Lúc từ ngoài phố bước vào khách sạn Inglaterra, Manning đoán là trong chỗ hành lý kia có mấy món thuộc về cô gái nhân chứng. Chúng nằm giữa cái khoảng sân lát gạch, trên góc một rương hành lý có dán chữ đỏ MK, giúp anh biết chắc mình đã đoán đúng. Tuy nhiên, có vẻ số lượng hành lý ở đây nhiều bất thường. Cứ mỗi lần thang máy ken két hạ xuống là lại có thêm đồ đạc dồn vào.
Anh ra chỗ bàn lễ tân. “Có phải cái cô Americana (người Mỹ) , người mà có bạn…”
“Cô ấy và tất cả những người khác, thưa senor,” cậu lễ tân rầu rĩ nói. “Người ta đang dọn đi như… Nói thế nào ấy nhỉ? Như đang có đại dịch ấy. Trong vòng 2 tiếng qua đã có hai mươi ba phòng trả rồi.”
Manning chỉ quan tâm đến một trong số hai mươi ba phòng đó. “Bao lâu nữa thì cô ấy rời đi, cậu có biết không?”
“Cô ấy đi tàu Santa Emilia tại Val, rời đi vào thứ Ba.” Cậu ta ủ rũ nhún vai. “Làm sao trách cô ấy được đây hả senor?”
“Không,” Manning đồng ý, gục đầu xuống, “không thể trách cô ấy được. Đặt mình vào tình cảnh ấy thì tôi cũng bỏ đi.”
Anh lấy ra một điếu thuốc lá, chỉ nghiền ngẫm nhìn nó chứ không hút. Thế rồi anh lại ngẩng lên. “Không biết cô ấy có chịu gặp tôi không nữa.”
“Tôi sẽ thử, thưa senor. Tôi sẽ giới thiệu ông thế nào ạ?”
Sau nỗi kinh hoàng vào đêm hôm trước, chắc cô sẽ không nhớ nổi tên anh. Còn tâm trí đâu để nhớ, nhưng anh vẫn xưng tên mình.
“Cô King, có ông Manning đến gặp cô.” Cậu lễ tân gật đầu. “Phòng 24, thưa senor, trên tầng hai.”
Manning đi thang bộ. Chiếc thang máy vẫn còn đang bận xả thêm hành lý mỗi lần đi xuống. Như cậu lễ tân đã nói, có vẻ đang diễn ra một cuộc đại di tản.
Thậm chí, lúc băng ngang cánh cửa một phòng trên hành lang tầng hai, anh nghe thấy một giọng Mỹ của nữ giới, không lẫn đi đâu được, “Em không quan tâm, Harvey Williams, ký kết thương vụ gì cũng mặc. Em sẽ không ở lại thành phố này thêm một đêm nào nữa khi con vật kia vẫn còn sổng bên ngoài! Anh vẫn có thể ký mớ giấy tờ đó trên biển trong lúc chúng ta đợi tàu ra khơi…”
Phải rồi, cơn hoảng loạn đã bùng nổ.
Manning gõ cửa phòng 24. Giọng cô vang lên, “Mời vào.”
Cô đang gói ghém nốt những món đồ nhỏ hơn, các thứ hành lý xách tay. Ba hay bốn món bày khắp xung quanh. Cô gái mặc một bộ váy nhung trắng, thắt lại ở eo, tà xòe rộng chạm sàn. Trông cô như thể chưa hề chợp lúc lần nào kể từ đêm hôm đó. Anh liếc thấy mấy lọ thuốc thần kinh hay an thần trên mặt bàn cạnh giường.
Khí sắc tái nhợt và quầng thâm quanh mắt càng khiến cô thêm phần xinh đẹp. Phải trẻ tuổi như cô ấy, anh tự nhủ, thì mới giữ nổi vẻ đẹp sau nỗi đau khổ mình vừa trải qua. Khi đã già thêm vài tuổi, nỗi đau sẽ chỉ khiến ta thêm tiều tụy.
Suy nghĩ đầu tiên lướt qua tâm trí Manning, thậm chí còn trước khi anh kịp mở miệng nói chuyện với cô, Sao mình lại đến đây? Mình không có quyền. Đáng ra mình phải tránh xa nơi này và để cô ấy được ở một mình.
“Cô không nhớ ra tôi,” anh lịch sự mở lời. “Tôi là người… à, tôi đi cùng họ đêm hôm trước.”
“Ồ,” cô đáp. Chỉ nhớ lại thôi cũng khiến cô nhăn mặt. “Tôi tưởng là người từ hãng Express đến bàn vụ đặt vé trước của tôi. Không,” rồi cô thừa nhận, “tôi không nhớ ra anh.”
“Đường đột đến chỗ cô thế này thật không phải phép,” anh nhã nhặn thì thầm.
“Không, không sao đâu. Tôi chỉ có một mình ở đây và… có người để nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ cũng hay.”
Câu nói ấy không chỉ nghe chân thành, mà còn như biết ơn một cách thảm hại. “Tôi nằm trên giường cả ngày hôm qua, hôm nay mới dậy bởi tôi phải… sắp xếp nốt những thứ cần thiết cho Sally tội nghiệp.” Giọng Marjorie hơi run, nhất là lúc phát âm cái tên ấy.
“Ngồi xuống đi, anh Manning.” Cô nhấc hộp đồ trang điểm nhỏ xuống ghế.
“Tôi sẽ không gây vướng víu chứ?”
“Hầu hết mấy thứ nặng nề cần gói ghém đã được xử lý xong xuôi rồi. Tôi sẽ bắt chuyến tàu đêm, theo như tôi biết thì phải đến 10 giờ chuyến đó mới rời đi. Vẫn còn rất nhiều thời gian, miễn sao tôi đảm bảo chắc chắn là mình sẽ rời khỏi nơi này.” Mặt cô thoáng hiện lên vẻ ghê tởm khó tả. “Miễn sao tôi đảm bảo chắc chắn là mình sẽ rời khỏi nơi này!” Cô nói gay gắt đến mức mắt mở trừng lên đầy hoang dại.
“Tôi hiểu cô cảm thấy thế nào,” anh cảm thông với cô.
“Tệ lắm,” cô đáp lại với giọng điềm đạm hơn, ngồi xuống và vắt tréo chân. Nhưng sau đó cô cứ liên tục giật giật phần vải phủ trên đầu gối, làm mất hết vẻ ung dung bản thân cố tạo ra.
“Tôi đã cất hết đồ của cậu ấy đi. Tôi mường tượng ra những vết cào và vết rách trên khắp…” Cô cắn môi, không dám nói nốt.
Anh cảm thấy hết sức không thoải mái, hệt như mọi người đàn ông khác mỗi khi phải lắng nghe phụ nữ giãi bày.
“Hành trình trở về cũng sẽ chẳng dễ dàng gì. Vẫn là con tàu chở bọn tôi đến đây và… Anh biết thế nào rồi đấy.”
“Có lẽ vậy,” anh nói lí nhí, gần như không vang thành tiếng. Manning cảm thấy như mình đang có sáu tay sáu chân.
“Cậu ấy đã mong ngóng kỳ nghỉ này biết bao,” Marjorie nói tiếp sau một khoảng im lặng. “Mấy tuần cuối cùng, trước khi chúng tôi rời đi, gần như cứ cách một đêm là cậu ấy lại ghé qua nhà tôi, cho tôi xem mình vừa thêm gì vào va li quần áo, bàn tính thêm những điều mới mẻ. Thậm chí cậu ấy còn đi học tiếng Tây Ban Nha. Rốt cuộc chuyện lại thành ra thế này!”
Manning nghĩ, thay vì dồn nén cảm xúc, cứ để cô xả hết ra thế này có khi lại tốt hơn, thế nên anh không tìm cách thay đổi đề tài.
“Chúng tôi là hàng xóm của nhau từ hồi cả hai vẫn còn là một cặp nhóc chân vòng kiềng, hàm răng gắn niềng. Đi học cùng nhau, đi nhảy cùng nhau. Giờ bà mẹ tội nghiệp của cậu ấy đang đợi ở nhà. Tôi sẽ phải quay về gặp bác ấy. Đưa theo con gái của bác trong một cái hộp.” Cô đưa một tay lên chạm vào cặp lông mày thanh thoát.
“Cô đã đánh điện về chưa?” Anh nhẹ nhàng hỏi.
“Rồi. Tất nhiên tôi phải làm chứ. Tôi không kể cụ thể. Tôi không đủ can đảm làm thế. Tôi không muốn báo tin dữ qua một dải băng điện tín.”
Cô dừng lại, sau đó trầm ngâm nói tiếp, “Sự thật có phần khó mở lời.”
Giá mà cô biết hết sự tình, anh thầm đồng ý.
“Tôi để họ tưởng nguyên nhân là viêm phổi. Lúc quay về, tôi sẽ phải nói thêm.”
Giọng cô nhỏ dần. Giữa khoẳng lặng, anh đứng dậy chuẩn bị ra về.
Manning đã quyết định sẽ lẳng lặng mà đi, không tiết lộ dự định ban đầu nữa. Thế nhưng, bất ngờ thay, ngay khi anh đến cửa, cô đã tạo một cơ hội mào đầu mà anh đã ngừng tìm kiếm.
“Họ chưa bắt được nó phải không?”
“Chưa, họ chưa bắt được nó,” anh đáp, quay lại, nhìn thẳng vào mắt cô. “Và họ sẽ không bao giờ bắt được nó.”
“Tại sao anh lại nói vậy?”
“Bởi vì, cô King à, thủ phạm không phải là một con báo,” anh lặng lẽ nói.
Marjorie tròn mắt nhìn anh trừng trừng hồi lâu. Anh có thể thấy gương mặt vốn đã tái mét của cô càng trở nên nhợt nhạt hơn, sau khi ẩn ý của anh bắt đầu chậm rãi được thấu hiểu.
“Ôi không,” cuối cùng cô nhăn mặt như phát bệnh, ấp mu bàn tay lên môi, “thật quá sức chịu đựng. Nếu trên đời này có thứ gì đủ khả năng khiến sự tình thêm kinh khủng… thì chính là chuyện ấy.”
“Tôi sẽ nói tiếp, hay cô muốn tôi dừng lại?”
Nhưng câu hỏi ấy mới thừa thãi làm sao, anh thấy mình đã gây ra tai hại rồi. Cô cứ trân mắt nhìn anh, mặt mũi đông cứng lại, nhăn nhúm đầy hãi hùng. Nếu giờ có ngậm miệng vào thì anh cũng đã để lại nỗi kinh hoàng cho cô.
Manning hạ giọng, “Thủ phạm là con người. Không một ai khác ở Ciudad Real ngoài tôi tin như vậy. Bây giờ thì tôi càng khẳng định và sẽ tiếp tục khẳng định điều này bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ địa điểm nào. Trước vụ đêm ấy thì chuyện tương tự đã xảy ra ba lần rồi. Tôi không rõ cô có biết điều ấy hay không. Có thể người ta sẽ tìm cách giấu giếm du khách do giờ đang là mùa du lịch. Nhưng những người dân ở đây thì ai cũng biết.”
“Tôi nhớ ra rồi, đêm hôm đó cậu lễ tân tầng dưới đã cố cảnh báo chúng tôi. Nhưng cậu ta chỉ úp úp mở mở, không nói hẳn ra…”
“Liệu cô có chịu nổi không nếu tôi…?”
“Có, tôi tin mình muốn nghe anh nói.”
Thế là anh trình bày với cô mọi lập luận mình từng đưa ra với Robles từ trước đến nay, mọi chi tiết, mọi bằng chứng.
“Tôi tin chắc rằng mình đúng, dứt khoát như thế!” Anh khẳng định, tay vỗ mạnh lên đùi. “Nhưng tôi không thể thuyết phục họ chịu nghe mình. Họ tin vào lập luận của mình chẳng kém gì tôi tin vào lập luận của bản thân. Và họ là cảnh sát trong khi tôi chỉ là… một tay vô danh tiểu tốt.”
Marjorie run rẩy hít một hơi thật sâu. Cô đã chịu đựng rất giỏi, thậm chí còn hơn cả những gì anh dự kiến. Có thể bởi thông tin đã được trình bày một cách khách quan chứ không xen chút cá nhân nào. Mắt cô đong đầy vẻ hoảng sợ, nhưng còn lẫn cả một cảm xúc khác: sự đanh thép ban nãy không hề tồn tại. Có thể đó là căm ghét, có thể đó là tức giận. Thứ cảm xúc không dành cho một loài động vật không lý trí.
Anh chẳng tài nào đoán nổi liệu mình đã thuyết phục được cô chưa. Suốt vài phút liền cô không đáp lời. Cuối cùng, bằng giọng nói nghèn nghẹt, cô cất lời, “Không thể ngờ nổi một con người, một kẻ tự xưng là con người…”
Và đó chính là câu trả lời.
Anh bước tới chỗ cánh cửa sổ chạm sàn mà mới hai đêm trước thôi, cùng thời điểm này, Sally từng đứng đó ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài. Thành phố trải rộng bên dưới, lấp lánh ánh đèn như khảm ngọc. Bụi bạc như bôi nhòe các đại lộ chính. Nhà thờ vươn cao cặp tháp chuông thanh nhã, hằn đen trên vầng trăng màu vàng mơ đang nhô lên sau các ngọn đồi.
“Cảnh tượng thật tuyệt diệu, phải không?” Anh nói, quay về phía cô. “Nhưng tối nay, trên một trong những con phố lộng lẫy cô nhìn thấy từ trên này, một cô gái trẻ nào đó sẽ ra ngoài đi dạo, hoặc đứng đợi người yêu tại một địa điểm kín đáo và lãng mạn nào đó. Hoặc có khi cô gái ấy chỉ đơn thuần là tách khỏi một bữa tiệc vui vẻ trong vài phút, đi ra một sân hiên hay bước vào một khu vườn để hít thở chút không khí trong lành. Hai ta đều biết phần còn lại! Một thi thể kinh tởm trên nền đất sẽ là tất cả những gì còn sót lại của cô gái xấu số ấy. Và một kẻ biết tư duy chẳng khác nào chúng ta sẽ cười hả hê trong nơi ẩn náu an toàn của hắn, khi đám cảnh sát ngớ ngẩn chết giẫm ngoài kia chạy khắp nơi lùng tìm một con báo trốn sau hàng giậu và dưới các khóm hồng! Nếu không phải là tối hôm nay thì sẽ là đêm ngày mai, hay đêm ngày kia. Nhưng chuyện này sẽ xảy ra thêm lần nữa. Và thêm lần nữa và thêm lần nữa và thêm lần nữa…”
“Và…?” Cô thốt lên sợ hãi. Anh có thể thấy cô đang thu hết can đảm để hỏi. “Tại sao anh lại đến đây kể cho tôi nghe câu chuyện này? Tôi đã để mất bạn mình vào tay hắn rồi. Tôi sẽ rời khỏi nơi đây. Tại sao anh lại phải cho tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra với cô gái tiếp theo? Anh muốn tôi làm gì?”
Anh nói thẳng với cô. “Tôi muốn cô trở thành cô gái tiếp theo ấy. Trở thành mồi nhử cho hắn, hoặc cho nó, cô muốn gọi thủ phạm là gì cũng được.”
Mắt mở lớn, Marjorie lui lại một bước. “Anh điên à! Anh có hiểu mình đang nói gì không? Bây giờ tôi đã nóng lòng muốn chạy khỏi cái nơi đáng ghét này lắm rồi! Tôi chỉ muốn vĩnh biệt nó! Tôi không thể ngủ nổi. Hành lý của tôi đã được chuyển lên tàu. Sẽ không có chuyến tàu nào khác trong vòng 30 ngày tới. Thế mà anh yêu cầu tôi ở lại đây một mình, đơn thương độc mã, sau khi vừa mới mất đi cô bạn chí cốt! Anh chỉ là một người dưng nước lã, thế mà dám bạo gan bước vào phòng tôi và đưa ra một đề nghị như thế, xong lại còn bảo tôi ra ngoài chủ tâm tìm kiếm thứ… kẻ quái thai kia, tìm hắn, cố gắng thu hút hắn. Tất cả chỉ để anh cảm thấy thỏa mãn vì đã chứng minh được giả thuyết của mình là đúng!” Cô cao giọng, “Anh làm ơn đi ngay được không? Mời anh ra khỏi đây!”
“Vậy tôi đi đây, cô King.” Anh nhún nhường nói, không thấy bực bội gì cả.
“Cảm ơn anh,” cô lạnh lùng thúc giục. “Tôi cứ tưởng anh sẽ biết tế nhị mà để tôi yên. Ít nhất là đi tìm người khác. Nhưng anh không chọn ai khác mà lại chọn tôi…”
Cô đóng sầm cửa lại, ngắt ngang câu nói.
Trên đường trở ra, lúc băng qua căn phòng ban nãy, anh nghe thấy cuộc cãi vã vẫn còn tiếp diễn.
“Rồi, thế thì em cảnh báo anh luôn nhé, anh sẽ ở lại đây một mình, Harvey Williams! Em sẽ lên chuyến tàu lúc 10 giờ tối nay và không gì ngăn cản được em…!”
Anh không trách cứ người phụ nữ kia, cho dù chị ta là ai chăng nữa. Anh càng không trách cứ gì Marjorie King. Người anh trách chính là bản thân mình, vì đã đề xuất chuyện ấy với cô. Đáng ra anh phải đủ khôn ngoan để nhận ra tâm trí cô đang ở trong tình trạng thế nào sau một chuyện như vậy.
Anh bước qua tiền sảnh lát gạch. Đống hành lý vẫn chưa hao đi tí nào, đúng hơn trông còn đầy thêm. Cậu lễ tân đang bận rộn gật đầu, áp mặt vào một chiếc điện thoại Ericsson quay số mạ niken. Manning lơ đễnh nghe thấy cậu lễ tân búng ngón tay giữa lúc nói chuyện. Những tưởng cậu ta gọi một người khuân đồ, anh bước thẳng qua chỗ cậu ta.
Manning đẩy cánh cửa xoay ra ngoài, đứng im một phút bên dưới mái hiên kính, chỉnh trang lại mũ. Một cậu khuân đồ có nước da sậm chạy ra, chạm vào cánh tay anh.
“Senor, direccion (hướng này) …”
Anh lại vào trong tiền sảnh. Cậu lễ tân nói, “Cô King gọi xuống đây ngay lúc ông đi ngang qua. Cô ấy muốn nhắn ông quay lên chỉ một phút thôi, nếu ông không thấy phiền.”
Khồng hề. Nụ cười đầy hi vọng đột nhiên nở ra trên môi Manning đã thay lời đáp, anh không phiền.
Anh không thấy có gì phiền phức hết. Anh lại leo thang, nhưng lần này bước năm bậc một, chân sải hết cỡ. Cuộc cãi vã đằng sau cánh cửa có vẻ cuối cùng cũng đã ngã ngũ. “Đưa em đồ ngủ của anh đi, Harvey,” giọng nữ ban nãy thủ thỉ, “trong va li của em vẫn còn đủ chỗ.”
Marjorie King đã để cửa mở sẵn trước khi anh kịp đến nơi, sau đó cô lại quay vào phòng. Lúc anh bước qua ngưỡng cửa, cô bắt đầu lan man lạ thường. “Sau khi anh đi thì một chuyện buồn cười xảy ra. Tôi tưởng mình đã cất hết mọi thứ của cậu ấy rồi, nhưng lúc tình cờ ra chỗ cái tủ, tôi tìm thấy món này.”
Trên tay cô là một chiếc áo vest len cỡ nhỏ, hoặc là một chiếc áo len mỏng, tay áo cộc phồng quá cỡ.
“Không bao giờ cậu ấy đi đâu mà không mang theo nó. Chính tay Sally đã đan chiếc áo, hồi trước tôi hay theo dõi cậu ấy đan nó. Sáng nào đi xe buýt cậu ấy cũng mang len theo. Tối hôm trước, chính là tối hôm đó, trước khi chúng tôi lên đường, điều cuối cùng cậu ấy nói là, ‘Cậu nghĩ tớ có cần đến cái áo này không?’”
Marjorie không còn sướt mướt nữa. Ẩn bên dưới tông giọng lặng lẽ mà thương tâm là một sự quyết đoán đầy sắt đá. “Anh Manning à, Sally là đứa bạn thân nhất trần đời của tôi. Tôi không nghĩ mình sẽ tìm được ai khác để thay thế cậu ấy. Điều tôi muốn nói là, nếu chuyện này do một kẻ nào đó gây ra và anh nghĩ rằng nếu ở lại tôi có thể giúp… trả thù cho Sally, thế thì tôi… tôi đã sẵn sàng trở thành cô gái tiếp theo.”
“Tôi không muốn cô mù quáng lao vào hiểm nguy,” anh cảnh báo. “Tôi biết mình đang yêu cầu cô một việc vô cùng khó khăn. Robles sẽ lập tức cho dẹp bỏ kế hoạch này nếu ông ta đánh hơi thấy tôi toan tính một chuyện như thế. Cô chỉ cần từ chối và tôi sẽ không trách cứ gì cô hết.”
Anh chờ đợi, mắt không ngừng quan sát cô.
“Tôi đã cho anh câu trả lời rồi đấy,” Marjorie nói với một vẻ quyết tâm lặng lẽ. “Nếu thủ phạm là con người, tôi sẽ ở lại, chính tôi muốn thế. Nếu đó là một con báo, một thế lực thiên nhiên, một thứ không ý thức được hành động của mình, không thể tự chịu trách nhiệm, thế thì chuyện sẽ khác hẳn.”
“Nếu đây mà là một con báo, cô đã chẳng cần phải ở lại làm gì. Nếu thế thì nó đã bị bắt lâu rồi, chắc là trong vòng 24 tiếng sau khi chui vào trong ngõ Callejon.”
“Được rồi, chúng ta bắt đầu nào.”
Marjorie đóng chặt cửa lại, sau đó gọi điện xuống báo lễ tân, “Cho mang hành lý của tôi lên, tôi sẽ ở lại.” Và để đáp lại câu hỏi nào đó, cô nói gọn lỏn, “Vô thời hạn,” rồi cụp máy.
Quay lại chỗ Manning, cô túm mớ tóc xõa của mình và buộc lên, như một con tàu đang dọn dẹp boong để chuẩn bị hành động. Nó khiến cô gái trông thanh tú hơn mà vẫn không kém phần xinh đẹp.
“Xong!” Cô tuyên bố, ngồi xuống đối diện Manning, nghiêng đầu một cách tập trung. Không khó gì để nhận thấy giai đoạn tiếc thương phù phiếm đã qua.
“Anh cứ tự nhiên, nếu hút thuốc giúp anh suy nghĩ thông suốt hơn.” Cô ra dấu về phía một bao thuốc lá Mỹ.
Vài giây im lặng trôi qua. Rồi Marjorie là người đầu tiên mở lời, “Để tôi trở thành mồi nhử, tiếp theo hắn phải hướng sự chú ý vào tôi và bỏ qua tất cả các cô gái trong thành phố này. Chúng ta xoay xở kiểu gì đây? Làm sao tôi có thể thu hút được sự chú ý của hắn?”
“Cô sẽ không tài nào làm nổi nếu chúng ta chơi kiểu cầu may. Theo quy luật xác suất trung bình, tỉ lệ thành công là rất thấp. Đêm hôm cô có một mình đi bộ trên phố, vào tất cả các buổi tối trong vòng mười năm tới, thì vẫn có khả năng hắn sẽ tấn công những người quanh cô, nhưng không bao giờ đến gần cô thêm lần nào nữa. Ta cần phải dàn dựng. Ý tưởng của tôi như thế này. Trừ khi hắn không đụng vào báo chí, bằng không chắc chắn hắn sẽ đọc được bài viết thuật lại tội ác của mình. Đêm hôm đó, hẳn hắn đã nhận thấy các cô có hai người, trước khi bám theo kể từ lúc cả hai rời khỏi nhà hàng. Nếu có cách nào đăng một bài báo viết về trải nghiệm của cô, tôi sẽ cài cắm ý tưởng là cô đủ điên rồ và khinh suất để quay trở lại chỗ cũ, một thân một mình, cho dù lần trước đã xảy ra chuyện như vậy. Nhưng tôi sẽ phải khéo léo cài sao cho kín, để hắn không đánh hơi ra được đó là một cái bẫy. Trong bài báo còn kèm theo cả một lời ám chỉ, thậm chí còn kín đáo hơn, rằng cô đã nhìn thấy hắn và có thể sẽ nhận diện được hắn. Như thế, sẽ có hai thôi thúc mạnh mẽ hút hắn về phía cô: bản thân cái ham muốn điên loạn của hắn, bất kể đó là ham muốn gì, và cả bản năng sinh tồn của hắn.”
“Thế chẳng phải hơi khó xảy ra sao? Liệu một kẻ loạn trí có chấp nhận khả năng ấy không?”
“Thực hiện sẽ không dễ dàng gì. Để xem chúng ta có thể nghĩ ra kế sách gì không. Đầu tiên, cô phải hiểu là dân ở đây tin rằng người Mỹ sẵn sàng làm bất cứ điều gì. Với bọn họ, tất cả chúng ta đều có máu điên sẵn rồi. Điều ấy sẽ giúp ích phần nào.”
Anh bấm tay. “Cô có đam mê tản bộ dưới ánh trăng này, cô sẽ không để bất cứ chuyện gì phá ngang thói quen của mình… Không, thế không ổn!”
Cả hai người cùng lắc đầu.
“Kể cả khi có cắn câu đi chăng nữa, hắn cũng không biết phải tìm cô ở đâu,” anh bổ sung.
Manning liếc nhìn chiếc áo len của Sally O’Keefe, mặt mũi bất chợt sáng bừng lên. “Đợi đã, tôi có ý này! Chiếc áo gợi cho tôi một ý tưởng. Thứ gì đó thuộc về cô hoặc bạn cô. Thứ gì đó có giá trị tình cảm mà cô không thể dứt bỏ được. Cô đã đánh rơi nó cạnh hồ nước vào đêm hôm đó. Chẳng hạn một cái mặt dây chuyền mẹ cô tặng hồi nhỏ. Hoặc một chiếc bùa may mắn. Thứ gì đó cô dứt khoát phải lấy lại bằng được thì mới chịu rời thành phố.”
“Tốt hơn ý tưởng đầu tiên rồi đấy, nhưng vẫn còn vài chi tiết không ổn. Sao tôi không kiếm người đi kèm trong lúc quay lại tìm nó? Và tại sao lại phải là buổi tối? Sao tôi không đi vào ban ngày ban mặt?”
“Nhưng hắn sẽ để mắt tìm kiếm cô. Hắn sẽ thấy tận mắt là quả thật cô đã quay lại chỗ cũ, đơn thương độc mã, vào buổi tối. Hắn còn muốn bao nhiêu bằng chứng nữa? Quan trọng là hắn sẽ tập trung chú ý vào khu vực đó thêm một lần nữa. Đấy chính là điều chúng ta muốn. Một khi hắn đã bắt đầu rình rập quanh Bosque, phần còn lại sẽ tự động an bài. Hắn sẽ thấy cô chỉ có một mình và hắn sẽ…”
Anh bỏ lửng câu nói.
“Kế ấy khả thi đấy,” cô đồng tình.
“Nghe không chặt chẽ tí nào, nhưng có thể nó sẽ thành công. Đằng nào thì trong vụ này, chúng ta cũng chỉ biết hi vọng đến thế, chẳng thể nào khẳng định chắc chắn được.
“Nhờ làm công việc quan hệ truyền thông, tôi quen biết hầu hết giới biên tập trong thành phố, tôi có thể dễ dàng đăng bài lên báo. Tất nhiên, ta không thể để họ đánh hơi ra điều gì. Chỉ đơn thuần là một bài phỏng vấn cá nhân với cô tại khách sạn, được tôi đem gửi để kiếm ít tiền lẻ bỏ túi. Nếu Robles để ý đến bài báo, tôi có thể đánh lạc hướng bằng cách phủ nhận nội dung bài viết, nói là chỉ bịa ra thôi. Thật ra cô đang sợ chết khiếp và sẽ bắt chuyến tàu tiếp theo rời khỏi thành phố.
“Cần phải làm rất khéo. Không được nhấn mạnh, thế là lộ ngay. Chỉ chêm vào mấy từ bâng quơ. Vừa đủ để gài ý tưởng ấy vào trong bộ não biến thái của hắn, không để hắn nhận ra ý định ấy, nếu có thể. Xét cho cùng, với hắn đây như là con đường tắt. Hắn biết trước nơi tìm thấy nạn nhân tiềm năng mới, cô ta chỉ có một mình và bất lực.
“Lúc trước hắn phải lang thang mãi, chờ đến lúc thiên thời địa lợi nhân hòa. Làm thế không dễ dàng gì. Tôi nghĩ hắn sẽ mắc mưu. Cái tôi khát máu của hắn giờ đã lớn phổng đến mức sẵn sàng bỏ qua những hạn chế mà lúc đầu đủ khiến hắn chùn tay. Hẳn giờ hắn đã nghĩ mình có thể trót lọt khỏi bất cứ trò nào. Rồi còn cả động lực là cô đã nhìn thấy hắn, tốt nhất hắn nên giải quyết cô sớm, để đảm bảo bản thân được tiếp tục bình yên vô sự.”
“Thế còn ông sĩ quan cảnh sát với người của ông ta thì sao? Chẳng phải sau vụ đêm đó, họ sẽ quây đầy y như ruồi quanh công viên trong tuần tới? Họ sẽ khiến hắn hoảng sợ mà bỏ đi mất. Chẳng phải nếu ta chọn nơi khác thì sẽ tiện hơn à?”
Anh lơ đễnh đưa tay vuốt tóc. “Tôi không biết nơi nào khác phù hợp hơn. Thay đổi địa điểm sẽ làm mất động cơ cô quay trở lại tìm kiếm một thứ đánh rơi. Ngoài ra, diện tích của công viên còn là một lợi thế cho hắn. Các nơi khác đều khá nhỏ, không đủ chỗ che chắn.”
“Được rồi, chọn Bosque vậy. Chắc anh là người hiểu rõ nhất.”
“Ở đó, chúng ta sẽ có cơ hội thành công cao hơn, bất kể mới đầu kế hoạch nghe viễn vông cỡ nào. Thứ nhất, đêm hôm ấy, chắc hắn đã theo dõi bọn cô từ sau hàng cây tại Madrid và nhắm chọn hai người, thậm chí trước cả khi các cô quay vào trong xe. Nếu hắn có cơ hội làm lại, thoải mái theo dõi cô từ trước một hay hai tiếng, để đảm bảo rằng cô hoàn toàn chỉ có một mình, tôi nghĩ cám dỗ sẽ trở nên mãnh liệt hơn.
“Có thể nói là chúng ta tạo cơ hội cho hắn củng cố tự tin. Nếu cô chỉ đi lại vẩn vơ tại một công viên nhỏ bên trong thành phố thì sẽ thiếu đi yếu tố đấy. Thật tình mà nói, làm thế trông còn đáng ngờ hơn. Ngoài ra, tôi nghĩ chính sự liều lĩnh, táo tợn và xấc xược tột bậc của việc quay lại chỗ cũ sẽ tạo ra sức hút không tài nào cưỡng lại đối với bản chất tự cao tự đại của hắn, mang lại cho hắn một niềm phấn khích không thể bỏ qua.”
Manning dập điếu thuốc đi. “Về phần Robles và đám nhân viên ngu xuẩn của ông ta, có một cách khá dễ để loại bỏ bọn họ. Tôi sẽ gọi đến một gendarmerias (đồn cảnh sát) và giả vờ báo là mình đã nhìn thấy con báo, to ơi là to, ở một khu khác hẳn trong thành phố. Nếu bỏ thêm mấy peso, tôi thậm chí còn có thể dụ một vài tay vô gia cư đầu đường xó chợ ở nhiều nơi khác đồng thời xác nhận tin ấy, gọi đến từ các bốt điện thoại công cộng khác nhau. Chiêu đó sẽ kéo hết bọn họ ra khỏi Bosque, dọn quang quẻ nơi ấy.”
“Ừ, nhưng liệu hắn có biết điều đó không? Hắn có thể sẽ nghi ngờ là cảnh sát vẫn còn luẩn quẩn xung quanh…”
“Không phải lo lắng, hắn hoàn toàn có thể xác nhận liệu Bosque có sạch bóng cảnh sát hay không. Hãy nhớ là cảnh sát đang tìm một con vật chứ không phải một loài hai chân. Có Chúa mới biết đã bao nhiêu lần hắn chạm mặt họ mà không bị phát hiện, có khi còn quay lại để nhìn ngắm thành phẩm của mình, đứng ngoài rìa cùng đám đông tụ tập quanh đó. Hắn có thể vào Bosque mà chẳng làm sao hết, đích thân quan sát xem có đội cảnh sát nào ở đó không, bởi bọn họ công khai điều tra vụ con báo, không giấu giấu giếm giếm như lúc điều tra con người. Khi đã tin rằng không còn ai hết, hắn sẽ thoải mái tập trung vào cô.”
Cổ Marjorie thoáng gồ lên một đường gân, nhưng cô không bộc lộ biểu hiện nào khác.
“Chúng ta sẽ làm như thế!” Anh tóm lược lại.
Cô im lặng một lúc, một nụ cười vừa thoáng nở trên khóe môi đã vội tàn, chưa kịp lưu lại trên gương mặt. Marjorie cuối cùng lên tiếng hỏi, “Chúng ta sẽ chọn đêm nào cho… cuộc hẹn với Tử thần này?”
“Đêm ngày kia. Như vậy chúng ta sẽ có tròn 48 tiếng để chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. Giờ đã quá muộn để tôi đưa bài viết giả mạo lên các trang báo sáng, nhưng tôi có thể chạy kịp vào tối mai, dư dả thời gian. Tất nhiên tôi sẽ lo vũ trang cho cô và sẽ ở đủ gần để đảm bảo cô luôn được an toàn. Nhưng tôi phải kiếm một người khác đi cùng. Cô phải được bảo vệ kỹ càng, tôi không muốn đánh liều sự an toàn của cô. Chưa biết chừng, sự tình sẽ chuyển biến theo hướng mà mình tôi không thể kham nổi.”
“Anh định kiếm ai?”
Manning cân nhắc chuyện đó một lúc. “Tôi không thể đi tìm Robles hay người nào trong nhóm ông ta được, bọn họ có quan điểm giống nhau. Phải là một người tôi thực sự tin tưởng. Đợi đã, tôi biết rồi! Cậu trai trẻ mà tôi không rõ tên, người yêu của Contreras, người mà cô gái hay hẹn hò trong nghĩa trang. Nếu cậu ta còn không sẵn sàng hành động thì chẳng ai trên đời dám nữa! Vụ đó hẳn đã khiến cậu ta thắt gan thắt ruột.”
Anh đứng dậy và cô tiễn anh.
Đến ngưỡng cửa thì Manning quay lại nhìn cô, dò hỏi, “Trước khi chúng ta bắt tay vào việc thì cô nghe này. Vẫn còn thời gian để cô thoái lui. Tôi không muốn dọa dẫm cô nhưng đây sẽ là một trải nghiệm kinh khủng, tệ hại không kém hay thậm chí còn ghê rợn hơn cả lần đầu tiên. Bởi giờ cô đã biết trước mình sẽ gặp phải chuyện gì. Cô sẽ phải chịu áp lực nặng nề, phải dựa hoàn toàn vào khả năng phán đoán của bản thân suốt ba hay bốn tiếng liền. Chúng tôi sẽ theo dõi cô mọi lúc, ở khoảng cách gần hết mức có thể. Nhưng nếu muốn thành công, chúng tôi sẽ không thể theo cô sát từng bước chân hay để cô nhìn thấy, một khi cô đã vào trong đó, tất nhiên là cô nhận ra điều ấy rồi. Thế nên giờ là cơ hội cuối cùng để cô từ chối, nếu cô thật lòng muốn vậy.”
Không chút biến sắc, Marjorie ngước lên và nhìn thẳng vào mắt anh. Miệng cô khẽ căng lên, nhưng chỉ có vậy thôi. “Tôi sẽ theo anh, tôi tưởng mình đã nói rõ ngay từ đầu rồi chứ.”
“Tuyệt!” Anh nồng nhiệt đáp. “Chúng ta bắt tay chứ?”
Họ nắm lấy tay nhau trong một thoáng ngắn ngủi.
“Tôi sẽ dàn xếp tất cả. Hai đêm tiếp theo cô cứ ngủ cho đẫy giấc đi,” anh khuyên cô trong lúc mở cửa. “Đêm ngày kia sẽ hành chúng ta mệt lử đấy. Cố đừng nghĩ ngợi lung tung nhé, cô King.”
“Gọi tôi là Marjorie đi,” cô đề xuất lúc khép cửa lại. “Có thể anh không còn cơ hội gọi tôi như thế được bao lâu nữa đâu.”
Anh mò ra địa chỉ từ hồ sơ điều tra vụ Conchita Contreras. Một căn nhà một tầng xinh xắn, sơn tuyền màu xanh phấn, nằm trên vùng đồi Calle San Vicente. Một chị giúp việc mở cửa và đưa anh vào một khoảng sân lúc nào cũng vương màu đỏ tươi của mấy bông hoa giấy rụng xuống từ mái nhà lợp ngói trên đầu. Một đôi bướm trắng không ngừng vờn nhau quanh mảnh nắng vuông vức nhỏ bằng con tem bưu điện. Một bé gái với cặp mắt đen láy ngượng nghịu nhìn trộm anh từ bên khung cửa, sau đó lại lui vào trong. Khung cảnh hoàn hảo của một mái ấm hạnh phúc.
Nhưng Manning biết, thật ra thì không phải như thế, trước cả khi anh được dẫn vào căn phòng có một chàng trai trẻ đang chống cùi chỏ và nằm sõng soài đờ đẫn trên giường.
Cậu thanh niên này đầu tóc rối bù, râu ria chưa cạo, áo sơ mi đầy vết bẩn và để mở cổ. Mắt cậu ta hoe đỏ như thể vừa rời quán rượu lúc 5 giờ sáng. Một điếu thuốc chưa châm, đoạn giữa xoắn lại như cọng mỳ, đu đưa giữa môi cậu ta.
Nhận thấy Manning nhìn về bức ảnh đặt dưới giường, cậu ta nheo mắt nhìn anh với vẻ cáu kỉnh.
“Anh thấy bức ảnh đó không?” Cậu ta hung hăng nói. “Gương mặt xinh xắn, nụ cười dịu dàng, mái tóc huyền mượt mà. Anh may mắn đấy, amigo (anh bạn) . Tôi thì không! Tôi chỉ muốn móc mắt ra đổi với anh. Anh muốn bao nhiêu nào? Nhìn vào ảnh, tôi chỉ thấy một thi thể vô danh trong tình trạng khủng khiếp, máu me be bét, một nùi giẻ bị cào rách tơi tả dồn đống lại trên đất…”
Manning nhìn xuống giày mình. “Tôi biết. Tôi đã có mặt ở đó.”
“Ban đêm, trong bóng tối, đôi khi tôi nghe thấy một tiếng kêu khe khẽ gọi mình từ bức ảnh đó. ‘Raul, Raul, cứu em ra, em bị nhốt trong này!’ Hẳn tối hôm đó cô ấy đã kêu gào y như vậy nhưng chẳng ai nghe thấy. Tôi nốc aguardiente (rượu mạnh) để bóp nghẹt âm thanh đó. Nhưng tôi vẫn cứ nghe thấy tiếng cô ấy. Nó khiến tôi lao ra phố giữa đêm hôm để lùng sục…”
Manning nhẹ nhàng đặt một bàn tay lên vai cậu ta, quay mặt và nhìn đi chỗ khác. “Bình tĩnh nào, muchacho (chàng trai) , bình tĩnh nào. Đó là lý do tôi đến đây tìm cậu.”
Raul thò tay xuống, lôi một chai brandy địa phuơng cay xè đã vơi phân nửa ra từ dưới giường, dùng ngón cái bật mở nắp chai rồi quệt mồm một cái.
“Tôi không biết anh là ai hay anh muốn gì, nhưng làm một ngụm đi. Khi người thương đã ra đi mãi mãi thì cánh đàn ông chúng ta chỉ còn biết làm thế này thôi. Bà mẹ tội nghiệp của tôi đang khóc hết nước mắt bên trong căn phòng đằng kia.”
Manning nhận lấy cái chai và đặt nó xuống sàn. “Không, còn chuyện tử tế hơn mà cánh đàn ông chúng ta có thể làm.”
Anh ngồi xuống chiếc ghế lót rơm ọp ẹp, làm rơi một chiếc mũ nhàu nhĩ nãy giờ vẫn treo lủng lẳng trên một bên tay vịn.
“Nghe này, tôi biết vấn đề là gì. Cậu đang bị dồn nén cảm xúc, cậu đang bị nỗi đau buồn xiết lấy một cách chậm rãi, bởi vì định mệnh đã đưa đẩy cậu vào tình cảnh này. Cậu không thể chống lại nó. Nhưng tôi đến đây để nói rằng cậu có thể. Không phải chống lại định mệnh mà là một con người bằng xuơng bằng thịt đã gây ra chuyện đó.”
Anh quan sát gương mặt cậu ta. “Đau thật đấy, đúng không? Như thuốc sát trùng rửa sạch vết thương đang mưng mủ.”
Hẳn là như vậy. Người đàn ông kia, thực tình mới chỉ là một cậu nhóc, quằn quại trên giường, hết lăn bên này lại lăn bên kia, tay ôm chặt lấy mặt.
“Anh là ai mà lại biết?” Cuối cùng cậu ta cũng thốt nên lời, tiếng nói vọng qua những kẽ tay.
“Chỉ là một người như cậu. Một người biết dùng cặp mắt của mình. Nó leo qua bức tường để quay lại thành phố toàn sỏi đá thay vì ở yên trong nơi rậm rạp cây cối, khoảng không gian xanh rộng mở của khu nghĩa trang. Một con vật hoang dã có làm thế không? Bản năng tự nhiên sẽ thôi thúc nó làm gì?”
Hạ tay xuống, cậu thanh niên nhìn Manning, cặp mắt trở nên dữ tợn. Chúng không hướng về phía anh chàng người Mỹ, mà hướng về hình ảnh anh đã vẽ lên trước mặt cậu ta.
Manning nói tiếp với tông giọng trầm trầm và thư thả, kể cho cậu ta nghe về các vụ án khác, kể hết mọi thứ.
“Có thể tôi đã suy đoán nhầm,” anh kết luận. “Tôi không phải pháp sư, tôi không có khả năng linh cảm. Nhưng tôi không nghĩ mình sai. Không có cách nào xác minh được ngoài đem giả thuyết đó đi kiểm chứng.”
“Kiểm chứng kiểu gì? Anh tính sẽ làm thế nào?”
Manning cũng nói luôn cho cậu ta nghe kế hoạch của mình.
“Chúng ta cần một cô gái.”
Manning đã để ý thấy cách cậu ta dùng đại từ nhân xưng. “Tôi đã có sẵn một cô gái rồi,” anh nói. “Một cô gái rất can đảm. Một cô gái gan dạ hơn mức mong đợi.”
Raul chộp lấy bắp tay anh, nắm tay rắn rỏi như một gọng kìm sắt, trái ngược hẳn với thân hình mảnh dẻ.
“Bao giờ chúng ta bắt đầu?” Cậu thanh niên hỏi cộc lốc.
“Ngay tối nay,” anh chàng người Mỹ đáp. “Và chúng ta sẽ làm đi làm lại hằng đêm, nếu cần thiết, cho đến khi xác định được đối tượng mới thôi.”
“Thế thì chúng ta còn đợi gì nữa?” Cậu ta bật dậy, bất thình lình đến mức suýt nữa hất đổ cái giường nhỏ.
“Mama! (Mẹ!) ” Cậu thanh niên gào vọng vào căn phòng bên trong. Cách gọi mẹ theo lối trẻ con nghe lệch đến lạ khi được thốt ra với tông giọng trầm khàn.
“Làm ơn cho con xin cà phê đen để lọc mớ porqueria (chất thải) này ra khỏi người với! Thêm một cái áo sạch, một con dao lam với một chậu nước nóng. Mẹ ngưng lo lắng được rồi. Con trai mẹ đã hồi sinh!”
Trích đoạn cuối của một bài báo, được viết cùng một giọng văn và đăng trên tờ El Imparcial, La Prensa, Ultimas Noticias cùng mọi tờ báo buổi tối khác, có nội dung như sau:
… Khi rời chỗ cô King, người viết mang theo một cảm giác lạ thường. Rằng hình như cô không nói đùa, không phải cố tỏ vẻ can đảm. Rằng sớm thôi, cô sẽ quay lại bờ hồ ở Bosque vào một buổi tối nào đó, tìm kiếm món đồ mà cô có vẻ rất trân trọng. Vào tối nay, hoặc đêm mai, ai mà biết được? Ta chỉ biết ngưỡng mộ sự liều mạng bỏ qua lẽ thường tình ấy, kể cả khi không tán đồng điều đó. Dân Mỹ quả là một chủng tộc kỳ lạ.
“Chúng tôi có một câu ngạn ngữ như thế này,” cô nói lúc tiễn người phỏng vấn ra cửa, “Sét không bao giờ đánh hai lần cùng một chỗ.”
Và rồi, với một nụ cười bí ẩn, cô nói thêm, “Tôi không sợ bất cứ con báo nào. Mắt tôi tinh lắm. Rất tinh, ngay cả trong bóng tối. Tôi chẳng quên mặt ai bao giờ.”
Lúc rời đi, người viết có cảm tưởng rằng cô chưa thổ lộ hết những gì mình biết, kể cả với cảnh sát.
Khi họ đến Inglaterra thì mặt trời đã sắp lặn.
“Mời vào,” cô đáp lại tiếng gõ cửa khẽ khàng và kín đáo của Manning.
Cô gái đứng giữa căn phòng. Dáng vẻ bồn chồn của cô cho thấy họ đã gọi cửa đúng lúc cô đang rối trí đi lại tới lui, trong lúc chờ đợi.
“Cuối cùng,” cô yếu ớt chào. “Tôi đã mặc sẵn quần áo từ lúc 4 giờ. Mỗi phút trôi qua tôi lại càng thêm lo lắng. Tôi không biết liệu anh có thay đổi kế hoạch hay không. Tôi cũng không liên hệ được với anh. Anh nói tối nay, thế nên tôi đã chuẩn bị sẵn để đi Madrid. Thế này được chưa?”
Cô lùi lại một bước để họ quan sát bộ váy trắng đính pha lê.
“Được lắm. Rất hợp!” Manning tán đồng. “Nó sẽ lấp lánh trong bóng tối và giúp hắn nhận diện cô dễ dàng hơn. Cô có sợ không?”
“Giờ tôi đã đỡ sợ hơn rồi,” cô thừa nhận. “Anh phải nhìn tôi nửa tiếng trước ấy, cứ vài phút là răng tôi lại va lập cập vào nhau.”
“Tôi mang thứ này cho cô đây.” Anh lôi một khẩu súng lục cỡ nhỏ ra, giơ báng súng về phía cô. “Nhét vào trong xắc tay đi. Cô có biết cách dùng không?”
“Không thể nói là quen thuộc, nhưng chắc là tôi sẽ xoay sở được nếu bắt buộc phải dùng nó.”
“Gạt chốt an toàn và siết chặt ngón tay, cô chỉ cần nhớ vậy là đủ. Marjorie, nếu cô bắt buộc phải dùng nó thì đừng dọa suông. Bắn trước rồi hãy dọa, cô đang phải đối mặt với một kẻ…”
“Tôi biết.” Cô nói, vội chớp mắt xua ý nghĩ ấy ra khỏi đầu.
“Liệu có vừa vào xắc không?”
“Tôi có một chiếc túi to hơn, khẩu súng sẽ vừa. Nó mở cũng nhanh hơn loại xắc tay phong bì này.”
Nãy giờ Raul lịch sự đứng bên, lắng nghe cuộc trò chuyện khó hiểu giữa họ.
“Ấy chết, tôi vô ý quá,” Manning xin lỗi. “Cô King, đây là Raul Belmonte. Hai người sẽ phải giao tiếp bằng ngôn ngữ cử chỉ.”
Họ cúi chào nhau, như thể đây là một buổi gặp gỡ xã giao chứ không phải sắp sửa tiến hành một cuộc đối mặt với Tử thần.
“Cô đã đọc báo chưa? Hiệu nghiệm rồi!” Manning nói tiếp. “À, tôi quên mất, cô không đọc được nhiều tiếng Tây Ban Nha. Tóm lại là cảnh sát đã cắn câu gọn ghẽ. Cách đây ít phút, tôi đã gọi điện tới tổng hành dinh của Robles. Ông thanh tra bảo rằng chẳng còn một cảnh sát nào nán lại khu Bosque hết. Tất cả bọn họ đều được điều động ra khu vực nguy hiểm mới nhất, ở gần đường đua Hippodrome. Trong vòng 20 phút, ông ta nhận được sáu cuộc gọi từ đó, tất cả đều báo là đã nhìn thấy con báo giữa ban ngày ban mặt, bên dưới khán đài đường đua. Không chỉ có vậy, sắp sửa có một cuộc cải tổ lớn, ông ta không dám lờ đi một trận lũ tin báo bất thình lình tràn tới như thế. Mà kể cả khi không cải tổ thì tinh thần trách nhiệm cũng chẳng cho phép ông ta ngồi không.”
“Sáu cuộc gọi đó đều là của anh hết à?”
“Tôi trả tiền cho bảy cuộc, nhưng rõ ràng là có một tay đã sờn lòng và ôm mớ peso tiền công bỏ trốn.”
“Anh gài được thông tin vào chưa?”
“Từ tối qua rồi. Giờ chắc hắn đã đọc được bài viết, nếu hắn chịu đọc báo.”
Anh dừng lại, lo lắng bóp tay vào nhau, như một bác sĩ chuẩn bị thực hiện phẫu thuật hay một nha sĩ chuẩn bị nhổ răng.
“Còn bây giờ, Marjorie..”
“Tôi biết. Đã đến giờ khởi hành.” Cô nói, nét mặt run run nửa đùa nửa thật.
“Cô sẽ phải rời khỏi đây một mình. Belmonte và tôi sẽ đi luôn bây giờ, ngay sau khi bàn bạc xong xuôi, để chuẩn bị trước ở hồ nước trước khi trời tối. Chúng tôi không thể đi cùng cô, vì không biết được bắt đầu từ lúc nào ta sẽ bị theo dõi. Có thể là ngay từ cửa khách sạn. Có thể phải ra đến Madrid. Có thể đến khi cô ra tới tận bờ hồ.
“Sau khi trời tối được nửa tiếng, cô sẽ rời khỏi đây trên xe ngựa mui gập giống như đêm hôm ấy. Lúc đến Madrid, nhớ chọn một bàn sát rìa để hắn có thể thoải mái nhòm ngó cô. Cứ khăng khăng đòi một chỗ như thế. Tránh nhìn vào chỗ tối, đừng cố tìm kiếm hắn, đằng nào cô cũng không thể nhìn ra cái gì đâu. Cứ thoải mái ngồi ăn uống ở đó. Cố gắng đừng để lộ vẻ căng thẳng hay bồn chồn. Quan trọng nhất, đừng dính líu đến ai trong lúc cô ở đó. Nếu thấy có người ngồi xuống với cô, dù chỉ trong vài phút, hắn có thể sẽ sợ hãi mà bỏ đi. Chúng ta phải thúc đẩy ham muốn của hắn thông qua cả thị giác lẫn tâm lý.”
“Sau đó thì sao?”
“Cô ra chỗ bờ hồ có mấy con thiên nga, giống như Sally đã làm. Đó là khu vực chúng ta nhắm đến.”
“Liệu sự hiện diện của ông đánh xe có gây cản trở không?”
“Lần trước ông ta có gây cản trở gì không? Hắn đã làm gì đó để dọa con ngựa phát hoảng mà bỏ chạy. Hãy cho hắn cơ hội, tách khỏi con ngựa và cỗ xe, xuống bên ven hồ.”
Cô nuốt khan, đưa tay ôm lấy họng.
“Manning, không phải tôi muốn rút lui hay gì đâu, nhưng chi tiết ấy làm tôi băn khoăn. Cái cách lũ thiên nga và con ngựa phát hoảng… hẳn chúng đã đánh hơi được gì đó, thay vì nghe ngóng hay nhìn thấy. Giả sử thực sự có một con báo dính líu vào vụ này… Tôi sẽ làm gì đây? Việc cứu tôi khỏi con vật ấy sẽ vô cùng khó khăn.”
“Chắc chắn phải có một con báo dính líu vào vụ này,” anh trả lời thẳng thừng. “Quá nhiều bằng chứng của Robles cho thấy điều đó. Nhưng tôi lập luận rằng thủ phạm là một con báo và một con người. Nói cách khác, một con báo nằm dưới sự kiểm soát, bị điều khiển bởi trí thông minh của con người.”
“Ý anh là hắn… đưa nó theo, thả nó ra vồ nạn nhân? Trong trường hợp đó thì làm thế nào các anh kịp thời giúp tôi được? Loài báo nhào ra nhanh như chớp.”
“Tôi không biết chính xác hắn sẽ giở trò gì. Tôi chỉ biết con vật không phải là một dã thú bất kỳ. Chúng ta sẽ tìm cách xác minh trong tối nay. Mong cô hãy đặt niềm tin vào tôi, Marjorie. Cả Belmonte và tôi sẵn sàng đánh đổi mạng sống hơn là để cô gặp nạn. Chừng nào còn có yếu tố con người dính dáng đến vụ việc, tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ vượt mặt hắn. Tôi biết mình đang yêu cầu cô làm một việc rất kinh khủng. Nhưng chúng tôi cần một cô gái tham gia. Hắn không tấn công đàn ông, và tôi không quen bất cứ ai khác có thể nhờ hỗ trợ được.”
“Anh không phải nhờ vả bất cứ ai khác.” Cô quả quyết. “Tôi sẽ không nói dối và giả vờ như không sợ hãi. Thực tế là tôi sợ đến phát bệnh. Nhưng từ hai đêm trước, tôi đã nhất trí làm việc này và sẽ không đổi ý.”
Môi cô mím chặt thành một đường mỏng. Anh chạm vào nắm tay siết chặt của cô và thấy nó lạnh như nước đá. Không hiểu sao như vậy lại khiến anh có cảm tình với cô hơn.
“Trong trường hợp không có chuyện gì xảy ra, tôi sẽ ở lại bên bờ hồ bao lâu?”
“Cho đến khi cô đã tìm thấy cái mặt dây chuyền bị mất.”
“Ồ, có một cái ở đó thật à?”
“Ừ, tôi đã mua một cái ở tiệm giảm giá và đích thân đặt nó ở đó sáng nay. Cái mặt dây nằm ngay sát mép nước, bên dưới mấy hòn đá. Nếu muốn câu giờ, cô chỉ cần hút thêm một điếu thuốc sau khi tìm thấy nó. Cuốc bộ vẩn vơ một quãng ngắn bên hồ. Đừng quên những gì tôi dặn, phải đảm bảo là cô đi lang thang ra khỏi tầm nhìn của ông đánh xe. Nếu hút xong điếu thuốc mà vẫn không chuyện gì xảy ra, cô có thể khẳng định chắc chắn là hắn không ở quanh đó và sẽ không xuất hiện tối nay. Cô chỉ việc quay vào trong xe để về khách sạn. Một vài phút sau, chúng tôi sẽ theo cô trở lại.”
“Mặt trời xuống thấp rồi đấy,” Belmonte cảnh báo bằng tiếng Tây Ban Nha, mắt liếc về phía cửa sổ. “Nó đã chạm đến cây thập giá trên nhà thờ. Chúng ta cần đi luôn nếu muốn nhân lúc đủ sáng để chọn chỗ ẩn náu.”
Cậu ta lịch lãm gập người xuống trước bàn tay của Marjorie, miệng khẽ nói, “Xin ngả mũ trước một quý cô can đảm.”
Tiếp theo đến luợt Manning nắm lấy bàn tay cô, bắt tay khích lệ theo kiểu Mỹ.
“Bắt đầu nào. Hãy giữ bình tĩnh và đặt niềm tin vào chúng tôi. Tôi đã đích thân tìm mua khẩu súng cho cô. Chỉ cần chạm nhẹ là nó sẽ khai hoả. Nhớ những gì tôi đã chỉ dẫn: gạt chốt an toàn và siết chặt ngón tay. Nếu gặp trường hợp thật sự khẩn cấp, đừng phí thời gian rút súng ra làm gì, cứ bắn xuyên qua túi luôn.”
Raul đứng đợi anh ở hành lang, dáng điệu vô cảm hơn hẳn một người Nam Mỹ bình thường, có thể bởi vì quá căng thẳng.
“Đi nào, anh Manning, chúng ta sẽ không đến kịp mất.” Cậu ta thúc giục bằng một tông giọng đều đều, như thể họ sắp sửa ra góc đường làm chén nước.
Cô đã ngồi lại bên gương, đưa một que chấm nước hoa chạm ra sau tai trong lúc anh khép cửa vào.
“Hẹn gặp lại anh tối nay, tôi hi vọng thế.” Đó là câu cuối cùng cô nói.
“Hẹn gặp lại cô tối nay, tôi tin chắc thế.” Anh tự tin đáp.
Lần cuối đưa mắt liếc nhìn, anh thấy gương mặt cô trắng bệch như cẩm thạch, ngay cả trong ráng hoàng hôn ửng hồng, đầy vẻ kinh hãi chờ đợi điều sắp đến. Cô nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu của mình, như thể trong gương là khuôn mặt của Tử thần.
Nước hồ đậm màu dần dưới ánh chạng vạng, xanh lam ngả sang chàm rồi chuyển thành đen sánh, như thể tại một nơi khuất nẻo nào đó, mực được rót vào từng chút một. Khu Bosque chìm vào trong bóng tối, im lặng và vô hồn như thể là một miền hoang dã thực sự, thay vì một công viên tự nhiên rộng lớn nằm ở ngoại ô một thành phố lớn. Mọi giống loài bé nhỏ vô hại thường cất tiếng lúc ban ngày, chim chóc cùng côn trùng, giờ im phăng phắc. Một sự tĩnh lặng đến ngạt thở bao trùm lên vạn vật, chờ đợi sự xuất hiện của kẻ sát nhân nguy hiểm nhất: màn đêm. Nó tàn nhẫn truy đuổi và sát hại ánh sáng, đều đặn 24 tiếng một lần, lặp đi lặp lại. Sát thủ bất diệt, bất khả trừng phạt, bất khả ngăn chặn.
Manning ngồi xổm bên mép nước, khuất dạng khỏi phần đất nhô cao hơn, lia mấy viên sỏi nhỏ trong lúc đợi Belmonte. Họ đã chia nhau ra để khảo sát xung quanh bờ hồ, và anh là người đầu tiên quay lại xuất phát điểm.
Một cảnh tượng vô cùng tầm thường đang diễn ra giữa chạng vạng. Người đàn ông từng sống du thủ du thực nơi bãi biển, đại diện truyền thông mất việc, kẻ vô công rồi nghề lang thang khắp các quán rượu trung tâm thành phố, ra chốn ngoại ô này để chiến đấu với thế lực chết chóc. Không chút bóng dáng nào của một anh hùng, không hề. Không hơn gì một kẻ mới bị con muỗi mang sốt vàng đánh quỵ.
Trên mặt nước, đàn thiên nga nổi bất động tựa như những đám mây đen lơ lửng, đầu nép vào trong cánh để ngủ. Chúng tỏ ra khó chịu với mấy gợn sóng mà đám sỏi gây ra, sau khi nhận thấy đó không phải là vụn bánh mì.
Belmonte lặng lẽ men theo ven hồ quay lại, chúi người về phía trước để hình hài không lộ quá rõ. Cậu ta bắt chước Manning, ngồi xổm bên cạnh anh.
“Cậu tìm được chỗ nào chưa?” Manning thì thào.
“Anh thấy mấy bụi rậm đằng kia không? Tôi đã chọn chúng. Trông như chúng mọc thẳng từ dưới nước lên, nhưng thực ra có một phiến đá phẳng để ngồi xuống. Tôi sẽ được che chắn khắp bốn phía, kể cả từ phía mặt hồ. Còn anh thì sao?”
“Tôi tìm thấy một cây đào có các chạc thấp. Phần thân tách thành bốn nhánh, ở giữa lõm xuống giống như cái cốc. Tôi chỉ cần kéo vài tán lá xuống quanh mình là xong. Rất phù hợp.”
“Anh có leo nhanh xuống được không?”
“Nhảy một phát là xong. Chạc cây thấp, cây đào lại mọc xiên, đâm chéo từ con dốc về phía cái hồ. Ban nãy cậu có thấy ai không?”
“Tôi đi nửa vòng sang đến bên kia nhưng không trông thấy ai hết.”
“Bên tôi cũng vậy,” Manning thận trọng đáp. “Tốt nhất chúng ta nên vào vị trí, đừng đợi lâu hơn nữa, trước khi trăng lên.”
“Anh vẫn nghĩ tách nhau ra là ý hay à?” Belmonte thì thầm. “Một khi đã tách nhóm, chúng ta sẽ không liên lạc được với nhau nữa.”
“Đây là cách hợp lý nhất. Chúng ta có thể bảo vệ cô ấy hiệu quả hơn hẳn nếu mỗi bên có một người. Đoạn này là chỗ cô ấy sẽ xuất hiện. Chắc chắn là thế. Từ đường mòn xuống ven hồ, đây là lối đi dễ dàng nhất. Bắt đầu từ đây, con đường dần dà uốn cong và chạy xa khỏi hồ.
“Cuối cùng, đây là dải bờ duy nhất có cỏ, bằng phẳng và dễ tiếp cận. Đó là nơi cô ấy từng xuống bên hồ cùng bạn mình. Hắn biết điều đó. Nếu thực sự tin rằng cô ấy dám quay lại tìm kiếm thứ mà mình đánh mất, hiển nhiên hắn sẽ rình rập ở chỗ cũ. Theo cách này, chúng ta có thể bảo vệ cô ấy ở cả ba hướng. Cậu bên kia, tôi bên này và bản thân cái hồ là bên thứ ba. Cỗ xe đợi sẵn ở trên sẽ chặn một hướng nữa là thứ tư. Nếu muốn tiếp cận cô ấy, hắn sẽ phải đến từ sau chỗ tôi hoặc chỗ cậu. Chắc là từ đằng sau tôi, bởi vì Madrid nằm bên này.
“Lưu ý là không được nhảy chồm ra đánh úp hắn ngay. Phải để hắn vào giữa, sau đó hai người chúng ta sẽ dồn hắn vào chân tường.
“Điều quan trọng là chúng ta phải được che chắn kín đáo. Nếu không thì hắn sẽ hoảng sợ và bỏ đi trước khi đến nơi, như thế thì chúng ta sẽ để vuột mất hắn. Giờ kiểm tra lại bản thân thôi. Nhớ là lát nữa trăng sẽ lên, chỉ cần một vệt sáng lóe lên không đúng lúc là chúng ta sẽ bị lộ. Cài cúc áo khoác đến tận cằm đi, che sơ mi màu trắng. Đừng để thứ gì bắt sáng lộ ra, một cái ghim cổ áo hay khuy măng sét hay thậm chí nắp bút kim loại thò ra khỏi túi áo ngực cũng không được. Đề phòng cả mấy đồng xu lẻ trong túi kêu leng keng đúng lúc quan trọng nữa.”
Họ tự lôi ra một chiếc khăn mùi xoa, để nguyên nếp gập mà bỏ chỗ tiền lẻ lên, vặn xoắn mấy đầu khăn rồi bỏ lại vào túi, tạo thành một dạng bình sừng cách âm.
“Đừng hút thuốc,” Manning cảnh báo. “Cậu kiềm chế được không?”
“Tất nhiên, đây đâu phải buổi hẹn hò với một cô gái. Tôi có thể đợi cả đời, tôi có thể nhịn ăn nhịn uống nếu việc ấy giúp mọi sự…”
“Súng ống thế nào?”
Chỉ với một động tác duy nhất, Belmonte đã tách vạt áo khoác và lăm lăm tay súng.
“Nhanh đấy,” Manning bình phẩm.
Anh đưa cổ tay lên sát mắt, nhìn đồng hồ. “7 giờ 55. Sẽ phải chờ lâu đấy. Giờ cô ấy chỉ vừa rời khỏi khách sạn. Chúng ta sẽ phải chờ tận hai tiếng, có khi ba tiếng.” Rồi anh tháo đồng hồ và nhét vào trong túi. “Ánh trăng có thể sẽ hắt lên mặt kính.”
Belmonte cũng cởi bỏ đồng hồ của mình sau khi chỉnh lùi lại một phút. “Đồng hồ của tôi báo 7 giờ 56, nhưng cứ theo giờ của anh đi. Hai chúng ta cùng chia sẻ một đồng hồ, một mục đích, một hi vọng.”
“Tốt, tách ra thôi.”
“Được, chào nhé,” Belmonte đáp gọn, nắm tay rắn rỏi nắm chắc tay anh.
“Bình tĩnh nhé,” anh chàng người Mỹ thì thào.
Họ quay lưng lại với nhau, lén lút đi theo hai hướng đối diện. Sau một vài mét, cả hai đã chìm vào bóng tối không thể xuyên thủng.
Bên này, xuất hiện tiếng rặng lau khẽ lao xao, sau đó lại trở về tĩnh lặng. Bên kia, thoáng có tiếng xào xạc của một tán rậm lá khi người đu lên cây, rục rịch vài giây ổn định, thế rồi cả cái cây cũng trở nên im ắng và bất động. Quanh mặt hồ tăm tối không có lấy một âm thanh.
Khu Bosque câm lặng và vô hồn như một miền hoang dã thực sự, thay vì một công viên tự nhiên rộng lớn nằm ở ngoại ô của một thành phố lớn. Một sự im lìm đến ngạt thở bao trùm lên vạn vật, chờ đợi sự xuất hiện của kẻ sát nhân nguy hiểm nhất…
Giờ là quãng thời gian mọi người đổ xô ra dạo phố, khi Ciudad Real dốc hết cõi lòng đáp lại tiếng gọi của cuộc sống ban đêm. Cô bước ra khỏi khách sạn, trông thật lấp lánh và vô tư trong bộ váy trắng đính pha lê, tóc gài một bông anh túc bạc. Lủng lẳng trên cổ tay cô là một chiếc túi bạc để đi chơi tối, túi hơi lệch dáng một chút vì bên trong chứa vật nặng, có thể là ống nhòm xem hát opera. Trông từ vẻ ngoài mà suy đoán, rõ là đầu óc cô chỉ bận tâm đến nhảy nhót và sâm panh.
Khi thấy cô bước ra, những khách bộ hành trên vệ đường đều ngoái đầu lại, khóe miệng khẽ cong lên trước sự vui tươi và vô lo vô nghĩ của cô gái. Thậm chí vài người trong số họ còn cảm thấy ghen tị với cô.
Đèn màu nhấp nháy khắp mọi nơi và cô đang hòa cùng với bầu không khí nơi này. Một chú khỉ rực lửa ngồi cao chót vót trên bầu trời đêm cứ liên tục biến mất rồi lại xuất hiện, đầu tiên là che mắt, sau đó che tai, tiếp theo che miệng, tuyên bố câu “Anis del Mono.”[51] Một con gà trống đuôi xanh xuất hiện đều đặn hơn đang hối thúc không ngừng, “Cinzano Vermouth.”[52] Các vỉa hè sáng rực như buổi ban trưa bên dưới những chòm sao nhân tạo lóa mắt ấy. Tất cả các bàn tại mọi quán cà phê đều đã có người ngồi. Taxi ùn ùn chạy trên phố, giận dữ bóp còi inh ỏi.
Giờ là thời gian dạo phố, thời khắc thư giãn và vui vẻ. Hãy quên đi, rằng trên đời tồn tại những thứ như là công việc và trách nhiệm.
Marjorie King đứng đó, mũi giày bạc tí hon chạm mép hè đường. Cô ngăn anh giữ cửa khách sạn giơ cái còi đeo cổ lên. “Không, đừng gọi taxi. Gọi xe ngựa kéo. Caballo (Ngựa) , anh hiểu chứ?”
Anh ta chạy ra góc phố bên kia, đích thân gọi xe ngựa cho cô, sau đó quay về trong tư thế một chân đạp trên bục xe, một chân đong đưa tự do.
Cô vào xe.
“Cho tôi ra Madrid.”
Ông đánh xe và anh giữ cửa liếc nhìn nhau rồi trao đổi mấy câu tiếng Tây Ban Nha.
“Chú bảo cô ấy đi.”
“Không, cậu đi mà nói với cô ta.”
Anh giữ cửa bồn chồn ngả người vào xe. “Xin thứ lỗi, nhưng senorita sẽ đi một mình ra đó sao? Tôi không có ý vô lễ gì đâu, nhưng…”
Anh ta mỉm cười xuề xòa, như thể không biết nói tiếp thế nào. “Chỗ đó… chỉ là mấy đêm nay mà ra chỗ đó thì hơi xa.”
Cô hiểu ý nghĩa cụm từ mấy đêm nay. Rõ ràng anh ta không biết vài đêm trước, cô chính là người đã ra Madrid cùng nạn nhân mới nhất.
Marjorie bỏ một đồng xu nhỏ vào tay anh giữ cửa để anh ta thấy rằng mình không cảm thấy bị xúc phạm.
“Ra Madrid!” Cô kiên quyết lặp lại.
Ông đánh xe tóc hoa râm chạm tay lên mũ. “Sí, senorita. (Vâng, thưa cô.) ”
“Hãy đi chậm thôi, tôi muốn tận hưởng khí trời trước khi ăn tối.” Cô lặp lại câu nói ấy trong đầu. Ăn? Chết? Chúng nghe thật giống nhau, ít nhất là trong tiếng Anh.*
Cô thấy họ lại nhìn nhau và nhún vai bất lực, như thể muốn bày tỏ: Chẳng biết nói sao với đám dân Mỹ nữa.
Anh giữ cửa khách sạn đóng cửa xe lại cho cô. Anh ta liếc nhìn khuôn mặt cô gái với vẻ hiếu kỳ lạ lùng, như thể vừa mới nhận ra cô trát phấn quá tay. Cô nghĩ thầm rằng chắc mặt mình trông trắng bệch thật, nhưng không phải do đánh phấn.
Marjorie ngồi xuống cái ghế bọc da. Khách sạn và sự an toàn chậm rãi lướt về sau cô như ngọn hải đăng trên bến bờ đang lui dần. Chuyến đi đã bắt đầu.
Trong tâm trí cô nảy ra một suy nghĩ, ở một nơi khác trong thành phố, cùng một khung giờ, có khi còn là ngay giây phút này, một người nào đó cũng bắt đầu khởi hành. Một kẻ xấu xa mang theo biết bao sự rùng rợn, cứ mỗi thời khắc trôi qua là lại đến gần cô hơn, từ từ nhưng chắc chắn, cho đến khi con đường đôi bên giao nhau. Sau đó, chỉ còn hắn đi tiếp, còn cô sẽ dừng lại.
Một cuộc gặp mặt thật kỳ lạ! Phải rồi, đâu đó trong một ngõ hẻm hôi thối, từ một hang ổ bí mật không ai hay biết, một bóng dáng lén lút, danh tính lẫn vào màn đêm, đang bước ra ngoài để gặp mặt Marjorie King. Chính cô, cô gái mặc váy trắng đính pha lê, đi giày bạc, tóc đen nhánh. Trong lúc cô rời khỏi khu khách sạn sáng ánh đèn trên xe ngựa, mùi hương của thứ nước hoa mang đầy điềm gở, Je Serai Seule à Minuit (Một mình em lúc nửa đêm) , thoang thoảng trong bầu không khí nhẹ nhàng. Không ai đi gặp mặt mà tim lại đập nhanh hơn cô lúc này, dù cho cô ngả người trên băng ghế sau xe, trông thoải mái và duyên dáng vô cùng. Đôi giày mũi bạc bắt tréo trên sàn xe, một bên khuỷu tay hờ hững đặt trên thành ghế cong cong. Cánh tay còn lại, bấy giờ hạ xuống khuất mắt, bàn tay ấy nắm chặt bồn chồn sát bên cơ thể, không gì cạy mở nổi, bởi nó đã đóng băng rồi.
Âm thanh lọc cọc vang vọng đầy êm dịu của con ngựa dần dần đưa cô về phía Puerta Mayor, cổng chính dẫn vào Bosque. Trên đường, ánh sáng phố phường càng đi xa càng trở nên nhạt nhòa, cứ như họ đang bỏ lại đằng sau những tầng ánh sáng khổng lồ. Trung tâm như một biển lửa từ những phố quận chơi đêm, rực rỡ như ban trưa. Thế rồi đến thứ ánh sáng trầm mặc hơn của những khu giữa, các cửa hàng và thỉnh thoảng một vài bảng hiệu điện nhỏ. Lớp ngoài cùng là ánh sáng mộc mạc ảm đạm của những khu dân cư, đường xá chỉ sáng nhờ màu trắng dịu mát từ những cột đèn và đôi ba khung cửa sổ vàng.
Khi đến Puerta Mayor, bóng tối siết lại từ cả hai bên, bao kín trọn vẹn đầy đắc thắng. Bóng tối tràn khắp mọi nơi ngoại trừ trên đầu, nơi có một dãy đèn đánh dấu con đường hai làn dẫn sâu vào Bosque, về phía Madrid.
Khung cảnh như phủ bụi bạc của các tuyến đường ngoại vi thành phố lùi lại đằng sau trước khi biến mất hẳn. Không khí trở nên ẩm ướt và mát mẻ hơn, ngấm sâu vào thịt da hơn. Mùi dương xỉ, cây lá và gỗ ẩm bốc lên, khiến hương nước hoa vẫn còn vấn vương quanh cô dần mất chất.
Tuy nhiên, con đường chính ấy không hề trống trải chút nào. Một chuỗi xe cộ, một số thì kín mít và sáng đèn, số khác thì không nóc và mui trần, liên tục lướt qua Marjorie theo hướng ngược lại. Tối nay người ta chỉ sử dụng một làn đường, vì mấy đêm nay, như cách anh giữ cửa khách sạn đã diễn đạt. Tất cả đều ra khỏi đây và rời đi. Quay vào trong thành phố, về với chốn an toàn. Không ai di chuyển theo hướng đối diện. Không ai ngoài cô. Ông đánh xe của cô một mình độc chiếm cả làn đường.
Những người kia chẳng có gì phải sợ hãi khi ngồi túm năm tụm ba bên trong những chiếc limo thắp đèn sáng trưng. Nhưng xe của họ không hề nhẩn nha. Tất cả đều nhanh chóng lao đi với tốc độ hối hả. Như thể sau khi đã chứng minh với bản thân và bạn bè rằng mình là người can đảm, dám đến Madrid ăn tối sớm, họ chỉ nóng lòng chờ tới lúc được ra khỏi đó, để tiếp tục thanh thản vui chơi ở nơi nào đó khác. Mặc dù ai ai cũng biết rằng nó không còn ẩn náu trong này nữa, rằng lần cuối cùng người ta nhìn thấy nó là ở đầu bên kia thành phố, cạnh đường đua Hippodrome.
Cô cứ thế chậm rãi băng qua, đi ngược dòng chảy, sang trọng mà cô đơn. Cứ mỗi lần xe băng qua bên dưới một ngọn đèn, một lưỡi lửa trắng lóa lại liếm lên người cô, thế rồi nó tối đi cho đến khi ngọn đèn tiếp theo xuất hiện.
Cuối cùng, bên trong miền bóng tối trước mặt, ánh đèn lồng của Madrid bắt đầu hiện ra, như một tấm thảm hoa giấy đa sắc màu lung linh, rải rác bên dưới các tán cây. Lúc ông đánh xe rẽ vào nhánh đường dẫn từ cổng vào, vọng âm mờ nhạt của các nốt phong cầm, vĩ cầm như đang nhỏ giọt xuống từ chính những tán cây ấy, chẳng khác nào một trận mưa lâm thâm không thấy giọt.
Một người phục vụ đỡ cô xuống. Marjorie bước qua bức tường cây thấp bao quanh khu ăn uống.
“Ông đứng đó đợi tôi,” cô ra lệnh cho ông đánh xe. Hàng xe ít ỏi vẫn còn đỗ một bên đường.
“Nhưng đừng muộn quá nhé, senorita,” ông ta e dè nài nỉ, “mấy ngày nay mà làm thế là không khôn ngoan đâu.”
“Ông sẽ đợi cho đến khi tôi đã sẵn sàng.” Cô nghiêm nghị nói, quay sang dặn người phục vụ, “Nhớ đảm bảo là ông ta đứng đợi tôi.”
Viên bồi bàn trưởng tiến tới chào khách. Tất cả đều ngồi bên trong tòa nhà chính, một khu vọng lâu hình bát giác, cao hơn nền đất mấy bậc thềm, vẫn còn khách khứa ngồi ở đây nhưng số lượng đã giảm hẳn. Những người cuối cùng còn nán lại, hoặc để chứng tỏ bản thân can đảm thế nào, hoặc đã nốc quá nhiều rượu và đang vui vẻ quá đà nên chẳng quan tâm trời trăng gì nữa. Dẫu vậy, số lượng khách ít ỏi đó cũng tụ tập thành các cụm bàn lớn như để bảo vệ lẫn nhau.
Thế càng tốt, cô nghĩ thầm, hắn có thể tìm thấy mình dễ dàng hơn.
Một vài cặp đôi đang chậm rãi đong đưa theo điệu tango trên sàn nhảy lát kính đen, cứ mỗi đôi lại kèm một cặp hình ảnh phản chiếu ngược, thế nên trông số người có vẻ nhiều gấp đôi.
“Senorita có đang đợi ai không ạ?”
Cô giấu đi cơn run rẩy sau khi nghe câu hỏi vừa rồi. Đúng là senorita đang đợi, nhưng cô không trông ngóng kẻ đó tới.
“Không, bàn ăn cho một người thôi.”
Thế rồi, lúc anh ta bắt đầu dẫn cô về phía mấy bậc thềm dẫn vào tòa nhà, cô bổ sung, “Tôi muốn một bàn ngoài này. Ở hẳn bên ngoài, cạnh tường cây.”
Anh ta đưa mắt nhìn khách. “Cô có chắc là mình muốn ngồi xa thế không?”
“Tôi chắc!” Cô ngắn gọn đáp. “Tôi không thích chỗ đông người.”
Cô ngồi xuống, độc chiếm cả biển bàn ăn ngoài này. Tường cây bên cạnh khá thấp. Ngay cả khi ngồi, cơ thể cô cũng lộ rõ từ phần eo trở lên, bởi lẽ mấy chiếc bàn được kê trên một bệ sân, tránh cập kênh trên nền đất trần. Cây cối và bóng tối mịt mùng bên dưới kè kè sát gần đến đáng ngại, đủ để ai đó thò tay qua mà nhấc bổng cô lên, giữa lúc mọi người quay lưng không để ý. Giả sử… giả sử xảy ra chuyện ngay ở đây, nơi Manning và Belmonte không lường trước và không thể giúp cô được thì sao?
Cô nhìn ra chỗ khác sau khi nhớ lại lời cảnh báo của Manning, đừng để lộ vẻ căng thẳng hay bồn chồn. Cô chuyển sang nghiên cứu thực đơn. Bảng thực đơn run nhè nhẹ trong tay cô, khiến các dòng chữ trên đó bị nhân đôi, như thể nhìn qua cạnh mài vát của một tấm kính dày.
“Anh có đề xuất món nào không?” Cô hỏi, giọng hơi nghèn nghẹn.
“Thưa senorita, cô thấy món xoài nghiền thế nào?”
“Được, vậy tôi sẽ thử món xoài nghiền.”
Làm sao cô nhồi nổi thứ gì xuống cổ họng được đây?
“Sau đó thì cho tôi một cốc kem và một ly cà phê.”
Cô từng đến nhiều nhà hàng rồi. Lần nào cũng thế, khi gọi đồ xong là bồi bàn sẽ rời đi chỗ khác, cô đều thấy mừng thầm, coi như thoát khỏi một phiền toái lặt vặt. Nhưng giờ Marjorie lại thấy tiếc vì việc ấy kết thúc chóng vánh, cô không muốn thấy anh ta đi vào và bỏ mình ngồi lại đây. Thậm chí cô còn cố tình giữ chân anh ta thêm vài giây bằng cách nhắc thừa một, hai câu.
Cuối cùng anh bồi bàn cũng bỏ đi, Marjorie dõi mắt theo anh ta suốt cả quãng đường. Cô cảm thấy mình ngồi đây sao mà đơn độc, sao mà tách biệt quá. Đúng là có một người phục vụ ở đằng kia, nơi lối vào trên tường cây, sẵn sàng mở cửa xe đón khách. Nhưng anh ta trông xa xôi kinh khủng, trong khi những cái cây ngay cạnh cô đây thì lại gần vô cùng. Cô mở túi xách, đặt trên lòng, giả vờ lục lọi tìm khăn tay và chạm vào báng súng. Sờ vào nó làm cô cảm thấy an tâm hơn phần nào.
Ngay khi dùng xong món súp, một ngọn đèn đỏ ngay trên đầu cô đang ngồi tự nhiên tắt ngấm. Một tấm vải liệm tối tăm và xám xịt chụp xuống. Cô hãi hùng nhắm mắt lại. Có phải đó là điềm gở không?
Ngay khi có người để ý thấy đèn tắt, hai nhân viên phục vụ vội vã mang một cái thang xếp ra. Rồi một người trèo lên sau ghế cô, thay một bóng đèn mới vào. Thoắt cái đèn lại được bật lên, còn rực sáng hơn và mọi chuyện đều ổn thoả.
Giữ nguyên ánh nhìn khi ăn đã khó rồi. Dùng bữa xong thì việc đó lại còn khó hơn nữa. Cô vận ý chí để không đảo mắt qua chỗ mấy hàng cây. Đôi khi Marjorie đinh ninh rằng mình có thể cảm thấy một ánh mắt tàn độc đang xoáy vào cô từ trong bóng tối. Thi thoảng cô lại tự an ủi rằng đó chỉ là do mình tưởng tượng mà thôi.
Có lần, một con thú nhỏ, sóc hay sóc chuột, chạy vọt qua mặt đất bên ngoài tường cây. May mắn thay, khi ấy trong tay cô có khăn ăn. Cô ép nó lên miệng và nhét hẳn một phần vào trong miệng trước khi tiếng hét có cơ hội buột ra. Cô găm chặt móng tay vào trong lòng bàn tay, tí nữa thì cắt vào thịt, cho đến khi chế ngự được cơn run rẩy.
Khi anh bồi bàn lại gần lần nữa, cô hơi hổn hển nói, “Bảo họ chơi nhạc to hơn một chút. Ở ngoài này tôi không nghe rõ.”
“Chắc chắn rồi, senorita. Cô có muốn chọn bài nào không?”
Cô chỉ muốn nói: Nearer, My God, to Thee! (Càng gần Chúa hơn!) Nhưng với tâm trạng hiện tại, nói như thế sẽ là thật lòng chứ không phải đùa giỡn, thế nên cô không đả động đến.
“Mang cho tôi chút sâm panh nữa,” cô nói thêm. “Ngoài này chán lắm.”
Bây giờ cô đã gần như chắc chắn mình đang bị theo dõi, sâm panh sẽ giúp cô tạo ra ấn tượng mong muốn: vui vẻ và khinh suất. Thực tế, cô cần rượu để không lăn ra xỉu tại chỗ.
Họ mang sâm panh đến, nút chai được bật mở và bọt trào ra theo từng dòng tươi vui. Cô nâng ly rượu đầy cao quá tường cây, muốn quay về phía hàng cây và làm động tác cạn chén với vẻ chế giễu, “Uống mừng đôi ta nào!”, nhưng như thế thì ghê rợn quá.
Cô chạm ly lên môi, sau đó lại hạ xuống. Một đến hai ngụm là đủ rồi, đủ để ấm họng. Cô không muốn các giác quan của mình trở nên u lì, chúng là thứ áo giáp duy nhất bảo vệ cô tối nay. Một lúc sau, cô lén lút đổ rượu qua mé trong bàn, nơi không ai thấy cô làm thế, và ngang nhiên rót đầy ly thêm lần nữa.
Việc cô gọi sâm panh và yêu cầu chơi nhạc to hơn hẳn đã khiến người quản lý tưởng rằng mình đối đãi với khách chưa đủ ân cần. Một chàng trai trẻ tuổi và cao ráo, áo khoác gài một bông cẩm chướng trắng, bước xuống khỏi bậc thềm và ra chỗ cô náu mình. Anh chàng cúi chào một cách duyên dáng, “Tôi có thể nhảy điệu tango này cùng cô không?”
“Cảm ơn, tôi không muốn nhảy.”
Anh ta không dễ nản lòng. “Thế liệu senorita dễ thương có phiền nếu tôi ngồi xuống bầu bạn cùng cô không?”
Anh chàng đã kéo sẵn chiếc ghế đối diện ra.
Lời cảnh báo của Manning ùa về trong tâm trí: Đừng dính líu đến ai, hắn có thể sẽ sợ hãi mà bỏ đi.
“Không, không được!” Cô thốt lên, thảng thốt đến mức khiến anh ta phải lui lại một bước. “Tôi xin anh! Xin anh đừng đứng ở đây nữa, làm ơn rời bàn này cho…”
Anh ta vẫn cứ chây lì. Hẳn mấy đêm này việc bán buôn ế ẩm lắm, bởi vì ai nấy đều né xa nơi này hết.
“Chỉ một điệu nhảy nhỏ thôi mà senorita nỡ từ chối sao?” Anh ta dụ dỗ.
Cuối cùng cô đành đầu hàng bởi đây là cách xua anh chàng đi nhanh chóng và dễ dàng nhất. Xét cho cùng, trong số hai lựa chọn, nhảy với anh ta trông sẽ bớt đáng ngờ hơn là để cho anh ta đứng kỳ kèo lâu la tại bàn cô.
Marjorie đứng dậy, anh chàng kéo cô vào lòng như một chiến lợi phẩm. Có ba người khác tương tự anh ta ngồi đơn độc xung quanh sàn nhảy, mỗi người ngồi một bàn với vẻ chán chường. Chắc là họ ăn phần trăm hoa hồng của quán.
Cô chưa nhảy tango bao giờ, mà giờ cũng không cần phải nhảy. Anh ta nhảy đủ phần cho cả hai người họ. Anh chàng khiêu vũ rất điệu nghệ, đúng là người lấy nghề làm nghiệp có khác. Anh ta khiến cô cũng vô thức đưa chân nhảy bước chéo. Từ sau vai anh ta, cô vẫn có thể nhìn thấy đám cây ngoài kia. Cho dù quay đi hướng nào, chúng cũng vẫn đứng đợi, vây lấy cô từ cả ba phía, như thể muốn nói: Bọn ta sẽ tóm được ngươi. Ngươi sẽ phải đến. Bọn ta sẽ tóm được ngươi.
Có một chàng trai bao bên cạnh còn đỡ hơn ngồi một mình, trong bóng tối xung quanh.
Sau khi đã khiêu vũ được một vòng quanh sàn, cô cất tiếng hỏi, “Bài hát họ đang chơi tên là gì thế?”
Anh chàng phải tự ngâm lại lời bài hát, triệu tập chúng ra đã rồi mới dịch được.
“Adios muchachos, companeros de mi vida, Se acabaron para mi todas las iarras… Tôi nói không sõi tiếng Anh. Bài hát kể về một người sắp chết. Lời bài hát nghĩa là: Tạm biệt anh em, những người bạn chí cốt. Tôi sắp sửa xa rời…”
Đến cả bài nhạc cũng thế. “Làm ơn đừng dịch tiếp,” cô nói như thể muốn phát bệnh. “Giờ anh cho tôi xin phép nhé? Tôi muốn quay lại bàn.”
“Có phải tôi đã làm gì khiến senorita phật ý?”
“Không phải đâu, tôi bị đau đầu. Tôi cần trả anh bao nhiêu tiền?” Giờ họ đã quay lại bàn của cô.
Anh ta không chút lúng túng. “Senorita hào phóng quá. Cô không nhảy hết bài mà…”
“Cứ cầm lấy đi!” Cô nói, tìm cách xua anh chàng đi, chạm lướt vào tay anh ta.
Thế rồi cô lại ngồi một mình, một hình hài bất động và ủ rũ, thừ người bên dưới ngọn đèn đỏ tươi màu máu. Marjorie ngồi thêm nửa giờ nữa sau khi đã uống xong cà phê. Cảm giác bị theo dõi càng lúc càng hữu hình, trườn trên làn da cô. Cô chỉ muốn chạy trốn khỏi nó. Giờ cô phải vật lộn để không ngoái đầu nhìn lại. Một lần nữa, cô cảm thấy thứ gì phát sáng như lân quang đang trừng trừng nhìn mình từ sau mấy bụi cây.
Cô phải gạt rơi một cái thìa để cúi xuống nhặt, bởi vì ham muốn quay lại quá mạnh mẽ. Lúc ngồi lại, cô đã cưỡng lại được ham muốn ấy dễ dàng hơn. Thứ không rõ là gì kia cũng đã biến mất, khóe mắt cô không còn cảm thấy nó nữa.
Thật ngớ ngẩn làm sao! Cô biết trước rằng chỉ chút nữa thôi, mình sẽ phải giáp mặt với một chuyện hung bạo, thậm chí là chạm trán Tử thần, biết trước rằng có khi bản thân sẽ phải dùng tay không cào cấu để giành giật mạng sống. Ấy nhưng giờ cô lại ngồi đây, nhúng chính những ngón tay ấy vào bát nước âm ấm với một bông dành dành trôi nổi bên trên. Nếu sống sót, không bao giờ cô có thể nhìn vào một bát rửa tay mà không sống lại buổi tối hôm nay, trải nghiệm nỗi sợ này thêm một lần nữa, dù chỉ trong vài ba giây. Mấy năm sau, tại một bữa tiệc vui vẻ nào đó, giữa những tiếng cụng ly và chuyện trò, bỗng dưng mặt cô sẽ trở nên tái mét và nụ cười sẽ đông cứng lại trong lúc các ký ức tăm tối tràn về, mọi người sẽ không hiểu nguyên nhân và hỏi han cô. Nếu cô sống sót qua đêm nay.
Việc cuối cùng Marjorie làm trước khi rời đi là bóp vụn một ổ bánh mì, gom hết các mẩu vụn vào trong một chiếc khăn ăn. “Để cho lũ thiên nga,” cô mỉm cười với anh bồi bàn lúc thanh toán hóa đơn.
“Vào giờ này ư?” Gương mặt anh ta hiện rõ nét hoảng sợ và cảnh báo một cách ngụ ý.
“Tôi thích động vật.” Cô đáp. Ngoại trừ loài báo, cô thầm đế thêm.
Marjorie đứng dậy, quay đi, chậm rãi bước về phía lối ra vào trên tường cây. Cỗ xe tiến tới. Cô đặt một chiếc giày bạc lên bậc thang xe.
Bắt đầu nào, cô yếu ớt nghĩ thầm.
Mấy ngọn đèn lồng bắt đầu lui về sau hàng cây. Chiếc đèn cuối cùng màu xanh lá, nấn ná ở lại lâu hơn những chiếc khác, lấp ló qua một kẽ cây. Thế rồi đến cả nó cũng bị che khuất và Madrid biến mất vào màn đêm.
Ông đánh xe bắt đầu vụt ngựa, nôn nóng muốn rời khỏi chốn Bosque đáng nguyền rủa nhanh nhất có thể.
“Ông lái chậm thôi,” cô cao giọng ra lệnh. “Đêm đẹp thế này thì không phải vội.” Thế rồi họ ra đến đường nhánh, “Rẽ hướng này.”
“Ấy, không được, senorita,” ông già gần như rên rỉ. “Không vào đó được. Đó chính là nơi xảy ra chuyện lần trước.”
Có ai biết rõ hơn tôi đâu, cô rầu rĩ nghĩ.
“Ông không đọc báo à? Giờ nó đang ở tít bên kia thành phố rồi, có còn ở đây nữa đâu!” Cô nói bằng tiếng Anh, thế rồi chuyển sang dùng mớ tiếng Tây Ban Nha lõm bõm và khoa chân múa tay để thể hiện cho rõ ý đồ. “Không có ở đây. Otra parte (Ở chỗ khác) .”
Có vẻ ngôn ngữ không phải là rào cản lớn như người ta vẫn tưởng, bởi vì ông đánh xe hiểu hết.
“Biết đâu họ nhầm,” ông ta than vãn.
“Đi vào, đường này!” Cô khăng khăng.
Ông ta cho ngựa quay đầu lại và miễn cưỡng rẽ vào nhánh đường theo lệnh khách. Đây là một đường hầm dài và rậm rạp bên dưới ánh trăng, cây cối đan nhau trên đầu. Một đường ống xanh lục ngả gần sang đen, lác đác ánh bạc. Đẹp vô ngần và nguy hiểm vô cùng. Tiếng vó ngựa vang vọng dọc quãng đường trống trải như tiếng chuông cáo phó.
Thật vô hồn. Mấy đêm này, ai ai cũng tránh xa Bosque, chỉ sử dụng con đường chính dẫn thẳng ra ngoài. Con đường kéo dài, thẳng đơ như một que thông nòng súng. Thế rồi nó cũng bắt đầu thong dong uốn lượn, báo hiệu cái hồ đang đến gần.
Cuối cùng họ cũng chạy hết con đường tới ven hồ. Mặt trăng không sáng vằng vặc như đêm hôm trước, giờ nó chỉ còn là một mảnh khuyết, nhưng mặt hồ vẫn lóng lánh như một phiến bạc khi lộ diện ra trước mắt cô. Địa điểm không thể nào quên ấy. Hàng cây lui lại, như một bức rèm được vén sang để mở ra hồi cuối của một vở bi kịch. Chỉ còn một con dốc rậm cỏ chắn ngang giữa cô và nó.
Marjorie gần như không thở nổi nữa. Nỗi sợ bị kiềm chế nghiêm ngặt vẫn tìm cách ngoi dần lên và bóp nghẹn cổ họng cô.
“Dừng lại ở đây!” Cô xoay xở thốt lên.
Ông đánh xe không nghe thấy cô nói gì hoặc giả vờ không nghe thấy, lấy đó làm cớ để đi tiếp mà không phải trì hoãn. Cô phải liên tục vỗ nhẹ lên lưng ông ta như thể đang gõ cửa.
“Para, entiende? (Dừng lại, ông hiểu không?) Tôi bảo dừng lại ở đây. Đợi tôi nhé, tôi muốn cho mấy con thiên nga ăn một chút.”
“Ấy không, senorita, válgame dios (lạy Chúa) !” Ông ta rú lên. “Đây chính là chỗ mà cô gái kia gặp chuyện…”
“Ông có nghe thấy tôi nói gì không?” Cô gắt. “Ông sẽ không nhận được một xu tiền công nếu như không chịu làm theo lời tôi!”
Cỗ xe trở nên bất động. Cô đứng dậy rồi bước xuống mặt đất. Sau khi con ngựa dừng lại, sự tĩnh lặng trở nên hết sức phi thực. Nó cực kỳ thâm độc, cực kỳ dị thường.
Cô đưa một chân về phía trước, rồi đến chân kia, rồi lại lặp lại. Con đường từ từ chuyển sang thảm cỏ, mặt đất vẫn bằng phẳng. Sau đó nó bắt đầu chúc xuống, tạo thành một con dốc thoải. Chỗ này chưa đủ dốc để làm khó đôi giày bạc, nhưng phải cố gắng lắm cô mới bước được theo một đường thẳng. Người lảo đảo không vững, tròng trành hết bên này sang bên kia, cô gần như mụ mị đi vì sợ hãi.
Phải tỉnh táo. Nếu không mình sẽ đi đời! Cô tự cảnh tỉnh bản thân.
Phía sau, cỗ xe càng lúc càng cao hơn. Suốt phần đời còn lại, không bao giờ cô có thể hoảng sợ đến mức này nữa. Marjorie phải liên tục thì thầm với bản thân.
Manning đang ở đâu đó quanh đây, dù cho mình không thể nhìn thấy anh ta. Đầu tiên là tìm cái mặt dây chuyền. Sau đó rời khỏi tầm mắt của ông đánh xe. Hút một điếu thuốc lá. Bắn xuyên qua túi, không cần rút ra, nếu bắt buộc phải khai hỏa… Có phải bụi cây bên tay trái đằng kia đang tiến về phía mình không? Không, đó chỉ là một bụi cây.
Cỗ xe giờ đã ở nơi cao nhất, bắt đầu khuất khỏi tầm nhìn đằng sau.
Làn nước lấp lánh đang chậm rãi tiến về phía Marjorie. Đàn thiên nga, bấy giờ đã phát hiện thấy trong tay cô đang cầm sẵn thứ gì cho chúng, bắt đầu lướt một cách duyên dáng trên mặt hồ bóng loáng ánh trăng về phía cô.
Đã hơn 3 tiếng rồi, dấu hiệu sự sống duy nhất xung quanh Manning vẫn chỉ là mấy con thiên nga gà gật trôi nổi, còn lại là một khoảng tĩnh lặng lốm đốm ánh trăng và bóng tối. Chỗ bụi lau nơi Belmonte nấp không có chút xao động nào. Nếu cậu ta không bảo trước thì Manning sẽ chẳng ngờ được là trong đó có người.
Máu đã bắt đầu ngưng lưu thông đến các đầu ngón tay, ngón chân từ rất lâu rồi, khiến anh thỉnh thoảng lại nhéo và bóp chúng, thay vì dịch vị trí cho bớt tê. Nhưng chẳng ích gì, chỉ một lúc sau anh đã không còn cảm nhận được mấy phát nhéo của mình nữa.
Mặt trăng giờ đã khuyết, không còn tròn vành như lúc chứng kiến cái chết của Sally O’Keefe, nhưng vẫn đủ lớn để tỏa một ánh nhôm sáng loáng lên những nơi không bị che khuất. Anh cẩn thận nhìn xuống, kiểm tra chắc chắn trên người không có chỗ nào bị mấy khoảng sáng như đồng xu xuyên qua tán lá chiếu vào, khiến cho kẻ nào ở dưới đất phát hiện ra. Kiểm tra phần da tay trắng trẻo, ánh nhờ nhờ của đôi tất lụa, mũi giày bóng bẩy. Chỉ thế cũng đủ để một địch thủ thận trọng nhận thấy trên cây có thứ gì đó khác thường.
Sự căng thẳng gần như không thể chịu đựng được. Anh tự hỏi liệu Belmonte có cảm thấy giống như mình không. Chắc là tệ hơn vì cậu ta không có chỗ nào dựa lưng. Anh không buồn nhìn đồng hồ. Việc ngớ ngẩn đó lúc nào cũng khiến thời gian như dãn dài hơn thực tế. Dù sao, họ cũng sẽ đợi cho đến khi cô xuất hiện, kể cả điều ấy đồng nghĩa với việc anh ngồi mãi trên cây này cho đến khi ngã xuống vì tê dại. Họ không làm chuyện này để cho vui.
Tiếng lọc cọc chậm rãi của một con ngựa vẳng lại từ đâu đó và âm thanh đã tái xuất hiện trên cõi đời. Nghe như được truyền qua một cái ống hay lỗ rỗng nào đó. Nó lặng đi rồi lại xuất hiện, rõ ràng hơn, gần hơn. Có phải cô không? Chắc chắn là vậy rồi, còn ai khác vào đây được nữa? Một cỗ xe ngựa đơn độc đến Bosque vào giờ này, lại còn tiến về hướng này nữa. Chẳng có phương tiện gì khác men theo con đường đó ra hồ kể từ lúc anh vào vị trí. Mấy đêm nay, lái xe đi dạo trong Bosque chỉ còn là thói quen xưa cũ.
Tiếng vó ngựa giờ đã nghe rõ rệt và vang vọng, tựa như tiếng chuông reo, càng lúc càng gần. Trong khoảng tĩnh lặng mênh mông xung quanh, chẳng có âm thanh nào cạnh tranh với chúng. Manning bắt đầu hít thở sâu hơn so với phút trước, bản năng đang lệnh cho cơ thể tích trữ ôxy để chuẩn bị hành động. Tiếng lộc cộc, lộc cộc cứ thế vang tới, rõ mồn một mà rất bình lặng, theo nhịp điệu đều đều mà thiên nhiên đã ban tặng cho loài ngựa. Anh sẽ thấy âm điệu đó khá êm dịu trong hoàn cảnh khác. Cuối cùng, anh thậm chí còn nghe được tiếng cót két khe khẽ của trục xe, tiếng ma sát của các bánh xe bọc lốp cao su tiếp giáp với mặt đường.
Giọng một phụ nữ. Tiếng vó ngựa dần ngưng lại. Tiếng cỗ xe ngựa nghe có phần hơi miễn cưỡng, bị gằn xuống, sau đó lại buông ra. Anh có thể nghe rõ câu tiếp theo của Marjorie, bởi cô hơi lên giọng, “Ông sẽ không nhận được một xu tiền công nếu như không chịu làm theo lời tôi!”
Anh không thể thấy cỗ xe qua lớp cành lá che kín tầm nhìn. Nhưng một thoáng sau, bộ váy trắng của cô đã hiện rõ đỉnh bờ đường, lấp lánh dưới ánh trăng. Cô bắt đầu bước chậm rãi xuống con dốc rậm cỏ ngay trước mắt anh.
Nếu có sợ hãi, hẳn cô phải cảm thấy như vậy rồi, thì Marjorie cũng không để lộ ra. Dáng điệu của cô thật khó ai bì nổi, duyên dáng và uyển chuyển, nhưng cũng đầy nghiêm trang. Dáng đi của cô chẳng có gì căng thẳng hay cứng nhắc cả, ít nhất là anh cảm thấy như thế. Cô chỉ có vẻ lưỡng lự và thận trọng của một cô gái đang mặc bộ đồ đẹp nhất, rón rén bước đi sao cho không làm bẩn giày hay váy.
Anh nheo mắt lại, ngưỡng mộ sự tự chủ đầy điềm đạm của cô. Trên cõi đời này, chỉ có phụ nữ mới diễn được như thế, chứ đàn ông thì chẳng bao giờ làm nổi.
Marjorie ra đến trước cái cây che chắn anh, tiếp tục đi qua mà không buồn liếc lại. Tất nhiên, cô không biết chính xác anh ở đâu. Cô chỉ biết tin vào lời đảm bảo rằng anh và Belmonte sẽ trông chừng ở một nơi gần đó.
Đàn thiên nga lướt đến đón cô, mỗi con bỏ lại phía sau một quạt sóng. Chúng đã phát hiện thấy túm khăn ăn trắng đựng vụn bánh mì trong tay cô.
Cuối cùng Marjorie cũng ra đến mép nước. Manning đang núp ở khoảng ngay giữa cô và cỗ xe ngựa, quan sát địa hình xung quanh nhiều hơn là quan sát cô. Không thể tấn công cô từ phía trước, bởi bên đó là hồ nước. Còn muốn tiếp cận cô từ đằng sau thì phải băng qua cái cây nơi anh trú ngụ. Vị trí của Belmonte bảo vệ mé phải của cô, còn anh bảo vệ cô từ mé trái.
Anh thấy cô lần mò dọc theo mép nước, đầu cúi xuống, chăm chú tìm mặt dây chuyền, tay nhấc vạt váy cho khỏi ướt. Trong khi ấy, đàn thiên nga háu ăn gần như vây đặc kín quanh cô, chen chúc xô đẩy nhau, bám theo từng chuyển động chậm rãi của cô.
Đằng sau tấm lưng của Marjorie, chẳng có gì động đậy hay dịch chuyển. Không có lấy một tiếng xào xạc từ những bụi cây đen mượt xung quanh. Không có lấy một âm răng rắc của nhành cây bị giẫm gãy.
Cuối cùng Marjorie cũng tìm ra nó. Anh thấy cô bất chợt cúi xuống, rút ra thứ gì đó từ sát mép nước. Cái mặt dây chuyền lấp lánh dưới ánh trăng khi cô đứng thẳng dậy, đung đưa nó trên tay. Cô ngắm nghía nó thêm một vài giây với vẻ vui sướng, diễn kịch rất khéo. Sau đó cô lau khô nó, lật đi lật lại rồi bỏ vào cái túi ngoắc trên cổ tay. Giờ Marjorie bắt đầu cho đàn thiên nga ăn. Tay cô xoãi về phía chúng rồi rụt vào trong chiếc khăn ăn, ngưng một lúc lại duỗi về phía chúng rồi rụt vào trong chiếc khăn ăn, cứ thế cô vừa chậm rãi tản bộ vừa cho chúng ăn như một người phụ nữ hào phóng bên bờ sông Styx.
Tư thế của Manning đã thay đổi đôi chút so với lúc cô mới lọt vào trong tầm mắt. Cẳng tay anh nâng lên, giữ nguyên khẩu súng ngang thắt lưng, báng áp vào người. Đầu anh từ từ quay từ bên này sang bên kia, không ngừng nghỉ, canh chừng từng li trên mặt đất theo cung 180 độ.
Bất chợt anh nghe thấy tiếng hí đầy bồn chồn con ngựa, nãy giờ đứng khuất bóng và bất động phía trên kia. Nó đang gõ móng loanh quanh bên trong phạm vi bộ dây cương.
Ngay lập tức, anh quay đầu về phía Marjorie, thấy đàn thiên nga đang bơi túa ra xa khỏi cô như những lằn đen vạch trên mặt hồ sáng bạc. Một thoáng sau, chỉ còn cô đứng một mình bên mép nước, bên tay cầm mấy mẩu bánh đang duỗi ra bất lực.
Manning nâng súng lên cao hơn, đến ngang xương sườn dưới cùng, rồi giữ yên ở đó.
Cô đứng im, nhìn theo hướng mấy con thiên nga đang bơi đi. Một lằn sáng nhấp nhoáng chạy dọc tấm lưng bất động của Marjorie. Cô đang run rẩy trước hiểm nguy cận kề hay chỉ là ánh trăng lấp lánh trên mấy hạt pha lê đính trên váy? Anh không dám chắc được.
Cẳng trước của con ngựa nện mạnh xuống nền đất, như thể nó dồn toàn bộ trọng lượng lên cú gõ đó, khiến các khớp nối của cỗ xe rền rĩ và oằn mình phản đối. Manning nhận thấy con ngựa hẳn đã chồm người lên rồi lại bổ nhào xuống. Nó hí loạn xạ. Anh thả chân xuống khỏi hốc cây, để nó đung đưa cách mặt đất chừng ba phân, quay về phía bờ hồ, nơi có thân cây che khuất.
Thế nhưng khoảng không gian ở giữa, từ nơi cỗ xe ngựa đỗ đến chỗ cô, vẫn cứ trống không đầy bí hiểm.
Marjorie không nhìn ngó xung quanh, dù cô hẳn đã nghe thấy âm thanh vọng tới từ phía trên rõ ràng chẳng kém gì anh. Cô hơi cúi người ra trước, giả vờ dụ dỗ đám thiên nga bướng bỉnh quay lại. Chúng không chịu đến. Cuối cùng, với một động tác nôn nóng giả tạo, cô vứt cái khăn chứa mấy mẩu bánh bị từ chối đi, như thể thất vọng trước cảnh chúng không thấy hứng thú.
Cô lục lọi cái túi nhỏ ngoắc nơi cổ tay, anh nghe thấy tiếng sột soạt của giấy sáp. Một que diêm bừng lên trước mặt khi cô bắt đầu châm điếu thuốc câu giờ như anh đã dặn. Đầu cô không buồn ngoảnh lại.
Quả là một người can đảm tột bậc! Anh chưa bao giờ gặp ai như cô. Marjorie không hề tỏ ra lo lắng, mặc dù cô không biết liệu có thứ gì lén lút trườn tới từ đằng sau hay không. Anh đang ở một vị trí có thể quan sát rõ ràng, còn cô thì không.
Con ngựa tiến vội vài bước tới trước, như thể chuẩn bị cắm đầu chạy. Thế rồi nó lấy lại tự chủ và lùi ra sau, khiến các khớp nối của cỗ xe tiếp tục kẽo kẹt phản đối và vành xe kêu leng keng.
Một quầng khói thuốc lá bao lấy đầu Marjorie dưới ánh trăng, cô vẫn tuân theo mọi chỉ dẫn của anh. Cô bắt đầu đi vơ vẩn dọc bờ hồ, ngoài tầm quan sát của ông đánh xe. May mắn thay, cô đang tản bộ về phía bụi lau, dù không thể đoán được trong đó có người đang bảo vệ mình. Đi được nửa đường thì cô dừng lại, khuất hẳn khỏi tầm nhìn của cỗ xe ngựa, cứ đứng đó như thể đang trầm ngâm nhìn ngắm mặt hồ, tay khoanh trước ngực. Đốm thuốc lá đỏ rực thỉnh thoảng lại xoáy vòng và lên xuống trong miệng cô. Ở khoảng cách này, Manning gần như không còn thấy Marjorie nữa, cô chỉ còn là một vệt trắng lờ mờ trong vùng âm u đằng kia. Cô đã bước vào khoảng đất có bóng cây, không còn được ánh trăng soi tỏ. Giờ đến lượt Belmonte chịu trách nhiệm canh chừng cô ở mé bên đó.
Không có một âm thanh nào hết, ngoại trừ tiếng móng cạ đất hay gõ lọc cọc do con ngựa thỉnh thoảng gây ra. Sự bồn chồn của con vật xem ra đã trở thành một chứng bệnh kinh niên, nhưng có vẻ ông đánh xe đã kiềm chế được nó. Cách hành xử của con ngựa cho thấy có một mối đe dọa vô hình đang rình rập trong bóng tối của Bosque, nhưng vẫn lì lợm ẩn mình không chịu xuất hiện. Cái hoạt cảnh căng thẳng hồi hộp ấy cứ kéo dãn mãi, gần như ngoài sức chịu đựng của cả ba người, hai người đàn ông nấp kín và một cô gái lộ thiên, cục nam châm đặt giữa hai người bọn họ. Cô đang hút thuốc bên mép nước, ra chừng suy nghĩ rất mông lung.
Cuối cùng Marjorie cũng hút thuốc xong. Dấu chấm đỏ tạo thành một đường vòng cung trước khi tắt ngóm trong làn nước. Cô quay đi và bắt đầu bước về chỗ cỗ xe. Có lần Marjorie hơi vấp chân, anh biết là do cô căng thẳng quá, nhưng nếu ai khác nhìn vào thì sẽ tưởng là mũi chân bị mắc phải rễ cây.
Marjorie lại bước vào trong khoảng đất trống tràn ngập ánh trăng và bắt đầu leo dốc. Cô băng qua cái cây Manning đang ngồi, vẫn không phát hiện ra y như lần đầu tiên, và đi nốt quãng đường còn lại, leo qua rìa con dốc lên đường mòn và ra khỏi tầm nhìn của anh.
Cái chân đong đưa của anh nhẹ nhàng hạ nốt mấy phân cuối và chạm xuống nền đất, chân bên kia cũng tuột xuống theo. Máu lại xộc vào trong và tái chiếm hữu chúng, đau đớn vô cùng.
Giọng Marjorie vọng rành mạch lại chỗ anh, sau khi cô đã quay về chỗ xe ngựa, “Được rồi, giờ ông có thể chở tôi về.” Cái bậu đỡ chân kêu ken két khi cô leo lên. Manning biết là ông đánh xe thậm chí còn không cần tặc lưỡi hay dùng roi để thúc ngựa. Ngay khi sợi dây cương ông ta ghìm chặt nãy giờ được thả lỏng, con ngựa hoảng sợ ngay lập tức rảo chân nước kiệu, chẳng mấy chốc đã tăng lên thành cú lao thục mạng, hối hả muốn rời xa cái nơi đáng sợ ấy.
Manning lặng lẽ luồn ra từ bên dưới tán cây, đứng đợi người đồng hành ẩn náu của mình nhập bọn. Bụi lau không tẽ ra sau khi anh huýt gió lần đầu. Đến lần hai vẫn không thấy bóng dáng Belmonte đâu, anh đi hẳn ra chỗ đó, một cảm giác bất an kỳ lạ bắt đầu khiến anh lạnh gáy.
“Raul!” Anh hối hả thì thầm, len lỏi qua những phiến đá ngập nước để chui vào trong. Bụi lau trống trơn. Anh có thể thấy rằng người từng ngồi nấp giữa mấy cây lau bị bẻ oặt đã không còn ở đó.
Anh chui ra, quay lại và một mình leo lên dốc.
Lên đến nơi, Manning thấy con đường sáng ánh trăng vắng tanh. Chưa kịp đi quá vài bước, anh phát hiện ra tiếng loạt soạt ở chếch một bên, phía đối diện hồ. Anh đứng đơ người, dỏng tai nghe ngóng. Âm thanh lại xuất hiện, tiếng ngọ nguậy vùng vẫy gì đó, như thể một con thú lớn đang tìm cách vùng thoát ra sau khi bị dính bẫy hay bị khống chế.
Anh quay người về phía tiếng động, di chuyển thật thận trọng. Âm thanh lại vang lên lần thứ ba, giờ không thể lẫn đi đâu được: tiếng va đập vào cành lá hay cây cối đầy mạnh bạo và hoảng hốt, một nỗ lực thoát thân. Anh rút súng, nhào ra khỏi đường mòn và tiến về phía đó, vừa đi vừa gạt bỏ cành cây hoang.
Tiếng quẫy đập ngày càng gấp gáp hơn, như thể bị bước tiến của anh làm cho hoảng loạn tột độ.
Chợt anh ngã lăn ra đất, khẩu súng trên tay khạc ra một tiếng đinh tai do bị cú ngã vừa rồi làm cho cướp cò. Thứ gì đó hay ai đó bị trói nghiến, nằm chắn ngang đường đã khiến anh bị vấp ngã.
Anh bò giật lùi, quẹt một vệt thuốc súng cháy rát khỏi má, mò mẫm tìm đèn pin và bật lên. Ánh đèn soi tỏ một thân hình nằm co quắp, mặt úp xuống đất, tay bị trói quặt ra sau bằng một chiếc cà vạt len, rõ ràng được lấy từ chính bộ đồ của khổ chủ.
Lật người đó lại, Manning nhận thấy đây là một người đàn ông tóc hoa râm, tuổi chừng năm mươi, bộ ria như râu hải mã nhơ nhớp bùn, mồm bị bịt bằng một khối vải lanh nhàu nhĩ. Anh lôi nó ra và dải vải cứ tuôn ra mãi. Đến lúc ra gần hết thì nó bắt đầu nhuốm hồng. Ông ta bị đập rất mạnh vào đầu, vô số dòng máu nhỏ chảy ròng ròng khắp mặt.
Ông ta gần như không còn tỉnh táo, đôi mắt lờ đờ trợn lên khi được Manning đỡ dậy. Anh vội vàng lay người ông ta.
“Ông là ai? Có chuyện gì thế? Ai đã khiến ông ra nông nỗi này?”
“Tôi không biết.” Ông ta phều phào nói. “Ai đó… từ phía sau… nhảy xuống từ ghế…”
Sau một cú co giật, ông ta liền lịm đi.
Manning buông ông ta ra, nhảy bật dậy, bật ra một tiếng kêu khàn đặc hãi hùng vang vọng khắp hàng cây. Đây hẳn là ông đánh xe của Marjorie, người đã đưa cô đến đây. Và nếu ông ta bị đánh quỵ, trói gô lại và bỏ mặc ở đây như thế này thì chỉ có một tình huống duy nhất đã xảy ra…!
Kẻ anh giăng bẫy đã bắt được Marjorie, đã đánh xe đưa cô đi để thoải mái giải quyết con mồi!
Anh phi ra khỏi bụi rậm, cắm đầu chạy dọc đường, vừa đi vừa đút khẩu súng vào trong túi. Lúc rẽ vào khoanh đất trống được cây cối bao quanh mà Belmonte đã đỗ xe, anh thầm hi vọng, gần như là cầu nguyện trong lòng. Nhưng rồi anh nhanh chóng nhận ra điều mình e ngại đã trở thành hiện thực: khoanh đất trống trơn, chiếc xe đã biến mất. Không một ai ngoài chủ nhân của chiếc xe có thể mang nó đi, chính mắt Manning đã thấy cậu ta bỏ mớ chìa khóa vào trong túi khi cả hai ra khỏi xe.
Anh lại chui ra ngoài, loạng choạng chạy dọc con đường dài lê thê như một đường ống hoang vắng đan xen giữa hai màu đen và bạc, không còn cách nào khác ngoài chạy bộ. Thật vô vọng, anh chẳng có chút cơ may nào để bắt kịp cô.
Trước khi con đường vắng tanh nhập vào đường chính, có thứ gì đó trên mặt đường tiến dần về phía anh, càng đến gần càng lóe sáng. Lúc cúi xuống nhặt, anh liền nhận ra nó. Đây là khẩu súng lục mà đích thân anh đã đưa cho cô ở Inglaterra cách đây mấy tiếng. Anh áp nó lên mũi. Không có mùi. Cô không có cả cơ hội dùng nó. Cằm anh nhăn lại, tạo thành một biểu cảm méo mó trong lúc anh tiếp tục chạy.
Con đường này sao dài quá vậy? Trong lúc anh đang tự hỏi câu ấy thì con đường mòn kết thúc. Đường chính vắng tanh bên dưới những ngọn đèn. Giờ không còn ai rời Bosque nữa, họ đã về từ rất lâu trước đó. Anh tiếp tục lê bước. Đằng trước, một quầng sáng nhàn nhạt bắt đầu xuất hiện, tỏa ra như nan quạt. Puerta Mayor, cổng vào thành phố.
Bất chợt, ánh sáng ộc đến như núi lửa phun trào và vùng biển thành phố trải rộng ra trước mắt Manning. Anh đứng khựng lại, chìm trong tuyệt vọng, một phần vì buồng phổi co thắt liên hồi, nhưng chủ yếu là bởi anh không biết phải đi đâu tiếp nữa. Anh đang đối mặt với sáu đại lộ tỏa ra từ Puerta Mayor như các thanh nan của nửa cái bánh xe. Chọn một đường đồng nghĩa với việc từ bỏ năm đường còn lại. Giờ có lẽ cô đã biến mất vĩnh viễn, bị chôn sống đâu đó trong cái miền hoang dã đầy gạch đá và nhà cửa đang trải dài mênh mông trước mắt anh.
Manning mang biểu cảm như người sắp sửa nôn. Thành phố lớn thứ ba Nam Mỹ. Ba phần tư triệu người. Chỉ có vài phút để tìm cô.
Cuối cùng, với hơi thở hãy còn gấp gáp, anh chạy xuyên qua glorieta. Mồ hôi chảy ròng ròng xuống trán, anh vẫn chưa thể quyết định được nên chọn con phố nào. Khả năng quá thấp, rủi ro quá cao. Sáu ăn một, tính mạng một cô gái. Anh cảm thấy bất lực như lúc mới đến đây, cái thời anh chưa thông thuộc đường đi nước bước trong thành phố. Cái thời nơi đây chỉ là một mớ đường xá quái đản với những cái tên quái đản, dẫn ra những hướng quái đản.
Manning băng ngang qua một bảng chỉ đường mà đã có thời anh từng phải dựa dẫm vào. Đã bao năm rồi anh chưa để ý đến chúng. Chúng là những tấm bản đồ thành phố với một cây kim điều chỉnh được, hay xuất hiện trên những góc đường nhộn nhịp. Mấy tấm bảng này được bắt chước theo châu Âu, chứ ở Mỹ thì không có. Hồi trước chúng toàn giúp anh xác định phương hướng mỗi lần bị lạc. Chỉnh kim về hướng mình muốn đi và vị trí hiện tại của bản thân, nó sẽ cho thấy đường thẳng nhất giữa hai điểm.
Bất chợt anh nảy ra một ý tưởng, liền quay ngoắt người, vòng lại chỗ tấm bảng mình vừa đi qua. Nó được dựng cao ngang ngực để tiện cho người đi bộ. Anh nhấc chân lên và đạp thẳng vào nó. Lớp kính bảo vệ tấm bản đồ rơi loảng xoảng. Để thực hiện được việc anh đang định làm thì cần cả bút chì, chứ mình cái kim là không đủ.
Anh đặt bút chì lên tấm bản đồ vừa mất lớp chắn, bắt đầu đánh dấu các điểm tấn công, vừa làm vừa tự lẩm bẩm.
“Đầu tiên là Teresa Delgado ở Pasaje del Diablo.” Anh khoanh một vòng để đánh dấu. “Thứ hai là Conchita Contreras ở nghĩa trang All Saints. Thứ ba là Clo-Clo ở giao điểm giữa San Marco và Calle de Justicia.” Anh thấm ướt đầu bút. “Thứ tư là Sally O’Keefe ở ven hồ tại Bosque.” Tối nay không tính, nó chỉ đơn thuần là lặp lại địa điểm vụ việc lần trước.
Anh giờ đã có bốn chấm đen trên bản đồ. Anh vẽ một đường từ mỗi điểm sang điểm đối diện. Chúng tạo thành một chữ X hơi xiêu vẹo, một bên dài hơn bên còn lại.
Anh quan sát thật kỹ bản đồ, xem hai đường trục giao nhau ở đâu, xác định giao điểm của chữ X. Anh vẽ thêm một vòng tròn quanh nó để xác định được rõ hơn. Nó bao quanh quận Alameda, khoảng giữa chỗ đó và Plaza de los Mártires. Ngay chính giữa khu này có một đường thẳng gần như không thể nhìn ra, được in bé tí trên tấm bản đồ: Callejon de las Sombras.
Nói cách khác, nơi nó biến mất hồi đầu vẫn là địa điểm duy nhất trong thành phố cách đều vị trí bốn cuộc tấn công. Đâu đó tại chỗ đấy là một căn cứ hoạt động. Đâu đó tại chỗ đấy là hang ổ của hắn.
Đúng là ngõ hẻm này đã được lùng sục kỹ lắm rồi. Đúng là không cách nào khẳng định chắc chắn rằng lần nào hắn cũng đi cách xuất phát điểm một khoảng bằng nhau. Nhưng Manning chỉ có vậy, anh làm hết sức rồi. Thế vẫn nhanh hơn là phải đi sục sạo cả cái thành phố mênh mông này. Ít nhất giờ anh đã biết phải chọn đường nào trong số sáu con đường tỏa ra từ đây. Rủi ro vẫn cao như cũ, nhưng khả năng thành công đã tăng lên đáng kể.
Thấy đằng xa có một chiếc taxi, anh liền hít căng buồng phổi lên gào. Năm phút sau, anh đã xuống đến đầu hẻm Callejon. Chiếc taxi lái đi, bỏ anh một mình lại đó. Nó đen ngòm như cổng vào địa ngục, suốt dọc chiều dài quanh co không có lấy một ngọn đèn soi đường, từ chỗ anh đến đầu bên kia.
Anh lao vào, bắt đầu đơn thương độc mã tìm kiếm từng nhà một.
Nửa giờ sau, anh đã đâm vào ngách cụt có nhà thờ không mái. Đèn pin của anh lia lên lia xuống mấy bức tường, tạo thành một loạt những hình vỏ sò, trong lúc anh leo trèo đủ loại mô đất đá đổ nát. Dưới ánh sáng nhợt nhạt từ quầng sáng nhỏ bé hắt lại, mặt anh trông xám ngoét và loáng lên mấy giọt mồ hôi trong khóe mắt và khóe miệng, những giọt mồ hôi của sự thất bại. Sau lần lùng tìm thứ ba, anh quay lại và tiến về phía cửa vào.
Có tiếng cạch nhỏ và ngọn đèn của anh tắt ngấm, hệt như hi vọng của anh từ nãy đến giờ. Anh để cho cánh cửa phe phẩy tới lui đằng sau mình khi anh đi ra, ngồi sụp xuống mấy bậc thang mòn vẹt bên ngoài, sống lưng còng lại vì chán nản. Không có nơi nào khác để đi nữa.
Nhiều phút trôi qua. Anh ngửa lên, nhìn vào cái mảng đen đang phủ lấy mình. Giờ vẫn là đêm. Đêm đôi khi rất dài. Nhưng khi ta đang chết dần chết mòn thì sẽ không thấy nó dài lâu.
Cuối cùng anh đứng dậy, bắt đầu nặng nhọc cà nhắc đưa chân ra con ngách nối với phần chính của ngõ hẻm. Một viên sỏi lọt vào trong giày, lắc lư qua lại trong đó và đang hành anh ghê gớm. Cuối cùng anh phải dừng lại, chống chân vào tường và cởi giày ra, lắc lắc, lần mò đáy tất để xem thứ khó chịu kia có bị mắc trong đó không. Đúng là thế thật và viên sỏi lăn vào lòng bàn tay anh.
Chiếc giày treo lủng lẳng rơi cộp xuống và anh bật đèn pin lên, chiếu vào lòng bàn tay mình. Giữa các nếp nhăn của nó có thứ gì lấp lánh. Một hình ôvan bé xíu, nhỏ mà bắt sáng. Một hạt pha lê. Thứ đính trên váy cô. Nó chỉ mới làm anh đau chân kể từ lúc anh ra khỏi đó.
Anh xỏ lại chân vào giày, leo lên mấy bậc thang ngắn ngủi và vào bên trong thêm lần nữa.
Mãi anh mới tìm thấy nó, giờ anh đã biết trong đó có thứ gì để tìm và anh dứt khoát không bỏ cuộc chừng nào chưa tìm ra. Nó là một cánh cửa đúc chì gắn trên sàn, cả kích thước lẫn màu sắc đều không khác gì mấy phiến đá khổng lồ xung quanh. Anh không để ý thấy bởi nãy giờ chủ yếu toàn săm soi các bức tường, chứ không nhìn xuống sàn nhà ngổn ngang dưới chân, ban nãy trông có vẻ liền một khối. Anh đi tìm một khe hở, một lỗ hổng, chứ không phải thứ như thế này.
Giờ anh đang ngồi cạnh cánh cửa sập, phấn chấn hẳn lên. Nó có gắn một cái vòng dẹt. Anh cạy nó lên và giật mạnh, cánh cửa nghiêng mình mở ra khá dễ dàng, phía bên dưới có gắn dây xích.
Anh chiếu đèn xuống, soi thấy một cái hố thuôn hẹp, với các bậc thang đá dốc đứng dẫn xuống, được xây thành các nấc ngang. Ở nấc thang dưới cùng có thêm một đốm sáng nhỏ xíu lấp lánh, giống hạt pha lê khi nãy nằm trong lòng bàn tay anh.
Đây rồi, anh tự nhủ, nghe quyết tâm nhưng đầy u ám.
Đây là nơi nào, dẫn đi đâu, anh không rõ, anh chỉ biết cô đã xuống theo lối này và mình cũng sẽ nối bước cô. Một luồng thán khí lạnh lẽo bị chôn vùi đã lâu, như thổi đến từ một cõi khác, phả lên mặt anh. Anh dần biến mất vào trong lòng bóng tối, như người bị cát lún nuốt chửng: đầu tiên là chân, sau đó đến đùi, rồi đến thân mình. Cuối cùng nó ôm trọn lấy đầu anh.
Một đường hầm trải dài trước mắt anh, tưởng như vô tận. Hai bên thành và trên trần được chống đỡ bằng những thanh dầm già đen thui, chẳng khác nào một hầm mỏ. Đi dọc con hầm, anh có cảm giác mình đang đứng im. Lúc nào cũng có thêm khoảng tăm tối trống rỗng phía đầu chót chùm sáng của anh. Có lúc đèn lướt qua phân của con vật nào đó, cũ đã mấy tuần và bị bụi phủ phân nửa.
Vậy tức là nó đã từng xuống đây, ít nhất một lần.
Đi thêm vài bước thì anh bỗng rụt lại, giơ súng lên theo bản năng khi có thứ gì trăng trắng bất chợt ló ra. Đó là một hộp sọ nhồi trong góc một thanh dầm, nhăn răng như thể đang cắn lấy nó. Nó nhẵn như ngà sau khi bị bao thế kỷ bị lột mất lớp da thịt.
Đúng lúc đang tưởng con đường này vĩnh viễn chẳng dẫn đến đâu, không có điểm dừng thì chùm đèn của anh tự nhiên thu ngắn lại, bị mấy bậc thang trước mặt hất ngược lên trên.
Bên trên là cánh cửa sập gắn xích giống đầu bên kia, nơi anh bước xuống. Anh đặt chân lên bậc thấp nhất rồi dừng lại một lúc. Linh cảm mách bảo anh tắt đèn rồi dắt vào đai quần trước khi rướn lên mở cửa. Khẩu súng anh vẫn giữ nguyên. Anh biết mình đang đến gần cuối con đường.
Nó nhấc lên chẳng khó khăn gì hơn cánh cửa đầu bên kia. Điều này ít nhất cho thấy cả hai đều được sử dụng thường xuyên gần đây. Nhưng đương nhiên, nó không hoàn toàn khẽ khàng. Cánh cửa cọt kẹt trong lúc mở và mấy sợi xích loảng xoảng giữ nó lại.
Lúc leo vào trong bóng tối, anh nhận thấy có ai đó ở gần. Một kẻ náu mình, vốn đã phát hiện ra anh trước và khôn khéo ngồi bất động. Cảm thấy phần da gáy căng lên, anh bắt đầu lo lắng quay súng về phía không gian tù mù trước mặt. Anh dè dặt tiến một bước từ bậc thang trên cùng. Rồi thêm bước nữa.
Một luồng không khí do thứ gì đó kín đáo chuyển động gần anh thổi vào người, nhưng đã quá muộn.
Một nòng súng gí vào xương sống anh, không một dấu hiệu báo trước. Nó chẳng khác nào mũi một chiếc máy hút bụi mạnh mẽ, cứ như hút anh vào miền tê liệt từ phía sau.
Một bàn tay, lạnh buốt vì căng thẳng và đầy quyết tâm như anh, bất chợt đặt lên tay anh, tước lấy khẩu súng. Một giọng nói cáu kỉnh thì thầm gần tai anh, “Quíeto! (Im lặng!) ”
Trước khi anh kịp nhận ra người nói, tách một tiếng, một ngọn đèn đã chiếu thẳng vào mặt làm anh lóa mắt.
Giọng Belmonte tự nhiên vang lên, đầy đủ thanh sắc. “Lạy Chúa, ra là anh, hombre (ông anh) ! Tí nữa thì tôi…”
“Sao cậu lại bỏ tôi mà đi thế?” Anh chàng người Mỹ giận dữ mắng.
“Suỵt, nói nhỏ thôi!” Người kia cảnh báo. Cậu ta đưa lại cho anh khẩu súng. “Bản năng mách bảo tôi bám theo cái xe ngựa. Tôi không có thời gian báo cho anh. Thế mà tôi vẫn xuýt mất dấu hắn. Cuối cùng, lúc tôi bắt kịp hắn, cách ngõ hẻm ba dãy nhà, cỗ xe đã trống trơn rồi…”
“Cậu ở đây bao lâu rồi?”
“Trước anh chỉ vài phút thôi. Tôi mới chỉ bắt đầu nhìn ngó xung quanh thì nghe thấy anh chui lên từ cửa sập…”
“Gì đây? Nơi này là đâu vậy?”
“Hầm ngục của Tòa án Dị giáo. Đây hẳn là một lối đi bí mật được xây từ ngày xưa, đan xen với hàng tá những buồng giam nhỏ. Đi nào, tôi sẽ cho anh thấy mình đã làm được đến đâu trước khi anh phá ngang. Đừng gây ra bất cứ tiếng ồn nào, hắn đang ở đâu đó quanh đây.”
Mặc dù nãy giờ họ chẳng hề kín tiếng, chưa có dấu hiệu nào cho thấy có thứ gì trong bóng tối đã nghe thấy tiếng họ, hay có mặt ở đó để nghe ngóng. Ngọn đèn pin nhấp nháy một cách dè dặt của Manning cho anh thấy điều Belmonte đã tự mình phát hiện ra từ trước: họ đang ở trong một hành lang đổ nát có vòm trần, cứ cách vài mét là lại có một trụ đá đỡ các khung vòm trên đầu. Cứ giữa hai cột lại có một cánh cửa sắt trông dữ tợn.
“Anh đi mé này nhé, tôi sẽ đi mé kia,” Belmonte thì thào.
Họ tách ra và ngay lập tức để lạc nhau trong bóng tối. Từ lúc đó, cứ vài giây lại có một ánh đèn thoáng loé lên rồi nhanh chóng tắt đi, thay phiên nhau bật ở hai bên, đánh dấu tiến trình của họ. Thỉnh thoảng có một cái bản lề cất tiếng rên rỉ, nhưng nhiều tấm sắt đã bị tháng năm rứt hẳn khỏi ngưỡng cửa, không cần ai đẩy mở nữa. Một vài tấm còn đã biến mất hoàn toàn. Đằng sau chúng là những hốc đất nện trát vữa, chỉ lớn hơn đôi chút so với cỗ quan tài mà về sau những người bị nhốt phải dùng đến.
Những cái hốc nối nhau đến bất tận chợt ngoặt vuông góc, chạy ngang sang phía Belmonte đang lần mò. Thế tức là hầm mộ này chấm dứt ở đây. Mặt bên của nó chỉ có một cánh cửa sắt duy nhất. Manning đến chỗ cánh cửa trước bởi anh bước nhanh hơn người bạn đồng hành. Vòng tròn ánh sáng từ ngọn đèn của anh thoáng chiếu lên nó, sau đó lại mau chóng biến mất.
Anh chiếu nhanh đèn xuống sàn để ra dấu cho Belmonte. Cậu ta đến đứng cạnh anh trong bóng tối. Giọng Manning còn khẽ hơn cả một tiếng thì thầm, phải đoán mới hiểu được. “Đừng gây ồn. Đặt tay vào đây xem.”
“Ấm.”
“Ấm hơn những chỗ còn lại, mọi thứ đều lạnh như đá. Đằng sau cửa này có thứ gì đó…”
Anh rón rén dang rộng ngón tay và lần mò trên bề mặt cửa, tìm tay nắm kiểu cổ mà ban nãy mình thoáng thấy. Trước khi anh kịp lần mò xong, Belmonte đã thúc anh sang bên và đặt tay lên tay nắm. Cậu thanh niên Nam Mỹ ấy chợt mang một vẻ im ắng đầy nguy hiểm, như thể cậu ta đợi khoảnh khắc này từ lâu lắm rồi.
Cánh cửa quét một đường vòng cung và một khung cảnh kỳ ảo đến phi thực xuất hiện trước mặt họ.
Trí óc của họ vốn đã quen với thực tại, chúng không diễn giải nổi những gì cặp mắt đang trông thấy. Đây hẳn là buồng tra tấn của toàn bộ công trình tàn ác vốn dùng để chấn chỉnh và trừ tà này. Trên tường là những hình khối kỳ lạ mà bộ óc hiện đại không biết gọi tên là gì: những thứ đã bị lãng quên, bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển của giống loài, lúc chúng ta rũ bỏ niềm hân hoan của đứa trẻ dại chơi trò vặt cánh ruồi. Xiềng xích treo như nấm mốc, các vành đai sắt được tán đinh vào tường, một vật từa tựa máy in thủ công chuyên ép què những khúc xương thẳng thớm do thiên nhiên nhào nặn ra.
Dường như họ vừa mới bị kéo ngược về quá khứ 400 năm trước. Có khi còn lâu hơn thế, vào trong miền đất không tưởng của quỷ học và các mẩu truyện ngụ ngôn Trung cổ. Nơi này đã tái hoạt động.
Một lần nữa, như từ thuở xưa, lửa đỏ sáng rực trong lò nung bằng đá ở cuối căn phòng, ống khói mở bên trên. Cái lò từng được dùng để nung đỏ những thanh sắt hay đun chảy những muỗng chì. Và một lần nữa, như từ thuở xưa, nạn nhân nằm mê man trên một bàn đá dày cong tù ở đỉnh, tương tự thớt chặt thịt của đồ tể. Riêng lần này, nạn nhân mặc một bộ váy của thế kỷ XX, hay đúng hơn là mớ te tua còn sót lại của nó. Một chân cô đong đưa cuối bàn, một chiếc giày bạc đã rơi ra và nằm chỏng chơ trên sàn. Đầu cô ngửa ra đằng sau, cô uốn cong, tóc buông xoã trông như đang lắc lư trong ánh lửa bập bùng.
Giữa cô và nó là một cái bóng quái đản. Một thứ chỉ vốn tồn tại trên những tấm gia huy thời phong kiến. Một con thú đứng thẳng. Một con sư tử hay báo đốm đứng bằng hai chân. Có thể thấy rõ hình dáng cái đầu mèo, hai tai nhỏ hình tam giác dựng thẳng.
Hai tay vuốt mèo đang đặt ở tư thế tấn công bên trên người cô, chuẩn bị hạ xuống ra đòn. Ban đầu chúng thật nhẹ nhàng và chầm chậm, chỉ xé bỏ những mẩu quần áo còn sót lại, chỉ cạ vào lớp da trắng mịn bên dưới. Thế rồi chúng đưa nhanh hơn và sâu hơn, theo nhịp dâng của cơn điên, và chất dịch sinh mệnh ứa ra.
Manning có thể cảm thấy các giác quan của mình đang muốn lịm đi vì chóng mặt hay choáng váng. Thứ này không tồn tại ở đây, nó không có thật. Khi đầu óc anh tỉnh táo lại, nó sẽ biến mất, bỏ lại căn buồng trống rỗng và tối om như vốn dĩ. Trong giây lát, anh những muốn phát bệnh, bởi vì động vật không đứng thắng được. Còn con người, loài có thể đứng trên hai chân, thì không có cặp tai nhọn và cái đầu hình lưỡi thuổng như loài mèo, như sinh vật ma quái này.
Một giọng người gào lên một tràng khó hiểu, nhưng âm thanh không phát ra phải từ đằng ấy mà từ đâu đó cạnh chỗ anh. Một phát súng lục nổ lên và anh cảm thấy như đó là âm thanh gọn ghẽ nhất, đáng yêu nhất mình từng được nghe thấy. Sinh vật kia, bất kể nó là thứ gì, thậm chí còn rướn lên cao hơn trước, vuốt quơ quào trong không khí, thế rồi nó bắt đầu ngã ngửa ra.
Khẩu súng lục nổ thêm phát thứ hai. Sinh vật kia gục xuống nhanh hơn, lăn mình lần cuối rồi nằm bất động tại đó. Một con báo, hay con người, hay người báo.
Manning loạng choạng tiến về phía trước, đầu óc còn chưa hết sửng sốt. Anh lảo đảo khuỵu gối xuống cạnh bàn đá, nhấc tấm thân mềm oặt dậy, ôm chặt cô vào người như muốn che chở. Lồng ngực anh cảm nhận được nhịp đập từ trái tim cô, anh hiểu là cô vẫn còn sống.
Trong khi ấy, khẩu súng lục cứ tiếp tục rền vang và đi kèm là một tràng những câu nghe như tiếng niệm chú đây thù hằn. “Phát đó là vì Conchita.” Đoàng. “Và phát đó là vì Conchita.” Đoàng. “Và phát đó là vì tất cả những người còn lại.” Đoàng. “Nhưng phát này, phát này lại là vì Conchita!” Đoàng. Đoàng.
Những nháng lửa không ngừng vụt loé ngang mặt Belmonte, thoáng soi tỏ nó từ bên dưới.
“Belmonte, ngưng lại đi!” Cuối cùng Manning cũng lên tiếng nhắc nhở. “Bình tĩnh đi nào. Hắn đã chết lên chết xuống cả chục lần rồi.”
Nhưng khẩu súng lục vẫn tiếp tục nhả ra những tiếng tách tách trống rỗng, không ngừng một giây nào.
Một lúc sau, anh tước khẩu súng hết đạn khỏi tay Belmonte.
“Lo cho cô gái đi!”
Belmonte đỡ lấy cô gái từ trên tay anh và bế cô ra khỏi đó. Manning lại gần để kiểm tra thân hình co quắp trên mặt đất. Anh đứng cạnh sinh vật đang nằm úp mặt, lấy chân lật nó lại. Anh cúi xuống một lúc, chỉ một lần duy nhất, thế rồi lại đứng thẳng người lên.
Chốc sau, khi Belmonte quay lại, Manning đang đứng cạnh lò nung, thọc một cái xẻng cong vào trong đó. Trước khi Belmonte kịp hiểu ra, anh đã nhấc xẻng lên và lật ngược lại. Một dòng than hồng tràn xuống bản mặt nằm trên sàn, tạo thành một vũng rực sáng, che kín lấy nó. Chúng tối đi mấy giây rồi gần như ngay lập tức sáng bừng trở lại, mạnh mẽ như trước. Hơi ẩm vặn vẹo lách lên từ kẽ những khối rực lửa, như một lũ rắn gầy gò.
Manning quẳng cái xẻng xuống và bọn họ vội vã bỏ đi.
Họ ngồi nhấm nháp từng ngụm nhỏ rượu brandy cay xè dưới ánh nắng buổi sớm, tại một quán cà phê nhỏ trên đường Alameda. Một thằng bé đánh giày đang lúi húi bên chân Belmonte. Khắp xung quanh, cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường lệ. Thật khó mà tin được rằng mới chỉ vài tiếng trước, ngay gần đây thôi…
“Nếu cậu mà không mất bình tĩnh như thế…” Manning mở lời.
Belmonte quẳng cho đứa bé một đồng xu để xua nó đi. “Tôi mất bình tĩnh ấy hả?” Cậu ta mỉm cười. “Ngược lại là đằng khác, tôi rất tỉnh táo. Ở đây không có án tử hình. Theo luật định, họ chỉ có thể cho hắn ngồi tù tối đa từ 20 năm cho đến chung thân.” Anh nhún vai. “Anh hiểu ý tôi chứ?”
“Tôi hiểu ý cậu rồi,” Manning thừa nhận.
“Có điều này tôi không hiểu,” Belmonte trầm ngâm. “Làm thế nào mà ban đầu con báo chui được vào trong nhà thờ thế? Cửa chính bị khoá chặt, vào đêm đầu tiên tìm nó, cảnh sát phải dùng xà beng thì mới vào được, anh nhớ chứ?”
“Nhà thờ đó không có mái, chỉ có bốn bức tường và bầu trời rộng mở. Tôi đoán là con báo chạy vào trong nhà sát bên cạnh, chui lên mái hay cái gờ chìa ra nào đó. Khi thấy mình hết đường lui, nó nhảy từ đó xuống khoảng trống bên trong nhà thờ hoang tàn, không bị ai nhìn thấy cả nhờ có bóng tối bao phủ. Với một con vật như nó, nhảy từ độ cao đó chẳng có vấn đề gì cả, đặc biệt là khi nó đang sợ hãi. Chúng ta biết là hắn đã xoay xở tóm được con báo. Khẩu súng lục của cậu đã khiến chúng ta không còn cơ hội biết tường tận đầu đuôi câu chuyện nữa. Chắc là hắn đánh choáng nó với một hòn đá lớn, rồi lôi nó vào trong đường hầm đã được hắn sử dụng từ trước rồi.”
Anh đợi cho đến khi bồi bàn đặt ly rượu mới xuống và rời đi xong thì mới nói tiếp.
“Hắn vốn đã thèm khát việc giết người rồi. Bùi nhùi đã nằm sẵn ở đấy. Con báo là vệt lửa. Vệt lửa xuất hiện và bùm! Ngọn lửa cháy bùng lên. Mọi thành phố lớn đều có hàng chục gã như hắn. May mắn thay, hầu hết bọn chúng không bao giờ bùng cháy. Cứ một trăm gã thì mới có một kẻ lên cơn. Và thế là ta có những huyền thoại! Jack Đồ tể ở London. Yêu râu xanh ở Pháp. Cái tên giết người bằng rìu ở Đức, tên hắn là gì ấy nhỉ?
“Mà thôi, quay trở lại vấn đề chính, hắn bắt được con báo và giữ nó một thời gian. Đêm qua người ta đã tìm thấy mộ của nó bên dưới một hốc giam, khi chúng ta rời đi, nhớ không? Cậu nghe người ta bảo đã phát hiện được gì sau khi đào nó lên rồi đấy.”
Anh đưa tay làm động tác chém. “Cặp chân trước bị cụt còn da đầu…”
Belmonte vội nhấc ly brandy lên và uống hết sạch.
“Nhưng tôi không nghĩ hắn ngay lập tức thực hiện cái trò hun khói để chế găng tay cùng mặt nạ. Lần đầu tiên ra tay, hắn đã tìm ra cách chuyên chở con báo, bấy giờ nằm dưới sự điều khiển của hắn và vẫn còn sống, đến khu vực xảy ra vụ tấn công Teresa Delgado. Chở bằng xe hay hòm cũi gì đó, ai mà biết là kiểu gì? Hắn giữ con báo trong đường hầm tối om dưới cây cầu cạn, đợi người đầu tiên xuất hiện. Và khi cô gái đến… hắn thả con vật ra để xem nó sẽ làm gì. Chắc là hắn đã bỏ đói để nó hung dữ hẳn lên.”
“Thế sao nó không tấn công hắn thay vì cô gái kia?” Belmonte hỏi.
“Chắc hắn mang theo thứ gì để trị nó. Hẳn là vậy, để còn có thể bắt con báo lại ngay sau đó.”
“Que barbaridad, hombre! (Đúng là một kẻ man rợ!) ” Belmonte run rẩy hít một hơi.
“Nhưng thế là chưa đủ. Nó quá chóng vánh, quá gián tiếp. Hắn không thể tiếp cận đủ gần, càng không thể nấn ná lại để hả hê tự mãn. Công đoạn quá phức tạp nên hắn không làm thế nữa. Nhưng máu chém giết giờ đã sôi. Thay vào đó, chính hắn sẽ trở thành con báo. Thế là hắn giết con vật và thế chân nó. Sử dụng bộ găng vẫn còn nguyên những móng vuốt tử thần. Hắn đã tìm ra cách điều khiển và khiến chúng thò ra thụt vào như tự nhiên, bằng lò xo hay dây dợ tí hon nào đó, ai mà biết được?”
Belmonte nhanh chóng đưa một tay ụp lên mắt như thể muốn che đi khung cảnh cứng đầu nào đó. Cậu ta vội vã nói tiếp, như thể để bỏ qua cái đề tài ấy, “Nhưng sao mà hắn lại có thể ăn mặc thế mà đi lại ngoài đường được?”
“Tất nhiên hắn không làm vậy rồi. Cậu có để ý thấy cái áo khoác rộng, bao trọn người với các túi lớn, mà chúng ta tìm thấy ở đó đêm qua? Chắc hắn đã khoác cái áo kín người, đến phút chót thì mới lôi ra các món đồ nghề.”
“Sao hắn không để lại dấu chân nhỉ?”
“Quấn giẻ quanh giày là xong. Nhưng không phải chúng ta đang bàn bạc một vụ án của cảnh sát, đây là một trường hợp bất thường về mặt tâm lý. Không may là nó chỉ được phát hiện ra khi đã quá muộn. Hắn cần một bác sĩ chứ không phải cảnh sát.”
“Khẩu súng lục của tôi chính là bác sĩ,” Belmonte nói, mắt đanh lại.
“Ừ, vị bác sĩ giỏi nhất. Đến tận lúc ấy thì nó là người duy nhất chữa được cho hắn.”
“Làm sao ta phát hiện được những kẻ như thế?” Belmonte buột miệng hỏi thành tiếng. “Chỉ nhìn thôi thì ta có đoán được không?” Thế rồi cậu ta tự trả lời, “Không, chắc là không.”
“Đôi khi ta có thể,” Manning trầm ngâm. “Nếu ta thông minh, nếu ta hiểu được những dấu hiệu. Nhưng thường thì ta không làm nổi. Đôi khi ta sẽ thoáng thấy một ánh mắt khinh suất, một vệt long lanh, một nét hăm hở mà ta không thấy trong mắt bất cứ ai khác. Ôi, nó quá vụn vặt, mà ta lại không lường trước được sự xuất hiện của nó, ta quá tin người, ta tự nhủ mình chỉ tưởng tượng ra mà thôi.”
“Đã bao giờ anh thấy một ánh nhìn như thế trong mắt ai chưa?” Belmonte tò mò hỏi.
“Có, đã một lần rồi, giờ tôi mới nhớ. Tôi thấy trong một căn phòng tại tổng hành dinh cảnh sát. Một căn phòng đông đúc người. Khi ấy bọn họ đang thẩm vấn một nghi phạm. Tôi thì mày mò một cái giũa móng tay, dỏng tai nghe ngóng. Rồi tôi tự làm mình bị thương, ở đây này…” Anh trầm tư đưa ngón tay miết trên một vệt sẹo vẫn còn lộ rõ ở kẽ ngón cái.
“Tôi tiến vào ánh sáng đèn, gần kẻ tình nghi. Tất cả đều thấy ghê tởm trước cảnh máu chảy. Nhưng trong mắt của một người, chỉ một mình người đó thôi, tôi phát hiện thấy một vẻ hứng thú bệnh hoạn, một ánh nhìn hết sức say sưa. Lúc ấy, tôi tưởng mình nhầm và cho qua chuyện ấy như một gã khờ, không còn nhớ đến nữa. Nhưng ngay khi ấy, ngay tại đó, ánh nhìn kia đã xuất hiện, đúng cái ánh nhìn đó, chỉ có điều tôi đã không nhận ra.”
“Đó là ánh nhìn của ai thế, tất nhiên là của nghi phạm đúng không?” Belmonte hứng thú hỏi.
Mất một lúc Manning mới trả lời. Anh úp ngược ly brandy trống không xuống. “Không, đó là người thẩm vấn nghi phạm. Thanh tra cảnh sát Robles.”
Mặt Belmonte nhăn lại và trắng bệch đi trước cú sốc đột ngột.
“Bây giờ cậu biết rồi đấy,” anh chàng người Mỹ lặng lẽ nói. “Đó là quyền của cậu. Nhưng vẻ mặt của cậu bây giờ cũng sẽ là vẻ mặt của tất cả mọi người, khi họ được nghe về chuyện này. Đây sẽ là một chuyện tệ hại đối với bên cảnh sát và thậm chí còn kinh khủng hơn đối với công chúng. Thế nên tốt nhất chúng ta nên giữ kín sự thật: chỉ có tôi, cậu và cái xẻng than nóng kia biết mà thôi.”
Anh đứng dậy và vươn mình trong ánh dương, chiếu xiên xuống dưới mái hiên quán cà phê, cảm thấy khoẻ khoắn và được thanh tẩy.
Giọng anh nhỏ dần đi như thể không muốn nói thêm về chuyện này nữa. “Đó là chuyện sẽ không bao giờ được nhắc đến nữa, nhưng sẽ luôn tồn tại giữa cậu và tôi cùng những cơn ác mộng hàng đêm.”
“Giờ phong cảnh mới tươi đẹp làm sao!” Cô thốt lên. “Anh ra đây nhìn mà xem.”
Anh tiến tới từ đằng sau cô, đứng trước khung cửa sổ mở toang. Cô đang phóng tầm mắt ra bên ngoài, mê mẩn như lần đầu tiên được chứng kiến cảnh vật. Xét theo mọi ngữ nghĩa, đây đúng là lần đầu tiên cô chứng kiến. Chưa bao giờ cô thực sự nhìn thấy nơi này, bởi bấy lâu nay nó đã bị một đám mây đen che phủ.
Họ ngắm nhìn cảnh vật trong im lặng hồi lâu, anh đứng sát vai cô. Bầu trời đêm trong veo, những quả đồi đen lượn sóng in hằn trên ánh lửa ga xanh khuất bóng, bỏ lại phía sau bởi mặt trời buổi hoàng hôn. Gần hơn là những vệt bột phát sáng, càng chạy ra xa càng hẹp lại, những con phố và quán cà phê rực sáng mà Clo-Clo tội nghiệp từng biết rất rõ.
Hẳn giờ hồn ma cô gái đang thong dong bước dưới đó. Không phải một vong hồn đáng sợ mà là một hồn ma thân thiện và lanh lợi, miệng cười tươi như hoa và vui vẻ hất túi xách về phía người qua đường.
“Vậy là cô sẽ về nhà phải không?” Cuối cùng anh cất tiếng hỏi.
“Chắc vậy. Trên chuyến tàu tiếp theo. Nhưng phải 30 ngày nữa tàu mới đến. Anh định làm gì?”
“Tôi không biết. Chắc tôi sẽ ở lại dưới này. Tình hình của tôi đã sáng sủa hơn một chút. Belmonte và tôi sẽ chia nhau khoản tiền thưởng của hội đồng thành phố, vụ đó tôi đã nói với cô rồi nhỉ? Đức ngài ủy viên thậm chí còn mời tôi làm điều tra viên đặc biệt trong hàng ngũ thân cận với ông ta. Để cho mọi chuyện thêm trọn vẹn, sáng nay tôi vừa nhận được một bức thư từ sếp cũ, Kiki Walker. Cô ta viết rằng tôi không nên để một chút hiểu nhầm chia rẽ tình cảm bạn bè và cô ta sẽ lấy làm mừng nếu tôi quay lại làm truyền thông. Nhưng giờ đã có vốn rồi, chắc tôi sẽ mở một công ty nhỏ. Bán máy đánh chữ, kem cạo râu hay thứ gì tầm thường thôi.”
“Anh cần kiếm cho mình một cô người yêu và lập gia đình đi.”
“Tôi đã tìm thấy một người rồi, nhưng cô ấy chưa biết đâu.”
“Thế anh định bao giờ ngỏ lời với cô ấy?”
Một ngón tay của anh làm động tác gì đó đằng sau lưng cô, nhưng không chạm vào người cô.
“Sớm thôi. Trong vòng 30 ngày sắp tới, trước khi con tàu kia rời đi.”
Hết
[51] Anis del Mono: Một loại rượu mạnh của Mexico.
[52] Cinzano Vermouth: Một loại rượu vang mạnh của Ý.
[53] Trong tiếng Anh, die (chết) và dine (ăn uống) phát âm gần giống nhau.