Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đóng Rác Cũ - Nguyễn Công Hoan

66 trả lời, 128 lượt xem — Trang 3 / 3
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 12:29:20 bởi Thanh Vân>
XV
VINH DỰ CÁI CON RỒNG  
 
Thừa được thưởng Nam long bội tinh. Có bút nào tả nổi nỗi sung sướng này?
Ta hãy tưởng tượng một người phu kíp, một người cu-li kéo quạt, một người đi chào khách cho hàng cơm, một người bán rong thuốc trên các xe các tàu, người ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời mình lại được đấng Thiên tử gắn cho bội tinh vào ngực?
Ta lại tưởng tượng một thằng sống toàn bằng gian ác, nó buôn thuốc lừa bịp, chữa bệnh lừa bịp, nó buôn nhựa lậu, mở sòng bạc lậu, nó bỏ vợ tấm cám, nó giết vợ lương thiện, nó phản bạn, phản ân nhân, nó hại dân, hại nước, thằng ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời nó được đức Thiếu quân anh minh của nước nghìn năm văn hiến thưởng cho nó ngôi sao rồng cao quý của triều đình?
Nhưng nếu ta có óc tôn quân, thường dùng thêm tiếng ngự để cặp vào những động từ chỉ hành động của cái người được gọi là Thánh thượng, mà ta lại tưởng lầm là những kẻ hèn hạ, những thằng gian ác không đời nào giàu có, danh giá, thì, nếu ta thấy trước kia, mụ vợ tên cố Hồng được phẩm hàm đường quan, con đĩ tây Bé Tý được Kim bội, chắc là ta không ngã ngửa người nữa, khi nghe tin Trần Đức Thừa bây giờ được bội tinh của Nam triều.
Ma-ri đã chẳng nhiếc móc Thừa là phải nhờ cái mồm thằng Tây và cái thử khoản của hắn là gì? Thật vậy, hai cái ấy tạo nên thế lực, tạo nên tiền tài, để đẻ ra cái sao rồng của tên vua bù nhìn cho hắn.
Cho nên Thừa sung sướng quá. Biết bao thì giờ, tâm trí và tiền bạc mới được hiển vinh như thế này. Hắn đương từ dưới đất đen nhảy tót lên mây xanh, tới chỗ số đỏ! Phen này thì phải khao ra khao!
Trước hết, Thừa bàn với Ma-ri về địa điểm để mời khách. Ở quê hắn? Hắn không có nhà cửa gì hết. Vả cố nhiên Ma-ri không bằng lòng cho hắn khao ở quê. Ở Hà Nội? Hắn chỉ có bốn chiếc nhà, tuy không xấu, nhưng ba chiếc cho thuê, chiếc đẹp nhất, rộng nhất, hắn giữ lại để ở, nhưng không thể chứa được mỗi lúc vài chục người khách. Ở Hải Dương? Nhà này chỉ là sở làm việc, nó tầm thường, không xứng đáng cho những vị khách quý bước chân tới.
Chợt hắn nghĩ ra. Mùa này là mùa thu. Có một nơi rất nhiều nhà đẹp mà không có người ở. Xung quanh, phong cảnh lại rất nên thơ. Ấy là những biệt thự ở các bờ biển. Thừa quyết định thuê ba biệt thự liền nhau ở Đồ Sơn. Bởi vì khách khứa gồm ba hạng khác nhau.
Biệt thự xoàng hơn cả, thì tiếp khách thường. Ấy là những người làng, người họ, những người làm công, những người mang ơn hắn.
Biệt thự đẹp vừa thì tiếp khách tỉnh thành, các công chức và bạn bè của hắn.
Biệt thự đẹp hơn cả thì tiếp các quan, các người được gọi bằng quan, các người có giá trị ngang với quan và các khách tây.
Ăn thì, cơm tàu, hắn thuê hầu sáng cao lâu ở Hải Phòng ra. Cơm tây, hắn thuê bếp ô-ten ở Hà Nội xuống. Cơm tàu có một người gọi là bếp chủ. Cơm tây có một người gọi là xếp. Hai người đầu bếp có nhiệm vụ mua các thứ để nấu nướng. Những người này kê thực đơn trong một tuần lễ, rồi đi Hà Nội, Hải Phòng sắm về. Một chiếc ô-tô con, thường trực để dùng vào việc vận tải. Nhưng khách muốn thứ gì mà hỏi đến, người đầu bếp có quyền đánh dây thép thẳng đến hiệu buôn, yêu cầu gửi ngay thứ ấy ra.
Khách được mời dự tiệc khao sẽ có ô-tô đến đón tận nhà. Họ ở chơi, hôm nào chán, muốn về, thì có xe tiễn tận nhà.
Các thứ chơi thì ngoài phong cảnh, ngoài việc gặp gỡ nhau để chuyện gẫu, có tổ tôm, có thuốc phiện, có cô đầu, có gái nhảy. Thừa đã chọn được năm cô đầu rượu vừa đẹp vừa trẻ, vừa nhí nhảnh, và năm cô đầu hát, nổi tiếng là danh ca. Tiệm Ô-đê-ông đăng-xinh tạm đóng cửa để cho mười hai cô gái nhảy về phục vụ.
Khách ở chơi, không cần có chủ tiếp. Họ sẽ tự làm chủ, coi như ở nhà họ. Bởi vì sẵn kẻ hầu người hạ, đeo chiếc băng đỏ ở cánh tay trái, thì ai muốn gì cứ bảo.
Dự định như vậy, Thừa rất tự hào. Hắn cho là chỉ thua có tiệc khao của ông nghị Lại Văn Trung ở Thái Bình thôi, ông Lại Văn Trung xuất thân là lái lợn, rồi sau có đến hơn nghìn mẫu ruộng, được thưởng đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh. Chiếc mề đay này chỉ quan nào làm đến tổng đốc mới được, ông Lại Văn Trung ở cách tỉnh bốn cây số. Ông khao hẳn một tháng. Ông đưa điện từ thị xã về nhà để thắp đèn. Ông cấm người làng, trong một tháng, không bếp nhà nào được có lửa. Nghĩa là đến nhà ông mà ăn.
Ngày khao chính, ngày Thừa được công sứ Mát-xi-li nhận lời về dự tiệc, là ngày long trọng nhất.
Từ cổng biệt thự vào đến thềm, chiếu cạp điều mới được trải cái nọ liền cái kia. Ở sân, thiết lập hương án bái vọng Vua. Hương án cũng bày trên chiếu cạp điều, nhưng là chiếu hoa cho trịnh trọng. Bày chếch về hướng Nam. Trên hương án, có giá gương, có độc bình cắm hoa và có đèn nến ở hai bên, giữa là chiếc đỉnh đồng lớn để đốt trầm. Sau đỉnh trầm là cái hòm sắc phủ ngoài bằng mấy vuông nhiễu hoa, màu cánh sen. Hòm sơn son thiếp vàng, mới sắm, trong có đạo sắc bội tinh giấy vàng in rồng bằng ngân nhũ, và chiếc hộp đỏ lót xa-tanh trắng, đựng bội tinh.
Thừa đội khăn, mặc áo gấm lam, quần nhiễu tây trắng và lận bít tất tơ, giày ban da loáng đen nhoáng.
Hôm nay, hắn không cười. Lúc nào đối với khách, dù là khách hay cợt nhả, hắn cũng vâng, dạ, rất lễ phép. Rõ là cử chỉ một nhân vật thượng lưu.
Mười giờ sáng, ô-tô thượng tá Hải Dương tới. Đây là vị quan đại diện cho quan tổng đốc về gắn bội tinh cho Thừa.
Thừa vội vàng ra tận cổng vái chào.
Thượng tá xuống xe, bắt tay chủ nhân, rồi đi vào buồng khách giải khát.
Thừa thấy người lính mang theo hòm mũ áo thì hắn yên tâm. Người đại diện cho cụ thượng này, vì muốn giản dị, nên chỉ định mặc áo thụng, khi tuyên sắc mà thôi. Thừa đã phải khấn đủ một trăm, vị quan gắn bội tinh cho hắn mới bằng lòng đội mũ, mặc áo triều đình cho trọng thể.
Uống nước xong, thượng tá vào buồng riêng để bận phẩm phục. Buồng này là buồng đặc biệt, nên bày lọ hoa, tủ gương, lại có chậu thau, xà-phòng và khăn tay mới. Sau khi rửa mặt bằng nước ngũ vị sực mùi hồi và mùi quế, tên quan thay thường phục để mặc phẩm phục.
Bởi vì y là chức tri phủ hạng nhất, hàng chánh ngũ phẩm, thì là thuộc quan thôi, nhưng giữ nhiệm vụ thượng tá, thì lớn nhỏ cũng là quan tỉnh, nghĩa là đường quan. Cho nên mũ áo của y nửa là chánh ngũ, nửa là tòng tứ. Vì chưa làm bố chánh, y chưa sắm áo mới, màu khác, vì đắt tiền nên vẫn mặc áo thêu, màu lá cây, nhưng trên mũ y gắn đôi giao long bằng bạc ở phía dưới cầu.
Sắm sửa xong, y cầm chiếc hốt ở hai tay, đi nhẹ nhàng bằng đôi hia vải, trên nền gạch có trải chiếu.
Nếu các bạn độc giả thanh niên đọc đến đây, chê là tác giả tả một thằng phong kiến ăn vận phong kiến mà nói sơ sài quá, các bạn chưa thể hình dung ra được, thì tác giả xin mời hôm nào các rạp hát diễn tuồng, thì các bạn vào xem. Ở đây, có những vai đóng vua, có những vai đóng quan. Các bạn muốn biết thượng tá Hải Dương lúc này thế nào, thì các bạn cứ nhìn một vai quan, nhưng điều cốt yếu, là các bạn phải tự thí dụ là vai tuồng ấy không đeo râu bằng lông đuôi ngựa. Đúng thế, mồm thượng tá nhẵn thin thín. Vì y vừa cạo râu. Y lại đeo kính trắng, gọng giả đồi mồi.
Người thay vua bù nhìn xuống thềm.
Hàng trăm khách của Thừa đã đứng đợi ở sân. Một tràng pháo tay nổi lên vang dậy để chào.
Đây là cách hoan nghênh kiểu văn minh.
Quan vẫn nghiêm trang. Mắt nghiêm trang. Mặt nghiêm trang. Dù trước mặt ngài có vô khối má hồng, vô khối môi son, vô khối mắt huyền, và vô khối áo màu như luống hoa sặc sỡ, ngài vẫn nhìn thẳng, tiến từng bước thong thả. Nhưng không hiểu vì sao, ngài không đến hương án bái vọng bày cách thềm không xa. Ngài vẫn nhìn thẳng, và đi chếch ra phía cổng. Mọi người nhìn theo, thấy ngài đi xa hương án quá, đều ngơ ngác. Thì ra thế này: tới chỗ nên quành đúng giữa hương án, ngài mới quay ngoắt lại, đi thẳng vào. Mọi người trầm trồ:
- À ra thế. Ngài không dùng tà đạo, mà theo chính đạo.
Thừa đã chờ từ lâu, nhưng đứng ngoài chiếu. Hắn cũng mặc như khi nãy, nhưng thêm ra ngoài chiếc áo thụng lam mới may.
Bỗng hai bên chiếu, trước hương án, hai người thông phán ty tổng đốc, cũng mặc áo tấc, khuỳnh hai tay chắp, và giơ ngang miệng. Họ làm cái việc gọi là xướng tế. Tức như trong bộ đội, người chỉ huy hô các động tác. Nhưng khác người chỉ huy bộ đội, họ không hô bằng tiếng ngắn cho mạnh, cho hùng, mà họ xướng. Tức là nói to, nhưng thong thả, ê a như hát. Họ đọc từng động tác cho người vào tế làm theo. Họ xướng bằng chữ nho, ví dụ tựu vịvào chỗ, bình thânđứng thẳng, báilạy, hưngdậy, vân vân. Nhưng vì mấy ông thông phán không biết chữ nho, và không thuộc trật tự các động tác, nên phải biên sẵn bằng quốc ngữ vào tờ giấy nhỏ, để khi khuỳnh tay trước mặt, các ông nhìn vào để đọc.
Thừa cũng vậy. Hắn đã học nghĩa từng tiếng hô, và thuộc lòng trật tự các động tác. Cho nên, dù mấy ông thông phán xuống lấy giọng cho dõng dạc, đến nỗi từng tiếng chỉ phát âm lơ lớ, ví dụ Bình thân thì Bì thơơơ ơ ơơ, Hưng thì Hơơơ ơ ơơ, Thừa cũng nghe hiểu và làm không sai.
Khi bên đông xướng đến tiếng tuyên sắc, thì thượng tá bước vào chiếu. Bên tây xướng xướng cho Thừa quỳ xuống, thì tri huyện tập sự ở dinh tổng đốc - anh chàng này trẻ lắm, vì mới đỗ năm ngoái - lon ton, để cả giày tây, bước vào chiếu, đúng trước hương án, chắp tay vái một cái, rồi mở hòm sắc, lấy tờ giấy vàng, đưa bằng hai tay cho thượng tá. Trong khi tên quan này mở rộng tờ sắc ra trước mặt, thì tri huyện để sẵn hộp bội tinh ra mé thành hương án, vái nhanh một cái, rồi lùi ra ngoài chiếu. Hắn nhìn mọi người, tủm tỉm cười.
Tiếng xướng Độc sắc. Thượng tá e hèm để lấy giọng, rồi vái một vái mới đọc lòng sắc. Lòng sắc một bên là chữ Hán, một bên là chữ Pháp. Vì y không biết chữ Hán, nên đọc chữ Pháp. Đọc xong, y lại vái, cuộn tờ sắc, bỏ vào hòm, rồi mở hộp bội tinh. Lúc này, Thừa hồi hộp nhất. Thượng tá gắn chiếc bội tinh vào ngực áo của Thừa có khâu sẵn hai cái khuyết nhỏ. Rồi hắn cúi xuống, giơ bàn tay ra ngoài áo thêu, chìa về phía Thừa. Thừa hiểu cái cử chỉ ấy. Hắn đương chắp hai tay trong áo thụng, cũng giơ bàn tay ra. Hai bàn tay nắm nhau và rung rung. Thừa vừa bắt tay, vừa cúi đầu rất cung kính.
Tràng pháo tay vỗ vang dậy. Tràng pháo thật cũng nổ vang dậy. Khói xanh bốc như mây, tỏa một hơi thơm, rắc những mảnh xác nhỏ lăn tăn như công-phét-ty. Theo tiếng xướng, Thừa lạy tạ hai lạy. Thế là lễ tất.
Thượng tá trở vào buồng, cởi mũ áo. Thừa cũng cởi áo thụng, và gài bội tinh vào ngực áo phẩm chẽn mà hắn mặc.
Khách khứa đến ngắm chiếc bội tinh, vỗ vai, khen ngợi và chia vui với Thừa. Họ tìm những lời đẹp đẽ nhất để vừa cười vừa nói. Nhưng Thừa vẫn chắp tay, vâng, dạ, rất lễ phép để nhận sự chúc tụng thân mật.
Từ đó, thỉnh thoảng pháo được đốt từng bánh dài. Trong các biệt thự, nổi lên tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách và tiếng hát véo von.
Đến mười một giờ, các quan, các người có giá trị ngang quan, các người được gọi bằng quan vào tiệc.
Thừa và Ma-ri không ăn với khách. Hai người chỉ mời, chỉ kiểm soát xem tiệc thiếu thứ gì, thì sai bảo lấy: ông bà hàn chờ đón cụ sứ, và khách tây đầm.
Hôm nay, khách tây đầm ăn tiệc với cụ sứ không phải quan tiến sĩ y khoa Pi-ca, không phải quan trạng sư Rô-măng, không phải quan cẩm mật thám Pha-lăng-xô, không phải quan chánh đoan Mác-tanh, v.v… Những quan này, kể cả thằng Tây lục lộ trẻ gọi Thừa là pa-pa, họ đều là bạn của Thừa, đã được Thừa mời rồi.
Nhưng cũng không phải quan phó sứ, quan mật thám, quan kho bạc, v.v… là những quan ở tỉnh Hải Dương, mà Thừa là thần dân. Những quan này cũng đã được Thừa mời rồi.
Khách tây đầm đến ngày hôm nay, dự tiệc mừng Thừa với công sứ Mát-xi-li, đều không phải là bạn của Thừa, không phải là các quan ở Hải Dương. Họ không biết Thừa là ai. Vì họ không quen Thừa. Họ đến dự tiệc, vì họ là bạn riêng của vợ chồng Mát-xi-li. Họ được đôi này mời. Vì Thừa đã xin với quan thầy cái vinh dự đặc biệt ấy.
Vậy cái biệt thự sang trọng nhất, hôm nay được tiếp tên quan chủ tỉnh Hải Dương và những bạn bè của nó mà nó viết thiếp mời, y như nó bỏ tiền của nó ra thết tiệc vậy.
Tất cả là ba mươi hai đứa, cả đực lẫn cái. Chúng nó bắt tay vợ chồng người chủ bữa tiệc, tức là người mời chúng nó. Thừa cũng đứng đón. Tên công sứ cũng giới thiệu Thừa với chúng bạn. Có đứa bắt tay Thừa, vỗ vai Thừa, và đập tay vào ngực Thừa để khen ngợi và chúc tụng.
Nhưng cũng có đứa được Thừa vái, chỉ gật đầu trả lời. Và có một vài đứa, không gật đầu.
Bữa tiệc này có thể nói là bữa tốn kém nhất từ trước đến giờ.
Trong buồng khách và trong buồng ăn, bày toàn hoa tươi mới đem ở Hà Nội về sáng hôm nay.
Mùi thuốc lá thượng hảo hạng tỏa ra thơm phức. Rượu khai vị cũng thượng hảo hạng rót la liệt ra từng cốc con.
Anh bồi đội khăn, mặc áo cộc trắng, dài gần lấp đũng quần, có cổ cồn là bóng, bưng từng khay bạc những rượu và thuốc lá, theo Thừa và Ma-ri đến tận mặt khách để mời.
Trước khi vào tiệc, khách được rửa tay bằng nước pha nước hoa.
Tiệc dùng toàn thìa đĩa bạc. Mỗi món ăn thay một lượt thìa đĩa mới.
Trong khi khách ăn, Thừa và Ma-ri đứng ở buồng cạnh, để thì thầm với bồi, nhắc họ những chỗ sai sót.
Tiệc xong, đến khiêu vũ.
Thừa xin phép tên công sứ cho ba đứa con gái hắn được nhảy hầu các quan.
Được quan thầy đồng ý, Thừa cho chúng nó đến.
Hôm nay, chúng nó mặc đẹp như tiên, đến nỗi các quan đực nhìn thấy phải bấm nhau.
Nhạc du dương nổi lên. Công sứ Hải Dương ôm con Rô-da-lin. Một tên nữa ôm con Ma-gơ-rít. Một tên khác nữa ôm con Ca-mê-li-a. Lũ tây đầm khác ôm nhau, lượn trong buồng. Ngoài sân, pháo nổ ran, khói xanh lọt qua cửa sổ, làm mờ cả không khí, hơi rượu, hơi thuốc lá hòa với hơi phấn, hơi nước hoa, hơi hôi nách, bây giờ trộn với hơi pháo, thành ra một mùi thơm không ra thơm, khẳn không ra khẳn. Thời Pháp thuộc, ta vẫn quen gọi mùi này là mùi tây đầm.
Khiêu vũ hơn một giờ đồng hồ, cả con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít lẫn con Ca-mê-li-a chẳng được nghỉ một lần nào. Công sứ Hải Dương cho vợ ôm thằng khác. Nó chỉ ôm ba đứa con gái của Thừa. Hết lượt này, nó lại ôm lượt khác. Thừa và Ma-ri thấy vậy, thì sung sướng vô ngần. Cả ba đứa con gái cũng rất hoan hỉ.
Thấy mọi người có vẻ mệt nhọc, Thừa xin phép mời các quan thưởng thức cái thú bản xứ.
Hắn bắt cô đầu vào hát. Mọi người cũng lắng nghe.
Nhưng độ mười phút, muốn chừng không chịu được giọng ề a kéo dài, ghê rợn như tiếng rú, tiếng khóc, nhất là tiếng trống chầu vang trong buồng làm chói tai, công sứ Hải Dương cho lệnh nghỉ. Nó làm ra vẻ rộng rãi, mở ví lấy tiền, thưởng cho cô đầu hai đồng, thưởng cho người kép hai đồng, và thưởng cho người cầm chầu hai đồng. Người bạn của Thừa, là ông hàn Dễ, có tiếng là chầu hay, nên được mời lên cầm chầu hầu các quan nghe, thấy cụ sứ thưởng tiền, thì lắc đầu, không cầm:
- No! No! Méc-xi! [119]
Tên thực dân không hiểu vì sao. Và Thừa cũng không làm thế nào mà giảng cho các quan hiểu được cái vai của hàn Dễ.

* * *
Trong thiếp mời các bạn đến dự tiệc khao, Thừa có ghi ở cuối bốn chữ: Xin miễn đồ mừng. Ý của hắn, là nhắc cho mọi người đừng quên việc mừng hắn. Về phía các bạn hắn, họ cũng cho bốn chữ ấy là lời dặn chiếu lệ, cho nên không ai đến người không.
Đồ mừng, phần lớn là câu đối đỏ, ba bốn người chung nhau thửa một đôi, mỗi người tốn độ trong ngoài một đồng bạc.
Nhưng tựu trung cũng có những đồ mừng quý giá như chiếc đĩa bạc, cái lọ bằng đồng hun, nhện đồng bạch, để cắm hoa, hoặc một bức thêu nền xa-tanh. Ấy là đồ mừng của những người bạn thân.
Thừa treo và bày những thức ấy khắp mấy gian nhà, để người không mừng gì phải nghĩ ngợi.
Trong các đồ mừng, câu đối bằng chữ nho, ít người hiểu, nên không ai bàn tán mấy, người ta chỉ thì thào với nhau nhất về bức thêu mà lạc khoản là Nguyễn Thúc Lăng.
Thừa có mời ông Lăng. Hắn yên trí lão giờ này chỉ đến người không. Ông được cái lãi ăn cỗ không mất tiền. Ông ở đến bao giờ cũng được, khứ hồi không tốn một xu nhỏ. Nhưng đến khi ông thầu khoán già đưa tặng bức thêu, thì cả Thừa lẫn Ma-ri đều ngạc nhiên. Cảm động làm sao!
Thừa bèn nhanh nhẩu treo ngay ở giữa nhà.
Bức này thêu con rồng. Rồng là vua. Cũng có ý là bội tinh Nam long. Thừa thích cái ý nghĩa sâu xa mà ông Lăng nghĩ ra để mừng hắn.
Nhưng Thừa chỉ thích bức thêu ấy đến hôm ông Hoài Tân Tử vừa đen vừa cao ngất nghểu đến mà thôi.
Ông nhà thơ đọc các câu đối, và ngắm đến bức thêu rồng.
Thấy tên người tặng là Nguyễn Thúc Lăng, ông nói đùa với Thừa:
- Thằng cha dễ thường dở chứng chết!
Nhưng bỗng ông nghiêm nét mặt, có vẻ suy nghĩ, ông hỏi Thừa:
- Hay là treo ngược?
Ma-ri bĩu môi:
- Xin lỗi nhé. Nếu treo thế kia thì ngược chữ à?
Ông Tình muôn thuở gật gật, hẳn ông biết là ông nói sai.
Ông mới bấm Thừa và Ma-ri vào buồng riêng, ông nói:
- Chúng mày nên cẩn thận các câu đối. Bọn nhà nho hay xỏ mát bằng chữ nghĩa lắm đấy. Ngày trước, lão Lại Văn Trung được Bắc đẩu bội tinh, có người mừng hai chữ Đại Lai.
Ma-ri hỏi:
- Nghĩa là gì?
- Theo nghĩa thì rất hay. Nhất là hai chữ này lại là chữ sẵn lấy trong sách. Chữ trong sách, mà nói đúng được việc của người mình, là tài. Lão Trung giàu, nay được gắn mề-đay sao đỏ, đều là những sự kiện lớn lao nó đến nhà. Đại là lớn, lai là lại.
Thừa gật gù:
- À, thế thì hay chữ thật.
Ông Hoài Tân Tử mỉm cười, xua tay:
- Nhưng hai chữ ấy tài hơn, vì nó chửi Lại Văn Trung cay độc.
Ma-ri hỏi:
- Sao lại là chửi?
- Bởi vì Đại lai là lớn lại, nói lái thì là lái lợn.
Cả Thừa lẫn Ma-ri đều tròn cả mắt lẫn miệng:
- À!
Thừa hỏi:
- Thế những câu đối mừng tao, mày có nghi câu nào xỏ tao không?
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Tao bảo chúng mày cẩn thận thôi, vì tao không biết rõ. Nhưng tao biết đích xác là thằng thầu khoán già nó chửi mày, Thừa ạ.
- Nó chửi tao bằng con rồng?
- Phải, hẳn vợ chồng mày thấy nó chịu bỏ ra mười mấy đồng bạc mua bức thêu cũng phải ngạc nhiên như tao. Tao ngạc nhiên, thì tao nghĩ ngay rằng nó chịu tốn kém để làm gì. Tao sực trông thấy ngay.
Ma-ri nói:
- Rồng là vua. Thằng hàn được Nam long bội tinh là được đội ơn vua ban cho bội tinh con rồng. Nó chửi ở chỗ nào? Mày chỉ khéo tán!
Ông Tình muôn thuở:
- Phải rồi. Rồng. Chúng bay muốn sống thì cất ngay đi không! Phải rồi. Rồng. Nhưng mà lại là rồng lộn, khỉ ạ!
Ma-ri bẽn lẽn:
- Á à! Tiên nhân nó! Đểu thật!
 
Chú thích:
119)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XVI
GIÁ BÀ CỤ CÒN SỐNG  
 
Con Ma-gơ-rít có mang. Nó nhờ bác sĩ Pi-ca phá thai cho nó. Vì vậy, Pi-ca phải xin ý kiến Ma-ri.
Thấy đứa con gái nữa lại đổ đốn. Ma-ri buồn lắm. Hắn muốn mắng nó, nhưng há miệng mắc quai. Hắn sợ con bé cãi lại hắn như một lần trước hắn khuyên nó phải giữ giá con gái. Nó bĩu môi, nguýt một cái thật dài:
- Ma-măng hãy dạy lấy ma-măng ấy.
Nó làm Ma-ri ngượng và phải tịt.
Nhưng không nói không được. Chúng nó bây giờ đã hư mà còn dại nữa. Ma-ri cho rằng ngày bằng tuổi chúng nó, mình khôn ngoan hơn chúng nó nhiều. Biết là để con trai đụng vào thì có thể chửa được, sinh ra rắc rối, nên hắn không mê chuyên một thằng nào. Hắn biết rằng hắn có thể làm khối đứa mê, bỏ đứa nọ thì liền có đứa kia thèm muốn ngay. Nhưng hắn đã không cho đứa nào ngủ với hắn quá ba lần. Với cách thay đổi người luôn luôn như vậy, hắn tin rằng không thể có mang. Và đúng là hồi chưa lấy chồng hắn không bao giờ bị tiếng là chửa hoang. Như vậy, vừa thú là được biết nhiều mùi, vừa hãnh diện với người không biết là treo cao giá ngọc. Nhưng không lẽ hắn đem kinh nghiệm quý báu này ra dạy con. Có một vài lần hắn muốn truyền cho chúng nó cái bí quyết ấy, nhưng lại không dám nói là kinh nghiệm bản thân. Hắn chỉ bảo là hắn biết có người như thế. Thì con Rô-da-lin không những không nhận là bài học hay, còn mạt sát người đàn bà là bạc tình:
- Thế thì gả con khốn nạn ấy cho thằng sở khanh, ma-măng ạ.
Ma-ri sợ việc phá thai lắm. Hắn cho là thất đức. Đến các cha cố còn chịu thà mang tiếng là phá giới chứ các người là bậc tu nhân tích đức, có bao giờ chịu khuyên nhân tình phá thai để mang tội ác là giết con đâu? Mẹ con Rô-da-lin là con ai? Con Rô-da-lin là con ai? Sao con bé không biết noi gương tốt của ông cha nó?
Ma-ri định tỉ tê hỏi con Ma-gơ-rít xem nó có mang với đứa nào. Nếu là con nhà tử tế, thì hắn khuyên con bé lấy quách thằng ấy cho xong. Hắn sẽ gọi thằng ấy đến, giảng giải cho nó, bắt nó cưới ngay lập tức. Như vậy, nhà thi lễ giữ được vuông tròn tiếng tăm. Gia đình này ít ra cũng là ông bà hàn.
Ông lại vừa được thưởng Nam long bội tinh, tiệc khao sang trọng vang lừng khắp nơi, ai cũng phải phục. Thế mà bây giờ hở cái tiếng này lọt ra ngoài, thì nhật trình lại đăng như chuyện con Rô-da-lin ngày nọ cho mà xem.
Vậy Ma-ri định trước hết là phải giấu không cho Thừa biết. Vì Thừa ở Hải Dương, bận việc tàu bè, rất ít về Hà Nội. Vả nếu Thừa có thấy con bé nằm một chỗ, thì nói dối là nó ốm, chắc Thừa sẽ không ngờ.
Nhưng tra con Ma-gơ-rít, Ma-ri nghĩ rằng phải khéo léo hơn hỏi con Rô-da-lin. Vì con em kín đáo, lại dễ tủi thân, chứ không phổi bò như con chị.
Tối hôm ấy, Ma-ri nằm với con Ma-gơ-rít. Hắn nói chuyện mưa nắng chán chê, rồi mới vào đề:
- Ma-măng mới gặp ông đốc tờ. Ông ấy nói rằng con vừa đến xin thuốc ông ấy. Con xin thuốc gì thế?
Trái với sự ức đoán của Ma-ri, con Ma-gơ-rít vui vẻ, trả lời rất tự nhiên:
- Con nhờ ông ấy phá thai cho con.
Ma-ri cau mặt:
- Sao lại phá?
Ma-gơ-rít tặc lưỡi, nói vẻ chế nhạo:
- Ma-măng lẩn thẩn quá, có mang nhưng không muốn đẻ thì phá chứ gì mà sao lại!
- Đừng, con ạ. Thất đức!
Con bé bĩu môi, nhại:
- Thất đức! Thế không có chồng, lại để đẻ à?
- Con có mang với đứa nào thì lấy nó vậy?
- Con chưa muốn lấy chồng. Con còn trẻ, con chưa chán đời. Bao giờ chán đời mới lấy chồng.
Ma-ri thở dài:
- Thế con có mang với đứa nào?
- Với thằng Long.
- Thằng Long bạn anh Pôn ấy à?
- Chứ đứa nào?
- Con có yêu nó không?
- Không, sao lại có mang với nó. Ma-măng hỏi lẩm cẩm quá nhỉ.
- Thế yêu nó thì lấy nó cho xong, con ạ.
Ma-gơ-rít bĩu môi:
- Đời nào con chịu lấy nó. Sao nó không là ông huyện, ông tham, ông đốc? Ma-măng không biết chúng con vào hội với nhau, thề với nhau là phi cao đẳng bất thành phu phụ à?
- Con không lấy nó, thì bị mang tiếng là chửa hoang.
Ma-gơ-rít đập tay xuống giường:
- Ma-măng vẫn lẩm cẩm quá! Cho ra thai thì việc gì mà mang tiếng chửa hoang?
Nó thêm:
- Thôi, việc riêng của con, ma-măng đừng can thiệp.
- Nhưng ngộ pa-pa biết thì sao?
Nó sẵng:
- Biết thì làm quái gì! Bố mẹ lại có quyền xâm phạm vào đời tư con cái à?
- Nhưng, Ma-gơ-rít ạ…
Nó không nghe, vùng vằng đứng dậy:
- Ma-măng già, chúng con trẻ, câu chuyện không hợp nhau nữa. Nói thêm, đến cãi nhau thôi!
Nó ra cửa, đóng mạnh cánh đánh sầm.
* * *
Quả nhiên Thừa không xâm phạm vào đời tư của con Ma-gơ-rít. Hắn cho là sở dĩ con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít và biết đâu, có lẽ cả con Ca-mê-li-a rồi, chúng nó như vậy là trả nợ đậy cho cha mẹ và cho các anh chúng nó thôi.
Còn việc con Ma-gơ-rít định phá thai, thì hắn cho tùy nó. Chính hắn cũng nghiêng về ý kiến phá thai. Phá thai cho gọn.
Hắn đã giục Xuy-dan phá thai khi hắn được Xuy-dan báo là có mang. Nhưng Xuy-dan không nghe. Hắn cũng chiều ý.
Xuy-dan đẻ con gái.
Con bé trông thật kháu khỉnh.
Lọt lòng, nó đã nặng được ba cân.
Nó giống bố đôi mắt, giống mẹ cái mũi và cái miệng.
Nó hiền như cục đất. Cả ngày không nghe thấy tiếng khóc. Hễ nó ọ ẹ, là y như đến giờ nó ăn, mà mẹ chậm pha sữa.
Thừa khai sinh cho nó. Tên bố là Trần Đức Thừa. Tên mẹ là Nguyễn Thị Thúy Lan. Thừa đặt tên con bé là Trần Băng Tuyết. Ý Thừa muốn con Băng Tuyết sau này không giống các chị nó. Vì các chị nó chưa chắc đã phải dòng họ Trần.
Lắm lúc Thừa nghĩ, dễ thường Thừa mới thật có hai đứa mà hắn biết đích xác là con hắn. Thằng Mão là một. Con Băng Tuyết là hai. Còn những đứa hắn gieo rắc với người khác đẻ vung vãi trong đời hắn, ngay cả những đứa mà Ma-ri đẻ ra, vẫn gọi hắn là pa-pa, thì chưa chắc.
Xuy-dan được Thừa đứng tên cha, khai sinh cho con Băng Tuyết, thì cảm động đến ứa nước mắt:
- Như vậy, con bé khỏi chịu tiếng nhục nhã suốt đời là đứa con hoang như em. Nó sẽ sung sướng, không bị đời hắt hủi, ruồng bỏ, chà đạp. Nó không coi đời là kẻ thù.
Con Băng Tuyết hay ăn chóng lớn. Hơn ba tháng, nó đã biết lẫy. Nhìn ai, nó cũng toét miệng ra cười.
Hàng xóm thấy nó, ai cũng muốn bế, và hôn hít. Họ nói:
- Có cháu được vui nhà vui cửa, bà chủ hai chả phải thui thủi một mình như trước nữa.
Người ta gọi Xuy-dan là bà chủ hai từ lâu. Bởi vì họ biết Thừa là ông chủ hãng tàu thủy. Họ cũng biết là ông chủ lấy cô giáo Thúy Lan, nhưng giấu bà cả. Họ không biết quá khứ cô giáo, không biết quá khứ ông chủ, chỉ thấy hai người thương yêu nhau. Cô giáo tận tâm với học trò, tử tế với hàng xóm. Nhưng không rõ cô giáo có điều gì trong bụng, thỉnh thoảng thốt ra những câu bực tức, oán thán ai.
Người ta bảo nhau:
- Nghề con gái vẫn thế. Được chồng chiều thì hay làm nũng.
Đến tháng chạp, một hôm Xuy-dan bảo Thừa:
- Anh cho em bế con về thăm cậu mợ em để cậu mợ mừng.
Thừa chiều ý:
- Em ở luôn đến tết à?
- Không. Em về ăn tết với anh. Sở dĩ em muốn thăm cậu mợ, là vì đời em chỉ còn hai người ấy là máu mủ. Bên nội, cố nhiên là em không biết có những ai. Ba em không còn sống nữa, cho nên em không còn ai để hỏi cho biết họ hàng. Em chỉ biết bên ngoại, và họ mẹ chỉ còn có cậu mợ. Cậu cũng như mẹ. Bây giờ em ở với anh, tuy không có cưới xin, khai giá thú, nhưng đối xử với nhau thật ra tình nghĩa vợ chồng. Bây giờ chúng ta lại có con Băng Tuyết, được khai sinh một cách hẳn hoi, thì tình nghĩa lại càng thêm khăng khít, chứ không như trước, còn có thể ngờ là hờ hững, không chắc chắn. Vậy hạnh phúc của đời em, em phải cho cậu mợ biết để mừng cho em.
Thừa gật đầu:
- Em nghĩ thế là đúng, vậy em cứ về. Em nói với cậu mợ là anh bận, nhưng thế nào cũng có dịp anh về chào cậu mợ để họ hàng biết nhau, đi lại với nhau cho sầm uất.
Xuy-dan sung sướng, âu yếm nhìn Thừa:
- Em với con đi vắng, anh có nhớ không?
Thừa bế con Băng Tuyết, rồi vuốt mái tóc Xuy-dan, không nói. Xuy-dan đăm đăm nhìn Thừa:
- Em cũng nhớ anh. Nhưng chúng ta còn ăn ở với nhau về lâu về dài.
- Em về với anh trước tết nhé.
- Vâng. Năm ngoái chưa có con, em chưa thấy nhà này là gia đình. Nhưng năm nay em có con, thì em được có chồng, cho nên tự nhiên em thấy là em có gia đình, và gia đình sum họp trong nhà này. Vậy thế nào em chả ăn tết ở gia đình, với chồng, với con?
Xuy-dan hồi hộp, lấy bàn tay chặn ngực:
- Nghĩ đến điều ấy, em sung sướng quá, anh ạ. Em nào có ngờ được như thế này. Ơn anh!
Xuy-dan bế con, ghì nó vào lòng, nhắm đôi mắt, rồi quờ tay để tìm mặt Thừa. Thừa ngả lại gần Xuy-dan, thoảng một tiếng gọi:
- Em!
* * *
Chiều mồng một tết, Thừa xuống Hải Dương. Hắn nói với Ma-ri là đi mừng tuổi các quan tỉnh.
Hắn có làm những việc ấy thật. Cho phải phép. Nhưng hắn cốt vui sống với Xuy-dan ngày mồng một đầu năm. Xuy-dan sẽ không tủi thân vì phải hiu quạnh, một mẹ, một con, một căn nhà, một ngọn đèn.
Xuy-dan trang hoàng nhà của thật ra cảnh tết. Trái hẳn với tết trước, không khác ngày dưng chút nào, lần này Thừa trông thấy ở hai cột, có dán hai tờ giấy hồng điều trơn, như đôi câu đối. Bàn có trải khăn hoa, trên bày chiếc lọ, cắm một cành đào đỏ rực. Không những tết ở cảnh, mà tết lại ở mùi nữa. Thoạt vào, Thừa đã ngửi ngay thấy mùi hương. Xuy-dan đã bày một bàn thờ, có hai cây nến gỗ nhỏ, có cái liễn sứ đổ đầy gạo, còn những chân hương màu đỏ, cắm xung quanh chiếc đũa tre, trên đặt vòng hương đương cháy dở. Khói hương vòng lên thẳng một vệt trắng, rồi mờ mờ tỏa ra mùi thiêng liêng.
Giữa nến và hương là hai chén nước, một đĩa trầu nhỏ, và một gói thuốc lá. Phía sau có hai cái khung ảnh nhỏ để đứng chênh chếch, trùm ra ngoài bằng hai miếng nhiễu màu hoa hiên.
Vì muốn Xuy-dan mừng bất ngờ, Thừa vào cổng thật rón rén. Nhưng đến tận trong nhà, Thừa cũng không thấy Xuy-dan. Thừa ngắm nhìn cảnh tết của Xuy-dan, sực nhớ lời Xuy-dan nói là có gia đình, thì Thừa thở dài.
Thừa đằng hắng một tiếng.
Bỗng một tiếng rú ở dưới bếp. Xuy-dan mừng quá, vội vàng chạy lên, tay bế con Băng Tuyết:
- Anh đến lúc nào?
Thừa cười:
- Vừa đến. Tưởng em đi vắng.
- Em chờ anh, không dám ra khỏi nhà.
Thừa lấy trong cặp một chiếc vòng vàng, đeo vào cổ cho con, rồi bế nó, hôn hít đến năm phút. Con bé buồn, cười sằng sặc, giơ cánh tay lên, nắm vào râu bố.
Cả Thừa lẫn Xuy-dan cười vang. Thừa đùa con:
- Băng Tuyết muốn ba cạo đi phải không?
Nhưng hắn thấy Xuy-dan vẻ mặt không vui. Hắn biết là không nên nhắc nhở cho Xuy-dan nghĩ đến tuổi của hắn. Hắn hỏi lảng:
- Em làm gì trong bếp?
Xuy-dan hỏi lại:
- Chiều nay, anh có ăn cơm với em không, hay phải về ngay Hà Nội?
Thừa lắc đầu:
- Không. Anh ở đây với em. Sáng mai mới về.
Xuy-dan vui sướng quá:
- Em cũng được tâm linh báo trước là anh ở đây với em, nên em đương làm món ăn.
Thừa cởi khăn, cởi áo, tháo chiếc bội tinh, cất trong cặp, rồi nói:
- Thế thì cùng làm. Nào, anh xuống bếp giúp em.
Nhưng Xuy-dan lắc đầu:
- Xong cả rồi. Chỉ còn đun ấm nước pha cúng.
- Anh không biết là em bày bàn thờ, nên anh không mua chè.
- Em có rồi.
Xuy-dan lấy gói chè, đưa cho Thừa:
- Anh sửa soạn pha nước cúng cho em. Em xuống bếp đun. Độ năm phút nữa là sôi thôi.
Xuy-dan đi.
Thừa lấy ấm, bỏ chè vào, rồi đợi.
Cánh cửa xuống bếp khép hờ, thỉnh thoảng bị gió, nên kêu ken két, mở ra rồi đóng lại đánh thịch.
Trong lúc rỗi, Thừa tò mò mở cái khăn trùm hai chiếc ảnh thờ để xem mặt cha mẹ Xuy-dan.
Ở khung bên trái, hắn thấy chỉ có miếng giấy lót trắng, không có ảnh. Ở khung bên phải, có hình bán thân người đàn bà, nước ảnh đã mờ vàng.
Thừa nhớ Xuy-dan nói là chỉ còn ảnh mẹ, không có ảnh cha. Vì, theo Xuy-dan kể, cha Xuy-dan bỏ mẹ Xuy-dan ngay từ ngày có mang Xuy-dan vài tháng.
Thừa lấy cặp kính lão, đeo vào để nhìn cho rõ ảnh mẹ Xuy-dan.
Bỗng hắn choáng váng đầu óc. Mắt hắn hoa lên.
Hắn cố định thần để nhìn cho kỹ.
Hắn nhìn kỹ, và rõ rồi: mẹ Xuy-dan là Múi!
Đúng cái ảnh này, Thừa đã đưa Múi đi chụp tại hiệu Mỹ Chương ở phố Hàng Bông.
Ban ngày chụp ảnh. Ban tối vĩnh quyết!
Hình ảnh người tình nhân cũ bị hắn lừa mà bỏ rơi làm tim và óc hắn đau nhoi nhói.
Hắn phải vịn vào ghế, rồi ngồi xuống để thở. Mặt hắn tái mét như người bị cảm.
Cánh cửa xuống bếp thỉnh thoảng lại kêu ken két, mở ra, rồi đóng đánh thịch. Mỗi lần nghe tiếng ken két, Thừa tưởng như tiếng nghiến răng của người giận dữ. Mỗi lần có tiếng thịch, hắn như bị nhát búa đánh vào đầu. Xuy-dan ở trong bếp, đương đun nước. Nhưng hắn mường tượng như không phải là Xuy-dan. Bếp là buồng số tám của săm Đồng Lợi. Xuy-dan là Múi! Hắn như nghẹt thở. Cánh cửa khép như bóp, như ép chặt tim và óc hắn.
Bỗng Xuy-dan hớn hở mang ấm nước sôi lên. Thừa tự nhiên giật nảy mình.
Đúng là Xuy-dan giống mẹ quá! Thừa cố bình tĩnh đỡ lấy ấm nước.
Nhưng Xuy-dan thấy tay Thừa run run, thì hỏi:
- Anh làm sao thế?
Thừa lắc đầu, chối:
- Có gì đâu?
Xuy-dan cười:
- Hay vì em để anh ngồi một mình mà anh buồn?
Thừa cố nhịn thở dài, mỉm cười, để nét nhăn cười thay cho nét nhăn mếu.
Thừa pha nước mà tâm thần như lìa khỏi xác.
Trong khi ấy, Xuy-dan thắp hương, rồi mở khăn trùm hai chiếc khung ảnh ra:
- Anh ạ, cậu mợ em chỉ còn giữ được ảnh bà cụ. Còn ảnh ông cụ, em không tìm đâu ra. Vả, em có biết mặt ông cụ đâu mà tìm nhỉ.
Nói đến đó, Xuy-dan rầu rầu, Thừa như được tháo khoán, hắn thở dài to.
Pha nước xong, Xuy-dan lễ, và suỵt soạt khấn.
Thừa được Xuy-dan không để ý, hắn mới lại dám tự do nghĩ đến nỗi khổ tâm.
Càng nhìn Xuy-dan, Thừa càng thấy Xuy-dan giống Múi. Hèn nào, thoạt thấy Xuy-dan, hắn cứ ngờ ngợ, không nhớ là Xuy-dan hao hao giống ai, từ khổ người, đến nét mặt, tiếng nói và dáng dấp. Hắn còn cho là đã gặp Xuy-dan ở đâu, một lần nào. Thì ra người mà hắn đã gặp ở đâu, một lần nào, chính là người đẻ ra Xuy-dan, chính là người đẻ với hắn ra Xuy-dan, người có mang Xuy-dan, bị hắn bỏ, năm ấy cùng tuổi với Xuy-dan bây giờ.
Hình ảnh người yêu cũ của hắn, cái người có mang với hắn, trải hơn hai mươi năm, nó đã mờ nhạt quá trong trí nhớ của hắn, đến nỗi hắn quên đứt. Bây giờ gặp Xuy-dan giống người yêu của hắn, cái người có mang với hắn, giống như đúc, mà hắn không thể nghĩ ra được là ai!
Là ai? Chính người ấy bị hắn lừa mất năm trăm bạc. Và từ năm trăm bạc ấy, hắn đã gặp Ma-ri, bỏ rơi nhân tình, bỏ lửng cả vợ, làm lại cuộc đời khác, một cuộc đời lừa lọc, gian giảo để làm giàu, có dạo nổi lên đến chục vạn.
Thế mà hắn quên người ấy! Không còn nhớ người ấy tí nào!
Đến nỗi gặp Xuy-dan giống người ấy, hắn chỉ còn mang máng là không biết đã gặp người giống Xuy-dan này bao giờ và ở đâu!
Thừa thấy mình đúng là bạc quá!
Thừa nghĩ đến cái đêm ở săm Đồng Lợi. Thừa bỏ Múi từ giờ phút ấy.
Một lần, Thừa được nghe lỏm chị Sáu ở Yên Phụ, nói chuyện về Múi với ông Hoài Tân Tử. Một lần Thừa bị Múi mượn người đánh ở phố Hàng Đậu. Nhưng chỉ là biết thế. Chứ hắn không trông thấy mặt Múi. Từ đó đến nay, là hơn hai mươi năm, hôm nay, Thừa mới biết là Múi đã chết! Đời người con đẻ hoang bị chà đạp, vùi dập, vì đời người mẹ chửa hoang bị chà đạp vùi dập! Hẳn làm Múi đau khổ, vì mang tiếng mang tai, nên không thể lấy chồng tử tế và cứ càng ngày càng tự dúi mình xuống tận bùn đen, đến nỗi chết! Múi chết, để lại cái khổ, cái nhục cho Xuy-dan phải chịu thay.
Chính hắn đã hiếp để phá trinh Xuy-dan! Chính hắn đã lừa cho Xuy-dan làm nhà thổ! Thành thử một tay hắn giết hai người. Giết người mẹ. Rồi giết người con! Giết người con của Múi, mà cũng là con của hắn! Người con của hắn! Nhục nhã cho hắn chưa! Nay lại có con với hắn!
Con Băng Tuyết! Con Băng Tuyết ngồi đây! Nhưng ngày Xuy-dan thấy có mang nó, Thừa đã xui Xuy-dan uống thuốc đọa thai, để giết nó từ trong trứng!
Thế là Thừa giết Múi, giết con của Múi, lại toan giết cả cháu của Múi nữa!
Thừa thấy mình đúng là ác quá! Bạc! Ác!
Hai tiếng chửi rủa ấy làm tim óc Thừa đau nhoi nhói. Nó bị bóp, nó bị ép bằng cái cánh cửa của phòng số tám săm Đồng Lợi mở ra khép vào. Và tiếng cửa mở khép ấy bây giờ lại rõ ngay bên tai hắn!
Xuy-dan khấn xong thì đứng dậy.
Cô mỉm cười nhìn Thừa.
Thừa vội vàng lấy lại vẻ bình tĩnh.
Nhưng vì muốn khóc mà cứ phải cười, hắn đau đớn không chịu được.
Xuy-dan bế con Băng Tuyết:
- Nào, bé lễ ông bà đi.
Xuy-dan vừa lấy ngực gục đầu con, vừa cúi đầu mình thay nó để lễ. Trong khi lễ, Xuy-dan nói bằng giọng ngọng nghịu, vụng về, để bắt chước tiếng trẻ con!
- Nạy ông bà ngoại, ông bà ngoại phù hộ cho ba cháu Trần Đức Thừa và cho má cháu là Nguyễn Thị Thúy Nan mạnh khỏe, phát tài, và bách niên giai lão để nuôi cháu ạ. Cháu nạy ông bà ngoại phù hộ cho cháu hay ăn chóng nớn ạ.
Cho con lễ xong, Xuy-dan đến ngồi ở ghế, và bảo Thừa:
- Thôi, em lễ là đủ, anh không phải lễ. Thời buổi văn minh!
Rồi Xuy-dan đùa với con:
- À, lễ ông bà ngoại xong, thì mừng tuổi ba chứ?
Thừa không muốn cho Xuy-dan vô tình mà cứ làm mình đau khổ thêm, bèn đỡ lấy con Băng Tuyết. Xuy-dan nói:
- Anh đã nhìn kỹ ảnh bà cụ chưa? Giống em nhỉ.
Thừa gật đầu:
- Giống lắm.
Xuy-dan buồn rầu:
- Giá bà cụ còn sống đến hôm nay, để bế cháu ngoại, và trông thấy cảnh này, có phải vui vẻ biết bao nhiêu không!
Thừa được buồn rầu, chỉ thở dài. Hắn hiểu tiếng trông thấy cảnh này là Xuy-dan nể hắn không muốn nói rõ là trông thấy hắn, tức là con rể của Múi. Và trông thấy cảnh này cũng là trông Xuy-dan thoát cảnh nhà thổ, bây giờ có chồng, có con! Xuy-dan lại nói:
- Tiếc quá, không có ảnh ông cụ! Nhưng em đoán là em giống ông cụ cái cằm, vì cằm bà cụ vuông.
Thừa cố mỉm cười.
Xuy-dan đưa con Băng Tuyết cho Thừa:
- Anh ngồi với con một lát nhé. Em đi xuống dọn mâm bát.
Thừa như người ngồi tù được tạm tha. Hắn nghĩ lại từ ngày hắn gặp Xuy-dan. Hắn nhớ những câu hắn hỏi Xuy-dan, và những câu Xuy-dan trả lời hắn. Hắn thương xót Xuy-dan, giúp đỡ, cưu mang, tử tế với Xuy-dan mà hắn không hiểu vì sao. Thì bây giờ hắn hiểu. Là vì hắn là cha Xuy-dan. Tình cha đối với con nó xui khiến cho hắn đối xử với Xuy-dan như vậy. Dù đến lúc biết Xuy-dan có mang, hắn đã không bỏ Xuy-dan như bỏ người khác, như cả bỏ Múi nữa, thì lòng chung tình này chỉ là tình ngấm ngầm của tạo vật nó run rủi cho cha xử với con.
Thừa nghĩ đến tiếng anh, tiếng em! Hắn nhớ có lần Xuy-dan nhận hắn là bố. Dù chỉ là đùa cho vui, nhưng cái gì nó làm Xuy-dan đùa thế? Thừa nhìn con Băng Tuyết. Thừa đã giết Múi, giết Xuy-dan, lại toan giết cả con bé vô tội này!
Con bé vô tội này là con hắn. Nó cũng là cháu ngoại hắn. Hắn đã hiếp dâm con gái hắn, và mấy năm nay, hắn hành lạc với con gái hắn. Và bây giờ, hai người có con!
Thừa thấy kinh tởm mình quá.
Hắn gục mặt, lấy khăn chấm mắt.
* * *
Nhưng Thừa còn một tí hy vọng. Hắn nhớ Xuy-dan nói người bố làm báo. Hay là ai chăng? Hắn lại chợt nhớ Xuy-dan nói người mẹ là lai. Thế thì Xuy-dan đã nói dối về người mẹ, chắc cũng nói dối về người cha. Nhưng có thể người cha mà Xuy-dan nói làm báo, cũng đúng là hắn. Vì hắn có làm báo. Và cái ngày Xuy-dan biết nói, để Múi dạy con là bố làm báo, đúng là thời gian hắn làm báo Chấn Hưng.
Có nên hỏi lại Xuy-dan về cha mẹ không? Không hỏi thì còn chút hy vọng để tự an ủi, tự huyễn hoặc rằng cha Xuy-dan không phải là mình. Nhưng không hỏi thì càng bực dọc, càng đau khổ.
Tối hôm ấy, Xuy-dan ngà ngà say, bèn giục Thừa thay quần áo để đi nằm. Nhưng Thừa vờ như không nghe tiếng. Có nên ở lại đây để ngủ với con gái của mình không? Lấy cớ gì để về Hà Nội? Hắn đã nói với Xuy-dan là mai mới đi kia mà? Tự nhiên mà bỏ Xuy-dan một mình tối nay, tất Xuy-dan không hiểu vì sao, sẽ buồn tủi! Lại thêm một việc làm Xuy-dan buồn tủi. Nhưng ở lại đây, không có chỗ nằm riêng.
Xuy-dan ở trong màn, gọi khẽ ra:
- Anh yêu quý! Đóng cửa lại. Ta ngủ sớm, anh ạ.
Xuy-dan rúc rích cười.
Nhưng Thừa muốn khóc. Hắn gọi:
- Em! Hãy dậy một tí.
Xuy-dan hỏi:
- Anh làm sao thế? Anh giận em đấy à? Em làm gì mà anh giận em? Đừng giận, anh yêu quý! Năm mới, tội nghiệp em. Rồi dông cả năm!
Nhưng Xuy-dan vốn ngoan ngoãn, biết nghe lời chồng, nên trở dậy.
Xuy-dan đến gần Thừa, ôm ghì lấy Thừa, rồi ngồi trên lòng Thừa, hôn Thừa rất lâu, và vỗ vào lưng, nũng nịu:
- Có điều gì anh không bằng lòng, anh cứ bảo. Đừng giận em, anh yêu quý. Chồng yêu quý của em!
Thừa đẩy khẽ Xuy-dan ra, cố dịu dàng nói:
- Anh không có điều gì giận em. Nhưng anh muốn hỏi về gia đình em. Bây giờ ta có con với nhau rồi, chẳng lẽ anh lại không biết tí gì về gia đình em hay sao?
Xuy-dan đáp:
- Em chẳng nói với anh rồi là gì. Hiện giờ, máu mủ em chỉ còn có hai cậu mợ.
Thừa gật đầu:
- Anh biết rồi. Nhưng còn ông cụ, bà cụ? Sao em bảo bà cụ là lai, thế mà anh trông ảnh thì không phải là người lai?
Xuy-dan cười:
- Anh, có bao giờ người làm nghề giang hồ, lại đi nói thật cha mẹ để bêu cha mẹ, hở anh? Nhưng không hiểu sao, đối với anh, lần ấy em cũng muốn giấu, nhưng chỉ giấu được có một nửa.
- Thế hôm nay em nói thật cả nhé.
- Vâng. Đã nhận nhau là vợ chồng thì chân tơ kẽ tóc cũng không giấu nhau. Anh ạ, em nói là em chỉ có giấu anh có một nửa. Bà cụ sinh ra em là lai thật, nhưng không phải lai Tây, mà là lai Thổ. Bà ngoại em là người Thổ.
- Thế ông ngoại em ở đâu lại lấy bà ngoại em là người Thổ?
- Ông em lấy bà em ở Đồng Đăng, ông em trước kia là đội đoan, sau thì buôn bán.
- Buôn bán gì?
- Em không biết.
- Ông em tên là gì, em có biết không?
- Em thấy má em nói là cụ đội Tri.
- Bà cụ sinh ra em tên là gì?
- Tên là Nguyễn Thị Múi.
Một nhát búa bổ đúng vào đầu Thừa. Xuy-dan cười:
- Tên quê lắm, anh nhỉ.
- Ông cụ sinh ra em tên là gì?
- Ồ, nào em có biết. Trong khai sinh, con hoang không có tên bố. Bây giờ em lấy họ Nguyễn, là theo họ mẹ đấy, anh ạ.
- Bà cụ có nói ông cụ làm nghề gì không? Một lần, em nói ông cụ làm báo mà?
- Tiếng làm báo mà em nói với anh là tiếng có ý nghĩa sang trọng. Nhưng tiếng làm báo mà bà cụ nói với em, là tiếng oán ông cụ báo hại bà cụ.
- Sao thế? Vậy ông cụ làm nghề gì?
- Bà cụ không nói với em lần nào về nghề nghiệp ông cụ. Nhưng có lần em nghe cậu em nói. Thì ra ông cụ làm cu li phu kíp ở ga Đồng Đăng. Không hiểu ông cụ tán tỉnh khéo léo thế nào, bà cụ em mới trót lầm lỡ, rồi có mang em.
Thừa tái mét mặt, lấy thuốc lá, nhưng tay run bắn lên:
- Thế ông cụ bỏ bà cụ à?
- Việc này, em không rõ. Nhưng cố nhiên là thế, cho nên bà cụ mới giận ông cụ.
Xuy-dan nghĩ một lúc, rồi thêm:
- Mà hình như ông cụ lừa bà cụ một món tiền thế nào ấy.
- Thế ông cụ chết bao giờ?
- Đầu đuôi thế này. Ông cụ đương làm ở Đồng Đăng thì đổi về Hà Nội. Rồi không hiểu thế nào không làm ga nữa, mới ra mở hiệu thuốc cao đan hoàn tán bán toàn cho nhà giàu thôi, anh ạ.
Thừa lại tái mét mặt, đánh rơi điếu thuốc lá xuống đất, và hỏi:
- Rồi ông cụ chết à?
Xuy-dan gật gù:
- Việc này em ngờ lắm. Bà cụ thì bảo với em là ông cụ chết rồi. Nhưng cậu em lại bảo là ông cụ còn sống. Bà cụ rủa cho ông cụ chết, vì coi người bạc mà bỏ mình thì như người chết đấy thôi.
Thừa thở dài.
- Thành thử em phân vân quá, không biết ông cụ còn sống hay đã chết. Song, là con thì phải tin nghe mẹ, nên em cứ cho là ông cụ chết rồi, em mới thờ cả hai ông bà.
Nói xong, Xuy-dan lật tấm nhiễu trùm ảnh, cười lạt và nói giọng đau đớn:
- Anh xem. Giấy khai sinh không có tên cha, thì ảnh thờ cũng thiếu ảnh cha! Khổ cho đứa con hoang chưa! Em chỉ mong rằng, nếu đúng là ông cụ chết, thì sống khôn chết thiêng, ông cụ báo mộng cho em biết tên ông cụ là gì, để em điền vào bên ảnh khuyết cho đỡ sái.
Xuy-dan tiếp:
- Mẹ em đã khổ nhục suốt đời, em cũng khổ nhục mấy năm nay thay mẹ, bây giờ trời xui khiến cho em được làm vợ anh, thì con Băng Tuyết khỏi phải khổ. Nó không là đứa con hoang. Chứ nếu anh không nhận nó, thì em lại khổ nhục suốt đời như bà cụ nhà em. Và con bé cũng vì bà, vì mẹ, mà khổ nhục. Mà nó, thì em chắc nó khổ nhục suốt đời chứ nó không được như em. Vì ở đời này, tìm thế nào được cho nó, người thứ hai như anh!
Xuy-dan thở dài:
- Lắm lúc em được anh cho hạnh phúc, em cứ tin là bà cụ linh thiêng, run rủi cho em gặp anh. Em còn nghĩ đùa rằng hay là trời bắt anh ăn ở thay cho ông cụ sinh ra em chăng!
Thừa như bị một roi quật vào tim. Xuy-dan nũng nịu, ôm lấy Thừa:
- Chả phải thế, anh nhỉ.
Thừa nhìn đồng hồ:
- Anh trót hẹn với ông tham Giảng là giờ này thì gặp ông ta. Em cứ đi ngủ trước nhé.
- Vâng. Gặp làm gì? Đánh tổ tôm à? Độ ba hội thì về với em nhé. Em thức chờ. Đừng để em đợi suốt đêm nhé.
Thừa sực nghĩ đến Múi ở buồng số tám trong săm Đồng Lợi. Đêm nay, Xuy-dan lại diễn ra cái cảnh ấy của mẹ Xuy-dan đây. Bởi vì hắn không thể ngủ với con gái hắn lần nữa. Hắn kiếm cớ để ra khỏi nhà này mà về ngay Hà Nội đêm nay.
Thừa đứng dậy. Hắn phải vịn vào tay ghế cho khỏi ngã, bước từng bước đến mặc áo, rồi bước từng bước đến tủ áo. Hắn mở két, lấy hết tiền bỏ vào cặp, rồi lừng lững ra cổng.
Xuy-dan rất ngạc nhiên, nhìn theo Thừa từng cử chỉ. Rồi Xuy-dan ra cổng với Thừa. Xuy-dan nắm lấy tay Thừa và dịu dàng dặn:
- Về sớm kẻo em mong nhé!
Thừa ra khỏi nhà, như thoát nạn. Hắn mở cửa xe mãi không được. Xuy-dan phải đỡ hộ.
Thừa trèo vào trong xe. Xuy-dan ngó đầu vào:
- Nhớ nhé. Về sớm kẻo vợ con mong. Đừng đánh suốt đêm mà em tủi, em khóc đấy. Mồng một đầu năm ở nhà với vợ có vui không!
Thừa ù tai, như không nghe rõ gì. Xuy-dan lại nói:
- Dễ thường anh làm sao ấy. Hay là còn say?
Thừa không đáp. Xuy-dan cố trách đùa để kể tội:
- Anh ạ, lần đầu tiên anh ra khỏi nhà, anh không hôn em nhé!
Như một cái tát làm nảy đơn đóm mắt, Thừa mở máy. “Lần cuối cùng, thằng khốn nạn ạ”. Hắn nghĩ thế.
Xuy-dan vào nhà, tay còn vẫy Thừa. Rồi cánh cổng khép đánh ập.
Tim Thừa đau nhói. Tiếng cửa buồng số tám của săm Đồng Lợi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XVII
CHIẾC XE XUỐNG DỐC  
 
 
May mắn cho Thừa, đầu óc hắn rối loạn, day dứt thế, nhưng cũng lái xe về đến Hà Nội được an toàn.
Đến cổng, hắn bấm chuông gọi.
Chờ một lát, chẳng thấy ai ra mở, hắn lại bấm chuông lần nữa. Hắn vắt tay phía sau, cúi đầu, đi đi lại lại.
Vẫn chẳng thấy người ra. Sốt ruột làm sao.
Nhìn vào các buồng trên gác, Thừa thấy buồng nào cũng còn sáng đèn. Có những tiếng cười nói vang vang. Vì óc bị ám ảnh, nên nhìn nhà mình, Thủa tưởng tượng như nhà săm Đồng Lợi. Hắn thở dài. “Nhưng Múi chết rồi”. Rồi hắn nghĩ tiếp: “Bây giờ Xuy-dan đang chờ”. Hai lúc… hai nơi… hai người. Nhưng vẫn là một: một tâm sự. Một tâm sự của hai người bị nạn một kẻ bạc ác!
Thừa lại bấm chuông và lắng tai. Hắn ngạc nhiên. Chuông không kêu. Chắc là máy hỏng.
Hắn cáu kỉnh, bèn vặn cho ô-tô lên hè, sát vào hàng rào sắt. Hắn trèo lên mui xe, làm bậc, để lên mặt tường, rồi trườn vào phía trong.
Hắn mở cổng. Rồi cho xe vào nhà.
Đèn pha chiếu rực trong sân. Ở trên gác, có những cái đầu ngó ra. Bỗng hắn thấy từ trong nhà xe, thằng bếp với con sen hốt hoảng chạy ra.
Hắn hiểu ngay vừa rồi, chúng nó đương làm gì.
Hắn bực lắm. Nhưng hắn mệt nhọc và chán nản quá. Như có cái gì vướng trong óc hay trong miệng. Hắn muốn hoạnh tội chúng nó mà không sao nói được. Xe vào nhà, thì bỗng phải dừng lại. Giữa nhà, lù lù có chiếc chõng.
Không nhịn được, Thừa quát rầm lên. Thằng bếp vội vàng chạy vào cất chõng.
- Bà với các cậu, các cô đâu?
- Thưa bà con đi vắng. Các cậu, các cô ở trên gác.
Thừa cất xe xong, thì đi chữa chuông. Nhưng chuông không hỏng. Nó chỉ bị tháo một dây truyền điện đến thôi. Hắn biết là mưu mô thằng bếp muốn được yên tĩnh hú hí với con sen. Hắn toan đánh nó. Nhưng tay hắn rã rời. Hắn quắc mắt nhìn nó, rồi đi tuột lên gác.
Hắn qua các buồng con trai, các buồng con gái. Buồng nào cửa cũng đóng. Chúng nó còn thức cả, nhưng thấy bố về mà vẫn thản nhiên. Thừa bực dọc. Mọi bận như vậy, hắn đã mắng chúng nó rồi. Nhưng lần này, hắn chỉ thở dài.
Thừa cởi quần áo. Tắt đèn. Nhưng ngủ sao được đêm nay? Hắn muốn ngồi tối để mắt không thể nhìn thấy xung quanh. Tâm hồn được yên tĩnh. Giờ này, Xuy-dan cũng đang thức đây. Tâm sự của Xuy-dan bây giờ có khác gì tâm sự của Múi hai mươi năm về trước? Chờ đợi và tuyệt vọng!
Thừa bắc ghế ra hiên gác. Hắn ngồi nhìn ra đường. Đầu óc hắn để ở Hải Dương. Đầu óc hắn để ở săm Đồng Lợi.
Đầu óc hắn tưởng tượng cảnh hiện tại. Đầu óc hắn trở về với quá khứ hai mươi năm trước. Hắn nghĩ đến Xuy-dan, nhớ đến Múi. Hắn thở dài. Rồi hắn bưng mặt khóc.
Bỗng có tiếng sắt rít lên đưa Thừa về với thực tại. Hắn nhìn xuống. Cánh cổng hé mở. Một người ra. Một lúc lâu, cánh cổng lại rít lên và hé mở. Lại một người ra. Trong độ một giờ đồng hồ, cứ như thế bốn lần. Bốn người ra. Thừa nhìn rõ. Hai người là con trai, hai người là con gái.
Thừa biết ngay hai người con trai không phải là bạn của thằng Pôn và thằng Giăng. Hai người con gái không phải là bạn của con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, hay con Ca-mê-li-a. Hắn đã trông rõ thằng Pôn đưa con mặc áo nhung đen ra cổng, và con Ca-mê-li-a còn thò tay qua kẽ cổng chưa đóng ghịt để vẫy vẫy thằng con trai mặc bộ len màu xám sắt.
Thật đúng là săm Đồng Lợi đây! Thừa chán nản nghĩ thế. Hắn cáu kỉnh với lũ con hư. Nhưng hắn nghĩ tiếp. Đêm nay trong săm Đồng Lợi này, không có ai phải mong chờ ai từng giờ từng phút. Cũng không có ai phải rón rén xuống gác như thằng ăn trộm. Thừa không dám cáu kỉnh với lũ con nữa.
Bỗng một chiếc xe nhà giương mui ở phía xa chạy tới. Xe sơn màu đồi mồi như xe của cô Bé Tý. Xe chạy đến trước nhà hắn, thì đỗ lại. Thừa thấy Ma-ri xuống đất. Và một người nữa cũng xuống đất. Người này đội khăn, mặc pa-đờ-xuy, và có râu, tay xách cái đàn nguyệt. Thừa biết ngay là Ma-ri ở điện nhà cô Bé Tý về. Hắn được cô Bé Tý tiễn bằng xe của cô. Nhưng hắn lại ngồi đôi với anh cung văn!
Anh cung văn dặn với Ma-ri:
- Tối mai nhé.
Ma-ri đáp:
- Để còn xem thằng lẹm về chưa đã. Nó còn ở Hải Dương, thì em mới đến được. Nếu không, tha lỗi cho em nhé!
Thừa lại hiểu thêm về Ma-ri. Hắn là quỷ đực thì Ma-ri vẫn là quỷ cái. Và lũ con là quỷ con. Cung văn đàn ngọt hát hay, không trách nó quyến rũ được bao nhiêu người mê nó. Thật là dột từ nóc dột xuống. Đến cả thằng Mão cũng nảy nòi đi ăn cắp lấy tiền nuôi gái. Đến cả Xuy-dan cũng làm đĩ giang hồ! Mắt Thừa rưng rưng. Hắn nhịn khóc.
Hắn tự an ủi bằng ý nghĩ đỡ đòn. Ba đứa con gái của hắn, sao chỉ có hai thằng con trai? Thế thì đứa nào không giống cha mẹ. Hắn sực nghĩ ra. Con Ma-gơ-rít uống thuốc đọa thai, đương bị ốm rê ốm rệt. Nhân tình nó không đến.
* * *
Thừa trằn trọc nằm trên giường. Bụng hắn nôn nao. Cổ ứ lên như buồn ộc. Rồi rạo rực quá, hắn ghé đầu ra ngoài thành giường. Một chất lỏng ộc ra khỏi miệng hắn, làm đỏ loang cả nền gạch men trắng. Hắn đã hộc ra máu tươi.
Ma-ri sợ hết hồn, gọi thất thanh lũ con. Cả bốn đứa vào buồng, nhìn Thừa nằm ngửa, thở hổn hển, miệng đỏ ngòm, nhưng da xám ngắt như người chết.
Ma-ri bảo hai con trai đi mời ngay bác sĩ Pi-ca đến cấp cứu.
Nhưng thằng Pôn nhìn thằng Giăng. Thằng Giăng nhìn thằng Pôn. Để chờ nhau vâng trước. Rồi hai thằng con trai nhìn hai đứa con gái.
Thấy lũ con trù trừ, Ma-ri giục chúng nó. Bấy giờ chúng nó mới lên tiếng. Đứa nào cũng kêu nhức đầu, sợ đêm sương. Đứa nọ đùn đứa kia.
- Tết nhất, lại đêm khuya, chẳng biết bác sĩ còn thức không?
Rút cuộc, Ma-ri phải đi vậy.
Pi-ca đến, gõ ngực, nhìn lưỡi, xem mạch, xét nhiệt độ, rồi tiêm cho Thừa một ống dầu long não và một ống thuốc an thần:
- Bà đừng lo. Đúng là ông đã uống rượu say, rồi đi đêm, nên bị cảm. Người khác như vậy thì không sao đâu. Nhưng vì ông đã làm việc nhiều, thân thể và tinh thần suy nhược, nên không chống lại được với tiết trời, với sương gió. Sáng mai, tôi sẽ khám kỹ hơn, và cho thuốc.
Bác sĩ dặn:
- Cần im lặng cho ông nghỉ ngơi. Không ai được vào đây, trừ bà. Nhưng bà cũng không nên nói to, đi mạnh.
Lũ con hớn hở, đứa nào về buồng nấy. Ra đến cửa, chúng nó cười rúc rích và nói ồn ào.
Thấy Thừa nằm im, Pi-ca xếp dọn đồ đạc vào va-ly, rồi bảo Ma-ri:
- Thổ ra huyết rất hại người, ông cần nghỉ lâu. Tôi muốn khuyên bà, một là hãy tạm đóng cửa sở tàu ở Hải Dương lại, hai là, nếu có thể, thì bà xuống đấy, điều khiển thay ông.
Ma-ri đáp:
- Để mai, nhà tôi tỉnh, tôi sẽ bàn.
Pi-ca xua tay:
- Nên để ông tĩnh tâm. Tự bà quyết định thôi.
- Hơi khó. Vì hãng tàu là của nhà tôi. Tôi chỉ chung một phần nhỏ. Hay tôi bàn với thằng Pôn và thằng Giăng. Bởi vì chúng nó đã lớn, có trí khôn rồi. Vả chúng nó làm việc mại bản. Mỗi chiếc tàu là của một đứa sau này.
- Tùy bà. Nhưng theo tôi, thì bà không nên bàn với hai con bà. Họ là thanh niên, đương ham chơi. Chính họ phàn nàn nhiều lần với tôi là không muốn làm việc này, vừa nhọc mệt, vừa bó buộc, mất cả tuổi thanh niên. Chắc chắn họ sẽ tán thành đóng của sở, để được tự do vui chơi cho sung sướng.
Ma-ri thở dài. Pi-ca hỏi:
- Mồng mấy đầu năm, tàu chạy mở hàng?
- Mồng bốn.
- Còn cả ngày mồng hai và mồng ba. Nếu bà có đi Hải Dương và ở đây, xin bà cứ yên trí, tin ở sự tận tâm về nghề nghiệp của tôi, và ở tình thân mật của tôi đối với gia đình nhà ta.
- Cám ơn bác sĩ.
Pi-ca đứng dậy:
- À, nhân tiện, cô Ma-gơ-rít thế nào?
- Cám ơn bác sĩ. Cháu đã khá.
- Mai tôi đến thăm ông, sẽ thăm cả cô một thể. Các cô nhà này nên dùng thuốc hạn chế sinh đẻ. Có thuốc này thì không sợ có mang. Nó không nguy hiểm như thuốc đọa thai, bà ạ. Tôi đương chế thứ thuốc ấy để giúp các cô con gái chưa muốn lấy chồng. Ngặt vì không có ai để thí nghiệm thuốc xem công hiệu đến đâu. Nếu bà cho phép, tôi nhờ ba cô nhà ta.
Ma-ri đáp cho nhã nhặn:
- Vâng. Xin để tôi hỏi các cháu xem chúng nó có vui lòng làm vật thí nghiệm hay không.
Pi-ca nhún vai:
- Nếu bà hỏi các cô, thì các cô sẽ mừng rỡ mà ký cả hai tay. Xin nói trước rằng, nếu thuốc tôi chưa công hiệu, lỡ cô nào có thai, tôi sẽ chữa đền!
Ma-ri yên lặng.
* * *
Nằm liệt mươi hôm, Thừa mới dậy được. Hắn đứng trước gương để soi. Hắn giật nảy mình. Hắn trông hắn mà tưởng là ai: mắt trũng, xương má dồ, và tóc trên đầu bạc gần một nửa. Vì nhìn còn yếu, hắn trông nước da, thấy vàng như nghệ. Vì óc còn lao đao, hắn tưởng cái gì xung quanh cũng như quay. Hắn vội vàng vịn tường, về giường nằm.
Ma-ri đã xuống Hải Dương làm việc thay hắn. Ý kiến ấy là ý kiến của hắn. Lúc nghe Pi-ca khuyên Ma-ri xuống Hải Dương, hắn muốn tán thành ngay. Nhưng vì quá mệt, nên phải im.
Sáng hôm sau, không đợi Ma-ri kịp có thì giờ bàn bạc việc làm ăn với hai con trai, Thừa đã vẫy Ma-ri đến gần.
Hắn không nói thật vì sao hắn muốn tránh Hải Dương để ở một mình tại Hà Nội. Hắn bảo:
- Từ nay, hai chiếc tàu, tôi giao hẳn cho hai đứa. Chúng nó phải liệu mà làm việc. Nhưng vì chúng nó ít tuổi, đương độ mê chơi, thì bà phải xuống Hải Dương mà kèm chúng nó. Bà đứng chủ thay tôi. Tôi có khỏi và khỏe, cũng không xuống Hải Dương nữa đâu. Đừng cho chúng nó biết cái ý ông đốc tờ là tạm đóng cửa sở. Chúng nó nghe thấy, thì như giặc được nối giáo đấy.
Hai thằng con trai được mẹ cho biết quyết định của bố, thì mừng rơn.
Thằng Pôn bảo thằng Giăng:
- Ở với bà via thì tha hồ làm tướng. Hôm nào thấy mệt, thấy chán, thì khai nhức đầu, ông nghỉ ở nhà.
Thằng Giăng gật đầu:
- Hôm nào mày nghỉ, mày bảo tao. Tao cũng nghỉ. Hai tàu mà nghỉ cả thì bà cụ sướng mê. Bà cụ cũng ham chơi bỏ mẹ bà cụ đi ấy mà!
Con Rô-da-lin ghen với hai anh:
- Chúng tao không ở đây với ông cụ đâu. Chúng tao cũng đòi cho kỳ được xuống với bà cụ. Ở với ông cụ mất cả tự do, lại phải coi người ốm, phiền bỏ mẹ! Không có ông bô nhà nào hủ lậu, gàn dở, vô nhân đạo như ông bô nhà này! Chán mớ đời!
Thằng Pôn đáp:
- Chúng ông mới có cớ theo bà via, chứ chúng mày cũng đòi thì thá gì mà đi? Mày hãy hỏi ướm nó, xem nó có giữ dịt mày ở đây hay nó cho mày ở xa nào?
- Tao là vợ nó đâu mà nó có quyền giữ! Mấy lị nhớ tao thì xuống với tao. Bà cụ có cấm đâu?
Con Ma-gơ-rít rít lên:
- Thôi, chúng mày câm họng đi, đừng làm ông sốt ruột! Không biết ông ốm lúc này là ông thiệt à?
Con Ca-mê-li-a chì bỉu:
- Sướng lắm thì khổ nhiều. Tại ai? Còn kêu! Con bà cô!
Con Ma-gơ-rít tức:
- Cha tiền nhân con ranh! Ăn nói như bà cụ. Mày hãy liệu cái thần xác mày rồi mới nói được ông.
* * *
Thừa được ở một mình với con Ma-gơ-rít còn yếu. Hắn được tự do cho lương tâm cắn rứt, nên hắn vợi được đau khổ.
Hắn cầm bút viết thư cho Xuy-dan:
Thúy Lan em.
Anh vừa khóc vừa viết bức thư này cho em.
Anh biết rằng từ tối hôm mồng một tết đến hôm nay, nước mắt em đã chảy nhiều là ngần nào rồi.
Câu chuyện xảy ra cho anh hôm ấy như thế này. Anh đến nhà ông tham Giảng. Ngờ đâu anh bắt gặp con hoạn thư nhà anh nó định rình để bắt chúng ta.
Con hoạn thư nhà anh, em cũng biết đấy. Nó thật là thâm trầm, tai quái. Không rõ nó được ai mách về anh với em, mà nó âm mưu làm nhục em.
Nó bắt anh phải về ngay Hà Nội tối hôm ấy.
Từ hôm ấy đến nay, anh ốm. Anh hộc ra đến một bát máu. Hiện nay anh mới nhóc nhách ngồi dậy được, thì anh phải viết thư ngay cho em, để em liệu.
Thúy Lan em! Thôi thì cũng là cái duyên số anh em ta nó ngắn ngủi có đến đấy.
Hiện nay anh còn yếu quá. Nhưng dù anh có khỏe, thì con hoạn thư cũng cấm anh lai vãng đến Hải Dương với em. Nó làm thay anh công việc ở sở. Song, anh cũng định rằng không bao giờ anh xuống Hải Dương làm việc nữa.
Hải Dương còn gì vui thú, nếu anh không được lui tới thăm Băng Tuyết và thăm em!
Còn về em, anh định như thế này.
Thế nào con hoạn thư cũng rình trả thù em. Chi bằng tránh voi chẳng xấu mặt nào, em cũng đừng ở Hải Dương nữa.
Em nên về với cậu mợ em để học nghề buôn bán. Nếu không muốn ở với cậu mợ, thì em cũng cứ lên Hà Nội. Anh sẽ kiếm cho việc dạy trẻ như bây giờ. Rồi em làm lại cuộc đời.
Em không nên tự hủy hoại sức khỏe và danh dự. Em phải nghĩ đến Băng Tuyết, đừng để nó lạc vào vết của em đã đi. Em không tự hủy hoại sức khỏe và danh dự, tức là em để lại cho con được hưởng sức khỏe và danh dự của em.
Còn như khi chúng ta sống xa nhau, có ai hỏi đến anh, tức là bố con Băng Tuyết đâu, thì em cứ nói là nó mồ côi bố. Anh không oán là em rủa cho anh chết đâu. Viết đến mấy chữ này, anh đau lòng lắm. Anh muốn cùng em khóc nhiều nhiều.
Anh run tay, không thể viết dài hơn nữa. Chắc em hiểu lòng anh và tha thứ tội lỗi cho anh, là một thằng khốn nạn nhất đời.
Cuối cùng, anh cung kính cầu bà thân sinh em phù hộ cho đời em đừng giống đời của bà.
Anh mong em có tương lai tốt đẹp, và Băng Tuyết ngày sau nên người, để mẹ con gây lẫn hạnh phúc cho nhau.
Vĩnh biệt em và con bằng nước mắt và những cái hôn nóng hổi.
Trần Đức Thừa
Tái bút: Nếu em về Hà Nội thì em nhắn một người họ của anh là bà Ĩnh con, nhà ở phố Gia Ngư, số… cho anh biết tin.
Nhưng em đừng nhờ bà ấy kiếm hộ việc làm, và đừng hỏi bà về quá khứ của anh. Bà ấy không biết gì đâu. Nếu bà ấy kể về đời anh, em cũng đừng tin là đúng.
* * *
Được biết Thừa ở Hà Nội, thằng Mão lần ngay đến.
Thừa đương nằm trên giường, nhìn thấy nó, thì hai chân hai tay giãy đành đạch, răng nghiến lại, gầm lên:
- Mày đến đây làm gì, thằng mất dạy kia?
Rồi hắn gọi:
- Có đứa nào ở dưới nhà không, đuổi nó đi khỏi mắt cho tao!
Mão thản nhiên:
- Tôi thấy ông ốm, thì tôi lại thăm, ông thử nghĩ xem, trong lúc này, con đĩ lang ben với mấy đứa con nó có đoái hoài đến ông không? Thế thì ai là con ông, ai không phải là con ông?
Thừa lại gầm lên:
- Tao không có thứ con ăn cắp.
Mão cười:
- Ở đời này toàn là kẻ ăn cắp hết, ăn cắp tiền, ăn cắp tình, ăn cắp danh.
Thừa ngồi nhỏm dậy:
- À, mày nói ai?
- Sao ông nhiếc tôi là ăn cắp. Tôi ăn cắp gì, bao giờ? Ông có trông thấy không?
- Mày tưởng tao không trông thấy phỏng? Có lần nào trên tàu đi Yên Bái, mày rút cái ví người thổi giúp cái mắt bụi cho mày không?
Mão cười khẩy:
- À, như thường! Không có tiền thì ăn cắp lại của thằng ăn cắp. Có gì là lạ?
- Thằng khốn nạn!
- Tôi không khốn nạn. Tôi ăn cắp để lấy tiền nuôi mẹ tôi thay ông, để đóng thẻ thuế thân cho ông đấy. Vì ông bỏ mẹ tôi, mẹ tôi nghèo đói, tôi không đang tâm được. Mấy chục năm nay, ông bỏ làng, ông có gửi đồng nào về nộp thuế thân không? Thế thì ai đóng cho ông?
Thừa quắc mắt:
- Tao ở Hà Nội, tao đóng thẻ Hà Nội rồi.
- Nhưng nhà nước cứ thu cả ở nhà quê, ông đi mà cãi nhau với nhà nước!
Thừa yên lặng. Mão tiếp:
- Mấy lị chả hơn ăn cắp để có nhiều của mà gây thế lực, làm thêm nhiều việc bạc ác bất nhân à!
- À, thằng này giỏi. Mày nói ai?
- Tôi chẳng nói ai. Tôi chỉ ức là ở đời có vô số thằng đểu cáng to, mà không ai dám động đến. Chính những thằng này lại chửi những thằng đểu cáng nhỏ hơn nó là đểu cáng.
Thừa quát:
- Mày không được nói nữa. Bước!
- Tôi đến thăm ông ốm, chứ tôi làm gì ông mà ông đuổi?
- Mày định nã tiền tao!
Mão lắc đầu:
- Tôi không cần nã. Ông là bố tôi, tôi bắt ông phải để của cho tôi, để của cho một mình tôi thôi. Những đứa kia không phải con ông.
- Nhưng ông không nhận mày là con. Ông bỏ mẹ mày, ông từ mày đã lâu rồi.
- Không pháp luật nào cho phép ông cả.
- Tao bất chấp pháp luật! Nhất định tao không thí cho mày một xu.
- Tôi sẽ đối phó.
- Mày định giết tao, giết chúng nó à?
- Chưa biết chừng. Ở đời này, giết người cũng vẫn lương thiện như thường.
Tim đau nhói, Thừa ngã ngửa ra giường. Hình ảnh cô Lễ, hình ảnh Múi, hình ảnh Xuy-dan hiện ra phần phật trong óc hắn. Hắn thở, rồi nhăn mặt, xua tay:
- Thôi, tôi cắn cỏ tôi lậy ông. Ông cho tôi chết ngay thì ông cứ nói. Ông còn nghĩ đến cái tình tôi đẻ ra ông, thì ông cho tôi yên. Ông không bước ngay thì tôi báo cẩm đến bắt ông lập tức!
Mão đáp:
- Thế thì ông cũng phải nghĩ đến tình vợ chồng, tình cha con.
Dứt lời. Mão quay gót. Nhưng nó không ra cửa. Nó đến mắc áo, móc cái túi đựng ví của Thừa. Có bao nhiêu tiền, nó lấy hết. Rồi nó móc những cái túi khác, lấy đồng hồ, bút máy, và cái dây vàng, đeo chiếc vuốt hổ.
Thừa ngước mắt nhìn nó. Hắn chỉ rên được hừ hừ, không sao dậy nổi.
Không còn gì để lấy thêm được nữa, thằng Mão mới chịu ra về. Nó không nhìn lại Thừa.
Thừa phùng má, phì một tiếng thật to và thật dài. Hai tay vuốt ngực, hắn từ từ nhắm nghiền mắt lại.
* * *
Thằng Pôn và thằng Giăng làm việc ở Hải Dương đúng như ý định chúng nó định.
Hai chiếc tàu Đại Pháp và Bắc Kỳ trở nên tài tử. Nghĩa là hôm chạy, hôm nghỉ.
Mại bản khỏe và vui, thì tàu chạy. Mại bản mệt, hoặc bận ở nhà với nhân tình, thì tàu nghỉ. Cho nên chạy cũng như nghỉ, tàu chỉ chở có sáu người: một mại bản, một ba-toong, một tài xế, một nhì xế và hai mạch nô. Thỉnh thoáng nếu có thêm một người nữa là bảy thì người thứ bảy này là cô người yêu của mại bản, muốn làm một cuộc du lịch trên mặt nước để thay đổi cảnh trước mắt. Tàu chở khách biến thành tàu du lịch. Nó biến cả thành tàu đi đòi nợ cho bà chủ, tàu đi thăm gái của các cậu mại bản. Đi những việc ấy, có một chiếc xe đạp cũng đủ. Nhưng ở nhà này, thì nghênh ngang cả một chiếc tàu trọng tải hàng trăm tấn. Không còn một người khách nào đi tàu. Bởi vì họ có đoán được hôm nào có tàu mà chờ đợi?
Sở tàu thủy của Thừa trên phố bờ sông Hải Dương cũng biến thành hội quán, tiếng bây giờ là câu lạc bộ. Mà đúng là hội quán hội Khai Trí Tiến Đức. Buồng tiếp khách rộng nhất dùng để họp tổ tôm. Trước còn đánh bằng bài lá, bây giờ Ma-ri mượn đóng năm cái bàn gỗ, làm năm điếm. Tối nào trống các điếm cũng rập lên, giòn tan như tiếng trống ở xóm cô đầu.
Các buồng nhỏ của lũ con Ma-ri tối nào cũng rầm rập những công tử, tiểu thư. Tiểu thư đến chơi với công tử. Công tử đến chơi với tiểu thư. Rồi đến khuya, công tử nào, tiểu thư ấy, rủ nhau đi phố, hoặc vặn kèn hát để nhảy.
Thằng Pôn được tôn làm giáo sư khiêu vũ. Nó tận tụy với nghề này hơn cái nghề bán vé dưới tàu Đại Pháp của nó. Nó dạy không lấy tiền, nên có đến hơn hai chục đồ đệ, cả nam lẫn nữ. Nó nói:
- Tôi chỉ biết phụng sự nghệ thuật, truyền bá lối chơi thanh nhã đầy kỹ xảo của nước văn minh tiên tiến. Chứ tiền thì làm gì. Tình bạn lên trên hết!
Tức là nó nằm với tuốt cả các bạn gái. Còn bạn trai thì nó xui cứ liều mà xông vào buồng các em gái nó. Chúng nó không kêu đâu. Nhưng hễ đứa nào kêu, thì ở ngoài nó vặn kèn hát to rống lên cho.
Thằng Giăng dặn thêm bạn:
- Nếu vào buồng chúng nó mà không câu cú gì, phải ra không, thì đừng ngượng. Nhà nào, chứ nhà này coi việc ấy là thường, không ai cười ai đâu.
Vì tàu không chạy nên tiền thu nhập không có. Song, mỗi lần Ma-ri về Hà Nội để báo cáo tình hình kinh doanh với Thừa, hắn đều nói dối là tàu có rất đông khách. Nó có nộp tiền hẳn hoi. Nhưng tiền này là tiền hồ tổ tôm. Tháng nào thu được ít, Ma-ri kiếm thêm bằng cách cho vay và cầm đồ để lấy lãi.
Cái tổ quỷ đương ngày một đông người lui tới thì bỗng trở nên tiêu điều.
Chánh cẩm Hải Dương Két-x-moa tuy là mật thám, nhưng xử lý việc này hết sức nhã nhặn và kín đáo. Nó mời Ma-ri đến bàn giấy, dọa bắt Ma-ri và tình nghi là tụ tập hội kín.
Cố nhiên Ma-ri không nhận và giở cái tài ngoại giao nhà nghề của hắn để thôi miên thằng Tây lai.
Nhưng thằng Tây lai thấy như đánh đáo, cả cái chưa đúng lỗ. Nó phải nói thật là nó thèm muốn con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, nhất là con Ca-mê-li-a ngây thơ nhưng nhí nhảnh kia.
Nó nói nhỏ với Ma-ri:
- Toa cứ cho chúng nó vào đây, nói rằng moa dạy tư tiếng Pháp.
Thấy Ma-ri chưa ngỏ ý, nó dọa xa xôi:
- Hồ sơ chính trị các toa là ở trong sở này. Vả lại thằng Thừa có được quan sứ cử làm nghị viên dân biểu hay không, thì vượt sao khỏi tay moa?
Ma-ri nhoẻn cười, lườm nó và phát vào vai nó:
- Quan với quách! Đồ khỉ!
* * *
Cái hội kiểu Khai Trí Tiến Đức ở Hải Dương vừa tan thì đến mùa nước.
Đê hạt Nam Sách vỡ, làm đứt nhiều quãng khúc đường sắt từ ga Tiền Trung đến ga Phú Thái. Xe lửa Hà Nội chỉ tới được Hải Dương. Xe lửa Hải Phòng chỉ tới được Phú Thái.
Muốn tiện giao thông, công sứ Hải Dương khuyên Ma-ri dùng hai chiếc tàu thủy chạy khứ hồi Hải Dương - Hải Phòng.
Được dịp tốt, Ma-ri vui sướng lắm. Hắn không cần tiền hồ, tiền lãi nợ và lãi cầm đồ nữa. Số giàu mang đến dửng dưng.
Hai chiếc tàu lại hoạt động. Hai cậu mại bản lại hoạt động.
Hành khách thấy chỉ còn cách giao thông duy nhất tiện lợi này, nên tuôn xuống tàu, chuyến nào cũng đông nghịt.
Thằng Pôn và thằng Giăng không được tán gái ở nhà, thì chúng nó tán hành khách ở dưới tàu. Chúng nó tự hào là còn giỏi bằng mấy ông hai Sơ kia.
Ma-ri thấy chuyến nào cũng gạt ra không hết khách, thì càng chăm giục ba con gái phải đi giao thiệp riết để giữ độc quyền vận tải trên quãng sông này.
Vì được Thừa tin những món tiền hồ tổ tôm điếm, những món lãi nợ, lãi cầm đồ là tiền lãi tàu thủy, và được khen là giỏi, là làm ăn có duyên, Ma-ri càng muốn được tin và được khen nhiều hơn. Hắn chắt bóp từng món tiêu pha hợp lý cho máy móc chạy tốt. Dầu mỡ, đáng phải dùng một, hắn chỉ cho dùng nửa. Hắn kiếm cách thu tiền của hành khách nhiều hơn. Vé đương từ ba hào, tăng lên ba hào rưỡi. Chiếu thuê từ năm xu, lên bảy xu. Hắn lại tham lấy khách, lấy hàng. Cho nên tàu nào cũng chật phè, nặng trĩu, nước mấp mé mạn.
Vì máy móc không phải khám xét cẩn thận, nên hư hỏng mà không được sửa chữa. Vì thiếu dầu mỡ, máy móc càng chóng hao mòn. Lại vì ngày nào cũng chở quá nặng, nên xảy ra nhiều lần tàu chết giữa đường, hành khách kêu ca như ó. Nhưng làm gì những cái ấy? Miễn là Ma-ri thu được nhiều tiền, để vừa lãi lắm, vừa có tiếng khen là giỏi, là làm ăn có duyên. Hắn càng tự hào là đảm đang.
Vì Ma-ri đảm đang kiểu ấy, cho nên lần này, chiếc Bắc Kỳ vừa nhổ neo, ra được đến giữa sông, đã bị tai nạn. Nó gặp một chiếc mành cũng chở nặng như nó. Nó rúc còi. Chiếc mành không tránh kịp. Nó phải vừa quay chệch mũi cho nhanh về phía bên trái, vừa rúc hàng hồi còi cảnh cáo. Hành khách thấy báo động, vội vàng xô cả sang phía trái để xem có chuyện gì. Thế là tàu nghiêng đi. Để tránh thế nguy, ba-toong lái cho tàu về bên phải, lấy lại thăng bằng. Hành khách thấy tàu như anh say rượu, lại ồ cả sang bên phải, tàu lệch bất thần, nước ồ vào trong.
Hành khách càng nhốn nháo. Tiếng kêu tàu đắm nổi lên như ri. Ba-toong mất tinh thần, càng cố chữa cho tàu, càng như khủng bố hành khách. Lại không may, lúc ấy máy chết. Tình thế càng trở nên nghiêm trọng.
Hành khách xô cả ra mạn để nhảy liều xuống nước. Tàu càng chành, nước càng vào, làm tàu càng thêm nặng. Tàu càng thêm nặng, nó càng hạ thấp để đón nước vào cho dễ và cho nhiều.
Tàu bắt đầu chìm.
Hành khách theo nhau nhảy ùa xuống sông. Tiếng kêu cứu vang dậy. Không ai bơi được một mình cho nhẹ nhõm. Người bơi giỏi bị người không biết bơi túm lấy tóc, lấy áo, thậm chí túm lấy cả tay lẫn chân.
Trên mặt nước lềnh bềnh những nạn nhân vùng vằng để tránh cái chết.
Tất cả các thuyền ở bến đổ ra cứu người bị nạn. Có người rét run cầm cập. Có người uống no nước. Có người nằm im, mặt xám ngoẹt, vì bắt đầu tắt thở.
Chiếc Bắc Kỳ chìm dần. Đáy nó đã ngồi phệt xuống mặt lòng sông. Việc cứu vớt vẫn tiếp tục.
Lúc ấy, ở trên bờ, Ma-ri đứng trước cảnh thần tài cắp nón ra đi. Giữa hàng nghìn người đương hò hét chỉ trỏ những chỗ có món tóc đen, hoặc có mảnh áo trắng để nhắc, để gọi cho thuyền đến, thì hắn mê lên rồi. Mặt hắn không còn hột máu, tay chân hắn lẩy bẩy. Con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít phải đỡ cho hắn khỏi ngã. Miệng hắn méo xệch, hắn vừa khóc, vừa vẫy tay ra phía tàu:
- Giăng! Giăng ơi!
* * *
Chiếc Bắc Kỳ đắm, nhưng thằng Giăng được cứu sống. Ma-ri cho đó là điều đáng mừng nhất.
Mấy trăm hành khách được đưa lên bờ. Người bị ngạt được chữa cho hồi lại. Chỉ còn độ mươi người bị chìm, chưa tìm thấy xác. Ma-ri cho đó là điều đáng mừng thứ hai.
Cảnh sát trưởng Hải Dương đến tận nơi để điều tra. Nó nhìn cái thế tàu lúc đắm. Nó hỏi han người chứng kiến tai nạn. Nó lấy cung người lái mành, người ba-toong, và một số hành khách. Nó kết luận vào biên bản là tuy tàu có chở nặng, tuy máy có bị chết, khiến người bẻ lái không cứu vãn được tình thế nguy ngập, nhưng gây ra tai nạn, chính là chiếc mành không chịu tránh. Ma-ri cho đó là điều đáng mừng thứ ba.
Hắn chỉ buồn về nỗi tàu đương chở khách nay bị đắm thì hắn phải thua thiệt. Thua thiệt về nỗi mất khách thì mất lợi. Thua thiệt về nỗi thuê trục tàu lên, cho đi sửa chữa, phải mất tiền, và qua hàng tháng, thì nước lụt rút mất rồi, đường xe lửa đắp lại xong mất rồi.
Trong khi Ma-ri mừng, và buồn như vậy, thì những hành khách bị chết hụt mếu máo, vì tiếc mất đồ đạc, hành lý. Và thân nhân những hành khách bị chết đuối, khóc lóc thảm thiết vì mất người. Họ đến tận sở để bắt đền bà chủ. Nhưng không ai được giáp mặt bà chủ. Vì lúc nào bà chủ cũng không có nhà.
Ma-ri đã cố lánh mặt. Hắn cho cách đi trốn như năm nọ hắn trốn tá điền ở Cẩu Rồng, là khôn. Những người này có xót xa tình máu mủ, thì phải tự đi mà thuê tìm xác, mò xác và câu xác cho cha mẹ, vợ chồng, con cháu họ lên.
Trên mặt sông, lúc nào cũng có chài đi dò xác. Nó men bờ, chọc gậy vào bụi rậm, hoặc thả lưới, thả cần câu. Có chài chở ba người, một người chèo, một người dò xác, và một người là thân nhân kẻ xấu số, mặt mũi hốc hác, ngơ ngác, ngồi cầm bó hương, khói nghi ngút, miệng lẩm nhẩm cầu khấn. Nhưng cũng có chài chỉ có một người, vừa chèo, vừa dò. Người này không được thuê nhưng cũng cứ đi tìm. Không phải họ chạnh lòng nhân đạo, hay giàu tình đồng bào. Khi họ chọc, hoặc lưới, hoặc câu thấy một cái xác, thì họ không vớt lên ngay đâu. Họ còn buộc thêm đá vào cho nặng để dìm xác xuống. Rồi giúi kín vào bụi rậm. Họ hớn hở về đi rao, như rao hàng. Họ bắt bí thân nhân của nạn nhân còn vẩn vơ, còn chờ đợi ở cổng sở hãng tàu.
Trong khi ấy, ở Hà Nội, Thừa được tin tàu đắm, thì hắn vừa buồn vừa lo. Hắn mời trạng sư Rô-măng đến nhiều lần, để bàn bạc cách cãi.
Hắn đương đỡ cáu gắt, đương đỡ bần thần, ít nói, bây giờ tóc hắn lại bạc thêm.
* * *
Hãng tàu Tây Sô-va không nhận trục chiếc Bắc Kỳ.
Trước kia, chỉ có công ty Bạch Thái có máy trục tàu đắm. Tàu hãng khác bị tàu Ký Bưởi đánh đắm, cũng lại thuê máy của công ty Bạch Thái trục lên.
Bây giờ ông Bạch Thái Bưởi bán cả cơ nghiệp cho hãng Sô-va, thì hãng này là hãng duy nhất có máy trục.
Ma-ri thuê trục tàu Bắc Kỳ. Nhưng hãng ấy không làm. Ma-ri tưởng hãng ấy đòi hơn tiền thì trả thêm. Nhưng hãng ấy cũng mặc kệ. Mà lại không nói lý do để Ma-ri điều đình.
Ma-ri đi lại năm lần bảy lượt, cuối cùng, hãng ấy bảo:
- Bà có bán thì tôi mua, tính theo giá sắt vụn!
Ma-ri đành khoanh tay.
Hắn nhờ đến thế lực cô Bé Tý. Cô Bé Tý bảo:
- Dì về sửa cái lễ, đem đến đây, chị kêu ngài cho.
Tối hôm ấy, đích thân cô Bé Tý ngồi hầu giá trước Thượng Ngàn.
Vốn đức Ngài linh ứng, nên tá khẩu, nói giọng dấm dẳn:
- Thằng chồng nó báng bổ, không đi đạo, thì bà phạt đấy. Bà còn sai vua Thủy Tề làm đắm nốt chiếc Đại Pháp nữa kia!
Ma-ri sợ lắm, về nói chuyện với Thừa, Thừa cáu tiết, gắt:
- Tôi báng bổ thì quật chết tôi. Sao lại báo thù thằng Giăng mà làm đâm tàu của nó?
Ma-ri thấy Thừa vẫn báng bổ, thì càng sợ. Hắn lại sửa lễ to hơn, đến nhờ cô Bé Tý kêu Ngài xá u, xá mê, xá lầm, xá lỗi cho Thừa là người trần mắt thịt.
Lần này, đức Mẫu Thoải cười khanh khách:
- Ừ, biết oai bà thì bà tha cho.
Ma-ri suỵt soạt tâu:
- Tấu lậy đức bà, thế ngộ vua Thủy Tề được lệnh đức bà bảo đánh đắm chiếc Đại Pháp của tiểu rồi, thì đức bà troàn cho tiểu làm thế nào ạ?
Thánh phán:
- Không cho nó chạy nữa. Néo nó lại cho chắc!
Ma-ri mừng làm sao! Hắn thấy đức Ngài thật đáng được thờ. Đã đề ra đường lối, còn vạch cho cả kế hoạch thực hiện nữa!
Hắn về Hải Dương, đem ý kiến đức Mẫu Thoải nói chuyện với thằng Pôn.
Thằng Pôn vỗ tay mừng, khen mãi Mẫu là cừ. Nó không phải ghen tị với số phận nhàn hạ của thằng Giăng nữa. Nó bảo:
- Tán thành ý kiến của đức Mẫu Thoải!
Hai mẹ con bàn bạc cách làm đúng lời khuyên của thánh, để bảo vệ chiếc Đại Pháp.
Ma-ri mua thêm xích sắt và dây chão hạng đại. Hắn thuê sẵn hai chục cây tre già. Rồi không cho chiếc Đại Pháp chở khách vội vã phải rời bến mọi khi, đỗ ở một nơi khác. Xung quanh thành tàu, hắn cho đóng những cọc tre thật sâu, rồi chằng dây xích và dây chão, buộc ghì tàu với cọc thật chắc.
Chính hắn và thằng Pôn đứng ở đó từ đầu đến cuối để ốp bọn mạch nô làm cho cẩn thận. Chiếc Đại Pháp bị chằng tứ phía, như anh chàng bị trói.
Thấy việc làm được chu đáo, Ma-ri yên trí, nói như thách:
- Cựa nữa đi!
Đêm ấy hắn ngủ yên lắm. Hắn định hôm sau lại về Hà Nội, sửa lễ, nhờ cô Bé Tý kêu đức Mẫu Thoải cho chiếc Đại Pháp lại chạy như thường.
Song, quả như lời thằng Pôn khen, đức Mẫu Thoải của cô Bé Tý là cừ. Không bị sóng, gió, nhưng chiếc Đại Pháp cũng phải ngâm dưới nước từ lúc nửa đêm.
Tinh sương hôm sau, Ma-ri được báo tin tàu đắm. Hắn vội vàng chạy hộc tốc ra bờ sông.
Chiếc Đại Pháp bị chìm, nước ngập gần đến boong.
Những người đến xem, bàn tán và tìm lý do. Lúc ấy Ma-ri mới ngã người ra là đức Mẫu Thoải làm hại hắn. Vì hắn đã dại quá. Chiếc Đại Pháp vì mất cựa nên lúc có nước triều lên nó không thể rền lên theo mà cứ chịu chết dí với những xích sắt và dây chão ghì thật chặt, bắt nó đứng nguyên tại chỗ. Nước triều cao dần, thế tất tràn vào tàu. Rồi sức nặng của cả chiếc tàu được một khối lớn nước giúp thêm sức, đè cho nó chìm tới đáy sông.
Ma-ri trở về sở, ôm mặt khóc lóc thảm thiết quá. Nửa cái cơ nghiệp của Thừa xây dựng hơn mười năm nay, không cánh mà bay. Thằng Pôn thế là tay trắng. Thằng Giăng thế là tay trắng. Con Rô-da-lin thế là tay trắng.
Hắn than thở với những người đến hỏi thăm, đổ là trót tuân lệnh cụ sứ nên xảy ra cơ sự này. Hắn oán trách hãng Sô-va độc quyền máy trục, không giúp hắn, lại nhân hắn bị hoạn nạn mà bắt bí, đòi mua tàu của hắn như mua sắt vụn.
Lời Ma-ri than thở đến tai ông sứ Mát-xi-li. Thằng thực dân đến an ủi hắn.
Nó kể công là không những nó đã đại lượng với Thừa ở Vĩnh Yên, từ ngày về Hải Dương, nó còn tư cho Thừa được bội tinh của vua Bảo Đại. Nó lại vừa lấy ân, vừa lấy uy, can ngăn thân nhân của những người bị chết về vụ tàu Bắc Kỳ bị đắm, đừng kiện cáo gì chủ tàu. Và vừa tuần lễ trước đây, thừa lệnh quan thống sứ chọn dân biểu của chính phủ cử cho khóa sắp tới này, nó đã tự xin cho Thừa làm nghị viên. Trong tờ trình, nó hết lời khen ngợi Thừa là nhà trí thức, nhà từ thiện, nhà quan tâm đến nền thể dục thể thao, nhà thương nghiệp có óc kinh doanh lớn. Và nhất là nó đã chứng nhận Thừa là một người biết ơn nước Pháp, lúc nào cũng tìm cơ hội để tỏ bụng trung thành với chính phủ Bảo hộ.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XVIII
DỐC CÒN SÂU  
 
Muốn chóng lại người, Thừa nghe lời bác sĩ khuyên bảo, là phải đi chơi đó đây để thay đổi không khí.
Hắn đến cảm ơn những người đã lại thăm hắn, trong những ngày hắn nằm giường bệnh: ông Tình muôn thuở, ông Nguyễn Thúc Lăng, trạng sư Rô-măng, cẩm mật thám Pha-lăng-xô.
Muốn nhìn lại cảnh cũ, để nhớ việc xưa, có lần hắn thuê xe giờ, bảo kéo lên Yên Phụ, qua chỗ ở của chị Sáu, rồi vào trong làng, thăm cái nhà có gian buồng cho hắn thuê để giấu cô Lễ đầu tiên. Thấy bà chủ thì già, nhà cửa thì đổi khác, hắn tần ngần, man mác. Hắn đến cửa nhà máy nước, chỗ mà hắn bị nhét cái thức đặc biệt nhất trên đời vào mồm, rồi rẽ vào Ngũ Xã, ngắm nghía cái căn gác thấp mà hắn đã thuê trong mấy tháng. Hắn xuống đường Cổ Ngư, bảo xe đỗ lại chỗ mà ông Hoài Tân Tử gặp hắn, bảo hắn đi làm báo.
Muốn ôn thêm chuyện cũ, hắn lại qua Hàng Đậu, chỗ hắn bị đánh, rồi về Hàng Bồ, xem cái tòa báo Chấn Hưng xưa. Hắn dòm vào gác trong, chỗ hắn ở với cô Lễ. Hắn đến Hàng Đào, liếc nhìn hiệu Phúc Lâm, rồi ra Bờ Hồ, ngắm cái Nhà Vàng của Phòng thuốc nhà giàu cũ. Cái hình ảnh mẹ Mão in trong cuốn Dân quê SOS, cái hình ảnh cô Lễ bị hắn đánh tàn nhẫn, hiện ra trong óc hắn, làm tim hắn đập mạnh, hơi thở rộn lên. Hắn đến Hàng Bông, tới trụ sở của Tổng phát hành thuốc Trung Nam Bắc, rồi qua cái nhà anh Xi ở mà hắn trốn tạm để tránh Múi. Hắn ra ga, xem nhà Đông Phương, xem nhà thằng Tu-nô. Hắn ngó vào gian bếp hắn ở với mẹ Mão và lần đầu hắn nói chuyện với Ma-ri. Nhà săm Đồng Lợi làm hắn bồi hồi. Đây là chỗ hắn rẽ trên quãng đường tình. Hắn giết Múi từ đây, để từ đây, chui đầu vào cái tròng mới của Ma-ri. Và để từ đây, tuy Thúy Lan còn ở trong bụng mẹ, nhưng đã bắt đầu đau khổ, rồi đến thuở dậy thì, bị hắn phá trinh, và đẻ ra con Băng Tuyết!
Có những buổi chiều, hắn đi bộ chơi. Lưng hơi gù, tóc hoa râm, tay chống ba-toong, hắn lững thững quanh hồ Hoàn Kiếm. Lúc mệt, hắn ngồi nghỉ trên ghế, nhìn nước nhìn mây. Trông sang nhà Gô-đa bên bờ kia, hắn còn thấy tấm ghế mà hắn cùng anh Xi ngồi than thở với nhau về cảnh nghèo, rồi anh Xi cho hắn hai hào.
Gần khắp các nơi hắn cố ý hoặc vô tình mà đi qua, mà nhìn thấy, đều nhắc nhở hắn một kỷ niệm cũ. Nhưng khác với người ta là có nơi gợi kỷ niệm buồn, có nơi gợi kỷ niệm vui, còn đối với hắn, nơi nào cũng đánh dấu một tội, làm hắn hối hận.
Hắn muốn về quê chơi vài hôm. Nhưng không thể. Sức hắn còn yếu, chưa chịu được nổi mệt nhọc đường trường. Bác sĩ Pi-ca mấy tuần đầu, ngày nào cũng đến thăm hắn một lần. Rồi thấy bệnh giảm dần, thì vài hôm thăm một lần, và bây giờ, một tuần mới phải đến thay đơn.
Thừa tiêu mất lắm tiền thuốc, nhưng mừng rằng khỏi chết. Người còn thì của hãy còn.
Hôm được tin chiếc Bắc Kỳ đắm, hắn rất giận Ma-ri tham lam và hà tiện khoảng không. Những việc kinh doanh lớn, không thể để đàn bà làm được. Đàn bà chỉ nhìn thấy cái lợi tủn mủn trước mắt, không nhìn thấy cái lợi to lớn lâu dài. Khỏe lên, hắn phải xuống Hải Dương để trông nom công việc mới được. Hắn tin rằng, với hắn, thì một năm, lấy lại được chiếc Bắc Kỳ, và vài năm thôi, thế nào cũng có thêm vài chiếc mới, chạy các đường sông khác.
Nhưng bỗng tin chiếc Đại Pháp đắm đến tai hắn. Rồi lốc nhốc Ma-ri và lũ con kéo về.
Hắn tiếc của, tiếc công lao. Hắn bực bội, thấy chính vì Ma-ri ngu dại mà dìm quá nửa cơ nghiệp của hắn xuống nước. Thêm nỗi uất, là hắn không được sống một mình, sống yên ổn, vui vẻ với những kỷ niệm đau khổ xưa, để ân hận cho nhẹ mình nữa. Thật thế, từ nay, tuy sống ở nhà hắn, ngay giữa thành phố Hà Nội đông đúc, với vợ, với con xung quanh, nhưng mắt hắn sẽ nhìn thấy thái độ lạnh lùng của lũ con thờ ơ, tai hắn sẽ nghe thấy lời xói móc đay nghiến của người vợ ngang ngược, giả dối, không trung thành với chồng. Hắn thấy không khác gì bị dụ ra ở một hòn đảo hoang vắng, để tâm hồn hắn chơ vơ, hiu quạnh.
Bác sĩ Pi-ca biết tin chiếc Đại Pháp đắm, vội vàng đến an ủi hắn và cho hắn thuốc an thần.
Nhưng tâm thần hắn không thể an tĩnh được. Hắn tiếc, hắn uất, hắn bực dọc, chán ngán.
Đêm ấy, hắn lại thấy người rạo rực. Không thể chịu được, hắn lại thổ ra huyết. Lần này, máu ra nhiều gấp rưỡi lần trước.
Cũng lại Ma-ri phải thân hành đi mời bác sĩ Pi-ca đến. Bác sĩ nghe ngực, xem mạch, rồi cho thuốc và dặn Ma-ri:
- Lần trước, ông Thừa đương khỏe mạnh thì thổ ra huyết. Nhưng lần này, ông chưa khỏe thật mà lại thổ ra huyết, và nhiều hơn. Vậy muốn cho ông chóng bình phục, bà tin ở thuốc của tôi đã đành, nhưng chính gia đình cũng phải giúp tôi là giữ cho xung quanh buồng người ốm được yên lặng. Đừng ai nói to. Đừng ai di mạnh. Đừng cho ông nghe thấy điều gì làm ông lo nghĩ, buồn phiền.
Ma-ri hứa.
Bởi lấy nê lời thầy thuốc, lũ con không lai vãng đến chỗ Thừa nằm. Cả ngày chúng nó diện ngất với phấn sáp để nhởn nhơ đi chơi. Tối đến, chúng nó dắt bạn về nhà, cười nói hát hỏng, đùa nghịch với nhau rầm rầm.
Thừa muốn cáu gắt, nhưng không biết cáu gắt với ai. Hắn muốn đóng cửa lại cho khỏi nhộn lỗ tai, nhưng hắn không ngồi dậy được. Hắn đành thở dài, rên rỉ một mình, rồi đập cánh tay xuống giường.
Ma-ri cứ đến tối là không ở nhà. Hắn nói là đi lễ bái, kêu cầu cho Thừa chóng khỏi. Nhưng Thừa biết là Ma-ri chỉ cốt gặp mấy anh cung văn.
Thừa không chịu được hiu quạnh, hiu quạnh người, hiu quạnh tình. Hắn phải tự nghĩ cách làm cho hắn đỡ hiu quạnh. Hắn muốn tìm một người máu mủ ruột thịt để ở luôn bên cạnh hắn, người ấy sẽ săn sóc hắn, giúp hắn rót chén nước, lau cái mặt. Người ấy thỉnh thoảng nói chuyện cho hắn khuây. Vậy người ấy phải là người thuộc tính hắn, chịu được lúc hắn cáu bẳn. Người ấy phải nửa là họ hàng, nửa là đầy tớ, mới hầu được người ốm khó tính.
Thừa bảo Ma-ri viết giấy về quê, gọi ông chú họ hai Điều ra.
Hai Điều đến nhà Thừa, lão tụt guốc dưới chân thang, rồi rón rén lên gác.
Lão thấy Thừa nằm ngửa, hai mắt nhắm nghiền. Hắn lắng nghe hơi Thừa thở, thì biết là Thừa ngủ. Nghĩa là hãy còn sống. Và còn sống thì còn biết. Lão bèn tỏ ngay tình chú cháu cho Thừa cảm động. Lão bưng miệng hộc lên rất to:
- Ôi ông lớn ơi! Con không ngờ ông lớn bỏ con…
Bỗng Thừa giật nảy mình, choàng mắt dậy.
Hai Điều cố làm như mừng rỡ và cố làm như bẽn lẽn vì mình đã khóc lầm.
Cả Ma-ri và lũ con nghe tiếng hai Điều khóc thì chạy đến. Thấy lão già tẽn, lũ trẻ ôm bụng mà cười.
Hai Điều lấy vạt áo hỉ cái mũi không có nước, và chùi đôi mắt không đỏ, rồi nói:
- Con nghĩ khôn chẳng nghĩ, lại cứ nghĩ dại! Thôi, ông lớn càng thọ!
Hai Điều nắm lấy cổ tay Thừa, rồi cố mếu máo uồm uồm nói:
- Con đọc thư của bà lớn, mà cứ như nghe tiếng sét. Chỉ sợ ra không kịp!
Ma-ri nói:
- Quan đốc dặn là nên khẽ khàng, kẻo quan nhà nhức tai khó thở.
Lũ con trai con gái thấy không còn gì để cười nữa, rủ nhau đi.
Ma-ri giao công việc hàng ngày cho hai Điều, rồi cũng đi nốt.
Thấy được vắng vẻ, Thừa mới dám thổ lộ tâm tình:
- Ông ạ, tôi khổ lắm. Sống ở nhà mình với vợ con, mà tôi cứ thấy như sống ở nhà ai ấy. Đấy, thoáng nhìn ông rõ chưa?
Hai Điều muốn an ủi nên lắc đầu:
- Trình ông lớn, không phải thế. Có cái là người ta lúc ốm thì hay nghĩ tủi thân, chứ bà lớn với các cậu các cô thiệt tốt.
Thừa cười:
- Nếu thiệt tốt, thì tôi đã chả nhắn ông ra đây.
Hai Điều không dám làm cho Thừa tin lời nói của mình là đúng nữa, sợ mất chỗ kiếm ăn, mới im lặng.
Thừa hổn hển kể cho lão nghe việc hai chiếc tàu đắm. Hắn bảo:
- Tôi lo buồn, phiền não quá, cho nên tôi ốm. Tôi xem trong mình yếu lắm, không chắc sống được, ông ạ.
Hắn rơm rơm nước mắt. Hai Điều lắc đầu:
- Ông lớn đừng lo thế. Cổ nhân nói, nhất thanh nhì sắc, tiếng ông lớn còn tốt lắm. Không việc gì đâu.
Thừa cau mặt:
- Nhất thanh nhì sắc là nói cô đầu, chứ nói đâu người ốm!
Lão già cười lạt. Thừa nói:
- Tôi lo buồn, phiền não quá, nên phát ốm. Mà có ốm mới càng nhìn rõ vợ con mà lo buồn, phiền não thêm. Cho nên tôi chỉ muốn có người thân thích ở bên cạnh, để thỉnh thoảng được nói câu chuyện cho vợi khổ. Vậy tôi giao hẹn với ông là tôi hỏi gì thì ông nói, ông đừng làm tôi bực mình mà ốm thêm.
Hai Điều gật gật:
- Dạ.
Thừa bảo hai Điều kê cái chõng ở cạnh giường ngủ của hắn, để luôn luôn hắn được nhìn thấy người cho vui mắt.
Hắn hỏi chuyện quê nhà. Hắn hỏi thăm những bạn cùng lứa tuổi với hắn bây giờ đói no, thiếu đủ ra sao. Hắn hỏi thăm cảnh nơi chôn nhau cắt rốn có những gì đổi khác.
Hai Điều trả lời từng câu. Thừa nói:
- Con người ta, đến lúc có tuổi, đến lúc ốm đau, mới khao khát cảnh cũ người xưa đầy thâm tình. Tôi chỉ ao ước được về thăm quê nhà một lần thì có nhắm mắt cũng hả.
Lão già đáp:
- Vâng, ông lớn nói thiệt đúng. Nhiều lúc con ở nhà quê, con nhớ ông lớn bà lớn, với các cô, các cậu cứ cồn cào cả ruột. Chỉ muốn ra chơi thăm ngay thôi.
Thấy câu nịnh hót không thật thà, Thừa nhịn bực. Hắn nằm quay mặt vào:
- Thôi, tôi mệt. Ông cho tôi yên nhé.
* * *
Bệnh của Thừa mỗi ngày một tăng.
Ma-ri lo ngại, muốn thay thầy thuốc.
Hắn mời ông thầy thuốc tên là Cắm Sềnh mới ở Quảng Đông sang, dù bệnh nặng đến đâu, ông chỉ cho uống ba thang là khỏi liền.
Ông Cắm Sềnh vừa vào buồng bệnh nhân, thì quay ra ngay.
Ma-ri sợ hãi, cho là thầy chê. Hắn nói:
- Thưa cụ, cụ đã quá bộ đến đây, thế nào cũng xin cụ xem cho ông cháu. Hay là cụ thấy thế nào, cũng xin cụ bảo thật cho một tiếng, để chúng tôi khỏi ân hận.
Ông thầy nghiêm trang đáp:
- Tôi nhìn quan bệnh nhân, thì biết rằng chỉ một hai thang là chuyển thôi. Nhưng tôi nhất định không chữa chung với đốc tờ. Nếu bà theo thuốc tây thì đừng dùng thuốc bắc, nếu bà mời tôi đến, thì đừng bày ở trước mắt tôi những chai lọ kia nữa.
Ông trỏ tay lên mặt bàn cạnh giường Thừa nằm.
Hai Điều vội vàng dọn dẹp hết thuốc tây đi. Ma-ri dịu dàng, nói:
- Nếu chúng tôi tin thuốc tây, thì chúng tôi đã chẳng mời cụ.
- Ừ, thế thì được.
Ông thầy trở lại.
Ông xem mạch rất lâu, rồi nói:
- Nguyên bệnh không nặng. Nhưng chỉ vì thuốc tây mà hóa ra nặng. Trước hết, tôi phải cho uống tẩy hết thuốc tây đã, thì thuốc của tôi mới có công hiệu.
Ông đứng dậy, bảo Ma-ri cho người đi theo ông để lấy thuốc về.
Ông Cắm Sềnh vừa ra khỏi nhà, Thừa liền bảo đầy tớ lại bày các thứ chai lọ lên mặt bàn. Hắn không muốn làm mất lòng bác sĩ Pi-ca. Hắn phải giấu người thầy thuốc lâu năm của gia đình việc dùng thuốc bắc.
Thừa uống một thang, hai thang, không thấy bệnh chuyển. Hắn uống thêm thang nữa. Rồi lại mời ông Cắm Sềnh đến xem mạch, ông thầy nói:
- Ba thang vừa rồi là để tẩy. Từ hôm nay, ông mới uống thuốc bệnh.
Thừa uống đến thang thứ hai thì thấy quả trong người có khác. Hắn lâm râm đau bụng cả ngày, và đi ngoài đến bốn lượt.
Thấy sắc mặt Thừa nhợt nhạt, hai Điều đến hỏi thầy lang.
- Phải rồi. Vì thuốc công hiệu. Đi ngoài tức là tiêu độc.
Nhưng Thừa không chịu nổi lối tiêu độc ấy đến ba hôm liền. Hắn bỏ thuốc thầy Cắm Sềnh và cho mời ông lang Thạch Từ, vẫn nổi tiếng xưa nay là hay, và chỉ chữa cho các quan.
Ông lang Việt Nam này không giản dị như ông thầy tây, thầy khách ở ngay trong thành phố Hà Nội. Phải đánh ô-tô về tận làng, ăn nói rất lễ phép để mời ông, ông mới bằng lòng đi. Khi ông yên trí bệnh nhân là nhà giàu thật, và cam đoan thết đãi ông như ý ông muốn, bấy giờ ông mới đội khăn mặc áo.
Ngồi xe ô-tô, ông chê đệm bẩn, máy cũ, tài-xế lái vụng.
Đến nơi, ông chưa vào thăm bệnh nhân vội. Ông ngồi ở buồng khách, đòi lấy nước rửa mặt, rửa tay. Ông bẻ là thau không đánh sạch, ông không dùng xà phòng và khăn chung với người khác. Ông ngửi chén, ngửi chè mãi rồi mới nhắp một tí nước vào miệng. Ông bảo nước hơi khói, và phàn nàn rằng chè hơi mốc.
Rồi ông ăn cơm. Thấy mâm đánh bóng nhoáng, bát, đũa, thìa, cốc sạch như li, ông không chê vào đâu được, ông mới uống rượu.
Sau một chén, hai chén, ba chén, rồi bốn năm chén, ông mới đưa bát xới cơm.
Ma-ri thấy ông cành cơi, thì đi ra đi vào, có vẻ rất sốt ruột.
Nhưng ông lang rất ung dung, ông cứ ăn thật thong thả, y như không có việc gì phải vội vàng.
Ông ngồi một mình một mâm cơm, không nói không rằng với ai. Ai đi qua, ông cũng không mời mọc, vô phép. Thấy lũ con của Thừa, ông không chào, còn nhìn chúng nó để chờ chúng nó chào trước. Vì không được đứa nào tỏ vẻ kính trọng, ông phàn nàn với Ma-ri là chúng nó thiếu lễ độ với ân nhân của gia đình.
Ăn xong, ông rửa mặt, xỉa răng, uống nước. Chán chê rồi ông mới hỏi Ma-ri:
- Đâu? Ông Hàn nằm ở đâu?
Ông đến gần giường bệnh. Cũng không chào chủ nhân. Ông rón mấy đầu ngón tay để bắt mạch, rồi lắc đầu:
- Chỉ tai hại về tin đốc tờ với thầy khách đây thôi.
Ông bắt lấy bã thuốc của thầy Cắm Sềnh cho ông xem. Ông chép miệng:
- Không trách bệnh tăng cũng phải.
Ông bảo Ma-ri:
- Cứ tin lời quảng cáo trên báo, còn là tiền mất tật mang!
Ông nhìn các nhãn thuốc tây:
- Tôi không hiểu thuốc tây, nhưng chỉ biết là không có bệnh, mà uống thuốc tây, thì cũng sinh bệnh. Ai lại chữa lao, mà tiêm vi trùng lao vào thân thể người ta bao giờ!
Ông kê đơn, bắt đi cân ngay thuốc.
Thừa uống được một nước, tối hôm ấy. Hôm sau ông lang không cần nghe kết quả, đòi Ma-ri cho đánh xe để ông về Thạch Từ.
Ông nói:
- Tôi còn phải có nhiều khách. Ông xơi ba thang, thấy thế nào, bà cho xe về đón tôi ra.
Nhưng Thừa chỉ thấy bệnh mỗi ngày một biến ra nhiều chứng. Ma-ri lại quay về thuốc tây. Lần này, hắn mời bác sĩ Ánh, một thầy thuốc trẻ tuổi, không chữa bệnh theo phương pháp cũ rích như bác sĩ Pi-ca.
* * *
Một buổi trưa, đương mơ màng, Thừa thấy tiếng léo séo cãi nhau, ở nhà dưới.
Thừa hỏi, thì hai Điều lúng túng:
- Dễ thường tiếng ở nhà bên cạnh.
Thừa cau mặt:
- Rõ rằng tiếng thằng Pôn. Mà cả có tiếng thằng Mão. Ông nghe hộ tôi xem đúng không nào?
Hai Điều vờ lắng tai:
- Trình ông lớn, dễ thường đúng đấy ạ.
Thừa đập tay xuống giường:
- Sao lại dễ thường! Ông xuống xem chúng nó làm gì hộ tôi.
Một lát, lão già lên:
- Trình ông lớn, các cậu cãi nhau ạ.
Thừa gắt:
- Ai không biết! Nhưng đứa nào cho thằng Mão vào? Chúng nó cãi nhau cái gì?
- Trình ông lớn, đâu vì tranh giành chia của thế nào ấy, con nghe lõm bõm câu được câu chăng.
Thừa rên lên:
- Tôi đã chết đâu mà chúng nó tranh nhau chia của. Ông xuống gọi chúng nó lên đây cho tôi.
Hai Điều sợ quá:
- Dạ.
Một lát, tiếng to dần.
Chúng nó không cãi nhau, nhưng lại chửi nhau. Tiếng thằng Mão:
- Ừ, tao chửi thằng bố mày đấy. Thằng bố mày là đứa nào ấy, chứ không phải bố tao.
Tiếng thằng Giăng:
- Tổ tiên sư bố mày, ông cho một nhát thì bỏ tổ tiên sư bố mày bây giờ!
Tiếng thằng Mão:
- Ông chửi bố nó chứ ông chửi bố mày à mà mày động lòng? Mày chửi bố ông thì là ai, mày có biết không?
Thấy lũ con vừa đến buồng mình, vừa chửi nhau, Thừa nổi cơn ho sù sụ:
- Khổ chưa? Nhục chưa? Thế nào? Vào cả đây!
Cả ba thằng con trai và ba đứa con gái tiến vào buồng Thừa.
Thằng Mão hầm hầm xông vào thằng Giăng:
- Ông thách đấy!
Thừa cố thét ra tiếng:
- Im! Thế nào?
Thằng Pôn túm được thằng Mão. Nhưng thằng Mão tránh được. Nó vồ lấy con Ca-mê-li-a. Cả ba đứa con gái cùng the thé:
- Ôi hàng phố ơi! Ôi ông đội xếp ơi! Nó giết tôi.
Thừa cố vùng ngồi dậy. Nhưng hắn lại ngã ngay xuống giường. Hắn thở, mắt giương lên để nhìn tấn náo kịch.
Ba đứa con gái chạy tán loạn, vấp đổ cả ghế. Còn ba đứa con trai thì ôm vật nhau. Những tiếng đấm, tiếng thụi, nghe rợn cả tóc gáy. Thằng nọ ngã, thằng kia nhổm dậy. Rồi thằng kia ngã, thằng nọ lại nhổm dậy. Chúng nó cởi thắt lưng da, quật vào đầu nhau, ném chén, ném cốc vào mặt nhau, chiếc ghế gỗ giơ lên cao rơi huỵch xuống gãy tan tành.
Thừa nhắm mắt lại. Hai dòng nước ứa ra, từ đuôi con mắt chảy xuống má:
- Ông Hai ơi! Tôi không sống được nữa. Ông trình cẩm đuổi chúng nó đi cho tôi.
Hai Điều nói to:
- Ông lớn truyền các cậu các cô đi. Ông lớn mệt.
Thằng Mão cãi:
- Nhà của bố tôi thì tôi ở, ông không có phép đuổi!
Thằng Pôn quắc mắt:
- Nhà này là nhà chúng tao. Bố chúng tao cho chúng tao.
- Tiên sư thằng bố mày!
Ba thằng lại xông vào nhau, vật nhau và đánh nhau. Thừa lịm đi, bất tỉnh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XIX
MỘT CUỘC GẶP GỠ TÌNH CỜ  
 
Bà mẹ Mão lại đau mắt. Lần này, vì không có tiền để sang tận Thịnh Bát, nhờ ông nhì Trường chữa cho, bà đành đến nhà thương đau mắt ở Hà Nội, xin bố thí thuốc vậy.
Cho nên, cũng không còn ai quen trong đất Hà Thành hoa lệ này, bà phải ở nhờ trong xó nhà của Ĩnh con. Ta nhớ rằng con mụ này còn nợ bà tiền.
Vốn hay lam hay làm, nên đi thì chớ, hễ ở nhà là chẳng lúc nào bà để ngơi tay. Quét nhà, gánh nước, thổi cơm, gặp việc gì có thể giúp được dì, là bà không để Ĩnh con phải bảo.
Hôm nay, tuy đôi mắt vẫn còn bọc băng kín mít, bà cũng chẻ củi. Hai tay bà lần lối vào bếp, bà sờ soạng soạn củi, để riêng những thanh to, rồi sờ soạng tìm con dao rựa. Bà ôm củi, cầm dao ra sân, rồi lụi hụi chẻ huỳnh huỵch.
- Gớm, con mẹ này mới vô ý chứ! Đương giữa trưa, không để người ta ngủ! Mù dở mà không biết thân! Chân đã tập tễnh rồi, lỡ bập dao vào tay nữa thì cụt, là bỏ đời.
Ĩnh con vào sân. Nó hấp háy đôi mắt nhìn bà rồi bảo thế. Bà mẹ Mão ngửa mặt, nhăn răng ra cười:
- Có! Làm thì phải cẩn thận chứ, hở cụ?
Ĩnh con bực mình:
- Thôi! Không khiến! Bỏ đấy! Đun cho tao ấm nước vậy.
Nó lầm bầm:
- Thương nó mà chứa nó, thật phiền!
Nói xong, nó ra nhà ngoài.
Nó lại nằm trên phản, quắt như tàu lá cải phơi để muối dưa.
Bỗng có người con gái đứng ở ngoài cửa, hỏi vào:
- Thưa cụ, tôi hỏi thăm cụ, bà Ĩnh con ở nhà trong hay nhà ngoài ạ.
Ĩnh con ngẩng đầu dậy:
- Tôi đây.
Nó cau mặt:
- Ai bảo cô mà cô réo tên tục tôi lên thế?
Người con gái xin lỗi:
- Xin cụ tha cho, tôi không biết. Tại ông Trần Đức Thừa bảo thế.
Nghe thấy ba tiếng Trần Đức Thừa, Ĩnh con vội vàng ngồi dậy:
- A! Cô vào chơi. Quan bảo gì thế ạ?
- Không ạ. Ông Trần Đức Thừa viết thư cho tôi, nói là bao giờ tôi đến Hà Nội, thì nhắn cụ cho ông ấy biết.
Ĩnh con đang bới tóc chưa xong, miệng còn ngậm cái lược, nghe thấy thế, thì nó ngừng tay, và nhìn người con gái. Một tay nó giữ món tóc bới dở, một tay nó bỏ cái lược vào miệng:
- Cho quan biết làm gì ạ?
- Tôi không rõ.
Ĩnh con bới cho xong tóc, lại nhìn người con gái bằng đôi mắt nghi ngờ.
Nó làm nghề gọi gái. Thừa lại là đứa hay chơi gái. Nên thấy người con gái nhờ nó nói với Thừa, thì nó không thể hiểu khác được rằng người này là con gái tử tế. Nó hỏi:
- Cô nhờ tôi nói với quan thế nào nhỉ?
Người con gái hỏi lại:
- Cụ nói quan là ông Trần Đức Thừa ấy ạ?
- Vâng, quan hàn An-be tôi. Ngài được thưởng hàn lâm và long bội tinh.
- Vâng. Nhờ cụ nói rằng, tôi là Thúy Lan, không ở Hải Dương nữa và đã lên Hà Nội ngay từ mấy hôm sau nhận được giấy của ông Thừa. Nhưng sở dĩ tôi chưa cho ông ấy biết ngay, vì tôi cho việc ấy là không cần thiết lắm.
Ĩnh con nhếch mép:
- Cần thiết chứ! Chắc là quan mong cô.
Rồi nó thử:
- Hay là cô đến thăm quan! Quan đương yếu.
Thúy Lan vẫn thản nhiên:
- Tôi muốn đến thăm, thì tôi hỏi cụ nhà ông ấy. Nhưng tôi không đến, vì ông ấy dặn thế, tôi cứ làm đúng như thế.
Ĩnh con kháy:
- Vâng, cô đến thăm quan, chắc quan vui lắm, vì bà hàn với các cô các cậu được tiếp cô.
Đến câu này thì mặt Thúy Lan có tái đi thật. Như bắt được đúng kẻ gian, Ĩnh con hỏi:
- Tôi hỏi thật nhé. Cô là thế nào với quan hàn nhỉ?
Thúy Lan lúng túng:
- Thưa, ông Trần Đức Thừa là bạn với thầy tôi ở Hải Dương ạ.
- Bạn với ông cụ thân sinh ra cô ấy à?
- Vâng.
- À ra thế đấy. Vậy cô cũng có quen cậu Pôn, cậu Giăng ạ?
Thấy Ĩnh con tò mò quá, Thúy Lan mỉm cười, lắc đầu:
- Thưa không ạ.
- Thế hẳn cô là bạn với các cô Rô-da-lin, Ma-gơ-rít, Ca-mê-li-a?
Thúy Lan vẫn lắc đầu:
- Không ạ.
Lần đầu tiên Thúy Lan được nghe những tên ấy, thì biết là Thừa có hai trai và ba gái, đều lớn.
Xong việc, Thúy Lan đứng dậy. Nhưng Ĩnh con chưa hết tò mò:
- Mời cô hãy thư thả. Cô bảo là cô không ở Hải Dương và đã lên Hà Nội phải không ạ?
- Vâng. Nhờ cụ nói rõ cả rằng tôi đã nhận được thư ông Thừa. Nhưng sở dĩ tôi không nhắn ngay cho ông ấy biết, vì cho là không cần thiết.
- Vâng. Tôi xin nói tất cả ngần ấy câu. Thế ra cô ở Hài Dương, cũng chả lại chơi đằng nhà quan Hàn Thừa lần nào.
- Vâng. Chỉ có thầy tôi hay lại thôi ạ.
- Hèn nào cô không biết các cậu, các cô. Nhưng cô có quen bà Hàn không ạ?
- Thưa không.
Muốn không cho Ĩnh con thóc mách, Thúy Lan hỏi:
- Thưa cụ, ông Thừa ở phố nào ạ?
Ĩnh con cho là Thúy Lan muốn hỏi dò về Thừa, thì nó lắc đầu để khoe:
- Quan hàn có lắm nhà lắm, cô ạ. Đâu dễ đến hơn mười chiếc. Vợ con tha hồ sung sướng!
Nói xong, nó tròng trọc nhìn Thúy Lan, nhưng Lan lặng thinh. Nó lại tiếp:
- Quan Hàn thật là người làm ăn giỏi, số giàu có khác.
Thúy Lan cười lạt:
- Nếu có số thì cần gì phải làm, thưa cụ?
Ĩnh con tặc lưỡi:
- Ấy thế. Chỉ vẻn vẹn có mấy năm giời, mà gây được cơ nghiệp! Không có số giời cho và không làm ăn giỏi, thì cô bảo sao được thế?
Thấy Thúy Lan im, Ĩnh con cho là khoe Thừa đã đủ, nó khoe đến nó. Nó lại tặc lưỡi:
- Chả giấu gì cô. Trước kia, chính là quan Hàn nhờ tôi tìm việc hộ đấy.
- Việc gì ạ?
- Có việc gì sang trọng và lương thiện nhiều đâu. Làm phu kíp ở ga Đồng Đăng ấy mà.
Thúy Lan cau mặt, hỏi lại:
- Phu kíp ở ga nào ạ?
- Đồng Đăng. Rồi sau, cô ạ, quan Hàn lại chạy tôi lo cho về Hà Nội, cũng chỉ làm cu-li kéo quạt thôi. Rồi loanh quanh thế nào, mới thôi việc Nhà nước, ra mở hiệu thuốc.
Thuý Lan tái mét mặt, run bắn người lên, phải giơ cánh tay ra chống nẹ để ngồi cho vững. Một lát, mới hỏi được:
- Thưa, cụ là thế nào với ông Trần Đức Thừa ạ?
Ĩnh con lại được dịp:
- Tôi là dì họ quan Hàn. Vì ngài là người đầy đặn, ăn ở có thủy chung, cho nên suốt đời hàm ơn tôi. Tôi nghèo thế này mà cháu không nỡ khinh dì, bỏ dì. Quan Hàn vẫn cưu mang tôi đấy.
Bỗng bà mẹ Mão ở trong nhà, tay xách ấm nước sôi, tay sờ soạng lối đi. Thấy có tiếng người lạ, bà nói:
- Chào bà chơi.
Rồi bà hỏi:
- Cụ nói chuyện quan nào thế?
Ĩnh con với cầm ấm nước:
- Thôi, đi vào!
Bà mẹ Mão không còn việc gì, thì đứng dậy:
- Tôi chẻ nốt chỗ củi, cụ nhé. Cụ thức rồi mà.
Ĩnh con sẵng:
- Này! Không khiến!
- Không. Mắt khỏi rồi. Bây giờ tôi cũng có thể tháo băng ra được.
Ĩnh con gắt:
- Nhà thương người ta dặn mai tháo băng, thì cứ mai.
Bà mẹ Mão không nói, sờ soạng đi vào nhà trong.
Từ lúc Ĩnh con bận nói chuyện với bà mẹ Mão, Thúy Lan được dịp nghĩ về Thừa. Cô muốn rú lên một tiếng khóc. Cô không ngờ đời cô còn bị thêm cái cảnh đau đớn đến mức này.
Cô nghĩ đến mẹ cô. Cô nghĩ đến con cô, con bé Băng Tuyết.
Cô đứng dậy, nói với Ĩnh con:
- Thôi, tôi vô phép cụ.
Ĩnh con cố níu cô lại:
- Mời cô ngồi chơi. Chả mấy khi. Cô còn muốn hỏi gì về quan Hàn không ạ?
- Cảm ơn cụ, không ạ!
Ĩnh con chép miệng, ghé gần tai Thúy Lan rồi trỏ vào phía trong:
- Đấy, vừa rồi đấy, vợ cả quan Hàn đấy.
Thúy Lan trợn đôi mắt.
Ĩnh con lại chép miệng:
- Chỉ tại quê mùa quá, nên quan mới bỏ. Quan mê ở Đồng Đăng, bỏ cả một người nhân tình đã có mang với ngài, rồi mới làm bạn với bà Hàn bây giờ. Bà này vừa đẹp vừa thạo.
Thúy Lan như mê sảng, Ĩnh con tiếp:
- Bà Hàn bây giờ là người lai, cô ạ.
Thúy Lan không dám ngồi lại để nghe thêm nữa.
Bỗng cả Ĩnh con lẫn Thúy Lan cùng nghe thấy tiếng người quen léo nhéo nói chuyện với nhau ở ngoài hè phố. Tiếng quen của Ĩnh con là tiếng Ma-ri. Tiếng quen của Thúy Lan là tiếng An-na Phán.
Ma-ri dắt tay An-na Phán, vừa vào nhà, vừa khanh khách cười với nhau.
Thúy Lan thấy An-na Phán thì muốn biến ngay đi. Nhưng vì không có phép tàng hình, cô đành ngồi lại để chạm trán với con người kinh tởm này. Nhưng Thúy Lan ngại là bất nhã với người cũ, và bất nhã với người bạn đi với An-na Phán mà cô không biết là ai. Vả vừa nghe chuyện Thừa, lại gặp ngay mặt An-na Phán, cô như không đủ sức đứng dậy để đi được.
Ma-ri giới thiệu An-na Phán với Ĩnh con:
- Bà An-na Phán là bạn tôi, mới ở Hải Phòng lên chơi.
An-na Phán đã nhận ra Thúy Lan:
- Kìa! Em!
Thúy Lan có làm mặt vui vẻ, chào hai người:
- Chào chị. Chào bà!
Đáng lẽ Ĩnh con phải giới thiệu Thúy Lan cho Ma-ri và An-na Phán, nhưng nó không biết nói thế nào. Thấy bà khách Hải Phòng quen cô con gái mới đến, nó đùn việc giới thiệu cho bà ấy. An-na Phán nói với Ma-ri:
- Xuy-dan, em tôi.
Ma-ri mỉm cười, cúi chào Thúy Lan. An-na Phán lại giới thiệu Ma-ri với Thúy Lan:
- Bà Ma-ri, tức là bà hàn An-be Thừa.
Thúy Lan như nghe tiếng sét đánh ngang tai. Cô loạng choạng đứng dậy. Thấy cử chỉ lúng túng của Thúy Lan, An-na Phán hiểu, Ĩnh con hơi hiểu. Nhưng Ma-ri không hiểu tí gì. An-na Phán vốn ác, nó cau mặt trách Thúy Lan:
- Em không thèm nói chuyện với chị à?
Thúy Lan cố cười:
- Thưa chị không ạ. Em ngồi đây sợ ngăn trở câu chuyện của các bà với cụ.
An-na Phán trừng trừng đôi mắt màu tro, nói dở đùa dở thật:
- Chị vẫn còn quyền bắt em ngồi lại!
Thúy Lan hiểu. Nhưng Ma-ri và Ĩnh con không hiểu. Ma-ri trách An-na Phán:
- Cái gì? Thôi! Mày ngãng cả câu chuyện!
Rồi nói với Ĩnh con:
- Tính con mẹ vẫn đồng bóng thế đấy, bà ạ. Lắm lúc nó hách như bà lớn.
An-na Phán cười sằng sặc. Thúy Lan ù tai, mắt hoa lên.
Bỗng bà mẹ Mão ở nhà trong, tập tễnh sờ soạng đi ra.
Ma-ri chợt nhìn thấy, vội vàng im bặt, mặt tái mét. Nhưng để trả thù cho đỡ căm hờn, nó đứng phắt dậy, ra nhìn đường để quay đít lại bà mẹ Mão.
Thấy cử chỉ đột ngột của Ma-ri, Ĩnh con hiểu. Thúy Lan hiểu. Nhưng An-na Phán không hiểu.
Bà mẹ Mão thì chẳng hiểu tí gì cả. Bà chào khách:
- Chào các bà chơi!
Rồi bà hỏi:
- Cụ gọi gì tôi phải không?
Ĩnh con lo lắng, vội vàng xua tay:
- Ai gọi gì nhà mày đâu. Thôi, vào nhà trong.
Bà mẹ Mão thấy mình lầm thì nhăn răng ra cười. Bà ghé ngồi lên phản, tay với với như để tìm cái gì. Ĩnh con hỏi:
- Gì?
- Cháu xin cụ miếng trầu. Nhạt cả mồm.
Ĩnh con đưa trầu cho bà, rồi giục:
- Thôi, xuống nhà, để người ta nói chuyện.
Thúy Lan nhìn Ma-ri, nhìn bà mẹ Mão, rồi nghĩ đến mình. Cô không thể nào ngồi nán được nữa. Mặc cho An-na Phán muốn giận là cô khinh người, làm gì cô thì làm, cô nhất định đứng dậy:
- Chào cụ, chào hai bà.
Cô đến gần bà mẹ Mão, nắm tay bà, rồi chào:
- Chào bà.
An-na Phán thấy Thúy Lan ban nãy hốt hoảng và lãnh đạm, bây giờ lại chào mình là bà, thì nó nhìn theo, mát mẻ nói:
- Này cô! Tôi bảo. Mấy năm nay tôi không được tin cô, tôi cứ tưởng cô làm gì, ở đâu. Không ngờ lại gặp cô ở đây!
Nó gọi Thúy Lan là cô để xói móc xa xôi. Vì nó tưởng Thúy Lan cũng biết như nó, là Ĩnh con làm nghề ma-cô.
Nhưng Thúy Lan không hiểu. Cô mỉm cười với nó, rồi ra cửa.
Thúy Lan đi khỏi. Bà mẹ Mão cũng vào nhà trong. Ma-ri quay lại, ngồi trên phản, định nói chuyện.
Nhưng An-na Phán vẫn tức Thúy Lan. Nó nói theo:
- A, con ranh con gớm thật. Chưa khỏi vòng đâu mà đã vội cong đuôi nhé!
Nó hỏi Ĩnh con:
- Nó đến đây làm gì thế, hở cụ?
An-an Phán muốn điều tra về hiện tại của Thúy Lan.
Nhưng nó lại muốn giấu Ma-ri việc Thúy Lan với Thừa, vì sợ Ma-ri nhìn thấy mặt nạ của nó.
Nhưng Ma-ri không muốn nghe những việc không có ích gì cho hắn, nên gạt đi:
- Thôi! Can bà lớn!
Hắn hỏi Ĩnh con:
- Ban nãy con sen nhà tôi đã gặp bà chưa?
- Chưa, thưa bà bảo gì ạ?
- Tôi bảo bà đi thửa cho con lợn sữa quay mà?
- Vâng. Chú Dếnh làm món này thì tuyệt lắm.
- Phải, để tôi thết con mẹ này. Nó là bạn cố tri của tôi đấy, bà ạ. Bà bảo chú ấy kiếm con nhỏ, độ ba đồng thôi. Mà quay khéo hơn bận trước ấy nhé.
- Vâng.
- Tôi đã đưa tiền cho con Sen. Chắc thế nào chốc nữa nó cũng đến đây.
- Vâng. Bà còn bảo gì nữa không ạ.
- Thôi!
An-na Phán hất hàm, nhắc Ma-ri. Ma-ri nói:
- À, quên, rồi bà tìm mấy chân, bảy giờ tối đến tôi đánh chắn nhé. Bà An-na thích chắn lắm.
- Dạ.
An-na Phán hỏi:
- Cụ tìm hộ những tay hay đánh to, chứ đánh nhỏ thì buồn chết.
- Hay các bà đánh mạt chược thì dễ tìm người hơn?
An-na Phán lắc đầu:
- Không thích.
Ĩnh con hỏi:
- Thưa còn gì nữa không ạ?
Ma-ri gật đầu:
- Còn.
Hắn trỏ tay vào trong:
- Bà lập tức phải tống con trời đánh đi ngay. Tôi không bằng lòng cho bà chứa nó.
An-na Phán hỏi:
- Sao vậy?
Ma-ri không đáp. Ĩnh con sợ hãi:
- Xin vâng ạ. Cũng mai thì nó đi thôi.
Ma-ri quắc mắt:
- Không được để đến mai! Phải tống ngay!
- Dạ.
An-na Phán nói đùa:
- Mày vừa chửi tao là bà lớn, nhưng mày bà lớn quá tao!
Ma-ri cười gượng. An-na Phán nhìn Ĩnh con:
- Tôi trông cụ, hình như quen quen.
Ĩnh con cũng nhìn An-na Phán. Ma-ri đùa:
- Đồng nghiệp từ bao giờ ấy mà lại chả quen.
An-na Phán vẫn nói đứng đắn:
- Ngày trước, cụ có ở ngoài ga không nhỉ?
Ĩnh con gật:
- Thưa có, một dạo tôi có trăm năm với ông sếp Chánh Phi-lô-mát ạ.
An-na Phán sực nghĩ ra:
- À, đúng rồi.
Nó trỏ Ma-ri:
- Con bà cô này cứ nói tên cụ là cụ Ĩnh con, thành thử tôi chả biết là ai. Thì ra là bạn cũ cả.
Ĩnh con vẫn ngạc nhiên:
- Bà cũng biết tôi ạ?
An-na Phán đáp:
- Vâng. Ngày ấy, con bà cô này được thằng Tu-nô bao, còn tôi thì là bà Phê-li-mông, cụ có nhớ không nào?
- À, à! Thế thì cố tri cả. Ngày ấy bà làm bạn với ông Phê-li-mông bao nhiêu lâu ạ?
- Kể ra thì nó tốt, biết chiều vợ, nhưng bây giờ ăn cơm mới, nói chuyện cũ, tôi gặp cụ đây, thì nhất định phải trách cụ mới được. Chính là cụ chia uyên rẽ thúy.
Ĩnh con ngớ mặt:
- Sao bà lại trách thế ạ?
- Nói chuyện cũ nghe chơi thôi, chứ việc hàng hai chục năm rồi, có trách cụ cũng chẳng bắt đền cụ được nữa.
Ĩnh con ngơ ngác:
- Quái nhỉ?
- Thế cụ có nhớ ngày ấy cụ tìm được con bé nào ấy, cụ nhốt ở nhà bồi, rồi cụ cho ông Phi-lô-mát hiếp không?
Ĩnh con giật nảy mình, vội vàng xua xua tay và trỏ vào trong nhà:
- Bà nói khẽ chứ.
An-na Phán nói tiếp:
- Rồi ông Phi-lô-mát thấy con mẹ nhà quê chơi tốt quá, mới gọi bạn cho cùng hưởng. Thế là cả thằng Tu-nô nhà con mẹ này, thằng Phê-li-mông nhà tôi, thằng Max, và thằng Bốc-phi-ca nữa, xúm vào quần con mẹ mấy đêm liên. Giá thằng Phê-li-mông được ăn, cứ câm họng đi, thì tôi cũng chẳng biết. Nó về, còn khoe với tôi. Thế là tôi không chịu. Có phải như vậy, là nó khinh tôi không nào? Cụ nhỉ. Nó lấy mình hẳn hoi, thế mà đi chơi gái nó không thèm giấu mình, có phải nó coi mình đúng là con vật, nó bắt gì cũng phải chịu không? Cho nên tôi mới đánh nhau với nó một trận.
Ma-ri cười:
- Mày chửi tao hay ghen, nhưng mày ghen quá tao.
- Lấy tây thì yêu chó gì nó đâu mà ghen. Chẳng qua tao tự ái vì nó khinh tao là đồ chơi, thì tao tức. Mình trẻ đẹp, thạo tiếng tây, lại thạo đời, thì cần đếch gì đứa nào! Bỏ thằng này thì bà lấy được ngay thằng khác, chứ bà chịu thất nghiệp ngày nào mà bà sợ! Cho nên tôi đánh nhau với nó một trận kịch liệt, rồi đòi bỏ đi.
Nói xong, An-na Phán vén quần lên đến bẹn:
- Đây, cái sẹo này là kỷ niệm trận chiến tranh ấy đây.
Nó hỏi Ĩnh con:
- Thế có phải là tại cụ không nào?
Ĩnh con cười:
- Vâng, em xin chịu.
An-na Phán cũng cười:
- Nhưng tôi cũng phải cảm ơn cụ mới được. Không có cụ dắt díu cho chúng nó con mẹ nhà quê ấy…
Ĩnh con lại xua tay:
- Bà nói khẽ chứ.
An-na Phán hạ thấp giọng:
- … Thì dễ thường tôi chịu làm nô lệ thằng Tây suốt đời. Chúng mình bây giờ làm ăn độc lập là giữ được giá trị cho giới mình. Bây giờ thì Tây làm nô lệ mình. Khối lần có những thằng phải chắp tay lậy tôi, tôi mới cho con gái.
Ĩnh con gật đầu:
- Đúng thế. Lắm lúc nghĩ cũng thấy mình danh giá. Nhưng hai chúng mình, dễ chưa ai bén gót bà Hàn tôi đây.
Ma-ri sung sướng, tủm tỉm cười. Nhưng An-na Phán lắc đầu:
- Cụ tưởng thế thôi. Chứ dù gì thì lấy chồng cũng mất tự do. Tự đem thân mình vào ngồi tù thôi.
Ma-ri vênh váo:
- Mày tưởng thế? Mắt mày mù à? Năm đứa con còn sống của tao, có đứa nào giống thằng lẹm ấy không?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XX
ĐỂ ĐI CHO NHẸ NHÀNG  
 
 
Có người lạ mặt, ăn mặc khá chững chạc, tay cầm một bọc, đòi cho được giáp mặt ông chủ. Hai Điều đáp:
- Quan tôi mệt nặng. Ông có việc gì, xin ông cứ báo, để lúc ngài tỉnh, thì tôi trình.
Nhưng người ấy bất chấp lời từ chối quyết liệt, cứ xông vào nhà:
- Ông chủ nằm trên gác phải không?
Người ấy vào buồng Thừa, kiễng chân để đi thật nhẹ nhàng, rồi cúi đầu, chào rất lễ phép. Người ấy lấy cái đĩa, mở bọc ra. Đó là hai quả lê và ba quả táo. Đặt quả vào đĩa, người ấy rút lui, lấy tấm danh thiếp, đưa cho Thừa:
- Thưa cụ, thật là đột ngột. Chúng tôi xin lỗi cụ.
Thừa đọc danh thiếp, rồi nói:
- Mời ngài ngồi. Ngài là chủ hiệu đòn đám ma.
- Thưa vâng. Trước hết, chúng tôi đánh bạo lại thăm cụ, dâng cụ chút lễ mọn, để chúc cụ chóng bình phục. Được thế là nhất, chúng tôi rất mừng. Nhưng nếu nói đổ xuống sông xuống biển, số trời không cho các ông các bà được nhà cụ lâu, thì chúng tôi xin cụ cho cái vinh dự được đến hầu hạ cụ.
Thừa tỏ vẻ khó chịu:
- Nghĩa là ông mong cho tôi chết, để súy khách trước các nhà khác phải không?
Không ra vẻ ngượng ngập, người khách đáp:
- Xin cụ thứ lỗi cho. Chúng tôi đâu lại có dã tâm ấy. Sở dĩ chúng tôi dám đến đây để xin việc được hầu hạ cụ, là vì hiện giờ cụ còn tỉnh, cụ có thể định trước cho đám của cụ được như ý muốn của cụ. Không những cụ yên tâm mà các ông các bà cũng khỏi ân hận.
Thừa đáp:
- Tôi mệt lắm, không muốn nghe ông nói đâu.
Hắn gọi Hai Điều:
- Ông Hai ơi, ông tiếp ông khách hộ tôi.
Người chủ nhã đòn vẫn trơ tráo:
- Vâng, cụ cho phép.
Hai Điều mời người khách xuống nhà. Nhưng hắn ta cứ ngồi:
- Xin cứ ở đây để bàn, ngộ cụ có cần sửa đổi thêm bớt khoản nào không?
Rồi nói luôn:
- Thưa hai cụ, chẳng nói thì hai cụ cũng rõ. Chúng tôi làm nghề hầu hạ các cụ đã hơn mười năm rồi. Chỉ nhà chúng tôi mới có những thứ sang trọng nhất và làm ăn cẩn thận nhất, mà giá lại hạ nhất. Là vì chúng tôi không coi nghề này là nghề kiếm ăn, mà coi là việc phúc đức.
Thừa nhăn nhó:
- Mời ông xuống nhà. Tôi mệt lắm!
- Vâng ạ, thưa cụ, chúng tôi được biết cụ là cụ Hàn, lại được đức Kim thượng ban thưởng Nam long bội tinh, cụ tuổi tỵ, con cháu đề huề, thưa thế cũng gọi là trung thọ rồi và không có gì là nghịch cảnh nữa đấy ạ. Vậy thì chúng tôi nghĩ rằng lễ rước cụ ra đồng, phải theo lối ta, chứ theo lối tây, tuy đỡ tốn thật, nhưng không coi được. Vả lại, tôi chắc cụ cũng chỉ muốn cho đám cụ được uy nghi, chứ một cụ chủ cái cơ nghiệp này, dù có tốn kém vài trăm chắc cũng không kỳ quản.
Thừa rên lên:
- Thôi! Tôi mệt lắm, Mời ông xuống nhà.
Vẫn không ngượng ngập, người chủ nhà đòn lại tiếp:
- Nhưng cụ bà lại là người Âu hóa, nếu đám cụ ông mà hoàn toàn theo cổ, tôi chắc cụ bà chưa bằng lòng. Vậy xin là cứ nửa ta, nửa tây. Thế là được vừa ý cả hai cụ.
Thừa giãy lên:
- Thôi, tôi van ông. Mời ông xuống nhà. Thế nào tôi cũng xin bằng lòng, ông hai! Ông mời ông khách xuống nhà đi.
Ông khách cười vui vẻ, hỏi Hai Điều:
- Thưa, cụ là thế nào với cụ Hàn tôi ạ?
- Thưa tôi là chú họ.
Ông khách hớn hở:
- Vâng, thế thì tôi xin hầu chuyện cụ.
Hai Điều đứng dậy:
- Hay mời ông để khi khác, đợi bà Hàn tôi về hãy hay.
- Nhưng tôi sợ cụ bà lại nhận lời với người khác rồi.
- Không ạ. Bà Hàn tôi đi lễ, chắc về ngay bây giờ đấy ạ.
- Vâng. Thế thì chúng tôi xin ngồi dưới nhà để chờ cụ bà ạ.
* * *
Việc người chủ nhà đòn đám ma đến súy khách, càng làm cho Thừa thấy rõ là mình không sống được mấy ngày nữa.
Lúc mê đã đành, lúc tỉnh, hắn hay nghĩ ngợi đến quá khứ, đến tương lai.
Hắn than thở với Hai Điều:
- Tôi mà chia cái cơ nghiệp này không công bằng, thì thế nào chúng nó cũng giết nhau, ông ạ. Không cứ là thằng Mão với những đứa con nhà tôi, mà chính năm đứa này cũng không để cho nhau yên đâu! Mà biết chia thế nào được công bằng cho những đứa khác mẹ, khác bố này! Tôi khổ tâm lắm, ông ạ!
Một lần, Thừa nói:
- Tôi muốn theo gương cụ thượng Trần ở Cổ Am, ông ạ. Các con cụ chơi bời phá của lắm, cụ tức mình mới đem tất cả các đồ quý giá lên tỉnh, bán rẻ đi hết, để quyên vào quỹ cứu tế. Cụ bảo thà bán đi để tiền cho ăn mày, còn hơn cho lũ con hư. Tôi cũng muốn làm thế, ông ạ. Chúng nó có oán, thì oán tôi. Bắt chúng nó nghèo khổ, chúng nó mới mở mắt mà chịu làm ăn được.
Một lần, không biết là thấy trong mình thế nào, Thừa gọi Hai Điều đến gần. Hắn khóc rưng rúc, rồi bảo:
- Nhờ ông lật cái đệm nằm của tôi lên, để đếm xem tôi còn bao nhiêu tiền.
Hai Điều làm theo:
- Trình ông lớn, có một nghìn chín trăm đồng ạ.
Thừa nhắm mắt lại một lát, rồi quay nhìn Hai Điều:
- Tôi không sống được mấy ngày nữa. Tôi muốn đi cho nhẹ nhàng. Vậy tôi nhờ ông giúp tôi mấy việc này. Ông về ngay nhà quê, đưa cho mẹ thằng Mão năm trăm bạc. Nó với tôi, chả gì cũng còn nghĩa là vợ chồng. Nhưng xin ông giữ kín cho. Tôi bỏ nó ngần ấy năm trời, làm nó nghèo đói, đau khổ, bệnh tật, bây giờ tôi rất hối hận. Rồi ông đưa cho thím Xi hai trăm, nói rằng tôi giúp thím ấy nuôi các cháu. Ông dỗ dành cho thím ấy nhận. Ông bảo nếu thím ấy không nhận, thì tôi nhắm mắt không yên đâu. Ông ạ, chú Xi đối với tôi thật là tốt, mà tôi đối với chú ấy chả ra gì. Tôi xấu hổ lắm.
Hai Điều an ủi:
- Thế nào nhà nó chả nhận. Chính thằng chồng đi cộng sản, nó làm khổ vợ con nó.
- Ông đừng nói thế, không đúng đâu. Tôi biết.
Thừa thở dốc một hồi rồi tiếp:
- Ông về nhà quê, rồi mai ông ra ngay, để giúp tôi một việc nữa. Là ông lên Cẩu Rồng, đến nhà đội Tuynh, bảo hắn là tôi có lời hỏi thăm. Hỏi thăm thôi, chứ không phải cho tiền, ông ạ.
Hai Điều ngơ ngác:
- Ấy con tưởng ông lớn biết tin đội Tuynh rồi?
- Chưa. Tin gì?
- Hắn bị điền tốt ở Cẩu Rồng đánh què chân từ năm ngoái kia rồi mà. Ông lớn không biết à?
- Chưa.
- Hắn làm quản lý cho nhà thờ. Hắn theo đạo. Nhưng hắn vẫn ác quá.
Thừa thở dài:
- Thế thì ông không lên Cẩu Rồng nữa. Ông ở nhà quê ra, thì tôi nhờ ông đến nhà bà Ĩnh con hỏi bà ấy xem cái người con gái tên là Thúy Lan ở đâu, thì ông đến tận nhà, đưa tận tay cho cô ta hộ tôi một nghìn bạc.
Hai Điều trợn đôi mắt ngạc nhiên. Thừa nói:
- Một nghìn là ít đấy ông ạ. Tôi nợ bà đẻ ra cô ấy năm trăm bạc hơn hai mươi năm nay mà chưa có lúc nào trả được. Cơ nghiệp của tôi về sau này sở dĩ gây nổi, là do món tiền ấy, ông ạ. Nhưng ông đừng nói rõ điều ấy, chỉ nói là tôi gửi tiền cho cô ấy nuôi cháu thôi.
Hai Điều hỏi:
- Trình ông lớn, nói là nuôi cháu, liệu cô ta có nhận không.
Thừa thở dài:
- Ông cứ nói thế cho tôi. Ông lại hỏi thăm xem cô ta bây giờ làm gì, có đủ tiêu không nhé.
- Ông lớn tử tế quá.
- Phải, bởi vì…
Thừa ngập ngừng. Hai Điều hỏi:
- Sao ạ?
- Cô ấy là con tôi, ông ạ.
Nói xong, Thừa rưng rức khóc. Một lát, hắn nói:
- Lại còn một việc cuối cùng nữa.
- Vâng ạ.
- Ông có nhớ hiệu Phúc Lâm không nhỉ?
- Nhớ ạ.
- Ông ạ. Tôi đã phá hạnh phúc của gia đình này.
Thừa lại bưng mặt, rồi vừa thổn thức vừa tiếp:
- Ông hỏi dò hộ xem, bây giờ em trai bà Lễ làm gì? Gia đình ấy có khá không? Tôi ác quá, đã giết người chị, lại bắt người em!
Thừa quật hai tay xuống chiếu, ngửa mặt, giương đôi mắt trào những nước mắt, trừng trừng nhìn trần nhà.
Đợi cho Thừa đỡ thở, Hai Điều hỏi:
- Trình ông lớn, thế có giúp tiền nong gì không ạ?
Thừa kêu lên:
- Người ta không thèm!
Hắn lại khóc nức nở.
Hai Điều lẩm nhẩm tính, rồi nói:
- Thế vị chi là mới hết có nghìn bảy. Ông lớn có những nghìn chín.
Lão giờ thấy Thừa chưa nói đến cho mình tiền, thì nhắc khéo:
- Thua ông lớn còn cho ai nữa không ạ?
Thừa lắc đầu:
- Không.
Lão già nói đến nơi:
- Cho họ hàng ở nhà quê ấy ạ.
Thừa nghĩ rồi nói một mình:
- Bà Ĩnh con thì chả xứng đáng. Tôi cũng giúp nhiều rồi.
Hai Điều gãi tai, cười cười:
- Trình ông lớn…
Thừa sực nghĩ ra:
- À, ừ nhỉ. Còn hai trăm, tôi biếu ông.
Hai Điều hớn hở:
- Dạ, đội ơn ông lớn. Ông lớn thiệt chu đáo.
* * *
Hai Điều về nhà quê. Hôm sau, lão ra ngay. Lão mở một gói nhỏ, đưa cho Thừa:
- Trình ông lớn. Con nói thế nào bà Hàn cả cũng không lấy tiền. Bà gửi làm quà ông lớn một gói khế khô.
Thừa như bị ngất đi. Hắn phì phò thở những hơi rạo rực, không đều nhau. Hai Điều sợ quá, lay gọi:
- Trình ông lớn! Trình ông lớn! Ông lớn tỉnh chưa?
Một lát, Thừa mở từ từ đôi mắt ứa tràn nước:
- Mẹ thằng Mão sống bằng gì hở ông?
- Trình ông lớn, bà Hàn cả bây giờ yếu lắm. Mắt có tật, chân có tật, chả làm gì được. Tháng tháng, cậu cả vẫn gửi tiền về nuôi bà.
Thừa thở dài:
- Nó ăn cắp, ông ạ.
- Không. Con nghe nói cậu ấy làm với ông mét Khánh Sơn ngoài Hà Nội này.
- Khánh Sơn xem số ấy à? Nó làm gì?
- Thưa, đi điều tra hộ. Ví dụ có ai nhờ ông mét Khánh Sơn xem số, thì muốn nói cho đúng nhà cửa, con cái, quá khứ của người ta, ông mét Khánh Sơn phải cho người đến tận nơi để hỏi dò. Việc này gọi là điều tra. Cậu cả làm việc điều tra ấy, và cũng học nghề bói tướng của ông ấy.
Thừa lắc đầu:
- Lại làm nghề bịp. Khác gì nghề ăn cắp.
Hắn dặn:
- Tôi cấm cửa nó. Ông bảo người nhà từ nay thấy nó đến thì phải đuổi ra ngay. Hễ nó nói láo, thì đi gọi đội sếp. Thằng Pôn với thằng Giăng phải luôn luôn ở cạnh tôi để canh nó cho tôi.
- Vâng.
Im một phút, hắn thở đánh phào:
- Bố nào con ấy!
Rồi hắn hỏi:
- Thế còn thím Xi, có khá không?
- Trình ông lớn, chị này cũng nhất định không cầm tiền. Sợ ông lớn quở, con phải bỏ hai trăm đấy rồi con chạy.
Thừa mỉm cười:
- Được!
Hắn quờ tay như muốn lấy cái gì. Hai Điều hỏi:
- Trình ông lớn xơi nước ạ?
- Không, ông cho tôi gói khế.
Hắn nhìn những miếng khế phơi khô mà thuở ít tuổi hắn rất thích ăn. Hắn lấy một miếng, cho vào miệng. Bỗng hắn hộc lên, rồi úp mặt xuống giường, hai vai rung lên vì nức nở.
* * *
Hai Điều đi làm nốt hai việc ở Hà Nội.
Hắn đã gặp Thúy Lan và đã hỏi dò những nhà ở cạnh hiệu Phúc Lâm.
Về Thúy Lan, lão già nói:
- Trình ông lớn, cô Thúy Lan không nhận nghìn bạc.
Thừa trợn ngược đôi mắt, há hốc mồm, chân tay mình mẩy run cầm cập.
Hai Điều lại lay gọi, lấy khăn mặt ướt đắp vào trán cho hắn. Khi thấy hắn tỉnh hẳn, lão tiếp:
- Trình ông lớn, cô Thúy Lan hình như có tính đa nghi, nên cứ gặng hỏi con với ông lớn là thế nào. Sau con phải mạn phép ông lớn mà nói thật là chú họ ông lớn, thì cô mới mừng rỡ và nói chuyện lâu.
- Nói những gì?
- Trình ông lớn, cô Thúy Lan nhắn con trình ông lớn là cái két tiền trong tủ áo, cô vẫn giữ nguyên. Cô không làm thế nào gửi trả ông lớn được.
- Hừ! Giữ nguyên.
- Cô lại xin lỗi vì không biết ông lớn mệt nặng để đến hỏi thăm.
Thừa thở dài, lẩm bẩm:
- Đến thế nào!
- Thưa bây giờ cô sắp lấy chồng. Người chồng cùng làm với cô ở hiệu tây bán sách, phố Hàng Trống.
Thừa nở một nụ cười:
- Thế à?
Hắn hỏi:
- Con bé con thế nào?
Lao già nghĩ một lát, rồi nói:
- À, vâng, tên nó là Băng Tuyết.
- Ông có nhìn thấy con Băng Tuyết không?
- Thưa có.
- Có ngoan không? Có khỏe mạnh không?
- Thưa có. Con bé béo, trắng, trông hay lắm. Lúc con đến nhà, thấy nó đương chơi búp bê.
Lão già mỉm cười:
- Trình ông lớn, sung sướng nhất họ ta là ông lớn đây.
Thừa hỏi:
- Thế nào?
- Thưa là có cháu ngoại sớm ạ.
Thừa thở dài:
- Hẳn cô Thúy Lan đi làm lương, thì đủ ăn.
- Vâng. Cô ấy nói: Cháu đủ ăn rồi, để tiền này dành cho ba cháu Băng Tuyết xơi thuốc.
Thừa sửng sốt:
- Gọi là ba cháu Băng Tuyết.
Lão già nghĩ để chữa lại lời hớ hênh, rồi đáp:
- Trình ông lớn, con nhăng. Bởi vì lúc cô nói là ba cháu, lúc cô nói là ba cháu Băng Tuyết, con chẳng hiểu thế nào.
Thừa quật tay xuống giường:
- Ông nói gì tôi với cô Thúy Lan để cô ấy gọi thế?
- Trình ông lớn, không ạ.
- Không ông, thì lại con mẹ Ĩnh con thôi, ông còn nói với cô ấy những gì nữa.
Hai Điều sợ hãi:
- Không ạ. Con không nói gì nữa. Chỉ có cô Thúy Lan nói chuyện với con thôi.
- Chuyện gì?
- Thưa, cô dặn là đừng nói cho ông lớn biết về việc cô sắp lấy chồng.
- Thì là đáng mừng chứ sao?
- Nhưng mà, trình ông lớn, có lẽ việc không thành đâu ạ.
Thừa cau mặt:
- Tại sao?
- Con đoán thế.
- Ông đoán được?
- Vâng. Lúc ấy sắp đến giờ đi làm, cô Thúy Lan đưa con đến sở. Cô giới thiệu con với người chồng chưa cưới.
- Mặt mũi có khá không?
- Trông người cũng thật thà, phúc hậu.
Lão già mỉm miệng:
- Buồn cười. Cô Thúy Lan lại giới thiệu con với cậu ta là ông chú bên nội.
Thừa phồng mồm, thở phù ra một hơi dài. Lão già tiếp:
- Trình ông lớn, ba người đương nói chuyện, hỏi thăm nhau, thì có một bà Tây lai xồng xộc vào. Mắt bà ta nhờ nhờ như gio, trông đến sợ. Bà ta đến gần cô Thúy Lan, hầm hầm nói: “Cô phớt tôi là không được đâu nhé. Tôi bắt cô về Hải Phòng làm cho tôi”. Cô cãi, thì bà ta mở ví, lấy cái giấy xanh xanh đưa cô, rồi bảo: “Có công việc gì mà cô đến nhà con mụ Ĩnh con?”. Cô lại cãi nhưng bà mắt nhờ nhờ không nói đi nói lại, bà ta đưa tờ giấy xanh cho người chồng chưa cưới của cô xem.
Thừa rên lên:
- Trời!
Hắn ho. Ôm ngực gò lưng để ho một hồi, rồi nhăn nhó, nằm xuống. Hai Điều nói:
- Giấy ấy có ảnh của cô Thúy Lan ông lớn ạ. Lúc ấy ông chủ thấy ồn ào, thì chạy ra. Bà Tây lai lại đưa tờ giấy xanh cho ông chủ.
- Trời!
Chân tay Thừa run cầm cập.
- Trình ông lớn, lúc ấy cô Thúy Lan khóc. Người chồng chưa cưới với ông chủ nhìn cô, rồi không biết nói gì với bà mắt gio bằng tiếng Tây, con thấy bà ấy có vẻ vui lắm. Còn cô Thúy Lan thì vẫn khóc.
Thừa kêu trời đến năm phút, rồi rên rỉ một mình:
- Muốn lương thiện cũng không nổi với cái đời ác nghiệt này! Tôi khổ lắm, ông ạ. Nội các con tôi đẻ ra, tôi ghét nhất thằng Mão, nhưng thương nhất hai đứa ấy. Xuy-dan, Băng Tuyết! Con.
Hai Điều như lạc vào rừng. Lão kể đến gia đình Phúc Lâm:
- Trình ông lớn, cái nhà này thế mà gớm lắm! Ông cụ Tú chết đã lâu. Bà cụ tú mói chết năm kia. Người con giai theo cộng sản phải tù hai lần mà vẫn không sợ. Lần thứ hai, bị khép án mười năm, lúc đi đày lên Sơn La, anh ta trốn đi mất. Hiện giờ, người ta nói anh ta ở bên Nga. Anh ta có một đứa con giai. Con có trông thấy thằng bé ấy. Nó giống anh ta như đúc. Nó đã đi học. Còn người vợ bây giờ ngày bán hàng tấm ở chợ Đồng Xuân, tối dạy quốc ngữ cho bà con trong phố học. Người ấy có chân trong hội Truyền bá học quốc ngữ. Nhà này bây giờ thắp đèn điện. Cái mái hiên truớc kia cúp về đằng trước, thì nay chữa vểnh lên cho sáng cửa hàng.
Thừa gật đầu:
- Tôi đi qua, có trông thấy.
- Cửa hàng ấy là của người em ruột người vợ, thuê để bán tạp hóa.
Thừa mỉm cười:
- Mừng.
Hắn muốn thở mạnh, thở nhiều. Nhưng không được. Hai tay hắn vuốt ngực, như cố đẩy cho không khí vào phổi. Thành thử có tiếng hổn hển, mà ngực nhô lên dẹp xuống, càng làm cho hắn mệt thêm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 12:39:03 bởi Thanh Vân>
XXI
TRONG NHỮNG GIỜ PHÚT SẮP LÊN TIÊN  
 
Hôm nay là ngày cuối cùng trong đời Thừa. Gọi tiếng chữ, là ngày quy tiên.
Lúc ấy độ tám giờ sáng.
Bỗng Ma-ri mừng rỡ, chạy rầm rập lên gác, vào buồng Thừa, tay cầm một tờ giấy đánh máy:
- Ông ơi! ông được quan thống sứ cử làm đại biểu nhân dân Bắc Kỳ.
Ma-ri cười ha hả:
- Sướng quá! Danh giá quá! Khỏe lên, ông ạ. Ông đừng chết mà uổng đời.
Thừa cầm tờ giấy. Nhưng mắt hắn đã lờ đờ. Hắn thở khó lắm rồi.
Hai Điều nói khẽ:
- Trình bà lớn, hai chân ông lớn đã nề lên rồi.
Ma-ri thản nhiên:
- Thế thì ông đi mời ngay cụ tú Trác đến cho tôi hỏi.
Bỗng ở nhà dưới có tiếng reo, rồi tiếng con Ca-mê-li-a nói:
- Đi lên Đông Hưng viên, khao pa-pa được cử làm một cái sự nghị viên chúng mày ơi!
Hai Điều hỏi:
- Cụ tú Trác nào?
Tiếng con Rô-da-lin:
- Đ… vào Đông Hưng viên! Đ… có chỗ nhảy!
Ma-ri trả lời hai Điều:
- Cụ tú Trác mở hiệu đối trướng ở Hàng Bông ấy mà.
Thừa gắt:
- Đã chết đâu mà rối lên thế! Còn sống ít ra là ba hôm nữa.
Tiếng thằng Pôn:
- Ít cần nhảy nhé. Hôm nay chủ nhật. Ăn xong, chúng ông đi đánh cá ngựa.
Hai Điều nói:
- Con cứ tưởng cụ tú Trác là cụ lang.
Tiếng con Ma-gơ rít:
- Thế thì lên Mê-trô-pôn [120] Bảo nó dọn cho buồng riêng.
Tiếng con Ca-mê-li-a:
- Nhưng ăn ban ngày, làm gì có một cái sự âm nhạc.
- Đét cần. Đứa nào rủ bạn nấy, đem âm nhạc riêng đi mà chơi.
Tiếng thằng Giăng:
- Chả có thì tối tổ chức nhảy ở nhà. Ông với thằng Pôn phải đi đánh cá ngựa, không nhảy được.
- Nhưng ông cụ ốm. Nhảy ở nhà thì bất nhã lắm.
- Ít cần ông cụ nhé! Con Ca-mê-li-a lên bảo bà cụ cho tiền khao đi. Còn phải đi mời bạn, còn phải com-măng tiệc[121], kẻo muộn.
Ma-ri nghe rõ từng ấy lời nói của các con. Hắn gọi Thừa:
- Ông! Ông!
Thừa nhìn Ma-ri:
- Chùm chìa khóa, ông để đâu?
Thừa nói không ra tiếng:
- Làm gì?
- Để tôi lấy tiền cho chúng nó đi khao nghị viên của ông.
- Không có tiền! Không khao!
Ma-ri dịu dàng:
- Ông! Ông!
Thừa nhăn mặt:
- Thế chỗ hai trăm tôi đưa hôm nọ đâu?
- Làm gì còn? Đã một trăm đặt cho người chủ nhà đòn rồi.
Thừa rên lên:
- Chưa chết đã sửa soạn chôn!
Ma-ri bực:
- Vả còn bao nhiêu món không tên nữa. Đấy, ông có giỏi thì dậy mà chi tiêu lấy. Tôi mặc kệ! Việc nhà ông thì ông lo!
Thừa lại rên lên. Ma-ri nói:
- Thế thì ông đưa thìa khóa đây! Cứ giữ khư khư như mả tổ ấy!
- Hết tiền rồi!
Hai Điều thấy là lấy lòng người sống có lợi hơn lấy lòng người sắp chết, lão gật đầu, ra hiệu gọi Ma-ri. Lão tặc lưỡi mách thầm:
- Còn nghìn rưởi, để ở dưới đệm ấy.
Nói xong, lão xuống nhà.
Ma-ri đi đến giường. Hắn không nói năng gì cả, lật mạnh chiếc đệm lên:
- Chả tiền là cái gì đây!
Hắn cuộn cả tập giấy bạc đút vào túi.
Thừa bị hất mạnh, xô vào góc giường. Khi thấy mất của, hắn giơ cánh tay ra để ngăn Ma-ri. Nhưng cử chỉ này chỉ là tượng trưng thôi. Hắn nằm xa Ma-ri quá. Tay hắn run rẩy, chậm chạp quá. Hắn chỉ tỏ thái độ được bằng những tiếng rên rỉ, hừ hừ.
Mặt Ma-ri tươi tỉnh hẳn lên. Hắn xuống nhà dưới, muốn chừng để cho lũ con tiền.
Một lát, hắn lại lên với Thừa. Hắn nói:
- Ông ạ. Bây giờ ông còn tỉnh táo, thì ông nên định để làm giấy má, chia những gì cho đứa nào, kẻo ông mà nằm xuống, thì tôi không biết làm thế nào cho chúng nó đỡ tranh giành nhau đâu.
Thừa không đáp.
- Mấy lị hiện giờ, cũng nên trù ngay lấy một món để lo liệu lễ an táng ông sao cho trọng thể. Thì ông thử tính xem, nên giữ cái ở phố nào, nên bán cái ở phố nào.
Thừa gắt:
- Không vẽ vời ma chay gì cả! Cứ bó chiếu, rồi quẳng ra hè.
Cố nói được câu dài, Thừa như kiệt sức. Hắn quay mặt vào tường, nhắm mắt lại.
* * *
Ông Tú Trác đến, ngồi chờ ở buồng khách. Ma-ri ra tiếp. Hắn nói:
- Cụ ạ. Ông Hàn nhà tôi mệt nặng mấy tháng nay, tôi trông chừng khó lòng khỏi. Hiện nay chỉ còn là việc hàng giờ thôi.
Ông Tú ngớ mặt:
- Thế à? Ông nằm đâu? Cho tôi lên hỏi thăm.
Ma-ri ngăn:
- Thôi, cảm ơn cụ. Tôi mời cụ đến, cốt để bàn chút việc, kẻo nước đến chân mới nhảy, sợ không kịp.
- Vâng, người trí lự biết trước công việc mà lo liệu là phải. Thế bà đã gặp ông chủ nhà đòn chưa?
- Thưa rồi.
- Ấy sao bà chả bảo tôi giới thiệu cho. Tôi có ông em mở nhà đòn, đồ đạc đẹp, làm ăn cẩn thận, nội bao nhiêu công việc khai báo ở đốc lý, mua quan quách, thuê đất cát ở nghĩa trang, ông ta cáng hộ hiếu chủ tuốt. Thế bà thuê ai?
Ma-ri móc trong túi, lấy tấm danh thiếp của người chủ nhà đòn mà hắn đã đặt tiền, đưa ông Tú Trác xem. Ông Tú bĩu môi:
- Ái chà, thằng này giã nặng phải biết! Nó đòi bà bao nhiêu?
- Kể ra tùy mình muốn lịch sự chừng nào thì mất tiền chừng ấy, chứ bao nhiêu chẳng đủ.
- Nhưng nó làm ăn không cẩn thận đâu. Coi không khéo nó quật áo quan xuống đường đấy! Nhưng thôi, tùy bà.
- Mấy lị tôi đã đặt tiền rồi.
Ông Tú cười hô hố:
- Cha mẹ ơi! Nó lại bắt đặt tiền nữa! Nó cần mình chứ mình cần nó đâu nhỉ!
- Ông ấy bảo nếu không đặt trước thì ông ấy nhận đám khác mất.
Ông Tú lại cười:
- Người ốm còn đấy, biết là chết ngày nào, mà nó làm như tàu hỏa, đi có giờ, ai không lấy vé trước thì lỡ chuyến ấy. Thôi, bà đã trót thì thôi. Thế bà muốn tôi giúp bà gì ạ?
- Thưa tôi muốn nhờ cụ một ít câu đối.
- Vâng, hàng tôi có cả câu đối thửa, lẫn câu đối thuê. Bà muốn thuê đi trong lúc đưa đám, hay thuê để thờ đến năm mươi ngày, trăm ngày, xin bà cho biết.
- Cụ cho giá cả?
- Cái đó là tùy câu bằng vải, bằng vóc, bằng xa-tanh, bằng lượt hay bằng đũi. Mỗi thứ này, lại có nhiều hạng, tùy theo chữ dán bằng giấy hay bằng nhung. Cả hoa hoét nhiều hay ít nữa. Nhưng đắt rẻ đáng kể là cái lạc khoản. Lạc khoản là người chức tầm thường thì ít tiền, lạc khoản là người chức tước cao thì nhiều tiền. Chứ theo thứ bậc phẩm hàm nhà vua, mỗi trật cao lên một đồng.
- Thế là thế nào ạ?
- Ví dụ hàn lâm đãi chiếu, thì thêm hai đồng, cung phụng thì ba đồng, cho đến hường lô, thái thường, nhị tam phẩm, thì có cái thêm đến hàng chục.
Ma-ri suy tính một lát rồi nói:
- Thế nào tôi cũng thuê của cụ thôi. Tôi còn xem những câu đối khách khứa mang đến phúng, nhiều ít thế nào, sau này mới định và thưa chuyện với cụ được. Giờ thì tôi chỉ nhờ cụ nghĩ cho một đôi câu đối thờ ông cháu thôi.
- Vâng, cũng được. Bà cho biết ông bao nhiêu tuổi, cảnh gia đình thế nào, có những chức tước gì. Và ai đứng tên lạc khoản.
Ma-ri ăn trầu, rồi đáp:
- Thế này, cụ ạ. Ông nhà tôi thuở bé có du học bên Tàu, được tấm bằng làm thuốc của Chính phủ bên ấy cấp cho. Nhà tôi về, mở hiệu bào chế, rồi mở phàng khám bệnh. Sau, rồi làm báo, làm chủ bút báo, cụ ạ. Sau rồi làm đồn điền. Sau rồi buôn tàu thủy.
Ma-ri giấu cái nghề buôn thuốc phiện lậu, và nghề gá bạc. Ông Tú Trác gật gù:
- Ái chà! Đại doanh nghiệp chủ! Ông nhà được hàn lâm gì ạ?
- Tôi không rõ. Đàn bà dốt nát, cụ ạ.
Ma-ri rũ lên cười để đỡ bẽ, rồi tiếp:
- Ông nhà tôi còn được ba đạo tưởng lục và được Hoàng thượng ban Nam long bội tinh nữa.
- Ái chà! Bậc đại gia!
- Vâng. Khóa nghị viên tới này, nhà tôi được Chính phủ cử làm dân biểu.
Ông Tú Trác tặc lưỡi:
- Ái chà! To lắm nhỉ!
Ông gãi mép, rồi nói:
- Kể ra trong minh tinh, thì phải viết cho đủ đầy, nhưng còn câu đối, thì chỉ cần kể một vài cái đặc biệt hơn đời nhất thôi. Ví dụ chữa bệnh để cứu dân độ thế, làm báo để khai hóa quốc dân, làm nghị viên để bênh vực quyền lợi cho đồng bào.
- Nhưng nhà tôi mới nhận được nghị định quan thống sứ cử làm dân biểu sáng hôm nay thôi, cụ ạ.
Ông Tú im lặng, rồi lắc đầu:
- Không cần, cốt lấy cái ý làm nghị viên thôi. Người làm nghị viên mà lại được ban thưởng Long bội tinh thì thật là có giá trị.
- Nhưng nhà tôi được thưởng bội tinh và có công khác chứ không phải vì làm nghị viên đâu, cụ ạ.
Ông Tú gật đầu:
- Tôi hiểu rồi. Nhưng hậu thế, ai biết thật giả thế nào. Người ta tin ở chữ nghĩa còn để lại thôi chứ, chữ nghĩa mà không để nói dối, thì ông Thánh đặt ra nó làm gì? Gọi là ông Thánh vì thế đấy, bà ạ.
Nói đoạn, ông mỉm cười rồi hỏi tiếp:
- Còn cảnh gia đình nhà ta thì thế nào?
- Thưa tứ thân phụ mẫu đã tịch cả rồi. Chúng tôi sinh với nhau được tám bận, nhờ trời nuôi được năm.
- Các cô các cậu có ai đỗ đạt gì hoặc đã đi làm với nhà nước chưa ạ?
- Thưa các cháu còn bé cả.
- Đương học?
Ma-ri ấp úng.
- Ông thọ bao nhiêu tuổi ạ?
- Năm nay nhà tôi…
Ma-ri rú ra cười:
- Chả biết bốn nhăm, bốn sáu, hay hơn ấy. Độ này ruột gan tôi cứ lú lấp đi thôi.
- Vâng, ông mệt, bà còn tâm trí nào! Thôi thì cứ cho là ngũ tuần. Tôi sẽ nghĩ đối câu đối thờ ông thật xứng đáng với sự nghiệp của ông và gia thế nhà ta. Nhưng xin bà cho biết là câu đối đứng tên bà hay đứng tên các cô các cậu ạ?
- Xin tùy cụ.
- Vâng. Vợ khóc chồng thống thiết một cách, con khóc cha thống thiết một cách. Dùng chữ không đắt, có khi câu đối của con gái khóc cha, lại như vợ khóc chồng, mà câu đối của vợ khóc chồng, lại như tình nhân khóc nhau. Chữ nghĩa khó thế đấy, bà ạ.
- Vâng, trăm sự nhờ cụ. Nhưng tôi thiết tưởng tôi và các cháu, chả có chức phận gì, mà nhà tôi, thì như cụ nói, sự nghiệp và gia thế to.
- Thế thì ai đứng tên ở lạc khoản được?
Ông Tú nghĩ ra:
- À, được. Bạn bè thân thích cũng có thể khóc nhau bằng những lời chí tình. Như bài cụ Yên Đổ khóc cụ Nghè Vân Đình, thật ai đọc mà cầm được nước mắt!
- Thế thì tôi lại phải nhờ các ông bạn nhà tôi khóc nhà tôi à? Thưa cụ?
Ông Tú lắc đầu một cách thản nhiên:
- Không cần. Ông Hàn nhà chắc quảng giao, thì vô khối các quan là bạn bè. Cho nên bà muốn người đứng tên trong lạc khoản là ai cũng được. Ai biết đâu? Là bố chánh, là tuần phủ hay là tổng đốc, xin bà cứ bảo?
- Vâng, chức tước đã vậy, nhưng còn tên?
- Ô, tên thì lấy gì là không được? Nhưng khóc ông nhà, tôi tính phải là ông bạn khoa đến tiến sĩ, hoặc đến tuần phủ mới xứng đáng, bà ạ.
Ma-ri vui sướng:
- Vâng. Nhưng muốn kín đáo, cụ ạ, tôi tưởng nên viết là ông tuần phủ ấy về hưu rồi thì hơn. Bởi vì quan tại chức ít, ai cũng nhớ tên, chứ quan về hưu thì vô số, ai biết ai vào với ai?
- Vâng, xin lĩnh ý. Vậy tôi cứ đề là Thế nghị, nghĩa là bạn thân, đệ tam giác đồng tiến sĩ xuất thân, nghĩa là làm tuần phủ đã về hưu. Còn tên, thì hoặc Nguyễn Văn Mỗ, hay Trần Văn Mỗ cũng được.
- Hay lấy tên là Lê Văn Bản, chẳng trùng với ai mà người ta hỏi, cụ ạ.
- Vâng, thì Lê Văn Bản.
Ông Tú gật gù:
- Câu đối của một bậc đại khoa đại hoạn khóc một ông bạn thân là đại doanh nghiệp chủ, với đại gia, có nhiều ý hay lắm đấy bà ạ. Tôi xin về nghĩ, rồi đưa bà phủ chính cho sau.
- Thưa phủ chính là thế nào ạ?
- Là chữa hộ.
- Chả dám. Cụ nhã nhặn quá!
Ma-ri chợt nhớ ra một việc:
- À, thưa cụ, thế thì cụ lấy bao nhiêu tiền ạ?
Ông Tú đáp ráo hoảnh:
- Cứ cái lạc khoản ấy cũng đáng của tôi trăm bạc rồi.
Ma-ri thở dài:
- Xin cụ bớt cho.
Ông Tú lắc đầu:
- Không, văn chương chữ nghĩa không có lệ mặc cả! Thế là quá rẻ rồi bà ạ. Bà chẳng bằng lòng thì thôi cũng được.
Ông bắt bí:
- Cả Hà Nội này, còn có ai là khoa mục mà mở hàng đối trướng nữa đâu, thưa bà?
- Vâng, tôi biết. Thế nào tôi cũng phải nhờ đến cụ thôi.
Ông Tú hỏi:
- À thế còn việc mua quan tài, việc cúng cấp, làm tấu sớ, bùa bèn, bà đã nhờ ai chưa. Nếu chưa, tôi giới thiệu cho.
- Cụ quen những người ấy ạ?
- Vâng, chả giấu gì bà, toàn là họ hàng, thì phải dắt khách cho nhau. Tôi tiếc rằng tôi không biết ông nhà mệt, để mách chú nó làm ông lang, đến để trông nom thuốc thang cho.
Ma-ri cảm động:
- Cảm ơn cụ.
Ông Tú đứng dậy:
- Thế dứt khoát câu đối là một trăm nhé?
Ma-ri thở dài:
- Vâng. Xin cụ cố làm cho hay hộ. Còn tiền, chúng tôi không dám tiếc.
* * *
Thằng Pôn, thằng Giăng, con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít, con Ca-mê-li-a mời tất cả hơn hai mươi bạn đến hiệu ăn tiệc.
Khi tất cả ngồi vào bàn, thằng Pôn đứng lên nói mấy câu. Tay nó cầm cốc rượu, miệng nó tủm tỉm, cố làm ra vẻ thân mật để tránh không khí trịnh trọng:
- Chúng mày! Ông via nhà tao thì sắp mọt, nhưng sáng hôm nay lại nhận được nghị định thống sứ cử làm nghị viên dân biểu Bắc Kỳ. Tao vội vàng nã ngay tiền bà via để cho chúng mày một bữa khao thả cửa. Tao sợ chờ đến mai, lỡ ông via ngoẻo, thì nguội cả nước non. Vậy chúng mày cứ ăn cho no, uống cho say. Tuy chúng mình là trí thức thất nghiệp, nhưng chúng mình cũng là thanh niên. Thanh niên thì phải vui vẻ trẻ trung. Chúng mày nâng cùng tao cốc rượu để chúc:
Đại Pháp vặn tóe!
Đông Dương vặn tóe!
Nam nữ thanh niên vặn tóe!
Các mitx vặn tóe!
Dứt lời thằng Pôn, tiếng cười nổi dậy, tiếng vỗ tay vang một hồi dài.
Một thằng bạn đứng lên, ngực ưỡn, mặt phềnh phạo cho ra vẻ hiên ngang, trỏ vào thằng Pôn:
- Mày chúc thế còn thiếu, con nhà khỉ ạ! Chưa đúng nguyện vọng của bọn trí thức thất nghiệp chúng mình. Mày quên chúc ông via nhà mày chóng mọt để được sớm chia gia tài, lấy tiền cho chúng ông chơi với à?
Lại một tràng pháo tay và những tiếng cười rầm rộ nổ lên để tán thưởng cái ý kiến rất thiết thực.
Chúng nó bắt đầu uống và ăn.
Đứa nọ bá cổ đứa kia, cố đổ cho được rượu vào mồm. Con Ca-mê-li-a láu cá, ngậm một hụm, rồi khẽ nhổ ra mù soa. Bỗng có đứa thét:
- Tẩy chay cái lối uống rượu lậu của mitx Trà Mi!
Năm sáu thằng ghì lấy con bé. Một đứa vành mồm, một đứa đổ rượu vào miệng, và hai đứa cù nách. Con bé cười sặc sụa, rượu trôi xuống cuống họng. Nó cứ phì phì nhổ ra:
- Ông ít thích một cái sự phát-xít độc đoán ấy đâu nhé!
Từng ấy cái miệng ngoác ra, từng ấy cái lưng còng xuống để cười.
Bỗng tiếng nhạc du dương nổi lên làm im bặt những tục tĩu đương ồn ào.
Đứa nào cũng sệt ghế, lau miệng. Rồi thằng con trai đến trước mặt đứa con gái, đứng thẳng người, cúi đầu và lễ phép giơ tay như đỡ lấy người được mời nhảy.
Điệu nhạc trầm bổng thánh thót. Những tà áo nhẹ nhàng bay bay. Những bàn chân lướt từng bước nhịp nhàng thong thả. Những cánh tay giang ra, rập rờn như cánh phượng múa. Khiêu vũ độ hai mươi phút, chúng nó lại tiếp tục vào tiệc.
Lại ép nhau uống. Lại đè ngửa nhau ra để dốc rượu vào mồm.
Tiếng cười, tiếng nói, những danh từ rất ít chọn lọc, được tuôn ra, mỗi lúc một nhộn thêm.
Rồi lại nhảy. Nhảy rồi lại ăn.
Đứa đã say, mặt đỏ nhừ, mắt hoa, lưỡi líu, tay chệnh choạng. Nhưng mắt thằng con trai không trông lầm bạn gái ra bạn trai khác. Tay nó không ôm lầm lưng người ra lưng ghế. Và lưỡi nó không phát âm lầm những tiếng tục ra tiếng thanh.
Cốc thủy tinh vỡ xoang xoảng, tiếng xé như tiếng những trận cười. Chúng nó ném vỏ lê, vỏ táo, vỏ chuối vào mặt nhau.
Đứa này tránh né sau lưng đứa khác. Đứa nọ chạy trốn, giơ đứa kia ra làm mộc đỡ đạn. Đứa chui xuống gậm bàn, rình túm lấy bạn, để đổ nước cà phê lên đầu tóc.
Tấn kịch thật là náo nhiệt, đẩy dần dần cái không khí vui vẻ trẻ trung đến độ điên cuồng nhất.
* * *
Trong khi lũ trẻ nô đùa mất dạy với nhau ở bữa tiệc, thì ở nhà, Thừa được báo tin là có cha Hảo đến. Hắn nhăn mặt, lắc đầu, thều thào bảo Hai Điều:
- Mời ông ấy… ở nhà dưới… Bà tiếp… Tôi mệt… Tôi khổ lắm… Chả sống được đến… ba hôm nữa đâu… Ông ạ.
- Thưa, bà không có nhà, ông lớn tiếp vậy ạ!
Hai Điều xuống gác.
Khi hắn lên, cả nhà tu hành cũng đi theo.
Người cha đạo giơ bắt tay Thừa. Thừa run run, đáp lễ:
- Con chết mất, cha ạ.
Cha Hảo ngồi xuống ghế:
- Chính vì nghe tin con ốm nặng, không có phần sống, mà cha đến thăm con.
- Cảm ơn… cha.
- Lại nghe tin con được chính phủ cử làm nghị viên dân biểu khóa này, cha đến mừng con.
Thừa không nói. Hắn không đủ sức nữa.
- Cha muốn ban ơn cho con lần cuối cũng, trước khi con an giấc ngàn thu.
Thừa vẫn yên lặng.
- Là cha định đến để rửa tội cho con đặng con được rỗi linh hồn.
Nhà tu hành nhìn hai Điều, giảng:
- Tức là lên thiên đàng.
Lão giờ chắp hai tay:
- Dạ, lậy Phật, cha thiệt tử tế với quan con.
- Rửa tội tổ tông và tội mình phạm. Tội ông A-dong và bà E-va ăn quả cấm, là tội tổ tông.
- Dạ.
Lão cha đạo quay lại Thừa:
- Còn tội mình phạm, thì con nhiều lắm. Nhưng rửa tội không có gì phiền phức. Cha lấy ít nước trong vào cái cốc này, rồi rót vào đầu con vài giọt. “Tao rửa mày, nhân danh cha và con và thánh thần”. Cha nói hết câu ngắn ấy là rửa sạch được tội cho con. Nếu con còn sức, con chỉ nói: “Tôi xin bỏ ma quỷ”. Nếu con còn sức nữa, con nói thêm: “Và tôi tin có đức chúa Lời”. Nhưng con mệt, không nói cũng không sao. Rửa xong tội là con rỗi linh hồn, được lên thiên đàng.
Thừa cau mặt, quật bàn tay xuống giường:
- Không tin phép ấy… Lắm tội lắm… không thể nào rửa hết nổi.
Người cha đạo lắc đầu:
- Con phải tin có đức chúa Lời.
Thừa lắc đầu, thều thào khẽ:
- Không.
- Tôn giáo bao giờ cũng khuyên người ta làm điều thiện, đổi người ác thành người thiện.
Thừa lại lắc đầu, thều thào khẽ hơn:
- Không.
- Con phải tỉnh táo mà hầu chuyện cha mới được.
Thừa vẫn lắc đầu:
- Chưa mê… nhưng mệt lắm… không nói dài.
- Cha tiếc là bao nhiêu lần cha khuyên con theo đạo, mà con không nghe cha. Nhưng bây giờ con sắp chết, cha lại thân đến đây để rửa tội cho con, con phải cho là một vinh dự to lớn nhất trong lúc con sắp tắt nghỉ.
Hai Điều mách:
- Nếu thế thì quan con phải đi đạo? Nhưng thưa cha, bà con đã trót mặc cả đám tang theo tục lệ bên đời rồi.
Nhà tu hành gật đầu:
- Không hề gì. Miễn là thuê thêm năm lá cờ đen để cho đi đầu thôi. Không thuê được thì nhà thờ cho mượn.
Thừa vẫy hai Điều:
- Kê cao đầu.
Cha Hảo mừng rỡ:
- Con đã vâng lời cha.
Thừa xua tay:
- Không.
Nhà tu hành bẽ bàng:
- Tôn giáo bao giờ cũng khuyên người ta làm điều thiện, đổi người ác thành người thiện.
Thừa ho sù sụ một hồi thật lâu, rồi nói nhát gừng:
- Đạo Gia tô… đạo Phật… có đã lâu… sao ở đời… kẻ ác… ngày một nhiều?… Thế là… tôn giáo… không đổi nổi… người ác… thành thiện… hay càng có… tôn giáo… người đời… càng ác… Nói phét!
Thừa thở dốc một hồi, nằm lịm đi. Người cha đạo đỏ mặt, nhìn hai Điều:
- Nó chưa bỏ ma quỷ.
Hắn nói với Thừa:
- Chỉ có người không theo đạo nào mới làm người ác.
Hai Điều biết là người cha đạo có ý ám chỉ Thừa. Thừa nhăn mặt, xua tay, vẫy hai Điều:
- Kê cao đầu.
Rồi hắn lại nhát gừng:
- Ai ngủ… với vợ tôi?… Ai đùn con… cho tôi?… Ai gỡ… tội giết người… cho tôi?… Vì sao… Ai cướp… ruộng… đền… vợ tôi…? Như tôi mà… lúc sắp chết… chỉ cần… vài giọt nước lã… đổ vào đầu… là sạch tội… lên thiên đàng… thật chết cười… thôi… ông đừng… đạo đức giả…
Nói được từng lời ấy, Thừa thở hồng hộc, nhắm mắt lại.
Nhà tu hành nhún vai, bĩu môi, ra vẻ thất vọng. Hắn vuốt mạnh tay vào mặt cho máu chạy đều, rồi đứng lên, lẳng lặng quay đi. Miệng hắn lẩm bẩm:
- Cha làm việc mở nước Chúa không lọn.
Cả một đống đen ngòm từ từ xuống gác.
* * *
Chờ cho lão cha đạo đi lâu rồi, Thừa mới gọi hai Điều. Hắn nhăn má, cười một cách khó đăm đăm:
- Hẳn nó… cáu lắm.
- Trình ông lớn, con thấy mặt cha hầm hầm.
Thừa ho sù sụ một hồi lâu. Hai Điều phải nâng lưng cho hắn cao. Nhưng cơn ho không ngớt. Hắn cứ nhăn nhó, rũ mặt xuống mà sù sụ.
Rồi hắn thở. Chừng mười phút sau, hắn nói khẽ:
- Tôi… chết mất… ông ạ. Có lẽ… chỉ sống được… hết… ngày mai thôi.
Hai Điều vội vàng:
- Trình ông lớn, ông lớn đừng lo, đừng nghĩ ngợi gì. Ông lớn cũng đừng nói nữa. Nên nằm yên mà tĩnh dưỡng.
- Nhưng… chúng nó… có… cho tôi… được… nằm… yên… mà tĩnh dưỡng… đâu.
Hắn tiếp:
- Đấy… Ông xem.
Hắn thở ì ạch, rồi gọi:
- Ông! Kê… cao đầu.
Lão già làm theo. Thừa bảo:
- Ông… ghé xuống đây… tôi… nói chuyện.
- Dạ.
- Tôi… nhờ ông… một… việc nhé.
- Trình ông lớn cứ truyền.
- Ông… xuống… ngay… Hải Phòng… cho tôi… Đến… đường…
Hắn nghĩ mãi, rồi nói:
- Đường… Quần ngựa.
- Thưa đường Quần ngựa ạ.
- Nhớ chứ?
- Dạ.
- Hỏi thăm… nhà bà… An-na Phán.
- Dạ, bà An-na Phán.
- Biên vào… giấy. Cái bà… tây lai… mắt gio ấy.
- À. Dạ.
Hai Điều tìm bút, ghi mấy chữ cần nhớ, rồi hỏi:
- Thưa số nhà mấy ạ?
- Để… tôi nghĩ.
Chừng hai ba phút sau, hắn nói:
- Quên… rồi. Cứ đến… đấy… hỏi, ai… cũng biết.
- Dạ. Đến làm gì ạ?
- Ông… cầm… một nghìn… bạc… đi, nói rằng… tôi… chuộc… giấy… cho cô… Thúy Lan.
- Giấy gì ạ?
- Cứ nói… thế. Người ta… hiểu. Cái… giấy xanh… có ảnh… ấy.
- À. Vâng ạ. Đưa bà An-na Phán một nghìn bạc, nói rằng ông lớn chuộc giấy cho cô Thúy Lan.
- Phải… nhưng… không đưa… cả nghìn. Bà ấy… lấy… bao nhiêu… cũng đưa.
- Dạ, là cầm sẵn cả nghìn đi thôi. Bà ấy lấy bao nhiêu thì đưa, còn thì mang về. Nếu lấy cả nghìn cũng đưa. Miễn là chuộc được giấy cho cô Thúy Lan phải không ạ?
- Phải… giấy số.
- Dạ. Giấy số của cô Thúy Lan ạ. Nhưng ngộ bà ấy đòi hơn một nghìn thì sao ạ?
- Không… đến… đâu.
- Dạ. Còn gì nữa không ạ?
- Thôi… Ông… đi ngay… Ô-tô ca.
- Dạ. Xin ông lớn cho tiền ạ.
Thừa trỏ tay xuống đệm nằm. Hai Điều hiểu:
- Trình ông lớn, món tiền ấy sáng nay bà con lấy rồi, ông lớn quên ạ?
Thừa hộc lên một tiếng, run rẩy chân tay, trợn ngược hai mắt lên:
- Hừ! Hừ! Hừưư…
Bỗng hắn vật nghiêng đầu, rồi mồm hắn trào máu xám lênh láng ra khăn trải giường.
Hai Điều sợ hãi, lay gọi:
- Trình ông lớn, trình ông lớn, tỉnh chưa?
Thừa mê lên đến hai mươi phút. Lúc thấy hắn cựa, lão già mới lấy khăn lau miệng cho hắn, và thay khăn giải giường khác:
- Trình ông lớn, thế là con không đi Hải Phòng nữa ạ?
Thừa rên rỉ:
- Thôi… tôi… giết… con tôi… Ma-măng… chúng nó… giết tôi… Trời! Không biết… tôi có… qua được… đêm nay… không…
Hắn nhắm mắt lại. Nhưng ứa ra hai dòng nước, chảy thẳng xuống hai thái dương.
Rồi hắn lịm đi.
Hai Điều sờ chân, sờ đùi, sờ cánh tay.
Lão già thở dài, lắc đầu, lẩm bẩm:
- Chả hiểu đầu đuôi ra sao cả!
* * *
Vào khoảng một giờ trưa, Ma-ri trở về nhà. Theo hắn, là ông thầu khoán già Nguyễn Thúc Lăng.
Hai Điều vội vàng mách:
- Thưa bà, ông lớn nguy lắm rồi.
Ma-ri cau mặt:
- Ai chả biết! Chả nguy mà tôi phải chạy suốt từ sáng đến giờ.
Hắn mời ông Lăng:
- Mời cụ ngồi chơi.
Hai Điều ngần ngại:
- Thưa bà, ông lớn lại vừa thổ huyết. Mới nằm nghỉ được một tí. Hay bà hãy chờ, để ông lớn được yên tĩnh?
Ma-ri gắt:
- Cái ông cụ này mới hay chứ! Yên tĩnh thì đến bao giờ? Bây giờ ông ấy còn tỉnh thì còn biết. Chứ chờ để ông ấy chết còng queo ra à?
Ông Lăng đặt tay vào đầu Thừa, lay mạnh:
- Cụ Hàn!
Thấy Thừa mở choàng đôi mắt lờ đờ, ông thầu khoán nhoẻn cười, hỏi to tướng:
- Chào cụ Hàn! Cụ Nghị! Mừng cụ!
Thấy Thừa lại nhắm mắt, ông Lăng lại lay đầu:
- Cụ có nhớ tôi là ai không?
Thừa vẫn nhắm mắt:
- Có.
- Anh em mấy chục năm giời, bây giờ sắp kẻ ở người đi, thì tôi đến thăm cụ. Cụ có chết thì phù hộ cho tôi nhé!
Ông uống nước, hút thuốc lá, rồi lại nói thật to:
- Chả nhẽ thấy cụ gra-vơ-măng ma-lát [122], mà tôi lại chỉ đến thăm không. Cho nên có câu chuyện, nhân tiện muốn nói với cụ. Cụ tỉnh chứ?
Thừa lắc đầu:
- Không… muốn… nghe…
- Không, chuyện xê-ri-ơ[123] chứ không phải đùa phiếm đâu, cụ ạ. Cụ chịu khó nghe một tí. Chả có mai kia, cụ nhắm mắt rồi, thì tôi nói với ai. Việc thêm khó ra.
Ông thì thầm với hai Điều:
- Mặt phù lên rồi. Không khéo cũng sắp ăn xôi thôi.
Hai Điều đáp:
- Vâng, chân tay đã bắt đầu lạnh.
Ông Lăng trợn mắt, sửng sốt hỏi:
- Cả tay nữa?
Rồi nói với Thừa:
- Cụ ạ, con người ta ai cũng vậy, sinh tử chỉ có một lần. Hôm nay, đến thăm cụ, tôi trông sắc mặt cụ, tôi lấy làm ngại lắm. Cho nên, chỗ anh em mình với nhau, tôi nói thực là ít lâu nay, cụ cũng gặp lắm vận hạn, sinh ra lúng túng vì đồng tiền. Nhưng cụ ạ, cụ có đi, thì cứ đi cho thanh thoát, đừng lo lắng gì về chuyện ma chay không xứng đáng. Tôi xin chạy tiền làm ma cho cụ. Cụ nghe rõ chưa?
Thừa gật gật:
- Cảm ơn… cụ.
Ông Lăng lại tiếp, vẫn bằng tiếng rất to:
- Ban nãy cụ bà Hàn Nghị có đến chơi, dạm bán cho tôi cái nhà ở Hàng Giò. Cụ đã đưa tôi đến coi rồi. Cụ nói đơ-min-xanh-xăng [124]. Nhưng tôi mặc cả min-uýt-xăng [125]. Rồi lên đến đơ-min [126]. Tôi bảo chỉ có cụ ông mới định đoạt được việc này, cho nên tôi đến đây nói chuyện với cụ. Thôi thì chỗ se-ca-ma-rát [127] với nhau, tôi trả tiếng cuối cùng, là đơ-min-đơ-xăng [128]. Giấy tín chỉ tôi đem theo đây. Cụ có bằng lòng thì ta làm văn tự luôn, để cụ còn tỉnh táo, thì cụ xi-nhê [129] vào. Kẻo tôi trông cụ, chỉ còn hàng giờ nữa thôi, chứ chả được lâu đâu, cụ ạ.
Ma-ri lúc ấy đã đứng đó. Hắn ghé tận tai Thừa, dịu dàng nói:
- Để có sẵn tiền mà lo đám tang cho chu đáo, ông ạ. Ông bằng lòng cái giá cụ chủ vừa mới nói nhé.
Thừa quay mặt vào tường, khò khè thở. Hai Điều lon ton lại gần:
- À.
Lão đỡ Thừa nằm ngửa lại, và kê cao đầu lên:
- Thế này quan mới nói được.
Nhưng Thừa vẫn im lặng.
Ông Lăng nhìn Ma-ri, vẻ thất vọng:
- Không thành. Thôi, tôi xin về.
Ma-ri lo sợ, vội vàng nói với Thừa:
- Cái món tôi lấy ban sáng, không đủ đâu. Thế nào cũng phải để lại cái nhà Hàng Giò ông ạ. Không bán ngay hôm nay, tôi sợ không kịp.
Thừa thào ra được hai tiếng:
- Không… bán.
Một lát, hắn thêm:
- Cho… ăn… mày.
Ma-ri không hiểu, thở dài:
- Đã bắt đầu nói mê rồi!
Hắn vẫy ông Lăng xuống nhà.
Chừng nửa giờ sau, hắn lên, tay cầm tờ giấy tín chỉ đã viết thành văn tự. Hắn dí cái bút vào tay Thừa, mặt hớn hở nhưng nói giọng nằn nì:
- Ông cứ ký vào đây. Ông đi, ông bỏ mẹ con tôi ở lại. Ông đừng để khó cho tôi sau này.
Hắn rưng rưng nước mắt.
Thừa nhăn nhó, lắc đầu, rên lên một tiếng, rồi cầm lấy bút, ký nguệch ngoạc vào tờ giấy.
Ký xong, hắn buông rơi bút xuống giường, chân tay run rẩy.
Ông Lăng nở một nụ cười. Nhưng khi ngắm chữ ký không được rõ, ông bảo Thừa:
- Xin lỗi cụ nhé, cẩn tắc vô ưu.
Ông móc túi, lấy thoi mực tàu mà ông đem sẵn đi. Ông thấm nước, rồi dí năm đầu ngón tay Thừa vào. Ông in năm vết vào tờ văn tự.
Làm xong việc hợp pháp, ông hớn hở:
- Thôi, vĩnh biệt cụ nhé. Có chết thì nhớ phù hộ cho tôi đấy.
Buồng lại im lặng.
Thừa lờ đờ nhìn hai Điều. Hắn ứa nước mắt, nói khẽ:
- Chưa chết… lũ giòi… đã đến.
Hai Điều thở dài. Thừa thều thào:
- Kê… cao… đầu.
Hắn nói:
- Ông!… tôi bảo… khó lòng… qua… được… đêm nay. Tôi… có chết… thì chôn… ở… nhà quê.
Lão già ngậm ngùi:
- Trình ông lớn, để ở Hà Nội tiện hơn. Đỡ tốn kém.
Thừa lắc:
- Nhà quê… có tình… đây… đểu… lắm.
Hai Điều thở dài. Thấy tay Thừa quờ quờ, lão hỏi:
- Trình ông lớn lấy gì ạ?
- Khế.
Hai Điều đã biết chỗ. Gói khế khô giấu ở dưới đệm, về phía trong, giáp tường. Lão lấy, đưa cho Thừa.
- Mở… ra.
Hai Điều làm theo, rồi hỏi:
- Trình ông lớn có muốn dặn dò gì nữa không ạ?
Thừa cố giương đôi mắt đẫm nước để nhìn những múi khế màu nâu hồng, đã bị ép phẳng lại. Hắn rên rỉ:
- Thôi… không… gì nữa.
* * *
Lúc ấy, gần bốn giờ chiều. Ma-ri không có nhà.
Thằng Pôn và thằng Giăng đi đánh cá ngựa.
Con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít và con Ca-mê-li-a còn dở cuộc vui.
Hai Điều, vì thức mấy đêm liền, bây giờ thấy Thừa nằm yên, thì lẻn xuống nhà gửi xe, ngủ một giấc cho lại người.
Than trong hỏa lò sắc thuốc cho người ốm đã vạc trắng. Thừa không rên rỉ. Ấm thuốc cũng không rền rĩ nữa.
Buồng bệnh nhân thật lặng lẽ. Thì thằng Mão đến.
Nó lên tuột trên gác.
Nó rón rén vào buồng, trông trước trông sau, rồi đến cạnh giường, ngó nhìn vào mặt Thừa.
Bỗng Thừa mở choàng mắt.
Thấy rõ thằng Mão, hắn giật thót mình, rú lên một tiếng:
- Ối!
Muốn được yên ổn, thằng Mão chạy vội đi khóa trái cửa ra vào lại.
Nó đến giường Thừa, hất hàm, hỏi:
- Thế nào, ông có chịu chia gia tài cho tôi không?
Thừa trừng trừng, nhìn thằng Mão. Mặt nó đầy trứng cá đen sạm. Tóc nó chải bóng. Ở hai bên thái dương, hai món tóc mai đen một vệt nhọn hoắt.
- Thế nào. Ông có chịu chia gia tài cho tôi không?
Thằng Mão nhắc lại câu hỏi. Thừa lăng mạnh cánh tay:
- Bước!
Hắn rũ ra để ho, rồi đờ đôi mắt, thở phì phò.
- Bây giờ ông sắp chết rồi, thì ông phải đối với tôi khác. Ông đẻ tôi ra, ông chả nuôi được một ngày nào. Tôi làm gì nên tội mà ông thù ghét. Chúng nó phá của ông, ông chẳng nói gì. Tôi có đến xin tiền, thì ông mắng, ông chửi, ông đánh, ông cấm cửa. Ông thử nghĩ xem. Tôi lấy tiền để làm gì, đời tôi hư hỏng là tại ai?
Thừa vẫn thở phì phò. Hai bên mép hắn sùi những bọt. Thằng Mão tiếp:
- Tôi đến đây bắt ông phải làm giấy chia gia tài cho tôi. Chỉ có tôi mới là con của ông đẻ ra. Còn chúng nó, mỗi đứa một bố khác. Ông chia cho tôi cái nhà nào?
- Bước!
- Nếu ông không chia cho tôi, nhất định tôi không cho ông yên. Thìa khóa két của ông đâu?
Thằng Mão không đợi trả lời, nó đi lục soát khắp mọi chỗ. Túi áo, túi quần treo trên mắc, túi áo, túi quần xếp trong ngăn kéo, túi áo, túi quần Thừa đương mặc ở người. Nó giở tung các đồ đạc trong các ngăn kéo.
Ta đã thấy thằng mật thám Pha-lăng-xô khám nhà cụ tú Phúc Lâm để tìm tài liệu chính trị. Ta đã thấy thằng cảnh sát trưởng Gôn khám nhà anh Xi để lùng hội kín. Ta lại thấy bọn nhà đoan khám nhà bà mẹ Mão để bắt thuốc phiện lậu. Nay ta lại được xem thằng Mão tìm thìa khóa két ở nhà bố nó để chiếm lấy tiền bạc và văn tự nhà.
Nó làm tỉ mỉ không kém thằng Pha-lăng-xô, không kém thằng Gôn, không kém tụi nhân viên thương chính.
Dỡ tung hết các đồ đạc, sờ móc hết các chỗ khả nghi, nó vuốt vào người bố nó, suốt từ đầu cho đến chân.
Thừa quằn quại để cưỡng. Nhưng nó mặc kệ.
Nó rút cái chăn của Thừa đương đắp, giũ tung lên, rồi nắn nắn bóp bóp. Thừa bị rét, kêu ự ự. Nó giật cái gối của Thừa đương gối, cũng nắn nắn bóp bóp. Đầu Thừa ngoẹo đi. Không thấy gì, nó hầm hầm:
- Thìa khóa đâu?
Những tiếng rên đều đều bị vướng đàm ở cổ Thừa kêu khò khò.
Thằng Mão bực lắm rồi.
Nó hẩy cho Thừa nằm sát vào tường, để lật nửa khăn giải giường và nửa đệm ở phía ngoài. Không thấy gì, nó lại lôi Thừa nằm ra phía ngoài, để lật nửa khăn và nửa đệm ở phía trong.
Bỗng xoảng một tiếng, chùm thìa khóa rơi xuống sàn gác.
Thằng Mão nở nang mặt mày, chui vào gậm giường lấy, rồi đút túi. Nó trỏ vào mặt Thừa:
- Gia tài tôi ở trong tay tôi rồi. Tôi tha cho ông.
Nó đi ra phía cửa.
Nhưng bỗng sực nghĩ ra, nó quay phắt lại:
- À, còn cái này.
Nó trèo tót lên giường.
Bị rùng rình. Thừa nhăn mặt, há miệng ra kêu:
- Ối!
Thằng Mão vui sướng:
- À! Hãy còn thật! Tôi phải lấy!
Nó giữ đầu Thừa.
Thừa khò khè, phì phò, vùng vằng. Thằng Mão giữ đầu Thừa chặt hơn:
- Ba cái răng vàng của ông. Tôi không lấy, chúng nó cũng lấy mất. Ông há ra!
Nhưng Thừa không há. Vẫn vùng vằng và ú ớ.
Thằng Mão phải đè sấn lên mình Thừa để ngồi, một tay nó ghì đầu cho mất cựa, một tay nó móc miệng.
Thừa cố lắc lắc, cắn hai hàm răng thật chặt. Chân tay hắn quều quào để cưỡng. Nhưng thằng Mão khỏe hơn. Nó gang được họng Thừa ra, và tháo được đủ ba cái răng vàng.
Thừa kêu ằng ặc.
Thằng Mão buông Thừa, đút ba cái răng vào miệng, nó toan nuốt. Nhưng không rõ nó nghĩ thế nào, nó cất vào túi nó.
Nó nhảy xuống sàn gác.
Trong khi ấy, tuy Thừa chỉ còn nằm một mình, nhưng vẫn vùng vằng chân tay, và ú ớ trong miệng. Mặt hắn nhăn lại, như cố dùng hết sức tàn còn lại để lắc đầu cho mạnh, và cắn hai môi cho chặt.
Rồi hắn kêu:
- Phời… ơi! Phúng… phó… phổ… phịt… phôi…
Cử chỉ chống cự yếu dần, chậm dần.
Tiếng ú ớ bé dần.
* * *
Thằng Mão vừa xuống đến sân thì gặp Ma-ri về. Ma-ri hô hoán lên.
Thằng Mão bị bắt, giam vào nhà xe.
Ma-ri hốt hoảng, chạy lên gác, thăm tình hình.
Thì giữa lúc ấy, từ cổng vào, con Rô-da-lin và con Ma-gơ-rít mặt còn đỏ nhừ vì rượu, dìu con Ca-mê-li-a mềm như sợi bún vào, và vực nó lên giường của nó.
Ma-ri đến buồng Thừa. Hắn thấy chăn đệm và đồ đạc lung tung, mà Thừa vẫn còn thở thoi thóp. Hắn vội vàng gọi:
- Ông! Ông Hàn ơi! Ông Nghị ơi!
Thừa không cựa được nữa.
Mặt hắn vẫn nguyên cái nét nhăn nhó như ban nãy, răng hắn vẫn nguyên cắn chặt môi như ban nãy, tay chân hắn vẫn nguyên cái điệu bộ giãy giụa, co quắp như ban nãy.
Hắn không còn đủ sức để thôi nhăn mặt, thôi cắn môi, và để duỗi lại chân tay cho ngay thẳng.
Ma-ri trông cái dáng điệu này của Thừa, thì đoán ngay được là thằng Mão vừa làm gì. Hắn định hỏi Thừa. Hắn lại gọi:
- Ông! Ông Thừa ơi! Ông An-be ơi!
Một tiếng nấc mạnh.
Ma-ri giật nảy mình.
Hắn bật đèn lên cho sáng. Bỗng hắn kêu rú lên:
- Ối!
Rồi hắn gọi:
- Ông Hai! Ông Hai ơi! Quan làm sao thế này? Khổ thân tôi, trời ơi!
Hắn bù lu bù loa lên để khóc.
Con Rô-da-lin thấy tiếng mẹ the thé, vội vàng chạy lên.
Nhưng khi nó thấy hai mắt bố trợn ngược, da mặt bố nhợt nhạt, và nhất là hai nét nhăn ở má và dáng điệu chân tay như dọa nạt, thì nó biết là Thừa chết rồi. Nó sợ hết hồn. Tự nhiên đầu nó lao đao hơn khi nãy nó say rượu. Nó thét lên một tiếng, rồi chệnh choạng ngã xuống sàn.
Con Ma-gơ-rít vừa tới cửa, trông thấy mẹ, thấy chị, thì biết là bố nó đã chết:
- Eo ơi! Khiếp!
Run như cầy sấy, nó vội vàng cắm cổ chạy.
Người nhà phải khênh con Rô-da-lin, đặt nằm bên cạnh con Ca-mê-li-a, đương ngáy pho pho, để đi mời bác sĩ Pi-ca đến cấp cứu nó.
Trong khi ấy, hai Điều đã đến ngồi bên cạnh Thừa. Lão vẫn bình tĩnh. Lão sờ khắp người Thừa, rồi lấy hai miếng bông, để trước hai lỗ mũi. Thấy sợi bông không lay, lão thở dài, nhìn Ma-ri, lắc đầu, nói khẽ:
- Quan đi thật rồi!
Ma-ri nghiến răng:
- Thằng Mão giết!
Hai Điều toan xếp lại chăn đệm cho ngay ngắn. Nhưng Ma-ri ngăn lại.
- Không. Cứ để nguyên thế cho tòa điều tra.
Hắn trỏ vào mặt Thừa có vết móng tay quào ở má, và vết máu ở môi:
- Đúng thật, ông ạ.
Rồi chạnh tình nghĩa ăn chung ở đụng với nhau hơn hai mươi năm trời, và cảm cái cảnh sẩy đàn tan nghé, hắn mếu máo, khóc lóc. Hắn kể lể rất thảm thiết bằng giọng lanh lảnh:
- Anh ơi! Anh Thừa ơi! Anh đi đâu anh bỏ em bơ vơ một mình nơi quê người đất khách, anh ơi là anh ơi! Hời! Hời! Hời!
Hắn kéo dài ba tiếng cuối để hạ giọng. Rồi lại cất cao tiếng:
- Anh Thừa ơi! Vợ chồng như đũa có…
Bỗng hắn ngừng khóc, ngơ ngác nói:
- Ôi, thôi chết! Thìa khóa! Chùm thìa khóa két! Ông Hai ơi!
Mặt hắn hớt hải hơn lúc hắn nghe thấy Thừa nấc tiếng lìa đời.
Vừa lúc ấy thì thằng Pôn và thằng Giăng về.
Hai thằng đương hát rống lên ở ngoài sân, thì nghe tiếng mẹ gọi thất thanh.
Chúng nó chạy lên.
Thấy cha chết, thằng Pôn bấm thằng Giăng, nói khẽ:
- Mọt thật, mày ạ.
Thằng Giăng ngậm ngùi, gật đầu:
- Đắm cái tàu này thì nguội cảnh!
Ma-ri bảo hai đứa:
- Thôi đừng tán nhảm nữa. Tìm với ma-măng chùm thìa khóa của pa-pa.
Cả ba người đều vào việc: cũng móc các túi áo, túi quần. Cũng lục lọi các ngăn kéo. Cũng sờ soạng các chỗ hiểm hóc ở trong buồng.
Không thấy gì, Ma-ri đành phải mó tay vào các túi áo quần Thừa đương mặc, và sờ khắp người Thừa, đã lạnh toát từ vai đến chân.
Vẫn không thấy gì, hắn rút cái gối và lột cái chăn. Hắn nắn, hắn bóp. Rồi lại nắn, lại bóp.
Vẫn lại không thấy gì, hắn đành lật khăn giải giường và lật đệm phía ngoài. Cái đệm bị lật, làm Thừa nằm ngửa lên. Thằng Pôn trỏ tay vào bố bưng miệng, rúc rích cười, và mách thằng Giăng:
- Múa võ!
Ma-ri lại lật khăn giải giường và lật đệm phía trong. Thằng Giăng mắt mờ vì rượu, bây giờ mới trông rõ bố. Nó nhìn thằng Pôn, rồi cười ngặt nghẽo:
- Ừ, giống thật!
Ma-ri không tìm ra chùm thìa khóa, thì lo lắng. Hắn đứng lặng để nghĩ. Bỗng hắn sửng sốt:
- À! Còn ba cái răng vàng. Suýt quên.
Hắn vừa nói dứt, thì thằng Pôn và thằng Giăng cùng thốt lên tiếng reo mừng:
- À! Ừ nhỉ.
Thằng Giăng nhanh nhẹn, vội vàng nhảy lên giường. Nhưng nó bị thằng Pôn kéo ngay cẳng lại, để lên tranh. Song, thằng Giăng đè sấn lên anh, và giữ chặt lấy hai tay:
- Mày một, tao một, ma-măng một! Chia đều!
Thằng Pôn quằn quại:
- Không, đứa nào lấy được thì ăn cả.
Ma-ri quát:
- Không được! Của ba đứa con gái đấy!
- Không.
Hai thằng vật nhau trên giường. Trong khi ấy, người chết bị rùng rình, rùng rình, như con thuyền gặp sóng…
 
1963
 
Chú thích:
120)
121)
123)
124)
125)
126)
127)
128)
129)

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»