Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đóng Rác Cũ - Nguyễn Công Hoan

66 trả lời, 130 lượt xem — Trang 2 / 3
XXI
THẦN CÔNG LÝ VỚI NGƯỜI CHẾT OAN  
 
Sau hôm nhà cụ Tú Phúc Lâm bị khám hai ngày, tức là sau hôm phòng Dự thẩm lấy cung xong ba ngày, thì Trần Đức Thừa được tòa y lời trạng sư Rô-măng xin, ký giấy cho tạm tha. Hắn phải nằm trong nhà đá có năm ngày rưỡi.
Và ngót một tháng sau nữa, Tòa án trừng trị xử việc của hắn.
Bà con ở hai phố Hàng Đào và Hàng Bồ biết tin, kéo nhau đi xem rất đông. Họ bàn tán xôn xao.
Người nói:
- Tôi tưởng việc giết người phải xử ở tòa áo đỏ.
Người đáp:
- Có lẽ đây chỉ là việc ngộ sát, cho nên Tòa đại hình không xử. Nhưng nếu Tòa án trừng trị xét ra là cố sát, thì lại đưa lên Tòa đại hình.
Người lại hỏi:
- Nhưng Tòa án trừng trị có quyền xử chung thân chứ?
- Phải, nếu Tòa xét đúng lý lịch của nó, thì xử nhẹ ra là tù mười lăm đến hai mươi năm.
- Cho đáng đời quân đào mỏ, lừa đảo!
Hai người lính dẫn hung thủ đến ghế bị cáo.
Trần Đức Thừa không ăn mặc quần áo tù, mà ăn mặc quần áo thường. Bởi vì hắn chỉ lại vào nằm trong Hỏa lò có một đêm, trước ngày đăng đường thôi.
Thân nhân bên nguyên có vợ chồng cậu Nghĩa, và hơn một chục người trong họ. Hai cụ Tú ở nhà. Hôm nay, cụ ông dậy, uống nước xong, thì cụ lại nằm trên trường kỷ, vắt tay lên trán. Cụ bà mặt buồn rười rượi. Cụ thở ngắn, thở dài, hết ra nhà ngoài, lại vào nhà trong. Rồi cụ đến trước bàn thờ cô Lễ, thắp ba nén hương, lẩm nhẩm khấn.
Thân nhân bên bị cáo có mỗi một mình Ma-ri. Ma-ri mặc quần voan đen, áo voan đen, lận giày muyn đen và cắp ví đen. Nhưng mặt hắn đánh phấn rất trắng, hai má phớt hồng. Hắn đứng ở hiên với trạng sư Rô-măng nói cười rất tự nhiên. Vì vậy, không ai biết hắn là ai, nên không ai để ý nhìn hắn.
Một hồi chuông rung dài và vang.
Ma-ri vội vàng chạy thật mau, để len vào giữa những người đứng ở sát tường, vì hết ghế ngồi.
Cả phòng đứng dậy để chào các đại diện của Thần công lý.
Trong phút im lặng tôn nghiêm, Ma-ri rất hồi hộp. Hắn phải quay ra ngoài cho đỡ trống ngực. Nhưng mắt hắn vấp ngay cái cân khổng lồ, xây ở trước tòa. Hắn đành nhìn vào trong. Thấy các quan tòa, vị nào cũng mặc lễ phục thâm, vẻ mặt rất trịnh trọng, hắn khó chịu lắm. Vì vậy, muốn được yên tâm, hắn phải ngắm riêng quan chánh án thôi. Bởi vì vị này râu xồm, đeo kính trắng, lại mặc áo dài thâm, hắn tưởng tượng ông này như mấy đức cha đạo thân yêu mà hắn có thể nhờn được.
Tòa gọi bị cáo lên đứng trước vành móng ngựa.
Sau khi chánh án hỏi tên tuổi, nghề nghiệp của Thừa, thì viên lục sự đọc tờ cáo trạng.
Hai bồi thẩm hỏi bị cáo thêm một vài câu. Rồi các chứng tá khai xong, viên biện lý đứng lên buộc tội.
Trước hết, người thay mặt cho nền Cộng hòa phác qua cái lai lịch của Thừa. Ma-ri tròn đôi mắt ngạc nhiên vì được nghe những điều mới lạ. Biện lý kể đến tội Thừa đánh vợ. Rõ ràng là những lời đanh thép, giọng gay gắt của một người đầy nhân đạo, không tiếc lời chửi mắng một phần tử hung bạo của một dân tộc hung bạo, không biết kính trọng người thuộc về phái yếu, phái đẹp. Hắn viện những lý do mà Thừa chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống cổ hủ, nên quên mất tình nghĩa vợ chồng. Chính bị cáo cố ý giết vợ, chứ không phải ngộ sát. Hắn viện những điều luật, xin tòa xử hung thủ thật nặng.
Đến lượt trạng sư Rô-măng lên tiếng:
- Thưa các ngài. Tôi phải nói ngay rằng tôi rất hân hạnh được biện hộ cho khách hàng của tôi là ông Trần Đức Thừa, một người mà trong mấy năm nay tận tụy làm những việc rất có ích cho xã hội. Ông đã mở phòng thuốc, cứu sống cho biết bao bệnh nhân, rồi ông làm chủ bút báo, đem học vấn, tư tưởng, để thức tỉnh đồng bào của ông.
Ấy thế mà một người lương thiện, một bậc thượng lưu như ông, hôm nay bị đứng trước vành móng ngựa! Thật là một hiện tượng khá khôi hài. Vì sao? Thưa các ngài, người ta đổ cho ông đào mỏ! Người ta đổ cho ông đánh chết vợ!
Nói đến đây, trạng sư nhếch mép để tỏ ý nhạo, rồi tiếp:
- Thật là quá sức tưởng tượng, lời vu cáo này!
Bỗng trạng sư nghiêm nghị, cau mặt, nói:
- Nhưng, thưa các ngài, tôi là thầy cãi, lại là người Pháp, tôi có nhiệm vụ chứng minh cho ông Trần Đức Thừa là dù ông có những hành động liên quan đến cái chết của tên Phạm Thị Lễ, nhưng với những hành động ấy, ông đã có công với ai?
Phạm Thị Lễ là người thế nào? Hành tung của y ra sao? Để trả lời hai câu hỏi này, tôi được phép căn cứ vào tờ biên bản của Sở mật thám về y. Y là con một gia đình bị tình nghi về chính trị. Cha y là một người vô nghề nghiệp, sống bằng nguồn lợi nào, vì tôi không có bằng chứng, nên không muốn khẳng định. Ông già này, hồi bọn phiến loạn Đông Kinh nghĩa thục bị chúng ta trừng trị, đã bị Chính phủ bắt. Nhưng vì hồi ấy, chúng ta không muốn làm náo động nhân tâm, cho nên Chính phủ khoan hồng, cho ông ta được tự do, không bắt tù đày như những người đồng chí của ông ta. Nhưng ông ta không biết cải tà quy chính, mà vẫn hoạt động lén lút. Những quyển sách này…
Trạng sư giơ cao cho mọi người nhìn rõ cái chồng sách của nhà Thương vụ, bày sẵn ở trên bàn.
… Những quyển sách này là những sách ở đâu xuất bản? Có bán ở Hà Nội không? Người An-nam có quyền đọc không? Làm thế nào mà mua được? Thưa các ngài, bố của Thị Lễ đã bí mật giao thiệp với mấy người Hoa kiều. Ngày nào ông ta cũng giả vờ đi ăn ở hiệu, để nhờ những người ấy đem từ Thượng Hải về cho. Nhưng các ngài có thể tin được rằng một người có óc phiến loạn, lúc nào cũng nhớ tiếc vua Duy Tân, lại làm quen với những người Hoa kiều đi về nước họ luôn, thì người ấy có chỉ làm một việc đơn thuần là mua những sách triết học và chính trị không? Chúng ta đều biết rằng, Trung Quốc là nước vẫn chứa chấp một số người An-nam vô lại như Tăng Bạch Hổ, như Phan Bội Châu, như Nguyễn Thượng Hiền, vân vân. Thì chúng ta có thể ngây thơ mà tin rằng bố của Thị Lễ không có thư từ bí mật gì với những kẻ nay mai về nước An-nam, làm phiền cho quân lính của chúng ta hay không?
Mẹ của Thị Lễ cũng là một người rất đáng để ý. Hắn khai là họ Nguyễn để che mắt nhà chức trách là hắn không có họ với tên Lương Văn Can, một trong những yếu nhân của Đông Kinh nghĩa thục đương bị an trí ở Cao-mên, và không có họ với con trai của Can là tên giặc Lương Ngọc Quyến, một thủ phạm trong vụ phiến loạn mấy năm trước ở Thái Nguyên mà chúng ta đã phải tốn nhiều xương máu mới dẹp nổi. Trong một cuốn sổ mà người đàn bà này nhận là sổ hàng, lại biên tên rất nhiều người bằng bí danh, nếu không phải là hội kín?
Em trai của Thị Lễ, tuy còn là một học sinh, nhưng đã bị đầu độc bằng những văn chương bài Pháp. Trong một cuốn vở, hắn đã chép những bài thơ cách mạng của Phan Bội Châu, của Đông Kinh nghĩa thục, của Vô danh thị, nhưng lại ngụy trang giữa những bài thơ trứ danh của các thi hào Pháp. Người thanh niên này đã tập dượt hành động bài Pháp bằng hành động tẩy chay hàng Tàu. Hắn đã viết truyền đơn, in truyền đơn, phát truyền đơn, và cùng bạn bè làm huyên náo thành phố một dạo, bằng những cuộc tụ họp đông người ở giữa đường, để diễn thuyết cổ động dùng hàng An-nam. Thưa các ngài, cổ động dùng hàng An-nam chỉ có nghĩa là không dùng hàng Tàu thôi hay không? Câu này, tôi để phần những ông chủ hãng Gô-đa, chủ hãng Đơ-ni, v.v… trả lời hộ. Cái óc chống thượng cấp của tên học sinh mới nứt mắt này, vừa mới rồi được biểu hiện trong trường Bảo hộ, là trường hắn đương học. Thưa các ngài, hắn là một trong bọn học sinh bãi khóa, và đã bị nhà trường quyết định kỷ luật khá nặng, là đuổi có thời hạn. Con vợ của hắn cũng chịu ảnh hưởng của hắn. Người thiếu phụ này đã dám mạnh dạn nhận chữ của người khác, có lẽ chữ của Thị Lễ, là chữ của mình, trong cuốn vở chép những văn chương đầu độc của chồng. Và hôm các nhà chức trách của Sở mật thám đến khám nhà hắn, hắn còn khiêu khích bằng một câu hỏi có ý nhạo báng cả pháp luật.
Nhưng, thưa các ngài, tôi chỉ nói qua về bố mẹ, và các em của Thị Lễ, hẳn các ngài cũng thừa đoán được Thị Lễ, sinh trưởng trong gia đình này thì tư tưởng bẩn thỉu ra sao?
Thưa các ngài, trong vụ tẩy chay vừa rồi, các ngài có thấy một người con gái nào dám mạnh dạn đi làm việc ấy không? Và nếu các ngài có thấy, thì các ngài nghĩ về người con gái ấy thế nào? Hẳn các ngài phải nói rằng: Ghê gớm lắm! Sau này có thể như vợ Ba Đề Thám! Thưa các ngài, thế mà Thị Lễ là một tay kiện tướng tẩy chay đấy. Chính y đã cùng em trai y viết và in truyền đơn cùng với những bạn trai khác của y.
Bây giờ tôi xin nói về cuộc tình duyên của Thị Lễ với ông Trần Đức Thừa.
Thị Lễ đến năm hai mươi sáu tuổi, mới lấy chồng. Hiện tượng này, đối với người An-nam có tục tảo hôn, khá gọi là hiếm có. Vì sao mà một cô con gái Hàng Đào lại có thể muộn chồng như thế được? Về việc này thị Lễ có nói với ông Trần Đức Thừa là y chỉ muốn kén một người chồng là đồng chí về chính trị. Ngày còn ít tuổi, y đã đính hôn với một thanh niên, nhưng vì người này có chân trong Đông Kinh nghĩa thục, nên bị bắt và bị giết. Vì vậy, Thị Lễ thương nhớ, không muốn lấy ai nữa. Ngày nay, sở dĩ y kết hôn với ông Trần Đức Thừa, vì y tưởng lầm rằng ông Trần Đức Thừa cũng là dòng dõi cách mạng.
Song, không may cho Thị Lễ, ông Trần Đức Thừa không phải là dòng dõi cách mạng, trái lại, ông là người rất trung thành với nhà nước Bảo hộ. Chính vì thế, mà gia đình ông mới xảy ra tấn bi kịch như chúng ta đã thấy.
Từ ngày Thị Lễ ăn ở với ông Trần Đức Thừa, thì y không vì lẽ có chồng mà chịu sự giáo dục của chồng. Xuất giá mà không tòng phu, là phạm một tội lớn đối với nền luân lý tốt đẹp của nước An-nam, là đạo tam tòng. Thị Lễ vẫn giao thiệp với những bạn cũ của y, là những người có óc bài Pháp. Vì vậy, ông Trần Đức Thừa đã lấy lời lẽ ôn tồn mà khuyên can y. Song, y không những không nghe, còn mạt sát là ông hèn nhát, là phản động.
Tôi rất khen ông Trần Đức Thừa là người kiên tâm có một. Thấy Thị Lễ không đoạn tuyệt với những người bị tình nghi, ông vẫn ôn tồn khuyên can, và vẫn chịu Thị Lễ mạt sát là hèn nhát, là phản động. Nhiều lần, y còn dùng danh từ nặng hơn để nói ông, là bán nước nữa.
Nhưng sức chịu đựng của con người ta có hạn thôi. Vì dạy dỗ bằng lời không nổi, ông Trần Đức Thừa phải thay đổi thái độ và phương pháp hành động, ông bắt đầu nghiêm cấm y, và theo dõi sự giao thiệp của y. Thế là trong gia đình bắt đầu xảy ra sự xích mích. Thì một vài lần, sau những lúc vợ chồng to tiếng, Thị Lễ muốn khuyến khích chồng nên có óc phản đối như mình, đã ngọt ngào trò chuyện và để lộ ra rằng thuở bé, y vẫn là người giúp việc đưa thư liên lạc cho bọn yếu nhân của Đông Kinh nghĩa thục, y được Phan Chu Trinh xoa đầu, khen là yêu nước, vân vân. Thế mà y không bị tình nghi, y nhạo sở Mật thám là mù mắt! Y nói với ông Trần Đức Thừa rằng người An-nam mà chịu làm trâu ngựa thì thật là nhục nhã.
Thưa các ngài, Thị Lễ quan niệm việc người An-nam được chúng ta đem đuốc văn minh đến soi đường cho đi, là làm trâu ngựa! Thật là ngu xuẩn! Thật là bội bạc! Thật là đáng tội!
Để nhấn mạnh mỗi tiếng “Thật là”, trạng sư chau mày, nắm tay, đập xuống mặt bàn một cái.
- Nói đến đây, tôi rất lấy làm phàn nàn cho ông khách hàng của tôi có người vợ hư đến mức ấy. Vì ông là người biết ơn nước Bảo hộ - tôi xin thêm rằng cha của ông đã theo tiếng gọi của Mẫu quốc, mà tòng chinh sang Pháp hồi Âu chiến - vì ông là người biết rằng, không có người Pháp dìu dắt, thì một nghìn năm nữa, người An-nam vẫn ngu dốt, tối tăm. Cho nên ông cực lực phản đối vợ ông. Sụ xung đột giữa hai tư tưởng đưa đến sự xung đột giữa hai thân thể. Thật là đáng tiếc và cũng đáng trách ông Trần Đức Thừa! Vì quá yêu nước Pháp, ông sinh lòng ghét vợ. Một đôi khi, ông dùng bạo lực để trị vợ. Chính vì vậy mà gia đình ông xảy ra tấn bi kịch, và hôm nay, ông đứng ở trước mặt các vị đại diện Thần công lý. Vậy thì vụ án này không phải vụ án thường, mà chính là vụ án chính trị.
Nhưng, thưa các ngài, Thần công lý bao giờ cũng sáng suốt. Thần công lý có nhiều tai mắt ở khắp nơi. Không ai che giấu được Thần công lý một mảy may.
Người ta đổ cho ông Trần Đức Thừa là đào mỏ, nên đánh chết vợ. Nếu ông Trần Đức Thừa phạm tội ấy thật, thì dù tôi là trạng sư biện hộ ông, tôi quyết không ngập ngừng mà không xin tòa kết ông vào tội tử hình.
Nhưng, thưa các ngài, bảo rằng ông Trần Đức Thừa đào mỏ, thì ông đã đào mỏ nào của Thị Lễ? Thị Lễ được cha chia cho hai cái nhà gạch, một cái đã sang tên cho y. Nhưng dù nhà đã sang tên, mà đến ngày Thị Lễ chết, ông Trần Đức Thừa vẫn không hề đến ở nhà của Thị Lễ. Ông vẫn chịu thuê một căn gác nhỏ hẹp, trong đó, đồ đạc chỉ có để đủ dùng. Vậy nếu bảo ông Trần Đức Thừa đào mỏ, thì tại sao ông đã sống thanh bạch như vậy? Thế thì sự thật là thế nào? Thưa các ngài, sự thật là Thị Lễ cậy của, muốn dùng cái nhà này mua chuộc chồng, để chồng ngơ cho mình vẫn được giao thiệp với những kẻ có đầu óc phiến loạn. Ôi! Thủ đoạn nhục nhã!
Nói đến đây, trạng sư đắc chí, mỉm cười, rút mù-soa, lau mồ hôi, rồi tiếp:
- Thế thì tại sao Thị Lễ chết? Hẳn các ngài muốn bẻ lại tôi thế. Vâng, tôi xin nhờ bác sĩ Pi-ca trả lời hộ tôi. Bác sĩ là một ông thầy thuốc lành nghề, đã được tòa án cử đến khám nghiệm tử thi Thị Lễ, có ông dự thẩm Xu-mê đơ la Grăng-đi-e chứng kiến. Tôi xin phép các ngài đọc lại một đoạn trong biên bản của bác sĩ như sau:
Trạng sư đọc:
“Tôi đã khám tim, phổi, lá lách. Ba bộ phận này đều không có dấu hiệu gì là bất thường. Duy có lá gan thì có chỗ hơi tím lại, do một vật gì đụng mạnh vào. Như vậy, tỏ ra rằng nạn nhân tuy có thai, nhưng không phải trong tình trạng ốm yếu”.
Trạng sư giơ một ngón tay:
- Xin các ngài chú ý câu sau cùng mà tôi sắp đọc đây. Trạng sư đọc thật thong thả, dằn từng tiếng:
“Cho nên, nếu vết thương ở gan, nó chỉ là vết thương thường thôi, được chạy chữa ngay, cũng có thể lành được”.
Trạng sư yên lặng, nhìn quan tòa, nhìn viên biện lý, và nhìn thính giả, rồi hùng hồn:
- Vậy thì tại sao Thị Lễ chết? Làm cho Thị Lễ chết là một vết thương thường do ông Trần Đức Thừa vô tình đánh mà tạo nên, hay là do không được chữa chạy ngay? Câu này tôi xin dành cho nhà thương Bảo hộ trả lời giúp tôi!
Trạng sư mỉm cười, để tỏ rằng mình muốn chế nhạo, rồi tiếp:
- Vậy thì thưa các ngài, bảo ông Trần Đức Thừa là đào mỏ, bảo ông Trần Đức Thừa là đánh chết vợ, người ta đã muốn lừa bịp Thần công lý! Cho nên, trong hai người, Trần Đức Thừa và Phạm Thị Lễ, ai là kẻ có công đáng thưởng, ai là kẻ có tội đáng phạt? Điều này thì sự thật đã trả lời thay cho chúng ta rồi. Thị Lễ đã đền tội ác của y. Tôi lấy tư cách là một người yêu nước mà cảm ơn Thượng đế đã vì sự cao cả, sự vĩ đại của Tổ quốc tối văn minh, tối nhân đạo và tối danh dự, là nước Pháp của chúng ta!
Trạng sư ngửa mặt lên trời nói câu ấy, rồi nhìn các quan tòa:
- Bây giờ tôi xin được phép kết luận bản biện hộ của tôi bằng vài câu nhỏ:
Trong vụ án này, ai là người có công, ai là người có tội, sự thật đã hiển nhiên như ban ngày. Nay Thị Lễ đã chết - mà xin các ngài chú ý đến cái tên trong cáo phó là Diệu Thuần, chẳng qua là một bí danh, một khẩu hiệu cuối cùng y gửi cho các đồng chí của y - nay Thị Lễ đã chết, không lẽ tôi còn xin tòa quật mả, bật săng y lên mà quàng vào đầu y một cái án tù. Cũng không lẽ ông Trần Đức Thừa ngồi ở ghế bị cáo, mà tôi lại xin tòa thưởng cho ông ấy bội tinh bằng vàng. Vì biết ông Trần Đức Thừa không liên quan đến cái chết của con người bỉ ổi, lừa đảo chồng, bội bạc với nước Pháp, kẻ thù của chúng ta - ông đã chịu một sự thiệt thòi lớn, là mất đứa con là cái thai nằm trong bụng Thị Lễ, thế là Thượng đế đã trừng phạt về cái tội ông đánh người đàn bà rồi - nên tôi xin Tòa tạm tha cho ông ngay. Và hôm nay, được hân hạnh bênh vực ông, tôi xin Tòa tha bổng cho ông, để tuyên dương một người trung thành với nhà nước Bảo hộ, mà bao giờ chúng ta cũng cần có.
Trạng sư ngồi xuống, lấy mù-soa chấm mồ hôi khắp mặt. Hắn nhìn mọi người, như hãnh diện về những lời hùng hồn của hắn.
Tòa tạm nghỉ mười phút, để các vị đại diện Thần công lý vào buồng riêng luận tội.
Bây giờ tiếng bàn tán nổi lên ầm ầm.
Ma-ri hớn hở chạy đến bắt tay Rô-măng:
- Hay quá! Hùng biện quá! Ông nói trơn như thuộc lòng cái bản đã cãi cho nhiều vụ án tương tự!
Rô-măng nhún vai:
- Nghề của tôi. Vụ án này sẽ làm tôi nổi tiếng, thu hút cho tôi được nhiều khách hàng loại chồng bà.
Hai người cùng cười.
Ma-ri băn khoăn:
- Nhưng tôi nhìn ông chánh án, nhiều lúc như ông ấy nghĩ đi đâu, chứ không phải nghe ông. Ông ấy lấy dao vặn lại cái đinh ốc ở gọng kính, ông ấy thì thầm với hai ông bồi thẩm, rồi cười với nhau.
Rô-măng an ủi, nói khẽ:
- Bà cứ yên trí. Đâu đấy đã xếp đặt xong rồi.
Bỗng Ma-ri thấy mọi người nhìn mình bằng con mắt hằn học, hắn phải lảng đi một mình. Hắn nhìn ra sân, ngắm cái cán cân công lý trước của tòa án. Bây giờ hắn lại thấy nó giống cái câu rút.
Một hồi chuông lại rung lên. Mọi người chạy vội vào phòng. Im lặng.
Họ đứng dậy để chào các quan tòa. Viên chánh án sửa lại kính để sắp nói. Hồi hộp.
Sau những tràng câu có chữ Chiểu chi, viên quan tòa tuyên án:
- … Vậy Tòa quyết nghị phạt Trần Đức Thừa…
Hắn ngừng lại, cúi xuống hỏi khẽ viên bồi thẩm. Tên này gật đầu, hắn nói tiếp:
- … phạt Trần Đức Thừa ba đồng vi cảnh về tội đánh người, và bảy đồng bồi thường án phí.
Tiếng ồn ào nổi dậy.
Mõ tòa hét im, rồi vội vàng chạy lên bàn chánh án vớ cái chuông, lắc thật mạnh. Nhưng không thể nào ngăn được những lời bàn tán, ầm như cái chợ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XXII
ĐỂ KẾT THÚC  
 
Để kết thúc cho phần thứ hai của tiểu thuyết này, kẻ chép truyện xin các bạn độc giả thêm dăm phút nữa, để đọc nốt vài dòng dưới đây.
Chúng ta đã biết rằng nhân dân rất phẫn nộ về cái kết quả của vụ xử án giết người này. Cho nên ai nấy cũng đón chờ những tờ báo hàng ngày xuất bản sáng hôm sau, để đọc cho nhau bài tường thuật phiên tòa, và để được nghe tiếng nói của quyền ngôn luận đối với việc bôi nhọ để vùi dập xác người chết oan ra sao.
Nhưng quyền ngôn luận đã bị quyền hành chính ngăn cản.
Một tờ in một bài dài gần một cột, bị Kiểm duyệt xóa nhẵn nhụi. Chỉ còn để lại mấy chữ nhan đề là Tôi cũng sẽ giết người. Cả cột báo trắng tinh.
Một tờ viết bài Một mạng người, ba đồng bạc, chỉ được đăng có mấy dòng đầu và mấy dòng cuối. Mấy dòng đầu là Hôm qua, tòa án Trừng trị Hà Nội đã đem vụ Trần Đức Thừa giết vợ ra ánh sáng. Mấy dòng cuối là: Thần công lý thật là thiêng liêng vậy thay! Người chín suối có khôn chăng tá?
Một tờ in bài Ôi công lý, toàn vẹn từ đầu đến cuối. Độc giả rất lấy làm hả. Nhưng hôm sau, báo ấy bị rút nghị định cho phép xuất bản. Người chủ nhiệm, người chủ bút, người quản lý, cùng người chủ nhà in in báo ấy, đều bị truy tố vì liên đới chịu trách nhiệm đã can tội bất tuân thượng lệnh, bài báo bị kiểm duyệt xóa hết, nhưng cứ đăng.
Về gia đình Phúc Lâm thì như thế này:
Cậu Nghĩa bị tên hiệu trưởng Lôm-béc-giê hung ác của nhà trường gọi lên bàn giấy. Máu điên nó nổi lên, nó quật ba-toong to bằng cổ tay của nó vào mặt cậu, rồi nó gầm thét như con thú dữ bị đạn. Nó không tìm được lý do để đuổi cậu khỏi nhà trường, thì nó trừng trị cậu bằng cách kín đáo, là bắt cậu làm đơn xin thôi học.
Cụ Tú ông thì uất ức hết về việc con gái, đến việc con trai. Cụ phải chịu nộp án phí, cũng ngang như bên bị, là bảy đồng, trong đó, có tiền thuê bác sĩ mổ xác con gái cụ. Cụ càng uất ức.
Cụ bỏ cơm ba bữa liền.
Rồi một buổi sáng, cụ thấy nôn nao trong người. Cụ vừa ghé mặt vào chiếc ống nhổ đồng đặt ở đầu bàn trường kỷ, thì cụ đã hộc ra đến một bát chiết yêu máu.
Cụ nhất định không uống thuốc. Hôm thấy trong mình khác, cụ gọi cậu Nghĩa đến bên cạnh. Cụ ứa nước mắt, nghiến răng lại, rồi có nói một câu dài:
- Nước mất thì quyền sống chết của mình là ở trong tay người ta. Đến như thầy hơn chục năm nay, đành sống nhát, sống hèn, mà cũng không yên, thì biết làm thế nào cho yên. Con còn ít tuổi, đời con còn dài. Thầy thương con lắm.
Đêm hôm ấy, cụ nấc lên một tiếng rồi tắt thở.
Trong khi những cảnh thương tâm liên tiếp xảy ra ở gia đình Phúc Lâm, phố Hàng Đào, thì ở phố Hàng Bồ, Trần Đức Thừa sống đề huề với Ma-ri và hai đứa con.
Thằng Pôn đã được đem ra Hà Nội. Nó gầy và đen. Nhưng trí nhớ nó rất tốt. Tuy óc còn non nhưng nó đã thuộc rất nhiều tiếng tục và câu chửi. Nó biết chửi trước, rồi mới biết nói những tiếng khác sau.
Thừa và Ma-ri thường nhắc lại vụ án. Thừa khen Thần công lý là tốt. Ma-ri không ngớt khoe tôn giáo là có thế lực và hay cứu người.
Ma-ri đưa Thừa đến tạ lão cha Hảo. Trong nửa giờ đồng hồ tiếp Thừa, nhà tu hành không nhìn Ma-ri một lần nào. Mỗi câu nói, lão đều dẫn chữ kinh thánh. Lão khuyên Thừa nên biết ơn sở Mật thám, nhất là phải đến chào quan phó thanh tra Pha-lăng-xô, người đã tạo được tờ biên bản khám nhà rất tài tình.
Thừa cũng rủ Ma-ri đến cảm ơn bác sĩ Pi-ca và trạng sư Rô-măng. Hắn hứa với hai người Pháp kiếm ăn bằng khách hàng Việt Nam, là nếu sau này có thể, hắn sẽ mời Pi-ca làm thầy thuốc của gia đình, và mời Rô-măng làm thầy cãi riêng cho hắn.
Một bữa tiệc khá linh đình được tổ chức tại trên gác nhà cao lâu Nhật Tân phố Hàng Buồm để các bạn bè cũ của Thừa và của Ma-ri mừng và chúc anh chị tái hợp bền vững. Tiếng cười không ngớt. Ai nấy sung sướng thay cho người lương thiện rửa sạch được tiếng oan.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Tập III
 
I
BÀ HÀN VÀ ÔNG HÀN  
Bà Hàn ẩy cái gối bông gạo ra khỏi đầu, để áp hẳn má của bà xuống mặt tấm gụ cho mát. Mãi bà không ngủ được. Đành phải chịu với trời thôi. Từ đầu mùa hè, chưa có trưa nào oi bức như thế này. Sập thì nhẵn thin thín. Buồng thì hướng nam. Các cửa chớp thì đóng hết cho khỏi chói mắt. Nền gạch thì nước chậu này chậu khác, rẩy xuống để hút hơi nóng đi. Thế mà bà Hàn hết nằm ngửa, đến nằm nghiêng, rồi đến nằm sấp, bà vẫn chẳng chợp mắt được. Bà nằm sấp như vậy, thấy dễ chịu nhất. Hai cánh tay bà giang ra. Một cẳng chân bà duỗi thẳng, một cẳng chân bà co gấp lại. Như vậy, toàn thân bà mới hưởng được cả cái gió của chiếc quạt luôn luôn phe phẩy cho bà.
Bà nhắm mắt, nhưng vẫn thức. Thỉnh thoảng khó chịu quá, thì bà rên lên, cả hai cánh tay lẫn hai cẳng chân giãy đành đạch. Lúc bấy giờ thì ba người đầy tớ gái hầu bà phải cật lực mà làm việc. Mai đứng hẳn dậy, quạt vào gáy, quạt vào nách, quạt vào bẹn cho bà. Lan mơn mơn năm đầu ngón tay cho khắp lưng bà để bà thấy buồn hơn. Còn Huệ thì rống to lên:
 
- Sợ i a gió i a lạnh, nàng phải i a nhờ tắt quạt i a máy i a đi, và i a ngồi i a nép i a vào góc i a tường. Nhạc i a tăng i a gô i a bắt i a đầu i a nổi i a lên i a du i a dương.
 
Bỗng bà Hàn ngóc cổ lên, hấp háy đôi mắt:
- Cha tiên nhân cái con đẻ ra bố nó! Bà thì nực, nó thì sợ lạnh, phải tắt quạt!
Ba người hầu gái không đáp, vẫn quạt, gãi buồn, và đọc truyện.
Theo thường lệ, mỗi buổi trưa, khi ông bà Hàn và các cô các cậu vào buồng ngủ, thì bọn hầu gái bận nhất.
Bà gọi họ là đội con gái. Bà đặt tên cho việc lúc ấy của họ là hầu ngủ.
Thường thì riêng hầu bà ngủ phải ba người. Mỗi người chuyên môn một việc. Bà đã luyện họ công phu lắm mới thành thạo, và họ đã quen tính bà. Cho nên họ không thể thay đổi cho nhau.
Mai quạt. Quạt thì không những chỉ dùng tay phẩy đi phẩy lại cái quạt cho ra gió, mà phải dùng cả trí óc để theo dõi bà. Lúc nào bà nực thì quạt mạnh, lúc nào bà mát thì quạt khẽ đã đành, nhưng còn phải biết chỗ nào trong người bà lúc ấy nực nhất, thì lùa quạt vào mà rung. Và lúc bà chưa ngủ thì quạt thế này, nhưng lúc bà thiu thiu, lại phải quạt thế khác. Rồi lúc bà ngáy, còn phải biết nghe là bà đã ngủ say hay mới chập chờn, để liệu mà hất mạnh hay chỉ đưa khẽ cho có tí gió thoảng vào lưng, vào mặt. Bà mà chưa ngủ hẳn, lỡ quá tay phẩy mạnh, làm bà giật mình sực thức, thì bà chửi, có khi bà cáu, phát đen đét vào lưng hàng hồi.
Người gãi làm việc khó hơn. Không những Lan phải dùng tay, phải dùng trí óc, mà phải dùng cả nghệ thuật nữa. Bà muốn rằng mỗi khi đi nằm, trên da thịt phải có cái gì bò bò, làm cho bà buồn buồn. Nhưng chớ có làm bà thít lên mà chết đòn. Cho nên, nếu bà nằm ngửa, thì một tay phải khẽ mơn mơn hai gan bàn chân, và một tay, năm đầu ngón phải lướt thật nhẹ chỗ quanh rốn. Bà nằm nghiêng thì vờn hơi hơi ở cạnh sườn. Bà nằm sấp thì phải cẩn thận hơn. Cố nhiên là phải gợi cho lưng bà buồn, nhưng chớ có lỡ tay mà đưa quá vào cạnh nách, hoặc xuống chỗ lườn dưới xương sườn, là những chỗ bà có lắm lông buồn nhất. Rồi lúc nào, chỗ nào phải gãi bằng cả năm ngón, lúc nào, chỗ nào chỉ gãi bằng bốn, bằng ba, bằng hai ngón, Lan đều phải tự đoán lấy và làm cho đúng.
Còn việc này khó hơn nữa, Lan đã phải tập dượt hàng tuần và ăn đòn nhiều lắm, là lúc nào, chỗ nào vừa dùng ba ngón xong thì dùng luôn cả năm ngón, rồi lại chỉ dùng có hai ngón thôi. Chà chà là khó! Và hôm nào bà vui, hôm nào bà bực mình, người hầu gãi phải biết lựa cho đủ mức buồn. Bởi vì cũng một chỗ, hôm nay gãi thế, bà chưa thấy mùi vần gì, nhưng hôm khác, cũng gãi thế, bà lại cho là mạnh quá, làm bà rát.
Việc đọc truyện của Huệ thì bề ngoài tưởng là nhàn hạ, nhưng thật ra, không kém vất vả. Cứ một nỗi vừa hầu đủ trăm cấp bà giằn, vừa phải học cho nhớ mặt chữ, đã tử công phu rồi. Mà ai dạy học? Chính bà Hàn chứ ai. Nhiều người thấy bà chịu khó như vậy, thì khen là bà tốt, thương yêu đầy tớ, muốn cho họ biết chữ. Nhưng cũng chính vì bà muốn bắt đầy tớ phải mau mau biết đọc, mà mỗi khi khảo chữ, giáo quạt của bà lại đập hàng thôi hàng hồi lên đầu Huệ. Rồi Huệ bị mắng, bị nhiếc, là tối dạ, là ngu như con chó, con lợn. Và cả ông bà ông vãi, ông tứ đại ngũ đại của Huệ cũng phải đào bới xới trộn lên mà nghe chửi thay. Cũng do cái phương pháp sư phạm võ trang ấy màu nhiệm, cho nên chỉ trong có ba tháng, người con gái đã đánh được vần. Bây giờ Huệ biết chữ, thì dùng làm cái máy đọc truyện cho bà nghe.
Sở dĩ công việc của Huệ gọi là vất vả, vì Huệ đọc mà chẳng hiểu gì. Không hiểu mà mắt cứ phải nhìn xem là chữ gì để miệng nói ra tiếng ấy cho đúng, thì mệt lắm, dễ buồn ngủ lắm. Cho nên, nhiều lúc chữ nọ thỉnh ra chữ kia, Huệ làm bà nghe không hiểu, phải hỏi lại, thì đầu lại bị cốc. Nhưng lỗi mình mà mình chịu đòn thì đã đành, nhiều khi lại lỗi ở người khác kia, Huệ cũng phải gánh mới ức chứ. Ví dụ câu có lắm chữ nho khó quá, câu đặt dài quá, bí hiểm quá, tối nghĩa quá, hoặc truyện không hay, đáng lẽ bà Hàn phải nhè tác giả là thủ phạm ra mà chửi, thì bà lại hành tội Huệ!
Đội con gái của bà Hàn còn hai người nữa, là Sen và Đào, chỉ hầu các cô các cậu còn bé, nhưng công việc lại khó cách khác. Hai người này phải luôn luôn bày trò cho các cô các cậu chơi, và phải nhẫn nại mà chịu các cô các cậu bắt nạt. Bởi vì, luôn luôn, chẳng cần duyên cớ gì, các cô các cậu buồn mồm, buồn tay, thì chửi và đánh chơi, thi nhau mà chửi, mà đánh. Chửi đánh người cũng là một trò làm cho các cô các cậu giải trí.
Bà Hàn tuyển lựa vào đội con gái của bà rất kỹ càng, nên chỉ được có năm người. Tiêu chuẩn chính mà bà đề ra, là họ phải xinh. Trắng thì càng tốt. Nhưng nếu đen, cũng phải đen giòn, tức là có duyên thầm, tuổi thì từ mười ba đến mười sáu thôi. Bà không tin những cô trên mười bảy tuổi. Bà bảo tuổi này là tuổi bắt đầu ngứa nghề, biết theo trai rồi. Bà không hoài cơm vỗ béo nhân tình cho người khác.
Bà nuôi đầy tớ trẻ và xinh, vì bà cần người trẻ và xinh hầu hạ bà, những khi có khách đến nhà. Bà dạy năm người con gái ấy pha chè, têm trầu, bưng cơm, chia bài v.v… Và nếu không có gì phải làm thì năm cô phải đứng quanh bà, bề ngoài như để sẵn sàng xem bà có sai bảo gì chăng, nhưng bề trong là để cho khách ngắm và thèm thuồng họ, thì tất khách phải chiều bà trước.
Nhưng vì nuôi bọn con gái choai choai đến thì, bà tin câu nữ thập tam, nam thập lục, nên bà cũng lo. Luôn luôn bà đề phòng. Nhất là đề phòng chồng bà. Một mặt bà dò ý chồng từng li từng tí, một mặt bà luôn luôn giảng luân lý cho các cô gái tơ. Bà bảo làm thân con gái phải biết quý nhất chữ trinh. Lẳng lơ thì khổ một đời.
Bà cấm ngặt không cho bọn con gái được nhìn mặt chồng bà, mỗi khi phải nói gì với ông. Bà mà thấy ông nhoẻn miệng cười với đứa nào, thì chẳng cần hỏi đầu đuôi, đứa ấy phải chết với bà. Bà dỗ họ là đứa nào hẳn hoi, bà sẽ nhận là con nuôi, sau này bà gây dựng cho, thế nào cũng lấy được tấm chồng xứng đáng.
Bà lấy tên các thứ hoa để gọi họ cho đẹp: Sen, Lan, Mai, Huệ, Đào. Bà sắm cho mỗi cô chiếc khăn nhung đen, chiếc quần lĩnh tía, chiếc áo cộc trúc bâu trắng, và đôi hoa tai vàng Mỹ Ký. Bà dạy cách chải tóc, vấn khăn thế nào cho nên.
Vì vậy, đội con gái của bà Hàn như đàn chim ra ràng, trông đến vui mắt.
Lúc này, bà Hàn đương thiu thiu, bỗng có tiếng kêu rầm ở buồng bên cạnh.
Sen the thé:
- Bà ơi! Bà ơi! Cậu cả!
Bà giật nảy mình, vội ngồi nhổm dậy, vừa vấn vội tóc, vừa hỏi:
- Gì thế? Đứa nào kêu thế?
Lan thưa:
- Thưa bà, cái Sen đấy ạ.
Sen mở toang cửa, chạy vọt vào buồng bà:
- Bà cứu con với!
Bà Hàn cau mặt:
- Làm sao? Làm sao?
Sen hổn hển:
- Thưa bà, cậu cả…
Bà nhìn Sen. Bà hiểu ngay, nên tặc lưỡi:
- Con khỉ! Làm tao hết hồn, cứ tưởng cậu làm sao. Thế nào, đầu đuôi thế nào?
- Thưa bà, từ mấy hôm nay rồi, nhưng con sợ bà, không dám nói.
Bà Hàn nhíu đôi lông mi lại:
- Chả có lẽ! Cậu mới mười bốn tuổi đầu. Nữ thập tam, nam thập lục kia mà?
Mai nói:
- Thưa bà, con mời cậu con vào cho bà hỏi xem thực hư ra sao.
Bà chưa kịp ngăn, thì Mai đã nhanh nhảu ra khỏi cửa. Một lát Mai trở lại:
- Thưa bà, cậu con trốn đâu ấy, tìm không thấy. Cậu con tinh lắm kia, bà ạ.
- Tinh thì mới mười ba mười bốn tuổi đầu. Hay chúng mày dạy cho cậu?
- Thưa không ạ.
- Lại còn không!
Bọn đội con gái im lặng. Bà bực dọc, nói một mình:
- Mòn chó đâu mà tiếc, cũng phải kêu.
Sen ức quá, thút thít khóc. Bà Hàn mắng:
- Khóc cái gì? Cậu đã làm gì mày?
- Thưa bà chưa. Nhưng con sợ cậu con lại thế.
Bà Hàn im. Một lát, bà hỏi:
- Thế bây giờ mày muốn gì?
- Thưa bà, bà bảo cậu cho con.
Bà Hàn gắt:
- Tao không bảo. Để hôm nào quan về, mày trình quan, thì quan bảo.
Sen òa lên:
- Thế thì biết hôm nào quan về. Hay con xin bà cho con ra. Con chả dám hầu cậu con nữa.
Bà Hàn quắc mắt:
- Mày định giở mặt phỏng? Bà thì chẻ xác cụ mày ra. Mày trốn thì bố mày rũ tù.
Nói đoạn, bà bảo Đào lấy cái gậy, cời ở gậm sập ra cái đống bài vị vứt ngổn ngang trong đó. Bài vị gỗ đụng vào nhau lọc cọc. Bà thò chân xuống, khoắng khoắng từng cái, rồi nhìn Huệ:
- Mày tìm cho tao xem cái nào là cụ con Sen. Có đánh dấu chữ ở dưới đế ấy.
Huệ nhặt từng chiếc bài vị ngập những bụi, lau đế để nhìn chữ. Bà dọa Sen:
- Tao mà tìm ra cụ mày, tao chỉ chẻ nhỏ ra, để tống vào bếp. Cụ mày, tao đã giam vào đây, thì mày cũng không chạy đâu thoát!
Bỗng Sen lau nước mắt, chắp tay vái:
- Lạy bà, lạy bà. Con không dám nói gì nữa.
Bà Hàn vênh váo:
- Ừ, thế chứ lị.
Rồi bà truyền:
- Thôi, xếp cả cụ chúng mày vào gậm sập cho tao.
Bà quắc mắt với Sen:
- Việc chỉ có thế, mà làm bà bẩn cả chân. Bận sau mà còn kêu nữa, chớ chết! Bước!
Sen lùi lũi ra. Đào bưng vào buồng một chậu thau lam đầy nước trong. Bà Hàn nằm ngửa, thõng chân xuống cho Đào rửa. Trong khi ấy, Mai phe phẩy cái quạt vào mặt bà, Lan lật áo bụng bà ra để mơn man gãi, và Huệ cầm cuốn tiểu thuyết:
- Chàng i a nói i a trái i a tim i a anh i a đã i a bị i a em i a chiếm i a từ i a lâu…
 
* * *
 
Cái bà Hàn nuôi một lũ con em để làm mồi giữ khách, cái bà Hàn chỉ sợ chồng tí táy bọn con gái non, cái bà Hàn bênh đứa con trai mười ba mười bốn tuổi “quý tử” ấy, nhưng lại hay giảng luân lý cho đầy tớ gái, cái bà Hàn quý báu ấy không phải ai xa lạ với chúng ta đâu. Chính là Ma-ri đấy. Và chồng của cái bà Hàn mà bà gọi là quan ấy, lại vẫn chính là Trần Đức Thừa.
Vậy muốn biết nguyên do tại làm sao Thừa và Ma-ri được gọi là ông Hàn, bà Hàn, ta cần đi ngược lại thời gian mười năm về trước.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
II
MƯỜI NĂM VỀ TRƯỚC  
Chúng ta đều nhớ rằng Ma-ri vẫn tự hào là đã thủ tiết được với chồng, là do người cha đạo Hảo dạy dỗ, Ma-ri không nói điêu đâu. Có điều là được dạy dỗ thế nào, thì ta không biết, vì đó thuộc về phạm vi nhà nghề của các bậc tu hành. Mà đã là công việc thuộc phạm vi nhà nghề, thì nhiều khi lương tâm người ta bắt người ta phải giữ bí mật.
Ma-ri về ở với Thừa được hơn một tháng, thì hắn tuyên bố một tin ghê gớm, là hắn lại có mang. Nhưng hắn nói là khác với hai lần trước, lần này hắn thấy bụng thế nào ấy, Hắn phải đến nhờ bác sĩ Pi-ca khám thai hộ.
Ma-ri nói chuyện với Pi-ca lâu lắm. Cuối cùng, quan tiến sĩ đút mười đồng bạc của khách hàng vào ngăn kéo, rồi chẳng khám xét gì, hắn viết giấy chứng nhận rằng Ma-ri sẽ đẻ thiếu tháng.
Vì thế, chỉ có bảy tháng sau, Ma-ri đã phải vào nhà hộ sinh. Hắn sinh hạ luôn một lúc hai đứa con gái, giống nhau như đúc. Đứa nào mắt cũng xanh, mũi cũng khoằm.
Tác giả chẳng cần nói rõ là hai con của Thừa như tạc với ai. Chắc độc giả đã đoán ra đôi sinh vật cỏn con đó, mang nhãn hiệu như vậy, là tác phẩm do hãng nào sản xuất rồi. Vậy thì bây giờ ta đã hiểu vì sao, không ân tình gì với Thừa, cha Hảo đã phải tận lực lo lắng cho thằng giết người ấy được tạm tha ngay để mà sum họp với Ma-ri. Thì ra tôn giáo bao giờ cũng gây hạnh phúc cho những người vẫn gọi nhau là vợ chồng. Dù pháp luật có muốn chia lìa họ, thì nhà tu hành cũng lăn lưng vào cứu cho họ được gần gụi nhau.
Nhân đạo vậy thay!
Nhưng Trần Đức Thừa lại không tin cả pháp luật, tôn giáo, lẫn khoa học.
Trước hết, thấy Ma-ri mách là có mang, thì hắn ừ hữ vậy thôi. Có lẽ hắn tin đấy. Nhưng đến hôm Ma-ri cho hắn xem tờ giấy chứng nhận của thầy thuốc nói rằng sẽ đẻ thiếu tháng, thì hắn nghi ngay. Cớ sao tự nhiên lại lạy ông tôi ở bụi này? Vả những lời chứng nhận mà Pi-ca ghi trong biên bản khám tử thi cô Lễ, đã chứng nhận cho Thừa đo được lương tâm nhà nghề của quan tiến sĩ y khoa này rồi.
Hôm Ma-ri đẻ, Thừa đến thăm. Hắn thấy con của hắn mà giá có ngay một bộ râu xồm che lấp mồm nữa, thì vô khối con chiên bổn đạo nhìn thấy, phải làm dấu câu rút. Thấy hắn thản nhiên như không, Ma-ri phải nói ý để thuyết phục:
- May quá, mặt mũi chúng nó giống cha! Moa sùng đạo cũng có hơn!
Thừa không nói gì. Hắn về, đem chữ nghĩa của bác sĩ đến cho ông nhà thơ Hoài Tân Tử coi, và vấn kế xem nên xử trí thế nào. Ông Tình muôn thuở xui:
- Có chứng cớ rành rành là nó bịp mày, thì mày đợi gì mà không xoay tiền thằng dê già. Nếu thằng này không cho, mày cứ dọa là sẽ đăng báo để bêu.
Thừa mừng lắm, hôm Ma-ri bế con về, hắn sinh sự ngay. Nhưng hắn vừa nói được câu đầu, thì Ma-ri đã hiểu, và thốc cho một thôi:
- À, toa muốn vô nhân bạc ngãi phỏng? Toa không biết cái hĩm của moa là một, cái mồm của thằng Tây là hai, nó cứu sống toa à? Không có thì bây giờ toa có mục xương ở trong tù không? Chẳng biết dơ! Thà cứ câm họng còn thương được. Moa truyền hồn cho từ giờ đến già, nếu toa muốn sung sướng, danh giá, thì đừng có vô ơn hai cái ấy!
Thừa ức lắm, nhưng đành nhịn. Hắn sợ Ma-ri dùng hai cái ấy để phản hắn.
Từ hôm đó, cả Thừa lẫn Ma-ri cùng suy nghĩ và tính toán.
Thừa hiểu rằng cái người mà hắn vẫn tưởng là đại ân nhân của hắn, chẳng qua chỉ là thằng đại bợm. Nó để râu thật rậm và mặc áo thật dài để che cho kín mặt mũi và bụng dạ bẩn thỉu của nó. Rồi nó lợi dụng tôn giáo, trút cho hắn gánh hộ nó cái nhục. Hắn nhớ lại từ ngày Ma-ri bỏ hắn. Rõ ràng hắn được tự do hơn. Cô Lễ hiền lành, thật thà, cho nên dễ tin hắn. Lấy cô làm vợ, không bao giờ hắn bị bó buộc. Hắn vắng nhà hàng đêm, có lần hàng hai ba ngày, đến lúc về, hắn chỉ nói một câu là đi công việc báo, cô vui vẻ liền. Cô còn xót xa hắn vất vả, và chiều chuộng gấp bội. Hắn tiếc rằng giá không có mẹ Mão đến phá, thì thế nào hai cái nhà của cô cũng về tay hắn. Hắn sẽ dựa vào tiền tài của cô để gây lại cuộc đời.
Bây giờ ở với Ma-ri, hắn dựa vào cái gì của Ma-ri? Ma-ri đã tìm thế lực làm cho hắn trắng án. Hắn đã thoát tù. Thế là đối với hắn, Ma-ri không còn gì cho hắn lợi dụng nữa. Song, sự thật, thì là hắn tránh khỏi nhà tù nhà nước để chui vào nhà tù Ma-ri. Hắn không trông mong gì ở Ma-ri trong việc làm lại cuộc đời. Thế mà hắn còn phải nuôi một lũ con và nuôi Ma-ri. Ma-ri ăn, mặc, chơi, tiêu đã đành, thỉnh thoảng cơn đứng đắn bốc lên, Ma-ri còn dở trò buôn bán để phá thêm của nữa.
Ma-ri lại về với hắn để bám. Bám vào tiếng ở với chồng để che tội cho con dê xồm, bám vào tiền của hắn để hắn phải nuôi báo cô lũ con khác giống. Hắn có nợ nần gì Ma-ri kiếp trước, mà kiếp này bị đày đọa lại?
Thừa chán ngán. Hắn không thể cáng được gánh nặng. Hắn phải ở một mình. Ở một mình, không bị xiềng xích, hắn mới tìm được hạnh phúc. Dù chẳng làm giàu, hắn cũng được tự do. Nhưng thế nào hắn cũng làm giàu được. Ở đất Hà Nội này còn khối thằng không bằng hắn, mà cũng nhà lầu, ô-tô đàng hoàng, thì nhất định hắn không chịu kém cạnh. Khi trong tay đã sẵn có đồng tiền, hắn có thể lấy ai thì lấy, nhưng quyết không lấy một người như Ma-ri.
Nghĩ đến mấy năm ăn ở với Ma-ri, hắn sợ quá lắm rồi, bức quá lắm rồi.
Nhưng làm thế nào bây giờ? Thực tế là Ma-ri ở nhà này rồi. Tiếng thằng Giăng khóc, tiếng hai đứa mới đẻ suốt ngày bên tai hắn, làm hắn bực dọc mà không dám nói ra. Hắn biết rằng hiện giờ Ma-ri chưa đòi, nhưng thế nào nay mai Ma-ri cũng bắt hắn mượn vú em để nuôi con. Mà những hai vú em kia, mới chết chứ! Không những vậy, có thể Ma-ri muốn rảnh tay, còn nuôi cả chị hai để trông thằng Giăng nữa cũng nên!
Đến hôm nay, hắn còn một ít tiền và món đồ vàng mà hắn ăn cắp của cô Lễ. Nhưng nếu cứ đà ngồi không và ăn tiêu này, thì đến có núi của cũng hết.
Bỏ Ma-ri? Cố nhiên rồi. Nhưng làm cách nào để bỏ? Ma-ri tai ngược chứ không cù mì như mẹ Mão, và thâm trầm chứ không trung hậu như cô Lễ. Ma-ri mà biết ý định của hắn, tất Ma-ri xử lại rất thâm độc, nham hiểm. Ma-ri không cho hắn giũ dễ dàng như giũ mẹ Mão, như giũ cô Lễ, mà càng bám chắc, bám dai như con đỉa, lầy nhầy ám hắn suốt đời.
Ma-ri cũng ngấy cái cảnh Thừa lắm rồi. Sở dĩ hắn bỏ về với Thừa, chẳng qua là vì hắn biết anh cha đạo không thể phá giới mà hoàn tục để kết bạn trăm năm với hắn. Mà ở nước Nam này hiện giờ, không còn chỗ nào hắn có thể ở một cách yên ổn, mà trong đó lại có người để hai đứa nhận ngay là vợ chồng một cách tự nhiên như ở đây. Không may cho hắn, mặt mũi hai con bé đã tố cáo âm mưu của hắn. Rõ ràng là Thừa không chịu nhịn nữa rồi.
Trước khi về với Thừa, Ma-ri vẫn tưởng Thừa làm báo, thì có lương nuôi nổi vợ con. Ai ngờ Thừa chẳng có nghề ngỗng gì. Căn nhà ở lại chật hẹp, tối tăm. Hắn chưa đòi hỏi gì, mà lúc nào Thừa cũng kêu túng, kêu thiếu, làm như xo dụi, chết đói đến nơi rồi. Biết là Thừa làm như vậy để bịt miệng hắn, hắn thấy không thể kéo dài đời hắn theo nhịp sống như thế này mãi được.
Bỏ Thừa để lấy người khác? Cái đó đã hẳn rồi. Nhưng không phải việc của hôm nay hay ngày mai. Hôm nay hay ngày mai, hắn còn máu non. Nhà của Thừa là chỗ hắn còn có thể tạm dung thân, thì hắn chưa nên rời cái “phòng đợi” này.
Ma-ri lấy tấm gương để soi và chải đầu. Da còn xanh. Má chảy xị hẳn xuống vì nằm cả ngày. Mỗi lần chải, hàng chục sợi tóc rụng dính vào lược. Hắn thở dài. Hắn nghĩ đến câu gái ba mươi tuổi đã toan về già. Năm nay hắn mới ba mươi hai. Chẳng lẽ ở tuổi này mà là bắt đầu hết xuân à? Hắn nhìn xuống giường. Thằng Giăng và hai em nó đương ngủ say. Hắn thương hại ba đứa. Hắn đi lấy người khác, thì chúng nó ở với ai? Địu chúng nó cạnh nách, hắn có thể lấy được chồng không? Người đàn ông nào lấy hắn làm vợ mà sẵn lòng bao cả từng này đứa con riêng của vợ? Hay là cho người khác nuôi? Người phúc đức mấy cũng chỉ nhận một đứa. Mà người hiếm hoi, ai nuôi con gái làm gì?
Ma-ri buồn lắm. Thấy đối với hắn, Thừa không ra thờ ơ, không ra vồ vập, hắn càng thấy hắn dơ dáng dại hình.
 
* * *
Chờ cho người khỏe mạnh, Ma-ri đến báo tin cho lão cha Hảo biết việc mình đẻ sinh đôi, và việc Thừa định dở mặt. Người cha đạo hỏi:
- Có thật con đẻ sinh đôi, có thật nó giống cha, có thật chồng con giận con không?
Ma-ri đáp:
- Thưa cha, nếu con nói dối cha, thì con xin phép cha cho con đi xưng tội ạ.
Nhà tu hành cười:
- Thì con lại xưng với cha, chứ với ai? Thế bây giờ con muốn gì?
- Trình lạy cha, cha dạy cho con nên làm thế nào ạ?
- Thằng chồng con được cha cứu, cha khuyên bảo nó nhiều lần là nên theo đạo để được dạy dỗ cho thành người lương thiện, nhưng nó cứ ừ hữ. Thế là nó không tốt. Cha phải bằng lòng cho con lấy người ngoại đạo, là cha đã chịu nước lép quá rồi.
Ma-ri ngắt lời:
- Con cũng ức lắm. Cho nên con định xin phép cha cho con bỏ nó.
- Bỏ nó thì con lấy ai?
- Thưa cha, không lấy được ai, thì con lại về ở với cha như truớc.
Cha Hảo xua tay:
- Không ở với cha được. Con mắn quá! Cha sợ. Mà đẻ những sinh đôi kia!
- Trình lạy cha, do công ơn của cha.
Ma-ri nhoẻn miệng. Nhà tu hành vẫn nghiêm trang:
- Cha cấm con từ nay không được gặp riêng cha nữa. Và cha ra lệnh cho con phải về với thằng Thừa, ngoan ngoãn mà nhận là vợ của nó.
- Thưa con nhất định bỏ nó.
- Con phải biết ở thế gian này, có thằng chồng nào dễ dãi như thằng Trần Đức Thừa không? Nó đã nhận thằng Pôn, thằng Giăng là con nó, thì tất nó cũng nhận hai đứa này là con nó. Lấy được người chồng dễ dãi về mặt nhận con là một hạnh phúc hiếm có cho người vợ. Sao con không biết hưởng?
Để cho Ma-ri thấm thía lời dạy khôn, một lúc, hắn mới tiếp:
- Nhưng một người chồng không phải chỉ chịu nhận con người khác là con mình để không được lợi gì. Vậy đền lại nó, con phải làm ra âu yếm, quý mến nó.
- Thưa cha, con nghĩ không đền gì tốt bằng tiền ạ. Bây giờ nó thất nghiệp mà phải nuôi một vợ với bốn đứa con mọn. Cho nên cả con với nó, hai đứa cùng gớm mặt nhau.
- Thế chúng con lấy gì mà sống mấy tháng nay?
- Thưa toàn tiêu vào tiền của con Lễ đấy ạ. Con muốn trình cha tháng tháng cho con món phụ cấp gia đình ạ.
Người cha đạo nhún vai:
- Nhà thờ không phải là chính phủ mà con đòi hỏi thế. Vả con không phải là công chức.
- Thưa phụ cấp riêng của cha phát ấy ạ.
- Không được.
- Nếu cha không phát tiền, con đến phải đưa chúng nó cho bà sơ nuôi làm phúc thôi. Con chỉ sợ các bà hỏi là con của ai, thì con khó nói lắm.
Người cha đạo cười nhạt:
- Con dọa cha, hể? Thôi, con cứ về đi. Cha sẽ nghĩ giúp con.
- Thưa cha, bao giờ cha nghĩ ạ?
Nhà tu hành cau mặt. Hắn gãi đầu, gãi râu, rồi nói:
- Cha không phải người sai hẹn. Hiện nay miền Nam nước Pháp đương bị lụt to. Thế nào các thuộc địa cũng phải tổ chức cứu tế.
Ma-ri thở dài, nói một mình:
- Thế thì nước mẹ gì?
Rồi hắn nhắc:
- Thưa cha, chồng con lại là An-nam, không bị lụt kia ạ.
Người cha đạo gật sâu đầu xuống, dằn từng tiếng:
- Cha biết rồi.
Ma-ri chợt hiểu:
- À, thưa cha, ai tổ chức cứu tế ạ?
- Ai thì cha chưa biết. Nhưng chắc chắn là các quan.
- Quan Tây hay quan An-nam ạ?
- Cố nhiên là quan Tây mới biết thương xót người Tây. Nhưng muốn kín đáo, các quan Tây bảo các quan An-nam tổ chức.
- Chắc là hội Khai Trí Tiến Đức phải tổ chức, cha ạ.
Lão Hảo gật đầu:
- Có thể.
Ma-ri mừng rỡ:
- Thế thì may lắm. Chồng con có chân hội Khai Trí, chắc chắn được vào ban tổ chúc, tha hồ mà ăn bớt.
Người cha đạo cau mặt:
- Con có tính láu táu, nhiều câu con không nghĩ mà cứ nói bừa làm lắm lúc cha phiền lòng. Cha vẫn dạy con là khi muốn nói với cha hay với ai, con phải quay lưỡi bảy lần trước đã.
- Quay thế thì lâu lắm nhỉ.
- Nghĩa là nghĩ, nghĩ kỹ.
Ma-ri nhí nhảnh cười:
- Ồ, làm việc gì cũng phải nghĩ, thì mệt óc lắm. Thưa cha, thế ngộ nghĩ sai thì có làm không ạ? Con tưởng cứ bừa đi, rồi đâu sẽ vào đấy hết. Con mà hay suy nghĩ, thì có lẽ đến bây giờ con chưa có đứa con nào.
- Suỵt! Đương nói việc cứu tế. Thằng Thừa chín chắn hơn con. Nó là thằng làm được việc. Con về bảo nó đến hầu cha, để cha hỏi xem nó có thể giúp ban tổ chức việc gì, thì cha giới thiệu. Ban tổ chức phải là các quan, các bậc thượng lưu trong nước thì mới được tín nhiệm. Chồng con đã là thứ bậc gì mà vào ban tổ chức!
- Nếu ban tổ chức cần người có tín nhiệm, thì càng các quan càng không có tín nhiệm. Chồng con còn đáng tin cậy hơn các quan. Vì nó có ăn bớt, cũng không dám ăn bớt nhiều.
- Vào ban tổ chức không phải để ăn bớt, con không nên lầm thế. Nếu nó là hội viên hội Khai Trí Tiến Đức, thì cha dễ giới thiệu với ban tổ chức.
Ma-ri khoe:
- Vâng, nó mà mở sòng xóc đĩa cho chợ phiên, thì nó tranh hết khách của hội Khai Trí, cha ạ. Nó rủ bạn bè của nó ở các tỉnh về đánh rất to, tha hồ mà thu hồ.
- Được rồi. Con cứ bảo nó đến đây với cha, cố nhiên nó không ở ban tổ chức, nhưng nó có thể giúp ý cho ban tổ chức. Rồi ban tổ chức sẽ dùng nó. Nó kiếm lợi vào đó.
Ma-ri nũng nịu:
- Con có đạo thì cha không giúp. Cha lại chỉ nối giáo cho thằng giết người.
- Thế là cha giúp con. Cha dùng nó để giúp con. Cha làm như thi ân huệ cho nó để khuyên bảo nó theo đạo.
Ma-ri xua tay:
- Không ăn thua đâu, cha ạ. Nó bạc lắm.
- Với những người không biết tin ngay đạo lý, thì tôn giáo phải mua chuộc họ trước hết bằng danh lợi con nghe chưa? Thôi, con về nhé.
Thừa được thầu dựng những căn nhà cho chợ phiên. Chợ phiên tổ chức tại vườn Bách Thảo để lấy tiền cứu dân bị lụt bên nước Pháp. Mở ba ngày liền. Vì dịp này là dịp ngày lễ vào hôm thứ sáu trong tuần, nên các công sở được nghỉ luôn cả hôm thứ bảy. Quảng cáo là ngoài hàng bán, còn có nhiều cuộc vui. Trong nhiều cuộc vui, có xổ số lấy đồ đạc và những cuộc thi, hôm kết thúc có thi xe hoa, thi khiêu vũ, và thi sắc đẹp. Nhưng những cuộc thi chưa làm cho khách các tỉnh chờ đợi và mong mỏi bằng các sòng bạc, có đủ cả xóc đĩa, trạc-xếch, và đố chữ. Thừa nhờ ông Lăng gọi cho hắn xừ Tuynh, để xừ giúp mua vật liệu và thuê thợ.
Ngoài những dãy nhà dài chia ra từng ngăn nhỏ để bày hàng, đựng rải rác ở cạnh đường đi, trên đỉnh Khán Sơn, có nổi lên một căn nhà lớn, rộng. Đó là sòng bạc. Thừa được phép dựng riêng một quán giải khát cho Ma-ri ngay ở lối lên núi. Quán này có hai ngăn. Ngăn ngoài hẹp, để bày cốc tách cho Ma-ri bán kem, rượu, bia, nước chanh, v.v… Ngăn trong rộng chia bằng liếp thành ba buồng nhỏ, kê vừa một cái giường khổ hẹp. Vì liếp có phết giấy, nên buồng nào cũng kín đáo. Thừa bảo buồng ấy dùng cho khách đánh bạc thức đêm có mệt thì ngả lưng tạm. Nhưng thực tế, khách đánh bạc chẳng ai biết mình được săn sóc chu đáo như thế. Biết có thứ buồng cho thuê ấy, chỉ có những cặp trai gái muốn tình tự chốc lát với nhau thôi.
Thừa được trưng sòng bạc, mỗi ngày hai mươi bốn giờ, hắn phải nộp tròn cho ban tổ chức ba trăm bạc thuế.
Vì chợ phiên được cổ động mạnh bằng những câu ca dao đăng trên khắp các báo hàng ngày, lại vì các quan ở mấy tỉnh lân cận Hà Nội sức cho tổng lý phải làm việc nghĩa, cho nên hôm khai mạc, khách có nhiệm vụ phải có mặt, khách bắt buộc phải có mặt, và cả khách tự ý đi tìm vui thú, đến chợ phiên rất đông.
Để được trọng thể, ban tổ chức mời bà thống sứ cắt băng tam tài chăng ngang ở cổng. Một ông áo gấm, thẻ ngà, mề đay đọc đít-cua. Ba chục thiếu nữ, cả Pháp lẫn Nam, những cô có tiếng là đẹp ở Hà Nội, mặc những bộ quần áo sang trọng nhất, cứ hai cô một, một cô đưa mấy ngón tay búp măng, miệng nhoẻn cười, gắn huy hiệu từ thiện vào ngực cho quan khách, một cô giơ cái hộp gỗ phát giấy ba màu xanh, trắng, đỏ, để nhà từ thiện đút tiền vào. Có những cô khéo léo đã làm cho khách vui lòng cúng cả tờ giấy bạc hai chục. Giấy các màu cắt nhỏ lăn tăn, gọi tên là công-phét-ti được ném vào nhau như mưa hoa. Hôm nay là ngày vui, cho nên bất cứ ai ném công-phét-ti vào ai, cũng không bị mắng, còn được cười và ném lại là khác. Các cậu công tử An-nam ném vào các cô đầm non. Các bà vợ Tây già ném vào các bậc trai tơ tài hoa son trẻ. Cánh hoa giấy lăn tăn mắc vào tóc, nằm trên vai, bám vào lưng, vào ngực áo của nhau, là những vết kỷ niệm cho tình Pháp - Nam thân thiện. Chiều đến, khách tới tấp đến càng đông. Ánh điện sáng rực một góc trời. Máy phóng thanh mở những bài nhạc du dương. Làn gió hiu hiu đưa thoang thoảng mùi nước hoa của những món tóc bóng nhẫy và làm bay bay những tà áo tuyết trắng, cá vàng, bạch yến, hồ thúy, nhắt gừng, cặn vang, huyết dụ, lam mây của những cặp má phớt hồng, làm nổi bật ý nghĩa của bốn tiếng mới đặt là Hà thành hoa lệ.
Ma-ri đâm ghen với các thiếu nữ. Hắn không được đi rong chơi để diện với trai, vì hắn phải làm việc. Hắn mặc bộ nhiễu đen, tuy không được ra ngoài, phải đứng trong quán giải khát, nhưng hắn cũng rắc trên tóc và trên vai một ít công-phét-ti tím, hồng, xanh, trắng… Vì đã quen nghề bán kem ở Bờ Hồ, nên hắn nhanh mồm nhanh miệng đon đả với khách. Khách qua hàng hắn, cứng lắm mới thản nhiên được trước khóe mắt thôi miên của hắn.
Nhưng không gian hàng nào tấp nập bằng sòng bạc. Suốt từ chín giờ sáng cho đến gần tang tảng, lúc nào con bạc cũng đông nghìn nghịt. Thừa thuê được mấy cô gái non là con em của bà Ĩnh con, làm hồ lì và hàng sáo. Cô nào cũng mặc quần áo mỏng tang để luôn luôn vô ý mà quệt ngực vào tay khách, làm cho khách hãm tài.
Đến hôm thi sắc đẹp, Ma-ri quyết dự thi. Hắn không mặc quần đùi, không mặc yếm, không mặc áo ngắn. Hắn mặc quần voan trắng, áo dài voan trắng, thứ hàng mỏng nhất. Nhưng Thừa bảo:
- Em dự thế nào được. Đây là cuộc thi sắc đẹp cho các bà các cô khuê các kia mà?
Hắn cãi:
- Tây lai không là khuê các à?
Hắn hỏi ý kiến ban giám khảo. Ban này phân tách hồi lâu. Gần cả ban căn cứ vào nguồn gốc, để nhất định rằng con lai không do dòng dõi tử tế đẻ ra, thì không phải là khuê các. Chỉ có một người căn cứ vào ảnh hưởng của nhà trường, ảnh hưởng của xã hội, có thể thay đổi được tính nết con người, thì người lai vẫn có thể trở nên khuê các. Nhưng người này tìm thêm một lý rất cứng:
- Thế các ngài cho người Pháp là thế nào, mà bảo con của người ấy không phải là khuê các. Tôi không có óc bài Pháp, nên tôi nhất định bênh người lai.
Thế là tất cả mọi người như bị tắc họng. Cho nên Ma-ri được dự thi. Và trong bảy người lần lượt diễu trên cầu bạc để công chúng ngắm nghía và ban giám khảo định giải, thì Ma-ri là người được vỗ tay lâu nhất, và được mời đi lần thứ hai nữa, cho mọi người thưởng thức. Bởi vì phía bên kia chiếc cầu bạc, là hai ngọn đèn pha hát ánh sáng trắng lên, ánh sáng trắng chói, thắng cả màu trắng mờ của bộ quần áo voan mỏng mà Ma-ri mặc. Cho nên chẳng lẽ bắt Ma-ri đi lại đến lần thứ ba, không những ban giám khảo, mà cả dư luận nữa, đều rất có cảm tình với những nét cong trong thân thể Ma-ri. Ai nấy đồng thanh quyết định Ma-ri được giải nhất.
Một tràng pháo tay dài đến năm phút mừng hoa khôi của chợ phiên. Công-phét-ti ném vào nàng như mưa rào. Những con mắt tít lên, nhìn theo, những mùi soa phần phật vẫy theo, cho đến lúc tà áo của nàng khuất vào đám đông.
* * *
Trong số những người đến chợ phiên để quăng tiền đi, mà họ yên trí là làm việc thiện, ta phải kể tên lão hàn Xương, người em rể bà huyện Dần, có cái nhà mã bán cho Thừa hồi trước.
Ta còn nhớ rằng hàn Xương bán cái nhà ấy, nói rằng để giúp người chú lo đi tri phủ Kiến Xương. Thật ra với món tiền bán nhà, hắn đã mua rẻ được cái đồn điền của người chú ấy, gồm ba nếp nhà gạch lớn, với ngót một trăm mẫu ruộng ở Cẩu Rồng, thuộc hạt Vĩnh Yên. Ta lại nhớ rằng hồi này, hàn Xương đã mê tít Ma-ri nên bán cái nhà toàn lim với xi măng cốt sắt làm trên miếng đất rộng hơn hai trăm thước vuông, hắn chỉ cậy nổi của người yêu được có một nghìn năm chục.
Tậu được đồn điền, anh chàng đĩ tính đem vợ về Cẩu Rồng để hưởng an nhàn. Nhưng được vài tháng thì vợ hắn chết.
Đời hắn thiếu một người đàn bà.
Hắn phải luôn luôn tìm đàn bà để giải buồn.
Vì vậy, tuy ở tận Vĩnh Yên, nhưng chẳng tuần lễ nào anh chàng dại gái này không về Hà Nội vài ngày, vui thú với những người đàn bà dưới xóm cô đầu hoặc ở trong tiệm nhảy. Và cũng vì quá được tự do để trác táng, hàn Xương vốn đã gầy, bây giờ hắn càng gầy và càng khô.
Thừa trông thấy hàn Xương vào sòng bạc, thì hắn nhận ra ngay, vì phải chiều khách, hắn niềm nở bắt tay hàn Xương và hỏi thăm về gia đình. Khi hàn Xương cho hắn biết là góa vợ, thì tự nhiên Thừa mừng lắm. Hắn nghĩ ngay rằng thằng cha này nhất định phải là người hứng lấy cái nợ Ma-ri thay cho hắn.
Cố nhiên hàn Xương hỏi thăm lại Thừa về gia đình, tuy lúc lên sòng bạc, hắn đã nhìn thấy cố nhân đương tíu tít phục vụ khách.
Thừa đưa hàn Xương xuống hàng giải khát của Ma-ri. Hai người gặp nhau.
Hàn Xương thấy nhan sắc Ma-ri không kém trước thì ngây ngất cả người.
Ma-ri thấy hàn Xương khẳng khiu hơn trước, thì vụt hắn nhìn ngay anh giàu này là người thay thế cho Trần Đức Thừa nghèo kiết đây. Hắn phải bám cái người si ngốc này cho riết, nhất định không chịu bỏ mất.
Vì có ý định gán Ma-ri cho hàn Xương, Thừa mặc cho hai người chuyện trò với nhau. Hắn trở lên sòng bạc.
Vì có ý định cho hàn Xương kế chân Thừa, Ma-ri chăng ngay bẫy.
Nhưng việc chăng bẫy, Ma-ri không phải tốn lắm công phu. Với một người khát đàn bà như hàn Xương, thì một nửa khóe mắt, một góc miệng cười của một người thạo quắp đàn ông như Ma-ri, cũng đủ là keo, là sơn, là xích, là khóa. Bởi vậy, hàn Xương như bị trói chặt vào hai nơi. Một nơi là sòng bạc để sát phạt đen đỏ ít, nhưng để dò xét Thừa có ghen hay không thì nhiều. Một nơi là cửa hàng giải khát để thổ lộ can trường với Ma-ri.
- Nhà tôi thất lộc rồi. Tôi đương tìm một người để tục huyền.
Tuy Ma-ri không hiểu nghĩa những tiếng sang trọng mà hàn Xương dùng để trả lời câu hỏi dò về con sư tử Hà Đông, nhưng cũng đoán mang máng rằng thất lộc là chết, và tục huyền là lấy vợ khác. Vì hắn thấy đến hai tiếng thất lộc, thì mặt hàn Xương có vẻ buồn, và đến hai tiếng tục huyền, thì hắn nhìn mình một cách tình tứ.
Nhưng sợ rằng đoán không đúng, cho nên Ma-ri không đáp, chỉ nhoẻn miệng để cười. Thì cái nụ cười này lại như hé ra để thưởng cái nhìn hữu ý của hàn Xương. Cho nên hàn Xương như bị choáng váng. Hôm Ma-ri được bầu là hoa khôi, hàn Xương mừng cuống lên. Ném hết túi công-phét-ti vào Ma-ri rồi, hắn còn tiếc. Hắn mới bốc ở dưới đất những công-phét-ti ném rồi, để thưởng thêm sắc đẹp của người yêu. Hắn theo về quán, nói giọng lả lơi với Ma-ri:
- Anh phải kiếm một người đẹp, biết giao thiệp thành thạo việc đời. Được người như em để phó thác tính mệnh và tài sản, thì anh sung sướng biết mấy!
Để đáp lại câu nói lỗ mãng và trắng trọn, Ma-ri liếc hàn Xương một cái, rồi tủm tỉm cúi mặt xuống. Hắn vờ thẹn thò như những cô gái trinh bạch khi nghe thấy nói đến chuyện lấy chồng.
Bởi thế, sau mấy ngày chợ phiên bế mạc, Ma-ri bỏ chồng, bỏ con trốn lên Cẩu Rồng ở với hàn Xương.
Ở đây, Ma-ri muốn gì, hàn Xương cũng tuân theo ngay lập tức. Trước hết, hắn bắt Xương khai giá thú cho ra vợ chồng chính thức. Rồi sau hắn bảo hàn Xương đóng tiền vào Bảo hiểm nhân thọ, và làm giấy với sở này, là nếu có mệnh hệ nào, thì người vợ được quyền lấy tiền bồi thường. Làm xong hai việc ấy, Ma-ri ra lệnh cấm hàn Xương không được rồi hắn một tối. Hắn cho hàn Xương ăn toàn sâm nhung, để lấy sức mà phụng sự hắn, hay trái lại, để cho mà kiệt sức. Vì vậy, mới được ba tháng, hàn Xương đã như cái que. Và thêm hai tháng, thân hình hàn Xương được tả đúng như tên của hắn. Rồi thêm nửa tháng nữa, bộ xương ấy không nhúc nhích được. Hàn Xương chết.
Món tiền của Bảo hiểm nhân thọ bồi thường, cố nhiên là Ma-ri được lấy. Nhưng còn cái gia tài ở Cẩu Rồng, họ hàng hàn Xương không để cho Ma-ri chiếm một cách dễ dàng. Họ phải nhờ pháp luật định đoạt hộ. Nhưng Ma-ri có những thế lực xoay được pháp luật. Hắn đã dùng bàn tay cứng rắn của lão cha Hảo. Hắn hứa rằng nếu được kiện, hắn sẽ cúng cho Chúa một nửa số ruộng của đồn điền.
Thấy được dịp mở rộng đất cho nhà thờ để lấy tiếng cho mình, và để lấy người truyền đạo, lại được dịp giúp cho Ma-ri một sinh kế chắc chắn, khỏi bị mè nheo bắt mình bỏ tiền ra nuôi con, nhà tu hành hết lòng cướp hộ Ma-ri cái gia tài ở Cẩu Rồng.
Thế là Ma-ri nghiễm nhiên làm chủ ngót năm mươi mẫu ruộng.
Từ ngày Ma-ri bỏ Thừa đi với hàn Xương, không phải hắn bằn bặt như bận trước. Tuy tình cảm vợ chồng với Thừa không còn, nhưng tình cảm mẹ con không cho hắn dứt khoát với cái nhà Thừa ở. Trong nhà ấy, hắn có bốn đứa con. Xa con, hắn nhớ. Vì vậy, độ mươi hôm, nửa tháng, Ma-ri lại đảo về Hà Nội một lần để thăm. Vả lại, hắn thấy trước kia, thằng Pôn đã bị Thừa bỏ lay lắt ở nhà quê, nên nó ốm yếu, lại ngốc nghếch. Nó về Hà Nội thấy cái đèn điện cũng trố mắt lên, thấy cái máy nước cũng đứng lại ngắm. Ma-ri không muốn các em nó cũng bị đày đọa như nó. Cho nên, gửi Thừa tiền ăn cho chúng nó đã dành, thỉnh thoảng Ma-ri cũng phải về xem người bố hờ nuôi nấng chúng nó ra sao. Cố nhiên, những phí tổn ấy, hàn Xương phải đài thọ.
Mỗi lần Ma-ri gặp Thừa như vậy, hai người vẫn trò chuyện với nhau như thường. Y như đôi vợ chồng trong một gia đình bình thường, mà người vợ vì bận việc phải đi xa thôi. Ma-ri chắc Thừa biết mình lấy hàn Xương, nên chẳng bao giờ hắn than thở với Thừa là vì sinh kế, bắt buộc hắn phải bạc tình. Thừa cũng vậy. Hắn biết Ma-ri lấy hàn Xương, nên chẳng hỏi thăm Ma-ri bây giờ sống ra sao. Hai người cứ tự nhiên như không. Thừa như người chủ nhà cho Ma-ri thuê chỗ để nuôi con, coi Ma-ri như người khách đến chơi. Ma-ri có tiền thuê Thừa giữ con hộ, nên cũng cho mình là chủ nhà, và coi Thừa như thằng vú em. Lắm lúc, thấy lũ trẻ bẩn thỉu, Ma-ri cũng gắt Thừa.
Bởi thế, hai người tuy là vợ chồng, nhưng không ăn ở với nhau như vợ chồng, song vẫn là vợ chồng.
Cho nên, từ hôm hàn Xương chết, thỉnh thoảng Thừa có mang con lên chơi trên Cẩu Rồng, ở đó một vài hôm rồi về, Ma-ri tiếp Thừa tự nhiên như thường, chẳng khác gì lúc Ma-ri về Hà Nội Thừa tiếp hắn vậy.
Nhưng từ ngày một nửa đồn điền về hẳn tay Ma-ri, thì một hôm, Thừa mang cả đồ đạc lẫn con cái lên Cẩu Rồng. Ma-ri chẳng hỏi xem Thừa định ở đến bao giờ. Thấy Thừa ở một tuần, hai tuần, Ma-ri cũng chẳng giục Thừa về Hà Nội. Thừa định ở hẳn đây hay sao, hắn cũng không biết. Hắn cho là bây giờ, Thừa không có công việc, thì phải sống bám vào hắn. Nhưng không phải. Hắn thấy Thừa có khối tiền, mỗi tháng lại đưa hắn mười lăm đồng. Tuy Thừa không nói là để làm gì, nhưng hắn đoán có lẽ Thừa đưa tiền ăn cơm trọ. Nhưng sự thực, thì hình như đoán không đúng. Thừa ở đây, không có vẻ gì là người ăn trọ. Thừa sai bảo đầy tớ, mày tao với họ, rõ là giọng nói của chủ nhà. Thỉnh thoảng, Thừa thấy đồ đạc có cái nào long gãy tường vách có chỗ nào sứt lở, thì tự tay hắn chữa, cặm cụi suốt ngày. Ai dám bảo những thú ấy, Thừa không coi như của hắn. Và nếu biết việc này, thì phải nói Thừa đúng là chủ nhà thật, đến Ma-ri cũng không cãi nổi: là đến Cẩu Rồng, nhiều đêm, Thừa vẫn ngủ chung với Ma-ri.
Vậy thì Thừa và Ma-ri là vợ chồng, một thời gian không ăn ở với nhau như vợ chồng, nhưng bây giờ tuy hiểu ngầm hai người không là vợ chồng, song, vẫn là vợ chồng.
Vì Ma-ri là vợ hàn Xương, nên được gọi là bà hàn. Việc này dĩ nhiên thôi. Nhưng từ ngày Thừa lên ở hẳn Cẩu Rồng với Ma-ri, là chồng Ma-ri, Thừa cũng bị gọi là ông hàn, mới đau chứ!
Trước hết, một số bạn bè của Thừa muốn bỡn Thừa, gọi thế để nhạo anh chàng ăn nhờ vợ. Nhưng rồi cả người ngoài, họ không biết gọi Thừa là gì cho dễ hiểu, nên cũng cứ hai tiếng ông hàn ấy mà gọi người chồng của bà hàn. Rồi họ gọi luôn thành quen miệng. Mới đầu, để phân biệt với hàn Xương, họ gọi Thừa là ông hàn Mới. Có người ranh mãnh gọi là ông hàn Hai. Ý nói là chồng lẽ của bà hàn. Những tiếng này đến tai Ma-ri, Ma-ri mới bảo họ tên thật của ông hàn bây giờ là Thừa. Họ gọi là ông hàn Thừa.
Nhưng Thừa vẫn thấy cái tên thật của hắn lắp vào đuôi tiếng hàn là không ổn. Đối với Ma-ri, nó nhắc cho Ma-ri khinh hắn là ăn bám. Vì vậy, hắn bắt buộc phải tiết lộ cho Ma-ri biết việc hắn buôn đồ quốc cấm, tức là thuốc phiện lậu. Hắn có ít tiền, gửi ông Hoài Tân Tử buôn thứ ấy, để lấy lãi tháng. Còn đối với mọi người, nhất là đối với điền tốt, cái tên ông hàn Thừa có vẻ chế riễu hắn là vô tài, phải nhờ vợ mới được cả lợi thừa lẫn danh thừa. Hắn ra lệnh cấm gọi thế. Vả sợ dân nhớ chủ cũ mà bất phục mình chăng, nên hắn lòe họ. Để mọi người tưởng hắn là dân Tây, có thế lực to, Thừa lấy cái tên Tây cũ là An-be hắn bắt người ta gọi hắn là ông An-be, ông hàn An-be hoặc ông hàn An-be Thừa.
Song trong thâm tâm, tuy cái tên ông hàn không làm Thừa thú lắm - vì hắn phải tự tay tạo nên giàu có và danh giá - mà thỉnh thoảng hắn cũng thích. Hắn nghe nó quen tai rồi.
Và lâu dần, người ta gọi hắn là ông hàn cũng quen miệng quá, chẳng ai buồn tìm hiểu nguyên do vì đâu hắn được cái chức ấy. Thời này, ông hàn nhung nhúc như lợn con. Có ai rỗi hơi để ý đến cái vặt!
* * *
Sách có chữ “quan tân, chế độ tân”. Mới đầu, điền tốt ở Cẩu Rồng thấy đổi chủ thì đồ rằng thế nào cũng có thay về chính sách. Coi chừng, chủ mới sẽ nghiệt ngã hơn chủ cũ, và mình sẽ khó làm ăn chăng.
Nhưng mà không. Mọi người nhận thấy chủ mới, cả ông lẫn bà hình như không lấy việc kinh doanh đồn điền là việc chính. Ông bà có vẻ dễ dãi, nhiều khi như khờ khạo là khác nữa. Ai nộp thóc tốt đã đành, ai nộp thóc xấu cũng được nhận. Ai nộp đủ thóc đã đành, ai nộp thiếu thóc cũng được nhận. Chẳng ai phải mắng, phải chửi, phải đòn, phải đánh bao giờ. Ai có cơ lỡ đến vay tiền, vay thóc, có thì ông bà giúp. Không có, thì ông bà cũng tươi cười mà hẹn một ngày khác.
Dạo ấy, dân Cẩu Rồng thật là dễ thở. Họ mong ông bà chủ luôn luôn ở đồn điền để họ có chỗ nhờ vả, nương tựa. Nhưng ông bà chủ lại không lấy Cẩu Rồng làm chỗ ở chính. Ông bà hay ở Hà Nội kia. Mỗi tháng, ông bà chỉ có mặt tại đồn điền độ mươi ngày. Cho nên, những ngày ông bà về, thì ai nấy rất mừng rỡ.
Nhưng cái không khí dễ chịu này chỉ kéo dài được có hai năm. Nó bắt đầu thay đổi từ ngày ông bà chủ ở hẳn Cẩu Rồng.
Trước hết là một vài tiếng gọi. Không ai được gọi là ông chủ bà chủ, mà phải kêu là quan ông, quan bà. Nói với ông chủ bà chủ thì không được dùng tiếng thưa ông, thưa bà, mà phải trình quan. Quan bảo thì gọi là quan truyền. Quan ngủ thì gọi là quan giấc. Quan ốm thì gọi là quan se mình. Nhà ở của quan phải gọi là dinh, dinh quan Hàn.
Trong dinh quan Hàn vẫn còn ba cái nhà gạch cũ, nhưng sửa sang dần dần cho đẹp thêm. Gian giữa ở dinh chính là chỗ tiếp khách, thì làm thêm trần. Trên tường quét vôi kẻ dọc, treo chiếc hoành phi và đôi câu đối sơn son thếp vàng. Giữa đôi câu đối là tủ chè gỗ trắc khảm. Trên tủ đặt giá gương, lư đồng và độc bình. Trong tủ bày những đĩa bát chén cổ. Trước tủ, kê một sập gụ chân quỳ, lúc nào cũng trải chiếc chiếu hoa. Trên chiếu là cái kỷ thấp, mặt đá. Hai bên kỷ, trải hai chiếc đệm gấm. Phía ngoài là một bộ bàn tròn và bốn chiếc ghế bành bằng gụ trạm. Sát với cái bàn, là một chiếc ống nhổ đồng nhện tam khí. Trước bộ bàn ghế khách, là một cái giá cắm đồ lộ bộ bằng đồng, cán gụ, xòe ra như nan quạt.
Buồng này, những buổi tối không có khách thì không thắp đèn, nhưng có khách thì một ngọn đèn măng sông đốt lên, sáng trưng như Hà Nội.
Sở dĩ trước kia ông bà Hàn không ở luôn tại Cẩu Rồng, chỉ vì bà không chịu được ánh sáng dầu hỏa, và nhất là ngọn lửa đèn dầu hỏa. Ngọn lửa đèn dầu hỏa chiếu ra một thứ ánh sáng lờ mờ, đo đỏ. Bà tưởng nó như cái ma trơi ở ngoài đồng. Nhiều đêm, sực thức dậy, bà nhìn thấy ngọn lửa đèn hoa kỳ giong đêm mà giật nảy mình. Bà kêu thét lên. Những lần như vậy, bà bàng hoàng đến nửa giờ. Rồi từ đó đến sáng, bà không ngủ được nữa. Bà cứ nghĩ lửa đèn như con mắt ma, con mắt của người chết, oan hồn của ông Xương về hành hạ bà. Do bà kém ngủ, bà sinh ra kém ăn, rồi lúc nào cũng thẫn thờ như người có bệnh. Sở dĩ bà như người có bệnh, vì bà là đàn bà, yếu bóng vía. Nhưng bà lại không có bệnh gì, vì bà có lòng tự tin rất mạnh. Bà tin rằng bà là Tây lai, thì ma An-nam không làm nổi bà. Bởi vì nước An-nam còn bị nước Tây cai trị, thì An-nam không hại được Tây. Song, nói cho cùng, dù Tây hay An-nam thì cũng là người. Mà người thì có lương tâm. Cho nên dù ít hay nhiều lương tâm, ai cũng có lúc phải nghĩ lại những việc mình làm, để hối hận hay để hãnh diện. Cho nên nhiều khi Ma-ri nghĩ đến việc mình giết hàn Xương. Và chính vì vậy, mà mấy năm đầu, hắn khuyên Thừa nên ăn ở dễ dãi với điền tốt để chuộc lại tội của hắn. Hắn cho rằng nếu những người sống quanh hắn quý mến hắn, thì dù người chết có thù hằn hắn mấy, cũng không thể làm cho hắn buồn phiền. Nhưng bởi hắn không thể không buồn phiền, cho nên hắn ít dám ở Cẩu Rồng, là nơi nó luôn luôn nhắc nhở vào óc hắn cái hình ảnh của Xương bị hắn làm cho yêu mê quá đỗi, đến nỗi rạc ra mà chết.
Thừa cố tìm những lý luận tựa vào khoa học để giảng cho Ma-ri chớ tin rằng người đã chết nhưng linh hồn còn sống. Một mặt, hắn chiều ý Ma-ri, cho Ma-ri đi lễ các đền, các phủ để giải oan cho Xương. Một mặt, hắn thải tất cả các đồ đạc cũ ở trong nhà, để sắm toàn những thứ mới cho khác hẳn trước. Nhưng Ma-ri cũng không thấy yên. Ngủ độ dăm tối ở Cẩu Rồng không thấy gì, nhưng đến tối thứ sáu, thì hắn lại kêu rú lên. Có lần hắn nói như mê sảng:
- Em lạy mình! Em xin theo mình.
Thật ra, Thừa thấy Ma-ri như vậy, thì cũng lo. Không phải hắn lo Ma-ri chết, thì hắn góa vợ, nhưng hắn lo Ma-ri chết, thì hắn mất đồn điền. Vì đồn điền này tuy là của Ma-ri, nhưng hắn lợi dụng được để kinh doanh những việc lớn.
Vì hắn biết đã là đàn bà thì hay tin nhảm, cho nên hắn mặc cho Ma-ri tha hồ đi lễ, đi bái, tha hồ xem bói, xem số. Và cuối cùng, hắn chiều Ma-ri, xây một cái miếu ở gần cổng, để thờ Xương.
Cái miếu này, dân đồn điền gọi một cách tự nhiên là miếu ông hàn Cả.
Từ ngày có miếu, Ma-ri được yên lòng. Hắn chăm nhang khói. Hắn khuyên mọi người cũng năng kêu cầu ông hàn Cả, vì Ngài rất thiêng.
Quan ông, quan bà về ở hẳn Cẩu Rồng, thì chính sách đối với điền tốt một ngày một nghiệt ngã hơn. Thóc nộp phải phơi khô quạt sạch. Ai thiếu một đấu thì ăn hàng chục roi. Ai vay tiền thì phải có vật gì bảo đảm. Ít lâu nay, lại sinh ra cái lệ bảo đảm bằng bài vị thờ ông bà ông vải. Bài vị ấy gọi là cụ. Nợ trả hết thì cụ được chuộc về. Nợ còn thiếu thì cụ phải nằm ở gậm giường trong dinh. Quan gọi việc này là giam cụ, cho người nợ phải đau xót. Ai nợ nhiều, thì vừa phải giam cụ, vừa phải đưa con gái đến ở không công. Nhưng đó là nếu họ may mắn có con gái xinh xắn. Nếu không, quan đã có cách đòi.
Cách đòi của quan là thuê bà Ĩnh con từ Hà Nội về làm nặc nô. Đến nhà người có nợ, nặc nô chửi sáng, chửi trưa, chửi đêm cho đến sáng.
Nhưng hơn một năm nay, quan mới triệu ở nhà quê lên một ông chú họ, trông mặt mũi, râu ria dữ như ông long thần. Tức là ông hai Điều, ngày trước đóng vai cụ Điều ở Phòng thuốc nhà giàu. Tay này thì ác không chê được. Nó làm khách nợ thì thế giới vô địch. Một tay nó cầm cái gậy lớn. Một tay nó xách cái khăn vải, gói đủ cả dọc tẩu, lọ, tiêm, móc và đèn. Nó đến nhà nào, chó ra sủa, nó chỉ phang gọn cho một gậy - mà nó phang thế nào cũng trúng vào đầu - thế là con vật chỉ ẳng được một tiếng, là ngã quay lơ ra. Chó chết, chủ phải mổ để thết khách. Nếu nhà không có chó, thì nó quật chó hàng xóm. Để chủ phải đền. Hàng xóm không có chó, thì nó bắt chủ phải giết gà cung phụng nó. Cố nhiên, gà hay chó chỉ là thức để nhắm. Phải có một chai rượu bổ. Chén xong, nó ngả bàn đèn. Chủ đã phải mua rượu, còn phải biện thuốc phiện. Nó ở lì đấy, cho đến khi chủ trả xong nợ. Nếu không trả được, thì nó chửi, nó đánh, và nó nhảy lên bàn thờ, để ỉa một bãi thật lớn. Rồi nó mới đi. Hình như trời sinh ra nó có tài ỉa, để làm nghề khách nợ. Trước mặt mọi người nhìn chòng chọc vào nó, khóc lóc lạy van nó, mà nó vẫn ỉa được như thường. Nó vừa ỉa ở nhà này xong, đến nhà khác, nó lại phịch ngay được một bãi nữa. Mà cũng không kém giá trị về số lượng.
Nhưng điều tốt chưa sợ hai Điều bằng sợ một người mà họ thấy gọi là ông đội. Bởi vì chỉ những người có nợ mới bị hai Điều đến làm nhục. Khi trả xong, họ hết lý do để sợ. Còn cái ông đội này thì thật là một hung thần thường xuyên đối với tất cả mọi người.
Ông đội đây, tên tục là xừ Tuynh.
Ta còn nhớ xừ Tuynh là một người cai thầu của ông Lăng, hồi chiến tranh, đăng cai chào mào đi Tây, được thưởng hai chiếc mề đay. Ta cũng còn nhớ rằng xừ Tuynh rất mê văn của Thừa đăng ở Đông Dương tạp chí, trong khi Thừa nói phét với ông Lăng là mình chỉ viết báo Nam Phong. Cái lần Thừa thầu làm những gian hàng cho cuộc chợ phiên cứu tế nạn nhân bị lụt bên Pháp, thì xừ Tuynh được Thừa vời đến để giúp việc.
Từ đó, mỗi khi sửa chữa những nhà mới tậu ở Hà Nội, hoặc xây dựng trong dinh ở Cẩu Rồng, như làm miếu thờ hàn Xương, như làm bể bơi cho lũ con v.v… Thừa lại nhờ đến xừ Tuynh. Cho nên xừ Tuynh năng đi lại với Thừa.
Xừ Tuynh là một người béo tốt, khỏe mạnh, ăn mặc lúc nào cũng diêm dúa. Đầu chải bóng mượt. Cằm cạo nhẵn thín. Mùa đông, nếu chưa có tiền chuộc bộ quần áo rét ở Vạn Bảo về, thì xừ mặc ka ki vàng. Khi ấy, xừ nói:
- Mình quen khí hậu bên Tây rồi. Như hôm nay, đã lấy gì làm rét. Chỉ như chiều mùa hè ở Pa-ri [84] thôi!
Nhưng đến mùa hạ, có những ngày nực chảy mỡ xừ lại đóng bộ len vào người. Xừ bảo:
- Những người Tây sang trọng, quanh năm mặc đồ tờ-rô [85].
Thừa coi xừ Tuynh như một chàng huênh hoang. Nhưng Ma-ri thấy xừ có một cái biệt tài rất cần cho hắn, cho nên hắn nhất định khuyên chồng xếp cho xừ chức quản lý để xừ về ở luôn tại đồn điền.
Vốn là Ma-ri hay đau mình mẩy. Nhất là những hôm trở trời, thì hắn không chịu được. Hắn dùng đã lắm thuốc, lại mua các thứ rượu chổi, bắt đội con gái xoa, nắn, bóp, đấm các bắp thịt, các khớp xương. Hắn lại uống khối cao hổ cốt. Nhưng chẳng ăn thua gì. Đến ngày ở Hà Nội xuất hiện cái anh chàng mù, cứ tối đến là tay cầm cái gậy để dò đường, tay cầm cái nhạc để rung, và miệng rao “tẩm quất”, thì mỗi lần khí hậu thay đổi, Ma-ri lại bắt Thừa đánh ô tô về Hà Nội, để nhờ anh tẩm quất, tẩm quật cho. Chà chà! Giãn cả gân cả cốt!
Một hôm, nhân nói chuyện với xừ Tuynh, Ma-ri phàn nàn về bệnh của mình, thì xừ Tuynh nói:
- Ấy, bà chả bảo tôi. Hồi ở bên ấy, tôi học được môn tẩm quất kiểu Hoa Kỳ, đã chữa cho khối quan tư, quan năm, nên mới được cái mề-đay này đấy.
Ma-ri thử tài Tuynh. Ngay tối hôm ấy, nhân tiện còn ở Hà Nội, tuy không đau mình đau mẩy, hắn cũng mời xừ đến tẩm quất.
Thì ra thích thật!
Ma-ri kể lại với Thừa:
- Trước hết là quần áo lão ta sạch, người lão ta thơm tho. Chứ không rách rưới, hôi hám, nghĩ mà ghê tởm như cái thằng tẩm quất mù. Sau nữa là lão ta nghề lắm. Tay nắn bóp đâu là chỗ ấy kêu răng rắc.
Lần sau đi Hà Nội chơi, Ma-ri lại triệu xừ Tuynh đến.
Trước khi thi thố tài năng, xừ hãy kể cho Ma-ri nghe những chuyện bên mẫu quốc. Bọn vợ góa của lính Tây chết trận chằm vặp lính thợ An-nam thế nào. Cảnh trai gái họ văn minh với nhau ra sao. Xừ chê là đầm ngu và nhát, ngủ với anh đi-den [86] cứ sợ rồi đẻ ra con răng đen. Xừ nói rất có duyên. Nhiều chuyện mà xừ khoe là của xừ, nghe như là xừ bịa. Ví dụ cái lần xừ cự cả một ông quan năm, xừ nói cứ ráo hoảnh y như thật. Mãi xừ mới tẩm quất. Lần này, nhiều lúc, chẳng biết xừ nắn bóp chỗ nào, mà Ma-ri cứ thít lên, thích quá, sằng sặc cười.
Từ đó, Ma-ri về Hà Nội luôn để xừ Tuynh tẩm quất cho luôn. Hắn sắm biếu xừ quần áo, giày mũ, để mà xừ thêm bảnh chọe. Rồi hắn bắt Thừa cho xừ làm quản lý đồn điền. Hắn dịu dàng dỗ dành Thừa:
- Để những hôm trái nắng trở trời, mình mẩy moa ê ẩm, thì moa có ngay lúy tẩm quất cho, khỏi phải đi tận Hà Nội. Vừa tốn kém, vừa mệt nhọc.
Thừa cho đó là một lý do đúng, vả vì bận nhiều việc khác, cho nên nay Thừa thấy có người nhanh nhẹn, thành thạo lại oai vệ, vì có hai cái mề đay nhà binh, xứng đáng thay mình trông nom ruộng nương, đối phó với điền tốt, thì thật là tốt quá. Ít lâu nay, Thừa vẫn ức về nỗi mỗi khi cần xuống Hà Nội, Ma-ri lại không thích đi xe lửa, cứ bắt hắn lái ô tô cho. Như vậy, hắn mất việc, mà đêm ấy, vì có Hoạn Thư, hắn cứ ngơm ngớp, không dám tung tẩy một mình. Hoặc nếu có thậm thụt chơi bời ở đâu, hắn cũng không dám hưởng đến mãn canh mãn vở. Mất cả tự do trong những đêm thỉnh thoảng mới về Hà thành hoa lệ!
Vì những lẽ ấy, Thừa đồng ý ngay với Ma-ri, là cho xừ Tuynh lên Cẩu Rồng. Ma-ri không gọi tên tục của xừ Tuynh nữa, mà thăng luôn cho anh cai chào mào một trật, là ông đội. Y như trong huyện, có quan tri thì có đội lệ vậy.
Từ ngày lên đồn điền làm quản lý, ông đội còn tập cầm lái ô tô, để thỉnh thoảng lái cho bà hàn về Hà Nội, khỏi bận đến quan ông. Rồi chiều ý muốn của bà, hắn cũng dạy bà bẻ lái ô tô, rồi đến cầm yên cho bà tập xe đạp.
Về công việc làm quản lý, thì xừ Tuynh thật là một người tận tụy. Dù ban tối, phải chạy mửa mật theo xe đạp bà hàn, và dù sau đó, còn tẩm quất cho bà, có lần đến lâu, nhưng hôm sau, thế nào xừ cũng dậy sớm. Xừ bịt đôi ghệt vải quanh bọng chân, đội cái mũ vải vàng rộng vành lên đầu, và cầm cái ba-toong song, to vừa bằng cổ tay. Thế là xừ đi, cho đến giữa trưa mới về dinh, ăn cơm sáng.
Xừ rất chăm đi thăm đồn điền. Để cho oai, xừ gọi là đi khám. Vào nhà nào, xừ cũng ngắm từng người, nhìn từng đồ đạc của người ta. Ngắm từng người, cố nhiên là để xem vợ người ấy có đẹp không, con gái người ấy có xinh không. Nhưng nhìn từng đồ đạc, thì xừ ghi vào sổ để rồi quy ra tiền, xem nhà ai gia sản đáng bao nhiêu. Để sau này, hễ ai nộp thiếu thóc thì xừ biết là người ấy nói dối, có bị tịch thu cũng không thể kêu oan được. Chính xừ hiến cho Ma-ri cái sáng kiến bắt giam bài vị ông bà cha mẹ người ta. Xừ hỏi dò lý lịch từng gia đình, và xem xét tính nết từng người, ai hiền lành, ai bướng bỉnh, ai nhút nhát, ai liều lĩnh, để tùy từng mặt mà đối xử. Nhất là từ sau ngày khởi nghĩa Yên Bái, sợ rằng điền tốt có người là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, hay sợ rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng lan vào, hoặc lẩn lút trong đồn điền, hay cũng sợ rằng điền tốt chứa chấp Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thừa bảo xừ Tuynh phải canh phòng cho thật nghiêm ngặt.
Đối với đàn bà con gái hơi có tí nhan sắc, xừ Tuynh ăn nói dịu dàng. Xừ hay nhân lúc cha mẹ, chồng con người ta vắng nhà, để đến chơi. Xừ nói thao thao bất tuyệt, khoe giàu, khoe sang, khoe oai, khoe khỏe. Xừ bảo:
- Tôi ở bên Tây, nên học được cái thói tốt, là trọng đầm.
Thật thế, chẳng biết xừ trọng đầm thực hay là có ý gì.
Còn đối với bất cứ ai xừ cũng khinh. Xừ đánh, xừ chửi tuốt. Xừ hách với người làm trong dinh đã đành, xừ hách cả với người lĩnh canh. Ruộng người ta lĩnh canh, đáng lẽ người ta làm thế nào cho có đủ thóc để nộp thì làm, nhưng hễ ông đội đi khám, thấy mảnh nào làm cỏ chưa kỹ, hoặc mảnh nào chưa có đủ nước, thế là ông cũng phang người ta hàng chục ba-toong:
- Tiên sư bố mày! Lười như vậy thì để nộp thóc xấu à?
Ông đội mà gặp anh chị nào vừa làm việc, vừa đú đởn với nhau, ông cũng phát cáu. Ông đánh anh con trai một trận như đánh đòn ghen, rồi mới khuỳnh hai tay vào háng, hất hàm, vấn tội:
- Tổ sư mày! Trông thấy ông đến mà không chào à?
Cho nên dân đồn điền thấy bóng ông đội đến, họ len lét như rắn mồng năm.
Đến vụ gặt, người ta càng lo sợ.
Ai cấy rẽ đầu bờ, thì ông đội tranh phần tốt. Ai cấy chia thì ông đội chê ủng chê eo là thóc xấu, phơi quạt chưa kỹ. Bất cứ lý do gì cũng làm cho hắn đánh chửi vô hồi. Còn như ai nộp thiếu thóc, ai không trả hết nợ cũ, thôi thì sống cũng thành tật với hắn. Bất độc bất anh hùng, hắn coi cái ba-toong là cái làm cho hắn thêm oai. Và khi hắn ở nhà nào ra mà không thấy còn tiếng kêu, tiếng khóc, hắn cho là hắn ra oai chưa đủ.
Từ ngày có xừ Tuynh làm quản lý, Thừa được nhẹ mình. Ban đêm, quan hàn được ngủ yên hơn trước. Vì quanh dinh, xừ Tuynh bắt rào giậu cho thật kín đáo, lại mua được năm con chó tây rất dữ để giữ nhà. Thế mà suốt năm canh, ông đội còn bắt người cắt lượt nhau gác, cứ mười lăm phút, lại điểm mõ, để báo hiệu rằng mình thức. Thừa còn cẩn thận hơn nữa. Hắn sắm một khẩu súng, lúc nào cũng nạp sẵn đạn, để ngang ở đầu giường.
 
Chú thích:
83)
84)
85)
86)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
III
HÀNG VỀ  
 
Thường những người quen làm việc lớn, đến khi gặp việc nhỏ phải giải quyết, thì lại bất lực.Ví dụ như Ma-ri trước kia, nghĩ cách giết hàn Xương để chiếm đồn điền thì dễ, nhưng bây giờ, xử việc con trai định bài bây với đầy tớ gái, thì lại lúng túng. Muốn cho yên chuyện, hắn vừa làm ra vẻ dễ dãi mà đánh trống lảng, vừa dùng uy quyền của người trên để mắng át, khiến người dưới phải mất tinh thần.
Song, thắng nổi bọn đầy tớ gái bằng cách bắt nạt như vậy, tuy khủng bố được họ, nhưng Ma-ri không khỏi không bực mình là kém, và bực con là hư. Thời buổi bây giờ trẻ con nó tinh quái hơn cha mẹ nó ngày trước. Nghĩ vậy, Ma-ri nhớ lại hồi hắn bằng tuổi thằng Pôn bây giờ. Quả tình là trông thấy con trai thì hắn cũng thích. Nhưng cái lần đầu tiên hắn bị ông hai Sơ, là em ông ký Bưởi, lùa hắn vào buồng mại bản tàu Phi Phượng rồi đóng ập cửa lại, thì hắn sợ, sợ quá. Năm ấy, hắn mười lăm tuổi, đã có trí khôn để hiểu rằng ông ta sắp làm gì hắn đây, nhưng hắn cứ ghê ghê, người run bắn lên, và miệng kêu Giê-su ma, Giê-su ma!
Thế mà thằng Pôn thì gớm thế đấy. Tuổi xem bói, nó mười bốn, nhưng tuổi tây nó mới mười ba. Mà tuổi học, vì khai sinh lậu cho nó theo kịp với lớp vừa trình độ với nó, thì nó lại chỉ mới mười hai. Những tây con, đầm con cùng lớp với nó, cũng chỉ bằng tuổi nó, hoặc ít hơn, lên mười, lên chín cả thôi. Vậy không rõ ai dạy nó mà nó biết sớm thế. Hắn cười khẩy lên thành tiếng.
Thấy bọn đầy tớ gái ngơ ngác nhìn mình, Ma-ri cũng ngạc nhiên nhìn lại họ. Hắn sực khám phá ra thêm một bí mật nữa ở những người đương tuổi hơ hớ này, là không phải họ chỉ gợi cho chồng hắn, cho xừ Tuynh thèm muốn, mà còn như những mồi ngon cho mấy thằng con trai tinh quái của hắn. Đối với Thừa, đối với xừ Tuynh, hắn có thể ghen tuông để ngăn giữ nổi. Nhưng đối với lũ con, thì hắn khuyên bảo chúng nó thế nào cho chúng nó khỏi dại dột?
Chợt nghĩ ra một ý, hắn gọi:
- Huệ! Đi gọi cho tao cụ quản.
Quản là tiếng nói ngắn cái chức quản gia. Chức quản gia này, Thừa phong cho lão hai Điều từ ngày đồn điền có thêm xừ Tuynh đến nhậm chức là ông đội. Dinh quan có ông đội, lại có cụ quản, thì tự nhiên địa vị của quan được nâng cao. Cụ quản to hơn ông đội, vì là chú của quan. Song, tuy là quản, là đội, mà mỗi người một việc, ông đội trông nom ruộng nương. Cụ quản săn sóc việc nhà. Không ai dưới quyền ai.
Ngoài cái nhiệm vụ chính là quản cái gia đình này, cắt đặt người ăn người làm từ việc nhỏ đến việc to, hai Điều còn được quan sai thêm một việc nữa mà hắn rất thích - Vì hắn rất thạo. Và làm việc ấy hắn lại phát tài. Là mỗi khi quan có khách đến đánh xóc đĩa, thì hai Điều ngồi xóc cái. Lão già xóc rất khỏe và rất tài. Hắn cứ ngồi xếp bằng tròn ở một chỗ, suốt đêm, mà không mỏi, vẫn tỉnh táo như thường. Lúc nào bốn đồng tiền giấy rung trong bát cũng cứ rền như hồi chuông điện. Hắn biết khiến tiếng bạc đi rất bay bướm. Nó đương nhảy, hắn muốn ghìm nó đứng, là nó phải đứng. Rồi tùy đấy, hắn muốn nó rệp, hay khuôn, là do mức tay của hắn rung ngắn, dài, mạnh, khẽ thế nào đó, duy chỉ hắn biết. Còn người ngoài đố ai đoán ra. Cho nên, ai thông lưng với hắn, đãi hắn nhiều tiền, thì hắn cho ám hiệu mà đánh, chẵn hay lẻ, mười tiếng thế nào cũng đậu đến bảy tám.
Lão lại nhanh nữa. Ngần ấy tuổi đầu mà rất tinh. Bên chẵn đánh bao nhiêu, bên lẻ đánh bao nhiêu, trong khi mấy cô gái non hồ lỳ còn lẩm nhẩm, tính mãi không ra, thì chỉ lướt mắt một cái, là hắn biết ngay đâu nặng, đâu nhẹ để bán.
Bây giờ, hai Điều già đi và xấu đi nhiều. Hai gò má hắn dô ra. Vì phải thức đêm luôn, râu tóc hắn bạc hết, và rụng mất đến quá nửa. Hắn không còn cái dáng điệu quan tại chức bệ vệ thuở xưa. Trái lại, nhiều lúc xun xoe trước mặt chủ, hắn cố còng cái lưng chưa gù của hắn xuống, cho ra vẻ yếu đuối, mà vâng vâng dạ dạ, thì trông hắn lại ra quan thái sư rạp tuồng. Rõ là tay chỉ sống bằng nịnh hót.
Hai Điều đến buồng Ma-ri thì tụt guốc ở ngoài cửa. Hắn gõ cánh ba tiếng mới rón rén vào. Bà hàn giơ tay mời:
- Ông ngồi. Tôi có việc khó nghĩ quá, ông ạ.
Hai Điều chưa biết việc khó nghĩ gì, nhưng đã làm ra vẻ buồn hộ chủ. Hắn cau mặt, thở dài, rồi ngồi xổm xuống đất:
- Có việc gì, bà lớn cứ dạy.
- Con Sen ấy, ông ạ, nó vừa mách tôi là cháu Pôn định hiếp nó.
Hai Điều nhăn nhó, vội vàng xua tay:
- Vô lý! Vô lý! Con ranh con chỉ là điêu đấy. Để tôi cho nó một trận.
Ma-ri sung sướng, ngồi nhổm dậy, rồi nhìn ba người đầy tớ gái:
- Đấy nhé. Tao phân vua với chúng mày nhé. Chúng mày nghe rõ chưa? Tao mà nói câu ấy, chúng mày lại bảo là tao bênh cậu.
Hai Điều nói:
- Không. Các cậu các cô nhà này thiệt ngoan nết. Cái việc ấy, nhất định là không có. Cứ bảo An-nam học chung với Tây con đầm con, thì quen thói tự do, dễ sinh hư. Nhưng tôi tưởng hãy được hư như họ. Hư mà người ta lấy nổi nước mình?
Ma-ri gật đầu:
- Ông làm chứng hộ các cháu. Kẻo quan không biết, lại mắng oan các cháu.
Rồi hắn dịu dàng:
- Nhưng, ông ạ, tôi cũng cứ nhờ ông một việc, là ông để ý dò xét các cháu hộ, nhất là cháu Pôn. Hễ các cháu nghịch ngợm gì, thì ông khẽ lấy lời bảo ban các cháu. Tôi là mẹ các cháu, các cháu không sợ tôi bằng sợ quan nhà. Mà cái nghề trẻ con chúng nó thế, chẳng đứa nào sợ cha mẹ bằng sợ người ngoài.
- Vâng. Quan với bà lớn là bậc nhân đức, đối với người khác còn dễ dãi, huống hồ là đối với các con. Các cậu các cô học ở Hà Nội, họa hoằn có ngày nghỉ lễ, mới về một vài hôm, còn thì đến tận ba-căng[87] mới ở nhà lâu, quan với bà lớn nuông chiều là đáng lắm.
- Ấy đấy. Chính là tôi sợ các cháu được nuông chiều thì cháu Pôn dễ sinh hư, ông ạ.
Nói đoạn Ma-ri đuổi ba người đầy tớ gái ra ngoài, rồi thì thào với hai Điều:
- Chỗ trong nhà với nhau, tôi nói thật, ông ạ. Có lẽ đúng cháu Pôn nó thế đấy, ông ạ.
Hai Điều nhăn nhó, đáp bằng giọng cương quyết:
- Không đời nào! Con nhà nào hư thế nào, tôi không biết, chứ nhất định các cậu các cô nhà này không hư. Tôi nuôi cậu Pôn từ ngày chập chững. Tôi biết.
- Thế tôi giao trách nhiệm trông nom các cháu cho ông nhé.
- Vâng. Tôi xin nhận. Bà lớn mà thấy các cậu các cô hư, bà lớn cứ chém đầu tôi đi.
Ma-ri tủm tỉm, lại nằm xuống:
- Thế là tôi yên tâm.
Rồi hắn hỏi:
- Hay là lũ ranh con này nó gạ gẫm thằng bé, hở ông?
- Không. Chúng nó làm gì mà qua được cái mắt quản gia, thưa bà lớn? Ở nhà này, ai hơi có ý gì, chỉ thoáng một cái là tôi biết.
- Thế thì tốt lắm. Vậy tôi nhờ ông để mắt đến các cháu. Nhưng có gì, thì ông nói riêng với tôi, đừng trình quan nhé.
- Vâng. Tôi cũng xin để ý đến cả đội con gái nữa. Biết đâu là không như bà lớn vừa dạy, chúng nó lại không đầu têu?
Sực nhớ ra, Ma-ri với tay, đập vào vai hai Điều:
- À, ông ạ. Hình như đội Tuynh nó chấp chới con Sen phải không?
Lão già lắc đầu thật thong thả:
- Khôôông! Đội Tuynh thiệt đứng đắn.
Ma-ri sung sướng:
- Tôi sợ hắn ta không tốt, lại dạy các cháu tinh quái chăng?
- Khôôông! Đội Tuynh thiệt tốt.
Ma-ri hỏi lại:
- Đội Tuynh thiệt đứng đắn, thiệt tốt, hở ông?
- Vâng. Không thế, bà lớn cứ chém đầu tôi đi.
Ma-ri nghĩ ngợi:
- Tại tôi cứ thấy các cháu thích nghe chuyện hắn. Con Rô-da-lin lại hay đòi ngủ với chú đội. Một lần tôi hỏi tại sao nó không ngủ với các em, nhưng nó không nói.
Hai Điều cười:
- Cô mến ông đội.
Một lát hắn tiếp:
- Cô giống bà lớn.
Bất đồ, Ma-ri giật nảy mình, ngồi nhổm dậy, hỏi dồn:
- Thế nào? Cháu giống tôi thế nào?
Biết câu nịnh có thể bị hiểu sai, lão già vội vàng giải thích cái ý của mình:
- Cũng phúc hậu. Biết thương người. Đẹp cả người cả nết.
Ma-ri mỉm cười:
- À à à!
Sợ nói thêm nữa lỡ có điều gì hớ hênh, hai Điều đứng dậy:
- Bà lớn còn bảo gì nữa không ạ?
- Không. Chỉ nhờ ông trông nom các cháu khỏi nghịch ngợm thôi.
- Vâng. Xin tuân lệnh.
Rồi hai Điều thở dài, nói một mình để làm công làm cán:
- Chà! Trách nhiệm nặng nề lắm đây!
Ra đến cửa, hắn sực nhớ là chưa khoe một việc.
- À, thưa bà lớn, đêm nay hàng về.
Ma-ri gật đầu:
- Ừ, ông đã nói từ hôm qua. Ông gọi đủ người để chợt lúc nào hàng đến thì bốc ngay nhé.
- Bẩm đâu vào đấy cả rồi.
- Còn việc tiếp khách chiều và đêm?
- Bẩm cũng đâu vào đấy cả rồi.
- Thế thì tốt.
Được tiếng khen, hai Điều tủm tỉm ra cửa. Nhưng Ma-ri gọi lại:
- Này! Ông hai! Tôi sốt ruột lắm ông ạ, không biết đi chết mất xác ở đâu mà hôm nay chưa về. Hay lại xảy ra chuyện gì?
Hai Điều cười:
- Bây giờ trong nước thế là yên ắng rồi. Bọn phiến loạn bị bắt hết. Tên đầu đảng Nguyễn Thái Học nay mai cũng chết chém. Thế thì còn ai đứng lên mà tống tiền với cướp đường nữa. Việc gì bà lớn phải sốt ruột?
- Không. Tôi có sốt ruột vì thế đâu. Nhưng hàng về đến nơi, mà quan không có nhà, thì ai đi lĩnh, ai nhận tiền để chia cho người ta?
- Tôi chắc nội nhật hôm nay, sớm muộn thế nào quan cũng về.
- Tôi tính thế này. Nếu từ giờ đến hai giờ mà quan chưa về thì ông đi chuyến tàu ba rưỡi xuôi Hà Nội tìm quan cho tôi.
Hai Điều gãi râu:
- Vâng, nhưng biết quan có nhà hay không. Ngài bận nhiều việc lắm kia.
- Nếu không ở nhà, thì tôi bảo chỗ cho mà tìm.
Hai Điều lẩm nhẩm một mình, như tính toán việc, để khoe thêm một công nữa:
- Thế thì tôi phải bảo nó làm ngay mới kịp.
Ma-ri ngơ ngác hỏi:
- Bảo ai? Làm gì?
- À, trình bà lớn, tiệc xú đề đêm nay, tôi không dọn cháo gà, mà đổi món là cháo lòng. Vì gà độ này đắt mà nhà hai Đạt định mổ lợn để bán phiên chợ ngày mai.
- Lợn rẻ hơn gà à, hở ông?
- Không phải thế. Tôi đã báo nó để lại cho nhà bộ lòng, và bắt tính giá nội. Chi giá nội thì rẻ hơn mua gà nhiều.
- Thiệt cho nó, nhỉ ông nhỉ.
- Bà lớn cứ thương người! Kệ nó chứ. Trong dinh lấy thì bố bảo nó cũng chả dám xin như giá bán ở ngoài.
Ma-ri tủm tỉm, khen:
- Ông thật là biết thu và thu vén cho chủ.
Rồi hắn băn khoăn:
- Nhưng, ông ạ, mình cần lòng ngay đêm nay, mà sáng mai nó mới cần thịt để bán, thì nó mổ vào lúc nào?
- Đáng lẽ gà gáy nó mới mổ, thì tôi bảo nó mổ ngay tối nay. Nhưng vì bà lớn sai tôi đi Hà Nội, nên tôi bắt nó phải mổ xong trước lúc ba giờ, cho tôi trông thấy, khỏi lỡ việc của mình.
- Thế thì nó phải để thịt đến sáng mai, không khéo ôi hết mất.
Hai Điều tặc lưỡi:
- Kệ nó. Cốt chạy việc cho mình.
Ma-ri nhắc:
- Hay là, ông ạ, cũng là làm phúc, nhân tiện ta lấy hắn nửa con để làm cơm khách chiều nay. Thế là giúp cho nó khỏi phải để thịt ôi. Cũng chi cho nó giá nội thôi chứ gì?
Hai Điều chưa kịp đáp, bỗng có tiếng còi ô tô ở xe, Ma-ri sáng ngời đôi mắt:
- Tiếng còi xe nhà. Quan về!
Hai Điều cũng mừng:
- Vâng. Đúng, đúng. May cho tôi đỡ phải đi Hà Nội. Chẳng mà công việc ở nhà có sơ suất, bà lớn cứ nhè quản gia ra bà lớn quở.
Ma-ri tủm tỉm. Hắn vấn lại mái tóc, rồi gọi các con ra đứng ở hiên để chờ.
Ô tô rống lên những tiếng giác của con hươu, rồi chồm qua cổng, vào sân.
Hai Điều đã chực sẵn ở dưới thềm. Xe đỗ, hắn vái một cái, rồi mở cửa cho Thừa ra. Hắn gãi tai, nói:
- Trình ông lớn, có tin hàng về ạ.
Thừa bước xuống đất, khẽ gật đầu:
- Biết rồi.
Hắn nhìn Ma-ri, hơi nhếch mép cười để chào. Ba chiếc răng vàng óng ánh ở miệng hắn. Hắn đi tuột vào buồng và làm hiệu cho Ma-ri theo.
Hai Điều lấy phất trần, phủi bụi cho xe. Trong khi ấy, lũ con trèo vào trong, mở tung các gói đồ đạc của bố, còn để cả ở trên đệm.
Năm nay, Thừa đã đứng tuổi. Hắn để ria mép, uốn vểnh cong ở hai đầu. Những nếp nhăn trên trán và trên má như đánh dấu cái tật hay cáu bẳn, gắt gỏng của hắn. Nhưng hai má hắn phính những thịt. Thịt của hắn từ mười năm nay là tinh hoa của những chất lợn, chất bò, chất dê, chất chó, nó kết lại thành nạc, thành mỡ, tạo nên thân hình phì nộn của hắn.
Ma-ri cất mũ và cởi áo cho chồng. Tự tay hắn lại rót nước chè vào cốc và pha với đường, rồi đặt trên bàn.
Ta thấy Ma-ri có vẻ kính trọng, chiều chuộng và sợ sệt chồng hơn trước. Đúng thế. Bây giờ Ma-ri tuy chưa già, nhưng sức lực kém trước. Cả ngày chẳng buồn cất nhắc chân tay. Các thầy thuốc đã bắt mạch rất kỹ, cũng không tìm ra bệnh. Họ chỉ cắt thuốc bổ, nhất là bổ thận và bổ não. Vì họ thấy hắn đẻ tất cả tám lần, mà nuôi được có năm, thì chắc bộ máy sinh dục của hắn phải suy nhược và hắn phải cả nghĩ. Nhưng đó là các thầy chỉ căn cứ vào hiện tượng, mà không tìm đến bản chất của người uống thuốc. Ma-ri bây giờ là vợ tay có của. Bệnh của vợ những tay có của là bệnh lười, thích ăn bám vào chồng, cho nên hay phàn nàn là ốm để được vứt tiền vào túi mấy ông lang cưng nịnh mình là lắm bệnh tật, nghe cho sướng tai.
Vì nhan sắc có phần tàn tạ, không thể bay nhảy như xưa, cho nên Ma-ri đành bắt chước các cụ, mà lấy chồng thì nhờ chồng, để sống yên phận bên cạnh một người mà xung quanh công nhận là chồng hắn. Mọi việc công, việc tư, thôi thì phó mặc người ấy lo liệu. Thế là nhàn. Một cái đồn điền như để góp vốn, là đủ rồi. Và vợ chồng nay đã nên ông nọ bà kia, có người lại dùng cả tiếng cụ lớn để gọi nữa, thì dù to nhỏ, nhà này cũng là nhà quan. Vậy vợ chồng phải ăn ở thế nào cho người ngoài người ta trông vào cho hợp với lề thói của nhà quý phái chứ?
Từ ngày hắn gặp xừ Tuynh, hắn đỡ phải uống thuốc. Nhiều lúc, hắn lộ nguyên hình một người nhanh nhẹn, hoạt động, hay cười nhí nhảnh, hay nói ỡm ờ, hay cử chỉ nũng nịu. Bởi thế, muốn êm ấm cửa nhà, hắn càng làm ra vẻ kính trọng, chiều chuộng chồng, vì hắn sợ chồng thật.
Thừa cũng vậy. Mấy năm nay, tựa vào đồn điền của Ma-ri để sống, vừa được lợi, vừa được danh thật, nhưng vốn là con người hoạt động, hay xoay xỏa, hắn lợi dụng đất Cẩu Rồng để kinh doanh. Việc kinh doanh rất phát tài. Nhà ở Hà Nội, hắn đã tậu lớn nhỏ được đến chín chiếc. Cho nên hắn càng muốn ru cho Ma-ri ngủ yên, đừng cựa cạy để phá công việc làm ăn của hắn, như những lần trước.
Công cuộc làm ăn của hắn có hai khoản chính: một là trở nên giàu có. Hai là trở nên danh giá. Giàu có để ăn chơi cho sướng thân. Danh giá để thêm giàu có, ăn chơi càng sướng thân.
Hắn đương lao mình vào cuộc làm giàu, và trở nên giàu có. Nhưng hắn vẫn chưa thỏa mãn. Hắn còn muốn giàu có hơn nữa. Hắn vẫn bao kín ở Hà Nội một số nhân tình trẻ và đẹp, thay cho Ma-ri về già, vợ chồng đối với nhau đã chán chường. Những cô có mang với hắn, hoặc bị hắn cho là cũ, thì hắn bỏ, thay bằng cô khác, trẻ và đẹp hơn.
Bây giờ hắn chỉ chưa danh giá. Ta đã biết Thừa không thú với cái chức vu vơ và khá mỉa mai là ông hàn. Tuy hắn thấy rằng được gọi là quan, hắn chẳng bị ai truy nguyên xem tại làm sao, còn nhân thế mà được quen nhiều bạn quan trọng, kể cả bạn sang trọng của Ma-ri, có cả quan Tây, quan ta. Nhưng hắn cho là thế nào cũng phải tự tay tạo lấy một chức vị, thì đi đâu mới khỏi ngượng, và làm gì mới khỏi chịu lép vế.
Nhiều lúc nhớ lại quãng đời nghèo hèn ngày xưa, và so sánh với cảnh giàu sang bây giờ, hắn tự hào. Hắn tiếc rằng không gặp lại bọn xếp Thìn, Tu-nô ở sở xe lửa, không gặp lại gia đình Phúc Lâm, để cho họ nhìn thấy hắn, mà… lác mắt.
* * *
Buổi tối hôm ấy, trong dinh của ông hàn An-be, có đến hơn ba mươi người khách. Trong hơn ba mươi người này, đàn ông có, đàn bà có. Đàn ông thì người mặc ta, người mặc tây, người lại mặc dở ta dở tây, tức là quần ta, nhưng áo tây. Đàn bà thì người quần thâm, vấn khăn, người quần trắng, quấn tóc. Người chưa thân với chủ nhân thì gọi bằng cụ, bằng ông, bà. Người muốn thân hơn thì gọi bằng bác. Người đã thân rồi, thì gọi bằng anh, chị. Người quá thân thì gọi bằng toa, bằng mày, bằng thằng ông mãnh, con bà cô. Họ ở Hà Nội, ở Hải Phòng, hoặc ở các tỉnh khác về đây để cất hàng. Cho nên trong túi người nào cũng có bạc trăm, bạc nghìn. Họ làm đủ các nghề: nghề đầu cơ tích trữ, nghề cờ gian bạc lận, nghề chủ săm, nghề chủ tiệm hút, nghề lừa bịp, nghề ăn không ngồi rồi, bám vào vợ, và nghề đi chơi. Đi chơi mà gọi là nghề, vì nó làm nảy ra tiền. Ấy là những ông ấm con quan, có cụ thân danh vọng, thuở sinh thời đã dạy được một số học trò thành đạt, làm nên quan. Ông ấm vô công rồi nghề, nhưng muốn ăn tiêu phong lưu, nên hàng năm, đi chơi suốt lượt học trò cũ của bố. Ông thế huynh đến đâu cũng được chè chén, có khi được hát xướng thỏa thuê, ông ở chơi với quan dăm bữa nửa tháng. Ngày về, ông được quan tiễn tiền tàu rất hậu hĩ. Ông đi chơi một lượt từ đầu năm đến gần cuối năm, vừa hết bạn, thì ông có món tiền đem về cùng vợ con ăn tết vui vẻ. Rồi sang xuân, ông lại bắt đầu đi kinh lý như vậy. Cho đến ngày già yếu, không đi được nữa, ông mới thôi nghề đi chơi. Nếu thạo đời, ông nào biết đâu có cái lọ cổ, có cái nhà, có cái đồn điền, có con gái đẹp hoặc giàu để mách mối, thì còn kiếm thêm được lại nữa.
Những quan huyện bị cách, quan hàn quốc trái, quan nghị khóa trước, v.v… ấy, là những bạn cũ, bạn mới của Thừa và của Ma-ri. Trong số người cũ, ta nhận được hai cái mặt quen: cái mặt sát đến xương, vàng như nghệ, của bà nguyên vợ Tây Ĩnh con. Và cái mặt xanh nhợt như người ngã nước của ông nguyên văn sĩ Hoài Tân Tử. Ĩnh con về già, người còn toàn xương xẩu, nên mấy năm nay, đổi sang nghề làm chủ nhà thổ lậu. Nó nghiện thuốc phiện. Cạnh Thừa và Ma-ri đương quăng quắc như ngọn đèn pha ô tô, Ĩnh con tù mù như ngọn đèn đĩa hết dầu, hết bấc. Sau cái ngày nó cho Thừa mượn năm con em làm hồ lỳ và hàng sáo trong cuộc chợ phiên cứu tế dân bị lụt miền Nam nước Pháp, Ĩnh con đã nhìn thấy Thừa là một chỗ nương tựa vững chắc cho nó. Nó đi lại với Thừa như một thủ túc. Thấy tình cảnh nó túng khổ, thỉnh thoảng Thừa giúp nó bằng cách đến thưởng thức những cảnh mới hoặc cảnh sộp mà nó giới thiệu là mới, là sộp. Nếu lâu lâu không có gái quê, con sen, con mụ hoặc bà ký, bà phán cho Thừa giải trí, khỏi lo mắc bệnh, thì Thừa lại cưu mang nó bằng cách gọi nó về đồn điền làm nặc nô đòi nợ, cho nó kiếm cái ăn, cái hút. Vì vậy, Ĩnh con sợ Thừa len lét. Thấy cụ Điều là bậc chú mà cũng xưng hô với quan hàn là con, nên tuy nó là dì, nó cũng xưng hô với quan hàn là con. Mỗi bận hàng về, gom góp được đồng nào, nó cũng xin Thừa để cho chút ít, bán kiếm lợi. Đến đây, vào ngày này, nó còn một mục đích nữa, là hút thuốc phiện no nê không mất tiền, và nhân tiện, đi khách hoặc kiếm khách cho cái nhà thổ lậu của nó.
Còn nhà thơ Hoài Tân Tử vừa đen vừa cao thì không làm văn, viết báo nữa. Cho nên ngồi đâu, ông cũng chửi người viết báo nọ là dốt, chê bài thơ kia là tồi. Có ai khen cuốn sách nào hay, ông bảo chính tác giả đã nhờ ông phủ chính cho rất nhiều, nên mới được thế. Vì ông không muốn làm cùng nghề với bọn học trò của ông, chúng nó nhố nhăng, nên bây giờ làng văn mất giá trị, người viết báo bị quốc dân khinh rẻ. Ông từ bỏ cái nghề cầm bút bạc bẽo, không nuôi sống được người, để dùng trái tim khối óc chuyên vào việc kiếm ăn bằng cái nghề lắm lờ lãi này.
Cái nghề lắm lờ lãi này là nghề buôn thuốc phiện lậu.
Mấy năm nay, nếu nhựa tải về bằng đường thủy, trên sông Nhị, thì nơi đổ hàng là đồn điền Cẩu Rồng của hàn An-be Thừa. Khi hàng về đến bến, tất cả những người buôn đã trả tiền trước, phải ra đó mà nhận ngay. Nhận hàng xong, mỗi người đi một ngả. Họ rời sang một nơi mà họ hẹn sẵn khách của họ chờ ở đấy. Họ cũng phân phát hàng một cách chớp nhoáng. Rồi hàng ấy lại qua những người buôn mới để chớp nhoáng đến tay người tiêu thụ cuối cùng.
Mỗi chuyến thuốc phiện về, có đến bạc vạn.
Không phải một mình Thừa có cái vốn kếch xù ấy để buôn đâu.
Nguyên do như thế này:
Dạo Ma-ri mới lên Cẩu Rồng ở với hàn Xương, thì một hôm Thừa nghĩ đến tương lai mà lo lắng. Nếu hắn không kiếm được việc gì để sinh lợi, thì đến ăn hết vốn mất. Hắn sực nhớ đến ông bạn tháo vát Tình muôn thuở. Hắn lại nhà ông, nhờ ông bàn giúp kế sinh sống, ông nhà thơ bảo Thừa đưa tiền, ông bán lại cho một ít nhựa thuốc phiện. Thừa làm thế, hai ba lần, thấy có lãi khá, mới xin ông Hoài Tân Tử cho góp vốn với ông để buôn chung. Vì anh nghiện vốn lười, thấy Thừa rỗi rãi, nên mỗi khi được tin hàng về, mới đùn cho hắn việc đi mua.
Thừa biết chỗ buôn tận gốc. Hắn lại đã gây được vốn, vả sợ ông bạn bịp hắn, hắn không chung vốn ông ta nữa. Tuy vậy, Thừa vẫn hàm ơn ông Tình muôn thuở, không những phục ông là quân sư, mà còn coi ông như cứu tinh. Vì ông đã giúp hắn được ngóc cổ dậy, lần này là lần thứ hai.
Dần dần, Thừa được ông Hoài Tân Tử khuyên là nên bỏ ra hẳn nhiều tiền để buôn to và vĩnh viễn, cho được nhiều lãi. Bởi vì đây là một công ty.
Thừa nghe theo.
Ngày này, hàn Xương đã chết. Thừa nhìn thấy đất đồn điền Cẩu Rồng sau này rất cần cho hắn, hắn mới lừng lững lên với Ma-ri. Vì sợ Ma-ri đuổi, hắn không dám nói rõ là hắn định ở lâu dài, để làm gì. Hắn cũng làm như Ma-ri, mỗi lần Ma-ri về Hà Nội thì ở nhà hắn. Vì Ma-ri là vợ hắn. Bây giờ hắn đến Cẩu Rồng, thì cũng ở nhà Ma-ri. Vì hắn là chồng Ma-ri, rất tự nhiên thôi.
Được ở Cẩu Rồng một cách lặng lẽ như vậy xong xuôi, Thừa mới thực hiện ý định của hắn trong việc buôn thuốc phiện lậu.
Trước hết, hùn vào công ty, nhưng Thừa không được biết là công ty có bao nhiêu vốn, có bao nhiêu cổ đông, là những ai. Vì là hãng buôn đồ quốc cấm, cho nên ông Hoài Tân Tử bảo là một hội kín, phải giữ bí mật. Người hùn vốn vào công ty chỉ được biết một người, là người giới thiệu mình thôi. Các khoản tiền nong, như góp thêm vốn, chia lãi, cổ đông chỉ giao thiệp với một người ấy, và phải tin người ấy.
Thấy ông Hoài Tân Tử là người giới thiệu mình với công ty, Thừa mới đoán không những ông bạn chỉ là một cổ đông thường như mình, mà còn là một yếu nhân của công ty, giữ chức vụ quan trọng. Một lần, Thừa thấy ông nhà thơ làm liên lạc giữa người nhận hàng, với người tải hàng, mỗi chuyến là một người khác, để người này giao cho đúng. Hẳn là ông Hoài Tân Tử ăn lương cao lắm.
Địa điểm cho công ty đổ hàng ngày ấy là gần bến Chèm, trong khu vực nhà ông nghị Khoáng. Ông Khoáng được kiêm cả việc nhận tiền và phân phối hàng. Thừa biết ông Khoáng nhận cả nhiệm vụ khá nguy hiểm, lại làm cái việc hay lầm lẫn, nên công ty trả thêm cho ông một phần trăm tổng số lãi.
Thừa không rõ những người đi mua nhựa và nhất là những người áp tải hàng, họ làm những việc quan trọng và nguy hiểm hơn, thì được bao nhiêu hỏa hồng.
Thừa nhận thấy là từ ngày hắn vào công ty, trong ngót năm mươi chuyến, công ty sểnh ăn có hai chuyến nhỏ. Hình như hai chuyến này, là công ty cố tình thí cho bọn thương chính, để đấm mõm xoa dịu họ. Thừa không lạ gì lòng tham lam của những người buôn thuốc phiện lậu trên mạn ngược. Họ vừa bán buông tay cho người ta, là đã đi máy đoan liền. Nhà đoan bắt đúng tang vật. Thế là họ được thêm món tiền thưởng chỉ điểm. Vậy công ty đã hoạt động từ lâu, thì người bán nhựa có đi báo đoan hay không? Cớ sao công ty vẫn làm ăn êm thấm? Mỗi chuyến hàng tải về xuôi, có lần đến bốn năm chục thùng sắt tây, mà sao đi vẫn trót lọt như thường. Thừa thấy có những người buôn nhỏ, họ dùng những kế rất quỷ quái để giấu hàng. Hoặc họ thông lưng với nhân viên sở xe lửa giúi ngay nhựa vào trong những toa mà nhà đoan sắp cặp chì. Hoặc họ thuê người tải bằng cách lội dọc sông, giả vờ như đi tắm. Hoặc họ làm như người có mang, bẩn thỉu nữa, là như người có kinh nguyệt, phải đóng khố, vân vân. Nhưng dù có trăm mưu nghìn kế, mà người nhà đoan chỉ thoáng nhìn mặt là nhận ngay ra ai ngay, ai gian. Đố ai lọt được mắt họ. Vậy thì ai để cho công ty này buôn bán được êm thấm. Ai tải hàng mà được trót lọt bền thế?
Có một lần, Thừa tò mò hỏi ông Tình muôn thuở xem ông ta có biết hơn gì về mánh khóe của công ty hay không. Thì ông này trả lời úp úp mở mở, cái kiểu biết mà không nói, nhưng lại cố hớ hênh, để người nghe nghĩ mình là một tay quan trọng. Nhưng Thừa tinh, hiểu ngay là ông bạn quý lòe mình. Một hội kín tất phải bí mật tuyệt đối.
Vì vậy, Thừa đoán rằng công ty này phải gồm toàn những người có thế lực. Và không chừng, có những tay tai to mặt lớn của nhà đoan đứng ra điều khiển cũng nên. Chứ nếu không, sao từng bè hàng lậu lại bình yên mà qua được những sở đoan ở Lào Cai, ở Yên Bái, ở Phú Thọ, nhất là ở Việt Trì, họ sục sạo suốt đêm, chiếu những đèn năm pin, sáng rực đến tận bờ bên kia sông.
Một chuyến, trong bóng tối ban đêm, Thừa nhận được mặt người giao hàng, là người mà Thừa đã gặp ở đâu một lần rồi. Thừa cố nghĩ mãi, sau mới sực nhớ ra rằng người ấy chính là cái thằng đã đánh mình ở phố Hàng Đậu ngày trước. Vậy người của Múi ấy chính là một nhân viên của sở Thương chính. Thế nhân viên của Thương chính đi tải cái hàng mà sở ấy cho là lậu, thì chẳng lẽ sở lại bắt người của sở à?
Thừa biết sở Thương chính tuy có Tây lai, gọi là quan phó đoan, và có An Nam gọi là đội đoan, nhưng chia làm hai hạng nhân viên: Một hạng có quyền đi bắt đồ lậu trong tỉnh mình làm việc: một hạng lưu động, có quyền khám xét trong một khu vực rộng, ở nhiều tỉnh. Vậy chắc rằng mỗi lần công ty có thuốc phiện tải đi, thì đến tỉnh nào có người nhà đoan của tỉnh ấy đi kèm cho suốt dọc đường, hoặc có hẳn nhân viên lưu động ngồi ngay ở trên bè. Như vậy, qua đâu, nhà đoan địa phương có đòi giữ lại, thì người áp tải có quyền nhận rằng chính mình đã bắt, và đương giải hàng lậu này về Hà Nội. Nhưng có thể một người đội đoan An Nam nhận như vậy mà được tin ngay không? Không. Phải là lời do miệng một người phó đoan mới có giá trị. Vì Tây lai được tin là không nói dối như “A-na-mít”. Thế thì mỗi chuyến hàng, không phải chỉ một người đội đoan áp tải mà đủ. Phải có thêm một đoan phó. Hẳn là muốn kín đáo, nên lúc hàng sắp đổ bộ, quan phó lánh mặt ở đâu đấy, cho nên không ai nhìn thấy bao giờ. Vậy buôn đồ quốc cấm mà có Tây lai đi tải hàng cho, tất công ty này có Tây thật điều khiển. Và một khi công ty có thế lực như thế, thì vô số quan ta, vô số tay giàu sụ có cổ phần. Công ty này tất là to lắm.
Đoán già đoán non như vậy, lại thấy lãi đùng đùng, cái óc xoay xỏa của Thừa mới bắt đầu cựa cậy. Hắn tự hỏi: Cẩu Rồng cũng có bến ở sông Nhị, nó lại ở xa Hà Nội, không nguy hiểm, tại sao nó không thay được bến Chèm. Bến Chèm dùng mãi, tất bị lộ, công ty là hãng buôn bí mật, tại sao không đổi địa điểm đổ bộ hàng? Rồi hắn tự trả lời: Cẩu Rồng đắc địa hơn, nó phải thay Chèm. Và hắn kết luận: một khi Cẩu Rồng thay Chèm, thì lẽ tất nhiên hắn được thay nghị Khoáng. Hắn không mang tiếng hất cẳng bạn, mà có được địa vị trong công ty, lại khai thác được nhiều mối lại khác ở Cẩu Rồng.
Một mặt, Thừa nói với ông Tình muôn thuở về lợi hại của hai bến Chèm và Cẩu Rồng, một mặt, hắn về Cẩu Rồng ở để thử. Lần đầu hắn ở một ngày. Thấy Ma-ri như thường, lần thứ hai hắn ở ba ngày, vẫn chẳng thấy Ma-ri tỏ ý khó chịu, nên lần thứ ba, hắn ở hẳn một tuần. Rồi đến lần thứ tư, định cố thủ vĩnh viễn, hắn càng làm ra hiền lành, ngoan ngoãn cho Ma-ri không thấy có hại, đừng đuổi hắn.
Khi biết là được lòng Ma-ri rồi, hắn mới vận động ráo riết cho công ty dùng Cẩu Rồng. Song, vì thấy ông Hoài Tân Tử chỉ ậm ừ, không dám quyết định, hắn mới mày mò tìm xem những ai đứng đầu công ty.
Cố nhiên việc này, một mình hắn làm không nổi. Hắn phải nói thực với Ma-ri về công ty, về ý định của hắn, để nhờ nhan sắc và tài giao thiệp của Ma-ri.
Cái dạo điền tốt ở đồn điền cứ thấy ông hàn bà hàn đi vắng luôn, chính là dạo Ma-ri nằm hết giường của Tây nọ, đến giường của Tây kia để giúp Thừa. Ma-ri tỉ tê hỏi chuyện, rồi cuối cùng hắn biết đích xác người giám đốc công ty tên là Mác-tanh, Tây thật, làm chức chánh đoan Yên Bái.
Ma-ri tìm đến Mác-tanh.
Hắn ngoại giao thật mạnh, để tán cho Mác-tanh trọng dụng Thừa, mà hắn gọi tên là An-be.
Vì vậy, đồn điền Cẩu Rồng được chọn làm nơi cho hàng của công ty đổ bộ thay bến Chèm. Và ông An-be được thu tiền và phân phối hàng cho khách thay ông nghị Khoáng.
Lần đâu, vì tỏ ra nhanh nhẹn và thật thà, ông An-be được tín nhiệm và trọng dụng. Mác-tanh cho hắn làm thủ quỹ của công ty.
Từ nay, Thừa và Ma-ri thật đề huề. Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn. Ma-ri vui lòng cho Thừa khai thác tất cả khả năng của Cẩu Rồng.
Lợi dụng những chuyến hàng về, nhà có đông khách, toàn những hạng kiếm ra tiền không mất tí mồ hôi, nước mắt, coi của như rác bão, Thừa mở sòng xóc đĩa cho họ chơi, để lấy hồ.
Hơn ba mươi người khách hôm nay, ai đến sớm thì ăn cơm, ai đến muộn, ăn rồi, thì đến đêm, trước khi đi nhận hàng, cùng mọi người dự xú-đề để lấy sức.
Họ là những người buôn lậu quen, hái ra tiền, nên coi đồng tiền là một phương tiện để có tất cả những cái gì họ muốn.
Khi họ đánh bạc, có người nghĩ đến được thua, nhưng cũng có người chỉ nghĩ đến làm sao cho đội con gái chanh cốm của bà hàn mê tít họ, vì họ lắm của, không tiếc của.
Canh xóc đĩa nào, hai Điều cũng xóc cái. Sau ba cái thái bình, đến tiếng thứ tư, hai Điều xoay bát xong, thì bạc ném vào chiếu như mưa. Năm cô gái non của Ma-ri, cô nào cũng quần lĩnh cạp màu, áo cánh phin trắng nõn, và khăn nhung đen nhánh, ngồi xen lẫn với khách để làm hồ lỳ. Khách nào cũng muốn chen chật vào với các cô, để vờ sát tay vào ngực, vào đùi, vào mông các cô. Họ nói tục, nói nhảm để trêu ghẹo các cô, làm cho má các cô đỏ hây hây. Bà hàn thường dặn các cô:
- Phải khéo léo mà chiều khách để giữ khách. Dù là đối với người không để ý đến mình, mình cũng làm như mê họ, thì tự khắc họ mê mình. Song, dù gì thì nhất thiết cũng phải giữ lấy danh dự con gái. Cho họ thỏa mãn thì họ chán mình ngay. Bắt họ phải thèm thuồng mình thì mình mới làm chủ được họ. Tao nhiều từng trải thì tao bảo, chúng mày cứ theo đúng như thế.
Ông Tình muôn thuở không đánh bạc. Ông chỉ rúc vào bàn đèn. Bây giờ, ông nói:
- Tôi thử cố nghiện, để rồi lúc nào muốn chừa thì chừa. Cho ả Phù dung phục thuấn này là cứng.
Sự thực, thì ông thử cố nghiện từ trước cái ngày ông viết báo Chấn Hưng. Nhưng từ đó, chưa lúc nào ông muốn chừa. Không những ông không muốn chừa, mà ông còn muốn nhiều người mắc nghiện như ông. Trước hết, để họ mất chê ông là quan viên thuốc xái, sau nữa, là cổ đông của công ty này, ông cần đào tạo khách hàng mỗi ngày một đông hơn.
Nằm luôn ở bàn đèn, “trô” từ giờ dần đến giờ dậu, có cả đàn ông lẫn đàn bà, gồm độ năm người, trong đó có Ĩnh con. Vì giường chật, người nọ gối đầu lên người kia. Nhiều lúc Ĩnh con bị sức nặng của những tấm thân khác nó đè lên cái khung lỏng lẻo của xương mình, thì cũng õng ẹo, kêu oai oái. Nó muốn nhắc cho cái chàng vô ý nào đó nhớ nó là người của phái đẹp. Nó cũng nói những lời khêu gợi. Nhưng vô ích. Khi nó hút đã nghiện, đến nỗi ông Hoài Tân Tử mắng rằng có thể ỉa ra khói rồi, nó mới chịu đứng dậy. Nó dốc cả chén xái, gói vào một gói, để đút vào túi. Ở đây, họ hút sang lắm, vừa hút vừa như đổ thuốc đi. Họ chỉ ưa xái nhất bao thôi. Còn xái nhì họ nạo bỏ đi. Thật là xa phí. Thật là đáng tiếc. Ở nhà, Ĩnh con kéo đến xái thứ mười hai, vẫn gọi đùa là “xái hợi”. Nhưng đánh xái hợi, nó đã học được cách, là trộn với ký ninh tán ra bột, thì khi tiêm, điếu thuốc vẫn quánh như thường. Có lần, không còn gì để hút, nó phải ngâm tất cả những mảnh giẻ lau bàn đèn vào rượu, để vắt ra, lấy nước ấy mà uống.
Không được nằm, thì Ĩnh con ra sòng bạc. Nó không đánh nhưng làm hàng sáo lậu. Gọi là lậu, vì mối lợi hợp pháp này thuộc về Ma-ri giữ độc quyền. Cho nên, nếu ai muốn giật lửa Ĩnh con, phải máy nó ra đàng sau, nó lấy lãi nhẹ hơn bà hàn, nhưng bắt người vay phải nghe một thôi một hồi cái bài quảng cáo cửa hàng buôn phấn bán hương của nó ở ngõ Gia Ngư.
Buồng đặt tĩnh không lúc nào ngớt khách. Khách nghiện nằm đó đã đành, khách không nghiện thỉnh thoảng cũng có từng cặp rủ nhau vào. Họ “ken-cờ” xong, rồi đưa nhau đi một nơi. Ấy là những người cần giải đen. Bà nào thua nhiều, mặt mày chín nhừ, tức thì thấy ngay có ngón tay của một ông bám khẽ vào vai, hoặc có mũi giày tây cọ khẽ vào gót chân mình. Bà quay lại. Thì cái ông tay cầm cuộn giấy bạc ấy nháy bà, mỉm cười và gật gật cái đầu. Bà biết hiệu. Nếu bằng lòng thì bà mỉm cười lại, rồi đứng dậy, đi theo ông. Thế gọi là đi giải đen. Cả hai ông bà sang buồng bàn đèn, làm mấy điếu cho dai sức, rồi vào nghỉ trong một buồng riêng, có giường ghế, có chăn đệm, cửa lại có sẵn thìa, ngậm trong lỗ khóa.
Thế là lúc ra, bà có thêm tiền để đánh gỡ. Thường thì trong buồng này không mấy lúc không có người. Nhiều đôi phải đứng đợi. Khi nghe thấy tiếng khóa vặn kêu lạch xạch, thì bà vội vàng trùm cái vạt áo lên đầu và quay mặt vào tường.
Giải đen với nhau, có ông bà không biết tên nhau là gì. Cũng có ông bà làm việc ấy, mà từ đầu đến cuối, chẳng nhìn mặt nhau, xem là trẻ, già, đẹp, xấu thế nào.
Trong khi nhà nhộn nhịp khách khứa, thì Ma-ri đi nằm sớm. Những tối này, xừ Tuynh như người thất nghiệp. Xừ cũng tập hút thuốc phiện, và cũng đánh bạc cò con để có đồng lương nào thì dốc ra cho nhẵn nhụi. Ma-ri không đau mình đau mẩy. Hắn đi nằm, không phải để nghỉ cho yên thân, mà để chờ việc. Trong khi việc chưa đến, hắn thích có người để nói chuyện. Hắn mời những bạn cũ vào, bắt người ấy bắc ghế ở cạnh đầu giường, kể lại những chuyện ăn chơi trong thời niên thiếu. Nghe người ta khen mình còn trẻ, còn đẹp, nghe người ta phục mình là thạo, là hào phóng, Ma-ri được an ủi, thấy như mình khỏe hẳn lên.
Nhưng không phải lúc nào Ma-ri cũng được như sống lại thời xưa. Ma-ri còn phải làm hai việc. Một là đóng vai quan tòa, xử cấp tốc những vụ ghen tuông vừa xảy ra. Có người ghen tuông vì không được Ma-ri triệu vào nói chuyện. Có người ghen tuông vì muốn tranh nhau cô Sen, hoặc cô Huệ. Có lần tranh nhau một mẻng muốn giải đen, máu hăng lên, họ suýt đâm nhau ngay trước mặt Ma-ri. Ma-ri sợ tái mét, muốn hòa giải, đành cứ phải chắp hai tay, lạy cả hai người như tế sao. Việc thứ hai, là cho khách vay tiền để đánh gỡ. Ai muốn vay, phải theo đúng thể lệ đã đề ra, là cần có bảo đảm bằng văn tự nhà, văn tự ruộng, hoặc môn bài cửa hiệu. Tan đám bạc, ai đủ tiền thì chuộc, ai chưa đủ tiền thì gửi vật làm tin ấy đến canh sau. Tiền cho vay, không phải là giấy bạc của nhà băng Đông Dương, mà là một thứ giấy riêng, những mảnh giấy trắng cắt vuông vắn, to nhỏ tùy theo nó là một đồng, năm đồng, hai chục hay một trăm. Muốn ngăn ngừa giấy giả, tờ nào cũng có chữ ký của Ma-ri. Ma-ri khuyên mọi người là trước khi đánh, nên đổi tiền thật lấy giấy này. Để sòng bạc không ra chỗ sát phạt lẫn nhau, mà có vẻ một nơi chơi bời, giải trí. Vì lỡ ra có nhà chức trách ập vào bắt, họ không thấy bằng chứng gì để đổ cho là đánh bạc. Nhưng con bạc không nghe. Họ nói rằng có đánh bằng tiền thật thì được mới sướng và thua mới xót. Ma-ri đành kệ cho họ đánh bằng tiền, nhưng khi họ hết tiền phải vay, thì Ma-ri chỉ đưa họ thứ giấy riêng của hắn thôi. Rồi khi canh bạc tan, ai còn bao nhiêu, mới đổi lấy giấy bạc thật. Không ai có bụng dạ nào ngờ rằng Ma-ri không có tiền, nên mới cho vay bằng giấy ấy. Vì ai cũng thấy không kể của chìm, của nổi khác, ngay tối hôm nay, Thừa đã thu đến hàng vạn bạc hàng rồi. Song, cũng có người phàn nàn qua loa rằng Ma-ri cho vay bằng giấy thường để lấy lãi bằng tiền thật, cứ mỗi đồng, mỗi giờ là năm xu. Vì có khi với cái giấy ấy, Ma-ri giữ được nhà thật, ruộng thật của người ta.
Thừa thì lăng xăng chạy hết vào sòng xóc đĩa lại sang buồng bàn đèn. Hắn không hút mà cũng không đánh. Bởi vì chơi ngay ở nhà này, hắn sợ Ma-ri biết. Nhưng nếu anh em ép hắn khai mạc cho bàn tĩnh, hút điếu đầu tiên gọi là điếu danh dự, phải dành cho chủ nhân, thì hắn cũng không từ chối. Vì nếu thấy lúc nào ở sòng, con bạc có vẻ uể oải, đánh nhỏ, thì hắn cũng đặt dăm ba tiếng thật lớn, làm đà cho mọi người vùng lên. Thế là chiếu bạc lại sôi nổi, tiền tới tấp quăng xuống. Mấy cô hồ lỳ phải đếm mệt.
Thật tình thì những tối hàng về, Thừa bù đầu lên về bận. Không phải chỉ cái việc thỉnh thoảng đảo vài phút vào sòng, vào tĩnh, phân phát đó đây một vài câu pha trò cho khách khứa cười ồ, hoặc duy trì cái không khí hăng hái cho người ta đánh to, đánh bốc lên, nhưng luôn luôn Thừa phải ngồi ở bàn giấy. Hắn cầm bút, tính xem người này đưa bao nhiêu tiền thì được bao nhiêu hàng, người kia đút cho hắn bao nhiêu hỏa hồng thì được bao nhiêu nhựa tốt. Hắn phải đếm từng đồng và xem cẩn thận từng tờ, để khỏi nhận phải giấy giả, hoặc nát quá. Hắn ghim chục một và gói trăm một, cất vào két sắt, để sáng hôm sau đi Hà Nội sớm, giao cho người của Mác-tanh chia lãi cho cổ đông, và chuẩn bị chuyến buôn mới. Những việc tỉ mỉ này, Thừa không thể giao cho ai làm, kể cả Ma-ri, vì hắn không tin ai. Vả, Ma-ri có tính sốt ruột, không kiên tâm, không chú ý, thì thế nào cũng lầm lẫn.
Vậy mà đôi khi Thừa còn phải làm những việc lặt vặt. Là khi Ma-ri dở nói chuyện với bạn, mà có ai đến vay tiền, thì hắn lại đùn cho Thừa làm hộ.
Ngoài những bận rộn này, Thừa còn phải lưu tâm để bảo đảm cho khách chơi được an toàn. Nghĩa là không bị nhà chức trách bắt.
Nhà chức trách địa phương, là lý dịch, chánh phó hội, chánh phó tổng trong vùng, cố nhiên, họ không dám hỗn láo, vì họ cũng có mặt cả ở sòng. Và người nào cũng bị quan hàn xỏ mũi bằng những món nợ chẳng to thì nhỏ.
Có thể bắt bạc, chỉ có quan huyện sở tại. Nhưng quan huyện Lung thì quan hàn An-be thân lắm. Thỉnh thoảng, một đôi khi đi tuần đêm để canh cho đám bạc khỏi bị người của sở mật thám tỉnh hoặc sở mật thám Hà Nội sục đến, quan cũng tạt vào nghỉ ở dinh quan hàn, để quan hàn biết công cho ngài. Ngài được uống sâm banh, hút xì gà. Rồi muốn tỏ rằng mình bình dân, ngài cũng sà vào sòng đánh dăm ba tiếng, hoặc nằm bàn đèn hút dăm ba điếu. Nhiều bận, tuy ngài không thua, ngài cũng cứ giải đen.
Sở dĩ quan địa phương tận tâm giúp đỡ quan hàn An-be, là bởi vì những tối hàng về, có khách khứa đông, bao giờ quan hàn cũng báo trước cho quan tri biết. Không phải để khỏi bị nghi là hội kín, mà bị bắt, vì tụ họp quá hai mươi người, như pháp luật đã cấm ngặt. Nhưng để người đại diện cho nhà nước phái lính đi canh gác hộ. Nếu nó động rạng, tức thì Thừa được phi báo, giải tán ngay khách đi.
Để đền bù cái công lao giữ cuộc trị an, mỗi người lính canh đêm cho sòng, được thưởng năm đồng. Họ không ngớt cảm ơn quan hàn, vì họ so sánh với lương cả tháng của họ chỉ có sáu đồng thôi.
Quan huyện được Thừa chi cho mười phần trăm của tổng số tiền hồ thu được. Không bao giờ quan huyện nghi quan hàn đưa thiếu, vì cái ông cử nhân luật ấy vẫn còn thạo làm toán, nên sòng có bao nhiêu con bạc, đánh trong bao nhiêu lâu, ông ta tính ngay ra được số tiền mà ông ta hưởng, vả lại, bao giờ Thừa cũng đưa một món tiền tròn, to hơn món phải thực nộp. Đáng bốn chục, hắn đưa cả năm, đáng hơn năm chục, hắn đưa cả sáu. Thấy hỏa hồng quá hậu, bao giờ quan phụ mẫu cũng giương tròn hai mắt: “Sao nhiều thế?”. Nhưng không đợi trả lời, ngài đút ngoém tiền vào túi, mỉm cười: “Cảm ơn quan hàn nhé”.
Không những được chia hồ, quan cai trị còn luôn luôn được cung đốn những của ngon vật lạ. Nhưng có một thứ của ngon vật lạ, quan hằng ao ước, mà Thừa vẫn chỉ hứa là sẽ biếu. Những thứ những vật bằng thịt người, xương người này, có sẵn sàng ngay ở trong nhà Thừa. Ấy là mấy con Sen, con Đào, con Mai, con Lan, con Huệ, như đàn chim ra ràng của Ma-ri. Quan phụ mẫu muốn hạ mình xuống làm dân thường, khai thông cho những con nhà đần độn ấy hiểu thế nào là mùi đời. Vì chưa được toại nguyện, nên quan vẫn trách quan hàn là chưa văn minh, là hẹp hòi, không muốn giải phóng phụ nữ.
Thấy quan huyện có điều bất mãn ấy, cho nên Thừa vẫn phải dè chừng ông ta. Hắn biết là bọn quan lại họ trở mặt như trở bàn tay. Tử tế đấy, nhưng mà đểu cáng ngay đấy cũng được. Cho nên mỗi lần nghe báo tin quan huyện đến, một mặt Thừa rất niềm nở, một mặt Thừa để mắt dò xét ngay thái độ của ông ta. Khi tiễn ông ta ra khỏi cổng, Thừa mới yên trí là ông ta không hoạch họe gì mình.
Song tiếng rằng nhờ quan cai trị phái lính đi tuần hộ thật, Thừa vẫn chưa tin rằng quan lính họ thật bụng với mình. Có khi biết là có đám xóc đĩa to, họ dắt mật thám về bắt cũng nên. Cho nên Thừa bắt cả người nhà của hắn, những tay trung thành nhất, canh phòng thật nghiêm ngặt ở các lối vào dinh. Họ phải dựng những lều làm điếm canh, và khắc canh bằng trống. Bởi vì, tuy bọn quan lính địa phương được đấm mồm, họ có thể tận tâm, nhưng còn lũ mật thám tỉnh, lũ mật thám Hà Nội, tức là bọn lâu la của thằng Pha-lăng-xô, Thừa có cho họ ăn đấy, nhất là thằng Tây lai, nhưng biết bụng dạ họ thế nào. Cái lũ mặt người dạ thú ấy, kể cả ta lẫn Tây nữa, còn lật lọng bằng vạn quan, bằng vạn lính kia. Vì vậy, để bất chợt xem bọn người nhà có gác thật cẩn mật không, có đêm Thừa đóng ngựa, thân hành đi củ soát các điếm. Trăm bó đuốc thế nào cũng vớ một con ếch. Một lần, hắn chộp được một anh đương ngủ khì. Hắn lẳng lặng tịch thu cái trống đem về dinh.
Lúc trở dậy, anh này sợ hết hồn. Sáng hôm sau, anh đến lạy van quan hàn. Biết rằng người đầy tớ không cố ý hại mình, nhưng thế là có thể phản chủ, Thừa chỉ đánh anh ta có hai mươi gậy vào lưng thôi.
- Tội của mày là đáng cho một phát súng, rồi quẳng xuống sông Cái.
Gần suốt đêm làm việc căng đầu óc thế, nhưng khi có tin báo hàng đã cập bến, thì Thừa càng bận rộn hơn. Dù mưa, dù gió, lập tức hắn phải đi. Bởi vì, lập tức, hắn phải chia từng món, chọn từng hàng cho từng người. Khi xong ngần ấy việc, hắn sai người về, mời khách ra nhận ngay phần của họ.
Công việc trôi chảy, không mắc mứu gì, Thừa mới về dinh, ngả lưng một lát. Rồi hắn phải dậy, bàn bạc chuyến buôn sắp tới với ông Hoài Tân Tử, để kịp đi Hà Nội, nộp tiền cho công ty, vào buổi sáng.
Ông Hoài Tân Tử đến Cẩu Rồng được biệt đãi nhất. Vì không những ông là nhân vật cao cấp của công ty, mà còn là hai lần ân nhân của quan hàn An-be. Những lúc hàn huyên với nhau, Thừa luôn luôn nhắc lại mình là kẻ chịu ơn sâu nghĩa nặng của người bạn cũ nhất và thân nhất. Cái ngày gặp bước truân chuyên, đương sắp đói meo trên căn gác tối tăm ở Ngũ Xã, Thừa đã được ông Tình muôn thuở cứu cho, vời đi làm chủ bút báo Chấn Hưng. Được no nê, lại no nê bằng cái chức danh giá, Thừa đã đào mỏ khá có kết quả. Đến bây giờ, ông lại vớt cho Thừa khỏi cái tiếng xấu là phú quý trong váy vợ. Ông giới thiệu cho vào công ty, nên Thừa mới giàu có, mở mày mở mặt được với đời.
Vì vậy, về đây, ông bạn quý Hoài Tân Tử được dành riêng một buồng đủ tiện nghi, để ông có mệt thì đi nghỉ, vừa sạch sẽ, vừa yên tĩnh.
Thường thì khi ông nhà thơ ngủ dậy, Ma-ri thân vào buồng để hỏi thăm sức khỏe ông. Tự tay Ma-ri tiêm sẵn độ một chục điếu thuốc phiện, để ông hút súc miệng cho liền một mạch. Khi tỉnh táo, ông điểm tâm bằng cà phê sữa và bánh mì. Lúc này, Thừa và ông, tức là hai yếu nhân cộng sự tối mật thiết của công ty, mới chuyện trò, tính toán, bàn bạc việc buôn bán.
Từ lúc khách khứa đi nhận hàng, không trở lại cái tổ quỷ nữa, từ lúc quan hàn An-be và ông nhà thơ Tình muôn thuở đi Hà Nội, trong dinh được yên ắng thì Ma-ri mới thật sự được nghỉ. Hắn lăn ra ngủ, không nói mê, không ư ự. Ngáy thật đều.
Nhưng bọn đội con gái chưa được ngơi tay. Họ phải làm cho xong cuộc tổng vệ sinh trong các buồng. Họ gánh ba bốn gánh nước, khẽ khàng dội, khẽ khàng cọ cho bà khỏi mất giấc. Nơi nào nơi ấy ngập lên những rác rưởi: vết cáu của nước chè mạn đặc đã khô, tàn diêm, bã thuốc, xương xẩu, dầu, mỡ, quết trầu, bãi đờm, bãi mũi. Vết bẩn bám chắc cả ở trên tường. Nhưng chỉ trong chốc lát, tất cả những thứ ấy được tẩy đi hết. Gạch hoa lại bóng láng, đồ đạc lại sạch sẽ như li như lai.
Nhưng chưa hết việc. Những chăn, gối, màn, chiếu dùng đêm hôm trước, họ phải đem ra ao, giặt giũ suốt lượt. Họ phơi xong, thì vừa lúc bà hàn thức giấc. Bà ú ớ gọi. Họ phải túc trực trong buồng, để khi bà dậy hẳn, họ có mặt sẵn để bà sai vặt.
 
Chú thích:
87)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IV
MỘT CON MA CÒN SỐNG  
 
 
Hôm nay Thừa bực mình lắm. Hắn lại vừa gặp người vợ cả của hắn.
Sau cái ngày mẹ Mão đến phá Phòng thuốc nhà giàu, thì chị về ở nhà quê. Những người làng biết chuyện, ai cũng mát ruột thay cho chị, và thấy đáng kiếp thằng đàn ông bạc tình. Nhưng khi việc đến tai ông bà bếp, tuy bà bếp không nói gì - bởi vì mấy đời bánh đúc có xương - còn ông bếp thì bênh con, cho nên giận chị lắm. Ông chửi chị là tai ngược, đánh cho một trận thật đau, rồi đuổi đi. Chị phải bế Mão về bên nhà ngoại.
Lúc bấy giờ dư luận trong làng về chị cũng lắm. Có người đoán chị và Thừa rồi sẽ tái hợp. Bởi vì người chồng này không thể làm ăn ở Hà Nội nữa, sẽ lại bò về nhờ dì ghẻ và nhờ vợ. Có người cho rằng vợ chồng như vậy là tuyệt ân tình, bỏ đứt nhau, không còn mặt mũi nào trông thấy nhau nữa. Có người chắc sau này chị sẽ lấy anh Xi, vì anh Xi góa vợ, mà xem ra hai bên đi lại mặn mà với nhau lắm. Nhưng mà ra không phải. Chồng chị không về quê. Chị làm mối cho anh Xi lấy người chị họ của chị cũng góa sớm. Hai bên rổ rá cạp lại, ăn ở với nhau rất hòa thuận, và cùng thương quý chị bội phần.
Lại đến ngày ông bếp ốm nặng, bà bếp nhắn ra Hà Nội năm tin, mười tin, mà Thừa không về, thì bà thấy người nàng dâu cũ, tuy đã bị ông ruồng bỏ, ngày nào cũng đến thăm nom. Bà xin vái ông cho chị về ở nhà như cũ. Nhưng chị không về. Không phải chị dỗi với bố chồng, nhưng chị giận chồng. Chị không muốn ở đây, rồi phải nhìn mặt con người gian ác đã làm hại đời chị. Chị làm thuê, làm mướn quanh năm, lần hồi giật gấu vá vai, cũng đủ nuôi miệng chị và con chị. Bây giờ, về với ông bà bếp, dù sao thì cũng mang tiếng là nhờ chồng, mà sự thực chị nhờ cái gì? Thấy ông bếp thuốc thang chả có, cơm cháo chả ăn được, chị còn chắt bóp để dành tiền, thỉnh thoảng mua được cho ông đồng quà tấm bánh. Đến ngày ông bếp chết, chị cũng mua được mấy vuông khăn xô, đến để chịu tang. Lúc đưa ông ra đồng, chị cũng cố khóc lóc thảm thiết, y như một người nàng dâu hiếu thảo biết thương xót thật. Họ hàng nghe những tiếng sáo mà chị kể lể, nào những là “bơ vơ như chim mất tổ”, nào những là “con không cha như nhà không nóc”, thì đều yên tâm là ông bếp tốt số, vong linh không đến nỗi tủi nhục. Người ta còn lắng tai để xem trong lúc khóc lóc, chị có cạnh khóe oán trách chồng bạc tình, bố chồng thiên vị và dì ghẻ chồng cay nghiệt hay không. Nhưng mà tịnh không. Cho nên càng nhìn cái mũ gậy treo ở đầu đòn, họ càng so sánh người con trai vắng mặt với người con dâu có mặt để nguyền rủa thằng con bất hiếu, và khen ngợi con người thảo hiền.
Đến năm mươi ngày ông bếp, Thừa mới về quê. Gọi là tạt về quê thì đúng hơn, vì hôm ấy, hắn phải đưa thằng Pôn đi Hải Phòng, nhờ ông thầy khách quen vá cho nó cái môi rách. Thằng Pôn đánh nhau với thằng Giăng, bị thằng em hăng tiết, cầm hòn đá giáng cho một cái trúng mồm. Hôm ấy, Thừa đi bằng ô tô, chiếc Béc-li-ê bốn chỗ ngồi mới sắm, sơn màu lá cây rất đẹp. Thừa dắt thằng Pôn về nhà. Bà bếp kể sự tình ông bếp ốm thế nào, chết thế nào, ma chay thế nào. Bà không quên khen mẹ Mão ăn ở có thủy chung. Bà khuyên Thừa nên đối xử lại với người vợ tấm cám, để người ấy đỡ tủi nhục. Nhưng từ đầu đến cuối, Thừa chỉ nghe mà không nói. Thằng Pôn thì kêu đau, cứ giục bố đi ngay, cho nên Thừa càng sốt ruột. Họ hàng thấy Thừa giàu có, sang trọng, thì rủ nhau đến chào. Nhưng Thừa cứ chân trong chân ngoài định ra xe. Lão hai Điều xun xoe đến xin Thừa việc làm, hoặc cấp cho ít ruộng để cấy. Thừa dặn hôm nào lên đồn điền hãy nói chuyện kỹ. Sự thực, Thừa không muốn ngồi lâu, để phải gặp mẹ Mão. Hắn yên trí rằng sở dĩ mẹ Mão làm ra ăn ở có thủy chung, chẳng qua vì từ khi hắn bỏ, thì bơ vơ, không biết làm gì để sinh sống, nên nghèo khổ quá. Nay nhân dịp này, thì lấy lòng hắn, mong hắn nghĩ lại, để hoặc cho về như cũ, hoặc ít ra cũng đền công cho một món tiền. Ấy là nếp nghĩ của những người giàu đối với người nghèo, tưởng việc gì của những người này làm cũng là một thủ đoạn như mình, có một mục đích lợi dụng. Cho nên, âu cũng lại là nếp nghĩ của Thừa lâu nay, hắn muốn tránh mẹ Mão để khỏi chi một sự từ thiện vô ích. Nhưng may sao, hôm ấy mẹ Mão không lên lễ ông bếp. Thừa ở nhà độ một giờ đồng hồ. Lúc ra đi, hắn mở ví, đưa cho dì ghẻ một trăm bạc, nói là để xây mộ cho bố, còn bao nhiêu thì giữ lấy mà ăn. Thấy Thừa rộng rãi, bà bếp mách rằng thằng Mão rách rưới quá, và mẹ nó túng bấn lắm. Bà nhắc Thừa nên cưu mang cho mẹ con nó chút ít. Nhưng Thừa không nói gì. Bà lại mời Thừa ra đồng thăm mả ông bếp, và giữ hắn ở lại, chờ xong cơm cúng, để hắn mũ gậy, ô hô ông ba tiếng, khấn ông về. Nhưng Thừa nói rằng vội phải đi, kẻo hết giờ. Thế là Thừa đứng dậy. Họ hàng tiễn hắn ra xe đến hơn chục người. Muốn thi ân với người làng, hắn vừa đi vừa tung hàng nắm xu ra đường. Trẻ con, và cả người lớn nữa, kéo ồ ra nhặt, tranh nhau, chửi nhau, đánh nhau. Thằng Pôn nhân tiện, bắt nạt những đứa bằng tuổi nó, đến cướp tiền. Nó đá lung tung, lia lịa, và cười sằng sặc. Thấy bọn trẻ cười rồi chạy, thì nó chửi. Nó chửi đến hai mươi câu, không câu nào trùng câu nào. Mà chửi rất trơn tru như người học trò chăm chỉ, đọc thuộc bài.
Đi từ nhà ra đường cái là chỗ xe đỗ, Thừa cũng rất sợ gặp mẹ Mão. Hắn không thể quên được cái hôm mẹ Mão đến Phòng thuốc nhà giàu, và cũng không thể quên được những lời cô Lễ nhắc lại cho hắn nghe về cái lý lịch của hắn. Cái lý lịch của hắn mà mẹ Mão tố giác với cô Lễ, bây giờ đầy hơn trước, và hắn cũng biết là nó đầy hơn trước gấp bội. Gặp làm gì? Thừa nghĩ: “Để nó vòi tiền, hoặc để nó bêu mình phen nữa à? Không cho nó, thì người làng chê cười là hẹp hòi. Mà cho nó thì thật là vô lý!”.
Nhưng mẹ Mão đâu? Sao hôm nay là năm mươi ngày ông bếp, chị không đưa thằng Mão đến? Sao một chiếc ô tô về làng, trẻ con rủ nhau lũ lượt đi xe, chị không hỏi là xe ai? Sao một người chị thù hằn như vậy, hôm nay chợt dẫn xác về cho chị sỉ nhục, lại không có ai mách cho chị biết?
Thật ra, thì vô số người mách cho chị cái tin Thừa về làng. Người ta đợi chị làm gì để được xem, hoặc để bõ ghét cái thằng khốn nạn, hoặc để tò mò xem hai người đã bỏ nhau, bây giờ ăn nói với nhau như thế nào, hoặc để được thấy một đám chửi nhau, đánh nhau cho vui tai, vui mắt.
Song, mẹ Mão không dằn mặt Thừa. Chị xui thằng Mão nhiều điều, và bảo nó cầm con dao phay, rồi đưa nó ra chỗ xe ô tô đỗ. Người ta đoán chị sẽ giết Thừa, hoặc tự làm mình có thương tích để ăn vạ. Nhưng mà không. Đến trước xe, người ta thấy thằng Mão lấy dao băm bập vào mũi, vào mui, vào đệm ô tô, nhưng lại trừ chỗ ngồi của người cầm lái. Rồi nó xuống ao, vốc bùn bôi bê bết vào những chỗ đã băm.
Thằng Mão làm những việc này vừa xong, thì thấy bố ra đến đầu làng, theo sau có vô số người. Nó sợ, toan chạy, thì mẹ nó ngăn lại:
- Mày cứ đứng lại. Nó có hỏi ai băm xe, ai trát bùn lên xe của nó, mày cứ bảo mày đấy, xem nó có dám làm gì không nào? Mày không băm, không trát bùn lên chỗ đệm nó ngồi là được rồi. Còn chỗ khác, mày có quyền, cả làng bênh mày kia mà, sợ gì?
Quả nhiên, Thừa không làm gì nổi thằng Mão. Trước hết, thoạt Thừa nhìn thấy một thằng bé con gầy gò, rách rưới, mặt mũi chân tay nhem nhuốc những bùn, đứng trừng trừng nhìn hắn, thì hắn tưởng là một thằng điên. Sau, hắn thấy xe của hắn cũng đầy bùn, thì hắn đoán ngay là có chuyện. Hắn nhìn kỹ lại thằng bé con điên lẹm cằm, thì đoán ngay nó là thằng Mão.
Tất cả những người xúm quanh, yên trí thế nào thằng bé cũng bị quan hàn cho một trận đòn thù. Họ yên lặng để đợi. Nhưng họ tâng hẩng. Thừa nhìn Mão bằng đôi mắt dịu dàng, vẫy nó lại gần, và mỉm cười, gọi:
- Mão phải không? Lại thầy bảo.
Thằng Mão tay vẫn cầm con dao, phăng phăng đến. Nó hằn học trông Thừa và trông thằng Pôn. Thừa ôn tồn, nói như khuyên nhủ:
- Bận sau, con đừng làm hại xe của thầy nhé. Của thầy là của con chứ của ai?
Mão lắc đầu:
- Là của con đĩ tây lai, là của những đứa con của con đĩ tây lai, chứ không phải của tôi.
Ai nấy thấy Mão đối đáp rất tính khôn, thì nín thở, xem quan hàn xử thế nào. Song quan vẫn mỉm cười, lẳng lặng rút trong túi ra chiếc mùi-soa, lau qua chỗ bùn ở đệm đằng trước. Rồi quan mở ví, lấy ra tờ giấy hai mươi đồng, đưa cho thằng Mão:
- Thầy cho.
Thằng Mão cầm tiền, nhưng vứt xuống đất:
- Tôi không thèm. Giả u tiền đóng thẻ thuế thân đây!
Thừa vẫn tươi như thường. Hắn không nhặt tờ giấy nhưng dịu dàng bảo thằng Mão:
- Con lên đồn điền ở với thầy nhé.
Thằng Mão đáp:
- Ỉa vào.
Thừa bẽn lẽn, nhìn những người xung quanh:
- Thôi, chào các ông nhé.
Hắn bảo thằng Pôn lên xe, rồi mở máy. Xe chạy.
Lúc bấy giờ mẹ Mão mới ở trong bụi đi ra. Mọi người xui chị cứ cầm lấy tiền, vì là của bố thằng Mão cho thằng Mão. Hoặc chị cứ kể như đây là món trả nợ chị đã chạy tiền đóng thẻ cho bố thằng Mão đến chục năm nay. Có người khen chị là khéo dạy con, biết ăn nói cứng rắn, và biết khinh đồng tiền đáng khinh, để bọn nhà giàu rởm hợm và rực của họ khỏi khinh nhà nghèo. Nhưng lại có người khen quan hàn là đại lượng, tuy bị con hỗn, nhưng vẫn thương nó, cho tiền nó và bảo nó lên ở. Những người này chê mẹ Mão là quá quắt. Họ phàn nàn rằng làng mới có một người giàu và danh giá, lại hào phóng, có thể cho bà con nhờ vả, thế mà hoạ hoằn ông mới về một lần, chị làm như vậy, thì rồi ông đến bỏ làng mất!
Việc phá ô-tô đến tai bà bếp. Bà nửa bằng lòng mà cũng nửa không bằng lòng. Bà bằng lòng vì bà thấy rõ rằng Thừa bạc ác, bất nhất. Đối với bố chết mà hắn chẳng đoái hoài, chẳng thăm mả, chẳng mũ gậy lễ đến một lễ, khóc lấy một tiếng, thì sau này, bà có nằm xuống, bà hòng gì hắn ma chay, cúng giỗ. Nhưng bà không bằng lòng vì bà nghĩ đến một trăm đồng bạc của Thừa đưa bà xây mộ cho ông bếp. Thừa bây giờ giàu, lại là ông hàn, thì còn sống ngày nào, bà còn phải trông cậy vào Thừa, chẳng gì cũng là con chồng. Thế mà Thừa bị mẹ Mão làm đến cạn tàu ráo máng, thì bà mong gì đến trăm ngày, đến giỗ đầu ông bếp, Thừa lại về để cho bà tiền.
Song, dù sao thì bà cũng không nói gì với mẹ Mão. Bà nghĩ đến những buổi mẹ Mão đi lại thăm nom ông bếp trong những ngày ông ốm nặng, và sắp chết. Bà nhớ những câu mẹ Mão khóc lóc kể lể, khi đưa ông bếp ra đồng. Ai nghe những câu ấy mà không xót xa? Ai nghe những câu ấy mà không bảo chị là nàng dâu hiếu thảo? Nếu ông bếp mà sống khôn chết thiêng, biết nàng dâu khóc mình thế, cũng phải hả vong linh. Chẳng rõ người chết còn hiểu gì không? Chẳng rõ ông bếp nằm trong quan tài lúc người ta khênh ra đồng, kèn trống inh ỏi, thì hồn vía bơ vơ đã nhập vào thân cụ chưa? Chẳng rõ ông thấy mẹ Mão khóc có sướng tai không? Chứ mà bà sống đây, là lấy làm hả dạ lắm. Bà muốn rằng sau này bà chết, lúc rước bà đi, cố nhiên là chẳng trông cậy gì cái thằng con chồng nó về chịu tang, nó mũ gậy, và đi giật lùi trước đòn, như hồi mẹ nó chết, nhưng đã có người nàng dâu này, với những tiếng hờ tiếng kể này, đám ma bà sẽ đậm đà, khỏi sái.
Vì vậy, bà cần lấy lòng mẹ Mão. Bà chữa lại thói quen gọi chị là con mẹ cu, con mẹ Mão, để đổi lại là chị Mão, có lúc dịu dàng, bà gọi là chị hàn, mợ hàn. Bà dỗ dành chị về ở với bà cho vui, cho ấm cúng cửa nhà. Chị nhất định từ chối. Nhưng đến mãi tận sau ngày bà bếp chết, nhiều người trong họ Trần khuyên chị cho con về nhà ông bếp mà ở, đừng để nhà nát, vườn hoang mà phí, nên chị nghe. Chị đã suy tính nhiều về việc này. Chị cho rằng dù đã dứt tình, nhưng hai vợ chồng chưa đem nhau đến cửa quan để bỏ nhau, thì chị vẫn là vợ của con người ấy. Vả lấy nhau ngần ấy năm trời, con sống có, con chết có, nay còn với nhau chút nghĩa đấy, tức là thằng Mão này, thị chị phải ăn ở cho vẹn nghĩa. Vả lại dù chị chẳng có quyền ở nhà của Thừa, thì nhà này là nhà của ông bếp, chính còn mồ ma ông bà bếp, lúc sinh thời, ông bà vẫn bảo chị về ở, thì tức là ông bà vẫn nhận chị là dâu. Nhưng dù chị không có quyền ở nhà này, là nhà của con trai ông bếp, thì thằng Mão là cháu nội, cháu đích tôn ông bếp, nó có quyền ở nhà của ông nó, của bố nó. Chị có theo nó về ở đấy, là để nuôi nó, chứ không phải là cần nương tựa vào cái thằng bạc tình.
Mẹ Mão đưa Mão về ở bên nội được hai năm, thì phải gửi nó đi ở chăn trâu cho vợ chồng anh Xi. Bởi vì anh Xi có vợ, tức là có thêm cánh tay, thì làm ăn khấm khá. Nhưng chẳng may, rồi ba năm liền, trời làm lụt loạt, mất mùa, căn nhà đổ nát, chị không thể chữa chạy, vả lại ở vào thời gạo châu củi quế, vắt mũi chẳng đủ đút miệng, chị phải bỏ làng, đi thiên hạ kiếm ăn. Vợ chồng anh Xi cũng vậy, gia tài gần khánh kiệt, phải tính đến chuyện đi siêu. Hai người lấy cớ là phải nuôi thằng Mão, mới rủ nhau lên Cẩu Rồng, nhờ hàn Thừa cấp ruộng để cấy. Vì anh Xi biết Ma-ri ghét anh, mà anh cũng chẳng nể, chẳng trọng gì Ma-ri, cho nên anh xin Thừa cho chỗ ruộng ở xa dinh. Thừa thấy một người làng, một người bạn cũ, một người cộng tác cũ, một người đầy tớ cũ, một người tốt bụng, đã có lần cho hắn hai hào để hắn qua được ngày vừa ốm vừa đói, dù người ấy có tính bướng, tính khí khái, trước kia đã bỏ hắn, nhưng nay người ấy đến xin xỏ, thì hắn không hẹp hòi. Đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh kẻ chạy lại. Vả lại, giúp anh Xi ruộng, để anh nuôi cả thằng Mão, cho nên hắn bảo Ma-ri xếp cho anh ba sào ở tận mép Cẩu Rồng, chỗ gần những đồi hoang không thuộc về đồn điền, và chưa ai khai phá. Thừa khuyên anh Xi nên vỡ thêm những đất ấy mà trồng trọt.
Từ ngày anh Xi đem Mão lên Cẩu Rồng, thì mỗi năm một lần, mẹ Mão lại đến thăm con. Và mỗi lần vào nhà anh chị Xi, phải qua chỗ Thừa và Ma-ri ở, gọi là dinh quan hàn, thì chị lại sực nghĩ đến cái thằng để khó cho chị, hàng năm phải khổ nhục chạy cho nó mấy đồng bạc đóng thuế thân. Chị như phát điên. Chị hăng tiết lên, không sợ lũ chó rồ ra cắn, không sợ ông hai Điều và bọn người nhà cầm roi gậy ra dậm dọa, chị cứ xông tuột vào nhà chính giữa để chửi rủa, phá phách.
Thừa và Ma-ri rất hoảng. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây. Lôi thôi với chị, quan ông quan bà chẳng được gì, mà chỉ bị thiệt. Trái lại, mẹ Mão chẳng thiệt gì, mà được chửi sướng miệng, phá sướng tay.
Cho nên, Thừa và Ma-ri cho tốt nhất là đành xử nhũn. Hai người phải bảo ông quản gia hai Điều và vợ chồng anh Xi điều đình ôn hòa hộ. Về việc nuôi Mão, Thừa đảm nhiệm hoàn toàn. Mỗi tháng, hắn trừ cho anh Xi mười hai cân thóc, tức là mỗi năm, ngót một tạ rưỡi, làm lương ăn cho Mão, để Mão khỏi phải chăn trâu vất vả. Vì anh Xi chỉ lĩnh canh có ba sào, phần thóc phải nộp không đủ số lương ăn của Mão, nên Thừa bù thêm bằng tiền. Hắn lại ngỏ ý muốn giúp cho mẹ Mão một món tiền để buôn, để khỏi làm lụng lam lũ. Nhưng mẹ Mão không nhận ân huệ của kẻ thù. Đối với Mão, Thừa phải nuôi, là bổn phận của người bố. Chị không ngăn cản. Nhưng đối với chị, chị không muốn dùng đồng tiền bẩn thỉu để xí xóa hết lòng căm phẫn của chị, cho đôi gian phu dâm phụ ăn ở với nhau được vui vẻ. Chúng nó đày đọa chị, thì không bao giờ chị để cho chúng nó được yên ổn.
Từ ngày Thừa nuôi Mão, thỉnh thoảng Mão cũng được đưa về dinh chơi. Trước hết, Mão gọi Thừa là ông, gọi Ma-ri là bà. Không ai xui, nhưng Mão đã biết ghẻ lạnh thế. Thừa bảo mãi. Mão mới gọi Thừa là thầy, và nhất định vẫn gọi Ma-ri là bà. Mão chỉ e dè bố, còn đối với Ma-ri thì bất cần. Gặp Ma-ri, Mão không chào. Không bao giờ Mão nói ôn tồn với Ma-ri. Còn đối với lũ Rô-da-lin, Ma-gơ-rít và Ca-mê-li-a, năm bấy giờ còn bé, chưa đi học, thì thật là mặt trăng, mặt trời. Mão gọi chúng là con, là cái, con Rồ, cái Ma, con Câm. Nhiều lần Mão đánh chúng đến chảy cả máu mồm, máu mũi. Ma-ri bênh con, thì Mão chửi tuốt.
Mỗi lần trong nhà có những trận nội chiến như vậy, thì Ma-ri lại đè Thừa ra mà giày vò, xui Thừa cấm cửa thằng bé bất trị. Rồi vợ chồng lại giận nhau đến mấy ngày.
Sau hết, Thừa cũng không chịu nổi Mão mỗi ngày một xấc láo cả với mình. Muốn trừ cái bướu, hắn gửi Mão đi Hà Nội, nói rằng con đến tuổi phải học hành. Thừa đưa Mão đến nhờ người bạn thân giáo dục hộ, để học làm người. Người bạn thân này là ông nhà thơ Tình muôn thuở.
Ông Tình muôn thuở ngày ấy đã nghiện nặng, cho nên tự nhiên được thằng bé đến để nó đun nước hầu và lau bàn đèn hộ, thì ông mừng lắm. Dần dần, thấy nó có vẻ ngang tàng, ông mới dạy nó học tiêm thuốc phiện, và giáo dục nó bằng những cảnh thực tế diễn ra trước mắt.
Nhưng không phải vì Mão không ở Cẩu Rồng mà mẹ Mão không còn lý do gì để thỉnh thoảng không về khuấy lộn sự yên vui của cái gia đình càng ngày càng giàu có và danh giá này. Không phải chị khuấy lộn với mục đích làm tiền, mà chị khuấy lộn để làm nhục cái thằng đã bắt chị phải chịu mãi cái nhục nộp thuế thân cho nó!
Hôm nay mẹ Mão đến rầy la Thừa về cái tội giết thằng Mão. Thoạt nghe tiếng giết, Thừa giật nảy mình. Chị mới giảng cho Thừa hiểu thế nào là giết, và bắt Thừa phải lập tức thay chỗ ở cho con chị. Vì hôm nọ, đến thăm Mão, chị được Mão khoe rằng bác Hoài dạy nó hút thuốc phiện. Nó đã hút một điếu. Nó nói thuốc phiện không xóc như thuốc lào, thuốc lá. Hút khói vào trong người, không bị ho, sặc, mà thấy dìu dịu, nhàn nhạt như không. Chỉ bị ngứa ngáy khắp mình, không thể ngủ được, suốt đêm cứ sồn sột gãi. Mẹ Mão bực mình quá, bắt con rời ngay khỏi nhà ông nhà thơ, không cho ở đấy một giờ nào. Mão nhất định không chịu theo mẹ. Nó nói rằng ở với bác Hoài vui lắm, vì tối nào quanh bàn đèn nhà bác, cũng có đông khách đến chơi. Những bác cử, bác nghè, bác kỹ sư, bác trạng sư, bác đốc tờ, học ở bên Tây về, nói lắm chuyện rất lạ. Mẹ Mão hỏi chuyện gì. Nó bảo là chuyện trai gái. Mẹ Mão lại hỏi có phải vì thích nghe những chuyện ấy mà nó mến bác Hoài hay không. Nó đáp không những thế, mà ở đây nó được tự do hơn ở với bác Xi, hoặc ở trong dinh Cẩu Rồng. Vì bác Hoài bận, đi vắng cả ngày, nó tha hồ muốn làm gì thì làm, không ai ngăn cấm, mắng mỏ. Nó chỉ bận có một lúc vào buổi tối, khi bác Hoài bảo nó tiêm thuốc cho bác, hoặc cho khách của bác hút. Bây giờ bác Hoài thường khen nó đã tiêm khéo rồi, và bảo nếu biết hút, thì tiêm khéo hơn. Nó còn khoe chẳng có ở đâu hơn ở đây, vì nhiều tối nó được xem cái mà nó gọi là xi-nê-ma. Mẹ Mão đoán ngay ra những cảnh này là thế nào, cho nên rất kinh tởm, quyết không cho con mình vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay. Chị xỉa xói vào mặt Thừa:
- Thằng bé không đói khát mà phải học cái nghề làm bồi tiêm thuốc phiện! Nó không nứt mắt ra đã tập cái se, cái lọ! Nó không đến nỗi đốn mạt mà phải hầu cái quân vợ chồng đổi lẫn.
Rồi chị nhiếc móc:
- Nhà này chả thiếu giống đĩ!
Mỗi lần mẹ Mão đến dinh để rày la như vậy, Thừa cáu tiết lắm. Hắn trả tiền đóng thẻ, mẹ Mão nhất định không thèm nhận. Cho nên hắn đành cứ phải nhịn. Hắn cho rằng một câu nhịn là chín câu lành. Ít lâu nay, hắn học nhịn, nhịn người ngoài, nhịn Ma-ri làm nhục, đã quen rồi. Vả lại không nhịn mẹ Mão, không nhịn cái con mụ liều lĩnh, sát khí đằng đằng này, thì nó chửi rủa, nó gầm thét, nó đập phá, nó làm mất hết sĩ diện với đầy tớ, với điền tốt, với thiên hạ. Cái cảnh khủng khiếp ở phòng thuốc nhà giàu ngày trước, Thừa không muốn tái diễn ở trong dinh này, là đất đương làm ăn thịnh vượng. Biết đâu mẹ Mão lại không dắt mấy thằng du côn, chúng nó nấp ở đâu đây.
Nhưng, cũng như mọi lần phải nhẫn nhục, Thừa hay tìm một ý nghĩ của những người kẻ cả, để tự an ủi là mình cao thượng, không phải là hèn. Thừa nghĩ rằng phải tha thứ cho mẹ Mão. Mẹ Mão không có diễm phúc làm vợ hắn, cho nên mấy năm nay, dần dần cứ rạc như xác ve, rách như tổ đỉa, đem tấm thân tàn đi khắp đó đây để kiếm ăn. Bởi thế cho nên người đàn bà cố cùng ấy trở nên ác như một hung thần. Vậy thì mẹ Mão chỉ là một người đáng thương, chứ không đáng giận. Những bậc gọi là thượng lưu xã hội, phải biết nhủ lòng thương tới những người đáng thương. Thế thì một ông chủ đồn điền, một ông hàn, một hội viên hội Khai Trí Tiến Đức, có tránh một con ác thú, cũng không lấy gì làm xấu hổ. Tội gì mà đổ thêm dầu vào lửa?
Chính Ma-ri cũng sợ mẹ Mão lắm. Không bao giờ hắn dám dàn mặt. Sự thực thì ít lâu nay, sức lực hắn kém trước, hắn tự biết không thể đương đầu với cái người tuy gầy đét nhưng rất hung hăng này. Thừa thường khuyên hắn là tránh voi chẳng xấu mặt nào. Vả lại hắn cũng không dám nhìn mẹ Mão. Hắn rờn rợn, như nhìn thấy ma. Hắn đã làm hàn Xương chết. Một dạo, lúc đêm khuya, trông ngọn đèn hoa kỳ, hắn cũng tưởng tượng như mắt người chết thao láo giương ra để dọa hắn. Song, hàn Xương chết, một nửa là do hắn làm cho rạc sức, nhưng một nửa cũng do hàn Xương quá mê hắn, mà dâm dật đến kiệt sức. Hàn Xương chết rồi, chết thật rồi. Đèn sáng giong đêm làm cho hắn không thấy con mắt của oan hồn. Thời gian và công việc bận bịu hằng ngày cũng xóa nhòa giúp hắn cái hình ảnh của kẻ tình si. Và cái miếu xây để thờ người xấu số đã làm cho hắn yên tâm là người ấy được giải oan. Ma-ri so sánh hàn Xương với mẹ Mão. Người đời đổ cho hắn giết hàn Xương, nhưng một phần là do hàn Xương tự sát. Còn mẹ Mão, sở dĩ bây giờ như ma dại, như hung thần, là do hoàn toàn tại hắn. Người đàn bà này không chết hẳn như hàn Xương, nhưng chết dần. Hắn đã nhìn thấy mẹ Mão hồi ở nhờ dãy bếp nhà thằng Tu-nô. Lúc ấy chị ta trẻ, xinh và béo tốt. Nhưng do hắn tranh cướp mất chồng, mà người ấy trở nên thế này. Thân hình thì gầy gò như cá mắm, mặt mũi thì xấu xí như quỷ sứ, áo quần thì tả tơi như con mẹ ăn mày. Trông thật gớm chết! Thế thì chính là do bàn tay của hắn đã tạo nên mẹ Mão bây giờ, cái mẹ Mão gần đất xa trời, cái mẹ Mão giống con ma hơn là con người. Cho nên cái con nửa người nửa ma ấy thỉnh thoảng lại hiện ra để dọa hắn, hắn sợ mẹ Mão như sợ ma. Con ma ấy hiện ra ban ngày, chứ không hiện ra ban tối, mà có thể dùng ánh sáng đèn đuổi được. Con ma ấy lại không chết thật để có thể mời thầy đến cúng, trừ tà, hoặc gọi thợ đến xây miếu giải oan. Vì vậy, mẹ Mão tới, không bao giờ Ma-ri dám ra mặt. Hắn không dám sinh thêm chuyện để giữ tiếng với ngoài. Hắn tránh bị đòn. Nhưng nhất là hắn thấy rờn rợn như gặp ma. Hắn sợ.
Song, sợ con ma mẹ Mão, mà hắn vẫn không nén được cơn ghen với người vợ cả của chồng hắn. Cho nên, mỗi khi thấy bóng mẹ Mão tới, Ma-ri thụt ngay vào buồng, khóa cửa lại. Hắn để mặc một mình Thừa phải đối phó, phải chịu đựng. Nhưng hắn không thể yên tâm mà không tò mò lắng tai xem hai người nói với nhau những gì. Có ra dáng còn tình nghĩa với nó hay không. Có thậm thụt tư túi cho nó tiền hay không. Và cứ mỗi lần nấp sau cửa để nghe lỏm, thì y như Ma-ri phải uất lên. Hắn uất vì nghe mẹ Mão đay nghiến bóng gió hắn. Hắn càng uất vì thấy Thừa nghe những lời mẹ Mão đay nghiến bóng gió hắn, mà cứ im. Hắn ức với mẹ Mão mà không làm gì nổi, nhưng hắn ức với Thừa thì hắn trút ngay lên đầu lên cổ bọn kẻ ăn người làm, nhất là với năm cô trong đội con gái vô tội. Hắn chửi, hắn đánh họ vô hồi, cho hả cơn điên. Rồi, khi mẹ Mão về, hắn xỉ vả, hắn giày vò chồng. Hắn khóc lóc, vật mình, vật mẩy. Hắn nhắc lại vài câu mà Thừa nói với mẹ Mão để đổ cho chồng tử tế với mẹ Mão hơn hắn, thương yêu thằng Mão hơn thằng Pôn, thằng Giăng, hắn bỏ cơm, đòi uống thuốc. Vì hắn ốm, hắn ghen.
Cứ mỗi lần mẹ Mão đến dinh, thì sau đó, Thừa rất khổ. Hắn như cái sọt chứa đựng tất cả những lời đay nghiến, nhiếc móc của mẹ Mão và của Ma-ri, nó như những nhát búa, nhát rìu bổ vào óc, vào tim của hắn. Hắn cũng đâm ra nghĩ ngợi, buồn phiền. Hắn cũng mất ăn mất ngủ, cho đến hôm Ma-ri mệt quá, không còn sức nói dai để làm tình làm tội hắn nữa. Trong lúc đầu óc rối beng, Thừa cũng thẫn thờ như ốm, chẳng thiết gì làm ăn gì. Cả ngày, hắn cáu bẳn, gắt gỏng.
Nhiều lúc, Thừa chán nản. Một đôi khi, ôn lại cuộc đời, hắn thấy bây giờ hắn đau khổ hơn. Hình như hắn là nạn nhân của cái giàu và cái danh giá. Bởi vì, nếu không có giàu, không danh giá, hắn đã có cách xử trí quyết liệt với mẹ Mão. Và cũng do hắn giàu có và danh giá, cho nên mới thành một mối ghen tị về đối xử giữa tôi với nó, và giữa con nó với con tôi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
V
CHA ỐM NẶNG VỀ NGAY  
 
 
Ngay buổi trưa hôm mẹ Mão đến, rồi gây lục đục giữa Thừa và Ma-ri, thì Thừa nhận được giấy điện tín, trong có mấy chữ:
Cha ốm nặng về ngay
Tên ký ở dưới là Vi.
Cố nhiên ông bếp là cha Thừa đã chết. Phải chi ông còn sống mà Thừa nhận được tin ấy, thì hắn có thể thản nhiên. Ta đã biết cái ngày năm mươi ngày ông bếp, vì sao hắn tạt về quê. Và về quê, hắn làm những gì để tỏ lòng đau thương của người bất hạnh phải bồ côi bố. Nhưng vì ông bếp đã chết, cho nên mấy chữ Cha ốm nặng làm hắn lo lắng đến tái mét mặt. Và cái lệnh về ngay làm hắn phải lập tức lên đường.
Đây là một tin dữ dội thật. Nó là ám hiệu báo rằng chuyến hàng bị rắc rối nghiêm trọng. Còn tên ký Vi, là chữ viết tắt cái nơi gây ra rắc rối. Nơi ấy có chữ V ở đầu và chữ I ở cuối, tức là Việt Trì. Cũng như Lao Kay là Ly. Yên Bay là Gy. Phú Thọ là Pho. Sơn Tây là Sy, vân vân.
Thừa khuyên Ma-ri dẹp hết nỗi bất bình trong lòng để hết sức cứu công ty ra khỏi khó khăn. Hắn phải đi ô-tô ngay lên Việt Trì để điều tra tình hình và giải quyết tình thế. Muốn thêm oai, hắn mặc bộ quần áo đi săn, và đeo súng bắn chim. Hắn bảo Ma-ri xuôi ngay Hà Nội bằng xe lửa, báo tin cho ông Hoài Tân Tử biết là hàng về đêm nay, nhờ ông ta cứ mời khách đến Cẩu Rồng. Thừa tin ở tài thuyết khách của mình, nên chắc chắn là cũng việc thế nào cũng trôi chảy. Chẳng qua là họ muốn làm tiền. Có tiền thì mua tiên cũng được.
Ma-ri cũng lo lắng không kém Thừa. Không điều đình xong, thì mất toi bạc vạn chứ chẳng chơi. Nhưng không lẽ vì đương tức nổ ruột vì chồng, bây giờ chồng bảo đi Hà Nội, lại phục tùng ngay, thì ra hèn lắm. Hắn bèn làm ra ương bướng, bắt Thừa phải nhận một điều kiện không đến nỗi gay go:
- Tôi không đi xe lửa, chậm lắm, bẩn lắm. Ông đi bình bịch cũng sang chán rồi. Ông phải nhường cho tôi ô-tô. Nhân tiện về Hà Nội, tôi còn đi nhiều chỗ.
Thừa nhượng bộ. Ma-ri hả hê, sai Huệ:
- Xuống nói với ông đội sửa soạn đánh xe cho bà đi Hà Nội ngay!
Rồi không biết có cái gì thích ở trong bụng, hay muốn tỏ rằng mình không còn bực bội, Ma-ri nhìn Thừa, nhoẻn miệng cười.
Thừa cười lại.
Thế là hoà cả làng.
 
* * *
 
Sau khi dặn dò cụ quản chu đáo cho việc tiếp khách đêm nay, Thừa đeo súng vào vai, nhảy lên mô-tô. Xe nhẹ, chạy như bay.
Đến Việt Trì, Thừa nhận được tin là chính đích thân lão chánh đoan Rô-lăng-ti đi bắt, và giữ bè lại. Người đội đoan áp tải hàng, tên là Phùng, nhảy xuống sông định trốn, liền bị mấy phát súng lục bắn theo. Không rõ anh ta có bị đạn, hay đã thoát được lên bờ rồi. Còn những người khác, hiện nay bị Rô-lăng-ti giam giữ.
Thừa cắn môi, nghĩ một lát, rồi vào thẳng nhà đoan. Hắn đưa danh thiếp vào buồng giấy Rô-lăng-ti để xin tiếp kiến. Nhưng rõ rằng Rô-lăng-ti có nhà hẳn hoi, mà hắn không cho Thừa vào.
Thấy tình hình khá nghiêm trọng, Thừa vọt lên Yên Bái để gặp Mác-tanh.
Nhìn thấy Thừa hớt hơ hớt hải, Mác-tanh mỉm cười:
- Bố ông ốm nặng, phải không?
Thừa kể cho Mác-tanh nghe sự tình ở Việt Trì. Mác-tanh gật đầu:
- Tôi hiểu. Tại ông Rô-lăng-ti muốn cạnh tranh với ta. Ông ấy cũng mới gọi cổ phần thành lập một công ty để buôn cướp hàng của ta. Vì vậy, ông ấy cần dìm dập ta.
Thừa hỏi:
- Vậy ông định giải quyết thế nào?
- Tôi đoán là thế nào hôm nay ông cũng gặp tôi, nên tôi có ý chờ.
Nét mặt người Pháp trở nên cương quyết:
- Một là hai công ty cùng tồn tại, bên nào khéo làm ăn thì bên ấy có lợi nhiều. Hai là không một công ty nào tồn tại, để không bên nào được đồng lời nào. Tôi đã gọi điện xuống Việt Trì, nói chuyện với ông Rô-lăng-ti như vậy.
- Ông ấy trả lời thế nào?
- Ông ấy bảo để còn suy nghĩ.
Thừa nói:
- Còn một cách thứ ba nữa, tôi tưởng ông cũng nên nói với ông Rô-lăng-ti.
Mác-tanh ngước mắt, hỏi:
- Cách thứ ba?
- Vâng. Là hai công ty hợp nhất. Như vậy, vốn càng to, buôn càng lợi. Như vậy, không ai cạnh tranh ai, dìm dập ai. Suốt dọc sông Hồng, nhà đoan nào cũng là của ta.
Mác-tanh gật gù:
- Ý kiến hay. Sở dĩ tôi không nghĩ đến cách ấy, là vì từ ngày ông Rô-lăng-ti đổi lên Việt Trì, tôi thấy ông ta có thái độ hằn học với tôi. Hôm nay, tôi vừa được Lao Cai cho biết là có hai đám mua tranh nhựa của nhau, đến nỗi bắn nhau, có người chết. Tôi không biết có phải một bên là người của ta, một bên là người của ông Rô-lăng-ti hay không?
Thừa thở dài:
- Gay đấy! Tôi sợ rồi cái sảy nảy cái ung. Từ án mạng này, công ty sẽ bị nhà nước khám phá.
Mác-tanh cười:
- Một mạng người không phải là cái sảy. Nó là một chỗ rách đầu tiên của cái áo. Áo đã rách thì dễ bung to. Cho nên tôi định bàn với ông là sau chuyến này, ta hãy nằm im một dạo để nghe ngóng. Khi nào cái án mạng ở Lao Cai được bình thường hóa, nếu nó không bình thường, hoặc khi nào việc điều đình với ông Rô-lăng-ti ổn thỏa, khi ấy công ty lại hoạt động, cũng không muộn. Lợi dụng việc biến động xảy ra ở Yên Bái và một vài nơi ở Bắc Kỳ hồi đầu năm, chính phủ bảo hộ đương rối beng về chính trị, lơ là việc khác, ta đã làm cho bộ máy công ty chạy nhanh gấp đôi và nhiều gấp đôi, thì tôi chắc rằng anh em cổ đông cũng không phản đối ý kiến trên của tôi.
- Vâng. Song, cũng cần giảng rõ lý do ấy, kẻo người ta lại chạy sang với ông Rô-lăng-ti.
Mác-tanh gật. Thừa hỏi:
- Còn chuyến hàng mắc cạn ở Việt Trì hiện tại, ông giải quyết thế nào? Đêm nay, khách của ta sẽ chờ cả ở Cẩu Rồng, vì tôi đã báo cho họ biết. Làm lỡ họ, mình sẽ mất tín nhiệm. Có công ty Rô-lăng-ti, mình càng phải giữ vững khách của mình.
Mác-tanh thở hơi thuốc lá lên trần nhà, gõ mấy ngón tay xuống bàn, rồi đáp:
- Được. Ông cứ về ngay Cẩu Rồng mà tiếp khách. Thế nào nội đêm nay bè cũng tới. Song, ông chớ lộ với ai cái việc xảy ra ở Việt Trì, và nhất là đừng lúc nào tỏ ra lo lắng, để họ đoán biết. Việc điều đình với ông Rô-lăng-ti dù có khó khăn, nhưng thế nào cũng xong. Có điều là thế nào mình cũng phải chia cho ông ấy một món tiền. Tiền thì dù từ ông tổng lý Nội các, ông tổng trưởng ở bên Chính quốc, hay ông toàn quyền, ông thống sứ ở thuộc địa, cho đến thằng cu-li An Nam, ai cũng không cao thượng hơn ai.
Mác-tanh mỉm cười, rồi tiếp:
- Vậy ông cứ yên trí. Cùng lắm, tôi sẽ về Việt Trì để gặp ông Rô-lăng-ti.
Thừa nhắc:
- Theo ý riêng tôi, dù là hai công ty cùng tồn tại, hay dù là hai công ty cùng giải tán, cũng không bằng hai công ty cùng hợp nhất.
Mác-tanh gật đầu:
- Đúng. Thôi, ông về vui vẻ nhé. Có lẽ khi ông tới Việt Trì, thì bè của ta nhổ sào từ lâu rồi.
Mác-tanh cười. Thừa cũng cười. Hai người bắt tay nhau. Thừa vừa bước ra đến cửa, Mác-tanh gọi lại:
- À, ông Thừa! Chắc tối nay ông gặp ông Hoài Tân.
- Vâng.
- Ông bảo ông ấy lên ngay với tôi. Tôi có việc quan trọng bàn với ông ấy. Viết thư sợ không tiện.
- Xin ông cứ dặn tôi.
- Trong lúc công ty gặp trở ngại này, để khỏi bị lộ, tôi tạm giao quyền giám đốc cho ông Hoài Tân một thời gian. Vậy thế nào ông ấy cũng phải gặp tôi để tôi dặn dò công việc.
- Vâng.
- Còn ông, ông vẫn giữ chức cũ. Ông bằng lòng chứ?
- Vâng, rất bằng lòng, ông Hoài Tân với tôi là hai người bạn chí thiết đã cộng tác nhiều lần trong mười năm nay. Tôi sẽ hết sức với ông Hoài Tân như đã hết sức với ông, làm cho công ty một ngày một thêm thịnh vượng.
- Tốt lắm.
 
* * *
Thừa về đến Cẩu Rồng thì trời sắp tối. Trong nhà đã có dăm ba người khách đương rút bất.
Hai Điều thấy chủ về, thì chạy ra tận cổng để chào. Hắn khoe công:
- Bẩm ông lớn, ở nhà, công việc đâu vào đấy cả. Đêm nay, con làm cháo chim.
Thừa khẽ gật đầu:
- Nhà có đủ chim chứ?
- Thưa không. Con bắt chúng nó lễ tết ông lớn bà lớn sớm đi, miễn cho chúng nó những thứ khác, chỉ bắt mỗi đứa nộp một đôi chim bồ câu thôi.
Thừa ngơ ngác hỏi:
- Tết gì thế nhỉ?
- Bẩm ông lớn, tết tháng năm ạ.
Thấy chủ không tỏ ý gì, hai Điều muốn được tiếng khen, nên hỏi:
- Trình ông lớn, như vậy có được không ạ?
Thừa tặc lưỡi:
- Làm thế nào đỡ tốn thì cứ tùy ông, việc gì phải hỏi.
Hai Điều bẽn lẽn. Thừa hất hàm:
- Ở nhà không có gì lạ chứ?
Lão giờ vốn biết Thừa không ưa lũ trẻ con mắt xanh tóc vàng của hắn, nên đáp:
- Trình riêng ông lớn biết, ông lớn bà lớn đi vắng, các cậu các cô nghịch lắm, con không bảo nổi ạ. Cậu Pôn với cậu Giăng đánh nhau, không có con can, dễ đến sứt đầu xẻ tai mất. Các cô thì tranh nhau đồ chơi, chửi nhau tán loạn. Vừa rồi, nếu ông lớn về chậm, dễ cậu Pôn vật nổi con Đào rồi.
Rồi hắn lắc đầu:
- Mới ngần ấy tuổi đầu mà đã tinh quái thế!
Thừa cau mặt:
- Vật?
- Vâng, là làm cái lối lính tẩy ấy ạ. Lần trước, cậu suýt được con Sen ạ.
Thừa thở dài. Hai Điều lại mách:
- Vâng. Bà lớn cứ dặn con giấu ông lớn.
Thừa không nói gì, sai hai Điều cất xe và cất súng:
- Bà chưa về à?
- Dạ. Chắc cũng sắp thôi.
- Chốc nữa dọn cả cho tôi ăn với khách nhé.
Nói đoạn, Thừa tươi cười bước lên thềm nhà. Khách đến mỗi lúc một đông.
Nhưng đến tận sẩm tối, Ma-ri vẫn chưa về. Và ông Hoài Tân Tử cũng chưa đến.
Rồi tối mịt, rồi tám giờ, chín giờ khách khứa sôi nổi sát phạt nhau ở sòng, hoặc chí chóe với nhau quanh bàn đèn, mà riêng Thừa phải giấu vẻ băn khoăn.
Thừa băn khoăn lo hàng không đổ bộ kịp trước lúc rạng đông. Hắn băn khoăn không rõ ông cố vấn Tình muôn thuở vì lý do gì mà vắng mặt, hay công ty lại gặp trắc trở mới. Hắn băn khoăn chẳng hay bận bịu gì, hay xảy ra việc chẳng lành, mà Ma-ri phải ở lại Hà Nội, Ma-ri cũng biết đêm nay ở nhà rất bận, Ma-ri vẫn đỡ Thừa trong việc tiếp khách và làm hàng sáo. Tiếp khách không chu đáo thì mất khách. Không cho khách vay thì kém tiền hồ và thiệt lãi nợ. Hẳn Ma-ri không về được, hắn cũng sốt ruột không kém Thừa.
Cũng như mọi chuyến hàng, Thừa rối lên về bận. Hắn soát lại tiền nong để tránh lầm lẫn, tránh giấy giả. Hắn tính toán xem sẽ chia cho người nào bao nhiêu nhựa. Suốt từ sáng đến giờ, hắn đã bị mẹ Mão sinh sự, rồi bị Ma-ri đay nghiến. Hắn lại vừa phải đi Việt Trì, đi Yên Bái, lo lắng hơn lo cha chết. Bây giờ, đến nhà, không những băn khoăn về nỗi ông Hoài Tân Tử không đến và Ma-ri chưa về, hắn còn làm đủ các thứ việc. Thế mà mỗi lúc một người thua bạc đến vay, Thừa phải làm cả hàng sáo cáng hộ Ma-ri. Hắn mệt nhoài. Nhưng hắn không quên phải đảo vào sòng, vào tĩnh, quăng vào đó một vài câu khôi hài, giữ cho không khí được vui vẻ.
Rồi sáng hôm sau, khi phân phối hàng xong, đáng lẽ Thừa đem tiền đi Hà Nội nộp cho công ty, thì vì không có ô tô, hắn như bị trói cẳng. Một bọc tiền lớn, không thể đèo sau mô tô. Không có chỗ buộc vừa, vả lỡ, giữa đường, nó rơi mà không biết, thì chết.
Vì mong có xe để đi, và lúc nào cũng chắc chắn là Ma-ri sắp về đến nơi, nên buổi sáng hôm ấy, Thừa không ngủ yên giấc, hắn đặt mình xuống giường, đương thiu thiu, bỗng nghe thấy một tiếng động, là vội vàng nhổm dậy để lắng tai. Hắn tưởng tiếng còi ô tô. Nhưng không phải. Hắn lại thở dài và nằm vắt tay lên trán để đợi. Và để lo, để nghĩ. Hắn cho là đồng tiền làm con người sung sướng, nhưng kiếm nổi đồng tiền, thật là mệt xác, mệt đầu. Nhớ lại những nông nỗi suốt từ sáng hôm trước đến giờ, hắn nhăn nhó, vùng trở dậy. Hắn đi mặc sẵn quần áo, rồi tay ôm bọc tiền đặt trên đùi, ngồi chờ ở hiên. Hắn ra lệnh cấm năm đứa con không được đùa nghịch, chạy nhảy, kêu hét rầm rầm, nhất là không được đến mách tội nhau. Bởi vì hắn ngả đầu xuống lưng ghế, ngủ gà ngủ gật được phút nào hay phút ấy.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VI
ĐƯỜNG DANH  
 
Đến tận chiều cả, Ma-ri mới về tới nhà.
Vì phải chờ đợi cả một ngày, nhất là vì lo lắng, sai hẹn với công ty, sợ sẽ mất tín nhiệm, Thừa cau có, tặc lưỡi, phàn nàn khẽ:
- Bà về muộn, làm tôi lỡ cả việc.
Tức thì, mặt Ma-ri bừng bừng:
- Tôi có việc của tôi, ông biết đâu mà nói! Thế mọi bận, ông đi hàng tuần không về, thì ai bảo sao? Ai tra vấn?
Rồi vừa vào buồng ngủ, hắn vừa nói một mình:
- Thấy vợ về muộn, chẳng đoái hoài thăm hỏi lấy một câu là tại làm sao, lại còn hoạnh!
Hắn đuổi lũ con đương quấn quýt bên hắn và đuổi bọn Sen, Đào, Mai xuống nhà. Hắn gọi Thừa vào, chì chiết:
- Thức lâu mới biết đêm dài. Mọi bận ông về muộn, tôi lo lắng. Thấy ông, tôi mừng rỡ, tôi cất áo, cất mũ cho ông, tôi pha nước cho ông uống, để ông khỏi mệt. Thế mà lần này tôi về muộn, thì ông quát thượng quát hạ lên, ông mắng là làm lỡ việc của ông.
Hắn đập tay xuống chiếu:
- Ừ, đĩ cái đi ngủ với trai đấy.
Nhắc cái tiếng của mẹ Mão sỉ nhục mình sáng hôm trước, Ma-ri lại nổi máu ghen. Hắn nằm ềnh ra để thở. Hắn lại kể lể luôn:
- Bây giờ ông cậy ông có của, ông phụ bạc mẹ con tôi. Ông thử ngẫm cái mình ông xem. Ông được như thế này là ông nhờ ai, mà ông định tái hồi Kim Trọng với nó? Ông suýt bị tuyệt nghiệp, ai vẽ cho ông cách để giữ được của? Ông bị tù tội về tội giết người, ai chạy chọt cho ông được thành lương thiện? Bây giờ ông có tiền, có danh, có nhiều bạn hữu tai to mặt lớn, là nhờ ai? Đồ vô ơn, đồ bất nhân!
Thừa đành im lặng. Hắn như há miệng mắc quai. Ma-ri lại lớn tiếng:
- Ông ngờ tôi với đội Tuynh à? Ừ đấy! Tôi nhân tình với đội Tuynh đấy! Đã khỏe đa nghi, tôi gọi nó lên đây bây giờ, bắt nó ngủ ngay với tôi trước mặt ông cho ông xem!
Thừa thở dài:
- Này! Bà! Tôi bảo!
Nhưng Ma-ri không cho Thừa xen vào:
- Tôi ăn ở với ông thế nào, có Trời Phật, có quỷ thần hai vai chứng giám. Còn ông định đối xử với tôi thế nào, mặc ông với lương tâm ông.
Thấy vừa đánh vừa kéo để chặn họng chồng đủ rồi, Ma-ri ra lệnh:
- Thôi, xin ông cho tôi nghỉ. Tôi không ăn cơm đâu. Cứ bị cách đối xử thế, tôi cũng đủ no ứ đến cổ rồi.
Nghỉ một lát, hắn nói nốt câu cuối cùng:
- Ông đày đọa tôi vừa vừa chứ!
 
* * *
Thừa bực mình. Nhưng đành chịu nhịn. Ăn cơm xong, hắn lấy xe, đi ngay Hà Nội.
Tay cầm lái, nhưng óc hắn nghĩ miên man. Hắn thuộc tính Ma-ri lắm. Con người ấy thật là thất thường. Lúc tử tế, tưởng như Ma-ri quý hóa chồng không ai bằng. Nhưng khi cơn điên nổi lên, thì ối chao là nanh nọc là đanh đá! Nói như móc mắt chồng! Nhưng khi hết giận, thì hình như chả còn để bụng một tí gì. Lại nhí nhánh, ỡm ờ. Cứ như trẻ con.
Song, dù sao thì những lời của Ma-ri kể lể ơn huệ, cũng làm cho Thừa thấy nhục nhã và đau đớn. Rõ rằng là Ma-ri khinh hắn, vì Ma-ri thấy hắn không làm nên công trạng gì, phải bám vào danh vị của Ma-ri mới được tiếng sang là ông hàn. Không. Thừa có muốn cái oai mượn ấy đâu. Ngay từ ngày bắt đầu lập nghiệp, Thừa đã biết khinh những bọn nhà giàu dại dột khác, họ vứt tiền ra mua danh để lấy hư vị, làm cảnh cho tên của họ thêm đẹp. Nhưng đối với Thừa, chữ danh phải có mục đích hẳn hoi. Là để được giàu thêm, giàu bền.
Bấy lâu, sở dĩ Thừa chưa nghĩ đến việc tạo cho mình danh, vì hắn vẫn buôn bán trót lọt. Đối với hắn, danh hầu như chưa cần thiết. Buôn thuốc phiện lậu, thì chả cần phải là ông nào, bà nào, có chức nọ chức kia. Vả lại, hắn đã bám vào thằng Mác-tanh, vừa có danh là người Pháp, vừa có thế là chánh đoan. Nhưng bây giờ khác rồi. Công ty thế chắc là tan rồi. Từ nay, hắn phải tự lực mà kinh doanh. Muốn vậy, hắn cần danh quá. Hắn phải lao mình vào việc tạo công danh, cũng như mấy năm nay, đã lao mình vào việc kiếm lợi.
Lao mình vào việc tạo công danh! Hẳn việc này không vất vả bằng lao mình vào việc kiếm lợi.
Hai hôm nay, vừa mệt thể xác, vừa mệt tinh thần, Thừa thấy chán cái đời hắn lắm. Tưởng giàu thì sung sướng, nhưng thật ra, làm giàu có cái khổ của làm giàu. Anh giàu có cái khổ của anh giàu, óc không lúc nào được an nhàn. Lúc nào cũng tính toán, lo lắng để bôn tẩu, có một còn muốn được hai, ba.
Nghĩ lại những đêm hàng về, hắn đã phải chiều chuộng bọn khách khứa, quỵ lụy bọn chức trách, lắm bận đến nhục. Lại vì hắn giàu mà thỉnh thoảng mẹ Mão đến hành tội, như thể ghen với số phận may mắn của hắn. Thà hắn nghèo như người khác, hẳn mẹ Mão để hắn yên thân. Rồi cũng vì hắn giàu, nên Ma-ri hằn học, nghi ngờ là hắn còn đoái hoài đến vợ cũ. Một mình hắn kiếm ra tiền nghìn bạc vạn, phải nuôi vợ con như phụng dưỡng bà lớn với các cậu ấm, cô chiêu. Thế mà mỗi lần Ma-ri phật ý, còn đay nghiến, kể lể công lao, ơn huệ với hắn để làm hắn nhục. Hắn không giàu, thì làm gì phải chịu cái khổ này.
Hắn đã được giàu, không lẽ bây giờ lại dại dột mà muốn nghèo. Nhưng giàu mà khổ thì giàu là tai họa.
Cho nên giàu thì phải sang. Không những được giàu thêm, mà còn được vợ và người ngoài kiêng nể thật sự.
Phen này phải lăn vào công danh!
Nhưng…? Thừa thở dài. Nhưng kiếm danh gì, bằng con đường nào?
Xe ô-tô qua phố huyện. Thừa nhìn thấy trên cổng chòi thì có lính canh, trong công đường thì đèn lửa sáng. Phải. Thời buổi này, sướng nhất là làm quan, không có cách buôn bán nào lắm lời lãi bằng cách kinh doanh bằng quyền thế. Huyện Lung mới xuất chính có mấy năm, mà đã tậu được hai cái nhà ở Hà Nội, Thừa nghĩ đến những món tiền hắn phải đút lót bọn quan lại. Hắn phải khó nhọc mới kiếm ra, nhưng huyện Lung chẳng mất tí mồ hôi, mà nuốt ngon ơ những món bổng ngoại lớn.
Thừa muốn ra làm quan, có khó không? Người ta ra làm quan, phải đỗ tốt nghiệp ở trường Cao Đẳng Pháp chính, hay ít ra, cũng làm tham biện, thông phán. Thừa không làm gì, thì nhảy vọt lên cái địa vị cao quý nhất xã hội thế nào được? Hắn là hội viên hội Khai Trí Tiến Đức. Hắn có quen cụ thiếu Hoàng Trọng Phu, cụ thượng Vi Văn Định, là những vị quan có thế lực nhất Bắc Kỳ. Các cụ có giúp hắn được gì không? Chưa chắc. Không có ông Tây thì các cụ cũng khoanh tay. Phải. Phải ông thống sứ, ông đổng lý văn phòng, ông chánh phòng nhì, vẫn gọi là sếp quan lại, mới là những người có thực quyền.
Đến Vĩnh Yên, xe qua dinh công sứ. Thừa vẫn được quan chủ tỉnh Mát-xi-li nói chuyện nhã nhặn, ông này có thể giúp hắn không?
Nhưng sực Thừa nghĩ đến thằng Tây lai mật thám Pha-lăng-xô mà Thừa coi như một quan thầy. Từ ngày thằng này khám nhà cụ tú Phúc Lâm, làm biên bản buộc tội cô Lễ, để luật sư Rô-măng tựa vào đó, cãi cho hắn trắng án, Thừa đã coi nó như ân nhân. Cho nên mấy năm sau, Thừa buôn lậu và mở sòng bạc ở nhà, Pha-lăng-xô làm việc kinh tế, Thừa đã hối lộ nó rất nhiều để nó che chở cho. Nay thằng Pha-lăng-xô đã thăng lên chức cẩm mật thám và đổi sang làm việc chính trị. Hay là trời định cho hắn được công thành danh toại, nên mới an bài ra sự việc sắp xếp trong sở mật thám có lợi cho hắn như thế?
Nghĩ vậy, Thừa tự nhiên quên mệt nhọc, quên bực mình, thấy phấn khởi hẳn lên. Phải rồi, ở vào thời buổi rối ren này, muốn ra làm quan, có gì là khó? Mới đây, người đội máy bay Phạm Thành Dương đấy, người thừa phái Bùi Tiến Mai đấy. Mà ngày trước cai Tăng là bạn lính tập của bố hắn đấy. Người này làm đến tuần phủ rồi. Thật là những gương sáng đáng soi.
Bỗng Thừa thở dài. Hắn tiếc không biết có Việt Nam Quốc dân đảng để hắn xin vào mà tố giác đảng, lập được công trước đội Dương và thừa Mai. Vậy thì thiếu gì mồi mà không câu nổi chức quan? Phải lùng bắt kỳ được cho nhà nước mấy yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng đương lẩn quẩn và đương bị truy nã riết. Đường danh đi tắt ấy thật là gọn.
Nhưng Thừa thấy là hắn nắm cơ hội khí muộn. Giá hắn nghĩ đến việc lập công từ mấy tháng trước mà vớ được những tay xù như Phó Đức Chính, như Đoàn Trần Nghiệp, hay được hẳn Nguyễn Thái Học, có sướng biết bao nhiêu không! Những miếng thịt nạc này đã sa vào lưới pháp luật cả rồi, tiếc quá!
Nghĩ đến đây, Thừa lại giận Ma-ri đã dại mồm dại miệng.
Cái lần nghe tin Nguyễn Thái Học bị bắt, chẳng biết hóng chuyện ở đâu, mà đứng trước thằng Pha-lăng-xô. Ma-ri cứ cãi rằng người bị bắt là Nguyễn Thái Học giả. Còn Nguyễn Thái Học thật, có phép tàng hình, bị dẫn đến cửa nhà Hỏa Lò, đã bay lên trời mất rồi.
Ma-ri đã không suy nghĩ. Nói với thằng mật thám như vậy, có khác gì tỏ lòng thương người làm phản nhà nước, mong rằng người ấy chưa bị bắt hay không? Vả nói như vậy, nếu không có ý chống lại Chính phủ, thì cũng tỏ là mình mê tín. Nguyễn Thái Học là người như mọi người làm gì có phép tàng hình hay độn thổ?
Chính vì Ma-ri mà thằng Pha-lăng-xô chưa thật tin hắn hay sao?
Xe vào cầu Hà Nội, Thừa thấy cảnh đẹp quá. Mọi lần, trong óc bận nghĩ việc khác, chưa bao giờ hắn để mắt đến rặng đèn điện ở bờ sông bên kia, đều tăm tắp như một dây hạt ngọc căng thẳng. Không trách Hà Nội được gọi là Hà thành hoa lệ. Trời lại xanh. Trăng lại sáng. Sao lại tỏ. Nước sông gợn sóng vàng. Gió lồng lộng thổi vào mặt, làm Thừa như mát tới đáy lòng.
Thừa lấy đồng hồ ra xem. Giờ này, thằng Pha-lăng-xô đương ăn cơm. Thế thì nhân lúc nó có nhà, Thừa đến nó ngay, rồi hãy đi làm việc công ty.
Thừa phải nhờ thằng mật thám, mới mau tạo công danh được. Phải cho nó hiểu là hắn trung thành với Mẫu quốc, trung thành với chính phủ bảo hộ và chính phủ Nam triều. Phải cho nó hiểu là hắn tha thiết với việc lập công, ghét cay ghét đắng cách mạng, mới mong nó nhận cho làm môn hạ được.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VII
THỬ LỬA  
 
Hôm nay, cảnh sum họp buổi tối trong gia đình Thừa thật là vui vẻ.
Bởi vì, ăn cơm xong, Thừa và Ma-ri rỗi rãi quá. Thừa muốn cho các con vừa được giải trí, vừa được học, hắn mới gọi cả năm đứa lên ngồi trên sập:
- Nào, pa-pa dạy chúng mày đánh xóc đĩa nhé.
Hắn lấy cái đĩa, cái cốc, và bốn đồng xu. Hắn giảng:
- Ông hai vẫn xóc bốn đồng tiền bằng gỗ bao diêm trong cái bát và cái đĩa. Nhưng pa-pa không có bát, thì dùng cốc, và không có tiền gỗ diêm, thì dùng xu.
Con Ca-mê-li-a hỏi:
- Thế tiền gỗ diêm hơn hay xu hơn, hở pa-pa?
- Đàng nào cũng thế. Xóc bằng tiền thật, sợ nó kêu quá, nên phải dùng tiền vỏ diêm.
Hắn hỏi con Ca-mê-li-a:
- Con biết thế nào là sấp, thế nào là ngửa không?
- Rồi. Mặt có hình người là sấp, mặt có chữ là ngửa.
Con Ma-gơ-rít cãi:
- Không phải. Mặt có chữ là sấp.
Thừa cười:
- Gọi mặt nào là sấp, mặt nào là ngửa cũng được. Nhưng thường thì người ta vẫn cho mặt có chữ là ngửa.
Con Ca-mê-li-a giảu môi, hãnh diện với con Ma-gơ-rít:
- Nào! Nào! Cãi nữa đi!
Ma-ri ở trong buồng, chạy ra, khen:
- Con gái út của ma-măng giỏi quá!
Hắn cũng ghé vào ngồi với lũ trẻ. Thừa giảng:
- Hễ bốn đồng sấp cả, hay ngửa cả, hay hai đồng sấp, hai đồng ngửa, thì là chẵn, nhé.
Thằng Giăng nói:
- Thế thì một đồng sấp với ba đồng ngửa, hoặc một đồng ngửa với ba đồng sấp, thì gọi là lẻ à?
Con Ca-mê-li-a lay cánh tay Thừa, hỏi rối rít:
- Thế nào. Thế nào? Pa-pa nhắc lại?
Con Rô-da-lin gắt:
- Hễ một lần có ba mặt giống nhau thì là lẻ, còn không thì là chẵn tuốt chứ gì, dốt!
Thằng Pôn nhắc Thừa:
- Pa-pa đặt tiền ra chiếu làm thí dụ, cho chúng nó trông thấy, thì chúng nó hiểu ngay.
Thừa làm theo thằng Pôn, để đố con Ca-mê-li-a. Khi con bé nói đúng, không sai nữa, Thừa bảo:
- Bây giờ chúng mày đánh nhé.
Hắn vạch một vạch giữa chiếu, giao hẹn:
- Phía gần tường là chẵn, phía giáp sân là lẻ nhé. Chẵn trong, lẻ ngoài.
Hắn nhặt bốn đồng xu ở dưới chiếu, thu vào trong áo. Hắn xếp kín sấp ngửa lại. Lũ con ngồi chờ. Xếp xong, hắn trồng bốn đồng lên nhau, đặt vào đĩa, rồi lấy cái cốc úp lại:
- Nào, chẵn lẻ đánh ra!
Ma-ri nhắc:
- Phải ba cái thái bình đã chứ?
Con Rô-da-lin hỏi:
- Thế nào là ba cái thái bình, hở ma-măng?
Thằng Pôn giảng:
- Là trước hết nhà cái phải xóc, rồi mở ra ba lần, chưa đánh vội.
Ma-ri cười, khen:
- Có lớn có khôn chứ!
Thằng Giăng hỏi:
- Để làm gì hở, ma-măng?
- Để có chẵn có lẻ.
Thừa thêm:
- Để người đánh nghe mà thuộc tay nhà cái. Nào đánh đi!
Con Ma-gơ-rít ngó nghiêng, dòm qua thành cốc thủy tinh:
- Chẵn, đích chẵn!
Con Rô-da-lin cũng dòm, ngó, rồi cãi:
- Lẻ. Rõ rằng lẻ!
Thừa và Ma-ri cười sằng sặc.
Thằng Pôn móc túi, lấy đồng bạc giấy vứt vào chân. Con Ca-mê-li-a chẳng hiểu gì, cũng làm theo anh. Thằng Giăng vứt tờ giấy năm đồng vào lẻ. Ma-ri hỏi nó:
- Đánh cả?
- Không, hai đồng thôi.
Thừa giục:
- Nào Rô-da-lin? Bảo lẻ thì đánh lẻ đi? Ma-gơ-rít? Đánh chẵn chứ?
Ma-ri xui:
- Chúng mày cứ đánh chẵn đi. Mất thì ma-măng đền.
Hai đứa con gái theo lời mẹ.
Thừa hỏi:
- Xong chưa?
- Xong!
- Tiếng đầu. Không bán chác gì. Cái mở lấy may nhé.
Thừa nói xong, mở cốc ra, rồi lấy hai tay gạt bốn đồng xu riêng nhau để nhìn: hai sấp, hai ngửa. Hắn nói:
- Mắt ngỗng!
Con Ma-gơ-rít hỏi:
- Mắt ngỗng là gì, hở pa-pa?
- Là chẵn. Trông đây, không biết à?
Thằng Pôn giảng thêm cho rõ:
- Là có hai đồng ngửa, như hai con mắt.
Con Rô-da-lin bẻ anh:
- Thế sao lại mắt ngỗng mà không mắt vịt?
Thừa và Ma-ri phá lên cười. Ma-ri vơ bên thua, trả cho bên được. Thấy còn thiếu, hắn móc túi Thừa, lấy tiền để giam thêm. Trong khi ấy, Thừa vơ bốn đồng xu, nắm trong hai tay và lại thu trong áo. Hắn xếp lại sấp ngửa, chồng lên nhau, úp cái cốc ra ngoài.
Lũ trẻ lại ngó ngó nghiêng nghiêng và đoán.
Ma-ri thấy lũ trẻ ngây thơ thì tủm tỉm rồi mách:
- Rền đấy, chúng mày ạ.
Con Ma-gơ-rít hỏi:
- Rền là gì, hở ma-măng?
- Là lại chẵn. Cứ đánh chẵn ra.
Thằng Giăng nói:
- Đánh xóc đĩa phải nói bằng lắm tiếng khó hiểu quá. Lại còn rệp, khát nước, hồi lùng, với những gì gì nữa.
Thừa bảo:
- Những tiếng lóng ấy, đến đâu pa-pa giảng đến đấy. Rồi pa-pa dạy chúng mày cả cách gian nữa. Nhưng bây giờ hãy đánh ra!
Bỗng có ánh đèn ô-tô chiếu thẳng vào trong nhà. Đàn chó sủa oăng oẳng. Rồi có tiếng mở cửa. Mai hé cái cánh, nhòm vào:
- Bẩm quan có khách ạ.
Thế là đám xóc đĩa tan. Lũ trẻ tiếc bài học đương vui, phụng phịu vào nhà trong.
Thừa hỏi người đầy tớ gái:
- Khách nào?
- Bẩm con không biết?
- Đàn ông hay đàn bà?
- Bẩm đàn ông. Dễ thường quan huyện.
Thừa gật đầu:
- Lên đèn nhà khách. Mời quan huyện vào. Tao sang ngay.
Hắn bảo Ma-ri:
- Có quan huyện đến. Bà sửa soạn ra tiếp với tôi.
Thừa mặc quần áo chỉnh tề. Ma-ri quấn lại tóc, vỗ phấn vào má, kẻ son vào môi, rồi mặc chiếc áo dài lụa mỏng. Hai người cùng tươi tỉnh.
Nhưng không phải quan huyện. Đó là hai người lạ mặt.
Một người đã nhiều tuổi, mặc tây, áo cổ đứng. Một người trẻ hơn, mặc ta, áo the dài, dận giày tây hiệu Ba-ta bằng vải trắng. Tuy tối, người này cũng đeo kính đen.
Thừa và Ma-ri chào khách. Thừa cho là bạn của Ma-ri. Ma-ri cho là bạn của Thừa. Cho nên cả hai người đều bỡ ngỡ nhưng không ngạc nhiên, đều hết sức nhã nhặn và niềm nở. Thừa mỉm cười, giơ tay:
- Mời hai ngài ngồi.
Ma-ri gọi Mai, sai pha nước. Nhưng người mặc tây nói:
- Xin ông bà chớ phiền. Chúng tôi có câu chuyện, muốn gặp ông bà dăm phút, rồi phải đi ngay.
Ma-ri nhoẻn miệng:
- Xin hai ngài cứ dạy.
Người mặc tây liếc mắt nhìn người mặc ta. Bỗng hai người cùng giơ súng lục, chĩa vào mặt Thừa và Ma-ri. Người mặc ta nói:
- Giơ tay lên! Không được kêu! Nếu ông bà không nghe, thì chớ trách chúng tôi là ác!
Thừa tái mét mặt, Ma-ri run bần bật. Người mặc tây nói:
- Tôi chắc ông bà đoán chúng tôi là ai, và đến đây để làm gì. Chúng tôi không muốn dài lời. Ông bà đã biết, ít lâu nay, có những vụ tống tiền mà người tống tiền không phải là kẻ cướp. Phải. Chúng tôi làm việc quốc gia, xã hội. Chúng tôi mong ông bà lấy lòng yêu nước giúp đảng chúng tôi gây quỹ để hoạt động.
Thừa giương to mắt, nhìn hai người hội kín. Chính những người này là cái mồi cho hắn lập công danh. Thế mà hiện nay họ ở trước mặt hắn, thì hắn lại là cái mồi cho họ tống tiền! Chỉ vì họ có súng. Cái miệng súng đen ngòm nó chĩa vào người nào, thì làm cho người ấy trở nên bất lực. Thừa muốn cướp lấy súng để vồ cho được miếng ngon tự hiến thân đến miệng hắn. Nhưng dùng võ lực thì không thể. Hắn có một mình. Họ những hai người. Mà là hai người liều mạng. Tốt hơn hết, là hắn phải dùng mưu mô.
Thừa làm như không sợ hãi, cố lấy giọng thân mật để nói:
- Nếu các ông chỉ muốn tôi cúng tiền cho đảng, thì các ông cứ bảo một tiếng là có ngay, cần gì phải súng ống cho thêm phiền! Cánh ta cả đấy mà! Tôi vẫn mong được gặp anh em. Xin nói thật là hôm tôi nghe tin anh Nguyễn Thái Học bị bắt, vợ chồng tôi khóc cả buổi tối. Hôm nay, chúng tôi được anh em đến chơi, chúng tôi mừng lắm. Vậy xin cứ bỏ súng ra. Người nhà chứ có phải ai xa lạ mà phải đề phòng cẩn thận?
Bỗng Mai mở cửa bưng nước vào. Người mặc tây quay súng về phía người con gái:
- Đứng yên! Giơ tay lên!
Mai ngơ ngác sợ hãi, đặt khay lên mặt lò sưởi, và giơ hai tay lên trời.
Thấy người hội kín không chú ý đến mình, Thừa cho là lời nói vừa rồi của mình có công hiệu. Hắn hạ tay xuống. Ma-ri cũng làm theo. Nhưng người mặc ta quát:
- Giơ tay lên! Bà khóa tất cả các cửa lại, không cho ai được vào nữa!
Đôi mắt quắc lên, người mặc tây bảo Thừa:
- Ông mong gặp chúng tôi để làm gì? Để đi báo Tây phải không?
Thừa vội vàng đáp:
- Không, không ạ. Cánh ta cả đây mà! Đời nào tôi rước voi về giày mồ! Tôi mong gặp anh em để cúng tiền vào đảng.
- Thế thì ông đưa ngay cho chúng tôi.
- Vâng, nhưng xin nói trước một điều là hiện nay…
Người mặc tây gạt đi:
- Ông sắp nói điều gì, tôi đoán ra rồi. Ai cũng khoe là yêu nước, là thù Tây, nhưng hỏi đến tiền, ai cũng nói là không sẵn.
Ma-ri đỡ chồng:
- Thật thế đấy ạ. Chúng tôi là con nhà làm ruộng nghèo, làm gì có sẵn tiền trong nhà ạ.
Thừa nhân ý ấy, muốn giương cái bẫy khác:
- Nếu các ông cho biết trước một hôm, là cần bao nhiêu thì chúng tôi xin có đủ bấy nhiêu.
Người mặc ta hất hàm:
- Có đủ tiền hay đủ mật thám cả Tây lẫn ta?
Thấy những người này rất đa nghi, không nhẹ dạ, Thừa vội vàng đáp:
- Không đời nào chúng tôi có dã tâm hại các bậc hy sinh vì dân tộc.
Người mặc tây vẩy khẩu súng lục một cái:
- Không nói dài! Chúng tôi không có thì giờ. Một là ông bà đưa ngay cho chúng tôi tiền, hai là ông bà chịu lại đến hôm khác. Nếu chịu lại, thì ông bà lên xe với chúng tôi để làm con tin. Bao giờ có tiền chuộc thì về.
Thừa thở dài. Ma-ri mỏi quá, vờ khóc, để hạ hai cánh tay xuống, ôm lấy đầu.
Người hội kín cau mặt:
- Ông bà phải trả lời ngay xem muốn đàng nào. Không khóc vô ích!
Thấy nói đến mình, Ma-ri giật nảy người, gọi Thừa:
- Ông! Đừng để các ông đây ngờ là ta không tốt bụng.
Hắn nói với hai người tống tiền:
- Thưa các ông, còn như tôi, tiếng rằng mặt mũi tôi thế này thật, nhưng bụng dạ tôi bao giờ cũng là An Nam. Mẹ tôi là An Nam. Chồng tôi là An Nam. Tôi đẻ ra con An Nam. Cho nên tôi chỉ mong nước An Nam độc lập, để chồng tôi, con tôi thoát khỏi xiềng xích nô lệ.
Thấy hai người cùng nhìn Ma-ri bằng con mắt ngờ vực, Thừa được dịp lấy lòng vợ.
- Thưa thật đấy ạ. Các ông đến đây lần đầu tiên, nên chưa rõ vợ chồng tôi, nhất là vợ tôi. Chính vợ tôi đã cúng tiền cho đảng nhiều lần rồi.
Được chồng bịa ra ưu điểm của mình, Ma-ri hãnh diện, tủm tỉm cười. Người mặc tây nói:
- Thế thì tốt lắm. Vậy tôi mời bà đứng dậy lấy tiền.
Hai người cầm súng đi theo Thừa và Ma-ri. Đến buồng ngủ, Ma-ri toan vào buồng xép chứa cái két sắt, nhưng Thừa vội vàng nói:
- Tiền để cả trong tủ ở buồng này kia mà!
Hắn đứng lại, mở tủ áo, lấy ra một cuộn giấy bạc chừng hơn một nghìn. Hắn đưa cho người mặc tây:
- Thật đáng tiếc. Trong nhà còn có bấy nhiêu. Tôi vui lòng cúng tất cả.
Rồi hắn tiếp:
- Bận sau, nếu các ông cần bao nhiêu, xin cứ báo trước một ngày.
- Nhiều hay ít không quan hệ. Việc nước là việc tùy tâm, chúng tôi không ép ai.
Thừa vui sướng:
- Vâng, của ít nhưng lòng thì thật nhiều.
Bốn người lại đến buồng khách.
Thừa mời hai người tống tiền ngồi. Hắn nghĩ ra một mưu mới.
- Bây giờ chúng tôi đã làm nhiệm vụ với đảng, với xã hội. Chắc rằng anh em hiểu chúng tôi rồi. Tôi chỉ xin nói thêm một lời nữa thôi. Là tôi chưa có chân trong đảng, nhưng tôi rất phục đảng. Tôi mong được vào hẳn đảng để luôn luôn làm việc cho đảng. Thằng Tây sang nước ta, chúng nó hút máu hút mủ đồng bào ta. Nếu những người có tâm huyết như chúng ta không đứng lên mà lập đảng để mọi người theo, cùng nhau đánh đuổi chúng nó đi, thì đồng bào còn phải làm thân trâu ngựa mãi. Từ ngày ông Nguyễn Thái Học bị bắt, nhiều người tưởng thế là đảng đổ rồi. Nhưng họ có biết đâu là đảng chỉ thiếu đảng trưởng. Vậy tôi mong các ông chấn chỉnh lại đảng, lấy thêm thật nhiều đảng viên. Một tiếng gọi của các ông, sẽ có hàng nghìn hàng vạn người hưởng ứng. Người đầu tiên đi theo đảng, là tôi.
Người mặc ta cười:
- Cả hai ông bà vào đảng nhé!
Ma-ri sung sướng:
- Vâng. Thế thì hân hạnh gì bằng!
Thừa tiếp lời vợ:
- Đời tôi chỉ mong được vào một hội kín. Sở dĩ trong bao nhiêu năm nay, tôi chịu khó làm ăn, dành dụm, chẳng qua cũng là để có tiền mà làm việc nghĩa cử. Được vào đảng, tôi sẽ thỏa chí làm trai. Vào đảng ngày nào, là từ ngày ấy tôi thấy tôi thật là người.
Người mặc tây đứng dậy:
- Ông bà nói thế là chúng tôi hiểu bụng ông bà rồi. Ông bà muốn vào đảng với chúng tôi?
Thừa vội vàng:
- Vâng.
- Để ông bà giúp công giúp của vào đảng, cùng đồng bào đánh đuổi thằng Tây về nước?
Ma-ri tươi cười gật gật:
- Vâng, vâng, đúng thế.
- Muốn vậy, thì bây giờ ông bà giúp tôi một việc nhỏ.
Thừa và Ma-ri lắng tai.
- … Là ông bà cùng lên xe với chúng tôi, đưa chúng tôi ra khỏi đây một quãng. Đến chỗ nào chúng tôi có thể đi một mình, thì chúng tôi mời ông bà xuống.
Ma-ri lo ngại, hỏi:
- Để làm gì ạ?
Thừa ra làm hiểu, giảng cho vợ:
- Các ông chưa tin ta, sợ ta đi báo, thì ta phải tiễn các ông đi, để các ông yên tâm.
Người mặc ta mỉm cười:
- Bao giờ ông bà vào đảng, có tuyên thệ hẳn hoi rồi, chúng tôi mới không ngờ là nhị tâm.
Bốn người lên xe. Thừa ngồi bên cạnh người mặc tây cầm lái ở ghế trước. Ma-ri ngồi ghế sau với người mặc ta. Người này lúc nào cũng lăm le khẩu súng ở tay.
Xe mở máy, ra cổng, ra đường cái, rồi bon bon chạy.
Độ ba cây số, bỗng có một người đứng ở giữa đường. Tự nhiên xe chạy chậm lại. Qua ánh đèn pha, Thừa nhận thấy hình như là người quen, ô tô đến gần. Đúng là người quen thật, ô tô dừng lại.
Người ấy là tên cẩm mật thám chính trị Pha-lăng-xô.
Thừa bối rối, nhưng hắn mừng hơn sợ. Hắn vừa gặp thằng Pha-lăng-xô hôm nọ để hỏi nó giúp hắn lập công danh. Thừa cam đoan với nó thế nào cũng bắt nổi hội kín. Bây giờ người bạn thân này sẽ cứu hắn đây. Hắn sẽ tố cáo việc hắn vừa bị tống tiền, để nhà chuyên trách bắt sống hai người cách mạng này.
Nhưng hắn ngạc nhiên hết sức. Người mặc ta ngồi cạnh Ma-ri mở cửa xe như mời thằng Pha-lăng-xô lên. Và thằng Pha-lăng-xô chui vào xe tự nhiên như thể xe của nó.
Thế là thế nào? Thừa tự hỏi mà không sao trả lời được.
Người mật thám có biết xe này là của hội kín không? Người hội kín có biết họ vừa cho người mật thám lên xe không?
Thừa nghĩ lại, hay người hội kín là mật thám, hoặc mật thám giả làm người hội kín?
Chưa rõ thế nào, nhưng gặp Pha-lăng-xô thì Thừa cứ chào đã. Song, ngạc nhiên làm sao, thằng Tây lai không nhìn Thừa, không nhìn ngay cả Ma-ri ngồi ở cạnh. Nó hỏi người mặc ta:
- Thế nào?
- Thưa đúng như ông đoán.
Thế là vụt một cái, Thừa hiểu ngay tất cá. Hắn choáng váng đầu óc. Đúng là thằng mật thám ranh quái đã bày mưu tống tiền hắn để thử hắn và xoay hắn. Trước kia nó làm việc kinh tế, chuyên môn đi bắt bạc, Thừa đã phải chuyên môn quà cáp, biếu xén nó để nó ngơ cho. Nay nó sang làm việc chính trị, hẳn là nó tiếc Thừa như tiếc con bò sữa béo, nên lại cứ mình mà làm tiền. Chơi với mật thám thật nguy hiểm như chơi với lửa.
Nhớ lại những lời khoe với nó hôm nọ là trung thành với Mẫu quốc, là thâm thù cách mạng, Thừa rất ngượng.
Hắn nghĩ lại từng câu ban nãy vợ chồng hắn vừa nói với hai người đến tống tiền. Bây giờ phải cắt nghĩa làm sao đây?
Người mặc tây lấy cuộn giấy bạc của Thừa đưa cho thằng Pha-lăng-xô:
- Đây, tang vật.
Thừa tái mét mặt.
Thằng Pha-lăng-xô đắc chí, đếm tiền, rồi đút cả cuộn vào túi quần. Nó hừ một tiếng khẽ, rồi nhìn Thừa và Ma-ri:
- À, chào ông bà hàn! Ông bà cũng ở trên xe mà tôi không biết! Xin lỗi nhé! Cảm ơn ông bà đã cúng cho đảng ngần này tiền.
Thừa thấy không lẽ lại không nói, nhưng nói gì bây giờ cho khỏi hớ hênh? Nhân thấy Ma-ri lặng đi từ nãy, hắn nhắc:
- Ông Pha-lăng-xô đấy, em ạ. Em đừng sợ.
Rồi như để thanh minh:
- Thưa ông, nhà tôi vẫn chưa hoàn hồn.
Nhưng thằng mật thám không bắt lời. Nó cười khẩy rồi ra lệnh:
- Quay xe về đồn điền.
Trong khi xe chạy ù ù, người mặc ta thuật lại cho thằng Tây lai từng cử chỉ, từng lời nói của Thừa và Ma-ri. Thừa như nghe bản tố cáo tội trạng của mình. Hắn lạnh toát cả người. Bỗng thằng Pha-lăng-xô nhìn Thừa, nói bằng giọng mỉa mai:
- Bà hàn chưa hoàn hồn, thì tôi hỏi ông hàn. Có đúng như thế không?
Thừa không trả lời, chỉ thở dài. Thằng Pha-lăng-xô cười:
- Ông buồn hả? Ông nhớ lại những lời ông nói với tôi hôm nọ chứ? Ông bắt cách mạng đến tống tiền giỏi nhỉ! Ông đi tri huyện nhé! Thôi, nhưng tôi cũng cám ơn ông bà đã cho tôi một bài học về những người vẫn khoe là trung thành với Mẫu quốc, với chính phủ Bảo hộ và chính phủ Nam triều.
Rồi nó nói một mình:
- Hừ! Một trăm thằng thì thế cả một trăm! Bất cứ một thằng An-nam nào, hễ biết nói, thì y như nó thuộc lòng ngay những câu “Tây nó sang ta, nó hút máu mủ dân ta” với “đồng bào phải đánh đuổi thằng Tây về nước”.
Nó quay lại Ma-ri trỏ vào hai thằng tay sai của nó:
- Cả những thằng này cũng vậy, bà hàn ạ. Chúng nó cũng chẳng trung thành gì đâu. Nhà nước phát lương cho chúng nó, thì chúng nó bắt hội kín. Nhưng giá hội kín cho chúng nó tiền, thì chúng nó dò công việc của nhà nước để phản nhà nước liền! Tin là người An-nam yêu nước Pháp thì thật là điên! Cháy nhà mới ra hết mặt chuột. Cứ tống tuốt đi Côn Lôn mới ổn…
Thừa giật mình. Hắn tưởng tượng đến cái xích, buồng xà lim, những đồ đạc để tra tấn, vành móng ngựa và nhà ngục. Hắn nhìn Ma-ri, Ma-ri cũng ngồi ngay như tượng gỗ.
Ô tô đến nhà, thằng Pha-lăng-xô bảo hai tay sai ngồi trông xe. Nó đi trước lên thềm. Thừa và Ma-ri len lét theo sau.
Vào buồng khách, nó giơ tay mời:
- Ông bà ngồi.
Nhưng bỗng nó cười sằng sặc:
- À quên! Xin lỗi ông bà nhé. Tôi lại làm như chủ cái nhà này. Đáng lẽ ông bà đưa tôi vào đây và mời tôi ngồi mới đúng.
Thấy thằng Pha-lăng-xô nhắc đến địa vị làm chủ của mình, Thừa bảo khẽ Ma-ri:
- Rượu, thuốc lá.
Ma-ri đi vào trong.
Thằng Pha-lăng-xô duỗi thẳng cái cẳng. Nó móc hộp thuốc lá bằng bạc ở trong túi, lấy một điếu, dỗ xuống mặt hộp, cho vào miệng, rồi đánh diêm hút. Nó ngắm cái hộp và nhìn Thừa:
- Của ông cho tôi đây. Ông có nhớ không?
Thừa mỉm cười:
- Thưa có.
Một xe đựng rượu, mạ kền bóng nhoáng, nhỏ như chiếc xe nôi, được Ma-ri đẩy ra, bốn bánh cao su nhẹ nhàng lăn trên nền gạch hoa, những chai cao thấp xếp sát vào nhau, kêu lanh canh. Khi xe kề gần ghế thằng mật thám, Ma-ri tươi cười hỏi:
- Ông dùng thứ nào?
Bây giờ Ma-ri ăn mặc khác ban nãy. Hắn đã thay chiếc quần cẩm châu nhàu nát từ hôm trước, bằng chiếc quần xa tanh trắng bóng và phẳng nếp. Chiếc áo lụa đã đổi bằng chiếc áo màu da rắn, may chét hẳn vào lườn. Hắn đánh phấn hồng vào má, và đeo kiềng chạm vào cổ. Trông hắn trẻ hẳn lại.
Thằng Pha-lăng-xô nhìn Ma-ri, rồi nhìn các nhãn rượu. Có Uyt-xki, có Quăng-trô, có Tríp-xếc, có A-nix, có Mác-ten, và Sâm banh, lẫn Vang bọt.
Thằng Tây lai nhún vai:
- Toàn rượu quý. Tùy bà đó.
Trong khi thằng Pha-lăng-xô chọn rượu và Ma-ri rót rượu thết khách, thì Thừa đứng dậy vào buồng két. Lúc ra, hắn đặt trên xe rượu một cái phong bì dày, và cười cười nhìn tên cẩm mật thám. Thằng Tây lai hiểu ý. Nó lại nhún vai, nhìn Thừa, và mỉm cười:
- Như vậy thì tiện, đỡ phải nói nhiều, nhỉ.
Rồi nó hất hàm:
- Bao nhiêu?
Thừa khẽ đáp:
- Thưa, một nghìn.
Thằng Pha-lăng-xô lẳng lặng đút phong bì vào túi quần. Nó nốc một hơi hết cốc rượu:
- Bây giờ chúng ta có thể nói chuyện với nhau như những người bạn thân. Hẳn ban nãy, ông bà thấy thái độ của tôi lãnh đạm, thì ông bà giận lắm nhỉ. Nhưng biết làm thế nào? Trước mặt chúng nó, ông bà là kẻ có tội, thì tôi bắt buộc phải làm ra vẻ nghiêm khắc.
Thừa nhìn Ma-ri. Hai người cùng cười. Ma-ri hỏi:
- Thì té ra ông định thử bụng chúng tôi?
Thằng mật thám gật đầu:
- Đúng. Thử bụng. Vì ông hàn vừa khoe với tôi là một lòng trung thành với Mẫu quốc, với chính phủ Bảo hộ và với chính phủ Nam triều. Tôi biết câu nói ấy chẳng qua là sáo, nhiều người An-nam học thuộc lòng để đứng trước người Pháp thì đọc cho trơn. Nhưng trung thành hay không là ở hành động chứ không phải ở lời nói.
Thừa cười lạt. Nó tiếp:
- Theo ý riêng tôi, thì câu ấy tuy là sáo, nhưng còn rất vô nghĩa. Nếu hiểu chính phủ Nam triều là nước Nam, thì người An-nam làm thế nào mà vừa trung thành với nước mình, lại vừa trung thành với nhà nước đi cai trị mình? Ngay như bà hàn với tôi đây, trong người có cả hai thứ máu, nhưng rõ rệt là tôi yêu nước Pháp, vì nước Pháp nuôi tôi, còn bà hàn nói ban nãy là đúng: bà yêu nước Nam, vì chồng bà, con bà là An-nam.
Ma-ri lắc đầu:
- Tôi bắt buộc phải nói thế. Tôi sống nhờ người Pháp rất nhiều.
Thằng Pha-lăng-xô mỉm cười:
- Vậy tôi mời bà nhớ lại những câu khác, bà vừa nói với người của tôi, lúc bà bị chúng nó tống tiền. Có phải bà bảo là nếu được vào đảng phiến loạn thì bà lấy làm hân hạnh không?
Mặt Ma-ri tái mét. Thằng mật thám quay lại Thừa:
- Không trách người An-nam các ông vẫn chửi bọn Tây lai chúng tôi không có Tổ quốc. Nhưng, ông ạ, tôi hỏi ông câu này nhé: là ông sống trên đất nước của ông, ông có Tổ quốc hay không?
Mặt Thừa cũng tái mét. Hắn không trả lời câu nhiếc móc, mà bào chữa cho Ma-ri:
- Chúng tôi bị dồn vào trường hợp bất đắc dĩ. Súng kề vào cổ, muốn thoát chết, chúng tôi phải cho tiền và nói như vậy.
Thằng Pha-lăng-xô vẫn cười:
- Ông khẩn khoản xin tôi cho đi bắt cách mạng để lập công, vì vậy tôi phải thử xem ông đối với cách mạng thế nào. Nhưng, thôi được. Ông bà có hành động như vậy, thì mới đáng khen. Vì ông bà đúng là người An-nam chân chính, không táng tậm lương tâm, hại người làm việc nước. Hạng táng tận lương tâm không được kể làm người. Việc tống tiền mà tôi bày ra, là để nhìn ông bà về hai mặt. Một mặt xem ông bà có đáng tin cậy không. Nhưng một mặt cũng xem ông bà có còn là người nữa hay không. Xin nói thật rằng nếu ông bà không còn là người, thì nhất định tôi không coi ông bà là bạn nữa.
Thừa không dám nói gì, vì không hiểu bụng thằng lá mặt lá trái này ra sao. Ma-ri rót thêm rượu cho nó và mở hộp xì gà mới, mời nó cầm một điếu. Thấy thằng mật thám có ý chờ mình trả lời, Thừa nói:
- Tôi gặp ông hôm nay thật là may mắn. Ông là người hiểu đời, nên đại lượng cho chúng tôi. Tôi tự xét đã phạm tội nặng với nhà nước, có bị xử bắn cũng không dám phàn nàn.
Thằng Pha-lăng-xô xua tay:
- Tôi không thích nghe những lời nói khéo. Cái phong bì ban nãy ông đưa tôi, đủ gỡ tội cho ông bà, nếu tôi còn cho ông là kẻ có tội, thì tôi đã bắt ông rồi. Ông có hai tội, ông biết không? Một tội là cúng tiền cho hội kín, một tội là hối lộ viên chức nhà nước.
Vừa nói, nó vừa đập tay vào hai túi tiền cộm phồng:
- Thôi, nhưng mà xí xóa hết, ông bà ạ. Còn như ông bảo ông ở vào trường hợp bất đắc dĩ, thì tôi phản đối. Ông là người ngay. Họ là kẻ gian. Kẻ gian sợ người ngay, chứ người ngay không sợ kẻ gian. Nếu tôi là ông, tôi cứ kêu lên, tất nhiên, lập tức họ phải tẩu thoát.
Ma-ri hỏi:
- Nhưng thưa ông, trước khi tẩu thoát, họ đã bắn mình chết rồi.
Thằng Tây lai lắc đầu:
- Người làm chính trị không ngây thơ, dại dột, nhỏ nhen đâu. Họ bắn để làm gì? Họ chỉ cần thoát thân cho nhanh chóng. Nếu họ giết được một người, họ có thoát thân nhanh chóng hơn không? Nếu họ không chạy kịp mà bị bắt, thì ngoài cái án tống tiền, họ còn đèo thêm cái án giết người nữa. Tội có thể nặng đến tử hình. Vì vậy, những người đi tống tiền chỉ dùng súng để dọa. Có khi họ cầm súng hông, hoặc súng giả. Vả lại, ông bà nên biết rằng những người làm chính trị có thù hằn gì đồng bào của họ mà họ giết? Trái lại…
Nó khum bàn tay vào miệng, rồi thì thào như không muốn những tiếng ấy lọt ra xa:
- Họ hy sinh để cứu đồng bào của họ, ông bà ạ.
Ma-ri thở dài:
- Chả dám mong bị tống tiền lần nữa để thử bụng những ông làm chính trị!
Thằng mật thám cười:
- Ông bà còn bị tống tiền. Không biết lần sau này là hội kín tống tiền thật, hay là người của tôi đến thử lửa đấy.
Thừa cười lạt, Ma-ri hỏi:
- Nhà tôi có súng. Nếu là người của ông, mà nhà tôi bắn lầm, thì có tội không?
Pha-lăng-xô bĩu môi, nhún vai:
- Ông bà cứ thử. Mỗi tai nạn là một bài học. Ông muốn lập công với sở mật thám, thì ông còn phải học nhiều. Ông tin ở tôi là người bạn thân, lúc nào cũng sẵn sàng giúp ông. Tôi mong ông tận lực với sở mật thám, đừng đụt như Nguyễn Thế Nghiệp nó làm chúng tôi bắt hụt Nguyễn Thái Học.
Ma-ri hỏi:
- Nhưng ông Nguyễn Thái Học cũng bị bắt rồi kia mà?
Thằng Pha-lăng-xô gật đầu:
- Đúng. Song không phải sở mật thám hay quan lại An-nam bắt.
- Thế thì ai?
Thằng Tây lai lắc đầu, cười:
- Chỗ ông bà là thân tình, nên tôi không giấu việc này, và cũng để ông nghe một bài học kinh nghiệm lớn về việc bắt cách mạng.
Nó ngồi ngay ngắn lại, uống hụm rượu, châm thuốc lá hút, rồi chậm rãi, kể:
- Nguyên là bị lùng riết quá, Nguyễn Thái Học mới định vào dãy núi Đông Triều để tìm đường đi sang Tàu. Anh ta ăn mặc giả thợ cấy, cầm thẻ một người quê ở Lang Tài, đi với một vài người nữa, qua đồn điền Cổ Vịt ở hạt Chí Linh. Tình cờ hôm ấy, có một người điền tốt quê ở Lang Tài trốn đi, cho nên người chủ đồn điền dặn các điền tốt khác, nếu gặp ai là người Lang Tài đi qua, thì nói với người ấy vào trong đồn điền để ông chủ nhờ một việc. Ý ông này muốn nhắn cho người điền tốt trốn đi, là cứ trở lại mà tiếp tục làm ăn. Một người điền tốt gặp bọn Nguyên Thái Học. Người ấy hỏi thẻ, thấy là dân Lang Tài, thì bảo vào ông chủ hỏi gì. Muốn người điền tốt khỏi nghi, bọn Nguyễn Thái Học theo người ấy. Họ nghĩ rằng mấy lần trước đã thuyết nổi mấy ông chủ đồn điền giúp tiền nong, thì lần này có lẽ cũng là một dịp tốt cho họ tuyên truyền người chủ đồn điền này. Nhưng khi gần đến nơi, Nguyễn Thái Học thấy cái nhà có gác mới chột dạ. Anh ta hỏi người điền tốt rằng chủ đồn điền đây là Tây hay là An Nam. Lúc nghe nói là chủ Tây, anh ta mới hốt hoảng, định đánh tháo. Anh ta đánh nhau với người điền tốt, giơ súng lục, bắn một phát chỉ thiên. Bất đồ người chủ ở trên gác, thấy có tiếng nổ mới mở của sổ ra để xem. Ông ấy cho là kẻ cướp, vội vàng chĩa súng ra bắn, không may trúng đùi Nguyễn Thái Học. Nguyễn Thái Học bị thương nên bị bắt. Người chủ đồn điền cho cáng anh ta đi nhà thương Hải Dương, ông ấy tưởng là một tay kẻ cướp thường, cho nên chỉ sai có hai người cáng, chứ không có người theo để canh phòng. Nhưng Nguyễn Thái Học đến Hải Dương, thì đúng mười một giờ trưa, nhà thương nghỉ làm việc. Hai người cáng mới đặt Nguyễn Thái Học dưới bóng cây trước cửa trường Pháp Việt, để nghỉ và chờ. Lúc ấy tan học. Học trò thấy có cái cáng người bị thương thì xúm lại xem.
Một người giáo học tò mò, cũng lách đám đông để dòm vào. Ngờ đâu ông giáo này với Nguyễn Thái Học là bạn cũ, Nguyễn Thái Học thấy người quen, thì gọi và nói bằng tiếng Pháp Je suis arrêté[88]. Giữa lúc này, ông đốc học Pa-rô, ở nhà bên cạnh trường, thấy học trò xúm đông ở góc cây, cũng muốn biết là chuyện gì. Cho nên, khi người giáo học ấy đi qua, ông Pa-rô hỏi:
- Ông cũng quen thằng ăn cướp ấy à?
Vô tình, nên người thầy giáo nói thật:
- Đó là Nguyễn Thái Học chứ không phải thằng ăn cướp.
Ông đốc học giật nảy mình hỏi:
- Sao ông biết?
- Anh ấy học với tôi ở trường Nam sư phạm và một thời gian, có trọ chung với tôi một nhà.
Ông Pa-rô sửng sốt:
- Ông không trông lầm?
- Không.
Lập tức ông đốc học gọi dây nói ra tòa sứ. Và năm phút sau, kèn báo động thổi inh thành phố. Dân phố thấy nguy, đóng cửa hàng rầm rầm. Ngoài đường, lính tráng súng ống đi rầm rập. Và từ lúc ấy, Nguyễn Thái Học mới bị gác chặt chẽ bằng khí giới.
Ma-ri mỉm cười:
- Buồn cười nhỉ? Thế ra cũng chẳng ai bắt ông ta.
Thằng Pha-lăng-xô gật:
- Đúng. Cho nên không thể tin ở tuần đinh được. Làng nào không canh phòng cẩn mật, sao họ vẫn đi lọt? Cũng không thể tin ở dân được. Nhà nước đã treo giải ai bắt được Nguyễn Thái Học thì trọng thưởng, vậy sao anh ta vẫn có cơm để ăn, vẫn có tiền để tiêu? Không trách chúng nó dám nói láo là keo này, nhà nước thua chúng nó và thua dân!
Nói đoạn, thằng mật thám đứng dậy:
- Nhà nước phải thắng chứ? Nếu ông giúp nhà nước thắng, ông sẽ được trọng thưởng.
Ma-ri rót thêm rượu. Nhưng nó giơ tay ra ngăn:
- Thôi, tôi phải về. Việc của chúng ta thế là xong. Tôi đợi ông ở một dịp khác.
Thừa vẫn dè dặt, không dám đáp lại những câu khó hiểu. Ma-ri vội vàng chạy vào buồng, lấy tờ báo, gói hộp xì-gà vừa mới mở, để biếu khách quý.
Thằng Tây lai tủm tỉm, cố nhét cái hộp vào túi quần đã chật ních những tiền. Nó nói:
- À, còn cái món ông bà cúng vào đảng thì thế nào đây? Tôi trả lại nhé!
Thừa nhìn Ma-ri, vừa lắc đầu vừa nói thầm:
- Thôi.
Thằng Pha-lăng-xô nghe thấy, nó gật gật:
- Cám ơn ông bà. Độ này ông bà đương phát tài, có chia cho bạn tiêu chút ít, chắc chẳng tiếc lắm đâu nhỉ.
Thừa và Ma-ri tiễn thằng mật thám ra ô tô. Khi xe qua cổng, Ma-ri nhìn Thừa trợn mắt.
- Hú vía!
Nhưng Thừa thở dài:
- Ghê thật!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VIII
CHUYẾN TÀU VÉT  
 
Đợi đến lúc khách khứa ra hết bờ sông để nhận hàng Ma-ri thay quần áo, định đi nằm, thì Đào vào nói:
- Bẩm bà, cụ Hoài mời bà sang nói chuyện.
Hiểu tiếng cụ Hoài là ông Tình muôn thuở - bởi vì mặt mũi ông bây giờ hom hem tới cái trình độ mà người khác phải gọi bằng cái hiệu bất lực là cụ - Ma-ri cứ mặc nguyên bộ quần áo ngủ mỏng tang, đến buồng riêng của ông nhà thơ. Hắn tủm tỉm, khẽ hỏi trống không, giọng ngờ vực:
- Gì thế?
Ông Hoài Tân Tử nháy mắt, hất hàm:
- Trong nhà còn ai không?
Ma-ri vẫn mỉm cười, lắc đầu. Ông Tình muôn thuở tặc lưỡi, ngoáy bàn tay để ra hiệu:
- Nhưng cũng cứ khóa cửa lại cho cẩn thận. Rồi lên giường tao bảo cái này.
Ma-ri không phản kháng. Khóa cửa xong, hắn nhí nhảnh đến gần ông bạn cũ, nhưng giơ cánh tay ra ngăn và giao hẹn:
- Này, cấm đấy nhé.
Có lẽ bây giờ ông Hoài Tân Tử mới sực hiểu cái điều mà Ma-ri hiểu. Muốn hắn đỡ bẽ, ông phải vi phạm vào cái hắn cấm. Ông bẹo khẽ vào má hắn, rồi khen:
- Lúc nào cũng phây phây như con gái mười tám!
Ma-ri làm ra vẻ ngây thơ, hỏi khẽ:
- Bảo gì thế? Người ta sắp đi ngủ.
Nhưng ông nhà thơ nghiêm chỉnh, đáp:
- Tao muốn bàn với vợ chồng mày một việc, nhưng tao ngại thằng Thừa là hội viên hội Khai Trí Tiến Đức, thì nó tưởng rằng lúc nào cũng phải đạo đức, với ai cũng phải ăn ở có thủy có chung. Nên tao bảo mày trước. Rồi chốc nữa nó về, tao có nói, thì mày cũng thuyết nó hộ tao.
Thấy ông nhà thơ xứng đáng bị gọi là cụ, Ma-ri thất vọng, ngớ mặt:
- Gì mà phải giáo đầu long trọng thế?
- Ma-ri ạ. Hẳn thằng Thừa cũng đã nói với mày rằng chuyến hàng này là chuyến cuối cùng.
Ma-ri gật đầu:
- Nó mới cho tao biết sáng hôm nay. Nó buồn lắm.
- Ai chẳng buồn? Đương làm ăn phát tài đùng đùng, bỗng nhiên thôi, thì có là thánh cũng không vui được. Nhất là tao, mới lên quyền giám đốc công ty, định sau chuyến này, cất nhắc nó lên làm phó, thì Yên Bái ra lệnh đình chỉ hoạt động, công ty tạm giải tán. Chán quá!
- Phải rồi, thằng Thừa cũng bảo tao là tạm giải tán. Thấy nó buồn tao nói rằng tạm có nghĩa là chỉ ngừng một thời gian, rồi lại buôn bán như cũ. Ít lâu này, nó làm việc nhiều quá, sức lực kém sút. Thì nhân dạo này, tao cũng muốn nó được nghỉ để tĩnh dưỡng cho lại người.
Ông Hoài Tân Tử lắc đầu:
- Mày thật thà lắm. Tạm nghĩa là vĩnh viễn, con bà cô ạ. Thằng Thừa với tao ở trong công ty, nên biết rõ hơn mày. Tao đã gặp thằng Mác-tanh mấy lần, tao xem ý nó chán nản, sợ sệt lắm rồi. Cái vụ án mạng ở Lào Cai thật là tai hại. Thằng Thừa có cho mày biết nguyên nhân vụ này không?
- Có.
- Bây giờ hung thủ bị bắt rồi. Nó mà bị tra tấn thì thế nào cũng không chịu nổi.
- Thế thì thằng Mác-tanh sợ là phải. Còn mày với thằng Thừa có đáng ngại không?
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Nó có khai, cũng chỉ ra vài thằng vô danh tiểu tốt thôi. Vì công ty này bí mật như một hội kín. Song thằng Mác-tanh dặn tao tuyệt đối phải nằm im. Vì nếu không, lỡ xảy ra gì, nó không chịu trách nhiệm cho.
Ông Tình muôn thuở phì cười. Nhưng Ma-ri trợn mắt, rất nghiêm chỉnh.
- Thật đấy, tao có tụi cha đạo, trừ khi làm giặc thì chúng nó mặc kệ, còn thì tao bảo gì chúng nó cũng phải nghe.
Ông nhà thơ mỉm cười, và gật sâu đầu xuống:
- Tao biết rồi. Tôn giáo với thuốc phiện là một hùa. Nhưng hãy để các cha của mày đấy, ta bàn việc của ta đã. Ma-ri ạ, tao nghĩ như thế này. Hiện này, tao làm quyền giám đốc, thằng Thừa làm thủ quỹ. Nghĩa là hai đứa có thể làm mưa làm gió trong công ty. Sở dĩ chúng tao chưa làm mưa làm gió, vì còn thấy biển yên, sóng lặng. Nhưng bây giờ thời bình hết rồi, nếu không mau mau trở tay, thì hối không kịp.
Ma-ri hỏi:
- Mày muốn nói gì?
- Tao muốn nói rằng, lần này thằng Thừa được thu bạc vạn của công ty trong tay này là lần cuối cùng. Vậy nếu nó nhả ra, thì nó dại hơn con chó.
- Không nhả thì nuốt sao trôi?
- Con khỉ! Chỉ có tao với nó, với mày, không đứa nào nói ra, thì người khác, ai có thể biết?
- Nhưng làm thế nào mà nuốt được?
- Con khỉ. Khó đếch gì? Thế mày có biết độ này bọn Việt Nam Quốc dân đảng hay đi tống tiền không? Vậy ta cũng bày ra một vụ tống tiền để đổ cho hội kín, thì công ty đợi đấy mà đòi.
Ma-ri chợt nhớ lại vụ tống tiền của thằng Pha-lăng-xô đặt ra để thử bụng vợ chồng hắn. Hắn hơi ngại. Vả lại, chốc nữa Thừa về, hắn sẽ đem tiền đi. Thì còn thì giờ đâu mà tống.
Ông nhà thơ không hiểu Ma-ri nghĩ gì, nên nói tiếp:
- Có hai cách tống tiền. Một là vào tận nhà, hai là đón giữa đường. Tao sẽ tìm người có súng lục súng liệc, làm y như thật.
Ma-ri lắc đầu:
- Có tụi mật thám họ bắt bọn tống tiền phải diễn lại hành động cho họ xem, thì họ mới làm như thật được.
Ông Hoài Tân Tử lắc đầu:
- Mày ngây thơ lắm, khỉ ạ. Tao quen mấy thằng diễn kịch. Chúng nó lên sân khấu đóng vai gì cũng hệt như vai ấy. Mấy lỵ, cái chính không phải ở chúng nó diễn khéo hay không khéo. Cái chính là chúng mày có khai báo đúng như bị tống tiền thật hay không. Chứ còn lúc vào trong nhà để tống tiền, cửa khóa lại rồi, chúng nó vẫn có thể…
- Thế thì thằng Thừa với tao phải diễn kịch như thật?
Ông Hoài Tân Tử gật đầu:
- Hoặc cả hai đứa, hoặc nếu mày sợ thì vờ đi vắng, để một mình nó thôi. Ví dụ lần này, nó có thể ách món tiền đến sáng mai hãy đi Hà Nội, thì từ chiều nay, mày lánh mặt đi. Một mình nó ở nhà hoặc ở đường, thì tao sẽ cho người đến tống.
- Tao tưởng tống ở nhà thì êm hơn. Tống giữa đường lỡ có xe nhà chuyên trách đi qua, họ bắt thằng tống tiền thì vỡ lọ cổ!
- Mày ngu như con chó! Có nhà chuyên trách đi qua, thì thằng nào dại lại hô hoán lên là bị tống tiền!
Ma-ri cười sằng sặc:
- Ừ nhỉ.
- Thế mày có tán thành tống tiền không đã nào?
- Tán thành quá chứ lại còn gì! Được món kếch sù ấy, tha hồ mà làm giàu nhỉ.
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Chia đôi, tao một nửa, thằng Thừa một nửa. Đứa nào muốn dùng làm gì thì làm.
Ma-ri hớn hở, hỏi đùa:
- Thế mày định quỵt công những thằng đóng vai tống tiền à?
Ông Tình muôn thuở lắc đầu:
- Tao chỉ sợ thằng Thừa nó có óc cổ, muốn thủy chung, ăn cây nào rào cây ấy, nó không nghe theo tao thôi. Tiên sư hội Khai Trí!
- Có họa nó dại bằng con chó ăn cứt! Làm mửa mật ra, mỗi chuyến được nhiều lắm là dăm bảy trăm. Đằng này cứ ngồi nhà ung dung mà được ngay dăm bảy nghìn, chả hơn à? Dù công ty có ngừng hoạt động một năm, thì cũng như công ty vẫn hoạt động thôi. Mà lại nhàn.
Ông Hoài Tân Tử gật gù:
- Đúng thế. Vả lại đứng về mặt đạo đức mà xét, thì mình cũng không phải là tham lam, là ăn cắp của công ty, mày ạ. Chẳng qua là bấy lâu, mình hết lòng hết sức với công ty, thì lần này, cũng như công ty đền công cho mình.
Ma-ri vênh váo:
- Phải rồi. Của đến nhà mà chịu hẩy nó đi cho người khác à?
Bỗng Ma-ri sực nghĩ ra một ý:
- À, mày này. Thế ngộ công ty nó kiện là mình biển thủ, thì sao?
Ông nhà thơ cười khẩy:
- Khỉ! Công ty à? Chẳng lẽ thằng Mác-tanh dám đứng nguyên đơn, xưng danh là giám đốc công ty buôn thuốc phiện lậu, kiện thằng thủ quỹ là An-be Thừa thụt két của công ty à?
Ma-ri rũ ra cười, đập mãi vào đùi ông nhà thơ:
- Ừ nhỉ.
Ông nhà thơ đắc ý:
- Còn ai nữa? Hay là tao? Tao lại kiện tao à? Nghĩa là ngoài thằng Mác-tanh với tao ra, không còn ai có quyền thay mặt công ty. Vả lại, nếu công ty bị vỡ lở, thì bọn cổ đông bố bảo cũng không dám nhận là có chân trong công ty. Nếu bị khai ra, chúng nó lại không quăng hàng đống tiền để chạy chọt cho khỏi liên lụy à? Lúc ấy, giá chúng nó có biết là tao với thằng Thừa vơ hết chuyến tàu vét, cũng đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, chứ làm gì nổi. Cho nên tao tính nuốt món này thật là dễ dàng và ngon ơ. Tao tưởng trừ phi thằng nào ngu ngốc, có gái đến hiến thân tận nơi mà không biết, mới từ chối việc này.
Ma-ri tủm tỉm, đứng sát vào ông Tình muôn thuở, rồi hỏi:
- Thế à? Thế là ngu ngốc à?
* * *
Nhưng ông thủ quỹ Thừa kịch liệt phản đối ông quyền giám đốc công ty về việc tống tiền giả vờ.
Song, với người bạn thân lâu năm, Thừa viện lý do là không nỡ phản bội đồng nghiệp. Nhưng với Ma-ri, hắn nói riêng rằng những người mà ông Hoài Tân Tử phái đến tống tiền, mình không biết mặt họ, thì có thật là họ, hay lại chính là người của thằng Pha-lăng-xô đến thử lần thứ hai? Ma-ri khuyên thế nào, Thừa cũng lắc đầu:
- Không nên nhúng tay vào việc trái với đạo lý và nguy hiểm ấy.
Đến khi Ma-ri làm mặt giận, nhiếc móc Thừa là ngu là dại, Thừa mới nói thật ý của mình:
- Phàm ở đời, muốn làm gì cho kín đáo, thì không bao giờ nên bàn bạc với ai, mà bao giờ cũng không cùng làm với người khác, dù là một người khác thôi. Một người biết, thì hai người biết, rồi mười người biết, không thể giấu được mãi. Vả lại làm cùng với nó, thì phải chia tiền với nó. Và vì là sáng kiến của nó, tất nó đòi chiếm phần hơn. Thế mà còn phải trả công cho những thằng làm cái việc tống tiền khá nguy hiểm, thì mình còn ăn gì?
Ma-ri cho là có lý, ngồi yên lặng để suy nghĩ. Thừa tiếp:
- Một là mình được ăn cả hơn vạn bạc. Hai là mình không theo thằng Hoài, để có cớ mà tố giác bụng xấu của nó, cho nó mất giá trị, mất tín nhiệm. Một ngày kia, nếu công ty lại hoạt động, mình sẽ được thay chân nó, mà không cần hất nó, để bị nó oán là phản bạn. Mà dù công ty không hoạt động nữa, thì cũng như mình chịu thiệt vài nghìn để giữ nguyên được giá trị, được tín nhiệm đối với các ông ấy. Mình còn làm ăn, còn cần đến các ông ấy sau này nhiều.
Ma-ri hiểu tiếng “các ông ấy” của chồng, nghĩa là từ chánh đoan Mác-tanh đến bọn phó đoan tây lai, và từ bọn quan lại đến bọn nhà giàu khác, có chân trong công ty.
Ma-ri không bàn thêm, hắn nói:
- Thôi, việc kinh doanh lớn, ông cứ định liệu. Miễn sao cho khỏi mang tiếng thì làm.
* * *
Sáng kiến tống tiền của ông Hoài Tân Tử gợi cho Thừa một thủ đoạn. Hắn muốn ăn to, ăn một mình cho kín đáo.
Hôm ấy, chịu cho ông nhà thơ chửi hắn là ngu dại, là cổ hủ, hắn không đi nộp tiền cho công ty ngay. Đợi ông bạn cố tri đem cái mặt thất vọng và giận dữ ra khỏi dinh, hắn mới dần dần nói rõ ý định của hắn cho Ma-ri nghe. Rồi hắn cùng Ma-ri hý hoáy ở trong buồng ngủ. Ma-ri đặt tờ giấy bạc lên mảnh giấy báo gấp làm tư, làm sáu, làm tám, cầm kéo cắt theo đúng khuôn khổ ấy. Có tờ mẫu là giấy trăm, có tờ là giấy hai chục, năm đồng, một đồng. Và có cả giấy năm hào, hai hào nữa. Thừa ghim những giấy cùng cỡ với nhau, giấy lớn thì nghìn một, giấy lẻ thì trăm một, chục một. Rồi hai người cùng đếm lại. Đủ một vạn hai nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng sáu hào, đúng với số tiền ghi trong sổ bán nhựa đêm trước. Muốn cho những giấy mới cắt ấy mềm và phẳng, Thừa xếp tất cả xuống nền gạch, rồi cùng Ma-ri khênh tấm ghế nhựa, đặt ép lên trên.
Tối hôm ấy, tuy ngồi cả ngày mỏi lưng, nhưng Ma-ri không cần tẩm quất. Hắn vui vẻ lắm. Như lại khỏe khoắn ra. Luôn luôn hắn vuốt má Thừa. Lúc hắn nựng:
- Phục ông quá!
Lúc hắn khen:
- Đàn ông vẫn lắm mưu mẹo!
Lúc hắn nũng nịu:
- Toa bí mật thế, không trách toa có lắm nhân tình nhân ngãi, mà moa chả biết tí gì.
Thừa chỉ tủm tỉm, vuốt râu, ra vẻ đắc ý.
Sáng hôm sau, Thừa ra ô tô. Đem theo cái gói bọc và buộc y như cái gói tiền mọi bận. Chỉ khác một tí là có mùi dầu xăng xông lên hăng hăng. Thừa đặt cái gói ấy ở đệm sau. Vì trời nhiều mây, râm, hắn hạ mui xuống để chạy cho mát.
Thừa cho xe đi một quãng, đến chỗ vắng thì dừng lại. Hắn lấy một điếu thuốc lá, nhìn kỹ cho đúng cái đầu phải ngậm vào miệng, rồi đánh diêm châm vào đầu kia.
Khi xe tới phố huyện, điếu thuốc lá cháy dở, bén hết vừa quá nửa. Thừa đặt nó trên bọc giấy. Rồi hãm xe trước cửa hiệu bào chế của chú khách thầy. Hắn vào đó, cân thuốc cho Ma-ri.
Bỗng:
- Xe ông hàn Be cháy! Xe ông hàn Be cháy!
Thừa giật mình, chạy ra hè. Mặt hớt hơ hớt hải. Ngọn lửa đương bừng bừng ở đệm sau. Hàng phố đổ ra chữa. Có người lăn vào, toan lôi cái đệm ra. Nhưng Thừa hét:
- Khéo! Khéo! Ét-xăng nó nổ đấy!
Có người đã gánh một gánh nước, sắp đổ lên lửa, nhưng Thừa lại cản:
- Không được! Có nước, lửa càng bốc to!
Người ta nhốn nháo chạy và xôn xao bàn cách chữa. Lửa vẫn ngùn ngụt, mỗi chốc lại to hơn.
Độ mười lăm phút sau, thấy gói giấy chỉ còn là tàn, Thừa mới để cho mấy người tuần phố bơm nước vào xe bằng cái ống thụt đồng. Nước giập tắt lửa. Khói đen bốc lên, khét lẹt.
Hàng phố xúm lại xem đám cháy rất đông.
Người ta ngó vào trong xe xem thiệt hại những gì, rồi nhìn mặt ông hàn tái mét.
Thừa nói với người trưởng phố:
- Thầy coi cho tôi. Đừng để ai đụng vào xe. Tôi lên trình quan về cái tai nạn này. Lạ quá!
Chú khách thầy lo lắng, phân trần mãi với mọi người là chú bận cân thuốc, chú “công pết” gì cả.
Thừa vào công đường. Huyện Lung trông thấy thì tiếp ngay. Thừa tường thuật rất tỉ mỉ việc hỏa hoạn vừa xảy ra. Hắn nói:
- Trên đệm có gói tiền một vạn hai nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng sáu hào, tôi định mang đi Hà Nội. Vì mất món tiền to, tôi nhờ quan lớn xuống phố chứng kiến chỗ cháy.
Quan phụ mẫu lắc đầu, tròn cái miệng để:
- Ồ! Chết chửa! Quan hàn mất hơn một vạn bạc trong mười lăm phút?
Thừa cười lạt:
- Vâng, số mất của, tôi biết làm thế nào?
Huyện Lung hỏi khẽ:
- Tiền hàng chuyến vừa rồi đấy à?
- Vâng.
- Buôn to nhỉ. Tôi không ngờ. Nhưng quan hàn ạ, nghiệm đáo để, tiền lãi buôn cái ấy, có bao giờ giữ được bền đâu. Thế quan hàn muốn tôi chứng kiến để làm gì?
- Thưa tôi muốn xin quan lớn mấy chữ chứng nhận cho là vì ô-tô cháy, nên món tiền ấy cũng bị thiêu hết.
Quan gãi mép một lát, rồi hỏi lại:
- Bao nhiêu nhỉ?
- Thưa một vạn hai nghìn bốn trăm năm mươi tư đồng sáu hào.
- Toàn là giấy?
- Vâng. Cháy hết. Thật đáng tiếc!
Bỗng quan thản nhiên, tặc lưỡi:
- Tiếc quái gì! Giá vốn của nó độ đồng bạc chứ mấy?
Thừa không hiểu. Huyện Lung lại hỏi:
- Quan hàn muốn tôi xuống tận nơi để chứng kiến, rồi cho giấy chúng nhận à?
- Vâng, thật là phiền quan lớn quá.
Quan phụ mẫu lắc đầu, mỉm cười:
- Không phiền tôi, nhưng tôi sợ phiền quan hàn thôi.
Thừa vẫn không hiểu, tủm tỉm và nói nhỏ:
- Thế nào rồi cũng xin hậu tạ quan lớn.
Nhà cai trị tặc lưỡi:
- Tạ tùng gì cái vặt! Có điều là nếu tôi cứ ngồi đây nhắm mắt mà tin quan hàn, thì tôi có thể làm giấy chứng nhận một cách dễ dàng là quan hàn bị cháy hơn vạn bạc do tai nạn bất thần. Nhưng nếu quan hàn muốn tôi đến tận nơi để mắt nhìn thấy gói giấy bị cháy, thì tất nhiên tôi phải chứng nhận đúng sự thật, là món giấy cháy ấy toàn là giấy báo cũ.
Thừa giật nảy mình. Nhưng hắn cố giữ nét mặt bình tĩnh.
- Trình quan lớn, trăm nào chục nào cũng có ghim hẳn hoi để làm bằng. Tuy nước cứu hỏa có làm hư nát chút ít tàn giấy ở phía trên, nhưng thế nào những tệp xếp ở phía dưới cũng còn nguyên vết.
Quan gật đầu:
- Thế mới càng rõ là giấy nhật trình! Chẳng tin thì bây giờ, tôi mời quan hàn đi một mình, đến mà nhìn kỹ xem, những vết chữ in bài báo quốc ngữ còn hằn trắng cả lên rõ lắm đấy. Không phải quan hàn chỉ bị cháy mất có một đống bạc giấy báo cũ, quan hàn cứ đem đầu tôi đi mà chặt!
Nói xong, huyện Lung cười hề hề. Thừa luống cuống. Quan lắc đầu, tủm tỉm, giọng thân mật:
- Không bịp được thiên hạ đâu quan hàn ạ! Thiên hạ có mù đâu, hở quan hàn? Vả lại lừa bịp lần đầu, chưa chắc người ta đã tin, huống hồ là lần thứ hai?
Thừa im lặng, mặt tái dần.
- Quan hàn ạ, có phải quan hàn bắt chước cái lối xoay tiền của cái ông huyện gì ở Huế, định trẩm món tiền thuế không? Ông ta thua bạc, muốn bịp nhà nước, cũng tự đốt ô-tô của ông ta, trên có để những tệp giấy nhật trình cắt đúng như giấy bạc, cũng ghim cẩn thận, như kiểu quan hàn làm hôm nay ấy. Nhưng khi nhà chức trách đến khám xét, thấy giấy bạc mà có hằn những dòng chữ in quốc ngữ, thì mưu gian của ông ta bị lộ ngay. Quan hàn tưởng tôi không biết việc trong Huế ấy, nên định dùng tôi để nuốt cho trôi hơn vạn bạc phải không?
Thừa biết rằng nói dối vô ích, nên đành thú thật:
- Trình quan lớn, thật là tôi tự nghĩ ra cách ấy, chứ không phải bắt chước ông huyện mà quan lớn vừa nói.
Quan nhìn Thừa bằng đôi mắt dịu dàng:
- Quan hàn ạ. Việc quan hàn đốt ô-tô, làm tôi phiền hết sức. Vì, chỗ anh em, tôi nói thật, quan hàn làm thế là cướp của tôi một mưu đấy. Vụ thuế sắp tới, tôi cũng định sửa món thuế của huyện bằng cách đốt xe ô-tô của tôi. Nhưng tôi không vụng như cái ông bạn đồng liêu của tôi trong Huế đâu. Tôi mà làm thì có trời cũng không khám phá ra nổi. Nhưng hôm nay quan hàn làm trước tôi mất rồi, mà lại làm rất vụng. Chẳng lẽ tháng sau tôi cũng làm thế, để các báo nó đăng xỏ là hễ không phải tiền của mình để trên ô-tô, thì tất ô-tô bị cháy à?
Huyện Lung cười ha hả, rồi hỏi, vẻ chế nhạo:
- Thế bây giờ quan hàn muốn tôi giúp quan hàn gì nào? Quan hàn với tôi là chỗ thân tình, xin cứ nói thật đi?
Thừa ấp úng:
- Xin quan lớn cứ cho cái giấy chứng nhận.
Quan huyện cười, gật đầu:
- Cũng được. Có mất gì một chữ ký? Một chữ ký của tôi mà giúp quan hàn lấy được những ngót một vạn ba nghìn đồng bạc, thì nó có giá trị đấy nhỉ?
Biết là quan phụ mẫu đả động đến việc mua chữ ký, Thừa thầm thì:
- Vâng. Chúng tôi không dám quên ơn quan lớn.
Quan lại gật đầu, vẫn nói to như thường:
- Đành rồi. Mọi bận quan hàn còn đi lại rất hậu hĩ, huống chi là bận này. Nhưng hỏi thật quan hàn nhé, quan hàn định chia cho đệ bao nhiêu?
Thừa nghĩ một lúc, rồi đáp:
- Xin tùy quan lớn.
Nhà cai trị lắc đầu:
- Không. Cưa mạch nào đứt mạch ấy. Những lần trước không tính gộp vào lần này được. Quan hàn cho đệ một nửa cái số bị cháy nhé. Cũng như đền đệ món tiền thuế mà đệ không tiện diễn tấn kịch cũ đến lần thứ ba ấy mà!
Thừa nghĩ. Hắn đã từ chối cái sáng kiến của ông bạn nhà thơ, vì không muốn chỉ được ăn có một nửa. Nay hắn phải hối lộ huyện Lung một nửa, thì thà rằng chia với Hoài Tân Tử cho xong. Chẳng phải ân nghĩa gì. Hắn mặc cả khéo.
- Nhưng tôi còn thiệt cái đệm xe.
- Thế thì đúng năm phẩy. Nếu quan hàn không bằng lòng, thì tôi đi làm biên bản ngay lập tức, là quan hàn đốt giấy nhật trình, giả làm giấy bạc, để âm mưu một vụ lừa đảo.
Thừa như tự mình chạy đến một ngõ cụt, lại giục người ta dồn mình vào chỗ bí. Song, vốn lắm mánh khóe, hắn tìm ngay được một lối thoát. Hắn nói:
- Thưa quan lớn, quan lớn đòi ngần ấy, tôi cũng vui lòng. Nhưng xin khất quan lớn đến mai. Tôi về nhà, mới có tiền.
- Thế bây giờ quan hàn đi đâu? Xuôi Hà Nội à? Không có giấy chứng nhận cũng đi à? Không có đồng nào trong túi à?
Thừa chỉ trả lời câu hỏi cuối cùng:
- Thưa có, nhưng chỉ độ vài trăm.
- Thế thì chỗ người lớn, ta tin nhau thật, nhưng cứ xin là tiền trao cháo múc. Khi nào quan hàn cho đệ đủ số, tức thì có giấy chứng nhận ngay, để quan hàn xuôi Hà Nội.
Biết rằng không thể yêu cầu hơn, Thừa thở dài nhìn ra ngoài.
Trời sắp nổi cơn giông. Quan nhắc:
- Mưa đến nơi rồi. Quan hàn lấy xe tôi mà về cho sớm sủa vậy. Tội gì đi bộ, lỡ gặp lạnh thì phải cảm.
- Thưa tôi phải lên tỉnh, cân cho nhà tôi mấy thang thuốc. Hàng chú khách thấy thiếu mấy vị.
- Được. Lên tỉnh, rồi về đồn điền. Tha hồ. Xe của tôi, quan hàn cứ dùng. Có tốn mấy ét-xăng mà ngại?
- Vâng. Thế thì tôi cảm ơn quan lớn lắm. Nội nhật hôm nay, xin có mặt hầu quan lớn.
Quan đắc chí:
- Và cũng có đủ số ấy nữa nhé. Bằng giấy to nhé!
Rồi nhắc một lần nữa:
- Bằng giấy trăm đấy nhé!
 
* * *
Thừa vừa ngồi vào trong xe của huyện Lung, thì trời đổ mưa rào. Qua nhà chú khách thầy, hắn thấy xe của hắn, vì không giương mui, nên ướt sũng. Chắc chỗ tàn giấy bị ải ra rồi.
Đến tỉnh, hắn vọt ngay vào tòa sứ. Phải cho thằng quan láu cá và tham lam này một vố, mới nuốt trôi một mình món tiền này.
Hắn xin yết kiến tên chủ tỉnh.
Công sứ Mát-xi-li mời Thừa ngồi trên ghế đặt trước bàn giấy:
- Ông vẫn khỏe mạnh chứ? Bà Thừa cũng thế chứ? Tôi có thể giúp ích cho ông việc gì đây?
Thừa chắp hai tay:
- Cám ơn cụ lớn, vợ chồng chúng con vẫn được như thường.
- Ông đến đây có việc gì?
- Lạy cụ lớn, chúng con coi cụ lớn như cha, nhờ cụ lớn cứu cho con khỏi một nỗi oan ức.
Tên quan đầu tỉnh gật:
- Tôi nghe.
- Trình cụ lớn, sáng hôm nay, con có việc phải đem một số tiền về Hà Nội. Chẳng may đến phố huyện, thì xe ô-tô của con tự nhiên bị phát hỏa.
Mát-xi-li hỏi:
- Ông muốn trình tôi kẻ thù nó mưu phản ông phải không?
- Thưa không ạ. Vì ô-tô bị cháy, cho nên cả món tiền con để trên xe cũng bị cháy. Con lên huyện, trình quan sở tại, nhờ ngài cấp cho một giấy chứng nhận về tai nạn ấy để làm bằng. Nhưng quan huyện con không nghe, đòi con phải biếu năm nghìn bạc.
Tên quan cai trị trợn mắt:
- Nó đòi ông năm nghìn? Thằng khốn nạn! Lương chúng nó đã được tăng. Ít ra nó cũng lĩnh từ trăm rưỡi đến trăm tám bạc một tháng. Vậy ông muốn gì?
- Lạy cụ lớn thương kẻ làm ruộng nghèo này, chúng con cần giấy chúng nhận, nhưng chúng con không có đủ năm nghìn để hối lộ quan huyện.
- Ông đã từ chối nó món tiền ấy?
- Lạy cụ lớn, không ạ. Chúng con nghĩ ngay đến cụ lớn là bậc chí công minh chính trực, hay thương kẻ khốn cùng, nên chúng con đến trình cụ lớn. Chúng con đã hứa với quan huyện là chiều nay chúng con xin có đủ lễ để biện.
- Tốt.
- Trình cụ lớn cứu chúng con. Xưa nay, hạnh kiểm của vợ chồng chúng con thế nào, chắc cụ lớn đã rõ.
Tên công sứ xua tay:
- Không cần nói nhiều. Để yên tôi nghĩ cách trừng trị thằng vô lương tâm. Ông có đủ năm nghìn ở trong túi chứ?
- Lạy cụ lớn, không ạ. Con đã hứa với quan huyện chúng con là phải về đồn điền để lấy.
- Được. Mấy giờ chiều nay ông đến huyện để đưa tiền?
- Bẩm từ hai giờ đến hai giờ rưỡi.
- Được. Ông đến ngay sở cẩm nhé. Tôi sẽ gọi dây nói cho ông Gôn tiếp ông. Ông hẹn ông ấy chỗ gặp nhau chiều nay. Ông đưa cho ông ấy tờ giấy ghi số giấy bạc mà ông biếu ông huyện. Khi ông ở bàn giấy ông huyện ra, thì ông máy ông Gôn ập ngay vào, tóm được quả tang kẻ gian, ông hiểu cách bắt tham tang chứ?
- Dạ. Chúng con đã hiểu. Cảm ơn cụ lớn có lòng thương dân. Nếu không có các cụ lớn cai trị ở trên, thì không ai ngăn cản được các quan An Nam tham nhũng.
- Chúng nó toàn là đồ ăn cắp! Nhưng thế là xong một việc. Ông còn yêu cầu gì tôi nữa không?
- Lạy cụ lớn không ạ.
- Thế nào, bọn điền tốt của ông vẫn ngoan ngoãn chứ?
- Dạ, từ ngày nghe lời cụ lớn dạy bảo, chúng con vẫn để mắt đến chúng nó. Nhưng cũng như chúng con, chúng nó một dạ trung thành với chính phủ Bảo hộ.
- Được. Độ này Việt Nam Quốc dân đảng vẫn hoạt động đấy. Đảng Thanh niên với đảng Cộng sản cũng đương tìm đường bành trướng vào những chỗ có nhiều người bất mãn, người dân nghèo. Hễ ông thấy trong đồn điền có gì khác, ông phải trình tôi ngay.
- Dạ. Chúng nó là quân phản bội, bạc ác, làm hại nước hại nhà, mà trước hết là làm hại chúng con, thì không bao giờ chúng con dám giấu cụ lớn. Thế nào chúng con cũng phải vì quyền lợi mà nhờ cụ lớn trừng trị chúng nó.
- Ông là người hiểu biết. Tôi bằng lòng lắm. Thôi, ông đi ngay đến sở cẩm nhé. Tôi gọi dây nói cho ông Gôn đây.
Thừa chắp hai tay vái chào tên công sứ.
 
* * *
Thằng cẩm Gôn tiếp Thừa không kém niềm nở.
Nó giơ tay để bắt. Thừa ôm tay nó bằng cả hai tay mình, vừa còng gập lưng xuống, vừa rung rung.
Cũng làm như mọi bận, bắt tay xong, mặt dớ dẩn, hắn đã cầm sẵn tờ giấy một trăm, tay cố nhét vào túi áo của thằng cảnh sát trưởng, và miệng nói:
- Bà đầm tốt tôôôt!
Nhưng lần này, vì muốn lấy lòng thằng Gôn hơn, Thừa đếm thêm hai tờ giấy hai chục và hai tờ giấy năm đồng, lại nhét vào áo nó:
- Tí nhau tốt tôôôt!
Rồi hắn ôm lấy hai cánh tay của thằng Gôn, như thể giữ thằng này, không cho lấy tiền ra, trả lại hắn.
Thằng Gôn vui sướng, gật đầu lia lịa:
- Mét-xi, mét-xi!
Rồi nói rõ:
- Quan công sứ vừa gọi dây nói cho tôi về việc ông. Vậy ông cho biết chúng ta gặp nhau thế nào?
Thừa đáp:
- Tôi đã định rồi. Nếu chúng ta hẹn nhau, thì thế nào cũng phải đi tìm nhau, có thể lạc, lỡ việc. Vả ông về phố huyện, thế nào tri huyện nó cũng biết. Chi bằng tôi mời ông về đồn điền với tôi bây giờ. Có sẵn xe ô-tô đây. Ông ăn cơm sáng với tôi. Rồi đến hai giờ, chúng ta cùng đến huyện. Nhưng gần tới phố huyện, ông tạm lánh mặt: để tôi vào công đường trước. Khi tôi ra, tôi sẽ máy ông vào.
Thằng Gôn vui vẻ:
- Cũng được. Nhưng ông An-be Thừa! Có một điều khó khăn cho ông đấy.
Thừa tái mặt:
- Xin ông cứ bảo.
- Ông mời tôi ăn cơm, tôi xin nhận lời, nhưng chúng ta uống rượu gì?
Thừa thả một hơi nhẹ nhõm, tủm tỉm cười:
- Rất nhiều thứ. Có cả Mac-ten lẫn Sâm-banh.
Thằng Gôn híp mắt cười:
- Thế thì tốt lắm.
Thừa chờ mười phút cho tên cảnh sát trưởng sửa soạn. Rồi hai người cùng lên xe. Để khỏi lộ, Thừa không theo con đường qua cổng huyện để về Cẩu Rồng mà đi bằng con đường khác.
Bữa cơm hôm ấy, Ma-ri ngồi tiếp khách với chồng. Hắn trang điểm cho trẻ và đẹp không kém cái tối hắn tiếp thằng Pha-lăng-xô. Năm cô gái non của hắn hầu bàn, tha thướt đi ra đi vào. Thằng chánh cẩm luống cuống. Nó không biết nên hưởng lạc bằng miệng hay bằng mắt. Mỗi lần thấy Đào hay Huệ rót rượu cho nó, nó vờ nhã nhặn, đỡ lấy tay người con gái, thì nó được ngay Ma-ri đỡ lại tay nó, như bảo nó cứ để yên cho việc phục vụ được chu đáo.
Thằng Gôn nốc hàng nửa cốc vại rượu và nhồm nhoàm nhai từng miếng thịt lớn. Mỡ màng dính cả vào râu nó. Nó muốn kéo dài bữa tiệc ngon hiếm có mà nó được hưởng cả bằng năm giác quan: lưỡi nếm rượu và các món lạ, mắt nhìn người đẹp, mũi ngửi mùi phấn và nước hoa, tai nghe những lời nịnh hót và da được cọ vào da mịn màng của những người không phải là mụ vợ béo ị quen thuộc của nó. Mặt nó bừng bừng đỏ. Đầu nó khật khừ. Nó nói đã bắt đầu líu lưỡi, và lè nhè.
Nó khen Thừa và Ma-ri tử tế. Tất cả mấy mươi triệu người An Nam cũng được nó khen lây là giàu có và trung thành với Mẫu quốc. Chứng cớ là bị phạt rác hay phạt chuồng xí bẩn, họ không một lời kêu ca, nộp tiền ngay.
Vì Ma-ri đã được Thừa kể qua loa cho biết sự việc, nên đến lúc đồng hồ trên tường điểm một giờ, hắn bảo Thừa:
- Soạn tiền và ghi số đi, kẻo muộn.
Thừa gọi đem đồ tráng miệng, Ma-ri rót vào chén cà-phê của thằng Gôn nửa cốc con rượu Rum. Bỗng Thừa hỏi nó:
- Ông Gôn! Đã lâu ông ở bên An Nam, chắc là ông nhớ cảnh nước Tây lắm. Nếu ông muốn hưởng phong vị kinh đô Pa-ri, thì tôi tổ chức ngay cho ông.
Thằng Gôn ngớ mặt như để hỏi. Thừa đáp:
- Được. Ông đợi năm phút, ông sẽ thấy Pa-ri.
Hắn ra hiệu cho đội con gái.
Quả nhiên, độ ba phút sau thôi, bên buồng khách, điệu nhạc khiêu vũ đã nổi lên, Ma-ri dắt tay thằng Gôn đưa nó sang. Tất cả đồ đạc vẫn bày trong buồng này được xếp dẹp vào áp tường, để lấy chỗ rộng cho cuộc nhảy đầm.
Thằng Tây ôm ghì lấy Ma-ri, đưa chân theo nhịp nhạc. Nhưng luôn luôn nó nói:
- Xin lỗi.
Vì luôn luôn nó giẫm phải chân Ma-ri. Nó say, đã bước những bước chệnh choạng. Nó mất tự chủ. Thỉnh thoảng nó thở phì phì từng hơi rượu nồng nặc vào mặt Ma-ri.
Bọn Đào, Sen, Huệ, Lan, Mai cũng đã mặc áo dài, dận xăng-đan cao gót, ra ngồi ở ghế, để chờ mời nhảy. Mỗi lần trong nhà có khiêu vũ, thì Thừa và Ma-ri lại rộng phép cho đội con gái, và cả xừ Tuynh cũng lên dự cho xôm. Xừ đã học được món chơi văn minh này, hồi ở bên Pháp. Xừ mặc bộ tô-pi-can giả hiệu bằng len có lót, trải đầu thật mượt. Trừ Thừa ra, còn Xừ ôm tuốt, từ bà hàn trở xuống. Xừ thong thả tiến đến trước mặt người mà Xừ muốn mời nhảy. Xừ làm bộ lễ phép và nhã nhặn cả với những người con gái mà thường ngày Xừ vẫn mày tao. Xừ đứng thẳng trước mặt người ấy, mỉm mép cười và cúi đầu để chào. Rồi Xừ dang cánh tay đỡ lưng và tay người ấy. Chân Xừ xoạc ra từng bước một để đưa người ấy đi. Mắt Xừ nhìn vào mắt, vào má, vào môi, và vào ngực của người ấy.
Trong khi nhà ngoài vui vẻ, thì Thừa vào buồng két làm việc. Hắn làm trái lời dặn của huyện Lung, không đem giấy to cho gọn, mà chọn lẫn lộn cả các thứ, từ giấy trăm đến giấy năm xu. Giấy nào hắn cũng ghi đúng số, và còn soát lại thật cẩn thận.
Bỗng Ma-ri chạy vào:
- Này…
Thừa ngước mắt nhìn vợ. Ma-ri thấy một chồng giấy bạc, thì cau mặt:
- Thảo nào lâu! Sao xuẩn thế! Lấy năm chục tờ giấy trăm có gọn không? Ông ấy cứ hỏi. Ra đi.
Thừa cười:
- Không biết đứa nào xuẩn! Đưa cho nó giấy to, thì khi mình ra khỏi bàn giấy, nó có thể giả vờ vò đi, ném vào góc tường phía ngoài. Nó làm như không thèm nhận tiền nhơ bẩn mà vứt ra đấy, để lỡ bị bắt tham tang, thì nó đổ tội cho người khác hối lộ nó. Chính nó cũng dặn đi dặn lại là đưa giấy to. Moa hiểu ngay ý của thằng ăn tiền có sách.
Ma-ri gật gật:
- Ừ nhỉ. Tống vào cho nó từng này giấy lẻ, thì cứ việc đếm cũng đủ thì giờ cho người ta đến bắt, mà một đống to xù thế này, thì nó có giấu đằng trời.
Rồi hắn ngẩn ngơ:
- Này, nó vứt tiền vào xó tường, ngộ mất thì sao nhỉ?
Thừa cười:
- Toa xuẩn quá! Ai dám vào đấy mà lấy! Thường thì quẳng xong tiền đi, chúng nó rất khôn, thế nào cũng vào nhà trong một lát. Bởi vì bao giờ mật thám bắt tham tang, cũng vào ngay sau lúc chúng nó nhận tiền, để tóm được chứng cớ. Nhưng mật thám thấy tiền, không thấy người, thì chúng nó có thể cãi rằng trong lúc chúng nó không có ở đấy, thằng dân nào thù đã lẻn vào để tiền đấy, làm như hối lộ, chứ nó không biết.
- Thế tiền vứt đấy đến bao giờ?
- Độ nửa giờ là cùng, thấy không có ai vào bắt, thì nó nhặt cất đi. Vả lại đến tan hầu nó mới lấy, tiền cũng chẳng mất được.
Ma-ri sực nghĩ ra:
- Chết chửa. Quên mất! Ông ấy say quá, đòi đi ngủ một lát đấy.
Thừa đáp:
- Đưa ông ấy vào buồng thằng Hoài ấy.
- Để ông ấy ngủ một mình à? Lại cứ đòi con Lan vào với kia.
Thừa tặc lưỡi:
- Kệ! Việc nào của ấy. Tiên sư thằng Tây khổ được voi còn đòi tiên!
Đúng hai giờ, Thừa đánh thức thằng Gôn dậy. Nó thắt thắt lưng da to bản quanh mình, rồi đeo chéo ở vai cái dây da bao đựng súng lục. Ma-ri rót cho nó một nửa cốc Mác-ten và mời nó. Nó vẫn còn say, nhưng tiếc của, bèn liếm môi, tợp cho hết.
Đến đầu phố huyện, Thừa gửi nó vào một nhà, rồi vào thẳng công đường.
Huyện Lung thấy quan hàn đúng hẹn, thì tươi cười mời ngồi. Hắn đưa Thừa đọc tờ giấy chúng nhận đã làm sẵn từ trước. Nhận đồng tiền mà Thừa xin lỗi là không có giấy to, quan ký tên và đóng kiềm vào giấy chứng nhận, rồi trao cho Thừa.
Thừa cảm ơn, trả quan cái xe, và xin quan tính tiền ét-xăng. Quan tặc lưỡi:
- Ồ, làm gì cái vặt! Chỗ anh em.
Thừa bắt tay quan, rồi làm vẻ mặt sung sướng, vừa đi vừa đọc lại tờ giấy.
Quan chẳng ngờ gì, nhìn theo thằng mất của, tủm tỉm cười.
Nhưng chừng mười lăm phút sau, thằng Gôn xộc vào huyện.
Thấy trên bàn giấy của Lung còn lù lù đống giấy bạc, thằng cảnh sát trưởng nói:
- Tôi được lệnh quan công sứ đến bắt tham tang.
Nó hỏi:
- Tiền này ở đâu? Ai cho ông?
Huyện Lung đương cuống queo, thì nhìn thấy Thừa thập thò ngoài cửa. Hắn không trả lời thằng Gôn, mà trỏ vào mặt Thừa:
- À, tiên sư bố thằng đểu phản tao!
Thằng cẩm rút trong túi lấy tờ giấy biên số giấy bạc mà Thừa đã giao cho nó. Nó bảo tên tri huyện nhìn từng con số, rồi nó làm biên bản, bắt hắn ký vào.
* * *
Làm xong nhiệm vụ, thằng Gôn cùng Thừa ra phố. Thừa đưa nó ra chỗ ô-tô của mình bị cháy, và trỏ cho nó nhìn đống tàn giấy đã bị nước mưa làm bẹp dí. Thừa cố bới, tìm một tệp còn nguyên ghim:
- Tiếc quá! Bao nhiêu là tiền!
Rồi hắn tiếp:
- Chỉ vì tham lam cho nên ông Lung bị lột mặt nạ.
Thằng Gôn hỏi:
- Nó đòi ông bao nhiêu tiền?
- Năm nghìn.
Thằng Gôn trợn mắt, nhún vai:
- Năm nghìn một chữ ký!
Thừa cho nó xem tờ giấy chứng nhận của Lung và nói:
- Bây giờ thì cái chữ ký này quả là vô giá trị. Thành thử giấy chứng nhận cũng vô giá trị nốt. Hay là tôi nhờ ông…
Thằng Gôn nhìn Thừa:
- Ông muốn gì?
- Ông viết thêm vào đấy mấy chữ hộ tôi.
- Viết thế nào?
- Viết rằng lời chứng nhận của tri huyện Nguyễn Hữu Lung là đúng.
Thằng Gôn đáp:
- Không hại gì.
Nó co một cẳng, đặt tờ giấy lên đùi, và nhăn nhó mặt để nghĩ. Mãi nó mới viết được hai chữ Pháp, nghĩa là Nhận thực đúng.
Nó đề ngày, tháng, năm, rồi viết rất nhanh chức tước của nó, là Lính sen đầm hạng nhì, chiến sỹ bội tinh, cảnh sát trưởng Vĩnh Yên. Rồi nó ký tên nhoay nhoáy: Pô-luyx Gôn.
 
* * *
Tiếng đồn quan bị bắt tham tang dậy cả phố huyện. Nó lan ra khắp tỉnh Vĩnh Yên, rồi cả Bắc Kỳ.
Lung bị huyền chức, chờ ngày ra Hội đồng kỷ luật và tòa án.
Làm được việc ấy, Thừa rất vui sướng. Song, Ma-ri không khỏi lo lắng. Hắn hỏi Thừa:
- Liệu nó có thù mà tố giác việc mình buôn lậu với mở sòng bạc không nhỉ?
Thừa mỉm cười, lắc đầu:
- Trừ phi nó muốn mất quan thì nó mới phản mình. Bởi vì nó phản mình tức là nó phản nó. Dung túng người trong hạt làm điều phi pháp, để ăn tiền, nó càng bị nặng tội chứ sao?
Ma-ri nói:
- Bị bắt quả tang ăn hối lộ đã là nặng tội, không mất quan ấy à, chứ lại còn muốn với chẳng không muốn.
Thừa tắc lưỡi:
- Việc đếch gì! Ngữ này mà tốt lễ, thì chỉ sáu tháng nữa là lại ra làm quan như thường. Đấy, rồi toa xem.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IX
NHỮNG CÁI THỐI CỨU ĐƯỢC CÁI THƠM  
 
Nói cứng như vậy, song Thừa vẫn phải đề phòng. Hắn đề phòng huyện Lung tố giác hắn. Hơn nữa, để nuốt trôi ngót vạn ba bạc của công ty, hắn không cần đề phòng ai bằng đề phòng ông bạn cố tri Hoài Tân Tử. Chỉ ông nhà thơ bị mất của mới xót xa, và nghĩ ngợi để lật bộ mặt thật của vụ cháy ô-tô này. Nếu huyện Lung lẫn ông Hoài Tân Tử cùng phản hắn, khai ra những thủ đoạn làm giàu khác của hắn từ trước đến giờ, thì hắn khó thoát được tội.
“Hay là…”
Thừa suy tính. Hay là gán quách hai tiếng hội kín cho công ty? Nhân lúc công ty không hoạt động, lại có thể vì vụ án mạng trên Lao Cai mà vỡ lở, thì, không được ăn, mình đạp đổ, phá quách nó đi. Đổ cho nó là hội kín để lập công. Hoài Tân Tử trước kia vẫn bảo công ty là hội kín. Hay nó làm việc kinh tế cho một hội kín nào thật, mà mình không biết chăng? Nếu không, cứ liều khai thế. Chẳng phải hội kín, thì có thiệt gì đến người tố giác nó. Chỉ có lợi, là Pha-lăng-xô trước hết hãy tóm cổ Hoài Tân Tử cho thằng này không còn ruột gan nào bới ra cái âm mưu cháy ô-tô. Nếu là hội kín thật, mà chính mình cũng có chân trong ấy, thì không những người đi báo vô tội, còn được trọng dụng như đội Dương, như thừa Mai. Và ít ra, việc mình tố giác một hội kín, cũng tỏ cho Pha-lăng-xô và sở mật thám tin lòng trung thành của mình với chính phủ Bảo hộ là thật. Nó gỡ cho mình được cái tội quy hàng bọn tống tiền vừa rồi.
Thừa đắn đo kỹ lưỡng trong cả một đêm ít ngủ. Càng đắn đo, hắn càng cho hắn tố giác công ty là nên. Bởi vì, nếu nhu nhược trước tình bạn với Hoài Tân Tử, ngộ công ty là hội kín thật thì sao? Trước hết, mình lỡ mất cơ hội tốt nó kể đến tận tay mà để sểnh. Sau nữa, là một hội kín, thì sớm hay muộn, cũng không thể qua được con mắt sáng suốt của sở mật thám. Khi nó bị khám phá, tất mình cũng không thoát ra ngoài mắt lưới của pháp luật.
Chi bằng cứ liều mà khai công ty là hội kín. Ở đời này, mười thằng làm nên thì có đến chín thằng liều. Mình đã lập tâm tạo công danh, thì cứ liều. Chẳng trúng lần này thì lần khác trúng, số mà được ra làm quan, thì cơ hội là lần này không biết chừng.
Sáng hôm sau, Thừa đi Hà Nội sớm.
Hắn vào ngay bàn giấy thằng Pha-lăng-xô. Cố nhiên là Thừa đưa chuột đến miệng mèo.
Ông nhà thơ Tình muôn thuở bị sở mật thám Hà Nội chõm ngay đúng vào lúc quanh tĩnh nhà ông, thiện nam tín nữ, người nào người ấy tô hô, đương gối lên đùi, lên đít nhau.
Tất cả những cặp ấy đều bị giải vào xà-lim Xăng-tan.
Công ty buôn thuốc phiện lậu có thế lực nhất ở Bắc Kỳ từ xưa đến nay, vì được tên chánh đoan Yên Bái Mác-tanh giám đốc, ngang nhiên hoạt động trong mấy năm trồi, đến mùa đông năm 1930 mới bị khám phá.
Nó bị khám phá không phải do từ ý muốn phản bạn, định bịt miệng Hoài Tân Tử của hàn An-be Thừa. Nó bị khám phá chính là do từ vụ án mạng xảy ra trong rừng Lao Cai, người của công ty Mác-tanh và người của công ty Rô-lăng-ti giết nhau vì muốn dìm dập nhau để tranh nhau mối lợi.
Mấy hôm sau, hung thủ bị sa vào lưới pháp luật. Thằng thanh tra Rô-be trưởng ty Mật thám Lao Cai, trước kia chỉ quen trị kẻ cắp ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội, vì khỏe tay, đánh nhiều, nên được lên chức, cái thằng Rô-be lùn, bụng phệ, đầu cạo trọc tếch, trắng hếu như đầu sư ấy, phải điều tra vụ án mạng này. Nó cũng dùng cánh tay cứng như sắt của nó để bới tìm tư tưởng của kẻ giết người. Nó đoán rằng hung thủ chẳng qua là thằng ăn cắp như những tụi ở chợ Đồng Xuân. Vì là An Nam. Người này đã lột kẻ có tiền, nhưng lỡ tay giết chết, thì quăng xác xuống suối. Có thế thôi. Chứ không có bè, có đảng gì hết.
Song, công sứ Rô-ma-nét-ti lại nghĩ khác. Tên thực dân già, nghiện thuốc phiện, có vợ An Nam này, vì yêu vợ, nên xét người An Nam có thâm thúy hơn. Thấy hồi đầu năm, Yên Bái là trung tâm của cuộc bạo động chính trị, thì Lao Cai, một tỉnh biên giới, Việt Nam Quốc dân đảng trốn sang Tàu như đi chợ, Rô-ma-nét-ti cảnh giác hơn, cho là vụ giết người này không phải vụ án thường. Có thể có liên quan với Yên Bái, với Hà Nội cũng nên. Thấy thằng Rô-be báo cáo hung thủ chỉ là cá nhân lẻ tẻ, thằng Rô-ma-nét-ti lắc đầu, bảo phải điều tra lại.
Thằng Rô-be bắt cánh tay nó hoạt động mạnh gấp đôi trước. Cuối cùng, nó thấy kẻ giết người quả không phải là thằng ăn cắp cá thể. Hắn xưng ra một số người vẫn sinh sống bằng nghề mua nhựa. Những người này bị bắt. Không chịu được vài trận mưa dùi khui, họ khai ra hai người đội đoan ở Lao Cai, vẫn xuất tiền cho họ đi mua thuốc phiện lậu. Hai người đội đoan bị tóm. Họ tố giác thêm một đồng nghiệp ở Lao Cai và một đồng nghiệp ở Việt Trì làm nhiệm vụ vận tải, ăn no đòn, phun ra một bạn trong ban lưu động, làm việc ở nhà Thương chính Hà Nội. Cuộc điều tra từ đó không chỉ đóng khung trong địa hạt Lào Cai. Nó loang như vết dầu xuống Việt Trì, Hà Nội v.v… và vụ này chỉ là vụ buôn thuốc phiện lậu, nhưng lớn.
Song, thằng Rô-ma-nét-ti vốn thích hút thuốc lậu hơn thuốc ty vì rẻ hơn, lại đậm hơn, vả là quan cai trị, nó vẫn bị ám ảnh là một vụ Yên Bái thứ hai sẽ nổ ra ở Lào Cai. Tư tưởng ấy làm nó giật mình thon thót. Cái ác cảnh phải chạy trốn vào rừng, lạc vợ, lạc bàn đèn, xui nó cảnh giác hơn. Nó đi Hà Nội, báo cáo với thống sứ Rô-banh về vụ án này. Muốn khủng bố tinh thần tên thủ hiến Bắc Kỳ, nó mệnh danh là hội kín. Thằng Rô-banh gầm gừ tức tối, gọi ngay điện sang sở mật thám, bắt mở cuộc điều tra thật nghiêm chỉnh.
Trong một thời gian ngắn ngủi, bọn chó săn tìm ra được một danh sách khá dài những người có liên quan đến vụ án quan trọng này. Chúng chưa bắt ai. Chúng rình mò kín đáo, chất chứa cho thật nhiều người, cho thật nhiều tài liệu. Để đợi ngày nào đó thật chín muồi chúng mới cất một mẻ vó lớn, không trật một mống nào lọt ra ngoài. Trong danh sách này, quan lớn có quan bé có, quan tại chức có, quan hồi lưu có, quan bị cách có, quan nghỉ giả hạn có, quan mạn ngược có, quan vùng xuôi có. Ngoài các quan của chính phủ Nam triều, có các quan của chính phủ Bảo hộ, quan đốc, quan tham, quan phán, quan ký. Đến những quan chỉ có chức tước suông để làm cảnh, là quan hàn, quan nghị, quan hội. Đến những người không làm quan, nhưng không giàu kém quan, vì làm nghề tự do, là thầu khoán, điền chủ, nhà doanh nghiệp, nhà buôn. Đến cả những người không biết gọi là có nghề hay không, vì chỉ chuyên môn sống bằng nghề ăn bám và lừa bịp.
Cái dây xích, gồm cả đàn ông lẫn đàn bà, được lần ra từng mắt. Dần dần nó vươn đến nhà mấy quan phó đoan Tây lai.
Thằng Rô-banh trợn đôi mắt trắng dã sau đôi mắt kính cận thị không vành cặp vào cái mũi lõ của nó. Nó gầm lên như con hổ mắc cạm. Lập tức, cái thằng đã ra lệnh ném bom triệt hạ làng Cổ Am này, họp bàn với thằng chánh mật thám Bắc Kỳ và hai thằng thanh tra chính trị và hành chính. Cuối cùng, nó quyết định rút thằng Pu-lê Ô-di-ê ra khỏi Hội đồng đề hình mà thằng hung ác này sắp mở phiên tòa công khai để tuyên án tử hình hàng chục chính trị phạm. Thằng thanh tra chính trị và hành chính Pu-lê Ô-di-ê được đặc phái đi mở cuộc thẩm vấn bí mật trong tụi phó đoan phạm pháp.
Pu-lê Ô-di-ê lên Lao Cai. Nó bắt công sứ Rô-ma-nét-ti ra ngồi làm việc ở ngoài hiên, nhường cho nó buồng giấy.
Ngày nào văn phòng thằng Pu-lê Ô-di-ê cửa cũng đóng kín. Nhưng đứng xa đó, người ta vẫn nghe thấy tiếng nó thét, đập bàn, đập ghế, và tiếng đoàn thư ký đánh máy sầm sập như mưa rào.
Tụi phó đoan, tức là mấy thằng lai, mặt còn non choẹt như mặt học trò, thằng Giăng Út, thằng Lu-y Rô-manh, v.v… ngày thường khệnh khạng, hách dịch, bây giờ lần lượt bị thằng Pu-lê Ô-di-ê gọi lên tòa sứ. Sau một tuần lễ khai cung, mặt thằng nào thằng ấy phờ phạc vì mệt nhọc, bẽn lẽn vì xấu hổ, và hầm hầm vì tức giận. Nhưng khi xuống đến chân đồi, gặp ai ở đường phố, chúng cũng cố tươi tỉnh. Có đứa tủm tỉm cười một mình y như vừa mới đùa bỡn, vui tếu với quan thanh tra chính trị và hành chính vậy.
Sự thực, thằng phó đoan nào bị thanh tra gọi lên bàn giấy, cũng phải đứng, chứ không được ngồi. Phải đứng một buổi suốt từ chín giờ sáng đến bốn giờ chiều, và một buổi ngay từ bốn giờ rưỡi chiều đến tận mười một giờ đêm. Chỉ được nghỉ có nửa giờ ở quãng giữa để về ăn cơm. Đường từ tòa sứ đến nhà đoan phải lên dốc, xuống dốc, lại khá xa, nên đi mất ít ra là mười phút. Vậy chỉ còn có mười phút, để và vội vài lưng cơm - hẳn là chúng không có thìa dĩa và đĩa - Ăn xong, có ỉa đái thì làm quàng quàng lên, chứ đừng hòng giữa lúc bị thẩm vấn mà xin được phép ra chuồng xí. Chúng phải đến tòa sứ cho thật đúng giờ. Nhiều bận, chúng đã thấy thằng thực dân già ngồi trong buồng rồi. Nhưng cũng nhiều bận, buồng còn vắng. Chúng phải đứng đợi.
Thằng Pu-lê Ô-di-ê coi hàng công sứ từ hạng nhì trở xuống như đàn em mới lớn lên. Cho nên nó khinh dân bản xứ như ruồi muỗi, kết án tử hình một mạng người không cần suy nghĩ, đắn đo. Đối với Tây lai, nó nhiếc là Con của xứ Đông Dương, nghĩa là có máu ăn cắp. Vì vậy, nó ghét tụi thằng Giăng Út, thằng Lu-y Rô-manh, v.v… Định hỏi thằng nào, nó cũng chửi phủ đầu, để uy hiếp tinh thần thằng ấy. Nó quát tháo, nó vặn vẹo. Nó chế nhạo là nói tiếng Pháp không nên thân. Có lúc nổi cơn điên, nó quăng cả miếng đá chặn giấy vào chúng, hoặc hầm hầm xô ghế đứng dậy, như dọa đánh. Từ hôm nó đến tòa sứ, đêm nào bác loong-toong Soạn cũng phải thức thêm nửa giờ để đánh xi lại cái mặt bàn cho nhẵn bóng. Vì mỗi ngày, nó đập bằng nắm tay, bằng bàn thấm, bằng hòn đá, đến trăm lần, làm sây sát, lỗ chỗ cả gỗ.
Thằng Pu-lê Ô-di-ê hành hạ bọn con của xứ Đông Dương bằng cương vị to tát, nhiệm vụ quan trọng của nó, lại bằng cả cái đầu óc thực dân cáo già của nó. Nó xoay lũ nhép không cứ là ở lời cung khai giấu giếm, mà cả ở cử chỉ, ở danh từ kém lễ độ của chúng. Chúng đứng mỏi, hơi cựa chân tay, là nó quắc mắt lên. Quên mở đầu là: thưa quan thanh tra chính trị và hành chính, nó để bàn tay vào vành tai, bắt nhắc lại câu nói. Luôn luôn miệng nó thốt ra những tiếng: Đồ khốn nạn! Dòng ăn cắp! Con lợn! Súc sinh nhơ bẩn! Nó vặn, nó quay, nó bắt chúng trả lời ngay, không được nghỉ. Nó cố làm cho đầu óc chúng rối mụ lên vì phải đứng lâu và đáp nhiều.
Bọn phó đoan ở Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Hà Nội bị cung khai ra, cũng lần lượt phải triệu lên Lao Cai cho thằng Pu-lê Ô-di-ê tra hỏi.
Thế là ra thằng Mác-tanh. Thoạt nghe cái tên này lần đầu tiên, thằng Pu-lê Ô-di-ê cho là Tây lai nói láo. Đến khi thấy nhiều đứa khai ra, nó mới thổi phù phù cho hơi nóng trong ngực thoát ra. Nó nghiến răng ken két. Nó không ngờ rằng trưởng ty thuế quan Yên Bái là người Pháp trăm phần trăm, mà lại sáng lập và giám đốc một công ty lớn, buôn thuốc phiện lậu.
Thằng Pu-lê Ô-di-ê cáu lắm. Nó đi sâu hơn nữa, thì lại lòi ra cái tên Rô-lăng-ti, chánh đoan Việt Trì, cũng cầm đầu một công ty buôn thuốc phiện lậu, vì vừa thành lập, nên nhỏ hơn, nhưng cố cạnh tranh với công ty Mác-tanh.
Thấy việc điều tra đã đến gốc, thằng Pu-lê Ô-di-ê vui sướng quá. Nó chắc mẩm phen này sẽ được thăng thống sứ trước thằng Brít, dù thằng thanh tra chính trị và hành chính này thâm niên hơn nó trong ngạch cai trị ở thuộc địa.
Nó tí tửng về ngay Hà Nội để báo cáo với thống sứ và bàn xem nên đèo hai cái gốc ô nhục này thế nào?
Thằng Rô-banh lấy việc này làm rất khó nghĩ, nó hẹn thằng Pu-lê Ô-di-ê vài hôm sẽ trả lời.
Rồi, có lẽ tự làm cuộc liên hệ kiêm thảo bản thân, thằng Rô-banh xét mình không sạch sẽ, thơm tho gì, cho nên nó suy bụng ta ra bụng người. Nó cho rằng nguồn vốn buôn lậu của công ty Mác-tanh không lẽ chỉ chảy từ những người An Nam, không làm việc với nhà nước, đến những người An Nam có làm việc với nhà nước. Hiển nhiên là nguồn vốn ấy đã trôi vào bọn người lai, rồi đến một người Tây. Vậy không lý gì nguồn ấy đến đấy thì tắc lại. Nguồn phải chảy xa nữa, thì nước mới thoát. Nếu không, nước bị tức nghẽn bờ phải vỡ đã lâu rồi. Thế thì nguồn ấy còn ngược nữa, ngược nữa, nhất định đến một chỗ cao xa nào cũng nên.
Nó sực nhớ lại việc năm nọ. Là chỉ ký có một chữ trong giấy phép cho tải chuyến thuốc phiện qua địa hạt Đông Dương, từ Lao Cai đến Hải Phòng, đường dài có 400 cây số, mà toàn quyền Méc-lanh đã ăn đủ một vạn bạc.
Rồi điều tra ngầm, nó thấy cả hai thủ phạm này đều có những chỗ dựa có thế lực rất to lớn. Thằng Mác-tanh thả cho vợ đi ngủ với tên đại địa chủ Đơ Mông-pơ-da, nổi tiếng là bướng bỉnh và vẫn còn tự xưng là bá tước, trước kia, vì xích mích với toàn quyền An-be Xa-rô, đã thách tên thủ hiến một cuộc đọ kiếm để một sống một mái. Còn thằng Rô-lăng-ti thì trái lại, vì trẻ, khỏe và đẹp, nên nó là một trang nhân tình quý báu của vợ tên tổng giám đốc nha thương chính Đông Dương.
Vài hôm sau, Rô-banh và Pu-lê Ô-di-ê gặp nhau. Thằng thống sứ khuyên thằng thanh tra nên lấy tình đồng bào đồng loại mà đừng vạch áo cho người xem lung, kẻo xấu chàng thì hổ ai. Thằng Pu-lê Ô-di-ê không nghe, cỗ bưng đến miệng, nhất định nó phải hưởng. Bất đắc dĩ thằng thống sứ phải cho thằng thanh tra biết những ẩn tình nhơ bẩn của hai thằng Mác-tanh và Rô-lăng-ti mà nó đã lượm lặt được. Thằng Pu-lê Ô-di-ê càng tức:
- Nếu thế, thì càng nên trị chúng nó.
Rô-banh thở dài:
- Tôi sợ đụng vào họ, thì chính chúng ta hứng lấy những hậu quả không hay.
- Ông sợ tôi bị đổi sang Lào, sang châu Phi? Ông sợ tôi mất chức? Nhưng tôi không sợ. Vì tôi làm việc theo lương tâm. Tôi cứu danh dự cho người Pháp ở đây. Tôi cương quyết.
- Ý kiến tôi là ta nên chấm dứt cuộc điều tra ở đây. Còn ý kiến ông thế nào là tùy ông. Nhưng xin nói trước là tôi không chịu trách nhiệm về việc ông làm. Là bạn thân của ông, tôi chỉ khuyên ông nên suy nghĩ kỹ.
Thằng Pu-lê Ô-di-ê mặt đỏ bừng bừng. Nó đứng phắt dậy, rồi ra khỏi buồng, đóng sầm cửa lại.
Hẳn là nó về để suy nghĩ, suy nghĩ thật kỹ để cương quyết.
Cho nên sáng hôm sau, nó lên ngay Lao Cai.
Xe lửa bảy giờ tối thì tới ga. Xe ô-tô của công sứ ra đón. Nhưng ngay sáng hôm sau, trước sáu giờ, xe ô-tô của công sứ lại tiễn nó ra ga. Nó lên xe lửa, vào toa hạng nhất, nhét cái va-li quần áo lọt trên cái giá ở phía trên chỗ ngồi, rồi đặt phịch tấm thân phì nộn lên tấm nệm lò-xo.
Nó cương quyết xuôi Hà Nội.
Thế là cái án buôn lậu đầu voi đuôi chuột phải để thối, cho tiếng thơm của các quan Bảo hộ chóp bu được an toàn.
Mấy anh đội đoan tí hon, ngơ ngác ra khỏi nhà giam, không hiểu tại sao mình không phải tù.
Mấy tờ báo hàng ngày, kể cả báo Tây lẫn báo ta, đương viết những bài chửi bới bọn buôn lậu, với những đầu đề làm giật gân độc giả, bỗng một loạt im bặt hết. Sở Kiểm duyệt đã được lệnh không cho quyền ngôn luận được hé răng nói nửa lời. Ở những cột dành riêng đăng những bài dài lê thê và mãi chưa hết: Về vụ đầu độc cho đồng bào chết dần: Một hành động đáng sỉ nhục; Vụ án thuốc phiện v.v… bây giờ thay bằng những tin mất chó, mất ví da, cụt thun lủn, hoặc những truyện ngắn trai gái chim nhau, những bài thơ tình khóc mếu.
Nhưng may thay cho những nhà phóng viên. Họ đương đi lượn khắp phố để lượm tin, thì phủ Thống sứ gởi đến các báo tập giấy sao nghị định thuyên chuyển trong các ngạch. Những tờ đầu là tin quan lại: quan tuần phủ nọ hồi hưu, quan án sát kia về phủ Thống sứ, quan tri phủ này bổ đi thương tá, quan tri huyện khác đổi lên thượng du, vân vân. Còn mấy quan tri châu, quan thì được trả về ngạch cũ, làm thư ký tòa sứ, quan thì bị huyền chức. Cuối cùng là năm quan bang tá bị cách tuột chức, lý do là sơ khoáng chức vụ.
Độc giả biết đích xác bọn quan này là những tay lái buôn thuốc phiện lậu, thằng nào cũng giàu sụ, tạo được đồn điền và biệt thự. Họ còn tìm cả báo Tây để xem tin tức bọn viên chức Pháp dính dáng đến việc phạm pháp này. Nhưng vô ích. Thằng Mác-tanh vẫn làm chánh đoan Yên Bái. Nó bắt người dưới quyền nó đi rình hàng lậu cả ban ngày lẫn ban đêm. Còn mấy thằng Giăng Út, Lu-y Rô-manh, đứa nào ở đâu vẫn giữ nguyên chức vụ ở đó. Nay chúng đi phố, vẫn nghênh ngang, vênh váo, vác mặt lên trời. Hễ gặp người An Nam nào, tuy chúng không nhìn hẳn, nhưng cũng cứ liếc liếc, xem nếu người ấy có chào, thì chúng nhúc nhích cái đầu để gật gật.
 
* * *
Cố nhiên là nhà thơ Tình muôn thuở được trả lại tự do.
Thằng cẩm Pha-lăng-xô tha ông đấy. Nó nhìn theo ông ra khỏi cổng nhà giam. Lúc thấy ông ngã lăn đùng xuống đất, nó cười ngặt cười nghẹo, gò gập lưng mà cười:
- Từ thuở tao làm nghề này, chưa lần nào tao được cười mệt như lần này!
Nguyên thằng Pha-lăng-xô xưa nay vẫn tự phụ là thông thạo ngôn ngữ Việt Nam. Nên khi thấy ông Hoài Tân Tử khai nghề nghiệp là làm báo, thì nó nhìn ông từ đầu đến chân, như thể để xem tướng. Rồi nó bĩu môi:
- Báo gì? Báo cô hay báo hại?
Nhưng nó quắc ngay đôi mắt, hỏi dằn từng câu:
- Mày ở đảng nào? Đảng mày thành lập từ bao giờ? Mục đích tôn chỉ là gì? Có bao nhiêu người? Ai là đảng trưởng? Tổ chức đảng thế nào? Hoạt động nhiều chưa? Mày làm chức vụ gì trong đảng? Mày trả lời xong ngần ấy câu, tao tha cho về ngay lập tức.
Nhà thơ ta hết sức ngạc nhiên, ông biết ngay là thằng mật thám bắt lầm phải ông, thì thế nào nó cũng thả ông về. Ông lại mừng rằng như thế là công ty của ông chưa bị lộ. Ông không dại gì tố giác ra. Ông phải bắt chước hàn Thừa cái đức tính không lừa thầy phản bạn. Ông nhìn thằng Pha-lăng-xô, lễ phép đáp:
- Thưa ông, tôi không có đảng phái nào. Tôi không biết gì để khai cả.
Bất ngờ thằng Tây lai giơ quả đấm bằng nhôm vào mặt ông để dọa, sừng sộ nói:
- Thế tao bắt oan mày à? Đồ…
Nó nhìn thẳng vào đôi mắt của ông, rồi cười gằn:
- Con ạ, những thằng cùng đảng với mày, đứa nào cũng khai ra mày cả rồi. Tao hỏi ngần ấy câu, không phải vì tao không biết. Tao biết hết. Nhưng chỉ muốn xem mày khai thật hay nói dối mà thôi.
- Thưa ông, xin nhắc lại là tôi không ở đảng phái nào cả. Tôi chỉ làm báo!
- Mày làm gì ở báo nào?
- Trước kia, tôi làm báo Thực Nghiệp, báo Chấn Hưng. Bây giờ tôi không ở hẳn báo nào. Báo nào mời tôi viết thì tôi giúp.
Rồi muốn cho lời bịp được tin cậy, ông nói thêm:
- Thường thì tôi ký bằng rất nhiều biệt hiệu khác nhau.
Thằng Pha-lăng-xô lại ngắm ông:
- Mày viết gì?
Ông Tình muôn thuở đáp không ngập ngừng:
- Tôi làm thơ.
Vẻ chế nhạo, nó vừa nhìn lại tướng ông, vừa cúi đầu để chào:
- À, thi sĩ. Thế thì tao chưa bắt thi sĩ trả lời những câu hỏi của tao bằng văn xuôi vội. Tao cho thi sĩ về, đêm nay phải làm cho xong một bài thơ vịnh cảnh ở tù. Hiểu chưa? Sáng mai, lên đây, đọc cho tao nghe.
Ông Hoài Tân Tử hứa.
Tối hôm ấy, ông không nhờ đến thuốc phiện giúp ông yên-sĩ-phi-lý-thuần. Vả không còn hy vọng được hút, cho nên nhiều lúc, bóng cô ả Phù dung thấp thoáng đến, thì ông dùng ngay oai thằng Tây lai hung ác luôn luôn lởn vởn trong đầu óc, để xua đuổi hình ảnh cô bạn đến định nổi cơn tam bành.
Hôm sau, thằng Pha-lăng-xô gọi ông lên. Nó hất hàm:
- Thế nào? Thi sĩ xong thơ chưa?
Ông vui vẻ đáp:
- Thưa đã.
- Đọc lên tao nghe?
Nhà thơ đằng hắng mấy tiếng. Thằng Pha-lăng-xô làm ra thạo, nhắc:
- Ngâm chứ? Thơ tồi mà ngâm bằng giọng tốt thì cũng hóa ra hay. Trái lại, thơ hay mà không biết ngâm thì nó giảm giá trị. Có đúng thế không?
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Đúng thế đấy ạ. Nhưng tôi không biết ngâm. Chỉ xin đọc thôi.
- Cũng được.
Ông Tình muôn thuở lại e hèm năm sáu bận cho cái đàm khỏi làm vướng cuống họng, rồi cất cao tiếng để rên rỉ:
 
Xót mình thân đớn phận hèn
Cái xe, cái lọ, ngọn đèn, cái móc, cái liêm
Bây giờ cao ngọa xà lim
Như cá trong chậu, như chim trong lồng.
Ước gì tỏ rạng vầng hồng.
Nhờ gương Nhật Nguyệt soi lòng thủy chung,
Ơi Phù dung, hỡi Phù dung!
Nghĩ cây gang tấc muôn trùng mà đau!


Đọc xong, ông nói:
- Hết ạ.
Thằng mật thám đã lắng tai nghe từng câu. Bây giờ nó cầm bút gật gật:
- Khá lắm. Mày đọc lại từ đầu cho tao ghi.
Nhà văn sĩ đắc chí, cho là thơ mình hay, cảm được lòng người. Mũi ông phập phồng, tuy đứng mà đùi ông rung rung, ông đọc lại. Để cho rõ nghĩa, ông nhắc nó chỗ nào đánh dấu phẩy, chỗ nào đánh dấu chấm thường, chỗ nào đánh dấu chấm cảm. Ông dặn là hai chữ nhật nguyệt và chữ phù phải viết hoa.
Chép xong, thằng Pha-lăng-xô đặt bút, nhưng mắt vẫn cắm xuống tờ giấy. Một lát, nó hỏi:
- Cao ngọa là gì?
- Thưa là nằm chỗ cao. Ý nói nơi ở của các bậc tiên.
Nó nhếch mép:
- Hừ! Tiên khồng!
Viết đến đây, tác giả cần mở một dấu ngoặc đơn, để nói cho các bạn rõ về trình độ thông thạo ngôn ngữ Việt Nam của thằng Tây lai như thế nào.
Hồi còn đi học, có một lần, thằng Pha-lăng-xô lại nhà một người bạn tên là Phú để mượn một cuốn sách. Khi đến nơi, nó thấy trong nhà lố nhố những người. Nó hỏi thì Phú nói nhà có giỗ ông nội. Thế là nó sợ quá, vội vàng cắp đít chuồn thẳng, không dám quái cổ lại. Đến nửa đường, nó gặp một người bạn khác đến nhà Phú ăn giỗ. Nó trợn mắt, xua tay để ngăn:
- Chớ, chớ! Lây đấy! Ông nội thằng Phú lên đậu.
Thằng Pha-lăng-xô đã hiểu tiếng có giỗ là có những vết sẹo lỗ chỗ, thâm thâm ở trên mặt, vì bệnh đậu mùa.
Lại một lần nữa, đương lang thang ở phố với một vài người bạn, nó gặp một đám cưới. Nó đứng lại xem, thấy cô dâu đẹp, nó trầm trồ khen, rồi dùng câu tục ngữ để phát biểu cảm tưởng:
- Mẹ kiếp! Đêm nay thì vắt cổ chày ra nước!
Thông thạo ngôn ngữ Việt Nam đến mức ấy, nên khi thằng Pha-lăng-xô đọc bài thơ của anh nghiện nhớ thuốc phiện, thì nó hiểu ngay bằng nghĩa bóng xa xôi. Suy nghĩ xong, nó ngước mắt lên, trừng trừng nhìn kẻ có tội, rồi cười hà hà:
- Mày chối nữa đi! Đảng mày là đảng thân Nhật!
Ông Tình muôn thuở giật nảy mình:
- Thưa sao ạ?
Thằng mật thám như tóm được đuôi người hội kín rồi, nó hỏi để lấy thêm bằng chứng:
- Thế mày có giúp báo Văn Hóa không?
Ông Hoài Tân Tử ngơ ngác, đáp:
- Thưa không. Tôi không biết mặt mũi báo Văn Hóa thế nào.
Thằng Tây lai mở ngăn kéo, lấy ra một quyển báo mỏng, bìa vàng, giơ lên cao, và nói như giảng:
- Cuốn tuần báo này, mặt trước in hai chữ tên báo là Văn Hóa, mặt sau vẽ hình một nửa mặt trời tia ánh sáng ra xung quanh, và có hai chữ V.H. Mày chưa trông thấy bao giờ à?
- Vâng!
- Vô lý! Mày ký tên là gì trong báo này?
- Thưa, thật tôi không giúp báo này.
- Mày có biết hai chữ V.H là gì không?
- Thưa là hai chữ Văn Hóa viết tắt.
Thằng Pha-lăng-xô lắc đầu, xua tay:
- Không phải. Mày vờ khéo lắm, con ạ. Là hai chữ Vầng Hồng. Biết chưa? Bởi vì hai chữ đặt bên cạnh cái hình mặt trời. Mà nước nào có cờ mặt trời đỏ, mày thấy chứ?
Ông nhà thơ yên lặng, thằng mật thám tiếp:
- Những bài trong báo Văn Hóa sặc mùi thân Nhật, cho nên báo đã bị cấm, mày không biết à?
- Thưa không.
Thằng Pha-lăng-xô xô ghế đứng dậy:
- Thế sao mày bảo mày làm báo? Bú dù!
Ông Hoài Tân Tử chữa:
- Vâng. Tại tôi không đọc những báo lá cải.
- Không phải lá cải.
Ngừng một lát, nó nhìn vào tờ giấy:
- Thế bây giờ tao hỏi mày nhé. Tại sao trong bài của mày có chữ vầng hồng, chữ nhật. Mày tưởng úm nổi tao à? Mày muốn vầng hồng tỏ rạng để thấu tấm lòng thủy chung với nước Nhật Bản của mày, hả? Còn phù dung là nghĩa thế nào? Phù tang chứ? Nói lóng phỏng? Lòng mày gần người Nhật, nhưng mày tiếc rằng đường đất xa xôi, cho nên mày đau lòng! Thơ thâm thúy nhỉ.
Ông Tình muôn thuở đứng đờ người. Mỗi lần ông há miệng, định đáp để cởi cái dây mà ông tự trói ông ra, thì thằng mật thám lại:
- Không cần thanh minh! Không cần chối! Mày đã lạy ông tôi ở bụi này rồi. Vậy tao lại cho mày về xà-lim, nhưng không phải nghĩ thơ, mà nghĩ trả lời những câu hỏi của tao: Mày ở đảng nào? Đảng mày thành lập từ bao giờ? Mục đích tôn chỉ là gì? Đảng mày có những ai? Ai là đảng trưởng? Tổ chức đảng thế nào? Hoạt động những gì rồi? Và mày giữ chức gì trong đảng?
Nó giơ tám ngón tay:
- Tám câu. Trả lời bằng văn xuôi, chứ không cần bằng thơ bát cú để phải tìm vần cho thêm khó!
Đêm hôm ấy, vì ông nhà thơ không phải lo nghĩ câu trả lời mà ông không biết, nên ông bị cơn nghiện nó vật. Ông sổ mũi, hắt hơi, rồi lăn lộn từ trên sàn xuống đất. Lúc mệt nhoài, ông mới nhớ ra là phải tự khủng bố bằng hình ảnh thằng Pha-lăng-xô, và phải luôn luôn không quên rằng ở xà-lim thì hoàn toàn tuyệt vọng về thuốc phiện. Cho nên ông ngủ yên được đến sáng.
Hôm sau, tên cai ngục mở cửa, bắt ông đi đổi thùng xia. Muốn phản kháng, ông nói:
- Thưa thầy, oan lắm, tôi chưa được ỉa.
Nó gõ ba-toong vào đầu ông:
- Mày mà không phải là văn sỹ, thì tao cho một gậy bỏ đời!
Rồi nó nhại:
- Chưa được ỉa! Oan!
- Thưa thật đấy ạ.
- Thế từ hôm vào đến hôm nay, mày ỉa ở đâu?
- Thưa mới hai hôm, thật là chưa được ỉa ạ. Thầy minh xét cho.
- A-lê đi! Không nói bướng. Rồi phải còn đến quan gọi! Mau lên!
Thay thùng xong, ông Hoài Tân Tử vào buồng thằng Pha-lăng-xô. Thằng này hất hàm:
- Tao chờ. Trả lời tám câu đi?
Ông Tình muôn thuở đáp:
- Thưa thật tình là tôi không biết gì.
Thằng mật thám đứng dậy, trỏ lên cái đanh khuy vặn ở khung cửa ra vào:
- Mày có biết cái gì đây không?
Ông nhà thơ nhìn:
- Thưa là cái đanh khuy ạ.
- Để làm gì?
- Để móc cửa ạ.
- Không phải, để treo mày, nếu mày cứ gan mãi.
Ông Hoài Tân Tử tái mét mặt.
Thằng mật thám biết là ông nhát, nó dỗ dành:
- Vậy mày thú đi. Mày nói xong, tao tha ngay lập tức.
- Thưa ông, thật tình là tôi không ở đảng phái nào, nên không biết gì mà khai.
- Thế sao mày lại tái mặt? Mày sợ gì?
- Thưa ông, ai vào đây mà chẳng sợ. Còn như tôi, tôi sợ thêm một nỗi rằng vì ông yên trí tôi có chân trong một hội kín, thì nếu thấy tôi không khai, ông cho là vì phải giữ bí mật, nên tôi gan. Nhưng nếu tôi khai liều lĩnh một vài tên người quen, tất ông cho là đúng tôi ở trong hội kín.
Thằng Pha-lăng-xô cáu:
- À mày rào đường tao? Nhưng tao cứ đi.
Nói xong, nó bảo hai thằng tay sai:
- Làm việc!
Túc thì một thằng lấy dây thép buộc hai ngón tay cái của ông Hoài Tân Tử với nhau. Một thằng bắc chiếc ghế thấp đến ngưỡng cửa, ngay dưới chỗ có đanh khuy. Thằng Tây lai bắt ông đứng trên ghế, giơ hai cánh tay lên. Tự nó vặn dây thép thít chặt hai ngón tay ông với lỗ đanh. Nó rút cái ghế ra, nhìn lên chỗ buộc, yên trí là ông bị treo lửng lơ rồi.
Nhưng sự thật thì ông Tình muôn thuở vốn cao lênh khênh. Ngày trước, ông vẫn ức với chị em dưới xóm chế ông vừa đen vừa cao để nói xỏ ông là cái thử khoản. Nhưng bây giờ vào sở mật thám, ông mới thấy cao là có lợi. Ông không bị treo lơ lửng. Ông duỗi thẳng bàn chân xuống, vẫn thấy mấy ngón đụng đến sàn. Muốn thằng mật thám khỏi khám phá ra vụ bu lu lâu, ông phải hơi co cẳng lên một chút.
Thằng Pha-lăng-xô đứng trước mặt ông. Nó cầm roi gân bò, hầm hầm hỏi:
- Mày không thú thật, thì tao đánh. Tao không cần mày thuyết. Mày vào đây để khai, chứ không phải để dạy tao như ban nãy. Tao còn đẻ ra cái chính trị của chúng mày. Mày nghĩ xem, một đằng khai, thì được tha ngay. Một đằng gan, thì phải đòn phải đánh, phải tra tấn rất đau đớn. Mày muốn đằng nào?
Ông Hoài Tân Tử kêu:
- Oan tôi lắm. Tôi không biết gì mà khai.
Hai roi quật vào lưng ông:
- Gan! Không khai! Bướng! Không đổi thùng!
Tức thì ông nhà thơ kêu oai oái, co cẳng, nhảy hai cái đánh vót thật cao. Như kiểu người giỏi võ đá xăng phi vậy. Thằng Pha-lăng-xô giật mình, vội vàng lùi lại một bước. Là vì bị đau, ông quên là không bị treo thật. Đáng lẽ ông không nên nhảy để khỏi lộ bí mật. Người khác, bu lu trên không, khi bị đánh, chỉ giãy giụa tại chỗ, chứ không tung hoành ra được trong một khoảng vừa cao vừa rộng như ông.
Có lẽ cho phạm nhân là văn sĩ, nên bị đòn mà vẫn ngang tàng, thằng Pha-lăng-xô quật năm sáu roi liền:
- Nói! Nói! Nói!…
Ông Hoài Tân Tử xăng phi lia lịa.
Thằng mật thám ngừng tay. Thấy ông kêu to quá, nó bắt đóng tất cả cửa kính lại. Bỗng nó nhìn kỹ ông, có vẻ ngạc nhiên. Nó vẫn thấy mặt ông tái, chứ không bự đỏ vì máu ứ như những người khác treo lơ lửng như thế này. Nó nghi. Nó đưa mắt xuống chân ông vẫn còn dính trên mặt sàn. Ông vội vàng co cẳng lại. Nhưng không kịp.
Thằng Tây lai tìm ra cái duyên cớ ngang tàng của nhà thơ rồi. Nó biết không phải ông gan bướng. Nó bật buồn cười:
- Tao cho mày về nghỉ để nghĩ kỹ xem nên khai hay không. Hôm nay mày mới điểm tâm chút ít, nhưng mai thì được ăn thật nhé.
Nằm trong xà-lim, ông Hoài Tân Tử lo lắm. Vốn ở Hà Nội lâu, ông không lạ gì cái gọi là đòn xăng-tan mà sở mật thám dùng để tra tấn phạm nhân, ông đoán là ông sẽ bị gí điện, một đôi khi ông đã phải điện giật. Cho nên ông tưởng tượng là điện gí lâu vào người, ông sẽ thấy thế nào. Ông rùng cả mình. Nhưng sực nhớ ra là thấy ông kêu, thằng Pha-lăng-xô phải đóng cửa ngay. Chắc rằng nó sợ tiếng lọt ra ngoài. Thế thì muốn nó e ngại vì tiếng kêu, chi bằng ông cứ rống thật to như bò, thế nào nó cũng phải ngừng tay.
Ông thiu thiu ngủ. Bỗng ông ngửi thấy một mùi đúng là mùi đầu dọc tẩu. Ông mở mắt ra để tìm. Thì ra ông nằm quay mặt vào, mũi sát vào tường. Tường ẩm máu rệp, mồ hôi, ướp mùi nước đái, cứt, cho nên nó hăng xì xì như mùi đầu dọc tẩu mà ông vẫn ngậm, ông tìm được cách giúp ông chừa thuốc phiện vo. Mỗi khi nhớ bàn đèn, ông gí mũi vào tường khai thối, để hưởng cái mùi quen thuộc và dễ chịu.
Hôm sau, thằng Pha-lăng-xô gọi ông lên, nhưng không hỏi han gì. Nó cầm hai dây điện. Khi nó mới gí một đầu dây vào tay ông, ông đã nhảy phắt lên, và kêu thật to:
- Ôi giời ơi đau! Lạy ông!
Thằng Pha-lăng-xô vẫn để các cửa mở:
- Đau gì? Đau gì? Đã có điện đâu mà ầm ĩ lên?
Quả là thế. Mới có một dây chạm vào người ông thôi. Chưa có điện truyền thật.
Thằng mật thám buộc chặt một đầu dây vào một ngón tay của ông. Nó cầm đầu dây kia, rồi hất hàm:
- Mày phải vãi cứt vãi đái ra rồi mới khai phải không? Đã đổi thùng chưa?
Nó gí đầu dây cầm ở tay vào mặt ông. Ông bị điện giật đánh thót, thót lên tiếng kêu, nhảy tót lên, rồi ngã sóng xoài.
Thằng Pha-lăng-xô thấy chân tay ông dài lêu đêu, quều quào như múa, thì buồn cười. Nó vẫy ông đến gần:
- Không tránh đâu thoát, con ạ.
Nó đi đến góc tường, rút cái chốt truyền điện ra rồi buộc nốt một đầu dây nữa vào đầu ngón tay khác của ông:
- Thế nào? Muốn khai hay muốn tập võ?
Không đợi ông đáp, nó lắp chốt điện.
Ông Hoài Tân Tử nhảy chồm chồm, hộc lên như bò rống. Rồi nằm ườn xuống sàn, mắt nhắm như người chết. Thằng mật thám vội vàng rút chốt ra.
Hai thằng tay sai, vì quen nghề, cúi mặt xuống gần người bị điện giật. Chúng ngửi ngửi, hít hít. Rồi cởi dải rút, tụt quần ông ra để nhìn.
Cả chúng lẫn quan thầy chúng cùng trông nhau. Thằng Pha-lăng-xô lắc đầu:
- Thằng này nguy hiểm lắm. Thế mà nó vẫn chưa việc gì. Phải gí điện lâu nữa, nó mới sợ.
Rồi nó dạy kinh nghiệm cho hai thằng chó săn:
- Hễ sợ thì phải vãi cứt vãi đái. Mà có vãi cứt vãi đái, nó mới biết sợ.
Ông Hoài Tân Tử tuy nằm, nhưng còn tỉnh, ông hiểu là vừa rồi ông bị chúng khám đít.
Thằng Pha-lăng-xô sai:
- Trói chặt nó lại.
Ông Hoài Tân Tử biết thế nguy, vội vàng ngồi dậy:
- Thưa ông tôi xin nói.
Thằng mật thám gật đầu:
- Tao nghe.
- Thưa ông, ông có bảo tôi là có chân trong hội kín chính trị. Sự thật tôi chỉ có chân trong hội kín kinh tế thôi.
- Nghĩa là thế nào?
- Nghĩa là công ty buôn thuốc phiện lậu.
Thằng Pha-lăng-xô gật đầu:
- Tao biết công ty ấy từ lâu rồi. Không cần đến mày nói. Có vợ chồng thằng An-be Thừa phải không? Mày định khai ra chúng nó chứ gì?
- Vâng, và cả ông Mác-tanh nữa ạ.
- Mác-tanh nào?
- Mác-tanh là chánh đoan Yên Bái, giám đốc công ty.
Thằng Tây lai cười:
- Mày cùng rồi, con ạ. Mày định bôi nhọ nước Pháp để tuyên truyền tao phục nước Nhật phỏng?
- Tôi không định thế. Nhưng tôi nghĩ mãi. Có lẽ ông lầm công ty này là hội kín, nên mới bắt tôi.
- Tao không lầm. Mày phải khai cái đảng thân Nhật của mày ấy. Tám câu tao hỏi mày, mày phải trả lời. Và tao cấm mày không được xưng bậy xưng bạ, xưng cả tên một quan chức người Pháp.
Sáng hôm sau, ông Hoài Tân Tử không bị thằng Pha-lăng-xô gọi lên.
Là vì thằng Tây lai đã báo cáo với chánh mật thám Bắc Kỳ rằng Mác-tanh bị tố giác là giám đốc công ty buôn thuốc phiện lậu.
Việc thằng Pha-lăng-xô vô tình điều tra thấy tên thằng Mác-tanh ăn khớp việc thằng Pu-lê Ô-di-ê tìm ra người sáng lập và giám đốc công ty buôn thuốc phiện lậu lớn nhất Bắc Kỳ từ xưa đến nay. Vì vậy, sở mật thám nhận được mật lệnh của thống sứ Rô-banh là phải dìm vụ này đi, kẻo rút dây động rừng, làm ô danh người Pháp.
Đáng lẽ ông Hoài Tân Tử được tha ngay sáng ngày hôm sau. Nhưng không may cho ông, sở mật thám vừa mua về được của nước Mỹ mấy hòm quay điện tối tân, dùng để tra tấn phạm nhân.
Thấy của lạ, của mới, thằng cẩm và thanh tra nào cũng muốn thí nghiệm vào người mà chúng đương thẩm vấn. Đứa nào cũng phục là thần hiệu. Chúng khoe với thằng Pha-lăng-xô:
- Tài thật! Tóe cả cứt lẫn đái! Rồi phun phè phè ra hết!
Thằng Pha-lăng-xô thấy tra bằng cách gí điện mà ông nhà thơ vẫn giữ vững tấm lòng son, thì nó tức lắm. Nó chưa tha ông vội, để nhờ kỹ thuật của Mỹ thử vào ông.
Nó gọi ông lên buồng giấy. Lần này, nó nói ôn tồn:
- Mặt mày thì có vẻ nhút nhát. Nhưng tao không hiểu đầu óc, nhất là cơ thể của mày thế nào, mà từ việc to đến việc nhỏ, mày gan và bướng thế. Bảo khai đảng thân Nhật, mày tố giác quan chánh đoan Mác-tanh. Bảo đổi thùng, mày càu nhàu là chưa được ỉa. Đến nỗi bị gí điện, mà đít mày cũng cứ sạch lầu lầu thôi!
Rồi bỗng nó trở mặt:
- Tiên sư mày! Nhân tiện có hòm điện mới của Hoa Kỳ, ông thấy nói là tốt lắm, thì ông phải thí nghiệm vào mày, xem mày gan bướng thế nào, và có còn già mồm là chưa được ỉa nữa không!
Ông Hoài Tân Tử sợ hãi, run lên bần bật. Ông không ngờ sở mật thám tây lại cần đến cứt của ông để chứng minh cho kỹ thuật tra tấn người của nước Mỹ. Nhưng đành rằng ỉa một bãi mà cứu vãn nổi giá trị của khoa học Hoa Kỳ, ông không thiệt hại gì, lại có lợi về nhiều mặt. Song, chẳng phải vì có tư tưởng bài Mỹ, thân Nhật gì đâu, việc ấy quả tình là ông khó làm lắm. Ông cứ cố hết sức thôi. Còn kết quả ra sao, là tùy ở trời. Có khi nhân định thắng thiên cũng nên.
Nghĩ vậy, ông Hoài Tân Tử nhìn cái hòm quay điện mà rùng mình.
Thằng mật thám bắt ông cởi hết quần áo. Ông sượng sùng, thẹn thò, cong cong người, lấy tay bịt kín cái mà ông không muốn “quan trên nhìn xuống”.
Rồi ông kêu khóc, lạy van ầm ĩ:
- Thưa ông, tôi không thân Nhật, thân Việt Nam! Tôi không bài Pháp, bài Mỹ!
Nhưng thằng Tây lai không mủi lòng. Nó vừa tủm tỉm, vừa trói ghì chân tay ông lại, rồi khênh ông nằm trên bàn. Đóng kín các cửa xong, nó gài dây điện vào bụng ông. Sợ quá, ông cuống quýt:
- Thưa ông, ông cho tôi nói một câu, một câu thôi.
Thằng Pha-lăng-xô hất hàm. Nó đợi.
- Thưa ông, ông sáng suốt, chắc nhìn thớ người tôi, ông biết ngay rằng tôi nhút nhát, không dám làm chính trị. Vả, giá tôi có dại dột mà làm chính trị, thì cứ mã người tôi thế này, ông chỉ búng một cái là tôi phải phun phè phè ra hết rồi. Từ hôm nọ đến hôm nay, tôi khổ quá rồi, mà ông cứ nghi tôi là gan. Nhưng ông tra tấn thế, chứ tra tấn nữa, chỉ mỏi tay ông, chứ tôi không biết gì mà phun đâu.
Thằng Tây lai thấy ông nhà thơ nói đúng quá, thì nó mỉm cười, song, phải lập nghiêm:
- Mày gan cái khác kia!
Dứt lời, nó cầm cái ngõng của hòm điện, quay một vòng, ông Tình muôn thuở giật đánh thót, bắn mình, miệng kêu hồng hộc.
Thằng Pha-lăng-xô gật gù. Nó quay hai vòng. Ông giãy giụa trong cuộn thừng thít chặt. Và trong khi miệng ông rú lên những tiếng thét thất thanh, thì ông cố rặn hạch. Đít ông tuôn ra được một tràng rắm xìn xịt.
Thằng mật thám cho là kết quả đến nơi rồi. Song, nó chưa thỏa mãn. Nó cần nhìn thấy thể rắn, chứ không cần ngửi thấy thể hơi. Nó bèn quay một hồi năm sáu vòng liền, ông Tình muôn thuở ngất đi, không cựa được và không kêu được. Nhưng vẫn phì ra một hơi dài, thôi thối.
Thằng Pha-lăng-xô bực mình. Không lẽ máy móc được tiếng là tốt, bọn đồng nghiệp nó tra tấn ai cũng khoe rằng người ấy phun phè phè ra bí mật. Thế mà nó tra tấn ông, ông chỉ phun ra có cái ấy.
Nửa phút sau, ông cựa cậy. Ông cố hết sức lấy hơi để rặn, đỏ cả mặt. Nó đứng im để nhìn. Bỗng nó ra hiệu cho hai thằng tay sai cùng chú ý. Hai con chó săn giương mắt trông. Thấy lỗ đít ông bắt đầu mấp máy, chúng vội vàng kéo ông ghếch ra mép bàn. Rồi cả ba đứa yên lặng, hồi hộp, để chờ đợi.
Bắp thịt đít ông Hoài Tân Tử doãng rộng. Bỗng một tràng tiếng lạch bạch, kêu như pháo, báo tin mừng là máy móc Mỹ tốt thật. Từ cái hang thẳm giữa đôi mông nhăn nhúm của ông nhà thơ, một thứ vật thâm xì lòi dần, lòi dần ra. Cả ba đứa cũng hồi hộp nín thở, để chúng kiến cuộc bài tiết sắp trình diện trước mặt chúng. Chúng mừng như thấy mẹ về chợ. Nhưng như cô gái tơ hay e lệ, cái vật xiết bao mong đợi ấy chỉ thập thò tới đó thì ngừng. Bắp thịt lỗ đít co lại làm nó thụt hẳn vào.
Thằng Pha-lăng-xô thở dài. Nó không rõ có phải cứt hay không. Sao lại không màu vàng? Chợt nghĩ ra cái giống làm báo làm văn là bất trị lắm, nó cáu tiết. Nó thò tay cầm cái ngõng hòm điện, quay tít đến mười vòng, ông Hoài Tân Tử giãy như người giãy chết, miệng ằng ặc không ra tiếng. Nhưng một mặt do ông tự lực ì ạch, ư ử, một mặt do có khoa học Mỹ giúp sức, sau hết, lỗ đít ông bị kích thích mạnh. Nó doãng rộng hơn. Cái vật thâm xì ban nãy lòi ra nhanh hơn. Ba thằng lại hồi hộp, nín thở. Thì sung sướng làm sao? Đó là hòn cứt thật. Hòn cứt gọn ghẽ, thâm xì, rắn chắc và nhẵn thín đã són ra, trình bày cả hình thể lẫn khối lượng của nó. Nó tròn như hòn bi, to gần bằng ngón chân cái. Cái hòn cứt độc nhất ấy ra khỏi hang, nó rơi tọt xuống sàn gạch hoa, kêu thành tiếng.
Thằng Pha-lăng-xô hớn hở, thở phào một cái:
- Tưởng gan bướng mãi! Của Mỹ có khác thật!
Một thằng tay sai chia vui với quan thầy:
- Bẩm quan lớn, thằng này đúng là quan viên làng bẹp. Nó nghiện khá nặng, nên cứt nó mới táo bón và đen như thế này.
Thằng Pha-lăng-xô ngớ mặt, nhún vai và há to miệng:
- À à à à! Hèn nào mà cai bắt nó đổi thùng, nó cứ kêu là chưa được ỉa. Thì ra nó oan thật, chúng mày ạ.
Cả ba thằng cùng phá ra cười.
Chứng minh xong cái thần hiệu của máy móc nước Mỹ, thằng Pha-lăng-xô không có lý do gì giữ ông Tình muôn thuở ở xà lim nữa. Nó ký giấy tha cho ông về nhà. Ông mừng lắm, ngồi nghỉ một lát cho lại người, rồi đi lấy quần áo mà hôm vào, ông phải ký lại.
Mặc xong bộ đồ nát nhàu, vì bị cuộn tròn vứt ở xó từng ấy ngày, ông nhà thơ soi mặt mình vào tấm kính cửa. Thấy tóc dài nhiều, râu ria ở mép và ở cằm phun ra tua tủa, hai má phị ra, ông phác ngay trong óc một chương trình hoạt động. Ông phải đi cạo đầu cạo râu ngay, rồi lên hiệu đánh một bữa cho thật khướt, để chiều nay, lên Cẩu Rồng.
Bởi vì trong những hôm “cao ngọa xà lim”, không mấy ngày ông không nghĩ đến công ty và ông bạn quý đáng làm thầy ông về mặt đạo đức. Ông phải báo cho Thừa biết tin vui là công ty vẫn có thể hoạt động, vì ông vô tội, mà Mác-tanh không bị sứt mẻ danh dự. Song, ông không muốn giữ chức vụ gì trong hội buôn nữa, vì ông đã chữa hẳn được thuốc phiện rồi. Ông phải hãnh diện mà khoe với Ma-ri là ông chỉ cai vo. Ông đã giữ đúng lời nói cứng là cứ thử mắc nghiện, để lúc nào muốn chừa thì chừa. Ông ngầm phục mình là cương quyết, đầy nghị lực.
Thằng Pha-lăng-xô và hai thằng tay sai đứng ở sân. Chúng nó chờ ông đi để nhìn theo. Thấy thân hình ông khẳng khiu, chân tay ông lêu đêu, mặt mũi ông xanh bủng, thằng Tây lai than thở:
- Tiếc quá! Giá tao biết nó là làng bẹp, nghiện oặt xà lai, thì tao chả cần đánh chác, tra tấn gì cho mỏi tay. Tao chỉ cho nó hút một bữa, thì có gì cũng phun ra hết!
Ông Hoài Tân Tử chào chúng nó, rồi thất thểu đi. Ông cố bước những bước dài, chắc và nhanh, như một người bằng lòng mình vì lành mạnh.
Nhưng vừa ra khỏi cổng ngoài cùng, đặt bước chân đầu tiên trên hè phố, bỗng ông hắt hơi dồn bốn năm cái, tự nhiên nước mắt nước mũi trào ra, giàn giụa, ông chuệnh choạng, rồi ngã vật xuống đất đánh huỵch.
Thằng Pha-lăng-xô đứng ở trong nhìn ra. Nó giậm chân xuống đất, gò lưng, ôm bụng mà cười, cười như nắc nẻ.
Nhưng người khác không cười trước một tai nạn của đồng loại. Ai cũng tưởng người tù được tha có máu động kinh bị lên cơn. Họ vội vàng chạy đến cứu!
Nhưng không phải.
Mắt ông vẫn mở trừng trừng. Đôi con ngươi sáng quắc đương chăm chắm nhìn vào hai đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ vê vê với nhau. Ông nói:
- Nhờ ông bà gọi cho tôi cái xe, bảo kéo hộ ngay lên Yên Phụ.
Rồi ông tiếp:
- Bao nhiêu tiền cũng được.
Thì ra quả là thuốc phiện có ma.
Ra đến phố, được tự do, ông làng bẹp nhà ta được có hy vọng đi hút, thì ông không chịu nổi nữa. Cơn nghiện mà từng ấy hôm ông không hề nghĩ tới, bây giờ nó nhập ngay vào người ông. Nó quật ông ngã, bắt ông phải lên ngay nhà chị Sáu, chứ chưa cần đi cạo đi ăn, đi Cẩu Rồng. Nằm trên hè, ông không thấy đau, lại còn tưởng tượng như nhìn thấy chính tay đương tiêm điếu thuốc quánh, lăn trên diện tẩu gan gà nhẵn thín.
Sung sướng thay! Nhà thơ lãng mạn đã được ả Phù Dung chờ đón, đon đả khuyên chàng đừng thay lòng đổi dạ như những bạc tình lang.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
X
QUEN MUI THẤY MÙI ĐÁNH MÃI  
 
Ma-ri thấy công ty mất vạn ba bạc mà phải chịu đắng, lại thấy ông Hoài Tân Tử bị tố giác láo là hội kín mà phải bắt, hắn cho là bở, bèn lại xui Thừa làm một chuyến tàu vét nữa, vét nốt tiền của khách hàng quen.
- Thần tài nhà ta đương vượng, toa ạ. Chịu cho tụi buôn thuốc phiện lậu của nhà mình nó bóc lột công lao của toa mãi, moa ức không chịu được.
Ma-ri vừa học được vài danh từ mới, liền áp dụng ngay vào câu nói để khích Thừa.
Thừa khôn ngoan hơn. Hắn nghe ngóng xem huyện Lung và Hoài Tân Tử khai báo thế nào.
Mười hôm sau, khi không thấy tòa sứ Vĩnh Yên và sở mật thám Hà Nội hỏi han gì hắn, hắn cho là êm, mới suy nghĩ đến lời Ma-ri xui.
Lại đến hôm hắn thấy ông Tình muôn thuở về Cẩu Rồng chơi, giục hắn tiếp tục lấy hàng cho công ty, hắn mới biết đích xác công ty không phải là hội kín. Hắn cay cú và chán ngán. Thì ra việc hắn tố giác công ty không giúp gì cho hắn lập công danh.
Hắn đi Hà Nội, xin lỗi thằng Pha-lăng-xô, để thằng mật thám tin rằng không phải hắn lừa nó.
Nhưng thằng Tây lai không những không giận, nó còn khuyến khích hắn:
- Ông làm thế là tốt lắm. Chính sở mật thám cũng làm thế. Thà bắt oan chín mươi chín thằng, còn hơn để sểnh một thằng. Bởi vì cứ bắt một trăm thằng tình nghi, thế nào cũng trúng một, ông ạ. An Nam chẳng có câu, trăm bó đuốc cũng vớ được một con cóc là gì?
Thừa bật cười:
- Thưa con ếch ạ.
Thằng Pha-lăng-xô gật gù:
- Ừ, phải. Ếch. Nếu là cóc, thì nghĩa là cóc khô, tức là sở mật thám bắt một trăm thằng, oan cả một trăm nhỉ.
Nó phá lên cười vì đắc chí:
- Vậy ông cứ về, tiếp tục giúp tôi. Việt Nam Quốc dân đảng còn sót vô khối đứa chưa bị bắt đấy, ông ạ. Lại còn bọn cộng sản nữa.
Nó rút ngăn kéo, lấy ra quyển sách.
- Đây, ông đem về mà đọc.
Thừa cầm quyển Mặt nạ cộng sản:
- À, ông phán Ích viết. Tôi có quen.
Thằng Pha-lăng-xô lắc đầu:
- Không phải ông phán, ông Nguyễn Văn Ích bây giờ là quan châu rồi. Có sung sướng không?
- Thưa ông ta bắt cộng sản?
- Không. Ông ta chỉ viết quyển này là được ra làm quan ngay.
Nó gật gù:
- Sách này thật có ích.
Thừa chào thằng Pha-lăng-xô rồi ra. Hắn hăm hở đi gọi tất cả khách hàng quen của hắn, báo cho biết rằng đêm nay hàng về, thì đem theo tiền đi ngay Cẩu Rồng mà mua nhựa.
Khách khứa lần này có đến hơn bốn chục người, được Thừa cho biết là còn lâu nữa mới có chuyến hàng mới. Ai cũng mang gấp đôi tiền, hòng vận động Thừa bán cho nhiều để tích trữ, đợi lúc hàng khan, thì đầu cơ.
Thừa và Ma-ri cũng làm y như thật. Thừa vờ bận túi bụi về đếm tiền, về tiếp khách, vân vân. Ma-ri thân ở luôn sòng, cổ vũ con bạc đánh to, để được cho vay nhiều.
Hai Điều chẳng biết gì, vẫn còng lưng, cúi đầu, xóc thật rền. Tiếng bốn đồng tiền cắt bằng vỏ diêm nhảy trong bát đĩa giòn như hồi chuông điện.
- Lẻ ăn rồi, lẻ thừa năm trăm bảy mươi đồng. Bán lẻ năm trăm bảy mươi đồng! Bán lẻ năm trăm bảy mươi đồng!
- Đắt!
Một người nóng mặt vì khát nước, cố lách cánh tay qua cái hàng rào đùi, cầm trôn bát úp trên đĩa, xoay khẽ một cái. Rồi hắn khư khư giữ trôn bát:
- Ai mặn lẻ, đánh thêm nữa ra!
Tiền lại tới tấp ném xuống chiếu.
Hai Điều nghe cô Huệ cộng thêm, mỗi lúc lại xướng:
- Bán lẻ năm trăm tám mươi tư đồng!
- Bán lẻ năm trăm chín mươi bảy đồng!
Người mua lẻ lại hỏi:
- Còn ai nữa, xỉa nốt ra ba đồng cho chẵn sáu trăm nào?
- Có tôi đây.
Một người trả lời, quăng một cuộn sáu tờ giấy năm đồng. Hai Điều lại rao:
- Bán lẻ sáu trăm bốn mươi bảy đồng!
Một người nhảy vào ngồi bên Hai Điều, hất mạnh tay người khát nước ra:
- Tôi làm cái hộ cho. Đành mất chuyến hàng này chứ gì? Thiếu đâu, bà hàn cho tôi vay nhé.
Rồi hắn xướng to:
- Chẵn ăn rồi, chẵn thừa hai trăm!
Mọi người càu nhàu:
- Thôi, không rắc rối. Để nguyên cụ quản làm cái.
Hai Điều đặt ngang quân bài tổ tôm bỏ ở vỉa lên trôn bát, ngước mục kỉnh nhìn mọi người:
- Nào, đâu đấy xong chưa, để cái xướng?
Không ai trả lời. Người khát nước lại để tay giữ trôn bát, giục:
- Cái xướng?
Hai Điều nói thong thả và to như đọc lại báo cáo từ đầu đến đuôi.
- Lẻ ăn rồi, lẻ thừa sáu trăm bốn mươi bảy đồng. Bán lẻ sáu trăm bốn mươi bảy đồng!
Người sắp mở bát đáp:
- Cân! Trăm con mắt nhìn vào đây!
Cái bát bỗng tung quay tít lên cao. Hai Điều giơ tay đỡ, như cầu thủ thành đỡ quả bóng, tất cả ngần ấy miệng đều nói:
- Mắt ngỗng!
Tiếng ồn ào nổi dậy. Người giam tiền. Người vơ tiền. Người cười. Người thở dài. Nhưng một hồi tiền vỏ diêm rền trong bát, làm ai nấy im dần và im bặt để lắng tai và đoán.
Ở bên buồng bàn đèn, thấy vắng mặt cụ Hoài, thì người ta cũng hỏi thăm. Không ai được nghe chửi bài thơ nọ thối, nhà báo kia dốt. Không ai được nghe than tiếc thời buổi viết báo trước là oanh liệt, và chê bỉu làng báo bây giờ là mất hết giá trị. Ĩnh con, vì không có người đuổi, nên nằm từ đầu đến cuối, mặc cho thỉnh thoảng bị sức nặng của những tấm thân khác nó đè, lúc lên đít vòn, lúc lên đùi khẳng, lúc lên sườn lồi, lúc lên ngực bẹt, khiến cho nhiều bận, cái khung xương như ọp ẹp thêm.
Đến ba giờ sáng, có tin mời khách chuẩn bị đi lấy hàng.
Nồi cháo gà được bưng lên ăn, khói bốc nghi ngút, mùi hành thơm ngào ngạt. Cũng như mọi bận, khách không đợi người múc ra bát cho đàng hoàng. Ai nấy tự tay chọn những tỏi, những lườn, những phao câu, nhồm nhoàm cắn lấy thịt, rồi vứt xương bừa bãi lên trên bàn, xuống nền gạch. Họ húp cháo xụp xoạp, hạch thêm nước mắm, thêm dấm, thêm ớt, thêm hạt tiêu. Ồ ạt một lúc xong, họ kéo nhau đi.
 
* * *
Cái địa điểm mà lần này khách tới nhận hàng, là nhà anh Xi, ở cách dinh khí xa.
Ma-ri đã bàn mãi để bắt Thừa dùng nhà ấy. Thừa bất đắc dĩ phải chiều theo ý vợ.
Hắn cưỡi ngựa đến thăm anh Xi. Sau khi hỏi thăm công việc làm ăn của anh, hắn đưa anh mười đồng, nói rằng để giúp vợ anh sắp ở cữ. Vô tình, tưởng Thừa tử tế và hào phóng, anh Xi nhận. Đến khi Thừa ngỏ lời là đêm nay nhờ anh cho gửi hơn bốn mươi người trong độ nửa giờ đồng hồ, anh bằng lòng ngay. Anh biết là khách chờ, để rồi ra bờ sông nhận nhựa, như mọi bận. Cho họ đứng trong nhà, hoặc ngoài sân, không hại gì.
Đêm hôm ấy, trời tối như mực.
Khi người khách cuối cùng của Thừa vừa đến sân nhà anh Xi, họ đứng lố nhố, đương chuyện trò với nhau, thì bỗng có những tia đèn pin chiếu sáng rực vào họ:
- Giơ tay lên!
Thằng chánh cẩm Gôn và mười người đội sếp, nai nịt gọn gàng, chia nhau đứng để vây, ngăn mọi người chạy mất.
- Giơ tay lên!
Ai nấy ngơ ngác. Thằng Gôn cầm súng lục, chĩa vào đám đông nhất:
- Giơ tay lên!
Chỉ năm phút sau, bốn mươi hai người buôn lậu, và anh Xi là bốn mươi ba, bị xích díu với nhau, thành ba xâu dài.
Năm người đội sếp canh tội nhân, còn năm người nữa theo thằng Gôn đi lục soát nhà cửa.
Tiếng kêu nổi vang dậy.
Chị Xi chẳng hiểu gì, mặt tái xanh tái xám. Chị ngồi xuống đất, nép vào chân cột. Khi thấy anh Xi cũng bị xích tay như mọi người, chị gọi anh, và tru lên khóc.
- Im mồm!
Một tiếng vả đánh đốp. Thằng Gôn tìm thêm xem còn ai lẩn lút ở đâu không. Rồi nó khám nhà.
Nhà cũng dễ khám thôi. Vì trong rỗng tuếch. Nhưng khi đi vòng quanh ra đằng sau, nó bắt được một lá cờ nửa đỏ nửa vàng, cuộn đút ở xà. Lá cờ khá rộng, vải mới, chỉ cũng mới.
Có bằng chứng những người này là Việt Nam Quốc dân đảng ở đảng gốc, bởi vì Vĩnh Yên là quê hương của đảng trưởng Nguyễn Thái Học người làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, thằng Gôn tự thấy công mình rất lớn, mới đem ngay tang vật và giải ngay bọn phiến loạn về tỉnh.
Chị Xi nhìn theo chồng kêu khóc như ri. Trong khi ấy, Thừa đắc chí.
Hắn cho là khôn mà lần này không dùng bàn tay lõi đời của thằng Pha-lăng-xô, mà nhờ con mắt gà mờ của thằng cẩm say rượu. Bởi vì thằng mật thám lành nghề sẽ sáng suốt mà hiểu rằng hắn quen mui, nên lừa nó mãi. Nó bị lừa lần này nữa, sẽ không tin hắn lần thứ ba. Nhưng thằng cẩm ngờ nghệch sẽ tra tấn phạm nhân, bắt họ nhận cung theo ý nó, là làm quốc sự. Rồi công sứ Vĩnh Yên cứ theo cung mà làm án, xử ai tù bao nhiêu năm thì xử, không ai biết kêu oan ở đâu.
Riêng Thừa, hắn không những vớ được món lợi kếch xù cuối cùng, mà còn được trọng thưởng. Và Ma-ri thì trừ được cái bướu, là anh Xi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XI
ANH XI  
 
Việc Ma-ri và anh Xi hiềm khích nhau, chớm nảy từ ngày Ma-ri còn là cô đốc và anh Xi còn là người kéo xe ở phòng thuốc nhà giàu. Đến bây giờ anh Xi lên Cẩu Rồng cấy ruộng đồn điền, lại một thời gian, anh nhận luôn cả việc nuôi Mão, cho nên, dù giữa anh và Ma-ri không có chuyện gì, nhưng trong lòng Ma-ri cứ coi anh như người bên cánh mẹ Mão. Gặp anh, nhất là gặp vợ anh, là chị họ của kẻ thù, Ma-ri không làm sao nuốt được cái giận nó như đè lên đến cổ. Vả lại, mỗi lần mẹ Mão đến Cẩu Rồng thăm con, qua dinh, lại vào cho ông hàn bà hàn một trận tán loạn, rồi sau đó, đến nhà anh Xi để ở, thì Ma-ri càng ghét anh Xi, coi anh không khác gì kẻ thù.
Sau ngày Thừa đem Mão về Hà Nội, nhờ ông bạn nhà thơ Tình muôn thuở giáo dục hộ, thì Ma-ri cho là anh Xi không còn bám vào lý do nào mà nói cứng để không nộp thóc. Hắn gọi anh vào dinh. Hắn định ngọt ngào thôi. Nhưng không hiểu sao, vừa nhìn thấy anh, hắn đã không nén được hằn học. Hắn chễm chệ ngồi trên sập, nghiêm nét mặt, nói như truyền phán:
- Từ nay, cái thằng bé con con mẹ trời đánh không ở với chú nữa, thì chú phải nộp thóc cho tôi. Mỗi sào bốn mươi cân.
Anh Xi cười:
- Có họa là ruộng màu mỡ nhất Hải Dương! Xin bác trông lại, thế thì nặng quá.
Ma-ri gay gắt:
- Trông lại với trông đi gì! Chân ruộng chú cấy là chân ruộng tốt nhất đồn điền đấy. Sao người ta nộp được mà chú lại kêu là nặng?
Anh Xi vẫn cười:
- Tôi biết đâu với người ta đấy. Bác thử nghĩ xem, bác bắt bốn mươi cân, có ai nộp đủ đâu?
Ma-ri đẩy cái tráp trẩu ra giữa sập:
- Không nộp đủ đã có ba-toong của ông đội.
Thấy Ma-ri làm như dọa, anh Xi bực mình. Ma-ri dịu giọng:
- Trước kia, chú nhờ thằng con con mẹ trời đánh, nó ở nhà chú, thì chú được nể nang, quan nói với tôi ngơ cho chú, không bắt chú nộp thóc. Bây giờ chú không được nhờ nó nữa, thì tôi bảo chú, chú phải nghe. Hẳn chú biết đồn điền này là đồn điền của tôi, chứ không phải của quan mà chú có thể nhờn được!
Anh Xi tức khí:
- Trước hết, xin nói bác rõ, là bác trai nhờ tôi nuôi thằng Mão, là con bác gái cả, thì tôi nể, tôi nuôi, chứ không phải tôi xin việc ấy để nhờ nó.
Ma-ri lé mắt, nghiêng đầu, hỏi:
- Thế nào? Chú nói thằng Mão là con ai?
Biết là Ma-ri đau, anh Xi nhắc:
- Con bác gái cả.
Ý anh muốn hạ Ma-ri xuống hàng vợ lẽ. Mặt Ma-ri hầm hầm, đập bàn tay vào mặt tráp tròn:
- À! Chú này khinh người thật. Chú cấy ruộng của tôi, mà chú ăn nói thế à? Ai là bác gái hai?
Anh Xi không đáp vào câu Ma-ri hoạnh. Anh nói tiếp:
- Thế thì bác quên đấy. Không phải bác trai nể nang tôi, nói với bác ngơ cho tôi không nộp thóc, mà chính là tôi nuôi thằng Mão thì thóc đáng tôi phải nộp, để lại cho nó ăn không đủ, bác trai còn bù thêm tiền.
Ma-ri hầm hầm:
- À, thế là chú bảo tôi nói điêu à? Chú có nhớ cái ngày vợ chồng đói rạc đói rầy, kéo nhau lên đây lạy lục tôi…
Anh Xi ngắt lời:
- Kéo nhau lên đây thì có, nhưng lạy lục thì không. Chẳng qua là bác có của, tôi có công…
- À, quân này bạc!
Rồi hắn trỏ vào mặt anh Xi:
- Làm thân đầy tớ thì biết phận đầy tớ, không ai bác bác cháu cháu với nhà người. Có khôn hồn thì nộp đúng bốn mươi cân một sào. Muốn nói lôi thôi thì xuống dưới ông đội mà nói, để mà ăn ba-toong!
- Bác không nên nói quá.
Ma-ri thét:
- Quá quá cái gì? Bướng thì trả lại ruộng. Rồi xéo đâu thì xéo. Đây không cần. Coi không lại rã họng như lần trước. Truyền hồn cho mà biết, lần sau đói khát mà đến đây, không ai hoài của mà thí cho đâu!
Hắn lại tiếp:
- Trâu ngựa không biết phận trâu ngựa!
Anh Xi tức điếng người, không nói được ra lời. Anh không chào Ma-ri, quay lưng đi ra.
 
* * *
- Nó đểu nhỉ.
Chị Xi vừa dỡ nhà, vừa nói với anh Xi câu ấy. Anh Xi cười khinh:
- Nó đểu, cho nên nó mới giàu. Và càng giàu, nó càng thêm đểu. Và càng thêm đểu nó mới càng thêm giàu.
- Nhưng nó chỉ đểu với bọn nhà nghèo chúng mình thôi, còn đối với bọn nhà giàu, nó vẫn tử tế.
Anh Xi lắc đầu:
- Không phải! Đối với bọn nhà giàu, nó cũng đểu, nhưng ngoài mặt, làm ra tử tế. Đối với bọn nhà nghèo chúng mình, nó vừa đểu vừa khinh. Nhục không chịu nổi!
Chị Xi nói:
- Trả ruộng nó là phải. Để không dính dáng gì với nó, xem nó có dám khinh nữa không nào! Chẳng lẽ bốn cánh tay thế này mà chịu đói à?
Anh Xi khí khái, không chịu cái con người đáng khinh nó khinh mình. Hôm sau, anh đến trả Ma-ri tất cả mấy sào ruộng vừa sỏi vừa cát. Anh dỡ cái nhà của anh để dựng lại ra ngoài khu vực của đồn điền, vào mảnh hơn hai sào, vợ chồng anh vừa vỡ xong mấy tháng nay, đương trồng sắn. Anh ngắm chỗ này. Đất bỏ không còn nhiều, nếu có công, có thể mở rộng đến hai ba mẫu.
Bởi vậy, trả ruộng của Ma-ri xong, ngày ngày hai vợ chồng anh cật lực ra để phá hoang. Ngả cây to, chặt cây nhỏ. Anh khỏe hơn, pha cành làm củi, cưa thân lấy gỗ, rồi đào bật những gốc lên. Chị làm những việc nhẹ, phát lau sậy, để vài nắng cho khô, rồi đốt lấy tro. Đất quang đến đâu, anh cuốc đến đấy để gieo hạt giống. Mưa, nắng, sớm, tối, không ai kỳ quản. Đêm có trăng, mãi đến khuya, hai người mới nghỉ tay.
Làm xong cái nhà, vợ chồng có chỗ ở vững chãi, mới sung sướng, đứng ngắm xung quanh. Xung quanh hạt gieo mọc mầm, đã xanh lấm tấm. Anh thăm chỗ để đào cái giếng. Chị muốn làm thêm chuồng nuôi lợn.
Thấy chắc chắn là không thiếu ăn, anh Xi vui vẻ bảo vợ:
- Mình nên rủ vài người ra đây ở, để có hàng xóm láng giềng cho vui. Còn khối đất. Tội gì phải nhờ họ, vừa bị khinh rẻ, vừa không đủ ăn, vừa mang tiếng là chịu ơn.
Từ ngày thấy anh Xi vỡ hoang, lại làm nhà ngoài đất của đồn điền, Ma-ri căm lắm. Hắn tưởng buộc nổi chân anh trong phạm vi thế lực của hắn, để hắn đày đọa cho anh khổ nhục. Nhưng bây giờ anh rộng cẳng rồi. Anh lại không nợ nần, không nhờ vả gì ông hàn và bà hàn nữa.
Ma-ri lại lo rằng hắn không có quyền, thì anh Xi sẽ khỏi vòng cong đuôi, bướng bỉnh với hắn. Và có thể anh xui người khác bướng bỉnh.
Hắn mở địa đồ đồn điền để xem. Đúng là anh Xi không đụng đến đất của hắn thật. Vậy làm thế nào cho anh lại là người dưới, để anh phải sợ hắn. Lại cho anh ruộng để cấy như cũ chăng? Chẳng bao giờ anh nhận nữa. Anh đã có đất mới, và làm xong nhà rồi. Vả làm thế thì chả hóa ra ông bà hàn cần anh lắm à? Anh sẽ lên câu. Cho anh vay tiền để bắt anh nợ chăng? Nhưng ngộ anh không muốn liên lụy, vì anh đã dứt khoát thì sao? Tính anh này chẳng khái là gì? Ma-ri rất bực tức.
Hắn đem việc bực tức này lên tỉnh, than thở với lão Tây chánh sở Địa chính. Để an ủi người đẹp, mà lại hay cả giận, lỡ ốm mất thì uổng công nhào nặn của Tạo hóa, tên này gật đầu, mỉm cười, lấy cái bút chì đỏ, đặt trên tờ địa đồ, vạch thật nhanh một khoanh rộng ra ngoài địa phận đồn điền Cẩu Rồng.
Ma-ri không hiểu nó làm gì. Hắn hỏi, thì nó giảng:
- Thế là tôi thay mặt nhà nước, nhận đồn điền của bà là rộng đến đấy.
Ma-ri mừng, rú lên, khen:
- Nhạy quá nhỉ!
Ma-ri cảm ơn tên Địa chính.
Nhưng anh Xi thấy mảnh đất mà hai vợ chồng anh đã hao tổn bao nhiêu công lao trong bao nhiêu ngày tháng, chỉ nháy mắt, vì một nhát bút chì, mà biến thành ra của Ma-ri, thì anh không chịu.
Anh đưa đơn kiện đến tòa sứ là Ma-ri cướp ruộng. Công sứ Mát-xi-li mà Thừa vẫn khen là biết thương dân, đã xét đơn của anh. Nó gọi anh đến bàn giấy và hỏi anh. Anh kể tỉ mỉ tại sao anh trả ruộng và anh vỡ hoang thế nào. Anh trỏ cho nó thấy một nửa mặt anh còn sưng vù lên, chưa khỏi, vì trèo lên cây để chặt cành, anh bị cả một đàn ong xúm lại đốt. Anh cũng giơ cho nó xem, hai ngón chân bị cuốc bập vào suýt đứt, cái đêm không trăng, anh đi làm rễ cây, trông không rõ, đã giáng chệch lưỡi sắt thật mạnh vào chân anh.
Tên công sứ cáu với Ma-ri lắm. Nó hứa với anh Xi:
- Cứ về mà tiếp tục làm ăn, cụ lớn sẽ xét.
Cụ lớn Chính phủ bảo hộ có xét thật. Nhưng cụ lớn xét bằng cách tư ra sở Địa chính, nhờ sở này điều tra xem chỗ đất mà người nông dân nghèo vỡ hoang này là đất công hay đất đồn điền của Ma-ri.
Cố nhiên là suýt nữa anh Xi mang thêm tội chiếm đất của đồn điền Cẩu Rồng, còn dám vu tiếng xấu cho bà chủ đồn điền ấy.
Biết là anh Xi ức lắm, Thừa lấy tình cũ, đến an ủi anh. Hắn nói rằng nhất định không bắt anh chia thóc, mà còn nộp thuế nhà nước hộ anh trong ba năm. Anh Xi hỏi:
- Thế còn ngoài ba năm thì sao?
Thừa tặc lưỡi, lấy giọng xuê xoa, đáp:
- Ba năm, rồi còn khối cái thay đổi, cần gì phải nói trước? Biết ngày ấy chú có còn ở đấy, hay có vốn thì lại về quê nhà?
Anh Xi không rõ luật lệ hiện hành, là đất mới vỡ thì được miễn thuế trong ba năm. Thấy Thừa ăn nói nhã nhặn và có bụng tử tế, anh được hả dạ.
Anh Xi bị bắt với bốn mươi hai người buôn thuốc phiện lậu đêm trước, thì tinh sương hôm sau, chị Xi đến gặp Thừa:
- Thưa quan, nhà em làm sao lại gặp hạn thế ạ?
Thừa vờ ngạc nhiên, trợn tròn đôi mắt:
- Tôi cũng không biết. May cho tôi, lúc ấy tôi không có đây, không thì cũng phải bắt nốt.
Chị Xi ngồi phệt xuống đất, khóc:
- Nhờ quan có quen thuộc ai trên tỉnh, quan nói hộ nhà em, kẻo nhà neo người, em thì sắp nằm bếp. Oan nhà em lắm, quan ạ.
Thừa an ủi:
- Được rồi, thím cứ yên tâm, chú ấy không làm gì, thì thím đừng lo mà yếu người.
Chị Xi sụt sịt ra cổng, Ma-ri nhìn theo, rồi lườm chồng.
Về việc này, các báo hàng ngày đều đăng ở trang nhất, là Một vụ bắt bớ quan trọng. Những người phóng viên viết tin đều nghĩ đến bài dài hay ngắn, để làm nhiều hay ít văn chương hơn là cần đúng sự thật. Họ làm như chính lúc ấy họ cũng ở đấy, nên tả cả từ cảnh yên lặng của ban đêm, đến tiếng kêu, tiếng thét, tiếng khóc, tiếng chân người chạy, người đuổi. Rồi cuối bài, họ chế giễu nét mặt gân guốc nhưng tiu nghỉu của những người bị xích tay, và ca ngợi nét mặt rắn rỏi và cương quyết của những nhà chức trách. Tức là thằng lính sen đầm hạng nhì nghiện rượu, và mười người gọi là cút-lít gầy gò.
Và trước khi chấm dứt bài tường thuật tỉ mỉ vụ bắt bớ quan trọng, nhà phóng viên không quên hẹn hò độc giả đón tin thêm ở số báo hôm sau.
Từ hôm có bài báo đăng, thân nhân những người bị bắt về hội kín đến Cẩu Rồng tấp nập, để hỏi thăm tin. Nhưng Thừa lánh mặt, nói dối là đi vắng.
Vì họ là những người ở Hà Nội, ở Hải Phòng, và ở các tỉnh khác, vì họ là những tay buôn bán thạo, quen biết rộng, cho nên người nào cũng tìm được bạn, hoặc lần một dây bạn, để tới những nơi đáng tới.
Những nơi đáng tới là quan chánh án, quan dự thẩm, quan tham lục sự ở tòa án, quan tham đầu tòa ở tòa sứ, hoặc cụ sếp nhất, sếp nhì chưa đầy ba mươi tuổi, làm nghề coi đề lao. Ấy là chưa kể bọn thông phán, thừa phái dinh tuần phủ, bọn thư ký, ký lục, hoặc loong-toong tòa sứ, tòa án, sở cẩm, cũng phải tiếp những khách của họ đến, nhờ đưa tới những nơi có thế lực cao hơn, như quan chánh án, quan dự thẩm, quan tham lục sự, và quan tham đầu tòa.
Mấy quan này được người đến nhờ việc, cũng không từ chối mà không đơm đó ngọn tre. Các quan đòi những món tiền, hoặc nhận những món tiền, rồi cũng nghe ngóng để cho một vài tin tức, làm người mất tiền nuôi được chút hy vọng.
Sự thực, vì vụ này là vụ án chính trị lớn, theo báo cáo của thằng cảnh sát trưởng Gôn tự khoe công, nên công sứ Vĩnh Yên giao việc dự thẩm cho phó sứ. Nếu có đăng đường, thì chánh án Việt Nam cũng chỉ ngồi làm bù nhìn. Tha ai hay xử ai bao nhiêu năm, cụ lớn chánh án chỉ dùng cái mồm nói hộ cái quyết định của tên chủ tỉnh người Pháp.
Nhưng vụ hội kín này không phải đăng đường. Những người bị giam nếm cơm trộn vôi và cá mắm thối nửa tháng ở đề lao, thì đều được tha cả.
Công sứ Mát-xi-li giận Thừa lắm. Nó gọi tên lừa pháp luật lên tòa, đập bàn và trừng mắt:
- Ông muốn gì nữa? Ông giàu cũng giàu rồi, danh giá cũng danh giá rồi, tại sao ông dám vu những người đến mua thuốc phiện lậu và đánh bạc ở nhà ông là Việt Nam Quốc dân đảng? Để ông ra làm quan nữa à? Cứ những thủ đoạn gian trá của ông, liệu ông làm quan rồi có như thằng tri huyện Lung không? Ông thật là vô nhân đạo, là khốn nạn!
Thừa đứng cắm mặt.
- Tội vu khống, tội lừa nhà nước của ông đáng bị bỏ tù. Nhưng tôi thương ông có một vợ với năm đứa con nhỏ.
Một lát, tên công sứ hỏi:
- Ông đã biển lận được của chúng nó bao nhiêu tiền?
Thừa không dám giấu:
- Trình cụ lớn, kém hai trăm đầy vạn hai.
Mát-xi-li cười khẩy:
- Không lẽ tôi bắt ông trả chúng nó bằng thuốc phiện lậu. Song, vì tiền ấy không phải là của ông, nên ông không có phép giữ riêng cho ông.
Thừa cúi đầu:
- Dạ.
- Nếu ông muốn tìm cách tiến thân, được phẩm hàm, mề đay, kim khánh, thì ông thiếu gì cách, mà phải vu oan giá họa cho đồng bào ông. Ở xã hội này, thiếu gì cuộc từ thiện mà người hảo tâm đáng được trọng thưởng? Vậy ông phải bỏ một vạn vào việc nghĩa, còn chỗ lẻ, tôi cho ông.
- Dạ, lạy cụ lớn, chúng con xin vâng.
- Ông có biết nước Pháp có thành phố tên là Sa-vi-nhông không?
Thừa ngớ ngẩn. Tên thực dân giảng:
- Là một thành phố bị tàn phá trong chiến tranh vừa rồi. Thành phố Sa-vi-nhông được thành phố Hải Phòng nhận làm con nuôi, xây dựng lại hộ. Hải Phòng đã bỏ ra rất lắm tiền. Những người có công giúp Sa-vi-nhông đều được thưởng xứng đáng. Tôi là người quê quán ở Sa-vi-nhông. Ông là người tỉnh Hải Dương, gần Hải Phòng. Vậy ông phải lấy danh nghĩa là người gần thành phố mẹ nuôi của Sa-vi-nhông, giúp cho Sa-vi-nhông món tiền mà ông đã ăn cắp. Nghe chưa?
Thừa như bị ăn cắp lại. Hắn điếng người.
- Dạ. Chúng con xin vui lòng.
- Được, hôm ông lên nộp tiền, tôi cho ông một đạo tưởng lục.
Thoát nạn, Thừa sung sướng quá.
* * *
Vì là vụ Việt Nam Quốc dân đảng, nên anh Xi và bọn buôn lậu bị giam ở gian chính trị phạm. Gian này nhốt chung cả người chưa thành án lẫn người thành án rồi. Trong số những người thành án rồi, anh Xi nhận ra một người hao hao giống một người anh đã gặp ở đâu mà không nghĩ ra. Chỉ có gầy, đen, và già hơn thôi. Mỗi lần đi lấy cơm, gặp người ấy, anh lại nhìn và cố nhớ ra xem là ai. Anh thấy người ấy cũng nhìn anh luôn.
Một lần, hai người đứng gần nhau, người ấy hỏi anh:
- Anh bị bắt về tội gì?
- Tôi không biết. Tôi bị lây với những người buôn thuốc phiện lậu có cờ hiệu màu đỏ vàng.
Người ấy nghĩ ngợi:
- Sao buôn thuốc phiện lậu lại có cờ đỏ vàng?
- Tôi không biết. Tôi cũng chẳng hiểu cờ đỏ vàng là cờ gì?
- Lá cờ Việt Nam Quốc dân đảng.
- Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học nổi loạn ở Yên Bái, Lâm Thao, Phụ Dực ấy à?
- Phải, thế anh là Việt Nam Quốc dân đảng à?
- Không.
Lần sau, anh Xi hỏi lại người ấy:
- Anh bị bắt về tội gì?
- Tôi treo cờ đỏ và rải truyền đơn.
- Cờ đỏ à?
- Cờ đỏ có hình búa liềm, là cờ cộng sản. Anh có nghe thấy hai tiếng cộng sản không?
Anh Xi nhìn người ấy, vẻ sợ hãi:
- Có. Cộng sản hay treo cờ và rải truyền đơn.
- Anh có hiểu búa liềm là thế nào không?
- Thấy các ông ấy bảo là những thứ để giết người, búa đập vào đầu, liềm móc vào cổ.
Người ấy cười:
- Không phải. Búa là đồ dùng của thợ thuyền. Liềm là đồ dùng của dân cày. Đảng cộng sản bênh quyền lợi cho thợ thuyền và dân cày.
Anh Xi ngớ ngẩn:
- Bênh sao nổi? Các ông ấy giàu lắm, nên mạnh cánh lắm. Các ông ấy quen cả quan ta lẫn quan Tây. Có tiền, các ông ấy vào đâu cũng lọt, bảo ai cái gì cũng nghe.
- Anh cũng buôn lậu à?
- Không. Tôi làm ruộng.
- Thế thì chắc anh bị nhiều cái uất ức lắm.
Anh Xi gật đầu:
- Nhiều lắm. Nhưng đành chịu thôi, vì nghèo khổ lắm. Chả kêu ai bênh được.
- Đã có Đảng cộng sản bênh các anh.
Anh Xi nhìn người ấy bằng con mắt ngờ vực. Lần sau nữa, người ấy hỏi:
- Anh nói rằng anh làm ruộng. Sao ngày trước, anh ở Hà Nội, làm ở hiệu thuốc kia mà.
Anh Xi sực nghĩ ra:
- À, tôi nhận ra anh rồi. Anh là học trò trường Bưởi, độ ấy đi tẩy chay, phải không?
Người ấy gật đầu:
- Chúng tôi vẫn đến nhà anh để in truyền đơn. Có một vài lần, anh cũng in hộ chúng tôi đấy mà?
Anh Xi nhớ lại:
- À, à. Phải, có cả cái bà gì sau này theo ông chủ hiệu thuốc ấy, rồi bị ông ấy đánh chết.
Mặt người ấy bỗng sa sầm. Anh Xi nói tiếp:
- Tôi làm với ông ấy, không chịu được nhục, lại thấy ông ấy bạc tình với người vợ cả, cho nên tôi bỏ về nhà quê, làm ruộng. Ngày anh gặp tôi ở nhà ông ấy, là ngày tôi thôi việc đã lâu. Tôi đến Hà Nội là để xem tẩy chay đấy.
Anh lại tiếp:
- Chính là ngày ấy, nghe những câu chuyện các anh vừa làm việc, vừa nói với nhau, mà tôi sáng mắt ra.
- Chúng tôi nói với nhau những gì?
- Các anh bảo cái thư của người Tàu chửi quốc dân mình man di mọi rợ là cái thư giả. Chính là Tây viết mạo, làm cho ta tức đấy. Ta có tức Tàu, ta mới tẩy chay hàng Tàu để dùng hàng Tây. Bởi vì trong chiến tranh, Tây không mang hàng sang ta được, mà ta thì vẫn quen chuộng hàng Tàu. Nhưng ta phải nhân dịp này mà cổ động cho người mình dùng nội hóa, kẻo lại gánh vàng đi đổ sông Tây.
Người ấy mỉm cười. Anh Xi nói:
- Thì ra tôi mới suy ra là phàm việc ở đời, ta thấy bề ngoài nó thế, nhưng bề trong nó không thế. Hôm ấy các anh còn nói nhiều về người mình và về người Tây, làm cho suốt đêm tôi phải nghĩ ngợi, không ngủ được. À ra tôi bị ức là một, bị nghèo là hai, là do thằng Tây nó bắt mình ngu.
Người ấy lại mỉm cười, Và gật đầu:
- Về Tây và ta, chúng ta còn phải nói nhiều. Nhưng các anh thì hiểu nhanh hơn người khác, vì các anh nghèo khổ, cứ suy ở mình chứ không phải ở ai xa. Song, để đến bận khác, tôi sẽ nói.
Anh Xi im. Người ấy hói:
- Quê anh ở trên này à?
- Không phải. Bây giờ ở quê tôi làm ăn khó khăn lắm, nên tôi lại phải đến đồn điền của ông chủ hiệu thuốc ấy, xin lĩnh canh.
Người ấy mỉm cười:
- Lại làm với chủ cũ?
- Tôi cáu với người vợ ông ta, nên sau trả ruộng, vợ chồng vỡ hoang để nuôi nhau. Nhưng chẳng may, lại vẫn vỡ vào đất của đồn điền ông ấy. Thật tránh chẳng khỏi số.
Lần cuối cùng, anh Xi nói chuyện trước:
- Có lẽ chúng tôi sắp được tha cả, vì nhà nước minh xét, chúng tôi không có tội gì. Anh còn ở trong này lâu không?
- Còn. Ngót một năm nữa.
- Tên anh là gì nhỉ?
- Là Lâm.
- Gì gì Lâm?
- Phúc Lâm. Nhưng gọi là Lâm thôi.
Anh Xi ngớ mặt:
- Lại trùng tên với cái nhà ngày trước tôi đã vào xem cỗ tháng tám. Nhà ấy có cô con gái khéo tay, tỉa hoa bằng đu đủ đẹp lắm. Ai cũng phải khen.
Người ấy yên lặng. Anh Xi lại tiếp:
- À, cô con gái nhà này vẫn đến Phòng thuốc nhà giàu để uống thuốc đấy.
Anh sực nhớ ra:
- À, phải, chính cô ta là vợ theo của ông chú ấy đấy. Chả cô ta hay đi với người em đến đấy để in truyền đơn, rồi phải lòng ông ấy mà. Tội nghiệp con người hiền lành!
Anh Xi chép miệng. Người ấy hỏi:
- Tên anh là gì?
- Là Xi.
Hôm anh Xi được tha, anh tìm anh Lâm để chào.
Anh Lâm mỉm cười, nắm lấy tay anh Xi thật lâu, im lặng như để nghĩ, rồi nói:
- Anh ạ. Cái người con gái theo ông chủ hiệu thuốc, rồi sau bị ông ta giết ấy mà, là chị ruột tôi đấy.
Anh Xi lặng người, nhìn anh Lâm, bán tin bán nghi, nhưng thương hại:
- Thế à?
Rồi anh tiếp:
- Sao anh không bảo tôi ngay, để tôi nói chuyện nhiều với anh về ông ta?
Anh Lâm lắc đầu:
- Không cần.
- Tôi gửi lời chào tất cả các anh. Trước kia, tôi cứ tưởng người đi cộng sản thì hung ác lắm. Bây giờ mới hiểu là không phải. Tôi ở chung với các anh, thấy anh nào cũng hiền lành, tử tế. Các anh ái ngại tôi bị các cụ sếp chửi đánh, các anh khuyên can các cụ ấy. Tôi cám ơn các anh lắm.
- Đảng cộng sản là Đảng bênh vực những người bị bọn hung ác nó ức hiếp.
- Các anh chỉ làm những việc ấy mà chịu tù tội à? Mấy lần gặp anh, tôi cứ quên không hỏi, là bênh vực sao lại bằng cờ với truyền đơn?
- Nếu anh muốn hiểu, thì phải mất nhiều thì giờ lắm. Nhưng anh có muốn hiểu không?
- Có, vì tôi bị ức hiếp nhiều lắm.
- Thế thì bao giờ tôi được tha, tôi đến tìm anh có được không?
- Được. Anh cứ đến Cẩu Rồng, hỏi tên tôi, ai cũng biết.
- Chào anh về mạnh khỏe nhé. Lần sau gặp nhau, chúng ta sẽ nói chuyện nhiều.
Hai người lại nắm tay nhau thật chặt.
 
* * *
Từ hôm vào nằm trong đề lao, anh Xi nghĩ mãi không hiểu tại sao anh lại bị bắt. Anh lo cho anh, lại thương vợ sắp đẻ, lỡ ra dở dạ, thì một mình ở vào nơi xa vắng, không rõ rồi xoay xở thế nào. Suốt ngày, anh ngồi bó giò một chỗ, hết thở ngắn lại thở dài. Thấy những người cùng bị bắt với anh, họ nhơn nhơn trò chuyện, những chuyện ăn chơi, bịp bợm, anh ngạc nhiên, và ghét họ lắm. Anh cho là vì họ mà anh phải bắt.
Anh không bị quan trên thẩm vấn lần nào, nhưng lại là người bị sếp nhất sếp nhì hoạnh họe và đánh chửi nhiều nhất. Bởi vì anh không có tiền để đút lót chúng. Trái lại, bọn kia được chúng đem lén lút quà cáp của người nhà gửi vào cho. Họ chia cho chúng, nên họ được chúng đem cho nước sôi để pha cà-phê và sữa. Và đến tối, họ công khai ngả bàn đèn hút thuốc phiện với nhau.
Bọn sếp bắt anh đi lấy cơm hầu họ. Đáng lẽ người làm việc này phải được anh em bầu lên. Cơm của họ có đồ ăn riêng. Họ không chia cho anh tí gì. Nhưng những người chính trị phạm, mỗi ngày thứ năm trong tuần lễ, được người nhà gửi quà vào cho, thì lại bớt miệng, nhường cho anh chút ít. Sếp nhất thấy vậy, càng hằn học với anh. Nó không dám hoạch họe, đánh chửi anh trước mặt những người ấy mà nó kiêng nể. Nhưng khi thấy anh đứng một mình, thì nó hành anh để báo thù.
Hôm nghe phong thanh là bọn buôn lậu đã chạy chọt đến những cửa có thế lực lớn, anh Xi cầu trời khấn phật cho họ được tha chóng. Họ được tha chóng thì anh cũng được tha chóng. Hễ đầu đi thì đuôi lọt.
Cho nên được ra khỏi đề lao, anh đi một mạch về nhà. Anh cố ôn lại những lời anh Lâm nói với anh về cộng sản, cho lòng được vui vẻ, chân bước cho nhanh.
 
* * *
Ngay tối hôm sau cái đêm anh Xi bị bắt, thì chị Xi dở dạ.
Vì nhà ở hẻo lánh vào nơi xa quá, vả đau đớn quá, chị đành kêu la một mình, không làm thế nào báo cho hàng xóm đến giúp chị được. Lại có lẽ vì nhà chị vừa bị cái dớp, ai cũng sợ, nên cả ngày hôm ấy, chẳng ai dám lai vãng đến thăm hỏi.
Chị đành liều. Vượt cạn một mình vậy.
Đến lúc cơn đau dữ dội quá, chị hồng hộc rống lên, thì may sao, bác Nẫm gái đi qua đó, nghe thấy. Bác biết là chị đẻ khó, thì cuống queo, vội vàng đến nhà gần đấy nhất, gọi bác Sang, tìm phương kế cứu chị. Hai bác định cáng chị xuống huyện, vào nhà hộ sinh.
Nhưng bác Sang sực nghĩ ra:
- À, nghe nói bà hàn trước kia đỗ đốc tờ, chắc là biết đỡ đẻ. Hay ta xuống dinh mời bà ấy đến đỡ cho chị Xi.
Bác Nẫm bàn:
- Chỉ sợ ngại đêm hôm khuya khoắt, đường xa và khó, bà ấy không đi thôi. Hay là ta cáng chị ấy vào dinh?
Bác Sang xua tay:
- Không được. Lỡ bà ấy kiêng, không cho vào đẻ ở nhà bà ấy, thì ta cáng mất công toi à?
- Không, Tây lai người ta văn minh, không tin nhảm như ta đâu. Tôi chỉ sợ bà ấy đi vắng, chứ có nhà, thì thế nào cũng giúp đỡ. Đàn bà với nhau ấy mà.
Bác Sang cho là đúng.
- Bà ấy mà đi vắng, thì ta đưa tuột chị Xi xuống nhà thương đẻ ở huyện.
Hai bác cáng chị Xi đi.
Đến dinh quan hàn, hai bác gọi cổng.
Lúc bấy giờ Ma-ri đương hí hửng với Thừa về món tiền vừa vơ vét được hôm trước. Hắn cũng yên trí là công danh đến ngõ nhà mình rồi. Nghe tiếng gọi thất thanh ở cổng, và tiếng đàn chó sủa dậy lên, hắn nghĩ ngay đến việc tống tiền. Hắn trợn mắt, nhìn chồng:
- Cẩn thận đấy!
Nhưng khi thấy Lan vào trình rằng bác Nẫm nhờ hắn đỡ đẻ cho chị Xi, thì hắn lộn tiết. Hắn đứng ở hiên, the thé nói:
- Cha tiền nhân cái con đẻ ra mẹ chúng bay! Láo vừa vừa chứ! Ai làm đầy tớ nhà nó?
Bác Nẫm nói to:
- Lạy bà lớn. Chị ấy đẻ khó. Nhờ bà lớn đỡ cho, làm phúc.
Ma-ri quát:
- Bà thì vả cho tan họng bây giờ. Nhà bà đương thịnh vượng, mày rước vợ thằng hội kín vào để xúi quẩy nhà bà à?
Bác Sang nài:
- Trình bà lớn, chị ấy gần xổ rồi, bà lớn có kiêng, thì cho chị ấy vào nằm tạm trong chuồng trâu cũng được.
- À quân này to gan thật. Đẻ ở bờ ở bụi nào thì đẻ, chứ vác xác vào đây để gieo tai vác họa vào nhà bà phỏng?
Biết rằng nói thêm vô ích, bác Nẫm bảo bác Sang cáng chị Xi đi.
Khi đặt đòn lên vai, hai bác còn nghe thấy Ma-ri thét:
- Con Đào đâu! Ra xem nó bước chưa. Lấy gạo muối tống vía nó cho tao.
Một lát, giọng hắn vẫn the thé:
- Hay không phải gạo muối mà phí của. Đốt cho tao một tờ giấy vàng, rồi ném theo vía nó cũng được.
Chị Xi nằm trong cáng, nghe những lời như đập vào ruột ấy, chị càng thấy đau đớn. Chị lăn lộn, cắn răng lại để cố chịu đựng.
Đến nhà hộ sinh huyện, bác Nẫm và bác Sang đặt chị ở sân để gọi cửa.
Trong các buồng khóa kín, không có ai trả lời.
Biết là cả nhà đi vắng, bác Nẫm bảo bác Sang ở lại trông chị Xi. Bác đi hỏi thăm xem cô đỡ ở đâu, để mời về.
Lúc bấy giờ dễ đến mười hai giờ rưỡi đêm rồi. Ở phố, nhà nào cũng đóng cửa im ỉm. Người ta đi ngủ đã lâu rồi. Vì vậy, bác Nẫm hỏi, mãi mới được trả lời, và trả lời bằng hai tiếng “không biết”. Có người tỉnh táo hơn mách rằng mọi tối, cô đỡ hay đánh tổ tôm ở nhà ông lục sự Ích.
Bác Nẫm hỏi thăm đến nhà ông lục sự Ích. Nhưng hôm nay ông lục sự không chầu tổ ở nhà, mà đến chơi đằng ông thừa Bái. Bác đến ông thừa Bái. Ở đây, đám tổ tôm đương họp, nhưng người ở trong trả lời ra rằng cô đỡ chỉ đánh có một hội đầu, rồi đi đâu, không rõ. Bác liền gọi cửa tất cả các nhà khác, những nhà gạch, những nhà hiệu to, mà bác đoán là cô đỡ có thể chơi ở đấy. Nhưng rút cục, nhà nào cũng nói rằng không có.
Thất vọng quá, bác trở lại nhà hộ sinh.
Thì lúc ấy chị Xi đương xổ. Chị kêu trời kêu đất, lăn lộn trên sân còn hôi hổi những hơi nóng. Tiếng kêu yếu dần. Chị thở hổn hển.
Hai bác cố giữ chị, và ngọt ngào khuyên chị cố chịu đau một tí.
Bỗng chị tru lên như xé, giãy giụa, rồi nằm lịm đi. Bác Nẫm reo lên:
- Bắt đầu ra rồi!
Trong bóng tối đen như mực, ở giữa nơi gió lộng, hai bác sờ soạng, đỡ mò cho chị Xi. Nhưng không có gì để cắt rốn, không có gì để buộc rốn, không có gì tắm rửa, lau chùi cho đứa bé. Bác Sang phải dứt khúc rốn bằng tay ra khỏi rau và xé thắt lưng của bác để buộc. Bác Nẫm cởi áo, lau cho đứa bé, rồi đặt nó vào lòng chị Xi đã gần như bất tỉnh.
Gió vẫn thổi lồng lộng. Sương đã đọng vào các ngọn cỏ. Hai bác ngồi gục suốt đêm bên cạnh chị Xi.
Tinh mơ hôm sau, đứa trẻ sơ sinh tắt thở.
Chị Xi được hai bác cáng về. Cơn sốt làm chị run bắn người lên.
Chị lo chồng, thương con, ức với bà hàn, với cô đỡ, lại kiệt sức, còn bị cảm lạnh, nên càng ốm nặng thêm.
Mấy người ở gần đó, cố săn sóc chị. Họ tìm lá, sắc thuốc cho chị uống, và vay hộ gạo, nấu cháo cho chị ăn.
Bệnh của chị hôm tăng, hôm giảm. Mọi người đã thất vọng, thì anh Xi về.
Nghe thấy tiếng chồng, chị mở mắt, vừa nức nở khóc, vừa cố cười. Và thều thào:
- Nhà!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XII
THẾ THÌ AI LÀ KẺ CÓ TỘI  
 
Công ty buôn thuốc phiện lậu lớn nhất ở Bắc Kỳ từ xưa đến giờ bị vỡ lở. Nhưng giám đốc của công ty là Mác-tanh, vì làm chức chánh đoan, lại là người Pháp, nên được nhà nước công nhận là kẻ không có tội. Những người nhỏ nhất, là khách tiêu thụ hàng cho công ty, bị giam ở nhà lao Vĩnh Yên, thì vì phải tỏ là không làm chính trị đều đồng thanh thú nhận là chỉ buôn thuốc phiện lậu thôi. Nhưng khốn nỗi tiền họ có, nên họ được vin vào cái họ không có, tức là chứng cớ. Vì vậy, họ cũng không được nhà nước công nhận là những kẻ có tội nốt.
Thế thì trong vụ án mà các báo làm rầm rĩ bằng những bài tường thuật dài lê thê và mãi chưa hết, là Vụ đầu độc cho đồng bào chết dần, là Một hành động đáng sỉ nhục v.v… thì ai là kẻ có tội?
Một hôm, mẹ Mão đến ngõ Gia Ngư đòi Ĩnh con một đồng bạc nợ mà con mẹ dầu vay đã lâu, cứ lần khân mãi, không trả. Ngày ấy, mẹ Mão làm nghề bán xôi cháo buổi sáng, và miến cua bể buổi tối, thuê một gian nhỏ trong căn nhà thấp ở ngõ Hàng Hành. Hai mẹ con có chỗ vừa để ở với nhau.
Ĩnh con vẫn không có tiền để trả. Nó lấy quyền người trên để mắng:
- Mày vô ơn bạc ngãi thế, không trách trời bắt mày khổ suốt đời. Mày thử nghĩ xem, cái ngày ông hàn cưới bà hàn bây giờ, mày lang thang cầu bơ cầu bất, người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm, rách rưới, hôi thối, thì ai chứa chấp cưu mang mày? Mày tưởng một đồng bạc của mày đã to lắm thế à?
Ý Ĩnh con muốn nhắc lại công của nó đã kiếm cho mẹ Mão việc khâu đầm để vỡ lòng học nghề đi làm đĩ. Nó không xưng là con như với Thừa. Nó vẫn mày tao như trước. Vì mẹ Mão vẫn nghèo như trước.
Mẹ Mão vừa toan trả lời, bỗng có một người tây đoan và hai người lính đoan ập đến. Đây là những nhà chuyên trách, làm nhiệm vụ khám nhà con mụ nghiện để bắt của quốc cấm.
Vì buồng gác có mỗi một cửa sổ nhỏ, cho nên tối. Một người sục ngay vào bàn đèn của Ĩnh con. Hắn thấy một cái chén, còn đựng thuốc đến lưng.
Nhưng Ĩnh con nói:
- Thuốc ty đấy, thầy ạ.
Người lính đoan bĩu môi:
- Bộ nhà chị mà hút thuốc ty! Đừng bịp tôi là gà mà.
Ĩnh con cãi:
- Thế này mà thầy bảo là thuốc lậu à?
Nó giật cái chén ở tay người lính, rồi đi ra phía trước cửa sổ.
- Đây, thầy đến chỗ này sáng mà nhìn cho rõ.
Bất đồ, nhanh đánh thoắt, nó quẳng cả cái chén xuống cái bể đựng nước mưa bên nhà hàng xóm.
Mẹ Mão đoán chuyện rắc rối to sẽ xảy ra, nên sợ lôi thôi đến mình. Nhân lúc bọn nhà đoan đương dồn vào cái con mẹ láu cá, lừa đảo, không ai chú ý đến, chị lừng lững chuồn xuống gác, rồi về nhà.
Không rõ rồi Ĩnh con bị những gì. Mẹ Mão không dám trở lại để đòi nợ. Biết nó có nhà hay đi tù rồi?
Nhưng hôm sau, thì đến lượt nhà mẹ Mão bị khám.
Hẳn những nhà chuyên trách mẫn cán và thông minh nghĩ là người đàn bà này có ý gian, nên phải trốn. Họ hỏi Ĩnh con địa chỉ của người ấy.
Ta đã thấy thằng mật thám Pha-lăng-xô khám nhà cụ Tú Phúc Lâm. Ta lại đã thấy thằng cẩm Gôn khám nhà anh Xi. Vì là những vụ về chính trị, nên chúng nó chỉ tìm tang vật, ví dụ là người, là giấy má, là truyền đơn, là cờ, là những thứ khả nghi khác. Hoặc nữa, quan trọng hơn, là súng đạn. Những tang vật này to, nên dễ thấy. Nhưng bọn nhà đoan khám thuốc phiện lậu, thì cần bắt được những tang vật rất nhỏ, để ở những nơi rất hiểm hóc. Một ngao, hoặc một lọ thuốc phiện bé bằng ngón tay, một cục nhựa chỉ bằng quả ổi, thì không thiếu chỗ cất giấu. Những người tinh quái còn phết cả nhựa vào tờ giấy, rồi cuộn nhàu, quăng vào xó cửa lẫn với rác, làm như của vứt đi. Nhưng dù người chứa đồ quốc cấm nghĩ ra bao nhiêu mánh khóe khôn ngoan mấy, bọn nhà đoan cũng thuộc hết. Họ làm nghề bắt thuốc phiện lậu, cho nên còn biết nhiều thủ đoạn cất giấu hơn từng người buôn một.
Cũng thằng Tây và hai thằng lính khám nhà Ĩnh con hôm trước, đến khám nhà mẹ Mão. Lúc ấy, mẹ Mão mới mua ở chợ Đồng Xuân về một chục con cua bể để ở sân, định sắp làm.
Rút cái kinh nghiệm đau đớn ở nhà con mẹ dầu, bọn nhà đoan làm cử chỉ đầu tiên là trói ngoém kẻ bị tình nghi trước đã. Rồi mới bắt đầu lục soát, sục sạo sau.
Mẹ Mão sợ Mão bướng bỉnh với người nhà nước, nên bảo khẽ nó:
- Các ông ấy tình nghi thì mày cứ để vậy cho các ông ấy làm việc. Mình không có gì thì không lo.
Cố nhiên là người nhà đoan không chỉ làm việc như kiểu thằng Pha-lăng-xô và thằng Gôn. Chúng cần khám phá ra trăm nghìn thủ đoạn hàng ngày đổi mới, mà những người buôn thuốc phiện lậu nghĩ ra để đối phó với chúng.
Vì vậy, chúng không tin bất cứ một vật gì ở trong nhà người mà chúng nghi.
Trước hết, quần áo bị khám. Chúng rũ tung cả từ cái mụn rách và soi ra sáng xem có tẩm nhựa vào đó không. Chúng không quên nắn khắp cả quần áo của người đương mặc. Đến cái áo gi-lê của Mão và cái áo bằng cộc của mẹ Mão, thì chúng ngắm nghía thật tỉ mỉ. Chúng bắt cởi ra, rồi nắm, rồi bóp. Nắn bóp một lượt, chúng chưa tin, chúng lại nắn bóp lượt nữa, lượt nữa.
Mẹ Mão và Mão bị rét, run cầm cập.
Song, ba nhà chuyên trách chưa tự tin ở sự cẩn thận của chúng. Thấy chỗ nách áo bông hơi dày hơn chỗ khác, chúng không tin là vì cộm mồ hôi. Chúng gí mũi vào để ngửi. Rồi vẫn nghi, chúng lấy con dao, rạch đường chỉ khâu, đưa ra ánh sáng, để nhìn cho rõ. Khi không thấy gì, chúng mới trả cho mẹ Mão.
Chúng khám đến giường chiếu, chăn màn. Cố nhiên, chúng cũng làm như đã khám ở quần áo. Nhưng còn tỉ mỉ gấp mười. Vì là những thứ to. Nhất là cái chăn bông. Chúng nắn bóp đi, nắn bóp lại, không phải ba lần, mà những năm sáu lần. Chúng thi hành nhiệm vụ bằng sự kiên nhẫn của nhà nghề thật đáng khen. Khi làm việc bằng tay không thấy khả nghi gì, chúng cũng dùng đến mắt, cho khỏi thiếu sót. Chúng rút chỉ để tháo vỏ chăn ra, rồi căng mền bông ra ngoài sáng. Chỗ nào ngờ, chúng ngửi. Chúng vặt từng mảng sợi bông ra để nhìn và ngửi cho kỹ.
Chúng lật sấp giường, lật sấp mễ, và lấy cái búa nhỏ gõ đi gõ lại vào gỗ, cũng lắng tai để nghe, xem có chỗ nào rỗng hay không. Chúng lấy mũi dao cậy một chỗ mà chúng không tin là bị mọt đục.
Vân vân.
Chúng khám nơi ở mất hai giờ đồng hồ. Rồi chúng xuống bếp.
Vì bếp là chung của ba chủ cùng thuê nhà này, nên chúng rất hậm hực, vì phải trọng pháp luật, không được đụng đến đồ dùng của người khác. Chúng bảo mẹ Mão trỏ xem những thứ nào được khám, để chúng xếp riêng ra một nơi. Chúng bới tung tóe cả tro than. Bụi bay cả vào nồi cơm và xanh rau của người đương làm bữa ăn sáng. Sợ bẩn, người này phải ngừng tay. Người nhà nước lấy búa gõ vào chiếc nồi đồng, và cả mấy chiếc nồi đất. Một chiếc nồi đất bị rạn. Một chiếc nữa bị vỡ hẳn ra làm đôi. Người nhà nước nhún vai, gõ búa vào các vại đựng nước của chủ khác. Đến cái chum của mẹ Mão, chúng gõ nhiều lần ở ngoài. Rồi cúi đầu dòm vào trong. Vì nước đầy, trông không rõ đến đáy, chúng vén áo, thọc hẳn cánh tay vào mà khoáy. Song, chúng vẫn chưa tin. Chúng nghiêng cái chum, đổ hết nước đi. Rồi dòm và gõ một lượt nữa.
Tuy trời rét, nhưng vì phải làm những việc tỉ mỉ trong hàng mấy giờ đồng hồ, bọn nhà đoan mệt. Có người trên trán đã lấm tấm mồ hôi.
Không khám được gì, ba nhà chuyên trách bực lắm. Chúng ngắm lại khắp nhà để kiểm soát xem còn chỗ nào, còn cái gì sót, chúng chưa để tay, để mắt, để mũi đến không?
Bỗng chúng thấy mấy con cua bể ở sân. Chúng lấy búa, ghè mạnh vào mai, vào càng, rồi bóc rách cái yếm. Thịt cua nát bét, nhưng chúng không tìm thấy gì.
Không còn gì để lục soát, chúng mới cởi trói cho mẹ Mão. Ban nãy, mẹ Mão thay áo quần, màn chiếu tung tóe, giường ghế lật sấp, áo bông chăn bông bị xé rách, bếp núc tro than bừa bãi, nồi vỡ nước đổ, thì chỉ cắn răng mà thở dài. Bây giờ lại thấy người nhà nước mặc kệ, không thu dọn, chẳng nói năng đến đền bồi, xin lỗi một lời cũng không, mà còn nhìn chị bằng những con mắt hậm hực, như còn chưa tin là ngay thật, thì chị càng bực. Nhưng đành ngậm miệng. Bọn lâu la ra về. Cố nhiên chúng chẳng chào hỏi ai.
 
* * *
Ức với người nhà nước, mẹ Mão còn khó chịu thêm với người ở chung nhà.
Những người này trách móc là vì chị mà họ phải vạ lây, ăn muộn, ăn bẩn, lẫn cả tro than. Mẹ Mão phải lấy lời từ tốn để xin lỗi. Chị kể là bị tình nghi, dính dáng đến một người dì họ nghiện và vẫn làm nghề buôn thuốc phiện lậu. Nhưng người ta vẫn cứ nói ra nói vào, nói bóng nói gió không ngớt. Mẹ Mão rất khổ tâm.
Năm hôm sau, lại có ba người nhà đoan đến khám nhà mẹ Mão.
Nhưng lần này khác lần trước, là chỉ có hai người đàn ông, còn một người là đàn bà.
Cả ba đều diễn lại sự mẫn cán của chúng hơn lần trước. Áo quần, chăn màn, giường chiếu, đồ đạc, nồi niêu, xoong chảo, chum vại v.v… đều bị xáo trộn. Chúng lấy thanh củi, thọc cả vào nồi miến cua bể mới nấu, và ngoáy đến nát nhừ. Lại chiếc nồi đất mới mua về, bị vỡ. Lại cái chum mới đổ đầy nước, bị lăn kềnh ra và bị gõ mạnh bằng búa từ miệng đến đáy.
Khám xét không thấy gì, người đàn bà gọi mẹ Mão đến gần. Nó nắn quần áo chị đã đành, nó nắn cả vào chỗ hiểm. Không may cho chị, đúng hôm đó là ngày chị thấy tội, nên phải đóng khố. Người đàn bà bắt chị vào chuồng xí, cởi khố cho nó xem là máu đỏ hay lại là nhựa đen.
Bọn nhà đoan không bắt được gì thì ra về. Mẹ Mão lại phải mất nửa ngày để thu dọn và khâu vá những thứ bị xé.
Mất cả một buổi đi hàng.
Không những thiệt hại vậy. Mẹ Mão còn bị những người ở chung nhà dức lác nhiều hơn lần trước. Nhưng chị vẫn phải nhẫn nhục mà nhịn. Có người chửi xỏ. Chị cũng nhẫn nhục mà nhịn. Sau, họ nói đến nơi đến chốn, là bắt chị phải dọn ngay đi, không cho ở chung, để phiền lụy đến họ. Chị không biết làm thế nào, chỉ khóc.
Rồi chừng một tuần lễ sau, nhà mẹ Mão lại bị khám. Lần này không phải chỉ có ba người nhà nước đến, mà những bảy người, cả đàn ông lẫn đàn bà. Bởi vì lần này không phải chỉ riêng mẹ Mão bị khám, mà tất cả những người ở chung nhà cùng bị khám.
Vốn nhà đoan rất nghi người buôn lậu là bao giờ cũng lắm mánh khóe, thủ đoạn. Nếu chúng cứ trọng pháp luật, chỉ sục sạo một phần nhà, một phần đồ đạc, thì làm sao lột được mặt bọn phạm pháp.
Chưa bắt được gì, chúng vẫn cay cú với người làm ra vẻ ấm ớ này.
Bảy người mẫn cán đến hết sức mẫn cán. Chúng để tay, để mắt, để mũi vào khắp, từ những nơi thật trống trải, có thể để thứ quốc cấm ngay đấy mà không ai ngờ, đến những nơi thật hiểm hóc, mà chính người nhà cũng chưa bao giờ biết đến.
Chúng cũng rạch chăn, rạch áo, rạch những vải khả nghi. Chúng cũng gõ búa vào những thứ bằng đất nung, mặc kệ cho bị rè, bị vỡ. Rồi đàn bà cũng khám đàn bà, dùng chiếc mỏ vịt của nhà thương, để vành cả bộ phận sinh dục. Đã một lần, có người giấu trong đó một lọ thuốc phiện lậu.
Bọn nhà đoan hì hục trong năm giờ đồng hồ liền nhưng không thu được kết quả gì.
Chúng tức lắm.
Mẹ Mão cũng tức lắm.
Nhưng tức hơn cả là những người ở chung nhà.
Những người này mất thì giờ, lại bị thiệt hại, bị xấu hổ với hàng xóm láng giềng, nên lần này cạn tàu ráo máng, họ nhất định đuổi mẹ Mão đi.
Mẹ Mão khóc lóc, nói khó thế nào, cũng không được.
Chính từ hôm bị khám nhà lần đầu, mẹ Mão cũng vừa tức vừa nhục, và làm ăn kém đi. Đến lần thứ hai, không những bị tức, bị nhục, còn bị khổ tâm và lo lắng, nên chị càng chán nản. Có ngày, chị chỉ đi bán cháo buổi sáng. Có ngày, chị chỉ đi bán miến cua bể buổi tối. Những ngày bị khám, vì bận xếp dọn, khâu vá lại, chị chẳng buôn bán gì được. Không những vậy, bên tai, luôn luôn có tiếng ỉ eo, dọa dẫm, chửi bới. Chị cứ nước mắt ngắn nước mắt dài.
Mấy hôm nay, mẹ Mão còn được mách rằng chị bị người nhà nước ăn mặc giả thường dân đi theo dõi. Hẳn là chúng dò xét hành tung, xem chị buôn thuốc phiện ở đâu, giấu ở đâu hay bán ở đâu. Chị để ý, quả thấy có người, khi là đàn ông, khi là đàn bà, theo sát chị thật.
Chị uất lên, thế này thì còn làm ăn gì được nữa. Thôi thì đành chúi xó ở nhà, chẳng dám đi đâu. Phải nghỉ hàng mất thôi. Mẹ Mão đã về Cẩu Rồng, nên mắt đã trông thấy. Và thỉnh thoảng được anh Xi hay Ĩnh con nói lại, nên biết đích là ai buôn thuốc phiện lậu ở đâu, buôn rất to thế nào, mà tại sao vẫn bình yên. Thế mà chị chẳng biết mặt mũi cái bánh nhựa thế nào, lại nay bị khám nhà, mai bị khám nhà, bây giờ còn bị theo dõi! Oan ơi là oan! Mão không chịu được tiếng bấc tiếng chì của những người ở chung nhà. Nó cố tìm nơi khác để mẹ dọn đến.
Gian nhà mới này ở phố Hàng Buồm, thuê mỗi tháng một đồng rưỡi. Nhà rộng lắm, chứa tất cả bảy mươi chủ.
Mão bảo mẹ:
- Đi khỏi ngõ Hàng Hành là tránh được cái dớp. Bọn nhà đoan mà theo đến đây khám cả từng này gia đình, thì họ phải có hàng trăm người.
Mẹ Mão kê dọn chỗ ở mới cho ngăn nắp, rồi tiếp tục làm nghề cũ. Lúc rỗi, chị đi làm quen với những người ở chung nhà. Nhưng mà sao xuể được! Mẹ Mão chỉ năng đi lại với hai gia đình ở gần nhất. Một chị bán bún chả, có chồng làm xe cao su. Một chị bán gạo, góa chồng, có ông bố nghiện.
Từ hôm mẹ Mão bị khám thuốc phiện nhiều lần đến nay, vì bực với bọn nhà đoan chúng nó phá phách, vì nhục với hàng xóm người ta chê cười là làm bậy, vì chịu đựng những người ở chung nhà dức lác xỏ xiên, vì nghĩ ngợi về nỗi làm ăn kém trước nhiều, vốn liếng hụt đi, vì buồn phiền cho con lớn tuổi mà không chịu học, chỉ đua đòi với chúng bạn hư đốn, vì lo lắng nỗi mình lương thiện ngay thẳng, mà cứ bị nhà nước truy riết như truy một kẻ có tội, nên chị rất chán ngán. Nhiều đêm chị không ngủ được, hết thở dài lại khóc, đến nỗi sinh ra bệnh nhức đầu. Lắm lúc đầu nhức như bị búa bổ, làm đôi mắt hoa lên, đương gánh hàng đi bán, chị phải ngồi nghỉ đến mười lăm phút mới lại người. Sức lực kém sút, nên kiếm được ít. Kiếm tiền được ít, chị lại lo. Lo thì kém ngủ, hay thở dài, hay khóc. Bệnh nhức đầu càng tăng.
Chị đã cố bỏ tiền ra để mua thuốc uống, nhưng không thấy đỡ.
Chị hàng xóm bán gạo mách một thứ thuốc chữa nhức đầu hay mà không tốn kém mấy. Chị ta cũng có máu nhức đầu, đã chữa bằng thứ thuốc ấy, nay đã đỡ nhiều. Ấy là thuốc phiện, dán vào hai thái dương.
Hôm ấy là ngày ba mươi tháng chạp cuối năm. Mẹ Mão muốn hôm sau, năm mới, ăn cái tết cho vui vẻ, vô bệnh tật, để lấy may, mới nói với ông cụ sinh ra chị bạn, để lại cho một hào thuốc phiện, phết vào miếng giấy cắt tròn to hơn đồng xu.
Bất đồ, không may, mẹ Mão vừa dán thuốc, đương nằm yên để nghỉ, thì bọn nhà đoan ập vào. Chúng nhìn hai miếng giấy trắng ở hai thái dương người bị chúng nghi, thì biết ngay là thuốc phiện.
Chúng hất hàm:
- Cái này là cái gì?
Mẹ Mão đáp:
- Là thuốc phiện. Để tôi chữa nhức đầu.
Chúng hoạnh:
- Lấy ở đâu ra?
Mão nhanh nhẹn đến bàn đèn của ông cụ hàng xóm, cầm cái ngao còn thuốc phiện, định đưa cho người nhà nước xem. Nhưng thình lình nó bị một cái tát, đổ đồng quang đôi mắt.
- Định hắt đi phỏng?
Thế là không cần khám xét tỉ mỉ như mọi bận, không cần nhìn để biết thuốc phiện này là của ty hay của lậu, không cần xem ngao thuốc còn bao nhiêu phân lạng, và nhất là không cần theo phép nước, là mấy ngày tết, không nên khám nhà bắt người, để nhân dân hưởng ngày Nguyên Đán cho yên vui, những người nhà nước mẫn cán, thông minh và lắm kinh nghiệm nhà nghề này làm biên bản, bắt mẹ Mão ký nhận.
Mẹ Mão bị xích tay, giải đi như một người chứa của quốc cấm thật.
Người đàn bà khốn nạn ức quá. Lạy van. Khóc lóc. Kêu oan. Nhưng vô ích. Mẹ quái lại nhìn con. Con ngẩng lên trông theo mẹ. Hai mẹ con nước mắt như mưa.
Đến mồng bốn tết, các công sở làm việc. Mẹ Mão được lấy khẩu cung. Từ hôm ấy, chị phải mặc quần áo trắng có số và đi làm cỏ vê.
Ba tháng sau, việc mới được đăng đường.
Tòa tuyên bố tha bổng cho tội nhân, nhưng phạt tiền bồi thường cho sở Thương chính là sáu mươi đồng, về tội oa trữ của quốc cấm, mưu đồ buôn bán.
Vì những vụ án rượu lậu, thuốc phiện lậu rất tầm thường, bị coi là tẹp nhẹp, không quan trọng như vụ án xử Thừa giết cô Lễ, cho nên hôm phiên tòa, chẳng ai buồn đến xem và chẳng báo nào buồn đăng tin. Thế mà việc phạt tiền sáu mươi đồng, đối với mẹ Mão oan uổng thì là một sự kiện vô cùng trọng đại. vốn buôn xôi cháo và miến cua bể chưa đầy mươi đồng.
Mẹ Mão không biết kêu với ai cho vợi uất ức.
Nghĩ cái nông nỗi đứa gian giảo, buôn lậu, mỗi chuyến hàng vạn bạc ngay trước mắt các quan chức, thì vẫn được yên thân để làm giàu thêm, còn người lương thiện thì bị khám xét, theo dõi, đến bỏ cả làm ăn, rồi bị bắt bứ, giam giữ, trừng phạt như kẻ có tội, mẹ Mão bỏ ăn, kém ngủ, gầy tọp hẳn đi. Hôm được tòa ký giấy tha, chị nhất định trút cái vạ nộp phạt cho kẻ làm nên tội. Kẻ làm nên tội mà chị phải gánh, chị không biết là quan chánh đoan Tây thật, là các quan phó đoan Tây lai, và là bao nhiêu các quan An Nam uy quyền thét ra lửa khác. Chị chỉ biết kẻ thù là một người. Người ấy là chồng chị. Cho nên chị thấy mình đã khai tên thật chưa đủ. Hôm nay chị khai thêm một tên nữa, là vợ ông Trần Đức Thừa, điền chủ ở Cẩu Rồng, tỉnh Vĩnh Yên. Để nhà nước cứ người ấy mà thu sáu chục tiền phạt.
Được ra khỏi đề lao Hỏa lò, chị về nhà với con.
Bây giờ phải tính đến việc sinh sống.
Mẹ Mão nghĩ rằng không thể và cũng không nên ở lại đất Hà Nội nữa. Để tránh cái vạ vịt sau này có thể xảy ra nữa và chắc là to hơn. Chị bị tin là buôn thuốc phiện lậu mà không bị án tù, chắc nhà đoan chưa tha. Còn theo dõi. Còn rầy rà. Và còn bắt bớ oan uổng lần nữa.
Chi bằng nên lánh nơi nguy hiểm này biệt tăm là hơn. Nhưng ở đâu bây giờ?
Chị chỉ biết có ba nơi. Một là Đồng Đăng. Hai là Hà Nội. Ba là quê nhà.
Đồng Đăng thì bây giờ chị không còn quen biết ai.
Hà Nội thì quanh đi quẩn lại, chỉ có Ĩnh con là họ hàng thân thích. Ở đây dễ kiếm ăn thật, nhưng thế nào chị cũng không tránh được tù tội, rồi sạt nghiệp. Không khéo thì tuyệt đường sinh sống cũng nên.
Thật thế. Tội vạ gì phải ở Hà Nội để bỗng không thành kẻ có tội, chịu thay tội cho thằng làm nên tội.
Nghĩ vậy, hôm sau, mẹ Mão thu xếp xống áo, đồ đạc, tiền nong, hai mẹ con ra ga sớm, lấy vé đi Hải Dương, để về quê.
Chị giấu cả mọi người, tức là giấu nhà nước, không cho ai biết là chị đi đâu, ở đâu.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIII
VỢ CON  
 
Thừa bị tòa án Hà Nội bắt nộp sáu chục bạc phạt cho mẹ Mão.
Hắn nhất định không nhận.
Hắn trả lời rằng người đàn bà ấy không phải là vợ của hắn.
Nhưng tòa không nghe, lại viết công văn đòi lần thứ hai. Ma-ri thấy việc lôi thôi, thì nghiến răng chửi rủa con mẹ nhà thổ dám mạo nhận là vợ của chồng hắn, để làm mang tiếng hắn.
Hắn thúc Thừa phải kiện mẹ Mão và xin tòa cho ly dị dứt khoát.
Thừa đi Hà Nội vấn kế trạng sư Rô-măng là thầy cãi riêng của hắn. Sau vụ giết cô Lễ, Rô-măng cãi cho hắn được trắng án, thì hắn phục Rô-măng là giỏi. Hắn rất hàm ơn. Cho nên, từ ngày phất lên giàu có, Thừa thuê hẳn Rô-măng làm trạng sư cho mình. Tháng nào, dù có việc hay không, Thừa cũng trả cho trạng sư của mình một món tiền nhất định. Rô-măng là cố vấn của Thừa về pháp luật và là đại diện cho hắn trong những việc kiện tụng. Thừa không phải trả thêm tiền. Thừa làm đơn đưa Rô-măng nộp tòa. Trong đơn, hắn kể mẹ Mão phạm rất nhiều tội, trong đó tội chính và to nhất, cái tội rất ô nhục, bôi nhọ tiếng tốt của hắn, là tội buôn thuốc phiện lậu.
Song, vì Thừa không biết địa chỉ của mẹ Mão, nên hắn không giúp tòa gọi bị cáo đến để thẩm vấn. Đến khi hắn đi dò, biết mẹ Mão ở nhà quê, thì hắn khai rõ vào trong đơn. Nhưng tòa xét trường hợp hai người, chỉ xử bằng cách muôn thuở, là hòa giải.
Thừa lại làm đơn khác. Xong, tòa vẫn hòa giải.
Đã không được kiện. Thừa còn bị thúc nã phải trả món tiền sáu chục phạt thuốc phiện lậu.
Ma-ri ức quá.
Thừa cũng bực quá.
Ức bực về mẹ Mão chưa nguôi, thì Thừa và Ma-ri buồn bã về con.
Thằng Mão thi hỏng kỳ tiểu học Pháp Việt. Thôi thì nó hay nó dở, mặc mẹ con nó. Nhưng con Rô-da-lin hỏng kỳ thi tiểu học Pháp. Tuy cả mẹ Mão lẫn Ma-ri không ai vui sướng hơn ai, và không ai ghen tị với ai, thì Thừa đỡ bị mè nheo. Nhưng đến hôm nhận được thư của nhà trường về việc học của thằng Pôn, vợ chồng không khỏi không buồn bã về tương lai của lũ con.
Vậy muốn biết về thằng Pôn và lũ em nó, ta không nên bỏ qua thằng Mão.
Mão năm ấy đã 17 tuổi, quá tuổi theo học lớp nhất cấp tiểu học Pháp Việt một năm rồi. Từ ngày thằng bé không thụ đạo bác Hoài để được bá truyền nghề tiêm thuốc phiện, và cho vãn những cảnh khiêu dâm, trụy lạc, thì mẹ nó nuôi nó, cho đi học chữ tại một trường tư.
Khốn nạn thằng bé! Nó thông minh, nhưng chỉ vì mẹ nó bận suốt ngày về sinh sống, không có thì giờ để mắt đến con, cho nên nó chỉ phát triển cái sở đắc đã hấp thụ từ ngày nó làm đồ đệ bác Hoài. Nó lười biếng, lêu lổng, bạt mạng. Nó thích chơi với bọn trẻ giống tính nó. Nó hay đánh nhau, chửi nhau với bạn. Nó gọi thầy giáo bằng lão. Thầy nào nghiệt nó, nó gọi bằng thằng. Tối tới, nó nói với mẹ là lại nhà bạn để học, nhưng sự thật, nó trốn đến chầu tĩnh bác Hoài, có bận khuya mới về. Sách mà nó đọc toàn là những tiểu thuyết tình và tiểu thuyết kiếm hiệp. Không hiểu nó mượn ở đâu được, để chép vào sách riêng của nó, những bài đại khiêu dâm của Pháp đã dịch ra tiếng ta. Thấy nó cặm cụi vót cái kiếm bằng gỗ, và loay hoay bịt nhọn đầu kiếm bằng sắt tây, mẹ nó có giục học, thì nó mở sách, miệng gào liến thoắng những câu tiếng tây mà mẹ nó chẳng hiểu. Song, không phải nó học bài, mà là đọc những khúc hát tình ái mà nó đã thuộc lòng như: Giơ-te-mơ pho-lơ-măng, ma sê-ri, hoặc Gia-đo-rơ te giu rô-đơ, tê đi-ơ blơ, ê tê sơ-vơ blông, mông na-mua… [89]. Nó lại rình biết những hôm nào Thừa về Hà Nội, để đến bắt bố cho tiền. Mẹ nó thấy nó ăn quà như mỏ khoét, nhưng không thấy tiền của mình suy suyển, thì hỏi nó lấy ở đâu. Nó giấu và nói dối quanh. Nó cũng biết là mẹ nó giận bố nó, dù có biết tiền ấy là tiền nó bắt bố nó cho, chứ không phải xin, thì mẹ nó cũng mắng nó. Mẹ nó thường dạy nó phải khinh và thù bố nó. Mẹ nó vẫn bảo:
- Tao chưa làm cho nó khuynh gia bại sản, phải dắt con Tây lai và lũ con nó đi ăn mày, tao còn ức lắm.
Tiếng nó mà mẹ Mão nói, Mão hiểu là bố mình. Cho nên, mỗi khi muốn nói về bố mình với mẹ, Mão cũng dùng tiếng nó cho mẹ dễ hiểu. Ví dụ, đi học về, Mão mách:
- Con vừa gặp nó.
Thì mẹ Mão không cần hỏi Mão nó là ai.
Mão đã biết chim gái từ hai năm nay. Những cô nữ sinh lớp nhì, lớp nhất trường Hàng Cót, bị Mão trêu ghẹo, hoặc theo lẽo đẽo đến chỗ vắng để ném thư, đều khiếp Mão. Các cô không biết tên Mão là gì, đều gọi là thằng lẹm cằm. Song, tựu trung cũng có cô liếc Mão, và nhoẻn cười. Trong hơn một năm trời, Mão đã yêu và đã bỏ ba cô. Muốn có một biệt hiệu như các nhà văn sĩ, để ký vào các thư tình, Mão nhờ bác Hoài đặt cho. Bác Hoài nói đùa là Sơ-ca chữ tắt của tên Sở Khanh. Nhưng Mão thích lắm, nhận ngay cái biệt hiệu rất đúng với mình, mặc cho ai lầm hiểu bằng cái nghĩa đứng đắn của hai chữ ấy.
Mỗi lần Thừa thấy Mão đến, thì biết ngay thằng bé chỉ có mỗi mục đích là vòi tiền. Lần đầu tiên, Thừa mắng chửi nó, toan đánh và đuổi nó. Nhưng khi thấy nó nói dối là mẹ nó sai đến xin tiền, thì Thừa phải cho ngay. Hắn cần xoa dịu cho con người tai ngược khỏi lôi thôi với hắn. Cho nên những lần sau, thấy đầy tớ nói rằng Mão đến, Thừa đưa người ấy tiền, bảo cầm ra cho nó. Được hối lộ, nó không cần gặp Thừa, Thừa cũng không muốn cho nó dàn mặt. Một ông hàn, điền chủ, giàu có ức vạn, mà để thằng bé con mặt mũi nhem nhuốc, thân hình khẳng khiu, quần áo rách rưới như kia, đến nhận là bố, thì thật là một điều bêu riếu, đáng sỉ nhục. Mão đã khéo hóa trang cho mình như vậy để xoay tiền bố. Chứ đã biết chim gái, không phải nó không biết diện. Nhưng nó muốn Thừa quan tâm đến nó. Song, Thừa không quan tâm đến nó.
Những đứa con mà Thừa quan tâm, hoặc bắt buộc phải quan tâm, hoặc nữa là làm ra vẻ quan tâm, là từ thằng Pôn cho đến con Ca-mê-li-a. Trừ con bé út này mới lên chín tuổi, học một cô giáo đến tận nhà để dạy, còn bốn đứa kia đều đi trường tây, trường đầm. Cố nhiên, chúng nó mặc tây và mặc đầm. Thằng Pôn và thằng Giăng đến lớp bằng xe đạp hiệu Pơ-giô, hạng sang nhất, khung sơn đen nhánh, có cái che xích bịt kín mít. Con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít thì ngồi xe nhà màu cánh gián, có cái chắn bùn dài xuống tận càng. Ở sau xe, có lỗ mắc lò-xo ấn chuông hơi lòi lên trên. Người kéo xe không phải ấn chuông, nhưng người ngồi xe giậm chân vào lò-xo, thì cái chuông vặn bằng đinh ốc ở phía dưới, kêu những tiếng giòn giã: Tính toong! Tính toong!
Mấy đứa này rất lắm quần áo và giày mũ. Các bạn học không ai sang trọng bằng chúng nó. Trong túi đứa nào, lúc nào cũng có vài đồng bạc. Chúng nó mua quà. Nhưng nếu không thấy ngon, thì ăn một miếng, rồi vứt đi ngay. Bởi muốn chúng nó chóng biết tiếng Pháp, cho nên ngay từ khi chúng nó bập bẹ học nói, Ma-ri đã dạy chúng nó những tiếng thông thường, để phát âm. Đến nỗi, nói một câu, chúng nó dùng cả tiếng nước ông nội lẫn tiếng nước ông ngoại mà chúng nó không biết. Ví dụ, khát nước, đòi uống, chúng nó nói:
- Ma-măng cho con boa đi.
Mãi đến năm tiếp xúc với xung quanh nhiều, chúng nó mới không lẫn lộn tiếng Việt với tiếng Pháp. Và, khi sống trong xã hội mà mọi người chỉ giao thiệp với nhau bằng tiếng Việt, chúng nó quen nghe và quen nói, thì tự nhiên chúng nó phải học tiếng Pháp một cách chật vật, không khác gì những người Việt Nam thông thường.
Muốn chữa cho các con bắt lại thói quen cũ, Ma-ri treo giải thưởng để khuyến khích chúng nó nói tiếng Pháp. Đứa nào nói hay, nói nhanh, và phát âm giống người Pháp thì được tiền.
Năm này, thằng Pôn đã 15 tuổi, học lớp năm, và thằng Giăng, 14, ở trường lít-xê, tức là trường trung học, mang tên thằng toàn quyền cũ, là An-be Xa-rô. Cố nhiên chúng nó ăn mặc thì sang nhất lớp, nhưng học thì dốt nhất lớp. Chúng nó đòi bố sắm ô-tô; thuê sốp-phơ cho chúng nó đi nhà trường. Bởi vì chúng nó thấy con lão đổng lý văn phòng phủ Thống sứ, cũng ngày bốn buổi đi về trường bằng xe ô-tô, hòm kính của công, trông rất oai. Kém thằng bạn ấy, chúng nó xấu hổ lắm. Muốn bố mẹ không tìm được lý do để trái ý, chúng nó có cạo cho xe đạp lở sơn, rồi bày ghế lổng chổng ở trong buồng, hai thằng thi nhau đạp nhanh, xe đụng chạm lung tung, quật cả bánh vào tường, cho được ngã sầy da sứt thịt. Để chúng nó nói dối là bị nạn.
Thừa hứa là nếu chúng nó được lên lớp, thì sẽ mua cho cả bốn anh em chiếc xe hiệu Rơ-nôn bốn chỗ ngồi. Ma-ri cũng khuyên Thừa nên bán chiếc Béc-li-ê vẫn dùng, vì nó cổ và xấu rồi, mui lại bằng vải. Hắn ước ao chiếc Pho của Mỹ. Nhưng Thừa không thích xe Pho cao lênh khênh bằng xe Voa-danh, chạy êm như ru. Vả ở Đông Dương, trừ hai chiếc Voa-danh của hai người Pháp ở Sài Gòn, còn ở Bắc Kỳ, mà lại là An Nam, thì chỉ mới có cụ thượng Hoánh, tổng đốc tòa Thượng thẩm, có một cái nữa là thứ ba thôi. Thừa muốn có hẳn cái Voa-danh để dùng cho ngông. Đã gọi là chơi xe không nên tiếc tiền.
Thừa muốn khuyến khích các con học hành có kết quả. Nhưng kết quả, rút cục, trái hẳn lại ý muốn của hắn. Như ta đã biết, con Rô-da-lin thi trượt. Năm nay nó lên 12, hết tuổi học lớp bảy rồi. Còn thằng Pôn thì vừa rồi nhà trường gửi giấy về gia đình báo trước nếu nghỉ hè ra, nó thi lại mà không lên nổi lớp bốn, thì không được học lớp năm đến khóa thứ ba nữa.
Không cần phải lý luận dài, ta đều biết rằng thằng Pôn và thằng Giăng đều lười học. Chúng nó còn hư nữa. Cái hư được nảy nở dễ dàng, là do chúng nó giữ được truyền thống của cha mẹ. Không rõ cha chúng nó có phải là Thừa hay không? Nhưng nếu không phải cái con người gian ác, lừa đảo này thì cũng phải là một tay chuyên môn ăn cắp ái tình lén lút khác, và cũng không kém gian dối, bội bạc, bất nhân. Còn Ma-ri thì đúng là mẹ chúng nó rồi. Từ ngày được ông hai Sơ cho biết mùi đời ở trên tàu Ký Bưởi đến nay, trải qua hơn hai mươi năm trời, Ma-ri chỉ còn mỗi một nguyện vọng thôi. Là trắng, vàng, đen hắn trải khắp rồi. Hắn muốn có cái đo đỏ. Hắn chỉ mong đức Bảo Đại du học bên Pháp chóng thành tài, để về nước mà chấp chính. Khi ấy thì ông chủ báo Nam Phong Phạm Quỳnh sẽ được về kinh làm quan to. Ông họ Phạm lại là thư ký hội Khai Trí Tiến Đức mà Thừa có chân, cho nên hắn cũng quen ông ta. Thế nào hắn cũng chạy cho được cái kim bội bằng vàng đỏ mới tắm, đeo ở đầu dây kim tòng, màu cánh trấu.
Không những hương hỏa được huyết tính của cha mẹ, thằng Pôn và thằng Giăng còn được luôn luôn học những bài thực nghiệm mà mẹ chúng nó dạy bằng cách gián tiếp, khi trong nhà có khách đàn ông. Bởi thế, về mặt dâm dật, hai thằng không thua Mão. Chứng cớ là thằng Pôn đã hai lần làm cho Sen và Đào kêu rầm rĩ.
Hai thằng học lẫn với con Tây, lại ở Hà Nội, xa cha mẹ, nên không ai cai quản. Chiều nào chúng nó cũng mặc quần áo sang nhất, mỗi thằng có bạn riêng đến rủ đi chơi, đi chim gái, mà chúng gọi lóng là đi lơn đào.
Nhà ai ở phố nào có con gái choai choai, trạc tuổi chúng nó, chúng nó biết hết. Tên cô ở là gì, học lớp nào, trường nào, hay không đi học, bao nhiêu tuổi, có mấy anh chị em, tính hạnh thế nào, thói quen thế nào, họ hàng với những nhà nào, hay đi đâu vào giờ nào, chúng nó thuộc hơn những bài sử ký ở nhà trường. Chúng nó thách nhau chiếm trái tim cô nọ, chinh phục cô kia. Chúng nó kể với nhau những chuyện trai gái trước mặt các em gái chúng nó. Nói với em gái, chúng nó cũng văng tục văng rác. Chúng nó mê tiểu thuyết tình, truyện kiếm hiệp. Chúng nó còn hơn thằng Mão ở chỗ lắm tiền, cho nên không truyện trinh thám nào không mua, không phim trinh thám hoặc phim khiêu dâm nào chúng nó không chen lấy cho được vé. Vốn sinh trưởng trong gia đình dùng đồng tiền để có tất cả, chúng nó cũng sớm hiểu giá trị của đồng tiền. Giá trị của đồng tiền là cho người có tiền thêm giá trị. Chúng nó thả tiền ra để mua tất cả, nhất là mua tình yêu. Nhiều cô mê tít chúng nó, chỉ vì muốn sắm gì, mới hé răng bảo, là hôm sau chúng nó có ngay để tặng.
Nhưng hai thằng Pôn và Giăng bị mẹ chúng nó phân biệt đối xử. Nghề thế, hễ nhiều con thì thế nào cũng có con yêu con ghét. Ma-ri yêu thằng Giăng hơn thằng Pôn. Vì thằng Giăng trắng trẻo, đẹp đẽ hơn. Hồi Ma-ri bỏ Thừa đến thủ tiết tại nhà lão cha Hảo, thì Thừa gửi thằng Pôn về nhà quê, nhờ hai Điều nuôi. Hẳn là nó ăn chẳng đủ, mặc chẳng đủ, cho nên nó đen đủi, gầy gò. Vì xấu xí hơn em nó, nó bị Ma-ri ghét.
Bởi thế, tuy hai đứa đều được đầy đủ ngang nhau về vật chất, nhưng về tinh thần, thằng Pôn kém thằng Giăng. Thằng Pôn bị mẹ nghiệt ngã hơn, nó hay phải mắng, phải bẻ, phải hoạnh. Cùng phạm một tội, nhưng nếu thằng Giăng, thì Ma-ri không nói gì, có khi còn cười âu yếm. Còn nếu là thằng Pôn, thì Ma-ri quát, và nói dai, không những kể tội hiện tại, mà còn bới ra tất cả những tội cũ mà Ma-ri không bao giờ quên.
Vì vậy, trong hai thằng con trai, Pôn sợ cha mẹ, mà thằng Giăng thì nhờn. Thấy cha mẹ, Pôn len lét. Muốn gì, nó thường xui các em nó xin hộ. Ma-ri vẫn bảo Thừa:
- Dễ dãi với thằng Pôn, thì nó hư đấy.
Cả Thừa lẫn Ma-ri phải đặt cho nó những kỷ luật rất chặt chẽ, bắt nó phải theo đúng. Vì không theo đúng, nó phải nói dối. Và ngày nào có bố mẹ về Hà Nội, nó sợ sệt tất cả mọi người. Nó nịnh nọt từ người hèn kém nhất nhà để đừng mách tội nó.
Trong khi thằng Pôn bị kiềm thúc, thì thằng Giăng được tự do tung hoành. Thằng này chẳng e dè ai, coi trời bằng vung. Nó phạm một lỗi. Khi chưa đến tai mẹ nó, thì lỗi ấy nguyên là lỗi. Những khi mẹ nó biết, thì nó được bênh liền. Lỗi không còn là lỗi nữa, mà biến ngay thành ưu điểm. Kẻ làm ra lỗi ấy, lại là người khác.
Nó không có tính nói dối như anh nó. Trái lại, nó nói toạc tất cả những cái không đáng nói. Ví dụ, trên thân thể của mẹ nó có những gì, khác với thân thể của con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít và con Ca-mê-li-a ra sao.
Bởi chịu sự giáo dục thiên lệch như vậy, thằng Pôn với thằng Giăng là hai thằng kình địch nhau nhất. Chúng nó cãi nhau, đánh nhau, chửi nhau, như hai kẻ thù. Bị mắng, bị nhiếc thằng Pôn càng thù thằng Giăng sâu. Thấy Ma-ri bất công, Thừa bênh thằng Pôn, thì Ma-ri càng tự ái, nên càng ghét nó, và hục hặc cả với người mà Ma-ri cho là nống thêm cho nó hư.
Thường Thừa khuyên Ma-ri:
- Một thằng bị mẹ nghiệt ngã quá, lúc nào cũng lấm lét như con chuột trước con mèo, một thằng được mẹ nuông chiều quá, tha hồ như ông tướng, chẳng biết kiêng nể gì. Cái lối dạy con như thế, chỉ tổ làm cho cả hai đứa cùng hỏng sớm.
Đôi khi Thừa có nghĩ đến Mão, thằng con không được trông nom, mà thả lỏng như loài ác thú sống trong rừng. Thừa biết là rồi Mão cũng hỏng nốt.
Con Rô-da-lin mới 12 tuổi, nhưng đôi vú trên ngực nó đã nhu nhú như hai quả cau.
Nghỉ hè này, cũng như nghỉ hè trước, chẳng biết nó mến chú đội Tuynh thế nào, mà cứ đòi ngủ với chú, không được nằm lâu cạnh chú, thì nó cũng kè kè bên chú một lúc, rồi mới đi ngủ.
Chắc rằng nó biết việc này là bất hợp pháp, nên con ranh con hợp pháp hóa ngay bằng cách rủ cả con Ma-gơ-rít nằm với chú đội. Nhưng khi em nó nghe nó dỗ dành, thì nó bắt em nó nằm một bên, để nó độc quyền nằm giữa, thì nó nhất định bắt chú quay mặt lại nó. Em nó có phản đối, thì lập tức nó dùng quyền chị, cấu véo con bé đến khóc lên.
Nghỉ hè này, nó biết làm dáng rồi. Chiều nào nó cũng lấy phấn của mẹ xoa nhẹ vào má, và lấy son của mẹ phiết phiết vào môi. Nó còn bôi cả nước hoa nữa. Khi soi gương, thấy đẹp, nó xuống buồng chú đội chơi. Nó lấy cả nước hoa của mẹ cho chú vuốt lên đầu chú.
Năm trước, sau cái buổi trưa hôm thằng chánh cẩm Gôn ở nhà nó, nó thấy nhảy đầm, cho là hay hay. Hôm cha mẹ nó đi vắng, nó đòi chú đội dạy nhảy. Con bé tinh thế đấy. Cha mẹ ở nhà thì nó không dám học. Muốn thử nó, Huệ bảo:
- Cô muốn biết nhảy thì bảo bà dạy cho, hay bảo chúng tôi cầm tay cho. Chú đội cao thế, cô thấp thế, thì ôm nhau khó.
Nó uốn mình, nghẹo cổ, giơ tay làm bộ điệu,và hát theo điệu vọng cổ để trả lời:
- Nhảy với đàn ông mới thích chứ!
Năm nay, con Rô-da-lin hỏng thi. Là vì nó không làm nổi bài toán và không thuộc sách vở để đáp những câu hỏi. Nó đã giải quyết nhiều bài toán khó hơn, tỷ dụ như làm thế nào để được nằm với chú đội một cách hợp pháp. Nhưng đến bài người ta ra cho nó bằng những con số thì nó cắn bút, không biết lần mò ra sao. Nó đã thuộc lòng những bức thư dài của bạn trai lớp trên giúi vào cặp sách nó. Nhưng những dòng toát yếu sử ký, địa lý, tạp vật học, dù ngắn, mà nhai mãi, nó không sao nhập tâm được. Âu cũng là thiên tư. Nó nghiền những truyện của các anh nó mua về, nghiền hàng giờ không mỏi. Có khi thức đến mười hai giờ đêm, mà đầu óc vẫn minh mẫn. Nhưng sờ đến quyển giáo khoa, mới ề à được vài dòng, đôi mi mắt nó đã díu chặt lại. Thế là nó ngủ.
Việc học hành của con Ma-gơ-rít năm nay không có vấn đề gì. Nhưng con oắt Ca-mê-li-a thì nằng nặc đòi học trường đầm với các chị. Nó muốn được mặc đầm, nhưng lại viện cớ là cô giáo dốt, không đủ chữ dạy nó.
Nhận được giấy cảnh cáo của nhà trường, Thừa và Ma-ri mắng thằng Pôn. Thằng này đổ tội cho cô giáo dạy toán ghét nó. Nó nói rằng cô Săng-đrê này năm nay gần năm mươi tuổi mà chưa chồng. Một lần, cô bị nó bắt quả tang để cho thầy Xi-cô-mông hôn môi ở trong lớp, lúc giờ học trò ra sân chơi. Từ đó, cô thù nó. Biết nó nhút nhát, hay sợ sệt, cho nên động gọi nó lên bảng, là cô gầm thét, đập bàn đập ghế ầm ầm. Cả năm học, cứ đến giờ cô dạy, là nó mụ cả người. Nó không hiểu cô giảng gì cả. Vì vậy, luôn luôn nó bị phạt.
Thừa bàn với Ma-ri về việc học cho thằng Pôn, con Rô-da-lin và con Ca-mê-li-a.
Vốn quen giãy bằng tiền, hắn định đút cho người thư ký trường lít-xê tẩy điểm thấp để chữa lên điểm cao vào các bài thi của thằng Pôn, cho nó có đủ số điểm lên lớp. Chắc rằng lão đốc trường không nhớ đâu mà phải ngại. Nếu người thư ký không dám làm liều, thì hắn đút hẳn tiền cho lão đốc và mấy lão giáo. Nhưng nếu mấy anh chàng gàn dở này quen thói thanh liêm, không chịu ăn của đút, thì hắn sẽ đến chơi thăm người giáo sư văn học và người giáo sư khoa học dạy ở lớp tư. Chắc rằng hai người này sẽ chấm kỳ thi lên lớp hồi đầu năm học sắp tới. Hắn định xin hai người ấy cho thằng Pôn đến học tư trong kỳ nghỉ hè này, độ một tháng rưỡi, mỗi tuần sáu giờ. Mỗi giờ trả từ năm đồng trở lên, hay bao nhiêu cũng được, để lấy cảm tình thày trò với nhau.
Còn con Rô-da-lin thì quá tuổi, chắc không được lưu ban. Hắn sẽ xin cho nó và con Ca-mê-li-a vào trường tư dạy đầm con của bà Măng-đông. Con Ca-mê-li-a vừa tuổi học lớp chín.
 
Chú thích:
89)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 11:54:52 bởi Thanh Vân>
XIV
KHI GƯƠNG ĐÃ SOI  
 
Đương bực mình về việc học hành của thằng Pôn và con Rô-da-lin, thì hôm sau Thừa lại nhận được thư của trạng sư Rô-măng báo tin là tòa bác cái đơn xin ly dị mới đây của hắn.
Hắn bực bội như muốn phát điên.
Cho nên, ăn cơm sáng xong, Thừa và Ma-ri, cùng con Ca-mê-li-a xuôi Hà Nội. Hắn định giải quyết lần cuối cùng việc mẹ Mão, đồng thời vận động việc học cho con.
Không rõ là ai bảo, mà cả xừ Tuynh cũng ra xe. Xừ ăn vận rất đình huỳnh.
Ô-tô có bốn chỗ ngồi.
Đáng lẽ nếu xừ Tuynh cầm lái, ngồi đằng trước, thì ông bà hàn cùng cô tiểu thư ngồi đằng sau.
Nhưng Ma-ri cứ bắt Thừa cầm lái, nói rằng chú đội hay cho chạy nhanh, hắn chóng cả mặt.
Thừa chiều ý vợ.
Vậy đáng lẽ Thừa cầm lái, thì xừ Tuynh phải ngồi cho đúng địa vị, tức là bên cạnh chủ, để giúp chủ. Ma-ri và con Ca-mê-li-a ngồi đằng sau.
Nhưng Ma-ri lại bắt con bé là yêu pa-pa thì ngồi với pa-pa. Lại được xem phong cảnh. Con Ca-mê-li-a ngây thơ, biết gì, nhảy lên ngồi ngang với bố. Thế là Ma-ri với xừ Tuynh cùng ngồi với nhau ở đệm phía sau.
Ai không biết, nhìn lên xe, thấy ba người lớn ăn mặc khác nhau, chắc phải cho kẻ cầm lái là bác tài, vặn ô-tô cho ông chủ bà chủ.
Chiếc Béc-li-ê chạy ì ạch. Hai cánh tay Thừa đặt trên bánh lái, mắt nhìn thẳng phía trước, đầu không nhúc nhích. Con Ca-mê-li-a mải mê trông các đồi sim, hoa đỏ như mâm xôi màu đào.
Lợi dụng cơ hội tốt, thấy mỗi lần xe chồm lên, xừ Tuynh lại nhích gần một tí vào Ma-ri. Rồi xừ quàng cánh tay quanh lưng Ma-ri. Ma-ri không những để yên, còn liếc nhìn xừ, miệng tủm tỉm. Và cũng dịch lại gần xừ.
Bốn người, mỗi người một việc, không ai nói chuyện với ai.
Xe vẫn chạy, kêu phành phạch.
Nó nhún nhảy trên đất gồ ghề và nghiêng ngả trên khúc quanh co.
Nó bắt Thừa phải hết sức chú ý đến tay lái. Nhưng nó giúp xừ Tuynh ngồi sát hẳn lại Ma-ri. Nhưng Ma-ri nháy mắt, trỏ vào Thừa để ra hiệu. Ý hắn là nhắc xừ nên cẩn thận. Nhưng xừ mỉm cười, lắc đầu. Ý xừ trả lời là không ngại. Thế là xừ bỏ tấm lưng thon, quàng hẳn cánh tay vào cổ nõn nà của Ma-ri, kéo đầu hắn ngả vào gần xừ. Xừ ghé môi vào má thơm những mùi phấn. Hẳn là xừ định hôn.
Bất đồ ngay lúc ấy, chẳng biết có linh tính thế nào, Thừa chợt nhìn vào cái gương soi phía sau, gài ở trước chỗ vặn lái. Sẵn đương bực mình, nên máu nóng sôi sùng sục, hắn vừa phanh xe đánh kít, vừa quay lại định bắt quả tang kẻ gian. Chiếc ô-tô đột nhiên đỗ sững, làm con Ca-mê-li-a vập mặt vào kính chắn gió. Còn Ma-ri và xừ Tuynh thì giồ ra cả phía trước. Không còn bằng chứng, dấu vết gì là hai người vừa ôm nhau.
Nhưng có tật vẫn giật mình, Ma-ri hỏi:
- Gì thế?
Thừa không đáp, mở cửa xe, hầm hầm nhảy phịch xuống đất.
Bỗng thình lình, ở trên đồi sim cạnh đường, có hai con bé rách rưới, cắm cổ chạy, bỏ lại bốn bó cành khô nhỏ.
Thừa nhìn theo chúng nó, quên khuấy mất việc ăn cắp ái tình. Hắn trợn mắt, nghiến răng, chạy theo để đuổi hai đứa ăn cắp củi. Xừ Tuynh thấy có người bị coi là phạm tội nặng hơn, thì bình tĩnh, đứng cạnh Ma-ri để nhìn Thừa. Nhưng chạy độ hai chục bước, Thừa đứng lại, thở hồng hộc, vì mệt. Thừa đến chỗ đặt bốn bó cành, nhắc lên để xem cân nặng nhẹ, rồi xếp gọn thành một chồng.
Lúc này, xừ Tuynh tự coi mình như lương thiện, nên mỉm cười, khen Thừa:
- Ông nhanh mắt thật! Bắt kẻ cướp đến tài!
Thấy thằng có tội nhởn nhơ, Thừa hùng hổ:
- Không nhanh lại chộp quả tang những đứa ăn cắp.
Xừ Tuynh giật nảy mình. Ma-ri cũng thấy như có kiến bò trong gáy.
Bỗng Thừa trỏ tay về phía đồn điền, mặt sát khí đằng đằng, nói như hạ một lệnh quyết liệt:
- Chú đội, đi về!
Xừ Tuynh thấy mình bị tuyên án mà quan tòa không nói lý do, thì xừ hiểu ngay câu nói những đứa ăn cắp là trong đó có cả xừ. Xừ vội vàng xuống đất như kẻ muốn tránh đòn.
Ma-ri vờ ngơ ngác như ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì, nhưng không dám phản đối chồng.
Muốn khỏi bẽ, xừ Tuynh nhìn theo hai con bé lúc này chạy đã xa, trỏ chúng nó, và trợn mắt:
- Tiên sư chúng bay! Ông nhớ mặt chúng bay rồi nhé! Quân ăn cắp!
Thừa kệ cho xừ Tuynh đứng ở đó, mở máy cho xe chạy, rồi cười khẩy:
- Hừ! Cũng biết chửi quân ăn cắp!
Ma-ri ngồi một mình ở phía sau. Hắn nghĩ lung lắm. Hắn không rõ là hắn có tội hay vô tội. Thừa bắt xừ Tuynh về đồn điền, vì cáu với xừ hờ hững trong khi Thừa phải chạy mệt đuổi mấy đứa lấy củi? Hay đuổi đứa lấy củi không được, mà trút nỗi bực mình lên đầu xừ? Hay hắn đương cáu vì không được ly dị với mẹ Mão mà giận cá chém thớt? Nếu Thừa biết xừ Tuynh ôm hắn, và hắn để cho xừ hôn, thì hắn đồng lõa với xừ, sao Thừa không đả động gì đến hắn.
Thật là khó hiểu.
Ma-ri yên lặng để suy nghĩ. Thừa cũng không nói gì, chỉ chú ý nhìn đằng trước, hai cánh tay đặt trên bánh lái.
Song, sự yên lặng làm Ma-ri thấy nặng nề, không chịu nổi. Muốn dò ý Thừa, hắn nói:
- Hai con ăn cắp củi là con cái đứa nào, ông có biết không?
Thừa đáp giấm giẳn:
- Biết được!
Ma-ri vẫn ôn tồn:
- Cứ dễ dãi với chúng nó là chúng nó nhờn ngay mà! Từ nay, cứ bảo chú đội tăng tiền phạt củi lậu lên từ tám hào đến đồng sáu, thì của đau con xót, chúng nó mới sợ.
Thừa cười khẩy:
- Hừ! Dễ dãi mãi thì chúng nó nhờn thật!
Rồi hắn thêm:
- Hừ! Chú đội!
Ma-ri như bị nghe những lời nói xa xa gần gần. Hắn im một lát, rồi hỏi lảng:
- Ông có đem bức thư của lão đốc trường Lít-xê đi không thế nhỉ?
Thừa đáp cụt lủn trong tiếng thở dài.
- Có.
Một lát, Ma-ri lại hỏi:
- Tòa cứ hòa giải là cái đếch gì nhỉ?
Mãi Thừa mới trả lời:
- Ừ.
Đến phố huyện, Ma-ri hỏi:
- Năm ngoái, xe cháy ở chỗ nào nhỉ?
Thừa tặc lưỡi, đáp như bất đắc dĩ:
- Quên mất rồi.
Thấy làm lành mãi không ăn thua, Ma-ri đoán có lẽ Thừa đã bắt được quả tang việc ban nãy chăng? Nhưng hắn hơi vững tâm, và cho là mình đoán vô lý. Thừa ngồi thế kia, không quay đầu lại, thì nhìn sao được phía sau. Hắn đánh bạo, gọi dịu dàng:
- Ông nhỉ.
Thừa tặc lưỡi:
- Gì?
- Sao ông đuổi nó về thế?
Thừa lại tặc lưỡi:
- Cho khỏi gai mắt.
Ma-ri tái mặt:
- Sao?
Thừa gắt:
- Không hỏi!
Ma-ri ỏn ẻn như trêu chọc để đùa:
- Cứ hỏi!
Thừa vẫn cáu:
- Thôi yên, kẻo xe đâm xuống ruộng bây giờ!
Ma-ri nghe như lời dọa dẫm của một người mất trí muốn liều lĩnh, nên đành nín thinh, song, hắn vẫn cứ bực tức, không rõ hắn đã lo sợ bằng cái có đáng lo sợ, hay lại lo sợ khoảng không, để Thừa lên câu?
Hắn nhìn Thừa và ngẫm nghĩ. Hay là đã có đứa nào ở nhà mách Thừa về xừ Tuynh với mình, nên bây giờ thấy xừ ngồi cạnh mình, thì biết là có bố trí sẵn.
Bỗng có tiếng còi ô-tô ở phía sau xin đường đê tiến lên. Thừa giơ cánh tay, xoáy cái gương ở trước mặt chênh chếch đi một tí, để nhìn cho rõ nghe sau. Ma-ri sực giật nảy mình. Đúng là ban nãy Thừa đã bắt quả tang xừ Tuynh ở trong gương. Ma-ri thở dài.

* * *
Không bao giờ một người chồng tuy vẫn thả cho vợ đi với người khác để kiếm lợi, lại chịu nổi vợ ngoại tình với người khác mà không được lợi lộc gì.
Thừa lầm lầm lì lì. Có lẽ hắn sắp điên hay sao, mà lắm lúc đi quãng đường vắng, hắn cũng bấm còi hồng hộc lên hàng tràng.
Ma-ri rất bực bội. Không lẽ tự nhiên lại thanh minh rằng vẫn là bà chủ chín chắn với người quản lý? Thà rằng Thừa sinh sự, thì mình sẽ cãi rằng Thừa đã trông sai. Có thể đổ tội cho mặt gương không thật, hình người ngồi xa in vào đó bị méo mó đi một chút, cho nên Thừa lầm là xừ Tuynh ngồi sát vào mình. Có thể viện lý rằng xe đi chỗ quành đà chạy nhanh của nó làm hai người tự nhiên giúi vào nhau. Hoặc có thể bảo là chính xừ Tuynh có thể dã tâm thế nào đó, mà mình vô tình, không để ý, nên không biết. Nói những cớ khách quan ấy bằng giọng nũng nịu, rồi vừa dỗ dành, vừa pha trò, tất Thừa bị thuốc, lại vui vẻ như thường ngày. Đằng này Thừa cứ chẳng nói rõ, thỉnh thoảng thốt ra một tiếng như chó cắn ma. Bị tấn công bằng chiến tranh lạnh ấy, Ma-ri cảm thấy mình như tội nhân bị đòn mà không được hỏi cung. Cho nên hắn vẫn cứ ngơm ngớp lo ngại, muốn phản công, mà không biết tiến lối nào.
Về đến nhà ở Hà Nội Thừa gọi người bếp, người xe, gắt mắng họ không lau chùi quét tước, để đồ đạc và sân sướng bụi bậm rác sưởi. Rồi độ mười lăm phút sau, hắn lạnh lùng, bảo Ma-ri:
- Bà ở lại với Ca-mê-li-a, lo liệu việc học của chúng nó cho xong nhé. Tôi phải về ngay đồn điền bây giờ, có việc cần.
Ma-ri tò mò:
- Việc gì mà cần thế?
Thừa gật đầu, nhưng không giảng:
- Cần.
- Không đến với ông Rô-măng à?
- Để lần sau.
- Không thăm ông Pha-lăng-xô à?
- Không.
Thế là hắn lên xe ngay. Hắn về Cẩu Rồng thật.
Vừa đến nơi, chẳng kịp cởi quần áo, hắn gọi ngay xừ Tuynh lên. Hắn nói giọng hằn học:
- Từ ngày chú đến giúp tôi, mọi công việc đều rất trôi chảy. Tôi biết công chú lắm. Nhưng mấy tháng nay, tôi không buôn bán nữa, thì tôi thừa nhiều thì giờ. Vả lại không làm gì thêm cặp, cho nên túng. Tôi đã quyết định là tôi trông nom lấy ruộng nương, không cần có quản lý cho thêm tốn người, tốn của. Vậy chú tìm việc khác.
Xừ Tuynh tái mặt:
- Thưa ông…
Thừa giơ tay, ngăn:
- Khoan! Để tôi nói nốt. Đáng lý như người ta, thì chú thôi việc từ ngày nào, tôi không trả lương từ ngày ấy, Nhưng nghĩ tình thầy trò, tôi không nỡ. Tôi giúp không cho chú một tháng lương. Từ bây giờ đến mai, chú muốn đi lúc nào, tùy chú.
Xừ Tuynh thấy Thừa viện những lẽ loanh quanh để đuổi mình, lại tỏ ra tử tế, chu đáo, trong lúc mình chưa có việc mới, thì không biết nói thế nào. Có chỗ tựa vững chắc nhất là Ma-ri, thì Ma-ri lại không có mặt để bênh vực, Xừ ấp úng:
- Thưa ông, chắc việc này, ông đã bàn với bà rồi.
Thừa cười khẩy:
- Bà!
Rồi cau mặt nhìn xừ, giọng gay gắt:
- Đã. Nhưng anh - hắn không gọi thân mật bằng chú nữa - Phải hiểu rằng việc nhà, thì bà quyết định, còn việc làm ăn, là quyền ở tôi.
Vẻ mặt cương quyết, hắn thêm:
- Một là một. Hai là hai. Không nói đi nói lại!
Xừ Tuynh đoán rằng tất nhiên lúc vắng mặt mình, giữa đôi vợ chồng này đã xảy ra một tấn bi kịch thế nào đây. Nhưng không hiểu sao Ma-ri ở lại Hà Nội, và Thừa về ngay một mình. Xừ yên lặng đứng nhìn Thừa đếm tiền để trả lương. Lúc giơ hai tay đỡ cuộn giấy bạc, xừ nói:
- Thưa ông, ông không dùng tôi, tôi cũng vui lòng. Tôi lại rất tự hào là từ ngày đến giúp việc ông, lúc nào tôi cũng tận tâm làm lợi cho chủ. Thật là đối với ông, tôi không có phốt [90] gì.
Thừa cười khẩy:
- Phải. Không có phốt gì! Ông nói đúng lắm.
Không rõ câu này là nói thật hay nói đay, mà Thừa lại gọi mình bằng ông, xừ Tuynh không nhìn Thừa nữa. Một lát, xừ gãi tai:
- Thưa ông, tôi không làm với ông bà, nhưng lúc nào lòng tôi cũng cảm phục, quyến luyến ông bà, coi ông bà như tấm gương sáng, chỉ mong được gương soi xét cho thấu lòng kẻ tôi đòi. Sau này, nếu ông bà có việc gọi tôi, tôi xin đến ngay.
Thừa cau mặt:
- Hừ! Gương! Gương mà soi thì…
Hắn không nói tiếp.
Hắn nhìn xừ Tuynh, gật đầu:
- Thôi được. Cám ơn. Tôi với chú thế là dứt khoát. Tôi chúc chú về được mạnh khỏe, và kiếm ngay được việc làm. Từ bây giờ đến chiều, hoặc đến sáng mai là cùng, chú đi lúc nào, thì cứ việc đi, không cần lên chào tôi. Không phải băn khoăn đâu.
Thấy Thừa lạnh nhạt một cách ghê gớm, xừ Tuynh đáp:
- Vâng. Tôi thu xếp xong một vài việc, còn dở dang, rồi xin phép ông cho tôi ra tàu. Trước khi từ giã ông, tôi xin chúc ông bà và các cháu…
Thừa nhăn mặt, lắc đầu:
- Được, được. Cảm ơn.
Hắn chìa tay cho xừ Tuynh bắt.

* * *
Thừa đương nằm vắt tay lên trán, thì con Rô-da-lin rón rén đến đầu giường. Thấy tiếng động, hắn mở mắt ra. Rô-da-lin hỏi:
- Pa-pa ơi! Tại sao chú đội không ở nhà ta nữa, hở pa-pa?
Thừa thở dài:
- Mày bé, chưa hiểu những việc của người lớn. Không hỏi.
- Pa-pa ạ, chú bảo pa-pa đuổi chú, có thật không?
Thừa không đáp. Nó lại hỏi:
- Ma-măng đâu? Tại sao còn ở Hà Nội. Bao giờ ma-măng về?
Thừa ngóc cổ lên:
- Mày hỏi, hay chú ấy xui mày hỏi?
- Con hỏi đấy, pa-pa ạ.
Thừa đáp:
- Không biết.
Rô-da-lin nói:
- Pa-pa ạ, pa-pa đừng đuổi chú đội. Pa-pa cứ cho chú làm với pa-pa.
Thừa ngồi hẳn dậy.
- Chú xui mày nói với pa-pa thế phải không?
- Không ạ.
- Thế tại sao mày xin hộ chú ấy?
- Tại con thích chú.
Thừa không đáp, lại nằm xuống, vắt tay lên trán:
- Để cho pa-pa ngủ.
Trong buồng yên lặng. Bỗng Thừa nghe tiếng con Rô-da-lin thút thít khóc. Thừa quay lại nó, cau mặt, gắt:
- Ai làm gì mà mày khóc? Tao ở Hà Nội có một chốc, không kịp mua quà cho chúng mày. Đừng nũng nịu!
- Thưa pa-pa, không phải thế. Pa-pa đừng đuổi chú đội. Con thương chú lắm.
Thừa cau mặt:
- Mày thương chú, thế mày không thương pa-pa với ma-măng à?
- Có. Chú làm ở đây, thì giúp pa-pa với ma-măng đỡ vất vả.
Thừa bực mình:
- Nó có giúp ma-măng, chứ giúp gì pa-pa!
- Chú ở đây thì chúng con vui. Chú đi thì chúng con nhớ.
Rô-da-lin lại bưng mặt khóc.
Thừa lấy lại giọng dịu dàng, dỗ dành con:
- Thôi, để yên cho pa-pa ngủ. Pa-pa với ma-măng đã quyết định như thế rồi. Bảo anh Pôn, anh Giăng với con Ma-gơ-rít, không được làm ồn. Ngoan thì chủ nhật sau, pa-pa đi Hải Phòng, pa-pa mua xi măng chữa cho cái bể bơi, và lát cho cái sân quần. Chứ chơi sân đất hại bóng, mà đường bóng đi không thật, nghe không?
Rô-da-lin không vâng. Nó cũng không đi ra. Nhưng nó cũng yên lặng, không nói, không khóc. Nó ngồi thừ trên ghế.
Sáng sớm hôm sau, xừ Tuynh từ biệt Cẩu Rồng. Lão hai Điều, thằng Pôn, thằng Giăng và con Ma-gơ-rít tiễn xừ ra tận cổng, và bắt tay thật lâu.
Những người ăn người làm, và năm cô trong đội con gái như được mát ruột, chẳng ai cần xừ từ giã. Lúc xừ lên đường, họ vẫn việc ai nấy làm, như không có gì lạ xảy ra. Nhưng Đào bỗng hỏi Lan:
- Này, nhìn mà xem, mày ơi! Con Rồ đâu mà chỉ có con Ma đi tiễn chú nó nhỉ?
Lan trỏ tay lên buồng ngủ của các cô, đáp bằng giọng đanh đá:
- Nhớ nhân tình, đương khóc ở trên kia chứ đâu! Mày không nghe tiếng à?
Con Rô-da-lin ở trên buồng thật. Lúc ấy, nó đứng trong của sổ, trông ra cổng, khóc ầm ĩ. Thấy xừ Tuynh giơ tay vẫy nó, rồi đi khuất, nó vật mình vật mẩy. Như con điên, nó xé quần xé áo, giật màn cho đứt xuống. Nó gào lên:
- Chú ơi! Chú ơi!
Rồi nó nhảy lên cửa sổ, gieo mình xuống sân, để chạy theo:
- Chú ơi! Đợi cháu với! Đợi cháu với!
Nhưng hai Điều và hai anh nó vội vàng giữ nó lại, nó lồng lộn, cắn tay họ để gỡ ra, và chửi ầm ĩ. Hai Điều thầm thì vào tai nó:
- Này có khẽ chứ không! Quan dậy thì chết cả lũ bây giờ! Dại dột thế!
Bỗng của sổ buồng ngủ của Thừa mở toang. Thừa mắt nhắm mắt mở nhìn ra, vừa giơ cánh tay lên gãi nách, vừa hỏi:
- Gì thế?
Hai Điều tái mét mặt:
- Không ạ.
- Thằng Pôn, thằng Giăng bắt nạt em phỏng?
Thằng Pôn và thằng Giăng sợ hãi:
- Không ạ.
Hai Điều xui khẽ chúng nó:
- Đừng nói thật mà chết!
- Sao quần áo nó rách và đầu gối có nó có máu thế kia?
Ông đáp:
- Không phải máu đâu ạ. Mực đỏ đấy ạ. Nó học, đánh đổ mực đấy ạ.
Thừa đóng cửa lại:
- Học ngoan với nhau cho pa-pa ngủ nhé.
Con Rô-da-lin tập tễnh theo mọi người lôi nó vào buồng. Nó nằm trên giường, úp mặt lên gối, vừa khóc chú, vừa chửi thằng nào con nào đuổi chú. Những từ ngữ mà nó dễ dùng để diễn đạt tư tưởng tuyệt vọng của nó, so sánh với lời lẽ của các anh nó khi tức giận, có phần kém mạnh mẽ vì kém thô tục, nhưng lại chua ngoa và sâu sắc hơn.
Sáng hôm ấy, nó nhịn cơm.
Trong bữa ăn, thấy vắng mặt nó. Thừa hỏi, thì thằng Pôn thưa:
- Rô-da-lin nó kêu nhức đầu. Con đã bảo nấu cháo cho nó ăn rồi ạ.
Thừa cau mặt:
- Đã bảo mà! Cứ chạy nắng cho lắm vào. Chúng mày không biết giữ mình, có ốm, rồi ma-măng về, ma-măng lại kỳ kèo tao.
* * *
Ma-ri nằm cạnh con Rô-da-lin, ôm vai nó, và dỗ dành:
- Con nói thực đi. Chỉ có ma-măng với con biết thôi. Con nhớ chú đội phải không?
Rô-da-lin thở dài:
- Tại pa-pa đuổi chú.
Ma-ri cũng thở dài:
- Thế tại sao con nhớ chú?
Nó không đáp. Ma-ri hỏi nó lần nữa. Nó cũng không đáp. Ma-ri hỏi nó lần thứ ba, thì nó thút thít khóc. Ma-ri ôm lấy nó, âu yếm, vỗ vào lưng nó.
- Con ơi, có phải con yêu chú phải không?
Nó không đáp, chỉ rên rỉ, rồi cựa, quay lưng lại Ma-ri. Ma-ri gặng:
- Con yêu chú phải không?
Nó òa lên:
- Vâng.
Ma-ri yên lặng, thở một hơi dài thườn thượt. Một lát, hắn hỏi:
- Nhiều tối, ma-măng thấy con xuống nằm với chú. Thế chú làm gì con?
- Có cả con Ma-gơ-rít cũng nằm đấy. Chú có làm gì con đâu?
- Con ngây thơ quá? Chú là đàn ông, sao con lại nằm thế?
Nó không đáp.
- Thế chú không làm gì con thật à?
Nó lại không đáp, chỉ thở dài.
- Con cứ nói thật đi. Để có làm sao thì phải chữa mới được.
- Có làm sao đâu?
- Ừ, thế chú vẫn làm gì con?
Nó yên.
- Chú làm gì con từ bao giờ? Mấy lần?
Nó lại yên.
- Ma-măng biết. Ma-măng làm thế này thì con không giấu được ma-măng nữa.
Ma-ri để tay lên bụng nó. Bỗng nó giật tay ra, và nằm sấp lại. Ma-ri nựng nó:
- Con gái tôi bé bỏng. Có gì cứ nói thật với ma-măng, ma-măng liệu cho.
Nó gắt:
- Có gì đâu mà ma-măng phải liệu!
- Thế con dại dột với chú bao nhiêu lần rồi!
Nó nguẩy vai:
- Chả nhớ!
Ma-ri khẽ thở dài:
- Từ bao giờ?
- Từ nghỉ hè này.
- Từ nghỉ hè năm ngoái chứ?
- Không.
- Thế chú bắt ép con à?
- Không.
- Lần đầu tiên kia mà?
Nó lại gắt:
- Chẳng lần nào ai bắt ép ai cả.
Ma-ri yên lặng. Một lát, Ma-ri quật mạnh cánh tay xuống chiếu, nói giọng uất ức:
- Thằng ấy là thằng sở khanh! Con không được nghĩ đến nó nữa!
- Sở khanh là tốt hay xấu? Sao chú ấy lại sở khanh, hả ma-măng?
Ma-ri lại yên lặng. Rô-da-lin gặng:
- Hở ma-măng?
Ma-ri gắt:
- Là xỏ lá, ba que, ngủ với con này, lại ngủ với con khác!
- Nhưng chú chỉ ngủ với con, chứ có ngủ với ai nữa đâu?
- Mày mà biết được?
Ma-ri chữa câu nói:
- Sao con biết?
Một lát, hắn tiếp:
- Ma-măng còn ngờ không khéo cả con Ma-gơ-rít cũng dại dột với nó nữa.
- Không. Nhất định không, ma-măng ạ. Lần nào nó nằm với chú, cũng có con.
- Ai biết ma ăn cỗ. Lại còn lũ đội con gái ngứa nghề nữa. Lần nhảy đầm nào, nó cũng ôm suốt lượt, không khéo thì chết cả với nó rồi!
Ma-ri ngồi phắt dậy, bới vội món tóc không có độn, nó bẹt như củ hành tây, rồi nghiến răng, nói như ghen:
- Thằng sở khanh thật! Bà mà gặp mày thì bà kẹp nát đầu mày, chứ bà không để yên!
Lại đến lượt Rô-da-lin dỗ dành mẹ:
- Đừng, ma-măng ạ. Tội nghiệp chú!

* * *
Tin con Rô-da-lin mới nứt mắt mà đã phải lòng cái thằng quản lý ác bá hơn bốn mươi tuổi, đồn dậy khắp Cẩu Rồng.
Thừa và Ma-ri rất buồn và xấu hổ. Hai người không dám thò mặt đi đến đâu.
Riêng Thừa thì hối hận là mình lao đầu vào đồng tiền nhiều quá, chẳng trông nom gì đến con cái, đến nỗi chúng nó hư đốn ngay trước mắt, mà mình cũng không biết.
Tuy Thừa biết con Rô-da-lin không phải dòng máu họ Trần, nhưng vì danh dự và tự ái, hắn vẫn phải nhận là con hắn. Còn những đứa khác, hắn bán tin bán nghi. Song, cũng vì danh dự và tự ái, hắn phải tự nhủ là chúng nó giống mẹ ở nước da và màu tóc. Mẹ chúng nó vốn là người lai mà.
Biết rằng tiếng xấu còn đi xa, một mặt Thừa với Ma-ri ngồi đâu cũng khoe con gái mình chăm học, ngoan nết, và thanh minh cho xừ Tuynh là đứng đắn, hiền lành. Sở dĩ xừ không làm ở đồn điền nữa, không phải do có phốt gì, mà chỉ vì xừ muốn tiến làm nghề thầu khoán, vì được chủ cấp cho vốn. Một mặt, ông bà hàn ra lệnh cấm người ăn kẻ ở và tất cả điền tốt, không ai được nhắc cái tin đồn vô căn cứ ấy. Muốn bưng bít dư luận hơn nữa, Thừa xuống tận Vĩnh Yên, tìm ba người phóng viên của ba tờ báo hàng ngày, mời họ đi ăn, đi hát, lại cho họ tiền, nhân tiện minh oan cho con.
Nhưng một hôm, Pôn đưa cho Ma-ri xem tờ tuần báo Chuyện Đời, trong đó có một bài đoản thiên tiểu thuyết đề tên là Nhọ, tác giả ký là Xì Đạt. Truyện Nhọ kể việc một người quản lý đồn điền tên T., ngủ cả với bà hàn M., là chủ, và với người con gái mười hai tuổi khá xinh tươi của bà hàn, là R. Hai mẹ con ghen nhau, chửi nhau và đánh nhau tán loạn. Muốn hạ màn cho tấn bi hài kịch trong gia đình, ông hàn A.T. đuổi T. ra khỏi nhà, rồi phát điên, vì đã nuôi ong trong tay áo.
Ma-ri tức lắm, kể qua truyện Nhọ cho Thừa nghe, rồi đưa báo cho Thừa đọc. Nhưng Thừa xé tan xé nát tờ báo, vò nhàu, vứt vào xó tường, đập bàn mắng Pôn:
- Tao đã cấm chúng mày độ này không được đọc báo kia mà! Sao mày không nghe tao? Để nghe chúng nó chửi cha chửi mẹ có sướng tai không?
Muốn trấn áp dư luận, Thừa bèn hạ một lệnh mới. Hắn cấm ngặt tất cả các điền tốt đọc báo, bất cứ là báo nào. Ai không tuân, sẽ bị lấy lại ruộng, và đuổi đi tức khắc khỏi đồn điền. Hắn lại điều tra xem người viết truyện Nhọ là ai. Các bạn hắn, kẻ mách là người này, người mách là kẻ nọ. Có người nói Xi Đạt là Nguyễn Thiện, người tỉnh Vĩnh Yên. Thừa không tin. Ba người phóng viên không có ai là Nguyễn Thiện. Trừ họ ra, còn ai hay bới việc nhà người? Thừa nghi ông văn sĩ Hoài Tân Tử. Hắn biết ông này có tính xấu, là thôi cộng tác với ai, thì chửi người ấy liền. Song, Ma-ri đoán Xì Đạt không phải người ở xa, vì họ không thể biết rõ được chuyện trong dinh. Chỉ là anh Xi thôi. Anh Xi không biết viết, nhưng đã kể lại cho một người khác nào đó. Anh bới xấu việc nhà hắn để trả thù cho cả vợ anh lẫn anh.
Muốn rửa cái nhục gia đình, Thừa đi Hà Nội, bàn với trạng sư Rô-măng.
Thừa hỏi Rô-măng làm thế nào để vừa bỏ tù được xừ Tuynh, vừa bắt được báo Chuyện Đời đền danh giá. Rô-măng cho là về phía hắn, hắn không thấy khó khăn, miễn là Thừa cung cấp cho hắn đủ tài liệu bằng khoa học. Tức là hai giấy chứng nhận của bác sĩ. Một giấy cam đoan là Rô-da-lin còn tân, để kiện báo Chuyện Đời vu cáo, bắt cơ quan ngôn luận dại dột ấy phải bồi thường ít ra là một trăm đồng, vì đã làm mất danh dự một thiên kim tiểu thư vị thành đinh. Một giấy ghi thật là Rô-da-lin bị hiếp dâm, nhưng muốn cho xừ Tuynh nặng tội, thì cần nói thêm là con bé mắc bệnh tình, phải điều trị ít ra là ba tháng, để đưa thằng khốn nạn vào nằm trong nhà đá.
- Như vậy - Rô-măng nói - ông phải nhờ hai bác sĩ, mỗi bác sĩ cho ông một giấy.
Rô-măng giảng lý:
- Đành rằng đã là bác sĩ, thì có quyền nói dối. Nhưng vì bác sĩ là người Pháp, ít ra họ cũng cần phải giữ kẽ người trên đối với ông là An Nam. Vả lại, nói là cô em mắc bệnh tình, dễ hơn là chứng nhận rằng cô em còn trinh. Cho nên, về việc này, ông không nên hà tiện tiền đối với một người có bằng tốt nghiệp vì thuộc lòng các cơ thể người ốm, lại lắm kinh nghiệm trong nghề. Nói với người sinh sống bằng khoa học để họ phản lại khoa học, thì phải khéo léo lắm mới được.
Nhưng vì Thừa có bác sĩ Pi-ca là thầy thuốc của gia đình, như trạng sư Rô-măng, nên một mình quan tiến sĩ Pháp vui lòng cho Rô-da-lin cả hai thứ chứng nhận. Một giấy viết rằng thiếu nữ còn nguyên màng trinh, đề ngày tháng đúng hôm báo Chuyện Đời xuất bản. Một giấy viết rằng thiếu nữ bị hãm hiếp một cách thô bạo đến nỗi mang trọng bệnh, đề ngày tháng sau một tuần lễ.
Cố nhiên bác sĩ không lấy tiền về hai giấy chứng nhận, nhưng lại phàn nàn rằng thiếu hóa đơn của hiệu bào chế bán thuốc chữa bệnh cho Rô-da-lin, thì sợ tòa cho là bệnh bịa. Cho nên Thừa phải đưa ba trăm bạc, để bác sĩ giao cho ít hóa đơn bịa.
Thừa đem hai giấy chứng nhận của Pi-ca đến Rô-măng. Trạng sư xui Thừa phát đơn kiện xừ Tuynh ở Vĩnh Yên. Hắn nói:
- Việc xảy ra ở Vĩnh Yên, thì nhờ tòa Vĩnh Yên xét là đúng luật. Tòa Vĩnh Yên mà xử, thì ông muốn bỏ tù nó mấy năm cũng được. Bởi vì tòa ấy là tòa Nam án, quyền xử thuộc về quan công sứ, mà phạm nhân thì không được thuê thầy cãi.
Còn việc kiện báo Chuyện Đời, ý kiến Rô-măng như sau:
- Bởi vì đây là giấy chứng nhận giả, cho nên ta phải nắm đàng chuôi. Tôi khuyên ông hãy viết thư cho tòa báo, bắt nó cải chính đã. Nó mà nghe ông, thì là tốt nhất, nhưng tôi chắc chắn là nó không cải chính đâu. Tôi chỉ cốt tóm được thư trả lời của nó, thế nào cũng có một vài câu, một vài chữ viết hớ. Tôi tóm lấy câu, lấy chữ ấy để xoay, thì mấy thầy cãi cũng không gỡ nổi cho nó. Chơi bọn cầm bút phải có mánh khóe mới được.
Thừa nghe lời khuyên của trạng sư. Hắn viết cho báo Chuyện Đời một bức thư:
Cau Rong, le 7 Juillet 1931 Monsieur le Rédacteur en Chef du Journal hebdomadaire Chuyện Đời Hanoi [91]
Tôi với ông vốn không quen biết nhau, nên không thù hằn gì nhau. Vậy mà trong báo Chuyện Đời số 16, xuất bản ngày 19 tháng 6 trước, tôi thấy một bài tiểu thuyết đề là Nhọ.
Ông có ý ám chỉ đến tôi. Vậy tôi yêu cầu ông cải chính ngay vào trong số báo tới. Nếu không, vì danh dự con gái tôi, tôi bắt buộc phải đưa ông đến pháp luật.
Việc này tôi đã quyết định. Xin ông chớ trách tôi là làm quá đối với người làm nghề cũ của tôi.
Albert Thừa Concessionnaire à Cẩu Rồng Vĩnh Yên
Năm hôm sau, Thừa tiếp bức thư trả lời:

Hanoi, le 12 Juillet 1931 Monsieur Albert Thừa Concessionnaire à Cẩu Rồng [92]
Vĩnh Yên
Xin phúc đáp bức thư ông dọa kiện tôi.
Trước hết, tôi xin nói ngay rằng ông đã nghĩ rất đúng. Tôi với ông không quen biết nhau, thì không thù hằn gì nhau. Cho nên cố nhiên là bài Nhọ không có ý nói ông. Song, nếu ông cứ cho là tôi ám chỉ ông mà muốn tội cải chính, thì tôi cũng xin vâng.
Chứ mà ông đưa tôi đến pháp luật, thì tôi sợ quá, sợ quá!
Vậy muốn khỏi cải chính lầm, tôi cần biết bốn điều về gia đình ông như sau:
- Tên bà hàn nhà là gì? Bà có ngủ với người quản lý hay không?
- Quý tiểu thư tên là gì? Bao nhiêu tuổi? Có đẹp không? Cô có ngủ với người quản lý hay không?
- Quý phu nhân và lệnh ái có ghen nhau và đánh nhau không?
- Còn ông, thưa ông An-be, ông có điên hay không?
Nếu thật quý phu nhân cùng quý tiểu thư đều đã ngủ với người quản lý, rồi ghen nhau, hai người đánh nhau tán loạn, đến nỗi ông đâm ra loạn óc, thì quả là bài báo Nhọ ám chỉ ông. Song, nếu gia đình ông không có những việc đúng như thế, thì xin ông nhường cho người chồng, người bố khác kiện tôi. Bởi vì chính người ấy mới bị tôi ám chỉ. Còn như nếu ông cứ muốn tôi cải chính, thì tôi cũng xin vâng. Nhưng thú thật là tôi bất lực. Vậy nhờ ông chỉ giáo cho tôi nên viết như thế nào để độc giả tin rằng những việc dâm dật khốn nạn trong bài Nhọ quả là xảy ra ở gia đình ông thật.
Tôi mong thư ông trả lời để cải chính ngay, làm cho ông vừa lòng.
Nay kính thư
Xì Đạt

Đọc xong thư, Thừa tức nổ ruột:
- Tiên sư những thằng viết văn!
Hắn bảo Ma-ri:
- Chúng nó đểu không chê được!
Vợ chồng lại bàn với nhau. Rồi Thừa đi Hà Nội để vấn kế quân sư.
Rô-măng nghĩ một lát, rồi lắc đầu:
- Khó làm ăn quá! Trêu vào tụi chúng nó, lắm lúc chúng nó làm mình phát điên lên, mà cứ phải chịu. Không ngờ những quân bất trị xoay lại mình, bắt mình làm thằng hề khôi hài cho chúng nó cười!
Rô-măng khuyên Thừa đừng giở giói với báo Chuyện Đời nữa. Chỉ nên quật xừ Tuynh một chùy cho chết mất ngáp thôi.
Nhưng đơn kiện xừ Tuynh đưa đến tòa án Vĩnh Yên, trát nã bên bị, phát đi đến nửa tháng rồi, mà không sao tìm ra xừ ở đâu.
Đến hôm con Rô-da-lin nghe đích xác là cha mẹ kiện chú đội, thì nó khóc lóc thảm thiết. Nó nói rằng nó không nỡ hại chú. Ra tòa, nó sẽ khai đúng sự thật, là chú không cưỡng ép nó, và nó không mắc bệnh tình bao giờ.
Thừa lại đâm bổ đi Hà Nội.
Rô-măng thất vọng về con bé không ăn lời người trên.
Pi-ca lo lắng là người trên mà nói lại không ăn với lời con bé.
Hai quan Đại Pháp đều khuyên Thừa nên khôn ngoan mà rút đơn ra. Để tránh tiếng thua kiện. Và để khỏi bị xừ Tuynh quật lại về tội vu khống.
Thừa càng cáu. Mất ăn mất ngủ đến một tuần lễ.

* * *
May thay cho ông bà hàn An-be, có một người tự nhiên đến giơ lưng để chịu đòn cho ông bà trút được cơn thịnh nộ.
Trong những ngày dư luận đương ồn về con Rô-da-lin, thì một hôm, hai Điều xun xoe lên nhà trên, báo cho quan ông quan bà một việc gỡ nổi danh dự gia đình.
Lão già khoanh tay trước ngực, rồi ngồi xổm xuống đất, nói tiếng nhỏ tiếng to:
- Trình ông lớn bà lớn, chúng con có một tin mừng cho cô Dô-ta-linh. Ông lớn bà lớn cho phép con bẩm.
Thừa gật đầu.
- Trình ông lớn bà lớn, ông phó tổng Hạ ấy ạ.
Ma-ri sực nhớ ra:
- À, ông ta còn nợ nhà này hai trăm bạc từ ngày ông ta đánh xóc đĩa ở đây. Món ấy quá hạn đã lâu lắm rồi, mà tôi quên khuấy đi mất. Sao ông không đòi hộ tôi?
Thừa nói:
- Phó tổng Hạ cũng có chân trong hội Khai Trí Tiến Đức đấy. Chính là nhờ món nợ này, tôi mới ép nổi hắn ta làm đơn xin vào hội. Chứ những như cụ tuần, chỉ giảng phải trái, thì đời nào Khai Trí Tiến Đức có thêm được hội viên? Thì ra hắn ta sợ mình hơn sợ cụ tuần.
Ma-ri bĩu môi:
- Phỉ thui cái hội Khai Tổ Tôm Điếm nhà ông!
Hai Điều tủm tỉm:
- Thưa ông ta có nợ nhà ta thật. Nhưng khoan hãy đòi ạ. Bây giờ công việc nó đi như thế này. Trình ông lớn bà lớn, ông phó Hạ đấy ạ, ông ta có một cậu con giai thiệt ngoan ngoãn, thiệt chăm chỉ, thiệt đứng đắn, học lớp nhất ở trường huyện, vừa đậu bằng xép-ca [93]. Ông ta nhờ con đánh tiếng, xin ông lớn bà lớn cho cậu con giai được hầu hạ cô Dô-ta-linh nhà ta ạ.
Thừa cau mặt:
- Hầu hạ là thế nào?
- Thưa là rước cô Dô-ta-linh về làm vợ cả ạ.
Bất đồ Ma-ri sồn sồn lên:
- À, cái thằng phó Hạ nó láo! Nó hỗn! Đũa mốc dám chòi mâm son à?
Nhưng Thừa can:
- Hãy bình tĩnh để nghe ông ấy nói đầu đuôi xem sao đã nào.
Hai Điều như được lại hồn:
- Trình ông lớn bà lớn, cậu ta mười bốn tuổi, thiệt thông minh, thiệt nết na. Ông phó tổng đã cưới cho cậu ta hai vợ, nhưng toàn đánh xuống làm lẽ thôi, bởi vì chưa ai xứng đáng làm cả.
Thừa lại cau mặt. Hai Điều giảng:
- Trình ông lớn bà lớn, nguyên do là tục nhà quê, gia đình danh giá nào cũng lấy vợ cho con như thế ạ. Khi người ta chưa tìm được chỗ môn đăng hộ đối, thì người ta lấy vợ cho con, là chỉ để lấy người làm, cho là hàng thứ, như là vợ lẽ cô hầu thôi. Một con bé ông ta cưới cho cậu ấy đã bốn năm nay, cái năm cậu ấy mới học lớp tư. Cậu ấy còn trẻ con, thích chơi nghịch, nên cần có bạn đánh đinh, đánh đáo cho đỡ buồn. Nhưng nhà người ta là nhà làm ăn, công việc bề bộn cả năm, nên năm ngoái, ông phó tổng lại phải cưới cho cậu ta một người vợ nữa, là con nhà Liêm. Con bé mười tám tuổi, chân tay khỏe mạnh, việc thổ mộc thạo lắm. Vì hai vợ cậu ấy là con nhà thường dân, cho nên ông bà phó chưa nhận đứa nào là nàng dâu cả. Ý là còn chờ một người con nhà danh giá kia. Bây giờ ông ta nhờ con xin ông lớn bà lớn cô Dô-ta-linh cho cậu con giai ấy đấy ạ.
Ma-ri toan nổi tam bành, nhưng Thừa ngăn ngay lại. Hắn hỏi hai Điều:
- Ông nói thật nhé. Ông ta nhờ ông, thì cho ông bao nhiêu tiền?
- Trình ông lớn bà lớn, chả có mấy. Nhưng con tính rằng cô Dô-ta-linh tiếng là con nhà quan, học trường đầm Hà Nội, quen ăn ở văn minh thật, nhưng phải cái cô có phốt, khó lòng rửa được tiếng. Con chỉ sợ rồi năm này năm khác, cô lớn lên, mà chẳng ai màng tới, thì ế chồng, cổ nhân nói trong nhà có con gái lớn thì nguy hiểm như có súng lục, như chứa quả bom. Cho nên con trình với ông lớn bà lớn là cho quách cô Dô-ta-linh về làm dâu ông bà phó tổng Hạ. Ông bà ấy thiệt hiền lành, biết quý người, vả lại, nhà mình là chỗ thế gia vong tộc, tiền của như nước, gả như thế này là gả xuống, thì họ càng phải sợ. Con tưởng số cô Dô-ta-linh thế mà tốt đấy. Trình ông lớn bà lớn, so đôi tuổi thì…
Ma-ri không thể nhịn được:
- Thôi! Ông quản! Tôi cấm ông đấy!
Hai Điều sợ quá, vội vàng đứng dậy. Ma-ri tiếp:
- Thằng phó tổng Hạ nó hỗn, nó láo! Cha con đẻ ra mẹ nó! Để tôi cho nó một trận. Còn ông, là chỗ người nhà người cửa, mà ông cũng nối giáo cho giặc à? Con bé việc gì mà ông bảo là có phốt? Ông nghe ai nói? Phốt gì? Ông hai?
- Trình bà lớn, con thấy người ta đồn.
- Người ta là ai? Đứa nào nói thế? Ông gọi nó đến đây, tôi gang họng nó ra!
Thừa lại can vợ, và ôn tồn bẻ hai Điều:
- Vậy ông tin lời người ta đồn, hay ông tin tôi?
Hai Điều cứng họng. Ma-ri lại hoạnh:
- Ông không tin cả đốc tờ nữa à? Giấy đốc tờ hôm nọ chứng nhận cho con bé, tôi đã nói chuyện với ông, ông không nghe à?
- Trình bà lớn…
- Trình cái con khỉ. Mấy lị ông phải biết, dù con bé có phốt thật, cũng không bao giờ tôi thèm dâu gia với thằng phó tổng. Ông cứ sống mà xem. Nó có của thì ngày sau nó làm bà huyện. Không có nó cũng làm nổi bà kế của ông phủ, ông án, chứ không thèm làm cái ngữ bà tham bà đốc đâu!
Thừa vẫn ôn tồn, nói thêm:
- Ông có biết là vì tham mấy đồng bạc, ông đã mắc lừa phó tổng Hạ không? Nó có nợ đến hạn, thì nó nhờ ông xin con Rô-da-lin cho con nó. Nếu không xong, tất nó hoãn được một hạn. Mà xong, không những nó xí xóa nợ, còn đào thêm được mỏ vàng, ông hiểu chưa?
- Dạ.
- Cái việc mà thiên hạ đồn, thì mặc thiên hạ. Tôi có giấy của bác sĩ tây chứng nhận là con Rô-da-lin còn nguyên màng trinh con gái. Tôi đương nhờ dịch ra quốc ngữ, rồi cho in thạch, dán như yết thị cho cả đồn điền biết. Khi ấy, đứa nào còn nói láo, thì tôi cho phép ông cứ bẻ gãy răng nó ra. Thế nào cũng phải bỏ tù một thằng, chúng nó mới câm họng được.
- Dạ.
Ma-ri nói:
- Còn thằng phó tổng Hạ, ông gọi nó lên đây cho tôi. Nó định đào mỏ thì tôi đào mả bố nó lên, vứt đầu lâu vào chuồng phân cho nó chừa.
Thừa gật đầu:
- Phải đấy, ông cứ gọi phó tổng Hạ chiều mai lên đây, nhưng đừng nói là làm gì cả.
- Dạ.

* * *
Chiều hôm sau, phó tổng Hạ dắt con trai đến cho ông hàn bà hàn xem mặt. Cậu công tử đội khăn xếp, mặc áo sa bóng, đi giày tây trắng, tay xách cái bu có đôi vịt kêu quàng quạc.
Tới cổng, thấy bà hàn đứng trên thềm, hai bố con vội vàng chắp tay vái chào. Nhưng Ma-ri thốc ngay cho một hồi:
- Ông Hạ! Ông với quan hàn nhà tôi cũng là hội viên hội Khai Trí Tiến Đức thật, ông là phó tổng tổng này thật, nhưng ông là con nợ của tôi. Ông định lật lọng thì ông bảo! Đồ xỏ lá!
Hắn không mời khách vào nhà, cứ đứng trên xỉa xói xuống:
- Ông còn muốn chơi trèo nữa à? Liệu cái thần xác ông, không thì tôi kiện cho mà mất nghiệp. Chứ đừng hỗn, đừng láo! Ông không biết con người ta là mình vàng mình ngọc à? Ai thèm đến cái thứ cỏ rác, mà ông dám đem con ông so sánh với nó. Hãy hỏi cái ngữ con ông đã đáng làm đầy tớ giặt quần trong cho nó chưa? Ông tưởng cái chức phó tổng của ông đã to thế à? Ông tưởng mấy mẫu ruộng của ông đã lớn thế à? Tôi thì gí vào!
Phó tổng Hạ tím bầm mặt:
- Thưa bà…
- Tôi không lý sự với ông! Món nợ hai trăm quá hạn đã lâu rồi. Tôi gọi ông lên đây để đòi ông phải trả ngay. Có trả hay không thì ông bảo?
- Thưa bà hãy thư cho mấy hôm.
- Không được!
- Bà đòi tôi mà không bảo tôi trước, chỉ nói trống là lên ông bà nói chuyện, thì tôi biết đâu?
- Biết đâu thế nào? Ông còn nói bướng à? Ông định làm kế hoãn nợ phỏng? Ông định làm kế xí xóa nợ phỏng? Ông định cho con đào mỏ phỏng?
Lúc ấy, Thừa đã đứng đấy. Hắn nói:
- Này, ông phó tổng! Ông làm phí cả tiếng hội viên hội Khai Trí Tiến Đức đi. Hội viên hội Khai Trí Tiến Đức phải ăn ở thế nào để làm gương về trí lự và về đạo đức chứ không phải đào mỏ. Tôi không lạ gì ông đâu. Quân đào mỏ là quân bất nhân bất nghĩa. Phải bỏ rọ trôi sông cho tiệt cái giống ấy đi. Người ta sống với nhau phải bằng tình chứ? Những quân đào mỏ chỉ biết có tiền. Tình của chúng nó là tiền, Hết tình là hết tiền. Ông có thấy đê nhục không?
Ma-ri nhăn mặt nhìn chồng:
- Không việc gì phải đem đàn mà gảy trước tai trâu. Phí cả công đi. Đã muốn lật mặt thì cho được lật mặt!
Hắn trỏ vào phó tổng Hạ:
- Thôi, bố con ông về đi, đừng đứng đây nữa mà bẩn nhà tôi! Có khôn hồn thì trả cho hết món nợ!
Phó tổng Hạ căm giận, không thèm chào Ma-ri, dắt con ra cổng.
Ông ta về làng. Vừa tới đầu ngõ nhà, ông đã nghe tiếng vợ khóc lóc lạy van.
Vào đến sân, ông thấy một con mẹ gầy gò, đương giằng co với vợ ông một vật gì ở trước bàn đèn thuốc phiện bày trên giữa phản.
Con mẹ ấy là mụ Ĩnh con. Thừa đã cho gọi nó về để làm nặc nô đòi nợ. Về việc này, Thừa không tin lão hai Điều sẽ quyết liệt với phó tổng Hạ. Vì thằng già đã nuốt mấy đồng bạc, nên há miệng mắc quai.
Mụ chủ nhà thổ đến nhà con nợ. Nó thấy người chồng đi vắng, thì nó mừng lắm. Nó thẳng tay với người vợ.
Sau khi được ăn cơm với thịt gà, và hút hết lượt xái ba, nó mới có sức để dở thói du côn.
Nó hỏi nợ. Câu trước còn tử tế, câu sau đã văng tục. Đến câu thứ ba, nó chửi liền. Nó xói móc đến ông tam đại tứ đại ông Hạ, để bắt ăn những thứ nhơ bẩn, mà chính nó chưa dám ăn bao giờ.
Rồi cuối cùng nó nhảy phắt lên bàn thờ. Vì là đàn bà còn chút e lệ, nó không trâng tráo như hai Điều, mà tụt quần ngay trước mặt mọi người, để ỉa một bãi. Nhưng nó đến chỗ ỷ thờ. Vợ phó tổng Hạ vừa lạy van nó, vừa giữ áo nó lại. Nhưng nó khỏe hơn, hất mạnh một cái cho bà ta ngã xuống đất. Áo rách. Khăn xổ. Tóc rũ rượi. Nhanh như cắt, nó nhấc cái áo chủ ra, tóm lấy bài vị.
Vợ phó tổng xót xa vì vong hồn bố chồng bị bắt đi cầm tù, bèn cố giữ lại. Nhưng Ĩnh con đã lấy ra một cuộn dây gai nhỏ. Nó quấn dây quanh cái bài vị, thít thật chặt, như thể ta trói người. Vợ phó tổng xông vào nó. Nhưng một tay nó khư khư giữ vật bảo đảm, một tay gỡ người đàn bà ra.
- Lạy bà, bà tha cho cụ em, bà làm phúc. Ai chả có cha có mẹ? Bà đừng làm thế mà tủi vong linh cụ em.
- Tủi à? Sợ tủi à?
Ĩnh con giơ cao bài vị lên, cầm cái xe điếu, vút vào đen đét, và nói:
- Muốn khỏi tủi thì dạy con cháu trả nợ quan hàn đi nhé!
Người đàn bà lăn xả vào con nặc nô. Nhưng con mẹ dầu đã đặt tấm gỗ xuống chiếu, lấy đít dằn lên trên hai ba lần, và đánh nhịp bằng những tiếng xỉ vả:
- Nhục! Nhục! Nhục!
Người khốn nạn không chịu nổi nữa. Vừa khóc kêu van, bà ta vừa túm lấy tóc con nặc nô, giật cho nó ngã xuống. Ĩnh con lặng đi. Nhưng nó không rời tấm bài vị. Nó giắt cái vật thiêng liêng này vào cạp quần, xoắn hai ba lần cho chắc chắn, rồi bới tóc ngược lên, nó xắn hai tay áo. Hai người giằng co nhau.
Giữa lúc nó sắp giở thêm một vài cử chỉ đểu cáng, và nói thêm một vài tiếng thô tục hơn nữa của nghề nhà thổ, thì phó tổng Hạ về đến nhà.
 
Chú thích:
90)
91)
92)
93)

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 11:55:47 bởi Thanh Vân>
Tập IV
 
I
VẤN ĐỀ ĐỒN ĐIỀN  
 
Thừa chăm chăm nhìn vào cuốn sổ tay, gãi đầu gãi tai, vẻ bực tức, nói với Ma-ri:
- Quái, mình cũng làm đúng như bọn họ, sao nó không nổ nhỉ!
Ma-ri hỏi:
- Hay không đúng phân lạng từng thứ thuốc?
Thừa lắc đầu:
- Không phải. Bom của họ ít ra cũng nổ ra được một tiếng, bom của mình ném mạnh đến đâu, nó cũng trơ thổ địa như thằng câm, mới tức chứ!
Ma-ri thở dài:
- Hay là… Thôi ông ạ. Phiền lắm!
Thừa ngước mắt lên nhìn Ma-ri:
- Nản chí à? Làm việc mà không kiên tâm, có bao giờ thành công?
Ma-ri cười:
- Tại tôi thấy ông hì hục, thử thách mãi mà chẳng ăn thua gì.
Rồi hắn nhắc lại câu vừa nói:
- Hay là… Thôi, ông ạ. Phiền lắm. Đừng làm nữa. Không khéo lại lòi đuôi như hai lần trước thôi.
Thừa ngồi ỏe cái ghế ra đằng sau:
- Sao lại lòi đuôi? Tại mình chưa lịch duyệt. Lần thằng Hoài Tân, mình không có bằng chứng, cố nhiên là không ăn thua. Lần thằng Xi, mình chỉ có cái cờ, không đủ làm bằng chứng. Nhưng lần này, mình có hẳn bom, bom làm đúng như kiểu của Việt Nam Quốc dân đảng thì bố chúng nó cũng không kêu oan nổi.
- Nhưng tôi sợ lắm. Cứ vu oan giá họa cho người ta là hội kín, thất đức đấy, ông ạ.
Thừa bĩu môi:
- Thật là đàn bà! Đã định lao vào công danh, thì cứ mạnh dạn mà lao. Ngón nào có lợi cứ phải lợi dụng mà tiến.
- Thế ngộ…
- Thế ngộ sở Mật thám khám phá ra mưu mô của mình phải không?
Thừa lại bĩu môi:
- Bà tin là nhà nước sáng suốt à? Nếu nhà nước sáng suốt, đã chẳng có ai bắt bớ, tù đày oan. Nếu nhà nước sáng suốt, tôi với bà chẳng còn ngồi đây để hưởng phú quý. Bà thử ngẫm kỹ lại xem, hay tôi cũng vu oan giá họa cho nhà nước?
Đay được bốn tiếng này, Thừa nhìn Ma-ri, hất hàm hai ba lượt.
Ma-ri đáp:
- Nhưng mà, ông ạ, dù nhà nước không sáng suốt, thì đời cũng có mắt. Nếu ông bảo tôi ngẫm kỹ, thì tôi phải thấy như thế này: Vì từ trước đến giờ ông làm việc gì cũng nóng bốc to ngay, nên ông phải dùng lắm thủ đoạn. Cho nên không việc nào bền, cứ luôn luôn lên voi lại xuống chó. Ông mở hiệu thuốc, đương phát tài đùng đùng, thì bị kiện, phải đóng cửa. Ông mở phòng xem bệnh, khách đương đến tấp nập, thì con trời đánh nó dẫn xác vào. Ông làm báo để đào mỏ, thì tòa báo bị phá, và con Lễ chết non. Ông buôn thuốc phiện lậu, đương hót của thiên hạ dễ như bỡn, thì công ty vỡ lở. Ông xoay sang công danh, vu cáo công ty là hội kín, nhưng thằng cu Hoài được tha ngay. Ông dùng cờ để đổ cho bọn khách hàng là Việt Nam Quốc dân đảng tụ họp, thì không những bị cụ sứ mắng, mà còn mất hết tiền. Thế không là đời có mắt, chẳng dung thứ cho người làm bậy là gì?
Thừa cúi rạp đầu, giọng chế giễu:
- Tôi xin kính cẩn chào cái đạo đức của bà!
Ma-ri vẫn nghiêm:
- Tôi là đàn bà, ông cho là mê tín. Nhưng nhìn qua đời ông mà tôi thấy thế, nhất định là không phải tôi tin nhảm. Thất đức thật đấy, ông ạ.
Thừa tặc lưỡi, nhại lại hai tiếng của Ma-ri:
- Thất đức! Sợ thất đức, thì cụ Hoàng Cao Khải chả làm đến quận công, mà cụ khâm sai Lê Hoan suốt đời chỉ là anh nho quèn! Phải nhớ rằng nước mình mất. Mình có muốn ngóc đầu ngóc cổ dậy, tất phải nhờ bàn tay của người Tây nhắc giúp lên cho. Thế thì mình phải lập công với người Tây. Lập công với người Tây để người ta nhắc cho mình ngóc đầu ngóc cổ dậy, mở mày mở mặt được với đời, mà gọi là thất đức, thì tôi cũng lạ cho cái đạo đức của bà!
Ma-ri cãi:
- Nhưng người ta lập công thật, ông lập công giả.
Thừa im lặng. Ma-ri tiếp:
- Vả lại lập công bằng cách nào, chứ bằng cách chém giết, tù đày người vô tội, tôi vẫn cho là thế nào ấy. Nó không bền đâu ông ạ. Mình nên nghĩ đến năm đứa trẻ nhà mình.
Thừa cau mặt:
- Sao lại không nghĩ? Muốn trở nên giàu sang, tôi phải khó nhọc. Nhưng được hưởng sung sướng, là bà với chúng nó, chứ là ai?
Ma-ri lắc đầu:
- Đành vậy. Nhưng tôi cứ ngẫm thế này. Cụ Hoàng Cao Khải có công dẹp giặc, nên được làm đến quận công, kinh lược Bắc Kỳ. Ba ông con trai cụ lại được nhà nước đền ơn, cho hai ông làm tổng đốc, là ông Hoàng Mạnh Trí, tổng đốc Nam Định, và ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, thăng đến võ hiển.
Thừa hất hàm, bẻ:
- Thế còn ông cử Sen Hồ được đền ơn gì?
- À, ông này không thèm ra làm quan thôi. Bởi vì bố giàu có quyền hành thế, anh giàu có quyền hành thế, ông Hoàng Gia Luận cần gì phải làm quan cho mệt? Vậy cứ đứng ngoài mà nhìn, thấy cái gia đình ấy, phú cũng thừa rồi, quý cũng thừa rồi, tưởng sung sướng biết bao nhiêu. Nhưng mà, có một cái không sung sướng là trong nhà, bố con, anh em, chú cháu, lúc nào cũng lục đục, kiện cáo nhau, tranh nhà, tranh ruộng nhau. Mà vô phúc nhất là họ Hoàng lại tuyệt tự.
Thừa lại bẻ:
- Tuyệt tự?
- Phải. Ông Hoàng Mạnh Trí có hai con trai, là Hoàng Gia Đức và Hoàng Gia Mô. Hai tay này thì nắm chắc cái tổng đốc sau này rồi. Nhưng hai người đều không có con trai. Lão Hoàng Gia Mô còn trẻ, còn nhiều hy vọng về con cái, thì đùng một cái, bị Việt Nam Quốc dân đảng giết ở huyện Vĩnh Bảo. Ông Hoàng Trọng Phu có một con trai là Hoàng Ứng Thanh, ai cũng đoán tay này sẽ làm to hơn bố. Nhưng hắn sang Tây học, thì chết ở bên Tây. Ông Võ Hiển có đứa con trai riêng với con vú em, vẫn nhờ người sốp-phơ tên là Cửu Khắc, nuôi kín. Khi cậu ấm Thanh chết, ông ta mới đưa nó về nuôi trong dinh. Nhưng ít lâu, thằng bé cũng lăn ra chết nốt. Vì vậy, có một dạo, thêm cả những việc buồn khác trong gia đình, ông ta phát điên, phải xin nghỉ mấy tháng, ông quên rồi à?
Thừa gật gù:
- Thế ông cử Sen Hồ chả có hai con trai học bên Tây là gì?
- Nhưng một thằng đứng chơi ở cái nhà đương xây, chẳng may bị một tảng đá ở trên cao rơi xuống đầu vỡ sọ, chết tươi. Còn một thằng đương ho lao, đâu đến thời kỳ thứ ba rồi.
Thừa thở dài, Ma-ri tiếp:
- Cho nên tôi thấy ông làm những việc ngày nọ, tôi cho là thất đức, cứ nghĩ đến năm đứa con.
Thừa yên lặng một lát, rồi lắc đầu:
- Vẫn là tin nhảm. Gia đình cụ khâm có như gia đình cụ quận đâu?
Ma-ri tặc lưỡi:
- Cũng chả ra gì. Nhà nước cũng đền ơn cụ khâm, cho hai ông con lớn ra làm quan, nhưng hai ông ấy lẩn thẩn thế nào ấy, phải về cả rồi. Tôi còn nghe nói gia đình này loạn luân, chú ngủ với cháu, đến nỗi cả bố ngủ với con gái, làm nó đẻ đến hai lần.
Thừa gấp cuốn sổ tay, đút vào túi, có vẻ chán nản, cười khinh:
- Việc nhà các cụ ấy xảy ra như thế nào, là do con cháu các cụ ấy làm ra, chứ lại đổ cho là vì tội các cụ ấy, thì thật oan cho những người tốt với gia đình. Chẳng hạn, gia đình nhà ta như thế này, thì bà bảo do ảnh hưởng của ai?
Ma-ri vênh váo:
- Mình được giàu có vẻ vang, là do nhờ ông cụ đẻ ra tôi tu nhân tích đức chứ do ai?
Bỗng Ma-ri thở dài:
- Nhưng đến đời mình… Buồn quá!… Tôi nghĩ đến tương lai của năm đứa mà lo. Chúng nó có vừa đâu. Từ hôm vỡ lở cái việc thằng sở khanh nó làm hại con bé, tôi cứ giật mình.
Một lát, Ma-ri an ủi Thừa:
- Thôi, ông được gọi là ông hàn, đã sang chán rồi. Đừng bay nhảy nữa.
Thừa lắc đầu:
- Chức quan này là chức quan của bà cho tôi. Nhưng còn chức quan của nhà nước bổ, và chức quan do dân bầu. Thế nào tôi cũng không chịu khoanh tay. Có điều là bà nói lập công thật thì tốt, lập công giả thì không có kết quả, tôi cho thế là đúng.
Ma-ri dịu dàng:
- Phải, lập công giả cũng như đi buôn lừa khách, dù có lắm của cũng không bền. Ông đã lên xuống trong đời ông nhiều lần, ông nghiệm rồi. Nếu ông cứ làm ăn chân chỉ, thì ông phải giàu bằng ông ký Bưởi.
Thừa bĩu môi, nhạo:
- Ông ký Bưởi làm ăn chân chỉ! Mô Phật! Tôi chỉ nghĩ như thế này. Là định làm việc gì, thì cứ xông vào mà làm liều đi. Ở đời, không liều không làm nên to tát được, vả lại, nhà nước có công minh đâu mà mình sợ? Nhưng chỉ có là mình không nên quá liều, vừa lừa nhà nước bằng việc nọ, đã lừa ngay nhà nước bằng việc kia, thì lộ mưu gian, mất tín nhiệm. Thế thôi. Cho nên tôi cũng nghĩ rằng phải ngừng giở ngón, tạm đình việc lập công danh lại một dạo, chờ cho những việc trước nguôi đi, rồi hãy hay.
Ma-ri biểu đồng tình:
- Phải, vì bị hai việc trước, ông đã định làm ngay việc này, để vu oan cho người lương thiện, thì không tiện. Tôi nhớ là ngày trước, lão Từ Bộ Thực, tri huyện Tam Dương, cũng làm bom giả để bỏ vào nhà dân, hòng thăng quan, chả bị lão công sứ Bút-sê nó mắng cho mất mặt đi đấy à? Cho nên ông hãy để tâm trí vào cái đồn điền này, làm sao cho chúng nó nộp đủ thóc, vào mấy cái nhà ở Hà Nội, làm sao thu được đều tiền thuê. Không đủ tiêu, thì ta sẻn một ít, cũng không sao.
Thừa bật cười:
- Mấy chục năm rồi, hôm nay tôi mới được nghe bà nói một câu đáng bái phục! Sắp đổi đời chắc!
Cả hai người cùng cười to.
 
* * *
Ma-ri về bên phòng ngủ.
Thừa ở lại, cũng đặt mình trên giường.
Từ hôm Ma-ri giở thói tai ngược, treo ảnh bà mẹ Mão ở đầu giường, thì Thừa lấy nê là phải giữ bí mật cái âm mưu bom giả, hắn làm việc một mình trong buồng của khách đến tận khuya, rồi ngủ luôn ở đó. Hắn không muốn cái hình ảnh tiều tụy của người đàn bà bị đày đọa này luôn luôn nhắc nhở tội ác của hắn.
Hắn muốn tâm trí được an nhàn để lo tính việc cho hắn.
Bây giờ hắn nằm, cẳng duỗi thẳng, tay vắt trên trán, mắt nhìn lên trần, chốc chốc lại hút thuốc lá, rồi thở dài.
Hắn thấy chưa bao giờ công việc của hắn lại lúng túng như ít lâu nay. Đường làm giàu bằng thuốc phiện, thì công ty giải tán, hắn xoay sang lập công, lập công thất bại, hắn lại làm giàu bằng cách đầu cơ thóc đến chỗ bị lụt. Thóc bị bắt, hắn lại mưu mô làm bom giả để lập công. Nhưng làm bom không thành, thì bây giờ hắn bị Ma-ri ngăn cản. Hình như Ma-ri muốn hắn suốt đời cam chịu nhận chức ông hàn, để buộc chân hắn ở Cẩu Rồng, trông nom ruộng nương cho Ma-ri. Vì Ma-ri không thể quản lý lấy được đồn điền.
Vụ này, do ảnh hưởng của trận lụt, thóc thu tệ hơn vụ trước. Ấy là vụ trước đã kém vụ trước nữa rồi đấy.
Vụ trước nữa, điền tốt gánh thóc đến. Họ gãi đầu gãi tai, phỉnh bà lớn là từ thiện, hay thương dân nghèo. Ma-ri phổng mũi lên, cho mỗi người chịu lại một vài thùng.
Thấy vậy, Thừa đã bảo:
- Này! Còn ưa phỉnh, còn chết!
Y như rằng, đến vụ trước, điền tốt lại nộp không đủ thóc. Họ lại phỉnh bà lớn là từ thiên, còn kè nhè, viện thêm lý do là vì đại hạn kéo dài, lúa má hỏng gần hết.
Thừa đã dè chừng:
- Này! Đừng có tin họ, không thẳng tay mà cứ ỷ vào chín cái nhà của tôi ở Hà Nội cho thuê, thì không đủ tiêu đâu!
Đến vụ này, điền tốt không nói rằng chịu, mà xin hẳn số thóc nộp thiếu. “Cũng như bà lớn phát chẩn ngày vỡ đường”. Họ giao hẹn dứt khoát thế.
Ma-ri không biết làm thế nào, đành cắn răng nhịn họ. Nhưng Thừa bực lắm.
Thừa đến chơi các chủ điền khác, hỏi xem ở đó tình hình ra sao. Hắn thấy xa thì như đồn điền ông Đỗ Đình Đạo, đồn điền cụ tuần Lê, đồn điền quan bố Từ, đồn điền ông tham Duận, và gần thì ngay bên Cẩu Rồng giáo, tức là nửa đồn điền của hàn Xương mà Ma-ri nhường cho nhà thờ, ở đâu điền tốt cũng nộp răm rắp, thiếu một đấu không được.
Thừa cho là bọn tá điền bên mình, một là họ bướng, hai là họ trây, ba là họ láu, vì Ma-ri dễ dãi một lần, thì được đằng chân, họ lân đằng đầu. Hắn tự xét mình, cũng thấy là ngay từ những ngày đầu, hắn thích ăn to trong công-ty Mác-tanh, nên không tha thiết đến ruộng nương, rồi khi có xừ Tuynh làm quản lý, bao công việc đồn điền, Ma-ri phó thác cả cho xừ, hắn không để ý gì, nên bây giờ hắn bỡ ngỡ, và bị nông dân lòe bịp. Chứ chẳng phải vì lụt gì cả.
Ma-ri cũng nhận thấy nếu cứ theo cái đà thu hoạch này, thì là xuống dốc. Năm đứa trẻ ngày một lớn, ăn tiêu ngày một nhiều hơn. Không thể bám mãi vào ngót năm chục mẫu ruộng với chín cái nhà mà sống được. Thừa ngồi phắt dậy. Hắn đã có một ý định gì cương quyết đây. Hắn lại hút thuốc lá, rồi đi đi lại lại, bách bộ ở trong buồng.
Thừa nhớ lại việc ông Lăng mách, là việc buôn tàu thủy.
Thừa suy tính. Quái, không biết thuyết nào nói đúng cái lý do mà ông Bạch Thái Bưởi bỏ cái ngai vàng làm vua sông?
Nếu bảo vì ông ta tin số tử vi, mà số tử vi là thật, thì số Thừa đúng là số giàu. Không những cụ Tú Phúc Lâm ngày trước xem số hắn đã nói thế, mà cả hai ông thầy tướng người Tàu, là Quỷ Cốc Tử và Thần Cốc Tử, và một ông thầy tướng người Nam, là ông Mét Khánh Sơn [94], dùng khoa học Thái Tây để phân tách, cũng đều phục hắn là có tướng không những giàu mà còn sang. Thế thì buôn tàu, hắn không sợ phá sản.
Thừa lấy làm lạ, không hiểu sao ông ký Bưởi có óc kinh doanh lớn lại sợ không địch nổi với ô-tô-buýt. Ô-tô-buýt chạy trên bộ. Tàu thủy chạy dưới sông. Ô-tô-buýt có đường riêng của nó. Tàu thủy cũng có đường riêng của nó. Hành khách bên đường cái, có ô-tô-buýt, thì đi ô-tô-buýt cũng như hành khách bên bờ sông, có tàu thủy thì đi tàu thủy, chứ tàu thủy cướp sao được khách trên đường cái, mà ô-tô-buýt cướp sao được khách trên bờ sông?
Lý luận như vậy, Thừa quyết định buôn tàu thủy. Nhưng hắn thấy ngay cái vướng mắc. Hắn lại lên giường, nằm vắt tay lên trán.
Nếu buôn tàu thủy, thì Ma-ri có cho hắn bỏ cái đồn điền này không? Ai trông nom cho Ma-ri? Thà có một người quản lý tốt, có thể giao hẳn cho người ấy. Thật ra, hắn cũng biết một mình Ma-ri không thể đối phó nổi với những khó khăn mới nảy ra ít lâu nay trong nghề làm chủ đồn điền.
Thừa chợt nhớ đến xừ Tuynh. Hắn thở dài. Hắn trót đuổi xừ rồi, không lẽ bây giờ làm thế nào. Có xừ làm quản lý, hắn rất rộng cẳng. Dù thiên tai mấy, thì sau mỗi vụ gặt, xừ thu chẳng sứt một hột thóc. Mà thóc đẹp, mẩy, phơi khô, quạt sạch. Tá điền nào mới hở ra một tí là định dây dưa, ấy là xừ trị liền. Xừ đánh, hoặc sục vào tận nhà, bắt kỳ được đồ đạc trước. Lạy van, kêu khóc, xừ bỏ ngoài tai hết. Giá mà xừ hẳn hoi như người ta, chơi đâu thì chơi, chọc đâu thì chọc, đừng có chọc ngay vào mắt chủ, có phải bây giờ xừ được nhờ bao nhiêu không! Bây giờ tìm được một người có nhiều đức tính làm quản lý, như xừ Tuynh, thật là khó.
Thừa hối hận việc đuổi xừ Tuynh là hắn làm quá. Thật ra thì tội của xừ không đáng trừng phạt nặng như thế. Hắn không ghen với xừ đâu. Nếu ghen, thì hắn phải ghen suốt đời với nhiều người, chẳng cứ gì một lần với xừ. Và hắn có yêu Ma-ri nữa đâu mà ghen. Chẳng qua thấy xừ ôm Ma-ri ngay trên xe, thì hắn tự ái, và lúc ấy, hắn đương nghĩ bực cái việc ly dị với mẹ Mão không xong, thì giận cá chém thớt, hắn nổi nóng bừng bừng. Mà lúc nóng thì hết khôn.
Bây giờ hắn cần người quản lý cái đồn điền này quá. Không có quản lý, hắn không thể dứt ra để đi buôn tàu, kiếm lãi mà ăn tiêu phong lưu như mấy năm trước được.
Thừa sực nghĩ đến anh Xi.
Hay là gọi anh Xi, giao quách ruộng nương cho anh trông nom hộ?
Tuy anh Xi không cương quyết được bằng xừ Tuynh, nhưng anh là người cũ. Hắn biết tính anh, mà anh cũng thuộc tính hắn. Anh chỉ phải cái khái. Nhưng là khái vặt thôi, chứ khốn nạn, có khái to tát gì cho cam! Anh Xi không quen nghe nói nặng. Thì hắn ngọt ngào. Có khó gì? Lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau. Câu phương ngôn dạy thế, theo đúng thì bao giờ cũng có lợi.
Anh Xi có một điểm quý nhất, là đối với đồng tiền phân bạc, anh rất phân minh. Ngày trước, hắn đã giao hàng trăm cho anh, mà chẳng suy suyển một nửa đồng trinh nào. Không rõ anh Xi có muốn làm quản lý hay không? Làm quản lý thì nhàn, không phải quanh năm đánh vật với trời với đất mới có cái ăn. Làm quản lý thì vợ chồng con cái được ở nhà ngói. Và đến vụ này, anh bắt đầu phải nộp thóc đây. Thì làm quản lý, anh không những không phải nộp thóc, còn được thu thóc. Mà thu thóc, thì tha hồ mà ra oai. Vô khối người sợ. Chẳng phải sợ ai.
Nhưng Thừa cho là chưa nên bàn với Ma-ri về việc dùng anh Xi vội. Phải đợi một vài lần gặp khó khăn, thì hắn nói, Ma-ri mới chịu. Hắn biết Ma-ri ghét anh Xi lắm. Mà anh Xi thì khinh Ma-ri là Tây lai, lại thù Ma-ri là đồ đi cướp chồng người. Nhưng Thừa cho là sự hằn học giữa hai người không có gì là khó giải quyết. Hắn sẽ giảng cho Ma-ri hiểu là có dong kẻ dưới mới là người trên. Mình tử tế trước, đạt lượng trước, thì tự khắc người ta phục mình, vả mượn ai làm việc gì, chỉ nên nhìn ở việc ấy, xem có chạy không. Chứ đi mà xét nét những ý ăn ý ở lặt vặt, rồi sẵn lòng căm giận trước, thì dễ nhìn sai nghĩ lệch về người ta lắm! Có khi người ta làm việc này, nói câu này, thẳng thắn hẳn hoi đấy, nhưng mình cứ nghi ngờ, rồi bẻ ra queo, để hằn học, thì chỉ tổ chuốc lấy cái bực vào mình.
Thừa chắc Ma-ri vốn thông minh, thì dễ hiểu lẽ phải. Vả lại, bất đắc dĩ rồi, không dùng anh Xi thì dùng ai? Hẳn là mấy ngày đầu, mấy tháng đầu, Ma-ri chưa tin anh Xi là tốt đâu. Thừa sẽ lựa từng việc, lụa từng cử chỉ của anh, nói vào cho anh, làm cho Ma-ri chuyển dần. Rồi sau hết, thế nào Ma-ri cũng nhìn rõ giá trị của anh. Nếu anh Xi làm quản lý, mà Ma-ri cứ nan hóa kiểu nữ nhi thường tình, thì Thừa sẽ dồn Ma-ri vào chỗ bí, hỏi rằng một là chịu đụng một tí để được thu đủ thóc, hai là không mượn anh để tình trạng thua thiệt kéo dài, Ma-ri chọn đàng nào? Nếu Ma-ri cứ vẫn khăng khăng giữ thành kiến với anh Xi, Thừa sẽ mặc, Ma-ri thấy ai hơn anh Xi thì đi tìm về mà dùng. Hay muốn bán đồn điền đi, thì tùy.
Điều đình với Ma-ri xong, Thừa sẽ điều đình với anh Xi. Thừa chỉ bảo anh suy nghĩ để so sánh xem làm ruộng nhờ đất của đồn điền hơn, hay làm quản lý cho đồn điền hơn. Còn như cái việc Ma-ri là Tây lai, Ma-ri cướp chồng của mẹ thằng Mão, thì có can dự gì đến anh? Anh thiệt hại cái gì? Hắn chỉ cần tìm lý do, để giảng giải cho anh nghe thủng về hai việc mới đây làm anh đau khổ thôi. Một việc là anh bị bắt oan. Một việc là vợ anh bị Ma-ri đuổi, không đỡ đẻ, làm cho con anh chết và vợ anh ốm. Việc thứ nhất, Thừa đã thanh minh nhiều lần với anh rằng vì tình cờ mà anh bị bắt oan với những người khác, chứ không phải vì hắn bố trí cho họ đến nhà anh để nhà nước bắt cả anh. Chứng cớ là không phải làm chính trị, chỉ là bị bắt lầm, cho nên cả anh lẫn những người buôn thuốc phiện đều được tha ngay, về điều này, có lẽ anh đã thấy xuôi tai rồi. Còn việc thứ hai, Thừa sẽ nói cho anh biết rằng, phong tục nước ta như thế, sinh dữ tử lành, ai dám cho người ngoài vào đẻ ở nhà mình, để phải bại hoại. Thế thì Ma-ri kiêng là phải. Vào địa vị anh, nếu ai xin đến đẻ ở nhà anh, anh có cho vào không? Ừ, ví thử anh là đàn ông, không tin nhảm, thì hãy hỏi vợ anh có giúp người ta hay cũng đuổi quầy quầy như Ma-ri đã xử với vợ anh? Vả lại, có điều này là điều chính, người ngoài không biết, nhưng anh phải rõ hơn người ngoài. Ngày trước, Ma-ri được gọi là cô đốc, thì anh có thấy Ma-ri biết thuốc men, chữa chạy cho ai và đỡ đẻ bao giờ không? Vậy sở dĩ Ma-ri không giúp vợ anh, là vì không biết nghề chứ không phải vì độc bụng. Do người ngoài lầm, nên Ma-ri bị mang oan tiếng ác với chị. Còn như con anh chết, vợ anh ốm, là lỗi ở cô đỡ bỏ nhà thương đi chơi đêm, chứ tội đâu ở Ma-ri, mà Ma-ri cũng bị oán?
Anh Xi là người biết phải trái, nghe phân trần như vậy, chắc anh hiểu. Anh hiểu rồi, thì anh phải nói cho vợ anh cùng hiểu, đừng hậm hực nữa. Rồi vợ chồng bảo nhau, thu xếp vào dinh mà ở, làm quản lý, hưởng lấy an nhàn.
Thời buổi kinh tế khủng hoảng rồi làm ăn mỗi ngày một khó khăn thêm, không mỗi chốc kiếm được việc, huống chi là có việc được mời đến, lại không làm. Làm quản lý trong dinh, anh có chỗ thế lực mà nương tựa. Không những anh không phải đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn phải lo nự, lo nộp thuế, lo nộp thóc, mà còn chợt lúc nào nhà nước bắt đi phu, là cả gia đình đói khát lúc bấy giờ. Không những vậy, là bạch đinh, anh còn bị bắt nạt, ức hiếp, mắng chửi, đánh đập. Ai bênh anh? Anh kêu ai? Anh đã từng bị thế, chứ có lạ gì?
Thừa phải gặp anh Xi, nói chuyện kỹ cho anh và nhất là cả cho vợ anh suy hơn tính thiệt. Nghề đàn bà vẫn thiển nghĩ. Dù anh khái mấy, nhưng vợ anh nhất định là tham lam, tất thế nào cũng bắt anh phải bằng lòng.
Nhưng nếu anh Xi vẫn khái vặt, không bằng lòng làm quản lý thì sao? Nghĩ đi, Thừa phải nghĩ lại cho hết lẽ.
Nếu đồn điền này không có người trông nom tốt, mà cứ mỗi vụ thu một kém trước, dần dần đến không được hột thóc nào, thì thà giũ nó trước đi thì là hơn. Ôm rơm làm gì cho thêm rặm bụng?
Nhưng đồn điền này là của Ma-ri. Bán hay giữ là quyền của Ma-ri, Thừa không quyết định được.
Thừa xem ý Ma-ri, thì biết rằng Ma-ri muốn giữ đồn điền để sau này cho riêng con Rô-da-lin. Vốn Ma-ri biết rằng Thừa không coi con bé ấy như con đẻ. Thừa chỉ nhượng bộ, nhận là bố của đứa con anh cha đạo trong khai sinh, cho Ma-ri đỡ tủi là có con đẻ hoang thôi. Một đôi khi, vợ chồng trò chuyện với nhau về tương lai, chia gia tài cho những đứa nào, cái gì, thì Ma-ri đã xí trước cái đồn điền Cẩu Rồng cho con Rô-da-lin. Vậy của riêng của bố, thì con được hưởng là đúng, vả lại, hẳn Ma-ri đoán rằng tất bốn đứa kia, mỗi đứa được một nhà và một biệt thự. Còn một cái lẻ, Thừa và Ma-ri không chia cho ai, để dành làm của dưỡng lão. Chứ con Rô-da-lin chẳng hòng được tơ hào. Cho nên Ma-ri càng thương con bé, nhất là từ ngày vỡ ra chuyện nó dại dột với xừ Tuynh.
Vậy thì tất là Ma-ri muốn giữ đồn điền Cẩu Rồng. Cho nên phải cần có anh Xi làm quản lý. Nếu không, hắn không thể dứt khoát đi buôn tàu được. Mà còn phải đối phó với điền tốt, họ nghe cộng sản xui dại nữa chứ!
Song, nếu bán đồn điền thì bán cho ai? Thừa phải tìm người mua cho Ma-ri, thì bảo bán, Ma-ri mới dễ xiêu lòng. Thừa lạ gì xưa nay Ma-ri chẳng chịu tính toán, chạy vạy, mà chỉ muốn ăn sẵn, ỷ lại vào chồng.
Vậy Thừa phải gọi người mua đồn điền cho Ma-ri. Ai hứng cho cái nạn này?
Thừa thở dài. Hai mắt hắn lại tráo trưng, nhìn lên trần.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 11:58:55 bởi Thanh Vân>
II
XUY-DAN  
 
Muốn gây khó khăn, Thừa định để mặc Ma-ri một mình ở Cẩu Rồng trong ít ngày. Hắn nói:
- Tôi cần đi chơi đó đây dăm bữa nửa tháng để nghỉ ngơi cho đầu óc đỡ căng thẳng. Có minh mẫn thì tính toán công việc mới trôi chảy được.
Ma-ri ngần ngại:
- Muốn nghỉ ngơi thì ở nhà mà nghỉ ngơi. Chim gà vô số đấy, tha hồ ông ăn cho khỏe người. Nếu ông muốn thuốc men nữa, thì bảo ông Pi-ca xem và cho đơn.
- Nhưng ở nhà thấy công việc bề bộn, không lẽ làm ngơ.
- Ông định đi đâu?
- Hoặc lên Tam Đảo, hoặc ra Đồ Sơn. Nhưng tôi muốn nghỉ ở Đồ Sơn để gần Hải Phòng, nếu có thì giờ thì xem mấy chiếc tàu của hãng Phúc Lai Thành nó thế nào.
Ma-ri cau mặt:
- Thôi, không mua tàu nữa. Ông bỏ chết tôi ở đây à?
- Rẻ thì mua, đắt thì thôi. Tôi đã định gì đâu?
Muốn ngăn chồng, Ma-ri nói:
- Nếu ông lên Tam Đảo hay ra Đồ Sơn, thì tôi đi với.
Thừa dọa:
- Bà đừng đi. Bởi vì ra Hải Phòng, thế nào tôi cũng tạt qua về làng kia mà?
Bất đồ câu nói vô tình làm chạm vào máu ghen của Ma-ri:
- À, ông định bỏ mẹ con tôi, để về tư túi với con trời đánh, thì ông bảo.
Thừa cười:
- Định tư túi mà nói ra miệng?
Ma-ri như được đà:
- Ông thấy nó mù, nó què thì xót xa phỏng? Ông tưởng tôi ngu mà không hiểu ý ông từ hôm ông thấy tôi treo ảnh nó ở bên buồng à? Ông đi đâu tôi cũng theo! Nhất định không rời ông một bước!
Thừa bực mình:
- Thì cứ theo. Ai bảo sao!
- Tôi nói thật với ông, nếu ông về quê nhà ông, thì tôi tự tử ngay bây giờ cho ông coi!
Thừa cáu kỉnh:
- Tại làm sao đương chuyện trò ôn tồn, lại sinh sự ngay được!
- Sinh sự vì sự sinh! Tôi chán cái mã ông lắm rồi.
Thừa cười khinh, không đáp.
Hắn sửa soạn đi Hà Nội.
Ma-ri cũng sửa soạn hành lý để theo. Thừa lên ô tô.
Ma-ri cũng lên, ngồi bên cạnh.
Suốt dọc đường hơn năm mươi cây số, không ai nói với ai một lời.
Khi xe về tới nhà ở Hà Nội, bỗng hai người trông thấy thằng Mão đứng ở hè.
Thế là Ma-ri được thể. Hắn xuống đất, hầm hầm đến trước mặt Mão. Nhưng Mão không tỏ vẻ sợ hãi, nó nhổ toẹt một bãi nước bọt, rồi quay đi.
Thừa biết tình thế gay go, sợ cuống lên.
- Thằng kia, mày đứng rình gì ở đây?
Thấy Ma-ri hỏi, Mão quay lại, đủng đỉnh đáp:
- Đường của nhà nước, tôi đứng chơi!
- Nhưng nhà này là nhà tao, mày rình ăn cắp phỏng?
- Nhà của bố tôi, tôi có quyền đứng.
Thừa lên tiếng:
- Mão! Mão! Không được bướng.
Ma-ri quay lại Thừa, đay:
- Đấy, con ông thì ông dạy!
Bất đồ Mão xông vào Ma-ri. Ma-ri sợ quá, chạy tọt vào nhà, hô hoán:
- Pôn ơi! Giăng ơi! Nó đánh chết ma-măng đây này!
Thừa cau mặt nhìn Mão:
- Đến đây làm gì? Cút ngay! Đồ mất dạy!
Mão vênh váo, đáp:
- Tôi đến để chất vấn ông là tôi có phải con ông không?
Thừa không đáp, đi tuột vào nhà. Hắn còn nghe thấy câu của Mão nói theo:
- Ông không có quyền để tôi cầu vơ cầu vất!
Cửa khóa lại, Thừa đi hẳn vào nhà trong.
Cố nhiên hắn lại bị Ma-ri đay nghiến một trận hàng giờ đồng hồ. Và khi thấy Thừa cất ô-tô vào nhà xe, Ma-ri không cho Thừa đi đâu, bèn khóa tách cửa nhà lại, giấu biệt thìa đi.
Thừa tức lắm.
Song, Ma-ri không buộc nổi chân Thừa. Không có ô-tô thì Thừa đi xe lửa. Không dám về quê thì hắn phải trêu Ma-ri cho hả giận. Hắn định lên đồn điền. Hắn cần sống một mình cho thảnh thơi.
Trưa hôm ấy, ăn cơm xong, chờ cho Ma-ri ngủ, Thừa khẽ trở dậy, thuê xe ra ga. Hắn lấy vé hạng hai, rồi muốn tránh gặp người quen, hắn ra ngay sân, lên ngồi ở trong toa. Hắn mở rộng tờ báo trước mặt để đọc. Hắn không để ý đến ai.
Xe lửa chạy, qua hết cầu sông Cái, đến Gia Lâm, thì Thừa vừa đọc hết tờ báo.
Không còn việc gì để làm, hắn thừ người ra để nghĩ. Bỗng thấy cửa ra vào mở toang, người ở toa hạng tư có thể nhìn thông thống thấy hắn, hắn đứng dậy, định đóng lại. Sực hắn giật nảy mình, vội vàng né người cho khuất. Hắn trông thấy thằng Mão.
Mão mặc quần tây và áo sơ-mi trần. Nó ngồi bên cạnh một người đàn ông đứng tuổi, cũng mặc tây khá sang trọng và đứng đắn. Quần áo hàng đũi, sơ-mi lụa, ca-vát đỏ. Trước người ấy, là chiếc va-li da lớn. Trong toa này, trừ Mão và người đàn ông đứng tuổi, còn thì toàn những người quần nâu áo vải, ngồi sau những chồng bu gà, rọ lợn, cùng những đống hành lý cồng kềnh, xếp ngổn ngang.
Thấy toa hạng ba luôn luôn có người ra vào, cửa đóng rồi lại mở, mở rồi lại đóng, Thừa sợ thằng Mão trông thấy hắn, nên hắn ngồi quay lưng đi. Chỗ ấy cạnh kẽ cửa, hắn có thể nhìn thẳng đến thằng Mão.
Không rõ thằng Mão đi đâu với người đứng tuổi hay chỉ là bạn đồng hành, mới quen người ấy. Thừa thấy hai người nói chuyện với nhau. Thỉnh thoảng Thừa nhìn xuống, thấy lúc thì Mão mời người ấy hút thuốc lá, lúc thì mua nước chanh uống một mình. Nó đi đâu? Hay nó biết Thừa về Cẩu Rồng mà theo lên để hành hạ, vòi tiền bố? Nếu lên Cẩu Rồng, thì nó đi một mình, chứ sao lại đi hai người? Nó làm nghề gì mà ăn mặc tiêu pha có vẻ đàng hoàng như thế kia? Thừa nghĩ đến hai mẩu chuyện kể lại nỗi cơ cục của người vợ cũ viết trong cuốn Dân quê S.O.S., và hình ảnh tiều tụy của tấm thân gầy còm đói khát, mắt che bằng miếng the thâm, miệng méo xệch để kêu khóc và tay ôm cái chân không biết bị đánh hay bị chen ngã mà què. Vậy thì sao mẹ như thế, mà con lại như thế này?
Thừa lé mắt qua kẽ cửa, nhìn thằng Mão. Nó vẫn nói chuyện với người ngồi bên cạnh. Tàu chạy nhanh. Cửa toa mở rộng. Gió thốc vào món tóc xù trên đầu nó. Nhưng hình như nó còn muốn mát hơn. Nó thò cổ ra ngoài.
Bỗng một tay thằng Mão ôm chầm lấy mắt và dụi dụi. Nó bị một bụi than vào mắt rồi. Nó dụi, nó dụi mãi. Chắc là hạt than còn vướng ở trong mắt, nó nhờ người đàn ông đứng tuổi giúp nó.
Lúc ấy, tấm lòng của người cha làm Thừa xót xa. Hắn thương hại thằng Mão. Hắn chú ý nhìn nó.
Người đứng tuổi lấy hai tay vành hai mí mắt của thằng Mão. Hai mắt ông ta gí gần vào con mắt bị thương của nó, để tìm xem hạt bụi nằm đâu. Vì hai cánh tay giơ lên cao, nên hai ve áo ông ta ngoác rộng ra. Lúc ấy Thừa nhìn rõ một mắt của thằng Mão dòm vào túi áo trong của ông ta. Khi ông ta hết sức chú ý vào hạt bụi, và phùng mồm thổi mạnh đánh phù vào mắt nó, thì nhanh như cắt, tay nó thò vào túi áo trong của ông ta, và thoắt một cái, nó rút cái ví.
Thấy thằng Mão ăn cắp có mưu mô, Thừa nhủn cả người. Hắn vừa nhục cho hắn, vừa lo cho thằng Mão.
Nhưng người đàn ông không biết là bị mất ví. Còn thằng Mão thì vờ dụi tay lên mắt vài cái, rồi đứng dậy. Nó len những hành lý để ngổn ngang, rồi thong thả ra phía đầu toa. Lúc ấy tàu chạy vẫn mau.
Thình lình, người đàn ông đập tay vào túi áo, biết là mình mất ví. Ông ta hớt hải, kêu rầm lên, trỏ vào thằng Mão:
- Các ông bắt thằng ăn cắp hộ tôi! Nó lấy của tôi cái ví.
Cả toa lộn xộn, thì lại nhanh như cắt, Mão xuống bậc, và lăng mình, nhảy phắt xuống đường.
Thừa quái cổ nhìn nó. Nó không ngã, không loạng choạng. Nó chỉ chạy theo đà tàu đương mở hết tốc lực có vài bước, rồi ung dung ra giữa đường cái, nhìn theo đoàn xe lửa, nhăn răng ra cười, đi như thường.
Hành khách nhìn lại thằng Mão, thấy nó thoát nạn như bỡn, thì lắc đầu. Người mất cắp kể lại cái kế khôn ngoan của kẻ gian.
Thừa không cần nghe. Hắn đã chứng kiến từ đầu đến cuối cái cảnh này rồi. Hắn thở dài, ngồi thừ người, cho đến lúc tàu đến ga Vĩnh Yên.
Về đến nhà, Thừa bỏ bữa cơm chiều.
Hắn nghĩ đến mẹ Mão, đến Ma-ri. hắn nghĩ đến lũ con hắn, từ thằng Mão đến con Ca-mê-li-a. Rồi hắn nghĩ đến hắn và cái gia tài gồm ngót năm chục mẫu đồn điền và chín cái nhà ở Hà Nội. Hắn no bứ đến cổ rồi.
Hắn rền rĩ, vật chân vật tay.
Hôm sau, hắn thấy nhức đầu, rồi hâm hấp sốt.
Buổi trưa, thằng Pôn về Cẩu Rồng. Nó nói với Thừa:
- Ma-măng sai con đi tìm pa-pa.
Rồi nó kể:
- Ma-măng cứ tưởng pa-pa về quê Hải Dương.
Thừa lẩm bẩm một mình:
- Tìm làm gì?
- Tối hôm qua, cụ Lăng đến chơi, nói rằng hãng Phúc Lai Thành mời pa-pa đi Hải Phòng để nói chuyện.
Thừa gắt:
- Pa-pa không đi đâu, không buôn bán gì cả. Mày bảo ma-măng đến trả lời cụ ấy là pa-pa không mua tàu thủy nữa, pa-pa không có tiền!
- Cụ ấy hỏi pa-pa định để lại những cái nhà nào thì bảo cụ ấy, cụ ấy mách mối mua cho.
Thừa thở dài, không đáp.
Hắn nhắm mắt, không muốn nghe thằng Pôn nói gì nữa.
* * *
Lúc tỉnh dậy, Thừa thấy thằng Pôn đã ra ga để kịp chuyến xe lửa xuôi Hà Nội. Hắn đã cất cơn sốt, bèn lấy mô-tô để đi.
Hắn định đêm nay không về nhà với Ma-ri. Hắn không thể chịu đựng mãi những lời xói móc chua cay của con người tai ngược. Hắn phải tìm một không khí khác.
Hắn nghĩ đến ông bạn thân Hoài Tân Tử.
Hắn muốn rủ ông đi chơi, nghe ông nói phiếm. Và nếu bàn việc kinh doanh, hắn hỏi ông có chung vốn để buôn tàu hay không.
Hắn tiếc cho sự nghiệp ông Bạch Thái Bưởi, ông Bưởi thoạt kỳ thủy cũng chỉ làm nghề thầu khoán nhỏ. Hắn thấy người ta nói rằng năm 1909, ông ta mới thuê ba chiếc tàu chở khách của hãng Tây Điếc, hay Tây Cao gì đó, thế mà ngoảnh đi ngoảnh lại, trong có mười năm trời, không hiểu lãi thế nào, ông ta đã mua được lớn nhỏ đến ba mươi chiếc, và một nhà máy, gọi là Máy đen, để đóng tàu và chữa tàu. Hắn còn nghe nói là cái nhà ở Hải Phòng mà ông ấy đặt bàn giấy, trên bờ sông Tam Bạc là cái nhà thuê. Thấy ở đấy, làm ăn thịnh vượng, ông ấy muốn mua lại. Nhưng bà chủ nhà nhất định không bán, để bắt chẹt ông ấy cứ phải thuê mỗi ngày một đắt. Về tiền tài, xưa nay ông ký Bưởi không chừa một ai là không lừa, cho nên phải lụy người chủ nhà, ông ấy ức lắm.
Một lần, không hiểu ông ấy định dở dói thủ đoạn với bà chủ nhà thế nào đó, bà ta nhất định đuổi ông ấy đi, không cho thuê nữa. Ông ấy phải dọn bàn giấy đến nhà Máy đen. Từ đó, ông ấy làm ăn lụn bại.
Thừa cho là trước hết, hắn phải tậu cái nhà của ông Bưởi thuê cũ. Buôn tàu mà ở cái nhà hợp với nghề, thì chả mấy chốc, hắn cũng được như ông Bưởi.
Hắn sực nghĩ đến ý kiến muốn chung vốn với ông Hoài Tân Tử. Hắn nhớ lại lời ông Lăng nói là người mình không thể công ty với nhau được. Thế nào đến lúc phát tài, thì không người này đẩy người kia ra, thì cũng người kia đẩy người này ra, để một mình chiếm hãng buôn mà làm chủ. Ông Lăng nói rất đúng, ông Hoài Tân Tử tám lạng thì hắn cũng nửa cân, chẳng ai để yên cho nhau đâu.
Thế thì hắn có nên cho Ma-ri chung cổ phần với hắn không? Hắn phì cười. Công ty với Ma-ri, hắn còn mong Ma-ri muốn hất cẳng hắn nữa kia. Ma-ri muốn hất cẳng hắn, vì Ma-ri có biết công việc, không ỷ lại hoàn toàn vào hắn. Ma-ri có biết công việc, thì mới bớt ăn tiêu, đài điếm, khỏi phá của.
Nhưng dù sao thì hôm nay, hắn cũng không về với Ma-ri, cho Ma-ri hối hận là đã làm cho hắn giận dữ.
Hắn phải đến thăm ông bạn nhà thơ.
Xe về gần đến Gia Lâm. Tới ngã ba rẽ sang đường số 5, bỗng có cái xe bò đi trước mặt. Thừa bóp còi hai ba lượt, mà xe bò không tránh. Hắn phải vội ngoắt hẳn sang đường đi Hải Phòng. Lúc ấy, không hiểu có phải vì do tâm thần bất định hay sao. Thừa không lái lộn về Hà Nội, mà cứ mặc cho nó đi trên đường số 5. Đến hai mươi thước, hắn mới sực nhớ ra là đã lầm đường.
Nhưng trót lầm, thì cứ đi. Đi Hải Dương hay thẳng đến Hải Phòng cũng được. Thừa đắn đo. Ở Hải Dương thì ngủ lại nhà ai? Hay phóng tuột xuống cảng? Hay tạt qua về quê?
Thừa móc túi lấy đồng hồ để xem giờ. Về quê thì phải đến nửa đêm mới tới. Đường thì gồ ghề, đi đêm có thể nguy hiểm. Vả về làng thì ở nhà ai? Có việc gì mà về?
Hắn bỏ ý định về Hải Dương, bỏ ý định về làng. Xe vẫn chạy băng băng.
Thế thì đi Hải Phòng thôi.
Thừa cho rằng trời dun dủi cho hắn đi điều đình việc mua tàu của hãng Phúc Lai Thành. Thế này là điềm hay đây.
Đến Hải Phòng thì ngủ ở đâu đêm nay? Hắn có nhiều bạn, nhưng không muốn phiền ai. Hắn có thể nhân dịp thì đến xóm cô đầu ở phố Dinh, hoặc thuê săm nào cũng được, qua một đêm với một ả giang hồ.
Thừa sực nghĩ đến An-na Phán, một người bạn của Ma-ri. Từ ngày người này mở nhà chứa toàn đầm lai non ở đường Quần Ngựa, hắn mới đến có hai lần.
Hắn quyết định nhân dịp này thế nào cũng vào nhà An-na Phán.
Xe đến gần ga Phú Thụy.
Bỗng trong tia sáng của đèn pha, hắn thấy đàng xa một người đen ngòm đứng giữa đường, giơ chiếc mùi soa trắng ra vẫy. Thừa bật cười. Hẳn đây là một người lầm mô-tô của hắn là xe buýt chở khách. Hắn nhớ lại ngày trước, có một lần hắn đã cố đứng chắn đường như vậy, để vẫy cho kỳ được một chiếc ô-tô phải đứng lại. Nếu không phải xe của Tây mà còn rộng, thì hắn nói khó để xin một chỗ ngồi. Nếu là xe của Tây, thì hắn xin lỗi là đã lầm, tưởng là xe hàng chở khách.
Muốn tránh những người tầm phơ gạ xin chỗ, Thừa bóp còi thật dài. Nhưng người ấy không tránh, vẫn vẫy.
Thừa đã trông rõ. Không phải là đàn ông, mà là đàn bà.
Xe đến gần, Thừa trông rõ hơn. Không phải là đàn bà đứng tuổi, mà là con gái trẻ.
Một gã đĩ tính như Thừa, thấy gái thì như mèo thấy mỡ, sao có thể mần ngơ được. Hắn hãm ngay xe lại.
Nhưng người con gái nói:
- Xin lỗi ông, tôi tưởng xe hàng.
Dưới ánh trăng trong sáng, Thừa thấy người con gái này khá xinh. Mình bầu bầu, mặt trái xoan, mắt bồ câu. Một tay cầm chiếc ô đen, một tay xách chiếc va-li nhỏ. Cái cằm tuy hơi lẹm, nhưng nó làm cho người ấy khi nói thì thêm tươi, vì như cười nửa miệng. Thừa mỉm mép:
- À ra bà lầm. Thưa thế bà về đâu ạ?
- Tôi định chờ xe đi Dụ Nghĩa. Nếu không có ô-tô, thì tôi đến ga, chờ tàu.
Một ý nghĩ đen tối nảy ra trong óc con người hay lừa bịp. Hắn nói:
- Tàu đêm có đỗ ở ga Dụ Nghĩa đâu. Mà ban nãy, tôi qua bến ô-tô buýt ở bờ sông, không thấy còn xe đi Hải Phòng.
- Còn ô-tô-ca ạ.
Thừa chữa:
- À, phải.
Nhưng hắn bày ngay cơ hội tốt cho người con gái thấy mà lợi dụng:
- Tôi cũng đi Hải Phòng, qua Dụ Nghĩa.
Thấy người ấy không nói gì, hắn cho là bao giờ con gái cũng nhút nhát, rụt rè, cho nên không dám chủ động yêu cầu hắn chở hộ. Hắn mời:
- Xe tôi có chỗ ngồi ở phía sau, nếu bà cần đi, tôi xin chở giúp.
Cố nhiên người con gái không từ chối.
Thừa chờ cho người ấy ngồi vững vàng trên yên sau, rồi mới mở máy.
Hai người bắt đầu nói chuyện.
- Thưa bà quê ở gần Phú Thụy ạ.
- Vâng.
- Bà về nhà ai ở Dụ Nghĩa?
- Thưa cụ, cậu tôi là ký ga Dụ Nghĩa ạ.
Thừa biết là người con gái đã nhìn rõ cái bộ mặt già của hắn. Hắn muốn người ấy đừng gọi hắn là cụ:
- À, ra cô đi thăm ông cậu. Ga Dụ Nghĩa vắng, ít khách, tàu đêm không đỗ. Thật là bất tiện.
Thừa sực nhớ ra. Tiếng người con gái này giống tiếng ai mà hắn đã nghe. Hắn tiếc tiếng oanh lại thỏ thẻ sau lưng hắn mà hắn không thể quay lại để nhìn mặt người ngọc.
Cho nên đến Hải Dương, tới chỗ hàng giải khát ở ngã tư Đông Thị, hắn hãm xe lại:
- Mời cô vào đây. Cô xơi gì?
Người con gái đáp:
- Cảm ơn ông, cháu không khát ạ.
Dưới ánh điện sáng xanh, Thừa đã rõ mặt người ấy. Hắn ngợ quá. Không những tiếng nói giống tiếng một người hắn quen, mà cả khổ người, nét mặt, cũng hao hao một người nào mà hắn đã gặp. Hắn cố nghĩ xem cái người mà hắn đã gặp là ai. Nhưng không tài nào nhớ ra. Chắc vì đời hắn đã gặp nhiều người quá. Hắn chỉ nhớ một điều là cái người mà hắn đã gặp này, mà người con gái có khổ người, nét mặt và tiếng nói giống ấy, là một người hắn có cảm tình. Vì vậy, nhìn người con gái này, hắn cũng có thiện cảm ngay.
“Thế thì lái thẳng về Hải Phòng, vào tuột nhà An-na Phán, là mất kêu”. Thừa không thể buông cái mồi ngon này được. Uống nước, trả tiền xong, Thừa lại lên xe. Hắn mỉm cười:
- Ban nãy đi xe thế, cô có chóng mặt không?
- Không ạ.
- Tôi muốn cho xe chạy nhanh hơn, nhưng sợ cô không chịu được gió.
- Cảm ơn ông. Ông cứ cho chạy nhanh. Cháu chịu được ạ.
Thừa mở máy.
Tiền Trung, Lai Khê, Phạm Xá, Phú Thái. Người con gái nói:
- May cho cháu được đi nhờ xe ông, chứ không, dễ bây giờ cháu còn vẩn vơ ở giữa đường.
Thừa vờ:
- À sắp đến Dụ Nghĩa rồi nhỉ.
Một lát, người con gái vừa cười vừa hỏi, như có ý ngượng nghịu:
- Thưa ông, cháu hỏi thế này khí không phải, ông về Hải Phòng, là về nhà hay đến đấy có việc gì ạ?
Thừa nhanh nhảu đáp:
- Nhà tôi ở Hải Phòng.
- Thưa ông buôn bán hay làm gì ạ?
- Tôi làm thầu khoán.
- Thưa ông, ông làm ơn cho biết quý danh ạ?
- Ồ, cô hỏi làm gì?
- Thưa, nhờ ông giúp, cháu mới đến được Dụ Nghĩa sớm. Cháu muốn biết để nhớ tên ông mãi về sau này.
- Ồ, đã bảo làm gì cái vặt mà cô phải hỏi! Thế tôi có hỏi tên cô đâu?
Thừa cười khanh khách, và biết hẳn người con gái tin mình là người tử tế, cao thượng. Hắn nhắc lại:
- Ừ, tôi có hỏi tên cô đâu nhỉ.
Người con gái đáp:
- Thưa ông, cháu tên Thúy, nhưng vẫn gọi là cái Thúy-gian. Hôm nào ông đi qua Dụ Nghĩa, mời ông quá bộ vào chơi với cậu cháu.
Hai tiếng Thúy-gian làm Thừa tò mò, muốn hỏi thêm. Hắn đáp:
- Vâng, nếu có dịp đi qua, thế nào tôi cũng vào thăm ông ký.
Xe gần đến Dụ Nghĩa, Thúy-gian nhắc:
- Thưa ông, cho cháu xuống ở cửa ga ấy ạ.
- Vâng.
Nhưng xe vẫn chạy nhanh như bay. Thừa làm như cuống quýt:
- Quái! Quái! Không tắt được máy, hỏng à.
- Sao thế ạ?
Thừa không đáp. Xe đi quá ga:
- Lạ quá! Sao thế này? Hỏng máy à?
- Không hãm được ạ?
Hắn vẫn làm như loay hoay với cái xe. Mô-tô vẫn vùn vụt chạy.
Hắn đoán được người con gái ngồi phía sau băn khoăn, lo sợ ngần nào. Muốn làm người ấy tin, luôn luôn hắn nói:
- Quái! Quái! Chữa tốt rồi kia mà.
Rồi hắn bảo:
- Xe tôi vẫn thế đấy. Nhiều lúc bực mình quá! Vừa chữa xong lúc chiều!
Xe đến ga Vật Cách. Thừa nói:
- Đành thôi. Cũng tình cờ tôi giúp cô mà không được việc. Tôi không biết làm thế nào. Vậy mời cô quá bộ lại đàng nhà đêm nay, nghỉ với các em. Mai sớm, cô ra tàu đi Dụ Nghĩa vậy.
Người con gái không đáp.
Chắc Thúy-gian hối hận lắm. Nhưng Thừa vui sướng lắm. Vớ được con bò lạc rồi. Sao trời lại tốt bụng với hắn thế! Con người thế này lại sa vào tay hắn! Có bạc, có vàng, chỉ mua được gái giang hồ. Có diễm phúc mới được hưởng thứ hiếm có này.
Xe tới Hải Phòng. Thừa đi tuột đến nhà An-na Phán.

* * *
An-na Phán thấy Thừa lai một người con gái đến nhà, thì nó hiểu ý ngay.
Nó vội vàng khóa cổng và cửa lại, rồi dẫn Thừa và Thúy-gian vào một buồng.
Biết việc chẳng lành, Thúy-gian hốt hoảng, nhìn trước nhìn sau kiếm lối để chạy ra đường cái. Nhưng cô đã mắc vào cạm rồi. Cô hô hoán lên.
Bỗng cô thấy đến hơn một chục người chạy đến. Họ trạc tuổi cô, toàn mặc váy đầm sặc sỡ, người thì tóc vàng, mũi lõ, người thì tóc đen, mũi tẹt. Họ nhìn cô. Người nhăn nhở cười. Người như có vẻ ái ngại.
An-na Phán quắc đôi mắt lờ lờ màu tro:
- Chúng mày tống nó vào buồng cho chị. Chứ kêu mà được à?
Thúy-gian hầm hầm trỏ vào mặt Thừa:
- À, tôi tưởng ông là người tử tế…
Thừa cười vẻ đắc ý:
- Thôi, cưỡng cũng vô ích!
Hắn kéo tay Thúy-gian để bắt cô theo. Nhưng cô nhất định chùn lại.
An-na Phán dậm chân xuống đất, mắng bọn con em:
- Đứng làm phỗng với nhau à?
Một người đến gần Thúy-gian, dịu dàng nói:
- Thôi, chị! Người ta tránh chẳng khỏi số. Chị cứ vào buồng, rồi thế nào hãy hay.
An-na Phán quay lại người con em:
- Thương phỏng?
Nó ẩy người ấy ra, rồi đẩy giúi Thúy-gian về phía buồng.
Thúy-gian ngã khụy xuống đất, lại vội vàng kêu lên.
Thừa và An-na Phán, người ôm đầu, người ôm chân, khênh Thúy-gian vào buồng, rồi khóa trái cửa lại.
Thừa cảm ơn An-na Phán. Hắn kể lại việc hắn gặp gỡ tình cờ. An-na Phán giơ cốc rượu:
- Mừng anh! Trông hay đấy. Khi nào anh không dùng nữa. Anh để lại cho tôi. Đừng vứt đi mà phí nhé.
Thừa uống hết cốc rượu:
- Xin tuân lời bà chị.
An-na Phán đùa:
- Nó giống anh cái cằm. Nhận họ hàng đi thôi!
Thừa ôm bụng cười:
- Từ nãy, đi đường, trước nó gọi mình bằng cụ, xưng là tôi. Đến lúc nó hạ mình xuống là ông, thì lại xưng là cháu!
Nói xong, Thừa bảo:
- Chị sửa soạn bàn đèn, cho tôi mấy điếu, tôi bàn với chị cái này.
- Vẽ! Có cưỡi bò thì vào ngay. Chị đây không cần mua chuộc mà phải bàn với tán!
- Ừ thì cũng phải làm mấy điếu cho dai sức chứ.
Rồi Thừa hỏi:
- Đêm nay đã đành. Nhưng mai, làm thế nào giữ được nó nhỉ? Tôi còn ở Hải Phòng ít ra là một tuần.
An-na Phán đáp:
- Nhà này thiếu gì mẻng. Mỗi tối một mítx  [95] có hơn không?
Thừa lắc đầu:
- Duyệt qua cả rồi. Xí lắm! Đằng này vớ được món này, hãy hưởng cho thỏa chí tang bồng, rồi có buông mới buông. Làng chơi đã mấy ai được trời cho cái cảnh như thế này, hở chị?
An-na Phán vừa tiêm thuốc, vừa nghĩ. Nó uống một chén rượu, rồi hai chén rượu. Hai má nó bừng bừng đỏ:
- Gay nhỉ. Nhưng tôi tưởng giữ nó để bắt nó làm nghề này mới khó, chứ chỉ giam vài hôm thì khó gì?
- Chị làm thế nào?
- Cứ nhốt cổ nó ở trong ấy, khóa trái cửa lại.
- Nhịn ăn, nhịn ỉa à?
- Đút vào cho bánh tây, chai nước và cái bô, thế là chu.
An-na Phán lại uống thêm chén rượu nữa. Nó đã chếnh choáng, đặt dọc tẩu xuống, hỏi:
- Mấy điếu rồi nhỉ?
- Bốn. Xin điếu nữa.
An-na Phán lại tiêm. Bỗng nó đập tay vào đùi:
- Khỉ quá, khó đếch gì. Phàm những đứa bị bắt vào đây, thì thế nào mấy hôm đầu cũng không chịu. Chúng nó khóc lóc, kêu la, chửi rủa, phá phách như con điên. Nhưng mình cứ lờ đi. Trái lại, còn phải tử tế, dịu dàng mà dỗ dành. Chỉ độ dăm hôm là chúng nó quen, không hoang mang nữa. Con này thì thế nào tôi cũng rình chụp được ảnh nó. Thế là nó mất gỡ.
- Sao?
- In ảnh nó, để khai môn bài, lấy số cho nó. Thế là suốt đời cô làm nhà thổ!
An-na Phán tiêm xong, đưa Thừa hút:
- Mấy điếu rồi nhỉ?
- Năm.
- Thôi vào với nó đi. Coi không có nó tự tử thì hoài. Phải cẩn thận, hễ thấy nó có cái gì có thể tự tử được, thì giấu biệt đi nhé.
- Được. Xin điếu nữa.
- Sao anh hút nhiều thế?
An-na Phán giấu dọc tẩu đi. Thừa với tay giật lấy. Bỗng hai mắt con mẹ dầu nhìn Thừa. Hai mắt lờ đờ màu tro pha màu đỏ ngầu ngầu của hơi men, nó như đám mây buổi chiều nhuộm bằng ánh hồng của mặt trời lặn, thành cái ráng báo điềm sắp giông bão. An-na Phán quờ quạng bằng cánh tay say để giữ lại dọc tẩu, rồi nó rức lên khóc, và nói bằng tiếng Pháp:
- Anh An-be! Đừng hút nữa! Tôi khuyên anh! Tôi xin anh! Vào với nó đi! Nó tự tử bây giờ!
Thừa thấy An-na Phán cũng thất thường không kém Ma-ri, hắn vội vàng đứng dậy:
- Chị cho thìa khóa buồng.
Con mụ dầu khanh khách cười, giơ bắt tay Thừa:
- Ừ, nghe chị thì chị yêu. Đừng làm nó sợ nhé. Tội nghiệp con bé!
Nhưng bỗng nó lại khóc nức nở:
- An-be! Hay là mày đừng làm hại đời nó! Nó còn ngây thơ! Đừng đày đọa con bé vô tội và thật thà! Mày nghĩ đến vợ mày, đến con gái mày!
Thừa mỉm cười:
- Nốc lắm rượu vào, rồi nói chẳng đâu vào đâu!
- Anh An-be! Anh là bạn thân, tôi thương anh. Nhưng nó là bạn gái, tôi cũng thương nó!
Mặt An-na nhăn nhó, thở phì phì những hơi rượu hăng hăng. Nó lại rũ ra cười, rồi quắc mắt, giục Thừa:
- Kìa! Còn đứng đây làm gì nữa! Vào mà hưởng cái phút thần tiên rất hiếm hoi trong đời các người làng chơi đi chứ? Anh không cho thế là hãnh diện à?
Thấy Thừa đi vào buồng, nó vỗ tay reo:
- Tôi lại làm được việc phúc đức nữa, là giúp cho người bạn gái biết thế nào là mùi đời! A ha!

* * *
Hôm Thừa sắp về Hà Nội, hắn nói chuyện với Thúy-gian:
- Em bằng lòng ở lại đây với chị An-na rồi chứ?
Thúy-gian cười đau đớn:
- Chả bằng lòng cũng chả được! Chị ấy đã lấy số cho em rồi. Em chạy đâu cũng không thoát được tay chị ấy.
Một lát, Thúy-gian trách:
- Chỉ tại anh không kín đáo. Đưa em lên hiệu chụp ảnh, anh lại khoe với chị ấy, để chị ấy nhờ in trộm thêm ba chiếc.
Thừa thở dài:
- Anh rất hối hận.
- Nhưng em không giận anh, vì anh chỉ là vô tình.
- Thế em giận chị An-na ác với em quá nhỉ?
- Em cũng chả giận chị ấy. Em chỉ giận cái số em nó chẳng ra gì.
Thừa ôm lấy đầu Thúy-gian, vỗ về vào vai:
- Em Thúy-gian của tôi ngoan ngoãn, hiền lành quá!
Thúy-gian rút đầu khỏi tay Thừa, bẻ đùa:
- Anh quên gọi em là Xuy-dan à? Em ghét cái tiếng gian ở tên cũ lắm. Em thích cái tên mới là Xuy-dan. Thúy là tên của ba má em đặt. Thúy-gian là tên của thiên hạ đặt. Còn Xuy-dan mới là tên của anh đặt cho em. Tên Xuy-dan nói hơi giống Thúy-gian, nhưng mỗi tên có ý nghĩa, và một kỷ niệm khác nhau. Làm nghề này thì đổi tên là phải. Vả ở đây, tất em phải đặt tên Tây.
Thừa âu yếm:
- Anh xin lỗi em! Anh mới đặt tên cho em, nên chưa quen miệng. Vả gọi tên mới, sợ em cũng nghe chưa quen tai.
Xuy-dan cười cười:
- An-be! Xuy-dan!
Thừa sung sướng:
- An-be! Xuy-dan! Thế An-be về, Xuy-dan có nhớ không?
- Có. Bao giờ anh lại xuống đây với em?
- Anh không hẹn trước. Nhưng chắc chắn là không lâu. Đừng mong nhé.
- Cứ mong. Em có mong, anh mới sốt ruột chứ? Mấy lị không mong xuống để nhìn thấy em cắt tóc ngắn với mặc váy đầm à?
- À nhỉ. Thế thì anh cố thu xếp việc nhà, để xuống ngay với em.
Thừa đứng dậy, nhưng lại ngồi xuống:
- Suýt quên một việc.
Hắn đưa cho Xuy-dan tờ giấy hai mươi đồng:
- Em cầm lấy mà tiêu.
Xuy-dan lắc đầu:
- Em không cần tiền. May mặc, ăn uống, đã có chị An-na.
- Nhưng còn phấn son?
- Anh mới mua cho em, dùng đã hết đâu?
- Để tiêu vặt chứ?
- Đã có lương tháng của chị An-na phát cho.
- Sao anh thấy chị ấy bảo tháng đầu, còn phải thử thách, chị ấy không phát lương vội.
- Thử thách xem có chịu tiếp khách không ấy à? Thân em đã rơi vào đây, thì giữ gìn cho trong sạch làm gì mà còn làm cao, hả anh?
Thừa đùa:
- Giữ gìn trong sạch cho anh, với anh, chứ làm gì?
- Thế anh có bằng lòng cho em tiếp khách không?
Thừa bối rối, nhưng đáp rất trơn:
- Không. Em là của riêng anh.
- Không tiếp khách, chị An-na đánh chết. Em trông đôi mắt chị ấy, em sợ lắm. Tử tế, ngọt ngào đấy, nhưng giở mặt lúc nào không biết chừng.
- Em biết thế à?
- Em biết. Các chị khác cũng bảo thế. Nếu anh không muốn cho em tiếp khách, thì anh nên nói với chị ấy một tiếng.
Thừa thở dài:
- Được, để anh nói.
Nhưng Xuy-dan lắc đầu:
- Vô ích! Anh ạ, ở đây mà không tiếp khách, thì ở làm gì? Thôi, anh đừng quan tâm đến em nữa. Em sẽ tiếp khách. Chị An-na phát lương cho em. Có thiếu tiêu thì em xin khách. Vả mười đồng hôm nọ anh cho, em còn giữ nguyên.
Trưa hôm ấy, Thừa xin với An-na Phán cho Xuy-dan đi ăn cơm hiệu với hắn. Hai người ngồi trong một ngăn riêng biệt. Trong lúc ngà ngà say, Thừa nói:
- Xuy-dan! Anh buồn lắm. Đến hôm nay mà anh vẫn chưa biết em bao nhiêu tuổi, người ở đâu, ba má em làm gì?
Xuy-dan cười:
- Tuổi ấy à? Anh thích em bao nhiêu tuổi thì em ngần ấy tuổi. Người ở đâu ấy à? Ở nước An-nam chứ ở đâu? Còn ba má em ấy à? Em chỉ biết cả anh lẫn em chúng ta đều gọi trời bằng ông thôi.
Thừa bẹo má Xuy-dan:
- Em dí dỏm lắm! Ai lấy được em làm vợ, thì nhà người ấy lúc nào cũng vui vẻ.
Nhưng Xuy-dan thở dài.
- Em buồn à?
Xuy-dan gật đầu:
- Người định lấy em làm vợ, hiện bây giờ đương tìm em và đương khóc.
Thừa lặng người:
- Thật à?
- Em nói dối anh để làm gì? Giá bây giờ anh ấy biết em ở đây nhỉ!
Xuy-dan bưng mặt, sụt sịt. Thừa ngao ngán:
- Em! Em! Xuy-dan em!
Xuy-dan vẫn thổn thức:
- Đời em thế là bỏ đi rồi. Em không ngờ em lại làm cái nghề đốn mạt này!
Thừa dỗ:
- Em! Xuy-dan! Em làm nghề gì mà đốn mạt? Em là của riêng anh kia mà?
Xuy-dan lau nước mắt, rồi tủm tỉm cười. Thừa nói:
- Anh ân hận quá. Anh đã phá hoại hạnh phúc của em, thì phải chịu trách nhiệm về đời em.
Xuy-dan lắc đầu:
- Chẳng qua là cái số em thế, cho nên nó xui khiến cho em gặp anh, lại xui khiến cho xe của anh đến Dụ Nghĩa thì hỏng máy.
Thừa nhìn Xuy-dan, thở dài khẽ. Rồi hắn an ủi:
- Nếu em không muốn làm nghề này, thì em bảo chị An-na rút số đi cho em.
- Không thể. Cái số trong môn bài, rút lúc nào cũng được. Nhưng cái số trời định cho em, thì chả ai rút nổi. Vả lại, bây giờ đời em còn thơm tho gì nữa mà mong!
- Em trẻ và đẹp. Sao em lại không mong lấy được chồng?
Xuy-dan cười đau đớn:
- Anh đừng hỏi. Lấy chồng thì ai không muốn lấy. Ai lại thích làm nghề này bao giờ. Nhưng em tự xét, thân em đã vấy bùn, em không muốn thêm một tủi nhục nữa.
Thừa đùa:
- Thế thì lấy anh!
Bỗng Xuy-dan bưng lấy mặt khóc, và lần này nức nở to hơn:
- Các anh đi chơi gái, thì đừng bao giờ nên nói câu ấy. Các anh đùa cho vui miệng, nhưng các anh không đặt địa vị vào người phải nghe, cho nên không biết họ tủi nhục thế nào.
Nói xong, Xuy-dan lấy mùi soa lau mắt, rồi cố mỉm cười, vuốt vào tóc Thừa:
- Tuổi anh bằng tuổi ba em, mà anh đòi lấy em!
Thừa không biết là nên tươi hay nên ngượng. Hắn vờ cười, để thốt được hơi thở dài ở trong ngực. Xuy-dan hỏi:
- Anh có vợ chưa?
Rồi Xuy-dan bưng miệng, rúc vào lòng Thừa:
- Em quên! Chị ấy là bạn chị An-na! Thế hẳn con anh lớn bằng em đấy nhỉ.
Thừa cười:
- Em đừng hỏi. Anh cũng như em, không nói thật đâu. Nếu em tốt với anh, thì anh yêu em. Nếu anh tốt với em, thì em yêu anh. Khi ấy chúng ta chỉ cần biết là hai đứa yêu nhau. Không nên tìm chuyện gì khác về gia đình nhau, nó khuấy đục hạnh phúc chung, em ạ.
Xuy-dan xịu mặt:
- Em đến nước này mà cứ phải nghe nói đến tiếng yêu, với tiếng lấy, thì em khổ tâm lắm. Em là người của anh trong một đêm, thì anh cần gì phải nói những tiếng quý hóa của tâm tình. Lần này, muốn có em, anh chỉ xỉa vào tay chị An-na vài đồng bạc khác để có em khác. Bởi vì anh không muốn biết em lần thứ hai. Thế thì anh cần gì phải xa phí lời nói. Lời anh nói là từ cổ trở ra, nhưng nó là cái dùi, đâm sâu vào tận tim người nghe. Không gì ác hơn là dử người đau khổ bằng hạnh phúc, anh An-be ạ.
Thừa lắc đầu:
- Em làm như ở đời không còn người tử tế nữa ấy.
- Phải rồi. Em cũng biết có khối người mê đĩ, lấy đĩ làm vợ thật. Nhưng lấy đĩ làm vợ không phải là cứu cho đĩ khỏi khổ nhục, mà chỉ là đổi cho đĩ cái khổ nhục nọ lấy cái khổ nhục kia, có khi cái khổ nhục sau còn to hơn cái khổ nhục trước.
Thừa cười:
- Em nói!
- Thật đấy. Có ai lấy đĩ mà chồng một vợ một bao giờ. Trừ phi người đàn bà tai ngược đánh bạt vợ cả đi, hoặc người đàn ông vô lương tâm mê đĩ, bỏ vợ cả. Nhưng ở đời, người vô lương tâm đến nỗi như thế, thật là hiếm.
Thừa bịt mùi soa vào miệng để ho thật lâu. Xuy-dan tiếp:
- Nhưng dù sao, thì đi lấy tranh chồng người cũng chả bao giờ sống yên vui được. Nếu không thính thoảng bị vợ cả nó trở lại đánh ghen, thì cũng bị người chồng bạc tình lại với mình, khi nó tìm thấy người khác hơn mình. Không thế, thì chính mình cũng tự đày đọa mình, vì ngựa bao giờ cũng quen lối cũ. Nếu có gia đình nào mà anh chồng lấy đĩ, sống bền được với nhau, thì một trong đôi vợ chồng ấy là ma bùn.
Xuy-dan nhếch mép. Nhưng Thừa thở dài:
- Em ít tuổi mà thạo đời lắm nhỉ.
- Em mới ở đây mấy hôm, nhưng em sống nghề nào phải biết nghề ấy, em phải hỏi các bạn từ những nỗi vui sướng đến những nỗi đắng cay của nghề. Có biết, có dạy nhau cho biết, chúng em mới sống được, để còn có lúc cười được với các anh, mua vui cho các anh. Chứ không thì chỉ âu sầu buồn tủi, rồi chết hết giống đĩ, thì đời còn gì là hoa tươi cỏ lạ cho các anh hưởng nữa!
Xuy-dan cười, cười những tiếng khanh khách, ghê rợn như tiếng xé vải, gò lưng xuống mà cười, đập hai cánh tay vào thành bàn mà cười, cười như người điên lên cơn. Thấy nét mặt Thừa kém vui, Xuy-dan không nói nữa, mới rót chỗ rượu sâm-banh còn lại ra hai cốc, đưa một cốc cho Thừa:
- Nào, mời anh. Em nói như vậy mà anh cảm động à? Anh phải coi đời như cái vườn hoa. Anh vào vườn hoa thì nên ngắm hoa, ngửi hoa, hay nên ỉu xịu cái mặt rồi khóc, để ra về?
Thừa mủi lòng, lắc đầu:
- Anh biết là em ít tuổi nhưng đã chịu đựng nhiều nỗi đắng cay.
Xuy-dan xua tay:
- Đắng cay! Em chấp tuốt! Nào, mời anh!
Hai người chạm cốc nhau. Xuy-dan ngửa cổ, nuốt từng hớp rượu, kêu ừng ực.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
III
MỘT NGƯỜI QUẢN LÝ TỐT NHẤT  
 
Thừa ở với Xuy-dan bảy đêm liền. Hai đêm đầu, Xuy-dan chỉ kêu khóc và phản đối. Nhưng đến đêm thứ ba, tự nhiên Xuy-dan đổi khác hẳn. Không phải vì An-na Phán đã khéo dỗ dành, hay dọa nạt. Nhưng chính là vì Xuy-dan đã tự nghĩ lấy. Đã sa vào đây, thì khó lòng ra nổi. Đã sa vào đây mà có giữ tấm thân trong sạch, thì cũng chẳng ai tin là trong sạch. Thôi thì đành liều. Cho nên cô rất tươi tỉnh và rất hiền lành, khiến Thừa phải ngạc nhiên. Nhân lúc vui, Thừa đã hỏi ra rất nhiều chuyện.
Vì Xuy-dan chưa nói ra miệng là bao nhiêu tuổi, người tỉnh nào, cha mẹ làm gì, nên Thừa cứ thích hỏi lại. Nhưng trong những lúc vô tình, Xuy-dan đã cho Thừa đoán ra cô là người lai, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, năm nay 19 tuổi, và có đi học, đã đỗ bằng tiểu học Pháp Việt.
Cái lần đầu tiền Thừa cho Xuy-dan tiền, vì muốn nhã nhặn với người mà hắn mới gặp, lại không phải làm nghề bán trôn nuôi miệng quen bòn tiền của khách cho, nên tuy chỉ có hai người ở trong buồng với nhau, hắn cũng dúi hai tờ giấy năm đồng vào tay cô một cách kín đáo. Nhưng Thừa không ngờ là Xuy-dan lại không cần sự nhã nhặn và sự kín đáo, Xuy-dan xòe hai tờ giấy bạc ra để đếm. Rồi nhìn Thừa và mỉm cười, nhưng không nói gì. Thừa biết Xuy-dan không phải là người Hà Nội. Người đất nghìn năm văn vật tế nhị hơn kia. Xuy-dan cũng không phải người Nam Định. Người thành phố cổ này kiểu cách hơn kia. Và cố nhiên Xuy-dan không phải người Hải Phòng, dù người nơi đồng chua đất mặn này vẫn mộc mạc, thật thà. Nghe lời ăn tiếng nói, Thừa biết Xuy-dan không quê mùa, mà phải là người các tỉnh lỵ hay phủ huyện lỵ. Cái chỗ Thừa gặp Xuy-dan ở gần ga Phú Thụy, Thừa đoán là quê của chồng chưa cưới của Xuy-dan. Còn người làm ở ga Dụ Nghĩa mà Xuy-dan bảo là cậu, thì Thừa cho là không phải.
Thừa thấy lúc Xuy-dan như người cởi mở, lúc lại như người kín đáo. Hình như đời Xuy-dan có những uẩn khúc thế nào, cho nên tuy ít tuổi, nhưng đã khôn ngoan và như người chán chường.
Song, dù sao thì Thừa cũng thương Xuy-dan, thương người con gái có những ý nghĩ khá đặc biệt, có cái tâm hồn khá lạ lùng, thương người con gái ngây thơ, vì quá tin hắn đến nỗi tai hại một đời. Cái tuổi ngoài bốn mươi là cái tuổi làm cho con người một đôi khi biết hối hận.
Lúc Thừa ra xe, Xuy-dan tiễn ra cổng. Thừa nhớ lại tiếng Xuy-dan giống tiếng ai, khổ người, nét mặt Xuy-dan rầu rầu, rồi hai mắt đỏ hoe, thì Thừa nhớ rằng cái dáng điệu ấy, hắn đã nhìn thấy một lần rồi. Nhưng không tài nào hắn nhớ ra là ai. Thừa không cầm lòng đậu. Hắn không nỡ bỏ Xuy-dan.
Rời Hải Phòng. Thừa không qua Hà Nội, mà về tuột ngay Cẩu Rồng.
Đến nhà, hắn rất ngạc nhiên: Ma-ri đon đả, vui vẻ với hắn như thường. Hắn nói chuyện đi xem hai chiếc tàu thủy cho Ma-ri nghe.
- Thế thì, ông ạ, bán quách mấy cái nhà đi mà mua.
Thừa lắc đầu:
- Bà cứ thích nói cho vui miệng. Muốn mua tàu thì phải có tiền. Muốn có tiền thì phải bán nhà. Nhưng hãy hỏi thời buổi kinh tế này, có ai sẵn tiền mà tậu nhà cho mình?
Ma-ri trợn mắt, nói thầm:
- Cụ Lăng! Cụ ấy gạ mua đấy. Tôi bảo hãy đợi ông về.
Thừa im lặng. Một lát, hắn nói:
- Muốn mua tàu, tôi còn phải đi lại Hải Phòng nhiều lần. Điều cốt yếu để có mua được hay không, là bà đừng buộc chân tôi.
Ma-ri bật cười:
- Sao lại báo là về nhà quê! Ai chịu được?
Hắn tiếp:
- Nhưng trước hết, phải thu xếp cho ổn việc đồn điền.
Thừa gật đầu:
- Được. Đâu sẽ vào đấy hết. Miễn là bà phải để cho tôi được yên tâm, rảnh trí mà tính toán.
Ma-ri không nói. Hắn dắt tay Thừa vào buồng ngủ, và ỏn ẻn để đố:
- Ông thử nhìn xem có cái gì khác không nào?
Thừa hởi dạ. Hắn không thấy ảnh bà mẹ Mão treo ở đầu giường nữa. Hắn mỉm cười, nhìn Ma-ri:
- Bà tốt lắm. Thế thì tuần sau, tôi lại đi Hải Phòng.
Ma-ri âu yếm:
- Tùy ông. Nhưng hãy thu xếp cho ổn việc đồn điền trước đã, ông ạ.
- Nghĩa là phải tìm một người quản lý giỏi, tôi mới rảnh tay được.
 
* * *
Sáng hôm sau, hai Điều trợn trừng trợn trạc, vào mách Thừa và Ma-ri một tin dữ:
- Trình ông lớn bà lớn, con nghe thấy chúng nó xôn xao là vụ này không nộp thóc cho nhà ta nữa. Chúng nó sắp cử đại biểu vào hầu bà lớn. Con lo quá!
Thừa thở dài, cười lạt. Ma-ri tái mặt, bàn:
- Thế thì ta cứ lánh mặt, không tiếp ông ạ.
Thừa lắc đầu:
- Không cần làm thế. Cứ tiếp. Xem ngọn lưỡi chúng nó ra sao. Bình tĩnh. Sợ gì?
Hắn hỏi hai Điều:
- Đứa nào làm đại biểu, ông có biết không?
- Trình ông lớn, không.
- Bao giờ chúng nó đến?
- Trình ông lớn, con không biết. Con chỉ nghe ngóng biết vậy thôi.
Thừa hút thuốc lá, yên lặng để suy nghĩ, rồi hỏi hai Điều:
- Chúng nó viện những lẽ gì để không nộp thóc?
- Con nghe nói đâu là vì thiên tai.
- Thiên tai sao chỗ khác người ta nộp đủ?
- Chúng nó lại viện lý là đồn điền này không phải của ông lớn bà lớn.
Ma-ri nghiến răng:
- Tôi cướp không ruộng của chúng nó à? Đất của Hàn Xương chứ đất của nhà chúng nó à?
Thừa thêm:
- Việc này tòa đã xử phải trái. Đến thân nhân Hàn Xương cũng chả tranh nổi, nữa là chúng nó. Chúng nó muốn chống với nhà nước phỏng?
Thừa gõ năm đầu ngón tay xuống mặt bàn, nghĩ ngợi một lát, rồi nói với Ma-ri:
- Bao nhiêu năm nay, mình có đội Tuynh nghiệt ngã thì chúng nó không dám kiếm chuyện. Mới vụ này, mình lỏng tay, thì chúng nó nhờn liền.
Ma-ri càng bực:
- Quân chúng nó vẫn thế. Thân lừa ưa nặng. Đến lúc bị đánh gãy gối tối mặt, thì đâu vào đấy tuốt.
Thừa nhân dịp, bèn đả động đến chuyện dùng anh Xi làm quản lý. Thừa định viện hết những lý do mà hắn đã nghĩ để thuyết phục Ma-ri. Nhưng hắn chưa nói hết, Ma-ri đã nhăn mặt, chối đây đẩy:
- Thôi, thôi. Tôi không mời ông ấy về làm bố giờ đâu!
Hắn nguây nguẩy đứng dậy, không nghe nữa.
Hôm sau, Thừa lại bàn với Ma-ri về việc đồn điền.
Thừa cho Ma-ri thấy cái nguy cơ ôm rơm nặng bụng:
- Thật đấy, ở Nghệ An, ở Thái Bình, mấy năm nay bọn cộng sản hoành hành ngang ngược. Nhà nước đã thẳng tay trừng trị, nhưng cơ hồ chúng nó vẫn coi trời bằng vung. Rồi thế nào cộng sản cũng xui dân làm loạn cả nước. Chỉ khổ cho bọn nhà quê khờ dại, nghe chúng nó dỗ ngon dỗ ngọt, thì bùi tai theo chúng nó, đi làm liều.
Ma-ri thêm:
- Để ở tù.
Thừa gật đầu, dọa thêm:
- Cho nên tôi chỉ sợ ở đây, chúng nó mù quáng, nổi dậy giết chủ, như ở đồn điền Ký Viễn trong Trung kỳ, thì thiệt mình. Đẩy cái vạ sớm ngày nào hay ngày ấy, được đồng nào hay đồng ấy, bà ạ.
Ngừng một lát, hắn tặc lưỡi:
- Lấy không của người ta ấy mà. Tiếc quái gì!
Ma-ri cau mặt:
- Ông nói! Dễ thường lấy không thì bây giờ vứt đi à?
Thừa đấu dịu:
- Không vứt đi, nhưng mà bán lại. Rồi có tiền, bà muốn tậu nhà Hà Nội, hay lấy lại nhà của tôi, hay chung phần với tôi buôn tàu, thì ta thương lượng với nhau sau. Nhưng nhất định là phải bán. Vì tôi buôn tàu, nếu bà không tìm được ai quán xuyến cho, tôi cũng không thể ở Cẩu Rồng nữa.
Ma-ri thở dài:
- Rắc rối nhỉ! Nhưng nếu bán thì ai mua? Liệu có được giá không?
Thừa biết Ma-ri nghĩ đến phần hương hỏa của con Rô-da-lin. Hắn nói:
- Ấy là tôi bàn cái trường hợp bất đắc dĩ. Nếu ta tìm được quản lý tốt, thì bà cứ giữ đồn điền này lại. Chẳng sao.
Ma-ri thở dài.
Thừa nhân dịp, nói kỹ cho Ma-ri nghe ra về việc dùng anh Xi. Lần này, Ma-ri ngồi yên, Thừa bảo:
- Không lẽ mình gọi lại thằng Tuynh trở về với mình.
Ma-ri xua tay:
- Để nó làm hại nốt con Ma-gơ-rít à?
Thừa đáp:
- Thế thì dùng thằng Xi.
Ma-ri yên lặng.
Hôm sau nữa Thừa thấy hai Điều ở chợ về, hớt hơ hớt hải tìm hắn, rồi trợn trừng trợn trạo:
- Trình ông lớn, cộng sản nó về đến nơi rồi.
Thừa cau mặt:
- Sao?
- Trình ông lớn, con thấy đồn rầm lên là đêm hôm qua, chúng nó treo cờ với rải truyền đơn ở tỉnh.
Ma-ri ở hè, chạy vào:
- Gì mà cụ quản hốt hoảng thế?
Hai Điều nhắc lại tin dữ dội, Thừa hỏi:
- Truyền đơn viết những gì, ông có nghe nói không?
Lão giờ lắc đầu, lè lưỡi:
- Bố con cũng chẳng dám nghe, dám hỏi! Con mang máng như là họ xui điền tốt tranh cái đấu thóc với chủ thế nào ấy.
Thừa gật đầu:
- Tranh đấu, chứ không phải tranh cái đấu.
Ma-ri sợ hãi:
- Thế ở chợ vừa rồi có truyền đơn không?
- Thưa không.
Thừa ngả lưng vào ghế, vắt chân chéo kheo, ngồi im lặng. Một lát, hắn hỏi hai Điều:
- Cái việc ông bảo chúng nó định không nộp thóc, cử đại biểu đến, sao tôi cứ thấy im ắng như không ấy nhỉ?
- Dễ thường chúng nó kín đấy. Ở chợ cũng đồn ầm lên thế. Không phải riêng điền tốt đồn điền nhà xin, mà tất cả các đồn điền khác cũng xin. Nhưng không phải chúng nó không nộp thóc, mà chỉ xin giảm thôi.
- Giảm bao nhiêu?
- Thưa con không biết. Dễ thường tùy theo lúa tốt xấu thế nào đó.
Thừa gật gù:
- Tôi biết.
Ma-ri hỏi:
- Ông biết thế nào?
- Thế nào cũng có bàn tay cộng sản nhúng vào. Không có những thằng mất dạy này nó cho ăn cút gà, thì những như dân ngu dại như trẻ nhỏ, đứa nào dám hỗn láo.
Ma-ri thở dài:
- Nhà nước đại lượng quá. Chỉ trị những thằng đầu sỏ là không ổn. Phải chém hết cả những thằng cộng sản, lần thằng bị cộng sản xúi giục, mới triệt được hết cái mầm mống tai hại cho dân.
Thừa không nói gì, bảo hai Điều:
- Ông cố nghe ngóng đích xác hộ tôi nhé. Chúng nó định không nộp thóc hay chỉ xin giảm thôi? Giảm bao nhiêu? Một đồn điền ta xin giảm hay tất cả đồn điền khác? Đứa nào ở đây làm đại biểu?
Hai Điều đáp:
- Vâng.
Lão già đứng dậy, than thở một mình để kể công:
- Lại làm cả việc quản lý nữa!
Nghe đến hai tiếng quản lý, Ma-ri nhìn Thừa bằng đôi mắt dịu dàng, nói giọng dỗ dành:
- Ông ạ. Gọi nhà Xi đến làm quản lý thôi.
Thừa mỉm cười:
- Tưởng thế nào!
Ma-ri cũng mỉm cười:
- Ông cố nói khéo cho nó bằng lòng nhé.
 
* * *
Thừa đến nhà anh Xi.
Nhưng anh Xi không có nhà.
Vợ anh nói không biết anh đi đâu, và cũng không hẹn bao giờ về.
Trong khi chờ đợi, Thừa nói với chị Xi cái ý định của hắn. Hắn hết sức ngọt ngào, viện tất cả những lý do và những ý kiến mà hắn đã nghĩ chín để lọt tai người đàn bà mà hắn tin rằng nông cạn và tham lam.
Chị Xi lắng nghe. Mặt chị hớn hở dần. Sau hết, chị đáp:
- Quan nói thế, thì em hiểu rồi. Để nhà em về, em bảo.
Nhân được tình cảm với chị Xi, Thừa hỏi dò về việc tá điền định xin giảm thóc. Chị ngơ ngác, lắc đầu:
- Em không thấy ai nói cả. Chẳng rõ nhà em có nghe thấy tin ấy không.
Đến chiều sẩm, Thừa đứng dậy, dặn:
- Thím nói kỹ cho chú ấy nghe ra nhé. Rồi lúc nào chú ấy về, thím bảo chú ấy đến ngay dinh, tôi nói chuyện thêm nhé.
Thừa về nhà.
Rất yên trí và yên tâm.
Nhưng hôm sau, Thừa chờ, mà không thấy anh Xi đến. Hắn cho gọi, thì anh nhắn trả lời rằng anh bị sốt, hôm nào khỏi mới đi được.
Thừa không hiểu là anh nói thật hay không muốn giúp hắn, mà thoái thác khéo như thế.
Hắn không muốn thân hành đến nhà anh Xi lần nữa, vì sợ anh làm cao.
Cho nên Thừa bực với anh Xi không trả lời dứt khoát. Hắn càng coi cái đồn điền Cẩu Rồng như cái bướu ngăn cản bước tiến của hắn. Hắn cần trút nỗi bực mình.
“Bán quách đồn điền đi thôi”.
Thừa nghĩ thế. Vì hắn tìm ra người mua rồi. Hắn bảo Ma-ri:
- Thế mình không giữ nổi, thì thà tống sớm cái đồn điền này đi ngày nào, ta đỡ thiệt hại sớm ngày ấy.
Ma-ri thở dài, giọng chán nản:
- Tống cho ai bây giờ?
Thừa gật đầu, vẻ cương quyết:
- Không được ăn thì ta đạp đổ. Chúng nó đã khỏe nghe cộng sản, thì phen này cho chúng nó chết.
Ma-ri hỏi:
- Làm thế nào?
- Phải tay nhà thờ mới trị được chúng nó. Tôi tính bán quách đồn điền Cẩu Rồng lương này cho nhà thờ. Vỏ quýt dày phải có móng tay nhọn. Chúng nó muốn theo đít cộng sản, thì ta phải báo thù cho phen này chúng nó không còn đến cái khố mà đeo. Bên Cẩu Rồng giáo họ còn nghiệt bằng vạn mình. Mình tử tế, chúng nó không biết đường mà hưởng, thì cho mà mở mắt ra.
Ma-ri gật gật:
- Ông nghĩ thế hay đấy. Mình không mượn tay nhà thờ trả thù chúng nó hộ mình, mà cứ phải chịu cho chúng nó bóc lột, thì ức lắm nhỉ.
Rồi hắn khen Thừa:
- Đàn ông nghĩ vẫn thâm thúy hơn đàn bà! Nhưng dù sao thì ông cũng cứ nên đến thằng Xi, để hỏi nó, xem nó trả lời thế nào.
Thừa gật đầu.
Ngay chiều hôm ấy, Thừa đến nhà anh Xi. Muốn thoải mái, hắn đi giày tây trắng, vận quần và áo cộc lụa, đội nón, chống ba-toong.
Để lấy lòng anh Xi, hắn không quên đem cho anh một ít thuốc cảm, thuốc sốt, và thuốc nhức đầu.
Trước lúc này một tí, anh Lâm ở nhà anh Xi ra. Anh ăn mặc như một người lái buôn: khăn xếp trên đầu, áo the vắt vai, tay nải khoác sau lưng, và ô đen đã bạc để che nắng.
Lúc ấy mặt trời đã xế. Gió bắt đầu hiu hiu. Thừa phe phẩy cái quạt lông nhỏ, đủng đỉnh đi bước một. Hắn ngắm đồng lúa trước mặt. Lúa không đến nỗi xấu lắm.
Thế mà chúng nó dám giở quẻ. Cáu thật! Hắn nhìn những người ở dưới ruộng. Họ khom lưng, lầm lì, không hiểu họ nghĩ cái gì. Cảnh lặng lẽ quá. Có người hẳn hoi, mà vẫn lặng lẽ như không có người. Thỉnh thoảng, một điền tốt đi trên đường, gặp hắn. Anh ta chào, hắn làm ra tử tế, mỉm cười, gật đầu đáp lại. Cũng chỉ có hai tiếng Bẩm quan và một tiếng là ba thôi. Hắn muốn giữ người ấy để hỏi chuyện cho có nhiều tiếng nói. Nhưng người ấy đã len lén bước, có vẻ sợ sệt.
Thừa nhìn lên dãy Tam Đảo. Tường những biệt thụ trắng xóa trên nền rừng xanh. Chỗ ấy mát. Khí hậu như ở bên Pháp. Có biệt thự thống sứ, biệt thự công sứ. Có biệt thự nhiều quan to ở Hà Nội. Có bể bơi. Có thác Bạc. Có nhà khách sạn đồ sộ. Đến mùa bức, Tam Đảo tụ họp những bậc tai to mặt lớn của Bắc Kỳ. Người An Nam chưa ai có biệt thự ở đấy. Người An Nam muốn lên Tam Đảo nghỉ mát, thì chỉ có một nơi riêng, ở dưới xa, chật chội, nhà nhỏ hẹp, đường lầy lội, gọi là làng An Nam. Thừa ước ao xây hẳn một biệt thự ở ngay chỗ người Pháp ở, để có dịp mà làm quen với những vị có thế lực lớn.
Trong lúc Thừa đi thong thả, thì anh Lâm bước những bước vội vàng. Anh cũng ngắm cánh đồng. Lúa xấu lắm. Nếu bàn tay của Đảng không vươn tới cứu những người nông dân bán lưng cho trời, bán mặt cho nước, thì họ đói khổ lắm. Mùa màng thế này mà họ cứ phải nộp đúng như trong quy chế lĩnh canh, thì họ phải ăn rơm thôi. Nhìn họ rách rưới, cặm cụi dưới ruộng, anh biết là họ khổ lắm, nhưng họ không tìm được cách nào để thoát khổ. Gặp họ ở đường, anh thấy họ lầm lì. Mặt họ như vậy, nhưng bụng họ rất hăng. Bề ngoài họ tiều tụy là vì nó chứa chất thầm kín nhiều nỗi uất ức. Khơi được nguồn uất ức, người nông dân sẽ vùng dậy. Anh mừng rằng đã tìm được cơ sở tốt để hoạt động thuận tiện. Nhà anh Xi ở vào chỗ vừa hẻo lánh, vừa kín đáo, rất tiện cho anh đi về.
Anh nhìn lên dãy Tam Đảo. Ở đây, khí hậu mát mẻ như ở bên Pháp. Bọn thực dân chiếm riêng một chỗ, xây dựng những biệt thự to lớn. Chúng nghỉ ngơi ở đây, tránh nắng nôi, bệnh tật, lấy lại sức để áp bức bóc lột dân nước mình cho khỏe hơn. Mỗi biệt thự có tường trắng là một cái tổ quỷ. Anh kinh tởm.
Chợt anh thấy từ phía trước mặt đi đến, một người đội nón, mặc áo cánh lụa, lại chống ba-toong. Anh không ngờ là Thừa. Cái người đã giết chị anh, cái người tàn bạo với dân cày, cái người quỷ quyệt, ngày thường ăn mặc thế nào, hay đi đâu, theo đường nào, bằng gì, anh Xi đã cho anh biết kỹ rồi. Cái người ăn mặc sang trọng, có vẻ đầy uy quyền này, có thể là chánh phó tổng, chánh phó hội, chánh phó lý gì ở miền này chăng? Anh cố nhìn người ấy để nhận mặt, rồi sau này hỏi anh Xi xem là ai. Nhưng chợt anh giật nảy mình. Cái thằng lẹm cằm, không còn ai khác nữa! Anh không quên mặt nó. Hẳn nó cũng không lạ gì mặt anh. Anh thù nó. Nó cũng không yêu gì anh. Bây giờ anh thay hình đổi dạng. Với một người thật thà, ngây thơ, thì có thể đoán sai rằng anh bị sa sút, phải đi lang thang buôn hàng xách kiếm ăn. Nhưng với thằng lừa lọc, lắm thủ đoạn này, chắc nó nghi anh mặc thế, lại đến đồn điền nó, là có âm mưu hại nó, để trả thù cho chị anh. Anh Xi lại cho anh biết là thằng bất nhân này chỉ mong bắt người làm quốc sự để làm kế tiến thân. Chính vì muốn tiến thân mà nó phản những khách buôn thuốc phiện lậu của nó, định đổ cho họ là Việt Nam quốc dân đảng. Anh Xi đã bị bắt lây với những người ấy. Chính vì muốn tiến thân, mà nó báo bắt cả một người bạn cũ của nó. Cái người ân nhân ấy đã thay đổi đời của nó hai lần. Chính vì hai lần muốn tiến thân mà nó phải giả danh từ thiện. Một lần nuốt không trôi món tiền định cướp không của bọn khách hàng, nó bị công sứ Vĩnh Yên lấy lại cho một tỉnh gì ở bên Pháp. Một lần tải không trót lọt ba thuyền thóc định bóp hầu bóp cổ dân bị lụt, thóc bị giữ lại, nó khai rằng thóc ấy đem đi phát chẩn bần.
Anh Lâm còn biết rõ cả vì sao nó được gọi là ông hàn, và những chuyện riêng trong gia đình nó, vợ con nó ra sao.
Bây giờ sắp chạm trán thằng nhơ bẩn này, anh sẽ đối phó ra sao đây? Hẳn nó không ngây thơ, thật thà, mà cho là anh bị sa sút, phải lang thang đi buôn hàng xách. Lòng háo lập công của nó phải xui nó nghĩ ngay rằng anh đến đây để hoạt động chính trị bí mật. Vụ cờ đỏ và truyền đơn trên tỉnh, thế nào cũng đến tai nó, hẳn nó nghĩ anh đã làm rối cuộc trị an.
Anh sắp giáp mặt nó rồi. Anh lờ như không nhìn thấy có được không? Không. Vô lý lắm. Gặp một người lù lù ngay ở trước mặt mà không nhìn, là vì không dám nhìn. Không dám nhìn, vì sợ. Sợ vì mình có gì khuất tất, không thẳng thắn, phải giấu giếm. Như vậy, kém tự nhiên. Nó càng nghi. Vậy anh cứ nhìn nó. Nhưng nhìn nó mà có nên chào nó không? Chào xong, anh có nên hỏi nó trước không? Hỏi gì? Gọi nó bằng gì? Nói những chuyện gì? Hay cứ để nó chào anh trước, hỏi chuyện anh trước? Trước mặt nó, thái độ anh sẽ thế nào? Nếu nó hỏi thăm những câu thường, anh biết là nó không nghi ngờ gì đã đành. Nhưng ngộ nó hỏi những câu như muốn tò mò về tung tích, về hành động của anh, thì anh trả lời ra sao? Anh Lâm cau mặt để suy nghĩ. Anh thầm mong nó không nhận ra anh, hoặc có nhận ra, hai người chỉ làm như chờ được chào hỏi trước. Rồi vì cùng găng nhau, nên hai người qua mặt nhau, như hai người dưng. Thế là xong.
Trong khi ấy, Thừa cũng đã nhìn thấy cậu Nghĩa rồi. Trước hết, hắn hơi ngợ về nét mặt giờ và cách ăn mặc tiều tụy của người em vợ cũ. Đến khi nhận đúng anh lái buôn này là cậu Nghĩa, cái người không thân thiện với hắn khi hắn còn là anh rể cậu, cái người thâm thù hắn sau khi chị cậu bị hắn đánh chết vì không đào được mỏ, thì Thừa như thằng ăn cắp trông thấy người ngay. Đương đi cái dáng bệ vệ của một ông chủ đồn điền, hắn tự nhiên lấm lét, sợ sệt. Hàng trăm câu hỏi xoáy vào đầu óc hắn. Cậu Nghĩa có nhận ra hắn không? Không thể nào không. Hắn có nên chào cậu trước để mua chuộc cảm tình của cậu trước hay không? Mua chuộc để làm gì? Hay cũng chào một tiếng, rồi cứ nhạt nhẽo mà đi thẳng? Vả lại hỏi, thì biết hỏi chuyện gì? Hay để cậu hỏi trước? Ngộ cậu hỏi những câu về việc cũ, thì trả lời thế nào? Thừa lúng túng. Hắn chỉ mong cậu Nghĩa không nhận ra hắn, hoặc dù nhận ra, hai bên chỉ nhìn nhau, không ai chào hỏi ai, là êm nhất.
Chợt Thừa nhớ rằng mình đội nón. Hay là nánh cái nón để che mặt cho cậu Nghĩa khỏi nhìn rõ.
Hai người cách nhau độ hai mươi thước nữa.
Anh Lâm hồi hộp. Hay là tránh đường cái, đi tạt xuống bờ ruộng? Nhưng những ruộng này không có đường mòn. Tránh như vậy để đi đâu? Có khác gì lạy ông tôi ở bụi này không?
Thừa cũng rất lo lắng. Hắn nánh cái nón hơn nữa. Chợt hắn thấy phía bên kia thửa ruộng liền đường có cái ao. Ao cứu chủ! Hắn có thể tránh cậu Nghĩa một cách rất tự nhiên rồi. Hắn quay mặt nhìn cái ao. Rồi hắn rẽ theo bờ ruộng để đến đấy. Hắn là chủ đồn điền. Hắn đi thăm đồng đây.
Thế là Thừa trốn được cậu Nghĩa.
Thấy thằng khốn nạn lánh mặt, anh Lâm thở phào một cái, nhẹ nhõm cả người.
 
* * *
Thừa dòm thấy anh Lâm đi thật xa, mới dám lên đường cái.
Bỗng hắn sực nghĩ ra. Ai treo cờ đỏ và rải truyền đơn ở Vĩnh Yên vừa rồi? Ai xui giục dân lĩnh canh các đồn điền xin giảm thóc nộp? Thôi chết rồi? Chính nó là cộng sản! Một thằng con nhà khí phách, năm xưa đã đi tẩy chay, biết nói những chuyện thương nước thương nòi, một thằng không chịu đốc Tây bắt nạt, đã cùng anh em bãi khóa, một thằng đã thấy rõ tòa án bất công, không bênh vực người chị nó chết oan, thằng ấy không phải không có đầu óc phản đối. Nó lảng vảng làm gì ở đây? Thừa tiếc rằng ban nãy hắn sợ gặp nó, mà không nghĩ ra rằng thằng ấy là thằng rất đáng nghi. Sao Thừa không cứ gặp nó? Nó bị đứng lại hỏi chuyện mà cứ lấm la lấm lét định đánh tháo, thì thế nào mình cũng nhớ ngay là nó có gì gian giảo, nên mới chỉ định chuồn.
Thừa quay nhìn anh Lâm. Bóng anh đã xa hút rồi. Đuổi theo anh chăng? Không kịp. Làm thế nào bắt được thằng khả nghi này lại mà hỏi? Chậm quá rồi!
Thừa nhăn mặt, giậm chân, giận mình chậm trí khôn, để sểnh mất mồi tự dâng đến tận miệng.
Bỗng Thừa nghĩ đến thằng cẩm Pha-lăng-xô. Tên mật thám chính trị này phải biết tung tích cậu Nghĩa. Nếu cậu Nghĩa chỉ bị sa sút, phải đi lang thang buôn hàng xách, thì đã đành. Nhưng nếu cậu đi làm cộng sản, thì sở Mật thám dễ biết được cậu ở đâu để theo dõi, và trừ cho nước một thằng phá hoại.
Thừa không đến nhà anh Xi nữa. Hắn phải đi Hà Nội ngay bây giờ để báo cho thằng Pha-lăng-xô chăng lưới. Nếu chậm, cậu có thể lọt mất.
Hắn về nhà, và quàng vài lưng cơm, rồi mặc quần áo, lấy ô-tô để đi. Ma-ri hỏi, hắn chỉ đáp:
- Vội lắm, đợi ngày tôi về hãy nói chuyện.
Tối hôm ấy, Thừa gặp Pha-lăng-xô ở nhà riêng. Hắn bảo thằng mật thám:
- Tôi nhờ ông tra lý lịch và hành tung thằng Phạm Hữu Nghĩa ở phố Hàng Đào, hiệu Phúc Lâm.
- Để làm gì?
- Tôi thấy thằng này lảng vảng trong đồn điền tôi. Tôi ngờ nó có dính dáng đến vụ cờ đỏ truyền đơn ở Vĩnh Yên vừa rồi.
Hôm sau, thằng Pha-lăng-xô trả lời Thừa là Phạm Hữu Nghĩa là một đảng viên cộng sản đã một lần bị hai năm tù ở đề lao Vĩnh Yên về tội tuyên truyền tư tưởng phiến loạn. Mãn hạn tù, nó bỏ hẳn nhà để đi hoạt động, sở mật thám dò dấu vết của nó, nhưng chưa ra.
Pha-lăng-xô cảm ơn Thừa đã giúp nó được việc lớn, tìm được tung tích một thằng cộng sản cuồng tín nhưng khá nguy hiểm.
Thừa hỏi:
- Nó bị giam ở Vĩnh Yên?
- Phải.
- Ông có thể cho tôi biết vào năm nào không?
- Được.
Thằng Pha-lăng-xô tra sổ đen. Nó cho Thừa rõ cậu Nghĩa bị bắt ngày nào, ra tòa ngày nào, và ở tù đến ngày nào thì được tha.
Thừa lẩm bẩm tính, bỗng mắt hắn sáng lên:
- Thế thì tôi tìm ra chỗ ở của nó rồi.
Thằng Pha-lăng-xô nhìn Thừa để hỏi. Thừa nói:
- Chính ngay trong đồn điền tôi thôi. Nó ở nhà một thằng điền tốt, tên là Xi. Tất nhiên, nó đến đấy từ hơn một tháng rồi, và đã hoạt động ở vùng này khá nhiều rồi. Nó đương cổ động tất cả tá điền các đồn điền xin giảm thóc phải nộp.
Pha-lăng-xô cười:
- Nó gọi là đòi, là yêu sách như là tá điền có quyền, chứ gọi là xin à!
Thừa cười, gật gật:
- Đúng, đúng!
- Sao ông biết thằng Nghĩa ở nhà thằng Xi và đã hoạt động như thế?
- Việc tá điền đòi yêu sách, đã đến tai tôi, nên tôi biết. Còn việc thằng Nghĩa ở nhà thằng Xi, vì chính ngày ấy, thằng Xi cũng bị bắt oan là làm chính trị, nên chắc được nhốt ở trại chính trị, mới quen thằng Nghĩa, rồi bị nhồi sọ, nên nay mới chứa nó.
- Thằng Xi là người thế nào, ông có biết rõ không?
- Rõ lắm. Nó là người cùng làng với tôi, đã làm với tôi nhiều lần.
- Ông cho tôi biết về nó, không cần thêm thắt. Đúng thôi nhé.
Thừa nói về anh Xi. Thằng Pha-lăng-xô ghi vào sổ. Ghi xong, nó nói:
- Ông vừa nói ông định dùng thằng Xi làm quản lý, nhỉ.
Thừa đáp:
- Vâng. Nhưng nay tôi không dám có ý định ấy nữa.
Thằng mật thám cười, lắc đầu:
- Cứ dùng. Tôi bày mưu cho ông nhé. Ông vừa cho tôi biết rằng ông đã gặp vợ thằng Xi, bảo con đàn bà ấy xui chồng làm quản lý cho ông. Thế thì chắc vợ chồng nó nói chuyện với nhau rồi, và thế nào thằng Xi cũng hỏi ý kiến thằng Nghĩa. Nay đột nhiên ông gặp thằng Nghĩa mà bỗng dưng lại không đến nhà thằng Xi gọi nó đến làm quản lý nữa, thì có khác gì ông báo nó là đã khám phá ra điều bí mật, là nó chứa cộng sản trong nhà, là nó cũng là cộng sản, nên ông gờm mặt nó hay không? Vậy ông cứ tự nhiên như thường, ông đến nhà thằng Xi, dỗ dành bằng hết lý lẽ, để bảo nó làm quản lý cho ông. Như thế mới dò được bụng nó.
- Thưa dò gì ạ?
- Nếu nó nhận lời ông, thì nó vẫn là người vô tội. Nếu nó từ chối, thì đúng nó là cộng sản. Và đã là cộng sản, không bao giờ nó giúp điền chủ áp bức bóc lột lại tá điền.
Thừa chịu thằng mật thám là cao kiến. Thằng Tây lại vui sướng nói:
- Tôi cảm ơn ông giúp cho sở Mật thám cất một mẻ lưới lớn. Ông nên nhớ rằng không bao giờ nhà nước quên người có công đâu.
 
* * *
Anh Xi nhận lời làm quản lý cho Ma-ri. Thật là không ngờ.
Vậy anh là cộng sản hay không là cộng sản? Anh Lâm chỉ là đi qua đồn điền Cẩu Rồng nên gặp Thừa, hay anh vẫn hoạt động ở đây? Anh có bắt mối anh Xi hay không? Việc anh Xi nhận lời làm quản lý, anh Lâm có biết không? Sao anh để yên cho anh Xi giúp địa chủ làm hại các bạn lao động của anh ấy?
Về việc này, anh Lâm và anh Xi đã bàn nhau nát ra rồi.
Hai người thấy rằng Thừa đã gặp anh Lâm ở đường, tất hắn nghi anh lẩn quất ở đâu đây thôi. Nếu hắn đoán là anh ở nhà anh Xi, thì tất hắn không dám mượn anh Xi làm quản lý để chịu tội với nhà nước là chứa chấp cộng sản, và để cho anh Xi phá từ trong phá ra.
Vậy nếu Thừa không đả động gì đến việc bảo anh Xi đi làm quản lý, thì đúng là cơ sở ở đây bị lộ. Nhưng nếu hắn vẫn khẩn khoản dùng anh, tức là hắn không nghi gì. Cho nên anh càng nên nhận lời để khỏi bị nghi. Ở trong nhà hắn, anh hoạt động càng dễ. Anh sẽ tuyên truyền trước hết là kẻ ăn người ở trong nhà, rồi sau, từ trong nhà ra ngoài.
Song, về phía Thừa, vốn là người lắm thủ đoạn, nên hắn không dễ tin ai. Hắn tự đặt câu hỏi: “Thằng Xi không là cộng sản, thì thằng Nghĩa ở nhà ai trong vùng này? Không có lý gì hai thằng không quen nhau”.
Hắn lại đi Hà Nội, tìm thằng Pha-lăng-xô. Hắn kể chuyện anh Xi nhận làm quản lý, nhưng đặt lại vấn đề:
- Nhận làm quản lý cho điền chủ, có thể không là cộng sản, nhưng cũng có thể là cộng sản. Bọn cộng sản lắm mưu mô. Tôi đã gặp thằng Nghĩa ở phía nhà thằng Xi đi ra. Nếu thằng này không nhận làm quản lý thì nó sợ rằng tôi biết, tất nó đã bị cộng sản xui là đừng làm điều bất nghĩa. Cho nên nó cứ nhận, để bịt mắt mình.
Thằng mật thám gật đầu:
- Ông nói có lý. Vậy ông phải sáng suốt, để khỏi nuôi ong tay áo. Ông để ý từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động của nó cho tôi. Nó hay đến chơi nhà ai? Ai hay đến chơi với nó. Chúng nó nói với nhau những gì. Ông điều tra tất cả những cái ấy, ghi hết vào sổ cho tôi, chua thêm cả ngày tháng nữa. Rồi độ mươi hôm, nửa tháng, ông cho tôi xem sổ một lần, để tôi xét.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IV
NỢ NƯỚC THÙ NHÀ  
 
Anh Xi vào ở trong nhà Thừa, tuy anh cho như nằm trước miệng hùm, có nguy hiểm đấy, song không phải không có thuận lợi. Nếu anh hết sức giữ gìn từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động, thì nguy hiểm không còn, chỉ có thuận lợi thôi.
Thuận lợi thứ nhất, là làm quản lý, anh có quyền đi khắp các nhà nông dân để tìm hiểu họ. Thuận lợi thứ hai, là ở với Thừa và Ma-ri, anh dò xét ngay được xem hai người có dã tâm gì đối với cách mạng, với nông dân. Anh sẽ có thể kịp thời đối phó, hoặc ngăn cản.
Một tối, hai Điều vào buồng anh. Hắn nằm kềnh càng bên cạnh anh. Hắn nói xấu ông Hàn bà Hàn một lúc, rồi bỗng hắn hỏi:
- Bác đội nhỉ - tiếng đội là tiếng quen mồm để gọi quản lý, cũng như tiếng quan hàn là chức quen mồm để gọi chủ đồn điền - Bác đội nhỉ, bác có nhớ ngày xưa, ở phòng thuốc nhà giàu, cái lần bác về Hà Nội chơi xem tẩy chay ấy, có một anh học trò trường Bưởi vẫn đến nhà ta in giấy cổ động với người chị gái không nhỉ?
Thấy thằng già định làm mật thám một cách ngô nghê, lố bịch, anh bật cười. Anh tặc lưỡi, đáp:
- Việc từ đời tám hoánh, ai nhớ được. Mà ngày ấy, hàng chục học trò đến, thì để ý sao được từng người.
Hai Điều nói:
- Cái anh chàng ít nói, có người chị gái ốm yếu, vẫn đến nhờ xem mạch, xin thuốc ấy mà?
Anh Xi lắc đầu:
- Tôi không nhớ.
Rồi anh quay lão già:
- Cụ hỏi làm gì?
Hai Điều lảng:
- Sực nhớ đến thì hỏi chơi.
Anh Xi sợ hai Điều để ý đến lời anh vặn, nên phỉnh:
- Thế mà cụ nhớ lâu hơn tôi. Trí não cụ tốt, còn thọ.
Hai Điều được thể, hỏi thêm:
- Hai chị em con nhà hiệu Phúc Lâm ở Hàng Đào ấy mà?
- Tôi không nhớ.
- Cái nhà mà tôi với anh đã vào xem bày cỗ tháng tám ấy mà.
Anh Xi lại lắc đầu:
- Tôi không nhớ. Lâu quá rồi.
Như đốt phải cái pháo tịt ngòi, lão già không thể cậy thêm anh Xi bằng những câu hỏi sau nữa.
 
* * *
Một hôm - lần ấy Thừa về Hà Nội để dạm bán nhà cho ông Lăng - trời vừa sáng, Ma-ri còn đương ngủ, thì hai Điều đã chạy lên nhà trên, tay gõ dồn dập vào cửa sổ buồng, miệng cuống quýt gọi:
- Bà lớn ơi! Bà lớn ơi!
Ma-ri giật mình, hỏi:
- Gì thế, ông?
Lão già vừa thở vừa đáp:
- Bà lớn ơi! Có các bác ấy đến. Bác Đội lại đi vắng. Mời bà lớn ra, mau lên!
Ma-ri hỏi lại:
- Các bác nào?
Không thấy hai Điều trả lời.
Biết là việc cần. Ma-ri vội vàng bới tóc, rồi ra nhà ngoài. Hắn mở cửa buồng giữa.
Bỗng hắn giật nảy mình. Ở dưới sân, có đến hai chục tá điền, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà có, đứng lố nhố.
Hắn biết ngay họ đến làm gì.
Vội vàng, hắn đóng ập cửa lại. Con người vốn có tính liều, cho là cứ ù xịa, bạt mạng, rồi đâu lại vào đấy hết.
Tiếng ông già Thâm nói:
- Chào bà, chúng tôi có câu chuyện muốn thưa với bà.
Ma-ri không đáp. Hắn cũng không ra. Hắn vặn khóa.
Bởi vì hắn sợ quá. Đúng là đám người này đến biểu tình đưa yêu sách cho chủ, như các báo thường tả đây. Hắn không biết đối phó như thế nào. Không tiếp họ là tốt nhất. Giơ mặt ra, lỡ lúc tức, họ đánh cho thì ốm đòn. Ông già Thâm lại nói to:
- Mời bà ra đây. Sao bà lại không mở cửa?
Ma-ri chõ miệng nói ra, trả lời:
- Đợi hôm quan về, các người muốn gì hãy hay.
Tiếng ồn ào đáp lại:
- Không. Đồn điền này là của bà, chúng tôi chỉ biết bà, chúng tôi không biết quan nào cả.
Ma-ri biết nói là hớ, nên nín lặng. Hắn ngồi trên ghế. Hắn định mặc kệ, ai nói gì cứ nói, hắn cứ làm thinh. Nói chán, tất họ phải về. Hắn mà trả lời, thì hắn một câu, họ mười câu, không biết đôi co đến bao giờ. Lỡ hắn hấc lờ câu nào, họ dồn vào chỗ bí, thì hắn mắc. Chi bằng muốn khôn ngoan, hắn cứ trốn tịt ở trong này, đánh nước bài ỳ. Họ nói thì họ nghe. Tấn công vào chỗ hẫng mãi, tất họ phải chán. Chờ hôm Thừa về. Để đàn ông cứng rắn mới đối địch được với họ.
Bỗng lại ồn ào:
- Bà mở cửa ra!
Ma-ri không nhúc nhích.
- Bà Hàn! Bà Hàn!
Ma-ri không trả lời.
Tiếng chân người lên thềm. Hình như họ kéo nhau đến cửa. Họ phá cửa chắc? Ma-ri lẩy bẩy, giơ tay rút cái kích, cầm ngang cán để giữ thế thủ.
Nhưng không ai phá cửa. Cũng không ai gõ cửa. Ông giờ Thâm lại nói:
- Bà không ra, chúng tôi cũng cứ thưa chuyện. Chúng tôi báo trước với bà là vụ này chúng tôi chỉ nộp một nửa thóc thu hoạch được thôi. Chắc bà đã biết là lúa má xấu lắm.
Một người nhắc để nhấn mạnh:
- Nộp một nửa thóc thu hoạch, xin bà nhớ kỹ.
Ma-ri trợn mắt, cắm cái kích vào giá lộ bộ.
- Chúng tôi lại xin bà bỏ cái lệ đánh đập, và trả chúng tôi bài vị tổ tiên chúng tôi giam ở trong này.
Ma-ri tức run lên. Một tiếng đàn bà nói:
- Ai chả có ông bà cha mẹ, hở bà?
Ma-ri hầm hầm đứng dậy, dòm qua kẽ cửa xem ai nói. Nhưng cửa khít quá, hắn không nhìn thấy gì.
Yên lặng một lát. Rồi một người nói:
- Bà không ra, thì chúng tôi cứ ở đây. Chúng tôi đã nói trước là chúng tôi chỉ nộp một nửa thóc thu hoạch. Bà không nói gì là bà bằng lòng rồi.
Ma-ri không nhịn được, vội vàng chõ mồm nói ra:
- Không nộp cả thóc thì trả lại ruộng!
Bất đồ tiếng nói nổi lên rầm rầm:
- Thì chúng tôi trả. Trả hết. Bà đòi ruộng của một người, tất cả chúng tôi cũng trả hết. Chúng tôi trả thì ruộng của bà là đất hoang. Chúng tôi vỡ chỗ khác, cũng đủ ăn được, chứ không chịu đói.
Ma-ri đỏ mặt tía tai, toan dọa lại. Hắn muốn bảo họ là nhìn gương anh Xi đấy, đất ở đâu không là đất của đồn điền.
Nhưng hắn thấy là cãi họ nữa thì dại. Hắn vừa nói một câu, họ đã ồn ào lên, trả lời bướng bỉnh. Đã liều trốn vào đây, thì cứ đành ngậm miệng là hơn.
- Thật đấy, bà nghĩ kỹ mà xem. Có chúng tôi làm thì ruộng đẻ ra thóc, chúng tôi bỏ, thì cỏ mọc, lại thành đất hoang.
Ma-ri muốn cãi: “Chúng bay không làm, thì khối đứa xin làm, bà không cần”. Nhưng không dám mở miệng. Hắn chỉ thở dài.
Hai chục người tá điền còn nói nhiều nữa.
Nhưng họ tiến quân vào chỗ không có người. Họ nổ súng, mà không bị bắn lại. Cho nên, họ nói ít dần. Câu ngắn dần. Và rời rạc dần. Có tiếng chân lệt xệt xuống thềm. Hình như một vài người chán, bắt đầu bỏ về. Ma-ri khoái là mình đi nước cờ cao. Hắn tủm tỉm một mình. Rồi không có tiếng nói nữa. Nhưng vẫn có tiếng ho. Rồi tiếng xệt chân.
Ma-ri cố tìm một kẽ để nhìn ra. Nhưng không có. Cái lỗ khóa thì thìa cắm kín vào rồi. Không hiểu những người này đã về hết chưa? Hay họ xuống sân, vờ đứng im, để Ma-ri tưởng không còn ai ở đấy, thì mở cửa. Họ sẽ túm giữ Ma-ri lại, bắt trả lời nhượng bộ họ. Nửa giờ. Một giờ. Gần hai giờ rồi. Quái! Sao không thấy cụ quản lên? Lũ đội con gái đâu? Dễ thường đám biểu tình chưa đi thật. Đã liều để có kết quả, thì cứ kiên tâm mà liều.
Thành thử Ma-ri phải ngồi chờ để nghe ngóng. Bong bóng của hắn và ruột già của hắn muốn bài tiết, nhưng hắn đành cố nhịn. Nghĩ đến nước bài ỳ có công hiệu, Ma-ri cũng phải nhịn cười.
 
* * *
Hôm Thừa ở Hà Nội về, Ma-ri thuật lại việc xảy ra ở nhà cho hắn nghe. Hắn không quên khoe cách hắn đối phó để đi đến thắng lợi của hắn.
Thừa bực mình lắm:
- Được rồi. Đã thế thì trước khi bán đồn điền cho nhà thờ, vụ này, nhất định ta hãy cúng cho nhà nước một nửa số thóc thu.
Ma-ri hỏi:
- Phải có dịp gì mới cúng chứ?
- Không thiếu dịp. Hiện nay, nhà sinh viên Đông Dương ở Pa-ri đương xây dựng. Chắc chính phủ Pháp không từ chối tiền của thuộc địa này.
- Nhưng làm gì có thóc mà cúng?
Thừa giảng:
- Bà chưa hiểu ý tôi. Lúa năm nay xấu, đồn điền nào cũng thu kém vụ trước, cho nên chúng nó xin giảm một nửa. Thường ruộng tốt của ta, quy chế định mỗi sào gặt bảy mươi cân thóc, thì chúng nó phải nộp ta một nửa. Nhưng vụ này, trông chừng mỗi sào được bốn mươi cân là cùng. Ta thu nhiều lắm là hai mươi cân. Nếu giảm một nửa nữa thì chỉ có mười cân. Đấy là tính theo con số trung bình và vào trường hợp bình thường.
Ma-ri hiểu:
- Được ăn cả, ngã về không. Chứ chịu nhịn cho chúng nó bắt nạt mình thì ức lắm.
Thừa lắc đầu:
- Sao lại về không? Chúng nó nộp mười cân, thì còn giữ lại ba mươi cân để ăn. Nhưng mình cúng cho nhà nước, thì nói rằng cúng cái số thóc thu hoạch theo quy chế, tức là ba mươi nhăm cân một sào.
Ma-ri gật gật:
- Ừ nhỉ. Mình cúng cho nhà nước một nửa, thì mình còn được mười bảy cân rưỡi. Lợi hẳn bảy cân rưỡi!
- Cho nên muốn vét sạch sành sanh thóc đi, mình phải nhờ bàn tay có thế lực của nhà nước.
- Nhưng nếu mình phải thu, rồi nộp cho nhà nước, thì mỗi sào được có mười cân thôi à? Lấy gì mà bù?
Thừa cười:
- Mình mà cúng như thế, thì nhà nước phải phái người về coi chung với mình mà thu thóc chứ?
Ma-ri ha hả cười:
- Thế thì chắc lính khố xanh phải về. Bọn thịt gà lá chanh mà mang súng đến đâu, thì đố đứa nào dám nho nhoe. Mình đứng yên, được cười hả!
Rồi hắn khen Thừa:
- Mưu mô hay đấy. Cúng cho nhà nước, bắt nhà nước gặt và thu thóc cho mình, một mặt, đối với trên, mình vẫn được tiếng tốt là hay làm việc nghĩa, đối với dưới, mình tránh được tiếng ác.
Thừa gật đầu:
- Mà mình mượn được nhà nước trả thù chúng nó cho mình.
Hắn tặc lưỡi ghé vào tai Ma-ri:
- Tức là mình sai nhà nước làm đầy tớ, giết chết chúng nó hộ mình. Có gì đâu!
 
* * *
Hai Điều nghe câu được câu chăng việc quan ông quan bà định hiến thóc. Hắn bép xép với anh Xi. Anh Xi nhìn rõ ngay thấy cái chân tướng của việc gọi là hiến này, nó chỉ là âm mưu thâm độc giết người của thằng gian ngoan. Anh nói với lão già:
- Nhà nước chả nhận đâu.
- Vì sao?
- Vì nhà nước khôn chán. Tôi chỉ sợ các quan hiểu lầm là hai bác hàn nhà mình sai nhà nước gặt hộ, thì phụ lòng tốt của hai bác thôi. Cụ phải can đi mới được.
Hai Điều cho là anh Xi có ý phản đối. Nó hớt lẻo với Thừa và Ma-ri.
Thừa gọi anh Xi lên. Hắn hỏi:
- Tôi nghe ông quản nói chú bảo việc tôi hiến thóc cho nhà nước là sai nhà nước gặt hộ à?
Anh Xi đáp:
- Vâng. Tôi sợ nếu các quan trên hiểu lầm là bác sai nhà nước gặt hộ, vì bác không gặt nổi, thì các ngài không nhận, còn nghi ngờ bụng tốt của hai bác.
Ma-ri thấy anh Xi tinh ý thì nhìn Thừa. Nhưng Thừa thản nhiên, cố làm như chưa hiểu. Tuy hắn đã nghe rõ câu anh vừa nói, nhưng vặn lại để dò anh:
- Sao chú lại nghĩ lẩn thẩn rằng thế là tôi sai nhà nước nhỉ?
Anh Xi mỉm cười lắc đầu:
- Không phải tôi nghĩ, mà tôi sợ nhà nước nghĩ thế. Là vì nếu gọi là hiến, thì nhà mình gặt lấy, rồi mới hiến chứ?
Ma-ri cãi:
- Nhà mình là nhà ai? Hãy hỏi tôi, nhà tôi hay chú?
Hắn đay:
- Mà chú thì lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại là không quen việc quản lý. Vậy hãy hỏi cả ba người có thu nổi của chúng nó hột thóc nào không? Phi nhà nước, thì vụ này đố ai lấy thóc của chúng nó được!
Anh Xi nói như giao hẹn:
- Đấy, rõ ràng là hai bác sai nhà nước chứ còn thế nào nữa. Nhà nước tinh khôn, chứ không dại đâu. Cho nên tôi chắc nhà nước không nhận. Không khéo hai bác còn bị các quan quở nữa đấy.
Ma-ri tức:
- Lại đến cái nước ấy nữa. Đã được thóc hiến, lại còn quở. Quở cái gì?
Anh Xi dọa già:
- Đấy, hai bác không nghe tôi, cứ thử làm mà xem. Chẳng lẽ tôi biết lại không can hai bác.
Thừa thở dài, ôn tồn hỏi:
- Thế theo ý chú, thì nên như thế nào?
- Một là mình gặt, rồi hiến thóc, thế mới là hảo. Hai là đừng giở dói hiến với cúng làm gì.
Thừa nhìn chằm chặp vào anh Xi.
- Rầy rà quá! Tiên sư những thằng cộng sản. Chúng nó gây khó khăn cho mình!
Muốn quật lại Thừa, anh Xi gật đầu:
- Vâng, đúng là những thằng cộng sản gây khó khăn. Đồ cộng tiền, cộng của, cộng vợ, cộng chồng!
Quả nhiên Thừa tím mặt lại. Nhưng Ma-ri không hiểu là hắn bị đau. Hắn nói:
- Quân tam vô ấy chỉ đáng chết chém hết!
Anh Xi vờ ngớ ngẩn:
- Thưa tam vô là thế nào ạ?
- Là vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo.
Anh Xi làm như biểu đồng tình:
- Vâng, những quân phản lại tổ quốc, bỏ cha mẹ vợ con, chẳng theo hẳn đạo nào, thật đáng chết chém hết!
Thừa nói lảng:
- Thôi về việc tôi hiến thóc, chú nói thế nào thì tôi biết thế. Để tôi suy nghĩ kỹ.
Ma-ri hằn học:
- Nhưng tức lắm kia. Có chú biết đấy. Hôm chúng nó vào xin giảm thóc, tôi bảo không nộp đủ thì tôi đòi lại ruộng, chúng nó còn bướng, dọa lại rằng hễ tôi đòi một đứa thì chúng nó trả hết ruộng.
Thừa nói:
- Chúng tôi chỉ có một lỗi là hay thương người, không nỡ làm hại ai. Nhà tôi hiền lành, chứ nếu hôm ấy tôi có nhà, tôi quyết giữ lại vài thằng. Tôi dỗ dành hoặc làm như kiểu mật thám, hỏi xem đứa nào xui, thì chúng nó phun ra hết.
Ma-ri gật đầu:
- Phải, xưa nay người mình có tiếng là tốt, nước mình có tiếng là trật tự, trên ra trên, dưới ra dưới, người trên bảo gì một câu, người dưới nghe răm rắp ngay, có bao giờ dám hỗn láo như thời buổi khốn nạn này đâu.
Anh Xi cười lạt:
- Chà phải ai xui đâu, bác ạ. Hễ đói thì đầu gối phải bò, bò đến nhà chủ mà xin giảm thóc. May là tôi làm quản lý, chứ nếu phải nộp thóc, tôi cũng xin.
Anh nhắc lại chuyện cũ:
- Bác có nhớ ngày xưa, làng ta bị lụt ba năm liền các cụ nhà mình bảo nhau làm đơn xin giảm thuế không? Thế thì cộng sản nào đã có mà xui?
Thừa biết là anh Xi muốn chặn họng mình, hắn nói:
- Nhưng bây giờ thì thế nào chẳng có kẻ xui. Không có cộng sản, sao tất cả ngần ấy đứa lại đồng lòng nhau kéo đến đây, dám ăn nói bướng bỉnh thế?
Thừa nhìn mặt anh Xi. Nhưng anh Xi vẫn thản nhiên như thường:
- Chả lẽ cứ làm điều gì phải, nói câu gì đúng, cũng là cộng sản à? Thế ra hai bác cũng cho cộng sản là phải, là đúng à?
Thừa cứng lưỡi, không trả lời được.
 
* * *
Mười lăm hôm sau, là ngày hẹn, Thừa đi Hà Nội để báo cáo về anh Xi cho thằng Pha-lăng-xô nghe. Theo lời dặn của thằng mật thám, Thừa phải khai đúng, không thêm không bớt:
- Sự thật thì tôi không thấy nó nói hoặc làm gì khác, đáng chú ý cả.
- Nhưng chẳng lẽ nó không nói gì, không làm gì. Ông kể lại một vài câu, một vài việc của nó cho tôi nghe.
Thừa nói cho thằng Tây lai biết là thỉnh thoảng anh Xi đến các nhà điền tốt, như xừ Tuynh ngày trước vẫn đi. Hắn có hỏi dò một vài nhà xem anh nói chuyện gì, thì họ bảo chỉ là hỏi thăm công việc làm ăn, lúa má thôi. Hắn cũng nhắc lại ý anh Xi về việc hắn định hiến thóc.
Thăng Pha-lăng-xô nói:
- Nếu ông không thấy ở nó cái gì khác, một là vì nó rất kín đáo, hai là vì ông không có cái mắt và cái tai của chúng tôi. Cho nên ông thấy gì cũng là thường. Thằng quản lý trước đến nhà nông dân có mục đích khác, nhưng nó đến lại có mục đích khác. Những người mà nó đến nhà, có lẽ cũng là tụi nó, cho nên họ giấu ông. Vả lại chỉ hỏi thăm công việc làm ăn, lúa má thôi, không lo sửa soạn cái ngòi cho lần sau nó nói chuyện khác quan trọng hơn à? Nhưng tư tưởng nó rõ rệt nhất là ở cái việc nó ngăn ông đừng hiến thóc. Kể ra nó nói đúng. May cho ông, là ông chưa hiến. Chứ không, nhà nước nào ngờ nghệch nhận làm đầy tớ không công cho ông? Ông mà hở ra mánh khoé ấy, thì bao nhiêu việc nghĩa trước của ông làm, đều bị nghi là thủ đoạn hết. Nhưng về phần nó, nó đã tìm được một lý lẽ khá cứng, một lý lẽ tuy bề ngoài là cứu ông khỏi bị mang tiếng, nhưng bề trong chính là để cứu bọn nông dân của nó khỏi bị mất hết thóc, ông đã hiểu chưa?
Thừa gật đầu:
- Đã.
- Thế thì phải đặt vấn đề như thế này: Tại sao thằng Xi vốn hiền lành, thật thà, mà bây giờ, đến mỗi việc, nó đều biết đối phó một cách xa xôi nhưng sâu sắc, biết ăn nói cứng cỏi và đối đáp trôi chảy những câu hỏi khó, nhưng không phải suy nghĩ lâu? Một mình thằng quê kệch ấy không làm nổi. Tất gặp phải việc khó, nó phải bàn bạc với một đứa nào thông thạo, có nhiều kinh nghiêm đấu tranh, theo tôi, không ngoài thằng Nghĩa đâu, ông ạ. Vậy là luôn luôn thằng Xi gặp thằng Nghĩa mà ông không biết.
Thừa gật đầu:
- Ông thật là anh minh.
Rồi hắn sực nhớ:
- Đúng nó là cộng sản.
Pha-lăng-xô hất hàm. Thừa nói:
- Bởi vì nó cứ chối hộ cho cộng sản, và chửi xỏ những người không là cộng sản.
Hắn nhắc những lời anh Xi nói rằng không có cộng sản nào xui nông dân.
Thằng Tây lai ghi vào sổ. Bỗng nó nhún vai:
- Phải là thằng Nghĩa mới có luận điệu ấy. Nhưng ông ạ, thằng Nghĩa như con ma, lúc hiện, lúc biến, không thể theo dõi nó được. Chính sở mật thám, đến nay, biết là nó luẩn quẩn ở Vĩnh Yên, mà vẫn chưa tìm thấy nó. Bây giờ nghe ông nói, tôi biết đích là không phải nó ở thị xã, chính nó lẩn lút ngay trong đồn điền ông thôi. Vậy tôi nhờ ông tìm nó hộ tôi. Nó ở đâu, ông báo ngay cho tôi biết.
Thừa nghĩ ngợi, rồi nói:
- Nhưng nó hiện, nó biến bất thần, nếu tôi tìm được tung tích nó, mà đến báo được ông, thì nó không còn ở đấy nữa.
Pha-lăng-xô gãi mép:
- Ừ nhỉ, khó thật.
Rồi nó hất hàm, hỏi:
- Ông có thể giúp tôi điều này không?
- Xin ông cứ bảo.
- Tôi nhờ ông chứa hộ tôi hai thằng mật thám An Nam ở trong nhà. Chúng nó ở gần ông, thì khi ông tìm thấy thằng Nghĩa, ông giao cho chúng nó theo sát.
Thừa cười:
- Việc ấy, có gì là khó?
Pha-lăng-xô trợn mắt, thì thầm như sợ tiếng nói của nó lọt ra ngoài:
- Khó đấy. Vì còn thằng Xi. Thằng Xi biết thì hỏng việc.
Thừa gật đầu:
- Tôi có cách.
- Cách thế nào?
- Buồng quản lý ở dãy lẫm thóc, khuất với nhà trên, chỗ tôi ở. Thằng Xi lại ít lên nhà trên. Cho nên, nếu hai người mật thám ở với tôi, thì thằng Xi không thể biết được. Chỉ cần họ đến kín đáo thôi. Thế thì chờ đêm khuya, cả nhà ngủ, tôi hãy đưa họ vào. Họ phải ở luôn trong nhà, đừng ra ngoài. Hay còn một cách nữa, là họ cứ đàng hoàng với tôi về đồn điền. Tôi nhận là bạn bè về chơi.
- Nhưng họ có thể ở lâu, bao giờ tìm được thằng Nghĩa mới đi. Thì nói là về chơi không ổn.
- Ông tin ở tôi. Tùy cơ ứng biến. Tôi cam đoan là giấu người của ông thật kín đáo.
- Nhất là đừng cho thằng Xi biết mặt. Mật thám mà cho cách mạng biết, thì không còn gì là mật nữa.
- Vâng. Tôi xin hết lòng.
Thằng Pha-lăng-xô vỗ vai Thừa:
- Ông làm nổi việc này, thế nào cũng được trọng thưởng đấy nhé.
* * *
Vì lập tâm bắt anh Lâm và anh Xi để được trọng thưởng, Thừa không quản công. Hắn cho là nếu anh Xi gặp anh Lâm, thì tất chỉ vào buổi tối, hoặc đêm khuya thôi. Hắn phải rình. Muốn đứng trong buồng ngủ mà cũng nhìn thông thống đến cửa buồng anh Xi, hắn bắt dỡ một gian bếp, cho khỏi khuất mắt. Để thức ban đêm, thì ban ngày hắn ngủ. Và đến tối, hắn uống chè tàu hoặc cà-phê pha thật đặc.
Nhiều lúc đêm tĩnh, ngồi một mình sau hai cánh cửa chớp khép hờ, hắn có nghĩ về hai người mà hắn đương rình.
Anh Lâm và anh Xi đều làm những việc mà nhà nước không dung thứ. Hắn trừ họ là đền được nợ nước. Anh Lâm và anh Xi lại xui nông dân đấu tranh với điền chủ. Tức là làm hại hắn. Đối với riêng hắn, hai người đều có tư hiềm. Anh Lâm nuôi mối thù sâu, có thể phạm đến tính mạng hắn để giải oan cho người chị ruột. Hắn trừ được hai người, nhất là anh Lâm, là rũ sạch được thù nhà.
Ý nghĩ trọn vẹn được nợ nước thù nhà khuyến khích Thừa thêm phấn khởi, hăm hở.
Thừa thức đêm đầu, rất khỏe khoắn, tỉnh táo. Đêm thứ hai, còn khỏe khoắn, tỉnh táo. Nhưng đến đêm thứ ba, hắn bắt đầu mệt nhọc, hơi sốt ruột, chán nản. Hắn lại nghĩ về hai người mà hắn đương rình. Nghĩ đến anh Lâm, hắn nhớ đến chị anh, một người dịu dàng, trung hậu, yêu chiều hắn. Cô Lễ đã chết vì tay hắn, vì hắn không lấy nổi cái nhà. Hắn được trở nên giàu có thế này, chính là do nhờ cô. Hắn lại đổ cho cô tiếng xấu để được trắng cái án giết người. Nhớ lại những việc ấy, hắn thở dài. Hắn thương người chết oan. Hắn thương người bị đổ tội oan để cho hắn thành vô tội. Bây giờ hắn lại đương mưu toan hại nốt em cô. Em cô là người làm việc nước, việc xã hội, chứ không làm việc riêng, không làm điều gì xấu. Có nên nhẫn tâm mà xử một người có đầu óc hay không? Thừa lại thở dài. Nghĩ đến anh Xi, Thừa nhớ những ngày cũ. Anh Xi là người làng là bạn của hắn từ thuở hai người còn để chỏm chòe trên đầu. Lớn lên, vì nghèo khổ, hai người phải kiếm những việc vất vả để mưu sống. Hắn nhớ như in cái hôm hắn đói, lang thang ở các phố, rồi gặp anh Xi kéo xe ở Bờ hồ, trước của hiệu Gô-đa. Hôm ấy, có hai hào trong túi, anh giúp cả cho hắn hai hào. Rồi cái lần hắn trốn Múi, anh chứa hắn ở nhà, không cần đắn đo là làm như thế, anh có gặp nguy hiểm gì không. Những ngày đầu tiên lập nghiệp, nhiều khó khăn, chỉ có anh giúp hắn một cách tận tâm, chẳng nề hà là kéo xe hầu bạn. Tình nghĩa anh Xi đối với hắn thật là nặng. Thế mà hắn đương rình bắt anh cho sở mật thám làm tội. Có nên đang tay không?
Thừa lại thở dài nữa. Hắn tưởng tượng đến nét mặt tuyệt vọng của anh Lâm và anh Xi khi hai người bị mật thám khóa tay. Hắn hình dung ra thân thể đầy máu me của hai anh, khi bị thằng Pha-lăng-xô tra tấn. Điểm lương tâm trỗi dậy. Thừa muốn chùn tay.
Nhưng Thừa như nhìn thấy thằng mật thám tây lai nó vỗ vai, và hứa hẹn hai tiếng trọng thưởng. Không lẽ lại bỏ lỡ một dịp tốt hiếm có này? Bao nhiêu lâu nay, hắn đã chịu thiệt khá nhiêu công của, vì một mục đích là lo chạy công danh. Việc thành công lần này sẽ bồi đắp thêm vào những thành tích cũ của hắn. Vậy có nên vì chút tình nghĩa riêng mà nhụt chí tiến thủ hay không? Thừa cương quyết rằng không. Dại gì mà để lương tâm nó ngăn cản bước đường công danh của hắn.
Thừa lại pha cà-phê, hãm cho thật đặc, rồi mới nhắp từng hụm nhỏ.
Song, hắn vấn không thấy khỏe khoắn, tỉnh táo như đêm đầu. Chờ đến bao giờ? Phải thức mấy đêm nữa? Thức lâu mới biết đêm dài. Thức một mình mới thấy sốt ruột mong sáng.
Sực hắn nghĩ ra một ý. Hắn nhớ lại lời thằng Pha-lăng-xô đoán về anh Xi. Sở dĩ anh Xi biết đối phó với các việc khó khăn, là vì mỗi lần có gì mắc míu, anh đã tìm gặp anh Lâm, hai người bàn bạc với nhau cách giải quyết. Vậy nếu bình thường, thì anh Xi không cần gặp anh Lâm. Không cần gặp anh Lâm, thì anh Xi không cần đi đâu. Anh không đi đâu, thì hắn còn phải rình mãi. Chi bằng, muốn mau mau cho anh Xi cần gặp anh Lâm, hắn phải tạo ra cho anh một việc không bình thường. Như vậy, hắn không phải rình lâu, không phải thức mãi chưa biết đến bao giờ, không phải mệt nhọc chán nản.
Rắp tâm như vậy, hôm sau, Thừa gọi anh Xi lên nhà trên. Hắn thân mật hỏi chuyện:
- Chú có biết ở bên Cẩu Rồng giáo, người ta làm thế nào mà điền tốt không xin giảm thóc không?
Anh Xi cười:
- Tại người ta lấy đạo để dụ. Dân bên ấy vốn tin cha cố. Cha cố lòe là không nộp đủ thóc thì Chúa đói. Vì thế, con chiên không xin giảm.
Thừa cũng cười:
- À, khôn nhỉ. Nhưng điền tốt có vui lòng nộp đủ thóc như thường lệ không?
- Cha đã nói, con chẳng vui lòng, cũng cố mà vui lòng.
- Thế làm cách gì họ kiếm ra đủ thóc để nộp?
- Thôi thì bán nhà bán cửa, bán đồ bán đạc, bán xống bán áo, bán con bán cái đi, chứ còn làm cách nào? Không còn gì nữa, thì bán nốt cả mình thay trâu ngựa để làm giàu cho nhà thờ chứ gì!
- Kể ra, điền tốt bên Cẩu Rồng lương mình còn dễ chịu hơn điền tốt bên Cẩu Rồng giáo nhỉ.
Anh Xi lắc đầu:
- Bác không làm ruộng, bác không biết, nên tưởng họ dễ chịu đấy thôi.
- Không, tôi nói là dễ chịu hơn bên giáo kia mà.
Anh Xi im. Thừa làm ra vẻ băn khoăn một lát, rồi nói:
- Tôi có việc này bàn với chú nhé. Không phải vì tôi muốn xử ác với điền tốt bên Cẩu Rồng lương mình đâu, nhưng nếu tôi không làm, thì chính tôi bị hại. Chú ạ, tôi không muốn giữ đồn điền để làm nữa. Thóc thu mỗi ngày một khó khăn, không những vì họa thiên tai mà còn vì cái họa cộng sản nữa. Cho nên tôi định để lại đồn điền cho nhà thờ. Tôi về Hà Nội, kiếm việc khác để kinh doanh. Nhưng nói trước với chú, là anh em mình chúng ta không bỏ nhau. Tôi làm gì, ở đâu, thì chú cũng ở đó, để giúp tôi, như ngày trước và như bây giờ. Chú nghĩ thế nào?
Anh Xi đáp:
- Việc giữ lại, hay để lại đồn điền là tùy hai bác quyết định. Tôi chỉ phiền một nỗi rằng từ ngày giúp hai bác làm quản lý, tôi chưa làm lợi gì cho hai bác. Chắc hai bác cũng chẳng trách tôi, vì trước sau, tôi cũng nói là tôi không biết làm quản lý, nể hai bác thì tôi nhận lời cho hai bác vui lòng thôi. Còn như nếu nay mai hai bác về Hà Nội, làm việc khác, hai bác nghĩ tình cũ, bảo tôi đi theo, tôi chỉ ngại là việc lạ, không biết làm, thì tôi lại phiền hai bác lần nữa thôi.
- Chú nghĩ kỹ đi. Tôi chỉ muốn chú hiểu bụng cho tôi là tôi không bỏ chú đâu.
- Vâng, bác cho tôi nghĩ kỹ.
Thừa lôi được anh Xi vào bẫy, bắt anh nghĩ kỹ, là bắt anh phải tìm anh Lâm, để bàn bạc xem anh nên theo hắn để ngăn chặn hắn đừng làm hại người nghèo khác, hay nên ở lại để tiếp tục tuyên truyền nông dân ở đây chống lại chủ mới.
Quả nhiên, anh Xi trúng kế. Đến mười một giờ khuya, khi cả nhà ngủ yên tĩnh, anh Xi mở cửa buồng, đi ra phía sau, chui qua hàng rào, ra ngoài.
Thừa đã trông thấy rõ mồn một.
Hắn không đánh thức hai thằng mật thám đóng vai bạn hắn, nằm meo ở nhà hắn mấy hôm nay. Hắn đi một mình lẻn theo anh Xi.
Trời sáng trăng vằng vặc. Anh Xi mặc quần áo nâu, nên dù anh đi xa, Thừa vẫn nhìn thấy hút. Hắn rảo cẳng, mắt chăm chắm vào cái màu quần áo nâu của anh.
Thì ra anh đến nhà cũ của anh. Cái nhà này trước kia có một gian và hai chái. Vì anh không ở, cho nên đổ gian giữa và một chái. Anh Xi chui vào cái chái không đổ.
Thật không ai ngờ trong cái túp bẹp này, lại có người vẫn ở. Một lần thấy nhà anh Xi đổ, Thừa có khuyên anh nên bán tre lá cho người khác, kẻo nó nát ra thì phí. Anh Xi chỉ ừ ào, nhưng không làm. Thế thì tự nhiên nhà này vì không có người ở mà đổ thật, hay chính anh Xi đánh bẹp nó xuống, cốt giữ lại một chái để dùng, cho khỏi bị ngờ?
Thừa đứng rúc vào một bụi rậm. Hắn chắc rằng người ở trong chái nhà này, người mà anh Xi cần gặp ấy, không phải ai khác anh Lâm đâu. Hắn càng cho việc hắn không đánh thức hai người khách để họ cùng đi là đúng. Bởi vì nếu bây giờ ba người xông vào ngay để bắt, ngộ chỉ thấy có một mình anh Xi đương làm việc gì ấy, thì sao? Công hắn giương bẫy sẽ bị lộ, không bao giờ hắn tìm ra anh Lâm nữa. Vả lại, ừ thì anh Xi vào đó với một người, nhưng nếu là anh đi trai gái, như xừ Tuynh chẳng hạn, thì chẳng lẽ hắn chữa thẹn bằng cách đi đánh ghen hộ chị Xi hay sao? Mà dù nếu trong ấy có một người đàn ông đi nữa, nhưng lại không phải là anh Lâm, thì sao? Đi săn cáo lại chịu bắt mèo à? Dù người này tránh đằng trời cũng không khỏi là cộng sản, nhưng biết có nguy hiểm như anh Lâm hay không? Định câu cá sộp, lại vớ phải con săn sắt, có bõ công không?
Cho nên phải kiên tâm chút nữa mà điều tra cho đích xác. Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Thừa cứ nấp trong bụi để chờ.
Chừng quãng gần ba giờ sáng, thì anh Xi ra về. Thừa chỉ nhìn thấy một mình anh thôi. Hắn không theo về. Hắn phải ở lại, để chờ cho biết có còn ai ở trong túp ấy hay không. Nếu có, người ấy là ai.
Trăng lặn. Sao rụng dần. Sương làm ướt lưng áo hắn. Nhưng trời phía đông, đã hơi rạng.
Bỗng Thừa nín thở. Hắn thấy tiếng động ở phía nhà anh Xi. Một người ở trong đó chui ra.
Hắn tỉnh táo, khỏe mạnh hẳn lên. Hắn hồi hộp, cố giương to mắt, để nhìn cho kỹ.
Người ấy đúng là em trai cô Lễ. Rõ quá rồi. Cậu Nghĩa đi vội vàng về phía Cẩu Rồng giáo. Thừa mừng lắm. Sào huyệt của người cộng sản nguy hiểm là đây chứ là đâu!
* * *
Thừa bàn việc bắt anh Lâm với hai thằng mật thám ở nhà hắn. Một thằng đánh điện mật cho thằng Pha-lăng-xô đến mười hai giờ đêm hôm ấy, chờ Thừa ở đầu phố Huyện. Một thằng đứng rình ở nhà Xi, chờ anh Lâm để theo dõi.
Thừa định vào khoảng hai giờ sáng thì ập vào bắt anh Lâm, rồi hãy trở về bắt anh Xi. Anh này tóm lúc nào nên lúc bấy giờ, còn anh Lâm thì phải chộp giữa lúc anh đương ngủ say.
Thừa sốt ruột vì thì giờ đi chậm quá. Mấy đêm nọ phải thức, hắn thấy đã dài, nhưng chưa dài bằng ngày hôm nay. Bao giờ cho đến chiều? Bao giờ cho đến tối? Bao giờ cho đến nửa đêm? Bao giờ cho đến hai giờ sáng?
Để hắn thấy kết quả việc của hắn là trừ được hai tay phiến loạn. Để hắn thấy kết quả của việc hắn làm là thằng Pha-lăng-xô bảo cho biết sẽ trọng thưởng thế nào.
Tự nhiên, trong người hắn phơi phới. Hắn tươi cười, hay nói đùa bỡn. Đến bữa cơm, hắn ăn thêm được một bát nữa. Nhưng buổi trưa, đi nằm, hắn không sao ngủ được, óc lúc nào cũng tỉnh táo. Luôn luôn, hắn nhìn đồng hồ, lại nhìn mặt trời.
Nhưng trời vốn vô tư. Cho nên rồi mười hai giờ đêm cũng đến cho hắn.
Thừa gặp thằng Pha-lăng-xô. Nó về với bốn thằng lâu la mới.
Cả bảy đứa đều ăn mặc quần áo nâu cho khác dạng, đi đất cho êm, và đội nón lá cho khỏi lộ mặt. Chúng đi đứa nọ sau đứa kia vài chục thước. Và muốn không ai ngờ, thằng đi trên đường cái, thằng đi trên bờ ruộng cách xa.
Gần đến nhà anh Lâm ở, Thừa lần vào bụi rậm hôm trước để lánh mặt. Năm thằng mật thám chia nhau vây quanh lều. Chỉ thằng Pha-lăng-xô với một thằng tay sai nữa xông vào trong thôi.
Nấp ở chỗ kín một mình, Thừa hồi hộp. Trăng vẫn vằng vặc như hôm trước. Hắn trông rõ lắm.
Bỗng có tiếng vật lộn nhau. Độ năm phút sau, tiếng ấy im bặt. Rồi từ trong lều ra, thằng Pha-lăng-xô đi trước, hai người bị xích tay với nhau đi thứ hai, cuối cùng là thằng chó săn. Thằng này ôm một bọc gì khá to. Chắc là tang vật.
Thừa trông không sai. Không những anh Lâm, mà cả anh Xi cũng bị bắt.
Bọn mật thám đưa hai người ra ngoài trời. Thằng Pha-lăng-xô hùng hổ, chĩa súng vào họ:
- Chúng mày chống cự nữa đi!
Cố nhiên hai nạn nhân đã bị xích tay chặt. Họ không còn gì để chống cự. Cho nên thằng Tây lai bắt đầu ra oai.
Nó cầm báng súng, bổ vào đầu anh Lâm. Nhưng tức thì, cả bốn cổ tay dúi vào nhau, cùng giơ lên để đỡ. Sắt chạm sắt, kêu đánh chát. Thằng Tây lai cáu, bổ bất cứ vào đầu của ai. Bốn cánh tay cứng cố che cho nhau được kín. Thấy anh Lâm và anh Xi cứu đỡ nhau, bốn cánh tay không rời nhau, thằng Pha-lăng-xô xích riêng hai người, để đánh tỉa.
Thừa nghe tiếng sắt nện vào xương sọ kêu cốp cốp, mà rùng cả mình. Nhưng hắn không nghe thấy ai kêu, hắn ngạc nhiên lắm.
Thằng Pha-lăng-xô không đánh vào đầu nữa. Nó quật vào lưng. Rồi nó dùng tay chân để đấm đá.
Bọn lâu la cũng xông đến để hành hung giúp chủ. Thêm sáu thằng nữa hợp sức với thằng Tây lai, quần hai người.
Thừa thấy chúng nó đánh như đánh đòn thù. Hắn rợn cả tóc gáy. Mỗi cái tát, mỗi cái thụi, mỗi cái đạp, anh Lâm và anh Xi đều thốt lên những tiếng ức ức khẽ. Nhưng thằng Pha-lăng-xô thì to mồm. Luôn miệng nó chửi, luôn miệng nó thách. Sau cùng, muốn chừng nó mệt, nó dừng tay và nói như gầm:
- Sao chúng tao đánh thế mà chúng mày không kêu!
Thừa hiểu. À ra nó muốn được nghe tiếng kêu để thấy việc nó hành hung là không mất công toi. Vẫn im lặng. Thằng Pha-lăng-xô thét lên:
- Đồ chiến bại! Tao phải đánh nữa cho chúng mày kêu tao mới tha. Mày nghĩ kỹ đi! Có kêu không?
Tiếng anh Lâm trả lời - Thừa vẫn thấy giọng nói nhỏ nhẻ của cậu Nghĩa:
- Các ông có bảy người, đánh đập, hành hạ chúng tôi rất tàn nhẫn để mong nghe chúng tôi kêu cho các ông hả dạ. Nhưng chúng tôi không kêu. Vậy chúng tôi với các ông, ai là chiến bại?
Một thằng chó săn vừa xông vào anh Lâm, vừa quát:
- Im mồm!
Nhưng thằng Tây lai giơ tay ra ngăn. Nó hất hàm nhìn vào anh Xi. Anh Xi nói:
- Bên các ông có bảy người có mặt tại đây. Nhưng muốn bắt chúng tôi, các ông còn phải dùng vô số người nữa không có mặt ở đây để dò la chúng tôi. Rồi còn phải bàn bạc với nhau, bày mưu lập kế, bắt được có hai người. Vậy ai là chiến bại?
Thừa giật nảy mình rồi run lên vì sợ. Chắc anh Xi nói hắn. Mà sao anh lý sự hoạt bát thế. Còn thằng mật thám thì tức lồng lên. Nó nhảy vào anh Xi. Nhưng lần này thì chính anh Lâm giơ tay ngăn nó lại. Nó chỉ kịp nói có câu ngắn:
- À, chống cự!
Anh Lâm nói:
- Chúng tôi không chống cự bằng sức. Chúng tôi chỉ đưa lẽ phải để ông đừng nói sai. Ban nãy ông thách hai người chúng tôi bị ách tay chống cự với bảy người các ông có đầy đủ khí giới. Lời thách ấy không phải lời của người chiến thắng. Bên các ông, bên chúng tôi, ai thuyết phục được lòng người theo một ngày một nhiều chứ không phải bắt bớ, tù đày người ta thì bên ấy chiến thắng, ông không nên căn cứ vào việc hiện giờ các ông dùng bạo lực mới bắt nổi có hai người chúng tôi mà bảo là chúng tôi chiến bại. Chiến thắng hay chiến bại, chưa phải là việc của hôm nay.
Thằng khốn nạn không chịu được nữa:
- À, mày tuyên truyền!
Trận đòn lại như mưa vào anh Lâm. Nhưng anh Xi nhích lại gần, lấy thân đỡ cho bạn.
Thằng Pha-lăng-xô càng hung hăng. Nó đánh cả hai người.
Dưới ánh trăng, Thừa thấy mỗi lần một cánh tay của thằng Tây lai giơ lên để bổ xuống, thì liền cả bốn cánh tay của anh Lâm và anh Xi cũng giơ lên để đỡ.
Mười lăm phút sau, thằng chủ thở hồng hộc vì mệt. Nó ngừng tay, ra lệnh cho bọn lâu la giải phạm nhân đi.
Thừa nhìn rất rõ anh Lâm và anh Xi qua ngay trước mặt hắn. Người nào cũng quần áo rách tả tơi, bê bết những máu. Hai anh có vẻ rất đau đớn, nhưng không mặt ai nhăn nhó. Ánh trăng chiếu vào họ. Bốn con mắt họ vẫn sáng ngời.
Bỗng Thừa thở dài.
Nhìn anh Lâm, hắn mường tượng nét mặt cô Lễ lúc bị hắn khảo của. Nhìn anh Xi, hắn nhớ lại nét mặt anh âu sầu, lúc anh đưa hắn hai hào.
Lòng hắn nao nao.
Hắn thương hại cho hai anh đã rất là dại dột, tự nhiên giơ tay hứng đòn cho nhau.
Con người ích kỷ có đôi mắt phàm ấy, nhìn hình ảnh ấy, sao mà thấy được cái ý nghĩa cao cả của tinh thần đoàn kết, tương trợ, sống chết có nhau, đẹp đẽ và khỏe khoắn, trong những người hy sinh dũng cảm này!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
V
ĐẦU VOI ĐUÔI CHUỘT  
 
Kính bẩm quan thống sứ Bắc Kỳ,
Tôi lấy làm vinh dự giới thiệu với quan lớn một người điền chủ An Nam trung thành với chính phủ Bảo hộ và có công với cuộc trị an, để quan lớn định thưởng.
Người này tên là Trần Đức Thừa, quê ở Hải Dương, có đồn điền tại Cẩu Rồng, Vĩnh Yên. Từ hơn mười năm nay, ông đã làm nhiều việc rất đáng khen ngợi:
Năm 1920, ông Trần Đức Thừa đã trừ cho chúng ta một người đàn bà có tư tưởng phản đối. Dù người này là vợ ông, trẻ, đẹp, giàu, nhưng vì không muốn hưởng hạnh phúc gia đình với một người không thật tâm cải tà quy chính, ông Trần Đức Thừa đã cương quyết hy sinh tình nghĩa vợ chồng.
Năm 1930, ông Trần Đức Thừa đã chỉ điểm cho sở mật thám bắt một người ân nhân, một người bạn cũ chí thiết của ông, nghi là làm chính trị. Dù việc này là sai lầm, nhưng nó chứng tỏ lúc nào ông Trần Đức Thừa cũng coi những kẻ phiến loạn như kẻ thù chính của bản thân ông.
Tình vợ chồng, nghĩa bạn bè, đối với nền luân lý tối cổ của Á Đông, là rất thiêng liêng. Nhưng ông Trần Đức Thừa đã đặt lòng biết ơn nước Pháp lên trên hết.
Năm 1931, cũng vì nhiệt tâm yêu nước Pháp, ông Trần Đức Thừa đã tố cáo một ổ Việt Nam Quốc dân đảng, gồm hơn bốn mươi người. Tuy việc này ông cũng lầm, nhưng nó vẫn chứng tỏ lòng ông kiên quyết bài trừ cho nhà nước những phần tử cách mạng.
Năm 1931, ông Trần Đức Thừa đã cúng vào việc kiến thiết thành phố Sa-vi-nhông món tiền một vạn đồng bạc. Để đền xứng đáng cử chỉ anh hùng này, tòa sứ Vĩnh Yên đã thưởng cho nhà hảo tâm một đạo tưởng lục.
Nhưng lòng nhân từ của ông Trần Đức Thừa không có giới hạn. Năm 1932, ông đã tự ý tải ba thuyền thóc đến cứu dân bị lụt. Việc này các báo Bắc Kỳ đều đăng ảnh và hết lời ca tụng ông. Tòa sứ Vĩnh Yên lại cấp cho ông Trần Đức Thừa đạo tưởng lục thứ hai.
Song, công to nhất của ông Trần Đức Thừa đối với Chính phủ Bảo hộ là việc ông vừa bắt hai tên cộng sản. Trong vụ này, với mưu mô và sự bố trí rất tài tình, ông Trần Đức Thừa, đã giúp sở mật thám, tìm ra tung tích và trừ được một tên khá nguy hiểm.
Vậy thì, với sáu thành tích kể trên, ông Trần Đức Thừa xứng đáng được quan lớn chú ý mà trọng thưởng đích đáng.
Chúng tôi đề nghị quan lớn bổ ông Trần Đức Thừa làm tri châu.
Xin viện những lý do sau đây:
- Ông Trần Đức Thừa vốn thâm thù cách mạng, mà cách mạng hay đặt cơ sở trong các miền rừng núi.
- Công ông Trần Đức Thừa to hơn công hai người gái giang hồ là Tư Hồng và Bé Tý. Thế mà hai người này, một người được tặng hàm án sát, một người được tặng Kim bội, là hai thứ phần thưởng cao quý của triều đình Huế.
- Công ông Trần Đức Thừa chưa to bằng công ông Phạm Thành Dương. Người đội máy bay này được cử làm thanh tra mật thám. Nhưng công ông trải lâu năm và nhiều hơn công ông Bùi Tiến Mai. Thế mà người thừa phái này được bổ đi tri châu từ lâu rồi.
- Nghị định cho quyền quan Thủ hiến Bắc Kỳ mỗi năm đặc cách bổ hai người ra làm quan, đến nay vẫn còn hiệu lực. Với nghị định này, quan lớn đã cho người thư ký tòa sứ Nguyễn Hữu Thư và người giáo học Nguyễn Quý Toản đi tri phủ. Tuy hai người này không có chút công lao gì xứng đáng được đảm nhiệm cái công việc khác hẳn với nghề chuyên môn của họ, nhưng việc họ đội ơn nhà nước đã khuyến khích rất nhiều giới công chức bản xứ lòng trung thành với Mẫu quốc. Vậy quan lớn vẫn có thể áp dụng nghị định ấy mà bổ ông Trần Đức Thừa đi tri châu. Người này, so với hai tri phủ mới bổ, còn có giá trị hơn nhiều.
- Chúng tôi nghĩ rằng ông Trần Đức Thừa không có bằng cấp về chữ Hán hoặc chữ Pháp như phần đông các quan lại khác. Nhưng từ ngày chúng ta đặt chân lên đất nước này, chúng ta đã chẳng cho vào quan trường một số khá đông những kẻ vô học, xuất thân từ lính tráng, bồi bếp, hoặc cu-li hay sao? Những người có công lớn giúp cuộc bình định này, tuy ngu độn về mặt hành chính, nhưng vì muốn giữ vững địa vị và muốn bay cao nhảy xa, họ đã tìm ra nhiều thủ đoạn và kinh nghiệm giúp chúng ta rất đắc lực về mặt trị an. Là một trong những người đội ơn nước Pháp nhiều nhất, ông Trần Đức Thừa sẽ dễ bảo, và trung thành với nước Pháp nhất, trung thành hơn cả với tổ quốc của ông.
Đền đáp một người có lòng yêu mẫu quốc và có công bắt cách mạng bằng chức tri châu, chúng ta không thiệt gì, mà chỉ có lợi. Chúng ta nêu gương sáng cho nhiều người soi để tận tâm giúp chúng ta thanh trừ bọn đồ đệ của Lê Nin hoạt động mỗi ngày một mạnh ở xứ này.
Giám đốc sở mật thám Bắc Kỳ
ÁC-NÚC
Thừa được người thư ký đánh máy của sở mật thám cho xem trộm tờ công văn mật này, hắn vui sướng như điên như cuồng. Hắn không ngờ vị quan cao cấp, có quyền bắt bớ những vụ chính trị trong toàn xứ Bắc Kỳ, lại chỉ nhìn hắn và xét hắn bằng cách dựa vào lời hắn khoe công với thằng Pha-lăng-xô.
Hắn mừng rằng hắn oan, nhưng mà là oan được. Hắn nghĩ đến anh Lâm và anh Xi đương bị tra tấn khổ sở để bắt buộc khai đúng ý muốn của bọn cầm quyền. Hai anh ấy, và biết bao nhiêu người khác, phải oan thua.
Thừa chờ kết quả.
Công văn gửi sang phủ Thống sứ. Hắn nhờ ông phán Thanh làm ở văn phòng Đổng Lý, dò la tin tức cho hắn.
Trong khi ấy, Ma-ri ở luôn tại Hà Nội, để dạm bán cái nhà ở phố Hàng Kèn. Hắn cần tiền sắm mũ áo cho Thừa, và mua đồ đạc trong buồng khách, buồng ăn, buồng ngủ, sang trọng nhất. Còn bao nhiêu, để tiêu dần. Ma-ri biết là tri châu thì túng. Mà đã là quan, thì có lắm khoản phải cung phụng. Thừa còn mới, chưa thạo xoay tiền dân. Các châu trên thượng du, lại chẳng có châu nào béo bở. Ma-ri cho là Thừa làm tri châu, chẳng qua để nhận lấy chân thôi. Rồi dăm ba tháng, một năm, dòm thấy chỗ nào tốt, thì sẽ cậy cục đổi tới. Hoặc đến dịp thăng thưởng, sẽ lo đi tri phủ, và có chạy để về vùng xuôi.
Thấy ông phán Thanh mách rằng quan thống sứ gửi công văn về Vĩnh Yên, lấy ý kiến quan công sứ, Thừa càng yên trí. Vị quan đầu tỉnh Mát-xi-li có cảm tình với hắn, sẽ không phản đối đâu. Chắc chắn chỉ một tháng nữa, hắn sẽ nhận được nghị định đi nhậm chức.
Song, Thừa không khỏi không nóng ruột muốn biết tin. Hắn nhờ ông tham Huân nghe ngóng hộ. Đến một tuần lễ, ông tham đầu tòa vẫn úp úp mở mở, không nói rõ. Ông vòi Thừa phải cho ông cái gì. Thừa biếu ông một hộp đựng thuốc lá bằng đồi mồi. Hai hôm sau, ông về tận Cẩu Rồng báo tin mừng. Ông ôm lấy Thừa, bắt tay thật lâu và thật chặt, khiến Ma-ri đứng nhìn mà cũng hồi hộp thay, ông hớn hở:
- Cụ lại tư xin cho bác đạo tưởng lục nữa. Mừng quá!
Cả Thừa lẫn Ma-ri đều hẫng người.
Cái lâu đài xây dựng trong óc đôi vợ chồng này bỗng sụp đổ, làm họ như ngã từ trên cao xuống đất.
Ông tham giảng để an ủi:
- Hai bác ạ. Hai đạo tưởng lục trước là cụ cho, chỉ là tờ giấy khen thưởng. Đạo tưởng lục này cụ xin cụ thống cấp, mới là cái bằng hẳn hoi.
Thấy cả hai ông bà Hàn đều ỉu xịu, ông tham trợn mắt, nói thầm để mách một tin quan trọng:
- Cụ chỉ tư xin cho bác tưởng lục, vì cụ phàn nàn là bác phớt cụ. Việc trong tỉnh Vĩnh Yên là của cụ, mà bác lại đi trình tận Hà Nội kia!
Thừa thở dài. Ma-ri lẩm bẩm:
- Nhà này có thiếu giấy chùi đít đâu mà cứ ấn mũi tưởng lục vào!
Hắn không thết cơm ông tham Huân.
Và đến tối, hai vợ chồng cãi nhau.
Ma-ri lại giở giọng chua ngoa, nhiếc móc Thừa suốt đời hèn kém, may được sang là vì vợ. Hắn đay nghiến Thừa ác, cho nên để họa cho các con.
Thật thế. Thằng Pôn, con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rit phải đuổi ở trường công, xin vào trường tư, người ta cũng không chịu được. Thằng Giăng mách rằng thường anh nó không đến trường. Nó đút sách vào túi quần, đi lượn phố chim gái, hoặc rủ chúng bạn vào nằm tiệm hút ở phố Mã Mây. Thằng Pôn nằng nặc đòi cha mẹ cho sang Tây để học. Nó nói rằng ở bên ấy thi dễ, thế nào nó cũng đỗ được cử nhân luật, để về nước làm quan. Cảnh học luật ở bên Tây, Thừa đã biết rõ. Một tuần lễ, sinh viên chỉ đi nghe giảng có một lần. Ai vắng mặt, giáo sư cũng không biết. Có cậu đến giảng đường, dắt cả nhân tình ngồi bên cạnh. Không ai để ý nhìn, thì cô cậu bấu chí nhau, ôm ấp, hôn hít nhau.
Hai con Rô-da-lin và Ma-gơ-rít bây giờ đã bỏ học. Bởi vì con Ma-gơ-rít thấy chị không đi nhà trường, thì nó cũng đòi được bỏ học sớm, cho đầu óc nghỉ ngơi. Nó viện lý rằng con gái không cần học, sau này, lấy chồng thì nhờ chồng. Không muốn là hạt mưa sa, hai đứa tự định đoạt lấy tương lai. Ngay từ bây giờ, chúng nó phải phấn sáp, đứng cửa ngắm trai, để chọn lấy người tri kỷ.
Con Rô-da-lin còn ghen với con Ma-gơ-rít, vì con này đẹp hơn nó, lại trong trắng hơn nó. Hai đứa muốn hại ngầm nhau, thường giấu của nhau cái lược, hộp phấn, chiếc giày, và trẩm của nhau những thứ của con trai gửi đến.
Một lần về Hà Nội, Thừa thấy gian nhà dưới rỗng tuếch, bàn ghế tiếp khách dọn đi hết. Thừa hỏi, thì con Ca-mê-li-a khoe:
- Chúng con đương học khiêu vũ, tiến bộ lắm, pa-pa ạ. Năm anh em chúng nó thuê một người đến dạy nhảy. Người này là giáo sư Giuyn Đốt. Giuyn là tiếng Pháp. Đốt là tiếng nước nào, viết rất khó đọc: Dod’s.
Thấy ba đứa lông nhông vô nghề nghiệp, nói năng thường với nhau cũng bằng giọng hát cải lương, bước chân đi lả lướt đôi cẳng theo nhịp nhạc nhảy đầm, Thừa định bắt chúng nó về đồn điền, học làm ăn. Nhưng chúng nó không nghe. Ma-ri bênh chúng nó, nói rằng sợ chúng nó buồn.
Thế thì bao giờ Thừa dứt được công việc ruộng nương này mà thay ông Bạch Thái Bưởi, để làm to hơn ông ấy.
Hắn tiếc anh Xi hiền lành mà dại dột, nghe cộng sản cho ăn bùa bả, đến nỗi bây giờ phải tù tội, khổ sở. Anh nghèo, sao không cam phận nghèo, chịu khó mà làm ăn?
Hắn cũng tiếc xừ Tuynh là được việc, nhưng lại phản chủ. Nếu Ma-ri cứ muốn giữ cơ nghiệp cho con Rô-da-lin sau này, thì đến nước phải muối mặt, gọi xừ Tuynh về làm quản lý thật. Thôi thì chuyện cũ bỏ đi. Vả có làm gì cái vặt? Thu được thóc mới là cái lớn.
Đêm ấy, Thừa trằn trọc, không sao ngủ được. Tương lai rồi ra sao đây? Hắn càng nghĩ càng chán ngán. Hắn không hiểu vì sao quan đầu tỉnh Vĩnh Yên nỡ nghiệt ngã với hắn, để công lao hắn phải bố trí, thức mấy đêm trường, thành ra công cốc.
Hắn nhớ lại hình ảnh anh Lâm và anh Xi bị đòn. Hắn sực hồi tưởng cảnh ngày trước của hắn, bị thằng Tu-nô nó đánh. Hắn thương hại hai anh.
Hắn không ngờ là hắn hy sinh một người em vợ cũ đã chết oan vì hắn. Hắn hy sinh một người bạn cũ đã cưu mang hắn trong lúc khó khăn, mà chỉ được có cái bằng tưởng lục vô bổ. Hắn tưởng nếu không được bổ tri châu, thì ít ra cũng được thưởng mề-đay, kim khánh, để đi đâu thì đeo ở ngực. Tưởng lục, hắn ngấy rồi. Hắn còn lo nữa. Không rõ phủ Thống sứ ghi công hắn thế nào. Nếu biết rõ là bắt cộng sản, thì thật không phải thưởng, mà lại là phạt. Hắn sẽ bị bêu riếu là làm mật thám, làm chó săn. Những tiếng phản đảng, phản quốc mà người đời chửi đội Dương, chửi thừa Mai, hắn biết là đã làm hai tên này nhục lắm.
Thừa buồn bã.
Kém ngủ, hắn lại kém ăn.
Muốn tránh cho Ma-ri khỏi làm tình làm tội, Thừa bảo với Ma-ri là hắn đi Hải Phòng để tiếp tục giao thiệp với hãng Phúc Lai Thành về việc mua tàu.
 
* * *
Cố nhiên là đến Hải Phòng, Thừa lại vào nhà An-na Phán để gặp Xuy-dan.
Xuy-dan thấy Thừa thì mừng rỡ:
- Em tưởng là anh quên em rồi.
Thừa mỉm cười:
- Anh không quên. Tại anh bận.
Đến tối, Xuy-dan hỏi Thừa:
- Anh không đi với em khác à? Nhà này thiếu gì người đẹp hơn em?
Thừa nắm tay Xuy-dan:
- Tại anh yêu em!
Xuy-dan cười lạt, rồi vuốt mái tóc của Thừa:
- Sao trông anh hốc hác hơn ngày nọ thế? Anh ốm à?
Thừa đùa:
- Phải, anh ốm. Anh nhớ em, anh ốm tương tư.
Bỗng Xuy-dan sa sầm nét mặt:
- Anh cứ quen mồm nói những tiếng làm cho em thêm tủi. Anh là người làm ăn, em là gái giang hồ. Anh dùng đồng tiền để mua em làm vui. Em lấy đồng tiền của anh để bán vui cho anh. Anh với em liên lạc với nhau bằng đồng tiền. Cho nên em van anh, từ nay về sau, anh đừng dùng những tiếng cao quý nó làm em tủi hổ về cái nghề đê hèn của em.
Thừa nắm tay Xuy-dan:
- Anh xin lỗi em. Em của anh khó tính quá.
Xuy-dan cười:
- Em không khó tính đâu. Có người biết những lời nói là giả dối, nhưng vẫn thích nghe. Không được nghe thì giận. Nhưng em nghe những lời giả dối thì em buồn. Bởi vì có bao giờ em dám nghĩ là được khách làng chơi yêu với tương tư! Sở dĩ anh đi với em mà không đi với người khác, vì anh đã hỏi chị An-na, biết là em không có bệnh. Vả lại anh cũng chắc chắn là em hết sức chiều chuộng theo ý muốn của anh, để bõ lần trước anh đã chi cho em quá sộp.
Thừa cười bằng cái cười thương hại:
- Em mới ngần này tuổi đâu, đã sống mấy, mà có vẻ chán chường quá lắm thế?
Xuy-dan không đáp.
Đến đêm khuya, Xuy-dan hỏi:
- Sao anh lại lấy tên Tây? Tên ta anh là gì?
Thừa đáp:
- Anh không có tên ta. Thầy mẹ anh đặt tên anh là An-be ngay từ thuở đẻ anh.
- Anh làm nghề gì?
- Anh buôn gỗ.
- Ở đâu?
- Ở Lạng Sơn.
- Anh có lên Đồng Đăng bao giờ không?
- Không. Ngay Lạng Sơn anh còn ít ở nữa là.
- Thế thì buôn thế nào?
- Anh chỉ ở Hà Nội nhiều, vì có bến gỗ ở Yên Phụ. Còn ở Lạng Sơn, anh để người thư ký làm việc thôi.
- Thế mà anh nói là buôn gỗ ở Lạng Sơn.
- Thì gỗ chả ở Lạng Sơn tải về, thì ở đâu?
- Có thư ký, thì hẳn hiệu buôn của anh to nhỉ.
- Khá thôi.
- Bao giờ anh đi Lạng Sơn, anh cho em đi với nhé.
- Được.
Xuy-dan cười:
- Nói vậy, chứ đời nào anh cho em đi. Vả em cũng chả dám đi với anh, sợ làm anh mất thể diện.
Thừa cũng cười:
- Thế bây giờ đến lượt anh hỏi em nhé.
-Vâng.
- Tại sao tên em là Thúy-gian?
- Em không biết.
- Mẹ em là người lai, bố em là An-nam phải không?
Xuy-dan không đáp, chỉ thở dài.
- Tại sao em ăn nói thì ra người lịch duyệt, lại là cái lịch duyệt của người chán chường? Đời em đương trẻ, đương vui, kia mà?
- Trẻ, nhưng làm nghề này là nghề mất vui. Anh bảo nếu em không lịch duyệt và không chán chường, thì chịu sao được nghề này?
- Thế em thích làm nghề này à?
Xuy-dan thở dài:
- Đời hất hủi em vào nghề này. Em làm nghề này để báo thù đời. Cũng là số kiếp em thôi, anh ạ.
- Em có muốn làm nghề này mãi không?
- Ai dại gì mà muốn khổ, hở anh? Nhưng hiện nay thì em vẫn cứ muốn trả thù đời, khổ mà trả thù được nên em không thấy khổ.
- Em trả thù đến bao giờ?
- Biết đến bao giờ?
- Ngộ bây giờ có người muốn lấy em làm vợ, thì em nghĩ thế nào?
- Em chưa nghĩ đến điều ấy, vì chưa ai muốn lấy em. Còn như anh hỏi là ngộ, tức là ví dụ, thì em không cần nghĩ cho vô ích.
- Sao thế?
- Phải có người thực nói rằng muốn lấy em, thì em mới phải nghĩ xem họ nói thật hay định lấy lòng em, hay định lừa em chứ? Và nếu là lời thật, thì em phải xem xét rằng lấy người ấy, có hơn gì đi giang hồ không chứ.
- Em có tâm sự gì đáng buồn lắm à?
Xuy-dan gật đầu:
- Em bị đời hất hủi.
Chiều hôm sau. Thừa nói An-na Phán cho phép Xuy-dan ra Đồ Sơn với hắn.
Được chủ đồng ý, Xuy-dan không mặc đầm mà mặc ta, lên ô-tô với Thừa.
Lúc đi đường, Thừa hỏi:
- Sao em không mặc đầm?
Xuy-dan cười:
- Tại em đi với anh. Em mặc đầm, thì người ta nhìn, rồi đoán, thế nào cũng có người đoán đúng em là gái giang hồ, được anh bao, cho đi chơi. Mặc ta thì không ai để ý. Họ chỉ cho em là con anh là cùng.
Thừa nựng:
- Em gái chứ! Em gái yêu của anh chứ!
Xuy-dan tủm tỉm. Đến Đồ Sơn, Xuy-dan bảo Thừa đỗ xe ở đường để hai người ngồi chơi trên ghế đá, Xuy-dan thở dài:
- Cảnh đẹp quá nhỉ.
Thừa hỏi:
- Em không tắm à?
Xuy-dan lắc đầu:
- Em không thích.
- Thế thì vào khách sạn, kiếm cái gì uống chứ?
Xuy-dan lại lắc đầu:
- Em không thích đến chỗ đông người.
Một lát, Xuy-dan tiếp:
- Toàn kẻ thù!
Thừa hỏi:
- Ở đâu?
Xuy-dan trỏ những người đang tắm, lô nhô trên mặt nước:
- Thôi, về, anh ạ. Tiếc vì cảnh đẹp, mà họ làm mất cái đẹp đi!
Thừa cười.
Tối hôm ấy, Thừa hỏi:
- Sao em có thể chán đời thế?
- Vì đời đáng chán.
- Em có thể cho anh biết em đã gặp những cảnh ngộ gì đáng chán không?
- Suốt từ bé đến giờ, đời hất hủi em. Nhưng anh nghe làm quái gì? Có ích gì cho anh? Mà em kể cho anh, cũng chả có ích gì cho em.
- Anh chưa xứng đáng được biết đời em à?
Xuy-dan im lặng. Một lát mới đáp:
- Không phải thế. Nhưng nếu em kể, thì một là em nói dối, hai là anh ngờ là em nói dối. Cũng như nếu em hỏi đời anh, tất anh cũng không nói thật. Mà phải, cần gì thật với nhau, hở anh? Cốt câu chuyện cho hay thôi mà!
Thừa cười:
- Thế thì em cứ kể dối cũng được.
Xuy-dan cũng cười:
- Được rồi, anh cho em nghĩ xem nói dối thế nào cho hay nhé.
Thừa lấy rượu, ép Xuy-dan uống thật nhiều.
Xuy-dan không cưỡng. Cô uống hai cốc, ba cốc, rồi bốn năm cốc.
Bỗng cô bưng mặt khóc. Thừa vuốt ve tóc Xuy-dan:
- Em! Em! Xuy-dan. Tại sao em khóc?
Xuy-dan vừa nức nở, vừa nói:
- Tại em sắp kể chuyện đời em cho anh nghe. Đời em buồn lắm, nên em không cầm được nước mắt.
Thừa thở dài:
- Thế thì hẳn anh được nghe chuyện thật.
Xuy-dan gật đầu. Một lát, cô nhìn Thừa:
- Thôi, anh ạ. Em không kể đâu. Chả có ích gì cho anh. Để nếu có ai định lấy em làm vợ, em mới cần cho biết đời của em.
Thừa đùa:
- Hẳn là em sẽ nói dối người ấy.
Xuy-dan đáp:
- Cái đó tùy người ấy muốn nghe em nói thật hay nói dối.
Hôm sau, xong việc ở Hải Phòng, Thừa phải về đồn điền. Xuy-dan hỏi:
- Bao giờ anh lại đến Cảng?
- Anh chưa định.
- Nghĩa là em không có hy vọng gặp anh nữa?
- Em đừng nói thế. Hễ có dịp đến đây, thế nào anh cũng lại gặp em.
Xuy-dan cười:
- Nhưng anh đến Cảng, mà anh không muốn gặp em, thì làm thế nào em biết rằng anh xuống Cảng được! Em tiếc rằng em đã không kể chuyện đời em cho anh nghe.
- Thì lần sau.
Nói đoạn, Thừa móc túi, lấy ra cái hộp nhỏ màu đỏ đưa cho Xuy-dan:
- Tặng em làm kỷ niệm.
Xuy-dan mở hộp. Một chiếc nhẫn vàng có mặt đá xanh óng ánh dưới ánh sáng đèn điện. Nhưng Xuy-dan không có vẻ mừng. Trái lại, cô đưa trả Thừa:
- Em cảm ơn. Em không nhận.
Thừa ngạc nhiên:
- Tại sao?
- Em chưa xứng đáng được anh cho của quý giá này. Lần trước, anh đã cho em nhiều rồi.
- Em làm anh tủi.
- Không. Anh làm em tủi thì có ấy.
Nói xong, Xuy-dan nhét cái hộp vào túi Thừa, rồi chạy. Thừa nhìn theo, thở dài.
Thừa đem việc Xuy-dan không nhận chiếc nhẫn, nói với An-na Phán. An-na Phán bảo:
- Ấy, thỉnh thoảng nó vẫn dở hơi dở hám như vậy. Thế mà lúc không có tiền, lại đi ăn cắp của chị em đấy.
- Chị có biết đời nó thế nào không?
- Không.
- Chị đoán nó là người ở đâu, cha mẹ nó làm gì, thế nào lại bằng lòng ở đây với chị?
An-na Phán tặc lưỡi:
- Đoán làm đếch gì? Cốt nó làm lợi cho chúng mình là được.
Thừa có vẻ suy nghĩ. An-na Phán hỏi:
- Anh cảm nó à?
- Không cảm, nhưng mà hơi ngạc nhiên về con bé lạ lùng.
An-na Phán tặc lưỡi:
- Ấy nó làm ra thế đấy. Cho nên mới lắm anh mắc. Anh có mắc nó, thì lần sau mới lại đến với nó. Nếu anh sợ mắc nó, muốn ngãng ra, thì bảo tôi, tôi gỡ cho.
- Cảm ơn chị.
Thừa lên xe.
Qua mấy hôm điều đình với hãng Phúc Lai Thành gần có kết quả, qua mấy đêm sống với Xuy-dan được vui thú, bây giờ Thừa nghĩ đến việc trở về với Ma-ri và nhận tưởng lục, hắn ngao ngán lắm.
 
* * *
Hôm đi Vĩnh Yên lĩnh tưởng lục, Thừa mặc áo tấc, vào buồng giấy công sứ.
Mặt hắn không vui vẻ như những lần trước được hầu chuyện cụ lớn.
Mát-xi-li bảo hắn cởi lễ phục, để ngồi cho thoải mái. Nó trao cho hắn tấm giấy dày, in rất đẹp, một bên là chữ Pháp, một bên là chữ Hán.
- Tôi mừng ông!
Nó giơ tay bắt tay Thừa thật chặt. Thừa cúi rạp lưng để nhận hân hạnh.
Thừa chỉ còn nhớ lõm bõm vài chữ Hán, lại chỉ nói được tiếng bồi, chứ không đọc hiểu chữ Pháp bằng Ma-ri, cho nên chẳng rõ trong tưởng lục, có đóng dấu đỏ lòe này, người ta ghi những gì.
Tên quan chủ tỉnh tươi cười, nói:
- Lần này ông được đạo tưởng lục giá trị hơn hai đạo trước, là vì của phủ Thống sứ cấp.
Nó trỏ vào dòng chữ viết tay:
- Ông có công giúp Chính phủ trong cuộc trị an. Tốt lắm. Xứng đáng lắm.
Nó mỉm cười:
- Hẳn ông vui sẽ ăn khao to hơn hai lần trước.
Thừa mỉm cười. Bỗng tên quan cai trị ngớ mặt:
- Ơ hay! Ông không vui à? Vì sao?
- Thưa cụ lớn, chúng con vui lắm.
Thằng công sứ lắc đầu:
- Ông nói dối. Ông nghĩ thế nào về đạo tưởng lục có chữ ký của quan thống sứ này? Ông cứ nói cho thật. Tôi cho phép.
Thừa ngồi ngay ngắn lại:
- Trình cụ lớn, cụ lớn đã cho phép, chúng con xin thưa. Chúng con là tôi con cụ lớn. Chúng con rất trung thành với chính phủ Bảo hộ. Cụ lớn đã ban ơn hai lần cho chúng con tưởng lục. Lần này, chúng con có công to hơn, chúng con cũng chỉ lại được tưởng lục.
Mát-xi-li cười:
- À, ra thế. Ông cho là nhà nước thưởng không xứng đáng với công ông. Vậy ông muốn những gì?
- Lạy cụ lớn, tên Phạm Thành Dương được nhà nước cho sang Pháp để chữa vết thương và để lánh mặt cho ban ám sát của Việt Nam Quốc dân đảng khỏi trả thù, bắn một lần nữa, rồi nó được bổ làm thanh tra mật thám ngạch Tây. Tên Bùi Tiến Mai, đương làm thừa phái, được thăng ngay tri châu.
Thằng công sứ vỗ vai Thừa:
- Đúng thế. Chúng nó được trọng thưởng, vì công của chúng nó to. Chúng nó tố giác đảng của chúng nó. Vì nhờ chúng nó khai, nên nhà nước biết cặn kẽ về Việt Nam Quốc dân đảng. Còn như ông, ông chỉ mới giúp nhà nước bắt một tên phiến loạn.
- Nhưng thưa cụ lớn, con đã hai lần được tưởng lục.
Tên quan đầu tỉnh cười:
- Vậy ông nghĩ kỹ xem, hai lần trước, có phải thật ông xứng đáng được thưởng không? Vì sao ông cúng tiền cho thành phố Sa-vi-nhông? Vì sao ông phát chẩn thóc? Ông tưởng tôi không biết sự thật à?
Thừa luống cuống. Tên Pháp dồn thêm:
- Hẳn ông muốn tỏ lòng trung thành với nước Pháp bằng cái việc ông giết người vợ trước của ông và cái việc ông tố giác người bạn làm thơ của ông, phải không?
Nó lắc lắc ngón tay trỏ, và mỉm cười:
- Hai người ấy, không ai có tư tưởng chính trị cả. Hoặc ông lầm. Hoặc ông muốn cho nhà nước lầm.
Thừa tái mặt. Thằng công sứ hất hàm:
- Vậy hẳn bây giờ ông thấy nhà nước là sáng suốt và công bằng chứ? Ông nên biết rằng trước khi tôi tư thưởng ông, tôi đã đắn đo nhiều. Tôi muốn xin cho ông hàm hàn lâm. Nhưng ông đã có rồi. Còn hàm to hơn hay bội tinh của chính phủ Pháp, của Nam Triều, ông chưa đáng được, ông đã hiểu chưa và còn hậm hực nữa không?
Thừa gãi tai:
- Lạy cụ lớn, cụ lớn tác thành, không bao giờ chúng con dám quên ơn.
Thằng công sứ gật đầu:
- Hay lắm. Vả lại, nếu ông muốn được thưởng bội tinh, thì trước hết, ông phải làm việc với chính phủ. Nếu ông muốn được thăng hàm cao, thì trước hết, ông phải có hàm thấp. Tôi muốn tra hồ sơ xem ông đã được hàn lâm bậc nào, nhưng tìm mãi không thấy. Hình như có điều gì ám muội, không rõ rệt trong việc này.
Thừa đánh trống lảng:
- Trình cụ lớn, làm việc với chính phủ là thế nào ạ?
- Ví dụ làm quan, làm viên chức, hay giữ một nhiệm vụ gì trong tổng, trong xã. Tôi biết là làm việc trong tổng, trong xã, ông không thèm. Làm viên chức, ông không có chữ nghĩa. Còn làm quan, tôi khuyên ông không nên. Vì ông không làm được bền đâu.
- Vậy thì, trình cụ lớn, chúng con không còn cách nào tiến thân?
Thằng công sứ gật đầu:
- Còn, ông đừng lo. Chính tôi bảo ông ngồi lâu, để nói với ông về việc này đây.
Thừa im lặng. Tên quan cai trị nói:
- Có một việc ông làm được. Và tôi cần ông làm. Là ông ứng cử nghị viện khóa sắp tới này.
- Dạ, cụ lớn dạy, con xin tuân.
- Lợi cho ông, là ông được tiến thân. Tôi khuyên ông ra ngay khóa này, vì nay mai có sự thay đổi. Ai muốn ứng cử nghị viện dân biểu, đều phải biết chữ Pháp và phải qua một kỳ sát hạch.
- Dạ. Đó là nhà nước biết trước là bọn cộng sản sẽ cho người của họ ứng cử vào nghị viện, thì họ phá hoại, gây khó khăn cho nhà nước. Cho nên nhà nước phải ngăn ngừa. Để triệt hẳn đường của bọn phiến loạn này, sẽ lại có sự thay đổi nữa. Thay mặt dân, không chỉ gồm những người được dân bầu ra, mà sẽ có một phần không nhỏ, con số này chưa quyết định, nhưng có lẽ phải đến một phần ba người được chính phủ cử ra làm dân biểu, để đương đầu với bọn bất trị. Nhưng nghị viên được chính phủ cử sẽ không phải là ông. Vì bên trong, họ phải là người thật bụng trung thành, nhưng bên ngoài, họ phải là người có bằng cấp. Song, tuy khóa này chưa có những sự thay đổi như tôi vừa mới nói, nhưng nhà nước xét, ở một vài tỉnh, đã có một số người có tư tưởng chính trị ra ứng cử dân biểu, cho nên phải kịp thời chặn bước chân của họ lại. Ngay ở tỉnh này, cũng có một tên sẽ đầu đơn.
- Thưa ai ạ?
- Tên này là Nguyễn Thiện.
Thừa sực nhớ ra:
- Tên này là tác giả cuốn Dân quê SOS, đã bị nhà nước cấm.
- Ông quen nó?
- Không ạ. Con chỉ đọc sách nó viết. Nó nói hỗn nói láo không chừa một ai.
Tên công sứ gật đầu:
- Tôi nghe nói nội dung cuốn sách này giống y như nội dung những tờ truyền đơn cộng sản viết ngày ấy. Có phải không?
- Trình cụ lớn, con không đọc truyền đơn, nên không biết.
Thằng thực dân mỉm cười:
- Nguyễn Thiện là một thanh niên đã du học ở bên Pháp, nhưng bị đuổi về nước, vì tư cách xấu.
- Bẩm tư cách xấu thì chẳng ai bầu cho.
- Xấu là xấu thế này. Nó học ở Mông-pe-li-e, nhưng không chịu chăm chỉ, lại thích làm chính trị, đã cầm đầu sinh viên An Nam ở đó cùng dân Pháp biểu tình, chống lại nhà chức sự.
- Dạ. Thế thì không thể tha thứ được.
- Cho nên nó đã bị giam, và đuổi về nước.
Thừa lắc đầu:
- Nhà nước thật khoan hồng.
- Bên Pháp không có luật bỏ tù người biểu tình như ở các thuộc địa. Nhưng hễ xét thấy người sinh viên thuộc địa nào muốn làm bậy, thì lập tức không cho họ gần gũi để đầu độc người cùng nước của họ. Vừa rồi, mười một sinh viên phải đuổi về Đông Dương.
- Chúng con tính luật nước Pháp thì người Pháp được hưởng, còn dân thuộc địa, dù học bên Pháp, cũng phải theo luật xứ mình. Nhà nước không bỏ tù họ cho họ chừa, còn chỉ đuổi về nước, thì họ đã đi tàu không mất tiền, mà về nước, họ còn chứng nào vẫn giữ tật ấy.
- Không. Nhà nước không phải trả tiền tàu cho họ. Tiền ấy là tiền của họ. Người An Nam muốn sang Pháp học phải theo đúng thể lệ, nộp cả hai suất tàu khứ hồi trước. Thôi, ta hãy nói việc ứng cử nghị viên. Ông Thừa ạ, tôi muốn khóa này, ông ra tranh cử với tên Thiện, nếu tên này ra ứng cử. Ông không sợ bại. Tôi sẽ giúp, các quan địa phương sẽ giúp.
- Cụ lớn tác thành, không bao giờ chúng con dám quên ơn.
Tên công sứ gật đầu:
- Được. Tôi nhắc lại. Tôi bảo ông ra dân biểu, là muốn làm lợi cho ông nhiều. Tôi cần ông thắng đối phương của ông, tuy không giàu bằng ông, nhưng được tin yêu hơn ông. Cho nên tôi cho phép ông tất cả. Dù có chịu tốn kém ít nhiều, ông cũng không nên kể như món tiền vốn bỏ ra để buôn. Tôi sẽ đền ông bằng nhiều món lợi khác sau này. Ông đừng phàn nàn, đừng tiếc.
- Trình cụ lớn, chúng con không dám tiếc, không dám phàn nàn. Được cụ lớn thương mà chỉ cho đường đi, chúng con xin cố sức.
Mát-xi-li gật đầu:
- Ông nên biết rằng sở dĩ tôi giao cho ông việc này, mà không giao cho người khác, vì tôi tin cậy ông. Dù Nguyễn Thiện có được cử tri tín phục mấy, thì cuối cùng cũng phải bó tay trước người có nhiều tiền tài và lắm mưu trí như ông.
Thừa sung sướng, tủm tỉm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 12:14:55 bởi Thanh Vân>
VI
CUỘC GIAO TRANH  
 
Tin ở lời hứa của tên thực dân chủ tỉnh Vĩnh Yên là giúp, Thừa yên trí, quan thầy sẽ dùng quyền lực, ép Nguyễn Thiện rút đơn xin ứng cử ra. Ngờ đâu, chỉ là lời hứa suông. Đáo sự, Thừa mới biết là hắn phải đương đầu với một đối phương khá cứng rắn.
Cho nên cuộc giao tranh mỗi ngày một trở nên gay go. Đã đâm lao, Thừa phải theo lao.
Ngay từ hôm quyết định ra nghị viên, Thừa đã tìm đến ông bạn cố tri Hoài Tân Tử, nhờ ông tổ chức một đội tham mưu, đi cổ động cho hắn. Ông Hoài Tân Tử nhận lời, nhưng bàn thêm:
- Có đội tham mưu thì đành rằng tốt, nhưng muốn thắng thằng Nguyễn Thiện là một tay có chính kiến, có nhiệt huyết, có văn tự, lại được dân Vĩnh Yên tín nhiệm, thì một đội tham mưu không đủ. Không lẽ khoe với dân An Nam là mày đã có công trừ cho nhà nước những thằng làm quốc sự, mà người ta bầu cho mày thay mặt người ta. Người ta sẽ chửi mày là phản quốc. Không lẽ kể cái công mày giúp thành phố Sa-vi-nhông. Người ta sẽ bảo là mày đợi đấy, bao giờ Sa-vi-nhông thiếu nghị viên hãy ra ứng cử, dân Sa-vi-nhông sẽ vui lòng dồn phiếu cho mày. Chỉ còn mỗi việc là mày có ba thuyền thóc cứu tế dân bị lụt. Nhưng ở ngay Hà Nội, tao còn biết tỏng là mày chở thóc đi, định nạo xương tủy dân lụt, chẳng may bị bắt, thì mày theo đít con mẹ Tư Hồng, nói dối là định phát chẩn. Huống hồ mày định lòe dân Vĩnh Yên là từ thiện, thì thật là mày ỉa vào lỗ tai người ta không bằng. Vả lại, dân chúng bây giờ khôn rồi, bỏ phiếu cho ai, người ta đắn đo từng li từng tí. Người ta tìm hiểu lý lịch, tư tưởng hành động của người thay mặt ở nghị trường. Mày đã không có chính kiến, nhiệt huyết, không có văn tự, lại không được tín nhiệm như thằng Nguyễn Thiện, trái lại, mày còn là thằng đểu, hại nước, dối dân, phản bạn, thì chó nó bầu cho mày à?
Đút điếu thuốc và tiêm vào lỗ nhĩ, ông giơ dọc tẩu mời Thừa hút. Thừa không từ chối, vừa kéo sè sè, vừa nghĩ, ông Hoài Tân Tử tiêm một điếu mới:
- Cho nên không thể tránh được vết xe của người trước đã đi, là mở báo, mày ạ.
Thừa cau mặt:
- Mở báo ấy à?
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Mày nghĩ đến tờ Chấn Hưng ngày trước à? Thằng Nguyễn Thúc Lăng nó dại, thì nó chết. Mấy khóa này không dám mở báo nữa, cho nên nó đeo mãi cái tên là nghị hụt. Còn như mày, mày không cỏ rả như nó, thì thế nào mày cũng phải ra báo. Không những mày cần cho quốc dân thuộc tên mày, vì mày đứng tên sáng lập, hay chủ nhiệm, tùy mày, nhưng mày cốt để cho độc giả biết chính kiến của mày, người ta sẽ quên những tội cũ của mày đi.
- Thế thì tao phải viết bài à?
- Không cần. Miễn là có tên mày ký dưới những bài trình bày ý kiến về chính trị, về xã hội. Còn bài vở thế nào, mặc tao. Tao sẽ làm chủ bút, thành lập cho mày một tòa soạn ra tòa soạn.
- Nhưng lâu lắm mày có viết lách gì nữa đâu?
- Tao không viết, vì tao đủ tiêu rồi, tao không thèm viết, chứ không phải tao không viết. Vả lại, như cái báo Chấn Hưng ngày trước, mày làm chủ bút, mày có viết bài nào không?
- Việc mày bảo mở báo là đúng, nhưng tao sợ lại mắc thêm một tiếng xấu nữa, là đã dốt lại hiếu danh, ông Nguyễn Huy Hợi, từ ngày làm hội trưởng Bắc Kỳ Công thương đồng nghiệp ái hữu hội, và ra tạp chí Hữu Thanh để được chức chủ nhiệm, chả bị người đời cười thối óc là cái máy nói à?
- À, bởi vì ông ta sính đọc đít-cua [96] viếng hội viên chết, nên phải mua điếu văn, và thích ký tên dưới những bài người khác viết. Còn mày, không phải là sính, là thích, mà chỉ là cần làm thế.
Thừa bật cười:
- Khác đếch gì nhau. Cho nên tao không muốn mở báo. Tao không có chính kiến, tao không được tín nhiệm, tao vô học. Mày nói đúng. Nhưng tao hỏi mày nhé. Trong nghị viện nước ta, những đứa nào có chính kiến, được tín nhiệm và có học? Mày có chính kiến, được tín nhiệm, thì thằng Tây đếch thích. Chúng nó chỉ cần những thằng làm bù nhìn giỏi. Ngoài tiếng uẩy me-xừ, nó không cần anh phải nói gì. Thế thì muốn ra nghị viên, anh chỉ cần có mỗi một điều, là có tiền. Có tiền khắc có tín nhiệm. Mày còn lạ gì?
Ông Hoài Tân Tử ngồi nhổm dậy:
- Đành vậy. Nhưng mày phải nhớ là mày đương đầu với một địch thủ không vừa.
- Sao tao không nhớ? Nhưng tao có tiền. Cử tri không cần anh có chính kiến, mà chỉ cần anh có tiền, cho họ ăn, cho họ hút, cho họ chơi, rồi trả tiền phiếu cho họ sòng phẳng. Chứ mày chẳng thấy khối thằng, lúc chưa ra nghị viên, thì nói thánh, nói tướng, đến lúc vào nghị viên, chỉ có mỗi việc gật đầu thôi à? Mấy lị Tây nó có cho mình nói gì đâu, làm gì đâu mà hòng ích quốc lợi dân?
- Thế nhưng ít ra bề ngoài mày cũng phải hứa nọ hứa kia, thì ban tham mưu chúng tao mới có cớ tán người ta bỏ phiếu cho mày chứ? Mày đừng khinh cử tri ai cũng tham tiền nhé. Qua vụ biến động Yên Bái, đến những vụ khám nhà, bắt người vì treo cờ, rải truyền đơn, và những vụ hội kín, mà các báo gọi là những vụ bắt bớ quan trọng ở các tỉnh, tức là cộng sản đấy, thì chẳng nói những người có học như chúng tao, đến dân quê bây giờ họ cũng hiểu hết rồi. Cộng sản gọi là giác ngộ quyền lợi giai cấp đấy. Thằng Xi nhà mày là một tấm gương. Mày không thấy à? Cho nên mày cần phải đi một vài nơi để diễn thuyết, gọi là ra mắt cử tri. Thế mới được.
- Tao không khinh cử tri, nhưng tao biết là chính cử tri khinh nghị viện, cho nên ai muốn ra thì ra, họ bầu tuốt. Mở báo phí tiền, đi diễn thuyết phí công. Tao không làm. Vả lỡ ra, nghe diễn thuyết xong, có đứa nào bẻ lại, hoặc hỏi thêm điều gì khó khăn, làm mình bí, thì ê mặt.
Ông Tình muôn thuở nhăn nhó:
- Thế thì tao phải cổ động cho mày bằng cách in lý lịch, rồi phát đi các nơi vậy. Nhưng viết lý lịch thế nào đây!
Ông gãi tai, rồi ngẩn mặt để vừa đánh xái vừa nghĩ. Bỗng ông đặt cối xái, vỗ đùi đánh đét, mắt sáng ngời:
- À, thế này, tao nghĩ ra rồi.
Ông cười:
- Thiên hạ cứ chửi thằng nghiện, chứ tao tính không có thuốc phiện, đố ai nghiền ngẫm ra mưu mô gì. Thừa! Đối phương của mày là một thằng có chính kiến, thế tất mày cũng phải đương đầu với nó bằng chính kiến, chứ bằng tiền, không đủ đâu. Mày có biết mấy năm nay, giới người quan tâm đến thời cục bàn tán nhiều về hai thuyết Lập hiến và Trực trị không?
Thừa lắc đầu. Ông Hoài Tân Tử cười:
- Khốn nạn cho cái viện dân biểu Bắc Kỳ rồi có những thằng như mày làm nghị viên! Khốn nạn cho dân An Nam có những thằng đại biểu như mày được bầu ra làm việc chính trị! Con khỉ ạ, thuyết Lập hiến là thuyết của Phạm Quỳnh đề ra. Thuyết Trực trị là thuyết của Nguyễn Văn Vĩnh chống lại. Phạm Quỳnh chủ trương là nước Pháp phải theo đúng hiệp ước ký với vua ta năm 1884, đặt nước An Nam dưới quyền bảo hộ của nước Pháp. Thế thì vua ta phải có thực quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nước Pháp chỉ đóng vai trò cố vấn, giao thiệp với vua ta qua bộ Ngoại giao. Vua quan An Nam sẽ cai trị thằng dân An Nam. Không có toàn quyền, thống sứ, công sứ công sánh gì hết. Nước Pháp chỉ đặt ở nước An Nam một cơ quan làm đại diện thôi.
Thừa gật gật. Ông Hoài Tân Tử giảng tiếp:
- Còn Nguyễn Văn Vĩnh thì nhận thấy ở ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau. Trung Kỳ có chính phủ Nam Triều. Danh nghĩa là đất bảo hộ, nhưng kỳ thực nắm các quyền vẫn là khâm sứ, công sứ. Bắc Kỳ không thuộc chính phủ Nam Triều. Vua chỉ có quyền phong sắc cho các bách thần và cho phẩm hàm những người chạy chọt, nhưng vẫn phải do thống sứ có bằng lòng hay không. Bắc Kỳ là đất nửa bảo hộ, nửa thuộc địa. Nam Kỳ là nhượng địa, vì vua ta đã ký với nước Pháp như thế. Cho nên Nam Kỳ không biết có vua, mà cũng không có quan. Nước Pháp trực tiếp cai trị, cho nên dân không bị một cổ hai tròng như ở Bắc và nhất là ở Trung. Nguyễn Văn Vĩnh chống lại Phạm Quỳnh, nên đề ra thuyết Trực trị, chủ trương rằng cả ba kỳ đều được đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của nước Pháp.
Thừa ngạc nhiên:
- Ông Vĩnh với ông Quỳnh chống nhau à? Sao tao thấy ở hội Khai Trí, hai ông ấy vẫn thân với nhau lắm, và cùng được nhà nước tin dùng?
Ông Hoài Tân Tử cau mặt:
- Ngây thơ ơi là ngây thơ! Vì hai ông có được nhà nước tin dùng, nên nhà nước mới bảo ông Quỳnh lập ra thuyết Lập hiến, và ông Vĩnh lập ra thuyết Trực trị. Chứ tự hai ông, thì bố bảo cũng chẳng dám làm. Chẳng qua Lập hiến hay Trực trị cũng chỉ có mục đích là gây ra dư luận cho thật ồn ào để làm át cái tiếng thì thào tuyên truyền của anh cộng sản mà nhà nước cho là nguy hiểm nhất. Yên một lát, ông nhà thơ tiếp:
- Thôi, nhưng mà việc hai ông ấy với nhà nước, việc nhà nước với cộng sản, thì kệ hai ông ấy, kệ nhà nước. Tao chỉ muốn biết là cố nhiên cộng sản thì mày sợ, không dám đội lốt, thì đấy, hai thuyết Lập hiến và Trực trị của nhà nước bày ra, mày theo ông Quỳnh hay ông Vĩnh?
Thừa lúng túng, rồi đáp:
- Thật ra thì tao nghe mày giảng, tao vẫn chưa hiểu cái mù tịt gì. Cho nên tao chả biết nên theo ông nào. Nhưng tao cho là dù Lập hiến hay Trực trị thì cũng chả có thay đổi gì. Người An Nam vẫn là người An Nam. Miễn là ai tinh khôn thì làm được giàu, ai biết nhờ vả người Pháp thì được sung sướng, danh giá. Song nếu mày bắt phải theo ai để cổ động cho tao ra nghị viên, thì tao chọn ông Quỳnh.
- Tại làm sao?
- Một lẽ là ngày trước, tao trót nói phét là làm báo Nam Phong với ông ấy. Hai lẽ, là bây giờ ông ấy làm thượng thư, biết ăn tiền, thì mình lo phẩm hàm, kim khánh dễ.
Ông Hoài Tân Tử mỉm cười:
- Cũng là những lý do để mày theo cái thuyết Lập hiến. Rồi ông Quỳnh sẽ có người của ông ấy là Phạm Lê Bổng ra tranh ghế thị trưởng với ông nghị trưởng của ông Vĩnh là ông Phạm Huy Lục. Vậy mày theo thuyết Lập hiến, tao gọi mày là về phái Bảo thủ, cho có vẻ chính trị.
Thừa giật mình:
- Tao mà bảo thủ? Thế theo thuyết Trực trị thì là gì?
- Tao tạm gọi là cấp tiến. Nhưng mày đừng ngại. Bảo thủ là bảo thủ cái hay cũ, chú không phải bảo thủ cái dở cũ. Vả tao nói là tạm gọi, để ra vẻ chính trị thôi mà.
- Thế còn thuyết nào đứng giữa không?
Ông Tình muôn thuở gật đầu:
- Có. Tức là thuyết gọi là Trung dung của ông nghị Nguyễn Công Tiễu.
Thừa suy nghĩ:
- Hay là tao theo thuyết Trung dung hở mày? Cứ ù lì ba phải thì được lời là chả ai giận mình. Ngu si hưởng thái bình.
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Không được. Ở nghị viện, ông Nguyên Công Tiễu cổ động cho thuyết Trung dung của ông ta, nhưng cũng mới chỉ có một mình ông ta nghe ông ta thôi. Mày cứ theo ông Quỳnh để tao gọi là thuộc phái Bảo thủ. Ông Quỳnh mà đứng đầu phái nào, thì mày phải tin rằng phái ấy không phải là cứt đâu nhé. Vả lại, ở các nước Tây văn minh, cũng còn có đảng Bảo thủ kia mà?
- Thôi được, tùy mày, gán cho tao gì cũng được, miễn là để tao có tí chính kiến, đương đầu với thằng Nguyễn Thiện, tức là đánh đổ cộng sản, hợp với ý của nhà nước.
 
* * *
Có một số cử tri tuyên bố là trung lập. Trung lập, nghĩa là chưa ngả về người mà họ gọi là tả, tức là Nguyễn Thiện, cũng không ngả về người tự xưng là thuộc phái Bảo thủ, mà người ta gọi là hữu, tức là Trần Đức Thừa.
Bởi vì, về mặt chữ nghĩa, ông Tình muôn thuở dùng ngọn bút Nghe đâu của ông ngày xưa với những mánh khóe xuyên tạc và lời văn thô bỉ để nói xấu, ông đã dìm dập Nguyễn Thiện. Nhưng về mặt tiền tài, đối với cử tri, ông chỉ chiếu theo thường lệ của những khóa trước, tức cái giá của lá phiếu. Cơm nước, xe pháo cho người đi bầu, cố nhiên ứng cử viên phải chịu, nhưng phiếu của công chức nhà nước, của dân thị xã, phải mua ba đồng. Bởi thế, cử tri trung lập đợi xem Nguyễn Thiện đánh giá lá phiếu của họ bao nhiêu, thì mới định được ai xứng đáng được họ bầu hơn ai.
Giữa lúc Nguyễn Thiện và Trần Đức Thừa đương giao tranh với nhau kịch liệt trên mặt trận tư tưởng, nhưng rụt rè trên mặt trận kinh tế, thì một người thứ ba đâm choạc vào, đầu thêm cái đơn xin ứng cử.
Người tranh cử này có bộ tham mưu thật cứng, không cổ động bằng chính kiến, thành tích của mình, mà tuyên bố trắng ngay bằng tiền.
Người tranh cử thứ ba, đương đầu với Nguyễn Thiện và Trần Đức Thừa này, là ông thầu khoán Nguyễn Thúc Lăng. Đứng đầu bộ tham mưu của ông là anh cai cũ của ông, tức là xừ Tuynh.
Ông Lăng chẳng mở báo, chẳng in giấy cổ động, chẳng đi diễn thuyết ra mắt cử tri. Ông không rời khỏi nhà ông ở Hà Nội. Ông phái xừ Tuynh đi Vĩnh Yên đến các cử tri trung lập, để nói với họ:
- Hai ông Thiện và Thừa ra ứng cử dân biểu mà khinh cử tri ra mặt. Ông nào cũng tự khoe giá trị của mình. Nhất là ông Thừa, lại hết sức nói xấu ông Thiện để nâng mình là tài giỏi. Cả hai ông không đếm xỉa đến giá trị người bầu. Hai ông ấy coi lá phiếu như thường lệ, tức là coi thường lá phiếu. Coi thường lá phiếu, tức là coi thường cử tri. Ông Nguyễn Thúc Lăng không khinh cử tri. Ông trọng cử tri bằng cách nâng giá trị lá phiếu. Ông Nguyễn Thúc Lăng xin trả mỗi phiếu bầu nhất loạt là bốn đồng, ông Nguyễn Thúc Lăng có óc bình đẳng, không phân biệt ai là công chức, ai là người tỉnh, ai là người quê. Ông Nguyễn Thúc Lăng lại phân minh, xin trả tiền ngay bây giờ. Vậy các ngài dồn phiếu cho ông Nguyễn Thúc Lăng, ông Nguyễn Thúc Lăng, không thuộc phải tả, không thuộc phải hữu. Ông trung lập, xin các ngài bầu và cổ động cho người trung lập.
Óc thực tế của ông thầu khoán già và lời khôn khéo của cổ động viên huênh hoang quả nhiên có công hiệu. Phần lớn cử tri trung lập, tức là tham tiền thấy mình được hời, thì hứa bầu cho người trung lập.
Song, xừ Tuynh không tin lời hứa là không thể thay đổi. Trả bốn đồng bạc cho ai, xừ thu ngoém phiếu bầu của người ấy.
Thấy ông Nguyễn Thúc Lăng thọc gậy vào bánh xe, Thừa vừa cáu, vừa lo. Số phiếu về phía hắn hiện nay kém số phiếu của Nguyễn Thiện. Hắn đương mong tài thuyết khách của ông Hoài Tân Tử và bộ tham mưu của hắn lấy được ít nhiều phiếu trung lập. Nhưng bây giờ, gần tất cả phiếu trung lập đều trong tay ông Lăng. Lại mấy hôm đầu, thăm dò, Thừa thấy ông Lăng còn cướp được ba phiếu của Nguyễn Thiện. Hắn đương vui thích, thì đến lượt hắn bị mười phiếu chạy về ông Lăng.
Thừa mỉa mai ông thầu khoán với ông Hoài Tân Tử:
- Dễ thường sắp tận thế hay sao, mà bây giờ thằng già dở chứng hoang thế này!
Rồi hắn gật gù:
- Thì ra luật thừa trừ của tạo hóa đúng lắm, mày ạ. Nếu ai làm giàu mà lại không phá của, thì tiền bỏ đâu cho hết? Tao giàu thì tao phá của bằng chơi gái. Mày giàu thì mày phá của bằng thuốc phiện. Thằng già chắt bóp từng đồng trinh, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, chơi chẳng dám chơi, thì nó phá của bằng cách ra nghị viên! Ba bốn khóa này, khóa nào nó cũng ứng cử. Nhưng đến nửa vời, muốn chừng xót xa mất nhiều của, nó lại rút đơn ra, để khóa sau, phá thêm ít của nữa!
Nhưng thấy số phiếu của mình mỗi ngày một mòn đi, Thừa không dám khinh ông Lăng nữa. Hắn thấy hắn ở vào tình thế đáng báo động rồi.
Hắn cho chỉ còn một cách khôn khéo là tìm đến ông Lăng, điều đình ông rút đơn ra, nhường cho hắn tất cả số phiếu trung lập của ông. Như vậy, hắn mới hòng đánh bại được Nguyễn Thiện.
Thừa ngỏ ý ấy với ông Lăng, ông thầu khoán híp mắt lại để cười:
- Ừ, đã điều đình thì moa cho điều đình. Nhưng phải bồi thường cho moa xăng biết [97], và trả moa số tiền moa ă-văng-xê [98] cho lếch-tơ [99]. Moa chỉ lấy lãi ba phân thôi.
Thấy lão giờ giở ngón tài lợi, Thừa găng:
- Tôi trả món cụ đưa trước cho cử tri, thế là cụ hòa vốn rồi. Ngộ không có tôi thương lượng, cụ lại trượt khóa nữa, có phải cụ mất cả chì lẫn chài không?
Ông Lăng vênh mặt:
- Mất thế quái nào được? Ông không mua thì tôi bán cho ông Nguyễn Thiện. Tôi nể ông là bạn thân cũ, đặt giá ngay cho ông dễ xử trí. Nếu tôi là thằng đểu, tham tiền, thì nghe ông nói, tôi cứ ừ hử, để rồi đến dạm bán cho ông Nguyễn Thiện. Như vậy hàng của tôi còn được hai ông mua đấu giá, tôi sẽ có lợi nhiều hơn.
Thừa cười:
- Gớm, cụ làm gì cũng tính toán!
- Thì con nhà ăng-trơ-prơ-nơ mà lị! Gặp dịp nào buôn có lãi, ai mà nhịn được! Nói thật với ông điều này nhé. Quả là cái ngày tôi nghe xui dại ra ứng cử lần đầu ấy, tôi bỏ ra đến xanh xăng [100] ấy, mà hỏng vẫn hoàn hỏng. Cho nên tôi ức từ ngày ấy.
- Nhưng cụ còn được lãi cái nhà bị cháy.
Ông Lăng lắc đầu:
- Lãi ấy là lãi tiền nhà của ông. Nó là món buôn khác. Không thể đập vào cái thiệt ra nghị viên được. Cái thiệt ra nghị viên phải lấy cái lợi ra nghị viên bù vào. Cho nên những khóa sau, tôi lại đầu đơn, không phải để cốt ứng cử, mà để xoay lấy ít phiếu, bán lại cho người khác, bù dần vào món năm trăm đầu tiên.
Ông thở dài:
- Nhưng cũng phải đến ba khóa mới hòa vốn, ông ạ. Khóa này mới gọi là có lãi đấy.
Thừa không tin:
- Ba khóa mới hòa vốn? Cụ thử tính xem nếu tôi trả đúng như lời cụ yêu sách, thì ba khóa cụ thu được bao nhiêu?
- Tôi nói dối ông làm gì? Bởi vì đến bây giờ tôi mới thật buôn bán thạo. Khóa đầu, tôi ngớ ngẩn chỉ lấy lãi có đơ puốc-xăng [101], quên không đòi thêm xăng biết. Mấy lị tiền nằm, lãi chạy chứ? Xanh xăng biết của tôi bỏ ra ngày ấy, trong bao nhiêu năm, tôi phải tính lãi như tiền cho vay chứ!
Thừa cười:
- Thôi, nhưng cụ hòa vốn rồi, thì tôi xin cụ bớt cho chỗ một trăm. Cũng như cụ cho các cháu ăn quà.
Ông Lăng trợn mắt:
- Ăn quà gì mà những trăm bạc?
Rồi ông lắc đầu:
- Không. Việc nào đi việc ấy. Bao giờ tôi cho các cháu ăn quà, thì cho món khác. Anh em mình thân nhau thì thân thật, nhưng không nên lẫn lộn tình với tiền, cho nó làm hại nhau. Tôi hãy hỏi, ruộng của ông ở đồn điền, ông thu thóc trong bao nhiêu năm, chưa hòa vốn à? Sao đến bây giờ, ông còn thu thóc mãi?
Ông cười khì:
- Thời buổi người khôn của khó, gặp gì có lãi là phải buôn. Và việc buôn cử tri này cũng là một việc thầu, nghề của tôi thôi, ông ạ.
Ông lẩm nhẩm tính miệng, rồi tiếp:
- Nếu ông bằng lòng giá tôi định, là khấn tôi một trăm, với trả lại tiền tôi đưa trước cho sáu mươi ba người trung lập, với lãi tính rẻ, toa puốc-xăng [102], trong một tháng, vị chi tất cả chưa đầy bốn trăm đồng, thì lập tức ông có sáu mươi ba phiếu. Nếu không, tất tôi bán cho ông Nguyễn Thiện, chứ tôi giữ cử tri làm gì? Thì ông sẽ thua, xôi hỏng bỏng không, còn mang tiếng là nghị hụt nữa. Đối với tôi, tôi làm nghề nghị hụt quen rồi, cho nên dù thiên hạ có nói mấy, tôi cũng nghe nhẵn tai thôi. Miễn có lợi là được!
Thấy mình bị dọa, Thừa dọa lại:
- Vâng, xin y như cụ định. Nhưng cụ biết cho điều này, là nhượng bộ cụ, không phải tôi chịu nước lép đâu. Bởi vì tôi có thể điều đình với ông Nguyền Thiện cho anh ta rút đơn, để lấy phiếu tranh nhau với cụ. Hoặc muốn xấu với cụ, tôi rút đơn, mặc cụ đương đầu với Nguyễn Thiện. Khi ấy, hàng cụ ế, sẽ bị lỗ vốn liểng xiểng!
Ông Lăng sợ hãi, vội vàng xòe bàn tay:
- Nào, thế thì đưa tiền đây.
Thừa cười:
- Mai tôi xin nộp.
Ông Lăng lắc đầu, trỏ lên tấm lịch trên tường:
- Ông nên bay-đê [103] ngay hôm nay, kèo mai là ngày đầu tháng sau rồi, tôi lại phải tính thêm một tháng lãi nữa. Chả có ma phăm [104] nó không bằng lòng. Tội gì phí khoảng không thế, hở ông?
Ông lấy bút, làm tính. Tất cả là ba trăm năm mươi bảy đồng bốn xu. Thừa mở ví, đưa ba tấm giấy một trăm và ba tấm giấy hai chục.
Ông Lăng móc tất cả túi quần túi áo của ông để lấy tiền lẻ. Được có hai đồng chín hào mốt. Ông đưa Thừa, vỗ vào vai và híp mắt cười để lấy lòng:
- Thiếu của ông năm xu. Thôi, cũng như ông cho các cháu ăn quà!
Thừa cũng cười:
- Vâng.
Ông Lăng trao cho Thừa tập phiếu bầu màu đỏ của sáu mươi ba cử tri của ông:
- Mai tôi xin rút đơn, và giao hẹn với sáu mươi ba người này. Ông có tin lời tôi, hay tôi phải viết mấy chữ lại cho ông chắc chắn?
Thừa lắc đầu:
- Không cần, cụ ạ. Tôi biết là không bao giờ cụ lừa tôi.
Ông Lăng bỏ tiền của Thừa vào túi, rồi hỏi:
- Ông với tôi, thế là dứt khoát việc mua bán, còn điều này tôi muốn hỏi, là ông có dùng tôi làm tham mưu đi lấy cử tri trung lập cho ông không?
Thừa có nhịn cười:
- Thôi, cảm ơn cụ, sợ cụ bận.
- Thế ông có muốn mượn cai Tuynh của tôi không?
Thừa thở dài. Ông Lăng tặc lưỡi:
- Thôi, tùy ông và tùy lúy nói chuyện với nhau. Chỗ ông với tôi là bạn, chỗ ông với lúy là thầy trò, không lẽ tôi bắt ông thuê lúy để kiếm chác ông lần nữa, chả hóa ra tôi bần tiện à?
Thừa tủm tỉm:
- Vâng, xin cụ cho tôi nghĩ, có gì cũng phải nhờ cụ bảo hắn ta hộ tôi.
 
Chú thích:
96)
97)
98)
99)
100)
101)
102)
103)
104)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VII
TRẬN QUYẾT LIỆT  
 
- Ông đội ơi! Ông cho tôi về nhà xem mẹ cháu sốt đã khỏi chưa. Hôm bỏ phiếu thế nào tôi cũng có mặt mà?
- Này, ông đội! Sao thằng cháu nó đến tìm tôi, ông lại không cho cháu vào? Ngộ ở nhà ông có công văn khẩn cần tôi về thì sao?
Với ông cử tri có vợ ốm, xừ Tuynh vừa lắc đầu vừa cười:
- Quan tôi tâm thành giữ ông ở chơi, thì ông cứ ở. Chốc nữa quan tôi đến nói chuyện. Ngộ thấy ông về, ông khác cũng về, thì quan tôi nói chuyện với ai? Ngài lại quở tôi.
Với ông cử tri lo công văn khẩn, xừ Tuynh cũng lắc đầu, nhã nhặn đáp:
- Có việc gì cần đâu? Tôi hỏi rồi. Bà chánh nhà cho cháu đến hỏi xem bao giờ ông về. Có thế thôi, ông cứ yên tâm.
Ông có vợ ốm thất vọng, phàn nàn:
- Ông bảo tôi đến đây, chả nói trước là ở lâu để tôi mang quần áo thay đổi. Thành thử người ngợm bẩn thỉu quá.
Ông lo công văn khẩn bực mình:
- Lại đặt ra cái lệ nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ai phản thùng mà phải ngặt thế!
Xừ Tuynh không đáp nữa. Xừ lấy trống chầu, tay trái vừa giữ tang vừa bịt da mặt trống, tay phải cầm dùi, gõ thong thả ba tiếng một, để làm hiệu cho cô đầu. Rồi xừ sai người nhà lau bàn đèn, lấy thêm thuốc phiện, và một người chia bài tổ tôm:
- Nào, mời các vị! Vị nào kết mặt nào, xin vào việc thôi.
Từ hôm xừ Tuynh được ông Lăng bàn giao xừ cho Thừa làm tham mưu, mới một tuần lễ, xừ đã làm được khá nhiều việc.
Thì ra không những xừ là một người đánh điền tốt rất mẫn cán, mà còn là một kẻ cướp cử tri có tài.
Thừa biết người biết của, nên lại bạo tay dùng xừ.
Thừa đã phân tách kỹ lưỡng về xừ. Bảo rằng xừ làm hại con Rô-da-lin, thì đúng xừ là kẻ có tội. Bởi vì con bé năm ấy mới có mười hai tuổi đầu. Nhưng cứ lời con ranh con thú với Ma-ri, nếu hoàn toàn đổ trách nhiệm cho xừ, thì thật là oan. Vậy chỉ nên quy một nửa cho xừ thôi. Còn đối với Ma-ri, nếu bảo là xừ làm hại, thì thật là khôi hài. Bởi vì đời Ma-ri, có đợi đến năm gặp xừ Tuynh mới biết đến đàn ông thứ hai không? Thừa cho là chính mình cũng không phải là người đàn ông thứ hai của Ma-ri. Và trong suốt ngót hai mươi năm nay, nhiều người đàn ông khác cũng đã xen kẽ với hắn. Thế thì việc xừ với Ma-ri, chỉ là rất thường. Vả biết đâu lại không chính Ma-ri làm hại xừ. Chứ bụt trên tòa, gà nào dám mổ mắt? Thế mà xừ Tuynh lại là một người quản lý quý giá vô ngần. Có xừ thì lợi thế nào. Không có xừ thì hại thế nào. Cái đó rõ rệt quá rồi. Nếu phải cân nhắc công và tội của xừ, Thừa thấy xừ thu được đủ thóc là làm lợi cho Ma-ri rất nhiều. Thừa cần xừ làm cổ động viên trong những ngày này, rồi sau sẽ trông nom đồn điền.
Chỉ một việc làm nảy ra thóc, xừ cũng có thể chuộc hết tội lỗi.
Song, xừ Tuynh như con dao sắc. Dùng xừ thì phải dè chừng, để khỏi bị xừ làm đứt tay.
Trước hết, Thừa không cho con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít về ở Cẩu Rồng. Bây giờ chúng nó không đi học, thì không có nghỉ hè. Nếu có việc gì, chúng nó về thì ở một hai hôm thôi. Rồi lấy cớ là con gái đã lớn, có lắm bạn bè, không thể ở một mình trong đất phồn hoa, dễ bị khêu gợi cho hư thân mất nết. Thừa khuyên Ma-ri ở hẳn Hà Nội, để trông nom chúng nó.
Thế là không nói ra, sợ chạm vào tự ái của con và của vợ, Thừa đã cách ly khéo léo được xừ Tuynh với Ma-ri và với hai con gái hắn.
Có lẽ Ma-ri hiểu ý của Thừa, nên không phản đối. Hắn còn thích nữa là đằng khác. Bởi vì được ở Hà thành một mình không có Thừa bên cạnh để phải e nể, hắn được tự do làm chủ đời hắn. Hắn không phải lo lắng gì, sẵn tiền nhà đó, hắn tha hồ ăn tiêu, sắm sửa may mặc cho hắn và cho năm con. Hắn đưa con gái đi xem bói, xem số, kêu cầu ở điện cô Bé Tý, ở đình Hàng Trống, hắn đưa con trai đi xem hắn đánh chắn, đánh mạt-chược.
Việc cách ly lũ con gái nứt mắt đã ngứa nghề với người quản lý đĩ thõa, Thừa cho là mình khôn khéo, nhưng sự thực, hắn không tâm lý chút nào.
Con Rô-da-lin năm nay không còn là con Rô-da-lin mười hai tuổi. Không phải nó chỉ biết để mê có một người, là chú đội. Nó có rất nhiều bạn gái và bạn trai. Mắt nó sáng rồi. Nó phải tiến bộ hơn năm nó mười hai tuổi. Cho nên, nhớ lại việc nó với chú đội, nó chỉ giận thân là quá ngây thơ, và hối hận là quá dại dột. Một trang tiểu thư con nhà giàu tuổi hơ hớ, xinh đẹp, lại được mẹ nuông chiều, cho tiêu, cho diện, thì thiếu gì trai tơ thèm thuồng. Chứ nó thèm thuồng gì cái anh quản lý tuổi bằng bố nó, mà lại kiết, đồng xu chẳng dính đít?
Những bạn trai trẻ, đẹp, nhà giàu, con nhà danh giá, tranh nhau chiếm trái tim nó, nó còn cành cơi, gạt ra không hết. Có cả những cậu sắp đỗ đạt bằng nọ, bằng kia, hứa hẹn với nó những tương lai rực rỡ, nhưng nó vẫn treo cao giá ngọc. Chẳng tuần nào nó không nhận được những thư có dán tem, hoặc không dán tem, chữ nắn nót, lời văn hoa, nào là: Thưa quý nương, Ái Khanh hỡi, Rô-da-lin em, Bạch Hường yêu quý của anh ơi!
Thế thì nó còn thiết gì đến cái thứ chú đội?
Không những vậy, mỗi lần phải gặp chú đội, nó như nhìn thấy cái bướu, về Cẩu Rồng, nó không thèm nhìn chú. Có điều gì phải nói với chú, nó ngượng nghịu quay mặt đi chỗ khác. Nó muốn tránh thân hình người cũ, khỏi nhắc nó thấy nhục nhã với những bạn mới của nó.
Cho nên, không đùn được cho ai, bất đắc dĩ con Rô-da-lin phải về Cẩu Rồng, thì xong việc, nó đi ngay. Chứ không phải nó muốn ở lại để tình tự với chú đội. Luôn luôn thay cũ đổi mới là thường tình của con người, huống hồ là một con gái đến thì, như con bướm đậu rồi lại bay. Lại huống hồ là con Rô-da-lin có truyền thống, và được giáo dục kiểu con bướm.
Vì Ma-ri không ở Cẩu Rồng nữa, nên hắn cũng đối phó ngầm lại với Thừa. Hắn giải tán đội con gái, lấy lý là để tiết kiệm chi tiêu cho gia đình. Bọn Sen, Đào bây giờ đã lớn, không phải tuổi bỡ ngỡ nữa. Mà vắng Ma-ri, Thừa có thể dùng quyền chủ, ép buộc họ chịu cho Thừa làm những việc họ không muốn. Vả lại, từ ngày trong nhà ít khách, năm người con gái cũng nhàn rỗi quá. Đã nhàn cư, thì có thể vi bất thiện. Không chừng, lại có đứa khôn ngoan, tấp tểnh muốn làm bà hàn hai cũng nên. Cho đội con gái về, Ma-ri còn yên tâm hơn nữa về phía thằng Pôn và thằng Giăng. Hai thằng này mà thấy tụi đội con gái ngon mắt, tý táy vào, lỡ có đứa ễnh bụng ra, là mất gỡ. Hai đứa phải kiếm cái mỏ vàng mà đào.
Không dùng đội con gái, Ma-ri cho là mình còn thâm cả với xừ Tuynh. Thế là không muốn ăn nữa, hắn đạp đổ.
Ma-ri còn lấy lý do tiết kiệm, bàn với Thừa một việc nữa, và được Thừa đồng ý, là việc bãi chức quản gia. Trong nhà ít kẻ ăn người làm, vai trò hai Điều trở nên vô dụng.
Hôm lão già sắp ra tàu về quê, hắn lên chào Thừa và mạnh dạn nói:
- Trình ông lớn, ông lớn không nuôi con nữa, con không dám oán trách gì. Nhưng có một điều làm con áy náy, là bà lớn chỉ bảo vì ít việc thì giãn người. Nhưng con nghĩ có lẽ vì cớ khác kia.
Thừa hỏi:
- Cớ gì?
- Trình ông lớn, có thật là vì ít việc mà giãn người, nay ông lớn bà lớn nghi con là cộng sản như bác Xi mà ghét bỏ con, thì thật oan con quá.
Thừa, lắc đầu, vỗ vai hắn, thân mật đáp:
- Không!
Xừ Tuynh về Cẩu Rồng, thấy trong dinh không còn ai thuộc phái đẹp, thì xừ hiểu ngay. Xừ càng hết lòng với việc lấy cử tri cho Thừa. Thấy nói kể cả số cử tri ông Lăng nhường lại, Thừa mới có trăm rưởi phiếu, thì xừ lo lắm, xừ nói:
- Cụ Hoài với người của cụ Sứ chỉ dùng văn chương để diễn thuyết tả tả hữu hữu là không đủ. Ai ra nghị viên mà không khoe là mình tài giỏi với thần thế? Ông cứ mặc tôi. Tôi phải xoay cách khác mới thắng phiếu được.
Thừa đồng ý.
Ở phố mỗi huyện, xừ Tuynh tìm một căn nhà rộng rãi, mát mẻ để thuê tạm một tháng. Xừ sửa hàng rào xung quanh cho thật kín đáo. Nơi ấy, xừ dùng làm chỗ đón khách. Gọi là đón khách cho nhã. Sự thực, nó là trại tập trung để giam khách. Xừ mời cử tri đến đó, rồi giữ họ ở luôn đó. Ngoài cái hàng rào bằng rong ở quanh nhà, xừ còn hai cái hàng rào nữa để nhốt và buộc chân khách. Một hàng rào gồm ba người cô đầu xinh xắn, biết cười hơn biết hát, một chiếc bàn đèn lúc nào cũng có sẵn thuốc phiện và mấy cỗ tổ tôm, hai đứa bé lúc nào cũng có mặt để chia bài hầu. Một hàng rào nữa, gồm một người ngồi ở cổng để canh, ngoài không cho ai vào, trong không cho ai ra, và ba người lực lưỡng tay cầm giáo mác, đi tuần quanh hàng rào. Nếu có ai lảng vảng đến gần, bị nghi là đi rình mò đường lối để cướp người, thì lập tức bị đuổi ra xa. Và cũng chẳng cử tri nào dám mạo hiểm mà ra khỏi chốn này. Xừ Tuynh khôn hơn trước, đã thu, không những phiếu bầu của họ, mà còn giữ cả thẻ thuế thân của họ.
Họ được nuôi bằng thịt và rượu. Trại nào chưa đông, thì hai ngày ẹc một con lợn. Trại nào đông quá, thì quật bò. Còn rượu thì mặc sức. Từng chai bố, tha hồ mà đánh ngã.
Xừ Tuynh mời khách đến trại tập trung như thể đánh lừa họ. Xừ nói rằng để nghe quan hàn diễn thuyết ra mắt. Cho nên chẳng ai mang quần áo thay. Chẳng ai đôi hồi với vợ con được nửa câu. Có người đương dở bận việc gia đình, thì bị nẫng đi. Họ giục xừ nói với quan hàn ra mắt. Xừ bảo chờ đông đủ cử tri đã. Nhưng vì không biết thế nào là đông đủ, cho nên họ cứ phải chờ, kiên tâm mà chờ. Thế là tuy họ không mất tích, nhưng cũng tuyệt vô âm tín.
Ngày đầu tiên, ngày thứ hai, thứ ba, cử tri được ăn, được hút, được nghe hát, thì còn vui vẻ. Nhưng từ ngày thứ tư trở đi, trừ những việc ấy, họ như bị trói cẳng, không được ra khỏi cổng, như bị bịt mắt, bịt tai, không được biết tin tức nhà cửa. Họ mất tự do đến nỗi đi sau, cũng có người theo dõi hoặc dòm ngó xem là thực hay định trốn. Cho nên họ đã bắt đầu chán, bắt đầu sốt ruột, bắt đầu kiếm cớ để đòi về. Ngày thứ năm, có người nằm lắm mà xị cả má, híp cả mắt. Và ngày thứ sáu, có người kêu nhức đầu, nhức xương, vì mất ngủ. Những người này sở dĩ phát ốm, vì bản thân không thấy rượu, phiện, gái là hứng thú, còn bị những người mới tới hứng thú với rượu, với phiện, với gái, họ nói, họ cười, họ đùa, họ bắt tai cứ phải nghe đàn, nghe phách, nghe trống bầu, nghe hát, nghe ấm oái, nghe cãi nhau, không sao chợp mắt được. Thế mà nằm bên cạnh một ông sốt ruột đòi về nào đó, cứ luôn luôn thở dài, rên rỉ, còn làm não thêm cả lòng.
Nhưng cả Thừa lẫn xừ Tuynh đều rất khéo léo trong khoa lưu khách. Cử tri nào bực mình đến mấy, lúc ngồi một mình với nhau, tưởng họ phát động, tuyên truyền nhau khởi nghĩa, phá tất cả các thứ hàng rào để ra ngoài, giành lại tự do. Nhưng đến khi họ nhìn thấy Thừa hoặc xừ Tuynh, nghe nói máy câu như rót vào tai, thì bao nhiêu bực dọc lại tiêu tan tức khắc.
Họ lại bảo nhau nhẫn nại, vui vẻ mà ở, chờ cho đông đủ để nghe quan hàn diễn thuyết.
Từ ngày Thừa vừa được ông Tình muôn thuở cổ động bằng lời lẽ khoác lác, vừa được xừ Tuynh lấy cử tri bằng cách mua phiếu, hoặc cướp người, để giam người lại, thì hắn lạc quan hơn trước. Song, hắn không khỏi không lấy làm lo. Hắn kém Nguyễn Thiện những ba mươi mốt phiếu. Nếu lại tính số phiếu quá bán để trúng cử, thì cả hai người đều chưa ai được hợp lệ. Vì còn bảy mươi hai người có quyền bầu cử, có phiếu cử tri, trong đó, hai mươi mốt người tuyên bố là trung lập. Họ nhất định không bỏ phiếu cho ai. Có lẽ năm mươi mốt người không trung lập khinh viện Dân biểu là trò hề, chứ không phải họ làm cao để bán phiếu bằng giá cao. Họ bảo với ông Hoài Tân Tử:
- Nếu phải đi bầu, thì chúng tôi bỏ phiếu trắng.
Thấy từ nay đến ngày bầu cử còn có năm hôm, Thừa cho là tình thế khá cấp bách rồi. Hắn họp hội đồng tham mưu lại để bàn kế.
Ông Hoài Tân Tử nói:
- Đối với hai mươi mốt thằng gọi là trung lập thì dễ thôi. Ta cứ làm như ta tin chúng nó là trung lập thật, chúng nó khỏi ngượng. Một mặt, tôi đến thuyết bằng lý. Một mặt bác đội đến mua bằng tiền. Nhưng nên nhớ rằng những thằng này không dại dột như những thằng đã lọt vào tay mình đâu. Chúng nó hiểu tự do, nên nếu hứa ngay, thì sợ bị giam ngay. Chúng nó càng chờ đến phút cuối cùng, thì hai bên tranh nhau kịch liệt, thì giá phiếu càng lên. Song, nếu ta cứ kể như hai mươi mốt thằng này sẽ về ta cả, thì muốn trúng cử, ta phải có thêm những ba mươi mốt phiếu, mà Nguyễn Thiện chỉ cần thêm có hai mươi mốt phiếu thôi.
Thừa thở dài:
- Vậy làm thế nào cho từ nay đến hôm ấy, ta có năm mươi hai phiếu?
Xừ Tuynh đáp:
- Tất phải tăng giá phiếu lên, và cùng lắm, thì đắt thế nào cũng không thể tiếc tiền được.
Thừa lắc đầu:
- Không nói đến những phiếu phải mua. Ta phải nói đến làm thế nào để trong năm mươi mốt thằng định bỏ phiếu trắng kia, có ba mươi mốt thằng thay đổi ý kiến mà về với mình?
Ông Hoài Tân Tử cười:
- Ta nên tin rằng không phải năm mươi mốt thằng ấy cao thượng, trong sạch cả năm mươi mốt. Và ta cũng nên tin rằng tất cả bọn cử tri định bầu cho Nguyễn Thiện, không phải không có thằng nào thấy ta tuyên bố mua phiếu bằng giá cao hơn giá Nguyễn Thiện mà không ngã lòng. Năm mươi hai phiếu của ta ở đấy chứ đâu?
Thừa gật gù:
- Đúng. Việc này tất phải nhờ tay chú đội.
Xừ Tuynh cương quyết:
- Ngoài cái số hai mươi mốt thằng gọi là trung lập mà ta phải tung tiền ra mua cho kỳ được, tôi xin nhận cướp của Nguyễn Thiện mười cử tri.
Thừa hỏi:
- Còn hai mươi mốt phiếu nữa?
Ông Hoài Tân Tử hứa:
- Tôi xin nhận mười lăm thằng trong số năm mươi mốt thằng cao thượng.
Thừa nói:
- Vẫn còn thiếu sáu?
Xừ Tuynh nói:
- Nếu ông thiếu sáu phiếu mà không trúng cử, thì Nguyễn Thiện cũng không trúng cử, vì chưa được quá nửa tổng số phiếu bầu. Hay là ta cứ để vậy, để phải bầu lại, rồi ta sẽ ra tay?
Thừa không đồng ý:
- Ta cố thắng ngay hiệp đầu thì đỡ tốn kém và đỡ phải lo lắng thêm một tuần lễ.
Đội tham mưu thở dài.
* * *
Ông Hoài Tân Tử và xừ Tuynh cật lực làm việc trong ba hôm.
Giá phiếu đã lên đến mười một đồng một lá.
Kết quả họ thu được cũng khá: Mười lăm cử tri trung lập đã bị nhốt vào trại tập trung; hai cử tri của Nguyễn Thiện bị cướp, giấu biệt vào một nơi bí mật và trong năm mươi mốt người cao thượng, một người đã bằng lòng bán phiếu với giá mười lăm đồng.
Nhưng Thừa không phải không thiệt hại. Hai cử tri của hắn đã trốn thoát ra ngoài, và ba cử tri đã bắt đầu ốm nặng. Không rõ những người trốn mất thì về nhà họ hay tản cư đâu, mà không sao tìm ra tung tích.
Thế là chỉ còn một ngày nữa mà phải có những ba mươi chín phiếu. Sáng hôm sau nữa, cử tri đã phải đi tỉnh sớm để bầu cử rồi.
Thừa lo lắng mất ăn mất ngủ.
Hắn ra lệnh canh phòng các trại tập trung rất cẩn mật. Cử tri nào muốn đi sau, đều phải có người theo sát, tay vác giáo, tay cắp cái tráp đựng tiền. Giáo để chống lại kẻ cướp người. Tiền để bảo ngầm anh tham của đừng tự ý trốn đi.
Thừa nghe phong thanh rằng năm mươi cử tri tuyên bố là bỏ phiếu trắng, họ sẽ không bỏ phiếu trắng đâu, mà bỏ cả cho Nguyễn Thiện. Nếu vậy Nguyễn Thiện sẽ trúng cử.
Hắn càng lo.
Óc xoay xở của hắn hoạt động thật hung.
Làm thế nào bây giờ? Một ngày có thể lấy được ba mươi chín người không? Nhất định không thể. Hắn nhăn trán, cau mặt lại để nghĩ.
Bỗng hắn tươi hẳn lên. Một ý kiến đã nảy ra trong óc hắn.
Hắn bảo xừ Tuynh:
- Chú lấy xe bình-bịch đi ngay đến những nhà đón khách. Ở vùng ấy có bao nhiêu xe tay, chú thuê tất cả cho tôi nửa ngày hôm nay và cả ngày mai, đắt bao nhiêu cũng được. Mỗi xe một người kéo, một người đẩy. Thuê xong, chú mời tất cả cử tri đi tỉnh ngay trưa hôm nay, cho hết họ vào nhà cô đầu, và tiếp đãi họ thật tử tế.
Xừ Tuynh nói:
- Củ tri đi ngay bây giờ thì sớm quá. Mà làm gì mỗi xe phải thuê những hai người? Tốn tiền vô ích. Nhất là những nơi ở gần tỉnh, thì trưa mai đi cũng vừa. Hòm phiếu đến tận năm giờ chiều mới khóa kia mà?
Thừa lắc đầu:
- Chú nghe tôi. Cứ làm đúng như thế cho tôi. Hễ chú làm sai thì hỏng việc đấy.
Xừ Tuynh thấy Thừa cương quyết, không dám bàn đi bàn lại. Họp xong, Thừa đi ngay Hà Nội.
Cử tri của Thừa thấy phải đi sớm, ngồi mỗi người một xe, xe nào thiếu người ngồi, thì chỉ kéo có vài cái va li mà cũng một người kéo, một người đẩy, thì không hiểu là vì sao. Nhưng người kéo xe và đẩy xe được thuê bằng giá đắt cả một ngày rưỡi, mà phải chạy có hai thôi đường ngắn, không mệt nhọc, cũng không hiểu là vì sao. Xừ Tuynh phải tiếp khách một cách phí phạm, cũng không hiểu là vì sao.
Riêng Thừa hiểu.
Thừa muốn rằng, sáng hôm sau, ở khắp hạt Vĩnh Yên, không còn chiếc xe nào, và không còn người khỏe khoắn nào để Nguyền Thiện thuê kéo cử tri đi tỉnh. Những người này phải đi bộ, thế nào cũng có người làm reo. Họ làm reo người nào, Nguyễn Thiện sẽ thiệt phiếu ấy.
Như vậy, Thừa không phải cướp cử tri, tranh phiếu bầu, mà đối phương cũng phải kém phiếu hắn.
* * *
Sáng hôm sau là ngày bầu cử.
Phòng đầu phiếu thiết lập tại tòa sứ. Chủ tọa hội đồng là tên phó sứ.
Ngay từ trước bảy giờ, cử tri của Thừa đã đánh chén xong, và được bộ tham mưu dẫn đến đó.
Không có một người nào của Nguyễn Thiện!
Bấy giờ, cả ông Tình muôn thuở lẫn xừ Tuynh mới hiểu. Họ đều phục Thừa là mưu trí cao. Thừa tủm tỉm không nói gì.
Song, Thừa chỉ đắc chí được có đến hơn chín giờ thôi. Một tốp mười người của Nguyễn Thiện kéo bộ, đã đến sân tòa sứ. Thấy dáng điệu họ mệt nhọc, khăn áo họ bụi bặm, xừ Tuynh chế nhạo họ.
Ông Hoài Tân Tử nhân cơ hội, đến tán với họ:
- Người ta đối với các ông như thế, tội gì các ông tín nhiệm người ta? Và dù một số các ông bỏ phiếu cho người ta, người ta cũng không thể trúng cử được. Chi bằng các ông bỏ phiếu cho ông Trần Đức Thừa, là người từ thiện có tiếng ở tỉnh nhà.
Nói xong, ông giúi vào tay họ tờ giấy năm đồng và tờ giấy in tên Trần Đức Thừa.
Nhưng họ không nhận. Họ chỉ lắc đầu cười, chứ không đáp. Ông nhà thơ lại nói:
- Các ông ở gần, còn đi bộ đến được. Chứ những ông ở xa, thì đi bằng cách gì? Xe pháo không còn một chiếc. Nếu các ông ấy đi bộ, thì tới được đây, cũng hết giờ bỏ phiếu rồi. Vả ai dại gì mà đi bộ, hở các ông? Vậy cùng là lá phiếu, các ông nên bầu cho người biết quý trọng cử tri hơn bầu cho người chưa chi đã ăn gian nói dối; chưa chi đã tệ bạc với cử tri không?
Họ cũng không đáp chỉ cười.
Thừa cho là họ cành cơi để đòi thêm tiền, nên bảo ông Hoài Tân Tử đừng xoắn xuýt quá. Cuối cùng, thế nào họ cũng phải bảo nhau bán rẻ phiếu của họ thôi.
Nhưng bỗng gần mười giờ, lù lù một chiếc cam-nhông đến cửa tòa sứ thì đỗ lại.
Thừa tái mét mặt.
Nguyễn Thiện thuê ô tô để chở cử tri đến.
Chiếc xe đổ khách vừa đi khỏi, thì hai chiếc khác tới.
Và dần dần, cho đến trước mười một giờ, cử tri của Nguyễn Thiện đến đủ mặt tại phòng bỏ phiếu.
Thấy mình thất bại, Thừa tức lắm.
Hắn triệu xừ Tuynh về doanh trại, để bàn mưu khác. Còn một mình Tình muôn thuở ở lại tòa sứ.
Cử tri lại đinh tai nhức óc về những lời ông bôi nhọ Nguyễn Thiện.
- Xe có mười tám chỗ ngồi, mà ông ấy nhét các ngài như xếp cá hộp. Đường gồ ghề thế, mà tôi thấy xe không nảy lên được, thì đủ biết các ngài ngồi ở trong chật chội, khổ sở là ngần nào? Tôi hãy hỏi người khinh cử tri như vậy, có đáng thay mặt chúng ta hay không?
Buổi chiều, trận đấu trở nên ác liệt.
Bộ tham mưu của Thừa nhanh nhẹn, đi đi lại lại. Túi người nào cũng đầy phè những giấy bạc. Một mặt, họ giữ rịt cử tri của phe mình, một mặt, họ gạ gẫm, hòng lấy được cử tri còn trung lập, hoặc cướp thêm cử tri của đối phương.
Sân tòa sứ bị xừ Tuynh biến thành cái chợ buôn người. Không hiểu xừ có biết pháp luật hay không? Tay xừ cầm cuộn giấy bạc, miệng xừ giao to:
- Một phiếu bỏ cho ông Trần Đúc Thừa, hai chục!
- Hai chục một phiếu, ông nào bán không?
Xừ đến cạnh một cử tri định bỏ phiếu trắng, giúi tiền, giúi giấy in tên Thừa vào tay.
Thấy không ăn thua, xừ dở mưu mẹo. Xừ xui người của xừ vờ cãi nhau, để cử tri của Nguyễn Thiện vô tình đến gần xem. Thế là xừ giúi thoắt các giấy cần dùng vào túi người ấy, và đẩy xô vào buồng bầu. Không rõ phiếu in tên Thừa có được vào hòm hay không, nhưng cách này có công hiệu đến ba lần.
Như canh bạc, càng về khuya càng đánh to, giá phiếu càng tới giờ cuối càng đắt. Xừ Tuynh đã nâng nó đến hai mươi nhăm đồng. Thấy không công hiệu, xừ tăng lên ba mươi đồng.
Nhưng đến giá ấy thôi, xừ không muốn lên tiếng nữa. Cả xừ lẫn Thừa, lẫn ông Tình muôn thuở đều nhận thấy cử tri của Nguyễn Thiện, không hiểu họ điên cuồng hay sao, mà họ không thiết tiền?
Khi thấy tất cả cử tri của mình đã làm xong bổn phận công dân rồi, Thừa mới nháy mắt ra hiệu cho xừ Tuynh thay đổi chiến thuật mới, để tấn công trận cuối thật quyết liệt.
Bỗng lần này không phải người của xừ vờ cãi lộn nhau nữa, mà chính xừ cùng Thừa to tiếng với nhau. Thấy nội bộ đối phương lủng củng, tham mưu của Nguyễn Thiện không dại dột mà đến xem hoặc buông lỏng cử tri của họ. Họ đứng yên tại chỗ để nhìn thôi.
Hàn Thừa đỏ mặt tía tai, bỏ về. Xừ Tuynh cũng hầm hầm, nhưng ở lại sân tòa sứ.
Độ mười phút sau, không hiểu thù hằn Thừa thế nào, xừ sang đứng hẳn với cử tri của Nguyễn Thiện. Xừ nói xấu Thừa, không tiếc lời, rồi bấm khẽ một cử tri ngẩn mặt ra nghe xừ. Xừ nhét vào tay người ấy một tờ giấy bạc năm đồng, và tờ in tên người tranh cử. Người cử tri mở giấy, thấy rõ rằng hai chữ Nguyễn Thiện, thì ngạc nhiên, bèn gật gật, trả lại tiền cho xừ Tuynh:
- Được. Tôi có đủ để xe pháo rồi.
Nhưng xừ Tuynh đã đi chỗ khác, và cũng đưa tiền, đưa phiếu tên Nguyễn Thiện cho một cử tri khác.
Bọn tham mưu Nguyễn Thiện thấy xừ Tuynh phản chủ thì rúc rích với nhau. Họ mặc kệ cho xừ mời được đến hơn hai mươi người. Họ cũng cười cả một anh vô công rồi nghề nào đó, có máy ảnh, chụp ai không chụp, lại cứ ngắm xừ mà bấm đến ba bốn kiểu.
Nhưng bỗng tên phó sứ bỏ phòng phiếu, đi ra sân với hai người tùy phái. Đích thân nó túm lấy xừ Tuynh.
Ai nấy xúm lại xem. Thì ra không biết ai đã tố giác là xừ Tuynh, từ nãy đến giờ, vẫn dùng lối cạnh tranh không chính đáng là mua phiếu ở ngay nơi bầu cử. Tên quan cai trị khám túi xừ, còn thấy rất nhiều tiền và nhiều phiếu bầu, in tên Nguyễn Thiện.
Người có máy ảnh mách thêm:
- Trình cụ lớn, tên này mua phiếu cho Nguyễn Thiện, tôi đã chụp được nhiều lần để làm bằng.
Phó sứ mở tờ giấy in tên Nguyễn Thiện. Nó thấy tờ nào ở mặt sau, cũng có một nét chấm như đánh dấu. Nó nhún vai, bĩu môi:
- Giấy in tên người mình bầu mà có vết là vô giá trị, không hợp lệ.
Bấy giờ mọi người mới ngã ngửa ra là xừ Tuynh không phản chủ, mà muốn hại Nguyễn Thiện. Xừ bán hai mươi mốt giấy bầu cho Nguyễn Thiện để làm như giấy ấy không bầu cho ai.
Một người vạch bộ mặt nhơ bẩn của xừ Tuynh cho tên phó sứ rõ. Nhưng trước việc rất dễ hiểu mà khó xử này, người chủ tọa hội đồng bầu cử phải làm biên bản, và bắt giam kẻ mua phiếu một cách bất hợp pháp.
Đến năm giờ, hòm phiếu khóa. Hội đồng cho kiểm phiếu ngay.
Kết quả là Nguyễn Thiện chỉ bị bốn phiếu có vết đánh dấu, còn thì hơn Trần Đức Thừa những tám mươi chín phiếu, được quá số trung bình mười sáu phiếu.
Nhưng Thừa không thất vọng. Hắn vin ngay vào luật bầu cử, để phá Nguyễn Thiện. Hắn nộp đơn yêu cầu hội đồng hủy bỏ cuộc bỏ phiếu vô giá trị, có bằng chứng là Nguyễn Thiện gian trá.
Tên phó sứ cau mặt, bảo Thừa:
- Tôi biết ai là gian trá rồi.
Nguyễn Thiện đề nghị được xét ngay việc này.
Tên quan cai trị cho gọi xừ Tuynh và những người được xừ mua phiếu, cùng một vài người đã chứng kiến việc gian lận.
Ai nấy đều tố cáo bộ mặt quỷ quyệt của Thừa và của xừ Tuynh.
Xừ Tuynh tái mét. Thừa run lên.
Nghe xong, chủ tọa hội đồng tươi cười, bảo Nguyễn Thiện:
- Tôi không cần phải xét lâu cho mất thì giờ. Tôi tuyên bố là không ai có thể cãi rằng ông không trúng cử làm đại biểu nhân dân tỉnh Vĩnh Yên.
Nó bắt tay thật chặt người đại biểu mới của nhân dân, rồi quay lại Thừa:
- Còn ông, tôi biết ông có một vài lần làm những cử chỉ đáng khen. Đáng lẽ cả ông lẫn người của ông đều bị tống giam, nhưng tôi tha thứ cho cả hai người, ông bằng lòng chứ?
Vừa nhục vừa tức, Thừa ấp úng, không đáp nên lời. Tên phó sứ ra về.
Lúc ấy đã nhá nhem tối.
Nguyễn Thiện cũng toan về.
Nhưng Thừa mời ở lại. Hắn làm như hoan hỉ, bắt tay Nguyễn Thiện. Nguyễn Thiện bắt tay, nhưng thoái thác là bận việc, phải về ngay. Lúc ấy sân tòa sứ không còn ai. Ngoài đường cũng vắng tanh.
Thừa và xừ Tuynh theo Nguyễn Thiện ra. Đến cổng, xừ Tuynh đằng hắng ba bốn tiếng thật to. Hình như xừ ra hiệu gọi. Xừ nhìn trước nhìn sau, như tìm người. Nhưng xừ chỉ thấy có hai người đội sếp.
Nguyễn Thiện quay lại nhìn Thừa và nhìn xừ Tuynh, rồi vừa rảo cẳng, vừa gọi chiếc xe kéo đương thủng thỉnh ở đầu phố.
Thừa thở dài thật to, chạy theo Nguyễn Thiện.
Hắn nắm lấy tay người vừa trúng cử dân biểu, cười lạt và nói giọng hằn học:
- Nhà ta thật đại hồng phúc. Đáng lẽ giờ này cậu không còn lành lặn để về nhà đâu. Bởi vì dễ thường người của tôi mai phục ở đây phải chờ lâu quá và thấy có đội sếp, nên chúng nó không dám đợi.
Nguyễn Thiện cũng cười:
- Vâng, ông nói nhà tôi đại hồng phúc là đúng. Bởi vì tôi đã cứu cho một người đàn bà khỏi chết.
Thừa tím mặt nhìn Nguyễn Thiện. Nhưng hình ảnh mẹ Mão đã làm cho hắn bất lực trước mặt người đầy khí thế hiên ngang.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VIII
KHAO THẤT BẠI  
 
Thừa trượt nghị viên được năm hôm, thì hắn phải tổ chức một bữa cơm mời mọc bạn hữu đến Cẩu Rồng để ăn, gọi là tiệc khao. Tuy không phải là khao nghị hụt mà là khao tưởng lục. Nhưng theo hắn nghĩ, cũng là khao sự thất bại.
Thật là cả một chuyện đáng khóc mà cứ phải cười, và lại cười vào lúc đương khóc.
Nguyên là cái hôm Thừa đến Vĩnh Yên để nhận bằng tưởng lục, tên công sứ Mát-xi-li có nói một câu là hẳn lần này ông khao to hơn hai lần trước. Cho nên, nếu Thừa không khao, thì sợ phật lòng quan thầy. Chứ một tờ giấy suông, chỉ to hơn hai tờ giấy trước một ít, dù là chữ ký của thống sứ đấy, nhưng nó cũng không hơn gì.
Thế mà còn phải đèo thêm mấy chục bạc khao nữa vào, thì quả nó là cái nạn. Song, vì quan chủ tỉnh đã nói, chẳng biết là đùa hay thật, nhưng chắc tên thực dân muốn Thừa phải coi trọng tấm bằng của thủ hiến Bắc Kỳ cấp.
Ngày ấy, Thừa bảo với Ma-ri:
- Muốn khao tưởng lục không mất tiền, thì ta đợi đến ngày trúng cử nghị viện hãy làm một thể.
Ma-ri cho là ý kiến hay. Vừa đỡ tốn kém thêm, vừa đỡ bận. Vả chính Ma-ri cũng ác cảm cái tưởng lục thứ ba, cho nên, làm nhuế nhóa như vậy, hắn vừa đỡ ức phải mừng cái đáng giận, vừa che mắt được quan trên có mừng.
Ma-ri còn ranh vặt. Muốn tránh cái tiếng là hai bữa khao chập một, hắn xui Thừa gửi thiếp mời khao tưởng lục đi các nơi trước ngày bầu cử năm hôm. Tiệc mời hơn ba chục khách thật, nhưng kỳ trung hắn chỉ cần hai người có mặt. Người thứ nhất, là ông Huân. Để ông tham đầu tòa quên cái lần trước đến tận Cẩu Rồng báo tin mừng mà phải nhịn đói về tỉnh. Và để lúc nào cụ lớn vui, thì ông mách hộ rằng vợ chồng hàn An-be đã khao tưởng lục rồi. Người thứ hai, là ông Lăng. Vì trước sau, ông sốt sắng giúp việc giao thiệp với hãng Phúc Lai Thành. Việc này đã xong được tám phần mười rồi. Bây giờ trượt nghị viên, mất thêm cái nhà ở phố Hàng Kèn, Thừa càng cần ông Lăng giúp nốt cho hai phần nữa, để kinh doanh mà bù đắp cái thiệt hại ấy. Vả lại, mời ông đến Cẩu Rồng, Thừa cũng còn mục đích nữa, là muốn khoe cho ông biết cái cơ ngơi của mình, và dạy cho ông một bài học, là có tiền thì không nên bo bíu, cỏ rả, phải giao thiệp rộng, để lấy thế lực.
Cho nên, tuy Thừa trượt ghế nghị viên, nhưng thế không khao không được.
Thật ra, thì từ hôm đeo tiếng là nghị hụt, cả Thừa lẫn Ma-ri rã rời cả đầu óc lẫn chân tay. Chứ còn vui vẻ gì, phấn khởi gì!
Thừa không những buồn vì tiếc công, còn xót vì tiếc của. Thế mà hắn còn bị Ma-ri giày vò, nói mất mặn mất nhạt mấy ngày liền.
Còn Ma-ri thì, chao ôi! Chỉ trong có mấy tháng, hắn bị hai lần như rơi từ trên trời xuống đất đen.
Đương đầy hy vọng được làm bà lớn chính cống, thì rút cuộc phải mất thêm mấy chục bạc để khao cái tưởng lục phải gió. Hắn còn ức nữa, là để che mắt thế gian, hắn phải sắm cái khung gụ chạm lồng kính để treo cái phải gió ở giữa nhà. Mỗi lần ra vào, nhìn thấy nó, hắn khó chịu như nhìn thấy… xừ Tuynh. Lần này, hắn chắc mẩm được làm bà nghị. Đi đâu, ngồi đâu cũng cổ động cho người ta trọng nghị viên. Hắn bảo nghị viên là chức quan được dân bầu ra, thì quan nghị phải là người tốt, có nhiệt huyết, làm lợi cho dân cho nước. Quan nghị có quyền hơn quan của chính phủ bổ. Quan bầu bắt được chính phủ làm theo ý mình. Còn quan bổ là đầu sai của chính phủ. Vả lại, nghị viên là quan của hàng xứ, danh giá và to lớn hơn cả tuần phủ, tổng đốc, chỉ là quan của hàng tỉnh thôi. Nhưng bây giờ Ma-ri tắc hầu tắc cổ như gái ngồi phải cọc rồi. Hắn không kịp quay lưỡi lại để mạt sát viên dân biểu là bù nhìn, chửi bới nghị viên là nghị gật, như trước kia hắn vẫn khoe là vì thế, hắn không thèm làm bà nghị.
Song, dù rã rời đầu óc, rã rời chân tay, nhưng thiếp mời đã gửi đi, thì Thừa và Ma-ri đã trót đành phải chét.
Thừa tạm chôn nỗi khổ tâm xuống tận đáy lòng, để cố biến nếp nhăn méo thành nếp nhăn cười, cho khách được vui vẻ. Ma-ri tạm đình đay nghiến chồng, trang điểm cho ưa nhìn, để người ngoài ước mong gia đình họ cũng được ấm cúng như cái tổ uyên ương ở Cẩu Rồng này.
Tiệc mượn bếp cao lâu Hà Nội về nấu. Có cô đầu tỉnh chuốc rượu. Trong buồng khách, vang lên tiếng hát véo von theo nhịp đàn, nhịp phách. Tiệc xong, ai muốn thưởng thức văn chương nghệ thuật, hay chỉ muốn thú mỹ thuật của mỹ nhân, thì nổi trống giục chị em. Ai muốn đi mây về gió, đem thế sự nhân tâm ra đàm đạo với nhau, thì vào buồng với ả Phù Dung. Ai mướn tiêu khiển bằng trí não, suy nghĩ cao thấp, thì lập bàn tổ tôm. Ai có óc cấp tiến, âu hóa, không muốn bảo thủ cả từ lối ăn chơi, thì vặn kèn hát lên mà nhảy đầm.
Người ta cũng gạ chủ nhân tổ chức xóc đĩa để cuộc vui sôi nổi hơn. Nhưng Thừa chỉ cười. Hắn không nói thực là sợ bị nhà chuyên trách khám bắt. Hắn không nói thực là bữa tiệc này chẳng qua là làm tắc trách cho xong. Hắn cũng không nói thực là vợ chồng hắn đương khóc dở mếu dở đến phát ốm. Nhưng hắn lấy lý do là hội viên hội Khai Trí không làm những hành động có hại cho danh dự Hội.
Ông tham Huân vừa đến nơi đã vẫy Thừa vào buồng riêng, thầm thì một tin mới:
- May cho bác là cụ tư sớm, nên bác được tưởng lục, chứ nếu chỉ chậm một tuần, có lẽ bác chẳng được gì!
- Sao vậy?
- Nó trốn đằng mẹ nào mất rồi, còn gì!
Thừa sửng sốt.
- Thằng Nghĩa chứ đứa nào? Tòa Hà Nội khép nó mười năm, phát vãng nó lên Sơn La, thế là giữa đường, nó chuồn thẳng.
Thừa im lặng, ông Huân tiếp:
- Ngữ này, trừ phi trốn sang Nga, chứ còn luẩn quẩn ở trong nước, thì thế nào cũng không thoát.
Thừa vứt điếu thuốc lá hút dở xuống đất:
- Trốn! Cả gan thật!
- Tôi không rõ nó trốn bằng cách nào, ở đâu. Nhưng chắc rằng thế nào nó cũng chứng nào tật ấy, rồi lại bị bắt cho mà xem. Lần sau thì tù chung thân!
- Thế còn thằng Xi bị bao nhiêu năm?
Ông Huân cười:
- Có sáu tháng án treo. Nhẹ quá!
Thừa lại im lặng.
Ông Huân nói:
- Bây giờ mà bác vớ được đám này cho nhà nước lần nữa, thì nắm chắc cái tri huyện trong tay.
Thừa thở dài, khẽ đáp:
- Vâng.
- Tôi chỉ sợ nó buột sang Tàu mất rồi thôi. Nhưng sang Tàu cũng chả thoát được. Chỉ thiệt cho An Nam mình mất mồi.
- Tôi tưởng đi quá nước mình là yên chứ?
Ông Huân gật đầu:
- Đáng lẽ thì thế đấy. Nhưng chính phủ mình điều đình riêng với chính phủ Vân Nam, chính phủ Quảng Đông, bắt hộ chính trị phạm An Nam qua đất của họ.
- Cũng được à?
- Cho họ tiền thì họ phớt cả luật quốc tế. Lạ gì mấy anh quan Tàu! Năm nọ, chính phủ Vân Nam bắt cho chính phủ Đông Dương một chính trị phạm. Họ cho phạm nhân vào bao bì, như bao hàng, đưa lên xe lửa, cho vào toa đen với những bao hàng khác, sở Thương chính cặp chì cẩn thận, thế mà cũng mất bay!
Thừa sửng sốt. Ông Huân gật đầu:
- Nguyên là chiều hôm ấy, xe lửa Vân Nam về đến ga Hà Khẩu. Còn qua một cái cầu nhỏ nữa thì sang đến địa hạt Lao Cai. Nhưng tự nhiên đốc biện Hà Khẩu cho lệnh đóng cửa cầu sông Nậm Thi lại, không cho xe lửa qua. Thì ra bọn cách mạng Tàu thấy người cách mạng Việt Nam bị chính phủ của họ bắt về Hà Nội cho Tây làm tội, thì họ đánh dây thép ngay cho đốc biện trấn phòng ở Hà Khẩu, là người cùng đảng, phải tìm ngay cách mà đánh tháo, ông đốc biện ra ga, xem xét khắp các nơi trên các toa, mà không tìm ra chỗ giấu phạm nhân. Sau, ông ta nghi chỉ có toa hàng có cặp chì là chỗ giấu người chắc chắn nhất. Vì chỉ nhà đoan Đông Dương mới có quyền mở. Thế là ông ta lấy búa, gõ vào thành toa, và nói to. Bất đồ, ở trong có tiếng trả lời. Thôi ráo cả là pháp luật, ông ta rứt miếng chì cặp, phá khóa, rồi mở cửa toa. Nhưng ông ta thấy toàn bì hàng, chứ không thấy người. Cuối cùng, ông ta tìm thấy một bì có tiếng nói, mới rạch ra, để cứu người cách mạng.
Thừa hỏi:
- Thế là thoát?
Ông Huân gật:
- Thoát.
Rồi ông tiếp:
- Cũng giờ này, cụ sứ Lao Cai biết ngay việc xảy ra ở bên trấn phòng. Cụ gọi dây nói nhờ người xin với ông đốc biện cho cụ yết kiến để điều đình. Nhưng ông đốc biện không tiếp. Xe lửa hôm ấy đành nằm lại bên ga Hà Khẩu. Sau, ông ta bằng lòng tiếp cụ sứ Lao Cai, phải cho lính mang đèn lồng là đèn lệnh đi đón tận ở đầu cầu. Thế mà dân chúng xông lại, họ tỉu nà ma, và ném cả đá vào cụ sứ.
- Điều đình thế nào?
- Tôi không rõ. Nhưng chắc là hai việc. Một là mở cửa cầu cho xe lửa về Lao Cai, để dân hai bên đi lại như trước. Việc này không khó. Hôm sau, cửa cầu lại mở. Còn việc thứ hai khó hơn, là trả người cách mạng cho chính phủ Đông Dương, thì chắc là không được. Vì từ đó mà đi, hễ chính phủ Vân Nam bắt được người cách mạng Việt Nam nào, thì họ không tải bằng xe lửa nữa, mà gọi chính phủ Đông Dương đưa máy bay sang đón về.
Ông Huân kết luận:
- Cho nên, nếu nó có trốn sang Nga mới thoát. Tôi chắc là hiện nay nó còn lẩn quất ở ta, chưa sang nổi đến đất Tàu đâu. Vì ít lâu nay, các cửa ải canh phòng nghiêm ngặt lắm.
Nghỉ một lát, ông gật gù:
- À, còn một đường nữa nó cũng hay dùng để trốn, là Hải Phòng. Ở cảng, có nhiều tàu thủy đi các nước.
- Nhưng làm gì có tiền mà đi Tàu?
Ông tham bĩu môi:
- Ô, người của chúng nó khối ra. Cả trên các tàu thủy cũng có. Những người này giấu chúng nó ở chỗ nào trong tàu cũng được.
Rồi ông gật gật:
- Phải, phải. Thế mà đi đường thủy dễ hơn cả. Vả lẩn nấp ở Hải Phòng thì yên. Thành phố đông. Ai biết mình là ai mà ngờ.
Hai người đứng dậy, ra phòng khách. Nhưng ông Huân sực nhớ ra:
- À, còn việc nữa.
Thừa lắng tai.
- Về việc ông không trúng cử, cụ giận ông lắm đấy. Cụ bảo ông thua ông Thiện, tức là cụ thua, nhà nước thua cộng sản.
- Thế sao sau hôm bầu cử, tôi vào hầu cụ, tôi không thấy cụ nói gì.
Ông Huân vỗ vai Thừa:
- Đời nào người ta nói ra. Đến như quan phó, cái lúc ông kiện xin hủy bỏ cuộc bầu cử, mà ngài cũng không tìm ra lý gì để phá Nguyễn Thiện được là ngài cay lắm đấy. Cho nên ngài cứ phải làm như công minh, tươi cười với người trúng cử.
Thừa thở dài:
- Người của tôi bán được hai mốt phiếu có đánh dấu. Nếu cả hai mốt người đều bỏ bằng phiếu ấy, thì thế nào cũng phải bầu lại. Tôi không ngờ có mười bảy thằng nó ăn của tôi mà lại phản bội.
Ông Huân lắc đầu, thầm thì vào tai Thừa:
- Thế mới biết từ ngày cộng sản tràn sang ta, thì trình độ dân mình khác nhiều lắm. Không trách cụ Rô-banh bảo những tờ truyền đơn tuy mỏng và nhỏ, nhưng còn nguy hiểm bằng vạn những trận đổ máu ở Yên Bái ấy. Nhà nước triệt cộng sản đã khiếp, mà sao họ mọc đâu ra nhanh thế. Hầu như khắp nước đâu đâu cũng có, nhất là ở mấy thành phố lắm thợ thuyền, như Hà Nội, Hải Phòng.
Nghe nhắc đến Hải Phòng, Thừa cau cau đôi mắt, nhìn lên trần.
* * *
Hôm sau, Thừa rủ ông Lăng đi Hải Phòng.
Không phải hắn vội đi truy nã anh Lâm hộ sở mật thám để nhận thêm một đạo tưởng lục thứ tư, mà để làm việc cho hắn. Tức là điều đình cho xong việc mua tàu. Và vui thú với Xuy-dan.
Xuy-dan quả là một nhân vật lạ lùng. Ít tuổi, nhưng Xuy-dan biết nói câu chuyện cho ra câu chuyện. Nếu Thừa cần một người đàn bà, thì cố nhiên không phải hạng tai ngược như Ma-ri, và cũng không phải chỉ hạng đồ chơi mua bằng tiền, như những người trước kia hắn đã trải. Qua xong một lúc, trong đầu óc không còn nghĩ ngợi gì. Còn Xuy-dan, thì không hiểu tâm hồn có điều gì u uất đắng cay, mà hay nói ra những lời khiến người nghe phải suy nghĩ và nhớ, để còn muốn gặp lại lần nữa.
Nhưng Thừa không ngờ hãng Phúc Lai Thành không cò kè bớt một thêm hai như những lần trước. Hắn phải đặt ngay một nghìn bạc, rồi lập tức đảo về Hà Nội, dạm bán bốn cái nhà, để lấy tiền mà trả nốt.
Trong lúc ra hè để lên ô-tô, bỗng Thừa nhìn thấy Xuy-dan ngồi trên một xe cao-su đương chạy. Xuy-dan cũng trông thấy Thừa. Nhưng Xuy-dan quay đi ngay. Thừa nhìn theo Xuy-dan. Chiếc xe chạy quá độ hơn trăm thước thì đỗ. Xuy-dan xuống đất, vào nhà trong.
Lúc ô-tô qua chỗ Xuy-dan vừa vào, Thừa cố nhìn xem có thấy Xuy-dan hay không. Nhưng không thấy. Ở đây không có cửa hàng. Chắc Xuy-dan đến chơi một người quen nào. Xuy-dan vào nhà nào, Thừa không thể biết. Vì ban nãy Thừa không để ý nhận kỹ. Và đây là một dãy nhà làm giống nhau của một chủ cho thuê.
Thừa ở lại Hà Nội mười ngày. Hắn ủy việc bán nhà cho Ma-ri rồi đi Hải Phòng để thuê sửa chữa một vài chỗ ở máy móc cho tốt, và thuê sơn lại vỏ tàu cho mới. Hắn dự tính sẽ có hẳn nửa tháng ở Hải Phòng. Tha hồ hắn có thì giờ gặp Xuy-dan.
Nhưng rủi cho Thừa, hắn đến nhà An-na Phán thì không gặp An-na Phán, cũng không gặp Xuy-dan. An-na Phán đi Hà Nội. Thừa hỏi thăm Xuy-dan, thì người bồi nói:
- Nó bị sốt rét thương hàn nặng, bà chủ không dám chứa sợ lây ra cả nhà, nên đuổi nó đi rồi.
Thừa giật mình:
- Nó bị sốt từ hôm nào?
- Từ hôm mồng sáu.
Thừa tính ngày, thấy là Xuy-dan ốm ngay hai hôm sau khi hắn gặp đi ở phố. Hắn hỏi:
- Thế bây giờ Xuy-dan đâu?
- Thưa con không biết.
Người bồi phàn nàn:
- Kể bà chủ con cũng ác. Người ta đương ốm nặng mà đuổi đi.
Nghe xong, Thừa ra xe. Hắn đến phố có dãy nhà mà hôm nọ hắn thấy Xuy-dan vào.
Hắn hỏi thăm.
Thì hắn gặp Xuy-dan.
Xuy-dan đã khỏi sốt, nhưng gầy tọp hẳn đi. Da xanh bủng. Hai gò má dô lên. Tóc rụng rất nhiều. Xuy-dan ngồi dậy tiếp Thừa, nhưng tay chân run lẩy bẩy, vừa nói vừa thở.
Thừa biết đây là nhà người cô họ của một bạn cùng nghề với Xuy-dan. Người này thương tình Xuy-dan bị chủ bạc đãi, mới xin với cô cho ở nhờ.
Thừa nói:
- Em còn mệt lắm, anh không muốn ngồi lâu, sợ em mệt thêm. Em cầm tiền mà uống thuốc. Anh còn ở Hải Phòng, sẽ đến thăm em luôn.
Xuy-dan rưng rưng nước mắt, cầm năm chục bạc:
- Em cảm ơn anh.
Hằng ngày, Thừa đến thăm Xuy-dan. Lần nào hắn cũng mua thêm thuốc và quà bánh cho Xuy-dan. Luôn luôn hắn hỏi Xuy-dan cần tiền nữa, thì hắn đưa. Nhưng Xuy-dan đều từ chối:
- Em khỏe vì tấm lòng của anh săn sóc thương em hơn là vì các thứ anh cho.
Thật thế, Xuy-dan lại người rất chóng. Da dẻ đã đỏ. Mà đã có thịt. Sợ tóc rụng thì đầu xấu, cô phải bịt cả ngày bằng khăn vuông màu.
Đến hôm Thừa xong hết việc ở Hải Phòng, định trở về Hà Nội, hắn để hẳn một buổi chiều đến với Xuy-dan.
Hôm ấy, Xuy-dan đã gần được như thường. Thấy Thừa nói sắp xa lâu, cô thở dài:
- Có lẽ anh với em gặp nhau lần này là lần cuối cùng. Vì em không ở Hải Phòng nữa.
- Em đi đâu?
- Chưa định. Nhưng tất nhiên là không ở Hải Phòng.
- Vậy em không làm với chị An-na Phán nữa nhỉ.
- Vâng. Bởi vì em không thể ở với những đứa bạc ác, nó lợi dụng người ta khi người ta khỏe, đến khi người ta ốm đau, thì nó tống ra khỏi nhà.
Thừa thở dài, lắc đầu:
- Nhưng mà khó đấy.
- Dễ nó xích được chân em à?
Thừa buồn bã:
- Không. Nhưng tờ giấy môn bài, em ạ.
Xuy-dan tức:
- Thế sao em ốm, nó lại đuổi em. Em đòi nó xé môn bài đi.
Thừa vẫn buồn bã:
- Nhưng em lại đẹp rồi.
Xuy-dan nghĩ ra. Cô ôm mặt, khóc:
- Đời em lại thêm một việc hất hủi, vùi dập!
- Nhưng đã có anh. Em đừng lo. Anh viết lại cho An-na Phán mấy chữ.
Xuy-dan mỉm cười, nhìn Thừa bằng đôi mắt dịu dàng và âu yếm. Một lát, cô hỏi:
- Anh ơi, anh nói thực nhé. Tại sao anh tử tế với em, là một cô gái giang hồ?
Thừa không đáp. Xuy-dan lại hỏi:
- Thế đối với mọi người, anh có xử như thế không?
- Mọi người là ai?
- Ví dụ vợ con anh, ví dụ người đàn bà khác?
Thừa sực nghĩ đến mẹ Mão và Mão. Hắn chỉ cười, không trả lời. Xuy-dan nhắc lại:
- Anh tử tế với một gái giang hồ, anh có biết là dại không?
Thừa lắc đầu:
- Có. Nhưng đối với em thì không.
- Anh nói khéo.
Thừa thở dài:
- Anh không nói khéo. Không bao giờ anh coi em là gái giang hồ. Anh đền tội với em.
Xuy-dan vui sướng. Thừa tiếp:
- Có một điều lạ lắm. Chính anh nghĩ mãi không ra. Là không biết vì sao, ngay từ lúc mới gặp em, anh đã thấy muốn đối xử với em khác mọi người. Anh mong gặp em lần thứ hai, thứ ba. Và lần nào cũng vậy, anh đưa em bao nhiêu, anh cũng không đắn đo. Anh chỉ muốn em được đầy đủ. Mà nhất là anh chỉ muốn em bỏ nghề này.
- Bỏ nghề này thì lấy gì mà sống, hở anh? Trời cho em cái vốn, thì em phải kiếm ăn bằng vốn ấy.
- Nếu chỉ vì cần kiếm ăn mà em phải làm nghề này thì ở đời thiếu gì cách sinh sống?
- Nhưng cách nào thì cũng phải có vốn bằng tiền. Em không có vốn bằng tiền.
- Anh giúp.
Xuy-dan đưa mắt nhìn xuống, chớp liền năm sáu cái. Rồi nói:
- Thế thì cũng lạ đấy, anh ạ. Em cũng thế. Không hiểu đối với anh thế nào, mà em cũng hay nói. Với khách khác, em có nói gì bao giờ đâu, Em chỉ tự coi là đồ chơi, khách thỏa mãn thì ra về. Họ kệ mình. Mình cũng kệ họ. Thế mà đối với anh, em lại đôi khi kể tâm sự. Y như với một người bạn lâu năm, bạn thân. Nhưng em nói thật điều này, anh đừng giận nhé. Quý anh thì có quý, nhưng chưa bao giờ em yêu anh.
Thừa gật đầu:
- Một là vì tình cảm của em chai ra rồi, hai là vì anh em mình mới biết nhau có vài lượt. Cũng như đối với em, anh nói thật là chỉ thương thôi.
- Em biết, cho nên hôm nọ, gặp anh sắp lên ô-tô ở trước nhà Phúc Lai Thành, em quay mặt đi, cho anh khỏi phải giả dối, xã giao với em. Anh là làng chơi, em chỉ là gái giang hồ, vì tiền mà quen nhau, chứ đâu phải vì nghĩa.
- Nhưng lần này, thấy anh tìm em, hẳn em biết là em đã lầm?
Xuy-dan mỉm cười, gật đầu, rồi nắm lấy tay Thừa. Thừa nghĩ ngợi một lát, rồi nói:
- Có lẽ chúng ta cứ sống như thế này, thì thú hơn là yêu nhau. Anh đã thử nghĩ xem có nên yêu em hay không. Nhưng không rõ có cái gì nó cứ không cho anh nghĩ lâu cái điều ấy.
- Cần gì yêu, hả anh? Sống với nhau bằng tình cảm đã sung sướng chán rồi. Em không muốn anh yêu em. Bởi vì ví thử anh yêu em, rồi lấy em làm vợ, thì chẳng qua, anh đổi cho em cái nhục bị khách đày đọa lấy cái nhục bị vợ anh đày đọa. Mà cái nhục bị khách đày đọa, em còn có thể tự gỡ được, chứ khi em bị anh bỏ tù trong gia đình anh, thì em bị giam hãm suốt đời. Em mà bị đời hắt hủi đến nước ấy nữa, thì chỉ còn đi tự tử mới thoát nợ được.
- Em là người đã chán chường, lại hay hoài nghi. Thế em quên rằng, em đã ví đời như cái vườn hoa à?
Xuy-dan mỉm cười:
- Ai chả biết nói khôn, ai chả biết dạy đời, hả anh? Nếu biết nói khôn, biết dạy đời mà là thạo, thì ở đời làm gì có đứa dại, cho thằng láu cá lừa gạt được?
Thừa băn khoăn một lát, rồi hỏi:
- Em Xuy-dan! Em có coi anh là thân không?
Xuy-dan gật. Thừa tiếp:
- Thế thì em kể lại đời của em cho anh nghe đi.
Xuy-dan lắc:
-Vô ích.
- Có ích. Anh sẽ tìm cách cho em vui đời.
- Anh An-be! Anh có là thánh đâu?
- Nếu em không nói, tức là không tin anh. Không tin anh, vì không quý anh. Em bảo em quý anh kia mà?
Xuy-dan thở dài:
- Trước hết, anh có tin em nói là thực không đã.
- Anh nhắc lại là anh đã không coi em là gái giang hồ. Vậy anh cũng xin em đừng coi anh như khách làng chơi.
Xuy-dan mỉm cười:
- Ừ, em kể nhé.
Thừa ngồi ngay ngắn lại, lấy thuốc lá mời Xuy-dan cùng hút.
Xuy-dan thở dài:
- Anh An-be ạ. Em là một đứa con hoang.
Thừa cau mặt nhìn Xuy-dan.
- Mẹ em làm gì? Cha em là ai?
- Mẹ em buôn bán. Cha em làm báo.
- Em bảo mẹ em là người lai phải không nhỉ?
- Phải.
- Mẹ em tên là gì? Người ở đâu?
- Tên là gì, em không biết. Mẹ em là người Hà Nội.
- Cha em tên là gì?
- Mẹ em cũng không bảo. Em không có ảnh cha em, nhưng có ảnh mẹ em.
- Đâu? Cho anh xem.
- Em gửi cậu em. Ai lại đi làm nghề này mà đem mẹ theo bao giờ!
- Rồi em cho anh xem nhé.
- Được.
- Thế bây giờ bố mẹ em đâu?
- Nếu bố mẹ em còn sống, em đã chẳng khổ. Không biết bố em có gặp em lần nào không. Mẹ em chết năm em lên ba tuổi. Em ở với ông bà ngoại, ông bà bảo bố em chết trước mẹ em lâu rồi.
- Ông bà em làm gì, ở đâu?
- Cũng buôn bán ở Hà Nội, nhưng chết cả rồi.
- Ông bà em không cho em đi học à?
- Có. Ấy, đời hắt hủi em ngay từ ngày em lọt lòng mẹ, anh ạ. Bà em nói rằng khi mẹ em đẻ em thì xấu hổ, nên quẳng em ra đường. May em không chết. Người ta nghe tiếng khóc, biết em là con của mẹ em, nên đem trả mẹ em, bắt mẹ em phải nuôi.
- Thế thì em oán mẹ em nhỉ?
- Không. Mẹ em không có tội. Người làm ra tội là bố em, đã nhẫn tâm bỏ mẹ em ngay từ ngày em còn ở trong bụng. Nhưng tội to hơn cả là dư luận của xã hội. Họ dồn cả sự khinh bỉ bố mẹ em vào đầu em, là đứa con hoang.
Xuy-dan sụt sịt:
- Ở đời này, thiếu gì đàn bà con gái chơi ngang, và thiếu gì thằng, thiếu gì con đáng khinh bỉ, đáng bị đối xử tàn nhẫn hơn đứa trẻ hoang vô tội, hở anh? Nên gọi chúng nó là con hoang mới đúng. Ấy là những kẻ hại dân, hại nước, phản thầy, phản bạn, không xứng đáng là con cháu Rồng Tiên.
Thừa run run, dập điếu thuốc lá chưa hút hết, để châm điếu mới.
- Em ở với mẹ em được ba năm, thì mẹ em chết. Chắc rằng những năm này, mẹ em bị khinh bỉ là gái đẻ hoang, ông bà ngoại em nuôi em. Nhưng em không được coi như cháu chính thức. Em sợ sệt cả nhà, không dám cười to, không dám nói to, không dám đi mạnh. Các cháu khác cần gì, thì các cậu, các dì giúp đỡ. Còn em thì toàn làm lấy. Thế mà không ngày nào em không phải đòn, phải chửi, phải nhiếc móc. Thành thử lúc nào em cũng len lét như chuột ngày. Những việc này, sau này người lớn kể lại, em mới biết. Đến năm em đủ tuổi đi học, ông ngoại em xin giấy khai sinh cho em. Vì con hoang không phải khai tên bố, cho nên trong giấy khai sinh của em, bỏ trống chỗ tên bố. Ông giáo nhận đơn, xem khai sinh, biết em là con hoang, thì không muốn cho em vào trường, ông em phải khấn hai đồng bạc, ông ấy mới cho em học lớp đồng ấu. Em được lên các lớp trên. Nhưng từ thầy giáo đến các bạn bè đều biết em là đứa con hoang. Các thầy luôn luôn dọa đuổi em. Các bạn không thèm chơi với em. Song, vì em chẳng có lỗi gì, nên em được học đến lớp sơ đẳng. Em đỗ sơ học yếu lược, cả phần chữ Pháp, nên được lên ngay lớp nhì năm thứ hai. Nhưng ông giáo lớp này ngại rằng có đứa con hoang lẫn vào trong lớp, thì xấu lớp, và hại học trò khác, ông định không nhận em. Ông em lại phải lễ ông ấy tiền. Học lớp nhì và lớp nhất em là hạng giỏi, nhưng không thầy giáo nào dám cho em điểm cao. Thành thử ở lớp nào em cũng xếp hạng vào gần bét. Em đỗ tiểu học Pháp Việt. Nhưng đến kỳ thi vào ban cao đẳng tiểu học, tất cả các bài em đều làm tốt, mà em vẫn bị đánh hỏng. Em hiểu là chỉ vì giấy khai sinh của em không có tên bố, cho nên trường nào cũng không muốn nhận một đứa con hoang, làm xấu trường, hại bạn.
Thừa rót một chén nước, đưa cho Xuy-dan nhấp giọng.
Xuy-dan uống một hụm, rồi tiếp:
- Lại còn tên của em nữa. Chẳng biết vì lẽ gì, bố mẹ anh đặt tên cho anh là An-be, chứ ông bà em có đặt cho em tên là Thúy-gian đâu. Ông bà em đặt tên là cái Thúy. Nhưng ở góc phố, có hai đứa trẻ tên là Thúy. Cho nên muốn phân biệt, người ta gọi cái Thúy kia là Thúy-ngay, còn em là con hoang, thì gọi là Thúy-gian. Hai tiếng Thúy-gian được gọi quen miệng, thành thử em mang tên kép, để suốt đời đeo bên mình tiếng chửi rủa thâm độc.
Thừa thở dài:
- Thế tại sao em bằng lòng làm nghề này?
- Có gì là lạ? An-na nó lấy số cho em rồi. Em không bằng lòng, thì nó đánh chết. Vả lại, em nghĩ như thế này. Vốn đời vẫn yên trí là đứa con hoang thì thế nào cũng giống mẹ về mặt hư đốn. Ngay cái năm em học lớp nhất, đã có vô số người theo em, định làm hại em. Cả một thầy giáo dạy em, đã có lần muốn lừa em. Nhưng lừa không nổi, thầy ấy tức em có nhiều con trai theo bám, mới xin đuổi em, lấy cớ là hạnh kiểm em xấu. Nhưng hạnh kiểm em không xấu, em vẫn được học và thi đỗ. Song, vì đời cố làm nhơ bẩn một đứa con hoang, nên sau hết, tuy em tránh nổi thủ đoạn của đời, nhưng em cũng bị nghi là đứa con gái mất trinh. Tiếng xấu xa đến tai ông bà em. Em bị trận đòn thừa sống thiếu chết, ông bà em đuổi em đi. Em nhục nhã, muốn tự tử. Nhưng em suy nghĩ kỹ. Em phải sống, để báo thù đời đã khinh bỉ, rẻ rúng, hất hủi, và vùi dập oan uổng một đứa con vô tội.
Thừa lắc đầu:
- Em nói là em báo thù đời, nhưng thực sự là em hủy hoại đời em đấy chứ?
- Phải, để em chết khổ chết sở thì đời mới hối hận là đã giết oan em.
Thừa mỉm cười:
- Chưa chắc đã hối hận. Vì đời là ai? Có phải là một người đâu?
- Đành vậy, nhưng sau khi em chết, nếu người ta kể chuyện lại đời em cho nhau nghe, thì hẳn người ta phải thấy là ác với đứa trẻ vô tội.
Thừa nói:
- Anh khuyên em đừng hủy hoại thân em. Em có thể làm nghề khác, nếu làm tốt, thì đời sẽ quý em như mọi người đáng quý khác. Em không muốn ở Hải Phòng để khỏi trở lại nhà chị An-na Phán nữa. Anh tán thành. Em là của anh, chứ không phải của chị An-na Phán. Chị An-na Phán đuổi em, em có quyền bỏ chị ấy, không cần nói với chị ấy. Anh sẽ bênh em. Nhưng dù sau này ở đâu, em cũng không nên bước vào nhà chị An-na Phán nào khác nữa.
- Thế thì lấy gì mà sống?
- Em đỗ tiểu học Pháp Việt, em có thể đi dạy học tư.
- Nhưng ai thèm mượn đứa con hoang dạy học, nhất là đứa con hoang ấy lại đã là gái giang hồ?
- Em không lo. Bây giờ em điều đình với bà chủ nhà này cho em ở trọ. Nếu bà không bằng lòng, thì em xin thuê lại một giường. Nếu cũng không được, thì em tìm chỗ khác mà thuê. Nếu em sợ không có tiền, thì anh giúp. Anh sẽ tìm việc cho em. Anh muốn kéo em ra khỏi hiện tại. Em nghĩ thế nào?
Xuy-dan vui sướng:
- Em không hiểu anh là gì mà tử tế, thương xót em như thế. Cha mẹ bạc bẽo, chả nói làm gì, đến ông bà ngoại em, các cậu, các dì em cũng không tử tế, thương xót em như anh. Vậy em là đứa con không bố, em nhận anh là bố. Tuổi em cũng chỉ bằng tuổi con anh thôi.
Thừa lắc đầu:
- Không. Ta nhận nhau là anh em thôi.
Xuy-dan cười rồi hỏi:
- Đã là anh em, chẳng lẽ em không biết đời anh hay sao? Vậy anh cho em biết đi.
Thừa lảng:
- Em có chồng sắp cưới nhỉ.
Xuy-dan gật:
- Phải. Thì em gặp anh. Thế là em ngoặt sang con đường khác.
Thừa thở dài:
- Tội anh to quá! Anh là đứa ác, vùi dập thêm đời em!
Xuy-dan mím miệng:
- Anh đừng nói thế. Vì anh chỉ là người vô tình mà làm nên tội ác. Thủ phạm chính, là cả xã hội. Thôi, anh nói đi, đời anh hẳn sướng lắm.
Thừa thở dài:
- Em chỉ nên biết anh từ ngày chúng ta gặp nhau thôi. Anh là người thương em. Và thương em mãi mãi.
Xuy-dan vờ vùng vằng:
- Không. Chẳng lẽ anh lại là một nhân vật trong tiểu thuyết thần thoại, trời sai xuống cứu em!
Thừa nghiêm nét mặt:
- Em chỉ nên biết là anh sắp làm chủ hãng tàu thủy chạy các đường ngắn, vì anh mới mua lại của hãng Phúc Lai Thành hai chiếc tàu cỡ nhỏ.
Xuy-dan mừng rỡ:
- Ừ, ít ra em cũng biết công việc của anh về tương lai. Thế còn hiện tại?
Thừa đùa:
- Hiện tại, anh là người của em, biết thương xót em.
- Quá khứ?
Thừa lắc đầu:
- Thôi.
Xuy-dan cũng nghiêm mặt:
- Thế là anh không muốn cho em nhận cái ơn của anh à?
Thừa thở dài:
- Nếu anh kể quá khứ của anh thì dài quá. Nhưng nói ngắn lại, Xuy-dan ạ, anh là người làm hại đời, tạo nên những người thù ghét đời như em. Có lẽ vì thế nên trời dun dủi cho anh gặp em để hại em, nhưng cũng để anh ở lại với em mà chuộc tội.
Xuy-dan cười:
- Thật là khó hiểu.
Thừa đáp:
- Không khó hiểu. Em ở với anh lâu, sẽ hiểu anh thôi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
IX
NHỮNG NGÀY ĐẦU TRONG CUỘC KINH DOANH  
 
Hai chiếc tàu về tay chủ mới, đều được thay tên mới. Chiếc to hơn và khỏe hơn, sơn màu trắng, thì lấy tên là Đại Pháp, đề chữ tây là La France. Chiếc nhỏ hơn và yếu hơn, sơn màu vàng, thì lấy tên là Bắc Kỳ, đề chữ tây là Le Tonkin. Thừa rất tự hào về sáng kiến đầy ý nghĩa này.
Vì tàu nhỏ, nên chạy chừng quãng ngắn. Bến chính là Hải Dương. Chiếc Đại Pháp đi Ninh Giang. Vì Ninh Giang to như một tỉnh, nên vẫn được gọi là tỉnh Ninh Giang. Ở đây, hành khách nhiều, gạo được tải đi các nơi cũng nhiều. Lại có đền Tranh, linh thiêng có tiếng. Đến ngày hội, khách thập phương về lễ rất đông. Chiếc Bắc Kỳ đi Phả Lại. Trong tỉnh Hải Dương, nơi buôn bán sầm uất sau Ninh Giang, là Phả Lại, Phả Lại gần đền Kiếp Bạc. Mọi năm đến kỳ hội, hôm nào cũng hai ba chiếc tàu chở con công đệ tử đến đền đức thánh Trần không xuể. Còn khối người phải đi bộ.
Chiếc Đại Pháp và chiếc Bắc Kỳ cứ sáng đi, chiều lại về. Đêm ngủ ở Hải Dương.
Thừa giữ lại để dùng tất cả những nhân viên cũ. Vì họ đã quen việc. Họ cũng không bị giảm lương. Điều này là điều đặc biệt. Xưa nay, mỗi lần tàu thay thầy đổi chủ, thì bao giờ nhân viên cũng bị sụt lương mấy tháng đầu. Rồi sau, có tăng thì mới tăng. Ông chủ lấy lý do là phải thử thách xem người làm có xứng đáng với tiền họ được thưởng hay không. Thử thách xem tàu chạy đường mới, khách vắng, đông, chủ lỗ lãi thế nào.
Ai cũng khen ông An-be là quân tử, là không tẹp nhẹp. Họ vui lòng nhất về cách ông gọi họ không có vẻ gì là khinh người. Ba-toong, mại bản, ông gọi là ông. Tài xế, nhì-xế, ông gọi là bác. Mạch-nô, ông gọi là anh. Ông Bưởi, ông Thu, lúc ngọt ngào cũng gọi thế, nhưng lúc nóng giận thì chẳng phân biệt ai với ai. Các ông ấy mày tao tuốt. Còn ông Phúc Lai Thành thì bất kỳ to nhỏ, già trẻ, cũ mới, ai cũng bị gọi là nị.
Mỗi buổi tối tàu về bến chính, Thừa và Ma-ri đều đứng ở trên bờ để nhìn. Bề ngoài, hai người làm như chủ mới thì lấy việc ngắm nghía chiếc tàu mới sơn, ngắm nghía hành khách tấp nập lên bờ, làm một sự thích thú, sự tiêu khiển. Nhưng bề trong, là để kiểm soát ngầm xem mại bản có thật thà không. Ma-ri đếm tổng số hành khách, Thừa đếm số trẻ con xem bao nhiêu đứa không phải lấy vé, phải lấy nửa vé, hoặc nặng nề, đáng lẽ phải đánh cước, là bao nhiêu. Khi Thừa vào quầy xem số hàng gửi lại, rồi đến buồng mại bản để tính sổ. Xem vé người, vé cước hành lý và hàng gửi là bao nhiêu, để nhận tiền. Còn Ma-ri làm như tò mò. Hắn vào buồng máy, hắn ngó thành tàu, hoặc đi tung tăng ở trên boong. Hắn để ý xem, than, dầu mỡ, tốn hơn hôm trước hay không bằng. Hắn vào buồng máy xem máy móc có giữ sạch sẽ không, có y như hôm trước không, hay tài xế, nhì-xế muốn phản chủ, đánh hỏng đi, để chủ phải thiệt hại, để nếu phải chữa lâu, thì họ được nghỉ việc. Hắn ngó thành tàu xem có chỗ nào sứt lở, thì biết là ba-toong đã không lái cẩn thận, cho tàu va chạm vào vật gì. Và trong khi hắn đi tung tăng khắp từ đằng mũi đến đằng lái, là để thúc ngầm mạch-nô phải quét tước, lau rửa mọi chỗ cho sạch sẽ.
Một tháng đầu, Thừa và Ma-ri không có ý phàn nàn với nhau về nhân viên. Chỉ có một điều đáng ngại, nhưng Thừa cho là thường, là dĩ nhiên. Tức là lỗ vốn. Số tiền chi về than, về dầu, về mỡ nói chung, ngày nào cũng đều như nhau. Nhưng số tiền thu vé vé người, vé cước, thì hôm nhiều, được lãi, hôm ít, lỗ vốn. Và trung bình, cả hai chiếc Đại Pháp và Bắc Kỳ, cái nọ bù cho cái kia, so thu so với số chi, thì có kém. Thừa bảo Ma-ri:
- Tàu mới, khách chưa quen. Rồi khách quen dần, mình sẽ có lãi. Nghề buôn bán, bao giờ cũng thế. Cho nên không nên lo, không nên nản lòng. Chỉ nên cố gắng.
Ma-ri bàn:
- Làm thế nào cướp được khách của ô-tô thì tốt. Có ô-tô, mỗi ngày mình thiệt đến hàng trăm người.
Thừa lắc đầu:
- Không cần. Ô-tô chỉ lấy được khách đi vội cho kịp xe lửa, và khách mang hành lý nhẹ nhàng, lại không tiếc tiền. Khách của ta là những người không cần đi nhanh, nên so kè từng hào từng xu, là những người có nhiều hàng, không cần kịp chuyến xe lửa. Ô-tô không cướp được khách của ta. Trái lại, trừ mấy ngày trong hội đền Kiếp, còn thì quanh năm, ta đã cướp dần gần hết khách của thuyền. Ta có cái may mắn là được độc quyền vận tải trên khúc sông từ Hải Dương đi Ninh Giang, từ Hải Dương đi Phả Lại, không phải chia mối lợi với hãng khác. Làm việc gì không có cạnh tranh thì óc được thư nhàn. Ta chỉ cần để ý đến nhân viên xem họ có thật thà hay không thôi.
Thừa tiếp:
- Cho nên không lo lỗ vốn, mà chỉ nên mừng rằng mình không bị ai ganh. Rồi cứ đà này, thì dần dần hòa vốn, và có lãi.
Bàn đến cách đối xử với nhân viên, Thừa nói:
- Mình ngọt ngào với họ là đúng, và kiểm soát kín đáo họ là tốt. Một đôi khi, tôi cũng nghi là có lần mại bản ăn bớt, nhưng nghi thôi. Tôi có hỏi khéo, thì anh ta trả lời cũng có lý. Ví dụ có lần chín mươi hai hành khách người lớn, mà anh ta chỉ nộp có chín mươi mốt suất rưỡi. Anh ta nói là một người nghèo không đủ tiền trả cả vé, chẳng lẽ người ấy đã trót xuống tàu, lại đuổi lên bộ hay sao. Tôi đã nhiều lần đi tàu thủy, nên cũng thấy có những người không đủ tiền lấy vé, mà cứ đi liều thật.
Ma-ri nói:
- Thôi, thiệt vài xu, nhiều lắm là một hào chứ mấy.
- Phải rồi. Nhưng mình cũng cho mại bản thấy là mình biết, thì nó mới sợ mình. Chứ mình cứ lờ mờ, lần này nó bịp được, thì lần sau nó lại bịp. Vả thế nào cũng có lần nó bịp mình món to. Nên biết rằng lòng tham thì ai cũng có. Mình suy như mình thì biết, huống hồ là người lương ít, mà lại nắm đồng tiền trong tay. Cho nên phải cho họ thấy là ta tinh, thì họ không dám ăn cắp, hoặc nếu có ăn cắp, cũng chỉ dám lấy những món lặt vặt.
Ma-ri gật gù:
- Làm nghề này dễ chịu hơn làm đồn điền. Làm chủ đồn điền thì của mình gửi trong tay người. Làm nghề này, thì của người, mình nắm trong tay. Tức là mình phát lương.
Thừa thêm:
- Của mình gửi trong tay người đã đành, nhưng cũng gửi cả vào thiên nhiên nữa. Nào hạn, nào lụt, nào bão, nào sâu. Cho nên chúng nó mới viện những lẽ thiên nhiên, viện những lẽ bóc lột sức lao động mà làm khó dễ cho mình. Đằng này mình dùng máy móc. Chẳng cộng sản nào tuyên truyền được máy móc nó phản mình. Còn một dúm người làm, thì ta phát lương cho họ. Họ tử tế thì ta dùng, họ dở giọng thì ta thải. Ba-toong, tài xế có nghề chuyên môn, khó thay, chứ mại bản bán vé ai làm chẳng được. Tôi, bà, thằng Pôn, thằng Giăng, con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, nhà ta còn vô số người ngồi không đấy. Vả lại, người nhà còn đáng tin cậy bằng mấy người ngoài ấy chứ.
Ma-ri gật đầu:
- Cho nên, để lại đồn điền, tôi có tiếc gì đâu.
* * *
Ma-ri để lại đồn điền cho nhà Chung.
Việc này, ta đã nghe thấy một lần Thừa bàn với Ma-ri, và ta biết vì mục đích gì Thừa lại kén chọn người mua, là nhà Chung.
Ma-ri đến gặp lão cha Hảo.
Hắn nói liến thoắng trong mười phút liền.
Trước hết, hắn xin lỗi bề trên, là mấy năm nay, vì bận việc quá, hắn không đến thăm sức khỏe cha được. Nhưng không phải vì thế mà hắn quên ơn, quên tình của cha đối với hắn.
Ma-ri không ỡm ờ, không nhí nhảnh. Dáng điệu và giọng nói hắn rất lễ phép, khiến con dê già cũng phải nghiêm nghị mà nghe.
Ma-ri nói tin hai đứa bé đẻ sinh đôi ngày ấy, chỉ còn nuôi được một đứa, năm nay đã 15 tuổi, tên là Rô-da-lin.
Người bố thở dài khẽ.
Ma-ri tả mặt mũi, khổ người con Rô-da-lin, và khen là nó giống cha. Hắn nói về sự học hành và hạnh kiểm của con bé. Hắn không giấu là nó đã mất trinh, không giấu là nó vừa dốt vừa lười, và không giấu là bây giờ nó lớn phổng lên, cả ngày chỉ phấn sáp, mặc thật diện, để đứng cửa, hoặc đi rong phố.
Người bố lại thở dài khẽ.
Ma-ri nói đến việc hắn ăn ở với Thừa thế nào. Hắn cố tình tỏ cho lão cha đạo biết là hắn không yêu chồng bằng yêu bề trên.
Chẳng qua hắn ngoan đạo, thì phải tuân theo lời bề trên xếp đặt, chứ thực ra, hắn chỉ tha thiết về với bề trên thôi.
Người bề trên gật gù.
Ma-ri cho nhà tu hành biết những thủ đoạn làm giàu của Thừa, bây giờ hắn có vốn liếng ước chừng bao nhiêu. Hắn cũng báo cả việc Thừa xoay công danh thế nào, nhưng đến nay, tường nhà chỉ lòe loẹt những tưởng lục. Hắn kể ý của hắn là vì sao định dành đồn điền làm của hồi môn cho con Rô-da-lin, nhưng tình hình thóc lúa ở Cẩu Rồng khó khăn thế nào. Thừa muốn báo thù nông dân thế nào, mới xui hắn để lại đón điền cho cha, lấy tiền chung vốn buôn tàu thủy.
Kể một thôi một hồi xong, Ma-ri lấy mù-soa chấm mồ hôi trán, rồi nhếch mép, nói đùa một mình:
- Y như khai ở sở mật thám.
Người cha đạo vẫn nghiêm nét mặt, hất bộ râu xồm:
- Hết?
- Thưa cha vâng ạ.
- Nó định kinh doanh vận tải đường thủy?
- Vâng ạ.
Nhà tu hành gãi mép một lúc, rồi lên tiếng:
- Chỉ vì muốn cha trị bọn điền tốt bướng bỉnh mà nó bảo con để rẻ đồn điền cho nhà Chung, hay nó còn mục đích nữa, là muốn cầu cạnh cha chạy công danh cho nó?
Ma-ri nghĩ rồi phát vào đùi đánh đét:
- Ừ nhỉ, dễ thường cả hai đấy, ông ạ. Thằng cha ấy láu lắm.
Người cha đạo cau mặt:
- Thế nào? Con nhắc lại câu nói?
Ma-ri sực nghĩ ra, lễ phép thưa:
- Trình lạy cha, dễ thường nó nhằm cả hai mục đích đấy ạ. Chồng con tinh khôn lắm.
Nhà tu hành gật đầu:
- Để ruộng cho nhà Chung. Ý ấy rất hay. Đáng thưởng. Để rẻ ruộng cho nhà Chung. Việc làm này rất tốt. Nó xứng đáng được cha giúp về công danh.
Ma-ri nhìn người cha đạo:
- Nhưng đồn điền của con. Chính nhà Chung cướp cho con. Sao cha lại giúp nó?
Cha Hảo cau mặt:
- Con không được dùng tiếng cướp. Cha đã nhờ pháp luật lấy lại cho con, chứ cha đi ăn cướp của ai bao giờ? Còn như bây giờ cha mua lại của con, đã là giúp con rồi. Chồng con đáng thưởng, vì sáng kiến bán cho nhà Chung, lại bán rẻ, là sáng kiến hay, đáng thưởng. Vậy con về, gọi nó đến đây hầu cha. Con ủy quyền cho nó thương lượng giá cả với cha. Bởi vì nó hiểu việc, mà con thì chỉ tham tiền.
Ma-ri im lặng. Người cha đạo hỏi:
- Con không bằng lòng về lời cha vừa nói hẻ?
Ma-ri vẫn im lặng.
- Thế nào? Con nghĩ gì?
- Trình lạy cha, con đương nghĩ xem nên xin cha giúp chồng con cái gì?
Người cha đạo cũng ngẩn mặt ra nghĩ. Một lát hắn nói:
- Cha tìm ra cái thứ để thưởng nó rồi. Rất xứng đáng.
- Thưa cha, cái gì ạ?
- Cha không muốn giúp nó ra làm quan, dù biết nó sẽ là một tên khuyển mã tốt. Nhưng cha sợ khi được làm quan rồi, thì nó mãn nguyện, cha sai bảo không nổi nữa. Cha có thể xin cho nó cái hàn lâm. Nhưng nó đã trót được gọi là ông hàn rồi, chắc nó không thích nữa. Cha có thể xin cho nó Bội tinh của chính phủ Bảo hộ, nhưng cha xét nó chưa xứng đáng. Bởi vì đồn điền này là công của cha lấy cho con, thì nó chỉ xứng đáng được cái kim khánh, hoặc cái Long Bội tinh của chính phủ Nam triều thôi.
Ma-ri hỏi:
- Thưa cha sao lại thế ạ?
- Giá phải là đồn điền của nó bán rẻ cho nhà thờ, thì công thật là của nó. Nhưng thế này là nó ghé vào của con, thì nó chỉ xứng đáng được chính phủ Bảo hộ ghé vào chính phủ Nam triều mà thưởng nó thôi.
Ma-ri thở dài:
- Hoài của, giá chính phủ vẫn còn lệ ban mề-đay cho đàn bà, thì lần này, con quyết xin cha một chiếc.
Người cha đạo nhếch mép cười:
- Nhưng chẳng lẽ tự nhiên cha lại nói cho nó được thưởng. Phải chờ một ân điển của nhà vua, ví dụ thưởng cho những người có công chấn hưng thương nghiệp chẳng hạn.
Bỗng người cha đạo nghĩ ra:
- À, thế này. Con có biết tin quan công sứ Vĩnh Yên Mát-xi-li sắp về Pháp nghỉ giả hạn không?
- Thưa có.
- Rồi ngài lại sang, sẽ làm Đổng lý văn phòng phủ Thống sứ.
Ma-ri ngơ ngác nhắc lại:
- Đổng lý văn phòng?
- Tức là phó thống sứ đấy.
- À, à, to nhỉ.
- Vậy con bảo chồng con tậu ngay độ dăm mẫu ruộng ở phố huyện, để lập sân vận động. Bây giờ phong trào thể dục thể thao được khuyến khích, nghe chưa?
- Vô ích, cha ạ. Người quê, làm ựa cơm ra, việc gì còn phải vận động.
- Nhưng quan thống sứ thích thế.
- Thế ạ? Con thấy một vài nơi có sân vận động, chỉ tổ làm cho người ta lười biếng, tụ bạ nhau để đánh chửi nhau, chả thiết làm ăn gì. Sân vận động Kinh Môn ấy, cha ạ, khánh thành xong, thì để mặc cho cỏ mọc, chó ỉa. Thỉnh thoảng quan phủ bày trò ra thì phải sức cho cả hạt phải cờ quạt, và bắt bớ người đi xem, làm người ta mất công mất việc, đến nỗi người ta trốn như trốn giặc.
- Con không được nói thế. Cha bảo thì con cứ phải nghe và làm theo. Chồng con sẽ lập sân vận động, sẽ xin tên quan công sứ Mát-xi-li đặt cho sân vận động ấy. Nó có làm được thế không?
- Thưa cha, có gì mà chả được?
- Còn một việc nữa.
- Gì ạ?
- Muốn giữ tình thày trò với quan Mát-xi-li, nó sẽ đứng lên tổ chức tiệc trà tiễn ngài, khi ngài sắp lên đường về Pháp. Nó có làm được thế không?
- Thưa làm ở Cẩu Rồng ấy ạ?
- Sao lại Cẩu Rồng? Làm ở Cẩu Rồng thì ai đến được. Phải làm ở Vĩnh Yên. Phải mời nhiều quan chức ở Hà Nôi về dự. Tiệc trà phải được chụp nhiều ảnh, tường thuật lên các báo. Để quan công sứ giữ làm tài liệu. Như vậy, không ai tranh nổi ngài chức Đổng lý văn phòng nữa. Nghe chưa? Nó có làm được thế không?
- Trình lạy cha, con không dám trả lời hộ nó. Vì việc này tốn kém, không biết nó có chịu bỏ tiền ra không?
- Tốn kém mà nó phải chịu một mình à? Nó chỉ đứng lên cổ đông. Tiền đã có các quan đóng góp và bắt dân đóng góp. Quan nào dám từ chối đóng góp? Quan nào dám phản đối tiệc trà tiễn quan công sứ về Tây?
Ma-ri mừng rỡ:
- Thế thì nó làm được, cha.
- Ừ. Nó lập sân vận động, thì mới có cớ để xin thưởng cho nó. Giấy xin thưởng sẽ kể các công lao của nó từ trước tới giờ, như giấy của sở Mật thám Bác Kỳ tư xin cho nó đi tri châu mà con nói ban nãy ấy. Việc lập sân vận động sẽ làm vui lòng quan thống sứ, chắc ngài sẽ không hẹp hòi. Việc lấy tên quan Đổng lý văn phòng đặt cho sân vận đông, sẽ làm quan Đổng lý nhớ mãi chồng con, dù chúng con không ở Vĩnh Yên nữa.
- Nhưng, thưa cha, nếu cha không gọi cho các ngài, thì hỏng toét! Lại thêm một đạo tưởng lục phải gió nữa thôi.
Người cha đạo cau mặt, lắc đầu:
- Không. Việc làm sân vân động chỉ là cớ phụ. Việc để đồn điền cho nhà Chung mới là cớ chính. Các quan trên sẽ vào nhà Chung mà tu kim khánh hoặc bội tinh của Nam triều cho nó.
Ma-ri ngẩn mặt ra nghĩ, rồi hỏi:
- Nhưng thưa cha, ngộ chính phủ Nam triều không cho thì sao ạ?
Người cha đạo cau mặt:
- Con đừng làm bộ ngây thơ mà hỏi cha điều ấy. Há con không biết là chính phủ Bảo hộ bảo gì thì chính phủ Nam triều phải tuân theo hay sao? Con không biết là ai cho Bảo Đại làm vua à? Vậy nó có thể không tuân lệnh không? Vả chăng thằng bé con mới lớn lên này đã biết gì? Nó là thằng si ngốc, ít tuổi, nhưng đã mê gái, mê cờ bạc. Cho nên nó sợ mất địa vị, thì mất lương tháng để chơi bời. Vả lại, vua An Nam chỉ còn quyền cho phẩm hàm, kim thánh, kim bội, kim tiền và bội tinh cho người sống, cùng phong sắc cho các thần. Nếu Bảo Đại không làm những việc ấy, thì nó còn việc gì mà làm? Quyền nhà vua là quyền của quan khâm sứ Trung Kỳ. Người tay trong của chính phủ Bảo Hộ là Phạm Quỳnh, con nghe chưa?
- Thưa cha, con cũng nghe đồn thế.
- Thật thế, chứ đồn đại gì. Việc xin thưởng cho chồng con, Phạm Quỳnh làm cũng nổi. Nhưng cha ngại Phạm Quỳnh là người Bắc, trước lại là thư ký hội Khai Trí Tiến Đức, thì nó biết rõ chồng con, nó có thể nói với quan Khâm sứ là chồng con không xứng đáng. Vậy về việc này, con phải vào Huế, đưa thư của cha đến tận tay thằng Ngô Đình Diệm cho cha.
- Thưa cha, thằng Ngô Đình Diệm là đứa nào ạ?
- Là thượng thư bộ Lại, con không biết à?
Ma-ri cười:
- Thượng thư mà cha gọi là thằng!
- Nó là thượng thư với người An Nam, chứ không phải với người Pháp. Vả nó được các cha cất nhắc cho lên chức ấy.
Ma-ri nhìn người cha đạo, tỏ ý ngờ vực:
- Con không tin hả? Thế con không biết rằng từ ngày lập bảo hộ, thì trong nội các của nhà vua An Nam bao giờ nhà thờ cũng cho một tay chân vào để lúc cần thì sai khiến, nghe chưa. Thế con đã vào Huế lần nào chưa?
- Thưa chưa ạ.
- Con phải đi.
- Vâng ạ.
- Để đưa thư của cha tới tay thượng thư bộ Lại. Bao giờ con đi, con sẽ gặp cha để lĩnh thư, nghe không?
- Vâng ạ. Chắc chồng con thích lắm. Thế nào cũng cho con đi. Con đi một mình thôi cha ạ. Nó theo đi, thì mất tự do!
- Việc này vợ chồng thu xếp với nhau. Nói tóm lại, con phải bảo chồng con vào hầu cha.
- Nhưng cha đừng bảo nó theo đạo, cha ạ. Nó đểu lắm. Chả lẽ lại dụ người đểu theo đạo!
Người cha đạo không đáp:
- Thôi, con về đi.
Ma-ri đi độ dăm bước, hắn quay lại:
- À thưa cha, nếu nó có xin cha dùng thằng quản lý cũ của nó là đội Tuynh, thì cha đừng dùng.
- Tại sao? Đội Tuynh làm quản lý có tốt không?
- Tốt. Nhưng mà… không tốt.
Cha Hảo mỉm cười:
- Lại sắp ỡm ờ. Thôi, đi về.
* * *
Ma-ri đến Huế.
Hắn chuẩn bị tư tưởng và thái độ, khi được quan thượng thư bộ Lại tiếp kiến.
Hắn nhuộm thuốc mới cho mười móng tay, và mười móng chân thêm đỏ. Hắn đánh phấn cho đôi má thật hồng. Hắn vẽ son vào môi trên, môi dưới, vẽ trên nửa bề dày, cho môi trông như mỏng lại, và có hình trái tim. Sửa xong bộ mặt mất hai mươi phút, hắn mới bắt đầu chải tóc. Hắn bôi dầu cho bóng nhẫy mớ tóc nhỏ như tơ và màu hung hung của hắn, rồi uốn từng nạm, từng món cho tròn. Lúc ấy hắn mới dùng cái độn tóc ngoài, để bới với tóc hắn cho lẳn. Hắn vẫn tự hào về cái bới tóc của phụ nữ Bắc. Phụ nữ Bắc bắt chước phụ nữ Nam và phụ nữ Trung bới tóc, nhưng bới khéo hơn phụ nữ Trung và phụ nữ Nam. Bới tóc phụ nữ Trung cao quá, hở cả gáy, làm cho cái cổ trơ. Bới tóc phụ nữ Nam xệ xuống quá, nhiều cái, khi người đi, nó lúc lắc như quả lắc đồng hồ. Bới tóc phụ nữ Bắc chỉ thấp hơn của phụ nữ Trung một tí, và chỉ cao hơn phụ nữ Nam một tí, mà sao nó nền, nó nhã, nó mềm mại như thế!
Bới xong tóc, Ma-ri chọn quần, và chọn áo. Hôm nay, hắn hãy mặc chiếc áo màu vằn da rắn. Và như vậy, hắn cũng lận đôi săng-đan cao gót và cắp cái ví đồng màu với áo. Hắn đeo chiếc kiềng vàng chạm vào cổ, và đôi vòng nạm kim cương vào tay. Ngón giữa tay trái, hắn đeo chiếc nhẫn có mặt ngọc đỏ.
Trang điểm xong, Ma-ri đứng trước chiếc gương, để kiểm lại một lượt, hắn rất tự hào.
Hắn thuê xe vào bộ Lại.
Nhưng không may cho hắn. Người lính nói:
- Thưa, cụ đi vắng, hình như vào chầu mạt chược đức Thái Hậu.
Ma-ri cho là người lính nói dối để khách thấy lâu mà đừng đợi. Chứ hôm nay là ngày làm việc, lẽ nào quan thượng thư lại đi chơi.
Hắn chờ.
Cho đến hơn mười một giờ, bỗng có tiếng còi ô-tô. Người lính canh vội vàng mở toang hai cánh cổng ra. Một chiếc xe Rơ-nôn kiểu cũ, dễ thường sơn lại bằng màu đen mộc, nên không bóng nhoáng như những xe ở Hà Nội, rầm rộ tiến vào sân. Rầm rộ, bởi vì nó vừa chạy vừa kêu phành phạch, kêu to hơn chiếc Béc-li-ê cổ của Thừa. Ma-ri không nổi trống ngực nữa. Bởi vì, thoạt tiên hắn tưởng cụ thượng về. Nhưng đến khi thấy xe và người ngồi ở trong, hắn cho không phải là quan cụ. Bởi vì hắn đã tưởng tượng quan cụ là một người già, có râu bạc phơ phơ. Người ngồi trong xe này không có râu, mặt lại càu cạu như thằng sắp văng tục. Đến khi người ấy bước xuống đất, Ma-ri yên trí là không phải quan thượng thư bộ Lại, to nhất triều đình. Vì hắn ta mặc cái áo thâm ngắn cũn cỡn trên đầu gối, đội cái khăn ít nếp. Ma-ri yên trí là chú lính lệ.
Nhưng Ma-ri đã lầm. Chính là Ngô Đình Diệm đó.
Ngô Đình Diệm thoáng nhìn thấy Ma-ri, thì nó trỏ và hỏi người hầu:
- Cái tê vô mần chi?
Ma-ri nghe rõ. Hắn quay ngoắt đi. Hắn không thèm nhìn cái thằng lính lệ mà hách dịch, xấc láo, nói giọng khinh bạc, coi người như một đồ vật mà gọi là cái.
Người hầu đáp:
- Lạy cụ lớn, bà nớ ở Bắc vô hầu cụ lớn.
Ma-ri thấy tiếng cụ lớn, mới nín thở để nghe thêm cho rõ. Hay là quan cụ đây? Nhưng không thấy ai nói nữa, hắn mới quay lại. Quan cụ đã vào nhà trong. Chỉ còn người hầu đứng đó.
Ma-ri đến gần người ấy:
- Ai vừa vào thế?
- Cụ đấy.
Nhưng nghe tiếng cụ, Ma-ri lại hiểu theo nghĩa Huế, là phu xe hoặc ăn mày.
Hắn cố làm ra vẻ thản nhiên. Người hầu nhắc:
- Cụ lớn thượng Lại đấy.
Ma-ri mỉm cười:
- Anh vào trình cụ là có bà hàn An-be ở ngoài Hà Nội vào đưa cụ cái thư cần, nhé.
Người hầu lễ phép, đáp:
- Thưa bà, cần gì thì cũng mời bà chờ đến buổi hầu chiều. Bây giờ cụ xơi cơm. Xơi cơm xong, cụ giấc. Con không dám trình, sợ cụ quở con.
Vốn ỷ vào nhan sắc, quen được chiều chuộng, Ma-ri không chịu được lối cửa quyền. Hắn cau mặt:
- Giờ làm việc thì quan cụ đi đánh mạt chược. Giờ nghỉ thì quan cụ không tiếp khách. Tôi có thư cần đưa đến cụ, nếu anh không vào trình, lỡ hỏng việc của cụ, anh chịu lấy trách nhiệm.
Người hầu sợ quá:
- Thưa bà…
Anh ta đương định nói, bỗng có tiếng gọi, vội bỏ Ma-ri ở sân để chạy vào.
Một phút sau, anh ta ra:
- Thưa bà, mời bà vô.
Ma-ri theo người hầu, ngồi trong buồng khách.
Hẳn là Ngô Đình Diệm đương ăn cơm, Ma-ri nghe rõ thấy cả tiếng nó nhai tóp tép, và tiếng nó húp canh xụp xoạp. Ma-ri nghĩ:
“Quái, tưởng quan đại thần thì thanh nhã, ai ngờ ăn uống thô tục thế!”
Độ hai mươi phút sau, Ma-ri nghe có tiếng giày ra buồng khách. Hắn biết là Ngô Đình Diệm, nên hắn càng dùng cái quyền của nữ lưu phương Tây để đối đãi.
Khi Ngô Đình Diệm ra, Ma-ri thấy nó chỉ mặc cái áo dài trắng, mà không đội khăn, thì hắn nghĩ ngay cách đối phó với thằng vô lễ này. Ma-ri không đứng đậy. Hắn chỉ khẽ nghiêng đầu, và hai nhếch mép để chào bằng cái chào ngang. Ngô Đình Diệm không gật đầu chào lại.
Ma-ri lại trêu thêm. Hắn giơ tay ra bắt. Ngô Đình Diệm không dám từ chối. Ma-ri chỉ đưa bàn tay nắm lỏng lẻo lấy tay Ngô Đình Diệm thôi. Hắn cho như thế là đắc thắng.
Ngô Đình Diệm hỏi:
- Có việc chi?
Thấy câu hỏi trống không, Ma-ri không đáp, cúi xuống mở ví, lấy cái thư của cha Hảo, đưa cho Ngô Đình Diệm. Thằng này đọc, bỗng nhìn Ma-ri bằng con mắt hốt hoảng:
- Tôi xin lỗi bà lớn.
Nó vào nhà trong. Lúc nó ra, đầu nó đã chụp khăn, mình nó đã mặc thêm chiếc áo thâm. Thấy vậy, Ma-ri rất hởi dạ. Ngô Đình Diệm lễ phép hỏi:
- Thưa bà lớn, bà lớn mới vô?
Ma-ri lễ phép lại:
- Thưa, chúng tôi mới vào tối hôm qua. Cha bảo phải vào tận nơi để đưa cụ lớn bức thư.
- Dààà.
- Và để biết ý kiến của cụ lớn thế nào để tôi về trình cha.
- Dààà.
* * *
Ma-ri ở Huế, nửa tháng.
Hắn bảo Thừa là vì hắn mến cảnh, mến người.
Cảnh sông Hương núi Ngự có tiếng là đẹp, ai cũng phải mến đã đành. Nhưng còn mến người, thì Ma-ri không nói là hắn mến ai.
Bởi vì việc hắn đưa thư lão cha Hảo đến quan thượng thư bộ Lại, đã kết thúc ở tiếng dạạạ dài thứ hai của vị đại thần, Ma-ri có thể đứng dậy để rồi khởi bộ, rồi đợi tàu về Hà Nội.
Thế thì cái gì nó hấp dẫn Ma-ri ở lại đất đế đô những nửa tháng ròng?
Ma-ri không nói rõ, nên tác giả không biết để viết tỉ mỉ lại.
Ma-ri chỉ khoe là cụ thượng Lại tử tế lắm. Vì trọng cha, nên cụ quý cả người của cha. Cụ mời Ma-ri ở luôn trong bộ Lại, dành cho Ma-ri một buồng riêng, cho Ma-ri được thoải mái như ở gia đình. Cụ đưa Ma-ri đi xem lăng tẩm các vị đế vương, xin cho Ma-ri vào Nội, và hân hạnh nhất, là Ma-ri được vào chầu đức Từ Cung, và trông thấy cả ngài Ngự đánh quần. Ngô Đình Diệm có đưa cả Ma-ri đi chơi thuyền ở sông Hương, và dắt Ma-ri đến thăm mấy ông hoàng bà chúa. Hắn cũng có dịp gặp một vài cụ thượng khác.
Hắn khoe cụ thượng Phạm, thượng thư Bộ quốc dân giáo dục, mà hắn quen miệng gọi là cụ Học. Hắn bảo cụ Học bây giờ béo, trắng hơn ngày cụ còn làm báo Nam Phong. Buồng khách của cụ bày toàn đồ trang trí bằng vàng và ngọc. Cụ hỏi thăm Hà Nội, hỏi thăm Thừa, hỏi thăm các bạn của cụ mà Ma-ri cũng quen biết.
Cụ Lại cắt riêng một người hầu Ma-ri. Người ấy gọi là cậu giáo. Trước hết, Ma-ri cứ tưởng như ở Hà Nội vẫn gọi, cậu giáo là một người dạy học riêng các con cụ thượng. Nhưng khi hỏi thì biết cậu giáo là con một quan võ, cậu được chức giáo dưỡng, hàm lục phẩm, nên gọi tắt là cậu giáo. Các cậu giáo đến hầu các quan văn, để sau này nối nghiệp cha, ra làm quan võ.
Cậu giáo trẻ, và đẹp. Nhưng Ma-ri chê cậu yếu đuối và nhút nhát. Nói đến cậu giáo này, không rõ vì sao Ma-ri lại liên tưởng đến cụ thượng Ngô.
Hắn bảo:
- Còn cụ thượng thì thật xứng đáng là vị quan to nhất nội các. Vì ngài nhã nhặn, tử tế, khỏe mạnh, và thành thạo.
Về Hà Nội, những lúc ngồi một mình, mơ màng cảnh và người của sông Hương núi Ngự, thỉnh thoảng Ma-ri ti tỉ ngâm:
Ngày trông quan lớn như vua
Đêm sao quan lớn nô đùa như dân?
Ngày trông quan lớn như thần,
Đêm sao quan lớn tần mần như ma?
Ngày trông quan lớn như cha,
Đêm sao quan lớn la đà như con?
Và câu:
Yếm trắng anh ngỡ rằng cò,
Anh quỳ xuống gối anh thò hỏa mai.
Ngày sau, em đẻ con trai,
Nó lớn, nó giống anh cai bắn cò.
Ma-ri đến chơi các nhà bạn hữu để khoe chuyện Huế, khoe nhân vật Huế, trong hơn một tháng. Hắn còn chắc chắn là chỉ trong ít ngày nữa, thế nào Thừa cũng được vua ban Nam long bội tinh, về việc này, Ma-ri nói riêng với Thừa:
- Lão thượng nó bảo rằng nếu nó tâu cho ông mà đức Kim thượng không chuẩn y, thì nó đã có cách.
- Cách thế nào?
- Là nó cứ làm giấy tờ sẵn đấy. Hôm nào đức Kim Thượng gọi tê-lê-phôn vời nó vào đánh mạt chược, thì nó rình lúc ông ấy được bạc, đương vui, thì nó xui ông ấy xơi non. Đám mạt chược tan, nó mới thò một tập giấy cho ông ấy ký. Trong tập này, nó gài tờ giấy thưởng bội tinh cho ông vào giữa. Lúc này thì anh vua nhắm mắt lại mà ký. Một là anh ta tin nó, hai là anh ta cũng muốn được nhanh chóng chuồn đi, để nuốt trôi món tiền được bạc.
Ma-ri thêm:
- Lão ta chắc chắn mưu mô này trôi chảy, vì lão đã làm như vậy nhiều lần rồi.
Cả Thừa lẫn Ma-ri đều hy vọng. Mối hy vọng cứ mỗi ngày một to dần.
Nhưng chờ đến hai tháng, chưa thấy tin tức gì, Ma-ri bảo Thừa:
- Hay là lão ta dìm việc này để bắt tôi vào lần nữa với lão ta?
Hắn đòi vào Huế. Thừa đồng ý. Nhưng hôm Ma-ri sửa soạn hành lý để lên đường, thì Thừa xem báo, thấy một tin như sét đánh. Hắn lật đật cầm tờ báo vào cho Ma-ri.
Tin ấy là tin Ngô Đình Diệm bị cách tuột chức thượng thư.
Không rõ lý do vì sao tên thượng thư bộ Lại bị xuống làm thường dân, Ma-ri tím mặt lại, nghiến răng:
- Cha tiên nhân thằng sở khanh Ngô Đình Diệm, nó làm bà mòn mất ít da thịt.
* * *
Thôi, ta để mặc Ma-ri chửi cho hả cái thằng suốt đời làm kiếp chó này. Mà ta biết, khi đã nổi lôi đình, thì Ma-ri phải đặt thêm nhiều danh từ cho ngôn ngữ Việt Nam thêm phong phú. Hẳn chẳng phải Ma-ri chỉ réo tên con dê già xỏ lá, mà còn đào bới cả mả bố thằng Ngô Đình Khả, để cho ăn những của chẳng ngon, cho bõ cái tội thằng cha, thằng ông không biết dạy con cháu.
Việc của thằng mấy đời bán nước và mấy lần liếm gót bọn đế quốc, phát-xít này, đến đây xin chấm dứt. Bởi vì nó hết dính dáng đến chuyện của Thừa và Ma-ri.
* * *
Trong những ngày Ma-ri vào Huế thì Thừa được rảnh thời giờ và tâm trí. Ngoài việc kinh doanh hai chiếc tàu thủy, việc hắn quan tâm thứ hai, là Xuy-dan.
Lắm lúc Thừa tự hỏi tại sao hắn lại đối đãi đặc biệt với Xuy-dan như hắn đã xử mấy lần trước? Xuy-dan cũng chỉ là một người bán trôn nuôi miệng, như những người đã thỏa mãn tình dục cho hắn một lần, cùng lắm là vài lần thôi. Thế là hắn quên. Mà không quên, hắn cũng không muốn nhớ, để thay bằng người mới. Nhưng Xuy-dan thì hắn không muốn quên. Hắn thương hại, xót xa, và càng biết sâu đời của người con gái bị ruồng bỏ, hắn càng thương hại, càng xót xa. Chưa bao giờ hắn nỡ nghĩ đến việc bỏ Xuy-dan.
Thừa xuống Hải Phòng thăm Xuy-dan.
Nhưng đến nhà cũ, hắn không thấy Xuy-dan. Hắn hỏi thăm, biết là Xuy-dan khỏe mạnh, nhan sắc được như cũ, đã bị An-na Phán bắt về, tiếp tục làm nghề nhà thổ.
Thừa vội vàng đến nhà An-na Phán.
Hắn điều đình với người mẹ dầu cho Xuy-dan được sống tự do. An-na Phán bằng lòng:
- Thế thì anh phải bồi thường cho tôi hai trăm bạc. Tôi nể anh là chỗ thân. Nếu không, tôi giữ nó lại. Nó là mình vàng mình bạc, kiếm lợi cho tôi đến hàng nghìn.
Thừa không đủ món tiền ấy ở trong túi, nhưng vì An-na Phán nể và tin hắn, nên hắn được chuộc chịu Xuy-dan. Hắn đưa Xuy-dan về Hải Dương.
Hắn tìm thuê cho Xuy-dan một căn nhà ở phố Đông Quan, thật hẻo lánh. Hắn kiếm một gia đình cho Xuy-dan dạy học tư, bảo năm đứa trẻ, hai đứa học quốc ngữ, ba đứa học thêm những bài ở nhà trường. Xuy-dan được lương mười lăm đồng một tháng. Thừa nói:
- Thế là đáng mừng. Ở đây người ta gọi em là cô giáo. Người ta không biết nghề cũ của em. Vậy em cũng đừng lấy tên là Xuy-dan nữa.
Xuy-dan sung sướng, nũng nịu:
- Thế anh đặt tên mới cho em đi? Hay cứ lấy tên ông bà đặt cho, là Thúy, là Thúy gian?
Thừa lắc đầu:
- Cũng không nên. Anh không muốn ai biết tung tích của em.
Bỗng Thừa nghĩ ra:
- A, có một tên hay lắm. Em vẫn lấy tên cứ trong khai sinh, là Thúy, nhưng gọi chệch tiếng gian là lan, Thúy Lan.
Xuy-dan ôm lấy cổ Thừa, ngả đầu vào ngực Thừa:
- Anh!
Thừa vỗ về Xuy-dan. Hắn đưa cho Xuy-dan một trăm bạc:
- Em cầm lấy mà sắm đồ đạc cho đủ dùng. Thiếu bao nhiêu, anh lại cho. Anh không tiếc.
Xuy-dan hỏi:
- Anh có ở với em không?
- Anh không hứa điều ấy. Song, em nên yên tâm rằng anh ở gần, thì được về với em luôn.
Xuy-dan thở hồi hộp, nhắm dần đôi mắt lại, tay quờ quạng vào mặt Thừa:
- Anh dùng tiếng về. Em cảm động.
Rồi mở đôi mắt đỏ hoe ra:
- Anh là vị thiên thần vớt em ra khỏi đống bùn nhơ. Công anh như núi Thái Sơn.
Thừa hiểu ý câu nói, mỉm cười, lắc khẽ đầu. Hôm sau, Thừa xuống thăm Xuy-dan:
- Thế nào, một trăm bạc có đủ sắm các thứ không.
Xuy-dan đáp:
- Em không cần đủ cho em. Vì anh không ở hẳn đây. Em chỉ mua những thứ cần cả cho anh và cho em thôi. Còn nếu cần riêng cho em, thì em sắm dần.
Thừa âu yếm, vuốt ve mái tóc Xuy-dan:
- Em thật ngoan.
Hắn nhấn mạnh:
- Ngoan.
Rồi tiếp:
- Em phải khổ là do tội anh, nhưng cũng là tự em đày đọa thân em, hoặc do trời không có mắt. Thế bây giờ em còn thù đời nữa hay không?
Xuy-dan lắc đầu:
- Hiện giờ thì không. Còn mai sau thế nào, em chửa dám nói trước.
- Mai sau cũng như hiện giờ thôi.
Xuy-dan cười:
- Khi em không là vợ anh, thì em sống với anh ngày nào, biết ngày ấy. Ngộ chiều nay, hoặc tuần sau, hay một tháng nữa, tiếng anh bao gái đến tai hoạn thư, thì em bị mổ mề ăn gan!
Thừa buồn bã:
- Anh tiếc rằng, cha mẹ anh đẻ anh sớm mười năm, và cha mẹ em đẻ em muộn mười năm. Nếu chúng ta cùng một lứa tuổi thì…
Xuy-dan rưng rưng nước mắt:
- Thôi, em van anh, anh đừng nói đến việc ấy.
Một lát cô hỏi:
- Anh ạ, gần một năm rồi, hôm nay em mới tò mò hỏi anh. Có phải tên thật anh là Trần Đức Thừa phải không?
Thừa gật đầu:
- Phải. Sao em biết?
- Ở Hải Dương này, ai còn lạ anh?
Thừa giật mình:
- Tại sao? Lạ thế nào?
- Lạ tên ông chủ tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ.
Thừa mỉm cười. Xuy-dan thở dài hát:
 
Thân em là hạt mưa sa,
Nay vào đài các, mai ra ruộng lầy.


Thừa làm bộ điệu như trẻ con.
- Ứ, không hát thế. Hát lại cơ.
Xuy-dan tủm tỉm:
Em không là hạt mưa sa,
Chỉ vào đài các không ra ruộng lầy.
Hai người cùng cười, nhìn nhau âu yếm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
X
MẠI BẢN CẬU  
 
Thừa thay cả hai người mại bản. Hắn nhận thấy là họ đã ăn cắp một cách rất tinh vi. Tức là họ không để cho Thừa phải lỗ vốn, nhưng có bao nhiêu lãi, họ ăn bớt hết.
Hồi tàu mới bắt đầu chạy đường mới, Thừa thấy lỗ, thì cho là thường thôi. Nhưng sau dần, tàu quen khách, khách quen tàu, mà Thừa vẫn hôm thì lỗ chút ít, hôm thì lãi chút ít, trung bình, trong một tháng, hơn bù kém, chỉ hòa vốn, hoặc nếu có lãi, thì lãi tí đỉnh thôi. Thế mà Thừa thấy mỗi ngày một đông khách, một nhiều hàng. Hắn đâm nghi.
Lại từ hôm Ma-ri vào Huế, chỉ một mình Thừa đi kiểm soát, và từ hôm hắn để thì giờ thu xếp chỗ ở cho Xuy-dan, hắn chắc là thấy chủ chểnh mảng, bọn mại bản tha hồ ăn bớt tiền.
Vì vậy, Thừa cho là không nên dùng người không ngay thật để mình cứ phải ngờ vực và nhọc lòng dò xét. Không dùng họ nữa là hơn. Vả lại, cũng nên cho thằng Pôn, thằng Giăng việc làm. Một là để chúng nó đỡ lêu lổng. Hai là để có kiếm tiền khó nhọc, chúng nó mới biết quý đồng tiền. Ba là thà đem tiền dùng người ngoài để dùng con mình, thì chẳng thiệt đi đâu. Bốn là cho chúng nó học nghề, để sau này chúng nó nối nghiệp.
Thừa nói từng ấy lý do với thằng Pôn và thằng Giăng rồi bảo:
- Của pa-pa, của ma-măng là của anh em chúng con, chúng con nên giữ. Hai con làm mại bản, thì pa-pa với ma-măng không còn nghi ngờ gì, có thể có thì giờ để khuếch trương việc kinh doanh.
Thằng Pôn và thằng Giăng sung sướng. Thằng Giăng nói:
- Thế là pa-pa giải quyết hộ cho nhà nước một vấn đề khó khăn, là nạn trí thức thất nghiệp!
Thừa cười:
- Pa-pa tính phát lương cho các con như thế này. Vì của pa-pa và của ma-măng, dù thế nào cũng về tay các con cả, cho nên giữ được, thì các con hưởng, không giữ được, thì các con phải chịu. Bây giờ, pa-pa chỉ phát cho mỗi con hai chục một tháng, để đủ ăn. Còn đứa nào khéo làm, chở được nhiều khách, nhiều hàng, thì ăn thêm hỏa hồng năm phần trăm, để mà tiêu pha, may mặc. Chúng con có bằng lòng như thế không?
Thằng Pôn nói:
- Cách trả lương như vậy mới bắt mại bản phải chiều khách. Chứ cứ sẵn lương tháng đấy, thì đối với chủ lỗ hay lãi cũng kệ. Đối với khách thì bạc đãi, hách dịch, có khi chửi bới, đánh đập cả người ta, như lối cửa quyền.
Thằng Giăng nói:
- Con thấy rằng bất cứ một người làm công bán hàng nào, cũng chỉ nên được ăn hỏa hồng thôi. Như vậy, họ mới coi quyền lợi của chủ là quyền lợi của họ được. Anh Pôn bảo bán hàng lối cửa quyền là rất đúng. Con cũng nhận thấy như thế.
Thằng Pôn nhận làm ở tàu Đại Pháp. Thằng Giăng nhận làm ở tàu Bắc Kỳ.
Chúng nó rất hăm hở với nhiệm vụ.
Vì thật thà và chăm chỉ, chúng nó thu trội hơn trước đổ đồng mỗi ngày được mười đồng.
Cả Thừa lẫn Ma-ri mừng thầm, và khen ngợi chúng nó. Muốn khuyến khích hai con, Thừa thưởng ngay cho chúng nó mỗi đứa năm đồng.
Nhưng ngày nào cũng sống trên mặt nước suốt từ sáng bạch đến chiều sẩm, chỉ loanh quanh trên khoảng rộng chừng trăm thước vuông, giao thiệp với những người bo bíu, so kè từng xu, được ba tuần lễ, cả thằng Pôn, thằng Giăng đã bắt đầu chán. Chúng nó bị tù cẳng, không tha thiết đến món tiền thưởng bằng tự do. Thằng Pôn bảo thằng Giăng:
- Chúng ta phải xin pa-pa cho nghỉ ngày chủ nhật mới được. Chứ ngày nào cũng thế này, thì chán đời lắm. Chúng ta đương nhàn rỗi, mà phải làm việc, đã là một cái khổ. Lại ngày nào cũng phải làm việc, thì khổ quá. Pa-pa có thưởng cho nhiều tiền mấy cũng vô bổ, vì ở dưới tàu, có quái gì mà phải tiêu tiền?
Thằng Giăng biểu đồng tình:
- Mấy lị pa-pa với ma-măng bỏ thế nào được chúng mình. Trước kia, cứ rong chơi, pa-pa cũng phải nuôi chúng mình sống đàng hoàng, chẳng thiếu thứ gì. Bây giờ pa-pa bắt làm việc, chúng mình đã phải khó nhọc, còn không được ăn chơi, nghỉ ngơi. Vậy chúng mình nên xin cho được nghỉ ngày chủ nhật, để có dịp mà tiêu tiền, nhất là được đi lại khỏi tù cẳng.
Hai đứa tỏ nguyện vọng với Thừa. Thừa bảo:
- Chúng con xin nghỉ ngày chủ nhật là chính đáng, pa-pa sẽ làm cho chúng con vừa lòng. Pa-pa muốn chúng con hiểu rằng pa-pa định đào tạo hai con thành hai ông chủ tàu, nên phải cho học việc. Rồi chiếc Đại Pháp sẽ về tay Pôn. Bắc Kỳ sẽ về tay Giăng. Gia tài mà pa-pa và ma-măng định chia cho hai con sau này đấy. Mỗi chiếc tàu trị giá ngang với hai biệt thự. Chúng con biết rồi. Bốn chiếc nhà còn lại, pa-pa cũng định để dành cho hai anh em một chiếc. Còn ba chị em chúng nó chia nhau hai chiếc. Pa-pa với ma-măng chỉ giữ lại một chiếc để dưỡng lão thôi.
Ngừng một lát cho hai con suy nghĩ. Thừa lại tiếp:
- Từ ngày hai anh em tận tâm với công việc, pa-pa rất mừng. Tuy pa-pa bảo của pa-pa là của các con, nhưng chính là hai chiếc tàu ấy đã là của hai con mỗi người một chiếc rồi. Vậy nếu chúng con làm việc, thì không phải là cho pa-pa, mà là đứa nào làm cho đứa ấy. Cho nên lãi thì mình hưởng, lỗ thì mình chịu. Pa-pa có sổ riêng biên thu nhập của từng chiếc.
Rồi sau này, nhờ trời lãi nhiều, chiếc nào có đủ tiền tậu thêm nữa, là của ông chủ chiếc ấy. Pa-pa chỉ làm cố vấn, tự các con phải xoay xở lấy. Bây giờ các con còn ít tuổi, mà pa-pa thì quen nhiều, việc thạo. Ví dụ con nào muốn khuếch trương, hỏi ý kiến pa-pa thì pa-pa bàn với, hoặc có cần vay mượn, hay xoay xở thế nào cho có tiền để khuếch trương, thì pa-pa giúp. Nhưng pa-pa không chịu trách nhiệm đâu. Mặc.
Thằng Giăng nói:
- Nhưng ở mãi dưới tàu, ngày nào cũng làm việc, mệt và chán lắm. Chúng con chỉ xin pa-pa cho nghỉ ngày chủ nhật thôi.
Thừa cười:
- Mấy chục năm nay, pa-pa có biết ngày nào là chủ nhật đâu! Vả pa-pa có phân biệt ngày với đêm đâu. Mà hành khách cũng vậy, người ta có biết ngày nào là chủ nhật? Con có thấy xe lửa, ô-tô buýt, với các hãng tàu thủy khác, họ nghỉ chủ nhật không? Càng chủ nhật càng đông khách. Vả ở nước ta, trừ mấy cửa hàng tây ra, còn cửa hàng ta cửa hàng tàu, có cái nào đóng cửa ngày chủ nhật không?
Thằng Pôn nói:
- Thế thì chúng con phải làm việc quanh năm à? Đời sống như thế không còn gì là lý tưởng nữa.
Vốn ghét thằng Pôn, Thừa cau mặt:
- Câu ấy để người ngoài nói với pa-pa. Bố con với nhau, không nên nói đến lý tưởng. Tàu Đại Pháp là của con. Từ hòn than, từ giọt dầu, từ chút mỡ, cho đến các máy móc, là của riêng con. Đó lý tưởng đấy. Nếu con không trông nom, để cho sơn lở, để cho gỗ sứt, thì chính con bị thiệt hại. Con phải coi chiếc tàu là nhà của con, mà để mắt đến từng ly từng tí. Cho nên ngày cũng như đêm, con phải ở đấy. Con có ở đấy, thì kẻ ăn người làm mới không dám làm bậy. Nếu chủ nhật, con nghỉ, bỏ tàu để đi chơi, thì pa-pa thử hỏi bọn mạch-nô chúng nó có giữ của thay cho con hay không?
Thằng Pôn im lặng. Thằng Giăng cũng im lặng. Nhưng chúng nó hậm hực lắm.
Vận động bố không nổi, chúng nó vận động mẹ. Quả nhiên Ma-ri thương chúng nó, Ma-ri bảo Thừa:
- Hay là đến ngày chủ nhật, ông cứ cho chúng nó nghỉ. Ông với tôi làm thay chúng nó? Cũng chả mệt nhọc gì một ngày. Cũng như ta đi chơi, đổi không khí thôi mà?
Thừa đáp:
- Chúng nó nghỉ ngày chủ nhật cũng được. Tôi với bà sẽ thay. Nhưng tôi muốn điều tra xem là ai xui chúng nó, hay tự chúng nó xin. Tôi cứ ngờ là việc này có bàn tay cộng sản nếu không trực tiếp thì cũng gián tiếp nhúng vào.
- Chả nên ngờ con mình bị ai xui giục. Chúng nó lớn, lại đương vào tuổi mải chơi ấy mà. Mấy lị cộng sản vào lọt sao được nhà này.
- Phải, cộng sản không vào lọt, nhưng làn gió cộng sản thì đâu cũng vào lọt. Biết đâu là không có người khách đi tàu là cộng sản chuyện trò với chúng nó, rồi tuyên truyền cho chúng nó về quyền lợi?
Ma-ri im. Thừa tiếp:
- Vả lại tôi sợ đây chính là một yêu sách, rồi phong trào này lan tới bọn ba-toong, tài xế, nhì xế, và mạch nô. Rồi bọn người làm các hãng cũng bắt chước thì có hại chung cho tất cả. Không nghỉ ngày chủ nhật, là một thuần phong mỹ tục. Phải duy trì thuần phong mỹ tục này. Không nên đánh thức bọn làm công. Rồi rầy rà đến mình. Thấy có gì hại cho chủ, mình phải dập ngay từ ngòi đi mới được. Bây giờ hai đứa đòi nghỉ chủ nhật được, thì nay mai chúng nó đòi nghỉ cả ngày lễ. Mình không cho, thì chúng nó đòi làm việc ngày nghỉ phải được lương gấp đôi. Thế là chúng nó nêu gương xấu cho người khác noi theo.
Ma-ri thở dài.
Thằng Pôn và thằng Giăng thấy bố cương quyết, thì bực lắm. Tối thứ bảy ấy, hai đứa cương quyết lại với bố.
Chúng nó nói với Thừa:
- Ngày mai chúng con nghỉ. Cả ba-toong, tài xế, nhì xế, mạch nô cũng cho rằng chúng con xin pa-pa thế là đúng.
Thừa gắt:
- Chúng mày dại như con chó! Chúng mày dọa rủ nhau đình công phỏng. Ai xui chúng mày thế?
Ma-ri ngọt ngào trách hai con:
- Từ nay về sau, bất cứ chúng con định xin gì, thì bố con hãy nói chuyện với nhau trước, đừng bàn bạc với người ngoài vội. Có khác gì nối giáo cho giặc không?
Thằng Pôn nói:
- Thưa pa-pa, tự chúng con thấy sống mất tự do, thì chúng con xin pa-pa cho chúng con một tuần lễ được một ngày để được tự do, chứ có ai xui đâu?
Thừa dỗ mạnh điếu thuốc lá xuống mặt bàn, rồi đánh diêm để hút. Thằng Giăng lại tiếp:
- Nếu pa-pa muốn biết điều chúng con xin là đúng hay không đúng, thì con mời pa-pa xuống tàu làm mại bản một tháng.
Thừa im lặng.
Hắn đành nhượng bộ.
Ngày chủ nhật, hắn và Ma-ri làm mại bản thay cho thằng Pôn và thằng Giăng. Song, hắn rất hài lòng, là hai đứa rất vui vẻ, và làm việc ngày một kết quả hơn.
* * *
Công cuộc kinh doanh đương phát đạt, Thừa phấn khởi lắm, thì được tin quan thầy cũ là Mát-xi-li, ở bên Tây sắp sang. Mát-xi-li được bổ công sứ Hải Dương.
Thừa hiểu là làm công sứ ở tỉnh lẻ có quyền hơn làm Đổng lý văn phòng phủ Thống sứ, tuy chức to hơn nhưng vẫn có người trên.
Thừa mừng quá. Hắn vào yết kiến viên tổng đốc, xin tổ chức cuộc đón quan chủ tỉnh mới, rất long trọng. Được trên đồng ý, hắn đi cổ động quan lại và công chức góp tiền mở tiệc trà danh dự.
Tiếng tăm Thừa quen biết quan công sứ mới đồn dậy lên. Từ viên chánh án đến bác loong-toong các công sở đều tìm đến Thừa để cầu thân.
Thừa và Ma-ri hãnh diện lắm.
Nhưng trong những ngày Thừa bận rộn việc tổ chức đón rước, lòng hắn đương phơi phới, nhìn cờ bay ở ngoài trời mà như thấy cờ bay ở trong bụng, thì thằng Pôn và thằng Giăng vào gặp hắn, đòi tăng lương. Thằng Giăng viện lý:
- Pa-pa bảo tàu là của chúng con, lãi thì được hưởng, lỗ thì phải chịu. Nay chúng con đã làm được hơn nửa năm, vì chúng con coi tàu là của chúng con, nên chúng con hết sức làm việc, tiền thu nhập tăng dần. Vậy pa-pa tăng lương và tăng hỏa hồng cho chúng con. Bởi vì chúng con kiếm, thì chúng con được hưởng.
Thừa nói:
- Không nên bóc ngắn cắn dài, con ạ. Pa-pa cốt dành dụm cho chúng con, để khuếch trương công cuộc vận tải cho chúng con, ngày một có thêm tàu, được nhiều lợi hơn. Vậy một đằng được đồng nào xào ngay đồng ấy, để mãi mãi chúng con chỉ mỗi đứa có một chiếc tàu, một đằng chúng con ăn nhịn để dành, để sang năm, hai anh em có thêm một chiếc nữa, sang năm nữa, mỗi đứa có riêng hẳn một chiếc, rồi cứ thế mãi, thì chúng con chọn đường nào, pa-pa cũng bằng lòng.
Thằng Pôn hỏi:
- Nếu thế thì chúng con già đời cũng đến như cụ Lăng là cùng. Vậy sống ở đời còn có gì là sinh thú nữa?
Thừa lắc đầu:
- Cái anh có một đồng bạc vốn, thì kiếm được một xu cũng phải chật vật. Nhưng người có mười đồng bạc vốn, thì kiếm một hai hào đã dễ dàng. Và khi có hàng chục hàng trăm, thì kiếm lợi hàng đồng rất dễ dàng. Đến người có hàng nghìn, thì có khi tự nhiên của nó cũng vào nhà như nước chảy chỗ trũng. Vậy con có nên chỉ có một đồng bạc vốn mãi mãi hay không?
Cả thằng Pôn lẫn thằng Giăng đều im. Nhưng Thừa nhận thấy thằng Pôn liếc thằng Giăng thì thằng Giăng nói:
- Thưa pa-pa, đây không phải là nguyện vọng riêng của chúng con mà là nguyện vọng chung của nhân viên hai tàu.
Thừa cười lạt:
- Chúng mày định dùng thủ đoạn để bắt bí tao! Chúng mày thấy mấy hôm nay tao đương vui vẻ, tao đương túi bụi về việc tổ chức đón cụ sứ, thì chúng mày đến làm khó dễ với tao! Tao biết.
Thằng Pôn đáp:
- Không phải thế pa-pa ạ. Bố con với nhau, việc gì phải thủ đoạn?
Thừa trỏ vào mặt thằng Pôn:
- Chính mắt tao thấy mày xui thằng Giăng!
Thằng Giăng cãi:
- Về việc muốn làm cho đời sống mình được dễ chịu hơn, thì chả phải ai xui ai. Hay nếu pa-pa bảo hai chiếc tàu này là của chúng con, thì pa-pa cho chúng con toàn quyền hành động?
- Để ba tháng thì cả hai chiếc chui vào túi gái hết phỏng? Rồi chúng mày lại làm khổ tao phỏng?
Thừa quay lại Ma-ri:
- Chỉ tại bà mềm yếu với chúng nó lần trước. Những như tôi, thì tôi cương quyết đến cùng. Không cương quyết lần đầu, thì lần sau chúng nó lại hạch sách. Tôi biết trước mà!
Ma-ri dịu dàng:
- Thì cha mẹ với con, cương quyết cũng có chừng thôi chứ!
- Nghĩa là bà đổ tiếng ác cho một mình tôi phải chịu. Còn lại thì cả nhà được hưởng!
Ma-ri không đáp, khẽ lắc đầu nhìn hai con.
* * *
Từ hôm ấy, Thừa nhận thấy là tiền thu nhập hàng ngày có sụt.
Biết là hai mại bản đã bắt đầu ăn bớt, Thừa bàn với Ma-ri cách ngăn ngừa. Ma-ri bảo:
- Ông hẹp hòi với người ngoài, chứ lại hẹp hòi cả với con! Tiền cho con là tiền mất đi đâu mà tiếc? Mấy lị công chúng nó kiếm ra, cho chúng nó hưởng chút ít là phải.
Thừa cười lạt:
- Chúng nó còn dại, mình chưa thể giao quyền cho chúng nó thì phải coi chúng nó như người làm công thôi. Chỉ nên xử sự bằng lý, không nên xử sự bằng tình. Đó là mình nêu gương tốt cho chúng nó theo sau này làm ông chủ. Song, sự thực, đối với chúng nó, tôi tự thấy là quá nhu nhược rồi. Bởi vì là cha chúng nó, tôi không khỏi đối với chúng nó bằng tình.
Ma-ri hỏi:
- Bằng tình?
- Phải. Chúng nó lấn mình bằng cách bắt mình cho nghỉ ngày chủ nhật, và mình phải nhượng bộ. Vì chúng nó là con, nên tôi thương, không đối phó lại. Nếu phải người ngoài, thì tôi dùng cách lấn dần, ví dụ bảo bằng lời ngọt ngào: chủ nhật này tôi bận, các anh chịu khó đi làm vậy. Hoặc lần nào bảo trả đứa này để lần sau bảo trả đứa kia. Hoặc nếu chúng nó không nghe, thì mình dọa đuổi. Nhưng đối với con mình có cái dễ là mắng được, nhưng có cái khó là không thể cạn tình.
- Thế là mình cũng lợi dụng tình con của chúng nó đối với mình.
- Phải rồi. Để giảng giải phải trái cho chúng nó hiểu là mình làm lợi cho chúng nó. Vậy thì cương quyết với chúng nó, hay nhu nhược với chúng nó, cũng là vì tình cả. Ta nên chọn cái tình làm lợi, tránh cái tình làm hại.
- Vậy ông định làm thế nào để ngăn ngừa chúng nó khỏi ăn bớt tiền?
- Không khó.
Hôm sau, Thừa bảo Ma-ri làm như có việc đi Phả Lại, để xem thằng Giăng bán vé thế nào. Còn hắn đợi cho chiếc Đại Pháp nhổ neo xong, hắn mới lấy mô-tô chạy đến bến trên đê đón đầu. Khi tàu cặp bờ đón khách, hắn xuống để soát vé.
Thấy bị khám bất thình lình, thằng Pôn sợ cuống queo. Thừa bắt được bốn người không có vé, và một người đi Ninh Giang, nhưng cầm vé màu xanh.
Thừa chỉ dẽ dàng bảo con:
- Bận sau con nên cẩn thận. Bán vé dễ lầm lẫn lắm.
Hắn xuống quầy để hàng. Thấy vô số bì chưa dán vé cước, hắn cười, bảo thằng Pôn:
- Không có pa-pa giúp, thì con để sót vô khối.
Làm xong việc khám xét kín đáo. Thừa lên bộ, lại về Hải Dương.
Một tuần sau, Thừa lại làm như thế với thằng Giăng. Muốn cho hai con khỏi tự ái, Thừa gọi việc bắt gian này là giúp đỡ.
Vì luôn luôn bị chộp bất thần, cho nên cả thằng Pôn lẫn thằng Giăng đều ngơm ngớp sợ. Chúng nó không dám dở dói mưu mô.
Thừa thấy thu nhập lại tốt như cũ thì vui sướng. Hắn bảo Ma-ri:
- Kể ra con nhà mình cũng ngoan thật. Trước hết, tôi tưởng trói chân chúng nó ở trên tàu không nổi. Ai ngờ chúng nó cũng chịu làm cái nghề mại bản buồn tẻ này. Rồi chúng nó xin gì, mình ngăn lại cũng được ngay. Bây giờ thì chúng nó làm việc tốt lắm rồi.
Mãi, Ma-ri mới nói thật:
- Ông ạ, tôi nói ra việc này thì ông biết, rồi ông tìm cách ngăn khéo chúng nó, chứ đừng mắng chúng nó nhé.
Thừa lắng tai. Ma-ri tiếp:
- Nếu cái nghề làm mại bản mà chỉ là bán vé, rồi ở suốt ngày trên tàu thì buồn tẻ thật. Nhưng tại sao chúng nó đương tuổi ăn chơi, và đương được ăn chơi, lại chịu khó làm việc bó buộc này. Thì ra, ông ạ, đứa nào cũng có vô số nhân tình nhân ngãi ra đấy.
Thừa cau mặt. Ma-ri nói:
- Ông đi khám mấy lần, có phải bao nhiêu người không vé toàn là con gái cả không?
Thừa sực nghĩ ra.
- Thì ra chuyến tàu nào, mại bản cũng tít mắt về các cô. Gái nó nhoẻn miệng cười, thế là xí xóa được tiền vé. Tôi nghe có lần chúng nó đùa bỡn nhau loạn cả tàu, chả coi hành khách vào đâu. Tôi lo lắm. Lỡ có con nào chửa với chúng nó thì mất gỡ. Ông phải khuyên bảo chúng nó mới được.
Thừa thở dài.
Hắn nghĩ đến Xuy-dan. Hắn nghĩ đến mấy chục năm về trước ở Đồng Đăng, khi hắn bán vé thay ông Ký Sơ. Và hắn nghĩ đến Múi đã có mang với hắn.
Xưa kia ai cấm duyên bà!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XI
NGƯỜI HỌC TRÒ ĐẮC ĐẠO  
 
Thừa tiếp một người khách quý.
Ấy là ông Nguyễn Thúc Lăng.
Ông Lăng ăn mặc kiểu du lịch. Nghĩa là tồi hơn quần áo mặc thường, vì phải dãi dầu. Tay ông cắp một cái cặp da to. Không rõ đựng gì, mà phồng lên.
Ông đặt cặp trên mặt bàn giấy của Thừa, rồi nói:
- Hơn một năm nay, tôi hỏi thăm thấy ông làm ăn phát tài, cứ định xuống phê-li-xít-tê &gt;[105] ông và điều đình với ông một việc.
Thừa mở rượu hảo hạng và thuốc lá hảo hạng ra thết ông lão cỏ rả:
- Không bao giờ tôi dám quên ơn cụ mách cho mối lợi này. Tôi vẫn cứ định rỗi thì về Hà Nội, thế nào cũng đến thăm cụ, nói chuyện để cụ mừng cho. Nhưng bận quá, không lúc nào dứt việc ra được.
- Cốt lơ-cơ [106] gần nhau, ông ạ.
- Thưa cụ xuống có việc gì ạ?
- Chỉ sợ ông không ét-đê [107]- Đối với cụ, thì tôi không dám tiếc công.
Ông Lăng lắc đầu, trỏ vào cái cặp:
- Có gì là công mà tiếc. Tôi định mời ông mua than của tôi thôi mà.
Thừa dang hai cánh tay:
- Ô, tưởng việc gì khó khăn! Chạy tàu thì phải ăn than. Mà than thì mua của ai chẳng là than. Huống hồ là than của cụ, mà cụ đến tận nơi để chào. Thì lấy than của cụ để trả ơn cụ, chẳng hơn mua của người ngoài hay sao! Thưa, bây giờ cụ cũng buôn than ạ?
Ông Lăng ngớ mặt, lại trỏ vào cái cặp:
- Ấy, ông không biết à? Tôi buôn đã lâu. Vẫn có tràn than ở bờ sông Tam Bạc ngoài Hải Phòng. Nhưng tôi đứng tên ma đơ-dem [108]. Tôi tưởng mấy lần tôi đi nhờ ô tô ông xuống cảng với nó, tôi nói chuyện với ông rồi?
- Không. Nếu cụ nói, thì tôi đã lấy than của cụ ngay từ ngày mới chạy tàu.
Ông Lăng nghĩ một lát, rồi nói:
- Hoài nhỉ.
Thừa hỏi:
- Thế nào? Than của cụ là than gì, giá cả bao nhiêu?
Ông Lăng nghĩ ra:
- Ừ phải. Mấy lần tôi cứ giục ma đơ-dem đến điều đình bán than cho ông. Nhưng nó không đi, cứ bảo là không quen ông. Vậy thì than này là than của tôi đấy, ông ạ.
- Vâng. Bà hai bảo không quen tôi. Thì tôi đã chả mua than của người không quen, chứ của ai? Trước lạ sau quen. Để tới mua của người khác có phí không?
Thừa nhắc lại:
- Thế nào? Than của cụ là than gì? Giá cả bao nhiêu?
Ông Lăng chưa trả lời. Mặt ông hoan hỉ, ông mở chiếc cặp da, dốc ngược đít lên. Một đống than đá đen nhánh và bóng nhoáng chảy ồ, kêu lạo xạo trên mặt bàn gỗ lát đánh xi. Bụi bay tung như khói. Thừa vội vàng vặn quạt lên. Trong khi ấy, ông khách gấp lại cái cặp. Cái cặp không còn đựng gì, nó nằm bẹp gí, bụng kép lẹp như thằng ốm đói.
- Nào, đố ông biết là thứ than gì, giá bao nhiêu đấy.
Hiểu ngay anh thầu khoán già láu cá, không muốn nói giá, sợ hấc lờ. Thừa tuy biết là than tốt, nhưng cứ vờ ngớ ngẩn:
- Nó không bóng, dễ là hạng mơ-ni-phanh Phấn Mễ.
Ông Lăng cầm một hòn, giơ vào mặt Thừa:
- Có bóng không? Ông ngắm kỹ xem.
- À, noa-dét Oong-gay [109].
Ông Lăng lắc đầu, cười:
- Thế thì ông còn bị bịp chán. Chạy tàu mà không biết mặt than! Nhưng chẳng lẽ chỗ tôi với ông, tôi lại lừa ông. Đây là than kíp-lê. Nó là than củ. Hạng tốt nhất.
Thừa cho ông Lăng biết là mình không lạ gì:
- Than củ pha than cám.
Ông Lăng gật đầu:
- Đúng rồi. Chứ ông mà dùng nguyên than kíp-lê thì phí, chết tiền.
Rồi ông kể:
- Tôi định nếu ông ăn hàng của tôi, thì tiện chuyến chở, tôi đem than vụn đến đây, mở một xưởng làm than quả bàng.
- Tức là cụ tải than xuống tận đây?
- Vâng. Tiện cho ông khỏi phải vận tải.
- Cụ lấy bao nhiêu một tấn?
- Mỗi tháng ông lấy bao nhiêu tấn?
- Lấy nhiều hay ít là tùy theo giá cả. Rẻ thì lấy nhiều. Đắt thì nể cụ, tôi lấy một lần, và ít thôi.
- Tôi muốn biết ông định dùng bao nhiêu tấn một tháng, và nếu ông cho tôi được độc quyền bán cho ông từ nay về sau, thì tôi hãy cho giá.
- Cụ cứ cho cả hai thứ giá.
Ông Lăng nghĩ một lát, rồi tặc lưỡi:
- Thôi, tôi cứ tính một thứ giá để ông mua nhiều và mua mãi mãi. Kể cả trăng-x-poh[110], một tấn hạng kíp-lê pha than cám, tôi cứ xin ông ca-răng-biết [111]. Pri-đa-mi [112] đấy nhé.
Thừa mỉm cười:
- Cao mất năm đồng.
- Ông muốn tôi tính như hạng mơ-ni-phanh Phấn Mễ phỏng? Cũng được. Tôi có cả noa-dét Oong-gay lẫn mơ-ni-phanh Phấn Mễ. Nhưng tôi chỉ chào ông có hạng kíp-lê, vì tôi chắc ông không dại gì mà đốt thứ khác, vừa hao than, vừa hại máy.
- Thôi, cụ là bậc đàn anh, lại là ân nhân của tôi, tôi nói đi nói lại; không tiện. Xin nộp hẳn cụ ba nhăm đồng một tấn như mua của người ta.
Ông Lăng mở cặp ra, toan nhét than vào. Thừa sợ sát mặt bàn, vội vàng ngăn lại:
- Vâng, xin bằng lòng với cái giá cụ định. Thế bao giờ cụ có than?
- Bao giờ ông cần?
Ông Lăng vỗ vào vai Thừa:
- Này, anh em mình tin nhau thật, nhưng ta cứ làm giấy giao kèo với nhau cho khỏi quên. Một mặt tôi cam đoan là phuốc-nia [113] đủ than cho ông dùng cả tháng, tức là phải có sẵn bao nhiêu tấn cho ông đó. Một mặt, ông cam đoan là tháng nào cũng phải mua của tôi ngần ấy tấn, rồi nếu muốn, mới được mua than của người ngoài.
Thừa gật:
- Đúng rồi.
- Than củ tôi sẽ để sẵn ở tràn, lúc nào ông lấy, thì ông bảo.
Thừa chữa:
- Thế ngộ lỡ cụ không có sẵn? Vậy cứ xin rằng khi tôi muốn dùng bao nhiêu, tôi nói trước với cụ bốn tám tiếng đồng hồ, có được không ạ?
Ông Lăng gật đầu:
- Bồng [114]!
Thừa đùa:
- À, nói với bà hai chứ nhỉ!
- Vâng, nếu mở xưởng làm than quả bàng ở đây, thì hoặc tôi, hoặc ma đơ-dem, hoặc một người rơ-prê-dăng-tăng [115] phải ở Hải Dương, để giao thiệp với khách. Thế ông bán than cho ông ở tràn, hay li-vrê [116] đến tận sở cho ông?
- Nếu cụ cho than đến sở thì tốt.
- Cũng được, xin ông thêm phre trăng-x-po [117].
Thừa cười xòa, nhìn ông Lăng, nói thầm cho có vẻ thân mật:
- Thôi.
Ông Lăng lại toan vơ than vào cặp. Nhưng Thừa đỡ được tay ông. Ông Lăng nói:
- Ông mua than của tôi, tuy ông không nói ra cái lợi nhưng tôi biết là ông hiểu, ông mua của người khác, thì phải xuống tận Phòng để lấy, phre trăng-x-po ông phải chịu từ Phòng về đây. Nhưng mua của tôi, ông đỡ được món tiền ấy. Vì tôi định mở xưởng than quả bàng ở đây, chở than cho tôi nhiều, còn than của ông, tôi chỉ lai thêm vào, một là anh chở thuyền thiệt, hai là anh mua than quả bàng gánh hộ ông phí tổn. Chỗ thân, tôi xử với ông như vậy là quá phải rồi. Vậy còn từ tràn vào Sở mà ông bắt tôi chịu, thì thật ông chưa biết người biết của!
Thừa cười:
- Xin lỗi cụ. Nghề buôn bán, bớt được món tiêu nào lợi món ấy. Xin cụ chớ giận.
- Bồng! Thế thì ông tự đài tải lấy từ tràn đến sở nhé. Nhưng nếu ông muốn tôi đài tải, thì ông trả tiền.
- Vâng. Cố nhiên. Thế còn thể lệ trả tiền ra sao đây?
Không để ông Lăng đáp, Thừa giở đùa giở thật:
- Cụ cứ cho chịu, đến cuối tháng nộp một thể nhé.
Ông Lăng lại vơ đống than:
- Ứ, chả chơi. Ông mua của người ta có chịu được không?
- Nhưng chỗ chúng ta là bạn thân. Cụ giúp chúng tôi ấy mà.
Ông Lăng lắc đầu:
- Giúp ông mua tàu, lại giúp ông lấy chịu than! Nhưng nếu ông muốn thế cũng được, chỉ xin tính rẻ như lãi nợ, là đơ puốc-xăng [118] thôi.
Thừa cười:
- Đùa cụ chơi cho vui đấy thôi!
Ông Lăng gật đầu:
- Tuy ông với tôi quen biết nhau đã lâu, kể thì là thân đấy, nhưng mà khi đã gọi là làm ăn, buôn bán với nhau, thì ta nên cẩn thận với nhau. Việc tiền nong, chả nói đến tình được. Ông hiểu tôi chán, mà tôi cũng chả lạ gì ông. Vậy tin nhau thì tin nhau thực, nhưng cứ xin là ông muốn lấy bao nhiêu than, ông sẽ có đủ than để chở đến Sở.
Thấy ông Lăng chắc lép, muốn nắm đằng chuôi, Thừa đáp:
- Xin bằng lòng. Nhưng còn món tiền tôi đưa trước hai ngày có thể sinh lợi được, nhưng tôi không dám tính lãi hai phân như cụ, mà chỉ xin cụ kê như món tiền tôi phải trả về đài tải từ tràn cụ đến sở tôi thôi.
Ông Lăng lắc đầu:
- Ông chi ly chặt chẽ lắm! Nhưng xin vâng.
- Như vậy, tôi đỡ phải trả những món tiền lặt vặt khác nó lẻ loi. Vả tôi xin ông trả tiền đài tải, là tôi vẫn làm việc một cách hồ đồ. Chứ tôi biết tràn than của ông đặt ở đâu, cách Sở tôi bao nhiêu xa. Tôi ví dụ ông anh muốn tiện, đặt ngay tràn than cạnh bến tàu của tôi, thì ông anh nuốt không của tôi món tiền đài tải, chứ tôi bắt ông anh khênh than vào sở, để rồi tôi lại phải thuê khênh nó ra bến tàu à!
Ông Lăng híp đôi mắt để cười, rồi nhắc lại:
- Vị chi là tiền ông đưa trước, tôi li-vrê than cho ông sau. Cũng vị chi là nếu tôi không nhận tiền trước, thì ông không có than để chạy tàu, phải không nhỉ?
- Vâng.
Để khách quên nỗi bị lép vế, ông thầu khoán thêm:
- Còn tiền đài tải từ Phòng đến sở ông ở đây, là về phần tôi phải chịu.
- Vâng.
Ông Lăng nghĩ:
- Còn gì phải thương lượng nữa không nhỉ?
Rồi ông vừa bấm đốt ngón tay vừa lẩm bẩm một mình:
- Số than lấy hằng tháng. Rồi. Giá một tấn than. Rồi. Trả tiền trước, li-vrê than sau. Rồi.
Sực ông nhớ ra:
- À, còn than thì là hạng than củ pha than cám đấy nhé.
- Vâng.
- Tôi gửi ngay đống này ở đây, để mỗi lần mua thì ông có mẫu mà so.
- Vâng.
Ông Lăng ngẩn người một lúc, rồi cười:
- Thế là thương lượng xong. Ta làm giao kèo chứ?
- Vâng.
Cả hai người cùng cân nhắc từng chữ, đắn đo từng câu để cho lời lẽ trong giấy được rõ ràng và đúng.
Khi bản thảo xong, Thừa đọc lại cho ông Lăng nghe, xem có còn phải thêm bớt gì không. Rồi Thừa hỏi:
- Cụ muốn đánh máy hay viết tay?
- Cần hai bản thì đánh máy cho nhanh.
Thừa gọi con Rô-da-lin, bảo nó đánh máy.
Ông Lăng không biết con Rô-da-lin là ai, cứ trố mắt lên mà ngắm.
Một lát, đánh máy xong, Rô-da-lin đưa lấy chữ ký. Ông Lăng nhìn cô thư ký, rồi mỉm cười với Thừa, như để chia vui với người chủ có số đào hoa.
Hai người ký vào hai bản giao kèo. Rô-da-lin đợi để thấm, rồi đưa cho mỗi người một bản. Nhưng ông Lăng giơ tay ra ngăn:
- Khoan! Cô cho tôi mượn cái thước.
- Thưa để làm gì ạ?
Ông tặc lưỡi nói với Rô-da-lin:
- Đã cẩn thận thì nên cẩn thận một thể để khỏi ân hận về sau. Có một lần cô ạ, một người đi vay nợ, viết văn tự vào giấy tín chỉ. Nhưng anh ta láu, mới không để giấy tín chỉ nguyên khổ, mà xén ở phía dưới ngắn đi đến một đốt ngón tay. Người chủ nợ vô tình, không nghĩ ra là anh ta định lừa. Đến hẹn, người ấy đòi, thì anh nhất định không trả. Người ấy kiện ở tòa. Anh ta khai là đã trả dần rồi, và mỗi lần trả thì chủ nợ có ghi vào phía dưới bản văn tự. Tòa xét thấy giấy tín chỉ ngắn hơn tờ giấy thường, cho người có nợ là thật thà, mà người chủ nợ là gian. Tòa cho rằng người ấy cắt những dòng chữ viết ghi đã trả đi, để đòi nọ suýt lần nữa. Thế là người con nợ được kiện.
Ông híp mắt cười với Rô-da-lin. Rô-da-lin hỏi:
- Thưa cụ cũng ngờ pa-pa cháu lừa cụ ạ?
Ông Lăng ngớ mặt, nhìn Thừa:
- Lệnh ái đấy à?
Rồi ông chữa thẹn:
- Để tôi khỏi ngờ tôi lừa ông thôi. Cô cho tôi mượn cái thước, để đo xem bề ngang bề dọc tờ giấy này bao nhiêu phân, tấc, rồi ghi lại, hai người cùng ký nhận. Như vậy chẳng ai phải nghi ai.
Rô-da-lin tủm tỉm, làm theo ý ông khách.
* * *
Xin kể nốt chuyện ông Lăng bán than bằng vài chục dòng nữa.
Thừa rất sòng phẳng và ông Lăng bán thứ than rất tốt. Vả giao kèo thế. Thừa không sòng phẳng sao được?
Hai người buôn bán với nhau ba tháng, năm tháng. Nhưng Thừa vẫn lập tâm chơi lại cho anh thầu khoán già một vố để báo thù cái tích mua nhà ngày trước, và cái việc bán phiếu bầu nghị viên mới đây.
Thừa nhận thấy là hễ hôm nào trời sắp mưa to, thì y như vợ hai ông Lăng vào giục Thừa đưa tiền mua than, Thừa biết rằng bà ta sợ than trôi đi, thì đẩy cái hại cho hắn.
Một lần, Thừa thấy tràn than của ông Lăng cao ngất, mà trời sắp nổi cơn giông. Hắn biết là bà Lăng hai sắp vào Sở.
Quả nhiên, bà ta vào thật:
- Tôi còn ba chục tấn, ông làm ơn ăn nốt, để tôi lấy chỗ cho thuyền mới chờ đổ than.
Thừa vờ sửng sốt:
- Than cũ hãy còn. Vả tôi cũng chỉ còn đủ tiền lấy hai chục tấn thôi. Bà bằng lòng vậy.
Thừa đưa tiền.
Một lát mấy xe bò chở than ì ạch vào sở ngay, chứ không chậm chạp như mọi bận. Và bà đơ-dem lại vào:
- Ông ạ, hay còn có mười tấn, ông lấy nốt cho tiện chuyến.
- Nhưng tôi không có tiền.
- Thế thì nếu ông bằng lòng, tôi cứ chở vào, mai ông cho tiền, hay trừ vào chuyến sau cũng được.
- Tùy ý bà.
Một lát mười tấn than được chở nốt vào. Thế là bà được yên tâm.
Vì trời đổ mưa như trút nước.
Nhưng sáng hôm sau, bà vào lấy tiền, thì Rô-da-lin nói:
- Pa-pa cháu đi vắng.
Lần thứ hai, bà vào. Rô-da-lin cũng đáp:
- Pa-pa cháu đi vắng.
Lần thứ ba cũng vậy.
Mười hôm sau, ông Lăng xuống Hải Dương. Bà đơ-dem bảo ông vào đòi Thừa tiền mười tấn than. Ông thầu khoán ngã ngửa người:
- Bú dù! Thế là nó lừa rồi. Nó đi vắng với mẹ nó à? Giao kèo nói nó đưa tiền, mình mới bán than kia mà!
Nhưng ông vẫn thử vào.
- Thưa cụ, pa-pa cháu đi vắng.
Lần thứ hai:
- Thưa cụ, pa-pa cháu đi vắng.
Ông Lăng cáu, về đánh ma đơ-dem của ông một trận nên thân.
Nhưng ông vẫn chưa tuyệt vọng, ông lại đến Thừa lần thứ ba. Thấy Rô-da-lin vẫn nói: Thưa cụ, pa-pa cháu đi vắng, ông cười lạt:
- Pa-pa cháu đi vắng đâu, tôi cũng biết. Hôm nào pa-pa về, nhờ cháu nói hộ rằng tôi khen pa-pa đã đắc đạo, trả miếng thầy học một đòn khá cay đấy!
 
Chú thích:
105)
106)
107)
108)
109)
110)
111)
112)
113)
114)
115)
 116)
117)
118)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XII
ĐỂ ĐƯỢC GIÁP RIÊNG MẶT RỒNG  
 
 
Tin tên vua bù nhìn Bảo Đại bé con được thực dân dắt cho xem cảnh Bắc Kỳ, gọi tiếng sang trọng là Ngự giá Bắc tuần, làm Thừa rất hy vọng. Hắn cho là dịp may để cậy cục lấy Bội tinh hoặc Kim khánh, Kim tiền đây. Hắn tìm cách gặp hẳn nhà vua, khỏi phải qua cái cầu thượng thư, dù là cái cầu Ngự tiền Văn phòng Phạm Quỳnh. Việc Ma-ri vận động công danh cho hắn qua thằng thượng thư bị đuổi về xua gà, đã làm cho hắn ức vì tốn kém mà không có kết quả gì.
Gặp hẳn nhà vua. Thừa quyết định thế. Nhưng làm cách nào để gặp hẳn nhà vua được? Tất là khi nhà vua trú tại Hà Nội, thì có lính canh gác vòng trong vòng ngoài. Dân thường khó lòng vào lọt. Vậy yết kiến nhà vua là không thể. Hay hôm nhà vua đến thăm Hội Khai Trí, hắn cũng túc trực ở đó? Không thể. Chỉ những người trong ban Trị sự Hội mới được vinh dự đón vị khách tối cao. Hắn là hội viên thường, không có nhiệm vụ được đến Hội. Vả nếu hắn có vận động được đến Hội, chắc Ngài ngự chỉ nói chuyện với cụ Võ, cụ Vi, cùng ban trị sự thôi. Những vô danh tiểu tốt như hắn, chỉ được phép đứng xa mà chiêm ngưỡng mặt rồng. Và, dù có được đến gần ngọc thể, thì ai lại lợi dụng cơ hội mà xin việc riêng cho mình? Lố lắm. Như thế thì dù được, cũng tiếng để đời.
Thừa nghiên cứu hành trình đặt cho Bảo Đại. Đức vua đi tàu thủy từ Đà Nẵng ra Hải Phòng, ngủ một đêm ở Cảng, rồi hôm sau đi Gia Lâm, để lên xe lửa sang Hà Nội. Ga Hà Nội mới có chỗ rộng rãi để làm lễ đón long trọng. Đức vua có đi qua Hải Dương, dừng lại nửa giờ, vào sân vận động, xem học trò biểu diễn động tác thể dục.
Thế thì hắn chẳng phải đi đâu cho xa.
Ở tỉnh lẻ, một ông chủ tàu là một nhân vật tai mắt. Thế nào quan tổng đốc chẳng cho giấy triệu hắn đi đón Hoàng thượng, và chắc được lên khán đài sân vận động.
Nhưng Thừa nghĩ lại. Vẫn không ổn. Phải tìm cách gặp riêng đức vua kia. Chứ ở nơi lố nhố những người, thì Ngài không nhớ ai vào ai. Vả đến trước mặt Ngài mà xin ơn mưa móc, vẫn cứ là lố.
Thừa tìm cách gặp riêng Bảo Đại. Gặp được, thì làm những gì, nói những gì để tỏ là mình tôn quân, trung thành với Chính phủ Nam triều?
Vốn nghe chuyện Ma-ri và những người đã vào Huế, Thừa biết Bảo Đại mới tí tuổi, nhưng đã mê chơi. Vua chưa có vợ, nên thích gái. Nhưng muốn thỏa tình dục, chẳng lẽ Thánh thượng lại dắt gái vào cung. Cho nên để giữ kín tiếng, vua giấu gái ở một nơi xa, rồi giả vờ đi săn, lén đến ngủ ở đó. Vua sính thể dục thể thao nhất, nhất là hai môn đánh quần vợt và đánh gôn. Vì các quan đại thần không ai thiết vận động cơ thể, nên Ngài phải chơi với bất cứ ai, dù là thằng bé con làm nghề nhặt bóng. Ngài thú đánh gôn đến nỗi chiếm hẳn một quả đồi, bắt trồng lại cỏ. Cỏ may Việt Nam lá to và đến mùa thu thì vàng úa. Muốn đẹp sân gôn, Ngài bắt lấy giống cỏ tận trên Đà Lạt đem về trồng ở đồi ấy. Thứ cỏ này là cỏ nước Anh, lá nhỏ lăn tăn, nếu chăm bón, nó rờn rờn quanh năm như tấm thảm nhung màu lá mạ. Cho nên cỏ ở sân gôn phải luôn luôn được xanh tươi. Hoàng thượng lại thạo chơi đầu hồ và mạt chược. Chơi đầu hồ thì Ngài ném mười lần, trúng đến bảy tám, cái que đâm vào mặt trống, nảy lên nảy xuống, bong bong một hồi, hết đà mới im tiếng. Còn mạt chược thì Ngài có thể thức thâu đêm mà vẫn tỉnh táo như thường. Ngài là con trai, chưa vợ, nên sức lực cường tráng. Vả Ngài thức, thì sáng hôm sau Ngài ngủ, mấy giờ Ngài dậy chẳng được. Ai dám đánh thức. Vả có bận việc gì mà phải dậy vội?
Ngoài các thứ chơi này, Hoàng thượng còn thích chơi ô-tô với chơi chó. Ngài thường lái xe lấy để đi phố. Ngài nuôi hàng chục chó, những con chó rất đẹp của các nước khác. Mỗi ngày chó ăn không biết bao nhiêu là thịt bò. Một quan chuyên môn được bổ vào việc hầu chó. Chó có xe ô-tô riêng, là chiếc cam-nhông lớn. Mỗi sáng, quan bồi chó phải tải chó ra sông Hương để tắm cho cả đàn.
Vậy cố nhiên muốn tỏ lòng tôn quân, Thừa phải biếu vua một thứ.
Nhưng biếu cái gì?
Hắn có con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít đã đến thì. Nhưng hắn không dám nghĩ đến việc hiến chúng nó cho Vua ở Hà Nội. Ở Huế, thì vua vờ đi săn được. Nhưng ngài ngự giá Bắc tuần, chắc ngài phải tạm nhịn chơi bậy.
Hắn nghĩ ra rồi.
Hắn phải dâng một cỗ mạt chược bằng ngà, thửa thật đẹp, và phải lên tận Bắc Hà trên Lao Cai mua cho được năm con chó.
Vốn Thừa có quen chánh tổng Bắc Hà Hoàng A Tưởng, là bạn buôn thuốc phiện lậu cũ. Gọi là chánh tổng, nhưng là vua của địa phương. Thừa phải thân lên Bắc Hà, nhờ chánh tìm cho được năm con chó thật đẹp, to xù như con gấu, mỗi con một sắc lông khác nhau.
Thừa có cỗ mạt chược, có chó, thì vừa vào hôm xa giá ngự ra Bắc.
Hắn chụp cho mỗi con chó một tấm ảnh khổ 18 X 24, rồi đóng khung kính. Hắn để ảnh chó với cỗ mạt chược vào cái hộp sơn son thiếp vàng. Hắn muốn viết mấy chữ thật cung kính để tỏ lòng ngưỡng mộ đức thiếu quân, nhưng hắn không dám. Ông Hoài Tân Tử bảo phải làm một bài bằng chữ nho. Nhưng ông không làm nổi. Và đức vua cũng không xem nổi chữ nho. Hắn cậy ông Tình muôn thuở tìm mấy cụ cử tú để thuê làm biểu. Nhưng vì cận ngày quá, không kịp. Hắn đành in tấm danh thiếp đề tên, nghề nghiệp và địa chỉ của hắn rồi để vào trong hộp. Hẳn Hoàng thượng thấy danh thiếp, thấy cỗ bài và thấy ảnh chó, cũng biết tên người dâng, và dâng gì. Hãy cốt cho những thứ ấy lọt vào mắt Hoàng thượng, rồi hắn sẽ xin ban thưởng sau.
Vì định gặp riêng Bảo Đại, Thừa phải vận động cho ty tổng đốc đừng triệu hắn đón vua ở nơi hàng tỉnh túc trực lạy chào đấng quân vương.
Hôm Bảo Đại ở Hải Phòng lên Hà Nội, qua Hải Dương, Thừa dậy thật sớm. Hắn mặc áo gấm, chụp khăn xếp, mặc quần phẳng nếp, và lận giày ban. Hắn đem cái hộp tặng phẩm lên ô-tô, rồi vặn xe đến dưới dốc cầu Phú Lương. Hắn đợi ở đó.
Khi đoàn xe nhà Vua vào cầu. Thừa rất hồi hộp. Hắn chờ đoàn xe qua hết cầu, xuống dốc, thì hắn tụt giày, đi bí tất không, ra giữa đường nhựa. Hắn quỳ hai gối, khom lưng, cúi gằm mặt, hai cánh tay giơ cao cái hộp sơn son thiếp vàng lên đỉnh đầu. Hắn đã hỏi để biết cái thể lệ cung kính này, khi một người thường dân muốn tâu gì với vua. Đàn ông thì cúc cung tờ giấy trần tình lên đỉnh đầu. Đàn bà thì vấn giấy vào trong khăn. Bây giờ hắn cũng làm đúng như thế.
Đoàn xe đến gần Thừa. Trống ngực hắn nổi rộn. Hắn không sợ bị kẹp chết, nhưng hắn mừng là xa giá sắp dừng lại.
Quả nhiên, chiếc xe đầu đỗ, làm ứ cả đoàn xe đi sau.
Bảo Đại không xuống xe, không nhận đơn. Nhưng một người khác chạy đến gần Thừa. Người này mặc áo gấm, đeo thẻ bài. Chắc là quan hầu. Người quan hầu nhận cái hộp. Thừa sung sướng, hướng vào xe thứ nhất, thụp xuống đất, lên gối xuống gối hai lần để lạy tạ. Rồi mới lùi tránh sang bên đường.
* * *
Ngay chiều hôm ấy, Công sứ Mát-xi-li gọi Thừa vào bàn giấy. Thừa khấp khởi mừng, cho là việc làm của hắn có kết quả. Hắn vội vàng mua một hòm rượu sâm-banh, rồi vào tòa.
Nhưng Công sứ không bắt tay Thừa, và cũng không mời ngồi. Nó cau mặt, mắng:
- Ông muốn gì mà đến nỗi ban sáng, phải làm cái cử chỉ bẩn thỉu, hèn hạ thế?
Thừa sợ hãi:
- Trình cụ lớn, chúng con dâng đức Thiếu quân.
Tên quan cai trị ngắt lời:
- Tôi biết rồi. Nhưng ông muốn gì?
Thừa im lặng. Công sứ lại cự:
- Đáng lẽ làm những việc ấy, ông phải trình tôi cho phép. Ông muốn xin ân thưởng phải không?
Thừa chắp hai tay, run run:
- Dạ.
- Vậy sao ông không nhờ tôi? Ông không tin là tôi giúp ông, mà chỉ tu xin cho ông tưởng lục như lần trước thôi à?
Thừa không đáp. Tên công sứ nhìn hòm sâm-banh, thì dịu nét mặt:
- Mời ông ngồi.
Rồi nó tươi tỉnh, trỏ vào hòm rượu:
- Không phải tôi gọi ông vào đây, cốt để bắt ông cho thứ nọ, thứ kia đâu. Tôi chỉ muốn bảo ông là từ nay, ông đừng làm những cử chỉ bẩn thỉu, hèn hạ nữa. Bởi vì nếu muốn được ân thưởng mà ông kể công trạng của ông bằng giấy để gửi đi, thì vua ông có tin ông không?
Nó lắc đầu:
- Thế nào triều đình cũng phải tư hỏi quan đầu tỉnh ông ở, tức là tôi.
- Dạ. Lậy cụ lớn tha tội cho chúng con. Chúng con không dám vượt quyền cụ lớn. Chúng con tưởng muốn được Chính phủ Nam triều ban thưởng, thì không nên phiền Chính phủ Bảo hộ.
- Nhưng ông lầm. Ông là dân Bắc Kỳ. Vả dù ông là dân Trung Kỳ, thì ông cũng dưới quyền của nước Pháp. Thì ông muốn nói gì với vua ông, ông cũng phải nói trước mặt quan Pháp. Cũng như vua ông muốn nói gì với dân An Nam cũng không nói riêng được. Nhưng chính phủ Nam triều có quyền hành rộng gì đâu? Chỉ trong phạm vi bức hoành thành mà thôi, ông ạ. Nghĩa là chưa bằng một làng, ông hiểu chưa?
Thừa cúi đầu:
- Dạ.
- Thế ông đã làm mấy lần như ban sáng, với vua Bảo Đại?
- Trình cụ lớn, lần đầu. Lần trước, vợ con vào tận Huế.
Tên Công sứ cười:
- Tôi khen ông kiên tâm. Tại làm sao chưa được thưởng gì?
- Thưa tại vợ con vào lầm cửa.
- Cửa nào?
- Thưa cửa bộ Lại. Quan thượng thư Ngô Đình Diệm sắp bị cách chức, mà vợ con không biết.
Mát-xi-li nhún vai, bĩu môi:
- Sao ông lại tìm đến con lợn ấy để mất tiền khoảng không? Mà cả bọn thượng thư nữa, ông tưởng chúng nó có thế lực à? Chúng nó trước kia đã là tri huyện, tri phủ, dưới quyền các quan công sứ, mà các quan công sứ có thể thăng Thống sứ, Khâm sứ, cho đến chức Toàn quyền tổng thống Đông Dương. Ông tin lời bịp bợm của thằng Ngô Đình Diệm nhơ bẩn, là ông dại. Hẳn ông đã hối hận?
- Lậy cụ lớn, con đã hối hận nhiều.
- Phải, có lẽ chưa bao giờ ông nghĩ rằng chính phủ Bảo hộ còn giữ cái triều đình An Nam làm gì. Thôi, tôi không nói chuyện ấy nữa. Tôi chỉ muốn cho ông biết ông đã không nhờ tôi, là có lỗi với tôi.
- Lậy cụ lớn tha tội cho con là kẻ ngu dại.
- Phải, tôi cũng đã nghĩ thế, nên tôi muốn từ nay sẽ trọng dụng ông. Không bao giờ tôi quên là ông đã tổ chức hai tiệc trà danh dự để tiễn tôi ở Vĩnh Yên, và đón tôi ở Hải Dương. Tôi cũng không bao giờ quên là ông đã lập sân vận động đặt tên tôi, để làm tôi bất tử. Tôi vẫn mong kiếm dịp để tư thưởng cho ông. Đức Bảo Đại ở Pháp về, Ngài ra chơi Bắc Kỳ, ấy là một dịp triều đình Huế ban ơn. Nay mai ông vua nhỏ ấy lấy vợ, rồi đẻ con. Ấy lại là những dịp vui của nước An Nam, để người An Nam được đội ơn mưa móc. Rồi tôi lại ví dụ mẹ ông ấy năm mươi tuổi thì mừng thọ, hoặc ông ấy hay vợ con ông ấy ốm nặng nhưng chữa khỏi, cũng là những cơ hội cho ông ấy thực hiện cái quyền ban thưởng của ông ấy. Vậy ông cứ kiên tâm. Không thiếu cơ hội tốt cho ông đâu. Mà tôi đã hứa thì tôi nhớ.
Thừa vui sướng:
- Cụ lớn là bậc cha mẹ, lúc nào cũng thương dân như thương con. Nhưng con ngại là con không có công lao gì hơn năm nọ.
Công sứ lắc đầu:
- Khi tôi muốn bảo nhà vua thưởng cho ai, thưởng cái gì, thì tôi không cần viện cớ. Bởi vì tôi là quan cai trị người Pháp. Song, với cái lý lịch của ông mà sở Mật thám dùng để xin cho ông đi tri châu, thêm vào đó, tôi nói ông là người nhiệt thành với nền thể dục thể thao, lại là nhà doanh nghiệp, có công với nền thương mại bản xứ, thì ông thừa công lao để đáng nhận chiếc Nam long bội tinh rồi. Nhưng hai cái lý do chính, đáng kể nhất, là cái lòng ông đối với tôi khi ông lập sân vận động, khi tôi sắp rời Vĩnh Yên và sắp tới Hải Dương: và là cái lòng ông đối với nhà chung. Tôi đã tiếp thư cha Hảo nói là ông để lại đồn điền cho cha. Cha dặn tôi nên tri ân cho ông trong dịp vua ra Bắc, và khuyên tôi nên trọng dụng ông sau này. Vậy ông không quên ơn cha Hảo và tôi chứ?
Thừa run lên. Tên thực dân tiếp:
- Để tuân lời cha Hảo, tôi đợi đến khóa nghị viên sau, khi quan thống sứ sửa đổi lại tổ chức của Viện Dân biểu Bắc Kỳ, tôi sẽ cử ông làm nghị viên, ông bằng lòng chứ?
Thừa run hơn, không nói được.
- Vậy từ nay, tôi cho phép ông được vào gặp riêng tôi luôn luôn, để nói cho tôi biết cái trào lưu tư tưởng của dân chúng, có gì mới, có gì lạ. Tỉnh Hải Dương to hơn tỉnh Vĩnh Yên. Vả ông ở ngay gần tôi, tôi chắc ông giúp ích cho tôi được điều đó. Đành rằng Hải Dương có sở Mật thám. Nhưng người làm nghề mật thám có thể chỉ biết mặt này mà không biết được mặt khác ông giao thiệp với bạn bè. Ông tiếp xúc với hành khách. Tất ông lượm lặt được nhiều cái hay, cái lợi cho cuộc trị an.
- Lậy cụ lớn, cụ lớn giao việc ấy, con xin hết lòng.
- Phải, đó là việc ông tập sự để được cử làm nghị viên dân biểu Bắc Kỳ. Nhưng muốn kín đáo, ông nên tránh gặp tôi trong giờ làm việc, ông cứ đến nhà riêng, vào buổi tối, khi tôi ăn cơm xong.
Dặn xong, tên thực dân bảo:
- Thôi ông về, vui vẻ mà làm ăn, và đợi tin mừng.
Thừa đứng dậy. Công sứ nhắc:
- À, còn năm con chó ông dâng vua ông, thì ông đóng cũi cho cẩn thận, chở nó vào dinh tổng đốc. Người ta sẽ đưa vào Huế cho ông.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIII
CUỘC CẠNH TRANH  
 
Hội Kiếp Bạc lại sắp tới, Thừa bàn với hai mại bản:
- Năm ngoái, trong dịp này chỉ có hai mươi ngày từ mồng một đến hai mươi tháng tám, mà hai chiếc tàu của ta thu bằng năm tháng ngày dưng, và bằng ba hội đền Tranh. Là vì cả chiếc Đại Pháp cũng giúp chiếc Bắc Kỳ mà đi đường Hải Dương - Kiếp Bạc. Là vì hai chiếc tàu được độc quyền chở khách. Nhưng nhất là vì hai con làm việc hết lòng hết sức. Cho nên, ngoài lương và hỏa hồng thường lệ, pa-pa đã thưởng thêm để đền bù sự khó nhọc của hai con. Nhưng pa-pa nhận thấy tuy ta chở khách bằng hai tàu, mà người phải đi ô-tô, đi xe, đi thuyền, và cả đi bộ nữa, còn vô khối. Vậy pa-pa thử hỏi các con xem năm nay, ta có thể cho chạy mỗi tàu hai chuyến đi, hai chuyến về một ngày được không?
Chưa để hai mại bản trả lời. Thừa nói ngay:
- Kể ra như vậy, thì ba-toong, tài xế khó nhọc hơn mại bản nhiều. Pa-pa định món tiền thưởng sẽ to hơn năm ngoái.
Thằng Pôn nói:
- Nếu đủ than, đủ dầu, đủ mỡ, và máy khỏe, thì con xin đi một ngày bốn chuyến. Có hai mươi ngày chứ mấy!
Thằng Giăng thêm:
- Con cũng vậy. Nhưng con sợ một nỗi là tàu của ta là tàu cũ, thì máy yếu. Lần trước, lục lộ khám, tàu Bắc Kỳ đã phải nghỉ mất mấy ngày để chữa. Vừa đây, tàu Đại Pháp bị khám, may con Rô-da-lin với con Ma-gơ-rít khéo tán cho anh Tây lục lộ trẻ híp mắt lại, nó mới ngơ đi cho. Cho nên, tháng này, pa-pa phải bảo hai đứa làm thế nào cho họ đừng khám. Chứ khám vào ngày hội, lỡ phải bỏ khách mà đi chữa, thì thiệt hại lắm đấy.
Thừa cho là phải:
- Được, về việc ngoại giao, pa-pa bắt bọn em chúng con phải chu đáo. Hai con lại ra tay một phen nữa, để hội đền này, thu nổi lấy nghìn bạc. Pa-pa sẽ thuê thêm tàu cho chạy đường Hải Dương - Hải Phòng.
Cả thằng Giăng lẫn thằng Pôn được khuyến khích, được động viên, nên đều phấn khởi. Cuối cùng, Thừa nói:
- Pa-pa nhắc lại, mỗi chiếc tàu là của một con, vậy các con phải tập làm ông chủ. Chủ thì phải chiều khách, trọng khách. Đừng làm như kiểu ông hai Sơ, em ông ký Bưởi ngày xưa. Các con có hiểu không?
Cả hai mại bản đều gật đầu. Chúng nó hiểu. Vì làm nghề này, chúng nó vẫn được nghe chuyện về những bậc tiền bối và bạn đồng nghiệp của chúng nó. Chúng nó biết là ông hai Sơ có buồng ngủ riêng trên tàu Phi Phượng. Tính ông đĩ, nên ve được cô hành khách nào, ông dắt vào buồng, cho ngủ chung. Nhiều bận, ông lại hiếp cả hành khách. Hành khách đem nhiều tiền đi tàu sợ mất cắp, nên có quyền gửi mại bản giữ hộ. Ông hai Sơ lợi dụng khách đàn bà con gái nhờ giữ tiền, ông bảo vào buồng ông để đưa tiền và lấy giấy biên lai. Ai đứng đắn, thì ông không dám sàm sỡ. Nhưng ai có vẻ nhí nhảnh, là ông chòng ghẹo ngay. Có người không bằng lòng, ông cũng cứ đóng ập cửa lại, và khóa tách lại.
Ma-ri đã tả tỉ mỉ những mánh khóe của ông hai Sơ khi đã nhốt được khách đàn bà con gái vào buồng mại bản. Hắn khuyên hai con đừng bắt chước ông ta mà mất khách.
Chúng ta đã biết thằng Pôn và thằng Giăng không đứng đắn gì hơn ông hai Sơ. Bây giờ, được mẹ cho nhìn tấm gương sáng, nên từ đó, gặp cơ hội thuận tiện, hai đứa không ngần ngại mà không thực hiện bài học của thầy hai Sơ.
* * *
Bỗng ở bờ sông Hải Dương, có một bọn người đem cuốc xẻng đến miếng đất ngay bên cạnh bến tàu của hãng Trần Đức Thừa. Họ rẫy cỏ, san đất cho bằng, và nện cho phẳng.
Thừa hỏi, thì bọn người đáp:
- Làm bến tàu cho hãng Phúc Lai Thành chở khách trảy hội Kiếp Bạc.
Thừa tái mét mặt. Thế này thì mất độc quyền.
Tối hôm ấy, gọi hai mại bản đến, hắn cho chúng nó biết cái tin mới, và bảo:
- Nhưng ta không nên nao núng. Ta không mất khách đâu mà sợ. Người Nam mình tốt, tất chỉ tìm tàu Nam để đi. Ông ký Bưởi ngày trước cũng nhờ vào tình đồng bào đồng chủng, nên mới nổi nghiệp. Người ta kể chuyện là hồi mới buôn tàu, ông ta chỉ trông vào lòng tốt của đồng bào không đi tàu của chủ nước ngoài. Mỗi chiếc tàu, ông ta để một hòm quyên. Ngày nào, ngoài tiền bán vé, ông ta cũng thu thêm được chút ít của đồng bào cúng. Một hôm, mở hòm quyên, ông ta cảm động quá. Lẫn với hào, với xu lẻ, có một tờ giấy hai chục. Cho nên nhất định ta không sợ tàu hiệu tranh khách của ta. Chỉ cần hai con hết sức tử tế, nhã nhặn để chiều khách. Pa-pa cho già lắm là năm hôm ế khách, hãng Phúc Lai Thành không chịu nổi, phải rút tàu về Hải Phòng.
Quả nhiên như Thừa đoán. Năm hôm đầu, tàu hãng Phúc Lai Thành ế khách thật. Nhưng hãng ấy không chịu rút tàu về Hải Phòng. Hãng ấy chỉ rút tiền vé, hạ mỗi vé hai hào xuống hào rưỡi.
Thấy việc cạnh tranh bắt đầu ra mặt, Thừa không chịu. Hắn cũng hạ mỗi vé xuống năm xu. Khách vẫn đổ xô đến hai chiếc Đại Pháp và Bắc Kỳ.
Pôn và Giăng bán vé sướng tay. Khách đi tàu không những đổ xô quanh chiếu vợ chồng anh hát xẩm, quanh chiếu ông Hai Tây làm trò xiếc, và quanh chiếu anh lùn đóng hề hát chèo, họ còn xúm đông xúm đỏ quanh một vài con công đệ tử, ngay từ nhà, đã mặc áo đỏ, đội khăn xanh, vừa xuống tàu, vừa múa đôi kiếm gỗ một mình như người điên, rồi hò hét, bắt tà, và xiên lình ngay ở trên boong. Tàu hiệu không có những trò giải trí ấy.
Nhưng hai hôm sau, tàu hiệu hạ vé xuống còn có hào hai.
Thừa bảo hai mại bản:
- Không cần. Ta cũng theo. Nếu mỗi chuyến chở được trên hai trăm khách thì vẫn còn lãi.
Thằng Giăng nói:
- Hãng Phúc Lai Thành cậy có trường vốn, nên cho là ta không theo đuổi được.
Thừa bảo:
- Đã đâm lao thì phải theo lao. Dù có lỗ, ta cứ giữ lấy khách. Giữ được nhiều khách thì lỗ ít. Để phen này, chủ An Nam thắng, hay chủ Trung Hoa thắng.
Giá vé lại xuống đến một hào. Thừa bảo:
- Đến mức này là cùng, cho ăn kẹo hãng Phúc Lai Thành cũng không dám hạ nữa.
Nhưng hãng Phúc Lai Thành hạ hai nấc nữa. Hôm trước vé xuống tám xu. Hôm sau, giá vé còn có năm xu.
Thừa đau đớn lắm. Hắn cũng phải hạ.
Chỉ sung sướng cho hành khách. Họ không đi ô-tô, không đi thuyền, không đi bộ, phải bỏ ra hơn năm xu, mà không được nghe chèo, nghe xẩm, xem xiếc, xem con công đệ tử bắt tà xiên lình ngay dưới tàu.
Gần đến ngày hội đền chính, có lẽ không lý gì lại chở khách cung phụng, hãng Phúc Lai Thành vẫn giữ giá vé năm xu, nhưng biếu thêm mỗi người một gói chè Sinh Thái, giá cũng đến một xu.
Thừa không chịu. Hắn không biếu khách bằng chè gói lẻ, mà cứ để nguyên cả gói nửa lạng lấy ở hiệu. Hắn biếu hai mươi người chung nhau một gói. Như vậy lợi cho khách là mỗi người được một gói to hơn gói của tàu hiệu. Mà họ còn hy vọng nếu trúng ảnh Lưu Bị, Quan Công hay Trương Phi, thì được thêm gói chè thưởng nữa.
Thừa còn khiêu khích tàu Phúc Lai Thành. Bao giờ hắn cũng cho chiếc Đại Pháp đi trước tàu hiệu mười phút, rồi khi chiếc tàu hiệu nhổ neo, thì chiếc Bắc Kỳ theo sát liền ngay sau. Thành thử chiếc đi giữa bị chèn. Thế là chiếc này dù to, máy khỏe, nhưng không thể vọt hẳn lên trước, hay lùi hẳn lại sau để lấy khách dọc đường được. Nó phải đi đúng luồng. Chệch luồng thì mắc cạn. Mà chiếc Đại Pháp thì nghênh ngang, lúc lái bên phải, lúc lái bên trái, cốt làm cho tàu hiệu không lách được lối mà nhoi lên.
Rồi gần tới bến, đến chỗ luồng rộng, chiếc Bắc Kỳ nhẹ nhàng vượt chiếc tàu hiệu. Thằng Giăng giục khách đứng ở mạn vỗ tay và reo để chế nhạo chiếc tàu cồng kềnh và vắng khách, làm cho những người làm tàu bên ấy tức và xấu hổ.
Thừa chờ hãng Phúc Lai Thành điều đình với hắn để lên giá như cũ. Nhưng thấy hãng Phúc Lai Thành găng, nên hắn sốt ruột, phải xuống Hải Phòng, điều đình với hãng Phúc Lai Thành vậy. Hắn nói xa xôi là ông chủ quay quắt, xử tệ với người vừa mua lại tàu của ông. Hắn giảng là chủ tàu phải đồng lòng nhau để làm lợi cho nhau, không nên làm hại nhau để lại cho khách họ chẳng ơn gì, mà còn cười mình.
Người Hoa thương giận về tiếng quay quắt, nên lắc đầu:
- Đã ganh nhau thì một còn một mất. Ông cậy ông là người An Nam thì tôi cậy tôi có tiền. Nếu cần, tôi phải đánh đắm tàu Bắc Kỳ của ông, cho nó mất trêu gan tàu của tôi đi!
Thừa vẫn kiên nhẫn:
- Còn vài hôm nữa thì đến ngày hội chính. Khách thập phương đến lễ đền mỗi ngày một nhiều. Nếu ông bằng lòng thì ta cùng lên giá hai hào như cũ. Chỉ thu vài ngày, cũng thừa cái thiệt hại trong từng ấy hôm.
Người Hoa thương cười:
- Thiệt hại, tôi không sợ. Tôi có thể chịu thiệt đến hôm nào tôi độc quyền chở khách. Tức là đến hôm ông không dám cho tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ ra đương đầu với tàu của tôi. Tôi xin nói trước là nếu ông không chịu cho tôi độc quyền, thì thế nào tôi cũng đâm cho một chiếc của ông phải đắm. Chiếc còn lại sẽ mất khách.
Thừa bực mình:
- Ông cứ làm!
Hôm sau, bỗng cả hai chiếc tàu của Thừa từ Kiếp Bạc về Hải Dương vắng hẳn khách đi. Thừa tìm lý do, hắn hỏi hành khách, thì họ nói:
- Bến tàu của ông, người ta ỉa bẩn lắm, cho nên không ai dám đến.
Thừa xuống bến để xem xét. Quả nhiên như thế thật. Hắn biết là thủ đoạn của hãng Phúc Lai Thành, thuê tiền cho người làng làm việc này đây.
Thừa bảo mạch-nô dọn cho sạch. Nhưng hôm sau, bến lại bẩn bằng hai.
Thừa cáu quá. Hắn cho thằng Pôn và thằng Giăng ở lại rình.
Ngay từ tinh sương hôm sau, hai đứa đã phải ra bến. Đã có đến mười người ngồi như bụt mọc ở đấy rồi.
- Các ông ơi! Bến của nhà tôi, các ông đừng làm bẩn, để hành khách có chỗ sạch sẽ mà lên xuống tàu nhé.
Nhưng họ mần thinh.
Người nào xong việc thì đứng dậy. Người nào chưa xong cứ việc làm nốt, như không nghe thấy gì.
Cả hai thằng đều tức.
Bọn người này về, bọn người mới lại đến.
- Xin các ông đi chỗ khác. Đây là bến của nhà tôi. Nam quốc Nam nhân. Các ông đừng hại chúng tôi thế.
- Mặc kệ, tôi không biết. Đất làng tôi, tôi có quyền tự do.
Hai thằng cùng tức. Chúng nó không ngọt nữa. Thấy một người sắp làm việc vệ sinh trái vệ sinh, thằng Pôn hùng hổ:
- Ra chỗ khác!
Người ấy cãi:
- Không ai có phép cấm!
Người ấy cứ tụt quần và ngồi rất tự nhiên.
Nhịn không được, hai thằng phải dùng đến võ lực. Chúng nó xúm lại sừng sộ với một người, khiến người này phải chạy. Nhưng muốn khỏi thẹn với lương tâm là lấy không tiền của người mà chẳng được việc cho người, anh ta rúc vào bụi cây, phạch vội một bãi vào tàu lá chuối khô, rồi ném ra chỗ cấm địa.
Thằng Pôn và thằng Giăng không làm thế nào ngăn ngừa nổi. Khắp mặt bến, nhan nhản những bãi to, bãi nhỏ. Bãi của người lành dạ còn khá nhã nhặn, đến bãi của người độc dạ thì eo ơi, nó nhơ bẩn còn toe toét ra một khoảng đất rộng. Mùi thối xông lên. Hai chú mại bản phải luôn luôn nhổ toèn toẹt.
- Thế này thì còn ai dám bước chân vào đây nữa!
Thằng Pôn lo lắng nói thế. Thằng Giăng đáp:
- Được, ta bàn với pa-pa.
Thừa nghe hai con kể lại việc. Hắn cau mặt, nghĩ một lát, rồi gật đầu:
- Được, pa-pa trị nổi.
Hắn đi Kiếp Bạc, xuống bến, rồi vào làng. Hắn gọi một vài người đứng tuổi đến, rồi nói:
- Tôi là chủ tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ. Ít lâu nay, tôi thấy người làng ta cứ ra bến của tôi để bậy. Hai con của tôi nói thế nào cũng không được. Thôi thì đất của làng, các ông cứ việc tự do, tôi chả dám cản. Tôi chỉ xin dọn thôi. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta là người cùng nước thì chúng ta nên thương nhau mà giúp nhau. Vậy tôi thuê các ông dọn cho tôi. Ai ỉa cứ việc ỉa, nhưng trước khi tàu đến và nhổ neo, tôi nhờ các ông giữ sạch cho hành khách của tôi đi. Người Nam giúp người Nam để cạnh tranh với người khách. Tôi có lợi, mà các ông cũng có lợi. Vậy ai bằng lòng giúp, tôi xin trả tiền ngay.
Vô số người đến nhận việc. Thừa lại nói:
- Nếu các ông giữ bến của tôi được sạch sẽ, thì tôi trả lương hẳn hoi.
Hắn thuê hẳn hai người làm việc dọn cứt.
Hôm sau, hai người này ra bến thật sớm. Họ không phải dọa dẫm, không phải đánh đập ai. Là người làng với nhau, thì họ bảo nhau dễ. Họ ngọt ngào, nhẹ nhàng với nhau thôi. Thế là chẳng một người nào nỡ vác đít ra đấy ỉa bậy, để người làng lại phải dọn.
Bến tàu của Thừa lại sạch sẽ như cũ.
Thấy cha lắm mưu trí, cả thằng Pôn lẫn thằng Giăng phục lăn.
Hãng Phúc Lai Thành thất bại lần nữa. Họ giở đến thói cạnh tranh thâm độc cuối cùng. Lúc gần tới Kiếp Bạc, đến chỗ luồng rộng, chiếc Bắc Kỳ len lên trước, thì lập tức chiếc tàu hiệu xoay ngang ra chắn. Sợ đụng vào thành tàu hiệu, Bắc Kỳ vội vàng hãm máy, và cũng xoay mũi cho trẹo sang bên phải. Bị rùng rình bất thình lình, hành khách nôn nao, chạy ồ cả ra mạn để xem. Chiếc tàu nghiêng lệch đi.
Thừa hét to:
- Mời hành khách bình tĩnh. Không có việc gì cả.
Nhưng người ba-toong tàu hiệu bỏ bánh lái, ra chỗ mạn, trỏ vào mặt người ba-toong Bắc Kỳ:
- Có thách ông đâm đắm không?
Người ba-toong Bắc Kỳ tức nôn ruột, cũng bỏ bánh lái, ra cãi nhau với đối phương.
Thành thử hai chiếc tàu vẫn chạy nhưng không ai bẻ lái. Cả hành khách của hai chiếc tàu đều níu người ba-toong của tàu mình lại để can:
- Thôi. Xin các ông. Thiệt của ông chủ các ông đã đành, nhưng thiệt mạng chúng tôi.
Người ba-toong Bắc Kỳ vào buồng lái. Anh ta nhằm thẳng vào thành tàu hiệu, rồi giật chuông, bảo tài xế mở hết tốc lực.
Thấy tình thế nguy ngập, người ba-toong tàu hiệu vội vàng giữ tay lái, vặn cho tàu mình né đi.
Hai người đỏ mặt tía tai, vẫn trỏ vào nhau để chửi nhau.
Thằng Giăng cầm chiếc gậy sắt, đứng ở mũi tàu, giơ lên, dọa mại bản tàu hiệu:
- Tiên sư mày, ông mà không nghĩ đến tính mạng đồng bào ông, thì thử xem, cái nào đắm trước!
Hành khách qua cơn hú vía, từ hôm sau, họ bảo nhau không đi tàu thủy nữa.
Bốn chiếc tàu lềnh bềnh đi về, mỗi chiếc lơ thơ độ ba chục người.
Thừa bị cạnh tranh, đau như hoạn.
Đền Kiếp Bạc giã hội. Ngày hai mươi mốt âm lịch, qua trận mưa gọi là mưa rửa cửa đền, Thừa cũng cho rửa lại tàu rồi tính sổ.
Hắn thở dài.
Lãi hội đền năm trước chưa bù được cái lỗ hội đền năm nay! Hắn bảo thằng Pôn và thằng Giăng:
- Đấy, chúng mày xem, kiếm nổi được đồng tiền của thiên hạ, đã chật vật chưa!
Nhưng thằng Pôn và thằng Giăng không cần thấy lỗ lãi.
Chúng nó chỉ thấy là trong hai mươi ngày ròng, chúng nó đã làm việc gấp đôi, thì chúng nó phải đòi lương gấp đôi. Chúng nó đòi lương cho chúng nó, chúng nó lại đòi lương cho cả nhân viên làm ở hai tàu.
Lần này, Thừa không ngọt ngào với chúng nó nữa:
- Chúng mày định dùng số đông để bắt ép tao nhượng bộ phỏng?
Thằng Pôn vênh cái mặt bướng bỉnh để cãi:
- Không phải là cái chuyện bắt ép. Chỉ là công bằng mà thôi. Xin pa-pa xét cho rằng tuổi chúng con là tuổi vui vẻ, trẻ trung, chúng con đã phải nghe lời pa-pa, buộc mình vào công việc từng ấy tháng trời. Chúng con hy sinh đoạn đời thanh niên của chúng con, thế là chúng con thiệt quá lắm rồi.
Thừa đập bàn:
- Thanh niên thì ăn chơi, phá của phỏng? Thằng Pôn đáp:
- Thôi, chúng con nói, thì pa-pa cho là cãi, rồi chửi là bất hiếu. Con chỉ nói ngắn một câu là nếu chúng con làm việc thêm giờ, mà không được bồi thường xứng đáng, thì chúng con xin pa-pa cho chúng con nghỉ đúng hai mươi ngày để chúng con được lại sức.
Thừa cười gằn:
- Chúng mày dọa đình công! Chúng mày phải biết ở đây có sở Mật thám. Không lẽ bố con với nhau, mà tao nỡ tố giác tội của chúng mày với ông chánh cẩm Két-x-moa, hay với cụ Sứ.
Nói đoạn, Thừa đứng dậy, mở cặp, lấy ra cuộn giấy bạc, đếm bốn mươi đồng, rồi ghi vào sổ lương:
- Tao lấy tình bố con mà xử với chúng mày, thì tao cho. Nếu tao lấy cái lý ông chủ với người làm công, thì tao bỏ tù chúng mày rồi. Đây, ký nhận đi.
Đưa tiền cho hai con, Thừa giao hẹn:
- Tao cấm chúng mày không được nói hở với chúng nó là tao nhượng bộ. Chúng nó muốn yêu sách gì, thì bảo vào đây, tao sẽ đối phó.
Rồi Thừa lắc đầu:
- Từ đứa lớn đến đứa bé, hư hỏng hết! Tao mất trông cậy.
Thừa muốn nhắc đến tội ba đứa con gái.
Phải, một dạo con Rô-da-lin có xuống Hải Dương làm thư ký cho hãng.
Nhưng nó không ở được trọn một tháng, thì bỏ việc lại về Hà Nội.
Nó bảo:
- Tưởng Hải Dương thế nào!
Nó tưởng Hải Dương cũng hoa lệ như Hà thành, có lắm công tử lượn qua nhà, để ngắm nghía, hoặc trêu ghẹo nó.
Nhưng hãng tàu Trần Đức Thừa ở bờ sông, suốt ngày chỉ rầm rập những người làm ăn, lam lũ. Có ra đến phố chính, vào sáng chủ nhật, thì họa hoằn nó mới trông thấy một người đáng nhìn.
Nó giục thằng Pôn, thằng Giăng, chiều chiều dắt nó đi chơi phố, hoặc đến sân quần vợt. Vì ở đó có nhiều công chức trẻ. Nhưng hai thằng anh có chỗ chơi riêng của chúng nó. Cho nên con Rô-da-lin không chịu được nỗi hiu quạnh trong tâm hồn. Nó nói với Ma-ri:
- Con không ở đây nữa. Mặc pa-pa với ma-măng! Con là phận gái, bé thì cha mẹ phải nuôi, lớn thì chồng phải nuôi, già thì con phải nuôi. Không cần làm việc gì cả.
Thế là nó xách va-ly về Hà Nội.
Hồi đầu, Thừa định dần dần đưa cả con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít lẫn con Ca-mê-li-a về Hải Dương, để Ma-ri trông nom. Thừa biết là chúng nó không thể tự do một mình ở chốn phồn hoa, có lắm cái khêu gợi cho dễ hư đốn.
Vì không thực hiện được kế hoạch như ý muốn, Thừa phải bảo Ma-ri về Hà Nội ở luôn với con gái, chỉ chiều thứ bảy hãy xuống Hải Dương, thay công việc mại bản cho con trai nghỉ việc ngày chủ nhật.
Một chốn đôi nơi, mà sự thực là ba nơi, vì còn Xuy-dan sắp đẻ nữa, Thừa thấy lúc nào cũng phải phân tâm, và lo lắng vì ăn tiêu ngày một tốn kém.
Bọn con gái ở Hà Nội được kéo cái đời vô công rồi nghề. Vì nhà rộng, mỗi đứa ở một buồng, để tiện tiếp bạn riêng. Cả con Ca-mê-li-a, bé loắt choắt như con chuột nhắt, cũng cố nuôi tóc cho dài, để chải cho mượt, được khen là suối tóc. Nó cũng đánh phấn, bôi son. Nó học được giọng nói của mẹ, bắt chước được điệu bộ của hai chị. Nó cũng có khối bạn trai.
Buồng của con Rô-da-lin và của con Ma-gơ-rít như cái trạm nằm chờ. Chờ chồng. Ở đầu giường, cuốn Đời mưa gió, tập báo Loa, báo Phong hóa, Tiểu thuyết thứ ba, để ngổn ngang. Trên mặt bàn, là một cuốn tập ảnh chúng nó chụp. Cạnh sách ảnh, có quyển vở, bìa dày, màu đá hoa, bọc giấy bóng kính, trong là giấy lụa đỏ. Vở này, chúng nó chép những bài thơ mà chúng nó thích, nên có tên viết ở bìa. Vở của con Rô-da-lin đề là Tâm sự em bằng chữ đỏ. Vở của con Ma-gơ-rít thì vẽ một trái tim, có hai chữ kẻ mờ là E và chữ M.
Ngay trang đầu vở Tâm sự em, con Rô-da-lin chép một bài, không biết nó lấy ở đâu, y như một bản tuyên ngôn cho lý tưởng của nó:
 
XÂY ĐẮP TƯƠNG LAI
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng môi son.
Nhất là được cậu huyện non,
Nhì cậu tham đốc, ba con nhà giàu.
Một ô-tô, dãy nhà lầu,
Sẵn tiền, mợ sẵn kẻ hầu, người sai.
Tài xế đưa mợ đi chơi,
Cơm thì thằng bếp là người chuyên môn.
Từ gạch hoa đến lọ, đôn,
Từ bàn mộc, đến án sơn, đồ đồng,
Thì thằng Nhỏ phải làm xong,
Đánh, chùi cho bóng là công một ngày.
Còn việc vặt mợ bảo đây,
Đưa ống nhổ, cất khăn tay, quạt hầu.
Lấy tăm, rót nước, gội đầu,
Gãi lưng, rửa cẳng, vá, khâu, giặt, là,
Lại thêm những việc ngoài nhà,
Thuê truyện, mua quà: bổn phận con sen.
Mạ là bà chủ, người trên,
Có sai kẻ dưới, trả tiền mới công,
Lấy chồng mà đáng tấm chồng.
Bõ khi trang điểm, má hồng, môi son,
Nào chàng tham, đốc, huyện non!
Nào con ông chủ! Đưa đơn! Em chờ.
Còn tuồng phán, ký, giáo sư,
Xin đừng bén mảng mà dơ dạng hình!
Trăm năm chồng vợ là tình,
Nghìn năm vàng bạc mới thành tơ duyên.


Như vậy, con bé đỡ phải giãi bày ý kiến. Cậu nào có đúng tiêu chuẩn trong bài thơ, thì có tâm sự em.
Biết lũ con gái là hư, nhưng Thừa không bỏ phí chúng nó. Thừa cắt chúng nó vào việc đúng với sở trường của chúng nó là ngoại giao với sở Lục lộ. Sở này có quyền hạn và nhiệm vụ khám xét các phương tiện giao thông vận tải chạy bằng máy móc. Và chỉ có sở ở Hà Nội với Hải Phòng làm việc này. Thừa thấy rằng tàu của hắn đỗ ở Hải Dương, mà phải bỏ khách để chờ được kiểm soát thì thiệt hại. Hắn đặt giải cho hai con gái, đứa nào đưa được người kiểm soát về Hải Dương để người ấy khám xét, thì được trọng thưởng. Việc này, con Ma-gơ-rít đã thành công. Người Pháp trẻ, nhận là bạn thân của nó, đến Hải Dương, lần nào cũng vậy, không dòm ngó gì đến tàu thủy thế nào, mà chỉ uống rượu, nếm hoa quả, ăn tiệc. Người ấy coi Thừa như cha, vì cũng gọi Thừa là pa-pa.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIV
TAI BAY VẠ GIÓ  
 
Ta chưa biết đến ngày nào thì Thừa bỏ Xuy-dan. Nhưng ta thấy Xuy-dan là người được sống với Thừa lâu nhất từ trước đến nay.
Sự kiện này tuy là trái ngược với thói quen chơi gái của Thừa, nhưng không phải không có lý do.
Một là bây giờ Ma-ri về ở Hà Nội với lũ con, thì Thừa không để lỡ dịp được tự do này. Và bài tiết những tinh khí của các chất bổ mà hắn nuốt ở đằng miệng vào, là một sự cần thiết đối với hắn.
Hai là hắn có cảm tình với Xuy-dan, Xuy-dan dịu dàng, thật thà. Những đức tính mà hắn không được hưởng ở Ma-ri, làm cho hắn mến Xuy-dan. Hắn lại thấy đời Xuy-dan như có cái gì đau khổ. Thì không biết cái tình cảm nào trong người hắn thỉnh thoảng bắt hắn phải nghĩ đến Xuy-dan mà thương.
Ba là bây giờ hắn đứng tuổi. Cái tuổi này thường hay khiến người ta nói những điều mà người ta vẫn nghĩ trái lại hoặc làm trái lại. Tức là những điều thuộc về lẽ phải, chữ gọi là đạo đức, luân lý. Cho nên, mỗi khi thấy lũ con hư, Thừa thường giảng đạo đức, luân lý cho chúng nó.
Nhân những dịp ấy, Thừa cũng học được ở lời hắn nói ra, mà đỡ được đôi chút làm bậy. Hắn đã thấy gần một người đàn bà, đến khi người ta có chửa thì bỏ, là làm bậy. Và nay dan díu với người này, mai dan díu với người khác, để khổ cho người ta, là ác. Vả lại, một khi hắn thấy Xuy-dan ngoan ngoãn, hiền lành, không thiết tiền bạc, lại chiều chuộng nghe lời hắn, và trung thành, dịu dàng với hắn như một người vợ, thì hắn thấy Xuy-dan như một cái gương sáng cho hắn soi, để chịu ít ảnh hưởng tốt.
Nhưng cái lý do làm cho Thừa chưa nghĩ đến việc buông ngay Xuy-dan, vì Thừa đã dùng cái nhà của Xuy-dan thuê, làm chỗ để giấu của. Hắn là chủ hãng tàu thủy. Hãng ấy là một công ty: gồm hai người, là hai vợ chồng. Ma-ri đã bán đồn điền cho nhà thờ để lấy tiền, chung cổ phần với hắn. Nhưng cái tính gian giảo của hắn vẫn xui hắn phải ăn bớt lãi, để khỏi chia nhiều cho Ma-ri. Hắn thấy Ma-ri hết sức lờ mờ, phó thác hết công việc, từ nhỏ đến lớn, nên hắn cho là thu cũng tay hắn, chi cũng tay hắn, mà vào sổ cũng tay hắn, thế mà hắn không bịp, cũng uổng.
Vì vậy, hắn phải tìm một nơi chắc chắn, để giấu tiền của công ty.
Nơi ấy là nhà Xuy-dan.
Nhà này luôn luôn có người ở. Xuy-dan lại thật thà, không thiết tiền, hắn tin cậy được.
Nhưng không phải Thừa tin cậy Xuy-dan đến cái mức là có đồng nào giao cho Xuy-dan giữ hộ đồng ấy. Hắn chỉ tin cậy là Xuy-dan không ăn cắp của hắn. Có thế thôi.
Vì vậy, hắn sắm một cái tủ áo. Mỗi cánh tủ này có một khóa riêng. Một ngăn, hắn cho Xuy-dan dùng, giao thìa khóa cho Xuy-dan giữ. Còn một ngăn, hắn dùng thì hắn giữ thìa khóa. Ngăn của hắn, chỉ đựng một cái két. Két này là một chiếc hòm vỏ kẽm, dài bốn mươi nhăm phân, rộng ba mươi phân, cao mười lăm phân. Két đóng bằng hai khóa chữ và một khóa vặn bằng thìa. Hai núm vặn chữ ở hai bên, giữa là cái lỗ vặn thìa khóa. Phải biết cách mở khá hiểm hóc này. Muốn mở két mà cắm ngay thìa vào lỗ khóa ở giữa thì thìa không vào. Hoặc nếu vặn núm chữ trước, thì núm cũng không xoay. Đầu tiên, phải ấn khẽ đầu ngón tay vào núm bên phải, thì núm mới chuyển động được. Xoay nó để tìm cho đúng chữ. Khi chữ đã đúng, thì mới cắm thìa vào lỗ được. Vậy núm chữ đầu tiên dùng để mở cửa lỗ thìa khóa, cắm thìa khóa vào lỗ. Khi vặn, thì mỗi nấc nảy ra một tiếng chuông. Tiếng chuông ấy báo là khóa có người vặn. Ai gian, sẽ bị lộ. Nhưng muốn mở đúng khớp, phải đếm xem nếu đã đủ tiếng chuông thì ngừng tay. Ví dụ là bốn tiếng. Nếu không biết, mà vặn thìa cả một vòng như khóa thường thì không được. Ba tiếng chuông trở xuống thì thiếu. Năm tiếng chuông trở lên thì thừa. Vặn ra đúng bốn tiếng mới quay được cái núm bên trái. Nếu không đúng, thì núm ấy không xoay. Bây giờ núm ấy xoay rồi, thì phải vặn cho đúng vào chữ đã để. Nhưng biết cách xoay các khóa rồi, mà nếu mở nắp bằng tay thì lại không được. Bây giờ phải quay thìa khóa ở giữa thêm một nấc nữa. Khi một tiếng chuông vừa đánh, thì tự nhiên nắp bật lên. Một hồi chuông to hơn, rền lên độ mươi giây đồng hồ để báo động lần thứ hai.
Cái két này, ở đấy có một lỗ thủng, để xuyên chiếc bù-loong, vặn nó liền với tủ. Cái đầu bẹt của bù-loong ở phía ngoài két. Cái chốt lục lăng vặn xoắn ốc vào bù-loong thì ở phía trong két. Cho nên, muốn ăn cắp két, thì phải khênh cả tủ. Khi lấy được két, mà không biết cách mở cũng chẳng lấy được tiền.
Cái két của Thừa đã như vậy, thế mà không bao giờ có mặt Xuy-dan, hắn lại mở. Cho nên hắn cất bao nhiêu tiền, hay lấy đi bao nhiêu, Xuy-dan đều không biết. Xuy-dan chỉ biết là trong ngăn tủ của Thừa, có cái két đựng tiền, thế thôi.
Xuy-dan khuyên Thừa:
- Phố Đông Quan này vắng, anh hay về đêm, tay lại xách cặp tiền, thì nên cầm cái gì để giữ mình. Chiều hôm qua, có người bị cướp giật đấy. Anh phải cẩn thận.
Thừa đáp:
- Cái súng bắn chim, anh phải để ở sở, chứ đem về đây không tiện. Anh đương xin phép mua một khẩu súng lục.
- Anh chưa có súng mà cứ đi tay không, em lo lắm.
Thừa hỏi:
- Những đêm thứ bảy và chủ nhật, anh không về, em ngủ một mình, em có sợ không?
Xuy-dan gật đầu:
- Có.
Thừa an ủi:
- Vì cái két của anh nhỉ. Nhưng biết làm thế nào? Vợ anh phải xuống đây chiều thứ bảy để thay cho các con anh ngày chủ nhật. Sáng thứ hai mới về Hà Nội. Anh ngủ ở sở, anh cũng không yên tâm đâu.
Nhân Thừa nói đến vợ con, Xuy-dan cười:
- Các con anh có vẻ nghịch ngợm lắm thì phải?
- Em biết mặt chúng nó à?
- Có.
Thừa nghiêm nghị:
- Em gặp chúng nó, thì nên tránh, kẻo chúng nó chòng ghẹo đấy.
- Vợ anh, mãi em chưa biết mặt.
- Biết làm gì? Không nên biết.
Xuy-dan cười:
- Vâng.
Chờ mãi Thừa chưa được giấy phép mua súng lục, Xuy-dan mua cho Thừa một con dao găm, và đánh một đôi dao quắm, để đặt ngang đầu giường.
Thấy vậy Thừa nhạo:
- Dao quắm nặng thế này, em có cầm nổi không, hay lại để biếu kẻ gian!
Xuy-dan cười:
- Chiều nào em cũng tập nửa giờ.
Tối hôm ấy là chủ nhật.
Xuy-dan ngồi một mình, tay thoăn thoắt chiếc kim đan. Cô đan áo cho đứa con sắp ra đời.
Bỗng cô nghe thấy ở ngoài sân có tiếng động. Tự nhiên, cô chờn chợn. Cô đứng dậy, đóng cửa gài then lại, rồi tắt đèn, lên giường nằm.
Xuy-dan trằn trọc mãi, không ngủ được.
Đến quá nửa đêm, lúc đương thiu thiu, bỗng tự nhiên Xuy-dan mở bừng mắt ra. Cô giật nảy mình. Cánh cửa hé mở. Kẻ gian đã cạy được then từ lúc nào, mà cô không biết.
Xuy-dan vội vàng lên tiếng:
- Ai?
Cánh cửa mở toang ra! Một người lực lưỡng xông vào giường, chẹt lấy cổ Xuy-dan.
Nhưng cũng ngay lúc ấy, Xuy-dan vừa rút được con dao.
Kẻ gian nghe thấy tiếng sắt, vội vàng né ra xa. Xuy-dan thoát được tay nó, vừa kêu lên vừa bổ lia lịa.
Nhưng kẻ gian khỏe hơn. Nó tóm được con dao. Nó bập mạnh vào đầu Xuy-dan, rồi ù té chạy. May cho cô, là vì tối và nó luống cuống nên nó cầm ngang lưỡi dao Xuy-dan không bị thương, mà chỉ đau điếng, nằm bất tỉnh.
Hàng xóm chạy sang. Đèn bật lên.
Họ gọi Xuy-dan và xoa bóp cho cô. Xuy-dan lịm đi, đến mười phút mới tỉnh.
Đầu cô ê ẩm, làm cô phát sốt đến mười hôm.
Thừa rất thương Xuy-dan. Hắn xoa tay vào bụng cô:
- Thật là vì anh nên em bị tai nạn! Chắc thằng kẻ trộm biết là anh để tiền ở nhà.
Xuy-dan nói:
- Và nó cũng biết những đêm nào anh ngủ ở nhà, những đêm nào anh ngủ ở sở, nên nó mới dám vào.
Thừa lo lắng:
- Nó mà hại được em, thì cái thai này hỏng và cái két tiền của anh cũng không còn.
Hắn bảo Xuy-dan tìm nhà ở phố đông, và nuôi vú giờ giúp việc, để những đêm cô ngủ một mình, có người nọ người kia, nhà đỡ vắng.
Xuy-dan vâng theo.
Thừa đưa cho cô mười đồng:
- Mỗi tháng, anh đỡ cho em khoản chi tiêu này.
Nhưng Xuy-dan lắc đầu, cười:
- Để em dạy thêm mấy đứa nữa. Bao giờ em đẻ, không dạy học được, thì em xin anh, anh hãy cho.
Thừa cảm động:
- Em Xuy-dan, ai cấm nổi anh không được coi em như vợ chính thức của anh nhỉ!
Xuy-dan sung sướng, lòng thổn thức, trái tim đập rộn ràng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0