Âm Dương Kinh

Lượt đọc: 4181 | 5 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương ba
âm dương kinh «dương dụng» âm mưu như thế nào?

Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương

Lấy tĩnh chế động, lấy hằng ứng biến.

               Đạo âm dương, bên căng bên trùng.

               Thường thường người ta chỉ chú ý «Đạo dương» mà bỏ qua «Đạo âm». Theo quan điểm của «Kinh Dịch»: «Một âm một dương mới thành đạo».  

               Bất kể là thời xưa hay thời nay, bất kể là Trung Quốc hay là nước ngoài, bất kể là thời chiến hay thời bình, bất kể là người dân thường sống ở nhà hay là chính khách trên «chiến trường» hoặc lẫn lộn trên «thương trường» đều không tách rời đạo của Âm, Dương.  

               Trước kia người ta hiểu lầm rằng những người dùng phương thức «đường vòng» để làm một việc, bị gọi là con đường không chính đáng. Hoặc nói: «Người này đang thực hiện âm mưu, giở mánh khóe. Thật ra trong cuộc sống mỗi một người ngay thẳng chỉ cần họ dám nhìn thẳng vào mình, sẽ thấy trong cuộc sống thường ngày mình vẫn thường xuyên có thể giở một chút «âm mưu nhỏ» làm một chút trí trá. Mục đích cuối cùng chẳng qua là để cho mình sống được tốt hơn một chút!

               Ở đây chúng ta cần phải chỉnh lý ngữ nghĩa của từ «âm mưu» - âm mưu kỳ thực không ngấm ngầm, âm mưu hoàn toàn có thể «dương dụng», từ đó làm cho hướng tư duy của người ta chuyển biến, phá bỏ những khuynh hướng sai lầm cứng nhắc cực đoan hóa lâu nay như «không đúng tức sai, không phải ta tức địch, không phải đẹp tức xấu, không thật tức giả» qua đó mỗi người đối đãi với thế giới, đối đãi với người khác, đối đãi với mình một cách biện chứng.  

1. Giả dại giả ngây tài tình 

Trong tình huống bình thường, người ta đều tranh giành nhau tỏ rõ trí tuệ và tài năng của mình, lấy tinh khôn tài giỏi làm tự hào.

Song, trong thời đại phong kiến đen tối «hôn quân bạo chúa , có lúc trí tuệ và ngày tháng trở thành tai họa người ta phải tự hủy hoại tự chịu nhục nhã, giả điên giả dại mới thoát nạn.  

Đây thật là bi kịch của lịch sử, làm cho người ta không tài nào hiểu được đây là chỗ khôn khéo hay là chỗ đáng buồn của nhân loại. Chỉ vì sinh tồn, người ta phải nảy sinh thủ đoạn mới sống được.  

Vận dụng giả điên giả dại, điển hình nhất chính là dùng hình tượng giả điên giả dại để che giấu tài năng của mình, nhẫn nhục chịu đựng, dùng sách lược thoái để tiến. Cơ Tử thời nhà Thương là một ví dụ.  

Thương Trụ vương là vua cuối thời nhà Thương, ông ta quen thói bạo ngược, hoang dâm vô độ, suốt ngày đêm chè chén vui chơi với Đát Kỷ là sủng phi của ông và bọn sủng thần quý tộc, sống cuộc sống hư bại «rượu tầy hồ thịt tầy núi», «ăn uống thâu đêm». Ông ta thường ra ngoài đi săn du chơi, khiến cho đồng ruộng hoang vu, dân chúng không sống nổi.

Những năm cuối, Trụ vương ngày càng thậm tệ, hình phạt nặng nề nghiêm ngặt, dâm loạn vô độ, từ chối những lời khuyên can, che giấu khuyết điểm, đánh mạnh vào các trọng thần tôn thất, sát hại người trung thành lương thiện, dẫn đến tình thế đất nước nguy ngập, lòng người rối loạn. Thứ huynh của ông là Vi Tử nhiều lần khuyên can, ông căn bản không nghe. Để tránh tai họa, Vi Tử đã tức giận bỏ đi. Cơ Tử là chú ruột của Thương Trụ vương, ông ta với tư cách là Thái sư, nhìn thấy tình huống này nhưng cũng chịu bó tay. Một ông chú khác của Thương Trụ vương, Thiếu sư Tỷ Can cho rằng làm một viên đại thần không thể không bất chấp cái chết để khuyên can.

Thế là, ông đã vất vã khuyên răn Trụ vương, khuyên liền ba ngày không dời, Trụ vương nổi nóng đem giết chết ông, lại còn moi tim của ông để xem, nói: «Tỷ Can tự cho mình là bậc thánh, ta nghe nói tim của bậc thánh có bảy buồng, ta phải xem tim của ông ta có phải có bảy buồng không?». Cơ Tử vô cùng sợ hãi, sợ Trụ vương tàn bạo giở ngón độc ác đối với mình. Thế là đã giả vờ điên, đầu tóc rũ rượi, nói năng lung tung, không có một chút vẻ tôn nghiêm của Thái sư, hoàn toàn giống như một người điên. Trụ vương thấy ông ta như thế, liền đem ông giam vào trong nhà lao.  

Nước Chu vốn là chư hầu của nhà Thương, khi Chu Văn vương ở ngôi đã dự định tiêu diệt nhà Thương liền tiến hành nhiều việc chuẩn bị. Sau khi Chu Võ vương lên ngôi, chiêu nạp kẻ hiền người tài, dốc sức vì nước, làm cho đất nước hưng thịnh lên rất nhanh.

Lúc đó, ông thấy Thương Trụ vương làm nhiều điều ngang trái, khiến cho các đại thần và chư hầu đồng loạt đều ly khai ông ta, cảm thấy thời cơ diệt Thương đã chín muồi, liền bàn bạc với mưu thần Lã Thượng, nhanh chóng dẫn 3.000 dũng sĩ, 45.000 giáp binh liên hợp với 800 quân chư hầu ồ ạt đi đánh dẹp Thương Trụ vương.

Trụ vương đem quân chống lại tại Mục Dã (nay là phía Nam huyện Kỳ tỉnh Hà Nam). Nhưng binh sĩ do căm giận Trụ vương cho nên đã quay giáo phản chiến. Thương Trụ vương thấy mọi người chống lại, người thân thì xa rời, thế lớn đã mất, liền chạy trốn về quốc đô Triều Ca (nay thuộc huyện Kỳ, Hà Nam), trèo lên Lộc Đài, mặc áo báu vào, rồi tự thiêu chết. Triều nhà Thương diệt vong, vương triều Tây Chu được thành lập. Lúc này, Chu Võ vương đã thả Cơ Tử từ trong nhà tù ra.

Cơ Tử là một nhà chính trị đầu tiên từ thời xưa đã vận dụng kế giả điên giả dại.  

Ông bản thân là Thái sư, nhưng lại không có cách gì khuyên Trụ vương thi hành chính sách lương thiện. Đối mặt với hành vi tàn bạo của Trụ vương, ông từ sợ hãi nảy ra kế bảo toàn mình, là thông qua việc giả điên để làm cho mình may thoát khỏi nạn. Khi Trụ vương lên ngôi không lâu, bắt đầu sử dụng đũa ngà voi, sau khi Cơ Tử trông thấy đã nói: «Dùng đũa ngà voi, thế thì nhất định không thể dùng các đồ dùng bằng đất sét nữa, mà là phải dùng cốc bằng tê ngọc». Dùng đũa ngà voi và cốc tê ngọc, cũng nhất định không thể ăn những thứ «trà thô cơm đạm», mặc những thứ «vải thô áo ngắn» và ở dưới mái nhà tranh được rồi. Áo gấm chín tầng, đài cao phòng lớn, lấy đó làm tiêu chuẩn, trắng trợn theo đòi, thiên hạ không đủ để cung cấp. Cống phẩm quý lạ ở nơi xa xôi, việc chế tác xe ngựa, xây dựng cung thất, đều không có chỗ tận cùng. Bắt đầu từ đây, tôi e rằng ông ta sắp bước đến con đường cùng».

Quả nhiên, không ngoài dự định của Cơ Tử, Trụ vương nhanh chóng bắt xây dựng Lộc Đài, xây dựng «quỳnh thật ngọc môn» chứa chất ê hề các đồ quý hiếm ở trong đó, còn dân chúng thì chịu không hết khổ, lòng người ly tán.

Trụ vương còn thường xuyên ăn uống thâu đêm, uống tới mức choáng váng, say túy lúy, đến ngày tháng đểu quên hết, không biết hôm đó là ngày nào tháng nào, liền hỏi người xung quanh, người xung quanh đều trả lời: «Không biết». Trụ vương liền sai người đi hỏi Cơ Tử.

Cơ Tử nghĩ một lát, trả lời nói: «Tôi uống say rồi, cũng không rõ hôm nay là ngày gì». Sau khi sứ giả đi, các đệ tử của ông hỏi Cơ Tử: «Ngài biết hôm nay là ngày gì, vì sao lại nói không biết?». Cơ Tử nói: «Là chủ của thiên hạ, mà làm cho cả một nước chuyển dịch cả khái niệm về thời gian và ngày tháng, thiên hạ đã đến lúc nguy cấp rồi. Nhưng việc mà mọi người cả một nước đều nói không biết, chỉ có một mình ta nói biết, thế thì ta há chẳng phải là cái nguy đang đến trước mắt rồi ư? Cho nên ta giả vờ mượn say rượu, cũng thoái thác nói không biết». Từ sự việc này có thể thấy, Cơ Tử đề phòng Trụ vương có lòng nghi đối với mình, mọi chỗ mọi nơi đều phải bo bo giữ mình.  

Là một nhà chính trị, Cơ Tử dựa vào tài chính trị của mình, từ lâu đã nhạy bén từ việc nhỏ. Nhìn nhận ra Trụ vương ắt sẽ đi vào con đường diệt vong. Nhưng không có sức xoay chuyển trời đất, lại thấy lòng son dạ sắt của Tỷ Can được đổi lại một kết cục hết sức bi thảm. Cho nên, để bảo toàn mình, đã nghĩ ra kế hay giả điên giả dại, qua việc ngụy trang khéo léo, dựng cảnh tượng giả để mê hoặc Trụ vương, với mục đích là thực hiện thoát chết.  

Trụ vương mặc dù đem Cơ Tử giam lại, nhưng rốt cuộc không biết ông ta. Đây chính là chỗ thành công của ông mượn cái giả để che giấu cái thật.

Không chỉ là các bầy tôi bình thường, mà ngay cả các con em hoàng gia, người được phong vương, cũng không thể không sử dụng phương pháp này để bảo toàn mình. Bắc Hải vương Lưu Mục thời Đông Hán ham đọc sách, coi trọng người hiền tài, xưa nay được Quang Vũ đế và Hán Minh đế yêu thích. Khi đó, Tây Vực đi lại hữu nghị với vương triều Đông Hán, Thiện Thiện vương gửi con trai của mình đến Lạc Dương làm con tin.

Theo quy định, Bắc Hải vương cử sứ giả đến Kinh sư chúc mừng. Trước khi sứ giả lên đường, Lưu Mục hỏi ông ta: «Nếu như Hoàng thượng hỏi đến ta, ông nói như thế nào?». Sứ giả nói: «Đại vương lòng trung hiếu thuận, nhân từ lương thiện, kính trọng người hiền, làm sao thần không cứ theo tình thực tâu lên?».  

Lưu Mục nghe những lời này xong, liền nói: «Nếu ông cứ nói thật như thế, thì ta sẽ nguy mất. Đó đều là việc của ta thời nhỏ. Ông nếu vì ta tính liều, thì chỉ có thể nói ta từ sau khi kế thừa vương vị, ý chí sút kém, chỉ thích vui chơi, nữ sắc và ca xướng. Cứ như thế, ta mới có thể tránh được tai họa». Sứ giả liên tục nói vâng. Con em hoàng gia và cả những người được phong vương, nếu như có tiếng làm tốt, uy vọng càng cao càng có thể làm cho Hoàng đế không yên tâm, bởi vì họ có khá năng uy hiếp ngôi vua của Hoàng đế.

Do vậy, Lưu Mục vì để làm cho Hoàng đế yên tâm, mới dùng kế mượn giả để che giấu cái thật, đây là biện pháp tốt nhất bảo toàn mình.  

Quách Tử Nghi thời Đường công trạng lừng lẫy, nhưng cửa lớn của nhà ông thường xuyên mở, mặc cho mọi người vào ra, cũng không hỏi đến. Con em gia đình họ Quách cho rằng bất kể người sang hèn đều có thể vào nhà trong, sẽ có thể mở lòng gần gũi mà suồng sã.

Song Quách Tử Nghi lại nói: «Việc này, đạo lý ở trong đó làm sao các người hiểu được. Năm trăm con ngựa của ta hoàn toàn dựa vào quốc gia cung cấp cỏ, hưởng quan bổng có 1.000 người, tiến lên không có chỗ, lùi lại không có đường. Nếu như kín cổng cao tường, trong ngoài không thông, nếu như người có lấy cớ vu tội, gán cho tội danh không phục, xử chém cả nhà, đến lúc đó thì hối lại không kịp. Hiện tại mở toang hết cửa, dù có người muốn nghĩ đủ mọi lời gièm pha, cũng không có cơ hội nữa». Mọi người nghe xong, đều hoàn toàn bái phục.

Ban đầu, Quách Tử Nghi vốn là tránh xa tai họa, nhưng thật sự khôn khéo tài giỏi vẫn là Quách Tử Nghi.  

Trong «Kinh Dịch», chúng ta có thể thấy một số chỗ sự tích có liên quan với Cơ Tử, còn Quách Tử Nghi thì là Đại tướng quân thanh danh hiển hách thời Đường. Các nhân vật lịch sử này cũng là người có học rộng rất biết bảo toàn mình.

Có một số người chính vì không khéo xây dựng phát triển mình, kết quả khiến cho sự nghiệp, tình yêu, quan hệ cấp trên và dưới, quan hệ xóm giềng đều hỏng bét hết.  

* Quách Hoa là một học sinh giỏi tốt nghiệp trường Đại học Phúc Đán, Thượng Hải. Anh ta rất may mắn được phân công làm việc trong cơ quan nhà nước, thầy giáo và bạn học đều kiêu hãnh vì anh ta, cho rằng tương lai tiền đồ của anh ta rất lớn, bản thân anh cũng rất coi trọng phần công tác không dễ dàng kiếm được của mình, hàng ngày đi sớm về muộn, cố gắng chăm chỉ, trong thời gian ngắn đã mở ra tiền đồ tốt.

Cấp trên của anh, chủ nhiệm văn phòng rất khen ngợi tài hoa và tinh thần làm việc của anh, đã nhiều lần biểu dương. Anh cũng biết ơn đối với chủ nhiệm, trong lòng nghĩ: Có người lãnh đạo tốt như thế, đánh giá cao mình, mình nhất định phải làm ra thành tích, để không phụ sự ưu ái của lãnh đạo đối với mình.  

Một lần chưa đến giờ làm việc, anh cầm các giấy tờ đến văn phòng chủ nhiệm. Vừa bước vào cửa, không ngờ bắt gặp chủ nhiệm và nữ nhân viên đánh máy ở cơ quan, cô Lý đang ôm hôn nhau mức độ quan hệ không phải ở mức bình thường.  

Anh ta bối rối, vội vàng lui ra ngoài.

Việc này làm xáo động rất lớn đến tư tưởng của anh, khiến anh ta không biết phải làm thế nào mới tốt. Từ đó, nhìn thấy chủ nhiệm, anh đều ngượng ngập cứ như vừa làm việc gì sai, trong lòng vẫn rờn rợn, luôn cảm thấy chủ nhiệm sẽ nghĩ mình nói lung tung ra bên ngoài. Vì thế mà suốt ngày anh ta chẳng làm được việc gì tốt.  

Trong một lần họp mặt bàn bè với thầy giáo, thấy tinh thần của anh giảm sút, mọi người hỏi anh đã xảy ra chuyện gì, anh đều không nói. Về sau, khi hội tiệc kết thúc, anh đem chuyện này nói riêng với thầy giáo của mình, hy vọng thầy cho ý kiến.

Thầy giáo đã cho anh một kế hay là: giả vờ hồ đồ. Bởi vì:  

Một là, chủ nhiệm là người lãnh đạo trực tiếp đến anh, lại là người Quách Hoa chịu ơn dù anh nhìn thấy việc này, nhưng cũng không nên tung tin ra ngoài. Làm như thế là cung cấp «chỗ đuổi» của chủ nhiệm cho đối thủ chính trị và các đối thủ khác của ông ta, từ đó chôn vui hết toàn bộ tiền độ của chủ nhiệm.  

Hai là, mặc dù chủ nhiệm là người đàn ông có vợ, nhưng vợ của ông đã ra nước ngoài, sang Nhật Bản đã 2 năm, tình cảm của hai người rốt cuộc ra sao không ai cũng biết. Có thể chủ nhiệm vẫn giữ quan hệ vợ chồng danh nghĩa với người phụ nữ đã ra nước ngoài kia, nhưng cũng có thể đã không còn quan hệ gì với người phụ nữ đó nữa.

Ba là, «việc kia» của chủ nhiệm với cô Lý nếu như truyền ra, mọi người có thể cho là một tin xấu của cơ quan, khẳng định có thể lấy việc này để phủ định công tác của chủ nhiệm, đồng thời có thể đuổi cô Lý đi khỏi cơ quan, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.  

Bốn là, tình cảm của con người giống như sinh hoạt xã hội đều rất phức tạp. Hiện tượng thật ra không thể nói lên bản chất. Chưa biết chừng giữa hai người họ không phải là quan hệ nam nữ bất chính, mà là quan hệ tình yêu thật lòng. Chỉ là do thời cơ và điều kiện chưa đến, không tiện công khai mà thôi.  

Tóm lại, thầy giáo yêu cầu Quách Hoa đối với việc này, không nên có thái độ «nửa úp nửa mở», mà phải có biểu hiện chứng tỏ «không nhìn thấy gì hết».  

Quách Hoa thấy có lý, đã tiếp nhận ý kiến của thầy giáo.  

Trong công tác, anh ta vẫn như trước đây, cần làm gì thì làm việc ấy. Trong cơ quan trước nay cũng không có ai bàn tán vấn đề quan hệ của chủ nhiệm với cô Lý.

Sau khi sự việc xảy ra, ban đầu chủ nhiệm đối với Quách Hoa có chút thiếu tự nhiên, thậm chí mọi chỗ đều đề phòng, trong lời nói và hành động còn lộ vẻ ám hiệu nhắc nhở.  

Nhưng Quách Hoa theo «kế sách» thầy giáo đã bày cho anh ta, đôi khi làm như vô tình truyền đạt cho chủ nhiệm thông tin: «Ông cứ việc yên tâm, tôi tuyệt đối không làm hỏng việc của ông, cũng tuyệt đối không thể để cho người khác nắm được «chỗ đuối» của ông».  

Do vậy chủ nhiệm càng thấy Quách Hoa đích thực là một người kín đáo tử tế, không thể làm hỏng việc lớn của mình, càng thêm tín nhiệm anh. Đồng thời còn đem nhiều công tác quan trọng của cơ quan ủy thác cho anh thực hiện.  

Sau một năm, chủ nhiệm và cô Lý chính thức tiến hành lễ kết hôn.

Việc này khiến cho tất cả mọi người ở cơ quan đều ngẩn người ra, cho rằng đây là «đánh chớp nhoáng», «đánh nhanh thắng nhanh». Mọi người xôn xao bàn tán: «Làm sao mà trước kia chưa hề nhìn thấy dấu hiệu gì?».  

Thực ra, một năm trước chủ nhiệm đã ly hôn với vợ của ông ở Nhật Bản rồi. Nguyên nhân vì vợ ông ở Nhật Bản đã có một mối tình khác và đã lập lại gia đình.  

Trong buổi hôn lễ, chủ nhiệm và cô Lý đều nâng ly tới tấp chúc rượu Quách Hoa và nói: «Anh thật là một người rất có bản lĩnh, là người rất đáng tin cậy, chúng tôi thành thật cảm ơn anh».

Không bao lâu, chủ nhiệm được đề bạt đảm nhiệm công tác lãnh đạo cơ quan cấp thành phố. Quách Hoa đã tiếp thay ca của chủ nhiệm, trở thành cán bộ lãnh đạo trẻ nhất trong cơ quan.  

Thử nghĩ, nếu như lúc đó Quách Hoa đầu óc không bình tĩnh, đem việc mình trông thấy tung ra ngoài, thì có thể làm cho người ta thêm mắm thêm muối thêu dệt, gây ra một trận sóng gió lớn, rất có thể chủ nhiệm sẽ mất hết uy tín, cô Lý cũng sẽ bị làm cho lúng túng. Một cặp người yêu thật lòng yêu nhau có thể bị dư luận làm hại, thậm chí có thể bị làm cho tan nát.  

Giả vờ mơ hồ hoặc nói là giả ngây ngô, ở mức độ cao là biện pháp của người lương thiện xuất phát từ mục đích lương thiện dùng đối với người khác, đối với mình đều có ích lợi.

Có thể khẳng định rằng, cách «giả vờ» này hoàn toàn không thể làm hại người khác và mình. Mà trong cuộc sống, người không «giả vờ» việc gì, rất có thể dẫn đến làm hại người khác, ngược lại cũng có nghĩa là làm hại mình.  

Lý lẽ này rất đơn giản.  

Trong «Thánh kinh» nói: «Nếu muốn người khác đối với bạn như thế nào, bạn hãy đối với người khác như thế». Khổng Tử cũng nói: «Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân» (Việc gì mình không muốn, đừng bắt người khác muốn).  

Trong vở kịch nổi tiếng «Hamlet» của Shakespeare, vị thái tử Đan Mạch, mang một tư tưởng lớn, có mục tiêu cao xa, nhưng mâu thuẫn giữa hiện thực và lý tưởng quá lớn.

Để thực hiện muc tiêu đã định, ông ta có thể giả ngây giả dại miệng nói những lời ngây ngô, hy sinh tình yêu và hạnh phúc của mình. Dùng dáng vẻ điên dại để làm đối thủ mất cảnh giác và bảo toàn mình.  

* Khoái Thông thời Tây Hán khi dưới trướng của Hàn Tín là người vạch ra mưu kế cho Hàn Tín.  

Sau khi Hàn Tín đánh bại Hạng Võ, ông ta khuyên Hàn Tín làm phản cùng chia thiên hạ với Lưu Bang. Sau khi Hàn Tín bị Lã hậu giết hại vì tội mưu phản, Khoái Thông đã bắt đầu giả điên giả dại, suốt ngày nói mê nói sảng, khiến Lã hậu không rõ ông ta rốt cuộc là điên thật hay là điên giả, cuối cùng không giết ông ta.

Trong hoàn cảnh sinh tồn hiểm ác, giả điên giả dại như Cơ Tử, Khoái Thông và Hamlet như thế là rất cần thiết. Còn trong cuộc sống thường ngày, trong hoàn cảnh hòa bình người ta vì bảo toàn lợi ích của mình, vì tránh bị xã hội và người khác làm tổn hại, giả điên giả dại thích đáng cũng vẫn là rất cần thiết.  

2. Giữ vẻ bề ngoài ngờ nghệch (Đại trí nhược ngu)  

Vì kế lớn cũng vì bảo toàn mình, đôi khi đối với sự việc đã rõ rành rành lại không thể trực tiếp tỏ thái độ, nói hết cõi lòng, qua loa một chút, mơ hồ một chút lại là kế sách vẹn toàn, là hành động tài giỏi, khôn khéo.  

Kỳ thực, đây cũng chính là ý «đại trí nhược ngu, «hồ đồ hiếm có» mà người ta thường nói.

Trí tuệ và tài năng của con người thể hiện ở chỗ bất cứ lúc nào đều có thể nắm chắc thế cục, nắm chắc mình, chứ không phải là «bạ đâu nói đấy, muốn làm gì làm nấy».  

Thiếu thao lược rất khó hoàn thành việc lớn.  

«Thao lược» cùng nghĩa với «âm mưu» mà chúng ta thường nói, bất kể là nhân vật lớn, hay là vai trò nhỏ, có một chút mưu lược vẫn mạnh hơn không có.  

Trong cạnh tranh xã hội ngày càng mạnh mẽ, những người thành công đều là người có trí tuệ và thao lược cao hơn người khác, mà không phải vì họ có tiền, có quyền.  

Nếu như không có mưu lược, dù là có quyền, có tiền, cũng rất có thể mất hết. Con người giỏi mưu kế, dù không có lấy một thứ gì, cũng có thể thông qua mưu lược và phấn đấu một thời kỳ nhất định, giành được quyền lực, giành được tiền của.

Jeamson, Tổng giám đốc công ty Á – thông Mỹ là một nhà triệu phú, ông đã từng nói: «Hỡi các nhà cạnh tranh, các bạn hãy nghe đây, xin hãy đem tất cả tiền tài của tôi mang đi hết, hãy đem tất cả nhà xưởng của tôi tịch thu hết, hãy đem tất cả cổ phiếu của tôi đổi thành tên của các bạn hết, chỉ cần tôi vẫn đang còn động não được, các nhân viên dưới quyền của tôi vẫn trung thành với tôi, trong 3 năm, tất cả mọi thứ đã mất, tôi đều có thể gọi chúng quay trở lại được!».  

«Động não» mà Jeamson nói chính là vận dụng mưu kế, trên thực tế chính là nghệ thuật của trí tuệ.  

Các ví dụ như thế có rất nhiều – Thời Tây Hán người tài như Trương Lương, Trần Bình rất tinh thông đạo lý này, giữ nước giữ mình thì không thể có người bình thường nào sánh kịp.

Lưu Bang lập nên triều Hán, việc đầu tiên sau khi làm Hoàng đế chính là phong cho Lưu Doanh, con trai của ông với Lã Trĩ làm Hoàng Thái Tử, Lã Trĩ đương nhiên lấy danh nghĩa chính tông Hoàng hậu ở ngôi cao. Nhưng khi thống lĩnh đại quân đi đánh đông dẹp tây, Lưu Bang người tham rượu hiếu sắc trong chiến tranh vẫn không quên mua vui, tiêu khiển, Lưu Bang có một loạt các tì thiếp xinh đẹp.

Như thế, nếu có Lưu Hằng (chính là Hán Văn đế sau này) do Bạc Cơ sinh, Lưu Như Ý do Thích Ý sinh, Lưu Trường do Triệu Cơ sinh là Lưu Hữu, Lưu Khôi và Lưu Kiến do Gia Cơ sinh. Cộng thêm với Lưu Doanh, Lưu Phì, như vậy Lưu Bang có tất cả 8 người con trai.  

Một ngày đầu thu năm 197 trước công nguyên, Lưu Bang ngồi oai vệ trên ngai ở điện trước cung Vị Ương, các quan văn võ đứng xếp hàng hai bên, vẻ mặt căng thẳng lắng nghe Lưu Bang tuyên bố quyết định thay đổi Thái tử.

Lưu Bang vốn bắt đầu từ hành cung Thành Cao, đã yêu riêng Thích Ý xinh đẹp thướt tha lại hay «tranh cường hiếu thắng», vẻ bề ngoài của Thích Ý có thể sánh với Tây Thi, lại biết đàn biết hát, biết đọc sách, nói năng trôi chảy lại sinh cho Lưu Bang một đứa con trai là Lưu Như Ý, nàng Thích Ý vốn có ý nghĩ không an phận, muốn thay Lưu Như Ý giành trưởng.

Trước kia, Lã hậu chưa kịp đi theo quân lính, ở lại Trường An, tình cảm với Lưu Bang đương nhiên là hững hờ, không địch nổi vẻ thân thiết mặn nồng như Thích phi. Sau khi dựng nên triều Hán, Lưu Bang vẫn yêu Thích phi như xưa. Lã hậu cũng nhận ra điều đó, nhưng đành chịu vì sắc suy tình cũng giảm, không thể tranh hơn, đành phải luôn luôn đề phòng, xem mẹ con Thích phi như cái gai ở trong mắt.

Bởi Lã hậu biết được rằng, một khi vị trí Hoàng hậu bị lật đổ thì hậu quả không thể tưởng tượng được.  

Khi Lưu Như Ý lên 10 tuổi, Thích Ý liền tăng nhanh tốc độ đoạt trưởng, bà ta ngày đêm chau mày sướt mướt trước mặt Lưu Bang, van xin Lưu Bang đổi lập Lưu Như Ý làm Thái tử. Lưu Bang không khỏi mủi lòng, hơn nữa vì Lưu Doanh bẩm tính nhu nhược, không thông minh bằng Như Ý, muốn đổi lập quách đi cho xong.  

Lưu Bang tuy nhận lời hứa với Thích phi, nhưng vẫn phải họp các đại thần lại để cùng bàn bạc. Bởi vì việc thay đổi Thái tử ở xã hội Trung Quốc có thể làm lung lay quốc gia đến tận gốc rễ, do đó người ta không thể cẩu thả, hồ đồ làm việc này được.

Mấy ngày nay, Lã hậu vốn là người nhạy cảm chính trị đứng ngồi không yên, bà dự cảm thấy sắp có việc lớn xảy ra. Giờ đây, thấy Hoàng thượng triệu tập các quan bàn việc, bèn lặng lẽ trốn vào dãy nhà ngang phía Đông điện trước cung Vị Ương dò la tin tức. Chỉ thấy Lưu Bang trịnh trọng nói: «Thái tử Lưu Doanh bẩm tính nhu nhược, tư chất bình thường, như thế làm sao có thể kế thừa nghiệp lớn? Triệu vương Như Ý tuổi tuy nhỏ, lại rất thông minh, lời nói và việc làm rất giống ta, ta định phế bỏ Thái tử Doanh, lập Như Ý làm Thái tử, các vị đại thần thấy như thế nào?».  

Lã hậu nghe rõ tất cả, lòng bà đột nhiên thắt lại, cảm thấy mắt tối sầm, hai chân mềm nhũn, suýt nữa ngã lăn xuống đất. Bà biết rằng, Thái tử bị phế bỏ, thì địa vị Hoàng hậu của bà cũng sẽ chấm dứt, chưa biết chừng nào còn bị đưa vào lãnh cung! Lã hậu vừa bực vừa hận vừa sốt ruột, bà tiếp tục kiên trì để lắng nghe ý kiến của các đại thần.

Việc làm của Lưu Bang muốn lập Như Ý làm Thái tử chắc chắn làm cho bách quan văn võ khiếp sợ, nên những lời thưa lên phần nhiều là những lời cũ rích, ý Lưu Bang muốn đổi lập Thái tử vẫn không thay đổi. Bỗng nhiên nghe thấy một tiếng kêu lớn: «Không được! Không... Không được!» mọi người nhìn, té ra là Ngự sử đại phu «nói lắp» Chu Xương. Người này rất thẳng thắn, dám nói dám làm, đã theo Lưu Bang vào sinh ra tử, một lòng trung thành, lời nói của ông đối với Lưu Bang là rất có trọng lượng. Do Chu Xương dám mạo phạm can gián thẳng ngay giữa triều đình, cộng thêm quần thần một mực phản đối, ý định đổi lập Thái tử của Lưu Bang đành tạm thời xóa bỏ.

Sau khi bãi triều, Lã hậu không nén nổi kích động trong lòng, xông vào dãy nhà phía Đông, không giữ nổi vẻ tôn nghiêm của Hoàng hậu nữa, chạy thẳng đến trước mặt Chu Xương quỳ xuống, nói: «Ngự sử đại phu, hôm nay không có ngài, Thái tử nhất định không giữ nổi». Việc quỳ cảm ơn của Lã hậu, làm cho Chu Xương chân tay luống cuống, vội vàng đáp lễ, nói:  

«Thần can gián bệ hạ là vì việc công chứ không phải vì việc tư, làm sao dám xứng với lễ lớn này.» Nói xong bỏ đi.

Nhìn bóng của Chu Xương đã đi xa, Lã hậu đứng ngẩn người ra ở đó, trong lòng bà rộn lên, hôm nay đích thực là rất nguy hiểm, đây cũng là sự bắt đầu «đọ súng» chính diện của bà với Thích Ý, trên miệng bà lộ ra vẻ cười nhạt khó hiểu, quyết định tiếp nhận thách thức của vận mệnh. Bà biết Lưu Bang chỉ là nhượng bộ tạm thời, việc phong Lưu Như Ý làm Hoàng Thái tử bất cứ lúc nào đều có thể lập lại. Bà muốn tìm được một biện pháp ổn thỏa.

Lã hậu là người sáng suốt tự biết mình, bà biết trong việc tranh giành chính trị còn khó mà ứng phó tự nhiên được, thế là liền bắt đầu tìm người mưu kế, đầu tiên bà nghĩ đến Trương Lương đa mưu túc trí, bèn không ngại hỏi kế ông ta. Trương Lương biết rất rõ những việc lợi hại trong cung, không muốn nhúng tay vào việc gia đình Hoàng đế, nên không bằng lòng bày kế, cũng không tỏ thái độ.

Lã hậu không nản lòng, lại cử anh trai mình là Lã Trạch mềm rắn đủ cả, làm việc với Trương Lương. Trương Lương chẳng còn cách nào hơn mới nói: «Việc thay đổi Thái tử chỉ dựa vào tranh luận ngoài cửa miệng là không xong, tôi cũng khó trực tiếp xuất đầu lộ diện. Như thế này nhé! Tôi tiến cử người khác thay tôi. Trên núi Chung Nam Thương có bốn vị lão nhân ẩn cư, danh tiếng rất lớn, Hoàng thượng trước kia muốn chiêu nạp họ, nhưng họ cho rằng Hoàng đế khinh thường vô lễ, từ chối chiêu nạp mà chạy trốn vào trong núi, thề không làm bầy tôi của nhà Hán. Hoàng thượng trái lại càng tôn trọng họ. Nếu Thái tử có thể tự mình viết thư, không tiếc vàng bạc châu báu, mời họ làm tân khách của mình, luôn luôn đi theo mình vào triều, cố ý để cho Hoàng thượng trông thấy, Hoàng thượng biết có bốn người này phò tá Thái tử sẽ không thể đổi lập Thái tử nữa».

Lã Trạch sau khi được kể, về nói với Lã hậu, Lã hậu hết sức vui mừng, lập tức liền xếp đặt người chuyên đem thư của Thái tử và mang theo hàng loạt vàng ngọc gấm vóc lên đường đi mời «Thương sơn tứ hạo» gồm Đông Viên công, Khởi Lý Quý, Hạ Hoàng công, Giốc Lý tiên sinh, bốn ông già cuối cùng đã xuống núi.

«Bốn ông già núi Thương» không bao lâu đã tỏ rõ tác dụng.  

Năm 196 trước công nguyên, Hoài Nam vương Anh Bố đóng giữ ở huyện Thọ, An Huy làm phản, Lưu Bang đang có bệnh có ý định để cho Hoàng Thái tử Lưu Doanh dẫn quân đi dẹp loạn. Lã hậu cho rằng sự việc quan trọng, liền đến tìm «bốn ông già» bàn bạc. Bốn người cảnh cáo Lã hậu nói: «Việc đi dẹp loạn này bất kể thắng thua đều không có lợi cho Thái tử. Nếu như thắng thì có công lao gì? Hoàng thái tử vị trí đã ở tột đỉnh của kẻ bầy tôi, không thể lại thăng quan được nữa. Nhưng nếu thua thì việc này thật là ghê gớm, khi Hoàng đế phải phế bỏ ông ta thì còn có cớ gì nữa». Lã hậu nghe xong, cho là đúng, liền đi gặp Lưu Bang, khóc lóc kể lể với ông ta việc dẹp loạn rất quan trọng đối với giang sơn nhà Hán, hơn nữa phải nói chỉ có Hoàng thượng thân chinh đi mới có thể đạt được thành công.

Lưu Bang vừa nghe, hóa ra vai trò của ông quan trọng như thế, trong lòng đầy hớn hở, quyết định mang bệnh xuất chinh. Như vậy, Lã hậu không những tránh được nguy hiểm của việc Thái tử xuất chinh, mà cũng giành được thời gian khiến cho Lưu Bang hoãn thay Thái tử, mình sẽ trù liệu bí mật đối sách.  

Năm 194 trước công nguyên, trong quá trình chinh phạt Anh Bố, Lưu Bang bị trúng một mũi tên. Về đến Trường An, bệnh tình trầm trọng. Thích phu nhân ngày đêm khóc lóc. Lưu Bang dự cảm chỉ được ở cõi trần gian không lâu nữa, bịn rịn không nở dứt Thích Ý, lo lắng cho mẹ con Thích phi không thể là đối phủ của Lã hậu, liền sinh bụng thực thi lại kế hoạch phế lập Thái tử.

Lưu Bang lại triệu tập hội nghị quần thần một lần nữa, lần này là Phụng thường Thúc Tôn Thông dẫn đầu đấu tranh trong triều đình, làm cho Lưu Bang không thể thực hiện được quyết tâm, đành ôm hận ra về.

Lã hậu thấy thời cơ đã đến, liền gọi Thái tử đến làm một bữa tiệc gia đình, mời «bốn ông lão» cùng dự. Sau khi Lưu Bang đến dự, nhìn thấy phía sau người Thái tử có bốn cụ già hơn 80 tuổi đầu tóc bạc phơ hầu hạ Lưu Doanh, trong lòng bất giác thấy nghi hoặc, sau khi nghe xong bốn ông già tự báo họ tên, lại một lần kinh ngạc nữa, mắt trợn tròn dè dặt nói: «Trẫm nhiều lần mời các vị, các vị lại trốn đi, con trẫm có tài đức gì, phiền bốn vị cùng giúp đỡ?». Bốn vị lão nhân ở núi Thương, dưới sự gợi ý trước của Lã hậu, trả lời: «Bệ hạ xem thường làm nhục người khác, chúng tôi không muốn làm quan, không bằng lòng chịu nhục, mới từ chối gặp mặt bệ hạ. Hoàng Thái tử trung hậu nhân hiếu, thiên hạ đều muốn dốc toàn lực để đóng góp cho Thái tử, cho nên chúng tôi bằng lòng hầu hạ để ông sai bảo».

Lưu Bang sau khi nghe xong những lời này thở phào một cái, đắn đo nói: «Các ông phải chăm sóc Thái tử cẩn thận». Rồi với vẻ lúng túng nhà vua rút lui khỏi bữa tiệc gia đình.  

Đến đây, ý nghĩ thay Thái tử của Lưu Bang đã hoàn toàn tiêu tan. Về đến hậu cung, Lưu Bang nói với Thích Ý rằng: «Ta vốn quyết định lập Như Ý làm Thái tử, trong triều không có người tán thành, bây giờ Lưu Doanh lại có «bốn ông già ở núi Thương» phò tá, vây cánh đã đủ, khó mà động đến được. Xem ra Lã Trĩ sẽ trở thành người chủ của nàng rồi».

Không lâu, trong cung có Phù tỷ lang giữ ấn tín tên là Triệu Nghiêu, ông ta nhìn thấy rõ tâm tư của Lưu Bang lo lắng sự an toàn của mẹ con Thích phi, đã tính kế can gián Lưu Bang phong cho Lưu Như Ý làm Triệu vương và dời kinh đô đến nước đó sớm hơn và phái một vị Tướng quốc cao quý mà cương cường đến bảo hộ ông ta. Lưu Bang bằng lòng, chọn phái Chu Xương và Lưu Như Ý cùng đi đến đất phong, đồng thời tuyên chỉ Triệu Nghiêu làm Ngự sử đại phu. Sắp xếp xong những việc này, Lưu Bang như một hòn đá rơi xuống đất. Về phía Lã hậu, từng giờ từng phút theo dõi động thái của Lưu Bang, từ lâu đã bố trí người tâm phúc ngấm ngầm đi điều tra, sau khi hỏi thăm ra là mưu kế của Triệu Nghiêu, cười nhạt nói: «Xem rồi sẽ ra sao!».

Sóng gió chính trị củng cố giòng trưởng giữ ngôi là một màn hiểm ác nhất một đời của Lã hậu, do mưu mô và kế hoạch bí mật của Lã hậu, cuối cùng đã chuyển hiểm thành an. Thành công của Lã hậu, có người cho là sức mạnh của «bốn ông già núi Thương», song trên thực tế mời Trương Lương vạch ra kế sách vừa vào cuộc đã sôi nổi hắn lên này lại là Lã hậu, vì thế Thích Ý không tài nào độ nổi.  

Còn Trương Lương ở đây càng có tác dụng quyết định, cũng càng để cho người ta nhìn ra sự độc đáo và trí tuệ của ông. Ông đã nói gì, nghĩ gì đều cặn kẽ kín đáo không để lộ ý, không đặt mình vào trong dòng xoáy đấu tranh, nhưng thực chất tỏ thái độ hết sự rõ ràng. Thật là trí tuệ của ông hết sức cao minh.  

Lấp lửng nước đôi chính là «pha trò cười» mà người ta thường nói.

Lỗ Tấn đã từng kể một câu chuyện nổi tiếng:  

Một nhà sinh được mot bé trai, phố phường hàng xóm xung quanh xôn xao đến chúc mừng.  

Có người nói, đứa bé này sinh ra trắng trẻo bụ bẫm, tương lai nhất định có triển vọng, có thể làm quan to. Có người nói, đứa bé này thông minh lanh lợi, tương lại rất có năng khiếu văn chương, có thể viết những bài văn hay nhất thiên hạ. Có người nói, đứa bé này tinh thần sung mãn, tương lai nhất định sẽ phát tài to.  

Nhưng có một người lại nói ngược lại rằng đứa bé này sẽ chết yểu.  

Câu nói thật này của anh ta làm cho tất cả mọi người đều ngơ ngác kinh ngạc.

Thế là mọi người đều căm tức kết thành một khối đánh người đó một trận nên thân.  

Ai ai cũng đều thích nghe lời nói tốt, ai ai cũng đều thích nói những lời nói tốt. Người nói những lời tốt được tán thưởng còn người không thức thời nói thật thì bị đánh đòn.  

Trong trường hợp như thế, người ta sẽ cảm thấy nói lời giả dối, nói lời hoa mỹ hầu như mất tôn nghiêm nhân cách, hơn nữa có thể những lời nói đó không thật thốt ra từ đáy lòng người ta.  

Nhưng nói những lời nói thật quá dứt khoát thì không tránh khỏi chuốc lấy phiền phức, thậm chí có thể rước họa vào thân.  

Làm thế nào đây?

Thế là người ta liền bắt đầu nói đùa. Nói rằng: «Đứa bé này... ha ha ha...», «Đứa bé này... ha ha ha...», «Đứa bé này... ha ha ha ha ha...».  

«Pha trò cười» đúng lúc là rất cần thiết. Nhất là trước khi người ta đối với một số vấn đề còn chưa nhìn ra kết quả, không nên bộp chộp nói những lời có tính tuyệt đối, mà nên lấp lửng nước đôi, bình tĩnh xem xét sự phát triển của trạng thái sự việc.  

Mao Trạch Đông đã từng nói: «Chưa điều tra, thì không có quyền phát ngôn». Tất cả mọi kết luận đều nên đưa ra sau khi tìm hiểu đầy đủ nguyên nhân và kết quả của sự việc mà không phải là trong phát triển của nó.  

Nhiều người không hiểu rõ những lý lẽ này, khi không nên đưa ra kết luận thì chớ có quả quyết kết luận, chớ có nói ra những lời cứng nhắc mà phải khôn khéo linh động từng từ từng câu, chớ có nói:

- «Việc này, chắc như đinh đóng cột , tuyệt đối không có vấn đề!» 

- «Những thứ anh cần, trong vòng 10 ngày sẽ đưa đến 100%, xin anh yên tâm!» 

- «Việc này đáng tin 100%!» 

- «Con người tôi nói một là một, hai là hai, thứ tư gặp mặt thì thứ tư sẽ gặp!»

- «Ngày 1 tháng 10, nhà máy chúng tôi nhất định có thể sản xuất ra loạt sản phẩm đầu tiên, nếu như nói mà không làm được, tôi sẽ không phải là người!»

...

Những lời vỗ ngực, cam đoan giống như thế, trong cuộc sống này có rất nhiều.  

Còn bản thân bạn khi tâm tình hăng hái bốc lên cũng có thể nói những lời có tính tuyệt đối này. Nhưng trên đời mây gió không lường, con người có phúc họa sớm tối, việc công xưa nay khó vẹn toàn – trong đời sống xã hội mọi tình huống ngoài ý muốn như thế đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào.  

Do vậy, khi nói chuyện với người khác, nên lưu lại cho mình phần linh động đầy đủ, không nên tự đặt mình vào chỗ khó xử.

Ví dụ nói: bạn có kế hoạch nhà máy của mình trong tháng 10 sẽ sản xuất ra sản phẩm đầu tiên, nhưng khi nói việc này với người khác, thì hãy xem xét đến một phần trăm yếu tố bất trắc xảy ra trong quá trình sản xuất? Không may kéo dài thời gian thì làm thế nào? Không may do các nguyên nhân như điện, kỹ thuật, tố chất công nhân v.v... đem lại phiền phức, các nhân tố bất lợi cho bạn thì làm thế nào?

Cho nên khi nói chuyện, phải nói: «Kế hoạch của chúng tôi tháng 10 có thể sản xuất ra loại sản phẩm đầu tiên, nếu như không có gì xảy ra ngoài ý muốn. Nhưng chúng tôi sẽ hết sức cố gắng để làm vừa lòng các bạn».  

Khi nói chuyện với người khác hoặc khi đàm phán, hoặc khi kết giao ban bè, xin hãy dùng nhiều những cụm từ dưới đây:  

- Mặc dù... nhưng mà...

- Hoặc là... hoặc là...

- Tuy rằng... nhưng...

- Có thể... song...

3. Lấy bất biến ứng vạn biến

Thuật ứng biến là năng lực, bản lĩnh của con người biết nắm lấy thời cơ để quyết đoán.  

Người ta khi rơi vào lúc nguy nan, cần phải tùy cơ ứng biến, gặp khó khăn không sợ, đứng trước nguy nan không run, gan dạ hơn người, sức địch ngàn quân, giành thắng trong phút chốc, xoay chuyển thế cục, chuyển bại thành thắng.  

Tính quyết đoán làm cho mâu thuẫn chuyển hóa, chỉ có kẻ trí dũng kiêm toàn, mới đủ để đảm đương.  

Trong cuộc sống cũng có thể xuất hiện những tình huống đòi hỏi chúng ta phát huy thuật ứng biến, học thêm được vài kế sách đối với việc bảo hộ lợi ích của mình, đối với việc phát triển sự nghiệp của mình chỉ có ích mà không có hại.

Với những người vốn lơ là học tập, với tâm lý tự cao tự đại cho rằng «mọi người trong thiên hạ tôi đều hiểu rõ», kỳ thực người biết rõ hơn bạn đều là những nhân vật kiệt xuất có thành tựu cao trong sự nghiệp. Những ông chủ sáng tạo kỳ tích trên thương trường, và cả những người «tinh thần đại chúng» thành thạo trong quan hệ nhân tế... Họ đều là những người có khá nhiều mưu lược, xin chớ nên coi thường họ.

Thuật ứng biến nêu ra ở đây, bao gồm những thuật «quyền biến» như tốc độ nhanh, quyết đoán nhanh, dũng cảm nhanh nhẹn, tinh nhanh, ngụy thoát, bí mật, cẩn thận không sơ hở, đối xử lịch sự nhã nhặn, tỉnh ngộ nhanh v.v... là những phản ứng của người vừa có trí vừa có dũng đưa ra khi gặp nguy nan.  

Xử trí vấn đề thắc mắc khó hiểu cần phải tinh ranh mà chóng vánh, hơi chần chừ một chút sẽ sinh ra họa khôn lường, khó mà giải quyết được.  

Người xưa nói: «Gặp việc không quyết, không phải là người có trí; lâm nạn mà không quyết, không phải là kẻ dũng». Xử lý nạn lớn quý là ở chỗ mưu trí nhanh, việc ngàn cân treo sợi tóc, chốc lát vạn biến không thể chần chừ. Thời Ngụy, Nhĩ Chu Vinh xử trí vấn đề của Cát Vinh là một ví dụ có thể xứng đáng tinh ranh chóng vánh.

Nhĩ Chu Vinh là đại thần cuối thời Bắc Ngụy là người Khế Hồ. Ban đầu là tù trưởng bộ lạc làm giàu bằng chân nuôi. Khi Lục Trấn khởi nghĩa, ông tích cực «chiêu binh mãi mã», mở rộng thực lực, nhiều lần trấn áp khởi nghĩa của những người chăn thuê.

Năm 528, nhân cơ hội Hiếu Minh đế bị Hồ Thái hậu đầu độc chết, cử binh vào Lạc Dương, cướp lấy quyền lớn về quân chính, ủng hộ lập Hiếu Trang đế. Đem Thái hậu và Ấu chúa dìm chết tại Hà Âm (nay là chỗ bờ sông Hoàng Hà phía bắc Lạc Dương, Hà Nam) đã giết hơn 2.000 người thuộc tôn thất và đại thần. Tiếp đó lại xuất binh trấn áp khởi nghĩa của Cát Vinh, bố trí tôn thất Đảng Vũ thao túng quyền lớn, kiêu căng bạo ngược tự buông thả, sau lại bị Hiếu Trang đế giết.

Cát Vinh là người dân tộc Tiên Ti, là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân Hà Bắc cuối thời Bắc Ngụy. Năm 526, ông chém chết Chương Vũ vương Nguyên Dung, tự xưng Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Tề. Về sau ông thừa thắng đã giết chết Thống soái cao nhất của quân Ngụy là Nguyên Sâm, chiếm cứ mấy châu ở Hà Bắc có số dân mấy chục vạn người, thanh thế rất lớn.

Nhưng trong quá trình hành quân khởi nghĩa, ông ức hiếp nhân dân dân tộc Hán, lôi kéo bọn địa chủ cường hào, lại bất thình lình giết Đỗ Lạc Chu (thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Hà Bắc cuối thời Bắc Ngụy) dẫn đến nội bộ quân khởi nghĩa lục đục, đã định trước vận mệnh thất bại của ông.

Năm 528, Nhĩ Chu Vinh lợi dụng mâu thuẫn bên trong quân Cát Vinh, đánh lớn vào Cát Vinh tại Tương Châu (nầy là phía Nam, huyện Từ, Hà Bắc). Nhĩ Chu Vinh lợi dụng điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa, xung phong đi đầu binh sĩ làm một mạch cho xong, không tổn thất bao nhiêu binh lực, liền đánh tan toàn bộ bộ thuộc của Cát Vinh, Cát Vinh là thủ lĩnh của nghĩa quân cũng bị bắt sống.

Cục diện lúc đó, đối với Nhĩ Chu Vinh là vô cùng hoành tráng: thủ lĩnh Cát Vinh đã như cá nằm trong chậu, tai vạ khó tránh. Mấy chục vạn binh mà nằm dưới tay Cát Vinh như rắn không đầu. Còn quân của mình thì vui mừng phấn khởi mặt mày hớn hở, tiếng hò reo vang trời, tiếng ngựa hí rung chuyển núi đồi. Cát Vinh mặt mày đờ đẫn không biết là hối hận hay là sợ, không nói một lời, ngồi để chờ chết. Mặc dù ông ta cũng đã từng có không chỉ một lần thắng, thậm chí đã giết được cả Nguyên Sâm, Thống soái cao nhất của quân Ngụy, cũng đã từng có không chỉ một lần vui sướng, nhưng không ngờ tới ngày này rơi vào tay kẻ thù, công lao trước kia đều vứt hết, việc sắp thành công lại bị hỏng.

Nhìn thấy vẻ chán nản và tuyệt vọng của Cát Vinh, lòng sĩ diện hão của Nhĩ Chu Vinh đã được thỏa mãn tột bậc. Nhưng, ông ta không bị thắng lợi làm cho u mê đầu óc, ông đang suy nghĩ: biểu hiện của Cát Vinh có thật hay không? Cát Vinh chưa đánh đến cùng đã đầu hàng, ở đây phải chăng là có gian trá? Phía sau lưng Cát Vinh còn mấy chục vạn binh mã, cùng lẫn vào trong quân của mình, nhỡ ra chúng cùng liều đến chết, từ trong đó dấy binh thì làm thế nào? Cứ như thế suy nghĩ...

Việc suy nghĩ này không phải có lý. Bởi vì Cát Vinh quân nhiều thế lớn, một khi nhỡ xử lý không tốt, đuôi lớn không quẫy được, biến thành gánh nặng, nguy hại đến mình, lúc đó sẽ không dễ sửa.

Thế là, Nhĩ Chu Vinh thừa cơ quyết kế, hạ lệnh các binh sĩ tướng lĩnh vốn thuộc Cát Vinh, mỗi người theo sở thích của mình, thân thuộc có thể đi theo, ai thích lưu lại cũng được, còn ai muốn về nhà cũng cho. Mệnh lệnh này quả là giành được sự tán thành của các tướng sĩ đầu hàng, thế là mọi người chạy đi báo tin cho nhau biết, biến khổ thành vui, biến buồn rầu thành sung sướng.

Mọi người mặc dù cảm ơn mệnh lệnh của Nhĩ Chu Vinh, nhưng người muốn lưu lại đi theo Nhĩ Chu Vinh lại rất ít, mọi người đều muốn về nhà, trốn thoát chiến tranh. Một thời gian, bụi đất tung bay, tiếng người ồn ào, kẻ chạy người trốn, mấy chục vạn binh mã, một ngày tan hết, giống như ở nơi đây không hề có chiến tranh xảy ra.

Nhưng, Nhĩ Chu Vinh không thể dễ dàng bỏ qua những «chiến lợi phẩm» này. Đợi đến khi người ngựa chạy khỏi ngoài trăm dặm, Nhĩ Chu Vinh chia quân theo các đường áp lĩnh hàng binh, đem những hàng binh bỏ chạy này, lại từng người từng người thu nhận, tùy ý sắp đặt, biên chế vào trong quân, khiến cho mấy chục vạn người của Cát Vinh phân thành nhiều cánh quân nhỏ, rất khó trở thành một bộ phận hoàn chỉnh nữa, khả năng tụ tập mưu phản của họ sẽ rất nhỏ.  

Đối với một số tướng soái trong quân Cát Vinh, thì căn cứ theo nhu cầu và lượng tài phong chức vị. Như vậy, đại quân mấy chục vạn của Cát Vinh, đã bị Nhĩ Chu Vinh chỉnh đốn biên chế lại một cách hệ thống chặt chẽ. Cuối cùng Nhĩ Chu Vinh dùng xe tù đem Cát Vinh đến Lạc Dương, chém đầu thị uy trước công chúng.

Nhĩ Chu Vinh dùng biện pháp phân tán và thu nhận chỉnh đốn lại, đã triệt để khắc phục được mấy chục vạn binh mã của Cát Vinh, tránh được xung đột có thể xảy ra, giảm bớt khả năng thuộc hạ cũ của Cát Vinh tụ tập mọi người dấy binh và đợi thời cơ trở lại.  

Từ đó ta thấy, sự tinh ranh nhanh nhạy của Nhĩ Chu Vinh là một thủ đoạn quan trọng giành thắng Cát Vinh của ông ta.

Phản ứng nhanh nhạy, đối với chiến tranh thời xưa có thể có tác dụng quyết định. Trong thương chiến của hoàn cảnh hòa bình, vẫn có thể có tác dụng quyết định. Đây chính là cái người ta thường nói: «Nắm chắc thời cơ, tùy cơ ứng biến».

Lại phải nói rằng, tất cả mọi biến đổi là do xã hội và thị trường phát sinh biến đổi, mà đối sách của mình không thể không tiến hành điều chỉnh và biến đổi.  

Vào lúc như thế, nhất định phải nhớ rằng: bất kể tình thế biến đổi như thế nào, lập trường của mình không thể thay đổi. Chính là: «Mặc cho gió dồn sóng vỗ, vững vàng ngồi câu giữa thuyền».  

Nếu như trong biến đổi, mình cũng bị làm cho đầu óc rối mù không tìm ra hướng, thế thì chỉ có thể chôn vùi sự nghiệp và tiền đồ của mình.  

Có người nói, thế giới ngày nay là thế giới tri thức bùng nổ. Mọi người ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu đều đang biến đổi, nếu như ta không thay đổi mình sẽ không đuổi kịp tình hình, sẽ trở thành kẻ lạc ngũ của thời đại.

Câu hỏi này nghe ra rất có lý. Những người biết đọc Âm kinh sẽ có thể phát hiện : câu nói này chỉ nói đúng một nửa – tức nói đúng về mặt «biến đổi», mà bỏ qua mặt «không biến đổi».  

Trung Quốc có câu cổ ngữ nói là: «Vạn biến bất ly kỳ tông» (Dù vạn biến cũng không tách rời «tông» của nó). Chữ «tông» ở đây kỳ thực chính là lòng dạ không đổi của con người.  

Mỗi người, do sự ra đời của họ, sự từng trải của họ, học thức của họ, môi trường sống và địa vị của họ khác nhau, quyết định thái độ của họ đối với các mặt đời sống xã hội cũng khác nhau.  

Trong xã hội muôn màu muôn vẻ, bạn có thể thay đổi như thế này, thế kia. Bạn có thể thay đổi nhiều một chút, ít một chút. Bạn có thể để cho mình trở thành những người theo đuổi cái mới, bạn có thể để cho mình trở thành kẻ bàng quan thờ ơ nhìn thế giới v.v... và v.v...

Nhưng, bất kể thay đổi ra sao, đều không nên đánh mất mình.  

Triết học phương Tây có một mệnh đề quan trọng: «Ta là ai?».  

Ở Trung Quốc, người ta đa số đều tin sự chỉ dẫn của Thánh hiền, đa số đều không thích nêu ra nghi vấn, không biết đặt câu hỏi «ta là ai» lắm.  

Song vấn đề này luôn luôn tồn tại, đặc biệt là ngày nay càng phát triển nhanh chóng, mọi người đều có thể dùng phương thức của mình để thay đổi mình, để điều chỉnh mình, để thích ứng với quan hệ của mình với xã hội và người khác. Xin hãy nhớ rằng: Nhất thiết phải dùng lập trường không đổi ứng phó với tình thế vạn biến.

4. Trong lộn xộn, phải bình tĩnh

Từ cải cách mở cửa đến nay, ti vi màu và đồ điện Trường Hồng đã được đông đảo người tiêu dùng ưa chuộng. Nhưng lúc ban đầu khi người của Trường Hồng sáng nghiệp tình hình lại rất rối ren phức tạp.  

Năm 1982, Bộ Công nghiệp điện tử và Bộ Kinh tế đối ngoại Nhà nước đều phê chuẩn quyết định không nhập bóng thu hình màu từ nước ngoài, thế là nhiều địa phương như Tây An, Quảng Châu, Thâm Quyến, Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán, Lan Châu, Nam Xương, Nam Kinh, Hàng Châu... đều tới tấp sửa soạn vốn để nhập dây truyền sản xuất bóng thu hình màu của các công ty lớn như Masushita, Toshiba, ồ ạt vào thị trường Trung Quốc hàng loạt.

Song các loại máy thu hình màu nổi tiếng của nước ngoài cũng với thế mạnh đang chiếm lĩnh thị trường rộng lớn Trung Quốc. Trong tình hình đó máy thu hình màu Trung Quốc sản xuất, do tiền vốn và kỹ thuật của các nhà máy không đồng đều, tốt xấu lẫn lộn đã tạo nên cục diện hỗn loạn lộn xộn.  

Trong hỗn loạn, người của Trường Hồng vẫn giữ được đầu óc bình tĩnh, nay từ lúc bắt đầu đã nhắm đúng trình độ tiên tiến thế giới, phát triển công nghiệp dân tộc của Trung Quốc khởi điểm cao.

Do nguồn nhân lực của Trung Quốc hùng hậu, mức lương tương đối thấp, cho nên giá thành sản phẩm so với nước ngoài rẻ hơn rất nhiều. Máy thu hình màu Trường Hồng (Cháng hóng) khi ra đời với ưu thế chất lượng cao, giá thành hạ chiếm lĩnh thị trường rất nhanh chóng. Còn những xí nghiệp muốn thành côngvà có lợi ngay, đua nhau chen lên, do không hình thành được dây chuyền sản xuất hàng loạt lớn, cộng với chất lượng không cao, trong cạnh tranh tới tấp bị thất bại, bị buộc phải đóng cửa ngừng sản xuất và chuyển đổi.

Nguyên tắc của người Trường Hồng là: «Thị trường mãi mãi là đúng». Trước sản phẩm chất lượng tốt, sản xuất hàng loạt lớn, giá thành hạ của họ, thị trường máy thu hình màu nước ngoài vốn chiếm lĩnh, dần dần thu hẹp. Từ đó làm cho máy thu hình màu sản xuất trong nước nắm được cơ hội, xây dựng thương hiệu, giành được lòng người.

Thử nghĩ xem, nếu như trong thời kỳ hỗn loạn đó, các xí nghiệp máy thu hình Trung Quốc như Trường Hồng, v.v... không thể bình tĩnh thừa thế xông lên, thì ngày nay trên thị trường Trung Quốc, rất có thể máy thu hình màu nước ngoài đã nhất thống thiên hạ rồi.  

Gặp hỗn loạn không hoảng sợ, giữ bình tĩnh xét thời cơ đích thực là trí tuệ quan trọng của đời người. Việc đó vừa cần phải có kinh nghiệm, lại cần phải có lòng can đảm và hiểu biết.

Ví dụ như thời Tam quốc, hai nước Ngô – Thục thường liên quân đánh nước Ngụy. Đây chính là chính sách «Liên Ngô kháng Tào» của Thục tướng Gia Cát Lượng.  

Năm 208, Tào Tháo chiếm lĩnh Kinh Châu xong, thống soái mấy chục vạn quân thủy, bộ, chỉ huy quân xuống phía Nam, hòng một trận tiêu diệt Đông Ngô. Đông Ngô liên quân với Lưu Bị, cùng chống lại Tào Tháo.

Chu Du và Lỗ Túc xem xét tình thế, chỉ ra rằng Tào Tháo mạo hiểm dùng quân có bốn tai họa, đồng thời tự mình chỉ huy quân Ngô liên quân với Lưu Bị đại phá Tào Tháo tại Xích Bích, đây là trận đánh lớn ở Xích Bích lừng danh trong lịch sử: Sau khi cuộc đại chiến thắng lợi, Gia Cát Lượng liền thừa cơ chiếm lĩnh Kinh Châu và Ích Châu, giúp Lưu Bị xây dựng nên chính quyền Thục Hán, đã hình thành thế chân vạc ba nước Ngụy, Thục, Ngô, bản thân ông cũng lập công được phong Thừa tướng. Năm 223, sau khi Lưu Bị chết, ông liền phò tá Lưu Thiện, chủ trì việc quân, việc nước.

Mã Tốc là tướng của nước Thục, được Gia Cát Lượng trọng dụng, chuyển nhiệm làm Tham quân. Năm 229, Gia Cát Lượng khởi binh đánh Ngụy, mệnh lệnh Mã Tốc làm Tiên phong đốc thúc các quân, đánh nhau với tướng Ngụy - Trương Đại tại Nhai Đình (nay là vùng đông nam Trang Lãng, tỉnh Cam Túc). Mã Tốc làm trái với sự điều khiển của Gia Cát Lượng, chỉ huy không thích ứng, cuối cùng bị thua Trương Đại.  

Kế hoạch khởi binh của Gia Cát Lượng bị phá hoại, buộc phải rút quân về Hán Trung, đem Mã Tốc giam vào ngục và chết ở trong ngục.

Mã Tốc thất bại ở Nhai Đình, Gia Cát Lượng rất bực. Nhưng quân Ngụy dưới sự chỉ huy của viên Đại tướng Tư Mã Ý, lại không bỏ đuổi đến cùng. Gia Cát Lượng vốn là một nhà chính trị, nhà quân sư hiếm có. Ông một mặt đem bắt giam Mã Tốc vào nhà ngục, để làm vang động quân uy, để giữ nghiêm kỷ luật quân đội, đồng thời lại bình tĩnh suy nghĩ cách đối phó.  

Ông nghĩ, dùng binh lực của mình trực tiếp đón đánh Tư Mã Ý, rất khó hy vọng thắng, nếu như hoảng hốt chạy trốn, Tư Mã Ý nhất định sẽ tiếp tục đuổi giết, có khả năng bị bắt làm tù binh. Trong thế ngàn cân treo sợi tóc, suy đi nghĩ lại Gia Cát Lượng nhanh chóng đưa ra kế sách bố trí quân: vội vàng gọi Quan Hưng và Trương Bào lại dặn dò hai người đem sẵn 3.000 quân tinh nhuệ, tung nhánh vào núi Võ Công, đồng thời la hét om sòm lên để hư trương thanh thế. Lệnh cho Trương Dực dẫn binh đến Tu Kiếm các, để chuẩn bị đường chạy. Lệnh cho Mã Đại, Khương Duy chặn hậu, phục ở giữa thung lũng núi để đề phòng việc bất trắc. Lại ra lệnh đem tất cả cờ xí ẩn náu hết, các quân chuẩn bị sẵn sàng giữ thành trì. Ra lệnh mở rộng cửa thành, không cần đóng kín, mỗi cửa thành dùng 20 quân sĩ, bỏ hết quân phục, ăn mặc thành những người dân thường, tay cầm dụng cụ, quét dọn đường phố. Những người khác thì đi ra đi vào không có chút biểu hiện căng thẳng nào.

Dặn dò xong, Gia Cát Lượng mình khoác áo choàng lông hạc, đầu đội khăn Hoa Dương, tay cầm quạt lông hạc, dẫn hai tiểu đồng xách theo chiếc đàn đi lên thành lầu, ngồi tựa lan can, sau đó sai người đốt trầm, gảy đàn tỏ ra như không có việc gì xảy ra, điềm nhiên như không. Quân tiên phong của Tư Mã Ý đuổi đến chân thành, lại không thấy một chút động tĩnh nào ở trong thành, chỉ thấy Gia Cát Lượng ngồi trên lầu thành gảy đàn ngắm cảnh cảm thấy rất khó hiểu, không biết trong bầu nậm của Gia Cát Lượng bán loại thuốc gì, không dám mạo hiểm tiến lên, liền tạm dừng lại, vội vàng báo với Tư Mã Ý.  

Đại tướng Tư Mã Ý cho rằng đây là báo cáo láo, bèn ra lệnh cho ba quân nghỉ ngơi tại chỗ, còn mình thì cưỡi ngựa phi nhanh đến, phải xem tận nơi xem sao. Quả nhiên, Gia Cát Lượng đang ngồi trên thềm lầu, nét mặt tươi cười rạng rỡ, đốt trầm gảy đàn, tự nhiên nhàn nhã, tuyệt nhiên không hề có vẻ gì sợ hãi hoang mang, lại trông thấy bên trái ông có một tiểu đồng tay nâng «bảo kiểm», bên phải có một tiểu đồng tay cầm «phát trần», giống như lúc bình thường ông ở nhà mình vậy.

Lại nhìn thấy bên trong và bên ngoài thành có hơn 20 người dân thường đang cúi đầu quét dọn, không vội vàng như bên cạnh chẳng có ai, không có bầu không khí chiến tranh. Tư Mã Ý xem xong, lại hít thở một làn khí lạnh, cảm thấy trong thành khẳng định có quân quan trọng. Gia Cát Lượng ngồi trên thành là để tiện chỉ huy, nếu như đánh vào, chưa biết chừng sẽ trúng kế của Gia Cát Lượng, tiến vào lại không có ra, cuối cùng thất bại. Nếu như dừng lại quan sát, chưa biết chừng lại có thể bị Gia Cát Lượng bao vây tiêu diệt, tử thương nặng nề. Gia Cát Lượng đa mưu đa trí, không thể không đề phòng được. Tư Mã Ý càng nghĩ càng sợ, liền vội vàng quất ngựa trở về trung quân, lập tức cho hậu quân làm tiền quân, mà tiền quân làm hậu quân đổi đầu chuyển hướng, rút lui theo đường núi phía bắc.

Đối với những người đứng tuổi và người già của Trung Quốc, kế sách «Thất – không – trảm» của Gia Cát Lượng, mọi nhà mọi người đều biết. Còn đối với thanh thiếu niên sinh ra từ thời kỳ mới trở lại đây thì người biết không nhiều.  

«Thất – không – trảm» đối với Gia Cát Lượng là muu trí nhân sinh, mà đối với Tư Mã Ý chính là âm mưu.

Nếu như Gia Cát Lượng không dùng mưu kế này, không những có thể toàn quân bị tiêu diệt gọn, mà còn tính mệnh của mình cũng khó bảo toàn, trở thành tù nhân của Tư Mã Ý.

5. Tinh nhanh là mưu lược 

Lúc nguy hiểm ập đến, tuyệt đối không nên sợ hãi, bạn càng sợ, thì sẽ càng làm cho bạn cảm thấy sợ hơn.  

Khắc phục sợ hãi trong lòng, mạnh dạn đối mặt, chiến thắng nguy hiểm thì sẽ có thể chuyển nguy thành an. Đáng quý nhất là, chẳng những người lớn khi nguy cấp xử lý ngụy biện không sợ, đến cả trẻ con khi nguy cấp cũng có gan dạ, có tri thức ứng phó với cục diện phức tạp.

Ví dụ thời Khang Hy nhà Thanh, có một người đồng thời hoạt động mạnh cả trong chính giới và trong giới học thuật, tên là Lý Quang Địa. Ông là người vạch ra mưu kế cho nhà Thanh bình định phản loạn Cảnh Tỉnh Trung, thu hồi Đài Loan, là một nhà mưu lược xuất sắc.  

Lý Quang Địa sớm hiểu biết, sớm thông minh, ham học suy nghĩ sâu, nhanh trí hơn người. Năm lên 9 tuổi ông đã không may rơi vào tay bọn cướp lục lâm, nhưng ông vừa tinh nhanh ứng biến, vừa không khuất phục, cuối cùng lại thuyết phục được đối thủ, trở về nhà một cách an toàn.

Lúc đó, các gia đình họ Lý ở quây quần lại với nhau, nhân đinh hưng vượng, người trong gia tộc làm quan ở ngoài không ít, mọi người đều nói «phong thủy» nhà họ Lý tốt. Trong núi gần đó có một thủ lĩnh «Lục lâm» họ Lý, có biệt danh là «Lý đầu to», tụ tập trong tay mình có hàng trăm người. Ông ta đã nhắm trúng «mảnh đất phong thủy quý» này của họ Lý, một lòng muốn chiếm làm của mình.

Một sáng tinh mơ, mọi người còn đang ngủ say, «Lý đầu to» dẫn một toán lâu la sát khí đằng đằng chiếm ngôi nhà thờ họ Lý. Cả họ Lý bị tai họa đột nhiên ập đến làm cho khiếp sợ, nhất thời không biết nên làm như thế nào cho tốt. Ông trưởng tộc liền triệu tập tất cả mọi người lớn trong họ lại trên đám đất trống ở bên ngoài nhà thờ để bàn cách đối phó, Lý Quang Địa cũng theo cha đến đây.

«Lý đầu to» vừa trông thấy Lý Quang Địa mặt mày thanh tú, tư chất thông minh, trong lòng bỗng nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: con trai mình đã 8 tuổi, vẫn không thể nối tiếp mình làm giặc cướp được, phải để cho nó đi học. Nếu như có thể làm cho đứa trẻ ở ngay trước mặt mình này làm bạn với đứa con trai của mình đi học, thì tốt biết bao! Thế là trong đầu óc ông ta thoáng lên ý nghĩ phải bắt Lý Quang Địa nhận làm con nuôi. «Lý đầu to» mở cửa lớn nhà thờ, chỉ vào Lý Quang Địa hét to: «Này, mày lại đây!».

Mọi người cả họ Lý khiếp đến nỗi không ai dám thở mạnh, người cha giữ chặt lấy con trai. Lý Quang Địa đẩy tay cha ra, bước vào trong nhà thờ một cách điềm tĩnh thản nhiên.  

«Lý đầu to» nhìn chú bé đi đến, trong lòng vui sướng, liền cử người nói truyền lời ra ngoài: «Một nét bút khó viết thành hai chữ Lý, các anh nếu đồng ý đem đứa bé này tặng cho tôi làm con nuôi, tôi sẽ đem nó xa chạy cao bay, từ đây, chúng ta không động chạm đến nhau. Nếu như rượu mời không uống lại uống rượu phạt, thì đừng trách Lý mỗ ta là không khách sáo».  

Người cha họ Lý tuyệt vọng, ông hiểu rằng chẳng còn biết làm sao được bèn nói: «Hãy hỏi thử thằng bé xem!».

Lý Quang Địa lúc đó đang đứng ở cửa nhà thờ chứng kiến rất rõ ràng. Thế là, nó ung dung nói to với người cha: «Cha ơi, tất cả nghe theo mệnh trời, cha hãy đáp ứng ngay đi!». Để bảo toàn gia đình, người cha day dứt lắm, xong đành gật đầu bằng lòng.

Hôm ấy, «Lý đầu to» nói với Lý Quang Địa: «Chúng ta đã là quan hệ cha con rồi, bình thường phải dùng cha con để xưng hô». Ông ta thấy Lý Quang Địa không trả lời, liền trừng mắt nhìn Lý Quang Địa một cách dữ tợn nói: «Mày đã nghe thấy chưa?».  

Lý Quang Địa bĩu môi nói: «Ông không phải là cha của tôi, tôi làm sao có thể gọi ông là cha được?».  

«Lý đầu to» đột nhiên nổi giận: «Trong nghi thức nhận nuôi, chẳng phải đã làm lễ lớn rồi sao?».  

Lý Quang Địa tiếp lời, nói: «Đó là tôi tuân theo lệnh của cha, thật ra không phải là xuất phát từ ý của tôi».

«Tao xem mày đang giở trò xảo trá, nói bướng!». Nói xong, «Lý đầu to» mở đầu bằng một bàn tay nặng nề, đánh Lý Quang Địa chảy máu mồm, máu mũi. «Lý đầu to» lại đem nhốt Lý Quang Địa hai ngày, nhưng Lý Quang Địa vẫn không chịu nghe theo.  

«Lý đầu to» trong cơn thịnh nộ, đã nghĩ ra một ý định xấu. Ông ta ra lệnh cho người đem nhốt Lý Quang Địa vào trong một ngôi nhà trống, đóng chặt hết tất cả các cửa lại rồi cho hun khói vào trong đó, tuyên bố nếu như Lý Quang Địa không xin dung thứ, thì sẽ hun cho đến chết. Lý Quang Địa quật cường trước sau đều không xin tha, bị khói xông một ngày một đêm. «Lý đầu to» dự tính Lý Quang Địa ắt đã chết chẳng còn nghi ngờ gì nữa, sai người mở cửa để xem thử.

Ai ngờ cửa phòng vừa mở, làn khói mù mịt xông ra xong, Lý Quang Địa dụi dụi mắt, lại lắc lư đứng dậy, đây thật là kỳ tích! «Lý đầu to» sợ đến nỗi một lúc lâu không nói ra lời. Vốn là, Lý Quang Địa tinh khôn đã phát hiện chỗ mặt đất gần mép cửa thấp hơn một chút, cửa thả xuống cũng có khe hở, đã nằm rạp xuống mặt đất, dùng miệng tựa sát khe hở ở mép cửa hít thở không khí từ từ. Khói nhẹ bay lên trên, nồng độ khói dưới mặt đất thấp, bên ngoài khe hở có thể trao đổi không khí, do đó Lý Quang Địa đã may mắn sống sót trong đám khói đặc đầy nhà.

«Lý đầu to» trong lòng nghĩ: Người này tự nhiên có tướng trời cho, thằng nhóc này thần thái không tầm thường nhất định là có Bồ Tát bảo hộ. Hắn bất thình lình đổi thái độ mềm hẳn lại.  

Lý Quang Địa nói: «Có trời cao bảo hộ, mệnh tôi không thể tuyệt! Ông có biết câu nói: «Chim sẻ bắt về, bọ ngựa chực sẵn này chứ?».  

«Câu nói đó như thế nào?», «Lý đầu to» trong lòng hơi sợ.

«Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khôn thoát, quân của triều đình khẳng định sẽ bủa thiên la địa võng đối với các ông, tôi xem ông chỉ là «châu chấu sau thu, nhảy nhót chẳng được mấy ngày». Ông thử nghĩ xem, từ xưa đâu có bọn người lục lâm không bại?». Lý Quang Địa đã thấy «Lý đầu to» băn khoăn liền tiếp tục nói: «Quân chính phủ nếu tóm được ông, tính mạng của cả nhà ông sẽ khó giữ nổi, con trai của ông cũng không thể thoát khỏi. Tôi chết đi, tôi còn có mấy em trai, gia đình họ Lý nhà tôi vẫn có thể tiếp tục hết đời này đến đời khác. Con trai của ông chết, đời sau gia đình ông có thể sẽ chấm dứt, cho nên tôi khuyên ông phải nhanh chóng suy tính thật sáng suốt!».

Những lời này của Lý Quang Địa làm cho «Lý đầu to» động lòng. «Lý đầu to» và vợ cùng bàn luận, chỉ nghe thấy vợ nói: «Mệnh của thằng bé này cứng lắm, tương lai khẳng định sẽ đại phu đại quý. Chúng ta đã sống nửa đời người rồi, cần phải suy nghĩ con đường về sau cho con trai của chúng ta. Chúng ta đã sống nửa đời người của những ngày nơm nớp lo lắng, thấy con trai dần dần hiểu biết, chẳng lẽ vẫn muốn để cho nó tiếp tục sống những ngày này? Tôi thấy chi bằng đem Lý Quang Địa trả lại, đem con trai của chúng ta cũng giao phó cho gia đình nhà nó. Bảo toàn được con trai, thì tiếp tục được hương khói của nhà họ Lý ta, một khi chúng ta nhỡ có việc bất trắc xảy ra, cũng không phải lo lắng gì nữa».

 Lời nói của người vợ hợp với ý của «Lý đầu to». Thế là, ông ta sai người mời cha của Lý Quang Địa đến, đem hai đứa trẻ giao cho ông ta mang về.  

Người ta trong cuộc sống, rất có thể gặp những tình huống khẩn cấp đột nhiên:  

- Đang đi xe đạp trên đường phố đột nhiên xe đạp không phanh được. Phía trước mặt là xe ô tô và đông người, còn có cả trẻ con, người già, phụ nữ...  

- Khi bạn mặc một bộ váy rất đẹp, cùng các bạn đi chơi ở ngoài thành, đột nhiên chiếc váy bị cành cây làm rách một mảng lớn.  

- Khi bạn lái ô tô đang chạy trên đường phố, đột nhiên ở chỗ gốc ngoặt chạy ra hai đứa trẻ đang đùa nghịch, sắp sửa đâm thẳng vào xe...

- Khi bạn ta ca đêm, đang vội vội vàng vàng đi về nhà, tại chỗ vắng không có đèn đường, đột nhiên mấy tên côn đồ chặn đường cướp giật ập đến...  

- Khi bạn vừa mới có được một khoản tiền, mang túi tiền đến ngân hàng để gửi thêm tiền, lúc này, mấy kẻ lạ mặt chặn ngang đường đi của bạn...

- Khi bạn nghe chuông điện ở cửa reo, cho là người thân hoặc bạn hè của mình về nhà, nhưng vừa mở cửa, lại phát hiện mấy kẻ bịt mặt cầm hung khí.  

Trên đời, ai cũng đều có thể gặp phải nguy hiểm này khác. Một khi gặp các việc nguy hiểm này, đại đa số người (nhất là phụ nữ) sẽ rất sợ hãi, rất run sợ. Mà trong tình huống như thế, ngược lại chúng ta cần phải giữ bình tĩnh, có gan dạ có mưu trí - «mưu» nói ở đây cũng chính là «âm mưu».  

Bởi vì, thông thường trong những tình huống này, dùng dương mưu là không được, dùng chính diện cũng không được, nhất là phụ nữ đối mặt với những nguy hiểm này, dựa vào sức của mình, bất kể như thế nào đều không thể chống chọi nổi đối thủ.

Việc này phải dốc hết dũng khí, đấu gan dạ, đấu mưu trí với đối thủ, mới có thể chuyển nguy thành an.

Năm 1988, trên báo Thanh niên Bắc Kinh đăng một tin:

Cả một dải gần «Khách sạn Bắc Kinh», trong mấy năm liền đã từng xảy ra những sự việc nữ công nhân viên tan ca làm đêm bị người dùng dao rạch mặt trên đường phố vắng.  

Cục Công an rất coi trọng vụ án này, đã từng tổ chức những cảnh sát có kinh nghiệm, nhiều lần tiến hành trinh sát và phá án, nhưng đều không thể triệt phá hẳn được. Khiến cho các công nhân viên làm ca đêm ở khách sạn Bắc Kinh lo nơm nớp, ai cũng không muốn đi làm ca đêm, sợ vận đêm sẽ rơi xuống đầu mình.  

Tối ngày 23 tháng 9 năm 1998, cô Lợi làm ca đêm xong đi xe đạp về nhà, lúc đó đã là hơn 2 giờ đêm.

Đột nhiên, từ chỗ góc ngoặt vụt ra một chiếc xe đạp chạy theo. Người đi xe là một nam giới gầy gò, anh ta dùng xe đạp xô ngã cô Lợi, sau đó rút ra một con dao nhọn, rạch lên mặt cô Lợi...  

Cô Lợi vội vàng tránh sang một bên, ngây người ra một lát, trong đầu lập tức phán đoán: chính là tên ác ôn từng rạch mặt nhiều bạn gái đây! Nếu như mình hôm nay nhát gan, thì sẽ giống như kết cục của các chị em khác. Mình không nên biểu hiện khiếp sợ trước mặt nó, mà phải đọ sức với nó, tìm cơ hội.  

Thế là, cô Lợi từ mặt đất bò lên, cố ý giả vờ như không trông thấy hung khí của nó, mà nói: «Anh đã đụng em ngã, nếu anh cần tiền, thì cầm ví tiền của em đi».  

Lúc này, tên ác ôn kia đã thu cất con dao lại. Phát hiện cô Lợi thật ra chưa phát giác hành vì tội ác hòng rạch mặt của nó, liền yên tâm lại, nhận ví tiền cô Lợi đưa, đã móc ra mấy chục đồng tiền mặt từ trong ví, sau đó lại trả ví cho cô Lợi.

Lúc này, cô Lợi dùng sức đẩy mạnh chiếc xe đạp, chạy trốn sang đường phố lớn.  

Ngay đêm đó, cô Lợi đã đem đầu mối quan trọng này báo với Cục Công an. Cục Công an căn cứ manh mối cô Lợi cung cấp, dùng máy vi tính vẽ ra tướng mạo của tên tội phạm, rải đi rộng khắp trên đường phố. Nhiều quần chúng đều phản ảnh, thường xuyên có thể trông thấy con người này.  

Với sự giúp đỡ tích cực của quần chúng, trua ngày hôm sau, đã bắt được tên tội phạm để quy án.  

Chúng ta chúc mừng cô Lợi đã tránh được vận rủi, đồng thời cũng khen ngợi cô Lợi gặp lúc lâm nguy không sợ sệt.

Thử nghĩ, nếu như lúc nguy cơ, cô ta hoang mang bối rối, vốn không bị rạch mặt, do mình sợ hãi, mất hết dũng khí, không giỏi vật lộn với tên ác ôn, thế thì vận đen bị rạch hỏng mặt tất nhiên sẽ rơi xuống đầu cô ta, hạnh phúc một đời của cô, công tác của cô, sự nghiệp của cô, tình yêu của cô... tất cả đều hết cách để nói nữa.  

6. Trong việc dùng người có thể dùng một ít mưu toan

Trong sự hợp tác giữa người này với người khác, nhất là những người làm nhân viên công ty do mình làm chủ, dùng người như thế nào là một vấn đề lớn.  

«Cao Long» của Hàn Quốc là một tập đoàn xí nghiệp đa ngành có các công ty lớn về công nghiệp hóa dầu, xây dựng công trình, mậu dịch đối ngoại, vận tải, du lịch và dệt. Sự nghiệp của chủ tịch Hội đồng quản trị Lý Đông Sán có một số điểm đặc biệt, vừa không phải là nhà doanh nghiệp đời thứ nhất từ khởi xướng dựa vào cố gắng gian khổ sáng tạo sự nghiệp của mình. Cũng không phải là nhà doanh nghiệp đời thứ hai tiếp tục phát triển trên cơ sở sản nghiệp của cha ông mà là nằm giữa hai cái đó. Ông đã từng được người cha giúp đỡ, đã từng rất cố gắng để dần dần giành được việc chung vốn kinh doanh với 2 người là cha và chú và bản thân ông ta có thể tự lập, lại trải qua một cuộc đấu tranh quyền lực vừa phức tạp vừa khéo léo, tiếp nhận sự nghiệp do cha, chú và mình cùng sáng lập vào tay mình. Do đó giới kinh tế Hàn Quốc gọi ông là nhà doanh nghiệp «một đời rưỡi». Thực ra, con đường ông đi là một con đường kinh doanh đầy gập ghềnh.

Ông sinh ra trong một gia đình địa chủ có 500 mẫu ruộng đất canh tác miền Ấn Nhật tỉnh Khánh Thượng Bắc, Hàn Quốc. Cha là Lý Nguyên Vạn, là một kẻ phóng đãng ăn tàn phá hoại làm cho gia sản nhanh chóng hết sạch sành sanh, nên ông sinh ra đã không được sống những ngày tốt đẹp. Khi ông học đến năm thứ 4 tiểu học, Lý Nguyên Vạn đột nhiên đem mảnh đất duy nhất còn lại trong nhà bán nốt, rồi một mình đi sang Nhật «lẫn lộn trong thiên hạ», bỏ lại hai mẹ con ông ở lại không giữ nổi ngày ba bữa ăn. Lý Đông Sán dựa vào việc đi kéo xe thuê cho người ta để học xong được tiểu học, sau đó đến hiệu bán tạp hóa của Phố Hạng làm người giúp việc.

Năm ông 15 tuổi nhận được tin nhắn, cha và chú là Lý Nguyên Thiên dùng tiền làm thuê tiết kiệm lại được chung vốn với nhau mở «Hãng công nghệ Mặt trời mới mọc (Húc nhật)» sản xuất mũ quảng cáo, buôn bán khá, bảo ông đi sang Nhật Bản giúp việc. Lý Đông Sán mặc dù còn mang hận tuyệt tình của người cha, nhưng vẫn sang Nhật theo học buôn bán. Ông ta đã từ một chân chạy việc lặt vặt đến tham gia kinh doanh, còn làm cổ đông của «Hãng công nghệ Mặt trời mới mọc». Ông rất ham học tập, đã vào trường Đại học Waseda học khoa kinh tế, không lâu Đại chiến thế giới thứ II kết thúc, sau khi Nhật Bản đầu hàng, nền kinh tế bị đình trệ làm cho ba cha con chú cháu nhà họ Lý tan vốn. Lý Nguyên Thiên một mình ở lại Nhật Bản.

Lý Nguyên Vạn và Lý Đông Sán sau khi trở về Triều Tiên bỏ nghề buôn, làm chính trị. Lý Nguyên Vạn mặc dù kết bạn với không ít bạn bè thuộc giới chính trị, nhưng khi tranh cử uy viên lập hiến vẫn bị thất bại, ông lại sang Nhật chung vốn với Lý Nguyên Thiên buôn bán. Lý Đông Sán làm trưởng phòng bảo an tại cục Cảnh sát Đại Khưu, do tiền lương không nhiều, ông đã từ chức trưởng phòng đi lập xưởng dệt. Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ,                xưởng dệt của ông đành phải ngừng việc, vừa may gặp được Bộ trưởng Nội chính Nam Triều Tiên lánh nạn, sau khi được khuyên nhủ ông lại quay về làm trưởng phòng Cảnh sát. Chiến tranh Triều Tiên đã kích thích kinh tế Nhật Bản phục hồi, Lý Nguyên Vạn và Lý Nguyên Thiên cũng phát tài trong công việc «đặt hàng nhu cầu đặc biệt» của quân Mỹ, lập nên «Công ty sản vật Tam Khánh », chuyên hoạt động mậu dịch xuất khẩu sợi nilông.

Năm 1954, Lý Đông Sán bỏ «cảnh phục», tại Hán Thành lập nên Văn phòng của «Hãng buôn Khai Minh» và «Công ty sản vật Tam Khánh» trú tại Hán Thành. Ba cha con chú cháu nhà họ Lý lại bắt đầu liên hợp với nhau một lần nữa trong việc buôn bán sản xuất, nhập khẩu sợi nilông. Việc buôn bán sợi nilông của Lý Đông Sán càng làm càng lớn, đến năm 1957 lập nên Nhà máy Nilông Hàn Quốc, muốn thu được lợi nhuận nhiều trong việc gia công sợi nilông. Không ngờ, khi mua sắm các thiết bị bị thương nhân Italia lừa, không những giá cao mà máy móc lại cũ kỹ, may mà sản phẩm vẫn có đường tiêu thụ, nên vẫn có thể kiếm được khoảng lợi nhỏ.

Mặc dù như vậy, các đồng nghiệp trong nền công nghiệp dệt Hàn Quốc vẫn cảm thấy bị uy hiếp lớn, thế là họ tung tin đồn là «nilông sinh ra tĩnh điện, có hại cho cơ thể người» đánh vào Nhà máy nilông Hàn Quốc của ông. Lý Đông Sán tức khắc rơi vào nguy cơ phá sản, ông vội vàng thu gom tiền vốn của các hộ khách hàng bán lẻ, đổi tiền mặt của các nhà buôn tiền bí mật vào, tạm thời duy trì được hoạt động của xí nghiệp. Nhưng nếu kéo dài thì khó mà chống đỡ nổi, ông đành vay tạm tiền vốn của «Công ty sản vật Tam Khánh» của cha và chú. Sau nửa năm, giới khoa học dùng thực nghiệm chứng minh thuyết «tĩnh điện có hại» hoàn toàn là chuyện vu vơ, Lý Đông Sán cũng điều tra được nguồn gốc của tin đồn, Nhà máy Nilông Hàn Quốc xem như đã thoát khỏi cảnh khó khăn, con đường tiêu thụ nhanh chóng tăng trở lại, nhưng ông lại ghi nhớ mãi tác hại của mưu chước này của đối thủ.

Những trắc trở trong cuộc sống, những chèn ép trên thương trường làm cho Lý Đông Sán khôn ngoan hơn, lão luyện và xảo quyệt hơn, đồng thời có khả năng đối phó với các tình huống lớn hơn. Quỹ cho vay khai thác ở nước ngoài của Mỹ (DLF) sẽ có khoản cho vay 1,8 triệu USD đầu tư vào ngành sợi hóa học Hàn Quốc. Cùng tranh giành khoản ngoại hối lớn này với ông có «Hãng dệt Kim Khưu» và «Hãng dệt Vĩnh Thuận».

Thực lực kinh tế của hãng «Kim Khưu» và «Nhà máy Nilông Hàn Quốc» xấp xỉ nhau, thực lực kinh tế của hãng «Vĩnh Thuận» nhỏ hơn, nhưng họ được một nhân vật có thế lực chính trí tương trợ, hình thành cục diện cạnh tranh hai hãng lớn kẹp một hãng bé. Cả ba bên đều muốn lấy mình làm chính, liên hợp với một bên đẩy một bên khác ra, sau vài cuộc đấm đá nhau công khai và ngấm ngầm, «Vĩnh Thuận» nhỏ bé đã lộ ra manh mối bị bắt buộc phải cộng tác với «Kim Khưu», Lý Đông Sán không chịu ngồi chờ chết, dùng cha là Lý Nguyên Vạn tiến hành hoạt động hậu trường, muốn ảnh hưởng của ông ta đối với chính phủ Hàn Quốc và việc đi lại trước kia của mình với Bộ trưởng Tài chính, làm cho «Vĩnh Thuận» tới tấp nhận được gợi ý của phía chính phủ là «tốt nhất hợp tác với Nilông Hàn Quốc». Kết quả là 2 phiếu đấu với 1 phiếu, Lý Đông Sán nhận được khoản tiền vốn nước ngoài này, đã xây dựng «Nhà máy Sợi dệt Polyeste Hàn Quốc». Sau khi ông ta giành được hiệu quả kinh tế khả quan, thì bỏ rơi «Vĩnh Thuận». Lần đầu sử dụng kế «Mượn đường đánh Quắc» khiến ông ta hoàn toàn chiến thắng trở thành độc nhất.

Từ đó về sau, để nâng cao sức cạnh tranh, cũng để cho «nước phân không chảy sang ruộng người ngoài», Lý Đông Sán hợp nhất «Xưởng Nilông Hàn Quốc» và «Nhà máy Polyeste Hàn Quốc», liên hợp tiền vốn với cha và chú và thu hút vốn «Đông Loa» của Nhật Bản, vào năm 1972 thành lập Công ty «Cao Long». Ba cha con chú cháu họ Lý chiếm 51% cổ phần của công ty. «Đông Loa» chiếm 49% cổ phần. Lý Nguyên Vạn đảm nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị danh dự, Lý Nguyên Thiên nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng quản công việc công ty, Lý Đông Sán nhận chức Tổng giám đốc đại diện công ty đối ngoại. «Cao Long» thành lập được hai năm, doanh lợi rất lớn, ba cha con chú cháu nhà họ Lý vì tranh giành lợi ích bắt đầu cọ sát với nhau.

Năm 1974 cổ phiếu của công ty Cao Long bắt đầu bán trên thị trường, sắp giành được lợi ích nhiều hơn khiến mâu thuẫn càng sâu sắc, càng công khai. Lý Nguyên Thiên dựa vào đại quyền nằm trong tay, chủ trương làm việc theo chương trình ban đầu. Lý Đông Sán thì cho mình kinh doanh có phương pháp, yêu cầu sửa đổi chương trình, chia sẻ quyền quản lý kinh doanh nhiều hơn.  

Hai chú cháu không nhường nhau, do việc cãi cọ hàng ngày càng tăng đến mức chửi nhau thậm tệ. Lý Nguyên Thiên biết sớm muộn phải chia vốn, bèn ra tay trước, mềm rắn đủ cả hết dụ dỗ đến uy hiếp «Đông Loa» đi theo mình, riêng mình mới có quyền kinh doanh «Nilông Hàn Quốc» và «Polyeste Hàn Quốc». «Đông Loa» nhận lời hứa riêng, Lý Nguyên Thiên liền ngã ván bài ra với Lý Đông Sán.

Lý Đông Sán biết kế sách người chú dùng là kế «mượn đường đánh Quắc», không đồng ý tuân theo sự chi phối và điều khiển, kiên quyết phản đối phân chia tài sản với lý do là: «Cạnh tranh với người ngoài, lực lượng của nhà mình nên hợp lại với nhau mà không nên chia ra. Nếu như phân chia tài sản, Cao Long từ đó có thể tan vỡ».

Ly Nguyên Vạn thì không bày tỏ rõ ràng đối với việc có nên phân chia tài sản hay không, chỉ thoái thác nói «tuổi nay đã cao, không muốn quản nhiều». Rõ ràng là muốn ám chỉ người em là Lý Nguyên Thiên không nên quản lý việc quá nhiều.

«Đông Loa» thấy tình trạng như thế đành phải đánh giá lại thực lực của mọi bên: Lý Nguyên Thiên và Lý Đông Sán, sau nhiều lần suy nghĩ, thu lại lời hứa trước kia với Lý Nguyên Thiên, đưa ra một cách hòa giải hai bên, đã đề xuất Lý Nguyên Thiên phụ trách sản xuất của Cao Long, còn Lý Đông Sán thì phụ trách thương vụ của Cao Long. Người chú đang cân nhắc, người cháu lại biểu thị phản đối, do vậy tình hình lại bị bế tắc và duy trì thêm được một năm rưỡi.

«Đông Loa» tuy có quyền 49% cổ phiếu, nhưng không thể không thận trọng đối với ảnh hưởng tương đối lớn của Lý Nguyên Vạn trong chính giới Hàn Quốc, trong lòng suy nghĩ, ông ta đã muốn để cho con trai Lý Đông Sán quản lý Cao Long, nếu như có thể làm cho sự nghiệp của Cao Long phát triển, chính là đã bỏ thêm cho Lý Đông Sán một lá phiếu, sao vẫn không thể?

Đang lúc thái độ của «Đông Loa» xuất hiện sự chuyển biến tế nhị, em trai của Lý Đông Sán là con rể của một nhân vật có thế lực trong chính đàn Hàn Quốc đến thăm «Đông Loa», càng thúc đẩy sự chuyển biến thái độ của họ, tiếp theo đó lại nghe được tin truyền của «Đông Loa» sẽ tiến cử Lý Nguyên Thiên làm người kế thừa của Cao Long.

«Đông Loa» cho rằng tin truyền là do Lý Nguyên Thiên đưa ra, cố ý đẩy mình lên lửa để nướng, thế là quyết tâm tẩy chay Lý Nguyên Thiên, ủng hộ Lý Đông Sán. Rõ ràng là người cháu đã dùng đến kế «mượn đường đánh Quắc» cao hơn chú một bước, Lý Nguyên Thiên rơi vào thế cô lập, năm 1976 đã rút vốn cổ phần, mang theo những người cốt cán rời khỏi Cao Long.

Tốn mất hai năm, cuối cùng Lý Đông Sán giành được quyền quản lý kinh doanh của công ty Cao Long. Sau khi làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông đã dày công sắp xếp, kinh doanh, cải cách tổ chức nhân sự «Dùng người chỉ dùng người thân», cải thiện tiền lương và đãi ngộ phúc lợi cho công nhân viên chức, còn mở ra tiền lệ hợp đồng lao động với nữ công nhân suốt đời ở Hàn Quốc.

7. Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương 

Tất cả mọi sự vật trên thế giới, từ sinh vật đơn giản nhất đến tổ chức phức tạp nhất đều biết một điều quan trọng nhất chính là bảo tồn mình, chỉ có trước tiên bảo tồn mình, có sự tồn tại của mình, mới có thể bàn đến tất cả mọi cái khác được.  

Dùng câu nói có tính triết học một chút, chính là «tồn tại quyết định tất cả, tồn tại trước bản chất». Cho nên, để bảo tồn mình, đặc biệt là khi liên quan đến tiền đồ mình, vận mệnh, sống chết tồn vong của mình, của một người, của một tổ chức, thì đó là biện pháp gì đều có thể nghĩ ra, thủ đoạn nào đều có thể dùng. Từ trong những việc làm của người xưa và tổ tiên, chúng ta sẽ hiểu ra không ít các đạo lý.

Các nhà chính trị phong kiến chủ trương quản lý quốc gia, phải nhắm đúng tình hình cụ thể, cương nhu đều dùng song song, không thể tuyệt đối hóa. Cương và nhu bồi bổ và xúc tiến lẫn nhau, quá cương dễ gãy, quá nhu thì vô dụng, cương nhu cũng giúp nhau, thì làm gì ở đâu cũng thắng. Đây là quy luật bên trong của sự phát triển sự vật. Thời xưa quân vương «trị quốc yên bang» cần phải văn võ song song, đức tài hình đồng thời dùng, cương nhu giúp đỡ nhau, về vĩ mô thống trị nhân dân, khống chế thế cục toàn quốc. Cho nên thuật cương nhu là thuật xử thế cơ bản bảo đảm sự thống trị của họ.

Sách «Thập lục kinh» nêu lên: «Đạo làm người là phải có đủ cả cương nhu, chỉ cương không đủ đáng tin, chỉ nhu không đủ đáng cậy». Tuyển Bất Nghi thời Tây Hán nói: «Phàm là quan lại, quá cương dễ bị trắc trở, quá nhu thì sự việc làm không thành. Làm việc uy phải nên bố thí ân đức, sau đó mới có thể lập nên công trạng, truyền bá tiếng tăm. Sự vật có tính cương thì cứng rắn nhưng dễ bị vỡ, dễ tiến thủ mà khó giữ. Sự vật có tính nhu thì không sắc (cùn) mà có tính dai, dễ giữ lại thì khó (tiến) công. Cho nên cương (cứng rắn) quá dễ gãy, nhu quá thì bị bỏ, cương mạnh có lợi cho tiến công, nhu nhược có lợi cho việc giữ lại. Mỗi cái đều có chỗ mạnh chỗ yếu, cương nhu hỗ trợ nhau thì không có việc gì làm không thắng được».

Song giữa hai cái cương và nhu, cái nào cần trước. Đạo gia Lão Tử chủ trương «nhu nhược» thắng «cương cường». Thường Nghĩ trước lúc lâm chúng đã di huấn lại cho Lão Tử, đã dạy ông xử sự quý là ở chỗ dùng nhu, và lấy cái lý «răng rụng lưỡi còn» để nói với Lão Tử, cho rằng nhu là cái gốc kiềm chế địch giành thắng, gặp việc dùng nhu để xử lý, thì mọi sự việc trong thiên hạ đều có thể hoàn thành.

Thường Nghĩ bị ốm, Lão Tử đi đến hỏi thăm, nói: «Tiên sinh ốm nặng quá, có điều gì di huấn lại có thể nói với đệ tử được không?». Thường Nghĩ nói: «Ông không hỏi, ta cũng sẽ bảo ông. Ta đến quê hương thì xuống xe, ông có biết vì sao không?». Lão Tử nói: «Qua quê hương mà xuống xe, chẳng phải là nói không quên quê hương chăng?». Thường Nghĩ nói: «Ôi! Đúng thế! Qua cây cao mà cúi đầu đi tới, ông có biết vì sao không?». Lão Tử nói: «Qua cây cao mà cúi đầu đi tới, chẳng phải là nói phải kính trọng người già chăng?». Thường Nghĩ nói: «Ôi! Đúng thế!».  

Thường Nghĩ lại há to miệng chỉ cho Lão Tử nói: «Lưỡi của ta vẫn còn phải không?». Lão Tử nói: «Răng không còn ạ!». Thường Nghĩ nói: «Ông có biết đạo lý ở trong đó không?». Lão Tử nói: «Lưỡi còn, đó là vì nó có tính nhu (mềm); răng rụng hết, đó chẳng phải là vì nó cứng rắn phải không?». Thường Nghĩ nói: «Ôi! Đúng thế! Đạo lý của sự vật trong thiên hạ hoàn toàn ở đó. Ta còn có điều gì lại nói với ông nữa đây».    

Thúc Hướng cũng giữ quan điểm giống như thế, cho rằng «nhu» phải rắn chắc hơn «cương», hai đối thủ tranh giành lợi mà kẻ «nhu» giành thắng.  

Hàn Bình Tử hỏi Thúc Hướng: «Cương và nhu cái nào cứng rắn?». Thúc Hướng trả lời: «Thần tuổi tác nay đã hơn tám mươi, răng đã rụng hết nhưng lưỡi vẫn còn». Lão Tử có câu nói: «Cái mềm nhất trong thiên hạ điều khiển cái cứng rắn nhất trong thiên hạ». Lại nói: «Con người lúc mới sinh mềm yếu, khi chết thì cứng lại. Cỏ cây vạn vật khi sống thì mềm yếu, khi chết thì khô cứng. Từ đó ta thấy, cái mềm yếu là con đường sống, cái cứng rắn là con đường chết. Thần cho rằng phải biết nhu là cứng rắn hơn cương». Bình Tử nói: «Nhu phải chăng quá yếu mềm?». Thúc Hướng nói: «Người nhu bẻ cong nhưng không gãy, liêm khiết mà không thiếu, thế nào là mềm yếu? Đạo lý lên trời rất huyền diệu, mọi sự vận hành theo quy luật tự nhiên, cho nên nó mới đánh đâu thắng đó, hai quân dội đánh nhau mà kẻ mềm yếu thường giành thắng».

Đại bá chủ Tề Hoàn công nêu lên hiện tượng tự nhiên và xã hội để thuyết minh gặp việc mà cứng rắn và gắt gao quá thì dễ bỏng việc. Hoàn công nói: «Kim loại cứng rắn dễ gãy, da cứng dễ rạn nứt, ông vua cứng rắn và gắt gao thì quốc gia diệt vong, người bầy tôi cứng rắn khắt khe thì bạn bè đoạn tuyệt, làm người cứng rắn khắt khe thì bất hòa với mọi người, bốn ngựa bất hòa (chỉ xe 4 ngựa kéo) thì chạy không dài, cha con bất hòa thì gia đạo lụn bại, anh em bất hòa thì không thể bền lâu, vợ chồng bất hòa thì trong nhà bất hạnh».

Vì sao mềm yếu thắng cứng rắn? Quỷ Cốc tử lấy đạo lý lượng biến thành chất biến thuyết minh nó: «Nhu nhược (mềm yếu) thắng cương cường (cứng rắn) cho nên tích nhược có thể là cường; thẳng nhiều như cong, cho nên tích cong có thể là thẳng, ít thì được nhiều, cho nên tích cái không đủ có thể là dư». Trong tự nhiên, nhu thắng cương, nêu mãi không bao giờ hết, nước rất mềm, nhưng có thể xuyên qua núi, dập tắt lửa.  

Lão Tử cho rằng, nước chảy sở dĩ nó có thể xuyên qua núi, dập tắt lửa, bởi vì tính chất của nước rất mềm, chảy tuôn muôn dặm. Trong hiện tượng xã hội, vật nhỏ yếu có thể chiến thắng vật lớn mạnh, đâu đâu cũng có. Ví như nước nhỏ chiến thắng nước lớn, nước yếu chiến thắng nước mạnh, đây là một ví dụ: Việt vương Câu Tiễn chiến tranh với Ngô thất bại, nước tan người mất, bị khốn đốn ở Cối Kê, tức lộn ruột lộn gan lên, căm hờn tuôn ra như suối, tuyển luyện quân lính sau đó xin bản thân mình làm kẻ bầy tôi mà vợ làm kẻ tỳ thiếp. Nhưng vẫn không quên nỗi nhục Cối Kê, quyết chí vươn lên phục thù, mười năm sinh kế. Cuối cùng một trận đánh mà tóm được Phù Sai. Cho nên Lão Tử nói: «Nhu có thể khắc cương, nhược có thể thắng cường».

Khổng Tử đề xướng «Đạo của trung dung», giữ cho đúng ở giữa, không nghiêng sang trái không nghiêng sang phải, không cương không nhu, cương nhu đều có. Học thuyết này trở thành nguyên tắc xử sự của đời sau. Tuần Du, mưu thần của Tào Tháo, là một nhân vật trong cương có nhu, trong nhu có cương: «Tuần Du có trí phòng ngừa sâu xa kín đáo, từ khi Thái tổ đi chinh phạt, thường mưu tính kế hoạch trong phòng kín, người đương thời và đệ tử đều không biết những lời ông trình lên». Thái tổ mỗi lần khen nói: «Ông đạt đến trình độ bên ngoài như ngu bên trong đầy mưu trí, bên ngoài khiếp đảm bên trong dũng cảm; bên ngoài nhu nhược bên trong cứng rắn, không khoe mình, không kể lao khổ, trí tuệ có thể đuổi kịp, nhưng ngu thì không thể bì kịp, tuy rằng Nhan Tử và Ninh Vũ cũng không thể vượt qua».

Thời Tam Quốc, Viên Hoán vẻ bề ngoài như ôn hòa nhu nhược, nhưng khi ông gặp việc lớn, xử lý nguy nan, tuy Bôn Dục dũng cảm cũng không thể vượt ông ta. Khổng Tử đề xướng đạo nhân ái, nhưng tại cuộc gặp Tề – Lỗ, hăng hái dũng cảm giữa hai vua, đánh bại sự khiêu khích của nước Tề, giữ được uy nghiêm cho Lỗ vương, day là ví dụ về dũng lấy cương giúp nhu. Lận Tương Như phụng mệnh đi sứ Tần, nộp ngọc quý về Triều, không khuất phục trước uy vũ, song ông nhường xe với Liêm Pha, chiếu cố đến toàn cục, đạo nghĩa đều coi trọng, đây là ví dụ về nghĩa lấy nhu để giúp cương. Cho nên cương lấy nhu tương trợ, nhu lấy cương tương trợ, cương nhu cùng giúp lẫn nhau, mới có thể có lý, có tiết tháo, có lợi, trở thành nhân vật có bàn tay sắt về chính trị.

Song, xử lý quan hệ giữa người với người, các chính trị gia thời xưa phần nhiều quý nhu, coi trọng khoan (khoan dung), nhu có thể tiếp nhận được vật chất, khoan dung có thể dung nạp được mọi người, đây là triết học xử thế của các chính trị gia phong kiến, họ bị bức ép giữa sự cường bạo của vua chúa và lời gièm pha của bọn gian thần, không thể không làm người như thế.  

8. Không nên dễ dàng bộc lộ ý đồ chân thực

Rất nhiều việc trong xã hội làm cho người còn non nớt, người ấu trĩ nói chung không thể tưởng tượng nổi, nhưng thực ra lại rất bình thường. Ví như về bản lĩnh có người thể hiện không có bản lĩnh, về ý đồ có người chính là không để cho người khác biệt họ có ý đồ gì. Mà những người như thế chưa hẳn là thật sự không có tài năng, phải nói đây là một tài năng càng đặc biệt: biết che giấu ý đồ thực của mình.  

So sánh việc này một chút, những người thẳng thừng hùng hổ hăm dọa người, có thể đứng không vững, thậm chí khó mà giữ được mình, cũng rất khó nói đây là biểu hiện của tài năng và trí tuệ, còn về hoài bảo lớn lao thì lại càng không thể bàn đến nữa.

Thời Hán Vũ đế, kinh tế phồn vinh, chính trị ổn định, thực lực quốc gia lớn mạnh, cộng thêm với tài ba lỗi lạc của bản thân ông không cam chịu cố giữ những luật lệ có sẵn của tổ tông. Thế là dưới sự chỉ huy của ông, chính sách đối nội, đối ngoại đã thay đổi rất nhiều. Song, các Thừa tướng với tư cách là trọng thần phụ chính, phần nhiều đều lấy các hầu kế tự, Hán Vũ đế tài cáo chí lớn không thể vừa lòng, cho nên trong một đời ông đã giết hơn 10 thừa tướng. Vào năm Nguyên Sóc thứ 5 (năm 124 trước công nguyên) Hán Vũ đế đã chọn trúng Công Tôn Hoằng, người không xuất thân tứ quý tộc, làm Thừa tướng.

Vị Công Tôn Hoằng này không có nguồn gốc gia thế, trong tình huống Hán Vũ đế mắng giết đại thần, có thể giữ nổi vị trí Thừa tướng, suốt đối với chức này, có thể gọi là người biết sâu đạo làm Thừa tướng.  

Công Tôn Hoằng là người Tiết, Tri Xuyên (nay là Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), khi trẻ làm quan coi ngục, vì có tội bị bãi chức. Hơn 40 tuổi mới bắt đầu học tập thuyết Xuân Thu, 60 tuổi mới được gọi do có tài văn chương, được làm Thái thượng tiến sĩ.

Nhưng, khi phụng mệnh đi sứ Hung Nô về, không hợp ý của Hán Vũ đế, cho là ông không có năng lực, Công Tôn Hoằng đành cáo bệnh về quê. Đến khi 70 tuổi, ông lại một lần nữa ứng cử «hiền lương văn sĩ» (người có tài về văn học) được Hán Vũ đế chọn là người đỗ đầu lại được làm Thái thượng tiến sĩ một lần nữa. Do dâng sớ hợp ý chỉ trong một năm liền được thăng làm Tả nội sư. Không lâu vì «thủ hiếu» 3 năm cho mẹ kế, khi trở lại vẫn nhận chức Nội sử, rất nhanh được thăng làm Ngự sử đại phu, được ngồi vào chức Phó thừa tướng, năm đó là 74 tuổi.

Hai năm sau, ông được thăng làm Thừa tướng và được phong là Bình Tân hầu, mở ra tiền lệ thừa tướng được phong chức hầu. Công Tôn Hoằng trong thời gian 6 năm (trừ đi 3 cũng có đạo làm quan của ông).  

Trước hết, Công Tôn Hoằng rất giỏi quan sát phán đoán được ý của nhà vua, xưa nay không bộc lộ ý đồ chân thực của mình. «Mỗi lần hội nghị trong triều, bắt đầu trình bày các công việc, để cho nhà vua tự chọn, không hề chỉ trích ngay trước mặt và tranh luận ngay ở triều đình». Có việc không thể không bàn, ông thường xúi bẩy người khác tâu lên, mình từ bên cạnh quan sát khuynh hướng của nhà vua, sau khi biết được khuynh hướng của vua, mình lại tâu lên những lời đồng tình bàn việc đó, do vậy thường được lòng của nhà vua. Khi bàn bạc việc nước với các công khanh, vốn ông đã tán thành ý kiến của mọi người, nhưng khi đến trước mặt vua, «đều làm ngược với lời hứa để thuận theo ý chỉ của vua». Công Tôn Hoằng cho rằng: «Bệnh của nhà vua là không rộng rãi, bệnh của bầy tôi là không tiết kiệm». Cho nên tự ông thực hành tiết kiệm, mặc dù mình ở địa vị cao, nhưng vẫn «áo vải cơm rau», phu nhân tự mình làm việc, vẫn là dáng vẻ của một nho sinh nghèo. Sách sử gọi ông là «ông làm việc cẩn thận sâu sắc, khả năng biện luận có thừa, thông thạo văn thư pháp lệnh và công việc chung, có duyên che giấu bằng Nho thuật», do đó được lòng Hán Vũ đế.  

Hai là, Công Tôn Hoằng giỏi phát hiện trong «quần thần» ai có lợi đối với mình, ai có hại đối với mình. Bất kể lợi hại, ông đều có thể chung sống ôn hòa và thân thiện với họ, nhưng trong lòng biết rõ họ có thể uy hiếp mình hay không, đối với người không có lợi cho mình, luôn có thể không lộ tiếng nói và sắc mặt trừ bỏ họ luôn. Chính vì thế ông mới giành được tiếng là «nho nhã».

Ba là, Công Tôn Hoằng biết rất rõ tâm lý của ông vua và các bầy tôi, có thể dùng mưu lược mà người khác khó phát hiện, nhiều lần làm cho mình chuyển nguy thành an. Ví dụ như Chủ tước Đô úy Cấp Ảm đã từng công kích ông trước Hán Vũ đế: «Công Tôn Hoằng ngồi vị ở Tam công, được hưởng lộc rất nhiều, song lại đắp chăn vải, việc này phải chăng là lừa bịp?». Khi Hán Vũ đế hỏi đến việc này, Công Tôn Hoằng thật ra không né tránh. Trước tiên nói Cấp Ảm thành bạn đồng liêu tốt nhất của mình, sau đó nói rõ đầu đuôi: «Là Tam công mà đắp chăn vải, quả thật là thần muốn theo đuổi một chút thanh danh», liền nêu ra ví dụ Quản Trọng và Yến Tử tuy xa xỉ và tiết kiệm khác nhau, nhưng đều là mưu tính sự lớn mạnh cho quân vương, để ví mình là dốc lòng vào công việc. Sau đó nói: «Nay Công Tôn Hoằng thần đã ở chức vị là Ngự sử Đại phu mà lại đắp chăn vải chẳng khắc những người từ Cửu Khanh trở xuống đến tận Hạ lại, đúng như lời Cấp Ảm thì làm sao Bệ hạ có thể nghe được những lời nói thực đó?». Vừa không có lỗi với Cấp Ảm, lại làm cho Vũ đế vui lòng, đồng thời còn ngầm biểu thị Cấp Ảm ghen người hiền, ghét người tài, có thể gọi là «một hòn đá ném được ba con chim». Từ đó ta thấy trí thuật của Công Tôn Hoằng rất sâu xa.

Sách sử gọi Công Tôn Hoằng «Tính cách đố kỵ, bên ngoài tỏ ra rộng rãi, bên trong thâm sâu. Giữa Chư Thưởng và Công Tôn Hoằng có chỗ rạn nứt không lớn lắm, mặc dù đã bộc lộ ra và giải quyết tốt đẹp, nhưng về sau lại đưa lỗi ra».  

Bây giờ nêu ra ba ví dụ về việc hai Cấp Ảm, Chủ Phụ Yển và Đổng Trọng Thư.  

Cấp Ảm tự Trường Nhụ, gia thế là Khanh đại phu. «Là người tính kiêu ngạo, thiếu lễ độ, trở mặt, không thể dung thứ lỗi lầm của người khác. Người hợp với mình thì đối đãi tốt, người không hợp thì không thèm nhìn mặt». Vì đi theo Hán Vũ đế từ rất sớm, nên Hán Vũ đế rất có cảm tình tốt với ông, coi kính trọng ông. Khi Công Tôn Hoằng làm Thừa tướng, ông làm Ngự sử Đại phụ. Chính vì ông không thể khoan dung lời của người khác, cho nên ông rất có ác cảm đối với thái độ «giả vờ là có trí tuệ để nịnh lấy lòng vua» của Công Tôn Hoằng, đã nhiều lần công kích Công Tôn Hoằng. Cấp Ảm là trọng thần tín nhiệm của Vũ đế, nếu muốn loại bỏ ông ta là một việc không dễ dàng. Qua suy nghĩ kỹ càng, Công Tôn Hoằng lấy việc «Trong giới bộ Hữu nội sử (Phù phong quận) có nhiều quý thần, tôn thất, khó quản lý nếu không có trọng thần thuần phác thì không thể phụ trách được» làm danh nghĩa, xin chỉ thị của Vũ đế để Cấp Ảm đạm nhận chức này. Đây là «giương đông kích tây», về danh nghĩa là suy tôn, nhưng kỳ thực là hại ông ta.  

Quả nhiên, Cấp Ảm làm Hữu nội sử mới vài tháng liền «phạm pháp nhỏ, được tha nhưng bị cách chức quan. Thế là Cấp Ảm về ẩn chốn điền viên mấy năm». Cho mãi đến khi Công Tôn Hoằng mất, mới trở lại làm quan, nhưng đã khác hẳn.

Chủ Phụ Yển là người Lâm Tri, nước Tề (nay nằm trong huyện Ích Đô, Sơn Đông). Bằng việc dâng thư bàn công việc trúng ý Vũ đế, trong năm bốn lần thay đổi chức quan của ông, làm cho trong ngoài triều đều trố mắt nhìn, «các đại thần đều sợ cái miệng ông ta». Công Tôn Hoằng cũng phải chịu cái khó đó. Nhưng Chủ Phụ Yển là trung đại phu, vị trí ở trong triều, «sớm tối bên cạnh vua», Công Tôn Hoằng không có được cơ hội trả đũa. Về sau Chủ Phụ Yển nói đến Tề vương có hành vi dâm dật, Công Tôn Hoằng liền mượn cơ hội đó tiến cử Chủ Phụ Yển làm Tướng quốc nước Tề.

Trung đại phu là quan lương 600 thạch, Tướng quốc là 2.000 thạch, lên vượt cấp, Chủ Phụ Yển thật là đắc ý. Đến nước Tề, «lần lượt triệu Côn Đệ và Tân Khách, phân phát 500 lạng vàng cho họ, quở trách nói: «Mới đầu khi ta nghèo, Côn Đệ không cho ta ăn mặc, Tân Khách không cho ta ở trong nhà, nay ta là Tướng quốc nước Tề, các ông đón ta có lẽ từ ngàn dặm. Ta và các ông tuyệt giao rồi, đừng vào lại cửa của Yển này nữa!». Thật là một dáng vẻ thế lớn át người, không biết họa lớn sẽ bắt đầu đến ngay khi ông ta di chuyển nhận chức. Chủ Phụ Yển ra ngoài làm quan, chính là kế «giương đông kích tây» của Công Tôn Hoằng».

Bởi vì Chủ Phụ Yển ở bên cạnh Vũ đế, không tiện dâng lời, bây giờ Công Tôn Hoằng đã có cơ hội bẩm báo. Về sau gặp Triệu vương dâng thư tố cáo Chủ Phụ Yển nhận vàng của chư hầu, Công Tôn Hoằng đã có cơ hội trả đũa, lấy danh nghĩa là «Yển vốn là người xấu nhất, không chu diệt Yển thì không tạ được thiên hạ» đã buộc Vũ đế phải hạ lệnh giết cả họ nhà Chủ Phụ Yển.

Đổng Trọng Thư là nhà Nho lớn nổi tiếng, do ông kiến nghị «bãi bỏ» «bách gia», duy nhất tôn «Nho thuật» được Hán Vũ đế bằng lòng, dùng tư tưởng Nho gia làm tư tưởng thống trị, trở thành chính sách các đời về sau theo đuổi không đổi, cho nên tiếng tăm rất lớn. Đổng Trọng Thư là người liêm trực,  «tiến thoái, dung mạo, cử chỉ không lễ phép là không làm, các học sĩ đều tôn ông là bậc thầy». Lúc bấy giờ là danh nho, con người như thế đương nhiên là coi thường những việc làm của Công Tôn Hoằng, không tránh có chỗ bàn tán. Có danh tiếng đương thời lại có bàn tán, Công Tôn Hoằng đương nhiên trong lòng hờn ghen, từ đó sinh ra âm mưu trả đũa.

Lúc đó Giao Tây vương là anh của Vũ đế, vô cùng kiêu căng phóng túng, những người làm Tướng quốc ở chỗ ông ta phần nhiều đều bị ông ta tìm kế hãm hại, cho nên Tướng quốc ở đó là chức vụ vô cùng nguy hiểm. Đúng vào lúc ở đó đang thiếu, Công Tôn Hoằng liền tiến cử Đổng Trọng Thư bổ sung làm chức này. Lúc đó Đổng Trọng Thư cũng đang là Trung Đại phu lương 600 thạch, vinh dự thăng lên chức Tướng quốc 2.000 thạch, phai là một vẻ vang rất lớn. Nhưng Đổng Trọng Thư không phai là Chủ Phụ Yển, đầu óc của ông ta tương đối tỉnh táo và không lưu luyến với lợi lộc, nên cáo có bệnh xin về nhà để «sửa sang việc học và viết sách». Từ đó bảo toàn được mình và tránh được tai nạn.

Từ trên ta có thể thấy thủ đoạn của Công Tôn Hoằng khi mưu khử đối thủ chính trị. Ông ta thường cất nhắc và tôn sùng đối thủ chính trị làm cho đối thủ và cả những người ngoài cho rằng ông ta rất có bản lĩnh, không mang trong lòng oán hận nhỏ. Trên thực tế chính là ông ta biết tránh chỗ mạnh của đối thủ chính trị, biết làm cho nó trở nên yếu, rồi nhân chỗ yếu đó mà trừ khử họ. Ông ta thật sự là một tay ghê gớm sành sỏi trên quan trường, là người có mưu trí trong đấu tranh chính trị, là người có trí lớn mà tưởng như ngớ nghếch của kế giương đông kích tây, là người sử dụng thành thạo lấy tất nhiên làm ngẫu nhiên để tránh mà làm yếu kẻ địch.

               Mỗi người làm việc đều có ý đồ thực sự của mình. Nhưng để ngăn ngừa kẻ khác thọc tay vào hoặc là đề phòng kẻ tiểu nhân phá hoại, không thể không tìm cách che giấu ý đồ thực của mình, tạo cho người khác cảnh tượng giả, thật ra không phải là việc xấu, việc này với tình bạn và tình yêu là hai khái niệm khác nhau.

               Dù trong chuyện yêu đương, một đôi trai gái yêu nhau, cũng đều có thể trăm phương ngàn kế che giấu cách nghĩ chân thực của mình, để giành chủ động, thử thăm dò đối phương.

               Ví dụ như, bên nữ rõ ràng rất thích bên nam, lại cố ý nói: «Em ghét anh!». Lại ví dụ như trong thời gian hẹn gặp đã nói rõ ràng đâu vào đấy, bên nam đã đến sớm một tiếng đồng hồ hoặc nửa tiếng đồng hồ, nhưng sau khi gặp bên nữ, lại nói: «Anh vừa mới đến, phải chăng đã đến muộn rồi?».

               Còn về phía anh ta biết rằng, khi anh ta hết sức nóng lòng chờ đợi, cô ta đang nấp ở phía sau gốc cây, quan sát từng cử động của anh ta.  

               Nói chuyện yêu đương cần phải che giấu mình, các mặt khác của việc đối nhân xử thế cũng cần phải như thế. Người không biết che giấu mình, sẽ không thể sống tự nhiên.  

               9. Hãy làm một lần «phạm lỗi»

               Trong nhiều tình huống chữ «vụng trộm» đều có liên quan với những hành vì xấu, ví dụ như tên trộm, trộm cắp, yêu nhau vụng trộm v.v... cho nên người ta đối với những gì liên quan đến chữ «vụng trộm» thường không tôn trọng.  

               Về logic học, nếu như đánh tráo khái niệm, đó là phạm «sai lầm» là hành vi ngôn ngữ «không vẻ vang». Nhưng từ khía cạnh hài hước đưa vào để bàn vấn đề này, thì có thể «sửa lại kết luận sai và rửa sạch hết oan uổng» cho «vụng trộm».

               Bởi vì trong cuộc sống chúng ta từng trải qua, không thiếu những ví dụ cố ý đánh tráo khái niệm, từ đó sinh ra yếu tố hài hước. Đánh tráo khái niệm, nguyên tắc hài hước này có liên quan với logic, nhưng phải học hiểu logic trước, sau mới tạo ra yếu tố hài hước.

Hài hước là một phương pháp tư duy tình cảm, có một số người tính hài hước rất cao như là bẩm sinh không cần đi sâu nghiên cứu tìm tòi cũng có thể nắm được một cách tự phát. Ở đây chúng ta chỉ là tiến hành thảo luận về lý thuyết đối với nguyên tắc này.

Khái niệm đánh tráo là biểu hiện đặc biệt của hài hước. Trong diễn đạt ngôn ngữ thông thường của người ta, có một yêu cầu cơ bản là hàm nghĩa của khái niệm phải rõ ràng, quyết không thể mơ hồ, càng không thể chỉ đông nói tây.

Bằng không sẽ có thể biến thành nói năng lộn xộn, nghĩ một đằng nói một nẻo, đây là việc kiêng kỵ nhất của việc giao tiếp ngôn ngữ. Nhưng tư duy hài hước sẽ khác nhau, nó là cố ý «phạm lỗi», là biến đổi ngôn ngữ sinh ra sau khi dùng yếu tố tình cảm can thiệp vào.

               Trong hoàn cảnh nhất định, khái niệm đánh tráo đã biểu hiện nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, sự tinh nhanh của ngôn ngữ.  

               Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật thắng lợi, Đại sư quốc họa nổi tiếng Trương Đại Thiên phải từ Thượng Hải trở về quê nhà Tứ Xuyên. Các học sinh của ông bày tiệc đưa tiễn ông, mời nhà nghệ thuật Kinh dịch nổi tiếng Mai Lan Phương và các bậc danh lưu xã hội cùng dự.

               Bữa tiệc bắt đầu, Trương Đại Thiên chúc rượu Mai Lan Phương nói: «Mai tiên sinh, ông là quân tử, tôi là tiểu nhân. Tôi mời ông một cốc rượu trước».  

               Mai Lan Phương không rõ ý của ông, các quan khách khác cũng không hiểu sao cả.  

               Trương Đại Thiên miệng tươi cười giải thích nói: «Ông là quân tử – hát kịch thì miệng cử động, tôi là tiểu nhân – họa tranh thì tay cử động». Một câu nói gây được cả hội tiệc cười mãi không thôi.  

               Giữa những người quen thuộc nói một chuyện vui là việc bình thường. Nhưng chuyện cười mở đầu ra sao, là tục tĩu, là lịch sự, trong đó rất cần có học vấn.

               Hài hước là sự biến hóa bên ngoài của trí tuệ, là sự bùng nổ của linh cảm. Kháng chiến thắng lợi, ai mà không vui? Từ ngàn dặm trở về quê nhà, ai mà không vui? Trương Đại Thiên vui vẻ thừa hứng đưa ra một câu «ông là quân tử, tôi là tiểu nhân», mọi người không biết «trong bầu đựng là loại thuốc gì» mà đều bị «đánh lừa». Hiệu quả của trò «lừa» này rất tuyệt, không có trò «lừa» này, thì chẳng có hài hước đáng nói nữa. Bị «lừa» rồi thì phải hỏi rõ ràng, phải có giải thích rõ ràng, mọi người đều sinh ra tâm lý chờ đợi, tìm được ý ẩn ý ở trong câu nói.

               Thế là, Trương Đại Thiên về ngôn ngữ đã giở một ngón: «Ông là quân tử – hát kịch thì miệng cử động, tôi là tiểu nhân – họa tranh thì tay cử động».

               Trương Đại Thiên cố ý đánh tráo khái niệm đem chữ «miệng cử động» giải thích thành hát kịch, đem chữ «tay cử động» giải thích thành họa tranh, có được sự cấu kết ngấm ngầm này, câu nói trên của ông «ông là quân tử, tôi là tiểu nhân» liền được giải thích đầy đủ.

               Bởi vì Trương Đại Thiên đem nội dung của khái niệm im hơi lặng tiếng đã chuyện đổi ở mức độ lớn, cho nên chú ý tâm lý của mọi người cũng theo đó thay đổi đột nhiên, mọi tâm lý của mọi người bị kinh hãi ngoài ý muốn, thu được phát hiện ngoài ý muốn. Việc «đánh tráo» này của Trương Đại Thiên tiên sinh làm rất ngấm ngầm, hành động rất nhanh nhẹn, bầu không khí hài hước tạo nên càng đậm đà.

               Đúng như ở trên chúng ta đã nói khái niệm đánh tráo phải có thể hiện ra sự tinh nhanh, ngoa ngôn kỳ diệu và tình thú, có thể làm cho mọi người sau khi tâm lý chờ đợi bị mất, đột nhiên giành được sự phát hiện và thỏa mãn bất ngờ.

               Một lần, thầy giáo địa lý lên lớp, yêu cầu học sinh phải mang theo mô hình quả đất, nhưng có một học sinh không biết vì nguyên nhân gì không mang đến. Các học sinh khác tới tấp xoay mô hình quả đất để tìm vị trí địa lý thầy giáo nêu ra, cậu ta đành chịu ngồi. Thầy giáo muốn làm khó dễ cho cậu ta, đột nhiên gọi cậu ta đứng lên trả lời câu hỏi.  

               Thầy giáo hỏi: «Sông Amazon ở đâu?».  

               Cậu học sinh kia cúi đầu, không nói gì cả.  

               Thầy giáo hỏi: «Vì sao em không đem mô hình quả đất? Em chỉ cúi đầu để nhìn cái gì?».

               Cậu học sinh kia liền trả lời: «Thưa thầy quả đất em mang đến rồi, nó đang đứng dưới chân em. Em đang cúi đầu tìm sông Amazon, nhưng nó lớn quá, em nhìn không thấy sông Amazon ở đâu».  

               Cậu học sinh này thật là có tài hài hước. Cậu ta không mang mô hình quả đất, không tỏ ra lúng túng. Thầy giáo nêu câu hỏi, cậu ta không trả lời được cũng không tỏ ra căng thẳng. Thầy giáo muốn gây khó dễ cho cậu ta, cậu ta lại bất ngờ chuyển bại thành thắng thầy giáo.

               Vũ khí mà cậu ta sử dụng chính là «khái niệm đánh tráo». Cậu ta đem «mô hình quả đất» đánh tráo thành «quả đất» khéo léo đem những câu hỏi của thầy giáo làm đệm lót hài hước của mình, đã thành công nhờ sáng tạo ra một chuyện hài hước.  

               Gặp sự việc này, chắc chắn thầy giáo không thể quở trách lời cậu ta không mang mô hình quả đất nữa, còn có thể nói vui rằng: Cậu ta còn rất giỏi giang nữa, tôi dạy các học sinh xem quả đất từ mô hình, còn cậu ta lại đứng trên quả đất nhìn quả đất, tương lai chưa biết chừng sẽ có thể trở thành một nhà địa lý giàu tinh thần thực tiễn!

               Khái niệm đánh tráo đã phá bỏ thường lệ cứng nhắc của vận hành logic, làm cho khái niệm phát sinh liên hệ trên mục nghĩa «như thật mà lại giả», giữa các khái niệm vốn không có liên quan, đã mở ra một đường thông, tạo nên sự kỳ thú của hài hước.

« Lùi
Tiến »