốc nhà giàu vào báo ấy, để làm quen với một tay mà anh chắc là có thế lực vì ở gần cụ quận Hoàng.
Nhưng anh vừa dự định các việc, thì anh như bị một trùy trúng vào chỗ phạm, phải ngã gục.
Người đánh anh là mẹ của Mão. Và gọi là đánh, vì chị đánh ghen.
Nguyên là từ ngày anh Thừa cưới Ma-ri xong, chị Thừa có đến Phòng thuốc nhà giàu nhiều lần, nhưng lần nào cũng chỉ đến được vào những ngày hoặc những giờ chị không phải làm việc. Lần đầu là ngày chủ nhật, Phòng thuốc đóng cửa trước. Chị gọi cửa sau, không có ai mở. Lần sau là ngày thường, nhưng vì hết giờ tiếp khách, cửa trước đóng mà cửa sau, vì người mới làm thay anh Xi thấy chị lạ mặt, nên không cho vào. Lần sau nữa, chị gặp anh Thừa, nhưng không gặp Ma-ri. Chị gây sự với anh, toan quật phá, thì anh đã cho gọi đội sếp bắt chị, bỏ bóp hai mươi bốn giờ đồng hồ.
Tức nước thì vỡ bờ, chị bỏ bẵng đi một dạo. Lần này chị mới đến để túm được cả anh lẫn Ma-ri, làm một trận cho ra trò.
Lúc ấy vào khoảng tám giờ sáng, một ngày thường. Khách khứa đến buồng đợi đã khá đông, thì trà trộn vào với bệnh nhân, có ba tay nổi tiếng Hà Nội là võ giỏi và du côn là Phúc đen, Ty sẹo và ấm Ái. Ba người này không thù ghét riêng gì anh Thừa và Ma-ri, nhưng thấy chị Thừa kể lể sự tình, thì nóng tiết, quyết ra tay anh hùng hảo hớn.
Chị Thừa để cho ba tay hiệp sĩ vào Phòng thuốc xong đâu đấy, chị mới đến sau.
Thoạt trông thấy chị, Ma-ri nhận ngay được mặt. Chị thì máu ghen hăng lên. Thế mà Ma-ri còn hỏi chị bằng giọng hách dịch:
- Người kia! Vào đây làm gì?
Chị xông ngay vào hắn, túm tóc, dằn xuống đất, cắn xé.
Trong khi ấy, ấm Ái đóng sập cửa, dơ quả đấm bằng nhôm sáng quắc, nhã nhặn mời khách đừng chạy, cứ bình tĩnh ở lại mà xem kịch.
Ma-ri bụng to, nên yếu, ngã lăn xuống đất. Chị Thừa vừa đấm vào mặt hắn, vừa kể tội:
- Mày cướp chồng bà! Mày cướp chồng bà! Con đĩ tây lai!
Hắn kêu:
- À, con nặc nô! Ối các ông các bà bệnh nhân ôi! Ối ông đội sếp ôi! Ối tiên sinh với cụ Điều ôi! Cứu tôi với! Nó đánh chết tôi!
Ấm Ái quát:
- Im cái miệng!
Anh Thừa đứng ở trên gác, thấy dưới nhà lục đục và có tiếng Ma-ri kêu, anh chưa kịp ăn mặc lối y sĩ Quảng Tây, chỉ đeo có mỗi cái kính, vội vàng chạy xuống.
Anh thấy vợ cũ đương đánh vợ mới, thì anh lấy uy quyền của người chồng chưa ly dị bàng pháp luật, để quát:
- U thằng Mão buông nó ra! Má thằng Pôn không được kêu! Hay dở thế nào đã có tôi.
Chị Thừa càng cáu tiết, xông vào anh. Anh toan chống cự, thì Phúc đen đã dùng miếng võ khóa tay và chân anh lại, quật anh xuống đất kêu đánh hự, đôi mắt kính vỡ tan.
Anh lóp ngóp bò dậy, thì liền bị những nắm tay rắn như sắt của Tý sẹo cứ nhè mặt mà thụi. Mặt anh như nhuộm bằng máu mũi và máu mồm. Thấy thế nguy, anh hô hoán cụ Điều đi tìm đội sếp. Nhưng cụ Điều chỉ dám thập thò ở trong ngó ra. Không phải cụ sợ bị đòn lây, nhưng vì chỉ mặc có cái áo cộc nâu bạc và cái quần đùi rách, chân lại giẫm đất, nên cụ sợ ra thì mất uy tín của cụ và sau này anh Thừa còn mắng nữa.
Chị Thừa không đánh chồng, nhưng thấy cả chồng lẫn Ma-ri bị đánh nên thân rồi, chị mới mượn cái quả đấm của ấm Ái. Chị không quật vào mặt anh, nhưng quật vào cái bằng làm thuốc của anh. Kính vỡ, rơi loảng xoảng. Khung gỗ gãy rời. Tấm bằng nằm co cuộn dưới mặt đất như biết xấu hổ. Chị lấy chân di lên, rồi nói với khách:
- Các ông các bà tin làm gì cái thằng bợm này. Tôi là vợ nó, từ thuở hàn vi, nên tôi biết vì sao nó có cái bằng này.
Rồi chị kể lai lịch tấm bằng cho khách nghe. Trong khi ấy, Ma-ri cũng nín thở để nhìn chị, mắt chớp chớp. Rồi chị kể đến lịch sử con cô đốc. Bố là ai, mẹ là ai, từ thuở bé đến giờ, làm những nghề gì để sinh nhai, làm sao được là y tá và ai tôn lên làm cô đốc.
Cụ hai Điều đứng nấp ở trong, lúc này trống ngực đánh mạnh hơn trống hộ đê. Cụ chỉ sợ chị Thừa tố cáo cụ. Nhưng may cho cụ, kể tội cướp chồng của Ma-ri xong, chị nói:
- Tôi xin các ông các bà đem việc này nói cho tất cả Hà Nội biết, để một người mách mười, mười người mách trăm, đừng ai phải lừa hai đứa này nữa.
Chị Thừa nói xong, ấm Ái hỏi:
- Chị hả giận chưa?
- Rồi!
Ấm Ái lôi anh Thừa đến gần Ma-ri, trỏ vào mặt hai người nói:
- Chúng moa không thù hằn gì hai vu. Nhưng chúng moa không chịu đựng được những nỗi bất bằng. Chúng moa giao hẹn với hai vu rằng sau khi chúng moa ra khỏi nhà này nửa giờ hai vu mới được gọi đội sếp và trình cẩm. Hai vu cũng phải dặn khách hàng của hai vu như thế. Ai không nghe, đừng oán chúng moa là ác. Còn nếu hai vu muốn nói chuyện với chúng moa lượt nữa, thì chúng moa hẹn là bây giờ tới ngày mai sau cái núi chuồng hổ trên Bách thú. Bên nào chết, thiệt mạng bên ấy, cấm kiện cáo lôi thôi.
Phúc đen hất hàm, hỏi anh Thừa:
- Nghe rõ chưa?
Ấm Ái quắc mắt với Ma-ri mắng:
- Cô-soong! [20]
Chị Thừa ra trước. Ba người đàn ông theo sau. Bệnh nhân qua cơn hoảng hốt, kéo nhau về.
Ma-ri bị xé rách tan quần, thỗn thện đứng dậy. Hắn xông đến anh Thừa, vật anh ngã ngửa, ngồi trên bụng, tát lấy tát để vào mặt anh:
- Cha con mẹ mày, để nó làm nhục bà! Để nó làm nhục bà!
Anh Thừa biết điều hơn, không đánh lại Ma-ri, chỉ gỡ ra:
- Yên nào! Yên nào! Nó đánh người ta gãy hai cái răng đây này!
 
* * *
Từ hôm sau, Phòng thuốc nhà giàu đóng cửa. Ông y sĩ Trung Hoa dân quốc và cô y tá người Pháp không dám thò mặt cho khách trông thấy nữa. Vả nếu không đóng cửa, khách cũng không ai thèm đến. Vì tiếng đồn chạy khắp Hà Nội. Và ngay chiều hôm ấy, báo đã đăng việc này ở mục việc Hà Nội, đề đầu bài là: Ai bảo tham vàng bỏ ngãi.
Ma-ri đay nghiến giày vò anh Thừa mấy ngày đêm liền.
Hắn bắt anh tìm cho được chỗ ở của mẹ thằng Mão, để hắn thuê du côn đến đâm chết.
Anh Thừa biết là nhân cơ hội này, anh được Ma-ri bỏ anh để anh nhẹ nợ. Anh đã tính đến việc vào Sài Gòn với cụ hai Điều, để tái diễn vở kịch mở Phòng thuốc. Đất Sài Gòn dễ làm ăn. Người Sài Gòn giàu, lại hay phục người Bắc. Ở đấy, tiếng tăm anh còn trong sạch như băng tuyết, thì khó gì không bốc lên giàu, có nhà lầu, có hạnh phúc và danh vọng.
Anh đương sửa soạn một tương lai mới, thì một hôm Ma-ri đi vắng, trưa không ăn cơm, đến chiều cũng không về.
Tối hôm ấy, chị vú em bỏ đi nên thằng Pôn khóc ngằn ngặt. Nhưng anh Thừa khấp khởi mừng. Anh đoán là Ma-ri ly dị với anh.
Quả nhiên, hai ba hôm, một tuần lễ, Ma-ri không trở lại. Anh Thừa yên trí. Nhưng muốn cho thật được yên tâm, anh thuê một căn gác ở tận Ngũ Xã. Một tối, anh xếp va-li, rồi lẳng lặng cùng cụ hai Điều và thằng Pôn đến đó.
Đồ đạc trong Phòng thuốc nhà giàu vẫn để nguyên ở Nhà vàng Bờ Hồ. Anh không tiếc. Nó như món tiền thuê nhà mà mấy tháng nay anh còn chịu lại.
Anh định không đi Sài Gòn, vì lỡ gặp Ma-ri. Làm giàu thì bất cứ ở đâu, miễn là có gan. Vả còn cách làm giàu nhanh nữa, anh có thể, nhưng chưa làm, không phải lao tâm khổ trí, không phải cạnh tranh với ai, mà vẫn cơm no bò cưỡi đàng hoàng. Ấy là lấy vợ giàu.
Anh nghĩ đến cô Lễ.
* * *
Dọn nhà đến Ngũ Xã được một hôm, thì anh Thừa cho cụ hai Điều thắng bộ vào, đến chơi nhà cụ Tú Phúc Lâm.
Cụ Tú thấy bạn của nhà thơ Tú Xương tới, thì cung kính, chạy ra tận cửa, chắp tay vái:
- Thật là rồng đến nhà tôm! Hôm nay tiên sinh lại rỗi.
Cụ hai ngờ mặt:
- Thế tiên sinh chưa biết cái tin ông y sĩ tôi bị đánh và Phòng thuốc đóng cửa à?
Cụ Tú ngạc nhiên:
- Thưa chưa. Mời tiên sinh ngồi.
Chủ khách phân ngôi ở hai bên trường kỷ. Cụ Tú gọi u già quạt nước.
Cố nhiên cô Lễ thấy cụ Điều đến, thì ở nhà ngoài để pha nước, nhân tiện nghe hóng chuyện.
Cụ Điều thở dài:
- Thật là đáng ngán cho thế thái nhân tình. Hôm nọ có mấy thằng du côn đến phá Phòng thuốc nhà giàu. Tôi nghi một là bọn khách trú họ thù ông Trần đã tẩy chay quá hăng, hai là lại chính bọn đồng nghiệp ế khách, trâu buộc ghét trâu ăn.
Cụ Tú ngẩn ra nghe, đùi không rung được. Cụ Điều tiếp:
- Nếu phải là người cùng nước xấu bụng với nhau, thì thật đáng buồn cho y giới. An-nam mình đã mấy ai yêu nghề thuốc, nghiên cứu nghề thuốc cho đến nơi đến chốn như ông Trần? Thế mà bây giờ ông phải chán, sống như người ẩn dật. Thành thử cái bằng bác sĩ nay mai ông lĩnh về, chỉ là tờ giấy lộn. Việc ông Trần bị đánh, nguyên nhân thật dễ hiểu, thế mà lời đồn đại thì nhiều, đến nỗi báo cũng đăng không đúng sự thật. Tôi có giục ông ấy kiện tờ báo, nhưng vốn ông ấy đức độ, cứ bảo là không nỡ, rồi trắng ra trắng, đen ra đen.
Cụ Tú hỏi:
- Báo đăng thế nào?
Cụ Điều tặc lưỡi:
- Đăng là vợ cả vợ lẽ ghen tuông nhau. Tham vàng bỏ ngãi!
Nói đoạn, cụ cười rũ rượi:
- Ối! Phong hóa suy đồi! Tờ báo thấy thời buổi nhố nhăng, phong hóa suy đồi thì bôi nhọ cả người trong sạch.
Nhưng họ chỉ lừa được những người mơ hồ mù quáng, chứ những người thức thời, sáng suốt, thì nào ai có tin. Tiếng tăm ông Trần ở Hà Nội, ở Bắc Kỳ này, ai mà chẳng biết? Đạo đức của ông ấy, ai mà không phục? Nếu ông ấy là người tầm bậy, thì sao các quan to vẫn tin cậy, nhờ chữa cho các tiểu thư? Tôi tưởng Liễu Hạ Huệ ngày xưa cũng đến như ông Trần thời nay là cùng.
Cụ Tú yên lặng, giơ tay mời khách uống nước. Cụ Điều nhắp miệng khen:
- Lệnh ái pha khéo lắm. Lâu lắm, hôm nay tôi mới được thưởng thức ấm chè ngon. Tôi ở chung với ông Trần, nên cũng phải theo ông ấy mà thực vô cầu bào, cư vô cầu an, cụ ạ. Ông ấy ít tuổi, nhưng là người vong kỷ vị tha, thật đáng phục.
Rồi cụ nói khẽ:
- Là con nhà làm cách mệnh có khác!
Cụ Tú trợn mắt, rung đùi. Cụ Điều tiếp:
- Cái lớp Đông Kinh nghĩa thục, ông thân sinh ra ông Trần cũng bị ra Côn Lôn đấy.
Cụ Tú gật gù:
- Thế à?
Cụ Điều vỗ vào đùi:
- Không phải con nhà có khí phách như vậy, đời nào bần nho này lại cộng tác! Ông cụ đi Côn Lôn thì ông ấy trốn sang Tàu. Nhưng ông ấy không làm cách mệnh, ông ấy bảo học thuốc cũng cứu dân cứu nước như làm cách mệnh. Vả lại, Tây đương hùng cường, ta đánh chưa nổi, thì tội gì làm cách mệnh cho thiệt thân, thiệt lây cả cho đồng bào mất một người ái quốc. Cho nên ông ấy học thuốc.
Cụ Điều gật gù, nói nhỏ:
- Con người thế mà chí to lắm đấy. Làm thuốc để thu dần nhân tâm, cụ ạ.
Rồi cụ thở dài:
- Kể bước đường sang tàu, ông ấy đã gặp lắm gian truân. Hồi ông ấy ở nhà bước chân ra, trong túi chỉ có mấy đồng bạc. Ông ấy đi tàu thủy, đến Mũi Ngọc, giả tiền lái thán, vào đến Móng Cái thì vừa hết. Tối hôm ấy, bụng đói, miệng khát, ông ấy gặp một nhà hàng, còn thắp đèn. Ông ấy vào nghỉ. Thấy trong nhà chỉ có một cô con gái độ mười tám, mười chín tuổi, có nhan sắc, không còn ai là người lớn, ông ấy toan ra. Nhưng vì cô ta đon đả mời chào, nên ông ấy ngồi lại. Cô chủ biết khách ở xa đến, mới dọn một mâm cơm thịnh soạn. Ông ấy không biết làm thế nào. Com đã trót bưng đến, không lẽ lại không ăn. Cô chủ nói:
- Tôi đoán ông là người xa lạ đến, chắc quanh đây không có ai quen. Vậy xin chớ nề hà, nhà có giường cao chiếu sạch, ông cứ nghỉ lại.
Ông Trần không nỡ từ chối. Sáng hôm sau, dậy sớm, ông ấy mới nói thực là không có tiền. Cô chủ cười:
- Tôi biết ông không phải người tầm thường, chắc là người có chí lớn, nên mới không ngại thân gái một mình, mà mời ông ở lại. Tôi cũng biết là ông không có tiền, nhưng có hề gì điều đó. Tôi là người trọng nghĩa khinh tài. Tôi chúc ông đi bình an. Lại xin thay mặt đồng bào quốc dân tặng ông chút quà mọn để ông làm lộ phí.
Cô ta đưa ông hai chục bạc. ông Trần ứa nước mắt, hỏi tên tuổi, nhưng nhất định cô ta giấu:
- Tôi là người Việt Nam. Nếu ở xa, ông nhớ đến tôi, thì chỉ xin nghĩ đến hai tiếng Việt Nam. Ấy là phúc cho cả nước.
Ông Trần bái tạ, vái chào ân nhân, lên đường đi lập thân. Ông ấy định bụng đến ngày công thành danh toại, sẽ cưới cô hàng làm vợ.
Ai ngờ giời chẳng chiều lòng khách chung tình. Đến ngày ông Trần đỗ, về nước, ông ấy ra Móng Cái để xin đính hôn với cố nhân. Nào ngờ người ngọc vắng bóng, nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Nhà đã đổ nát, mà bên cạnh thì sè sè một nắm mộ cỏ vàng, ông Trần vật vã khóc lóc, thề rằng: Đã không duyên trước chăng là, thì chi chút ước gọi là duyên sau. Ông ấy đem hài cốt người bạc mệnh về quê, nói rằng nắm xương của vợ cả. Rồi từ đó, ông ấy nhất định không lấy ai, và tháng nào cũng đem hương hoa về thăm viếng mộ. Cả ngày hôm ấy, ông ấy buồn thiu, ít nói, ít cười.
Cụ Điều thở dài, lắc đầu:
- Thật là chung tình hiếm có!
Cụ Tú ngừng rung đùi:
- Hiếm có thật!
Cô Lễ mắt nhìn xuống chiếu, cũng khẽ thở dài. Cụ Điều tiếp:
- Tôi có khuyên ông ấy nên kiếm một người tử tế, hiền hậu mà làm bạn. Nhưng ông ấy khăng khăng một mực chối từ, sợ như vậy, tủi vong linh người chín suối.
Cô Lễ thở dài. Lần này thở dài to hơn.
Trong khi nói chuyện, cụ Điều thỉnh thoảng vờ trông ra cửa, để cố nhìn cô Lễ. Cô Lễ thở dài, cụ có biết. Cho nên cụ thôi, không nói thêm về chuyện anh Thừa. Cụ chỉ cho cô ăn vừa đủ để cô thòm thèm. Cho cô ăn nhiều quá, cô sẽ chán ngấy. Đó là cụ đã theo đúng lệnh anh Thừa cho phép cụ.
Nhưng cụ Tú không muốn bỏ dở câu chuyện mà không bàn luận. Cụ nói:
- Thế thì ông ta là người theo chủ nghĩa yếm thế.
Cụ Điều đáp:
- Phải, tình duyên đã như vậy, mà bây giờ sự nghiệp lại như thế, cụ bảo không chán đời sao được?
Cụ Tú lắc đầu, than thở:
- Đời đáng chán thật, nhưng không nên chán đời. Như tôi, lỡ thời, đành chịu là phế nhân, ăn lương hàm chánh thất, như câu của ông Tú Xương, cam tâm làm nô lệ, thân lươn bao quản lấm đầu, như cô Kiều. Nhưng các ông trẻ tuổi bây giờ mà thiên về chán đời, thì là không phải. Mình sống ở đời, phải có danh gì với núi sông, như quan thượng Trứ, để góp công của mình làm cho đời không đáng chán nữa. Như vậy, tên tuổi của mình mới không mai một với cỏ cây.
Rồi cụ chứng thực lời nói của cụ bằng những học thuyết về cách sống của Khổng Tử, của Khang Đức, của Thúc Bản Hoa, của Lư Thoa, của Phúc-lộc-đặc-nhĩ, của Mạnh-đức-tu-cưu.
Cụ Điều như vịt nghe sấm, vội vàng thoái thác về, nói rằng phải đi coi bệnh cho con cụ án Nghệ ở Hàng Gai.
- Còn chuyện về văn chương, xin nợ cụ đến bận sau.
Cụ Tú không dám lưu khách, tiễn cụ Điều ra tận hè phố. Hai người chắp tay, vái dài nhau.
 
Chú thích:
20)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IV
ANH HÙNG MẠT LỘ  

Thằng Pôn vắng vú em và vắng mẹ, nó khóc rạc người. Nhưng anh Thừa không thể làm gà sống nuôi con. Anh cũng không thể nuôi thêm cụ Điều vô công rỗi nghề. Anh phải được rảnh tay để nuôi thân anh. Cho nên anh cho cụ Điều ra. Anh nhờ cụ đem thằng Pôn về quê cho ông bà Bếp nuôi hộ.
Thấy cảnh tan rã, lúc chia tay, cụ Điều ngậm ngùi:
- Thôi, chẳng qua cái số ông là cái số vũ khúc tinh chiếu mệnh, cho nên ông giời không cho ông làm nghề gì lâu. Còn như tôi, tôi muốn theo ông suốt đời để kiếm chỗ nhờ vả. Sau này, ông có việc, ông cho gọi, tôi xin ra ngay.
Thật ra, cụ tiếc ngày nọ đã không nghe anh Xi rủ cụ thôi việc để cùng mở hiệu thuốc. Thời buổi nhố nhăng, cái mã ngoài còn giúp người kiếm ăn mạnh hơn cái giá trị thật.
Anh Thừa ở một mình trong căn gác nhỏ trông ra hồ Trúc Bạch. Thật là vắng vẻ và tĩnh mịch. Ngày hai buổi, anh đội cái mũ sụp xuống gần mắt, đến hàng cơm để ăn, rồi nằm khoèo ở nhà. Anh không muốn gặp bạn, không dám gặp bệnh nhân cũ. Anh tránh gặp những người chủ nợ, và tránh gặp Ma-ri mà anh coi như cái nợ đã trút được, sống ở nơi có phong cảnh, nước biếc, trăng trong, gió mát, tuy không phải là thi nhân muốn di dưỡng tính tình, cũng không phải triết nhân yếm thế muốn mai danh ẩn tích, anh chỉ là người đi trốn, cho nên anh thấy được khá yên ổn. Có điều vốn anh là người hiếu động, mà không có gì hoạt động để kiếm ăn, để trả nợ, ngày ngày đếm số tiền còn lại trong túi, anh buồn và lo lắm.
Đôi khi, anh nghĩ đến các bạn hữu, hồi còn có tiền, họ thường gạ anh cho họ đi ăn, đi hát. Bây giờ anh trông mong gì được ở họ? Anh tiều tụy. Chắc đâu họ phàn nàn hộ anh lấy một lời. Họ còn lờ anh, tránh anh như tránh một thằng hủi. Anh lạ gì thói đời. Có ai dại mà nhận thằng nghèo là bạn để nó bám như đỉa, mang tai vạ vào thân? Anh căm giận cái nghèo làm anh sống trơ trọi.
Anh nghĩ tới những nhân tình nhân ngãi, những người đã có con với anh. Ma-ri thì như con ngựa bất kham, lúc nào cũng lồng lên, không muốn ăn cương. Vợ cả anh thì như con trâu nhẫn nại, hiền lành, nhưng cục lên thì húc người ta đến lòi ruột. Còn Múi thì quả là con lửng ở trên rừng, mắt thong manh, không nhìn thấy đường đi, nên đâm quàng vào bụi rậm. Không biết rồi Múi đẻ con trai hay con gái? Không biết cả ba người hiện nay thế nào? Chắc chắn là họ không buồn nản, không lo lắng vì tuyệt sinh kế như anh bây giờ.
Anh nghĩ đến người có thể là nguồn hy vọng cho anh, là cô Lễ. Anh không biết xem mạch bệnh cô, nhưng biết xem mạch lòng cô. Anh nghiệm rằng, con gái càng kín đáo bao nhiêu, càng dễ lộ tâm tình bấy nhiêu. Cô Lễ sống bưng bít trong gia đình đạo đức kiểu ấy, tất là thật thà, không hiểu đời, không biết rằng ở đời còn có những người giả đạo đức, còn có những người có con mắt tinh nhìn phụ nữ. Và chính người thạo về khoa tâm lý phụ nữ là anh, đã đóng vai giả đạo đức để chinh phục cô. Một người con gái ít tiếp xúc với người lạ, thì hễ gặp một chàng trai đáng tin cậy, thì dễ như sắt gần nam châm, như rơm gần lửa. Mới đầu, gọi là phải lòng mặt. Phải lòng mặt thì thích gặp mặt. Gặp mặt rồi mê, mê lòng nhau. Phải lòng mặt hay phải lòng lòng chẳng qua chỉ là một.
Cô Lễ hay tìm ra bệnh để đến nhờ anh xem mạch, là cô đã phải lòng mạch anh. Trong thời gian này, anh đã dùng đạo đức giả để tấn công vào nhược điểm của cô. Cái kế hoạch ấy mầu nhiệm hơn cái kế hoạch thông thường của bọn công tử bột, đi chim gái, phải nát óc nghĩ bức thư, rồi rình ném vào người ta. Đối với một người dịu dàng như cô Lễ thì cách trắng trợn ấy dễ làm cô sợ. Vì nó mạnh quá, cô không quen, không chịu được. Có thể cô cự tuyệt. Cho nên anh chỉ tiến dần dần tí một, để đưa cô vào bẫy lúc nào cô không biết. Không biết thì không gỡ. Vả lại, nếu anh làm lộ liễu, Ma-ri biết, thì việc của anh hỏng. Vì vậy, đối với cô Lễ tình trong như đã, mặt ngoài còn e, anh càng làm như tình trong chưa đã. Một lần, trong khi nói chuyện, anh cố ý vô tình, để lỡ đặt lên bàn tay của cô. Một lát, cô mới giật ra. Lập tức, anh làm như hối hận, ngượng nghịu. Giả thử là một người thẳng thắn, thì từ đó cô không đến với anh nữa. Nhưng cô Lễ vẫn đến, mà mỗi khi vào buồng thăm bệnh, thấy anh ngồi một mình, thì cô có vẻ luống cuống, rõ là người kém tự nhiên. Nhưng lúc ấy thì con người ít nói lại hay hỏi và hay nói. Trong khi nói, cô trông đi nơi khác, nhưng lại bắt anh nhìn đôi má ửng đỏ của cô. Một người không có tình không thế. Đến lần cô mượn quyển Truyền thuốc bí truyền, thì anh hiểu là nỗi lòng của cô đã khiến cô mạnh dạn hơn. Và đến ngày tẩy chay, cô lui tới nhà anh để in cổ động, tuy lần nào cũng không đi một mình, nhưng anh thấy là cô nghiện anh rồi. Câu chuyện của anh bịa ra với người con gái Móng Cái mà cụ Điều kể với cụ Tú hẳn càng làm cô cảm phục anh là người có hậu, ăn ở có thủy có chung.
Nhưng bây giờ Phòng thuốc nhà giàu đóng cửa, anh không còn cớ gì, không còn dịp nào để vun đắp hy vọng với người con gái có của hồi môn khá lớn này.
Vậy thì làm thế nào để lấy được cô? Anh biết rằng nếu anh nhờ người đứng đắn đến hỏi, thì cô bằng lòng đấy. Nhưng khổ cho anh, là anh chưa được là người thất nghiệp, mà chỉ là thằng vô nghệ. Thì làm sao làm rể được cụ Tú không tán thành chủ nghĩa chán đời? Anh phải kiếm một việc cho ra con nhà học trò có đạo đức, xứng đáng với gia đình nho phong này.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
V
MỘT BẬC THẦY  
 
Một hôm, vào khoảng mười giờ khuya, anh Thừa còn lang thang trên con đường Cổ Ngư. Anh chưa ăn cơm chiều, vì trong túi anh chỉ còn mỗi một tờ giấy bạc rách, mấy lần trước trả hàng cơm, mà người ta không nhận. Anh sực nghĩ đến những sòng bạc. Ở đây, dù là bạc rách, dù là bạc giả, cũng vẫn tiêu thụ được như thường. Đời này chẳng qua cũng chỉ là sòng bạc. Thế mà con người cũng rách, cũng giả, lại muốn làm ra bộ lành lặn, thật thà, chê đồ rách, đồ giả. Tờ giấy bạc này là của Ma-ri không biết đem ở đâu về, đổi cho anh lấy bạc lành. Bây giờ Ma-ri đã bỏ anh rồi, nhưng con người rách rưới, giả dối ấy còn để lại cho anh tai họa đến ngày nay.
Trăng rằm lên đã cao, mặt hồ Tây như tấm gương bạc. Vì có ánh sáng thiên nhiên, nên những cây đèn dầu hỏa ở đường không thắp. Một luồng gió bấc thổi mạnh, hơi lạnh lọt qua quần áo, làm anh rét buốt.
Bỗng anh nghe tiếng lạch cạch bánh xe sắt lăn trên gạch vụn. Anh tránh lên lề cỏ, và quay sang phía hồ Trúc Bạch để lánh mặt. Nhưng có tiếng gọi làm anh giật mình:
- Ai như bác Thừa ấy nhỉ, bác Thừa đấy à?
Anh nhìn xem ai. Người ngồi xe lại nói:
- A, bác Thừa! Ô chà chà! Tôi đi khắp các trường tư ở Hà Nội để tìm bác mà không gặp!
Anh Thừa đã nhận ra nhà văn Hoài Tân Tử cao cao và đen đen. Anh không hiểu có việc gì mà người này lại tìm anh, và tìm ở các trường tư? Hay định dò tung tích anh cho mấy người chủ nợ?
Nhưng tác giả Tình muôn thuở làm anh yên tâm ngay. Ông nhảy từ trên xe xuống đất, mừng rỡ, nắm chặt tay anh, rung thật lâu:
- Thế mà tình cờ tôi lại gặp bác ở đây!
Anh hỏi:
- Sao bác lại tìm tôi ở các trường tư?
- Tôi đoán vậy. Bọn trí thức chờ thời như chúng mình, khi chưa kiếm được công việc xứng đáng, thường hay đến buôn óc trong hai cái chợ tự do, là trường tư và tòa báo. Thì ra từ ngày đóng cửa Phòng thuốc, bác chưa đi dạy học?
Thấy giá trị của mình còn nguyên vẹn ở trong đầu óc nhà văn sĩ, anh Thừa vui sướng, bật lên tiếng cười, rồi đáp mập mờ:
- Trường hợp tôi lại khác.
Bỗng ông Hoài Tân Tử hắt hơi ba cái liền, lấy mù-soa chùi nước mắt, rồi nói:
- Tôi đương sốt. Muốn nói chuyện với bác nhiều. Vậy bác lên xe với tôi.
Anh Thừa hơi ngại. Vì bụng đói, anh chỉ muốn về nằm ngủ, đợi đến sáng mai, đem chiếc đồng hồ quả quýt đi bán, để lấy tiền ăn. Nhưng ông làng văn vừa nói, vừa kéo anh lên xe:
- Tôi mệt lắm. Gặp bác thì mừng, quên sốt được một lát.
Nói đoạn, ông vừa hắt hơi, vừa cầm cái cặp giấy bẹt bằng vải đặt ở đệm để ôm vào lòng, lấy chỗ cho anh Thừa ngồi. Anh Thừa hỏi:
- Ta đi đâu bây giờ?
- Đến nhà một người bạn tôi ở Yên Phụ. Vợ chồng anh này tốt lắm.
Anh Thừa lại ngại:
- Bác có cần tôi lắm không?
- Không cần mà tôi phải tìm bác?
Anh Thừa lên xe, lại nhắc câu mập mờ ban nãy:
- Trường hợp tôi khác.
Yên lặng một lát, ông Hoài Tân Tử vỗ vào đùi nói:
- À phải. Trước tôi cứ tưởng bác như người thường, đem học vấn để truyền bá ở trường tư cho bọn hậu sinh. Chứ tôi nghĩ đâu rằng tài học như bác, thì phải truyền nghề cho sinh viên Cao đẳng. Nhưng tôi xin nói thực, ở trường Cao đẳng, tây người ta dùng đốc-tờ làm giáo sư. Còn người mình, dù trình độ là bác sĩ, thì cũng phải có Pháp tịch mới đòi được hưởng ngang quyền lợi với họ.
Anh Thừa nực cười cho cái óc phán đoán của mấy ông cầm bút vẫn tự cao tự đại là sáng suốt và thạo đời. Thì ra không còn cái giống gì lờ mờ và ngốc nghếch hơn cái giống văn sĩ. Anh tin rằng người kính anh, phục anh, như ông bạn quý hóa này, không phải đã hết. Đất Hà Nội còn dễ kiếm ăn.
Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Bác không dạy học, cũng không làm báo à?
Anh Thừa vốn tính khoác lác, nên không phải nghĩ lâu câu chững chạc để trả lời người dễ bịp. Anh mỉm cười, lắc đầu:
- Phạm Quỳnh có mời tôi làm chủ bút phần Hán văn ở báo Nam Phong thay Nguyễn Bá Trác, nhưng tôi không nhận.
Ông Hoài Tân Tử nắm chặt cánh tay anh, rung thật mạnh:
- Bác không làm báo Nam Phong là chí phải. Tiết tháo như bọn mình, đói thì đói, chứ bao giờ thèm làm báo ăn trợ cấp của chính phủ! Tôi cũng nghe ông Trác sắp lai kinh làm quan.
Vừa nói câu dài ấy, văn nhân vừa hắt hơi hai lần, mỗi lần bốn cái liền, ông lấy mù-soa lau nước mắt và nước mũi, rồi tiếp:
- Tôi thôi báo Thực Nghiệp rồi.
- Thế à? Tại sao?
- Tôi cáu với cử Huyền cho đăng bài nói xấu bác. Tôi cãi nhau với nó kịch liệt một trận, rồi nhất định ra khỏi tòa soạn. Ông Bùi Huy Tín giữ mãi, nhưng tôi không ở.
Anh Thừa cảm động:
- Ra thế đấy. Bây giờ tôi mới biết.
Ông Hoài Tân Tử lại vừa hắt hơi vừa nói:
- Bác cho nó ăn, nhưng nó có ơn gì đâu! Con người ấy còn cảm tình với ai nữa!
Anh Thừa thở dài. Thấy ông bạn hổn hển, anh ái ngại:
- Bác ốm mà cũng đi đêm à? Đã uống thuốc gì chưa?
- Bệnh tôi chả thuốc nào chữa được. Bác đừng cho tôi thuốc mà phí. Tôi đi thế này, chỉ lát nữa lại khỏi như thường thôi.
Đường đến Yên Phụ. Người phu xe già gò lưng, cố lôi cái xe nặng lên dốc cao. Thấy vậy, anh Thừa nhảy xuống đất, thì ông Hoài Tân Tử như choàng dậy, túm lấy áo anh:
- Bác đi đâu?
- Tôi xuống bớt cho xe nhẹ.
Xe đến mặt đê. Anh Thừa lại lên ngồi trên đệm. Bánh sắt nghiến trên đường đá kêu ken két. Hai người yên lặng. Bỗng anh Thừa sực nghĩ đến người bạn của ông Hoài Tân Tử, mà lỡ ra cũng là người quen của anh, thì lôi thôi lắm, anh hỏi:
- Người bạn của bác tên gì?
Ba tiếng đáp lẫn trong tràng hắt hơi:
- Tên là Sáu.
Anh Thừa yên tâm, hỏi thêm:
- Đương sốt thì bác đến đây có phiền người ta hay không? Sao không về nhà bác để nói chuyện?
Ông Hoài Tân Tử không trả lời. Miệng ông bận ngáp. Anh Thừa cầm tay ông bạn để xem mạch:
- Bác buồn ngủ à?
Vẫn không có tiếng đáp.
Một lát, bỗng ông nhà văn giậm mạnh chân xuống sàn xe như kiểu lính tẩy chợt bắt gặp nhân tình:
- Thôi! Quá mất đến mươi nhà rồi!
Người phu suýt tuột đôi càng, bây giờ đặt xe xuống, ông Tình muôn thuở trả tiền, rồi cùng anh Thừa quay trở lại.
Đến một căn nhà có gác, ông gõ cửa. Cửa mở. Có tiếng hỏi:
- Ông Tử đấy à! Tưởng ông không đến?
Anh Thừa theo ánh sáng của chiếc que diêm, trèo lên thang.
Anh nhận thấy gác này cũng nhỏ như gác anh ở, và cũng chỉ trải chiếu trên sàn, chứ không có giường phản. Anh đã rõ mặt người mở cửa, có lẽ là anh Sáu. Không phải người quen. Nhưng anh băn khoăn, không hiểu ông trí thức đến cái gác tối um này làm gì.
Một que diêm thứ hai bật lên. Anh đã thấy ông bạn nằm co quắp trên chiếc chiếu trải tận góc tường, đầu gối trên chiếc cặp bẹt. Anh theo đến ngồi ở đó. Lúc ấy, anh Sáu xuống nhà, để mặc khách ở thầm với nhau.
Anh Thừa hỏi khẽ:
- Người vừa rồi là Sáu à?
Ông Hoài Tân Tử không trả lời, chỉ hắt hơi.
Một lát, có ánh sáng từ dưới nhà lên. Anh Sáu nhô khỏi thang, hai tay bung chiếc khay đèn thuốc phiện.
Anh Thừa sực được trả lời tất cả những câu anh tự hỏi, ông Tình muôn thuở sốt thế nào, và đến đây để làm gì.
Anh Sáu tiêm xong một điếu thì lấy cái đầu lọc tẩu giúi vào bàn tay ông Hoài Tân Tử mấy cái để đánh thức, ông này vẫn nằm nhắm mắt, quên cả xã giao thông thường là mời lơi anh Thừa một tiếng, ông hút bốn điếu liền, mới mở choàng mắt ra, ngồi nhổm dậy:
- Ấy! Chưa có nước à?
Anh Sáu đáp:
- Đương đun.
Vừa lúc ấy, có tiếng chân lên gác nhanh thoăn thoắt. Một người đàn bà, tay cầm ấm giỏ, tay cầm đĩa chén, vừa bò đến gần khay đèn, vừa hỏi bằng giọng chế nhạo:
- Tưởng ông Tử chừa rồi?
Ông Hoài Tân Tử lúc này đã tỉnh như sáo, tươi như hoa đôi mắt đã tinh thần như thường. Ông mỉm cười đáp:
- Có nghiện đâu mà phải chừa? Hút chơi hút bời đấy mà! Bắt được tôi nghiện cũng khó.
Anh Thừa thấy người đàn bà nhìn anh. Anh đoán đây là chị Sáu. Chị ta mặt trái xoan, tóc rẽ bệch, hai mắt thâm quầng. Rõ ràng là người hay thức đêm.
Sực ông Hoài Tân Tử rũ ra cười, nhìn anh Thừa:
- Quên, tôi chưa giới thiệu. Đây là anh chị Sáu.
Rồi giới thiệu khách với chủ nhà:
- Đây là ông Trần Đức Thừa.
Hai bên mỉm cười để làm quen nhau. Chị Sáu lại nhìn anh Thừa, rồi gật đầu:
- Ồ, ông Trần Đức Thừa, tôi nhớ ra rồi. Thế thì tôi có quen bà ấy.
Không biết câu nói vô tình hay hữu ý, nhưng anh Thừa như có kiến bò khắp mình. Cái bà ấy mà chị Sáu quen là ai? Là mẹ Mão? Là mẹ Pôn? Hay là Múi? Anh đánh trống lảng, hỏi đùa ông Hoài Tân Tử:
- Bác khỏi sốt rồi chứ?
Ông Hoài Tân Tử đáp rất tự nhiên:
- Khỏi rồi. Bây giờ ta có thể nói chuyện lâu. Tôi cần biết bác ở phố nào. Chúng ta còn phải gặp nhau nhiều.
Anh Thừa làm như đùa để lảng:
- Thế bác ở đâu? Bác nói trước.
Chị Sáu cười:
- Hình như hai anh cùng muốn giấu chỗ ở của mình. Chắc là sang hơn cái gác này thì phải. Thôi, cần gì biết nhà nhau. Muốn gặp nhau thì hai anh cứ hẹn nhau đến đây.
Anh Thừa gật đầu:
- Phải. Thế là tiện nhất.
Anh Sáu thấy mình hết nhiệm vụ với khách, hỏi:
- Ông còn cần gì tôi nữa không?
- Đã có chị ấy. Anh cứ đi mà ngủ.
Anh Sáu xuống thang. Anh Thừa nhìn theo. Anh hiểu đây không phải nhà bạn ông Hoài Tân Tử, mà là một tiệm lậu thuốc phiện, vợ chồng anh Sáu kiếm ăn bằng nghề làm bồi tiêm. Và rất có thể là người chồng để cho người vợ kiêm cả nghề làm đĩ với khách nữa. Anh đã thấy ở Hà Nội có nhiều tiệm lậu thuốc phiện kiêm cả nhà thổ lậu, và sòng bạc lậu. Có lần anh vào tiệm nhà vợ chồng Ăng-toan, một biệt thự ba tầng, trên đường Quần Ngựa, ở đấy có sáu bàn đèn. Khách đến chơi, cả tây lẫn ta, toàn là tai to mặt lớn. Vợ Ăng-toan mới độ bốn mươi tuổi, nhưng suốt ngày phải nằm và phải đấm lưng, nên nghỉ việc bồi tiêm. Nó nuôi một lũ con em choai choai chanh cốm để tiếp khách.
Ông Hoài Tân Tử ngồi xếp bằng tròn, nhìn chị Sáu thuốc, rồi gật gù:
- Phải, những người tiết tháo như bọn mình, có đời nào chịu làm báo với ông Vĩnh, ông Quỳnh, bác nhỉ.
Chị Sáu hỏi:
- Tại sao hở anh?
- Tại báo của các ông ấy có trợ cấp của chính phủ. Ông Vĩnh xơi năm trăm, ông Quỳnh xơi sáu trăm một tháng. Nhà ngôn luận như vậy là bị khóa miệng rồi. Hết gọi là làm nghề tự do.
Chị Sáu chia đầu dọc tẩu vào ông Hoài Tân Tử. Nhưng ông này bây giờ nhã nhặn rồi, giơ lại phía anh Thừa:
- Mời bác. Tôi nghỉ một tí. Ở Hà Nội mà chưa thưởng thức tài tiêm thuốc của chị Sáu là chưa biết Hà Nội.
Chị Sáu mỉm cười, hỏi:
- Tại sao chính phủ còn phải trợ cấp cho báo nhỉ?
- Thật là câu hỏi đàn bà! Để chính phủ cần gì thì báo các ông ấy viết, chứ tại sao. Thế chị không nhớ hồi bên Tây mới đánh nhau, chính phủ bắt đầu mộ lính chào mào, thì ngày nào báo Trung Bắc chả đăng thư và in ảnh của lính mộ bên Tây gửi về, khoe rằng sung sướng à? Mẹ kiếp! Lăn vào bom đạn, ăn đói, mặc rét, làm việc mửa mật, phải đánh, phải chửi như chó suốt ngày mà sung sướng!
Rồi ông nhìn anh Thừa:
- Bác có nhớ cái bài ở báo Đông Dương tạp chí số một, ra đời hồi tháng 5 năm 1913, sau ngày ông Đề Thám bị giết không? Nguyễn Văn Vĩnh viết bài chửi ông Đề Thám là vô ơn bạc nghĩa với chính phủ, chỉ đáng bỏ rọ trôi sông. Tôi đọc mà lộn cả tiết, muốn xé tờ báo ra!
Anh Thừa hút xong, cố nhiên phải gật đầu:
- Thế thì bác giống tôi. Tôi cũng không chịu được bài báo ấy.
Chị Sáu hỏi:
- Báo Nam Phong đứng đắn đấy chứ? Anh Tử nhỉ?
Ông Hoài Tân Tử trợn mắt:
- Càng đứng đắn mới càng nguy hiểm. Làm ra đứng đắn để nhốt dần óc quốc dân vào nhà tù lúc nào không biết. Giả đạo đức!
Chị Sáu cười:
- Cũng như thuốc phiện này chứ gì!
Anh Thừa sực nhớ đến thủ đoạn của anh dùng để đưa cô Lễ vào tròng. Anh khôn ngoan kém gì ông chủ bút báo Nam Phong. Anh không muốn để chị Sáu chiếm hết thì giờ, anh hỏi nhà văn sĩ:
- Thế nào, bác định bàn gì với tôi?
- Cũng là chuyện làm báo thôi. Chỉ có làm báo, người An-nam mình mới không cần có Pháp tịch cũng được ngang quyền với người Tây. Người có thẻ nhà báo được mời dự các hội nghị quan trọng, được đến bất cứ chỗ nào, được đi xe lửa hạng nhì. Tòa báo được dùng điện tự do, dù truyền cho cả nhà in để chạy máy suốt đêm, cũng không mất tiền. Tôi cố tâm tìm bác, vì tôi định mời bác chuyến này ra làm báo với tôi. Quyền ngôn luận là quyền thứ tư, sau ba quyền lập pháp, hành chính và tư pháp, hẳn bác đã biết.
Anh Thừa không biết, nhưng im lặng để làm như biết hơn người biết.
Ông Hoài Tân Tử tiếp:
- Trong đời tôi, tôi nhìn trước nhìn sau, ở giới trí thức mình, chỉ thấy có mỗi mình bác đáng gọi là tri kỷ. Bác tính, cuốn Tình muôn thuở của tôi, sở dĩ ế, chỉ vì tôi bị chúng nó viết bài bình phẩm chẳng ra làm sao. Bác lạ gì thói cạnh tranh trong văn chương, là dìm nhân tài, là tâng bốc người cùng cánh. Nếu tôi cho chúng nó chè chén, hoặc đút lót chúng nó tí chút, chắc là chúng nó đội tôi lên tận mây xanh như một văn hào, một thi bá. Chỉ vì tôi quá ỷ vào tài của tôi, nên tôi suýt bị chúng nó vùi xuống đất đen. May nhờ có bác là người biết chân giá trị của thơ tôi, bác giúp tôi, làm cho quyển sách tiêu thụ có vài ngày đã hết sạch. Nếu ở nước Nam này không có bác, thì tên tuổi tôi còn gì! Tôi hàm ơn bác.
Anh Thừa thấy chị Sáu nhìn anh, thì càng hãnh diện. Anh ái ngại cho ông nhà thơ thật thà.
Ông Hoài Tân Tử ngừng lại để hút điếu thuốc phiện, rồi nói:
- Bọn cầm bút lạm dụng quyền ngôn luận để giết tôi, rồi chúng nó xoay đến bác. Nhưng cây cứng, có sợ chi mưa gió? Chúng ta là những người có chân tài, chúng nó giập vùi sao nổi? Ấy cũng do nhờ bác, cuốn sách của tôi bán chạy, mà một ông chủ thầu khoán tìm tôi, nhờ giúp toà soạn cho tờ báo của ông ta sắp ra đời. Cho nên, tôi nghĩ đến bác, vừa là tri kỷ, vừa là ân nhân, nhất định tìm bác để bác cộng tác với ông ta.
Anh Thừa mừng như người sắp chết đuối vớ được cọc. Làm báo thì lợi trước mắt là được no. Rồi tương lai, anh có thể nhờ nó mà cụ Tú Phúc Lâm khỏi liệt anh vào hạng chán đời. Anh có lấy nổi cô Lễ hay không thì việc này định đoạt đây. Nhưng làm báo thế nào? Viết bài cho báo là làm báo. Chạy giấy cho tòa báo cũng là làm báo, xếp chữ cho nhà in báo, cũng là làm báo. Vậy thì ý ông Hoài Tân Tử bảo anh làm báo là làm việc gì? Cố nhiên, anh dốt nát thì không thể làm ở tòa soạn. Làm ở tòa soạn thì phải viết bài thật, mỗi số một bài. không thể giả dối, lòe bịp như lối làm thuốc, có thể ăn cắp vài chục đơn của người khác để sinh sống suốt đời. Anh hỏi ông Hoài Tân Tử:
- Xin bác nói rõ việc này.
Chị Sáu ngứa miệng nói:
- Thầu khoán thì cứ việc mà làm thầu khoán, lại vẽ ra báo với bổ.
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Ông này tên là Nguyễn Thúc Lăng, vẫn thầu đường sá, đê điều, bác có biết không?
Anh Thừa tặc lưỡi:
- Ái chà! Giàu lắm. Tôi biết tên. Nhưng không quen.
- Sang năm, ông Lăng muốn ra nghị viên.
Chị Sáu hỏi:
- Thầu khoán ra nghị viên để thầu gì? Thật là chết cười!
Anh Thừa nói:
- Ồ! Thầu khoán mới cần ra nghị viên chứ! Để được nhà nước nể, xin việc dễ.
Ông Hoài Tân Tử giảng thêm:
- Nghề thế, được chữ phú thì thích có thêm chữ quý. Là ông nghị thì được gọi là quan, dễ lo phẩm hàm, mề-đay.
Chị Sáu hỏi:
- Thế sao lại mở báo?
- Mở báo để quốc dân biết tên tuổi mình là hàng trí thức, có tư tưởng về xã hội, người ta mới bầu cho.
Anh Thừa nói:
- Nghĩa là anh trọc phú vô học thuê trí thức của làng văn để làm ra dáng có tư tưởng về xã hội mà quảng cáo tên tuổi, ra ứng cử nghị viên?
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Nhưng mình cũng dùng đồng tiền của hắn để có cơ quan ngôn luận mà bày tỏ tư tưởng ý kiến của mình, ông Lăng xin mở báo thì chắc được vì ông ta không can án, lại không có tai tiếng gì với sở Mật thám. Khi được giấy phép, ông ta chỉ cần đứng tên là sáng lập, còn tòa soạn và trị sự, ông ta mặc lòng hết.
- Thế mình phải thầu lại báo của ông chủ thầu à?
- Không phải, ông Lăng bỏ tiền cho mình làm. Thiếu đâu lấy đấy. Miễn là báo ra cho đến ngày bầu cử.
- Sau ngày bầu cử thì đình bản à?
- Cái đó còn tùy. Báo chạy thì cứ tiếp tục ra. Nếu không chạy thì ta chả vạ gì mà giữ.
- À, xin bác cho biết đây là nhật báo, tuần báo, hay nguyệt báo?
- Báo hàng ngày. Bận, nhưng dễ làm hơn. Vả lại, để quảng cáo tên cho ông Lăng, và để làm khí giới cho ông ta tranh cử, thì phải là báo hàng ngày. Cho nên, cố nhiên ông ta không phải là người xin ra báo để bán giấy phép cho chúng ta thầu lại, mỗi tháng lấy vài chục bạc, mà chính ông ta phải bỏ tiền ra cho chúng ta làm. Tôi chưa nghĩ ra là nên bắt ông ta tháng tháng đưa cho mình cả món tiền phí tổn, để khoán cho mình làm thế nào cho tờ báo xuất bản được thì làm, hay nên thành lập hộ ông ta tòa soạn và tòa trị sự để ông ta trả lương từng người.
Anh Thừa bàn:
- Với một người không hiểu nghề làm báo, thì ta bắt phải để ta thầu tòa soạn và tòa trị sự thì hơn. Bọn dốt nát biết đâu giá trị của nghề cầm bút mà định đoạt được lương cho từng người.
- Tôi cũng nghĩ thế. Chắc ông Lăng phải theo, ông ta phục mình như bậc thầy.
Anh Thừa hỏi:
- Thế bác muốn tôi giúp gì cho tờ báo nào?
- Tôi định mời bác làm chủ bút.
Anh Thừa tủm tỉm:
- Làm chủ bút? Tôi có quen làm báo bao giờ đâu?
- Bác cứ nhận đi. Tôi đã nói chuyện bác với ông Lăng rồi. Ông ta rất hoan nghênh. Tài học của bác thì làm chủ bút mới xứng đáng, mới địch được với bọn Quỳnh, Vĩnh.
Anh Thừa gãi mép, lắc đầu:
- Khó lắm.
- Tại sao?
Anh Thừa không dám nói thực:
- Vì tôi không quen nghề.
- Thế thì bác đừng ngại. Đã có tôi quen nghề. Đã có anh em giúp mỗi người một tay. Mỗi ngày bác chỉ cần viết một bài xã thuyết, và dịch một đoạn tiểu thuyết tàu, hoặc là truyện trinh thám, hoặc là truyện kiếm hiệp, lúc nào cũng bán vô khối ở hiệu Tam Hòa dưới Hàng Bồ ấy. Còn các mục khác, thì anh em làm. Tiểu thuyết là mục cần để giữ độc giả. Nó nuôi tờ báo sống lâu. Cho nên chủ bút phải đích thân phụ trách.
- Sao tôi nghe nói là quảng cáo mới nuôi nổi báo?
Ông Hoài Tân Tử cười hề hề:
- Thế mà bác bảo bác không quen nghề làm báo. Bác nói đúng quá. Quảng cáo là thức ăn chính nuôi báo sống. Một tờ báo bốn trang, tính cả lương tòa soạn, trị sự, lẫn phí tổn mua giấy, thuê in, đã mất hai xu tám rồi. Thế mà bán có hai xu. Nếu không nhờ quảng cáo gánh đỡ cho tiến giấy, thì báo chết ngay. Cho nên mỗi số bốn trang, phải có ít ra là một trang rưỡi quảng cáo, mới sống được.
Anh Thừa nói:
- Thế thì trong một tòa báo, người quan hệ nhất không phải là chủ bút, mà là người đi lấy quảng cáo. Hoặc là, nếu người quan hệ nhất trong một tòa báo mà là chủ bút, thì việc chính của chủ bút là lấy quảng cáo, chứ không phải là viết bài. Bác có lòng yêu, giới thiệu tôi với ông Lăng, thì tôi xin nhận giúp bác. Nhưng muốn gọi tôi là gì cũng được, tôi xin cáng đáng việc nuôi cho báo sống, là đi lấy quảng cáo.
Ông Hoài Tân Tử lắc đầu:
- Bác ngụy biện! Không được! Nhất định chúng ta không thể phí nhân tài. Một người uyên thâm về Hán học như bác, phỏng nước Nam mình có mấy. Bất quá về chữ nho, các báo Trung Bắc, Thực Nghiệp, đến cả Nam Phong nữa, cũng chỉ mời được mấy ông cử, ông tú là cùng.
Anh Thừa sực nhớ ra là đã khoe với ông Tình muôn thuở là mình đương thi bác sĩ. Anh hãnh diện lắm. Nhưng thấy lý của ông bạn cứng quá, anh đành thất vọng:
- Bác cho tôi thì giờ để nghĩ kỹ.
Anh nằm vắt tay lên trán. Anh thở dài. Anh tiếc một việc tốt làm cho anh danh giá. Anh tiếc công người bạn tốt đem lại danh giá cho anh. Phiền một nỗi, là không tài nào gặm nổi. Và anh cũng đói nữa.
Từ nãy, bụng anh sôi ran lên. Mà việc làm chủ bút, anh không thể xực được. Thì thà yên lặng để ngủ còn hơn thức để nghe cái lờ mờ này nó đánh giá lầm mình, cho mình thấy đói thêm. Anh ta muốn đặt mình lên đến trời, nhưng mình cũng chỉ cất nổi xác lên làm đến người đi lấy quảng cáo cho báo mà thôi.
Văng vẳng bên tai, anh Thừa thấy tiếng sè sè của điếu thuốc phiện chui vào lỗ nhĩ tẩu, và thoang thoảng trước mũi, anh thấy mùi thơm nhè nhẹ, cái hơi mê hồn của cô ả Phù dung. Anh cũng thèm hút một điếu, nhưng sợ bụng cồn cào, nên cố nén lòng để thiu thiu ngủ.
Bỗng anh ngửi thấy một mùi hành và thịt bò ngào ngạt thơm. Anh tưởng anh nằm mê thấy ăn phở, thì ông Hoài Tân Tử đã đập khẽ vào vai anh:
- Dậy! Làm một bát, kẻo đói, bác!
Anh mở mắt ra. Quả là có bát phở nóng đương bốc khói đặt trước mặt. Anh giấu nỗi mừng, ăn một cách thản nhiên.
Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Thế nào, bác đã nghĩ kỹ chưa? Tôi tưởng bác không nên khiêm tốn. Nếu tôi còn đủ uy tín để đứng đầu một tòa soạn, thì tôi nhất định không chối từ.
Rồi ông bảo:
- Làm bát nữa nhé. Phở khá đấy chứ?
Anh Thừa vờ chối:
- Tôi còn no.
- Một bát nữa chứ mấy? Thức đêm mà không ăn thì đói không chịu nổi. Chị Sáu! Làm ơn bảo cho hai bát nữa.
Anh Thừa được ăn thì tỉnh táo như ông Hoài Tân Tử được hút thuốc phiện. Anh nói:
- Tôi với bác là anh em thân đã đành, nhưng đối với ông Lăng, thì tôi là người lạ, cho nên tôi ngại lắm.
- Tôi xin nhắc lại là ông ta coi bọn mình như bậc thầy. Tôi định nếu bác nhận lời, thì chiều mai, tôi đưa bác đến gặp ông ta, ăn cơm với ông ta, bàn bạc việc tiến hành, để đến ngoài tết, ra được báo. Bác cần những gì, bảo ông ta, chắc ông ta không dám chối từ.
Không lẽ bỏ lỡ bữa cơm và món tiền, anh Thừa nói:
- Tôi muốn gặp ông Lăng trước, để xem ông ta thế nào, rồi sau mới quyết định có hợp tác với ông ta hay không.
- Bác cẩn thận quá.
Chị Sáu nói:
- Cẩn thận thế là phải. Đối với bọn thầu khoán mà hồ đồ thì họ lừa ngay.
- Lừa ai, chứ lừa sao nổi bọn này?
Ông Hoài Tân Tử bàn:
- Về Hán học, tôi định tờ báo của ta có hai người là đủ. Bác là một, cụ Điều nhà bác là hai. Bác nghĩ sao?
- Tôi xin khoan hãy nghĩ đến tòa soạn. Cụ Điều giỏi văn ngôn thật, nhưng tôi e rằng bạch thoại thì cụ không sành. Tôi cho quan trọng nhất vẫn là việc tìm người lấy quảng cáo cho báo. Quảng cáo giữ vững sinh mệnh. Nó là cơm, là gạo. Có cơm gạo mới có máu. Máu là nội dung, tức là tòa soạn.
Ông Hoài Tân Tử gật gật:
- Bác nói có lý. Tôi quên chưa nói với bác về nội dung tờ báo, mà trước hết là tên của nó. Tôi đã bàn với ông Lăng là không nên đặt tên tờ báo như tờ Thực Nghiệp, chỉ bó hẹp trong phạm vi thực nghiệp. Như vậy, khó làm. Tờ Thực Nghiệp, hồi mới, cũng viết về thực nghiệp, nên viết nhạt, độc giả kêu lắm. Rồi chẳng bao lâu, cạn vấn đề thực nghiệp, báo ấy viết tất cả các mặt khác, như một tờ báo phổ thông. Cho nên tôi định đặt tên báo của mình là Chấn Hưng.
- Chấn Hưng. Chấn Hưng.
Anh Thừa nhắc đi nhắc lại tên báo mấy lần, làm như suy nghĩ, rồi nói:
- Được đấy.
Ông Hoài Tân Tử cao hứng, ngồi xổm phắt lên:
- Chấn hưng thì thật là mênh mông. Chấn hưng đạo đức, chấn hưng phong hóa, chấn hưng văn học, chấn hưng nghệ thuật, chấn hưng công nghệ, chấn hưng nông nghiệp, chấn hưng vấn đề quan lại, vấn đề phụ nữ. Nước mình, về mặt nào không phải chấn hưng? Tôi chắc vấn đề chấn hưng y nghiệp, thì bác viết đến hàng năm không hết. Phần văn chương, thì cụ Điều viết phóng sự về phong cảnh, nhân vật, và cách ăn chơi ở đế đô, tôi làm thơ, thì độc giả tha hồ mà mê.
Nói xong, ông trỏ tay vào cái cặp dẹt, mắt long lanh. Chắc là tập bản thảo.
Anh Thừa ngả lưng nằm xuống. Chị Sáu hỏi:
- Anh làm một điếu tráng miệng nhé.
- Không, cảm ơn chị. Tôi máu nhiệt, hút nhiều, thì ngứa và khó ngủ.
Chị Sáu lấy chiếc chăn chiên đắp cho anh. Được no, ấm và nằm im, anh mơ màng. Rồi độ mươi lăm phút, anh ngáy.
Nhưng ngáy thì tỉnh ngủ ngay, cho nên anh lại vẩn vơ nghĩ. Bỗng có tiếng chị Sáu hỏi:
- Tay này ở Nhà vàng Bờ Hồ tham vàng bỏ ngãi đấy à?
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Ừ, làm sao?
Anh Thừa cựa. Tiếng nói chuyện im. Nhưng muốn nghe tiếp, anh vờ ự ự như người ngủ say. Chị Sáu nói:
- Ngủ dễ nhỉ. Tướng giàu.
Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Sao ngủ dễ lại giàu?
- Vì ngủ dễ là không lo nghĩ. Chỉ người giàu mới ít phải lo nghĩ.
- Không đúng. Không lo nghĩ thì sao mà làm giàu được.
- Số giàu mang đến dửng dưng. Tay này mở phòng thuốc, giàu đáo để, mà sao ăn mặc mèng nhỉ.
- Đóng cửa phòng thuốc rồi. Còn đương mắc míu về cái nhà đấy.
Anh Thừa bị nhắc nhở đến cái nhà nó như cái bướu, luôn luôn bắt anh lo lắng, làm ruột gan anh đau nhói. Anh oán bà hậu Dần và càng giận Ma-ri, và giận thân.
- Nhà thế nào?
- Tại tay ấy thật thà quá, tưởng nhà bằng lim với xi-măng, mới mua.
- À, tôi biết rồi, tay ấy học cừ lắm à?
- Ừ, sắp đỗ y khoa bác sĩ Tàu. Kể sức học thì kém đếch gì lão Quỳnh, lão Vĩnh.
Anh Thừa hởi dạ, tạm quên được việc mua nhà dại dột. Tiếng chị Sáu:
- Nhưng thật thà thì làm báo thế nào được?
- Chị tưởng làm báo thì phải quỷ quyệt à?
- Tôi chúa ghét bọn làm báo. Chỉ vô công rồi nghề bới móc chuyện nhà người ta.
- Không đúng. Làm báo để khai hóa quốc dân.
- Khai cái con khỉ! Một trăm thằng làm báo thì chín mươi chín thằng nghiện oặt xà lai, chỉ nằm bàn đèn tán phét với nhau với chửi đổng là nhất!
- Chà! Quan niệm!
Hai người yên lặng. Sau tiếng thuốc chạy sè sè và mùi khói thơm nhẹ, chị Sáu lại nói:
- Tôi quen vợ tay này.
Anh Thừa cố giữ để khỏi giật mình.
- Láo!
- Thật đấy. Trần Đức Thừa chứ gì? Tôi lạ gì tay này, mấy hôm nay vẫn đến ăn cơm ở hàng nhà Sửu.
Anh Thừa suýt cựa.
- Vô lý.
- Sao lại vô lý? Tôi đến bán thuốc cho nhà Sửu, tôi gặp luôn mà lị. Tay này ở Ngũ Xã chứ ở đâu? Vợ hắn cũng ở Ngũ Xã mà hắn không biết đấy.
Anh Thừa cố nén thở dài. Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Thế à? Hai vợ chồng không ở với nhau à?
- Không.
- Lạ nhỉ. Hay là chị lầm. Vợ tay này là người tây lai kia mà.
- Sao lại tây lai?
- Tôi đi ăn cưới, tôi không biết hay sao? Hai nhà trai gái toàn những ông huyện, ông hàn, ông tham, ông phán, danh giá lắm.
Anh Thừa cố thở to như ngáy. Anh muốn biết người này nếu không phải là Ma-ri, thì là vợ cả của anh, hay là Múi. Chị Sáu nói:
- À, phải. Người vợ tây lai chắc là vàng, còn người vợ này mới là ngãi. Tham vàng bỏ ngãi.
- Báo đăng tham vàng bỏ ngãi là sai đấy. Tay này chỉ mê nghiên cứu về thuốc, chứ có lăng nhăng đâu, mà vàng với ngãi.
Anh Thừa hởi lòng, càng thở dài đều.
- Thì đứa con lẹm cằm, giống tay này như lột, sai thế nào được.
Anh biết là thằng Mão. Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Trai hay gái?
- Gái.
Vậy ra không phải thằng Mão. Hay là con của Múi? Hay còn đứa nào nữa mà anh quên hoặc không biết?
Chị Sáu nói:
- Vợ tay này người Đồng Đăng.
Anh Thừa cựa, nhưng sực nhớ ra, anh ự ự to hơn trước.
- Thế sao chị lại quen?
- Tôi lấy thuốc ở đấy. Thuốc anh vẫn hút ấy mà.
- Thuốc tốt lắm. Vợ tay này buôn thuốc phiện lậu à?
- Không biết còn làm gì khác nữa không, chỉ thấy lúc nào cũng có sẵn thuốc ở trong nhà. Chị ta khoe bố mẹ buôn to lắm.
- Buôn thuốc phiện lậu à?
- Chắc thế.
- Vợ tay này ở với ai ở Ngũ Xã?
- Ở với con bé con.
- Cố nhiên. Nhưng còn với ai nữa chứ?
- Thuê nhà đấy, nhưng ít khi ở. Chắc là đi Đồng Đăng luôn để lấy thuốc. Bởi vì lần nào về, cũng có một anh đội đoan đi theo, lần anh này, lần anh khác, và ngủ đêm lại.
Anh Thừa nhịn được tiếng ho. May quá.
- Sao chị biết?
- Người quanh đấy nói chuyện. Có một hôm tôi cũng thấy thế, toàn nhận là anh với em, đến khỉ!
- Ngộ anh em thật thì sao?
- Anh em liền khúc ruột!
- Chị cho là chồng hay nhân ngãi?
- Già nhân ngãi, non vợ chồng.
- Thế là chị tự mâu thuẫn với chị. Chị bảo là vợ tay này, rồi lại bảo là vợ người đội đoan.
- Tôi biết đâu. Vì khoe với tôi là bà Trần Đức Thừa, làm thuốc nhà giàu ở Bờ Hồ.
- Sao chị không vặn lại là tại sao không đến Bờ Hồ mà ở?
- Vặn làm quái gì? Chị ta nói thế thì mình biết thế. Mấy lị chả thỉnh thoảng không ở Ngũ Xã là gì? Chắc là đến với chồng?
- Sao chị vừa bảo là đi Đồng Đăng?
- Việc của tôi đâu mà anh vặn tôi?
- Có trẻ, có đẹp không?
- Anh hỏi làm gì?
- Ghen à?
- Tôi chúa ghét đàn ông hay lăng nhăng, bạc tình, chỉ làm hại đàn bà con gái.
- Chà! Tại anh, tại ả, tại cả đôi bên. Bụt trên tòa, gà nào dám mổ mắt. Thôi, không tò mò nữa. Cho xin một điếu.
Thấy câu chuyện lạc hướng, anh Thừa được bình tâm. Anh duỗi chân cho khỏi mỏi.
- Anh hút nhiều quá. Coi không khéo thì nghiện đấy.
- Nghiện sao được thằng tôi! Hút để lấy yên-sỹ-phi-lý-thuần mới làm thơ được. Mấy lị giá có nghiện tôi cũng đỡ thiết cái khác, nhất là đi cô đầu, hại tiền lắm. Tôi thề chừa cô đầu mãi không nổi, bây giờ chơi cái này mới dứt được xuống xóm.
- Thế là anh mắc nghiện rồi.
- Nghiện được thằng này cũng còn mệt.
- Một trăm thằng mới mắc, thằng nào cũng nói cứng thế. Cho nên nghe thằng nào nói cứng, thì biết là nó mắc nghiện rồi.
- Những một trăm thằng kia à? Sao nhiều thế?
- Khỉ! Văn sĩ xỏ lá!
- Xỏ vào người, chứ xỏ vào lá thì xỏ làm đếch gì! Thôi yên, để văn sĩ làm nốt bài thơ.
Hai người yên lặng. Anh Thừa nghĩ mà lo. Anh phải tránh gặp Múi. Anh phải rời Ngũ Xã ngay lập tức. Nhưng trong thời gian chưa thuê được nhà khác, thì anh ở đâu? Anh phải đi về nhà cũ thế nào cho kín đáo, để khỏi gặp con người coi anh là kẻ thù? Anh nhớ lại trận đòn của mẹ Mão. Bây giờ, mỗi bận ăn cơm, thấy thiếu hai cái răng, anh còn rợn cả mình. Bọn đội đoan cũng ác, hay đánh người lắm. Múi mà lại cho anh trận nữa, làm tung hoăng lên, thì anh phải bán xới đất Hà Nội thôi.
Bỗng ông Hoài Tân Tử rên rỉ giọng mà ngâm:
Mùa đông năm ngoái, em nhớ không?
Đôi ta yêu nhau, ngày càng nồng.
Kệ cả mưa dầm lẫn gió bấc,
Trên chăn, dưới đệm, lòng ủ lòng.
Mùa đông năm nay giữa tháng Mười,
Trời còn nắng gắt, còn bức oi.
Chăn bông, áo kép, như hờ hững,
Thực cảnh mùa hè, em thử coi.
Quái lạ! Tại sao lại muộn rét?
Đôi ta đôi nơi, trời cũng biết.
Thương cảnh cô miên, nằm lạnh lùng,
Đợi lúc em về, hãy đổi tiết.
Nghe tiếng oang oang bên cạnh tai, anh Thừa không có lý gì giả vờ ngủ được. Vả câu chuyện Múi, anh đã nghe đủ, vả chắc hai người không nói thêm, nên anh cựa, rồi mở mắt.
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Xin lỗi. Tôi cao hứng, quên rằng bác đương ngủ.
Ông ta đọc lại bài thơ cho anh Thừa nghe, đùi rung nảy, mình lắc lư. Chị Sáu nói:
- Tiếng như trong câu Chăn bông áo kép như hờ hững chưa được mềm. Nếu không thì hai tiếng hờ hững không đắt. Và tại làm sao tự nhiên lại Kệ cả mưa dầm lẫn gió bấc?
Ông nhà thơ khen:
- À, con nhà sành! Câu sau thiếu ý thật. Tại rằng anh và em mỗi người ở một nhà, nhưng dù là mưa dầm gió bấc, mà không tối nào anh không xông pha đến gặp em.
Ông hỏi anh Thừa:
- Thế nào, xin bác phủ chính cho?
Lần đầu tiên anh Thừa được hỏi ý kiến về thơ. Nghe thơ, anh như vịt nghe sấm. Vả vừa nghe câu chuyện chị Sáu, thì anh còn ruột gan nào mà bình tĩnh được. Song, không lẽ làm như mình không biết thơ, anh khen cả tác giả lẫn chị Sáu phê bình để lấy lòng cả hai người.
Rồi anh đợi lúc chị Sáu xuống nhà đun thêm nước sôi, mới nói với ông Hoài Tân Tử:
- Tôi biết mình sắp lên cơn sốt. Đêm nay, tôi không dám về nhà, sợ sương gió. Và ngày mai, đến trưa, bệnh mới cất cơn. Tôi ốm mấy năm nay thế, cho nên tôi hiểu thế. Vậy tôi nhờ bác nói với anh chị Sáu cho tôi nghỉ tạm tại đây. Và tôi ở luôn đến chiều, đợi bác đưa đến gặp ông Lăng.
Ông Hoài Tân Tử gật đầu:
- Tiện lắm, không có gì là phiền. Năm giờ chiều mai, tôi sẽ đến đón bác.
Anh Thừa nói:
- Bữa cơm sáng mai, tôi cũng nhờ anh chị Sáu thổi hộ. Tôi gửi bác tiền đưa chủ nhân.
Anh móc túi định lấy tờ giấy bạc rách, nhưng ông Hoài Tân Tử đã xua tay:
- Thôi, một bữa cơm, không phải trả tiền. Bác cứ ở lại. Cần thuốc thang, cơm cháo, cứ bảo anh chị ấy. Bác coi nhà này cũng như nhà tôi, xin cứ tự nhiên. Đâu đấy đã có tôi, bác không phải nghĩ ngợi.
- Cảm ơn bác.
- Bây giờ mới là hai giờ. Còn sớm. Tôi chữa xong đoạn tiểu thuyết, độ bốn giờ thì tôi về. Bác cứ yên mà nghỉ.
Rồi ông ta cười:
- Ở nhà ồn lắm. Ở đây tĩnh. Có thêm điếu thuốc điếu xái thì tăng yên-sỹ-phi-lý-thuần. Mỗi văn sĩ có một thói quen làm việc riêng. Bác đừng cười nhé.
Được toại nguyện, anh Thừa lễ phép đáp:
- Không dám.
 
* * *
 
Chiều hôm sau, mới hai giờ, ông Hoài Tân Tử đã đến Yên Phụ, để gặp anh Thừa. Tay ông ôm một bọc gì to lắm.
Chị Sáu thấy ông khách nghiện dở tới, thì vội vàng đi sửa soạn bàn đèn, nhưng ông ta xua tay:
- Chị tưởng tôi bắt nghiện rồi phỏng? Hôm nay tôi không hút đâu. Tôi cần bàn riêng với ông bạn tôi một việc. Chị cho chúng tôi tự do nhé.
Rồi ông nói khẽ với anh Thừa:
- Họ đa nghi quá! Làm mình mất cả danh dự.
Đợi chị Sáu xuống nhà xong, ông Tình muôn thuở mới ngồi gần anh Thừa, hỏi:
- Thế nào? Bác đã nghĩ kỹ chưa?
Anh Thừa mỉm cười, lắc đầu:
- Tôi vẫn giữ ý kiến hôm qua. Bác có lòng yêu, nhưng tôi xét mình học thiển tài sơ, không xứng đáng đứng đầu một cơ quan ngôn luận. Để đền ơn tri ngộ, với bác, tôi xin giữ việc lấy quảng cáo cho báo.
Ông Hoài Tân Tử đập khẽ vào vai anh Thừa:
- Này, tôi nói thật nhé, nếu định làm ăn lâu dài với nhau, thì trước hết chúng ta nên thành thực với nhau. Hôm qua, tôi có nói bác là tri kỷ của tôi. Nhưng tôi chắc rằng bác không biết tôi cũng là tri kỷ của bác.
Anh Thừa hỏi:
- Sao ạ?
- Thôi, chẳng úp mở lôi thôi cho dài dòng nữa. Bác tưởng tôi không biết đến tổ chấy bác à? Bác tưởng tôi không biết vì lẽ gì bác không dám nhận làm chủ bút mà chỉ nằng nặc xin đi lấy quảng cáo thôi à? Về điểm này, tôi khen là bác thành thực, nhưng sao bác lại còn mỹ tự với tôi là không quen nghề với học thiển tài sơ?
Anh Thừa tái mét mặt.
- Bác tưởng chúng tôi là những người viết văn, thì lờ mờ, ngốc nghếch, dễ lừa phải không? Có những cái không quan hệ đến công việc của chúng tôi, thì chúng tôi lờ mờ, ngốc nghếch, dễ lừa thật đấy. Nhưng chúng tôi tinh ranh ở những cái khác mà người khác nghề lại lờ mờ, ngốc nghếch, dễ lừa. Đại khái như việc nhìn người, thì chúng tôi ít lầm lắm. Chúng tôi làm nghề này, mà nhìn người sai thì chúng tôi viết thế nào được nổi con người nó là yếu tố chính của văn chương? Bác tưởng tôi tìm bác ở các trường tư thật à? Bác tưởng tôi yên trí là bác muốn dạy học ở trường Cao đẳng à? Bác tưởng tôi tin là bác có trình độ bác sĩ, địch nổi bọn Quỳnh, Vĩnh à? Bác ngây thơ quá! Bác không biết là tôi đã rõ tỏng tòng tong cái bằng làm thuốc của bác ở đâu mà có, và bác sinh sống mấy năm nay bằng cách gì à?
Như bị đập túi bụi, anh Thừa ngồi thuỗn mặt, không dám nhúc nhích. Ông Hoài Tân Tử tiếp:
- Sở dĩ hôm qua, tôi tâng bốc bác, là tôi muốn giữ sĩ diện cho bác với vợ chồng nhà Sáu, để bác vẫn còn mặt mũi mà lui tới nhà này. Hẳn câu chuyện tôi nói với chị Sáu đêm qua về bác để bênh bác thế nào, bác cũng nghe rõ cả. Bác tưởng tôi không biết là bác vờ ngủ à? Tôi cũng hay ngáy, cho nên tôi biết người nằm ngáy thì óc vẫn tỉnh táo, tai vẫn nghe rõ tiếng động ở xung quanh. Vả lại tâm trí bác độ này như mớ bòng bong, thì nằm trằn trọc còn chán, đã ngủ thế nào được ngay thế. Bác tưởng bác che nổi mắt tôi, nhưng chính là bác lờ mờ, ngốc nghếch, và bị tôi che mắt, bị tôi lừa bịp, mà bác không biết.
Anh Thừa thở dài.
- Nhưng tôi lừa bịp bác không để làm hại bác, mà để làm lợi cho bác. Tôi phải nói thật cho bác đừng hãnh diện với tôi, là hôm qua, lúc gặp bác ở đường Cổ Ngư, tôi mới sực nghĩ đến bác, mà mời bác cùng làm báo, chứ không phải tôi đã nói chuyện bác với ông Lăng, và tìm bác mãi tại khắp các trường tư ở Hà Nội. Bởi vì một người khảo bảy ngày không ra một chữ như bác, thì đến làm gì trong những nơi người ta học? Tôi nói thế cho bác sướng, mới câu nổi bác đến đây, để cho bác nói ráo hoảnh là Phạm Quỳnh mời bác thay Nguyễn Bá Trác, để cho bác khiêm tốn lối mập mờ là không quen nghề, với học thiển tài sơ. Bác tưởng bác học thuộc lòng để nhắc lại như vẹt mấy tiếng ấy của thằng Khải Định liệt dương, thì tôi phải tin như lũ quan lại tin cái anh vua bợm bãi này à? Không. Hai chúng ta, ai lờ mờ, ngốc nghếch, dễ lừa, chắc bây giờ bác biết rồi.
Ông Hoài Tân Tử uống nước để nhắp giọng, rồi tiếp:
- Thôi. Tôi nói ngần ấy câu, để bác hiểu là chính tôi cũng là tri kỷ của bác mà bác không biết đấy. Nhưng chuyện hôm qua là chuyện hôm qua. Ta bỏ đi. Ta nói với nhau chuyện hôm nay và về sau thôi. Muốn bác vui vẻ, trước hết tôi xin khen bác là nói phét trắng trợn mà không biết trơ, không biết ngượng là tốt, có khả năng làm được việc lớn. Về điểm này, chúng ta gặp nhau, có thể là bạn thân với nhau.
Anh Thừa đáp:
- Vâng xin bái phục ông anh. Ông anh cứ dạy.
Ông Hoài Tân Tử ngồi lại cho nghiêm trang, rồi nói:
- Chốc nữa, chúng ta đến gặp ông Nguyễn Thúc Lăng, một tay bợm già, bởi vì đã làm nghề thầu khoán lâu năm. Như tôi nói với bác hôm qua, ông ta muốn mở báo để cầu danh, mà trước hết, là để ứng cử nghị viên khóa sắp tới. Vậy thì chúng ta phải cứng mới được. Cứng nghĩa là làm sao bịp được tay cáo già ấy. Sáng nay, tôi giới thiệu bác với tay ấy rồi.
Im một tý cho anh Thừa thấm nhuần lời nói, ông nhà văn tiếp:
- Nhưng tôi cho là bịp không khó. Ông thầu khoán này chỉ thạo món đường sá đê điều, chứ không thạo món văn chương báo chí. Thằng trọc phú dốt nát, muốn lấy đồng tiền để làm quáng mắt chúng ta, nhưng chúng ta phải đối phó lại, lấy học thức, chữ nghĩa ra mà lòe nó. Tiếc rằng nó biết tôi chỉ là một phóng viên thường của tờ Thực Nghiệp, không tín nhiệm tôi làm chủ bút, cho nên tôi phải chọn bác. Thế thì nhất định là bác đỗ bác sĩ y khoa Tàu rồi đấy nhé. Nhất định bác nhận chủ bút nhé. Đừng có khiêm tốn dại dột là không quen nghề với học thiển tài sơ nhé. Đừng có để lòi đuôi mà xin đi lấy quảng cáo nhé.
- Vâng.
- À, cái bằng làm thuốc của bác đâu?
- Vợ tôi nó đâm rách nát ra rồi.
- Thế à? Tiếc nhỉ! Nhưng cũng được. Không có bằng chứng giấy tờ, thì đã có bằng chứng miệng. Tôi sẽ dặn anh em cộng tác phải khoe với ông sáng lập rằng ông chủ bút là bác sĩ. Chứng khẩu đồng từ thì ông sư cũng chết, nữa là không giết bác, mà còn cho đỗ bác sĩ! Nhưng có làm chủ bút, bác cũng đừng sợ phải viết bài với dịch truyện. Tôi còn lạ gì bác mà mạo hiểm để bác làm những việc bằng chữ nghĩa ấy. Giữ sĩ diện cho bác với vợ nhà Sáu, thì tôi nói thế thôi. Chứ dù mang tên là chủ bút, bác cũng chỉ có việc đi lấy quảng cáo. Vậy bác cứ bận tâm mà kiếm nhiều quảng cáo cho báo. Tài này của bác thì tôi phục, vì tôi rõ quá khứ của bác.
Anh Thừa cười nhẹ nhõm:
- Thế thì tôi xin yên tâm để nhận là chủ bút.
- Phải. Chủ bút không viết xã thuyết. Đã có chúng tôi xoay xở, nhưng hôm nào cao hứng, bác viết nổi một bài, thì cứ đăng. Xin nhớ rằng xã thuyết là mục quan hệ nhất của tờ báo, không có không được, nhưng sự thực không ai đọc xã thuyết đâu. Những bài xã thuyết ở báo Trung Bắc, ở báo Thực Nghiệp, chính những người viết vẫn nói đùa với nhau rằng giá có in ngược chữ, độc giả cũng không biết, vì chẳng ai buồn nhìn đến bao giờ. Cho nên, nếu có gan mà liều, bác cứ viết xã thuyết cũng không sao.
Ông Hoài Tân Tử lại uống nước:
- À quên, tôi giới thiệu bác với ông Lăng là trước kia, trong thời gian làm thuốc, bác vẫn gửi bài giúp báo Nam Phong. Từ ngày bác đóng cửa phòng thuốc, thì ông Phạm Quỳnh mời hẳn bác về tòa soạn. Nhưng bác muốn mở riêng tờ báo khác. Vì tôi điều đình, nên bác thôi không mở báo, bằng lòng đến giúp ông Lăng. Thế nhé!
Anh Thừa trợn mắt. Ông Hoài Tân Tử nhắc:
- Nhớ nhé! Nam Phong đấy! Thì Nam Phong chứ sao? Không giở cái trò tiết tháo với chê trợ cấp đấy nhé. Bởi vì, dù sao thì báo Nam Phong cũng mời được nhiều cây bút có giá trị viết giúp. Nhất là lại có đăng tập kỷ yếu của hội Khai Trí Tiến Đức. Thì ông Lăng là hội viên hội Khai Trí, phải giữ danh dự và có cảm tình với báo Nam Phong hơn báo khác.
- Tôi cũng là hội viên Khai Trí, chắc ông ta cũng sẵn có cảm tình với tôi.
- Càng tốt. Điều này bác tự giới thiệu với ông ta sau. Cho nên đã viết báo Nam Phong, thì không có cái câu không quen nghề với học thiển tài sơ nhé. Nói tóm lại, bác là một tay đại học thức, rất thạo nghề làm báo đấy nhé. Có như thế, ông nhà thầu mới phục và tin ông nhà báo. Đến khi ấy, bác bảo gì ông ta không nghe?
- Nhưng một tờ báo ra hàng ngày mà có hai chúng ta làm thôi à?
- Còn nhiều người. Bác không phải lo. À, tôi muốn hỏi bác, bây giờ cái cụ Điều nhà bác đâu? Trông cụ ta đẹp mà như một cụ tú, cụ cử nhà nho thật, cố nhiên chữ nghĩa của cụ ấy có bao nhiêu, tôi cũng có thể ước lượng được. Nhưng dù sao cụ ta cũng còn hơn bác. Liệu cụ ta có dịch nổi truyện kiếm hiệp, truyện trinh thám không?
- Nếu bác cần một tay túc nho thật sự, thì tôi giới thiệu cụ tú Phúc Lâm ở Hàng Đào.
Anh Thừa đã nghĩ ngay đến tư lợi. Anh sẽ nhân việc báo để có cớ mà ra vào gia đình này, câu cô Lễ cắn chặt mồi hơn. Ông Hoài Tân Tử nghĩ một lát, rồi đáp:
- Cụ tú Phúc Lâm ấy à? Tay này không nhận giúp ta đâu. Bởi vì lão ta đứng đắn, đạo đức, và chẳng thiết gì, cứ như anh chán đời. Vả lại chúng mình không phải đồng bối, thì tay ấy không chơi.
- Tôi quen cụ ấy. Để tôi thử xem.
- Được. Nhưng đó là tương lai. Hãy nói nốt chuyện hôm nay đã. Nhân tiện, tôi phác qua cho bác biết các mục trong một tờ báo hàng ngày, để bác liệu nói chuyện với ông Lăng. Kể ra thì các mục sờ sờ đó, ai mà không biết. Nhưng điều cần biết là mục nào quan trọng, cần nhiều công phu, mục nào không quan trọng, làm phất phơ thế nào cũng được.
Ông Hoài Tân Tử nhấp giọng:
- Tôi đã nghiệm, nuôi tờ báo sống được ngày này sang ngày khác, bao giờ cũng là mục văn chương. Mục này có tiểu thuyết, có thơ, có mẩu chửi đổng, có câu khôi hài, và có tiếng nói phụ nữ. Tiểu thuyết thì mỗi ngày ta cho độc giả mê hai truyện, một truyện trinh thám và một truyện kiếm hiệp, đăng dần từng tí một. Ta in cả đoản thiên tiểu thuyết, chọn những truyện tình éo le. Mục này, ta cứ cho ra vài kỳ, rồi độc giả, những hạng mười bảy mười tám tuổi, mới lớn lên, tập viết văn, tập sống ăn chơi, gửi đến vô số. Mục thơ, nếu ta làm thế nào cho nó biến thành cái hộp thư của các cô các cậu muốn chim chuột nhau, thì ta không sợ không có bài. Ta đừng khó tính với những tác giả này, họ sẽ là người cổ động cho báo ta đắc lực nhất. Vì ai chả thích khoe mình có bài đăng báo! Mục chửi đổng phải có tay chuyên môn viết. Độc giả rất thích xem hôm nay báo chửi ai, chửi cái gì. Ngay như ở phố, hễ thấy đám chửi nhau, thì y như người ta xúm xít lại rất đông. Việc hay của nhau, ít người tò mò muốn nghe, nhưng kể xấu người khác, bươi xấu đời tư người khác, thì khối người thích. Nhiều người hễ mở tờ báo ra là tìm ngay mục này để đọc trước. Rồi bàn tán với nhau rất lâu. Vì mục chửi đổng quan trọng thế, cho nên tôi phải viết nó. Còn văn khôi hài, như Hài đàm, mẩu ý kiến nhỏ, như Nhàn đàm của báo Trung Bắc, Xã hội tùng đàm của báo Thực Nghiệp, cũng được một số độc giả ưa. Nhưng không cần ngày nào cũng có. Ngày nào cũng có, phải là mục đăng bài của phụ nữ gửi đến. Nói thật, nếu phụ nữ viết thực, thì khó ngửi lắm. Nhưng ta vẫn phải nịnh đầm mà đặt tên mục này là Tiếng oanh. Ta mong bài của những anh ký mạo con gái, lấy tên vợ, tên con, tên nhân ngãi, dùng giọng ỏn ẻn, viết về vấn đề phụ nữ. Một dạo, ông Chu Đàm Anh làm thơ, toàn lấy tên con nhân tình cô đầu là con Phụng, ký là Bích Ngô Nguyễn Minh Phụng.
Anh Thừa tủm tỉm cười, vì anh cũng rõ việc này.
- Báo hàng ngày phải đăng thời sự hàng ngày. Thời sự ngoài nước thì việc nước Pháp, nước Anh, nước Đức, nước Nga bên châu Âu, và việc đánh nhau bên Tàu ở châu Á, đã có sẵn bản tiếng Tây yết ở nhà Dây thép chính. Ta cho người đi dịch. Thời sự trong nước, thì phải nhiều nhất là việc Hà Nội, vì báo sống bằng độc giả Hà Nội nhiều hơn cả. Rồi đến việc Hải Phòng, Nam Định. Rồi mới đến việc Hải Dương, Bắc Ninh. Việc Trung-kỳ với Nam-kỳ, có gì quan trọng, thì ta đăng lại tin của các báo trong ấy. Tờ Trung Bắc với Thực Nghiệp cũng làm thế cả. Việc Hà Nội phải nhiều, nhưng không khó kiếm. Ta chỉ cần một tay trẻ, biết đi xe đạp, ngày ngày đến sở cẩm Hàng Trống, và Tòa Án để chép tin. Làm phóng viên, nếu khéo bơm to những việc nhỏ, nếu khéo biết viết dài những việc to làm nhiều kỳ và cắt ở chỗ hồi hộp, cũng giữ được độc giả. Nhiều người mánh khóe, có thể lợi dụng mục này để làm được tiền cũng nên. Còn việc các tỉnh, thì tỉnh nào ta lấy phóng viên người tỉnh ấy. Vô khối anh xin việc. Vì ở tỉnh nhỏ, làm phóng viên là to chuyện lắm. Ai không sợ ông phóng viên xóc móc việc không hay của nhà mình. Ta chỉ cho họ báo và mất tiền tem cho họ gửi bài, thế là họ tận tâm với ta. Cuối cùng, bài quan trọng nhất của tờ báo, là bài xã thuyết, thì cũng như mục thời sự ngoài nước, không có ai thiết đọc, như tôi đã nói với bác ban nãy. Ngoài những mục này, nếu có việc quan trọng xảy ra, thì ta làm phóng sự, tường thuật, nếu thừa giấy, ta mở mục giải đáp, ví dụ giải đáp về thuốc, về pháp luật, về khoa học thường thức, về xử thế thường thức, và cả về nỗi lòng của trai gái dậy thì nữa.
Nói đến đây, ông Hoài Tân Tử thở một hơi dài, rồi nghỉ để uống hai chén nước liền. Anh Thừa nói:
- Làm tờ báo hàng ngày mệt đấy. Hôm qua, bác lại bảo là dễ.
- Mệt nhưng mà vui. Vui nhất mục chửi đổng, chửi bạn đồng nghiệp, chửi người quen, chửi người lạ, chửi việc làm trái, chửi việc làm phải, chửi quan lại, chửi bóng gió tây đầm. Tha hồ, chửi lung tung. Tóm lại, như vậy, tòa soạn cần một phóng viên đi nhặt tin và sửa bản in, một người phụ trách các mục văn chương và một người nữa, các thời sự. Xã thuyết thì ta đi kiếm. Vậy mới đầu, ta hãy cần ba người, đến khi báo chạy, ta sẽ lấy thêm. Nhưng bác nên nói với ông Lăng là tòa soạn phải mười người, toàn những tay bút cứng. Và nhất định phải bảo mục xã thuyết là mục có ích nhất, vì nó mở mang trí tuệ, nâng cao trình độ quốc dân về mọi mặt, thì bác phải viết, chứ không để cho ai được.
Anh Thừa hỏi:
- Thế ai mang báo đi kiểm duyệt, ai lấy quảng cáo, ai trông nom phát hành?
- Đây là phần trị sự. Tôi chỉ mới nói tòa soạn thôi. Kể ra làm báo còn lắm việc nữa, một lúc chưa thể nói hết được. Rồi đến đâu hay đấy.
Anh Thừa tươi tỉnh, tủm tỉm cười:
- Tôi xin nhận là học trò bác.
- Chúng ta là học trò lẫn nhau. Bây giờ bác sắp gặp ông Lăng, tôi muốn khuyên bác vài câu nữa. Ông Lăng tuy khôn ngoan, lắm mánh khóe, nhưng chỉ khôn ngoan, lắm mánh khóe ở nghề ông ấy thôi. Việc báo chí, ông ta không biết gì đâu. Nhưng nghề thế, ở đời, ai cũng muốn giấu cái đuôi dốt của mình, ai cũng làm ra mình thạo tất cả. Vậy trong khi trò chuyện, nếu ông ấy có nói gì về báo, thì bác chớ sợ là ông ấy hơn bác. Bởi vì tuy bác với ông ấy không biết tí gì về báo thật, nhưng bác hơn ông ấy ở chỗ ông ấy sẵn sàng sợ bóng sợ gió bác là người viết báo Nam Phong. Vả lại, bác phải yên trí rằng ông ấy thấy bác không mở báo riêng, bớt cho ông ấy một người cạnh tranh đáng sợ, lại về cộng tác với ông ấy, thì hẳn ông ấy cảm lắm. Và cố nhiên, đối với tôi, ông ấy phải biết công tôi đã mời nổi bác cho ông ấy. Ta có lợi thế ở những chỗ đó. Bác đã nghe ra chưa?
Anh Thừa gật đầu:
- Rồi.
- Vậy thì bây giờ bác sửa soạn để đi thôi. Vì tôi biết bác không có quần áo, sợ cứ ăn mặc thế mà đến với tay nhà giàu, thì nó khinh, cho nên tôi đã mượn hộ bác bộ cánh. Chắc là bác mặc vừa.
Ông Hoài Tân Tử mở cái bọc, lấy ra một khăn lượt xếp, một áo đoạn, một quần chúc bâu là, một đôi bít tất trắng và một đôi giày Gia Định.
Anh Thừa mặc vào, trông nho nhã như một văn nhân. Anh soi vào gương, mỉm cười, sực nghĩ đến vai cụ Điều Hai trong Phòng thuốc nhà giàu.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 22:41:34 bởi Thanh Vân>
VI
LẠI MỘT BẬC THẦY  
 
Anh Thừa và ông Hoài Tân Tử đến nhà ông Lăng thì ông này đi vắng, chưa về.
Hai người ngồi chờ ở buồng khách.
Nhà văn sĩ rung đùi một lúc, rồi mở cái cặp vải đen, lấy tập bản thảo, ti tỉ ngâm một mình. Trong khi ấy, để tiêu thì giờ, anh Thừa ngắm nghía xung quanh.
Cái nó đập vào mắt anh, là những cửa ở trong buồng này. Có hai cửa sổ, thì không đều nhau, chiếc to, chiếc nhỏ. Chiếc to có chấn song hoa, thì chiếc nhỏ lại chấn song thẳng. Và chiếc nhỏ có đủ cả kính lẫn chớp, nhưng chiếc to chỉ có hai cánh chớp. Để ra vào thông với lớp trong, đáng lẽ không cần có cánh cửa, vả nếu có, thì hoặc là cửa kính, hoặc là cửa ván đặc, thì ở đây không có nắng, nhưng lại lắp cánh của chớp chắn nắng.
Thấy những cửa lạ kiểu như vậy, anh Thừa nghĩ mà không thể tự cắt nghĩa là tại làm sao.
Bỗng có tiếng nói to ở ngoài hè phố. Ông Hoài Tân Tử vội vàng xếp bản thảo vào cặp, rồi hất hàm, tủm tỉm, bảo anh Thừa:
- Đã về đấy. Đương cãi nhau với cu-li xe.
Anh Thừa nắn lại khăn, sờ lại khuy áo cổ, để giữ tư thế một người viết báo Nam Phong trước mặt người mà anh gặp để điều đình một việc hệ trọng.
Hai cánh cửa mở rộng. Hai người đi vào. Anh Thừa cùng ông Hoài Tân Tử đứng dậy. Anh Thừa cúi đầu chào. Anh chưa biết hai người này, ai là người sáng lập báo Chấn Hưng.
Một người béo tốt, mặc quần áo ma-ga thâm, tóc chải lật, cổ bẻ, cà-vạt đỏ, trên ngực đeo hai chiếc cuống mề-đay. Một người trán giồ, mắt ti hí, mồm hơi méo, răng đen, mặc áo dạ tím cổ đứng, quần ka-ki vàng, ống hẹp và ngắn trên đôi giày đen có cổ cao. Anh đoán ngay người có dáng bệ vệ phải là ông thầu khoán giàu.
Nhưng không phải. Khi ông nhà văn giới thiệu, thì chính cái ông ăn mặc như cai thầu lại là chủ thầu.
Ông Lăng giới thiệu người béo tốt:
- Xừ Tuynh.
Bốn người bắt tay nhau. Riêng ông Lăng bắt tay anh Thừa thật chặt và thật lâu:
- Xin lỗi các ngài nhé. Tôi sai hẹn, làm các ngài phải đợi.
Anh Thừa đáp:
- Chúng tôi cũng mới đến được vài phút thôi.
Ông Lăng mời ba người ngồi, rồi trỏ anh Thừa, nói với xừ Tuynh:
- Ông Thừa đây.
Xừ Tuynh sáng ngời đôi mắt, toét miệng cười:
- Vẫn được nghe đại danh. Nay mới diện kiến. Rất hân hạnh quen ngài.
Rồi xừ tặc lưỡi, lắc đầu để tỏ ý thán phục:
- Văn thơ ngài, tôi mê lắm.
Ông Lăng hỏi:
- Xừ đã đọc nhiều của ngài đây?
Xừ Tuynh gật đầu, cười thật to:
- Chả bỏ được bài nào cả.
Ông Lăng hân hoan, hỏi anh Thừa:
- Ngài ký biệt hiệu hay tên thật ạ?
Anh Thừa đương thú về cái anh vu vơ nhận là độc giả, lại khen trước mặt chủ, thì tiền đầu thế là lợi lắm. Bây giờ bỗng nghe ông Lăng hỏi câu ấy, anh giật nảy mình, như thấy tiếng sét đánh ngang tai. Anh ngượng với ông tri kỷ Hoài Tân Tử, đương chưa biết trả lời thế nào, thì ông văn sĩ đã đáp hộ:
- Ông bạn tôi thì lắm biệt hiệu lắm.
Xừ Tuynh lại lắc đầu và lắc thêm cả ngón tay trỏ:
- Nhưng đọc bài của ngài, dù ký tên gì, tôi cũng nhận ra ngay. Văn của ngài trộn đâu cũng không lẫn. Thật là hay. Nếu Đông Dương tạp chí mà không có ngài viết giúp, có lẽ không ai buồn đọc nữa.
Ông Lăng ngớ mặt:
- Sao bảo ngài viết Nam Phong?
Ông Hoài Tân Tử được dịp để lột mặt nạ thằng cha nịnh hót láo:
- Vâng, ông Thừa viết Nam Phong. Chắc xừ Tuynh lầm ông Thừa với ai đấy ạ.
Xừ Tuynh bẽ, cười lạt, rồi đứng dậy, nói với ông Lăng:
- Xin phép cụ. Để cụ còn tiếp chuyện hai ngài. Xin cụ lưu ý cho.
Xừ bắt tay ba người rồi ra cửa.
Ông Lăng mời hai vị khách quý ngồi. Nhưng bỗng ông đứng phắt dậy:
- Không. Ta lên gác thì hơn. Ngồi đây, lỡ có ai vào, ta không nói được chuyện.
Sợ anh Thừa không hiểu, ông nhìn anh, híp mắt cười cho ra dáng thân mật:
- Khách quý, bao giờ tôi cũng tiếp ở buồng riêng.
Ông giơ tay mời ông Thừa và ông Hoài Tân Tử đi trước:
- Tiền khách hậu chủ, rước hai ngài.
Anh Thừa nhã nhặn mời lại:
- Xin cứ theo tục Đông phương, tiền chủ hậu khách.
Ông Hoài Tân Tử sốt ruột:
- Phải, mời cụ đi trước, kẻo chúng tôi không biết đường.
Ông Lăng nghẹo cổ:
- Xin lĩnh tôn ý.
Ông nhanh nhẹn bước lên. Ra đến sân, ông đứng lại, gọi anh người nhà, nói nhỏ để dặn dò, rồi nhìn khách, cười xòa. Đoạn ông trỏ hai lớp trong và lớp ngoài của căn nhà, và nói một cách hãnh diện:
- Nhà này làm trong la-ghe[21], ma-tê-ri-ô [22] đương khan hiếm, năm ấy tôi lại làm ăn chưa được như bây giờ, thế mà tôi kiếm được cả xi-măng lẫn phe [23]. Không phải tay ăng-trơ-prơ-nơ[24], đố ai xoay nổi.
Anh Thừa sực nghĩ đến cái nợ của anh ở trước cửa trường Cửa Đông. Anh so sánh với cái nhà gia dụng này.
Anh lấy tay gõ vào những cánh cửa bằng lim dày, gật gật, nói nhỏ với ông Hoài Tân Tử để khen. Nhưng có lẽ ông Lăng không nghe rõ là ông được nịnh hót, nên ngượng, vội vàng cười lạt:
- Nhà không đẹp, nhưng sô-lít[25] lắm, ông ạ. Những khuôn cửa này là tôi mua lại của các nhà tây, góp nhặt dần từng cái trong hơn hai năm. Gặp món gỗ tốt và rẻ, tôi trữ mỗi bận một tí. Rồi năm thì tôi vôi, năm thì mua gạch ngói, cuối cùng tôi mới xây hẳn thành nhà.
Anh Thừa tặc tặc lưỡi để tỏ ra là kính phục ông chủ căn cơ. Nhưng trong bụng, anh cười thầm cái thằng tính toán chi li quá mức.
Lên đến gác, tự nhiên ông Lăng đứng dừng lại, đập tay vào hai túi quần kêu loảng xoảng, ông lấy tất cả hào và xu ra, cúi xuống, nhét vào các kẽ nhỏ rải rác trên mặt sàn. Thấy hai vị khách trố mắt nhìn, ông nói:
- Đây là chỗ để ê-cô-nô-mi-dê[26] tiền của gia đình. Tôi, ma-phăm [27], mê-dăng-phăng[28], thỉnh thoảng ai có tiền lẻ, thì cất vào trong trần này. Ê-cô-nô-mi-dê mà bỏ ống, thì lúc túng tất bổ ống ra. Nhưng cho vào đây thì chịu phép, vả lại, trên sàn có nhiều kẽ, ai muốn bỏ vào kẽ nào thì bỏ, tức là chả ai biết chỗ nào có bao nhiêu tiền. Không có lẽ bổ cả sàn gác ra mà lấy tiền, sở dĩ tôi làm như vậy, là vì tôi trông xa. Sau này, nói đổ xuống sông xuống biển, ngộ chúng tôi sa sút, hoặc mê-dăng-phăng nghèo túng, thì cũng cứ phải giữ cái nhà này để ở. Bán đi thì mất món tiền trong trần, có thể là to rồi. Đến khi cái nhà mình hỏng, muốn rê-pa-rê[29], anh em chúng nó khỏi phải đùn nhau bỏ tiền, cứ việc phá cái trần nát mà lấy món để dành ra thôi.
Anh Thừa lắc đầu lè lưỡi, nhìn ông Hoài Tân Tử.
Ông Lăng mời hai người ngồi quanh cái bàn bằng gỗ tạp. Anh người nhà bưng cái khay bày ba chiếc cốc với một chai rượu bia. Ông Lăng khoe:
- Quý vật đãi quý nhân! Bia này là hạng ăng-xi-ăng [30], bây giờ làm gì có! Tôi bỏ quên trong gậm sập mười một chai từ mấy năm nay, hôm qua dọn dẹp mới lại thấy. Thật là buồn cười.
Cả ba cùng cười cái việc không buồn cười.
Khi ông Lăng cho là chuyện vui đã nói đủ, ông mới bắt đầu vào công việc. Ông ngồi nghiêm trang lại, xoa hai bàn tay vào nhau:
- Thưa hai ngài, hôm nay chúng tôi mời hai ngài đến để bàn bạc việc mở báo, được hai ngài không quản bận bịu, hạ cố đến tệ xá, chúng tôi cảm động lắm. Chúng tôi cảm ơn ngài (ông nhìn ông Hoài Tân Tử) đã điều đình với ngài đây (ông trỏ vào anh Thừa) thôi việc mở báo của ngài để cộng tác với tôi. Hôm nay được tiếp hai ngài, tôi lấy làm hân hạnh lắm.
Cả hai vị đều lễ phép trả lời:
- Không dám.
- Chúng tôi là người biết retx-pếc-tê [31] nhà văn tự, các bậc đã lao tâm khổ tứ đem ngòi bút dìu dắt những người lao động như chúng tôi…
Ông Hoài Tân Tử ngắt lời:
- Xin giao hẹn thế này. Chúng ta nhất kiến vi cựu, thì nên xưng hô thế nào cho thân. Xin rằng cụ nhiều tuổi, chúng tôi coi như đàn anh, thì cụ cho phép chúng tôi gọi cụ bằng cụ. Còn cụ gọi chúng tôi bằng ông.
Anh Thừa gật:
- Đúng. Xin cụ cứ gọi thế để dễ nói chuyện. Vả chúng ta là những người chuộng thực tế, thì xin bớt những xã giao, khách sáo thì hơn.
Ông Lăng đáp:
- Vâng, hay lắm.
Ông Tình muôn thuở cười:
- Thế thì tôi xin nói trước, cụ chủ đây muốn mở tờ báo hàng ngày, lấy tên là Chấn Hưng. Cụ nhờ tôi đi mời người đứng chủ bút để thành lập tòa soạn. Thì bây giờ, vị sáng lập đây, vị chủ bút đây, mời hai vị thương lượng với nhau.
Ông Lăng nói với anh Thừa:
- Vâng. Chắc ông Hoài đã nói rõ với ông về mục đích của tờ báo.
- Đã ạ. Mục đích là chấn hưng tất cả các mặt trong xã hội ta. Rất hay!
Ông Lăng ngớ mặt:
- Còn cái mục đích chính, là tờ báo mở ra, tôi đứng tên sáng lập, để sang năm ứng cử nghị viên tư vấn Bắc kỳ. Xin ông nhớ kỹ cho.
Anh Thừa đáp:
- À vâng, tôi quên, không nói mục đích chính trước.
Ông Lăng hể hả:
- Tôi xin bỏ tất cả tiền ra, chỉ nhờ ông làm thế nào cho báo xuất bản sớm ngày nào hay ngày ấy, và làm sao lấy được nhiều ê-lếc-tơ [32], cho đến ngày bầu cử. Hai ông là những tay làm báo kỳ cựu, chắc là rất thạo nghề. Vậy tôi xin hai ông bàn cho kỹ, xem báo có những mục gì, cần mấy người trong tòa soạn, dự tính mỗi tháng phí tổn bao nhiêu, đến tháng thứ mấy thì tôi không phải bỏ vốn ra, tháng thứ mấy thì thu được lãi. Rồi hai ông cho tôi biết, để tôi trù tiền. Xin nói trước rằng tôi không là người chắt bóp. Khi phải cần tiền, tôi không dám tiếc. Tôi khoán tất cả các việc cho ông chủ bút.
Anh Thừa nhắc lại cho ông Lăng nghe những điều mà ông Tình muôn thuở đã dạy anh. Anh nói rành rọt, biết nhấn mạnh vào những mục quan trọng, y như một tay báo lõi đời, đến nỗi ông văn sĩ vừa nghe, vừa gật gù, khen là đúng. Nhưng ông thầu khoán mỉm cười:
- Tôi thì cứ như vịt nghe sấm. Thôi, việc tòa soạn tôi cứ phó mặc ông. Chỉ mong sao báo ta có được nhiêu ê-lếc-tơ, ta có nên lấy ông Quỳnh, ông Vĩnh về báo ta không nhỉ?
Ông Hoài Tân Tử bật cười:
- Các ông ấy là chủ báo, lấy thế nào được?
- Ồ, thế sao bảo các ông ấy làm thuê cho chính phủ. Nếu không, thì có thể lấy những người viết báo Nam Phong về được không?
- Cũng không được. Sở dĩ tôi mời được ông Trần cộng tác với cụ, một là vì ông là bạn thân của tôi, hai là vì ông muốn mở báo riêng, chứ không định giúp báo Nam Phong lâu.
Anh Thừa đỡ lời:
- Đúng thế đấy ạ.
Ông Lăng nói:
- Tôi biết rồi. Nhưng tôi nghĩ thế này. Dù là viết báo Nam Phong, thì các ông ấy cũng phải ăn lương. Vậy ông Trần có thể lấy tình ca-ma-rát [33] mà lôi kéo các ông ấy về làm báo của ta không? Tôi tưởng việc này không khó, vì đáng các ông ấy ở báo Nam Phong ăn ca-răng[34], thì ta tăng lên xanh căng [35], ai lại chê đồng tiền bao giờ.
Anh Thừa lắc đầu:
- Các ông ấy không đi đâu.
Ông Hoài Tân Tử đỡ lời:
- Ông Trần nói đúng, bởi vì các ông ấy không quen làm báo hàng ngày, các ông ấy chỉ quen viết bài khảo cứu, nghị luận ở tạp chí. Tạp chí với báo hàng ngày khác nhau.
Ông Lăng hỏi:
- Thế ví dụ như trong nghề thầu khoán của tôi, thì cái gì là tạp chí, cái gì là báo hàng ngày?
Ông văn sĩ lắc đầu:
- Câu hỏi này khó đấy. Giá mà nằm quanh bàn đèn, tán róc với nhau một lúc, thì ra câu trả lời ngay. Bây giờ tôi chỉ có một mình, lại không ở trong nghề thầu khoán, nên không biết thế nào để ví dụ được.
- Thế thì khó hiểu lắm nhỉ. Này nhé, nhà nước muốn đắp một con đường, gọi chúng tôi đến bỏ thầu. Thì trước hết chúng tôi phải biết con đường ấy ở đâu, dài ngắn bao nhiêu, quanh đấy, đất cát hợp lệ gần hay xa, có tiếp giáp với hồ ao nhiều không, giá cả cu-li [36], tre pheo, thế nào, nhà nước đặt giá bao nhiêu một thước, có thể làm được không, hay bỏ thêm, bớt bao nhiêu, thì tranh được bạn đồng nghiệp. Và khi mình được thầu, phải làm thế nào mới có lãi. Đến lúc nhúng tay vào việc, mình phải mặc cả với ta-sơ-rông[37] thế nào, hàng ngày phải xem xét cu-li và đất cát có đúng như minh định hay không. Rồi lĩnh tiền thế nào, chi tiền thế nào. Ngày mưa, nắng, cho làm thế nào, bớt xén bao nhiêu tiền công. Vân vân. Đấy, như vậy thì thế nào là tạp chí, thế nào là báo hàng ngày, xin ông cho biết?
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Ví dụ làm báo với việc thầu không đúng lắm. Nhưng đại khái như thế này. Bây giờ nhà nước cho mình thầu đường. Thì tất nhiên muốn làm, cụ phải đem sự lịch duyệt trong nghề của cụ và của các ông đồng nghiệp ra để tính toán, xem làm thế nào thì được và có lãi. Tức là cụ đã làm việc khảo cứu, nghị luận của tạp chí đấy. Khi nhúng tay vào thầu, hàng ngày cụ phải đến phần đường để nhìn công việc tận mắt, xem có đúng với ý định hay không. Thế là cụ làm việc của báo hàng ngày đấy.
Ông Lăng ngẩn mặt ra nghĩ, rồi hỏi:
- Ừ, thế sao làm việc nhìn tận mắt lại có nhàn đàm hài đàm, với thơ?
Thấy câu ngớ ngẩn và đột ngột, ông Tình muôn thuở nín cười. Bỗng ông đập vào đùi, nói:
- À, thế này. Viết tạp chí chẳng khác gì làm cô đầu hát, chả già cũng đứng đắn, mà viết báo hàng ngày thì là cô đầu rượu, trẻ và nhí nhảnh.
Ông Lăng cười hà hà:
- Thế thì tôi hiểu rồi. Nhưng tôi tưởng làm tạp chí với làm báo hàng ngày, tuy hai việc, nhưng một người có thể kiêm được cả. Vì như trong nghề ăng-trơ-prơ-nơ, tôi tính toán, rồi chính tôi đi xem xét công việc.
- Nhưng làm báo khác ở chỗ tính toán là một người, còn xem xét công việc là một người khác. Người nào làm chuyên việc của người ấy. Nếu làm việc của người kia thì bỡ ngỡ, vụng về, có khi lại hỏng nữa. Bắt cô đầu hát mời rượu thì khách chán, bắt cô đầu rượu hát, thì như chọc vào lỗ tai quan viên.
Anh Thừa giảng thêm:
- Thế này là khác nhau nhé. Báo Nam Phong là quyển sách, mỗi tháng ra một kỳ, có bài dài ba bốn chục trang. Báo Trung Bắc là hai tờ giấy bốn trang rộng, ngày nào cũng ra một số, có bài chỉ ngắn mươi dòng.
Ông Lăng trố mắt:
- À, phải nhỉ. Tôi cứ tưởng người đã thạo làm báo, thì làm báo nào cũng được.
Anh Thừa thêm:
- Cho nên Nam Phong gọi là tạp chí, Trung Bắc gọi là nhật báo.
Ông Lăng gật gật:
- Vâng, vâng, tôi không lẫn lộn nữa.
Ông Tình muôn thuở nói:
- Ngay như chúng tôi cũng vậy, quốc dân cũng hay lẫn lộn cái tên gọi. Hễ thấy chúng tôi đăng thơ hay tiểu thuyết lên báo, thì người ta gọi ngay chúng tôi là nhà báo. Thế là không đúng. Vì có nhà báo không làm thơ, viết tiểu thuyết được, cũng như có người viết tiểu thuyết và làm thơ, mà chỉ in thành sách, chứ không viết báo bao giờ.
- Vâng, cũng như trong nghề chúng tôi, có ngươi thầu đường sá, có người thầu nhà cửa, có người thầu mua bán cho nhà nước, lại có người làm cai thầu nhận việc với các chủ thầu, nhưng người ta cứ gọi chung một tên là ăng-trơ-prơ-nơ. Tôi xin lỗi các ông, đã trót làm các ông mất nhiều thì giờ để giảng cho tôi nghe, vì tôi tưởng ta có thể lấy những người viết báo Nam Phong về làm với ta. Tôi lầm các ông nhà báo như bọn ta-sơ-rông, chủ nào tốt, rộng rãi, thì làm với chủ ấy.
Ông Hoài Tân Tử lại nín cười, nhưng cố nhã nhặn để nói:
- Thưa cụ, chúng tôi nghèo thực, phải đem bán học thức để kiếm ăn, nhưng trong anh nghèo ấy, có một anh có tiết tháo, biết chỗ nào là xứng đáng mới cộng tác.
Ông Lăng vội vàng nói:
- Xin lỗi hai ông. Bao giờ tôi cũng là người biết retx-pếc-tê những nhà văn tự, những vị làm báo tận tụy với việc mở mang trí tuệ cho quốc dân. Sở dĩ tôi hỏi như vậy, vì tôi nghĩ rằng, dù là nghề cao quý như làm báo, thì cũng phải công-quy-răng[38] mới có nhiều e-lếc-tơ. Nếu ta lấy được người của báo Nam Phong, Trung Bắc, thì các báo ấy không có ai viết, mà báo ta được người tài giỏi. Nghề thầu của chúng tôi cũng phải tranh cai thợ mới vững được.
- Không cần cạnh tranh bất chính. Xin cụ cứ tin cậy ông Trần. Một ông Trần cũng đủ.
Ông Lăng vui sướng, đứng dậy, nói:
- Vâng, ta còn tiếp tục câu chuyện. Bây giờ tối rồi, xin mời hai ông đi xơi cơm với tôi, một bữa cơm rau dưa, nhưng mà thân mật. Tôi định ăn xong, tôi mời hai ông đến phố Hàng Bò, xem cái nhà tôi xếp làm tòa báo. Ở đấy rộng rãi, giá ông chủ bút không khó tính, tôi mời ông đến ở ngay đấy, thì tiện cho công việc lắm.
Anh Thừa như được gãi đúng chỗ ngứa, thì vui sướng lắm. Nhưng ông Hoài Tân Tử thấy thiếu cái mà các tay chơi vẫn gọi là Phần thứ hai của những bữa tiệc, tức là xuống xóm để đập trống và trô, thì ông hơi ngạc nhiên, ông vừa cười vừa hỏi:
- Xem nhà xong thì chúng tôi về chứ?
Ông Lăng lắc đầu:
- Không, chả mấy khi. Các ông bận mấy cũng cho tôi được tiếp đến hai giờ sáng.
Nhà văn sĩ hiểu ý, cười hề hề.
* * *
Ông Lăng sửa soạn đi với khách, ông mở khóa tủ, lấy ra một chai rượu ngâm thuốc, ông híp đôi mắt để cười:
- Cái này tốt hơn mai quế lộ. Mai quế lộ đắt, mà không bổ.
Ông lấy mảnh nhật trình bọc chai rượu, để cầm đi cho kín.
Ra đến hè đường, ông nhìn trước nhìn sau, nói:
- Hai ông chờ tôi một tí nhé.
Rồi hấp tấp đi một mình ra phía đầu phố. Thấy vậy, ông Hoài Tân Tử cười, nói khẽ với anh Thừa:
- Tay này đá lắm. Phải mời mình đi ăn và đi hát là hắn xử đặc biệt quá rồi đấy.
Anh Thừa gật đầu:
- Nhưng lại đem rượu nhà đi! Cỏ rả nhỉ!
Hai người cùng rúc rích, ông nhà văn dặn:
- Tôi biết là hắn còn muốn nói về việc mở báo nhiều nữa. Nếu hắn có điều đình riêng với bác điều gì, bác cứ ừ hữ thôi nhé. Để ta bàn với nhau đã. Tay này gớm lắm đấy. Vỏ quýt dày phải có móng tay nhọn.
Lúc ấy, ông Lăng đã đi trở lại. Theo sau ông, là hai chiếc xe sắt.
Ông Hoài Tân Tử liếc nhìn anh Thừa, tủm tỉm cười. Ông Lăng nói như để phân bua:
- Không có xe cao su! Nào, mời hai ông.
Anh Thừa toan lên ngồi với ông nhà văn một xe, thì ông thầu khoán mời:
- Ông lại đây với tôi. Để ta nói chuyện.
Ông nhường anh Thừa lên xe trước, rồi ngồi ở cạnh. Xe đi được vài bước, ông vuốt vai anh Thừa, hí hí cười. Anh Thừa cũng cười trả lại. Anh chờ. Tất nhiên, ông này sắp điều đình với anh một việc gì mà ông cho là khó khăn, nên đương ngập ngừng đây.
Ông Lăng lại hi hí cười bằng cái cười không đúng lúc rồi hỏi:
- Nghe nói ông mua phải cái nhà sắp đổ phải không?
- Vâng, sao cụ biết?
- Ông Hoài nói cho tôi nghe, ông đã bán cho ai chưa?
- Chưa. Ai dại như tôi mà rước cái của nợ về làm gì?
Anh Thừa vẫn chưa hiểu ông Lăng định nói gì mà phải loanh quanh mào đầu bằng cái việc vô tình đã khêu gợi lại trong lòng anh nỗi bực mình và lo lắng.
- Ông để lại cái nhà cho tôi nhé.
Anh Thừa ngạc nhiên nhìn ông Lăng. Rõ ràng mặt ông thầu khoán không có vẻ nói đùa. Vậy ông muốn gì mà phải loanh quanh dai để lấy lòng anh thế? Anh tránh những lời khách sáo, hỏi:
- Cụ mua làm gì?
- Mặc tôi. Ông định bán giá bao nhiêu?
Anh Thừa càng ngạc nhiên. Anh cũng bật cười nữa. Hẳn là lộc ông nhà thầu sắp đến ngày hết, nên đã dại dột mà nghe mồm mép ông nhà văn rước một thằng đặc cán táu về làm chủ bút báo. Nay ông ta lại điên rồ, mua một cái nhà mà để chóng tuyệt nghiệp hay sao! Anh đáp:
- Tôi tậu một nghìn năm chục. Có văn tự hẳn hoi đấy. Ấy là chưa kể món tiền duyệt tòa. Mai rỗi, mời cụ đến nhà mà xem.
Ông Lăng lại vuốt vai anh:
- Tôi biết rồi. Tôi không cần đến xem, lỡ nó đổ thì toi mạng. Đành rằng ông mua một nghìn năm chục, nhưng bây giờ ông định giá bao nhiêu?
- Tôi tậu thế đấy. Còn thì tùy cụ.
- Nhà rộng bao nhiêu thước nhỉ?
- Hai trăm ba mươi hai thước
- Đơ xăng trăng đơ mét[39].
Ông Lăng lẩm nhẩm tính trong miệng.
Trong khi ấy, anh Thừa hết sức lạ lùng về cái ông thầu khoán quái gở này. Ông muốn lấy lại cái nhà của anh thật chứ không phải bỡn. Thì ra ông cần ngồi cùng xe với anh để thực hiện ý định của ông. Và ông đã đi thẳng vào vấn đề, chứ không phải loanh quanh. Phải. Anh đã lầm. Một người cỏ rả, chỉ biết có đồng tiền, thì không màu mè. Song, dù sao thì bây giờ, cái nhân phẩm kém cỏi của ông cũng cất giúp cho anh một gánh nặng. Anh liếc nhìn, thấy ông vẫn đương lẩm nhẩm tính.
Một lát, ông Lăng nói:
- Ở phố ấy, đất giá ba hào một thước, vị chi là chưa đến bảy mươi đồng. Gạch bây giờ cũng có mười lăm đồng một nghìn. Dỡ nhà ra, gạch nguyên chả còn mấy. Nhiều lắm, bán được đơ xăng biết [40] thôi. Còn những gỗ nát thì làm củi cũng không đáng. Vậy chỗ anh em nể nang, tôi cứ xin đưa ông đơ-xăng-xanh-căng[41].
Anh Thừa lạnh toát người, ông Lăng nói:
- Ông để lại cho tôi, thì được hai trăm rưỡi. Nếu không, ông mất thêm hai trăm rưỡi nữa. Vì đến lúc nhà đổ, ông phải thuê dọn dẹp. Còn bị nhà nước phạt cho là khác. Lỡ mà lại rơi gạch ngói vào đầu lính Tây đi đường, thì còn mất khối tiền đền, chứ hai trăm rưỡi mà đủ à?
Anh Thừa thở dài:
- Đời thuở nào một cái nhà gạch ở Hà Nội, mà lại có hai trăm rưỡi bạc, hở cụ?
Ông Lăng cười:
- Được đồng nào hay đồng ấy, ông ạ.
Yên lặng một lát, ông tiếp:
- Thôi này, chẳng lẽ ông là chủ bút, tôi là sáng lập mà chúng mình cò kè với nhau, thì mất cả cao thượng đi. Vả lại chúng mình là đàn ông, ông không quen nói thách, mà tôi cũng không quen mặc cả nhiều. Thôi thì tôi cứ đưa ông đơ-xăng-xoa-xăng [42] để xin ông một điều, là ông viết trong văn tự là đơ min [43]. Thế thôi.
Anh Thừa ngớ mặt hỏi:
- Để làm gì?
- Làm gì mặc tôi.
Anh Thừa e ngại. Không rõ ông thầu khoán có âm mưu gì hại anh không. Anh hỏi:
- Bán hai trăm sáu, mà viết văn tự hai nghìn, có sợ nhà nước lôi thôi không nhỉ?
- Nếu ông bán cho tôi đơ min, mà chỉ viết vào văn tự có đơ-xăng-xoa-xăng, thì nhà nước bảo là mình lậu tiền duyệt. Còn như thế này, thì nhà nước bẻ mình vào đâu? Cũng như ông đã mua cái nhà ấy với giá một nghìn năm chục, là thuận mua vừa bán, nhà nước nào can thiệp vào được. Và cái nhà ấy, nếu tốt, thì mới đáng đơ min chứ?
Anh Thừa nghe rất có lý. Tòa án đã không xử anh được vụ kiện bị lừa đảo, là cũng vịn vào cớ thuận mua vừa bán. Ông Lăng lại tiếp:
- Vả lại văn tự viết đơ min, mà tôi pay-dê [44] ông có đơ-xăng-xoa-xăng, thì nếu ông là người lật mặt, ông có thể kiện tôi, chứ tôi kiện ông vào ngõ nào?
Anh Thừa cười, im lặng để nghĩ. Thế thì cố nhiên ông Lăng không dại như anh. Vậy ông ta khôn ở chỗ nào. Ông Lăng thấy anh chưa trả lời, thì hỏi:
- Thế nào? Ông có bằng lòng không? Nếu được, mai ta làm giấy má ngay.
Thấy ông Lăng có vẻ mặn, anh Thừa nói:
- Cụ có thể nâng giá lên tí nữa được không?
Ông Lăng cười:
- Thế là sát lắm rồi. Chỗ người lớn với nhau, ai lại để cho nhau phải mặc cả lâu. Xin nói thực với ông điều này. Tôi thì dốt nát, chả bao giờ cầm đến tờ báo, cả Nam Phong, Trung Bắc, lẫn Thực Nghiệp, mà cũng chả bao giờ dám có ý định mở báo để lấy cái danh là sáng lập, như ông Bùi Huy Tín đâu. Khi thấy ông Hoài bảo nên mở báo, lại giới thiệu ông, và nói chuyện ông có cái nhà như vậy, thì tôi quyết định ngay là mời ông về làm chủ bút. Tôi nhờ ông Hoài mời ngay ông hôm nay đến xơi cơm với tôi, để tôi nhân dịp hỏi ông về cái nhà. Ông có bán cho tôi thì việc ra báo mới nhanh được. Tôi tưởng một của vứt đi, một của nó gây tai nạn về sau này, mà còn bán nổi đơ-xăng-xoa-xăng, thì ở đời không ai may mắn như ông, và cũng không ai dại dột như tôi. Song, xin ông hiểu cho rằng tôi không dại dột. Chỉ là tôi tử tế với ông mà giúp ông thôi.
Anh Thừa không hiểu tại sao việc ông Lăng mua nhà với việc ông ta mở báo lại dính dáng với nhau. Nhưng anh không còn lý do gì mà không đẩy cái nợ cho ông thầu khoán hết lộc này:
- Vâng, tôi nể cụ như nể anh tôi. Cụ cho thế, tôi xin bằng lòng.
Rồi vẫn tiếc rẻ là bán rẻ, anh nói một câu cho đỡ bực mình, khỏi bị người mua chê là dại:
- Tôi muốn trang trải ít công nợ, nên để rẻ cho cụ hai trăm sáu. Nếu tôi cầm ở Địa ốc ngân hàng, cũng được nổi ba trăm.
Ông Lăng đáp:
- Có thể được hơn nữa kia, ông ạ. Song, nó không hơn ở cái chỗ nhà ấy vẫn là của ông, thì ông vẫn phải chịu đóng thuế, và chịu trách nhiệm khi nó đổ. Đằng này, ông dứt khoát hẳn, không phải lo lắng nữa. Mua cái nhẹ nhõm bằng mấy chục bạc, không rẻ à?
Anh Thừa thở dài. Ông Lăng cười:
- Ừ, thế là hai chúng ta, ai cũng đã suy tính kỹ cả.
Rồi ông nhắc lại:
- Dứt khoát là đơ-xăng-xoa-xăng viết lên đơ min nhé. Sáng sớm mai làm giấy má nhé.
- Vâng.
Anh Thừa thử lại ý ông thầu khoán một lần cuối cùng. Anh dọa:
- Tôi tin rằng viết như vậy không lôi thôi gì. Vì nếu cụ để khó khăn cho tôi, tức là cụ làm khó khăn cho cụ. Bây giờ tìm được một người đứng đầu tòa soạn, không phải là dễ. Mà nếu báo Chấn Hưng ra chậm, thì ngày bầu cử nó cũng cứ sồng sộc đến, chứ nó có chờ ta đâu?
Ông Lăng lắc đầu:
- Ông đừng băn khoăn, Tôi làm ăng-trơ-prơ-nơ, có không tốt, là với cai, với thợ, với phu, chứ đâu dám với các nhà văn tự. Thôi, cứ dứt khoát thế nhé.
- Vâng.
Làm xong được việc lớn trong chốc lát, ông Lăng phởn phơ lắm. Ông rút trong túi, lấy gói thuốc lá rời, bóc một tờ giấy, mời anh Thừa cuộn một điếu. Rồi xe đến đầu Hàng Đào, ông bảo đỗ lại để mua ba xu hạt dưa, chia cho mỗi người một gói.
Ông vừa cắn lách cách, vừa nói:
- Tôi còn việc nữa, muốn đề-mác[45] riêng với ông. Ông Hoài khó tính lắm. Tôi ngại nói với ông ấy.
- Vâng, xin cụ cứ cho biết.
- Ông ạ, từ ngày nghe tin tôi định mở báo, có rất nhiều người nộp đờ-măng[46] đến tôi để xin việc. Nhưng tôi chưa nhận lời ai. Bởi vì lập tòa soạn là quyền ông. Tùy ông tìm cách lựa chọn nhân tài. Nếu đông người xin việc, có lẽ ta nên sát hạch.
Anh Thừa bật cười, toan đáp, bỗng ông Lăng trỏ tay và nói to:
- Thôi, thôi. Đến nơi rồi.
Người phu xe dừng lại. Đó là nhà số 59, hiệu cao lâu Đào Thành. Biển còn trên mái hiên, nhưng cửa lại đóng. Ông Lăng hỏi:
- Quái, chưa mở à?
Ông xuống xe, đến gõ mạnh vào của. Ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Cụ vào làm gì?
- Ta ăn ở đây chứ?
- Nhà này đóng cửa đến mươi hôm nay rồi, cụ không biết à?
- Thế à?
- Phải, vì ế khách!
Ông Lăng tẽn, lại lên xe:
- Kéo đến Hàng Gai nhé.
Ông định ăn ở hiệu cao lâu phía trước cây bàng cổ thụ mọc cạnh ngõ hẻm Tô Tịch. Nhưng đến nơi, ông chỉ thấy thằng Bắt Đái mắt lồi, mặt to bằng cái tráp tròn, đứng đấy để dọa trẻ con và bắt người lớn đái bậy. Còn hiệu cao lâu thì nay là một hàng đóng giày, ông bảo xe đi thẳng Hàng Bông. Ở phố này có hai hiệu ăn ta.
Nhưng nay hai nhà cũng đã đâu mất rồi. Ông Lăng bực mình:
- Dạo tẩy chay, cao lâu mọc lên như nấm, được vài tháng, bây giờ biến hết! Không biết những hiệu ở ngõ Trạm với ở Cửa Nam còn, hay cũng ra ma rồi nhỉ?
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Đóng cửa đã lâu. Ngay ngày tẩy chay, tôi đã biết là phong trào chỉ bồng bột lúc đầu mà thôi. Lòng nhiệt thành của người mình với nội hóa thế đấy!
Ông Lăng hỏi:
- Bây giờ đã được phép ăn ở cao lâu Tàu chưa? Ta vào đấy có sợ mang tiếng không nhỉ?
Rồi ông sực nghĩ ra:
- À, ở ngõ Hàng Mã Mây, có nhà Nội quốc thực phẩm, bán món sư tử đất, nghe đồn ngon lắm.
Anh Thừa hỏi:
- Sư tử đất à?
- Phải, là thịt chó. Ta kéo nhau đến đấy đi…
Ông Hoài Tân Tử quen ăn tiêu rộng, nên có ý không bằng lòng. Ông đánh vào chỗ yếu của ông Lăng là lòng mê tín, để lòe:
- Vâng. Nếu cụ không sợ hãm tài.
Rồi ông hỏi:
- Thế ngộ Nội quốc thực phẩm cũng đóng cửa nốt thì ta lên Tràng Tiền, vào ô-ten Cốc đo [47], cụ ạ.
- Vâng.
Đáp xong, ông Lăng phàn nàn:
- Tưởng gần, mất ba xu xe thôi, ai ngờ đi vẩn vơ mãi, không khéo mất đến bảy tám xu!
Rồi ông vuốt vai anh Thừa, nhếch mép cười:
- Tôi nói nốt câu chuyện ban nãy bỏ dở nhé. Thế là báo ta không thiếu người viết đâu. Nhưng muốn tuyển được người giỏi, thì ta nên mở kỳ thi sát hạch.
Anh Thừa cười:
- Làm ăn vào thời buổi ta bây giờ, ai lại nỡ khảo nhau về chuyên môn, hả cụ? Bởi vì có ai làm nghề gì mà cần biết chuyên môn đâu! Mánh khóe làm ăn tức là chuyên môn về nghề.
Ông Lăng im. Anh Thừa tiếp:
- Tôi đã dự định đủ người rồi, cụ ạ. Toàn là những cây bút xuất sắc trong làng báo. Vả trong tòa soạn, anh em có cùng quen biết nhau, chí hướng giống nhau, thì làm việc mới chạy. Dùng người lạ, tôi e trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, không lợi.
- Tôi tưởng cũng có cái lợi khác chứ? Vì dùng áp-prăng-ti[48], thì lương không cần cao.
- Thế thì báo mình yếu.
- Ừ nhỉ. Thôi được, tùy ông. Nhưng tôi có một người này, nhờ ông để tâm cho. Tức là cái anh Tuynh ban nãy đến, trước kia làm ta-sơ-rông cho tôi. Đến ghe[49], cai Tuynh đăng lính mộ, đóng ca-pô-ran[50] sang Tây. Bây giờ nó mới về nước, không có việc, nên đến xin tôi cho làm cai thầu như trước. Nó mới ở Tây về. Bên Tây thì bình đẳng, tự do. Nó cũng nhiễm cái bình đẳng, tự do, làm báo thì hợp lắm. Nó là người rất cẩn thận, thật thà, biết ăn cây nào rào cây ấy. Cho nên tôi giới thiệu nó với ông cho nó chân giữ két tòa báo, thì chắc một xu cũng không suy chuyển.
Anh Thừa hiểu ngay ý ông thầu khoán muốn cho tay chân vào tòa báo để kiểm soát tài chính mà ông làm như dễ dãi, giao cho anh toàn quyền tiêu dùng. Anh nói:
- Làm việc này, phải tay kế toán giỏi, chứ non thì dễ nhầm lẫn lắm.
- Ồ, cai Tuynh bây giờ nói tiếng Tây thoáng lắm. Tôi chắc hắn học được lối công-táp [51] tây.
- Làm báo thì bỏ ra hàng chục, hàng trăm, nhưng thu vào dần từng đồng, từng hào, từng xu. Nó trái ngược với việc thầu, là bỏ ra từng đồng, từng hào, từng xu mà thu thì hàng trăm, hàng chục. Cho nên làm kế toán nhà báo mà bỡ ngỡ, thì lỗ vốn ngay. Lại chết một nỗi là lỗ vốn mà không biết nữa kia!
Ông thầu khoán nghe tiếng lỗ vốn thì giật mình:
- Thế à? Hay là ông xếp cho nó việc đi lấy quảng cáo cho báo vậy.
Thấy ông Lăng tranh chỗ của mình cho đầy tớ, anh Thừa lại trộ:
- Làm việc này, càng phải là người thạo, người quảng giao. Không quen các nhà buôn, thì người ta không nể mà đăng quảng cáo.
- Ừ nhỉ. Hay ông cho làm loong-toong[52] chạy giấy. Nói thật với ông là khi nó nghe tôi định xếp cho nó một chân ở tòa báo làm với ông, thì nó sướng quá. Vì nó hâm mộ tiếng ông lắm. Cho nên nó đòi tôi đưa ngay đến để cho ông biết mặt.
Anh Thừa mỉm cười:
- Hâm mộ tôi thì ai chả hâm mộ. Tôi sợ anh ta không chịu làm loong toong. Vì anh ta là cai lính mộ, có mề-đay. Tôi tưởng anh ta có công lao với nhà nước, rồi thế nào nhà nước chả xếp việc cho.
Thấy đề-mác cho thần giữ cửa không xong, ông Lăng tạm ngừng câu chuyện. Ông cắn nốt nắm hạt dưa.
Một lát, ông hỏi:
- Nghe nói trước kia, ông mở Phòng thuốc nhà giàu phải không?
- Vâng.
- Sao ông chỉ chữa cho nhà giàu? Hèn nào hiệu thuốc của ông không bền.
- Thưa tại sao ạ?
- Nhà giàu phần lớn ở các thị thành. Đã ở thị thành thì là người hiểu biết, khôn ngoan, chứ không phải đần ngốc. Làm ăn gì mà dây với bọn hiểu biết, khôn ngoan là rất khó. Nghề tôi dễ, vì chỉ kiếm ăn trong bọn nhà nghèo, ù lì như cục thịt.
Anh Thừa chợt như tỉnh ngộ. Anh thở dài. Ông Lăng tiếp:
- Kiếm tiền ở bọn nhà giàu thì khó, không những vì họ hiểu biết, họ khôn ngoan, mà còn vì họ chả có mấy người. Loanh quanh, chỉ những người ở các thị thành mới giàu, thì phỏng ở nước ta, ông đếm được bao nhiêu? Nhưng số người nghèo thì hàng chục triệu, ông thử tính mà xem, ở nước An-nam mình, ông cứ lấy của mỗi người giàu một đồng bạc, có bằng tôi bớt của mỗi người nghèo một xu thôi không? Cho nên, kiếm ăn ở bọn khố rách áo ôm, nhiều và đần ngốc, vẫn dễ dàng hơn. Mình muốn làm trời làm đất gì cũng được, chúng nó không biết kêu ca, mà cũng không biết chỗ mà kêu ca.
Anh Thừa như được một bài học hay. Anh gật gù:
- Cụ nói đúng quá. Bây giờ tôi mới nghĩ ra. Cụ thật đáng là bậc thầy. Tôi còn phải học cụ nhiều trong công việc làm ăn.
Ông Lăng tặc lưỡi:
- Công việc làm ăn của nghề ăng-trơ-prơ-nơ chúng tôi có quái gì mà phải học! Có cần chuyên môn như làm thuốc với làm báo đâu? Làm gì thì đã có cai là quân sư. Mà cai cũng không cần biết chuyên môn. Cai đã có phu, cũng chỉ là đồ ăn no vác nặng. Nếu phải dùng thợ, thì thợ mới là người có chuyên môn.
Ông Lăng cười khì khì, rồi tiếp:
- Nhưng nghề chúng tôi có một cái khó, mà ông không làm nổi đâu, tức là tài giao thiệp.
Anh Thừa đáp:
- Cụ tưởng tôi kém giao thiệp à?
Ông Lăng lắc đầu:
- Không phải ông kém, nhưng ông không thể giao thiệp theo lối ăng-trơ-prơ-nơ chúng tôi, vì ông biết chữ, nói thạo tiếng Tây. Chúng tôi giao thiệp thì chỉ bằng hai tiếng Uẩy Me-xừ. Gì cũng Uẩy me-xừ, thế là Tây thích. Còn như lắm tiếng Tây và hay lý sự, thì nó ngại, nó không cho thầu. Chúng tôi cứ nói đùa, nghề chúng tôi chẳng khác gì nghề làm vua ở nước An-nam. Vua không cần biết chuyên môn cai trị, lo cho dân no ấm, dưới đến các quan làm quân sư thì cũng như bọn cai thầu, ù cạc về canh nông, công nghệ. Chính dân mới là người biết cày cấy, làm lụng, tự họ lo cho thân họ ấm no. Và làm vua, làm quan, càng ngu si, càng được nhà nước yêu.
Anh Thừa khen để nịnh:
- Cụ hiểu biết thế, ra nghị viên, chắc là có lợi cho dân lắm.
Ông Lăng cười lạt:
- Chẳng qua cũng là để thầu thôi, thầu cái khác, chứ ông?
Ngừng một lát, ông tiếp:
- Ví dụ như tôi mua cái nhà của ông chẳng hạn.
- Sao hở cụ?
- Để lấy lãi chứ sao?
Anh Thừa ngạc nhiên. Ông Lăng nói:
- Tôi cứ sợ thấy tôi mua cái nhà của ông, thì ông cười là ngốc. Nhưng không phải. Trái lại, ông có vẻ băn khoăn. Thì tức là ông không cho là tôi ngốc, mà tôi xem ý ông, hình như ông lại ngại rằng, hay là ông ngốc, tôi định giở thủ đoạn gì chăng. Không, hai chúng ta không ai ngốc cả. Ông khôn chán, mới bán nhà cho tôi, mà tôi cũng khôn chán, mới mua nhà của ông. Trong lúc chúng mình còn cần đến nhau, thì tôi nào dám thủ đoạn với ông. Mà ông cũng chẳng nỡ lòng thủ đoạn với tôi, có phải không ông? Vậy tôi xin nói thực ngay cho ông yên lòng, là mua nhà của ông, tôi có định thủ đoạn thật, nhưng thủ đoạn với người khác kia.
Anh Thừa càng ngạc nhiên, ông Lăng tiếp:
- Đúng đấy. Bây giờ, tôi không tiện nói ra vội, sợ ông ăn cắp mánh khóe của tôi. Dần dần, ông khắc rõ. Ông ạ, cái khôn ngoan của người ta không biết thế nào là cùng đâu. Ông bảo tôi đáng là bậc thầy, và còn phải học tôi nhiều trong công việc làm ăn. Nhưng chính tôi đã phải học người ta nhiều, nhất là học những người Tây sang An-nam, làm người khôn ngoan sặc gạch ra, ông ạ. Các ông ấy, ông nào cũng giàu ghê lắm. Đấy mới đáng là bậc thầy của chúng ta.
Xe đến ngõ Mã Mây, đỗ trước cửa hàng ở góc đường, đề biển là Nội quốc thực phẩm.
Ông Lăng xuống đất, thong thả móc túi, trả bảy xu cho xe ông ngồi, ông liếc nhìn ông Hoài Tân Tử. Khi thấy ông nhà văn không móc túi, ông mới trả nốt bảy xu cho xe ấy. Rồi tay cầm chai rượu thuốc, tay giơ lên, ông mời hai vị khách quý:
- May quá! Mời hai ông vào. Ta không phải đi xa.
Trong bữa tiệc thịt chó, anh Thừa nghĩ nhiều hơn là ăn và chuyện. Anh nhường cho ông văn sĩ chính hiệu dùng tài thuyết khách mà tâng bốc anh cho ông thầu khoán tin. Anh không biết nghề mà nói về nghề, sự lỡ hở câu nào thì ông Lăng tóm được đuôi, vả anh cũng ngại là nếu ông Lăng ca tụng văn tài của anh, như xừ Tuynh đã nịnh hót anh, trước mặt cái ông bạn tri kỷ Hoài Tân Tử tinh quái, thì anh ngượng chết. Chi bằng anh cứ im lặng để được tưởng là chín chắn.
Những lời của ông Lăng nói về cách làm ăn với anh ở trên xe, như vành to đôi mắt cho anh nhìn anh và nhìn đời. Trước kia làm thuốc và bây giờ sắp làm báo, là anh đã theo sự tình cờ và nghe người khác xúi giục, chứ không phải anh tự động xây dựng cuộc đời theo đúng khả năng của anh. Tình cờ anh nhận được cái bằng làm thuốc của ông sếp Sơ, rồi nghe Ma-ri xui giục, anh mới lại dụng nó để mở Phòng thuốc nhà giàu. Bây giờ, tình cờ anh gặp ông Hoài Tân Tử đưa anh đi làm báo. Toàn là những việc cần chuyên môn mà anh không có. Cả làm thuốc lẫn làm báo, đều là cách kiếm ăn ở nơi những người thị thành hiểu biết và khôn ngoan, ông Lăng đã nói rất đúng. Những người nhà giàu lắm tiền thật, nhưng họ cũng lắm lý sự. Họ lại chỉ gồm có một dúm người. Cho nên, hồi làm thuốc, anh đã nhiều phen phải mệt trí, nghĩ ra mánh khóe lừa lọc để thay cho chuyên môn, nào là quảng cáo mình, nào là dìm dập người. Và bây giờ, nhảy tót ngay lên làm chủ bút, trà trộn vào hàng những người lắm chữ nghĩa và lắm chuyên môn, chắc anh còn phải tốn lắm công phu hơn nữa.
Anh ngầm nghĩ lời ông Lăng nói về nghề thầu khoán. Anh tiếc rằng anh cũng có nhiều bạn là chủ thầu, mà chưa lần nào nói chuyện với họ về nghề để anh sáng mắt ra. Phải, ở nước ta bây giờ, không có chuyên môn thì phải làm ông chủ. Làm ông chủ thì tiền thay cho chuyên môn, dùng tiền thuê cái chuyên môn của người khác. Chủ thầu, chủ báo, chủ nhà in, chủ hiệu may, chủ hiệu cao lâu v.v… đều là những người chỉ có thủ đoạn làm tiền, chứ không phải làm nghề, về mặt này, anh tự xét mình không kém ai. Thì sao từ lâu, anh không làm cái nghề chỉ cần có hai tiếng Uẩy Me-xừ, cái nghề kiếm ăn dễ dàng ở nơi những người nhà quê nghèo, vừa nhiều, vừa dốt?
Anh ngắm ông Lăng. Có phải ông này trán giồ, mồm méo, là có tướng giàu không? Có lẽ trời phú cho ông cái mặt mũi xấu xí thì ông dễ giả ngây giả dại, cho người khác không ngờ là ông khôn ngoan, để làm giàu chăng? Ông Lăng không ngây dại, mà là người láu cá tuyệt trần, ông láu cá, cho nên giả ngây giả dại để ăn người. Anh đã khinh ông ta là ngây dại, mới gặp anh lần đầu, đáng lẽ còn phải xã giao chán để dò tính nết của anh, đến lúc thân nhau, mới nói đến chuyện mua nhà. Nhưng lần này ông Lăng giở ngay cái ngón con buôn ra. Xưa nay, anh chưa từng thấy có ai mới quen nhau, đã để lộ ngay cái nhân cách bần tiện ra như thế. Và anh cũng chưa thấy một việc bán nhà nào mà hai người lại cùng mặc cả với nhau ở trên chiếc xe sắt chạy lạch cạch trên đường phố. Thì ra ông ta giả ngây giả dại, chịu cho anh khinh, nhưng mà trong chốc lát, đã làm được một việc lớn.
Anh so sánh ông thầu khoán với ông văn sĩ ngồi ở trước mặt. Anh đã phục cả hai người như bậc thầy. Nhưng bây giờ, anh thấy rồi cái thầy Hoài Tân Tử không dạy thêm cho anh điều gì nữa, bởi vì văn chương chữ nghĩa không phải là địa hạt của anh. Anh với ông này chẳng qua là lợi dụng lẫn nhau, ông văn sĩ lợi dụng anh để có việc làm. Anh lợi dụng ông văn sĩ để khỏi mang tiếng với cụ tú Phúc Lâm là yếm thế, hòng được lòng cụ, để mưu mô được cô con gái của cụ. Việc này mà thành công, cố nhiên anh không đeo đẳng mãi cái tiếng làm chủ bút mà đi lấy quảng cáo cho báo nữa.
Đến ngày có tiền, nhất định anh phải chủ động làm lại cuộc đời của anh bằng cái nghề không chuyên môn, không chữ nghĩa. Anh nhiều mánh khóe, thủ đoạn, nhất định anh cũng sẽ giàu như ông Lăng, như ông Bùi Huy Tín chủ báo Thực Nghiệp, như ông Nguyễn Hữu Thu, nghị trưởng nghị viên tư vấn Bắc-kỳ.
 
Chú thích:
21)
22)
23)
24)
25)
26)
27)
28)
29)
30)
31)
32)
33)
34)
35)
36)
37)
38)
39)
40)
41)
42)
43)
44)
45)
46)
47)
48)
49)
50)
51)
52)
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VII
ĐỘNG RỪNG  
 
Tòa báo Chấn Hưng là một ổ mâu thuẫn. Trên danh nghĩa, anh Thừa làm chủ bút, nhưng thực tế nắm quyền tòa soạn, thì là ông trợ bút Hoài Tân Tử. Chủ bút chỉ làm mỗi một việc không phải của bộ biên tập, là đi lấy quảng cáo. Trên danh nghĩa, tòa soạn đóng ở phố Hàng Bồ, nhưng thực tế, nó ở quanh bàn đèn nhà anh Sáu, trên Yên Phụ. Cho nên, không có việc nào ông Hoài Tân Tử cần bàn với anh Thừa. Vì chủ bút không có liên quan một tí gì đến tòa soạn.
Không những thế, ngay từ hôm đầu, cả ba người, ông sáng lập, ông chủ bút, và ông trợ bút, đều rình ăn cắp lẫn của nhau. Ông Hoài Tân Tử quen thói mần ăn đàng hoàng, luôn luôn bắt anh Thừa đưa tiền để ông xài, cho báo ít, nhưng cho ông nhiều hơn. Anh Thừa nhân ông nhà văn có tính huênh hoang, đã tiêu không cỏ, đã cỏ không tiêu, cũng xà xẻo để chấm mút lấy đủ số tiền mà làm hai cái răng vàng thay cho hai cái răng gãy. Còn ông Lăng, thấy tiền bay như rác bão, thì kêu như cháy đồi, lúc nào cũng muốn co lại. Thấy bóng anh Thừa đến, là ông trốn như chạch, để khỏi phải xùy thêm tiền. Nhưng một điều đáng ngạc nhiên, và cũng là một sự mâu thuẫn, là nếu ông không trốn nổi, thì ông chủ bút muốn lấy bao nhiêu, ông sáng lập cũng đưa bấy nhiêu, không giở thói cỏ rả.
Báo ra đúng ngày hẹn. Có đủ các mục thông thường như hai bạn đồng nghiệp Trung Bắc Tân Văn và Thực Nghiệp Dân Báo. Bài Phi lộ do ông Hoài Tân Tử vừa vắt tay lên trán để nghĩ, vừa gối lên đùi non chị Sáu để viết, cho nên nó đủ ý và vui. Nó kết luận bằng những câu thật khéo:
Vậy Chấn Hưng là tờ báo của tất cả những ai quan tâm đến các mặt khuyết điểm của xã hội.
Hơn nữa, Chấn Hưng là bạn tận tâm của mọi người Việt Nam về mặt nào cũng phải chấn hưng.
Dưới bóng cờ ba sắc, Chấn Hưng mạnh dạn tiến. Và trước hết, gửi lời chào ra mắt tới hải nội chư quân tử.
Về mục thơ ca, chưa có tác phẩm gọi ái tình, vì là số đầu, cần đúng mực, nên chỉ đăng hai bài thơ mừng báo của hai tác giả quen làm thơ mừng những tờ báo đã xuất bản trước, là ông Trần Nhật Tỉnh, tri phủ Đoan Hùng và ông Đặng Đình Chiển, chánh tổng Ô Mễ ở Thái Bình, ông Tình muôn thuở cũng cao hứng làm một thiên ngũ ngôn, đổi một vài chữ trong bài Mừng sinh nhật Đông Dương tạp chí mấy năm trước. Của Đông Dương tạp chí thì:
Cứ ngày rằm tháng Me [53]
Là ngày sinh nhật báo
Báo ra mới ba năm
Kể đã nhiều công hiệu v.v…
Thì ở Chấn Hưng là:
Đúng mồng 5 Mác-sơ[54]
Là ngày sinh nhật báo.
Chấn Hưng mới ra đời
Nhưng chắc nhiều công hiệu.
Làm bài này, ông nhà thơ không lấy làm thú lắm, vì không quen sáng tác ngoài lĩnh vực của ông là thơ tình, nhưng ông cứ đăng, để có bài thứ ba cho ra dáng báo có nhiều người mừng.
Đến mục Nghe đâu là mục chửi đổng, xuyên tạc, bịa đặt, thì ông Hoài Tân Tử sở trường, cho nên ông viết không tiếc chữ. Ông nhè ngay báo Thực Nghiệp mà ông vừa ra khỏi nửa tháng, để chửi. Những người bị ông bêu là mấy người bạn đồng nghiệp hay chèn, hay chế, hay khinh ông. Nào Mân Châu thì là Sờ bò, nào Hạc Thần thì là Cò thánh. Đến cả ông Bùi Huy Tín, chủ nhiệm vô trách nhiệm, đứng tên để lấy danh như kiểu ông Lăng, cũng bị bêu là Bùi Bất Tín.
Nhưng báo chỉ ra đúng ngày hẹn, mà không được đúng giờ hẹn. Ông Hoài Tân Tử định cho báo Chấn Hưng xuất bản vào buổi sáng, để khỏi trùng với báo Trung Bắc ra buổi chiều, và báo Thực Nghiệp ra buổi trưa. Báo ra sớm thì có tin sớm. Tuy hai đồng nghiệp hơn nó vì đăng được tin trong cả ngày hôm trước, nhưng nó hơn hai đồng nghiệp, là nhặt được những việc sốt dẻo xảy ra trong cả một đêm.
Song, ý định như vậy, mà thực hiện không được như vậy. Bởi vì ông Hoài Tân Tử không tính đến rằng ban đêm, mọi người và mọi vật đều ngủ kỹ. Nếu có hoạt động gì, thì họ làm với nhau ở trong nhà, có cửa gài bằng then, tiếng động không lọt ra ngoài được. Vả lại, trong thời gian trời sinh ra để nghỉ ngơi, thì vị phóng viên của Chấn Hưng cũng không ra ngoài đường làm gì. Thế mà, nếu ở đâu có việc quan trọng xảy ra, nhà phóng viên này có nhanh chân hơn các bạn cùng nghề, đến được trước để điều tra, phỏng vấn, và thức đến khuya để viết cho xong bài tường thuật, thì bài này cũng đành phải gác lại, chờ sau khi báo số mới xuất bản rồi, mới đến được Ty kiểm duyệt. Vì Ty làm việc theo giờ giấc định sẵn như mọi công sở khác, chứ không thức riêng để xem bài riêng cho báo Chấn Hưng. Và còn một cớ cuối cùng, khiến cho báo không in được những tin xảy ra trong đêm, dù Ty kiểm duyệt có làm việc, là từ sáu giờ chiều hôm trước, nhà in đã cho thợ nghỉ. Không có xưởng nào làm việc đêm, trừ những việc thượng khẩn, in thầu cho nhà nước. Nếu báo Chấn Hưng muốn nhà in phục vụ riêng cho mình, thì cũng được, nhưng phải trả thêm tiền cho kíp thợ làm đêm.
Vì vậy, trong mục thời sự ở số đầu, báo Chấn Hưng đăng toàn những việc mà báo Trung Bắc và Thực Nghiệp đã đăng hôm trước. Kém nữa, là vì phóng viên mới, bỡ ngỡ, nên nhặt được ít tin hơn, và viết nhạt hơn. Báo người ta đăng một việc, thì ít ra cũng có tí bình luận. Ví dụ, tin một người nhảy xe điện bị thương, thì bình luận bằng cái đầu bài Ai bảo nhảy, tin mất ví da, mất chó, thì bình luận bằng câu kết, mỉa người ta tại sao không cẩn thận. Nếu muốn tỏ ra là ưu thời mẫn thế, thì cũng có thể nhân việc mất ví da, mất chó, mà than thở thế sự nhân tình, thời buổi nhố nhăng, mưa Âu gió Á. Thế mà mục Thời sự của báo Chấn Hưng chỉ vẻn vẹn có hai cột. Ông Hoài Tân Tử thấy nó nghèo nàn quá.
Thật ra Chấn Hưng có ưu điểm. Nhưng khốn nỗi ưu điểm này lại chỉ tốt riêng cho báo. Là nó in những hai trang quảng cáo. Đây phải kể cái công lao của anh Thừa to lớn là ngần nào. Nhưng độc giả bỏ ra hai xu mua báo, có phải để đọc quảng cáo cho nhiều đâu!
Vì vậy, số đầu, in ba nghìn, hai trăm gửi biếu các bạn hữu, tám trăm gửi bán ở các tỉnh, còn hai nghìn, ông Hoài Tân Tử nhất định rằng bán không đủ cho mười tám vạn dân Hà thành, thế mà báo in xong năm giờ chiều hôm trước, để lại đến sáu giờ sáng hôm sau mới phát hành cho có vẻ sốt ruột, rút cục, trẻ đi bán lẻ khắp các phố, đến chiều, chúng đem báo ế trả lại tòa soạn, ông Tình muôn thuở giật nảy mình. Hai mươi chú bé mà bán được có sáu mươi mốt tờ!
Tin báo ế là một tin dữ dội. Không chấn hưng không được. Lập tức, ông Hoài Tân Tử triệu tập anh em trong tòa soạn lên Yên Phụ, để bàn kế hoạch chấn hưng, cố nhiên, anh Thừa cũng dự họp, vì không phải việc văn chương chữ nghĩa.
* * *
Theo nghị quyết chung, muốn cho báo Chấn Hưng được sống dai, thì cấm ngặt mọi người không được tiết lộ với ông sáng lập là báo ế. Phải khoe là báo viết hay, rất chạy, in ba nghìn không đủ bán. Ông Hoài Tân Tử bàn rằng từ nay, sau khi trẻ trả lại món báo ế, thì lập tức phải chạy ngay nó đi, nhờ chị Sáu đốt hết cho phi tang, số tiền ngót hai nghìn tờ làm như bán hết, anh Thừa phải tính toán xem là bao nhiêu, rồi lấy tiền quỹ giả làm món thu, để bù vào, cho ông Lăng tin là thực. Món tiền mua báo ế để đốt đi, sẽ vẫn ông thầu khoán è cổ ra mà chịu, nhưng khai nhăng khai cuội là tiêu vào khoản nào cho hợp lý, là tùy tài biến hóa của chủ bút.
Anh Thừa phản đối. Anh đề ra một ý kiến rất hay, được mọi người tán thành, là muốn cho báo Chấn Hưng bán được, thế tất phải cạnh tranh với báo khác. Cách cạnh tranh tốt nhất, công hiệu nhất, mà trước kia, khi còn mở hiệu thuốc, anh đã làm rất có kết quả, là phải dìm dập bạn đồng nghiệp. Anh kể lại cho các bạn nghe cái mánh khóe làm mốc thuốc của các hiệu khác. Thì bây giờ, anh hiến cái mánh khóe ấy để làm mốc báo Trung Bắc và Thực Nghiệp.
Anh nói:
- Cái món tiền mà chúng mày - bây giờ thân với nhau, anh đã mày tao với các bạn rồi - bảo tao tìm cách khai nhăng khai cuội, lấy tiền của thằng già bù vào đống báo Chấn Hưng ế, thì tao tính nên dùng nó mà mua báo Trung Bắc và Thực Nghiệp, ta cho người đón mua tất cả báo của trẻ bán lẻ. Bọn này mất gì mà không để cho ta, còn đỡ được công phải chạy rạc cẳng ở các phố, cho nên hẳn mong ta lấy hết. Vậy ta cứ tận thu báo Trung Bắc và Thực Nghiệp bán lẻ ở Hà Nội. Rồi ta tải lên Yên Phụ, nhờ chị Sáu bật cho một que diêm. Hà Nội không có báo khác đọc, tất phải mua báo ta. Báo ta được độc quyền bán lẻ cho mười tám vạn dân Hà Thành. Như vậy, ta chỉ có hai nghìn tờ cung cấp cho độc giả, chứ tao tính đến hai mươi nghìn tờ, cũng phải hết veo.
Anh để các bạn suy nghĩ, rồi tiếp:
- Tao tính thế này. Nếu ngày nào chúng mày cũng bắt tao ăn cắp quỹ để mua lại báo Chấn Hưng ế, thì tao phải ăn cắp đến bao giờ? Báo Chấn Hưng còn vẫn ế, tao cứ phải ăn cắp mãi. Mà ăn cắp mãi thì lộ, thằng già biết. Tuy nó ngốc nghếch thật, nhưng nó có những đức tính của kẻ làm giàu, là keo kiệt và đa nghi. Bỏ tiền nhiều và bỏ tiền mãi, thì nó sốt ruột, tất nó khám phá ra âm mưu của ta. Vả Chấn Hưng có hay hơn Trung Bắc và Thực Nghiệp không, dốt nát như tao còn biết nổi, nữa là con cáo ấy. Và nếu con cáo dốt nát hơn tao mà không biết điều ấy, thì vợ con nó bảo cho nó biết, bọn cai thầu và phu phen của nó bảo cho nó biết. Cho nên, nhất định việc ăn cắp hàng ngày một món tiền là không bền. Vậy theo cách làm của tao, một ngày mình phải bỏ tiền ra mua cả báo Trung Bắc lẫn Thực Nghiệp bán lẻ ở Hà Nội, thì món ấy to gấp đôi, gấp ba món ta bỏ ra bù cho báo Chấn Hưng bị ế, nhưng ta chỉ mua Trung Bắc, Thực Nghiệp ba ngày thôi. Độc giả không được đọc những báo ấy, tất phải đọc Chấn Hưng, rồi quen đọc Chấn Hưng, khi Trung Bắc và Thực Nghiệp lại có báo bán lẻ, thì số độc giả quen đọc ta đã không phải là ít. Họ sẽ không mua Trung Bắc và Thực Nghiệp, vì họ đã mất ở quãng giữa những mấy kỳ tiểu thuyết đăng ở các báo ấy rồi.
Anh thêm một ý, kiến nữa:
- Còn như Trung Bắc và Thực Nghiệp, họ có biết là ta cạnh tranh với họ bằng lối ấy không? Tao cho là không. Vì họ vẫn thấy báo của họ chạy đều. Có khi lại chạy hơn trước. Vì không còn một số báo ế phải trả lại. Nếu họ có dò ra là thủ đoạn của mình, thì cũng phải đến ba bốn hôm sau. Lúc ấy, ta đã không mua nữa, vì ta cướp được độc giả rồi.
Ông Hoài Tân Tử giơ bắt tay anh Thừa:
- Bây giờ thì tao lại phục mày là bậc thầy! Thật thế, khi ngoài miệng gọi đồng nghiệp là bạn, thì trong bụng phải coi họ là kẻ thù. Vì họ cướp miếng ăn của mình. Nhất định là trong những hôm mấy bạn đồng nghiệp Trung Bắc và Thực Nghiệp bị ta thu, tao phải viết bài chửi chúng nó thật khỏe, và phải đăng ở báo mình những truyện trinh thám, và truyện kiếm hiệp mới.
Anh Thừa gật đầu:
- Thế thì độc giả được đọc truyện từ đầu, tất đương mê, không muốn bỏ dở báo ta để đọc lại truyện của các báo khác bị cách quãng. Như vậy, ta có nói với ông Lăng là báo hay, bán chạy, ông ấy mới thấy là báo có bán được thật. Ta không mang tiếng là nói dối. Ông ấy tin ta, mới chịu bỏ tiền ra nữa.
Rồi anh khoe:
- Đấy, chúng mày thử xem, tao cứ hé răng muốn lấy bao nhiêu tiền là ông ấy phải đưa đủ ngay, không những là vì ông ấy nể tao, mà cũng là vì tao giữ được lòng tin của ông ấy.
Vì có công lấy được nhiều tiền của chủ, và lấy được nhiều quảng cáo cho báo, nay lại cống hiến một kế hoạch hay, anh Thừa được cử tọa nhiệt liệt khen ngợi, và đồng thanh thưởng cho anh hai điếu thuốc và một điếu xái nhất bao.
Chị Sáu vui thích, cố lăn thuốc thật lẳn để người có tài được miệng hút tai nghe cho sướng.
Đến lượt ông chuyên môn viết báo Hoài Tân Tử lên tiếng:
- Tao phục thằng Thừa, nhưng tao chê ở chỗ nó cạnh tranh bất chính. Ừ, thì làm như vậy, báo sẽ bán được đấy. Nhưng báo của mình cứ viết kém, thì liệu chỉ mục tiểu thuyết có giữ nổi độc giả mãi không? Tao đứng về mặt nhà nghề, thì tao thấy rằng, nếu báo viết không hay, tin tức không nhiều và không nhanh, thì thế nào cũng lại bán không chạy. Trong bộ biên tập ta, chỉ có một mình tao quen việc, thì tao lại phải viết nhiều quá. Mà viết nhiều quá, thì đến thánh cũng không viết được hay. Ấy là nhờ có bàn đèn, chúng mình tán róc với nhau, nó mới ra nhiều ý. Nhưng chuyện tán mãi cũng phải hết. Cho nên, tao lo chỉ vài ngày là tao không biết viết cái gì. Chúng mày, thằng thì không viết nổi một chữ, thằng vì viết chưa thông, tao còn phải chữa bét be. Vậy tao nghĩ cách cạnh tranh chính đáng nhất, là báo mình phải có nhiều bài hay, do những tay cứng viết giúp.
Ngừng một lúc để vén quần, gãi bẹn sồn sột, ông văn sĩ tiếp:
- Nhưng chúng mày đừng lo là tao có ý định thay đổi tòa soạn. Không, tòa soạn không thay đổi một người nào. Bây giờ là buổi đầu, chúng bay còn bỡ ngỡ, nhưng làm lâu, sẽ quen việc. Trước kia, tao cũng như chúng mày, nên tao hiểu. Ta nên thề với nhau rằng cho dù đến ngày ông sáng lập muốn thay đổi tòa soạn, thì cũng không một thằng nào ra lẻ đâu. Ra thì ra cả. Ở thì ở cả. Có đồng một lòng như vậy, ta mới giữ giá trị cho bọn cầm bút đối với bọn tư bản chỉ nhìn thấy mỗi một cái, là đồng tiền.
Cử tọa ồn ào:
- Đúng, đúng. Thưởng cho anh Cả một điếu! Đũa cả nắm khó bẻ. Ra thì ra cả. Ở thì ở cả.
Ông Hoài Tân Tử giơ tay ra ngăn:
- Chưa chi chúng bay đã thưởng tao. Tao mới nói ý phụ, chưa nói đến ý chính, ý chính của tao là phải làm sao báo mình có bài hay, trong khi tòa soạn có toàn những người viết tồi. Hiện bây giờ, trong nước ta, những cây bút lão luyện đều đã ở trong bộ biên tập một báo. Hôm nọ, thằng Lăng có hỏi thằng Thừa với tao là có thể lấy thằng Quỳnh, thằng Vĩnh về viết báo ta không. Ý kiến ấy mới đầu nghe thì bật buồn cười, vì nó xuất ở miệng một thằng không biết báo hàng ngày với tạp chí khác nhau chỗ nào. Nhưng sau, câu ấy gợi cho tao một ý. Từ trước đến giờ, báo chí ở nước ta không giống báo chí ở các nước khác. Ở các nước khác, báo hàng ngày ra báo hàng ngày, là báo chuyên thông tin. Còn tạp chí thì ra tạp chí, là báo viết khảo cứu, nghị luận. Nhưng ở ta thì báo hàng ngày vớt tạp chí không khác nhau mấy. Nó táp nham hổ lốn cả báo thông tin với báo khảo cứu nghị luận. Đông Dương tạp chí dạy đàn bà phép nuôi con, dạy Tây học tiếng ta, dạy cách gõ đầu trẻ. Báo Trung Bắc đăng xã thuyết than thở tình thầy trò ngày nay kém tình thầy trò ngày xưa. Báo Thực Nghiệp làm việc của nhà triết học, truyền bá học thuyết của Khổng Mạnh. Còn vô thiên lủng những bài văn chương đại cà sa, luận về chữ hiếu, bàn về máy móc với đời người, nghĩ về việc dịch sách, tả một đêm trăng thu trên hồ Tây, vân vân, toàn những bài của tạp chí đăng vào báo thông tin. Vì lẽ ấy, ở nước người, người viết tạp chí không quen viết báo hàng ngày, và ngược lại, nhưng ở nước ta, cứ là viết bằng chữ, thì đăng báo nào cũng được. Cho nên người viết tạp chí có thể viết bài nghị luận, khảo cứu cho báo hàng ngày. Và những tin mất chó, mất ví da, viết cho du dương, có thể kể là một áng văn chương đăng ở tạp chí. Tao nói dài như thế, vì tao cho thằng Quỳnh, thằng Vĩnh vẫn viết cho báo hàng ngày được, dù là những bài khảo cứu văn học Pháp, những bài dịch tinh hoa học thuật phương Tây. Thế thì làm thế nào cho những cây bút nổi tiếng có tên trong báo của ta? Tao tính cũng dễ thôi. Tao sẽ thảo một bức thư tâng bốc chúng nó, những là tai mắt, những là nhà tư tưởng khuôn vàng thước ngọc, những là bậc quan tâm đến vận mệnh của xã hội, để rồi tao đề ra mấy câu phỏng vấn cho chúng nó trả lời. Ví dụ hỏi Phạm Quỳnh: Theo ý kiến ngài, văn học Việt Nam có những điều gì là hay, điều gì là dở. Điều dở của văn học Việt Nam nên chấn hưng như thế nào? Ngài nghĩ về tương lai của văn học Việt Nam thế nào? Hỏi Nguyễn Văn Vĩnh cũng ba câu na ná như thế, về báo chí. Với Trần Trọng Kim thì ta hỏi về vấn đề luân lý, đạo đức.
Anh Thừa xua tay:
- Không. Hỏi Trần Trọng Kim câu ấy, tao ngờ là nó không trả lời đâu.
- Sao, mày sợ nó cho là mình xỏ nó à?
- Không phải. Trần Trọng Kim đi dạy học, thì ta hỏi về vấn đề giáo dục chứ?
- À, tao tưởng mày biết đời tư của thằng này.
- Thế nào?
- Kể đời công, thì Trần Trọng Kim làm giáo học, dạy học trò và có viết mấy quyển luân lý và Nam sử. Nhưng đời tư của nó thì bẩn lắm. Cả Hà Nội ầm lên một dạo về cái việc nó ngủ với vợ một người bạn thân đã chết. Thế mà nó vẫn dạy người ta đạo đức. Nhưng mặc kệ, hỏi tác giả sách luân lý về luân lý là hợp lý, chứ không sao. Thế nào nó cũng trả lời.
- Được, tùy mày. Vì việc tòa soạn của mày…
- Tao còn định hỏi Hoàng Trọng Phu vài câu về quan trường. Ví dụ, quan trường Việt Nam thế nào, nên chấn hưng thế nào.v.v…
Anh Thừa đùa:
- Thế thì nên hỏi cả Trần Văn Thông: Ý kiến ngài về chấn hưng dân số Việt Nam thế nào. Ngài làm thế nào mà một mình ngài đã đẻ ra hơn năm chục đứa con?
Cử tọa cười. Ông Hoài Tân Tử nói:
- Thằng cha này nhiều con nhất nước ta thật. Nhưng con cả của nó là thằng Trần Văn Chương, đương học luật ở bên Tây, nay mai về làm trạng sư, làm quan tòa, sẽ là người bênh vực quyền lợi cho người Việt Nam. Vậy ta tha cho Trần Văn Thông, không đụng đến.
- Bênh vực! Rồi mày xem thằng Chương bênh vực An-nam hay Tây.
- Thôi, không nói lạc đề. Tao sẽ tìm mỗi người một giới để hỏi về một vấn đề. Ví dụ Bạch Thái Bưởi về thương mại, Nguyễn Văn Phùng về công nghệ. Hiện nay, tao chưa tìm ra trong phụ nữ thì phỏng vấn ai.
Anh Thừa lại đùa:
- Cô Tư Hồng, cô Bé Tý!
- Chưa biết chừng, tao phỏng vấn những con mụ này cũng nên. Bởi vì gì thì chúng nó cũng là những người đầu tiên mở cho đàn bà con gái An-nam một nghề mới. Cái nghề gọi nâng lên là nối dây liên lạc Pháp - Nam. Tao cũng định gửi thư vào cả Sài Gòn cho Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Chánh Sắt. Tao còn tìm hiểu người được kể vào hạng thượng lưu, để xin bài của họ. Tao chắc thằng nào hám danh sẽ trả lời, vì tao xin cả ảnh để in vào báo. Nếu họ không trả lời bằng thư, vì lẽ không có thì giờ, hay vì lẽ kiêu ngạo, không thèm trả lời, thì tao đến tận nơi, xin yết kiến, phỏng vấn miệng. Họ trả lời miệng, thì tao ghi. Như vậy, ít ra là trong hai mươi hôm, báo mình đã có đủ tiếng nói của những nhân vật tai mắt từng giới. Mỗi người nói về một vấn đề khác nhau, nói bằng giọng riêng để phô diễn tư tưởng, ý kiến của họ về mặt chuyên môn của họ. Tao chắc mục này vui lắm, nó làm cho báo có bộ mặt đứng đắn, sinh động. Tất báo hay cho nên chạy. Mà tòa soạn vẫn không phải viết bài.
Anh Thừa nói:
- Tao cũng nhận là thế. Nhưng tao còn e ngại phía mấy thằng ở Kiểm duyệt. Muốn giết mình, thì những bài hay, nó xóa đi, mình làm gì nổi nó? Hôm qua, thằng gì có râu ghi-đông [55] vừa vào tòa soạn dọa tao rằng nếu báo Chấn Hưng mà cứ viết bài châm chích mạnh quá, thì nó xin đóng cửa đấy.
- Mày sợ à? Mày mới bước chân vào làng báo, nên cho ông Kiểm duyệt là to, có quyền bóp chết mình. Phải. Kiểm duyệt có thể xin đình bản một tờ báo thật. Nhưng nếu là thằng có râu ghi-đông nói, thì lời ấy có một ý nghĩa khác. Thằng cha ấy tên là Trinh, chúa hay ăn tiền của báo đấy. Ta chiều nổi nó, thì dù có bài chửi Tây, cũng được ra như thường. Cho nên, món tiền khoản đãi nhân viên Kiểm duyệt là không thể thiếu. Mày phải nói rõ với ông Lăng điều ấy. Hà tiện gì, chứ hà tiện cho Kiểm duyệt ăn, là hà tiện dại. Muốn ông ta hiểu ngay, mày phải ví dụ Kiểm duyệt đối với báo cũng như Lục lộ đối với bọn nhà thầu. Mày nên khai cái khoản tiếp tân nhiều vào, để thỉnh thoảng chúng mình đi chén với nhau. Nhưng tao nói vậy cho mày rõ, mà vin vào cớ ấy để lấy tiền, chứ tao viết bài chửi thế hay chửi đểu nữa, Kiểm duyệt cũng vẫn cho ra. Vì mình chửi nhau, chứ có chửi nó đâu mà nó thù. Kiểm duyệt lại còn xui các báo chửi nhau, ghét nhau, giết chết lẫn nhau nữa. Đỡ một tờ báo chân chính, đem đuốc soi đường cho quốc dân đi, là đỡ cho Tây một cái bướu. Riêng Kiểm duyệt, đỡ được một việc bận hàng ngày. Nhưng không phải ta cho bọn Kiểm duyệt ăn để nó cho bài của ta ra mà thôi đâu. Nhiều bận ta còn vận động hoặc lừa nó xóa bài của ta nữa. Một bài bị xóa, tất là bài có nói chạm đến thời thế. Báo có nhiều bài bị xóa, là báo nói chạm đến thời thế nhiều. Quốc dân độc giả bao giờ cũng có cảm tình với báo nói chạm đến thời thế. Cho nên, muốn độc giả thương yêu, thì thỉnh thoảng báo nên để trắng hàng cột, và ghi vào đó mấy chữ “Kiểm duyệt bỏ”.
Anh Thừa lắng nghe, lấy làm lạ lùng lắm. Ông Tình muôn thuở hút xong một điếu, rồi tiếp:
- Thôi, kể nghề làm báo còn nhiều khó khăn, và người làm báo phải có nhiều mánh khóe. Nhưng đến đâu học đến đấy. Đã có tao đứng mũi chịu sào, chúng mày đừng lo. Bây giờ tao hãy hỏi chúng mày là con đường mới đã vạch ra cho báo, đứa nào nhận việc gì nào?
Anh Thừa nói:
- Tao nhận mục xã thuyết và dịch truyện.
Cử tọa ngạc nhiên, nhìn anh. Nhưng anh giảng ngay:
- Vì tao quen cụ Tú Phúc Lâm ở Hàng Đào, tao đến nhờ cụ ấy giúp xã thuyết và dịch truyện. Có tên bậc khoa mục đứng đắn ở báo mình, thì báo mình có giá trị.
Ông Hoài Tân Tử gật đầu:
- Được.
Rồi hỏi bạn đồng nghiệp Tiêu Lang choai choai:
- Còn chú mày, thế nào?
Tiêu Lang đáp:
- Chúng mày nhiều tuổi, lắm lịch duyệt, thì làm bộ óc. Đàn em tao xin thờ là bậc anh, nguyện làm chân tay, đem hết khả năng về chuyên môn để phụng sự tờ báo Chấn Hưng của chúng ta.
Ông Hoài Tân Tử gật đầu:
- Về chuyên môn mày định phụng sự gì?
- Một là mua lại báo của tụi bé con theo kế hoạch của thằng Thừa. Hai là sẵn sàng giọt cho bỏ mẹ những thằng nào ở báo khác chửi lại chúng ta.
Anh Thừa cười:
- Thế là mày làm du côn tranh nghề của tụi Phúc đen, ấm Ái hay làm báo? Ông còn hai cái răng hổng đây, ông chưa quên tội chúng nó?
Tiêu Lang chế lại:
- Thế cái danh thiếp của mày mới in, để là giuốc-na-lít [56], thì nghĩa là viết báo hay giết báo.
Ông Hoài Tân Tử không cười:
- Thôi, đừng chửi nhau nữa. Bắc-kỳ nói viết báo, Nam-kỳ nói giết báo. Đều là giuốc-na-lít cả. Thằng Tiêu Lang mới vào nghề, muốn viết báo hay giết báo, thì tao cũng cử vào việc dịch tiểu thuyết, vì tao chưa tìm được ai hơn mày.
Ông nhà văn tập sự trố mắt, toan thoái thác, thì ông nhà văn chính thức nói:
- Tao dạy cho cách làm. Không khó đâu. Truyện Tây thì mày lên Gô-đa hay hiệu sách Viễn Đông, thấy có quyển nào đánh cái dấu hỏi màu đỏ ở ngoài bìa, tức là truyện trinh thám. Có đến hàng chồ đấy. Mày mua một cuốn, rồi cứ dịch bừa đi, tao chữa cho. Không có tự vị Pháp Việt thì tao cho mượn. Còn truyện Tàu, thì mày vào hiệu Thụy Ký ở Hàng Gai hay Cẩm Văn Đường ở Hàng Hài, thuê lấy một quyển Kiếm hiệp, hai xu một ngày. Nào La Thông tảo Bắc, nào Chinh Đông Chinh Tây, nào Thuyết Đường, nào Phấn trang lầu. Những truyện ấy, anh Sài-goòng dịch, viết tiếng trọ trọe, thì mày chữa cho ra tiếng Bắc. Cứ nguyên làm thế thôi, hai bản cũng đủ khác nhau. Nếu cao hứng thì mày làm thêm một tí nữa. Là truyện Tàu chỉ kể việc, không tả cảnh. Vậy thấy chỗ nào thú, thì mày tả cảnh, dùng những tiếng cho thật kêu, thế là ăn đấy. Rồi khi đăng lên báo, mày đổi tên truyện đi. Có là trời cũng không nhận ra.
Tiêu Lang vui sướng:
- Thế thì tao làm được. Nhưng mày phải khuyến khích tao.
Vừa nói, ông nhà văn trẻ tuổi vừa vin cái dọc tẩu có điếu thuốc chị Sáu mới cắm vào lỗ nhĩ. Nhưng ông nhà văn lão thành ngăn lại:
- Này, này! Đánh cho chết! Tao cấm đấy! Khuyến khích là cho hút thuốc phiện à? Không được! Chúng mày còn măng sữa, lỡ bập nghiện vào thì khó gỡ lắm. Không thể bắt chước tao là người có nhiều nghị lực. Vả tao chỉ hút chơi hút bời.
Chị Sáu cười:
- Mỗi tháng hai lần. Mồi lần mười lăm hôm. Tháng nào băm mốt ngày, thì chơi thêm bữa nữa.
Ông Hoài Tân Tử phát vào đùi chị đánh bét, rồi nói tiếp với Tiêu Lang:
- Mấy hôm nay sở dĩ tao đến đây luôn, không phải vì tao mắc nghiện, mà chính là vì phải viết nhiều quá, tao cần thức để nghĩ bài. Không có thuốc phiện, tao hay buồn ngủ và không nghĩ được. Thuốc phiện lại trợ lực cho tao. Không có nó, thì bận như tao ít lâu nay, thế nào cũng ốm rồi. Vì thế, tao cần hút. Vả lại làm việc ở nhà này tĩnh mịch, thuốc phiện giúp tao nảy yên-sỹ-phi-lý-thuần. Thói quen của tao là phải viết cạnh bàn đèn. Còn chúng mày không nên bắt chước tao. Oắt con mới nhảy vào làng văn mà đã bê tha, rượu chè, thuốc xái bệ rạc, thì mang tiếng cả giới đấy. Phải giữ danh dự cho nghề cầm bút.
Chị Sáu bĩu môi, nhìn mọi người:
- Mô Phật! Làm báo chỉ cái mồm nói là hay thôi! Nào mời ông làm vườn kéo đi kẻo nguội thì nó tắc.
Ông Hoài Tân Tử cầm dọc tẩu, ngớ mắt nhìn chị Sáu:
- Sao lại làm vườn?
- Làm vườn trồng cải.
Ông nhà văn hiểu, vừa cười, vừa ẩy cái đầu dọc vào ngực chị:
- À, quân bay! Con bé nó nói xỏ, gọi báo mình là lá cải!
* * *
Báo Chấn Hưng ra ba số, ông Lăng mới đến thăm tòa soạn được. Ông phải đi vắng gần một tuần lễ, đến phần đường của ông nhận thầu, trên Vĩnh Yên. Tuy ông lấy làm ân hận vì trót sai hẹn với bộ biên tập, đã không thể mời anh em chén một bữa trước khi báo ra, nhưng ông hài lòng ngầm, là đỡ mất thêm một món tiền tiêu vô ích trong khi đã bị hoạn rất đau cho báo rồi.
Về phía anh Thừa và ông Hoài Tân Tử, họ cũng không thiết tha mong ông Lăng về để cho họ khao. Họ cũng đã ăn vặt của ông nhiều rồi, cộng món tiền lại, có lẽ còn to gấp mấy món tiền ông phải trả bữa giao thiệp đầu tiên, bằng thịt chó, ở nhà Nội quốc thực phẩm. Họ còn vừa bực mình, vừa bật cười về chầu hát sau bữa cơm ấy. Ông Lăng ở lại độ nửa giờ, chẳng đánh trống, chẳng nghe hát, nhưng trong nhà có bao nhiêu cô đầu, già, trẻ, mặc kệ, ông lừa hôn được suốt lượt, mỗi cô một chiếc, rồi ông về, xin lỗi là bận việc, ông bảo anh Thừa và ông Hoài Tân Tử cứ ở lại mà chơi cho đã món tiền ông đã chi. Ông chi ba đồng, một chầu chay! Chết cười!
Thế là về căn bản, ông sáng lập đã thết chầu hát. Ông chuồn sớm, để khỏi chịu oan những khoản râu ria, là thuốc phiện, với cháo gà đêm, có thể to hơn ba đồng nữa. Ông biết những người làm báo toàn là những tay chơi bời bạt mạng, được dịp vén tay áo sô đốt nhà táng giấy, họ không thương người phải trả tiền, chỉ cốt sướng thân, và sĩ diện với chị em. Phải bỏ tiền ra chi chầu hát, ông đã gỡ gạc, hôn đủ ngần ấy má. Thế là về phần riêng, ông được thỏa mãn. Vậy ông phải đi ngay để tránh nạn sau này.
Thấy ông Lăng mắt trước mắt sau đòi về, hớt hải đi như chạy giặc, anh Thừa không giữ. Bởi vì anh không là chủ. Anh bảo ông nhà văn:
- Hắn mà không nể, có lẽ hắn lừng lững chuồn, bắt anh em mình nằm va-li [57] cũng nên.
Ông Hoài Tân Tử nói:
- Tớ mà thôi Chấn Hưng vào làm báo khác, thì người đầu tiên mà tớ viết bài chửi, phải là thằng già keo kiệt này!
Vì vậy, cả hai người thấy trước ngày báo ra mà ông Lăng đi Vĩnh Yên, chẳng ai mong ông về, để tái diễn tấn hài kịch cỏ rả, nhưng làm ông đau lòng. Họ đã chọc tiết cái két của ông khá nhiều bận rồi.
Kể ra đi vắng, ông thầu khoán tránh được món tiền, nhưng ông không khỏi không nóng về, để được biết tình hình tờ báo của ông ra sao.
Vì thế, đến Hà Nội đêm trước, nhặt nhạnh được ít dư luận, sáng hôm sau, mới bảy giờ, ông đã đến nhà báo ở phố Hàng Bồ.
Nhưng ông rất ngạc nhiên. Tòa soạn vắng tanh. Không có ai làm việc, ông vào gác trong, là chỗ ở riêng của chủ bút. Thấy đóng cửa, ông gõ để gọi.
Anh Thừa đương ngủ, thấy tiếng động mạnh, thì thức dậy. Anh cạu cọ ra mở cửa. Nhưng thấy ông sáng lập, thì anh tươi ngay:
- Cụ mới về? Mời cụ vào.
- Vâng. Tôi sốt cả ruột gan. Thế nào, báo ta ra rồi chứ?
Anh Thừa trợn mắt:
- Kết quả lắm. Chưa có báo nào số đầu lại chạy mạnh như báo ta.
Ông Lăng như không để ý đến lời khoe ấy, hỏi:
- Các ông chưa ra buya-rô[58] à?
Anh Thừa quệt nhử mắt:
- Báo ra buổi sáng, cho nên đêm nào chúng tôi cũng thức đến ba bốn giờ. Bây giờ chúng tôi là vạc, lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm.
Ông Lăng yên tâm, hỏi:
- Này, sao ở Hà Nội, tôi thấy ít ê-lếc-tơ đọc báo mình nhỉ?
- Phải rồi. Mười tám vạn người, mà có hai nghìn tờ, thì nhiều vào đâu? Giá bạo tay mà in hẳn một vạn cũng hết bay ngay, cụ ạ. Tôi chỉ chờ cụ về để nói với cụ cho in hẳn lên một vạn.
Ông Lăng cười:
- Thôi từ từ chứ, ông ạ.
- Cụ nghe dư luận về báo ta thế nào?
- Tôi mới về, cũng chưa nghe được nhiều. Thấy nói là mục thời sự, giá đăng cả những a-vi [59] gọi thầu thì đầy đủ hơn.
Anh Thừa gật đầu:
- Xin chịu là thiếu sót.
- Ai ký tên là Búa Tạ ở mục Nghe đâu nhỉ?
- Sao hả cụ?
- Ê-lếc-tơ kêu là viết thô tục quá. Người ta bảo dễ thường động rừng cho nên báo ra lắm để báo cắn nhau. Nhất là tờ báo số ba, trang đầu, có bài thuật lại lời ông Nguyễn Văn Vĩnh đáp mấy câu phỏng vấn, người viết khen ngợi ông Vĩnh là bậc yêu nước thương dân hiếm có, thế mà ở mục Nghe đâu, ông Búa Tạ choang ngay một bài “Ai đáng bỏ rọ trôi sông”, để ám chỉ ông ấy là ăn tiền của chính phủ để hại nước, hại dân. Ê-lếc-tơ nói như vậy thì còn ai muốn cộng tác với báo mình nữa.
Anh Thừa đáp:
- Tôi là chủ bút, tôi chịu trách nhiệm hết. Nhưng dư luận như vậy là hẹp hòi, cụ ạ. Người thức thời không cố chấp như thế. Tây nho có câu: Tôi yêu thầy tôi, nhưng tôi yêu chân lý hơn. Tôi yêu ông Vĩnh, nhưng tôi yêu nước Việt Nam của tôi hơn.
Ông Lăng như được nghe một bài giảng ngoài sự lỗ lãi của việc bao thầu, cho nên rất phục lời nói cao xa ấy. Ông nói:
- Thế thì Búa Tạ không đáng chê trách, mà còn đáng khen ngợi. Ai là Búa Tạ thế, hở ông?
- Búa Tạ là Búa Tạ. Tôi không thể nói với cụ là ai, dù cụ là sáng lập. Đó là bí mật nhà nghề, xin cụ hiểu cho. Bất cứ một tên nào ký ở tờ báo, tôi đều chịu trách nhiệm với độc giả. Và vì tôi kiêm chức Quản lý, cho nên tôi chịu cả trách nhiệm với pháp luật của nhà nước. Nhà nước hỏi tôi ai ký tên nọ, ai ký tên kia, tôi cũng không khai. Làm báo phải giữ được lương tâm nhà nghề thế mới đúng.
- À, ra thế. Tại tôi không biết là trong nghề làm báo có lời nguyền với nhau như vậy.
- Đó là luật vạn quốc đấy, cụ ạ.
- Vâng. Người mình kém cỏi về tất cả các mặt, cho nên nhiều cái không hiểu. Mình ra báo Chấn Hưng là rất lợi cho ê-lếc-tơ.
Anh Thừa dạy khéo ông Lăng về xã giao:
- Ngay một việc nhỏ, như ăn uống, chơi bời, mình cũng còn phải học người nhiều lắm.
- Vâng, về món này, Tây người ta thiệp lắm. Không trách mình gọi người ta là quý quan cũng đáng. Người ta đáng làm thầy mình, lấy nước mình là phải.
Anh Thừa sực nhớ đến việc ông Lăng mua nhà của anh mà nói rằng thờ mấy người Tây buôn làm thầy. Anh hỏi:
- Ô, cái nhà của tôi, cụ mua làm gì, tôi chưa hiểu. Bây giờ cụ đã có thể nói thật cho tôi nghe được chưa?
Ông Lăng nghĩ một lát, rồi gật đầu:
- Nói được rồi. Là vì văn tự đã duyệt tòa, ông chả có thể lấy lại được.
- Tôi lấy lại làm gì!
- Ấy, thế mà lấy lại đấy. Nếu tôi nói trước là tôi làm thế nào, thì ông ăn cắp ngay mánh khóe của tôi để cướp đơ min của tôi. Không thì ít nhất, ông cũng bắt tôi chia puốc-xăng [60] với ông.
Anh Thừa lắc đầu:
- Tôi chưa hiểu.
Ông Lăng giảng:
- Thế này nhé. Ông có biết ở ta có cái hội Bảo hiểm, vẫn gọi là họ Tây không?
- Có.
- Không phải là họ Tây. Hội này gốc nó ở bên Hoa-kỳ, có chi nhánh ở hầu khắp các nước trên hoàn cầu.
- Vâng. Tôi biết.
Anh Thừa biết, vì anh đã xui Ma-ri góp tiền hàng tháng vào đó, để phòng mẹ của Mão có đánh què hay đánh chết, thì Hội phải bồi thường một món tùy theo số tiền và thời gian mình góp. Nhưng Ma-ri đã đóng có vài tháng, rồi vì cần tiền buôn, nên bỏ dở. Anh Thừa nói với ông Lăng:
- Trước kia, tôi đã khuyên một người chơi họ này.
- Bảo hiểm nhân thọ hay bất động sản?
- Nhân thọ.
- Bây giờ người ấy còn đóng nữa không, ông có biết không?
- Người ấy chỉ đóng có vài tháng rồi bỏ.
Ông Lăng cười:
- Đấy nhé! Hội này hiểu tâm lý người ta là không kiên tâm, cho nên mới lừa nổi hàng chục triệu người ở các nước. Đóng tiền vào Hội, thì khi nào mình bị ắc-xi-đăng [61] bất thần, Hội sẽ đền cho một món lớn. Vậy bề ngoài, thì hình như mình đóng góp, dành dụm tiền, để lỡ ra có chết, thì vợ con khỏi đói. Nhưng bao giờ mình chết? Có chết vì tai nạn bất thần không? Nên nhớ rằng ông chết già, chết bệnh, chết vì tự tử, thì Hội không chịu trách nhiệm đâu nhé. Cho nên, một trăm người đóng tiền vào Hội, thì chín mươi chín người bỏ dở. Hội được không món tiền ấy.
Anh Thừa suy nghĩ, rồi có vẻ ngạc nhiên:
- Quái. Người Mỹ giàu thế mà còn đi lừa nhỉ?
- Thì có lừa mới giàu? Thế ông đã nhận là người mà ông xui đóng tiền vào Bảo hiểm bị lừa chưa nào?
Anh Thừa cười, gật đầu:
- Đúng là bị lừa rồi.
- Phải? Chứ Hội làm sao có đủ mắt mà trông nom cho hội viên ở khắp hoàn cầu tránh được tai nạn bất thần để khỏi phải đền tiền? Mà nghĩ cho cùng, mình bị tai nạn bất thần ở nước An-nam, tại sao đến một hội tận bên Mỹ họ đền cho? Chẳng hóa ra Hội dại, lập ra để nai lưng mà đền mạng cho hội viên à? Nhưng Hội có dại đâu? Chính những anh tham lam, hú mắt vì thấy món tiền đền to mà vào Hội, mới là dại. Nhưng tham lam mà lại không kiên tâm. Vả dù có kiên tâm, nhưng có chắc mình chết vì ác-xi-đăng bất thần không mà cứ phải đóng tiền mãi, và đóng cho đến bao giờ? Chi bằng thôi ngay, đừng tiếc mấy chục, còn hơn theo đuổi cho đến bao giờ, và chắc có hy vọng được đền? Hội bảo hiểm rõ cái tâm lý chung ấy của người đời, cho nên nó sống mãi để làm giàu, vì đã lừa khắp các nước.
Anh Thừa lắc đầu:
- Lừa mà vẫn là nhân nghĩa. Kín đáo thật!
- Thế mới biết óc người Mỹ lớn hơn óc người Tây. Bảo hiểm nhân thọ hay bảo hiểm bất động sản cũng dựa vào cái tính không kiên tâm của người ta. Tôi có cái nhà, tôi vào Bảo hiểm bất động sản, để nếu lỡ ra nó bị đổ, bị cháy bất thần, thì Hội đền. Nhưng tôi có nhà, thì tôi giữ, chẳng lẽ tôi phá, tôi đốt đi, để bắt Hội đền à? Mà nếu tôi phá, tôi đốt; thì là tự tôi làm cho nó đổ, nó cháy, Hội không chịu trách nhiệm. Vậy thì làm thế nào cho nhà tôi đổ, cháy, để lấy tiền của Hội? Cũng vì hay hỏi lẩn mẩn thế, mà chẳng ai vào bảo hiểm nhà của, lại cứ kiên tâm đóng mãi tiền. Một trăm người, không biết có được một người theo đuổi mãi hay không. Nói tóm lại, Hội bảo hiểm, nhân thọ và bất động sản lập ra, không phải vì dại dột, mà chính người đóng tiền vào Hội để ngấp nghé món tiền đền mới là dại dột. Ông hiểu chưa?
- Đã.
Ông Lăng gật đầu rồi xua tay:
- Nhưng mà, ông ạ, tôi đã nói rằng người đời khôn ngoan không biết thế nào là cùng. Anh mưu mô thế này, tưởng đã ma-lanh[62] tột bực, nhưng ngờ đâu lại có người ma-lanh gấp bội, lợi dụng ngay cái ma-lanh để xoay lại anh. Ông có biết mấy năm về trước, ở phố Hàng Trống, gần nhà săm của con đầm Lơ-ghẹc, có một nhà Tây bán những da chim muông nhồi như vật thật không nhỉ?
- Không.
- Ô, thảo nào mà ông không học được bài học khôn. Nhà ấy sắp vỡ nợ, ông ạ. Vì người chủ có vào Hội bảo hiểm cho cửa hàng, nên anh ta lập mưu đốt cháy nhà để bắt Hội đền. Anh ta đổ dầu xăng lên ván gác, cắm cây nến thắp vào. Rồi anh ta khóa cửa đi chơi. Chỉ ngót nửa giờ sau, nhà bốc cháy. Hàng phố không tài nào mà cứu được. Vòi rồng cũng không lách vào chỗ nào để phun nước dập tắt ngọn lửa được. Nhà cháy sạch sành sanh. Thế là ắc-xi-đăng bất thần, vì chủ đi vắng. Hội bảo hiểm cứ phải chiếu gia sản, è cổ ra mà bồi thường!
Anh Thừa tắc lưỡi:
- Ghê quá nhỉ!
- Cái nhà ông bán cho tôi, tôi cũng đã bảo hiểm xong rồi. Được ông viết thặng lên là đơ min, lại được anh Tây đi xem nhà cũng gà mờ, chỉ nhìn thấy là mới xây, làm toàn bằng xi-măng với gỗ lim, thì bằng lòng cho vào Hội ngay. Nhưng tôi đợi đấy. Thế nào cũng có ngày tôi lấy được đơ min. Nếu muốn lấy nhanh, tôi bắt chước anh Tây Hàng Trống.
Anh Thừa rùng mình, ông Lăng tiếp:
- Thầu gì lãi bằng, hở ông? Tôi muốn mở báo mà không muốn bỏ vốn ra, thì phải xoay thế chứ?
Anh Thừa điếng người. Thì ra lão già này láu cá, nhưng lại giả ngây giả dại để ăn người. Nó lợi dụng anh mà anh không biết. Anh mát mẻ nói:
- Thế là tôi tiêu tiền của tôi, nhưng cụ lại có quyền chi!
- Ấy, ở đời chỉ ma-lanh một tí là ăn người thôi. Nếu tôi không được ông Hoài giới thiệu ông có cái nhà ấy, thì tôi chả mời ông về với tôi. Và nếu tôi không mua nổi cái nhà của ông để lấy lãi, thì tôi làm gì có tiền để ra ngay báo? Thì nhà của ông, ông được tiêu, chứ ai? Ngỗng ông lễ ông. Ông nghĩ lại xem, có bao giờ ông lấy tiền mà tôi không đưa ra hay không? Ông lấy bao nhiêu, tôi cũng không tiếc, vì có phải tiền của tôi đâu? Cho nên, nếu ông biết dè xẻn, thì được lâu, mà ông sa phí, thì chóng hết. Tôi phải cho báo đình bản thôi, vả tôi cũng chỉ bỏ tiền đến ngày bầu cử, còn thì mặc các ông phải tự lực, để còn chút ít, gọi là công của tôi, tôi kiếm tí lãi chứ?
Anh Thừa như bị chửi thẳng vào mặt. Anh lạnh toát người. Và thấy đau hơn cái lần anh bị trận đòn ở Phòng thuốc nhà giàu. Anh cười lạt.
- Tôi phục cụ!
Ông Lăng đắc thắng, nhe bộ răng đen để khì khì.
Bỗng có tiếng ông Hoài Tân Tử nói oang oang ở gác ngoài:
- Thằng Thừa còn ngủ à. Sao không bảo con Sáu nó đốt hết Trung Bắc và Thực Nghiệp đi, còn để làm gì?
Anh Thừa giật nảy mình. Sợ bị lộ tẩy, anh vội vàng gọi to ông nhà thơ:
- Vào chơi trong này, có cụ chủ đương ngồi đây.
Ông Hoài Tân Tử vào buồng anh Thừa, bắt tay ông Lăng, rồi hỏi:
- Thế nào, cụ xem dư luận với báo nhà thế nào?
Anh Thừa nói:
- Tôi đã hỏi cụ rồi. Mình đốt Trung Bắc, Thực Nghiệp mạnh quá, độc giả kêu đấy.
Ông nhà thơ hiểu ý, cũng dùng tiếng đốt nghĩa bóng để làm lạc ý nghĩ của ông nhà thầu:
- Làm báo mà đốt nhau là thường. Cho nó vui. Số sau, ta sẽ đốt đến Hội Khai Trí Tiến Đức.
Ông Lăng can:
- Chớ, tôi là hội viên, ông Trần cũng là hội viên. Ai lại hội viên mà đốt Hội!
Thấy ông Lăng hiểu tiếng đốt rồi, ông Hoài Tân Tử mới yên lòng, ông thở dài, làm ra nhọc mệt:
- Đêm nào cũng thức, rã cả người. Không khéo, ốm tất cả mất cụ ạ.
Rồi ông mở cái cặp vải đen, lấy ra tập bản thảo, đưa anh Thừa:
- Đây, ông chủ bút duyệt qua, rồi cho đi nhà in.
Ông Lăng hỏi:
- Có bài nào hay hay, nhờ ông bình cho nghe?
- Cụ thích xã thuyết, hài đàm, thơ, nghe đâu, hay đoản thiên tiểu thuyết.
- Gì cũng thích, nhưng muốn thưởng thức văn chương của hai ông thôi. Báo của nhà thì phông-đa-tơ [63] cũng phải có lợi hơn người, là được đọc trước ê-lếc-tơ chứ!
Ông Hoài Tân Tử chọn bản thảo, rồi lấy một bài thơ:
 
Anh kia lẩm nhẩm kêu giời,
“Ở đời chẳng có một người tri âm.”
Giời cười, Giời bảo: “Anh lầm,
Nửa tri âm đủ khổ tâm nửa đời,
Nữa là muốn cả một người!”


Ba người phá lên cười, ông Lăng khen:
- Hay! Hay! Tré biềng[64]! Ai làm bài này thế?
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Tôi đây, cụ ạ.
Ông Lăng đắc chí, rồi lại cười:
- Hay là…
- Hay là cái gì, hở cụ?
Ông Lăng nói nốt:
- Hay là ký tên tôi?
Cả ba người lại cười. Nhưng mỗi người cười một giọng khác nhau. Ông nhà thơ dở đùa dở thật:
- Vâng. Tôi bán cho cụ đấy.
Ông Lăng cũng dở thật dở đùa:
- Tưởng ca-đô [65] gra-tuýt[66] chứ bán thì chả chơi.
Anh Thừa nói:
- Nhưng cụ ký tên vào thơ thì không hợp. Để hôm nào có bài xã thuyết hay, thì mời cụ ký tên, chứ không dám bán chác gì cả.
- Ồ, thế thì tốt quá. Cũng cho tôi được vào trường ngôn luận với chứ! Rồi tôi nhờ hai ông dạy cho tôi viết báo, để cùng làm việc cho vui.
Anh Thừa gật đầu:
- Được, cụ học chúng tôi viết báo, thì cụ dạy lại chúng tôi thầu khoán nhé.
Ông Lăng lắc đầu:
- Ứ ừ, chả chơi, thế thì dạy các ông biết nghề thì tôi để khó cho tôi có thêm một người công-quy-răng à?
Ông Tình muôn thuở nói:
- Chẳng lẽ muốn ra nghị viên, mà thỉnh thoảng cụ không có tiếng nói trên báo, thì ai hiểu cụ ra sao, nhỉ?
Ông Lăng tặc lưỡi:
- Ồ, chả hiểu bằng tiếng nói, thì hiểu bằng tiếng keng keng của đồng bạc!
Anh Thừa thấy tay nhà giàu thị của, thì đập ngay cái thói keo kiệt của ông:
- Thảo nào cụ bỏ tiền làm báo để cổ động cho cụ, mà cụ cứ tính toán từng đồng.
Ông Lăng xua tay, lắc đầu:
- Không phải tôi tính toán cho tôi, mà chính là tôi tính toán hộ ông. Bởi vì có phải tiền của tôi đâu mà tôi tiếc? Ông biết đấy.
Bị quật lại là ngu ngốc, anh Thừa đau hơn. Anh cười lạt, mặt như mếu.
 
Chú thích:
(53)
54)
55)
56)
57)
58)
59)
60)
61)
62)
63)
64)
65)
66)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VIII
TYL  
 
Đến nhà cụ Tú Phúc Lâm, anh Thừa thấy cụ bà đứng ở trong cửa chấn song, thì anh chào, nhờ đưa danh thiếp vào cho cụ ông. Trong tấm giấy này, mỗi dòng tên và chức vụ bằng chữ Pháp, đều có dịch ra chữ Hán. Nhưng vì cụ bà chỉ đọc được quốc ngữ, nên cụ không biết anh là ai. Cụ bảo anh chờ.
TRẦN ĐỨC THỪA
陳徳丞
Journaliste
記者
Rédacteur en chef du
quotidien Chấn Hưng
振興日報主筆
TONKIN HANOI
北圻 河内
Cụ Tú ông xem danh thiếp [67] xong, vội vàng vừa đội khăn, vừa ra cửa đón quý khách.
Cụ mời anh Thừa ngồi ở trường kỷ, đối diện với cụ. Rồi, tuy chưa tối hẳn, cụ cũng đánh diêm, thắp cây đèn to cho sáng nhà.
Trong khi ấy, anh Thừa đặt lên bàn một tập bảy tờ báo Chấn Hưng, từ số một đến số bảy. Anh tựa vào lưng ghế, liếc mắt vào phía trong xem cô Lễ đâu.
Anh chắp tay, nói với cụ Tú:
- Thưa cụ, chúng tôi thay mặt tòa soạn, kính tặng cụ tập báo Chấn Hưng của chúng tôi, mới ra đời mấy hôm nay.
Cụ Tú trịnh trọng đáp:
- Cảm ơn quý báo.
- Báo chúng tôi mới xuất bản. Xin thú thực với cụ là chúng tôi rất lúng túng, vì chưa làm báo hàng ngày bao giờ, cho nên báo còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi phải nhờ các bậc cao minh trong nước chỉ giáo cho, để chúng tôi bổ khuyết cho tờ báo mỗi ngày một hoàn hảo.
Cụ Tú rung đùi đáp:
- Không dám.
Rồi anh Thừa trình bày tỉ mỉ mục đích của tờ báo Chấn Hưng. Anh đương nói dở chừng, bỗng nghe thấy tiếng guốc nhẹ nhàng từ trong ra. Cô Lễ tay xách siêu nước sôi, cúi chào khách, rồi đặt trên miệng ống nhổ.
Cố nhiên, mặt anh Thừa tươi tỉnh hẳn lên, và anh lấy hết gân để trưng bảnh với cô gái. Anh đứng dậy cúi chào lại cô, và hỏi thăm:
- Thưa độ này quý thể có được khang cường không ạ?
Cô Lễ đỏ mặt, tay vớ tà áo, khẽ đáp:
- Cám ơn y sĩ, chúng tôi được như thường ạ.
Anh Thừa cười:
- Thưa bây giờ chúng tôi làm báo, chứ không làm thuốc nữa ạ.
Rồi anh nói với cụ Tú:
- Xin lỗi cụ, thật là sơ suất. Đáng lẽ lời đầu tiên của chúng tôi là hỏi thăm xem cụ có khỏe mạnh không, thì lại nói ngay đến việc báo.
Cụ Tú tủm tỉm:
- Cảm ơn ngài.
Cô Lễ lấy lọ chè đưa cụ Tú, rồi ra ngoài, ngồi với cụ bà.
Anh Thừa tiếp tục trình bày mục đích của tờ báo. Nhưng bây giờ anh không chỉ nói riêng cho cụ ông nghe, nên giọng anh dõng dạc, và luôn luôn anh nhắc đi nhắc lại câu tòa soạn ở phố Hàng Bồ, và anh là chủ bút. Anh tiếp:
- Thưa cụ, chúng tôi đến đây, một là để thỉnh giáo cao ý, xem nên làm thế nào cho tờ báo được hoàn hảo, hai là để xin cụ thỉnh thoảng cho độc giả báo chúng tôi được thâu thái cái sở đắc của cụ.
Cụ Tú cười:
- Chúng tôi học hành đã có gì gọi là sở đắc. Phái cựu học của chúng tôi chẳng qua chỉ là một lũ hủ nho, tư tưởng không hợp thời nữa, cho nên đành nhường việc xã hội cho các bậc tân tiến. Ông Tình sy tử có bài Hủ nho tự trào đăng ở Đông Dương tạp chí, chắc ngài có đọc.
Anh Thừa xoa hai tay vào nhau, đáp lối chạy trốn:
- Dạ.
Cụ Tú vừa rung đùi, vừa đọc:
 
- Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta,
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà!


Anh Thừa đánh trống lấp:
- Dạ, thưa hay thật, nhưng chúng tôi biết đây chẳng qua là các cụ nhún mình. Mà người biết nhún mình, là người có óc tân tiến. Bởi vì có óc tân tiến mới nhìn thấy cái hủ lậu cũ của mình, tức là mình không hủ lậu nữa.
Anh cười to, rồi không để cụ Tú có thì giờ đưa anh vào lĩnh vực thơ văn mà anh như vịt nghe sấm, anh nói thêm:
- Tòa soạn chúng tôi chỉ toàn có người trẻ tuổi. Anh em hấp thụ được tân học thật, nhưng chúng tôi nghĩ, ở buổi giao thời như xã hội ta ngày nay, một tân học không đủ dìu dắt quốc dân. Thế tất phải có cựu học. Nước ta là nước nghìn năm văn hiến, nhờ có cựu học, nên mới có cái giang sơn gấm vóc như ngày nay. Bây giờ, nếu nhất đán ta bỏ hẳn cựu học, chỉ theo tân học, thì là ta thiển cận, mới thấy cái hay của người đã lóa lên, rồi nhắm mắt mà theo. Như vậy là phiêu lưu. Cho nên ở thời này, người quan tâm đến thế sự, là phải biết trung, biết bảo tồn cái hay của cựu học, lại phải biết chọn lọc cái hay của tân học, để tạo thành một nền quốc học mới, như ở Nhật Bản. Chứ tân học không hoàn toàn là văn minh, mà cựu học không hoàn toàn là hủ lậu.
Cụ Tú gật đầu:
- Ngài nói chí phải. Ngài có lòng yêu nước, cho báo để hỏi tôi ý kiến và bảo tôi thỉnh thoảng viết giúp cho báo, phải không ạ?
- Vâng.
- Vậy tôi xin ngài thứ lỗi cho. Chúng tôi nói thế này, không phải do khiêm tốn hay kiêu ngạo, nhưng thực tình là việc làm báo chúng tôi không biết, và việc viết báo thì chúng tôi không quen.
Anh Thừa cười:
- Thưa cụ, đành vậy. Chính chúng tôi cũng mới bước chân vào nghề. Và ở nước Nam mình, nghề làm báo quả là nghề mới, thì ai dám tự khoe mình là biết, là quen. Chỉ có rằng người kiến thức và nhiệt thành, thì tự đặt cho mình cái nhiệm vụ đưa đường chỉ lối cho quốc dân, dùng tờ báo làm lợi khí truyền bá tư tưởng. Thế thôi!
- Nhưng tôi tự xét mình, xưa kia thì tầm chương trích cú, học cái lối ấy không ích lợi cho ai, mà còn có tội nữa, vì nó làm cho mất nước. Cho nên bọn nhà nho chúng tôi chỉ là lũ phế nhân. Cái năm còn Đông Kinh nghĩa thục, cũng có người được thâu thái học thuật mới của Khang, Lương, và của các danh sĩ Âu châu. Nhưng bây giờ, những sách ấy hiếm lắm. Lại nhìn rộng năm châu, đến nước người ta, không phải họ loanh quanh chỉ có một dúm sách mà Tàu dịch đâu. Nếu nói về nhiệt thành, thì lâu nay chúng tôi sức lực kém cỏi, mà nói về sở đắc và tài năng, thì thật không có gì.
Anh Thừa đáp:
- Thưa cụ, chúng tôi coi cụ như phụ trấp. Nếu các bậc tiền bối mà nghĩ như vậy, thì bọn hậu sinh chúng tôi tự xét mình, rất đáng xấu hổ. Vì chúng tôi tuy có may mắn, hấp thụ được học thuật mới thật, nhưng về mặt lịch duyệt, mặt chín chắn, thì chưa bén gót các cụ. Thế mà cũng dám ra làm báo, giúp nhà nước khai hóa quốc dân. Sở dĩ chúng tôi dám mạnh dạn, chẳng qua là do bầu nhiệt huyết tích lũy đầy mấy năm nay, phải đem ra mà tưới.
Cụ Tú gật đầu:
- Vâng, chúng tôi biết là tương lai nước Nam phải để phần các ngài tạo nên. Chúng tôi xin đứng ngoài, đốt đuốc châm hương mà cổ võ.
- Thưa cụ, nếu cụ không nhận viết bài mới, thì cụ cho độc giả chúng tôi được thưởng thức thơ văn của cụ vậy.
Cụ Tú lại cười:
- Thơ văn của chúng tôi làm thì có ích gì cho đời? Chẳng qua lúc nhàn rỗi thì ngâm vịnh cho qua ngày tháng mà thôi. Bản thân tôi cũng ít làm thơ. Ngày còn sinh thời ông Tú Vị Xuyên, tôi có vịnh một ít bài, gọi là trong bạn hữu, chơi vui với nhau cho quên thế sự. Ngày còn Đông Kinh nghĩa thục, tôi có làm dăm bài cảm khái. Nhưng lâu ngày, bỏ đi, tôi quên cả rồi.
Bỗng cô Lễ vào, nói với cụ Tú:
- Thưa thầy, đẻ bảo con đến chú Cả Hàng Đường có tí việc, thầy có dặn gì không ạ?
- Không dặn gì. Nói chú có rỗi thì thầy mời đến chơi thôi.
Cụ Tú còn nói thêm về văn chương là phù phiếm, không thiết thực, không bổ ích cho đời. Nhưng từ lúc cô Lễ ra cửa, thì anh Thừa không còn tâm trí mà nghe cụ Tú nữa.
Đầu óc anh để vào cô Lễ, như lẽo đẽo theo cô đến phố Hàng Đường. Có phải đây là câu cô hẹn hò với anh không? Nhưng không lẽ ngồi trước cụ Tú, anh vờ nghiêm trang như nghe, mà lại không chú ý một tý nào xem cụ nói gì. Cho nên anh đáp:
- Thưa cụ, thế thì chúng tôi chỉ còn chút hy vọng, là xin cụ quan tâm đến tờ báo của chúng tôi. Chúng tôi sẽ gửi báo biếu mãi mãi. Được cụ đọc cho, là hân hạnh quá rồi. Nếu sau này, cụ có tư tưởng gì hay, cho gọi chúng tôi lại hầu chuyện, chúng tôi xin ghi để đăng báo. Nếu cụ có bài thơ nào đắc ý, xin cụ cứ gửi đến tòa soạn, chúng tôi rất hoan nghênh.
- Cảm ơn ngài, tôi chỉ e phụ bụng ngài.
Rồi cụ cười:
- Thà phụ xã hội còn hơn để xã hội phụ mình.
Anh Thừa thở dài, đứng dậy:
- Thì giờ chúng tôi ít ỏi. Hôm nay được hầu chuyện cụ, chúng tôi tiếc rằng không được ngồi lâu hơn nữa. Vậy xin cụ cho chúng tôi cái ân huệ là thỉnh thoảng, nếu có điều gì muốn thỉnh giáo, chúng tôi được phép đến đây, nhờ cụ dạy bảo cho.
- Không dám. Nếu các ngài rỗi, mời các ngài cứ đến chơi, tôi rất lấy làm hoan hỉ.
Anh Thừa ra cửa. Cụ Tú đi tiễn. Anh chào cụ bà. Rồi trước khi chào cụ ông, anh nói:
- Chúng tôi gửi lời cụ hỏi thăm cậu Nghĩa.
- Cảm ơn ngài. Độ này buổi tối, cháu hay đến nhà các bạn để học.
- Chúng tôi được quen cậu trong vụ tẩy chay đấy ạ. Thật là một người ngoan nết. Chúng tôi coi như em ruột.
- Dạ. Cũng xin gửi lời thăm cụ Điều.
Anh Thừa sững người, nhìn cụ Tú:
- Thưa, cụ Điều chúng tôi không ở Hà Nội nữa. Cụ đã vào Huế từ lâu, sung vào viện Thái y. Hoàng thượng vời mãi mà không vào thì không phải đạo!
Cụ Tú cười:
- Bây giờ tôi mới biết. Cụ kín đáo thế đấy.
Anh Thừa dạ, rồi chào:
- Xin lạy cụ.
- Không dám, chào ngài.
Hai người vái nhau.
Anh Thừa đi thong thả cho quá nhà cụ Tú, rồi cắm cổ bước thật mau, một mạch đến hết Hàng Ngang.
Anh đứng chờ ở ngã tư, lòng khấp khởi.
Cô Lễ không còn lối khác để về Hàng Đào. Thế nào cũng gặp nhau.
Anh với cô, ai vui sướng hơn ai?
* * *
Anh Thừa đứng đợi, mắt nhìn thẳng suốt đến hết phố Hàng Đường. Anh không để ý những người đi bộ trên vỉa hè, mà chỉ nhìn vào những chiếc xe chạy ở đường. Anh biết rằng những cô gái nhà thi lễ như cô Lễ, ban tối, không đi bộ một mình ở phố, mà phải đi xe, cho bọn công tử bột nó khỏi theo để bờm xơm. Và tất là xe sắt, vì chỉ người ăn chơi mới đi xe cao su. Vả dù không nắng mưa, nhưng thế nào xe cũng phải giương mui cho kín đáo.
Trong đầu óc của anh bây giờ mới nảy thêm một ý nghĩ, là cố lấy cho được cô Lễ làm vợ ngay. Không phải chỉ vì cô có hai cái nhà gạch, đem cho anh cái vốn để làm lại cuộc đời, mà còn để báo thù cái ông thầu khoán lõi đời. Ông này đã mua rẻ cái nhà của anh để buôn sự lừa lọc của Hội bảo hiểm mà lấy lãi. Nhưng muốn có nhà, ông ta đã phải bỏ vốn bằng tiền. Còn anh, lấy được cô Lễ, anh chỉ phải dùng có ngọn lưỡi mà chiếm được những hai cái nhà và một người, vậy thì một già một trẻ, ai thắng ai, ai đáng phục hơn ai?
Bây giờ hạnh phúc sắp đi qua, lại sẵn sàng để anh tóm lấy, mà anh buông trôi mất, thì anh hèn lắm, không đáng sống nữa.
Quả nhiên, một lát sau, cô Lễ đi xe sắt giương mui, sắp đến ngã tư. Anh Thừa hồi hộp. Giờ phút này là giờ phút hệ trọng, nó quyết định tương lai của anh đây. Anh phải ghì ngay lấy nó. Anh vội vàng ra tận giữa đường, giơ một cánh tay để ngăn xe lại. Anh làm như hai người trong một gia đình bảo nhau về công việc:
- Cô đã mua được chưa? Ở hiệu Nhân Hòa đường Hàng Buồm có đấy. Cô đến mà chọn.
Từ thuở bé, cô Lễ chưa nói dối ai bao giờ. Nhưng lần này, nếu cô e ngại với lương tâm, thì phụ trái tim. Cô lúng túng, không bảo người phu xe hạ càng, cô bước ngay xuống đất.
Rồi ngượng nghịu, cô trả tiền xe, đi thẳng sang Hàng Buồm, không quay lại sau, xem anh Thừa có theo không.
Cố nhiên anh Thừa đi theo cô. Đến hiệu Nhân Hòa, cô vào trước.
Vì lúc ấy, hiệu bào chế đông khách đến cân thuốc, cho nên thấy anh Thừa đứng cạnh, cô có thể tự nhiên được.
Anh Thừa vừa nhìn vào tủ hàng, vừa nói khẽ:
- Cô đi quá đến phố Mã Mây, tôi cần nói chuyện nhiều.
Đầu không nhúc nhích, cô trả lời:
- Không tiện.
- Hay sang phố Phúc Kiến, cũng vắng.
- Không tiện.
- Hay sáng mai, cô đến tòa báo. Buổi sáng, không có ai. Cô làm như đến mua báo dài hạn.
- Không tiện.
- Bao giờ tôi có thể gặp riêng cô, ở đâu?
- Thôi.
Anh Thừa im một lát, rồi hỏi:
- Viết thư có được không?
Cô Lễ không đáp. Anh Thừa lại hỏi:
- Làm thế nào để đưa thư được?
- Ở đầu phố, như ban nãy.
- Tối mai nhé.
Cô Lễ lắc đầu.
- Ngày kia nhé.
Cô Lễ thở dài, rồi hơi nhúc nhích đầu để gật.
Anh Thừa được nhẹ nhõm cả người.
Cô Lễ vờ đi ra chỗ khác xem hàng một tí, rồi quay nhìn anh Thừa và ra đường. Anh Thừa theo sau. Cô gọi xe, mặc cả hai xu về Hàng Đào, bảo giương mui, rồi lên ngồi trên đệm. Xe đi, tiếng bánh sắt lọc cọc trên đường đá bé dần, tiếng trống thình thịch trong ngực của anh Thừa cũng bé dần.
* * *
Dùng chữ nghĩa để viết vào giấy cho thành văn, là một việc mà từ thuở bé, anh Thừa chưa hề làm. Huống hồ lại viết cho cô Lễ bức thư đầu tiên, thì cố nhiên không thể nôm na như những bài quảng cáo mà anh đã phải nặn óc mãi mới làm nổi. Phải là con nhà văn tự, quen làm văn, làm thơ, mới nghĩ nổi những câu hay, đáng trao đến tay người ngọc.
Anh Thừa không dám nhờ ông nhà thơ lão thành Tình muôn thuở, vì ông ta bận, lỡ cứ ừ bừa, rồi không viết, thì hỏng việc lớn của anh. Anh mượn Tiêu Lang viết hộ, đưa cho dăm đồng, gọi là nhuận bút. Tiêu Lang vốn thạo viết thư cho gái, vì ngay từ ngày còn đi học ở trường Cố, anh ta đã chép được vô số mẩu thư tình vào một quyển vở dày, cho nên nhận giúp ngay.
Sáng hôm sau, anh nhà báo trẻ tuổi trao cho anh Thừa bản thảo.
Anh Thừa đọc đi đọc lại, gật gù khen:
- Hay lắm! Văn chương bay bướm thế này mà có năm đồng bạc. Rẻ lắm! Mày ít tuổi mà đã biết đem thiên tài để phụng sự nghệ thuật hơn là đồng tiền! Tao phục!
Tiêu Lang sung sướng:
- Bức thư tao viết hộ mày, cho nên tao chọn đằng hạng nhất đấy nhé.
Anh Thừa gật đầu:
- Tao biết. Nhưng tao muốn nhờ mày giảng cho một vài câu tao chưa hiểu nghĩa.
Tiêu Lang bĩu môi:
- Mày ngốc quá! Văn chương thì ý tại ngôn ngoại. Nguyễn Du viết: Làm cho hại, cho tàn, cho cân. Đến bố Tây cũng không giảng nổi từng chữ Cho, nhưng cứ phải khuyên như đổ son vào thôi! Mày chỉ việc chép nguyên văn bức thư này, rồi gửi đi, đứa nào không cảm, tao cứ ăn cứt!
Một lát, anh ta tiếp:
- Trừ phi nó không cầm, mình mới tiếc công thôi.
Rồi cao hứng, anh ta dạy:
- Đi chim gái mà quẳng thư cho gái, tao sợ nhất cái con nó không cầm thư. Còn nó đã cầm, mà dù nó xé ngay trước mặt mình cho mình trông thấy, thế là nó bằng lòng đấy.
- Sao?
- Nó không cầm thư, thì mình chả hiểu nó nghĩ thế nào. Chứ nó xé, tức là có tỏ ý rồi đấy. Con Tuyết Mai của tao, ngày mới đầu, thấy tao đưa thư, còn chửi tao kia, chứ đừng tưởng dễ. Thế mà sau, tao cũng chinh phục được em. Kiên tâm chịu mặt dày là phương châm chim gái của tao. Nghệ thuật này, tóm tắt lại, có mấy tiếng ấy.
Anh Thừa tặc lưỡi:
- Không trách người ta bảo tương lai nước Nam không kém hèn. Các cụ nhà ta ngày trước không nghĩ được như mày bây giờ đâu. Con hơn cha là nhà có phúc!
Tiêu Lang đắc chí:
- Cái đó đã hẳn. Cho nên tao muốn xui không mày điều này. Là phàm thư viết cho gái, bao giờ cũng nên sao thêm ra một bản nữa.
- Để làm gì?
- Để ngộ nó có xé, thì có bản sao mà chép nguyên văn, để đưa lần thứ hai. Vả lại, một đời tài trai, có phải chỉ chim có một con thôi đâu. Cho nên có giữ được bản sao, thì đến đứa sau, mình lại dùng.
- Khôn quá! Khôn quá! Thật là bài học tuyệt trần!
Tiêu Lang hơi nhếch mép cười để tỏ ý kiêu ngạo mà nhận lời khen dĩ nhiên ấy. Rồi dặn:
- Mày xem, nếu bức thư có dài quá, thì ngắt ra làm hai, làm ba lần để gửi dần. Muốn ngắt chỗ nào cũng không thiếu nghĩa đâu.
Anh Thừa lắc đầu, nhìn quân sư, cười:
- Thôi. Văn chương thế này mà có năm đồng bạc là rẻ quá rồi. Chả lẽ đi mua ái tình của thiên kim tiểu thư, lại nỡ xử bần tiện, ngắt ra làm mấy lần, để mỗi lần tốn độ đồng rưỡi hay hai đồng thôi à!
- Tùy mày đấy.
Anh Thừa chép áng văn tuyệt bút. Bức thư ấy như sau:
 
Thưa quý nương
Gặp nhau duyên nợ ba sinh.
Đố ai ngoảnh mặt làm thinh cho đành!
Thư này gửi lại than mình,
Thử đưa cho khách hữu tình xem sao…
Lâu nay nghe nói, biết rằng hạt ngọc Lam Điền tiếc tài Đạo Uẩn, cành hoa lẻ bạn, thương số Văn Quân, nghĩ thục nữ mười phần tài điệu, càng thêm yêu kính. Ngàn thu sau trước, giống đa tình là khách văn nhân, thế mà hoa rơi im tiếng, lan khắp cành không, trăng sáng có soi vào cảnh mộng.
Lá thư này không dám đem lòng trêu ghẹo, thật là thương vì tài mà tiếc vì phận, xót cho người lại giận cho mình.
Đa tình ta lại gặp ta,
Một lời tri kỷ ấy là yêu nhau.
Cho nên,
Tương tư từ độ trăng tròn,
Tâm tình non nước giữ hồn khóc oan.
Lâu nay muốn mượn cánh hồng để ngỏ ý với quý nương, nhưng lại sợ mạch dừng tai vách, rồi nữa tiếng này biết để ai mang. Lửa tâm nung nấu, càng dập càng nồng, tơ nhện vấn vương, một dây một buộc. Thật là trong gang tấc mây quan san, nhẹ bước định lên thềm Quế, song vì chưa tiện đường mây, buông thuyền muốn đến non Bồng, song cũng còn trông chiều gió.
Mưa mới buồn tình, gió đông trêu khách, chiếc én lạc đàn, tâm thần đau khổ, nếm đủ mùi rát lưỡi, chịu đã nhiều nỗi chua cay, hay đâu, giữa bước phong trần, gặp người thục nữ, há không phải là sự may mắn cho thân này lắm sao?
Thưa quý nương, tuy rằng
Mắt xanh một liếc thoáng qua,
Biết nhau nửa mặt ấy là tri âm.
Nhưng than ôi! Biết lối tìm xuân, xuân đã muộn, tuy chưa sum họp nhưng đã trông thấy cái bước chia phôi. Tuy nhiên, lên dốc biết kìm cương ngựa, qua sông nhận khách chèo thuyền, nên già tay lái. Đã sinh ra kiếp… để trốn khỏi vòng… nếu quý nương không hiềm tiểu sinh này là cô lậu, thì những lúc đêm khuya canh vắng, tuyết đọng sương gieo, đôi ta sẽ lấy thư từ làm máy lưu thanh, trao đổi tâm tình cho nỗi lòng khuây khỏa.
Ái khanh ơi! Mộng hồn của kẻ thương tâm này như đã cùng với ngọn trào kia hôm mai lên xuống, rồi theo lạch nước ra biển khơi mà mênh mông bát ngát, nào có biết đâu là bến là bờ. Đang mộng du trên làn khói bạc, chợt thấy một cảnh chiều hôm thê lương thảm đạm, như trăm nghìn những bước khác sườn núi bóng chim, đầu non nhạn lạc, trông đóa hoa mà buồn, nhìn bức tranh mà cảm, tuy không biết đối với kẻ này, quý nương có để mắt xanh mà nhìn chăng tá!
Tự biết là kẻ si tình, nên muốn tìm cách lánh xa, cho tỏ lòng đoạn tuyệt, khỏi gây nên cái ác quả về sau. Không ngờ tuy xa cách quý nương hàng ngàn dặm, mà có khi mở mắt, cũng hình như phảng phất thấy quý nương đương tha thướt trên nội cỏ bồn hoa nọ.
Thương ôi!
Má đào từ lọt mắt xanh,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho ra!
Bởi vì,
Héo gan nát ruột vì ai,
Ai ơi có tưởng đến người vô duyên?
Trời ơi, tháng bảy mưa Ngâu, ai ngờ chính độ ngày Ngâu mà nắng gắt. Nghĩ đến nỗi Ngưu lang Chức nữ chẳng còn giọt lệ thương nhau mà giật mình! Ví bằng quý nương cứ một niềm sắt đá, giá ngọc treo cao, thì chẳng hóa ra Chức nữ riêng để mặc Ngưu lang trên đường đời hiu quạnh?
Quý nương có đức hạnh. Cái đức hạnh vốn là của quý trong nữ lưu. Nhưng xin quý nương xét cho rằng không gì êm đềm cho bằng ái tình, cái ái tình không ra ngoài giới hạn. Vậy một mai, ắt quý nương cũng phải chọn một người ý trung nhân mà yêu, mà quý, mà làm bạn trăm năm. Chứ hẳn những người trong áng tân tư tưởng như quý nương, chẳng chịu để cho quyền trên ép uổng. Vậy xin quý nương đoái thương đến kẻ cô lậu này, chớ để vì thương vụng yêu thầm mà mang bệnh.
Đau lòng ai lắm ai ơi,
Muốn kêu một tiếng nhưng trời quá cao!
Vậy xin quý nương cho trước kẻ si tình này một đơn thuốc.
Cùng nhau nguyện ước chung tình,
Trên trời dưới đất có mình có ta.
Xin quý nương nghĩ đến tương lai của kẻ cô lậu, đừng để giữa tuổi thanh xuân, đương hăng hái tiến thủ, đã bị thất vọng vì tình, mà bao nhiêu nhuệ khí sẽ tiêu tan như mây như khói.
 
Non mấy trùng, Nước mấy trùng,
Mây non trăng nước ngẩn ngơ lòng.
Ai buồn, hoa biết không?
Người cũng trông
Hoa cũng trông,
Hồn xưa mộng cũ giấc mơ mòng.
Thẹn mình tu chửa xong.
TYL bái
 
Chú thích
67)

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IX
BỒI DƯỠNG TƯ TƯỞNG  
 
Để bồi dưỡng tư tưởng cho cô Lễ, anh Thừa nảy ra một sáng kiến. Anh nói với ông Hoài Tân Tử:
- Chúng ta đã tìm hết cách để làm cho báo mình chạy. Nhưng nó chỉ nhích được có một tí. Là bởi vì chỉ có mỗi một mình mày ngày nào cũng phải vắt óc ra để viết, thì có là thánh cũng không thể viết hay được. Nếu mày không muốn cứ gò lưng mà kéo cái xe bò nặng lên dốc, thì mày phải tìm cách cho người khác viết hộ mày như ngày nọ. Nhưng chẳng lẽ cứ phỏng vấn mãi, ta nên mở cuộc trưng cầu ý kiến, mày ạ.
Ông Hoài Tân Tử gật gù khen:
- À, té ra là mày tiến bộ trong nghề làm báo rồi. Phải. Chủ bút thì phải quan tâm sao cho báo có bài hay chứ! Cái lối đốt báo Trung Bắc và báo Thực Nghiệp của mày chỉ là lối cạnh tranh ti tiện, đểu cáng của bọn con buôn. Những người viết vẫn là những người cao thượng, không thèm làm. Sở dĩ ngày ấy tao tán thành là vì bí thế quá, mà tao chưa nghĩ được ra nên làm thế nào hơn. Bây giờ mày vào làng báo, mà nghĩ được như người viết báo, tao hoan nghênh.
Ông bắt tay anh Thừa, rồi tiếp:
- Cái lối trưng cầu ý kiến này, các báo Sài Gòn vẫn làm, nhưng báo giới Bắc Kỳ, thì thế là mới lắm đấy. Nhưng nên trưng cầu về vấn đề gì cho hợp thời nhỉ?
- Về nữ quyền, mày ạ. Mày không biết là đàn bà con gái nước ta đương như bị nhốt vào trong lồng, họ chỉ muốn đòi ra thôi à? Mình mà cổ động nữ quyền, họ được tháo khoán, tự do bay đi, thì chẳng những họ ơn mà nam giới mình cũng được hưởng nhiều cái lợi lắm.
Ông văn sĩ cười:
- Mày lại đương mồi chài đứa nào, nên mới nghĩ đến nữ quyền để kiếm lợi cho mày, chứ mặt mày mà nghĩ nổi đến lợi cho xã hội.
Anh Thừa đáp:
- Riêng đếch gì tao. Thế mày có muốn chúng nó được tung tẩy không nào?
Ông Hoài Tân Tử nghĩ một lát, rồi nói:
- Nhưng tao chỉ sợ độc giả chửi cho chết. Bởi vì cổ động nữ quyền là nên, nhưng cần cho họ biết cả nhiệm vụ. Chỉ tính đến quyền lợi mà không làm nhiệm vụ, thì rất nguy hiểm, xã hội sẽ tan nát. Rồi độc giả đổ cho mình cái trách nhiệm làm nữ giới hư hỏng, họ tẩy chay báo mình, thì đến phải đình bản mất.
- Sợ đếch gì! Mình cứ cổ động cho vợ con người khác tự do, miễn là mình nghiêm cấm vợ con mình đọc báo mình là được chứ gì?
- Nhưng thế nào nó chẳng chịu ảnh hưởng của xã hội?
- Vợ con mình mà đòi tự do, thì mình đánh cho chết!
Ông Hoài Tân Tử bật cười:
- Được, tao cứ nghe mày, mở cuộc trưng cầu ý kiến về nữ quyền. Tội giết báo mày phải chịu nhé.
Anh Thừa gật.
- Là giuốc-na-lít mà chỉ âm mưu giết báo người, rồi lại tự tay giết báo mình, không là đặc biệt à?
Hôm sau, báo Chấn Hưng đề ra ba câu hỏi như sau:
1. Ta có nên chấn hưng nữ quyền không?
2. Việc người con gái lấy chồng có ở trong phạm vi nữ quyền không?
3. Về hôn nhân, người con gái nên giữ những quyền gì và nhường cho cha mẹ những quyền gì?


Ông Hoài Tân Tử cho xếp mấy dòng này bằng con chữ đậm, đóng trong cái khung, đặt giữa trang nhất, ông đắc ý, bảo anh Thừa:
- Rồi mai, thư trả lời như bươm bướm cho mà xem.
Nhưng báo ra ba số rồi, mà chưa có độc giả nào đáp những câu về nữ quyền, ông Hoài Tân Tử an ủi anh Thừa:
- Họ còn phải nghĩ chứ? Vấn đề này quan trọng, đặt bút viết ngay thế nào được?
Rồi ba số nữa. Vẫn chưa có thư trả lời. Ông Hoài Tân Tử nói:
- Tao có kinh nghiệm, cho nên tao biết. Chúng mày đừng sốt ruột. Mai mà tòa soạn không nhận được bài, chúng mày cứ vật tao ra, ghè cho ba dọc tẩu vào đầu.
Nhưng không ai nỡ đánh cái người duy nhất biết viết bài của tòa báo, dù ngày hôm sau, vẫn chưa có bài gửi đến. Và cả ngày hôm sau nữa, cũng vậy. Ông Hoài Tân Tử cáu lắm:
- Tiên sư chúng nó, câm hết cả rồi à? Có lẽ phen này ông phải mở cuộc thi mới câu được chúng nó chắc?
Thế là hôm sau, báo Chấn Hưng đăng một bài như sau:
MỘT CUỘC THI ĐỂ TRƯNG CẦU Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Từ hôm bản quán trưng cầu ý kiến độc giả về nữ quyền, mỗi ngày tòa soạn nhận được đến hàng chục lá thư trả lời, bài nào ý kiến cũng xác đáng và văn chương cũng trau chuốt. Không kể bạn gái chú trọng đến nữ quyền, nhiều bạn trai, kể cả một vài bậc tai mắt trong xã hội, cũng không thờ ơ với vấn đề quan trọng vào bậc nhất ở nước ta hiện nay. Xin trân trọng tất cả các vị đã có lòng yêu bản quán.
Song, vì bài mỗi ngày gửi đến một nhiều mà người của tòa soạn bản quán chỉ có hạn, cho nên đọc không xuể để lựa chọn bài hay nhất. Thế mà có nhiều thư viết về khuyên bản quán nên đổi cuộc trưng cầu này thành cuộc thi. Bản quán xin lĩnh cái ý rất hay này.
Vậy kể từ nay, ba câu hỏi để trưng cầu ý kiến về nữ quyền đăng trong các kỳ báo trước là một cuộc thi.
Cách chấm giải và giải thưởng thế nào, số báo ngày mai sẽ tuyên bố rõ.
Bản quán mong rằng tất cả nữ giới hay nam giới, ai đã là người có nhiệt tâm với việc chấn hưng xã hội, hãy mạnh dạn hơn nữa đề đạt ý kiến của mình về vấn đề nữ quyền.
Lời dặn: Thư viết một mặt. Không phải dán tem. Bài không trúng giải hay không đăng báo không phải trả lại bản thảo. Ký tên bằng biệt hiệu, nhưng tên thật và chỗ ở viết vào tờ giấy riêng, để trong một phong bì dán kín. Phong bì gửi bài dự thi, đề ở ngoài bốn chữ: Dự thi nữ quyền.
Cuộc thi đề ra, ông Hoài Tân Tử khấp khởi mừng rằng nhất định phen này đỡ phải nặn óc viết những bài nhạt hoét. Ông cắt cho anh Thừa làm việc sơ khảo, nghĩa là nếu có bài dự thi gửi về, thì xếp vào trong một tờ bìa, gọi là hồ sơ dự thi, rồi hàng ngày gửi lên nhà chị Sáu.
Nhưng tuy cuộc thi đã dử giải thưởng bằng tiền mặt và bằng văn phòng tứ bảo, mà tòa soạn chẳng nhận được một lời hưởng ứng. Ông Hoài Tân Tử bực lắm, bảo anh Thừa:
- Bây giờ tao mới nghĩ ra. Phàm cuộc trưng cầu ý kiến, nếu chưa có bài tung, thì chưa có bài hứng. Vậy thì tòa soạn mình phải viết một bài ký tên người khác, để đăng báo trước, rồi tự khắc độc giả sẽ gửi bài của họ đến sau.
Anh Thừa đáp:
- Mày nói có lý đấy. Thế thì mày viết đi.
Ông Hoài Tân Tử lắc đầu:
- Tao không viết. Vì tao bận quá. Mày muốn có lợi thì mày phải viết. Chắc mày có nhiều ý kiến viết ra thì tốt cho mày.
- Đành vậy, nhưng tao có biết viết đâu?
Ông Hoài Tân Tử cau mặt:
- Viết một bài ký tên đàn bà kia mà, sợ gì mà không dám?
- Mày bảo thằng Tiêu Lang.
Ông Hoài Tân Tử nghiêm nét mặt, mắng:
- Con khỉ! Chim gái thì bạo, mà viết bài chài gái thì nhát như cáy! Mày cứ viết đi, viết thế nào cho thành câu là được, văn chương mà ký tên đàn bà con gái thì cần gì sạch sẽ lắm. Mày không biết ngày nào tao cũng phải khổ về chữa bài của chúng nó để đăng vào mục Tiếng oanh à?
Anh Thừa cười:
- Thế thì viết thế nào được?
- Viết thế nào thì viết. Mày nên nhớ rằng văn chương của phụ nữ thật thì thối lắm, nhưng đã là phụ nữ, thì ỉa ra cũng có thằng khen là thơm, hiểu chưa? Mày cứ mạnh dạn mà viết đi, có thối lắm cũng chỉ bằng văn chương Tiếng oanh, chứ không thối hơn đâu mà sợ!
Anh Thừa đành phải nhận lời.
Đêm hôm ấy, anh phải uống cà phê để thức.
Vì phải làm việc bằng óc nhiều, nên anh thấy nhức đầu. Anh oán ông Hoài Tân Tử đã đùn việc viết lách cho vai chủ bút. Anh ghét lây cả bọn viết văn, từ thằng oe con chưa sạch hơi sữa đã tự cao tự đại, coi người bằng nửa con mắt, chỉ quây quanh bàn đèn để chửi đổng. Trong báo Chấn Hưng, ngay cả thằng oắt Tiêu Lang đã dám khinh ông Lăng và khinh anh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
X
NỖI LÒNG  
 
- Em ạ, chị chỉ ân hận một nỗi là trước kia, chị tưởng người ta có vợ rồi, nên mới theo em đến đấy để in giấy cổ động tẩy chay. Chứ nếu biết thế này, thì chị chả đến. Bây giờ người ta hỏi chị, chị sợ miệng thế gian bình phẩm chị đã thế nào với người ta rồi chăng.
Cậu Nghĩa đặt bút xuống bàn, thủng thỉnh đáp:
- Thế thì chị cứ nói toạc ra là chị bằng lòng đám nào có được không?
Cậu Nghĩa nói thế, là bởi vì trong tháng này, cô Lễ có những hai đám nhờ người đến đánh tiếng xin cô. Một đám là anh Thừa, nhờ bà huyện Dần ở Gia Lộc về nói với hai cụ Tú. Một đám là cậu Nhân, học trường Cao đẳng Lục lộ, cháu họ bà Cả Hàng Đường. Cô Lễ chưa biết mặt cậu Nhân, nhưng do bà Cả làm mối, nên cô biết cậu ta góa vợ, chưa có con, nết na, đứng đắn, năm nay thì ra làm tham biện. Cô hay đến thăm ông bà Cả, chắc cậu Nhân gặp ở đấy. Nhưng cô thì không biết mặt cậu, vì bao giờ thấy trai lạ, cô cũng trông thẳng. Còn anh Thừa thì cô rõ quá rồi. Chẳng phải hỏi dò ai, ngay từ trước, chả cứ ý mặt mũi, cả đến tâm tình, quá khứ và hiện tại, cô cũng biết hết.
Cho nên không cần suy nghĩ lâu la, trong bụng cô, cô đã chấm ai rồi. Vì vậy, thấy cậu Nghĩa nói thế, cô chỉ cười:
- Em nghĩ hộ chị.
Cậu Nghĩa tủm tỉm:
- Em có lấy chồng đâu mà em nghĩ.
Cô Lễ mặt đỏ bừng, ôm đầu, vừa rúc rích cười, vừa chạy vào nhà trong.
Cụ tú Phúc Lâm bà thì ngả về phía cậu Nhân. Có thể là do bà Cả Hàng Đường nói vào cho cháu bà cũng có, nhưng không phải là cụ không suy nghĩ. Vì cái trách nhiệm làm cha mẹ đối với việc trăm năm của con là to. Hạnh phúc một đời của cô Lễ là do hai cụ quyết định. Cụ không kể cậu Nhân tuy góa vợ, nhưng chưa có con thì vẫn là con trai thôi; cụ không kể cậu Nhân nay mai đỗ ra, là ông tham; cụ chỉ yên tâm về cái cô được làm dâu ông bà hai Hiền, là chỗ nhà nho. Ông bà hai phúc hậu, biết quý người, cho nên đẻ ra cậu Nhân cũng nết na, đứng đắn. Cô Lễ sẽ là cháu hai bề của bà Cả, mà bà Cả đứng mối, thì chắc cô được bà dạy dỗ, bảo ban cho những điều không nên không phải, để giữ tình thân cho cả ba gia đình.
Cụ nghĩ về anh Thừa. Tuy cũng là con nhà có chí khí học hành giỏi, ăn ở có thủy có chung, chẳng kém gì cậu Nhân, nhưng dù sao thì gia đình anh cũng là gia đình xa lạ. Vả lại, bây giờ anh bỏ nghề làm thuốc, ra làm báo, là cụ không thích. Cụ nói với cụ ông:
- Thế là anh này đương có nghề đứng đắn hẳn hoi lại đi làm cái việc lông bông, gần như vô nghề nghiệp. Xưa nay, các cụ vẫn coi làm văn thơ là việc phù phiếm. Các cụ bận về chức vụ, có lúc nào nhàn rỗi mới làm văn làm thơ để tiêu khiển. Bây giờ gọi làm văn làm thơ để đăng báo là nghề kiếm ăn, thì tôi không chịu, ông chả thấy anh Sinh làm báo là gì. Anh ta làm ở Đông Dương tạp chí đâu có mấy tháng, lúc tìm được việc chắc chắn hơn, thì anh ta thôi làm báo ngay. Cho nên, làm báo là một việc tạm bợ, để chờ đợi một chân khác. Mà kể ra, làm báo cũng bấp bênh thật, báo còn thì nghề còn, báo đình bản thì nghề mất. Bảo làm báo là nghề thì khó nghe thật. Tôi không biết làm chủ bút báo thì giỏi thơ, giỏi văn thế nào, chứ mà tôi suy anh Sinh ra thì biết là chỉ bẻm mép, chế bác chẳng từ ai. Thấy nhà ai có việc gì, là vào nhật trình ngay, để nói xấu. Ông Vĩnh chả bị bát Soạn cho một trận ở Hàng Bông là gì. Mà ai danh giá hơn ông Quỳnh, bây giờ cũng bị đánh xuống rồi. Cho nên, tôi lạ cho cái anh này có đức hạnh mà sao lại đi làm cái nghề lăng nhăng khởm này [68].
Một lát, cụ nói thêm:
- Mà quái, là con nhà tử tế, nhưng tôi trông mặt mũi, nhất là cái mồm đầy răng vàng, cứ như thằng kép hát tuồng hay như thằng sốp-phơ ấy.
Cụ Tú ông ngồi lặng. Cụ vừa nghe, vừa mở từng trang báo Chấn Hưng ra để nhìn. Chắc cụ có suy nghĩ. Một lát, cụ đứng dậy, vào trong buồng thờ, lấy ra cuộn tử vi, xem lại lá số của cô Lễ. Cụ tính, cụ bấm, rồi cụ thở dài, không nói gì.
Trong khi ấy, cô Lễ từ nhà trong ra nhà ngoài, lại đi từ nhà ngoài vào nhà trong. Cô biết giờ phút này là giờ phút quyết định hạnh phúc cho đời cô. Cho nên, cô nghe ngóng, nhìn sắc mặt của cha mẹ, để đoán ý.
Nhưng đến khi hai cụ không nói chuyện với nhau nữa, và tối hôm ấy cụ bà không bảo gì cô, thì cô chỉ thở dài. Có hai con đường trước mặt cô, cô nhìn rõ rồi. Nhưng không biết được đi trên con đường này, hay đi trên con đường kia. Đi trên con đường này thì thế nào? Đi trên con đường kia thì thế nào? Thân gái như hạt mưa sa. Đời người con là của cha mẹ. Thôi thì tùy cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.
Một hôm, cậu Nghĩa học xong, mới gấp sách vở lại, đến ngồi gần cô Lễ, nói nhỏ:
- Chị ạ. em đã đi hỏi rồi. Cái anh Thừa này không tốt đâu.
Cô Lễ tái mét mặt.
- Hình như anh ta lấy nhiều vợ rồi, nhưng lại bỏ, chứ không phải chưa có vợ đâu.
Cô Lễ cuống queo, hai tay quờ quờ xuống chiếu.
- Mà cũng không rõ anh ta làm thuốc thế nào.
Cô Lễ khẽ đáp:
- Thầy với chị đã uống thuốc của Phòng thuốc nhà giàu đấy.
Ý cô muốn nói thuốc hay, nhưng cô sợ lộ cái ý là bênh anh Thừa. Cậu Nghĩa nói:
- Anh ta không phải người tốt, hay đi lừa. Không khéo cũng định lừa nhà ta đấy.
- Thế sao ngày độ tẩy chay, học trò lại hay lui tới nhà anh ta, và khen là tốt.
Cậu Nghĩa thấy chị bẻ lại thì im, một lát mới nói:
- Tốt là tốt với tẩy chay thôi. Còn cái tư cách, có lẽ là không tốt.
- Sao lại có lẽ. Phải biết chắc chắn để nói chắc chắn, kẻo oan người ta.
- Có oan cũng oan vừa, chứ không oan hẳn. Cái chuyện ông cụ Điều nào đó nói về cô con gái ở Móng Cái với anh ta, là chuyện bịa đặt đấy.
- Nhưng thầy quý cụ Điều, thầy vẫn khen là đứng đắn kia mà.
- Thầy ít đi ra ngoài, nên có thể là thầy xét người không đúng. Thầy bảo cụ ấy là bạn ông Tú Xương thì là chỗ thanh khí. Nhưng có bao giờ cụ ấy nói đến thơ ông Tú Xương đâu. Câu chuyện anh ta với cô con gái Móng Cái, rồi sau em nghe hệt như chuyện ông Đặng Trần Thường ngày xưa, lúc ông ta vào Phú Xuân theo ông Nguyễn Ánh để phản lại nhà Tây Sơn ở Bắc Hà. Ông ta cũng gặp người con gái giúp tiền như thế. Rồi đến khi ông Gia Long lên làm vua, ông Đặng Trần Thường ra Bắc Hà tìm ân nhân cũ để lấy làm vợ, thì người ấy đã chết. Từ đó, ông ta lấy ai cũng nhận là thứ, là thiếp mà thôi.
Cô Lễ thở dài. Cậu Nghĩa tiếp:
- Mấy lị em nhận thấy thế này. Bà cử Dần chẳng tử tế gì với nhà ta đâu. Trước kia, bà ấy xin chị làm lẽ bà ấy, dỗ dành mãi, nhưng chị không bằng lòng. Thì tất nhiên, bà ấy không yêu gì chị. Bây giờ bà ấy lại đến, hẳn chả phải định đem hạnh phúc cho nhà ta. Có khi bà ấy rước tai họa đến để rửa nhục rửa thù cũng nên. Em nghe nói hình như về tích cái nhà mua bán thế nào ấy, cái anh Thừa này bị bà ta lừa, nên bây giờ phải đền anh ta bằng việc giúp anh ta hỏi chị.
- Bà ta là bà quan mà?
- Là bà nào mà chả biết lừa. Càng là bà quan lại càng lừa khỏe, chị ạ.
Thấy mỗi câu đưa ra, cậu Nghĩa lại chống được ngay, cô Lễ luôn luôn thở dài. Cậu Nghĩa lại nói:
- Về việc chị, em nghĩ thế này. Nhà ta là nhà nho. Ngày trước, thầy có can dự việc Đông Kinh nghĩa thục, nhưng vì không đủ chứng cớ, cho nên nhà nước không làm án được. Chị em mình lớn lên, cũng là người biết nghĩ. Vì từ việc Đông Kinh nghĩa thục, việc ông Đề Thám bị giết, việc ném bom hai thằng quan binh Mông-grăng và Sa-puy ở Hà Nội ô-ten và lão tuần Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình, việc nhà nước bắt lính, bắt mua quốc trái gửi sang Tây, cho đến những năm gần đây, việc vua Duy Tân ở Huế, việc ông ba Lương Hoài Quyến [69] khởi lên ở Thái Nguyên, việc vua Khải Định ngự giá Bắc tuần, việc tẩy chay, thầy đều nhân lúc rỗi, giảng cho ta hiểu. Tuy thầy nói ít, nhưng ý thì nhiều. Thế là thầy muốn dạy dỗ cho chị em ta phải yêu nhà, yêu nước. Việc mà thầy đẻ kén chọn kỹ cho chị, chắc cũng là do muốn có chàng rể cho xứng đáng. Vì vậy, em nhắc lại việc cũ, chị đừng buồn nhé, anh Côn chết đi, là thầy tiếc lắm. Cho nên, nếu bây giờ chị lấy phải người chồng không ra gì, thì phí cả công thầy đi.
Cô Lễ nói:
- Nghe đâu anh này cũng là con nhà có đầu óc mà?
- Tin thế nào được cái lời người gán việc ông Đặng Trần Thường cho anh ta? Không khéo rồi anh ta cũng như ông Đặng Trần Thường…
Cô Lễ nhìn cậu Nghĩa để đợi một câu khen là chung tình, nhưng cậu Nghĩa tiếp:
- … Nghĩa là lừa thầy, phản bạn, đi giúp cái kẻ cõng rắn cắn gà nhà, làm cho nước mình phải lầm than nô lệ.
Cô Lễ lại thở dài, hỏi:
- Thế theo ý em thì chị nên thế nào?
- Về anh Nhân, em không biết, cho nên em không có ý kiến, nhưng về cái anh Thừa này, thì hễ bà huyện Gia Lộc có đến, chị cứ làm như độ trước, là tránh mặt đi. Em nghe phong thanh hình như đẻ mặn anh Nhân đấy. Thế ý chị về anh Nhân thế nào?
Cô Lễ yên một lát, rồi nói:
- Về việc của chị, chị cứ tùy thầy đẻ thôi. Nhưng chị chỉ nghĩ rằng bây giờ chị đã lớn, chị biết lo thân chị, thì ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên.
Cậu Nghĩa không hiểu ép duyên là ép cô lấy ai. Cậu không rõ tâm sự của cô bây giờ, để hiểu thế nào là ép. Ép, vừa là ép cô lấy cậu Nhân, vì phải bỏ anh Thừa, vừa là ép cô phải bỏ anh Thừa, để cô lấy cậu Nhân.
Đêm hôm ấy, cô trằn trọc, không sao ngủ được. Không dám để mẹ biết nỗi lòng, nên cô trở dậy, ra sân đứng thở dài, rồi khóc.
Con đường nhân duyên của cô Lễ mỗi ngày một rõ dần trước mắt cô. Bên gia đình cậu Nhân đã đi cơi trầu rấm ngõ. Và bà Cả Hàng Đường đã đến bàn với hai cụ Tú về ngày làm lễ vấn danh.
Thấy vậy, bà huyện Dần coi như hết nhiệm vụ. Bà về Gia Lộc để kèm chồng làm việc quan.
Thế là cô Lễ tuyệt vọng. Gặp anh Thừa ở chỗ anh hẹn, lần nào cô cũng chỉ khóc. Song, vì không dám đứng lâu với anh, chưa lần nào cô thổ lộ được hết nỗi lòng cho anh hiểu, để cô được hả hê. Rồi cô ốm.
Cô ốm thì ngày hẹn với anh Thừa bị lỗi. Cho nên cô càng buồn. Cô thương anh đã chờ đợi mỏi mắt. Và không những chờ đợi một lần ấy, con người si tình và chung tình này hẳn còn đón cô nhiều lần khác nữa. Chắc rằng anh buồn, và không khóc kém cô. Bởi vì cô biết anh là người rất đa cảm. Bây giờ nhật đường nhau rồi! Đứt mối dây liên lạc với nhau rồi! Rồi đây, làm thế nào để ly biệt nhau, tạ tấm lòng của người tri kỷ?
 
“Héo gan nát ruột vì ai.
Ai ơi có tưởng đến người vô duyên!”


Nghĩ đến câu ấy, cô thở dài não nuột.
Hai cụ Tú thấy cô Lễ ốm, thì khuyên cô uống thuốc.
Nhưng cô từ chối, vì tự xét mình chẳng có bệnh gì.
Hai cụ không hiểu sao, nên càng lo.
Một hôm, nằm trong chăn, cô mở mắt ra nhìn. Cô thấy ở sân, hai cụ và vợ chồng cậu Nghĩa lom khom quanh cái hỏa lò đặt cháo cho cô ăn. Bỗng cô nghĩ ngợi, cô nghĩ đến gia đình cô, rồi nghĩ đến tâm sự thầm kín của cô bấy nay. Cô đâm ra hối hận. Thì ra cô đã lầm lỗi. Có không có phép tự ý yêu một người đàn ông, dù người ấy tốt, nhưng cả gia đình không ai bằng lòng. Kết quả bây giờ là cô sầu khổ, gây lo lắng cho cha mẹ và hai em. Vậy cô phải cam chịu số mệnh, vui lòng mà tuân theo sự xếp đặt của hai cụ. Cô phải đặt chữ hiếu với cha mẹ lên trên tình riêng của cô. Hiện nay, cô còn vấn vương nên ốm. Nhưng tháng ngày qua, nỗi khổ tâm sẽ nhạt dần. Cô sẽ lại như thường, để đón chờ ngày cưới. Rồi vui duyên mới, cô sẽ quên tình xưa. Khi ấy, gặp người ấy ở đường, tất là cô quay mặt đi, hoặc nhìn thẳng. Cô coi người ấy như người dưng nước lã.
Hơn nữa, cô coi người ấy là một cái gì cần xua đuổi ngay, cho khỏi khuấy đục lòng cô đương yêu chồng.
Cô Lễ biết trước từng bước trên đường đời mà cô sẽ đi là như vậy. Dù không phải con người bạc bẽo, nhưng bắt buộc cô phải nghĩ như thế, và làm như thế. Bởi vì không ai có chồng rồi lại có thể làm khác, trừ phi là con người lẳng lơ. Cô không thể tha thứ những con người bất chính.
Vì không nên cưỡng số mệnh, cô Lễ muốn ngay từ bây giờ, ép mình theo số mệnh.
Cô phải dứt khoát với hiện tại. Hiện tại là lúc nào cô cũng còn luyến tiếc anh Thừa, một người có học thức, có đạo đức, nhiều lần đã nói ra miệng là phó thác đời mình vào hai tay cô. Cô muốn quên hẳn con người đáng thương, đáng yêu, đáng quý này. Cô muốn lánh đi một nơi, có cảnh khác, người khác, để câu chuyện khác không nhắc nhở, khêu gợi trong lòng cô nỗi buồn ngấm ngầm.
Cô xin hai cụ cho cô về quê ngoại, ở với cậu mợ là ông bà nhì Tòng. Cô nói là để tránh nơi huyên náo làm cho cô nhức đầu. Sự thực, cái nó làm cho đầu cô nhức nhói, là cái hy vọng có hoàn cảnh để hẹn hò với anh Thừa, vì cô còn ở Hà Nội này. Không hẹn hò, thì nóng lòng sốt ruột, không đứng yên, ngồi yên. Mà hẹn hò thì gặp, tình sẽ càng nặng, nghĩa sẽ càng sâu, mối tuyệt vọng sẽ càng lớn. Chứ bao giờ lại dứt khoát được. Cô là vợ cậu Nhân kia mà. Không ở Hà Nội cô còn tránh được cái ảnh hưởng về tinh thần của anh Thừa đối với cô. Tờ Chấn Hưng ngày nào cũng tới nhà, thì ba chữ Trần Đức Thừa in trên mặt báo ngày nào cũng bắt cô nhìn, như thấy mặt anh. Rồi những bài cổ động tự do kết hôn, làm cho cô buồn tủi, khi nghĩ đến quyền làm người của cô. Đến những thơ, những đoản thiên tiểu thuyết, có lẽ của anh Thừa làm, nhưng ký biệt hiệu khác, nó nói cái nỗi lòng của đôi lứa yêu nhau, sao mà giống hệt tâm sự của cô thế!
Cho nên cô phải lánh hẳn đi một nơi xa, ở tận gần chùa Hương, thì tu chẳng đi tu, nhưng cũng như thoát tục.
Cụ Tú thấy cô Lễ ốm mà muốn thay đổi chỗ ở, thì cụ bằng lòng ngay. Trước khi cô ra xe điện đi Hà Đông, cụ ông chỉ dặn một câu:
- Con nhớ nói với cậu mợ cho các em đưa đi thăm mộ ông bà ngoại.
Và cụ bà dặn thêm:
- Còn đến hôm về, nếu gặp ngày phiên chợ, thì con mua cho đẻ một chục chiếc bánh rán của nhà cụ Táo. Bánh rán nhà nó thì Hà Nội cũng phải thua.
* * *
Cô Lễ ở với cậu mợ. Cô vui thích lắm. Cái gì ở nhà này, cũng khác. Ở nhà cô, cậu Nghĩa và mợ Nghĩa ít nói, thì ở đây, ba em liến láu suốt ngày. Cô em gái tên là Trinh, mười lăm tuổi, động ngồi trên khung cửi là hát. Hai cậu em trai, Tiết và Tháo, không lúc nào để yên chân, yên tay, yên miệng. Cậu Nghĩa học chữ Tây ở trường Pháp Việt, thì Tiết và Tháo học chữ nho và chữ quốc ngữ ở nhà, ông nhì dạy. Ông nói:
- Làng này như thượng du của tỉnh Hà Đông, nên cả Mỹ Đức có mỗi một trường trên phủ.
Rồi ông cười:
- Đuốc văn minh của nhà nước bao giờ soi sáng được khắp nơi!
Cô dạy Trinh thêu bằng chỉ màu, và tỉa hoa thược dược bằng quả đu đủ. Bà nhì đứng xem, thấy con gái vụng về và có vẻ sốt ruột, thì bà bảo:
- Mấy khi chị về mà dạy cho. Con cứ chịu khó học đi.
Chiều chiều, ăn cơm xong, cô hay rủ Tiết và Tháo đi tha thẩn trên đê, nhìn cánh đồng bát ngát, nhìn dòng sông lững lờ, nhìn rặng núi lô nhô. Nhà quê sáng hơn, thoáng mát hơn Hà Nội. Được ngắm phong cảnh rộng rãi, xanh tươi, đẹp đẽ, tự nhiên cô thấy trong người nhẹ nhõm. Đến tối, cô thích bắc ghế, ngồi ở sân với các em, để hưởng ánh trăng xanh, mà Hà Nội không có. Lúc này, thấy Tiết và Tháo chạy nhảy khắp sân, cô cũng hay giỡn với hai con chim sơn ca đáng yêu ấy.
Một lần, không biết cậu nào để quên ở mặt tường hoa quyển Cách trí Trần Văn Khánh. Cô Lễ toan giấu đi, nhưng Tiết trông thấy:
- Của em, của em, chị cho em xin.
Cô Lễ đùa:
- Của chị chứ?
- Không, của em!
- Thế sao em lại để ở đây?
Nói đoạn, cô trả Tiết. Tiết cầm sách đi ba bước, rồi quay lại, cười sằng sặc:
- À phải. Chị Lễ nhận vơ là vợ nhân.
Thấy em tinh quái, đã bắt đầu nghĩ ra được tiếng để chế chị, cô bật buồn cười, đuổi theo Tiết. Thì cả Tiết lẫn Tháo cùng xô vào cô:
- Nhận vơ là vợ Nhân! Vợ anh Nhân!
Cô xấu hổ, lại đuổi theo hai em, rồi bắt được Tháo. Cô bảo:
- Bận sau, em không được nói tiếng ấy nữa nhé. Tháo vừa cười vừa đáp:
- Vâng.
Cô buông Tháo ra, thì Tháo vừa chạy, vừa quay lại:
- Chị Lễ nhận vơ, vợ Nhân.
Bà nhì nghe tiếng, cấm hai con không được hỗn với chị. Tiết và Tháo không dám chế cô nữa.
Nhưng tối hôm ấy, cô không khỏi không thao thức. Cái tiếng Nhân nhắc nhở đến tiếng Thừa. Cô man mác buồn.
Một hôm khác, tan học, Tiết và Tháo khoe với cô những tiếng mới học. Tiết nói:
- Em đố chị nhé. Tính cộng chữ nho gọi là gì nào?
Cô cười:
- Gọi là cộng chứ là gì?
- Không phải. Gọi là gia.
- Thế thì chị chịu em.
- Tính trừ gọi là gì nào?
Tháo nhắc khẽ cô:
- Giảm.
Cô nói:
- Giảm.
Nhưng Tiết xua tay:
- Không chơi nhắc. Chị biết được tiếng này mới tài. Tính nhân là gì?
- Chị chịu.
Tháo nói ngay:
- Nhân là Thừa.
Rồi hai anh em liến thoắng:
- Nhân là thừa, nhân là thừa. Nhận vơ là vợ nhân, vợ nhân là vợ thừa.
Nói đoạn, hai cậu cùng chạy rồi quay lại:
- Chị không là vợ nhân thì là vợ thừa. Vợ thừa! Vợ thừa!
Cô Lễ vừa cười, vừa đuổi theo. Nhưng hai em đã biến ra ngõ:
- Vợ thừa! Vợ thừa! Vợ anh Thừa!
Biết là hai em vô tình mà trêu cô, cô vừa ngượng, vừa thích. Thích và ngượng lẫn lộn. Chứ không xấu hổ khi nghe tiếng vợ nhân.
Nhưng đêm ấy, cô thao thức nhiều hơn đêm trước. Cô không buồn man mác, nhưng buồn đến đau khổ.
Từ hôm sau, cô hay ngồi bần thần một mình.
Tự nhiên, nghe đến tên người cũ, cô lại nhớ cảnh cũ. Nhớ người Hà Nội, cô nhớ cái cảnh Hà Nội. Cô nhớ đường đá, nhớ xe điện, nhớ dãy phố thẳng những nhà gạch mở cửa hàng đến tận khuya, người đi đường huyên náo dưới ánh đèn điện.
Ở đây, thì núi yên, sông lặng, cánh đồng hờ hững. Hết tuần trăng sáng bàng bạc, thì từ chặp tối, đã mịt mù như bưng mắt. Buổi chiều, cô cũng tha thẩn trên bờ đê, mong rằng phong cảnh làm cho cô khuây khỏa chăng. Nhưng trái lại, cô vẩn vơ nghĩ. Cô nhìn con sông. Không biết dòng nước này chạy đi tìm ai, có đổ vào Nhị Hà để chảy qua Hà Nội không? Cô nhìn làn mây. Không biết mây này có bay qua Hà Nội không? Mây ở trên cao, có thấy hiện giờ cô và người ở Hà Nội đương làm gì không? Cô nhìn rặng núi. Mọi ngày ở Hà Nội, cô có thấy xa xa một rặng núi, vậy có phải là núi chùa Hương này không? Núi ngồi đợi ai mà yên lặng thế? Cô nhìn cánh đồng. Lúa có gì vui mà nhảy nhót thế kia? Thóc của đồng này có bán ra Hà Nội không? Và hạt gạo ở đây, rồi được nhà nào mua? Bây giờ, cô nhìn nước, nhìn mây, nhìn núi, nhìn lúa, mà nhớ Hà Nội. Không biết người Hà Nội hiện giờ này, có ai nghĩ đến cô không? Chắc chắn là cha mẹ cô, em trai và em dâu cô nghĩ đến cô. Và có lẽ, một đôi khi, cậu Nhân cũng tìm hỏi tin tức cô. Nhưng ngần ấy người chưa đủ. Phải còn một người nữa kia. Người nữa kia! Còn nhớ nhau hay quên nhau rồi?
Xung quanh cô, bấy lâu nay, ban ngày là chuyện đồng áng, cày cấy, tiếng các em cô đùa nghịch. Ban đêm là tiếng giun đùn, dế gáy, chẫu chuộc kêu và tiếng mõ cầm ranh. Chứ không phải chuyện buôn tơ. Không phải tiếng lạch cạch bánh xe sắt, tiếng leng keng chuông xe điện. Càng không phải tiếng âu yếm của con người chung tình, đa sầu, đa cảm, tiếng Thừa yêu Lễ, viết tắt là TYL.
Cảnh nông thôn lặng lẽ, nhưng sao cô thấy như nó đè trĩu trong đầu óc cô: thế mà đầu óc lại như có chỗ trống trải. Ông bà nhì thấy cô buồn, thì hỏi, nhưng cô giấu:
- Thỉnh thoảng cháu vẫn thế.
Cô muốn lấp chỗ trống trải bằng chuyện Hà Nội.
Cô bảo Tiết xem trong làng có ai mua báo, thì mượn cho cô. Cô dặn em cẩn thận:
- Có báo Trung Bắc hay Thực Nghiệp hãy mượn.
Cô tránh nói đến tên báo Chấn Hưng.
Ông Nhì bảo:
- Ở nhà quê thì chỉ có báo Trung Bắc, chứ Thực Nghiệp có phải là báo nhà nước đâu mà làng phải mua.
Tiết đến nhà lý trưởng, đem về một chồng báo chưa bóc băng. Cô mở xem mục việc vặt Hà Nội. Những tin đánh nhau, tin mất ví, mất chó, cũng làm cho cô vợi được nỗi nhớ cảnh nhớ người.
Một hôm, tờ báo mới đem về, cô mở ra, nhìn lướt qua từng trang. Bỗng ở mục Bá cáo việc riêng, có ba chữ tên ký là Trần Đức Thừa làm cô giật nảy mình. Cô vội vàng chăm chú đọc.
Mấy câu mào đầu của tòa soạn in ngả như sau:
Bản quán nhận được bài lai cảo sau đây của ông chủ bút báo Chấn Hưng. Vì tình đồng nghiệp, xin cứ nguyên văn đăng báo, thực hư thế nào, về phần người viết phải chịu trách nhiệm.
Bài Bá cáo việc riêng như sau:
Tôi xin có lời thanh minh cùng quốc dân một việc phạm đến danh dự của tôi.
Báo Thực Nghiệp số ra ngày hôm qua, trong mục Thiên hạ đồn, có đăng một vụ ẩu đả xảy ra ở giữa phố H.Đ., lúc mười một giờ đêm.
Theo bạn đồng nghiệp, người bị đánh tên là T.Đ.T. chủ bút một tờ báo mà bạn nói rằng tòa soạn là một tổ quỷ. Và người hành hung là một người đàn bà buôn bán trên Ngũ Xã, tên là M. Nguyên là M. có tư thù với T.Đ.T. đâu là một chuyện tình xưa nghĩa cũ, bội tín vong ân thế nào đó. M. lại được một người tòng sự ở nha Thương chính giúp, nên kết quả, T.Đ.T. bị thương, phải vực vào nhà thương Bảo hộ.
Ở Hà Nội này, chủ bút một tờ báo mà tên viết tắt là T.Đ.T, thì chỉ là tôi. Nhưng xin nói ngay rằng tòa soạn báo Chấn Hưng ở phố Hàng Bồ. Nếu gọi là tổ quỷ, thì có gọi phố Hàng Dầu của quý đồng nghiệp là phố mẹ dầu có những tay đánh đĩ bằng bút không?
Vậy tôi xin cải chính rằng người bị đánh ở phố H.Đ. đêm hôm qua, không phải là tôi. Tiếc rằng ông Thuận Phong Nhĩ nào đó không những điếc mà còn mù, nên đã trông lầm. Tôi không quen một người nào tên là M. ở Ngũ Xã, nên không có tư thù.
Số là đêm nào, vào lúc mười một giờ, tôi cũng hay thơ thẩn đi chơi ở phố H.Đ., rồi về tòa soạn. Vụ ẩu đả đêm qua, tôi có trông thấy. Tôi cũng làm nhiệm vụ người cầm bút, là mở cuộc điều tra để viết bài tường thuật.
Sự việc chỉ có thế. Nhưng chẳng may, lúc tôi đi về được vài bước, thì một cảnh làm tôi xúc động quá, đến nỗi tôi ngã ra đường, bất tỉnh nhân sự. Thấy vậy, hàng phố vực tôi vào nhà thương. Bà con H.Đ có thể chứng nhận cho bệnh của tôi, vì một lần trước cách đây mấy hôm, cũng gần chỗ này, tôi đã ngã ngất và được bà con cứu chữa.
Vậy thì việc M. hành hung và việc tôi vào nhà thương chữa bệnh tim, là hai việc không dính dáng gì với nhau. Tiếc vì bạn đồng nghiệp yêu quý của tôi đã bôi nhọ danh dự tôi để cạnh tranh với báo Chấn Hưng một cách bất chính.
Về việc này, tôi sẽ viết rõ ràng trong báo Chấn Hưng. Và tôi sẽ nhờ pháp luật can thiệp để phân hắc bạch.
TRẦN ĐỨC THỪA Chủ bút báo Chấn Hưng
Cô Lễ thở dài. H.Đ. là Hàng Đào! Cô đọc lại một lượt nữa. Cô đọc kỹ lần thứ ba, từ quãng có chữ số là đến hết dòng có câu Và được bà con cứu chữa.
Cô rưng rưng nước mắt.
Cô đi nằm, luôn luôn thở dài. Bữa chiều, cô bỏ cơm.
Buổi tối, cô lại mở báo, đọc bài Bá cáo việc riêng một lần nữa.
Rồi tình cờ, mắt cô để tới mục Từ phú thi ca, một bài ký tên là Trọng Lễ. Thấy tên tác giả trùng với tên cô, nên cô đọc:
MÂY NƯỚC
Chân mây làn nước uốn.
Mặt nước áng mây lồng.
Ta ước được như nước.
Theo mạch vào giếng trong.
Chậu vàng khăn bông trắng.
Vuốt ve đôi má hồng.
Cho bõ công lặn lội.
Dò ngọn nguồn lạch sông.
Ta ước được như mây.
Bay nam bắc tây đông
Lặng lẽ trôi theo gió.
Lọt vào tận khuê phòng.
Cầm tay hỏi cặn kẽ:
Đằm thắm hay lạnh lùng?
Lòng dạ ra mây nước.
Hiu hắt ngọn thu phong!


Cô đặt tờ báo xuống, quật mạnh cánh tay xuống chiếu:
- Trời ơi!
Cô rưng rức khóc.
Đúng là con người hai lần ngã ngất vì qua nhà cô làm bài thơ này chứ không còn ai. Anh đã lấy tên cô cho kín đáo, để dò ngọn nguồn lạch sông, hỏi cô đằm thắm hay lạnh lùng. Anh còn nặng tình với cô, nên mới dùng chữ trọng, Trọng Lễ.
Để đáp lại tấm lòng này, cô nên xử trí ra sao đây? Cô trằn trọc suốt đêm.
Rồi tang tảng sáng hôm sau, cô đòi về Hà Nội. Cô cứ thu xếp quần áo vào va-li.
Ông bà Nhì giữ thế nào cũng không nổi.
 
Chú thích:
68)
69)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XI
MỘT VIỆC ĐÃ RỒI  
 
Dư luận phố Hàng Đào ầm lên về việc cô Lễ bỏ nhà đi theo trai.
Về điểm này, ta thấy bà con thật là thính. Cùng thì là vắng mặt ở hiệu Phúc Lâm, nhưng ngày cô Lễ về quê ngoại dưỡng bệnh, gần nửa tháng trời, thì không ai xôn xao, thế mà lần này, cô mới đi buổi tối hôm trước, sáng hôm sau, bà con đã biết liền, và nói đích xác là cô theo trai.
Cô Lễ theo trai hay đi đâu, chính hai cụ Tú cũng chỉ dám nghi ngờ trong bụng, chứ chưa ai nỡ nói ra miệng với nhau. Có lẽ nói ra miệng thì đau xót, thì xấu hổ, và sợ lỡ không đúng, thì oan cho cô con gái cấm cung ngoan nết chăng. Vả cả hai cụ, lẫn vợ chồng cậu Nghĩa cho đến u già, đều là những người ít nói, trong gia đình có việc gì to nhỏ, có ai nói lọt ra ngoài bao giờ đâu. Thế mà lần này, trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay. Mà lại hay một cách rất đúng, chứ không phải vì thù ghét mà nói ác.
Cô Lễ phải lòng anh Thừa. Việc này, độc giả biết đã lâu. Nhưng cô giữ rất kín đáo. Song, thường thì trong nhà có con gái hư, bao giờ người ngoài cũng biết trước, người nhà biết sau. Và người biết cuối cùng, vẫn là cha mẹ. Cũng như người chồng có vợ ngoại tình, thì sau khi bị cắm sừng lên đầu nhiều lần, anh ta mới là người biết cuối cùng. Đó là nói những trường hợp biết. Bởi vì trái lại, có những người chồng có nhân tình, đã khéo bưng bít mắt vợ được mãi mãi, để khỏi bị nghi ngờ trong những vụ chim gái lần đầu. Đàn ông nông nổi giếng thơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu!
Tối hôm cô Lễ bỏ nhà ra đi, thì cô cũng làm như mọi bận, là xin phép hai cụ lên Hàng Đường với ông bà Cả. Hai cụ rất vui lòng. Vì chắc cô kiếm cớ thăm chú cô, để biết mặt cậu Nhân. Nhưng đến tám giờ, giờ mà mọi khi cô đi đâu cũng đã về rồi, u già toan gài cửa nhà ngoài, thì cụ bà bảo hãy chờ cô một lát. Rồi đến chín giờ, cô cũng chưa về. Đến mười giờ thì hai cụ đã bắt đầu sốt ruột. Đến mười một giờ, cụ bà gọi cậu Nghĩa ở trên gác xuống, bảo:
- Quái, chị con đi đâu mà bây giờ chưa về nhỉ. Hay bị cảm, nằm lại trên nhà chú Cả chăng? Đẻ cứ máy mắt.
Cậu Nghĩa lo lắng:
- Nếu nằm lại trên ấy, thì chú cô đã cho xuống bảo.
- Thế thì chị con đi đâu?
Ý cụ muốn sai cậu Nghĩa đi tìm, nhưng lại nể con. Cụ ông ngồi dậy, hỏi:
- Thế con nó có còn nói là đi đâu nữa không?
- Không, mới lạ chứ!
Cậu Nghĩa thưa:
- Hay là con đi tìm.
Cụ bà hỏi:
- Tìm ở đâu?
- Ở đàng chú Cả, bác Thủ, cô Ký, dì Trưởng.
Nói đoạn, cậu đi. Cậu đến khắp các nơi họ hàng mà mọi ngày cô Lễ hay lại chơi. Thấy việc bất thường, các chú bác cô dì đều giật mình, cùng đổ đi tìm với cậu Nghĩa.
Trong khi ấy, hai cụ Tú chong đèn lên, ngồi đối diện với nhau ở trường kỷ, không ai nói với ai câu nào. Cụ ông rung đùi. Cụ bà thở dài. Hẳn là hai cụ nghĩ ngợi nhiều lắm. Cụ bà soát lại áo quần và tư trang của cô Lễ, không thấy thiếu thứ gì. Cụ hơi yên lòng. Mợ Nghĩa lúc xuống nhà, lúc lên gác, lúc vào bếp thì thầm với u già.
Đến một giờ sáng, có tiếng gõ cửa. Mợ Nghĩa mừng quá, vội vàng ra mở thì chán ngán làm sao, chỉ có cậu Nghĩa về một mình!
- Con đã đi khắp cả, không thấy chị con đâu. Con lại lên cả Cột cờ và đi quanh hồ Gươm, cũng chẳng thấy gì.
Cụ ông tặc lưỡi:
- Có những người nhà quê không biết đường mới bị phu xe kéo lên Cột cờ để bóc lột chứ.
Cụ bà cau có:
- Thầy đẻ sốt ruột mà con không biết hay sao, còn đi quanh hồ Gươm.
Cậu Nghĩa đáp:
- Con đi tìm chị con ạ.
Mợ Nghĩa nói:
- Tại vì ít lâu nay, có nhiều người vẫn ra trầm mình ở hồ Gươm.
Cụ bà mắng:
- Sao con dám nghĩ bậy thế?
Cậu Nghĩa không đáp.
Cụ ông hỏi:
- Con thử đoán xem chị con đi đâu?
Không chờ con trai trả lời, cụ bà nhắc:
- Ông bấm lại tử vi của con xem sao nào.
Cụ ông soi đèn vào buồng thờ, lấy lá số của cô Lễ. Cả nhà yên lặng chờ. Một lát, cụ thản nhiên, lắc đầu:
- Không có cái hạn nào cả.
Rồi cụ rung đùi, ngửa mặt lên xà nhà để nghĩ.
Trong khi ấy, cụ bảo u già đun một ấm nước sôi, bảo mợ Nghĩa xếp một cơi trầu, rồi cụ mở rộng bốn cánh cửa buồng thờ. Cụ đặt trầu lên án tam sơn, bóc gói chè mới để pha nước. Rồi thắp năm nén hương, cụ chắp tay đứng vái, xuỵt xoạt khấn. Cụ xin tổ tiên dun dủi con gái cụ đi đâu chóng mà về, tai qua nạn khỏi, và phù hộ cho cả nhà được mạnh khỏe, bình yên, vô sự.
Vái xong ba vái, cụ lui ngồi trên trường kỷ, hai dòng nước mắt chảy xuống má. Cụ bàn với cụ ông:
- Sáng mai, chờ đến mười giờ, nếu không thấy con về, thì ông nên vào trong cậu mợ Nhì xem.
Cụ ông gật:
- Có lẽ thế. Có khi có điều gì trong bụng, nó nói với cậu mợ, mà giấu cha mẹ cũng nên.
Rồi cụ hỏi cậu mợ Nghĩa:
- Các con xem ý chị con độ này thế nào?
Cố nhiên mợ Nghĩa không biết gì, nên đứng im. Nhưng cậu Nghĩa dù có nghi chị của cậu với anh Thừa, thì vì sợ phải mắng, nên cũng không dám nói. Và cậu không nỡ đổ cho chị cái việc cậu còn ngờ, việc ấy lại không bao giờ có thể xảy ra ở trong một gia đình như gia đình này. Cụ bà bảo hai con:
- Sáng sớm mai, cậu tìm khắp nhà xem chị có để lại giấy má gì không, rồi cứ yên tâm đi học như thường. Còn mợ thì đi khắp các nhà họ hàng một lần nữa cho đẻ. Đẻ phải xuống Khâm Thiên, nhờ thầy Đắc xem cho một quẻ.
Thế là trong gia đình Phúc Lâm, ai nấy còn hồ đồ, và bán tín bán nghi mất đến hai hôm. Nhưng hàng phố thì chỉ trong một buổi sáng, người ta đã nhặt từng mảnh chuyện, chắp lại với nhau cho ăn khớp, để dựng lên sự thật: Cô Lễ đi theo trai.
- Chính mắt tôi, một lần trông thấy cô ấy đưa cái gì cho một anh ở trên chợ Đồng Xuân.
- Chính tôi bắt gặp cô ấy đứng sau rạp hát Tây ngoài Đồn Thủy, cười cười với một người mặc quần áo Tây, đeo kính trắng.
- Có lần lúc tám giờ tối, tôi thấy cô ấy đi bộ từ Hàng Bồ về Hàng Đào.
- Tôi ở trước cửa, nên tôi biết. Ít lâu nay, có một anh lẹm cằm, động qua lại nhà Phúc Lâm, là cứ dòm dòm vào trong.
Thế là tất cả đều đồng thanh:
- Ừ phải, lẹm cằm. Tôi nhớ ra rồi. Thôi, thế thì cô ta phải lòng anh lẹm cằm, và đi theo anh ấy rồi.
Người ta không biết anh lẹm cằm là ai, nhưng cùng kết luận câu chuyện như vậy.
Thế là tin cô Lễ theo anh lẹm cằm được lọt vào đến nhà Phúc Lâm. Hai cụ Tú biết anh lẹm cằm là ai rồi. Nhưng hàng phố đoán là anh sinh viên Cao đẳng học trường Lục lộ, sắp thi ra tham biện. Họ cho rằng anh này hỏi cô, nhưng hai cụ không bằng lòng, vì cớ anh ta góa vợ, nên anh ta quyến rũ cô.
Dần dần, những người ưu thời mẫn thế bàn với nhau, thử tìm nguyên nhân là vì đâu, một cô gái chín chắn là thế, bây giờ lại đâm ra đổ đốn làm vậy.
Người ta nhắc lại những vụ mấy cô tự tử xảy ra ít lâu nay ở hồ Gươm và hồ Trúc Bạch vì thất tình. Toàn là những chuyện yêu nhau không được lấy nhau, những chuyện gả bán ép uổng. Một người nói:
- Chỉ tại cái báo Chấn Hưng nó mở ra mục trưng cầu ý kiến về nữ quyền để nó làm hại con cái nhà người ta.
Một người khác thêm:
- Cả báo Trung Bắc lẫn Thực Nghiệp, thỉnh thoảng đăng thơ, đăng tiểu thuyết, như xui con gái đi theo trai ấy.
Một người khác nữa nói:
- Cho nên tôi cấm trẻ nhà tôi đọc báo với đọc tiểu thuyết. Lợi chả thấy đâu, thấy ngay cái hại trước mắt, là nó bỏ cả khâu vá, làm ăn.
Lời bàn tán sôi nổi hơn:
- Tôi mà là nhà nước, thì tôi đóng cửa các trường nữ học. Con gái biết chữ, chỉ tổ viết thư cho trai, chứ được tích sự gì. Mà trường nữ học dạy học trò ra làm cô giáo. Lớp cô giáo này lại dạy học trò ra làm lớp cô giáo sau. Thì ra mở trường nữ học chỉ dạy cho người ta làm cô giáo. Mà cô giáo thì toàn đồ hư hỏng, tập tọng dăm ba chữ, đã đòi bình đẳng với tự do!
- Nhưng cô giáo chưa hư hỏng bằng cô đỡ. Cô đỡ thì không cô nào không mất trinh với lão quan ba đốc tờ Lơ Roa Đề Ba [70]. Không cho nó chơi thì nó đuổi, không cho học, không cho đỗ, hoặc phải bổ lên mạn ngược. Mà con gái học thuốc, nhìn thấy đàn bà lẫn đàn ông trần truồng, lại học lẫn với con trai, đi tập sự với nhau ban đêm trong nhà thương, cho nên dễ chửa hoang lắm.
- Nhưng giá không có mấy tờ báo nó nống lên, thì cũng không đến nỗi hại lắm.
- Đúng thế. Nhất là báo Chấn Hưng. Không khác gì ông Dài [71] phun nọc độc.
- Sao mà nhà nước cứ để cho báo ấy ra mãi, không cấm phăng đi có tốt không?
- Nhà nước lắm việc, nghĩ đâu đến những điều ấy. Chỉ có ta đây này. Một là đừng đọc nó. Hai là ta đến tòa soạn bảo nó. Ba là nếu nó cứ chứng nào giữ tật ấy, thì ta thuê du côn vào phá tòa báo, khiền cho những thằng viết báo một trận cho mà chừa.
- Việc này thì phải bảo học trò trường Bưởi mới làm nổi. Họ đánh con Tây được, phá hiệu khách được, thì phá tòa báo An-nam nhảm nhí nổi thừa.
- Phải đấy. Chứ để báo Chấn Hưng thì còn vô số con gái nhà tử tế đi theo trai, với đánh đĩ, với tự tử.
- Mà con trai thì thành công tử bột.
* * *
Từ ngày tiếng dư luận là cô Lễ theo anh lẹm cằm lọt vào nhà Phúc Lâm, thì cái hình ảnh bình thường mấy chục năm nay của gia đình này mất hẳn đi. Ngày phiên chợ Đồng Xuân, cửa hàng không mở. Cụ Tú ông không ngồi ở trường kỷ. Cụ nằm suốt ngày trên mặt ghế. Đến mười hai giờ trưa, cụ không lên Đông Hưng viên ăn tỉm xắm và uống chè Long Tỉnh nữa. Hai cụ gầy tọp hẳn đi. Trong nhà yên lặng hơn trước. Thỉnh thoảng có nghe tiếng nói, chứ tịnh không có tiếng cười. Song, tiếng khóc và tiếng thở dài còn nhiều hơn tiếng nói.
Cậu Nghĩa chắc chắn là cô Lễ theo anh Thừa. Cậu đứng rình ở tòa báo Chấn Hưng, để dò xem anh Thừa về nhà riêng ở đâu. Nhưng cậu phải ngày hai buổi đi học, nên không thể làm được việc ấy chu đáo, cậu bảo mợ làm thay. Thì một lần, mợ về, mách rằng thấy anh Thừa gọi xe, mặc cả lên Yên Phụ. Mợ không dám thuê xe đi theo, vì sợ tối, và qua những quãng vắng.
Cụ ông thấy hai con bàn nhau, thì bảo:
- Vô ích! Mặc kệ xác nó! Biết chỗ nó ở thì làm gì? Thầy đẻ không có thứ con bất hiếu bất mục như thế!
Một hôm, bà Nhì Tòng ở trong nhà quê ra thăm hai cụ. Cụ bà khóc rưng rức:
- Anh chị nhục nhã với hàng phố, không còn dám thò mặt ra đường nhìn ai nữa. Xót xa, đau đớn quá! Mình muốn nó hẳn nó hoi, thì nó lại bôi gio trát trấu vào mặt mình!
Bà Nhì thở dài, an ủi cụ:
- Cũng là cái số nó thế, bác ạ. Chứ ai muốn một lầm hai lỡ làm gì. Chẳng qua là nó ăn phải bùa phải bả, cho nên mới dại dột như thế.
Rồi đến tối, lúc đi nằm, bà tỉ tê nói:
- Bác ạ, em ra đây, muốn thưa với hai bác một câu chuyện, nhưng thấy bác giai giận cháu quá, em không dám nói. Em nói với bác vậy.
- Vâng. Xin mợ cứ cho biết.
- Bác ạ, cháu Lễ mới về trong em hôm qua. Nó lạy van em, nhờ nói với hai bác cho nó về.
Cụ bà cựa, rên rỉ:
- Giời ơi!
- Thế này, bác ạ. Mẹ thì bao giờ cũng thương con gái hơn bố. Nếu bác hồi tâm thương cháu, thì bác lựa lời xin với bác giai cho vợ chồng nó về.
Cụ bà lại rên rỉ, nói giọng đay nghiến:
- Vợ chồng nó về!
- Vâng, để vợ chồng nó lạy tạ hai bác tha thứ cho chúng nó. Người ta đánh kẻ chạy đi, chứ ai đánh kẻ chạy lại. Nó như thế là hư thật, nhưng thế là chúng nó thành vợ thành chồng rồi. Nó chẳng được cha mẹ đặt để cưới xin, là nó chịu thiệt vì nó dại rồi. Nhưng con người ta tránh chẳng khỏi số. Bây giờ Nguyệt lão đã xe cho chúng nó, mình là cha mẹ, cũng phải đành, chứ biết làm thế nào. Đằng nào chúng nó cũng là con mình, rể mình. Mình không nhận thì thiên hạ cũng nhận. Vả lại, em nhìn mặt mũi thằng chồng, thấy cũng là đứa hiền lành, đứng đắn. Em nghe cháu Lễ nói, thì ra nó làm rể hai bác cũng xứng đáng, chỉ có một tí tội, là chúng nó dám vượt quyền hai bác thôi.
Cụ bà nhắc lại:
- Nó đến lạy van cậu mợ, nhờ xin với anh chị cho vợ chồng nó về?
- Vâng. Để lạy tạ hai bác tha thứ cho chúng nó.
Cụ Tú ngồi dậy, sờ tráp, lấy miếng trầu để ăn, rồi thở dài:
- Nó chờ mợ ở trong nhà à?
- Không. Vợ chồng nó ra Hà Nội ngay.
- Nó ở phố nào, mợ có biết không?
- Em có hỏi, nhưng chúng nó giấu.
- Thế thì làm thế nào nó biết là anh chị có cho phép chúng nó về hay không?
- Nó hẹn vài hôm nữa lại vào trong nhà.
Cụ Tú yên lặng. Bà Nhì nói:
- Em xem ý hai đứa thương yêu nhau lắm, cho nên tuy em giận, nhưng cũng mừng cho nó. Vợ chồng lấy nhau cũng chỉ đến yêu thương nhau là ăn ở với nhau được suốt đời. Em nghĩ rằng cháu Lễ nó nhiều tuổi, biết suy xét, cho nên việc trăm năm của nó, nó phải tính toán kỹ lưỡng, chứ không phải lên năm lên ba gì mà gọi là bị quyến rũ. Vì vậy, em nhận lời với nó, ra nói với hai bác hộ nó.
Cụ Tú sụt sịt:
- Mợ thử nghĩ mà xem, vào địa vị mợ, thì mợ xử thế nào. Anh chị hiếm hoi, được có tí giai tí gái, cho nên anh chị phải kén cho nó một người chồng xứng đáng, để anh chị cho ở rể, vui cửa vui nhà. Thế mà bây giờ nó vượt quyền cha mẹ. Làm thân con gái mà mang tiếng theo giai, có phải nhục nhã suốt đời, mà bêu riếu cha mẹ hay không?
- Thôi, nhưng mà cháu nó trót dại, nay đã biết hối, thì mình là cha mẹ, nên đánh cho hai chữ đại xá. Nó đến nhà em ra nói với hai bác. Em chỉ nghĩ rằng tại sao nó không nhờ người khác, lại nhà em. Hẳn nó tin rằng em nói thì hai bác nghe hơn là người khác nói. Vì vậy, em nhận lời. Bác ạ, kể hàng các cháu nội ngoại của các cụ nhà ta, thì cháu Lễ là lớn tuổi nhất. Ngày còn cụ bà, cụ yêu cháu nhất đấy. Cho nên, em nhớ đến cụ bà, mà ra đây xin hộ cháu.
Cụ Tú thở dài:
- Thôi, mợ nói thì chị nể, nhưng chị chả biết nghĩ thế nào. Việc ấy, quyền ở anh. Chị mà bằng lòng, sợ anh gắt.
- Bác giai thì lành như cục đất, thế nào chả xong, cốt ở bác ấy chứ. Mai, em thưa chuyện với bác giai, bác nói vào cho một câu là được, để em về, kẻo việc nhà còn bề bề ra đấy.
Cụ Tú không đáp.
Sáng hôm sau, bà nhì Tòng dậy sớm, ngồi uống nước với hai cụ Tú, rồi đắn đo mãi, mới dám nói việc cô Lễ với cụ ông. Nhưng cụ ông xua tay:
- Thôi. Tôi không nghe. Rờm tai! Rờm tai!
Bà Nhì cứ nói. Bà viện hết những lý do đã thuyết phục được cụ bà đêm trước, rối liếc mắt, để nhắc cụ bà xin hộ. Nhưng cụ bà chỉ sụt sịt khóc. Cụ ông nói:
- Anh chị nể mợ thì nể những việc khác. Còn việc này là việc gia đình của anh chị, xin mợ mặc anh chị. Anh chỉ nhờ mợ nhắn nó một câu, là nếu muốn về, thì sắm lấy con dao găm, một mình nó về trước, để thí cho cha mẹ và hai em mỗi người một nhát, rồi hãy đưa thằng kia về.
Bà Nhì dịu dàng:
- Chết, sao bác lại dạy thế?
Cụ ông nhăn mặt:
- Thì tôi đã bảo rờm tai, tôi không nghe kia mà!
Một lát, cụ tiếp:
- Dư luận hàng phố đã yên rồi. Nay hai đứa vác mặt về, để hàng phố lại ầm lên phen nữa à? Anh chị già rồi, chịu nhục một lần thôi chứ. Chịu đến lần thứ hai, để mà ốm chết à?
Bà Nhì cười:
- Bác tưởng thế đấy thôi. Chứ dư luận dù xôn xao mấy, rồi dần dần cũng yên hết. Và rồi việc gì cũng thành bình thường cả. Ai hư cho bằng cụ Lạc làng ta ngày còn con gái. Thế mà bây giờ con cháu đầy đàn, gia đình vui vẻ. Cả làng có ai nhắc đến chuyện cũ nữa đâu. Mấy lị đèn nhà ai nấy rạng. Thời buổi tây tàu rồi ra còn khối cái nhố nhăng, thì ai dám chắc chắn con cháu mình thế nào, mà cười người hôm trước để hôm sau người cười?
Cụ ông lại nhăn mặt:
- Mợ nói, tôi có để vào tai đâu.
- Hôm qua, em đã thưa với bác gái, bác gái đã nghe ra mà rủ lòng thương cháu. Em biết là bác khó tính, nên hôm nay mới dám thưa với bác…
Có lẽ không muốn nghe thêm, cụ Tú tặc lưỡi:
- Tùy đấy.
Bà Nhì sung sướng, nở một nụ cười:
- Vâng, thế là bác thương cháu lắm rồi.
Cụ Tú lại nói:
- Tùy đấy.
* * *
Năm hôm sau, vào buổi tối, cô Lễ đưa anh Thừa về nhà, hai người đi hai chiếc xe giương mui. Vì vậy hàng phố không ai chú ý.
Cô Lễ rón hai ngón tay gõ khẽ vào cửa. Cô phải gõ đến lần thứ ba, mạnh hơn, trong nhà mới có tiếng hỏi ra:
- Ai?
Cô không dám lên tiếng, lại gõ thêm lần nữa.
Cái lỗ tròn ở cánh của hé ra, rồi đóng ập ngay vào. Nhưng cửa chưa mở ngay. Cô Lễ hồi hộp, bảo anh Thừa:
- Chắc còn phải bẩm thầy đẻ.
Một lát sau, tiếng then kêu lạch xạch, rồi hai cánh cửa mở ra. U già nhìn cô, chào khẽ:
- Cô đã về.
Cô Lễ thấy cụ ông ngồi ở trường kỷ, và cụ bà đứng trước ngọn đèn đặt trên bàn. Bỗng cô òa lên khóc, chạy vào trước cha mẹ. Anh Thừa bẽn lên theo sau. Anh chắp tay, khom lưng, vái hai cụ. Cô Lễ ngồi thụp xuống đất, vừa khóc vừa lạy. Nhưng cụ Tú ông quay mặt vào phía buồng thờ, không nhìn. Và cố làm ra thản nhiên, cụ vẫn vắt một chân thõng xuống đất, đùi rung tít.
Cô Lễ vẫn khóc và vẫn lạy. Anh Thừa chắp hai tay, cúi gập đầu xuống, không dám cựa quậy. Cụ bà nhìn chồng và nhìn con gái, thì hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Không cầm lòng đậu nữa, cụ ngồi xuống trường kỷ, rồi gọi:
- Ông! Ông! Ông nghĩ lại cho con nó nhờ.
Nhưng cụ ông không nhúc nhích.
Cụ bà lại gọi:
- Ông! Ông!
Bỗng cụ ông, mặt vẫn quay vào trong, gọi như quát:
- Nghĩa đâu?
Cậu mợ Nghĩa từ nãy lánh mặt lên gác, thấy cha gọi, vội vàng thưa:
- Dạ.
Cậu rón rén xuống thang, không nhìn cô Lễ, không nhìn anh Thừa, đi thẳng đến gần cụ Tú. Cụ vẫn quay vào trong, nhưng trỏ tay ra phía ngoài:
- Bẩn mắt thầy lắm! Đuổi chúng nó đi!
Cô Lễ lại òa lên, và lạy.
Cậu Nghĩa chỉ nhìn chị. Cậu nhăn nhó, thở dài. Bỗng lại tiếng quát:
- Đuổi chúng nó đi! Nghĩa!
Cậu Nghĩa sợ tái mặt, vội vàng giơ cánh tay, đẩy anh Thừa:
- Đi ra!
Anh Thừa không biết làm thế nào, đành phải theo. Anh len lén chuồn ra cửa.
Trong khi ấy, cô Lễ nằm vật xuống đất, vừa nức nở, vừa kêu:
- Con lạy thầy, con lạy đẻ, thầy đẻ thương chúng con.
 
Chú thích:
70)
71)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XII
NHÀ CON…  
 
Cô Lễ xuống xe, một tay xách một xâu bảy con chim dẽ giun, một tay ôm năm quyển sách in. Thấy cô, cụ bà hớn hở:
- Bận gì mà mấy hôm nay vợ chồng không về?
Cô cười:
- Thưa đẻ, tại nhà con đi Bắc Giang. Mới về tối hôm qua. Nhà con mua được một chục chim dẽ, bảo con mang bảy con lên biếu thầy đẻ.
- Đi Bắc Giang làm gì?
- Để điều tra cái vụ ông phủ Yên Thế Đinh Quang Chiểu giết người ở rừng Cổ Cò.
Rồi cô ôm tập sách vào chỗ ông cụ ngồi:
- Thưa thầy, nhà con mới mượn được mấy quyển này, gửi lên để thầy đọc.
Cụ Tú vừa rung đùi, vừa tươi cười, đỡ tập sách. Cụ nhìn từng quyển: Ý-đại-lợi kiến quốc tam liệt truyện, Nhật Bản duy tân sử, Nhật Bản duy tân tam thập niên khảng khái sử, Mậu tuất chính biến, Cận thế chí quái kiệt. Cụ hỏi:
- Sách mượn của ai mà quý thế này?
Cô Lễ nghĩ một lát, rồi đáp:
- Hình như mượn của bác Đào Trinh Nhất, hay bác Nguyễn Thượng Huyền, con không hỏi rõ.
- Nguyễn Thượng Huyền là cử Huyền ấy à?
- Vâng, con cũng nghe nhà con gọi là bác cử.
- Thế thì là cháu quan hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền trốn sang Tàu với quan giải nguyên Phan Bội Châu đấy. Anh này đỗ khoa Mão, năm ấy đâu mới mười sáu, mười bảy tuổi thôi.
Cụ ngừng một tí, rồi tiếp:
- Nhưng chả nối được chí quan hoàng. Nghe nói anh này chơi bời cả với bọn mật thám.
Cô Lễ ý muốn cãi:
- Bác ta làm báo với bác Đào Trinh Nhất.
Cụ hỏi:
- Không biết có phải Đào Trinh Nhất là con quan Đào Nguyên Phổ ở Đông Kinh nghĩa thục không nhỉ?
- Con không biết.
- Nếu phải thì anh này cũng gớm lắm đấy.
Rồi cụ nhìn tập sách, gật gù:
- Toàn sách quý. Chả biết họ kiếm ở đâu được, chứ ở hiệu Tam Hòa không bán những loại này.
- Con nghe nói gửi mua tận Thượng Hải đấy ạ.
Cụ trỏ bìa sách, rồi gật đầu:
- Phải, nhà in Thương vụ. Nhà in này to nhất nước Tàu, xuất bản toàn sách có giá trị. Trước kia thầy có được đọc vài quyển.
Cô Lễ hỏi:
- Thầy có còn bảo gì con nữa không ạ?
Cụ ngẩng nhìn cô:
- Con đi đâu?
- Không ạ. Con ra nói chuyện với đẻ, với hai em một tí, rồi lên chợ mua mấy thứ, kẻo muộn.
Em Nghĩa giai đi học. Em gái đi chợ. Cô ra nhà ngoài. Nhưng cụ gọi lại:
- À, cô bảo cậu ấy, nếu có thể nhờ ai mua được sách bên Thượng Hải, thì mua thêm mỗi thứ một quyển cho thầy. Đọc những sách này được mở mang trí tuệ hơn là đọc báo.
- Vâng ạ.
Ngừng một lát, cụ tiếp:
- Thầy vẫn định nhân hôm nào cậu ấy đến chơi, thì thầy bảo một việc. Thôi, nhưng mà thầy nói với con thì tiện hơn. Vợ khuyên chồng tốt hơn là bố vợ bảo chàng rể.
- Xin thầy cứ dạy.
- Báo Chấn Hưng ấy, con ạ. Ngày cậu ấy biếu thầy mấy số đầu, thầy chỉ đọc qua loa một tờ, thầy thấy cũng được vậy thôi, Nhưng đến cái ngày con lầm lẫn, thầy buồn, nên lại mở một tờ ra đọc, thì thấy thấy có nhiều mục hại đến đạo đức lắm. Hôm qua, thầy lại đọc thì thấy còn tệ hơn nữa. Thầy không biết cậu ấy cầm quyền chủ bút, mà sao lại cho đăng những bài như thế. Cô phải khuyên bảo cậu ấy thế nào, chứ làm báo như thế rồi thất đức đấy. Em Nghĩa bảo nhiều gia đình oán báo Chấn Hưng, vì làm hại con gái người ta lắm đấy.
Cô Lễ sực nhớ lại tâm sự của cô một tháng trước đây, khi đọc những bài dự thi về nữ quyển ở báo Chấn Hưng. Cô thở dài, rồi đáp:
- Con xin khuyên bảo nhà con. Nhưng con nghe nói thiếu niên nam nữ thích đọc báo Chấn Hưng hơn những báo khác.
- Tùy đấy. Là thầy nghĩ thế, thì thầy nói thế. Cổ động nữ quyền vẫn là nên, nhưng phải dạy cả tứ đức tam tòng mới được.
Không muốn đứng lâu với cha, để phải nghe cha vạch lỗi của người bạn trăm năm yêu quý, để cũng như bị những nhát búa rìu đánh vào lương tâm của mình, cô Lễ đáp:
- Vâng ạ.
Rồi không để cụ nói thêm, cô ra chỗ cụ bà. Cụ bà hỏi:
- Ông phủ Yên Thế giết người à?
- Vâng.
- Ác nhỉ.
- Bây giờ ông ấy phải tù rồi.
- Độ này nhà nước hay trị quan trường nhỉ. Vừa việc quan án Trinh ăn hối lộ, phải cách và phải tù, lại đến việc quan phủ Yên Thế giết dân.
Cụ ông ở trong nói ra:
- Dột từ nóc dột xuống. Muốn trị thì phải trị từ toàn quyền thống sứ trở xuống mới hết nhũng lạm được.
Cụ bà nói:
- Ban nãy thầy nói phải đấy. Báo Chấn Hưng người ta kêu nhiều lắm, cô ạ. Đẻ không biết thế nào, nhưng cứ muốn bảo cậu ấy thôi, đừng viết báo nữa. Đẻ thấy cái nghề ấy nó thế nào ấy. Nó lông bông, lang bang. Nó chỉ là cái nghề chân nâng. Mà đẻ nghe nói ai làm báo là đẻ nghĩ y như người ấy vô nghề nghiệp thôi. Sao cậu ấy không mở hiệu thuốc như trước. Vừa được phúc, vừa được tiền.
- Mở hiệu thuốc thì phải có vốn.
- Thế vốn trước đâu cả?
- Con không biết.
Cô ngập ngừng, rồi nói:
- Chính con cũng muốn nhà con đổi nghề. Viết báo thì làm việc thất thường, đêm thức ngày ngủ, ăn chả bao giờ được trọn bữa. Nhà con cứ bảo làm báo như bận con mọn. Xong bài cho số báo hôm nay, đã phải lo cho số báo ngày mai. Thành thử óc chả lúc nào được nghỉ. Có đêm ngủ cũng nói mê về báo. Nhà con không được khỏe, con sợ cứ thế này mãi thì ốm to. Mấy lị, còn bạn bè đến chuyện gẫu, lắm đêm con cũng phải thức theo.
- Khách cậu ấy thì cậu ấy tiếp, cô cứ việc đi ngủ có được không?
- Khốn nhưng cười nói rầm rầm. Vả nhà chật, không lẽ khách ngồi đấy, mà con nằm đấy, coi sao tiện! Con cứ lo cho nhà con, ăn ngủ thất thường, lại lắm hôm đi đến tận khuya mới về.
- Đi đâu?
- Con hỏi thì nói nghề làm báo phải thế. Có tụ họp bạn bè tán tỉnh với nhau, mới dễ nảy ra tứ làm thơ, làm văn. Viết báo là làm tai làm mắt cho quốc dân, mà cứ chúi ở xó nhà, thì nghe thấy gì, trông thấy gì.
Cụ bà nhổ bãi quết trầu vào ống phóng, rón hai ngón tay quệt mép, rồi nói:
- Cũng phải. Cho nên đẻ vẫn muốn cậu ấy đổi nghề đi thì hơn.
- Ý nhà con cũng không muốn làm báo lâu cho lao tâm lao lực. Nhưng chỉ vì ông sáng lập và anh em trong tòa soạn tốt, cho nên không nỡ bỏ người ta. Nhất là không có tiền làm vốn thì đành phải bó tay mà chịu hết.
- Thế vốn độ bao nhiêu thì đủ?
- Con không biết.
- Đẻ cứ tính như thế này. Thầy đẻ chả giàu có bằng ai, nhưng cũng được bốn cái nhà đấy, thầy đẻ chưa định cho con chiếc nào, nhưng chắc hai chị em thì mỗi người hai chiếc. Cái nhà ở Hàng Đào này là hương hỏa của các cụ để lại, là về phần em Nghĩa. Vậy cô xem ba chiếc kia, chiếc nào tiện thì lấy lại mà ở. Ở không hết thì cho thuê bớt. Còn một chiếc nữa, cứ cho người ta thuê, để lấy tiền mà ăn. Chả phải vất vả gì cả. Có hai vợ chồng son ấy mà.
Cô Lễ lắc đầu:
- Nhà con không nghe thế đâu. Nhà con là con người hiếu động, không làm việc không chịu được. Mấy lị chả lẽ trong nhà năm nào cũng chỉ có hai người thôi à?
Cô tránh nói tiếng sinh đẻ cho đỡ ngượng. Cụ Tú cười:
- Ừ nhỉ.
Cô thêm:
- Tính nhà con lại khái, không chịu mang tiếng là nhờ vợ, để người đời mỉa mai là chuột sa chĩnh gạo, là đào mỏ. Cho nên con định thưa với đẻ là con có nên bán đồ tư trang cho nhà con làm vốn để xoay nghề khác không?
- Sao bảo cậu ấy cũng mua được cái nhà ở đâu kia mà?
- Nhà với cửa đồ chết giẫm ấy! Chẳng qua nhà con thật thà, nên bị em bà huyện Gia Lộc nó lừa đấy thôi.
- Là bà cử Dần ấy à?
- Vâng. Bây giờ nhà con đẩy được cái nợ ấy đi rồi.
- Thế tiền bán nhà để đâu?
- Con không biết.
- Gì cũng con không biết! Là vợ thì phải biết việc của chồng để mà cùng lo lắng làm ăn chứ. Cô này dễ thường tất cả việc to việc nhỏ đều phó mặc cho chồng hết. Như thế là không phải. Mình là nội trợ, là nội tướng, phải giúp chồng việc nhà, để chồng làm việc nước chứ?
Cô Lễ thở dài:
- Ôi chà! Lắm lúc nhà con cứ thế nào ấy. Thật không ra thật, dối không ra dối, khôn không ra khôn, đần không ra đần, có học không ra có học, vô học không ra vô học.
- Ấy thầy nhà lúc làm văn làm thơ, lúc có chuyện gì phải nghĩ ngợi, cũng cứ như thế đấy. Có lẽ cái nghề làm văn làm báo nó sinh ra tính người ta như vậy hay sao. Nhưng mà thôi, cô nên nghe đẻ, đừng có bán tư trang mà mang tiếng. Mang tiếng cả thầy đẻ là làm gì đến nỗi con gái vừa đi lấy chồng đã phải bán tư trang, cần bao nhiêu, cứ nói thật với đẻ. Trong nhà có thì đẻ xếp cho, thiếu bao nhiêu, đẻ giật quanh họ hàng hộ, rồi giả sau.
- Vâng.
Cô Lễ đứng dậy:
- Con lên chợ đây, kẻo muộn.
- Ừ.
Cụ dặn lại:
- Nhất định tôi cấm cô bán tư trang đấy nhé.
- Vâng.
Cô Lễ chào cha mẹ, rồi ra cửa. Cụ bà nói thêm một câu:
- Đến chiều vợ chồng về nhà mà ăn cơm nhé.
Cô Lễ sung sướng:
- Vâng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIII
CHỒNG CHỊ, CHỒNG TÔI  
 
Nhận bức văn tự sang tên nhà phố Hàng Vải thâm, có chữ ký của giám đốc sở Văn tự, cô Lễ đưa cho người tùy phái một đồng bạc, rồi thuê xe về tòa báo.
Lòng cô lúc này phơi phới vui. Vì cô đã làm xong một việc khó khăn để chiều ý chồng.
Ý chồng cô là muốn theo lời bà cụ khuyên bảo, dọn về ở một cái nhà của mình, cho rộng rãi, được tự do, khỏi phải nhờ cái buồng chật hẹp của tòa báo, thỉnh thoảng cụ có đến, không có chỗ mà ngồi, Nhưng anh lại khái, không muốn mang tiếng là ở nhờ nhà bố mẹ vợ. Cho nên, để chiều theo được ý mẹ, cô Lễ nghĩ chỉ có cách giải quyết, là xin hai cụ sang tên hẳn một cái nhà cho mình.
Cố nhiên, cụ bà bằng lòng. Nhưng cụ ông lưỡng lự. Và cậu Nghĩa thì phản đối kịch liệt.
Cô phải về tất cả bốn lần để thúc cụ bà thuyết cụ ông, thuyết bằng lý, bằng tình, bằng cả nước mắt. Cô lại nhờ cả mấy ông chú bà bác đến vận động hộ, cụ ông mới đồng ý.
Bây giờ văn tự ở trong tay cô rồi. Cô định chốc nữa, về nhà, còn giả vờ giả vịt mãi để trêu chồng lâu, cho đến lúc anh thất vọng, mới đưa anh xem văn tự, cho anh cười. Rồi chiều nay, hai vợ chồng lên Hàng Vải thâm, bảo người trương tìm nhà khác để dọn đi, cho ông chủ bà chủ đến ở. Nghĩ đến tiếng ông chủ bà chủ, cô sung sướng quá. Cái nhà ấy sẽ là cái tổ uyên ương, ủ ấp cho ái tình của đôi vợ chồng mới. Rồi đôi vợ chồng mới sẽ chọn xem chỗ nào ấm cúng nhất thì làm buồng ngủ, chỗ nào yên tĩnh thì làm nơi cho anh nghĩ văn, nghĩ thơ, để viết báo. Buồng ngủ, buồng làm việc, buồng tiếp khách, bày biện những gì, ông chủ bà chủ sẽ bàn bạc với nhau rồi sắm dần.
Xe đến đầu phố Hàng Bồ. Cô chắc bây giờ đức anh chồng mong mình lắm đây. Hẳn là xe vừa đặt vào hè cô chưa xuống, chàng đã chạy ra đón, và hỏi:
- Đâu? Được chưa?
Cô sẽ làm mặt buồn rầu, không nói. Cho anh thất vọng. Cô Lễ mỉm cười một mình.
Xe gần đến tòa báo, cô vui sướng, lánh mặt sang phía gọng mui, nhìn cho rõ xem chồng cô đứng ở đâu, để trốn anh.
Nhưng cô không trông thấy anh Thừa.
Xe đỗ trước tòa báo. Trả tiền xong, bỗng cô thấy một người đàn bà, trạc tuổi cô, tay dắt một thằng con trai độ lên ba tuổi, đến gần cô. Người này đi đất, mặc váy vải, áo cộc nâu, nhưng không rách rưới. Chắc không phải kẻ đến ăn xin.
Người đàn bà hỏi cô:
- Tôi hỏi khí không phải, chị có phải là vợ anh Thừa không?
- Vâng.
Cô hơi ngạc nhiên. Nhưng nghĩ đến tiếng chị mà người ấy gọi cô, cô đoán là một người họ hàng của chồng ở nhà quê ra thăm. Cô mỉm cười, nhìn người ấy:
- Chị hỏi anh Thừa ạ?
- Vâng. Anh ấy có nhà không ạ?
- Mời chị vào chơi. Tôi mới đi về, chẳng biết nhà tôi có nhà không.
Rồi cô hỏi:
- Chị ở nhà quê mới ra ạ?
- Vâng.
Cô đưa người khách vào buồng riêng, mời ngồi, rồi rót hai chén nước:
- Mời chị. Chúng tôi ở đây cũng là chân nâng, cho nên phải chịu chật chội.
Người khách hỏi:
- Anh Thừa đi vắng ạ?
- Vâng, chắc là thế.
Người ấy uống chén nước, rồi nói:
- Tôi nghe anh chị mới lấy nhau.
Cô Lễ ửng đôi má:
- Vâng.
Rồi cô hỏi:
- Thưa, tôi mới về, mà nhà tôi thì bận, thành thử chưa đưa tôi đi được đến chỗ họ hàng. Thưa chị là thế nào với anh Thừa ạ?
Người khách cười. Cô Lễ lại hỏi:
- Để họ hàng biết nhau, đi lại cho thân mật. Kẻo lại đánh nhau vỡ đầu mới nhận họ!
Cô cười. Nhưng người khách không cười. Cô Lễ chưa được biết người này là ai, nên lại phải hỏi những câu đưa đẩy:
- Thưa, trong quê ta năm nay mùa màng thế nào ạ?
- Xấu hơn năm ngoái. Đến đói to mất. Năm nào cũng mất mùa.
- Chị cấy bao nhiêu ạ?
Người đàn bà lắc đầu:
- Chả có ruộng nương đâu mà cấy, chị ạ.
Rồi nói:
- Vợ chồng mới, ở thế này, vui nhỉ!
Cô Lễ thẹn, chỉ cười, không đáp.
Người khách đứng dậy:
- Tôi vô phép chị nhé. Tôi đợi ở ngoài cửa, lúc nào anh Thừa về thì tôi vào.
Cô Lễ níu cánh tay người ấy lại:
- Không. Đây là nhà chúng tôi. Mời chị cứ ngồi chờ. Tôi không bận gì cả.
Người đàn bà thở dài. Cô Lễ hỏi:
- Ban nãy tôi hỏi, chị chưa cho biết. Thưa chị là thế nào với nhà tôi ạ.
Người ấy cười:
- Xin nói thật thế này. Tôi với chị, chả có điều tiếng gì với nhau, cho nên tôi sợ nói ra thì chị tưởng tôi xấu bụng, chị lại buồn.
Cô Lễ nhã nhặn:
- Có điều gì, xin chị cứ bảo. Để gọi nhau cho đúng. Việc gì mà buồn ạ?
Người khách ngồi nghiêm lại, nói:
- Chị ạ, tôi là vợ cả của anh Thừa. Thằng Mão, con anh ấy đấy. Chị xem nó có giống bố nó không?
Cô Lễ trợn tròn đôi mắt, lạnh toát như người bị cảm suýt ngã.
Mẹ Mão vội vàng đứng dậy, đỡ cô ngồi xuống giường:
- Phải. Tôi biết là chị nghe thì buồn mà! Nhưng vì chị cứ gặng hỏi, nên tôi phải nói. Vả tôi thấy chị cũng như tôi, đều bị nó lừa, cho nên không nỡ giấu chị.
Cô Lễ chăm chắm nhìn mẹ Mão. Mẹ Mão vẫn dịu dàng:
- Chị ạ, tôi xem chị không phải như hạng con cô đốc, thì chị có biết bố thằng này thế nào không, mà lại lấy nó?
Cô Lễ run run:
- Cô đốc nào? Cô đốc ở Phòng thuốc nhà giàu ấy à?
- Phải, con Tây lai đĩ rạc đĩ rày chứ đốc đếch gì nó!
- Thế sao, hở chị?
- Nó bỏ tôi, lấy con cô đốc, đã có đứa con trai. Bây giờ chắc lại bỏ con cô đốc, mới lấy đến chị.
Cô Lễ hu hu khóc.
Mẹ Mão chép miệng, lắc đầu, an ủi:
- Thôi, chị ạ. Chẳng qua cái số tôi với số chị nó sa vào vũng bùn, cho nên khổ.
Cô Lễ lau nước mắt:
- Tôi không ngờ!
- Phải, ở đời nào ai học đến chữ ngờ. Ấy là tôi chỉ nói những người vợ nó có cưới xin hẳn hoi. Còn những người tằng tịu tạm bợ, rồi đẻ hoang với nó, thì vô khối ra đấy. Tôi chả biết đám cưới chị có linh đình không, chứ mà mắt tôi trông thấy đám cưới nó lấy con đĩ Tây lai có mang sẵn với ai ấy, mà nào quả phù trang, nào lọng xanh, đi mười xe song mã, mà chả biết nó thuê đâu được những người rước dâu, toàn áo gấm với áo nhung. Rồi tế tơ hồng, lễ hợp cẩn, rồi tiệc tùng, hát xướng linh đình suốt đêm trong cái nhà thuê ở phố Hàng Tiện.
Cô Lễ rên ra tiếng:
- Ôi trời ơơơi! Nhục nhã thân tôi!
Mẹ Mão khuyên giải:
- Nó đi lừa thì nó nhục, chứ việc gì mình nhục. Chị có biết tại sao nó làm thuốc không?
Cô Lễ thổn thức:
- Tôi nghe nói anh ấy du học ở bên Tàu.
Mẹ Mão cười:
- Thế chị có biết nó làm những nghề gì không?
- Tôi nào có biết!
Mẹ Mão nhìn cô Lễ bằng đôi mắt ái ngại:
- Nguyên do thế này, chị ạ. Ngày thuở bé, nó học ở trường làng. Đâu vì cái tính ăn cắp thế nào ấy, thầy giáo mới đuổi. Ngày ấy, tôi chưa về làm dâu ông bà Bếp, nên không biết đích.
Cô Lễ hỏi:
- Ông bà Bếp nào?
- Là ông bà đẻ ra thằng Thừa chứ ông bà nào!
Cô Lễ ối lên một tiếng, rồi hỏi:
- Sao bảo…
- Sao bảo gì? Ông ấy đi lính khố đỏ được đóng lon bếp. Cho nên năm bên Tây đánh nhau, ông ấy thấy nó học không hay, cày không biết, cứ lêu lổng, mới bắt nó đăng lính mộ chào mào. Ông Bếp hỏi tôi cho nó, tôi có bằng lòng đâu, nhưng ông bà tôi cứ ép, thành thử tôi phải lấy nó, để tôi khổ suốt đời.
Cô Lễ thở dài. Mẹ Mão tiếp:
- Sau ông bà tôi mới biết hối hận. Tôi chắc rằng hai cụ bên nhà cũng cả nghe mối lái thế nào, mới gả chị cho nó. Chứ tôi tính, dù con ế chồng, chết già thì chết, chứ không ai hoài người mà gả cho cái quân bịp bợm, bạc tình ấy.
Cô Lễ như bị một nhát búa, lại rú lên:
- Trơơời!
- Thôi, than vãn làm gì? Bố mẹ trót lầm, thì mình nên chịu, chứ oán ai?
Cô Lễ vật vã chân tay:
- Nhục nhã thân tôi!
- Thôi, chị ạ. Chẳng qua là Trời định cái số mình phải thế, thì mình tránh cũng chẳng được, chị để tôi nói nốt. Nó không đăng lính mộ, mới định đi kéo xe cho con dì nó, là con vợ Tây, tên là cái Ĩnh con. Nhưng bố nó không cho. Nó lễ lạt con vợ Tây, nên được làm phu kíp ở ga Đồng Đăng.
Cô Lễ choáng người:
- Phu kíp?
- Phải, phu kíp. Ở Đồng Đăng, thỉnh thoảng được hôm ông sếp ga đi bắn, nó phát vé thay, thôi thì ăn cắp ăn nảy của hành khách từng xu một, bị người ta kêu ca, chửi bới, rác cả tai.
Cô Lễ thở mạnh:
- Nhục ơi là nhục!
- Có tiền, nó vào sòng bạc, nó uống rượu, rồi về hành hạ vợ con. Nó bắt nhân tình nhân ngãi lung tung, Tôi ngăn không được, còn bị nó đánh sưng cả mặt mũi. Một lần nó dọa tôi, bóp cả cổ con bé dại nhà tôi suýt chết. Nó tàn nhẫn đến thế là cùng!
Ngừng một lát, mẹ Mão tiếp:
- Một hôm, ông sếp ga đi bắn vào rừng, cứu được ông quan Tàu khỏi bị thổ phỉ bắt. Ông này về nước được ít lâu, thì ông sếp ốm. Ông sếp phải xuống Hà Nội để chữa, nhưng vì bệnh nặng, nên ông ấy chết. Thế là bố thằng này được tạm quyền sếp. Thôi, từ đó nó lại làm tướng ở ga Đồng Đăng. Lại ăn cắp. Lại đánh bạc. Lại chim gái. Lại uống rượu. Lại đánh vợ. Cứ năm ngày ba trận, tôi thâm tím cả mặt mũi, mình mẩy không mấy lúc không lằn những vết roi, gậy. Tôi tính đời tôi chưa đận nào khổ hơn đận ấy.
Cô Lễ xoa đầu thằng Mão.
- Cái ông quan Tàu về nước, thì đền ơn ông sếp. Ông ta gửi biếu ông sếp cái bằng làm thuốc. Nhưng vì không biết tên ông sếp là gì, nên để trống chỗ tên, cho ông sếp điền vào. Nhưng vì ngày ấy ông sếp ốm, về Hà Nội, nên bố thằng này nhận hộ. Rồi khi nghe tin ông sếp chết, nó mới điền tên nó vào cái bằng làm thuốc ấy, để nhận chằng là của mình.
Cô Lễ quật mạnh tay xuống chiếu.
- Ông sếp ga mới đổi lên thay ông sếp cũ, thì bố thằng này không được hoành hành, nên hục hặc với ông ta. Ông ta tức mình mới tư đuổi. Nó sợ quá, bảo tôi về nói lót với con vợ Tây, xin cho nó đổi về Hà Nội. Nó được về Hà Nội. Chị có biết nó làm gì không?
Cô Lễ lắc đầu, vẻ chán ngán.
- Làm cu-li kéo quạt, chị ạ.
Cô Lễ như bị tắc thở, kêu lên một tiếng ặc trong cổ họng.
Mẹ Mão đưa cô chén nước, rồi tiếp:
- Từ ngày này, tôi về nhà quê để ở cữ cháu Mão, thì không biết nó làm thế nào mà dan díu với con Tây lai, là vợ thằng chủ, tức là con cô đốc đấy. Ở ga Hà Nội nó làm cu-li kéo quạt cũng không nổi, nên bị đuổi. Từ đó, nó toàn sống bằng nghề đi lừa. Sẵn có bằng làm thuốc, nó mở hiệu thuốc. Nó dắt ở nhà quê ra một lão chú họ, thi trượt khóa sinh, làm cụ Điều. Nó kiếm ít bài thuốc đăng ở báo, mới lòe người ta là của nó, rồi cứ thế chữa cho bệnh nhân. Cho nên nó có dám kể bệnh, kể thuốc với người ốm bao giờ đâu. Chỉ những người dại dột, ngu ngốc, mới tin là chú cháu nó biết thuốc.
Cô Lễ thở dài thật mạnh.
- À, nó lại làm thuốc cao đơn hoàn tán để bịp khắp nước nữa. Nó mua thuốc của hiệu khác, rồi dán nhãn của hiệu nó thay vào. Nó quỵt không biết bao nhiêu là tiền của những hiệu thuốc trong Nam Kỳ tin nó, nhờ nó làm đại lý. Kể tội ăn cắp của nó trong những năm làm thuốc, thì đến chiều chưa hết, chị ạ.
Mẹ Mão uống hụm nước, rồi kể tiếp:
- Không hiểu vì sao con Tây lai cũng có bằng y tá. Bố thằng này mới gọi tôn lên làm cô đốc, để hai đứa cùng lừa bịp thiên hạ. Con Tây lai là con một thằng cố đạo Tây. Lớn lên, nó lấy hết thằng này đến thằng khác, rồi đi làm giăng há kiếm tiền. Hai đứa mê nhau, con Tây lai có mang với nó, mới bắt nó cưới thật linh đình, như cưới một cô con gái tân, con nhà tử tế.
Cô Lễ suýt đánh rơi cái chén xuống gác.
- Từ đó, nó đuổi mẹ con tôi đi. Con vợ Tây là dì nó dắt tôi đi khâu đầm. Những người tử tế không thể làm cái nghề ấy được. Giá tôi không gặp một anh người làng bảo tôi, thì tôi mắc mưu con đĩ già rồi. Tôi bỏ nghề khâu đầm, bơ vơ ở Hà Nội mất mấy tháng. Nhiều lần tôi đến phòng thuốc của nó ở Bờ Hồ, đều bị nó tránh mặt. Tức quá, tôi mới nói chuyện với chị em, thì có ba người giỏi võ, đến đánh cho nó với con cô đốc một trận. Tôi nói toáng lên cho bệnh nhân biết ông y sĩ với cô đốc là người thế nào. Do cái tích ấy mà nó phải đóng cửa phòng thuốc đấy. Chẳng biết hai cái răng gãy nó đã chữa chưa, hay vẫn để hổng nguyên.
Cô Lễ thở dài.
- Trời quả báo, một hôm, nó còn bị con nhân tình cũ ở Đồng Đăng, tên là Múi, cho một trận ngay giữa phố Hàng Đậu, phải vực đi nhà thương.
Cô Lễ giật mình, hỏi:
- Hàng Đậu à?
- Vâng. Hàng Đậu. Tôi không hiểu thế nào, chữ nhất là một không biết, mà nó làm chủ báo. Chắc là làm báo cũng để lừa chài, làm hại con gái nhà người ta. Chứ báo bổ gì đồ ấy. Thằng này còn sống ngày nào, còn ăn gian nói dối ngày ấy. Nó lấy vợ đẹp, thì lừa vợ đi ngủ với trai để làm tiền. Nó lấy vợ giàu thì đào mỏ. Đến ngày vợ hết nhan sắc, hết tiền, thì nó bỏ, nó tìm người khác, để lại đày đọa người ta.
Mặt cô Lễ tái lại.
Uống hết chén nước, mẹ Mão lại nói:
- Tôi biết rằng tôi nói từ nãy đến giờ thì chị buồn. Nhưng tôi có muốn thế đâu. Chị với tôi vốn không có điều tiếng gì với nhau, cho nên tôi không ghen với chị. Mà chắc chị cũng biết rằng không phải tôi kể như thế, để chị bỏ nó, cho tôi lại về với nó. Không. Không bao giờ tôi chịu làm vợ cái quân gian ác, tàn nhẫn, bạc tình đâu, chị ạ.
Cô Lễ lại như bị nghe những câu chửi rủa. Cô loạng choạng đứng dậy. Nhưng mẹ Mão đỡ lấy cô:
- Chị muốn gì, chị bảo tôi, tôi xin giúp.
- Không. Cảm ơn chị.
Mẹ Mão dắt tay con:
- Thôi, tôi chào chị ở lại.
Cô Lễ rưng rưng nước mắt:
- Chị ở lại để gặp bố thằng Mão chứ?
Mẹ Mão lắc đầu:
- Không cần. Tôi gặp chị, được nói hết là hả rồi.
Cô Lễ cúi xuống, bế thằng bé con, nhìn nó, rồi nước mắt giàn giụa.
Cô móc túi, lấy hai tờ giấy năm đồng, giúi vào tay nó. Nhưng mẹ Mão nói:
- Chị đừng cho nó. Nó không biết tiêu tiền. Mà tôi thì không nhận đâu. Mấy năm nay tôi có phải ngửa tay xin thằng khốn ấy đồng nào, còn phải nộp công sưu cho nó, mà mẹ con vẫn đủ cơm cháo hai bữa.
Cô Lễ nghẹn ngào:
- Tiền này là tiền riêng của tôi, tôi cho cháu.
- Ừ, tiền của chị thì sạch sẽ, không bẩn thỉu.
Mẹ Mão bảo con:
- Mão cầm lấy, xin cô đi.
Cô Lễ đặt thằng Mão xuống. Mẹ Mão dắt con:
- Thôi, chào chị, tôi về.
Cô Lễ đáp:
- Chào chị.
Cô nhìn theo hút mẹ Mão. Rồi bỗng cô run bắn người như lên cơn sốt rét. Cô lần bước đi vào buồng, thét lên một tiếng, rồi nằm vật trên giường.
* * *
Cô Lễ hốt hoảng ngồi dậy. Cô bàng hoàng. Bâng khuâng. Không. Cô nhớ lại rồi. Không phải chiêm bao đâu. Mẹ Mão ngồi đây. Chị ta nói chuyện với cô. Đó là sự thật.
Cô nhìn đồng hồ. Ba giờ chiều rồi. Thế mà cô chưa ăn cơm sáng. Nhưng bụng đầy, cổ nghẹn, cô có thấy đói đâu.
Ừ, ba giờ chiều thật. Vậy mà chồng cô đi đâu từ sáng chưa về?
Cô đứng trước gương một lúc, nghĩ mãi không nhớ là định làm gì. Cô nhìn mặt cô vậy. Thấy đầu tóc rối xù, cô mới nhớ rằng cô định vấn khăn. Cô rót nước vào chén. Chén đầu ộc lúc nào, cô không biết, nước tràn cả ra đĩa. Nhưng cô lại quên, không uống. Cô lững thững xuống nhà, ra đứng ở hè. Lúc ấy cô mới sực nghĩ ra là cô chưa khóa cửa buồng. Cô nắn túi. Tờ văn tự vẫn còn ở đó. Cô lấy ra, nhìn lại xem có đúng không. Rồi không biết chân cô bước lúc nào. Cô thẫn thờ đi. Cô cúi mặt, không dám nhìn ai. Lúc ngẩng lên, cô mới biết là cô đã tới cuối phố, gần Hàng Thiếc. Cô nghĩ mãi tại sao cô đi đường này, lại không ra Hàng Đào, để về nhà?
Cô thẳng đến trường học Cửa Đông. Đoàn xe lửa xuống gần hết dốc, xình xịch trên cao, hét một tiếng. Cô giật mình.
Những bánh xe đương rít lên kia, đã nghiến nát bao nhiêu người nằm trên đường sắt rồi? Chết trên xe lửa thì gọn quá. Quéc một tiếng là xong, không đau đớn gì. Cô lại nhìn cây gạo mọc trên bãi cỏ. Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề. Chỗ này vẫn đồn là có lắm ma, tối đến, hiện lên, giương đôi mắt xanh lè, thè cái lưỡi dài như quả núc nác, để dọa người qua lại. Đó là những oan hồn của người thắt cổ phải không? Ừ, cây gạo này thấp, cành nó là là. Người tự tử đứng trên ghế, với tay buộc dây thừng vào cành cây, rồi thò cổ vào thòng lọng, đạp cái ghế cho đổ đi, thế là lơ lửng treo dưới thừng. Năm phút sau, người ấy tắc thở, chân tay mềm, duỗi thẳng. Nhưng bây giờ người ta hay tự tử ở hồ Hoàn Kiếm. Lội xuống nước, bước độ ba bước, thì hụt xuống chỗ sâu ngập đầu. Ằng ặc tắc thở. Vùng vẫy, uống nước. Thế là chìm. Lại còn có người uống thuốc phiện, hòa với dấm thanh. Bao nhiêu thuốc phiện, bao nhiêu dấm thanh thì đủ nhỉ? Hòa với dấm tây có chết được không? Nghe nói Tây hay tự tử bằng thuốc ngủ, và đầm lại tự tử bằng hoa. Ừ, thì uống nhiều thuốc ngủ, ngủ lịm lâu thì phải chết. Nhưng hoa thì thơm, giết thế nào được người? Song, chắc là có công hiệu, cho nên người ta mới tự tử bằng hoa chứ? Người chết rồi, thì không biết gì nữa, không lo lắng, không buồn phiền, không giận dữ, không xấu hổ, không nhục nhã. Người sống muốn nói gì thì nói. Người chết chỉ nằm yên. Và dù chết vì tội bất hiếu, chết vì tội bất chính, chết vì chán đời phụ bạc, thì đám ma vẫn có người khóc lóc, người phàn nàn, người thương xót, người hối hận.
Cô Lễ đã đến phố Hàng Bông. Đi đâu bây giờ? Về nhà mà nhìn thấy cha mẹ, thấy hai em, thì muốn tự tử thật. Tại sao cô không tin lời thành thực của người em ruột thịt, lại tin lời tán tỉnh đường mật của con người lọc lừa? Tại sao cô không vâng lời cha mẹ, lấy cậu Nhân là chỗ hẳn hoi. Tại sao cô không cứ ở với ông bà Nhì, xa Hà Nội, để dứt hẳn dây liên lạc với người quỷ quyệt. Và tại sao cô nhẹ dạ, trốn nhà đi theo trai, theo một thằng phu kíp, một thằng cu-li kéo quạt, một thằng ăn cắp, một thằng bợm, một thằng rượu chè, cờ bạc, trai gái, đã bỏ mấy đời vợ, đã bỏ mấy đứa con, thằng ấy chỉ là con một anh lính tập, vì giết quân ông Đề Thám mà được Tây cho đóng bếp! Cô nghĩ tới lời của mẹ Mão nói con Tây lai đĩ rạc đĩ rầy, bụng phưỡn cái thai của ai ấy mà đi lấy chồng, thì được cưới bằng lọng xanh, bằng quả phù trang, bằng xe song mã, bằng nhung, bằng gấm, bằng tiệc tùng hát xướng, đến nhà mới thuê cũng tế tơ hồng, cũng lễ hợp cẩn như một cô gái tơ. Thế mà cô, một cô con gái Hàng Đào đức hạnh, trong trắng, giàu có, con nhà lễ giáo, thì đi lấy chồng như đi ăn trộm! Tối hôm ấy, cô đến đầu chợ Đồng Xuân, thì hắn chờ sẵn ở đấy. Trống ngực cô thình thình, cô nhìn trước nhìn sau, nhảy tót lên chiếc xe thuê sẵn. Trời tạnh ráo, nhưng xe che kín mít bằng áo tơi cánh gà, như chở người ốm vào nhà thương. Cô ngồi ở trong, không dám dòm ra xem xe đi những đường nào. Một lát, xe đỗ xuống. Cô ra ngoài, nhìn xung quanh, không biết là ở đâu. Trời tối như mực, đèn lửa lại chẳng có. Cô theo hắn đi vào trong xóm. Đường gồ ghề, mấy lần cô suýt ngã, phải đưa tay cho hắn dắt, như vợ chồng anh xẩm. Rồi cô chui vào một cái buồng hẹp trong một căn nhà tranh thấp. Mùi mốc. Mùi hôi. Mãi mới mượn được cái đèn con. Cô mới nhìn thấy chỗ nằm là cái giường tre, trên trải chiếc chiếu cũ rách giữa. Đám cưới của cô thế đấy. Thế là cô hết đời trinh bạch. Vậy mà lúc ấy, cô không tưởng tượng đến cha mẹ, đến hai em ở nhà đương thế nào, sáng mai hàng phố bàn tán ra sao. Cô chỉ cần có mỗi một mình hắn ở cạnh, một mình hắn là đầy đủ, là hạnh phúc, là tương lai.
Cô dừng sững chân lại để nhịn khóc. Cô nhìn chuyến xe điện đi qua, để xua đuổi những hình ảnh đương vẩn vơ trong đầu óc.
Cô đi đâu bây giờ? Đi đâu cũng được. Nhưng đi đâu mà trốn được xấu, được nhục? Đi đâu mà tránh được nghĩ ngợi, buồn phiền, giận thân, giận kẻ gian ác? Đi thế này, lỡ họ hàng, bạn bè trông thấy mà hỏi thì nói thế nào? Nhà cậu Nhân ở phố nào nhỉ? Mặt mũi cậu ta thế nào? Có phải là cái chàng đi xe đạp kia không? Hai hè phố, người ta đi đâu mà tấp nập thế? Họ không có điều gì nghĩ ngợi, buồn phiền, giận thân, giận kẻ gian ác à? Sao cô kia lại cười nói vui vẻ thế? Cô không có tội bất hiếu với cha mẹ à? Cô không đi theo trai à? Cô không bị ai lừa à? Chồng cô không là phu kíp, không là cu li kéo quạt, không rượu chè, cờ bạc, trai gái, không bỏ nhiều vợ và bỏ nhiều con chứ? Còn cô kia, cô vẫn giữ được tấm lòng trinh bạch, hay đã có chàng trai nào nó ném thư cho cô, nó quyến rũ cô bằng lời đường mật để cô mê nó, cô tính đường theo nó? Còn cô kia nữa. Tại sao cô cười? Cô đã có chồng chưa? Cô lấy chồng, cưới xin đàng hoàng hay cô đã lẻn đi theo trai? Cô cười ai? Cô cười gì? Cô hớn hở vì lấy được tấm chồng xứng đáng, hay cô mỉa mai cái người tội lỗi, nhơ nhuốc nào?
Đến chợ Cửa Nam, cô thấy hàng họ đã vãn, và đường bị chắn. Một chuyến xe lửa đi qua. Sao mà đông thế? Họ đi đâu? Họ về với vợ, với chồng, về với cha mẹ, hay trốn vợ, trốn chồng, trốn cha mẹ? Trốn đi đâu? Lên Lao Cai, lên Lạng Sơn rồi sang Tàu, hay xuống Hải Phòng, rồi vào Sài Gòn? Dù đi đâu, cũng phải đem theo cái đầu có bộ óc biết nghĩ, biết nhớ, để mà buồn, để mà giận. Nhưng họ buồn, họ giận, còn tìm được người thân mà than thở cho vợi nỗi lòng. Còn cô thì than thở với ai? Cô định ngậm bồ hòn làm ngọt chứ mình làm mình chịu, chứ kêu mà ai thương? Vả vạch áo cho người xem lưng, thì xấu chàng nào có ai khen chi mình? Tội ở cô, cô đành đau đớn một mình, còn đày đọa thêm cho cha mẹ và hai em đau đớn lây nữa hay sao? Thật là khổ tâm. Thật là đau xót! Chỉ có nằm trên đường sắt, chỉ có treo dưới dây thừng, chỉ có dìm đầu xuống nước, chỉ có uống thuốc độc vào ruột mới không biết gì nữa.
Cô thở dài, quay trở lại. Cô về Hàng Đào.
Cô về nhà.
Cụ bà trông thấy cô thì tươi tỉnh, khoe ngay:
- Cậu ấy ở đây, vừa mới đi khỏi.
Cô khẽ đáp:
- Vâng.
- Thế cô đi đâu từ chiều mà cậu ấy phải tìm thế?
Cô nén thở dài:
- Con đi có việc.
Rồi cô hỏi:
- Thầy con không có nhà ạ?
Cụ cười:
- Ấy, hai bố con ăn cơm xong, rồi đưa nhau lên Hàng Vải thâm đấy.
Cô giật mình:
- Làm gì ạ?
- Xem cái nhà của cô chứ làm gì?
Cô nhăn mặt:
- Xem làm gì vội!
- Để sửa chữa mà dọn đến ở chứ làm gì!
Cô tặc lưỡi:
- Ở gì!
Cụ cau mặt:
- Con bé mới hay chứ! Chưa được nhà thì nằng nặc đòi cho kỳ được. Bây giờ được rồi thì ở gì, ở gì! Ai biết thế nào mà chiều được!
- Nhưng trước khác, bây giờ khác.
- Khác khác thế nào! Đừng trẻ con!
Cô không nói nữa. Cụ giục:
- Thôi, liệu mà về, kẻo cậu ấy tìm. Bận sau có đi đâu, thì cũng phải nói một tiếng cho người ta biết.
- Nhưng có nhà đâu mà nói.
- Thấy cậu ấy bảo cô đi chơi với một người nào dắt đứa bé con phải không? Ai thế?
- Người quen.
- Ừ, thế chứ lị. Cậu ấy cứ tưởng là họ hàng, mới đoán thế nào hai người cũng đưa nhau về nhà.
- Nhà con chờ có lâu không ạ?
- Đến đây lúc gần bốn giờ. Vừa mới đi. Còn nói chuyện với thầy mãi, mới ăn cơm. Đẻ bảo rể hay con cũng thế, không khách khứa gì, đến chơi chạm bữa thì ăn. Được cái cậu ấy cũng dễ tính, không như người ta.
Cô Lễ thở dài. Cụ thấy con có vẻ buồn, thì cười:
- Đúng là cô phải chờ cơm cậu ấy, chưa thấy về, thì đến đây để tìm à?
Cô đáp cho xong:
- Vâng.
- Thế ăn cơm chưa?
Cô nghe trong bụng, rồi đáp:
- Con ăn rồi.
- Ừ, tưởng chưa ăn thì chờ chốc nữa em đi học về, ăn với nó.
Rồi cụ dịu dàng bảo:
- Này, đẻ mới mua được mấy gắp chả Cầu Dần, ngon đáo để. Ăn vã vậy nhé.
Cô lắc đầu:
- Con chả ăn.
Cụ cười:
- Bảo thật cô nhé. Có ăn ở đây thì ăn, chứ xin mang về là đẻ không cho đâu. Gì cũng để phần cho chồng!
Rồi không cười nữa, cụ bảo:
- Nói đùa, chứ cậu ấy ăn ở đây rồi. Mà hôm nay đã dám uống tí rượu. Chắc là nể thầy lắm đấy.
Cô thở dài, khừ một cái, rồi nói giọng mát mẻ:
- Vâng, nhà con không biết uống rượu!
Cụ không hiểu là cô đay người chồng giả dối của cô, nên cụ khen:
- Ừ, cậu ấy cũng hiền lành, thật thà. Thế là mừng.
Cô ngồi thừ, không đáp. Cụ cau mặt:
- Quái, hôm nay cô này thế nào ấy.
Rồi cụ đùa:
- Hay là nhớ chồng? Này, đã lớn rồi, đừng có như sơn như nhựa mà người ta cười cho đấy. Vắng nhau một lúc, mà chồng đi tìm vợ, vợ đi tìm chồng!
Cô thở dài:
- Không phải thế đâu ạ.
Cụ yên lặng, rồi hỏi khẽ:
- Hay là nghén? Có thấy trong người khác cái gì không?
Cô không đáp, nhưng hỏi:
- Nhà con nói chuyện gì với thầy ạ?
- Đẻ cũng chẳng nghe. Chắc lại chuyện văn bài nghĩa lý chứ gì.
Cụ nghĩ một lát, rồi:
- À, có một lúc, đẻ nghe thấy cậu ấy phàn nàn là từ ngày làm báo, có lắm kẻ độc tâm, nó ghen ghét, nó đặt điều để nói xấu cậu ấy.
Cô Lễ xám mặt:
- Hừ! Đặt điều! Nói xấu! Tốt thì ai nói xấu. Có thực thì ai đặt điều!
Cụ cau đôi lông mi:
- À, cô này! Hay vợ chồng đã có điều gì giận dữ nhau đấy? Cổ nhân bảo chồng giận thì vợ làm lành, miệng cười hớn hở rằng anh giận gì. Gia pháp nhà này không có dạy con gái hỗn với chồng đâu nhé!
Cô nói:
- Không ạ, chúng con có điều gì với nhau đâu ạ.
- Thế chứ lị! Thôi, về đi, kẻo tối.
Bỗng cậu Nghĩa mở cửa vào. Cô Lễ được cớ để ở lại với em.
Cô chờ cho cậu cất sách và rửa mặt xong đâu đấy, rồi bấm cậu lên gác.
Hai chị em rón rén lên thang. Vừa đến mặt sàn, bỗng cô Lễ nắm chặt cánh tay em, òa lên khóc:
- Chị khổ lắm, em ơi!
Rồi cô nhét chặt vạt áo vào miệng để nức nở, cho cụ Tú khỏi nghe tiếng.
Mợ Nghĩa chạy đến gần. Hai vợ chồng đỡ chị ngồi xuống ghế. Cậu hỏi khẽ:
- Việc gì thế, hở chị?
Cô thút thít:
- Chị chán đời lắm, em ạ.
Cậu thương chị. Mặt nhăn nhó.
- Thôi, em xuống nhà mà ăn cơm. Chị khóc được một tiếng là hả rồi. Để chị yên, nằm nghỉ một lát.
Bỗng có tiếng cụ bà gọi mợ Nghĩa. Cô Lễ dặn:
- Đẻ có hỏi chị, em nói là chị đau bụng nhé.
Mợ Nghĩa xuống gác. Cô Lễ nói:
- Chị không muốn về đằng ấy hôm nay.
Cậu Nghĩa hiểu chị, nhưng đủng đỉnh đáp:
- Lấy chồng thì phải về với chồng. Dù là ngủ lại nhà mình cũng không được.
Mợ Nghĩa lên nói:
- Đẻ bảo em xuống coi nhà cho đẻ đi một tí. Đẻ dặn chị xem đau thế nào, có phải gọi anh đến xem mạch và cho thuốc không.
Cô Lễ bực mình:
- Chị không cần gì cả!
Rồi cô đay:
- Xem mạch! Cho thuốc!
Một lát, cô nói:
- Chị chỉ cần hai em điều này. Là chốc nữa, thầy hay đẻ có hỏi chị, các em nói rằng chị về đã lâu rồi.
Cậu Nghĩa hỏi:
- Chị không về à? Thầy đẻ biết các em nói dối, thì mắng các em chết.
Mợ Nghĩa xuống nhà. Cô Lễ nói:
- Mặc kệ các em.
Cô Lễ nằm một mình. Cô muốn ngủ một giấc cho say sưa như ban nãy. Nhưng không sao ngủ được. Lúc nào cũng như văng vẳng bên tai cô tiếng của mẹ Mão. Có thật chồng cô xấu thế, hay chị ta thù ghét mà bịa thêm? Nhiều câu chị ta vô ý, vô tình mà nói, nhưng chẳng khác gì những nhát búa bổ vào đầu cô, những ngọn dùi đâm vào tim cô. “Bố mẹ trót làm thì mình nên chịu”, “cả nghe mối lái mới gả cho nó”, “chết già thì chết, ai hoài con gả cho quân bịp bợm, bạc tình”. Khổ quá! Tội ở cô cả, mà người ngoài lại đổ cho hai cụ! Đau xót làm sao!
Rồi luôn luôn hình ảnh chồng cô hiện ra trong óc cô. Nhưng không phải cái người mặc quần áo Tây cổ đứng màu xám, đội mũ lưỡi trai, đeo đôi kính trắng không vành, ngồi bắt mạch; cũng không phải cái người đội khăn nhiễu tây, mặc áo đoạn trơn, ngồi ở bàn giấy tòa báo; mà là một anh Thừa đi đất, mặc bộ quần áo xanh cũ, tay cầm lá cờ, tay giữ đầu ghi; một anh Thừa tựa lưng vào tường, hai tay ôm đầu cái dây quạt để kéo xuống, buông lên, như người lạy; một anh Thừa mặc áo thụng xanh ra ngoài áo gấm, đứng trước bàn thờ lễ tơ hồng với cô đốc mặt trát bự những phấn.
Xấu chàng hổ ai!
Cô thở dài. Không biết một người đốn mạt, tàn nhẫn có thể sửa đổi thành lương thiện được không? Có ăn lời khuyên bảo, can ngăn của vợ không? Ước gì cô có phép tiên, cảm hóa được chồng!
Từ ngày ăn ở với nhau, chồng cô đối xử với cô ra sao? Có lẽ sẵn lòng tin, và mù quáng về tình yêu, cô không nhìn rõ được. Chỉ từ hôm hai cụ nguôi giận, cho vợ chồng cô đi lại như thường, thì anh hay vắng nhà, nói rằng làm việc báo. Có phải thật, hay anh đi chơi bời rượu chè, cờ bạc, trai gái, thuốc xái ở đâu? Có phải anh hay lại nhà vợ, là vì yêu vợ nên quý mến bố mẹ vợ, hay để nịnh hót, lấy lòng tin của hai cụ, hòng mưu mô điều gì? Bạn bè của anh, có những người văng tục, văng rác như đồ xỏ lá ba que, nhưng sao cũng có ông ấm Cận, ông Cử Huyền? Và có cả mấy ông huyện, ông phủ? Thật là khó hiểu. Tính nết thì thất thường. Thật không ra thật, dối không ra dối, khôn không ra khôn, đần không ra đần. Không hiểu chồng cô thế nào mà lại viết báo, và lại là chủ bút? Rồi cô lại nghĩ. Có thật người đàn bà ấy là vợ của anh Thừa, hay là vì anh làm báo, quen nói thẳng thắn, quá lời mà bị người ta ghét, thuê người đến đặt điều với cô để bôi nhọ anh?
Bỗng sàn gác kêu đánh kẹt. Có tiếng chân người đến gần. Cậu Nghĩa gọi:
- Chị! Chị ơi!
Cô không trả lời:
- Chị ngủ rồi à?
Cô cũng không trả lời.
Cậu Nghĩa rón rén ra xa, rồi xuống thang.
Cô vờ ngủ để cậu Nghĩa khỏi hỏi chuyện. Ruột cô rối bời bời, chưa nghĩ ra nên làm thế nào. Nếu em mà hỏi, tất cô không thể giấu. Em cô biết, tất hai cụ cũng biết, sẽ đau lòng vì thương cô.
Hiện giờ, hai cụ đương tin và yêu chàng rể. Song, sự thực thì rõ ràng là vì hai cụ đương bị chàng rể bịp. Cô cứ để vậy thì hai cụ vẫn vui vẻ đấy, nhưng như thế là cô có biết hai cụ bị bịp mà cứ để yên. Như thế là cô về hùa với chồng để lừa cha mẹ. Gặp một người ngoài bị nạn, mình còn phải cứu chả vẻ thay, huống hồ người bị nạn lại là người đẻ ra mình! Đau đớn cho cô quá. Cô có nên tự tử không? Đành rằng tự tử thì cô được yên thân, song, như vậy lại đúng là cô đưa con dao cho dư luận để bồi vào đầu cha mẹ cô thêm một nhát quyết liệt cho chết hẳn. Không! Cô không thể bất hiếu đến hai lần. Vả lại, nghĩ đến tự tử, cô sợ lắm. Bỗng nhiên, mình giết mình đương sống, ai lại đang tay thế được? Rồi người tự tử hóa thành những oan hồn, những con ma, nó bắt người khác theo dớp của nó, để thay cho nó được lên làm người. Bỗng cô ghê rợn, rùng cả mình. Cô kéo chăn trùm hẳn lên đầu để suy tính. Thôi, đành vậy. Cô phải chôn sâu nỗi khổ tâm xuống tận đáy lòng, âm thầm mà một mình chịu tai họa. Thế thì đối với chồng, cô phải thế nào? Đã giấu cha mẹ, cô đành giấu cả chồng, không cho rõ là cô đã biết hết về anh để anh đối với cô cho tự nhiên, để anh đối với hai cụ cho tự nhiên. Như vậy thì giữ được hòa khí. Chồng cô đối với cô tự nhiên thì gia đình được thuận, cô sẽ dò dần thói hư tật xấu của chồng để lựa lời mà khuyên can. Nhưng cô nghĩ lại. Cô có nỡ lòng trông thấy cha mẹ bị chồng cô đưa xuống hố mà cứ để vậy hay không? Và cô có thể suốt đời là cái mộc chống đỡ, che đậy cho người ngoài khỏi nhìn thấy bộ mặt thực của chồng, để trong ấm ngoài êm không?
Cô thở dài. Cô thấy má lành lạnh. Cô sờ tay vào gối xem cái gì. Thì ra không biết cô khóc từ bao giờ, khóc nhiều hay ít mà gối sũng những nước.
* * *
Sáng hôm sau, lúc cô Lễ dậy thì cậu Nghĩa cũng vừa dậy. Cô đưa cái văn tự nhà:
- Em giữ hộ chị.
Cậu Nghĩa ngơ ngác, hỏi:
- Sao thế, hở chị?
- Em cứ giữ cẩn thận cho chị. Bao giờ chị cần lấy, chị sẽ bảo.
- Nhà của chị thì chị giữ văn tự chứ?
Cô tặc lưỡi:
- Nhà cửa gì! Để xem đã.
Nói đoạn, cô để tờ giấy trên mặt bàn, rồi xuống nhà. Cụ bà nhìn thấy cô thì ngạc nhiên. Cụ gắt mợ Nghĩa:
- Sao con nói dối đẻ là chị con về rồi?
Cô Lễ vội vàng nói:
- Thưa đẻ, đó là tội của con. Con đau bụng quá, về thì sợ sương gió, mà ở thì sợ đẻ giục về. Cho nên con phải xui em con nói thế.
Cụ nguôi giận:
- Thôi, thế thì quàng quàng lên mà về, kẻo cậu ấy không bằng lòng. Xuất giá thì phải tòng phu, con ạ.
Cụ bảo con dâu:
- Con cùng đi với chị. Nói với anh rằng tại đêm qua đẻ bị cảm, nên thầy bảo chị ở lại.
Cô Lễ thấy mẹ nhận lỗi hộ mình để che mắt một người đầy tội lỗi với mình, với mẹ và với cha, cô vừa cảm động vì mẹ, vừa bực dọc với chồng. Không thèm nói dối người hay nói dối, cô nhăn mặt:
- Con về một mình, không sao ạ.
- Ừ, vợ chồng mới, đương tin yêu, chiều chuộng nhau.
Nhưng có lẽ cụ ông cũng băn khoăn, cụ rời ghế trường kỷ, ra nhà ngoài, nói:
- Đây, đây! Thế này. Cô bảo cậu ấy là ở lại xem thầy lấy số tử vi cho cậu ấy đến khuya. Chắc là thế nào cũng thích, rồi vọt ngay đến đây cho mà xem.
Cô Lễ chào cha mẹ, rồi lững thững đi bộ về Hàng Bồ.
Cô đã quyết định. Nhất định cô giữ vẻ mặt như thường. Để xem chồng cô thế nào.
Nhưng lạ quá! Cô không gặp chồng, Đêm trước, anh Thừa không ngủ nhà.
Anh ta theo cụ Tú đến Hàng Vải thâm, rồi đi đâu? Thưa rằng:
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIV
THƯA RẰNG  
 
Anh Thừa đập dồn dập vào cửa nhà chị Sáu.
Cửa mở ra. Anh ta vừa chạy thình thịch lên thang gác, vừa chửi:
- Tiên sư nó! Nó vừa ném cứt vào mồm tao, mày ạ. Thối quá!
Ông Tình muôn thuở ngẩng đầu dậy:
- Sao? Sao?
Anh Thừa vừa bưng miệng, vừa nói:
- Đây này, nhè nhẹt cả vào mặt mũi!
Chị Sáu thò mồm ra mái hiên, nhổ:
- Gớm, thối quá! Xuống nhà mà rửa ráy, thay quần áo đi! Chưa chi đã lên gác! Tối tăm, rồi nó dính cả vào cầu thang, vào sàn gác, ai biết chỗ nào mà cọ được!
Ông văn sĩ thấy mặt anh Thừa đen sì sì, chả nhận ra chỗ nào là mắt, chỗ nào là mũi, chỗ nào là miệng thì buồn cười không nhịn được, ông phá lên cười, ôm bụng mà cười. Anh Thừa cáu:
- Tiên sư mày! Mày làm mà ông chịu, mày còn cười được à!
Chị Sáu đuổi:
- Thôi, hãy ra đàng sau mà rửa, rồi tha hồ mà cãi nhau. Gớm! Thối hoăng thiên địa!
Anh Thừa xuống thang, ông Hoài Tân Tử vẫn cười, nằm ngửa ra mà cười, quật tay quật chân xuống chiếu mà cười.
Anh Thừa súc miệng, nhổ toèn toẹt, rồi khạc, rồi nhổ, rồi ọe, rồi giội nước uồm uồm. Chốc chốc lại chửi:
- Tiên sư nó! Vào cả tóc!
- Tiên sư nó! Vẫn còn thối!
Anh gọi:
- Có bàn chải đánh răng với thuốc đánh răng không hở anh Sáu?
Rồi anh lại gọi:
- Anh Sáu ơi! Cho mượn bánh xà phòng nhé!
Anh gội, anh rửa, anh tắm. Tiếng nước như thác chảy. Ông Tình muôn thuở chõ xuống, nói:
- Khéo mà bắn cả vào chum nước ăn của người ta nhé.
Chị Sáu bảo:
- Đậy lại rồi.
Anh Thừa kêu:
- Vào cả ngực áo, mày ạ. May tao lại không mặc áo đoạn.
Ông Hoài Tử lại cười.
Anh Thừa giặt. Tiếng vò quần áo mạnh như tiếng trâu cọ vào cột chuồng.
Ông Tình muôn thuở bảo chị Sáu:
- Cho nó mượn cái đèn, tối thế, không khéo nó rửa không sạch đâu.
- Kệ. Cho chết!
- Tử ơi! Kiếm cho tao bộ quần áo!
Ông văn sĩ lại nằm ngửa ra mà cười, rồi bảo chị Sáu:
- Nhà còn cái nào, cho nó mượn.
Chị Sáu xuống nhà, lấy quần áo cho anh Thừa.
Một lát sau, anh Thừa lên gác. Ông Tình muôn thuở lại lăn ra cười. Kêu trời mà cười. Cả chị Sáu cũng ôm bụng, nấc lên từng nhịp. Anh Thừa mặc cái quần thâm và cái yếm đầm của chị Sáu, vừa ngắn, vừa chật. Anh nhăn mặt:
- Chà! Sao mà thối thế! Dễ thường cứt khách, chứ không phải cứt An-nam mày ạ.
Lại những tiếng cười như muốn phá vỡ nhà. Anh Thừa bảo:
- Thật đấy. Khách ăn lắm chất béo bổ, ỉa ra, cứt mới nhuyễn và thối. Chứ An-nam nghèo, cứt rắn, không thối. Cho nên tụi phu thùng tranh nhau lấy thùng ở Hàng Đàn, chỉ toàn vỏ bào với que!
Ông Tình muôn thuở nói:
- Thôi, khoan hãy khảo cứu về cứt Hà Nội, đầu đuôi việc của mày thế nào?
Anh Thừa kể:
- Tại tao đi với ông cụ lâu quá, rồi còn về tòa báo. Thấy vợ tao không có nhà, tao mới lên đây tìm mày, thì trời vừa tối. Đến trước cửa Nhà máy thuốc lá, tao thấy một thằng ở trong bóng tối đi ra. Nó chào tao. “Thưa ngài, có phải ngài là chủ bút báo Chấn Hưng không ạ”. Tao hơi chột dạ, vừa đáp, thì có một con cũng đến gần tao. Con này nói: “À, ông Trần Đức Thừa, chủ bút báo Chấn Hưng!”. Thì ra thằng này dùng con này đến khóa cẳng tao mà tao không biết.
Ông Hoài Tân Tử nói:
- Cho mày chừa cái đĩ tính đi!
Anh Thừa tiếp:
- Con bé nói: “Chúng tôi có tí việc, nhờ ngài giải quyết hộ”. Tao xuống xe. Nó thỏ thẻ: “Thưa ngài, em muốn xin ngài cho em một chân trợ bút báo Chấn Hưng ạ”. Tao nhìn nó, rồi cười hà hà, đáp: “Đến mai, mời cô đến tòa báo”. Nó nói: “Thưa, em vẫn viết ở mục Tiếng oanh đấy ạ”. Nghe nó tự giới thiệu như vậy, tất tao phải làm ra vui vẻ, tao à một tiếng, thì tiên sư nó, thằng đàn ông ộc ngay một bọc cứt vào giữa miệng tao.
Ông Tình muôn thuở và chị Sáu phá lên cười. Ông nhà văn tán:
- Chắc là nó tìm một câu nói để cho mày phải à, há miệng to hơn là cười hà hà!
Anh Thừa cũng buồn cười:
- Phải rồi. Bây giờ tao mới nghĩ chúng nó mưu mô thế. Lúc ấy tao biết ngay là cứt. Không biết nó kiếm được ở đâu bãi cứt mà nát và thối thế! Cứ nhòe nhoẹt cả ra mặt mũi tao. Tao vùng tay toan nắm lấy nó, thì cả hai đứa ôm ghì lấy tao. Con bé nói: “Mày làm hại đàn bà con gái, thì bà chỉ cho mày ăn cứt thôi!”. Rồi hai đứa quật tao ngã xuống, cùng bỏ chạy.
Nói đến đây, anh Thừa sờ lại mặt mũi, ngửi tay, rồi thêm một câu cảm tưởng:
- Bố tiên sư chúng nó!
Chị Sáu hỏi:
- Còn mùi gì không?
Anh Thừa lắc đầu:
- Không thể biết được. Từ nãy đến giờ, ngửi cứt quen mũi mất rồi.
- Khiếp!
Anh nhìn ông Hoài Tân Tử:
- Tội mày, tao chịu. Bố tiên sư nghề làm báo! Bố tiên sư độc giả! Lại còn thằng xe nữa, tao mới tức chứ. Thấy tao thế, nó đếch kéo nữa. Thành thử tao phải bưng mặt từ Nhà máy thuốc lá về đây, vừa đi đường vừa khạc nhổ, nôn ọe.
Ông nhà văn lại phải cười trận nữa. Rồi hỏi:
- Mày có rõ mặt hai đứa không?
- Tao chỉ mải để mắt vào con ấy, còn thằng kia, tao không nhìn.
- Thế thì giá nó cho mày ăn hai bãi cứt cũng kịp, một bãi cho ông chủ bút, một bãi cho thằng mê gái!
Anh Thừa lại chửi:
- Bố tiên sư nó! Trong lịch sử báo giới Việt Nam, dễ tao là người đầu tiền phải ăn cứt!
Ông Tình muôn thuở cười:
- Mày có viết đ… đâu mà lịch sử báo giới mới chả đầu tiên! Mày chỉ là thằng bịp đời, mà trong lịch sử bịp bợm, mày là thằng thứ hai bị ăn cứt, biết không? Thằng thứ nhất, là thằng thầy cò họ Vũ, ở Hàng Bông đệm, có hiệu thợ may ấy, biết không?
Anh Thừa ngượng nghịu với chị Sáu:
- Nhưng rõ ràng bãi cứt vừa rồi là nó cho thằng viết báo ăn. Thế thì nó đã lầm mà ập vào mồm tao. Trong tòa báo Chấn Hưng, thằng đáng tội phải ăn cứt là mày mới đúng.
Chị Sáu trêu:
- Mặn hay chua, hở anh? Hút một điếu cho thơm mồm nhé.
Ông Tình muôn thuở cau mặt:
- Gớm, không cho nó ngậm vào dọc tẩu của người ta. Kinh bỏ mẹ!
Sự việc xảy ra cho anh Thừa tối hôm trước là như thế. Vì lẽ anh sợ mình mẩy còn thối tha, và không có quần áo để mặc, cho nên anh không dám về với cô Lễ. Anh phải ngủ lại ở nhà chị Sáu. Rồi câu chuyện vẫn là màu vàng, nhưng chuyển từ màu vàng động vật sang màu vàng khoáng vật. Ông Tình muôn thuở hỏi:
- Thế nào? Cái mỏ mày đào đến đâu rồi?
- Được một nửa rồi.
- Một nửa là thế nào?
- Là một cái nhà. Văn tự đã sang tên. Không rõ sáng nay, tòa đã duyệt chưa.
- Không rõ thì là chưa chắc à?
- Kể chắc thì chắc rồi. Tao nói không rõ, vì tao không biết tòa đã ký hôm nay hay chưa, Sáng nay, nó ra tòa lấy về, nhưng tao chưa gặp nó.
Ông văn sĩ khen:
- Khá đấy! Nhanh đấy!
- Tao hoảng nhất là cái hôm hai đứa đưa nhau về thằng già cứ quay mặt vào trong, không thèm nhìn.
Chị Sáu hỏi:
- Thằng già nào?
Ông Hoài Tân Tử thản nhiên, đáp:
- Là ông loong boong nó!
Chị Sáu lắc đầu:
- Bố vợ mà gọi là thằng già!
Anh Thừa cười:
- Thì gọi là cụ cố nhé!
Anh nói với ông Hoài Tân Tử:
- Lúc ấy, tao giả vờ sợ sệt, xun xoe, nhưng tao nghĩ ngay: Mày đạo đức lắm, thì ông chỉ có cách là lấy đạo đức trị lại mới nổi. Hôm sau tao bảo nó là nếu ông cụ không nhận tao làm rể, thì đành vợ chồng phải chia lìa. Tao biết là bố bảo thằng già cũng không dám bắt con gái lấy hai đời chồng. Quả nhiên, cu cậu vớt lại tí sĩ diện, là bắt tao lạy tạ. Thì lạy tạ. Cần đếch gì? Tao tưởng nó hội họp gia đình họ hàng xa gần để tổ chức một cuộc chửi tao long trọng kia. Chà hóa ra không. Nó giữ đúng điều kiện, chỉ bắt tao lạy. Tao lạy. Lạy một lạy, tao nghĩ: Một cái nhà nhé! Lạy lạy nữa, tao nghĩ: Cái nhà nữa nhé! Giá không phải tục lạy người sống có hai lạy thôi, mà nó có mười cái nhà, bắt tao lạy mười lạy, tao cũng lạy!
Cả ba người cùng cười, ông Hoài Tân Tử hỏi:
- Hình như bố vợ chàng rể tương đắc lắm phải không?
- Cố nhiên. Mê tao như điếu đổ nữa là đàng khác. Khó đếch gì? Nhược điểm của anh là thích đạo đức, luân lý, thì con cứ mặt ấy con tấn công, tất anh phải mắc thôi.
- Nhưng còn mặt chữ nghĩa?
- Ồ, về mặt này, thằng già phục lăn! Tao biết bọn nhà nho có giỏi lắm cũng chỉ đọc mấy quyển sách Tàu là cùng, thì tao lòe bằng sách Mỹ. Tao hỏi: “Thưa thầy, thầy đã đọc cuốn Đạo đức luận của Oan-sơn chưa ạ?” Cố nhiên, thầy hỏi: “Oan-sơn là ai?” Tao nói bịa: “Thưa là nhà luân lý học người Mỹ, thế kỷ thứ mười tám ạ”, cố nhiên là thầy tròn đôi mắt thầy lên. Rồi tao cho thêm một phát nữa: “Thưa thầy, thầy đã đọc cuốn Mỹ quốc luân lý sử với cuốn Mỹ quốc triết học sử của Oách-tách-lê chưa ạ?”
Anh Thừa cười sằng sặc:
- Hãy hỏi giá mày không biết tao, mày có sợ tao không? Tao chỉ lòe cho thằng già khiếp đảm một lần là bận sau đâm hoảng, không dám lên mặt đạo đức, văn tự với tao nữa. Cái nghề anh có học vẫn hay tự ái, tự cao, tự đại, cho nên phải giấu dốt mà lị.
- Thế còn bà cụ?
Anh Thừa tặc lưỡi:
- Khó tính, khó nết, là ông cụ ấy, cứ lì lì như bụt mọc trên trường kỷ, chả ai đoán được là nghĩ gì. Chứ bà cụ thì dễ thôi. Một trăm người đàn bà thì chín mươi chín người ưa phỉnh. Phỉnh một câu chưa chuyển thì phỉnh hai câu. Phỉnh hai câu chưa chuyển thì phỉnh ba câu. Đến câu thứ tư thế nào cũng toét mồm ra cười. Mất nhà cửa, mất cơ nghiệp, mất con gái, có khi mất cả thân mình nữa, cũng vì ưa phỉnh! Nhưng có ai mở mắt ra đâu. Tao ôm con Lễ vào lòng, mà vẫn phải phỉnh nó. “Chúng ta yêu nhau không vượt ra ngoài giới hạn”. Với “Chỉ sợ người kém hiểu biết lại lầm rằng chúng ta không đứng đắn!”.
Anh thêm:
- Mẹ kiếp! Không vượt ra ngoài giới hạn với đứng đắn mà trốn nhà đi theo ông à? Ngay tối hôm tao ngủ với nó, mà tao vẫn phải tìm câu để phỉnh nó, mới tức chứ! Thế mới biết, xưa nay, tao nghĩ về danh dự người đàn bà, vẫn đúng lắm.
- Mày nghĩ thế nào?
- Tao nghĩ rằng danh dự người đàn bà rất dễ mất, vì họ chỉ cất ở sau một lần vải quá mỏng.
Chị Sáu cười:
- Khỉ!
- Thật đấy, đàn bà nhà quê ít mất trộm trinh tiết, vì họ để danh dự của họ sau lần quần vải dày cộp. Còn các tiểu thư, càng mặc lụa là mỏng dính, càng…
Cả ba người cùng cười. Chị Sáu nhăn mặt:
- Thôi, nhảm nhí. Nói chuyện khác.
Ông Tình muôn thuở nhìn chị, nói chọc:
- Động lòng đấy!
Anh Thừa nói:
- Ừ, chuyện khác vậy. Tao vừa có một việc, thử hỏi ý kiến mày xem thế nào nhé. Sáng hôm nay, lúc tao đi vắng, có một người đàn bà mặc nhà quê, dắt một đứa con đến tòa báo, hỏi tao. Thấy tùy phái bảo tao không có nhà, thì người ấy đứng chờ tao ở hè phố. Lúc con Lễ về, thì người ấy theo vào. Hai đứa nói chuyện gì với nhau lâu lắm. Rồi người ấy đi trước, con Lễ đi sau, không biết là đi đâu. Tao lo. Không biết con mẹ này là vợ cả của tao, mẹ thằng Mão, hay là người họ hàng với con Lễ, tới thăm nó. Tao mới đảo sang Hàng Đào để dò. Tao hỏi, thì thấy nói không có ai ở nhà quê mới ra. Sau, tao hỏi lại tùy phái, thì biết đích rằng thằng bé con là thằng Mão nhà tao. Vậy là mẹ thằng Mão đã gặp con Lễ. Thế thì mày thử đoán xem, có phải con mẹ này cho tao ăn cứt không, và nó có nói xấu tao với con Lễ không?
Ông Hoài Tân Tử lắc đầu:
- Nhất định không phải nó cho mày ăn cứt. Việc báo là việc báo. Việc ghen là việc ghen. Mày dại gái thì mày ăn cứt thôi. Còn vợ cả mày có kể xấu mày hay không, thì tao nghĩ thế này. Nó đến để đánh ghen, thì hai đứa tử tế gì với nhau mà một đứa nói chuyện, một đứa nghe chuyện?
Anh Thừa cười lạt:
- Không. Lần ở Phòng thuốc nhà giàu cũng thế. Nó đánh con Ma-ri xong, rồi nó kể xấu tao.
- Đấy là nó kể xấu mày với bệnh nhân, chứ bây giờ nó kể xấu mày với ai?
Anh Thừa nghĩ một lát, rồi nói:
- Cũng có lý. Nhưng ngộ nó kể xấu tao cho con Lễ biết, thì mai tao về, tao nên thế nào nhỉ?
- Mày cứ lờ như không, để dò ý nó thì biết. Nhưng tao chắc vợ cả mày nó không kể xấu mày đâu.
Anh Thừa bĩu môi:
- Mày chắc?
- Thật đấy. Cái lần nó đến Phòng thuốc nhà giàu, tao biết đích xác là không phải nó có ý định làm tiêu sự nghiệp mày đâu.
Anh Thừa im, nhìn ông Hoài Tân Tử.
- Tao nói là tao biết đích xác, vì tao có gặp thằng ấm Ái nó kể cho tao nghe. Ba thằng nó đánh mày, là ấm Ái, Phúc đen, với Tý sẹo.
Chị Sáu rùng mình:
- Khiếp! Tên với tuổi!
Ông Hoài Tân Tử nói:
- Nhưng ba tay này, không phải tụi du côn đánh thuê đâu. Họ là bọn anh hùng hảo hớn, giữa đường gặp nỗi bất bằng mà tha lối hiệp sĩ đấy. Ở Hà Nội này, mấy người không biết tên của họ. Họ giỏi võ tàu. Đứa nào lớ ngớ, bị họ đánh, chỉ có sống mà thành tật. Mày cũng còn phúc to lắm, mới không què đấy.
Anh Thừa mỉm cười. Ông nhà thơ tiếp:
- Nguyên là con vợ mày đến nhà mày mấy lần, nó chỉ định sinh sự với con Ma-ri, nhưng không gặp. Có lần nó gặp mày, thì mày lại gọi đội sếp bắt nó. Nó sợ. Nhưng không chịu nổi uất ức, nó mới than thở với các chị em chúng bạn. Một con bạn của nó có thằng anh họ là ấm Ái. Ấm Ái mới bảo vợ mày đưa nó đến Phòng thuốc nhà giàu để vấn tội mày. Nhưng con vợ mày chỉ giận mày thôi. Nó thù là thù con Tây lai kia. Vì thế nó từ chối ấm Ái. Sau, ấm Ái phải nói tức nó nhiều lần cho nó điên tiết lên, nó mới liều, xin phép nghỉ một buổi, đưa tụi ấm Ái đến. Và giá con Ma-ri đừng trêu gan nó, có lẽ nó không đánh đâu. Ấy, đầu đuôi là thế, nên mới xảy ra câu chuyện hôm ấy.
Anh Thừa ngượng với chị Sáu:
- Thôi chuyện lâu rồi, không nói lại nữa. Nói chuyện bây giờ thôi.
Anh nhìn chị Sáu, hỏi:
- Chị là đàn bà, chị nghĩ hộ xem. Vào địa vị chị, chị có kể xấu chồng chị không?
Chị Sáu ngơ ngác:
- Tôi chả hiểu câu chuyện thế nào cả.
Ông Hoài Tân Tử giảng:
- Thằng này có vợ cả, đã có con, nhưng nó bỏ, nó lấy con Tây lai, chị nghe chưa? Bây giờ nó bỏ con Tây lai, lấy con Lễ. Ngày trước, vợ cả nó đến đánh ghen con Tây lai, rồi nhân có đông bệnh nhân, con mẹ mới nói xấu nó để bệnh nhân tẩy chay nó. Bây giờ vợ cả nó lại đến gặp con Lễ.
Chị Sáu tặc lưỡi:
- Khó nhớ nhỉ! Vợ cả, Tây lai, rồi lại Lễ! Thế người nào là cái chị ở Ngũ Xã?
- Người ấy lại khác.
Anh Thừa gật đầu:
- Phải, không phải là vợ, chỉ là nhân tình thôi.
Chị Sáu hỏi:
- Sao lại có con?
- Nhân tình mà không có con à?
Ông Hoài Tân Tử giảng:
- Đó là việc riêng của hai đứa với nhau. Kệ chúng nó. Cái người ở Ngũ Xã là người cùng với mấy thằng nhà đoan đánh thằng Thừa ở Hàng Đậu, phải khênh vào nhà thương kia. Không dính dáng đến câu nó hỏi.
Anh Thừa sực nhớ ra, vỗ đùi:
- Chuyện ấy chết cười! Báo đăng việc ẩu đả, lại in tắt tên phố là H.Đ. Lễ ta đọc, yên trí ngay là Hàng Đào, cảm tao lắm, khóc sướt mướt suốt đêm. Thế là đương ở với cậu mợ trong nhà quê, cô ả sồn sồn đòi về Hà Nội.
Chị Sáu nói:
- Tôi thấy chữ H.Đ lại đoán là Hàng Điếu.
- Ô, thiếu đếch gì phố là H.Đ? Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đường, Hàng Đồng, Hàng Đẫy, Hàng Đàn, Hàng Đũa.
- Thế anh vớ vẩn làm gì ở Hàng Đậu, để nó đánh cho?
Ông Hoài Tân Tử trỏ vào mặt anh Thừa:
- Cái thằng này thì chỉ đi chim gái chứ đi đâu? Chả nó mê một con động cỡn văn chương, hay gửi thư đến báo Chấn Hưng mà.
Anh Thừa xua tay:
- Thôi, miễn đi lạc đầu đề. Tôi hỏi chị Sáu nhé. Chắc chị nói đúng hơn chúng tôi.
- Được, anh cứ hỏi.
- Nếu chị ở địa vị người đàn bà đi đánh ghen, thì đánh ghen xong, chị có kể xấu anh ta không?
Ông Tình muôn thuở cười:
- Mày hỏi câu khó thế, thì chị Sáu trả lời thế nào được? Vì chị ấy có ghen bao giờ đâu?
Anh Thừa muốn khen chị Sáu:
- Lấy được vợ không ghen, sướng quá nhỉ! Tại sao chị không ghen?
Ông văn sĩ đáp, giọng ranh mãnh:
- Có anh Sáu ghen chị ấy, chứ anh ấy làm gì mà chị ấy ghen!
Nói xong, ông cười. Chị Sáu lườm, dí cái diện tẩu nóng vào mặt ông:
- Này! Nhảm nhí!
Rồi chị bảo:
- Nói chuyện làm báo làm bổ có vui không nào? Đàn ông các anh động ngồi với nhau là chỉ đem chuyện gái ra tán.
Ông Hoài Tân Tử đáp:
- Thằng này chỉ thạo có mỗi môn ấy. Còn chuyện khác, nhất là chuyện báo, thì nó biết gì mà nói!
Anh Thừa cười lạt:
- Tiên sư mày! Ông vừa ăn cứt hộ mày đấy, mày có biết không?
Rồi trâm ngâm một lát, anh gật đầu:
- Được rồi, đối với con Lễ, tao đã có cách.
* * *
Cô Lễ về đến tòa báo thì, như ta đã biết, anh Thừa vẫn còn đi vắng, về việc này, ta hiểu ngay rằng, vì quần áo anh chưa khô. Nhưng cô Lễ thì hiểu sao được thế, và có bao giờ cô hiểu được sự thật nó giản dị là thế. Cô nghi anh đi chơi bời. Con người bạc tình chừa sao được thói trai gái!
Bỗng có tiếng ồn ào ở nhà ngoài, chỗ tòa soạn. Cô nhìn ra, thì giật nảy mình.
Chừng hai chục cậu học trò xông đến tòa báo. Một cậu nắm cổ người tùy phái, hỏi:
- Thằng Trần Đức Thừa đâu? Thằng Nguyễn Thúc Lăng đâu? Đứa nào là Búa Tạ?
Người tùy phái run như cầy sấy:
- Thưa các anh, em là loong-toong, viết băng báo, còn các ông ấy đâu, em không biết.
Cô Lễ cũng run như cầy sấy.
Nghi là người tùy phái nói dối, học sinh xộc vào các buồng. Quả nhiên là như họ vào chùa Bà Đanh. Tiếng kính tủ vỡ, kêu loảng xoảng. Tiếng báo xé, kêu xoàn xoạt. Rồi họ lên gác. Họ vào nhà trong.
Họ gặp cô Lễ. Họ cũng hỏi những câu như đã hỏi người tùy phái, và cô cũng trả lời là không biết. Trong khi ấy, ở gác ngoài, người thì quật ghế xuống bàn cho gãy chân, người thì leo ra mái hiên, tháo cái dây thép buộc biển tên báo, rồi quẳng xuống đường.
Ở hè phố, người xem đứng lố nhố. Có tiếng diễn thuyết:
- Các ngài có tán thành chúng tôi phá nhà báo Chấn Hưng không? Từ ngày tờ báo này xuất bản, nó làm hại cơ man nào là người. Con trai thì bỏ học hành, lừa thầy, phản bạn, nói dối cha mẹ, đút sách vào bụng để đi nằm tiệm, nằm săm. Con gái thì nứt mắt ra đã biết chim trai. Người lớn có khuyên bảo, thì viện nữ quyền, tự do, để cãi lại. Rồi bỏ nhà theo nhân tình, không theo được, thì tự tử. Rồi nhân tình nó bỏ, cũng tự tử. Biết bao nhiêu tấn thảm kịch xảy ra trong gia đình vì tội của báo Chấn Hưng? Chấn Hưng gì chúng nó? Chúng nó là lũ giặc trong làng báo. Chúng nó làm loạn xã hội. Chúng tôi nhiều lần đã lấy lời lẽ ôn tồn viết thư khuyên bảo chúng nó, nhưng chúng nó không nghe. Cho nên chúng tôi phải phá tòa báo!
Dưới đường, tiếng hét to:
- Đánh bỏ mẹ chúng nó đi!
- Phúc bảy mươi đời nhà chúng nó, không thằng nào ở tòa soạn cả. Không biết chúng nó ở cái tổ quỷ nào.
- Tổ quỷ của chúng nó trên Yên Phụ ấy!
Người dưới đường đùng đùng vào tòa báo. Người tháo cánh cửa vứt ra sân, người dùng dao băm nát mặt bàn, người cậy đá ở đường ném vỡ bóng đèn điện.
Cô Lễ mặt cắt không được hột máu.
Đập phá chán tay, mọi người kéo nhau về.
Đợi cho yên yên, cô Lễ vội vàng thu xếp quần áo và đồ đạc. Cô lo cho anh Thừa không khéo thì bị đánh ở đường rồi. Cô phải tản cư ngay để tránh nạn. Cô chắc thể nào học sinh cũng đến tòa báo lần nữa, vì lần này họ chưa gặp ai.
Cô xách va li xuống nhà. Cô định dặn người tùy phái đi tìm chồng và các ông trong tòa soạn, để báo cho biết tin dữ dội, cùng nhắn cho anh biết là cô về Hàng Đào. Nhưng người tùy phái đã chuồn mất từ bao giờ.
* * *
Ngay buổi trưa hôm ấy, ông Lăng tìm được anh Thừa và ông Hoài Tân Tử. Ông chắp tay vái hai người đến mười vái, và nói:
- Lạy hai bố, hai bố làm hại tôi! Ê-lếc-tơ nó chửi tôi! Mục đích của tôi chưa đạt. Ngày bầu cử chưa đến, mà hai bố đã giết báo của tôi mất rồi.
Anh Thừa bật cười nghĩ: “Nhưng tôi đã lấy được vợ, mục đích của tôi đã đạt”.
Ông Lăng phải đình bản báo Chấn Hưng.
Và cũng ngay từ tối hôm ấy, dư luận ầm lên ở Hà Nội, phàn nàn cho ông chủ thầu Nguyễn Thúc Lăng bị hai tai họa bất ngờ dồn dập. Tòa báo Chấn Hưng mà ông chỉ đứng tên là sáng lập vừa bị phá ban ngày, ông vừa đóng cửa cái tòa báo mất hết của, thì đến tối, cái nhà toàn lim và xi-măng, mà ông vừa mua hai nghìn bạc ở trước cửa trường Cửa Đông, lại bị cháy luôn! Cháy nhanh quá. Vòi rồng nhà nước không dập tắt kịp.
Báo Chấn Hưng đình bản. Sảy đàn tan nghé! Nhà phóng viên Tiêu Lang thì lang thang ở các trường học, gạ viết văn chim gái thuê.
Ông trợ bút Tình muôn thuở đến gạ nhà học giả Đỗ Thận sắp được nhà doanh nghiệp Bạch Thái Bưởi vời làm chủ bút báo Khai Hóa, để xin làm trợ bút, viết chửi báo Chấn Hưng làm hại đạo đức quốc dân.
Còn ông chủ bút Trần Đức Thừa, thì chao ôi, thật là họa vô đơn chí.
Bị ăn cứt, bị mất việc, đến khi anh gặp vợ ở nhạc gia, anh còn bị cô sa sầm nét mặt lại.
Cô nghi anh đi ăn mảnh. Mà anh thì không dám khai thực là ăn gì.
Anh nghi cô đã nghe mẹ Mão nói xấu anh. Song, anh lại không dám lạy ông tôi ở bụi này.
Thành thử hai người nghi lẫn nhau, vì cùng không hiểu nhau.
 
Chung giường, khác mộng.
Chủ bút ăn phân, miệng chửa khô.
Inh trời mùi báo báo cô cô!
Sướng cho sáng lập, cười ha hả.
Đốt mẹ nhà đi, kiếm lãi to!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XV
EM VỚI CHỊ  
 
Cô Lễ về nhà.
Cụ bà đương dở nói chuyện với mấy người khách buôn to, thấy con thì mừng rỡ:
- Làm gì mà cả hai vợ chồng đến nửa tháng nay chả ai về thế? Thầy cứ mong.
Rồi cụ bảo:
- Đẻ bận, hãy lên gác mà thăm em nó đau bụng, phải nghỉ học.
Cô cố mỉm cười, vâng khẽ một tiếng, rồi hỏi:
- Em Nghĩa gái con có nhà không ạ?
- Vừa đứng ở đây. Dễ thường lại ở trên gác rồi.
Cô chào cụ ông, rồi lên thang, còn nghe thấy cụ bà nói theo:
- Chả biết sao mà độ này gầy rộc hẳn đi. Mặt mũi ngơ ngác, hốc hác.
Người khách cười:
- Nghén chứ còn sao nữa.
Cụ phàn nàn:
- Nhà hiếm, được hai mụn, thì cứ như cái kim chì ấy.
Lên đến gác, cô thấy hai vợ chồng cậu Nghĩa đương ngồi mặt ỉu xịu. Cô nói:
- Chị lo quá, các em ạ. Đêm qua, chị mất trộm hết cả tư trang.
- Thế nào? Thế nào?
Thấy em hỏi dồn dập, cô đáp:
- Phải, mất sạch sành sanh! Anh đương đi trình cẩm.
Cậu Nghĩa hỏi:
- Để thế nào mà lại mất?
- Để như mọi khi thôi. Chỉ tại chị sơ ý, không đóng cửa.
- Thế anh đâu, mà trộm vào nhà lại không biết?
- Cũng ở nhà. Mất của, chị vừa tiếc vừa bực, lại còn lo thầy đẻ biết nữa. Chị định nói với mợ cho chị mượn đôi hoa với chuỗi hột của mợ, để chị đeo, cho đẻ khỏi hỏi.
Mợ Nghĩa vâng, vội vàng đi lấy đồ vàng cho chị. Trong khi ấy, cậu Nghĩa trầm ngâm, rồi hỏi:
- Anh đi trình cẩm à?
- Phải.
- Nhưng anh chị có nghi cho ai lấy không?
- Biết ai lấy mà nghi?
Cậu lắc đầu:
- Vô ích. Đến Sở mật thám cũng chả xét nổi vụ trộm này.
Mợ gật đầu:
- Phải, mình có nghi ai thì trình họ, họ mới có manh mối mà dò xét chứ.
Cậu cười:
- Không phải thế. Chị không nghi ai, nhưng em có nghi.
Cô Lễ tái mặt. Cậu Nghĩa tiếp:
- Có thánh cũng không tìm ra vụ trộm này. Kẻ gian ở trong nhà.
Bỗng cô Lễ bưng mặt, nức nở khóc:
- Các em ơi! Chị khổ quá! Nhưng chị xin các em đừng nói với thầy đẻ, mà thầy đẻ buồn. Chị gửi em văn tự nhà, lại không dọn đến đấy ở, là em hiểu hết.
Mợ Nghĩa thở dài. Cậu Nghĩa nói:
- Chị muốn giấu, nhưng em biết từ lâu. Em định bàn với chị.
- Chị cũng định gặp em để bàn, nhưng cứ thấy em bận học, vả lại không muốn em vì thương chị mà phải lo nghĩ. Thành thử một mình chị phải chống chọi trăm chiều, lắm lúc quẫn cả trí.
Cô thở dài:
- Nói ra thì tủi, thì nhục. Thà tội mình thì mình chịu một mình.
Cô lại hu hu khóc.
- Em biết cả rồi chị ạ. Cái hôm nọ đến phá tòa báo, chính là họ định đánh què chủ bút đấy. Nhưng vì nể em, họ mới thôi. Chứ không phải họ biết rõ là chủ bút vô tội, đánh thì oan đâu. Vả em cũng không giấu họ là anh chỉ làm việc đi lấy quảng cáo cho báo, chứ chữ nghĩa đâu, biết gì mà viết lách.
Cô Lễ chùi nước mắt, nhìn em. Cô lại biết thêm một điều mới về chồng. Cô bảo:
- Nhưng em biết anh sao bằng chị. Người vợ cả của anh nói hết chuyện với chị rồi. Chị tủi lắm, nhục lắm.
Cô lại thút thít.
Có tiếng cụ bà gọi mợ Nghĩa. Hai chị em phải yên lặng. Một lát, cô Lễ hỏi:
- Em đau bụng thế nào?
Cậu Nghĩa nói khẽ:
- Em nói dối đấy. Em phải đuổi một tuần.
Cô Lễ trợn mắt:
- Sao? Sao lại phải đuổi?
- Thằng đốc Lôm-béc-giê nó ác quá. Anh em rủ nhau bãi khóa.
Cô Lễ thở dài. Cậu Nghĩa tiếp:
- Từ ngày làm đốc, nó đánh bao nhiêu học trò bị thương rồi. Nó như thằng có máu điên, lúc nào cũng cầm cái ba-toong to bằng cổ tay này, bất kỳ ai, lớn hay bé, lỗi nặng hay nhẹ, là nó vừa thét, vừa vụt. Nó coi học trò như kẻ thù, cho nên học trò phải phản đối nó. Em vào hạng nhẹ, phải đuổi một tuần. Có người phải đuổi hẳn, có người phải đuổi nửa tháng. Thầy đẻ có hỏi em đau thế nào, chị cứ nói là em gần khỏi rồi nhé.
- Được. Nhưng ngộ thầy đẻ thấy em còn nghỉ thì sao?
- Không. Em không ở nhà cả tuần. Mai kia, em cứ vờ đi học, nhưng đến ngồi ở nhà bạn.
- Thế thì phiền nhỉ.
- Nếu không chịu phiền thế, thì thầy đẻ lo em ốm, lại cho gọi anh đến chữa, còn phiền hơn ấy.
Cô Lễ thở dài:
- Chị không ngờ đâu là chị bất hiếu, đến nỗi bây giờ dối trá cả với cha mẹ.
- Em thấy thầy đẻ bây giờ vẫn còn bị anh bịp và tin anh, lắm lúc em muốn nói ra, nhưng chỉ sợ thầy đẻ cũng tủi nhục và thương chị, rồi đến ốm mất.
- Nhưng giấu sao được thầy đẻ mãi. Mình là con, có nỡ ngồi yên mà nhìn cha mẹ mắc nạn không? Điều này là điều làm cho chị khổ tâm nhất. Chính là từ lâu, chị muốn bàn với em điều ấy, nhưng lại cũng thương em, không muốn nói ra cho em thêm đau lòng vì chị.
- Chính em cũng vì thương chị mà phải giấu thầy đẻ. Thế bây giờ chúng ta nên như thế nào?
- Chị tính rằng điều gì cần cho thầy đẻ biết, thì cứ cho biết, điều gì không cần, thì thôi. Ví dụ như anh là con cái nhà ai, ngày trước làm những việc gì, đã bỏ, đã lấy bao nhiêu vợ, là những điều không cần cho thầy đẻ biết, vì biết thì nghĩ ngợi, sinh ốm.
Cô Lễ nói rõ cho em nghe về lịch sử của chồng mà cô được mẹ của Mão kể cho cô biết. Cậu Nghĩa luôn luôn thở dài, và lắc đầu. Nghe xong, cậu nói:
- Em không ngờ!
Cô Lễ khóc:
- Bây giờ đột ngột mà thầy đẻ biết như thế, có khác gì ngã từ trên cao xuống đất hay không? Cái lần chị nghe chuyện về anh xong, chị chỉ muốn đi tự tử.
Cậu Nghĩa lắc đầu:
- Không nên. Tự tử thì tiếng để muôn đời.
- Chị cũng nghĩ thế. Gia đình mình là gia đình lễ giáo, thầy đẻ thì nệ cổ. Cho nên chỉ định lấy lời lẽ ôn tồn can ngăn anh dần dần, lấy tình yêu và bổn phận cảm hóa anh dần dần. Một người có quá khứ như thế, mà biết hối cải, thì càng đáng khen. Nếu sau này, có ai nhắc đến quá khứ của người ấy, thì chỉ là muốn làm tăng cái hay của hiện tại.
- Đúng lắm.
Cô Lễ thở dài:
- Nhưng mà chị thất vọng, em ạ. Chứng nào vẫn giữ tật ấy. Hiện giờ còn đương chấp chới con nữ học sinh mười sáu tuổi tập tọng viết báo. Hôm kia, chị bắt được bức thư gửi cho nó, y như bức thư ngày trước viết cho chị, chả khác chữ nào. Thế mà còn dám cả gan đánh chị. Vũ phu quá!
Cô Lễ nức lên một tiếng, rồi thút thít. Cậu Nghĩa cười khẩy:
- Quân mất dạy!
- Không phải lần ấy là lần đầu tiên đánh vợ đâu, em ạ. Tất cả đến nay là năm trận rồi! Dỗ lấy văn tự nhà không nổi, cũng đấm đá. Tán bán nhà không nổi, cũng đấm đá. Rồi văng tục, văng rác, rồi tiên sư, tổ sư. Chị nghĩ đi lấy chồng để ông bà ông vải phải chửi, chị cực quá!
Cô lại khóc:
- Rồi mấy lần dọa bỏ chị nữa. Vì biết rằng thế nào chị cũng không dám bỏ, thì phải theo ý mà bán nhà đi.
- Phải rồi. Hắn ta nắm được chỗ yếu ấy, không những là của chị, mà cả là của thầy đẻ nữa đấy. Thầy đẻ đã buồn vì chị lấy chồng không cưới xin gì, nay chưa đầy ba tháng, lại bị chồng bỏ, thì chắc muốn giữ tiếng, thầy đẻ phải thu xếp cho ổn. Theo em nghĩ, hắn ta muốn cứng, thì chị đừng mềm. Chị cứ về nhà mà ở, xem hắn ta làm thế nào nào?
- Chị đã làm thế. Nhưng trừ cái lần chị cáo đau bụng trốn lên ngủ ở đây, đẻ không biết, còn lần nào, chị định ngủ nhà, đẻ cũng đuổi quầy quậy. Mà chị thì không tìm được cớ gì cho đẻ xuôi tai được. Nói thật thì không dám. Thầy cũng mắng chị là con gái có chồng, không được phép ngủ đêm một mình ở chỗ khác, dù là nhà cha mẹ.
Ngừng một lát, cô Lễ tiếp:
- Lại một điều làm cho chị khó xử nữa, là chị có nghén. Chị chán, chả muốn nói cho hắn ta biết. Cho nên chị sợ ngủ ở nhà, hắn ta biết hẳn hoi, nhưng cứ đổ oan cho chị, để thầy đẻ phải lấy tiền mà lấp miệng hắn ta.
- Quân đào mỏ!
- Cho nên việc mất trộm đêm qua, chị chẳng nghi người nào lấy đâu. Người ngoài ai biết chỗ chị để đồ vàng? Thế mà cũng dang tay tát chị một cái đấy, em ạ.
Bỗng có tiếng chân lên thang. Hai chị em ngừng chuyện. Mợ Nghĩa nói:
- Chị xuống đẻ gọi.
Rồi mợ mách:
- Đẻ vừa mua được món lụa đẹp lắm, bảo là chia cả cho anh chị, mỗi người may một áo cộc.
Cô Lễ thở dài.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 23:03:01 bởi Thanh Vân>
XVI
CHA MẸ VỚI CON  
 
- Kìa, làm sao mà mặt mũi thâm tím thế kia?
Cụ bà thấy cô Lễ thoạt bước chân vào nhà, thì hỏi thế. Cô Lễ òa lên khóc:
- Nó đánh con! Cụ hỏi dồn:
- Ai? Ai? Ai đánh con?
Cô Lễ đáp:
- Còn ai nữa!
Cô khóc, nói không thành tiếng. Cụ ông hút xong điếu thuốc, thủng thỉnh đi ra, hỏi:
- Ai? Ai đánh cô?
Cô Lễ lau nước mắt:
- Nhà con.
Cụ ông cau mặt:
- Quái lạ! Có lẽ nào? Lại xấc láo gì với cậu ấy hẳn.
Cụ bà nhăn nhó:
- Ông để yên con nó nói.
Cậu mợ Nghĩa cũng chạy đến với chị. Cô Lễ nói:
- Con khổ nhục từ lâu rồi, mà không dám nói ra.
Cụ bà nhìn kỹ vào mặt cô:
- Ôi giời ơi! Nó đánh bằng gì thế này!
Cụ sờ vào vết thương ở má có rơm rớm máu! Cô tránh và kêu:
- Rát lắm! Còn vô số vết roi gậy ở tay với ở đùi ấy! Đau quá!
Cụ bà bảo mợ Nghĩa lấy rượu chổi. Chính tay cụ cùng con dâu bóp khắp mình mẩy cho cô. Cụ xót xa:
- Thế sao nó đánh lại không kêu lên?
- Sao con lại chả kêu? Hàng xóm mà không đổ đến thì dễ thường…
Cô nhăn mặt:
- Đau quá!
Cậu Nghĩa lắc đầu:
- Dã man! Tàn bạo!
Cụ hỏi:
- Tại sao nó đánh? Nó đánh về tội gì?
- Nó vũ phu quá! Nó đòi tiền không được!
Cụ ông ra ý không tin:
- Quái! Người ấy có thể như thế không?
Cậu Nghĩa nói:
- Vốn dĩ hắn là người như thế.
- Không. Phải nghe cả đôi bên, kẻo thiên, lại mang tiếng mạc tri kỳ tử chi ác, mạc tri kỳ miêu chi thạc [72].
Cụ bà vừa xoa cho con, vừa nhìn cụ ông:
- Ông thì chưa nghe ra sao đã gạt đi. Ông tin và quý nó, nhưng đã từ lâu, tôi vẫn thấy nó thế nào ấy. Bảo ông để ý, ông chả nghe.
Cụ ông bực mình:
- Tùy đấy.
Cụ vào ngồi ở trường kỷ.
Cô Lễ gượng ngồi dậy. Cụ bà hỏi khẽ:
- Tại làm sao nó đánh?
- Nó cứ đòi văn tự nhà. Nó cứ đòi bán nhà.
Cụ ông cau mặt, nói ra:
- Không được gọi là nó. Phải ăn nói cho phải đạo.
Cụ bà cãi:
- Chưa chi ông đã chặn họng con, thì nó nào dám nói.
Cụ hỏi cô:
- Nó đòi văn tự nhà, đòi bán nhà à? Nó cần gì tiền mà lấy luôn thế? Đã mấy lần đẻ phải trang trải cho nó gần một nghìn nợ cũ rồi mà? Tưởng đã hết?
Cậu Nghĩa nói:
- Anh ấy là cái nợ của nhà ta. Bao giờ trang trải cho hết được!
Cụ ông mắng:
- Xà! Càn rỡ! Anh mày nghe tiếng, anh mày giận.
Cậu Nghĩa thấy cha gọi bằng mày, biết là cụ đương cáu kỉnh, nên không dám nói nữa. Cô Lễ cũng chỉ dám kể lể thầm thì với mẹ. Cô trỏ vào mặt, cô trỏ vào đùi, cô trỏ vào cánh tay, rồi cô vạch áo lưng cho cụ nhìn. Cụ chép miệng, nói to:
- Thật không ngờ con mình chỉ có mỗi một tội là con nhà có của. Nó đào một lần nổi, thì nó đào mãi. Không cho con, thì bảo là tiếc con. Bây giờ mới biết cho con tiền, là đem tai vạ cho con phải chịu đựng.
Cụ ông ra, hỏi:
- Thế nào? Thế nào?
Cụ bà kể lại cho cụ ông nghe những trận đòn đào mỏ mà cô Lễ là nạn nhân. Cụ ông vặn:
- Nhưng con không nói xấc láo gì chứ?
Cụ bà nói:
- Con này có phải đứa xưa nay có tính lăng loàn đâu. Tội là ở thằng kia đấy. Nó bất nhân, bất nghĩa. Nó có cần nghĩ đến rằng bố mẹ vợ đối xử với nó thế nào đâu? Người ta bảo dâu là con, rể là khách, nhưng nói lạy Thiên Địa, nhà này thì dâu là con, mà rể cũng là con. Mình có tiếc nó cái gì đâu. Thật đấy, mình nuôi thằng Nghĩa ngoài hai mươi tuổi đầu, có tốn kém bằng nó mấy tháng không?
Rồi cụ bù lu bù loa:
- Chỉ thầy là dại! Chỉ đẻ là dại! Để khổ nhục cho con.
Cô Lễ nấc lên, ôm lấy mẹ:
- Không phải thế! Đẻ đừng nói thế! Tội lỗi ở con cả. Con phải chịu. Giời có mắt.
Cụ ông bảo:
- Thầy đẻ định rồi chia cho con hai cái nhà. Tùy ý con muốn làm gì thì làm. Giữ được, thì vợ chồng phong lưu nhàn hạ. Muốn bán đi để sinh lợi cách khác, thì vợ chồng bàn bạc với nhau cho kỹ, rồi hãy làm. Thầy đẻ chả biết nghĩ thế nào cho con được. Chỉ có rằng không ai hiểu chồng bằng vợ, không ai hiểu vợ bằng chồng, và đã là vợ chồng, tất phải tin nhau, vả các con đã lớn cho nên thầy đẻ mặc. Con về nói với chồng con như thế. Hôm nào cậu ấy đến chơi, thầy cũng bảo thế cho.
Cô nói:
- Nhưng con càng hiểu nhà con, con càng không tin nhà con. Còn mặt mũi nào dám dẫn xác đến đây, mà thầy mong bảo!
Cụ ông tặc tặc:
- Mày đâm quẫn rồi, con ạ.
Cụ bà hỏi cụ ông:
- Hay là bán cái ở Hàng Vải thâm đi?
Cụ ông bảo:
- Văn tự đã sang tên, bán hay không, là tùy vợ chồng nó bàn với nhau.
- Bán một cái cũng còn một cái kia mà?
Cậu Nghĩa nói:
- Bán đi để chuộc đòn. Nhưng không biết chừng, lại để mua những trận khác. Vì còn một cái nhà nữa.
Cô Lễ lắc đầu:
- Nhất định con không bán. Nếu nhà con như người ta, nếu nhà con biết yêu thương con, thì con bán. Chứ cứ như thế này, thì… em Nghĩa con nói phải đấy.
Cụ bà cười lạt:
- Ương thế không trách được! Ít lâu nay, nó đâm ra trái tính trái nết.
Cụ ông tặc lưỡi:
- Tùy đấy. Nhà thi lễ phải vuông tròn tiếng tăm. Làm việc gì cũng nên nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến chồng, nghĩ đến mình. Nhưng cha mẹ trước, chồng sau, mình cuối cùng.
Nói đoạn, cụ đi vào. Cậu Nghĩa lẩm bẩm:
- Chồng có ra chồng thì mới phải nghĩ chứ. Chứ nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi, thì nghĩ làm gì. Ly dị quách cái đồ lừa bịp, bạc tình ấy đi!
Cụ ông quay lại:
- Xà! Càn rỡ! Mày hiểu gì mà ăn nói hồ đồ thế?
Cậu Nghĩa lẩm bẩm:
- Con chả hồ đồ.
Đến sẩm tối, cụ bảo cô Lễ:
- Thôi, con liệu thu xếp mà về bên ấy. Dĩ hòa vi quý, con ạ.
Cô Lễ thở dài, nhìn mợ Nghĩa. Mợ Nghĩa mỉm cười:
- Đã lâu, chị con không ngủ nhà. Đẻ cho chị con ở nhà đêm nay.
- Không được. Giá bình nhật thì ở nhà không sao. Đàng này lại vừa cãi nhau xong. Làm như vậy, có khác gì lửa đổ thêm dầu. Rồi người ta trách được là tại thầy đẻ chiều chị. Mấy lị, bình nhật, mà thầy đẻ muốn chị ngủ lại, cũng phải nói với anh một tiếng cho anh biết. Nếu anh có không bằng lòng, thầy đẻ cũng phải bảo chị về.
Mợ Nghĩa đáp:
- Thế ngày nọ thì làm sao?
- Ngày nọ là vì đẻ không biết. Chứ biết, thì thế nào đẻ cũng đuổi. Mà chị con cứ đòi ngủ nhà luôn. Giá phải mẹ khác hay chiều con, thì tất anh còn vin vào cớ ấy để sinh sự với chị nữa, chứ chả được như thế này. Cái nghề vợ chồng trẻ, giận nhau đến mấy thì giận, nhưng qua một đêm chuyện trò với nhau, thì lành nhau ngay. Cho nên, mấy đẻ cũng không cho chị ở nhà đêm nay.
Cậu Nghĩa đã đứng ở đó. Cậu nói:
- Chả biết có lành nhau hay lại giận nhau thêm.
Cụ mắng:
- Vun vào chả vẻ thay, sao con cứ nói thế?
- Con tính đẻ cứ để chị con ở nhà. Bao giờ anh ấy hối hận, đến xin lỗi, hãy cho chị con về.
Cụ cười:
- Xin lỗi! Đẻ còn muốn khuyên chị phải xin lỗi anh kia. Chồng giận thì vợ phải lành. Con làm như thế, ngộ anh không đến xin lỗi, thì chị ở nhà đến bao giờ?
- Đến bao giờ thì đến.
- Thế thì hai bên cùng găng, rồi đến bỏ nhau. Nhà ta là nhà thi lễ, chị con lấy chồng đã chả cưới xin gì, thì nhất định phải tránh tiếng bỏ nhau, kẻo thiên hạ chê cười lần nữa.
Cô Lễ chỉ thở dài. Cậu Nghĩa nói:
- Con cũng đã nghĩ đến điều đó. Nhưng giữ được cho tiếng tăm vuông tròn, thì phải chịu khổ nhục suốt đời. Con không muốn chị con nô lệ lễ giáo.
Cụ ông lại mắng:
- Xà! Càn rỡ! Quyền đâu ở mày!
Cô Lễ nói:
- Con không đi đâu. Con ở nhà.
Cụ bà dở đùa dở thật:
- Không đi thì đẻ khênh đi!
Một lát, cụ hỏi:
- Thế con có thương thầy đẻ không?
- Sao đẻ lại hỏi thế?
- Nếu con thương thầy đẻ, đừng để ai nói động đến thầy đẻ, thì con nên về.
Cô thở dài.
Cậu Nghĩa chán nản, vào bàn học.
Cô Lễ như bơ vơ, cô đành đứng dậy chít lại khăn. Mợ Nghĩa thấy tay chị ngượng nghịu, đến giúp chị. Cô động tâm, sụt sịt khóc.
Cụ bà lắc đầu, thở dài, nhưng mỉm cười dịu dàng, an ủi cô:
- Về với chồng chứ đi đâu mà phải khóc? Vui vẻ lên chứ? Có gì, đẻ chịu trách nhiệm hết.
Chú thích:
71)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XVIII
TÔN GIÁO VỚI KẺ CÓ TỘI  
 
Trần Đức Thừa đọc lời cáo phó trên báo, thì hắn cũng giật mình. Nhưng khi nghĩ đến ba chữ tên hắn ký ở dưới, thì hắn lại vui vui. Như vậy, có phải là chưa vỡ mộng đào mỏ không? Song, hắn lại lo. Có thật gia đình Phúc Lâm vẫn nhận hắn là rể, hay là cứ đăng báo thế, nhưng rồi sẽ kiện hắn?
Hai mối vui và lo luẩn quẩn trong óc hắn. Hắn suy tính, rồi trả lời một mình. Hắn muốn gặp một người vào bậc quân sư, như ông Lăng, như ông Hoài Tân Tử, để vấn kế. Hắn muốn cùng lắm, thì có mấy thằng bạn thường thôi, chúng nó đến chơi, tán nhảm, tán nhí, nói tục nói rác, cho đầu óc hắn được khuây khỏa. Hắn muốn đi phố một lát cho giải trí. Nhưng hắn không dám thò mặt ra ngoài, sợ hàng phố chửi.
Thì ngạc nhiên cho hắn làm sao. Không biết là tai họa hay hạnh phúc đây. Một người đàn bà đỗ xe ở trước cửa, rồi tay bế con tay xách va-li, đi xồng xộc vào.
Người ấy là Ma-ri.
Thừa nhìn rõ. Không lầm nữa rồi. Hắn lặng đi đến mấy giây đồng hồ. Thì bỗng Ma-ri sằng sặc cười:
- Em về với mình đây!
Thừa vẫn trố đôi mắt. Ma-ri tiếp:
- Thật đấy. Con của chúng ta đây. Thằng Giăng đấy. Em mới ở cữ nó được hai tháng.
Ma-ri đặt va-li xuống, đưa thằng bé cho Thừa bế, rồi mở ví, ra hè trả tiền xe.
Xong việc, hắn quay vào, nói bằng giọng rất vui vẻ:
- Em đọc báo, thấy nó chết rồi, em mới dám tái hồi Kim Trọng, không lo nó đánh nữa.
Thừa biết Ma-ri hiểu lầm người chết là mẹ của Mão. Hắn lắc đầu, tủm tỉm:
- Không phải nó.
Ma-ri trố mắt:
- Ớ! Thì là đứa nào? Buồn cười nhỉ?
Không khí trong nhà, từ lúc có Ma-ri vào, bỗng thay đổi hẳn. Có tiếng động. Có tiếng nói. Lại có tiếng cười. Như thường vậy.
Ma-ri cởi áo ngoài, cởi quần ngoài, tháo bí tất, vứt ở trên giường, dáng điệu tự nhiên như người vẫn ở nhà, vừa đi chơi đâu mới về. Bỗng hắn hỏi:
- Thằng Pôn đâu? Quà của nó đây.
Hắn mở va-li. Thừa nói:
- Nó về nhà quê, ở với ông bà nội.
- Thế à? Nó lớn bằng ngần nào rồi?
Thừa nghĩ một tí, rồi đáp:
- Nó biết đi rồi.
- Có ngoan không?
- Ngoan.
Ma-ri dọn quần áo trong va-li ra giường. Thừa im lặng nhìn. Bấy giờ hắn nghĩ lung lắm. Hắn nhìn cái va-li bằng da, rất đẹp, có khóa kền, sáng nhoáng. Quần áo Ma-ri cũng rất sang, sang hơn trước nhiều.
Ma-ri bày các thứ lên chiếu xong, có vẻ hãnh diện, hất hàm hỏi Thừa:
- Oai không?
Thừa mỉm cười, khẽ gật đầu. Ma-ri đứng sát vào cạnh Thừa:
- Gớm! Nhớ quá! Anh có nhớ em không?
Thừa lại khẽ gật đầu. Bỗng Ma-ri cau mặt:
- Ô hay, em về, sao anh không vui, lại ỉu xìu xìu cái mặt thế? Giận em thật đấy à? À, phải rồi.
Thừa cố làm ra vui vẻ:
- Phải thế nào?
- Thương nhớ nàng Diệu Thuần, có phải không?
Rồi hắn sát hẳn đùi vào Thừa, nũng nịu:
- Không thế cơ! Vui lên cơ! Đừng làm thế, em buồn.
Hắn giơ hai tay ôm hai má Thừa, vỗ vỗ mấy cái.
Tự nhiên Thừa cảm động. Hắn nhìn Ma-ri bằng đôi mắt trìu mến, rồi thở dài. Đây là cái thở dài của một người đương lưỡng lự.
Thằng Giăng nhoe nhoe khóc. Thừa đưa trả cho Ma-ri bế:
- Em nuôi con hay thuê vú?
- Em nuôi lấy.
- Không có tiền thuê vú à?
Ma-ri dẩu môi:
- Ứ, không phải thế. Tại em yêu anh, cho nên con của chúng ta, em phải nuôi lấy.
Trông thấy cái mặt nhí nhảnh, quen thuộc cũ, đụng chạm đến da thịt mềm mại, quen thuộc cũ, nhất là nghe giọng nói âu yếm, quen thuộc cũ, Thừa như được Ma-ri truyền cho cái hơi ấm áp vào tâm hồn. Hắn quên mối buồn và lo. Hắn nắm chặt tay Ma-ri, rồi mỉm cười, và lại thở dài. Bây giờ là cái thở dài của người suy tính đã xong. Ma-ri ru rín thằng Giăng, ngắm nó, rồi nhìn Thừa:
- Con đẹp đấy chứ. Đẹp hơn thằng Pôn. Anh trông nó. Giống bố như đúc.
Thừa ngắm con. Mặt thằng này khác mặt thằng Pôn. Đầu nó ngắn chùn chùn. Ma-ri lại ngắm nó và nhìn Thừa:
- Giống anh lắm nhỉ.
Thừa cười, dở đùa dở thật:
- Giống. Chỉ khác mỗi cái mặt.
Ma-ri lườm, phát vào lưng Thừa đen đét, vừa cười, vừa nói:
- Không đùa quá thế nhé! Phạm đến danh dự em. Bế lấy con cho em.
Hắn lục chỗ quần áo, tìm một chiếc sơ-mi lụa, đưa cho Thừa:
- Quà của anh đây. Thử mặc vào xem có vừa không nào?
Thừa đứng dậy, ướm áo. Ma-ri khen:
- Đẹp quá! May phỏng chừng mà khéo tuyệt.
- Em may à?
- Chứ còn ai? Em nhớ khổ người anh. Thế có tài không?
- Tài. Yêu lắm!
Ma-ri sung sướng:
- Ừ, thế chứ lị. Bây giờ cóc mới mở miệng được một tiếng!
Ma-ri ngồi xuống ghế, hỏi:
- Thế nào. Em đi vắng, thì anh làm báo. Sao báo Chấn Hưng đương hay, lại đình bản thế!
Thừa tặc lưỡi:
- Tại anh không muốn làm. Thế mấy tháng nay, em ở đâu?
- Ở ngay quanh Hà Nội này chứ đâu?
- Phố nào, sao anh không gặp bao giờ?
- Gặp thế nào được? Ai để cho mà gặp?
Thừa nói đùa:
- Đi tu à? Ở chùa à?
Ma-ri bĩu môi:
- Sao con cha đạo lại ở chùa? Nhưng chỗ em ở cũng nghiêm cấm như chùa. Em ở trong đất của nhà thờ, nhờ vả cha Hảo, gần như tu kín, anh ạ.
Thừa khen:
- Ngoan nhỉ!
- Điều đó đã hẳn. Chỉ anh là hư thôi. Vắng đàn bà một ngày không chịu được. Đã con M. nào, nó cho một trận ở phố Hàng Đàn, lại đến con Diệu Thuần. Em mà không về mau, dễ chỉ đến mai là anh tái giá mất rồi.
Hắn hỏi:
- Thế nào, câu chuyện Hàng Đàn ra sao?
- Hàng Đậu chứ. Nhưng thôi, nói làm gì chuyện cũ.
- Không. Em rất đại lượng. Em biết tha thứ hết. Nhờ ơn bề trên dạy bảo, bây giờ em tiến bộ nhiều, nhất định em không ghen đâu. Vả lại em đi vắng, thì anh có quyền chơi bời, em ghen là không đúng luân lý.
Thừa gạt đi:
- Thôi, việc qua rồi, nhắc lại làm gì.
- Thế việc hiện tại vậy. Con Diệu Thuần vì sao lại chết.
Thừa thở dài:
- Anh lo buồn quá, em ạ. May em về đúng lúc, làm anh khuây khỏa, chứ mỗi lúc sực nghĩ đến việc này, anh lại giật mình.
Ma-ri cau mặt:
- Làm sao! Thương nhớ chứ lại lo buồn!
- Em ghen à?
- Em vừa nói em được cha Hảo dạy bảo, bây giờ không ghen nữa. Vả lại ghen với người sống, chứ ai ghen với người chết. Cho nên em chỉ hỏi anh về việc con M, chứ có hỏi con Diệu Thuần đâu.
Thừa cười:
- Thế là em vẫn ghen đấy chứ?
Ma-ri lắc đầu:
- Thế là tò mò một tí thôi.
Một lát, hắn hỏi:
- Đúng Diệu Thuần không phải con mẹ thằng Mão à?
- Không. Chính việc nó chết làm cho anh lo buồn đấy.
- Anh nói cho em hiểu đi.
- Em có biết tại sao nó chết không?
- Tại anh khỏe quá, nó chịu không nổi.
Thừa bật cười, lắc đầu:
- Em ạ, anh lỡ tay, đánh chết nó.
Ma-ri trợn tròn đôi mắt. Thừa tiếp:
- Đúng thế. Anh không nói dối em.
- Nó có tội gì mà anh đánh chết nó? Tội cắm sừng à?
- Không. Nó giàu.
- À, tội giàu. Anh đào mỏ không được phỏng?
- Phải.
- Nó là con nhà ai?
- Nó là con một gia đình danh giá.
- Như gia đình em nhé. Hồi cưới, anh biết đấy.
- Khác thế.
- Như gia đình anh nhé?
- Không phải. À, em còn nhớ bà Phúc Lâm không nhỉ?
- Bà Phúc Lâm nào?
- Ngày mình còn mở hiệu thuốc, bà cử Dần đưa bà Phúc Lâm đến nhờ anh xem mạch ấy mà.
Ma-ri nghĩ một lát, rồi:
- À, à! Em nhớ rồi, cái bà vâng vâng, với cái bà gần như câm ấy chứ gì?
- Đấy, bà Phúc Lâm chính là Diệu Thuần đấy.
Ma-ri ngẩn người một lát, rồi nói:
- Thế mới biết em tinh mắt. Anh còn nhớ hôm ấy, em suýt làm gì không?
Thừa cười, gật đầu:
- Nếu hôm ấy em ghen ngay thì là em đi quá sớm.
- Nhưng dập được cái ngòi, cứu sống một người khỏi bị anh đánh chết! Hôm ấy em tức, nên lú lấp mất trí khôn. Chứ nếu em sáng suốt như lúc thường, thì quyết em nhớ đến ông cụ, mà nêu gương ông cụ, em cứ ghen.
- Ông cụ nào mà ghen?
- Anh quên bố em là cha đạo, vẫn làm việc tu nhân tích đức à? Nếu em ghen, có phải bây giờ con Diệu Thuần khỏi chết oan không.
Thừa thở dài, Ma-ri phát đánh đét vào đùi:
- À, em nhớ ra rồi. Còn lão già lẩm cẩm, gọi là cụ tú Phúc Lâm nữa, tức là người đẻ ra nó đấy, phải không?
- Phải rồi. Trí nhớ em tốt lắm.
- Thưởng cho em đi.
Ma-ri ghé má vào cạnh miệng Thừa. Thừa hôn khẽ một cái. Ma-ri cười lạt:
- Anh vẫn còn giận em. Em biết.
- Không phải thế. Tại anh đương nói câu chuyện làm cho anh lo buồn.
- Anh nói nốt đi.
- Đến dạo tẩy chay, Diệu Thuần bắt đầu mê anh, nên hay đi cổng sau với em trai nó, tên là Nghĩa, cùng với bọn học trường Bưởi, đến Phòng thuốc, in giấy cổ động.
Ma-ri phát thật mạnh vào lưng Thừa:
- Thế mà giấu! Giấu! Giấu!
- Bây giờ anh đánh chết nó. Anh chắc thế nào thằng Nghĩa cũng kiện anh. Từ ngày anh lấy Diệu Thuần…
Ma-ri bẻ:
- Anh không dám gọi là con Diệu Thuần à?
Thừa cười:
- Ừ, thì con! Từ ngày anh lấy con Diệu Thuần, anh xem ý, thì thấy thằng Nghĩa ghét anh lắm. Anh đến nhà, lần nào nó cũng lánh mặt. Cho nên chắc nó không để anh yên.
- Thằng ấy bao nhiêu tuổi?
- Đâu ngoài hai mươi thì phải.
- Có vợ chưa?
- Rồi.
- Thế thì khó nhỉ. Nếu nó chưa có vợ, thì em bảo một con đến chim nó, để xui nó đừng kiện anh.
Bỗng Ma-ri hỏi:
- Thằng Nghĩa ghét anh, hay tại anh chim vợ nó?
- Không phải. Đừng nghĩ vớ vẩn, để ghen vớ vẩn.
- Tính hạnh thằng Nghĩa thế nào?
- Giống chị nó như đúc. Lành, chín chắn, đứng đắn, và hăng hái làm việc công.
Ma-ri lại phét đen đét, mạnh hơn nữa vào lưng Thừa:
- Khen! Khen! Khen! Giống chị nó! Giống chị nó!
Thừa giơ tay ra đỡ, và tiếp:
- Vừa rồi, nó bị đuổi một tuần lễ về tội bãi khóa phản đối thằng đốc trường Bưởi.
- Con nhà gớm nhỉ!
Thừa cười:
- Anh không phải lừa mà ừ để bị phát nữa đâu!
Ma-ri rũ ra cười:
- Khá đấy. Nhưng như thế nào cũng là ừ ngầm rồi. Tha cho!
- Để anh nói nốt. Anh chỉ ước ao làm sao có người đến được nhà Phúc Lâm, dò xem họ có kiện anh không thôi.
- Anh ngu lắm. Nó định kiện thì nó cứ kiện, dò thì làm đếch gì. Thà bảo làm sao có người đến nhà Phúc Lâm khuyên can họ đừng kiện, mới có lý mà ước ao chứ?
Thấy Ma-ri vẫn dí dỏm như xưa, Thừa vui thích quên hết lo buồn, nên đùa lại:
- Dò biết mới khuyên can chứ! Chẳng lẽ nó không có ý định kiện mà cũng khuyên can, để gợi cho nó cái ý là nên kiện à?
Ma-ri gật đầu:
- Ừ. Thì em ngu vậy. Còn hai bố mẹ nó thế nào?
- Trước kia, rất có cảm tình với anh.
Ma-ri gí tay vào cằm Thừa:
- Cái miệng này tán, em cũng phải mê, nữa là lũ nhà nho ngốc nghếch.
- Không phải tán. Bởi vì ông cụ ít nói. Anh chỉ đánh vào mặt đạo đức, cho mượn rất nhiều sách Tàu.
- Sách gì?
- Không biết. Hình như sách triết học, chính trị. Ông cụ thích lắm. Bởi vì trước kia, ông cụ có bị nhà nước bắt mất mấy hôm, cho nên bẵng đến mười mấy năm, chả dám chơi bời đi lại với ai. Nay được đọc sách thì cũng là như được có người đến chơi nói chuyện.
- Lão già lẩm cẩm. Chứ anh mà đưa em sách triết học với sách chính trị, thì em chả thèm đọc. Anh có biết bây giờ em thích đọc gì không?
- Tiểu thuyết tình.
- Không phải. Kinh bổn.
Thừa chế nhạo:
- Ừ nhỉ! Kinh bổn đạo dạy cho em đại lượng, cho nên em chừa được tính ghen!
Ma-ri hãnh diện:
- Phải. Đúng thế.
- Thế thì em đếm xem từ nãy đến giờ, em đánh anh mấy lần rồi! Em ngoan đạo lắm.
- Không ngoan đạo mà thủ tiết nổi với anh.
Thừa nghiêm mặt:
- Thôi đừng đùa nữa. Anh hỏi em nhé. Em có cách gì làm cho anh đỡ lo buồn không?
- Chính là em về với anh để anh đỡ lẻ loi, đỡ lo buồn mà.
- Nhưng nó kiện anh, anh đi tù, thì em không ở với anh nữa.
Ma-ri tự nhiên biến sắc mặt. Hết cả nhí nhảnh. Thừa hỏi:
- Anh muốn biết mấy điều, em nói thực nhé.
Ma-ri gật.
- Trước kia, chúng ta phải sống xa nhau, vì em sợ mẹ thằng Mão nó đánh một trận nữa?
Ma-ri gật.
- Bây giờ, em xem báo, thấy lời anh cáo phó, em tưởng nó chết, thì em mừng, mới về với anh?
Ma-ri lại gật.
- Nhưng nay em biết là lầm. Diệu Thuần không phải mẹ thằng Mão. Vậy em có định ở với anh, hay sợ nó, mà lại đi?
- Em trót xin phép cha rồi. Nếu em quay lại với người, sợ người cho em là trẻ con, nói dối.
- Vậy thì em cứ ở với anh. Anh vui lắm. Nhưng bây giờ anh phạm tội giết vợ. Nếu anh phải tù thì em ở với ai?
Ma-ri đặt con vào lòng, khoanh tay trước ngực, ngửa mặt lên để nghĩ:
- Rắc rối nhỉ!
- Anh là thằng giết vợ. Em không sợ anh giết em à?
Ma-ri thản nhiên, lắc đầu:
- Không.
- Tại sao?
- Bởi vì anh sợ em. Chỉ có em đánh anh, chứ anh chưa đánh em bao giờ.
Thừa bật cười. Nhưng Ma-ri vẫn nghiêm nét mặt. Thừa nói:
- Hay là…
- Không, em không lấy ai đâu. Anh đừng hay là nữa. Em thủ tiết với anh.
- Anh không nghĩ thế. Anh nói hay là, là thế này. Nhưng trước khi hỏi câu này, anh muốn em cho anh biết sự thật, là có đúng mấy tháng vừa rồi em ở với các cha hay không?
- Ô hay! Không ở với các cha, thì em thủ tiết sao nổi. Một chứng cớ là vì anh không ở với các bà sơ, cho nên anh lấy vợ lung tung.
Thừa cười, rồi ngồi ngay ngắn lại:
- Em ạ. Nếu vậy, thì em có thể nói với cha cứu anh không?
Ma-ri lẩm bẩm một mình:
- Anh giết người. Các cha hay làm việc phúc đức nhỉ?
Bỗng hắn mừng rỡ:
- Được! Được! Anh là chồng em. Thế nào cha Hảo cũng nhận lời. Trừ phi anh làm giặc phản đối nhà nước thì chắc cha không cứu đâu.
Có tiếng kít ở ngoài đường. Hai người nhìn ra. Một chiếc ô-tô đỗ trước cửa nhà.
Một người đội sếp Tây và hai người đội sếp ta ở trên xe xuống đất.
Thừa lo. Ba người đi thẳng vào nhà. Mặt Thừa tái mét:
- Họ đến bắt anh, em ạ. Đúng là nó kiện rồi.
Bọn đội sếp bước vào:
- Ai là Trần Đức Thừa?
Thừa đáp:
- Tôi.
- Có trát tòa bắt ông.
Người đội sếp Tây đưa Thừa đọc trát. Ma-ri đứng dậy, ru con, đi đi lại lại.
Một người đội sếp ta, móc túi lấy cái xích, bảo Thừa giơ hai cổ tay ra. Thừa tuân theo, run như cầy sấy. Hắn nhìn Ma-ri:
- Em ở nhà nhé. Anh đi đây.
Ma-ri mỉm cười, gật đầu, tay rung rung thằng Giăng, miệng hát khẽ:
- Biết nhau từ thuở buôn thừng,
Dù đứt dù nối xin đừng quên nhau.
Thừa thở dài. Ra đến cửa, hắn quay lại Ma-ri một lượt.
* * *
Ngay tối hôm ấy, Ma-ri gửi thằng Giăng, nhờ một người bạn giữ hộ rồi đi.
Hắn đến một khu biệt thự, xung quanh là vườn rộng, có nhiều cổ thụ um tùm. Hắn lên mười hai bậc thềm, đi thẳng theo hành lang. Đến căn buồng thứ tư bên trái, hắn giơ tay ra gõ cửa.
Trong có tiếng đáp. Ma-ri mở cửa:
- Lạy cha ạ.
Cha Hảo ngồi ở bàn, đương đọc một cuốn sách dày đến nửa gang. Thấy tiếng chào thì hắn ngấc đầu lên, bỏ kính ra nhìn. Ma-ri đã đóng cửa, lại chào:
- Lạy cha ạ.
- À, Ma-ri, con.
Hắn duỗi thẳng hai cẳng ngồi lại cho ngay ngắn xếp quyển sách ngay ngắn trên bàn, đặt cặp kính ngay ngắn trên sách, rồi khoanh hai tay ngay ngắn sau kính. Hắn ngửa cái mặt nghiêm nghị, cho ưỡn ra đằng trước cả bộ râu hung hung, xồm xoàm như râu cấp dê cụ.
Cái nó nhìn thẳng vào mặt Ma-ri bây giờ, hình như không phải đôi mắt khoằm khoặm của người có cái mặt um tùm như cái biệt thự lắm cổ thụ của hắn, mà lại là đôi lỗ to tướng, sâu hoắm và đen sì của cái mũi diều hâu của hắn. Hắn cau đôi lông mi sâu róm lại:
- Sao cha không cho lệnh gọi mà con đến? Con có biết đây là nhà phòng, chỗ nghiêm cấm đàn bà con gái? Vậy mà giờ này con dám xông xáo vào? Con đi lối nào?
Ma-ri chắp hai tay, đưa mắt nhìn xuống cho có vẻ hiền lành:
- Lạy cha. Cha tha tội cho con. Vì con đến trình cha một việc cần, không thể trì hoãn. Xin cha yên tâm, con không đi đằng cổng, vì thấy có người canh. Con đã tìm được một lối mà người ngay thẳng không qua bao giờ.
- Lối nào?
- Trình lạy cha, con chui hàng rào găng ạ.
Người Pháp trợn mắt:
- Chết! Chỉ có kẻ nào lén lút mới dùng lối ấy. Con đến đây hầu cha, mà cũng đi thế, lỡ gặp ai thì sao?
- Thưa cha, thì không sao, lại là may ạ?
- Thế nào? Thế nào! Con có gặp người, hể?
- Trình lạy cha, vâng ạ. Con có gặp một người.
Người cha đạo bối rối, gãi gãi cái đầu có tóc ngắn mọc đứng như lông chiếc bàn chải ngựa, rồi hỏi dồn:
- Ô! Đức Chúa! Người ấy thế nào? Thế nào?
- Thưa cha, người ấy cũng mặc cái áo dài thâm như con ạ.
- Râu rậm như cha?
- Thưa không ạ. Không có râu ạ.
Cha Hảo ngớ ngẩn:
- Thế thì là ai?
- Thưa cha con không biết ạ. Con nói người ấy mặc áo dài thâm như con, bởi vì thưa cha, người ấy cũng là đàn bà như con ạ. Người ấy chui rào ra, cho nên con mới biết lối mà chui vào ạ.
Nói xong, Ma-ri tủm tỉm.
Người cha đạo dang rộng hai cánh tay:
- Ôồồồ!
Một lát, hắn nói:
- Nhưng dù sao, thì con cũng có lỗi với cha. Trong nhà này, có nhiều cha ở, ngộ con vào lầm buồng cha khác thì sao?
- Thưa cha không lầm ạ. Không hiểu sao mà tìm cha, thì con có tâm linh.
Hắn đắc chí, toét miệng ra cười.
Người cha đạo gò lưng xuống bàn, nói giọng gay gắt:
- Ừ. Được rồi, tốt rồi. Nhưng ngộ không phải buồng cha thì sao!
Ma-ri thản nhiên:
- Thì con hỏi thăm ạ.
Hắn bưng miệng, nhí nhảnh nhìn bề trên. Bỗng sực nhớ ra, hắn lè lưỡi một cái. Nhưng người râu dê vẫn nghiêm trang:
- Cha cấm con bận sau không được đến đây nữa. Bởi vì, cha nhắc lại, đây là nhà phòng các cha ở, không được coi như tòa giải tội mà bất cứ ai cũng có thể đến tự do. He!
- Dạ. Sở dĩ lần này con dám liều, là vì để trình cha một việc cần.
Người cha đạo dịu nét mặt. Bây giờ hắn nhìn Ma-ri bằng đôi mắt hắn cố him him lại cho đỡ khoằm khoặm để nói nhỏ:
- Cha nghe.
Hắn lại ngồi ngay ngắn, khoanh tay ngay ngắn. Đôi lỗ mũi cũng ngay ngắn như để cố dòm xuống xem tiếng vừa nói ở đâu ra.
Ma-ri lấy giọng đau thương:
- Trình lạy cha, thằng chồng cũ của con bị nhà nước bắt rồi.
Lão Hảo ưỡn bộ râu. Đôi lỗ mũi huếch nhìn Ma-ri:
- Nó bị bắt? Bị bắt bao giờ?
- Bẩm buổi chiều hôm nay ạ.
- Thế là con có gặp nó rồi chứ?
- Thưa cha vâng ạ. Nhưng chúng con vừa nói chuyện với nhau độ một giờ đồng hồ, thì nhà nước vào xích tay nó đi.
- Nó bị bắt về tội gì?
- Thưa tội giết người ạ.
Nhà tu hành trợn cả đôi mắt lẫn đôi lỗ mũi:
- Chà chà! Giết ai?
- Trình lạy cha, giết vợ ạ.
Người cha đạo ngạc nhiên:
- Sao? Sao? Con là vợ nó kia mà? Thì nó giết ai?
- Thưa nó giết người vợ nó lấy trong những ngày nó vắng con ạ.
Người bề trên nghĩ ngợi, rồi nói:
- Thế nghĩa là… Thế nghĩa là con định về với nó, nhưng nó vào tù.
- Vâng ạ. Thế cũng nghĩa là hai đứa chúng con không được “ăn nằm” với nhau nữa ạ.
Nhà tu hành dúm đôi lông mi lại, đặt tay trỏ trước bộ râu:
- Suỵt.
Một số sợi mềm yếu, sống ở môi trên, như không chịu được gió thổi, ngỏng cao cả lên.
- Con không được nói tiếng ấy trước mặt cha. He!
- Thưa cha thật thế ạ.
- Suỵt!
Một tiếng giậm chân khẽ xuống sàn gạch:
- Biết rồi. Thế bây giờ con muốn cha làm gì?
- Thưa cha, cha tha cho chồng con ạ.
Người Pháp trợn lỗ mũi:
- Cha tha? Cha tha cho kẻ giết người?
- Vâng ạ. Cha vẫn tu nhân tích đức ạ.
- Cha có quyền gì? Cha chỉ là kẻ tu hành. Cha không làm việc bậy bạ. Vì như thế là bất công.
- Thưa cha, khối cha còn làm những việc bất công bậy bạ hơn ấy ạ.
Lại một tiếng suỵt. Râu lại ngỏng lên.
- Giết người thì có pháp luật trừng trị. Thần công lý không thiên vị ai.
- Thưa cha, con thấy cái cân xây ở trước cửa toà án, độ này cán nó lệch rồi, chứ không ngang như ngày nọ nữa ạ.
- Con nói sao?
- Bởi vì có lũ trẻ con nghịch, chúng nó để đá vào một bên đĩa cân ạ.
- Ồ! Thần công lý là Thần công lý. Trẻ con là trẻ con. Con không được lẫn lộn.
- Thưa cha, trẻ con còn bắt được Thần công lý lệch cán cân, huống hồ là các cha.
Nhà tu hành giơ xòe bàn tay ra:
- Thôi, im, không lý sự như thế. Để yên, cha nghĩ.
Một lát, hắn cầm bút và hỏi:
- Chồng con tên là gì?
Ma-ri đứng thẳng, khoanh hai tay trước ngực:
- Là Thừa ạ.
- Họ gì?
- Họ Trần ạ.
- Trần Thừa à?
- Thưa không ạ.
- Sao lại không?
- Thưa là Trần Đức Thừa ạ.
Người Pháp ngoẹo cái cổ và giơ hai cánh tay lên trời:
- Ô, mất thì giờ! Sao con không nói ngay là Trần Đức Thừa?
- Thưa con quên ạ.
Ma-ri bưng miệng, rúc rích cười. Lão Hảo cúi xuống để biên vào sổ. Râu hắn quét trên mặt giấy, kêu soạt soạt. Hắn ngẩng lên, lại hỏi:
- Người vợ mà nó giết, tên là gì?
- Thưa là Diệu Thuần ạ.
Một tiếng giậm chân khẽ:
- Họ gì?
Ma-ri ngước nhìn trần nhà, nghĩ một lát, rồi đáp:
- Thưa cha, con không nhớ ạ.
- Nguyễn nhé.
- Không phải ạ.
- Trần nhé?
- Cũng không phải ạ.
- Vũ, Bùi, Lê, Lý?
- Thưa không phải ạ.
- Thế thì là gì?
- Thưa chữ này khó nhớ lắm ạ. Cha đừng làm con cuống. Cha để con nghĩ lâu thì ra ạ.
Một lát, hắn nói:
- À, thưa phải, họ Hiệu ạ.
- Họ Hiệu? Lạ đấy. Khó nhớ thật.
Hắn ghi. Nhưng Ma-ri vội vàng nói:
- À, à, à! Thưa không phải. Cha xóa đi ạ. Phạm Thị Hiệu kia ạ.
Người cha đạo ngớ mặt:
- Thế nào? Cha không hiểu. Thế thì họ Phạm hay họ Hiệu, chứ sao lại cả ba chữ?
- Thưa cha, con cũng không hiểu ạ. Con chỉ nhớ Phạm Thị Hiệu Diệu Thuần, thì con không biết Phạm Thị Hiệu, hay Phạm, hay Hiệu là họ, Diệu Thuần hay Hiệu là tên, mà lại có chữ Thị mắc ngẵng ngay ở giữa ạ.
- Ô! Mất thì giờ. Thế nào, con nhắc lại.
- Phạm Thị Hiệu Diệu Thuần ạ.
- Được, cha cứ ghi cả năm chữ.
Viết xong, người Pháp ngẩng đầu lên, thì Ma-ri vội vàng hất hất cái khuỷu của cánh tay khoanh chặt trước ngực:
- À, à thưa cha không phải đâu ạ.
- Sao, lại không phải?
- Thưa cha, sau chữ Thị lại có dấu phẩy. Thế thì chữ nào là họ, chữ nào là tên? Chả có lý tên những năm chữ, lại có cả dấu phẩy.
- Ô, không sao, Cha mới hỏi có hai câu, mà mất đến nửa giờ đồng hồ. Lúc nào con cũng ỡm ờ, nói nhiều câu vô ích.
- Vâng ạ. Xin lỗi cha ạ. Tại mọi bận con ỡm ờ, cha không mắng ngay, con tưởng cha thích.
Hắn lại bưng miệng rúc rích cười. Nhà tu hành nhìn thấy, nhưng vẫn nghiêm nghị.
- Con có biết gì về gia đình người bị giết không?
- Thưa có ạ.
- Con nói đi.
- Thưa cha nói gì ạ?
- Về gia đình người bị giết, chứ nói gì?
- Thưa cha nói thế nào cho khỏi vô ích ạ?
Người cha đạo giơ hai cánh tay lên trời, phùng má phù ra một hơi dài. Cả bộ râu rung mạnh như biết cựa quậy. Ma-ri tủm tỉm. Rồi hắn vừa nấc lên để cười, vừa nói rời rạc:
- Thưa… cha hỏi… từng… câu ạ.
- Được. Cha hỏi. Nó có bố mẹ không?
- Thưa có ạ.
Rồi hắn lau láu nói thêm:
- Lão ấy vớ vẩn lắm, cha ạ.
- Sao?
Ma-ri lại chậm rãi, đáp:
- Vì chỉ thích ông Tú Xương thôi ạ.
- Tú Xương? Họ Tú, tên Xương, hè?
- Thưa con không biết ạ. Lão ta…
Cha Hảo giơ tay ra ngăn:
- Khoan, khoan! Tú Xương phải không?
- Vâng ạ.
Hắn ghi, rồi hỏi:
- Xương ích-xi hay ét-xi?
- Thưa con không biết ạ. Xương với thịt ấy ạ.
- Xong rồi. Tên người bố là gì?
- Thưa con không biết ạ.
- Sao con nói là con biết?
- Thưa cha, thật đấy ạ.
- Thật thế nào?
- Thưa thật là con không biết ạ.
Bộ râu xồm lại bay như muốn trốn:
- Sao con vừa nói rằng con biết?
- Thưa con không biết thật ạ.
Bỗng:
- À quên, thưa cha.
Người cha đạo ngẩng lên:
- Gì?
- Thưa cha, con cứ thấy gọi lão ta là cụ tú Phúc Lâm ạ.
- Cụ tú Phúc Lâm?
- Vâng, ở Hàng Đào, con không nhớ số nhà, chỉ biết là ở chỗ xế cửa Đông Kinh nghĩa thục ấy ạ.
Nhà tu hành trợn tròn mắt sau đôi mắt kính long lanh:
- Đấy là những điều mà cha cần biết. Lão này có phải họ Lương không?
- Dễ thường phải đấy ạ.
- Thì thì nó cùng họ với Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến, cũng ở phố Hàng Đào.
- Thưa cha, những người này là ai ạ.
- Là giặc, con không biết à?
- Giặc gì ạ?
- Thôi, để cha hỏi con hơn là con hỏi lại cha.
- Vâng ạ. Bây giờ con nhớ ra rồi. Lão tú Phúc Lâm ngày trước có làm giặc, cho nên bị nhà nước bắt.
Người Pháp mỉm cười:
- Thế thì được rồi. Còn người mẹ?
- Thưa nếu là họ với Lương gì gì mà cha vừa nói thì dễ thường người mẹ mới họ Lương. Chứ lão này là họ Phạm hay họ Hiệu đấy ạ.
- Được rồi. Không hề gì. Người mẹ làm gì?
- Thưa con không biết ạ.
- Không hề gì. Nó có mấy anh em chị em?
- Có một em trai, học trường Bưởi, nhưng phải đuổi rồi ạ.
- Phải đuổi? Tội gì? Bãi khóa hẻ?
- Vâng ạ.
- Tên nó là gì?
- Thưa cha con quên mất rồi ạ.
- Không hề gì. Biết nhà thì sẽ biết cả tên người trong nhà. Nó có em gái không?
Ma-ri sực nghĩ ra, khẽ giậm chân xuống đất, rồi thét lên tiếng:
- Ừ nhỉ! Thôi bỏ mẹ rồi! Thế là quên!
- Sao?
- Thưa cha con quên không hỏi kỹ chồng con. Cha ạ, không khéo thì thằng khốn nạn mê con này, rồi giết con kia cũng nên.
- Thằng nào? Con nào?
Ma-ri lắc đầu:
- Thưa cha, con trót nói câu vô ích đấy ạ.
Người cha đạo nhún vai. Ma-ri toét miệng ra cười rồi nói:
- Thưa cha, cha còn hỏi gì nữa không ạ?
- Cha hỏi câu này, có lẽ con không biết. Trong gia đình ấy, cha thế, con trai thế, thì con gái thế nào?
- Thưa cha, con biết ạ.
- Ừ, hay lắm, con nói đi.
- Thưa cha người con gái này yếu lắm ạ, phải nhờ chồng con bốc thuốc cho luôn, cho nên mới mê tít chồng con đấy ạ.
- Cha không muốn hỏi thế. Cha cần biết về tư tưởng chính trị của nó kia.
- Thưa cha, tư tưởng chính trị là gì ạ?
- Nghĩa là có làm gì tỏ ra là phản đối nhà nước không?
- Thưa cha không ạ. Nó chỉ ghét khách thôi ạ.
- Ghét thế nào?
- Thưa cha, ngày nọ nó tẩy chay hàng Tàu ạ.
Nhà tu hành giương đôi lỗ mũi nhìn Ma-ri:
- Nó cũng đi tẩy chay?
- Trình lạy cha, không ạ.
- Sao con nói là nó tẩy chay?
- Trình lạy cha, vâng ạ.
- Vâng thế nào?
- Thưa cha, nó chỉ ngồi chứ không đi ạ.
- Là thế nào? Ngồi tẩy chay?
- Vâng ạ. Nó ngồi in giấy cổ động tẩy chay ạ.
Ma-ri khúc khích khẽ. Ở phía người cha đạo, tuy không thấy râu động đậy, nhưng có tiếng:
- Chà chà!
Ma-ri thêm:
- Nó ngồi in với em nó, với lũ học trò trường Bưởi ạ.
- Nó in ở nhà nó, hẻ?
- Trình lạy cha, không phải ạ.
- Ở nhà nào?
Người cha đạo sắp ghi, nhưng Ma-ri đáp:
- Thưa cha, con không biết ạ.
- Con không biết, sao con nói là nó in?
- Vâng ạ.
- Vâng ạ thế nào?
- Thưa cha, tại mắt con không trông thấy, con chỉ nghe chồng con kể lại thế thôi ạ.
Nhà tu hành gật đầu:
- Chà chà! Tài liệu quý báu!
- Thưa cha nói gì ạ?
- Không. Con còn biết gì nữa không?
- Thưa cha, để con nghĩ ạ.
Người cha đạo ngậm đầu quản bút, chờ Ma-ri. Bỗng hắn dịu dàng:
- À! Ma-ri! Từ nãy cha không cho phép con ngồi. Con phải đứng lâu thế, thì mỏi. Người mỏi thì óc cũng mỏi. Con ngồi kia cho thoải mái mà nghĩ. Không phải khoanh tay nữa.
Hắn giơ tay, trỏ bộ xa lông lùn. Ma-ri vén áo:
- Xin phép cha ạ.
Hắn ghếch đít lên mặt bàn để ngồi cho cao, tiện nói chuyện, rồi vắt chân chéo kheo. Ống quần lĩnh bóng dính sát vào đôi đùi tròn.
Bây giờ tay được tự do, Ma-ri mở ví, lấy hộp phấn bằng bạc, bật nắp ra, để soi gương. Hắn vỗ vỗ cái húp bông vào trán và đôi má, sửa lại mái tóc, rồi lấy thỏi son, dề dài môi ra để cọ cọ vào. Xong ngần ấy việc, hắn lại ngắm mặt hắn một lượt nữa, rồi tủm tỉm nhìn bề trên.
Nhà tu hành trông thấy thế, thì vội vàng quay ngay mặt về phía gần đầu giường ngủ để ngắm nghía thánh giá có tượng đức chúa Giê su gần như cởi truồng. Hắn cũng vội vàng chéo kheo cẳng lại.
Một lát, hắn hỏi:
- Con đã nghĩ thêm được gì chưa?
- Trình lạy cha, con chưa nghĩ ạ.
- Ừ, nghĩ đi.
- Thưa cha, dễ thường hết rồi ạ.
- Được. Thế là tạm đủ. Nếu sau này con biết thêm gì, thì vào trình cha ngay, hẻ?
- Vâng ạ. Lại vào đây ạ?
Người Pháp xua tay:
- Không được. Phải đợi chiều thứ bảy, đến tòa giải tội.
- Vâng ạ. Nhưng con sợ là chả có tội gì mà đi xưng.
- Biết mà không nói cũng là có tội.
Ma-ri hớn hở:
- À nếu để xưng tội hộ người khác, thì con đi luôn được. Bởi vì con biết vô số, mà con cứ tưởng là phải giấu. Ví dụ…
Người râu dê cướp lời:
- Thôi, thôi! Không nói những điều vô ích.
Rồi nghĩ một lát, hắn bảo:
- Nó sẽ ra tòa. Ở tòa thì có quan biện lý buộc tội, nhưng có quan trạng sư gỡ tội cho.
- Thưa cha, cha làm quan biện lý có được không ạ? Quan khác buộc tội thì chồng con rũ tù!
Người cha đạo nhún vai:
- Cha là kẻ tu hành.
- À nhỉ. Cha chỉ làm việc thiện, chứ không làm việc ác, buộc tội người ta. Thế thì cha làm trạng sư được không ạ? Quan khác thì ai biết là cần, để tận tâm mà gỡ tội cho chồng con về ở với con.
Người Pháp lắc đầu:
- Cha không thạo pháp luật.
- Hay là cha bảo quan biện lý khen chồng con, chứ đừng chê chồng con, có được không ạ?
Tiếng cười hô hố làm bộ râu nảy lên phần phật. Rồi tiếng nhại:
- Cha bảo, hẻ?
- Vâng, các cha bảo gì mà các quan chẳng phải nghe. Con chả thấy vô khối cha bảo các quan bắt dân nhường ruộng cho nhà thờ là gì? Ngay như khu vực này, con nghe nói ngày xưa là của nhà chùa, các cha bảo các quan lấy hộ.
- Con không được nói thế!
- Nói thế là có tội, phải đi xưng ạ?
- Thôi, không nói những điều vô ích! Con phải thuê trạng sư cho nó, hẻ?
- Thưa cha, con không có tiền ạ.
- Ồ!
Người Pháp nhún vai. Ma-ri hỏi:
- Thưa thế này thì tiện nhất. Cha làm quách quan chánh án để tha bổng cho chồng con. Quan khác mà cứ chiếu pháp luật, không khéo chồng con bị tử hình.
- Con không ngại. Các quan trong tòa đều là những người giỏi pháp luật. Người giỏi pháp luật thì không nô lệ pháp luật, mà biết sai khiến pháp luật. Bởi vì pháp luật tuy là chữ nghĩa, nhưng nó có chân. Nó biết đi, đi từ không đến có, đi từ có đến không. Nó lại có thể pha trộn với nhau, để tự nó xí xóa nó.
- Thưa cha, cha nói câu ấy khó quá, nhưng con cũng hiểu đại khái là như con, con cũng giống pháp luật.
- Con giống pháp luật?
- Vâng ạ. Bởi vì con là người lai, có lẫn máu Tây với máu An-nam pha trộn với nhau. Cho nên con có tính hay xí xóa.
- Xí xóa gì?
- Thưa cha, xí xóa lỗi của con và của người khác ạ.
- Không nói điều vô ích!
- Thế thì con nói điều có ích vậy ạ. Thưa cha, như cha vừa dạy dỗ con, bây giờ con rất yêu pháp luật và quý những người giỏi pháp luật.
Người cha đạo gật đầu:
- Con tốt lắm. Vì sao, con thử nói cha nghe?
- Bởi vì pháp luật ra chỉ để cứu những người như chồng con. Và người thạo pháp luật mới biết đâu là phạm pháp, đâu là không phạm pháp, để dùng pháp luật mà trừng trị kẻ không phạm pháp và bênh vực người phạm pháp.
Người cha đạo xua tay, nhăn mặt:
- Con vẫn nói điều vô ích.
- Thế ạ? Con tưởng thế là con học được một bài cha vừa dạy con. Thưa cha, bao giờ xử án chồng con ạ?
- Cái đó là tùy tòa. Quan dự thẩm hỏi cung xong thì xử.
- Thưa cha, sao lắm quan thế?
- Việc của chồng con còn cần phải nhiều quan nữa kia, như quan đốc-tờ, quan mật thám. Song le, quan thì nhiều thật, nhưng tất cả chỉ như là một. Vì quan nào cũng là người Pháp. Và cha cũng là người Pháp. Người Pháp là thống trị, phải thù ghét người An-nam bị trị họ thù ghét mình.
Ma-ri cười hi hí:
- Thế thì con vừa là thống trị, vừa là bị trị. Hèn nào mà con chả thù ghét gì người Pháp, cũng chả thù ghét gì người An-nam. Con lấy ai cũng được. Có tiền thì cân tuốt!
Bỗng hắn nghiêm mặt:
- Nhưng thưa cha, bây giờ con về với chồng An-nam, thì con chỉ mong chồng con chóng được tha ngay. Nó về muộn thì là bét.
Người cha đạo gật đầu:
- Cha hiểu. Cha hết sức giúp con. Được.
- Thưa cha, được thế nào ạ?
Nhà tu hành nói bằng giọng từ bi:
- Con băn khoăn, có ý nghi cha không hết sức giúp phải không? Cha nói câu này cho con yên tâm mà tin cha nhé. Hiện giờ này, chồng con đương bị giam về tội giết người. Hẳn là nó lo phải tù lắm. Nhưng con hãy đặt con vào địa vị cha, thì con hiểu ngay rằng cái người lo chồng con phải tù, lại chính là cha. Thế thì cha với nó, ai lo lắng hơn ai?
Ma-ri gật gật:
- Thưa cha, con hiểu rồi ạ.
Nghĩ một lát, hắn hỏi:
- Trình lạy cha, cha định cứu chồng con thế nào ạ?
Người Pháp lắc đầu:
- Cha chưa thể nói trước. Vì hiện nay, cha chưa rõ chồng con giết người thế nào, vì lý do gì mà giết, và nó định khai báo ra sao. Vả cha còn muốn biết thêm nhiều hơn nữa về gia đình người bị nạn. Và cả về chồng con nữa, xem nó có phải là người trung thành với nhà nước hay không. Tức là cha còn phải điều tra. Có biết rõ bệnh, mới cho thuốc trị bệnh được.
- Thưa cha, nhưng chồng con bị bắt rồi, thì cha điều tra ở đâu được ạ?
- Cha sẽ vào Hỏa lò để gặp nó.
Ma-ri sung sướng:
- Thưa bao giờ cha vào ạ?
- Sáng mai, sau buổi lễ.
Ma-ri sực nghĩ ra:
- Nhưng, thưa cha, chồng con mới bị bắt, Hỏa lò không cho phép ai vào thăm. Và sau này, thành án xong, người nhà có được phép vào, thì khi nói chuyện với tội nhân, bao giờ cũng có một người cai ngục đứng cạnh để nghe.
Người cha đạo lắc đầu:
- Người nhà tội nhân khác. Cha khác. Lúc nào cha cũng có quyền vào Hỏa lò, và khi cha nói chuyện với tội nhân, cha không cho phép ai được đứng cạnh.
Ma-ri tươi tỉnh:
- Cha tài và oai quá nhỉ!
Hắn cười hí hí. Nhà tu hành khẽ lắc đầu và vuốt râu:
- Không tài. Bởi vì cha là người Pháp. Không oai. Bởi vì cha là cha. Là cha thì có nhiều quyền hạn hơn người Pháp thường. Các cha vẫn vào xà-lim án chém để rửa tội cho phạm nhân bị tử hình.
- Thưa cha có rửa được sạch tội của chúng nó không ạ?
- Không hỏi những điều vô ích.
Ma-ri nghĩ một lát, rồi khoanh tay:
- Trình lạy cha, cha làm thế nào tha ngay cho chồng con. Chứ còn phải điều tra thì lâu lắm.
- Sao con lại có thể nghĩ rằng cha tha cho chồng con được. Cha nhắc lại, cha chỉ là kẻ tu hành.
- Thưa cha, thế thì sao kẻ tu hành lại điều tra. Con tưởng việc điều tra là việc của quan mật thám và quan dự thẩm?
Cha Hảo cau mặt:
- Con đừng giả bộ ngây thơ! Cha điều tra là để giúp các quan làm việc cho dễ.
- Thưa giúp thế nào, chứ lại giúp để các quan buộc tội thêm, thì khổ chồng con.
Người Pháp vẫn để nguyên những nét cau ở mặt:
- Con tưởng cha dại, hẻ?
Ma-ri mỉm cười. Nhà tu hành nói:
- Quan mật thám có những người mật thám An-nam làm tai mắt, để giúp quan dự thẩm nghe và làm rõ hơn là một mình ngài nghe và nhìn phạm nhân cùng chứng tá khai cung. Nhưng quan mật thám có đâu nhiều tai mắt bằng các cha. Vả những người mật thám An-nam không được quan mật thám Pháp tin cậy bằng con chiên bổn đạo được các cha tin cậy. Cho nên, nhà thờ phải giúp nhà nước khám phá những việc bí mật, giải quyết những việc trọng đại.
- Thưa cha, con hiểu. Thế thì tùy các cha cho các quan được nghe và nhìn theo ý định của các cha.
Người cha đạo gật đầu:
- Con thông minh đấy. Nhưng con cũng nên thông minh hơn nữa mà hiểu rằng từ xưa đến nay, phàm việc gì và ở đâu, thì các cha cũng là những người đi trước để dò đường cho các quan đi sau. Thế thì so sánh những việc to lớn các cha đã làm, việc của chồng con chỉ là nhỏ tí, nhỏ tí.
Hắn bấm đầu ngón tay vào ngọn của ngòi bút. Ma-ri ngớ ngẩn:
- Cha dò đường cho các quan đi sau, thì cha có chỉ đường cho chồng con khai báo với quan mật thám và quan dự thẩm không ạ?
Người cha đạo nhún vai:
- Ồ! Chẳng lẽ cha lại xui các quan từng câu phải hỏi và xui nó từng câu phải trả lời!
Ma-ri cười khì khì:
- Vâng, vâng! Xin lỗi cha! Nếu cha phải làm như thế, thì chả hóa ra cha vừa là tội nhân, vừa là người xử tội!
- Phải rồi. Cho được công việc chạy tốt, cha gọi ý các quan và chồng con thôi. Song le, cha cũng phải khéo léo.
Ma-ri đứng im. Nhà tu hành hỏi:
- Cha cứu được chồng con, thì con có chắc sau này nó theo đạo không?
- Thưa cha, con không chắc.
- Vì sao?
- Nó hung ác, giết người, thì không muốn bị tôn giáo che đậy cho nó thành lương thiện. Con theo đạo dễ dàng, vì con có máu đạo ở trong người.
Đôi mắt kính long lanh chiếu vào mặt Ma-ri:
- Con có đạo, thì nó phải theo đạo. Con gái đạo không lấy chồng ngoại đạo.
Ma-ri hỏi ngay:
- Thưa cha, thế ngộ nó không theo đạo, thì con có thể bỏ đạo để khỏi mang tiếng nhà thờ được không ạ?
Người Pháp nhăn mặt, lắc đầu:
- Không được.
Ma-ri sực nghĩ ra, vội vàng nói:
- À, à. Trình lạy cha. Con chắc thế nào nó cũng theo đạo, để mỗi khi nó làm điều ác, nó được cha che chở, ban phước lành.
Nhà tu hành nhún vai. Ma-ri hỏi:
- Thưa cha, sáng mai, cha vào Hỏa lò gặp chồng con ạ?
- Ừ, sáng mai.
Im lặng một lát, hắn tiếp:
- Cha chỉ bắt con làm một việc rất nhỏ, là con phải kiếm món tiền để thuê trạng sư cãi cho chồng con.
- Thưa cha, con không kiếm đâu ra tiền. Bởi vì con không đi kiếm tiền nữa.
Cha Hảo vẫn dịu dàng:
- Chả lẽ con đùn cả việc chạy thầy cãi cho cha hay sao?
- Vâng ạ. Bởi vì nếu không có trạng sư gỡ tội, mà chồng con phải tù lâu, thì con lại ở nhờ nhà cha thôi.
Nhà tu hành thở dài. Hắn nhìn đồng hồ treo trên tường:
- Bây giờ khuya rồi. Con ở đây lâu không tiện. Con phải về thôi.
- Vâng ạ.
Ma-ri đánh lại tí phấn, rồi chắp tay:
- Lạy cha ạ.
- Ừ. Con về. Nhưng ra cho kín đáo nhé.
Ma-ri nhí nhảnh:
- Chả cần, cha ạ. Có ai biết con ở buồng cha nào ra đâu. Vả nếu con gặp người đàn bà muốn vào, con trỏ cho người ấy chỗ chui. Nếu con gặp người đàn ông muốn ra, con theo người ấy, để biết thêm một lỗ khác.
Người cha đạo cau mặt, khẽ tặc lưỡi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIX
KHOA HỌC VỚI SỰ SỐNG CHẾT  
 
Bác sĩ Pi-ca tuy là người Pháp kiếm ăn ở thuộc địa, nhưng vẫn mạt sát người Pháp khác là đồ thực dân ức hiếp bóc lột. Hắn nhem nhẻm chửi tòa án là ăn tiền, bất công, và nhất là chửi nhà thương công là ăn cắp, vô nhân đạo. Hắn khoe rằng ở Đông Dương, chỉ còn mỗi một mình hắn giữ được tư cách là người Pháp chân chính, và biết thương người An-nam như cha thương con.
Người An-nam hồi ấy biết chuyện rằng Pi-ca làm ở nhà thương Phủ Doãn, đã can tội cưỡng dâm bệnh nhân, cho nên bị cách chức và bị đuổi về nước. Nhưng hắn chống lại lệnh trên. Hắn cãi rằng làm ô nhục một người đàn bà thuộc địa, đối với một người Mẫu quốc, không phải là một hành động dã man, mà chỉ là một việc thuộc về sinh hoạt bình thường. Tòa án truy tố hắn. Hắn không đến. Tòa xử phạt vắng mặt hắn một đồng bạc đền danh giá cho người bị hiếp. Hắn không nộp.
Hắn không về Pháp, ở lại Hà Nội, mở phòng khám bệnh. Thế là cái án ấy thôi.
Báo hàng ngày bắt đầu từ năm 1917, đã đăng những dòng quảng cáo phòng khám bệnh của Pi-ca. Nguyên văn như sau:
 
PHÒNG THĂM BỆNH
Quan thầy thuốc Pi-ca, y học tiến sĩ, có nhời cáo bạch rằng: Quan Pi-ca có mở một sở thăm bệnh và chữa bệnh riêng tại Hà Nội, ở đầu phố Capitaine Labrousse. Sở ấy ở ngay rạp hát tuồng Tây, đầu cái phố mà người An-nam vẫn gọi là Trường Tiền trông sang. Quan tiến sĩ nói trên chữa tất cả các bệnh diệu hơn cả các nhà thương công, mà hay dùng các thứ thuốc mới chế hóa ra đời nay. Như bệnh giang mai, bệnh lậu, bệnh ho lao, bệnh đau mắt có màng mộng v.v…, cũng chóng khỏi được.
Cho được chữa những bệnh gì cần phải châm trích hay là mổ, thì quan Pi-ca có những đồ nghề tốt và sạch sẽ hơn tất cả các nơi, mà quan ấy làm cũng cẩn thận, nhanh khéo, nhẹ nhàng mà vẫn chóng khỏi luôn luôn.
Sở thăm bệnh ấy thì ngày nào cũng mở cửa từ hai giờ chiều cho đến bốn giờ chiều. Quan Pi-ca nói chuyện với khách rất tử tế, lại giao thiệp bằng tiếng An-nam cũng được. Lại mách bệnh nhân An-nam về luật pháp cũng thạo.
Kính bạch
Nhời nói thêm: Tờ cáo bạch này chính quan tiến sĩ Pi-ca đặt ra bằng tiếng An-nam.


Người An-nam hồi ấy đọc quảng cáo này, thì hiểu ngầm ngay rằng bác sĩ Pi-ca giữ mối thù sâu sắc đối với nhà thương công và tòa án. Bệnh nhân thường thấy bất cứ một dịp nào, hễ nói xấu được hay làm trái được với nhà thương Phủ Doãn và tòa án, là quan tiến sĩ không từ.
Năm nay, Pi-ca là một trong bốn bác sĩ được đoàn Y tế Bắc Kỳ cử vào việc giúp tòa án khám nghiệm những vụ hình sự có án mạng. Và lần này rút thăm, hắn được đến xét tử thi cô Lễ. Theo công văn tòa viết cho hắn, đáng lẽ hắn phải đến nhà thương Phủ Doãn ngay từ lúc hai giờ chiều. Nhưng làm việc riêng ở phòng thăm bệnh của hắn xong, hắn mới xếp một va-li những dụng cụ mổ xẻ để đem đi. Hắn chê là những thứ này của nhà thương công vừa cùn, vừa bẩn.
Chờ sẵn bác sĩ Pi-ca, đúng túm tụm vào một chỗ ở hiên nhà cao, từ trước hai giờ chiều, có bốn người vừa đàn ông vừa đàn bà, trẻ tuổi, người Việt Nam, đầu đội mũ vải trắng, mình mặc áo choàng trắng rộng thùng thình. Tức là y sĩ, y tá. Và đứng riêng ra một chỗ, một người đàn ông Pháp đã nhiều tuổi, có ria mép dài uốn vểnh lên. Người này mặc thường phục, hút thuốc lá rời, nhồi trong cái nõ điếu dọc tẩu cong. Hắn là dự thẩm, tên gọi là Xu-mê đơ la Grăng-đi-e, vẫn được gọi tắt là cụ Xu, đại diện tòa án, đến chứng kiến việc mổ xẻ.
Ở góc sân, ngồi xổm cạnh bồn cây cảnh, là cậu Nghĩa, đội khăn trắng, mặc áo dài trắng. Cậu đã chờ suốt cả buổi sáng. Và chiều nay, cậu đã chầu chực từ lúc một giờ, cho nên mỏi.
Chiếc ô-tô sơn đen của Pi-ca đến gần nhà thương Phủ Doãn thì bóp còi, rồi từ từ quành mũi vào cổng, để chờ mở. Dự thẩm Xu bĩu môi nhún vai, rồi gõ cái tẩu thuốc lá và gót giày cho hết tàn. Đợi cho xe của Pi-ca lẹt xẹt trên sân sỏi, đỗ ở gần thêm, hắn mới xuống bậc. Hắn tự giới thiệu tên, chức vụ của hắn với người thầy thuốc. Bởi vì hai người chưa quen nhau.
Xu cùng Pi-ca vào buồng khách. Họ hỏi thăm nhau về sức khỏe, nói chuyện về mưa nắng, rồi được vài câu, thì xoay đến chuyện đàn bà Việt Nam. Xu nói:
- Họ đẹp, họ dịu dàng, họ khéo léo chân tay, nhưng chỉ phải họ nhút nhát và lại có tính gian.
Pi-ca gật đầu:
- Nhút nhát thì đúng. Khó lòng mà bắt được họ cởi áo cho mình khám bệnh, khi có một người y tá đàn ông cùng nước với họ đứng ở cạnh. Còn họ có tính gian hay không thì tôi không rõ. Bao giờ tôi cũng thấy họ là những người khách hàng sòng phẳng hơn cả đàn bà Âu châu.
Xu cười:
- Bệnh nhân thì phải thật thà với thầy thuốc. Nhưng nếu họ không phải là bệnh nhân, mà lại là con gái, thì khi họ đến nhà mình, mình nên giữ gìn, kẻo mất những đồ đạc lặt vặt. Có một lần, tôi gọi một con gái đến nhà. Sau lúc nó ra về, tôi thấy mất cái lược. Lại một lần nữa, tôi bắt quả tang một đứa ăn cắp bánh xà-phòng thơm của tôi.
Pi-ca pha trò:
- Ấy là nó muốn thử xem ông quan tòa người Bảo hộ có nghiêm khắc bằng anh thích chơi đồ bản xứ hay không! Tôi tiếc rằng tôi chưa học đến khoa giải phẫu tâm lý con người.
Cả hai người cùng cười ồ. Xu nói:
- À nhân tiện. Hôm nay anh khám xác một người đàn bà An-nam. Anh có được nghe dư luận về cái án mạng này thế nào không?
Pi-ca gật đầu:
- Có. Trong phạm vi chuyên môn của tôi thôi. Chắc là nó không giúp ích gì cho tòa án.
- Là người đàn bà này có óc bài Pháp? Là hung thủ đánh giập lá lách, giập gan nạn nhân? Là cái thai trong bụng chết, nên người mẹ cũng chết?
- Không. Những dư luận ấy sẽ chờ khoa học trả lời. Tôi chỉ được biết rằng bệnh nhân vào nhà thương không được cứu chữa gì. Nó chết một mình còng queo dưới đất trong phòng lưu mà không một bác sĩ, y sĩ, y tá thường trực nào có mặt từ lúc nó đến.
Hắn đỏ mặt bừng bừng:
- Ô! Lương tâm nhà nghề của bọn công chức ăn lương tháng! Có bao giờ tìm thấy sự tận tâm trong các nhà thương của nhà nước?
- Nhưng cũng không may cho số phận những người đàn bà An-nam, là họ có nhiều bệnh tật sẵn ở trong người. Vì thân thể yếu đuối, cho nên về tinh thần, họ mới nhút nhát, như tôi vừa nói ban nãy.
- Cái đó, đúng một phần. Bởi vì nếu người đàn bà này được cứu chữa ngay, thì chắc chắn là anh và tôi, hôm nay chúng ta không phải vào cái nơi bẩn thỉu đầy tội ác này.
Đả nhà thương được một đòn, Pi-ca xoay nắm tay sang tòa án:
- Các anh là những người công chức, cho nên muốn che đậy lỗi cho những người công chức. Tôi xem hình như ngay từ câu đầu tiên anh nói chuyện với tôi, anh đã định đem ý nghĩ của anh truyền sang ý nghĩ của tôi, để tôi chỉ nhìn thấy tội của kẻ giết người, thân thể yếu ớt của kẻ bị giết, mà quên mất cái việc người ta vô lương tâm để giúp cho Thần chết chóng hoàn thành nhiệm vụ của nó. Anh nên biết rằng tôi là một người làm thuốc, một bác sĩ y khoa. Nếu câu tục ngữ Pháp có chế nhạo chúng tôi là những người dối vào bậc nhất, thì tôi cũng phải khiêm tốn mà nhường lại các anh. Tôi nhắc lại cho anh nhớ rằng khi được cử giúp các anh trong những vụ hình sự, thì bốn chúng tôi đã làm lễ tuyên thệ long trọng ở tòa án trước Thần công lý, có ông Chưởng lý chứng kiến, tuyên thệ là phải làm việc theo sự thật thà, theo danh dự và theo lương tâm nhà nghề. Chúng tôi đọc câu này không phải vì thuộc lòng một công thức mà nhắc lại như một con vẹt. Nhưng chính là để cảnh cáo các anh.
Thấy Xu không tỏ ý gì là phật lòng, Pi-ca bực mình như đã kéo quân tấn công đến một chỗ không có địch. Hắn toan nói thêm nữa, thì bỗng có tiếng gõ cửa. Một người y sĩ đến báo là tử thi đã được khênh lên phòng mổ.
Pi-ca đứng dậy, mà va-li lấy áo choàng và mũ, mặt vẫn hầm hầm. Hắn nói với Xu:
- Từ giờ này, tôi yêu cầu anh để yên cho tôi làm phận sự của tôi. Tôi chỉ là con dao, là khoa học, mổ xẻ cho pháp luật trông thấy rõ sự thật. Tôi không thêm ý kiến riêng của tôi vào biên bản đâu.
Xu thản nhiên:
- Thế là đủ quá rồi.
Hai người Pháp theo người y sĩ đến phòng mổ. Và Pi-ca làm việc.
Việc mổ rất khó khăn. Bởi vì cô Lễ chết nằm co quắp.
Pi-ca phanh bụng tử thi, rồi cắt xương tanh tách. Hắn nhìn vào gan. Hắn thấy có chỗ nứt toác và có máu mòng mọng ra cả ruột. Hắn lau ruột, không thấy vết gì. Hắn biết là chỉ có gan bị thương thôi. Hắn cắt gan riêng, để lên một đĩa cân. Bên đĩa cân, hắn đặt những quả bằng đồng, dần dần từ một cân tám, đến hai cân. Khi hắn đặt đủ hai cân rưỡi, thì chiếc kim ở cân chỉ ngược lên, đúng vào giữa.
Người y tá đứng nhìn, hỏi khẽ y sĩ:
- Có phải gan thường nặng đến hai cân là cùng không nhỉ?
Người y sĩ gật đầu:
- Gan này bị đau nặng. Chắc nạn nhân phải đánh nhiều lần và từ lâu rồi.
Rồi anh ta trỏ:
- Người đàn bà này có thai.
Họ cùng nhìn và nói:
- Thai độ mới hai tháng.
Pi-ca cũng nắn cái thai. Nhưng hắn thản nhiên khám đến lá lách. Lá lách cũng tím những máu, và có nhiều vết nứt. Hắn cân lá lách và đo những vết thương ở gan và lá lách. Hắn nhờ một y sĩ ghi những con số vào một tờ giấy.
Rồi Pi-ca lật ngực để khám phổi. Hắn bóc lần màng phổi, lấy dao rạch ngang dọc vào một chỗ. Trên phổi tím như quả mận chín, mũi dao đưa đến đâu, hơi phì ra kêu sộp sộp, và có mủ phèo ra đến đấy. Đến một chỗ sơ, con dao bị ngừng hẳn lại.
Người y sĩ nói nhỏ:
- Chắc là nạn nhân lo nghĩ, buồn phiền đã lâu, âu sầu, kém ăn ngủ, mới mắc cả bệnh lao nữa.
- Bệnh lao thì người mình mấy ai không mắc?
Pi-ca lúi húi làm việc. Thỉnh thoảng hắn lại ngước mắt lên để nhìn Xu. Hắn thấy cái người được cử đến chứng kiến việc mổ xẻ, chỉ đứng hút thuốc lá, và ngắm cô y tá, thì hắn toan cự. Nhưng hắn phải nén lòng, để giữ sĩ diện cho người Pháp trước mặt những người Việt Nam.
Xem xét xong phổi, Pi-ca cho là đủ bằng chứng cần thiết rồi. Hắn bảo các y sĩ khâu lại xác tử thi, để hắn đi làm biên bản.
Hắn cùng Xu vào một buồng. Hắn nghĩ một lát, rồi viết bản giáp.
Những câu mở đầu, theo mẫu thường lệ, hắn thảo được mau. Nhưng đến đoạn chính, thì hắn ngừng lại, bóp trán để nghĩ. Rồi hắn viết:
Tôi đã khám tim, phổi, lá lách. Ba bộ phận này đều không có dấu hiệu gì bất thường. Duy có lá gan thì có một chỗ hơi tím lại, do một vật gì rắn đụng mạnh vào. Như vậy tỏ ra rằng nạn nhân tuy có thai, nhưng không phải trong tình trạng ốm yếu sẵn. Cho nên, nếu vết thương ở gan chỉ là vết thương thường thôi, được chữa chạy ngay, cũng có thể lành được.
Cho như vậy là đủ diệt tội giết người cho nhà thương Phủ Doãn rồi, hắn kết thúc tờ biên bản:
Việc mổ xẻ tử thi đã làm trước mặt ông Xu-mê-đơ la Grăng-đi-e, dự thẩm, được Tòa án cử đến để chứng kiến.
Giáp xong, Pi-ca đọc cho Xu nghe. Xu không những không phản đối, mà còn gật gù khen:
- Đúng quá!
Pi-ca mượn bàn máy chữ của nhà thương. Tự hắn đánh lấy tờ biên bản. Hắn ký trước, rồi đưa cho Xu:
- Anh nhận thực đi.
Xu tủm tỉm:
- Hân hạnh cho nhà thương Phủ Doãn, chứ không hân hạnh cho Tòa án. Cảm ơn khoa học giúp cho Thần công lý được công minh!
Nói đoạn, hắn ký tên, và gấp tờ biên bản, bỏ vào túi. Pi-ca hỏi:
- Thế còn tiền công của tôi? Bao nhiêu và bao giờ thì được?
- Mười hai đồng. Bao giờ ngân phiếu làm xong, sẽ gửi đến cho anh.
Rồi Xu tiếp:
- Xin anh nhớ rằng khoa học đem sang thuộc địa là để đối phó với sự thật ở đấy. Cảm ơn anh đã giúp chúng tôi trong vụ án giết người này.
Như một kẻ bị lừa, Pi-ca tím mặt lại. Hai người đi với nhau ra cổng.
Không ai nói với ai nữa.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2021 23:10:20 bởi Thanh Vân>
XX
SỞ MẬT THÁM VỚI NHỮNG VIỆC PHẢI THÁM  
 
Sở ấy thám ở hiệu Phúc Lâm.
Thằng phó thanh tra Pha-lăng-xô đi chiếc xe ô-tô sơn xanh, cùng ba người mật thám Việt Nam, đến Hàng Đào, đỗ ở trước cửa nhà cụ Tú. Lúc ấy, cụ ông đương ngồi nói chuyện với cụ bà. Bỗng cụ nhìn ra ngoài, thấy có sự lạ, thì trỏ tay ra:
- Quái.
Thằng mật thám Tây lai đeo chiếc băng tam tài vào cánh tay trái rồi xuống xe, đi thẳng vào trong nhà.
Nó xồng xộc đến trước hai cụ, không chào ai, chỉ hỏi ai là chủ nhà, rồi nó trỏ vào cánh tay, nói câu thường lệ:
- Nhân danh nền Cộng hòa, tôi đến khám nhà ông.
Cụ Tú tái mét mặt. Trong khi ấy, hai con chó săn quen việc, tay cầm súng lục, một con sục vào trong bếp, một con sục lên gác. Còn một con đứng bên cạnh chủ.
Thằng Pha-lăng-xô nói:
- Ông phải tuân theo lệnh tôi. Gọi tất cả người trong nhà ra đứng ở đây! Không ai được chống cự! Chỉ một mình ông được đi theo tôi đến những chỗ tôi khám! Cấm không ai được nói với nhau. Nếu tôi hỏi gì, thì ông được trả lời, nhưng cũng chỉ nói ngắn.
Mợ Nghĩa ở trên gác xuống, u già ở trong bếp ra, đều đứng cạnh cụ bà. Cụ ông nói:
- Còn con trai tôi đi học chưa về.
- Học ở đâu?
- Thưa quan lớn, trường Bảo hộ.
- Nó tên gì?
- Thưa Phạm Hữu Nghĩa ạ.
Thằng mật thám hất hàm, sai thám tử:
- Ghi tên nó. Phạm Hữu Nghĩa. Trường Bảo hộ.
- Uẩy xừ [78].
Nó gọi ba con chó săn đến gần:
- Một đứa đứng giữ người. Hai đứa đi với tao.
Rồi nó ngoặc ngón tay, trỏ bảo cụ Tú:
- Ông theo tôi.
Trước hết, nó lục cái ngăn tủ hàng. Nó tháo tung từng tấm lụa. Lúc ấy, một thằng thám tử bưng cái ghế, đặt lên bục để đứng, sờ tay khắp nóc tủ. Còn một thằng cúi xuống gậm, bấm đèn pin, lia ánh sáng suốt dọc bục hai ba lượt.
Bỗng thằng Pha-lăng-xô thấy một quyển sổ viết bằng chữ nho. Nó hỏi cụ Tú:
- Sách gì đây?
- Thưa, là sổ biên hàng của vợ tôi.
- Vợ ông viết?
- Tôi viết.
Nó đưa cho con chó săn giữ cuốn sổ, rồi soát đến các hòm quần áo. Nó hỏi:
- Hòm nào của con gái ông?
- Con gái tôi không có hòm riêng ở đây. Nó để ở nhà chồng nó.
- Nhưng nó còn nhiều thứ để ở nhà này.
- Nếu thế thì ở cả trong các hòm.
Lũ đầu trâu mặt ngựa xúm vào các hòm. Chúng rũ từng cái áo, cái quần, lấy cả tờ giấy lót hòm để đọc, và soi ra ánh sáng.
Khám xong nhà ngoài, thằng Pha-lăng-xô vào nhà trong. Nó trỏ vào bàn học và tủ sách của cậu Nghĩa:
- Đây là của ai?
- Chỗ học của con trai tôi.
Hai con chó săn như thấy có mồi ngon, vội vàng đến cạnh chủ. Một con chưa chạy đến, vì nó đương nhấc các chậu cây ở sân, để nhìn xuống đế, và lấy dao bới tung đất ra. Cụ Tú liếc nhìn thấy vậy, thì quay mặt đi.
Thằng Pha-lăng-xô xếp riêng một chồng sách in và một chồng vở viết tay, rồi lại xếp riêng những vở này ra hai tập, một tập là vở chữ Pháp, một tập là vở chữ quốc ngữ.
Nó đưa cho tay sai giữ hai quyển sách in. Đó là quyển Le Mahatma Gandhi[79] và quyển Communiste ou fascisme? Français, il faut choisir[80].
Nó bảo hai thằng mở từng tờ trong trong những cuốn sách và cuốn vở bằng chữ Pháp, và tự nó xem từng trang những cuốn viết quốc ngữ. Đến một cuốn vở chép thơ, cả thơ tiếng Pháp lẫn thơ tiếng Việt, thì nó đọc kỹ hơn. Về thơ tiếng Pháp, có bài đề tên tác giả là Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset, André Chénier, nó nhìn mấy câu đầu, rồi mở qua. Nhưng đến mỗi bài thơ tiếng Việt, thì nó trỏ tên tác giả, và hỏi thằng thám tử. Luôn luôn, thằng này phải nói.
- Phan Bội Châu, pi-rát [81]. Yên Đổ, ăng-ti[82]. Tú Xương, ăng-ti. Phan Bội Châu, pi-rát. Vô danh thị, ăng-ti. Đông Kinh nghĩa thục, pi-rát. Phan Bội Châu, pi-rát. Đông Kinh nghĩa thục, pi-rát. Vô danh thị, ăng-ti.
Nói đến trang cuối cùng, con chó săn nhìn cụ Tú:
- Toàn văn chương phản quốc.
Cụ Tú giật nảy mình.
Thằng Pha-lăng-xô mở quyển vở lại một lần nữa. Nó hỏi cụ Tú:
- Sách này của ai?
- Tôi không biết.
Thằng thám tử nói xẵng:
- Sách trong tủ của con ông, mà không biết là của ai à?
Thằng mật thám Tây lai trỏ vào hai trang giấy, hỏi:
- Có hai thứ chữ khác nhau. Những ai viết?
Cụ Tú nhìn vào chữ, chưa đáp, thì mợ Nghĩa đã nói hộ:
- Bài nào chữ tốt, là chữ chồng tôi, bài nào chữ xấu, là chữ tôi.
Con chó săn quắc mắt:
- Không được nói. Quan lớn chưa hỏi.
Thằng Pha-lăng-xô cau mặt nhìn mợ, rồi bảo:
- Viết thử mấy chữ vào tờ giấy này.
Mợ Nghĩa làm theo nó. Nó so tự dạng, rồi ngẩng nhìn mợ, lắc đầu:
- Không giống.
Nó trỏ vào sách:
- Chữ ai?
Mợ Nghĩa đáp:
- Đúng là chữ tôi.
Thằng mật thám không hỏi nữa. Nó đưa quyển vở cho con chó săn, rồi bắt cụ Tú mở rộng các cửa buồng thờ. Mấy chiếc đèn pin soi sáng rực vào trong. Nó lấy ra tất cả những sách và giấy viết bằng chữ nho, trong đó có cả những tờ tử vi và quyển gia phả.
Nó trỏ vào chồng sách gồm độ mươi quyển của nhà Thương vụ xuất bản:
- Những quyển này ở đâu ra?
Cụ Tú không muốn nhắc đến tên thằng con rể khốn nạn, cụ đáp:
- Của tôi.
- Cố nhiên rồi. Nhưng mua ở đâu?
Cụ không đáp.
Con chó săn nói:
- Sách ở đâu, chứ Hà Nội làm gì có!
Nó bảo con chó săn giữ sách in, gia phả, và số tử vi, rồi lên gác. Nó khám hòm quần áo của mợ Nghĩa, không thấy gì đáng chú ý. Nhưng bỗng con chó săn cời ở trong gậm giường ra được một cuộn giấy đầy bụi. Nó mở xem, rồi trợn mắt, mách quan thầy:
- Tẩy chay, tẩy chay, me-xừ!
Đó là những tờ truyền đơn in thạch, những bài cổ động dùng nội hóa, từ hồi tẩy chay mà cậu Nghĩa chưa phát hết. Như làm được một kỳ công, con chó săn cuộn tập giấy lại, để vào chỗ tài liệu tịch thu.
Thằng Tây lai xuống nhà. Nó ngồi ở trường kỷ, hỏi cụ Tú:
- Ông bị nhà nước bắt một lần phải không?
- Vâng.
- Vào năm nào?
- Năm Hợi.
Con chó săn cau mặt:
- Khai năm Tây kia.
Cụ Tú cuống quýt, nghĩ rồi đáp:
- Tôi không nhớ năm Tây. Chỉ nhớ là năm Duy Tân Tân Hợi.
Con chó săn lại nói như hoạch:
- Chỉ nhớ vua Duy Tân thôi, ẻ?
Thằng Pha-lăng-xô hất hàm, hỏi:
- Cái gì?
Con chó săn đáp:
- Nông me-xừ [83]
Tên mật thám hỏi cụ:
- Bị bắt về tội gì?
- Tôi không rõ.
- Tại sao lại không rõ.
- Vì tôi bị giữ có ba hôm, rồi được tha ngay.
- Đông Kinh nghĩa thục, hẻ?
- Chắc là nhà nước nghi tôi thế, nhưng nhà nước minh xét, biết là tôi oan, cho nên tha ngay.
- Ông làm nghề gì?
- Tôi buôn bán.
- Vợ ông buôn bán đấy chứ?
- Vâng, tôi giúp vợ tôi.
- Thế thì phải nói là ông không làm nghề gì.
Cụ Tú im lặng. Nó lại hỏi:
- Ông hay đi lại những nhà ai?
- Tôi chỉ đến các nhà họ hàng.
- Ai hay đến chơi với ông?
- Cũng chỉ là họ hàng.
- Ngoài họ hàng?
- Không còn ai.
- Hàng ngày, ông vẫn đến Hàng Buồm, nhà cao lâu Tàu phải không?
- Vâng. Hiệu Đông Hưng viên.
- Con gái ông tên là Lễ phải không?
- Vâng.
- Nó hay đến nhà ai?
- Nó ít ra ngoài lắm.
- Nhưng nó hay đến nhà ai nhất?
- Cũng chỉ đến các nhà họ hàng thôi.
- Nó hay đến nhà người họ ở phố nào nhất?
- Phố Hàng Đường, nhà người em tôi.
- Những ai hay đến chơi với nó ở đấy?
- Không có ai cả.
- Con trai ông hay đến chơi nhà ai?
- Nó hay đến học nhà bạn nó ở phố Hàng Gai.
- Những ai hay đến chơi với nó?
- Những bạn học của nó.
- Chúng nó nói chuyện gì, ông có nghe thấy không?
- Thường là chuyện bài vở.
- Ngoài chuyện bài vở?
- Tôi không nghe thấy chuyện khác.
Thằng mật thám nhìn mợ Nghĩa:
- Tên gì?
- Tên tôi ạ?
Con chó săn mắng:
- Còn tên ai nữa!
Mợ đáp:
- Lê Thị Chung.
Thằng mật thám đưa bút và giấy cho mợ:
- Khai tên tuổi, nghề nghiệp, và chỗ ở của cha mẹ.
Rồi nó hỏi cụ bà:
- Tên gì?
- Thưa Nguyễn Thị Tý.
Nó ghi, rồi ngấc mắt hỏi cụ ông:
- Vợ ông họ gì?
- Thưa họ Nguyễn.
Nó cau mặt:
- Họ Lương chứ?
- Không, họ Nguyễn ạ.
Con chó săn cười lạt:
- Không có giấy khai sinh, thì dễ khai họ láo lắm đấy!
Thằng mật thám mở sổ, hỏi cụ ông:
- Vừa rồi, ông nói trừ họ hàng, người ngoài không ai đến chơi với ông. Vậy ai tên là Từ Xương?
- Thưa không có ai.
- Từ Xương hay Tư Xương?
- Thưa không có ai.
- Hay là Tú Xương?
- Vâng, Tú Xương.
- Tú Xương hay đến chơi với ông phải không? Sao ông nói là không có ai?
Cụ Tú đáp:
- Có một ông ở Nam Định, là ông Tú Xương nhưng ông ấy chết đã lâu rồi.
Thằng mật thám sực nhớ ra, trỏ vào chồng sách, hỏi con chó săn:
- A! A! Ăng-ti, hẻ?
- Uẩy xừ.
Nó hỏi đến cụ bà:
- Những ai không phải là họ hàng mà hay chơi ở nhà này?
- Chỉ có những người bạn hàng của tôi.
- Tên là gì?
- Nguyễn Hữu Tý, Tư Bân, Đám Sang.
- Còn nữa. Nhiều kia chứ?
- Còn nữa. Nhưng tôi không biết tên hết.
- Sao lại không biết tên hết?
- Tôi không biết tên, chỉ quen mặt.
- Quen mặt thì buôn bán thế nào, viết vào sổ hàng thế nào được?
- Được ạ. Ví dụ ông nón sơn, ông cao râu rậm, ông tiếng khàn.
Con chó săn nói:
- Hừ! Toàn những tên bí hiểm!
Thằng mật thám nhìn cụ ông:
- Được rồi. Chốc nữa, con trai ông đi học về, ông bảo nó hai giờ chiều ngày thứ năm, được nghỉ học, thì nó đến sở mật thám cho tôi hỏi. Vào buồng quan cẩm Pha-lăng-xô hẻ?
- Vâng, Pha-lăng-xô.
Nó trỏ vào mấy cuốn sách:
- Những tài liệu này, tôi tịch thu về sở, hẻ?
- Vâng.
Nó nhìn cụ ông bằng đôi mắt hằn học, rồi tiếp:
- Tiếc rằng nhà nước chưa tịch thu hết cái này của người An-nam.
Nó trỏ vào đầu nó, và nhắc lại:
- Cái này, hẻ?
Một lát, nó nói:
- Ông có muốn hỏi gì nữa không?
- Không ạ.
Nhưng mợ Nghĩa hỏi:
- Tôi hỏi được không ạ?
- Được.
- Thưa tôi không hiểu việc chị tôi bị chồng giết, với việc nhà tôi bị khám, hai việc có ăn nhập gì với nhau không ạ?
Thằng mật thám nhún vai:
- Không biết.
Cụ Tú lườm mợ, gắt khẽ:
- Thôi.
Thằng Pha-lăng-xô đứng dậy. Nó nhìn khắp nhà một lượt nữa, rồi đi vào trong bếp. Đoạn cùng ba con chó săn ra xe. Cũng như lúc nó vào, nó không chào ai. Thấy cụ Tú tiễn nó ra cửa, nó nói:
- Ông muốn giấu nhà nước về các con ông, nhưng nhà nước biết hết rồi. Nhà nước có những tai mắt đáng tin cậy.
 
Chú thích:
78)
79)
80)
81)
82)
83)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»