Cánh đồng hoang vu (Hắc Ám Tháp 3)

Lượt đọc: 60 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương năm
Cầu dây văng và thành phố (1)

❊ ❊ ❊

1

Ba ngày sau, họ bắt gặp xác một chiếc máy bay rơi.

Vào tầm giữa trưa, Jack là người đầu tiên chú ý đến một vệt sáng trắng cách đó khoảng mười dặm, trông như thể có một tấm gương đang giấu trong bụi cỏ. Khi họ đến gần, mọi người đều nhìn thấy một vật thể khổng lồ màu đen nằm ngay bên vệ đường.

"Thứ đó trông như một con chim chết," Roland nói, "cỡ rất lớn."

"Chẳng phải chim chóc gì cả," Eddie nói. "Đó là một chiếc máy bay, tôi chắc chắn vệt sáng trắng đó chẳng qua là ánh mặt trời phản chiếu trên nắp buồng lái mà thôi."

Họ mất thêm một giờ nữa mới đi bộ đến sát xác máy bay. Không ai nói lời nào, chỉ lặng lẽ nhìn đống đổ nát cổ xưa ấy. Trên thân máy bay đầy vết nứt có ba con quạ béo mầm đang đậu, chúng kiêu ngạo nhìn chằm chằm vào đám người xa lạ. Jack nhặt một hòn đá bên đường ném về phía lũ quạ, chúng bị chọc giận, kêu quang quác rồi kéo cái thân hình nặng nề bay vút lên không trung.

Một cánh máy bay đã lìa khỏi thân khi rơi xuống, nằm cách đó ba mươi thước, trông như một tấm ván nhảy cắm ngược xuống đám cỏ dài. Những phần còn lại của chiếc máy bay vẫn khá nguyên vẹn. Trên nắp buồng lái có một vết nứt hình ngôi sao, đoán chừng lúc đó đầu viên phi công đã đập mạnh vào đó, bên cạnh còn có một vết hoen gỉ rất lớn.

Ba cánh quạt gỉ sét chĩa ra từ bụi cỏ, Oy chậm rãi tiến lại gần, ngửi ngửi một hồi rồi vội vã quay trở lại bên cạnh Jack.

Trong buồng lái là một xác ướp đã khô quắt, mặc chiếc áo khoác da lót bông, đầu đội một chiếc mũ bảo hiểm gắn miếng kim loại nhô lên ở đỉnh. Đôi môi đã thối rữa, hàm răng nhe ra như dáng vẻ của một tiếng thét tuyệt vọng trước khi chết, những ngón tay từng to như xúc xích giờ chỉ còn là bộ xương bọc da, buông thõng trên vô lăng. Roland nhìn thấy hộp sọ của người đó mắc kẹt trên nắp buồng lái, đoán rằng lớp gỉ xanh xám phủ trên mặt bên trái chính là phần não bộ phun ra. Đầu người chết ngửa ra sau, như thể trong khoảnh khắc trước khi chết, anh ta vẫn tin mình có thể trở lại bầu trời xanh. Cánh máy bay còn lại cắm trong đám cỏ rậm rạp, trên đó vẫn còn một huy hiệu đã phai màu, là hình một nắm đấm đang nắm chặt tia chớp.

"Xem ra dì Theresa đã sai, ngược lại gã anh em bị bạch tạng kia mới nói đúng," Susannah cảm thán. "Đây chắc chắn là vị hoàng tử lưu vong David Quick. Nhìn kích cỡ của anh ta mà xem, Roland — chắc chắn phải bôi một lớp dầu lên người mới nhét vừa vào buồng lái này."

Roland gật đầu. Nhiệt độ cao quanh năm đã biến gã khổng lồ trong con chim sắt này thành một bộ khung xương bọc da khô, nhưng ông vẫn có thể nhận ra đôi vai ban đầu rộng đến mức nào, cái đầu biến dạng kia to ra sao. "Ngài Perth đã ngã xuống như vậy," ông nói, "đất đai rung chuyển, gầm vang theo đó."

Jack nhìn ông với vẻ khó hiểu.

"Đây là một bài thơ cổ. Ngài Perth là một gã khổng lồ, ông ta đang định dẫn theo một ngàn người xuất chinh. Nhưng trước khi rời khỏi đất nước mình, một cậu bé đã ném một hòn đá về phía ông ta, vừa vặn trúng đầu gối. Thân hình ông ta chao đảo, trọng lượng của bộ giáp khiến ông ta mất thăng bằng, kết quả là ngã xuống và gãy cổ."

Jack nói, "Giống như câu chuyện về người chăn cừu David và gã khổng lồ Goliath của chúng tôi vậy."

"Ở đây không có dấu vết của hỏa hoạn," Eddie nói. "Tôi cá là chỉ vì hết nhiên liệu, anh ta định hạ cánh kiểu lướt thôi. Anh ta có thể đúng là một kẻ đào tẩu hoang dã, nhưng tuyệt đối rất gan dạ."

Roland gật đầu, nhìn về phía Jack. "Cháu vẫn ổn chứ?"

"Tất nhiên. Nếu gã này, ông xem, chưa khô quắt lại thì có lẽ cháu không chịu nổi đâu." Jack rời mắt khỏi xác chết trong buồng lái, nhìn về phía thành phố xa xa. Giờ đây thành phố Lud đã gần hơn và rõ ràng hơn, mặc dù họ thấy nhiều cửa sổ trên tháp cao đã vỡ vụn, nhưng cậu, cũng giống như Eddie, vẫn chưa hoàn toàn từ bỏ hy vọng tìm thấy sự giúp đỡ ở đó. "Cháu cá là sau cái chết này của anh ta, trong thành phố chắc đã loạn cả lên rồi."

"Ta nghĩ cháu nói đúng," Roland nói.

"Ông biết được những gì?" Jack lại bắt đầu nghiên cứu chiếc máy bay. "Người xây dựng thành phố có lẽ có thể tự chế tạo máy bay, nhưng chiếc này chắc chắn đến từ thế giới của chúng cháu, cháu rất chắc chắn. Hồi lớp năm cháu từng viết một bài luận về không chiến, đoán chừng cháu có thể nhận ra chiếc máy bay này. Roland, cháu lại gần xem chút được không?"

Roland gật đầu. "Ta đi cùng cháu."

Họ tiến về phía xác máy bay, đám cỏ dài quét sột soạt trên ống quần. "Nhìn này," Jack nói. "Thấy khẩu súng máy dưới cánh không? Đó là mẫu Focke-Wulf của Đức dùng bộ ngưng tụ không khí, sản xuất trước Thế chiến thứ hai. Cháu chắc chắn là vậy. Nhưng tại sao nó lại ở đây?"

"Rất nhiều máy bay từng biến mất," Eddie giải thích. "Ví dụ như Tam giác Bermuda, đó là một vùng biển ở thế giới của chúng tôi, Roland, là một nơi không lành. Có lẽ đó chính là đường dẫn giữa hai thế giới — loại đường dẫn hầu như không bao giờ đóng lại." Eddie so vai, bắt chước một cách vụng về Rod Serling. "Thắt chặt dây an toàn, sắp có nhiễu động dòng khí rồi: Bạn đang tiến vào... Khu vực Roland!"

Jack và Roland đứng dưới cánh máy bay còn sót lại, hoàn toàn không để ý đến anh.

"Bế cháu lên đi, Roland."

Roland lắc đầu. "Cái cánh đó trông có vẻ chắc chắn, nhưng có lẽ không phải vậy — thứ này đã ở đây quá lâu rồi, Jack. Cháu sẽ ngã đấy."

"Vậy để cháu đứng lên đó."

Eddie nói, "Để tôi làm cho, Roland."

Roland nhìn bàn tay phải tàn tật của mình một lúc, nhún vai, sau đó đan hai tay vào nhau, tạo thành một cái bàn đạp. "Thế này chắc được. Nó không nặng đâu."

Jack cởi đôi giày da hươu, nhẹ nhàng bước lên bàn đạp bằng đôi tay của Roland. Phía sau vang lên tiếng kêu oăng oẳng của Oy, dù Roland không biết là vì phấn khích hay cảnh báo.

Ngực Jack dán chặt vào một cánh tà máy bay gỉ sét, biểu tượng nắm đấm tia chớp đang ở ngay trước mắt, một bên đã hơi bong ra. Cậu nắm lấy cánh tà, dùng sức kéo mạnh, kết quả là biểu tượng rơi ra rất dễ dàng, nếu không nhờ Eddie đứng phía sau kịp thời đỡ lấy mông cậu, thì cậu đã suýt ngã nhào.

"Cháu biết mà," Jack nói. Dưới biểu tượng nắm đấm tia chớp còn giấu một thứ khác, giờ đã lộ ra gần như hoàn toàn. Lại là một biểu tượng Đức Quốc xã. "Cháu chỉ muốn tận mắt nhìn thấy thôi: giờ ông đặt cháu xuống đi."

Họ lại lên đường, nhưng suốt cả buổi chiều, mỗi lần ngoảnh lại họ đều có thể nhìn thấy phần đuôi máy bay đứng sừng sững trong đám cỏ rậm rạp, giống như bia mộ của ngài Perth vậy.

2

Tối hôm đó đến lượt Jack nhóm lửa. Sau khi đống củi đã được xếp vừa ý tay súng, Roland đưa cho Jack đá lửa của mình. "Xem cháu làm thế nào nào."

Eddie và Susannah ôm eo nhau thân mật, ngồi ở phía bên kia. Lúc trời gần tối, Eddie tìm thấy một bông hoa nhỏ màu vàng tươi bên đường, liền hái cho cô. Tối nay bông hoa vàng được cài trên mái tóc Susannah, mỗi khi cô nhìn về phía Eddie, ánh mắt lại long lanh, khóe miệng mỉm cười. Roland chú ý đến tất cả những điều này, cảm thấy vui mừng từ tận đáy lòng. Tình yêu của họ ngày càng sâu đậm, ngày càng nồng nàn, điều này rất tốt. Muốn vượt qua những năm tháng gian khổ phía trước, tình yêu này phải đủ sâu sắc và kiên cường.

Jack đánh ra một tia lửa, nhưng còn cách củi khô vài phân.

"Đưa đá lửa lại gần một chút," Roland nói, "giữ chắc vào. Đừng đánh, Jack, phải là ma sát."

Jack thử lại lần nữa, lần này tia lửa rơi trúng đống củi, nhưng chỉ bốc lên một làn khói xanh chứ không có ngọn lửa nào bùng lên.

"Cháu nghĩ cháu không giỏi việc này lắm."

"Cháu sẽ giỏi thôi. Giờ thì, suy nghĩ kỹ xem: Thứ gì ban đêm mặc áo, ban ngày cởi áo?"

"Gì cơ?"

Roland di chuyển tay Jack lại gần đống củi. "Ta đoán trong sách của cháu không có câu này đâu nhỉ."

"Ồ, ông đang nói về câu đố!" Jack lại đánh ra một tia lửa, lần này đống củi nhảy ra vài đốm lửa nhỏ. "Ông cũng biết đố vui à?"

Roland gật đầu. "Không chỉ vài câu — mà là rất nhiều. Hồi nhỏ ta chắc chắn nhớ được một ngàn câu, đây là một phần trong việc học của ta."

"Thật ạ? Sao lại có người học đố vui cơ chứ?"

"Gia sư Vanne của ta từng nói, cậu bé biết giải đố cũng sẽ biết cách nhìn vấn đề từ một góc độ khác. Mỗi trưa thứ Sáu chúng ta đều tổ chức thi giải đố, người thắng sẽ được về nhà sớm."

"Vậy ông có bao giờ được về nhà sớm không, Roland?" Susannah hỏi.

Ông mỉm cười nhẹ, lắc đầu. "Ta rất thích giải đố, nhưng chưa bao giờ giải giỏi lắm. Vanne nói đó là vì ta suy nghĩ quá sâu, cha ta lại nói là vì ta thiếu trí tưởng tượng. Ta thấy cả hai đều đúng... nhưng ta nghĩ cha ta nói có lẽ chính xác hơn. Ta rút súng bao giờ cũng nhanh hơn đồng bạn, bắn cũng chuẩn hơn, nhưng ta chưa bao giờ đặc biệt giỏi trong việc nhìn vấn đề từ góc độ khác."

Susannah đã quan sát quá trình Roland đối phó với ông lão ở ngã ba sông, cô thấy tay súng đã đánh giá thấp bản thân, nhưng cô vẫn giữ im lặng.

"Đôi khi, vào những buổi tối mùa đông, đại sảnh sẽ tổ chức thi giải đố. Nếu chỉ có thanh thiếu niên tham gia, Alain luôn giành giải nhất. Khi người lớn cũng tham gia, quán quân luôn là Cort. Những câu đố ông ta quên còn nhiều hơn số câu chúng ta nhớ, mỗi lần kết thúc lễ hội giải đố, Cort luôn thắng một con ngỗng trắng mang về nhà. Câu đố ẩn chứa sức mạnh to lớn, ai cũng biết một hai câu."

"Ngay cả tôi cũng biết," Eddie nói. "Ví dụ nhé, một đứa trẻ sơ sinh chết rồi làm sao qua đường?"

"Câu này ngớ ngẩn quá, Eddie." Susannah cười mắng.

"Vì nó bị buộc vào một con gà!" Eddie hét lên đáp án, Jack lập tức cười lớn, làm đống củi trước mặt xáo trộn cả lên. Eddie thấy vậy, đắc ý cười lớn: "Ha, ha, ha! Tôi còn hàng ngàn câu đố như thế này nữa đấy, nhóc!"

Nhưng Roland không cười, thực tế trông ông có vẻ hơi khó chịu. "Xin thứ lỗi cho ta khi nói điều này, Eddie, nhưng điều đó thật sự rất ngu xuẩn."

"Chúa ơi, Roland, xin lỗi nhé." Eddie đáp. Nụ cười vẫn treo trên mặt, nhưng giọng điệu nghe có vẻ giận dữ. "Tôi luôn quên mất là khiếu hài hước của ông đã biến mất từ thời kỳ Thập tự chinh trẻ em rồi."

"Ta chỉ cảm thấy giải đố là một việc nghiêm túc, thầy giáo luôn bảo ta khả năng giải đố đại diện cho tư duy sáng suốt, lành mạnh."

"Nhưng chúng không bao giờ thay thế được Shakespeare hay phương trình bậc hai," Eddie phản bác. "Tôi chỉ nói là, đừng quá coi trọng nó."

Jack trầm ngâm nhìn Roland. "Cuốn sách của cháu nói câu đố là trò chơi cổ xưa nhất vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ý cháu là, ở thế giới của chúng cháu. Và trước đây giải đố thực sự là một việc rất nghiêm túc, không chỉ là đùa giỡn đâu. Người ta đôi khi vì nó mà mất mạng đấy."

Ánh mắt Roland hướng về phía bóng tối ngày càng đậm đặc. "Đúng vậy. Ta đã tận mắt nhìn thấy những chuyện như thế." Ông nhớ lại có một lần lễ hội giải đố không kết thúc bằng việc trao giải ngỗng trắng, mà kết quả biến thành một gã đàn ông mắt lác đội mũ gắn chuông bị đâm một nhát dao vào ngực, chết trên vũng bùn. Dao của Cort. Gã đó là một nghệ sĩ lưu diễn, cũng là một kẻ làm trò, lúc đó hắn muốn gian lận, muốn trộm cuốn sách trong túi trọng tài, trong sách có kẹp vỏ cây khắc đáp án.

"Được rồi, xin thứ... lỗi cho tôi." Eddie đáp.

Susannah quay sang Jack. "Chị quên mất cuốn sách đố vui em mang theo rồi. Giờ chị xem qua được không?"

"Tất nhiên, ở trong túi sách của cháu đấy. Chỉ là đáp án bị xé hết cả rồi. Có lẽ đó là lý do tại sao ông Tall tặng miễn phí cho cháu —"

"Ông ta tên là gì?" Roland ngắt lời hỏi.

"Ông Tall," Jack nói. "Kevin Tall. Cháu đã nhắc với ông chưa nhỉ?"

"Chưa." Roland chậm rãi buông vai Jack ra. "Nhưng giờ ta đã nghe thấy rồi, ta không ngạc nhiên chút nào."

Eddie mở túi sách của Jack, lục ra cuốn "Tổng tập câu đố", ném cho Susannah. "Cô biết không," anh nói, "tôi vẫn nghĩ câu đố về đứa trẻ sơ sinh kia thực ra không tệ. Có lẽ chẳng có khiếu thẩm mỹ gì, nhưng thực sự không tệ."

"Tôi không quan tâm đến khiếu thẩm mỹ," Roland nói. "Câu đố đó không có ý nghĩa, cũng chẳng có lời giải, điều đó đủ để nói nó ngu xuẩn. Một câu đố hay không bao giờ như vậy."

"Chúa ơi! Các người thật sự coi việc giải đố rất nghiêm túc, phải không?"

"Đúng!"

Cùng lúc đó Jack đã xếp lại đống củi, cẩn thận suy ngẫm về câu đố khơi nguồn cuộc tranh luận. Đột nhiên cậu cười lên. "Lửa. Đáp án là lửa, đúng không? Đêm mặc áo, ngày cởi áo. Nếu đổi 'mặc áo, cởi áo' thành 'nhóm lửa, tắt lửa' thì đơn giản quá."

"Đúng." Roland mỉm cười đáp lại Jack, nhưng ánh mắt vẫn nhìn chằm chằm vào Susannah, xem cô lật từng trang cuốn sách câu đố đã rách nát. Lông mày cô nhíu lại, thỉnh thoảng lại sờ lên bông hoa vàng trượt xuống từ mái tóc. Roland cảm thấy có lẽ chỉ mình cô nhận ra cuốn sách câu đố sắp tan tành này có lẽ quan trọng không kém gì cuốn "Đầu máy nhỏ Charlie"... có lẽ còn quan trọng hơn. Nghĩ đến đây, ánh mắt ông rời khỏi cô chuyển sang Eddie, những câu đố ngu xuẩn của Eddie lại làm ông khó chịu. Không may thay, chàng thanh niên này còn một điểm giống Cuthbert: Roland đôi khi có thôi thúc muốn lắc mạnh anh, lắc đến mức chảy máu mũi, rụng răng.

Dịu dàng, tay súng — dịu dàng! Trong đầu ông vang lên lời an ủi kèm chút ý cười của Cort, Roland quyết định gạt bỏ cảm xúc nhất thời, làm vậy cũng không khó lắm, nhất là khi ông nghĩ đến việc chính Eddie cũng không cách nào kiểm soát được những lời nói nhảm nhí thỉnh thoảng thốt ra. Tính cách, ít nhất là một phần tính cách, cũng do Ka quyết định. Roland cũng biết rõ đối với Eddie, những điều này không hoàn toàn là nói nhảm. Mỗi khi nghĩ như vậy, đoạn đối thoại đêm khuya ba ngày trước lại hiện lên trong tâm trí. Ông luôn nhớ Eddie cáo buộc rằng ông chỉ coi họ như những quân cờ trên bàn cờ của mình mà thôi. Điều này làm ông rất tức giận... nhưng lời nói đó lại gần với sự thật đến mức ông cảm thấy hổ thẹn.

Rất may, Eddie không hề hay biết về cuộc đấu tranh tư tưởng của Roland, anh chỉ hỏi: "Thứ gì màu xanh, nặng hàng trăm tấn, và sống dưới đáy biển?"

"Cháu biết," Jack nói. "Cá voi xanh lớn."

"Đồ ngốc." Roland lầm bầm.

"Phải rồi — nhưng đó mới là chỗ buồn cười chứ," Eddie biện hộ. "Câu đùa cũng có thể giúp ông nhìn vấn đề từ một góc độ khác. Ông xem này..." Anh nhìn sắc mặt Roland, cười gượng hai tiếng, buông thõng hai tay. "Thôi bỏ đi. Tôi từ bỏ. Ông căn bản sẽ không hiểu đâu. Một triệu năm cũng không. Chúng ta vẫn là xem cuốn sách chết tiệt này đi. Tôi thậm chí sẽ cố gắng trở nên nghiêm túc hơn một chút... nếu chúng ta có thể ăn chút bữa tối trước đã, ý tôi là."

"Xem tôi đây." Trên mặt tay súng thoáng hiện một nụ cười.

"Hả?"

"Ý là cháu thắng rồi."

Jack ma sát đá lửa với thanh thép qua lại, tia lửa cuối cùng cũng bắn ra, rốt cuộc đã nhóm được củi. Cậu hài lòng ngồi lại, một tay vòng qua cổ Oy, nhìn ngọn lửa lan rộng. Cậu rất hài lòng về bản thân, cậu vừa nhóm được lửa trại... và cậu đã đoán được câu đố của Roland.

3

"Cháu cũng nghĩ ra một câu," trong lúc ăn cuộn thịt Jack nói.

"Loại ngu xuẩn kia à?" Roland hỏi.

"Không. Câu đố thực thụ đấy."

"Vậy đố ta xem nào."

"Được. Thứ gì biết chạy nhưng không bao giờ đi, có miệng nhưng không bao giờ mở, có giường nhưng không bao giờ ngủ, có đầu nhưng không bao giờ rơi lệ?"

"Là một câu đố hay," Roland nhân từ nói, "nhưng đã cũ lắm rồi. Đáp án là dòng sông."

Jack hơi nản lòng. "Ông thật không dễ bị làm khó mà!"

Roland ném miếng cuộn thịt cuối cùng cho Oy, Oy vui vẻ đớp lấy. "Không phải ta. Ta là kẻ bại trận trong miệng Eddie đấy. Cháu gặp Alain rồi sẽ biết, sở thích sưu tầm câu đố của cậu ta còn hơn cả các bà vợ sưu tầm quạt nữa."

"Phải là kẻ bại trận dưới tay, anh bạn Roland." Eddie chỉnh lại.

"Cảm ơn. Giờ thử câu này: Thứ gì nằm trên giường lại đứng trên giường? / Trước là màu trắng sau là màu đỏ / Càng béo bà già càng vui?"

Eddie cười lớn. "Cơ quan sinh dục!" Anh hét lớn đáp án. "Đủ thô tục đấy, Roland! Nhưng tôi thích! Tôi thích!"

Roland lắc đầu. "Cháu đoán sai rồi. Một câu đố hay thường chơi chữ, giống như câu đố về con sông của Jack lúc nãy, nhưng nhiều lúc nó giống trò ảo thuật hơn, dẫn dụ cháu đi theo hướng hoàn toàn ngược lại."

"Nên có hai tầng nghĩa." Jack giải thích câu đố Samson mà Aaron Deepneau từng kể cho cậu. Roland gật đầu.

"Có phải dâu tây không?" Susannah hỏi, rồi tự hỏi tự đáp. "Tất nhiên là rồi. Nó giống như câu đố về ngọn lửa kia, bên trong ẩn chứa một ẩn dụ. Chỉ cần cháu hiểu ẩn dụ này là tìm được đáp án."

"Tôi dùng giới tính làm ẩn dụ, nhưng kết quả tôi nói ra là cô ấy tát tôi một cái, rồi bỏ đi không ngoảnh đầu lại." Eddie làm bộ đau khổ nói, nhưng không ai thèm để ý đến anh.

"Nếu anh đổi chữ 'biến' thành chữ 'lớn'," Susannah tiếp tục, "thì rất đơn giản. Trước là màu trắng sau là màu đỏ, càng lớn càng béo bà già càng thích." Nói xong trên mặt lộ vẻ đắc ý.

Roland gật đầu. "Đáp án ta biết là dâu tây, nhưng ta chắc chắn hai đáp án đều có ý nghĩa như nhau."

Eddie cầm cuốn "Tổng tập câu đố" lên lật xem. "Nghe câu này nhé, Roland? Khi nào một cánh cửa không phải là một cánh cửa?"

Roland nhíu mày. "Đây lại là trò đùa ngu xuẩn của anh phải không? Vì sự kiên nhẫn của ta —"

"Không. Tôi thề là tôi rất nghiêm túc, và — ít nhất là tôi đang cố gắng. Đây là câu đố trong sách, tôi chỉ tình cờ biết đáp án thôi. Hồi nhỏ tôi từng nghe qua."

Jack cũng biết đáp án, nháy mắt với Eddie, Eddie nháy lại. Oy cũng cố bắt chước, nhưng con thú này chỉ có thể nhắm cả hai mắt cùng lúc, thử mấy lần cuối cùng bỏ cuộc, làm cả bọn cười ngặt nghẽo.

Cùng lúc đó, Roland và Susannah đều đang suy nghĩ nát óc. "Chắc chắn liên quan đến tình yêu," Roland nói. "Một cánh cửa (a door), tôn thờ (adore). Khi nào tôn thờ không phải là tôn thờ... ừm..."

"Ừm." Oy cũng hừ hừ theo, nó bắt chước điệu bộ trầm tư của Roland giống y hệt. Eddie lại nháy mắt với Jack, Jack vội bịt miệng để khỏi cười thành tiếng.

"Có phải tình yêu giả tạo không?" Roland cuối cùng hỏi.

"Không."

"Cửa sổ." Susannah đột nhiên rất chắc chắn nói. "Khi nào một cánh cửa không phải là một cánh cửa? Khi nó là một cái cửa sổ."

"Sai." Giờ đây Eddie cười càng sảng khoái hơn, nhưng Jack thực sự rất ngạc nhiên trước đáp án quá đỗi xa vời của hai người. Đúng là ảo thuật, cậu nghĩ. Trong ảo thuật đều là những thứ rất bình thường, không có thảm bay, cũng không có voi biến mất, nhưng ảo thuật chính là ảo thuật. Việc họ đang làm — ngồi quanh đống lửa giải đố — đột nhiên trong mắt cậu được khoác lên một ý nghĩa hoàn toàn mới, họ giống như đang chơi trốn tìm, chỉ là bây giờ tấm bịt mắt được dệt bằng từ ngữ.

"Tôi từ bỏ." Susannah nói.

"Ta cũng từ bỏ." Roland nói. "Cho chúng ta biết đáp án đi."

"Đáp án là cái lọ (ajar). Cánh cửa không phải cánh cửa, khi nó khép hờ (ajar). Hiểu chưa?" Thần thái của Roland cho thấy ông dần hiểu ra. Eddie lúc này lo lắng hỏi, "Đây là một câu đố tồi phải không? Lần này tôi đã cố gắng nghiêm túc lắm rồi, Roland — thật đấy."

"Chẳng tệ chút nào. Ngược lại, còn khá hay ho đấy chứ. Roland chắc hẳn đoán ra được, ta tin là vậy... có lẽ Susannah cũng làm được, nhưng điều đó chẳng làm giảm đi chút tinh tế nào của câu đố cả. Ta vừa phạm phải sai lầm giống hệt lúc còn đi học: suy nghĩ quá phức tạp, rốt cuộc lại để tuột mất đáp án."

"Trong đó quả thực có ẩn ý, phải không?" Eddie trầm ngâm. Roland gật đầu, nhưng Eddie không trông thấy; anh đang nhìn chằm chằm vào sâu trong đống lửa, thấy hàng chục đóa hồng trong than củi bùng nở rồi tàn lụi.

Roland nói: "Việc cuối cùng, nói xong chúng ta sẽ đi ngủ, đó là từ tối nay trở đi chúng ta phải phân công canh gác. Eddie, cậu canh ca đầu, sau đó đến Susannah. Ta sẽ trực ca cuối."

"Còn con thì sao?" Jake hỏi.

"Sau này con cũng sẽ đến lượt. Bây giờ con ngủ ngon là quan trọng hơn."

"Ngài thực sự nghĩ rằng phân công trực đêm là cần thiết sao?" Susannah hỏi.

"Ta không biết. Và đó chính là lý do đầy đủ nhất. Jake, giúp chúng ta chọn một câu đố từ cuốn sách của con đi."

Eddie đưa "Tuyển tập câu đố" cho Jake, cậu lật từng trang, đến gần cuối sách thì đột nhiên dừng lại. "Oa! Câu này tuyệt đối có tính sát thương cao."

"Đọc nghe xem nào," Eddie nói. "Nếu tôi không đoán được, Susannah cũng sẽ đoán ra thôi. Hai chúng tôi chính là Eddie Dean lừng danh và nữ hoàng giải đố của anh ấy."

"Tối nay cả hai chúng ta đều rất thông minh, phải không?" Susannah nói. "Để xem sau khi anh đứng gác bên lề đường gần cả đêm thì còn thông minh được đến đâu, cưng à."

Jake đọc: "Một thứ gì đó chẳng là gì cả, nhưng lại có danh có phận. Nó khi cao khi thấp, cùng chúng ta trò chuyện, cùng chúng ta vận động, cùng chơi mọi trò chơi."

Họ thảo luận gần mười lăm phút, nhưng chẳng ai nắm bắt được lấy một tia cảm hứng.

"Có lẽ ngủ rồi sẽ mơ thấy đáp án," Jake nói. "Câu đố về dòng sông lúc trước chính là con mơ thấy đấy."

"Đúng là hàng rẻ tiền, đến đáp án cũng không có," Eddie vừa nói vừa đứng dậy. Anh kéo tấm chăn da thú khoác lên vai như một chiếc áo choàng.

"Ừ, đúng là rẻ thật. Ông Tall căn bản là cho không tôi mà."

"Tôi cần chú ý điều gì không, Roland?" Eddie hỏi.

Roland nhún vai, nằm xuống. "Ta cũng không biết, nhưng ta đoán khi cậu nhìn thấy hoặc nghe thấy, cậu sẽ tự khắc biết thôi."

"Khi nào anh bắt đầu thấy buồn ngủ thì gọi em dậy nhé," Susannah nói.

"Không vấn đề gì."

4

Bên lề đại lộ có một rãnh cỏ, Eddie khoác tấm chăn da ngồi cách xa rãnh cỏ đó. Đêm nay một dải mây mỏng che khuất bầu trời, các vì sao cũng trở nên ảm đạm. Gió tây thổi mạnh từng hồi, khi Eddie đối diện với hướng gió, anh có thể ngửi thấy rõ mùi của loài bò rừng thống trị vùng thảo nguyên này — mùi pha trộn giữa lông thú và phân nóng. Những tháng gần đây, các giác quan của anh ngày càng nhạy bén, điều này khiến anh rất ngạc nhiên... nhưng vào những khoảnh khắc như thế này, sự nhạy bén lại khiến anh cảm thấy có chút quái dị.

Thấp thoáng, anh nghe thấy tiếng kêu của một con bò rừng con.

Anh quay người hướng về phía thành phố, trong một thoáng, anh tưởng như nhìn thấy những đốm sáng — thứ mà anh em sinh đôi gọi là nến điện — nhưng anh biết rõ, có lẽ anh chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ là do bản thân quá mong cầu mà thôi.

Anh đã rời xa đường 42 rồi, cưng à — dù hy vọng luôn là một điều tốt, nhưng cũng đừng đặt quá nhiều hy vọng, nếu không sẽ quên mất một sự thật: anh đã rời xa đường 42 rồi. Phía trước căn bản không phải New York, bất kể anh khao khát đến nhường nào. Phía trước là Lud, và hoàn toàn không thể đoán trước được. Nếu anh khắc ghi điều này, có lẽ anh sẽ trụ lại được.

Phần lớn thời gian trực đêm trôi qua trong suy tư của anh về câu đố cuối cùng. Sự khắt khe của Roland đối với câu đố về đứa trẻ chết yểu khiến anh rất bức bối, nếu lúc trời sáng anh có thể đưa ra đáp án tuyệt vời thì hẳn sẽ rất vui. Tất nhiên họ không thể tìm thấy bất kỳ câu trả lời nào trong sách, nhưng anh đoán đáp án của một câu đố hay chắc chắn phải là điều hiển nhiên.

Khi cao khi thấp. Anh đoán câu này hẳn là mấu chốt, những phần khác chẳng qua chỉ là gây nhiễu. Thứ gì khi cao khi thấp? Quần à? Không đúng. Quần có khi dài khi ngắn, nhưng anh chưa bao giờ nghe nói đến quần cao. Câu chuyện? Giống như quần, chỉ đúng một nửa. Đồ uống có khi cao khi thấp —

"Gọi món," anh khẽ thốt lên, lại nghĩ thêm một lúc, cảm thấy đáp án chắc chắn đã vô tình đụng phải — hai tính từ đều rất khớp. Đơn cao chỉ những bữa tiệc linh đình; đơn thấp chỉ đồ ăn nhanh trong tiệm — hamburger, sandwich cá ngừ gì đó. Nhưng vấn đề là cả bữa tiệc lẫn sandwich cá ngừ đều không thể nói chuyện với chúng ta, cùng chơi mọi trò chơi.

Một nỗi thất vọng ập đến, anh buộc phải tự cười nhạo chính mình vì đã trở nên căng thẳng bởi một trò chơi chữ trong sách thiếu nhi. Nhưng anh vẫn bắt đầu tin rằng con người thực sự có thể giết người vì những câu đố... nếu tiền cược đủ cao, và có kẻ gian lận.

Thôi bỏ đi — anh đúng như lời Roland nói, đã tuột mất đáp án rồi.

Nhưng, anh còn có thể nghĩ gì khác đây?

Đúng lúc đó, tiếng trống dồn lại vang lên phía thành phố, anh thực sự không còn gì khác để nghĩ. Tiếng trống cứ thế vang lên, không hề có khúc dạo đầu. Khoảnh khắc trước vẫn không một tiếng động, khoảnh khắc sau âm lượng lập tức đạt mức cao nhất, như thể một công tắc vừa bị bật đột ngột. Eddie đi về phía lề đường, hướng về thành phố lặng lẽ lắng nghe. Anh quay lại nhìn xem những người khác có bị tiếng trống đánh thức không, kết quả thấy mình vẫn cô độc một mình. Anh quay lại nhìn về phía Lud, đưa tay che hai tai.

Bum... ba—bum... ba—bum—bumbum—bum.

Eddie ngày càng chắc chắn suy đoán của mình không sai; ít nhất anh đã giải mã được câu đố.

Giữa vùng hoang dã hồng hoang này, anh đang đứng trên một đại lộ bỏ hoang, trước mắt là thành phố của một nền văn minh đã mất, trong tai nghe thấy tiếng trống nhạc rock... mọi thứ đều quá điên rồ, nhưng liệu nó có điên rồ hơn cái đèn giao thông biết phát ra tiếng "tinh" rồi thả lá cờ nhỏ in chữ "Đi" không? Có điên rồ hơn việc tìm thấy xác máy bay chiến đấu của Đức từ những năm 1930 ở đây không?

Eddie khẽ ngân nga một bài hát của ban nhạc ZZ Top.

Anh chỉ cần thứ gì đó đủ dính

Để dán lại vết rách trên quần jeans của anh

Tôi nói này, yeah...

Lời bài hát khớp đúng nhịp trống, đây tuyệt đối là nhịp disco của "Nylon Fly", về điều này Eddie có thể khẳng định trăm phần trăm.

Một lát sau, tiếng trống ngừng lại đột ngột như lúc bắt đầu, thứ anh có thể nghe thấy chỉ còn lại tiếng gió rít, và tiếng dòng sông "寄河" (Sông Ký) có giường nhưng chẳng bao giờ ngủ lặng lẽ chảy qua.

5

Bốn ngày tiếp theo trôi qua yên ả. Họ cứ tiến về phía trước, nhìn cầu treo và đường nét thành phố ngày càng lớn, ngày càng rõ ràng; họ cắm trại, ăn uống, thay phiên canh gác (Jake cứ quấn lấy Roland đòi trực hai tiếng trước bình minh), ngủ nghỉ. Điều duy nhất đáng kể là sự kiện đàn ong.

Buổi trưa ngày thứ ba sau khi phát hiện xác máy bay, bên tai họ vang lên tiếng vo ve, ngày càng lớn cho đến khi át cả mọi âm thanh khác. Cuối cùng Roland dừng lại. "Ở đó," ông chỉ vào rừng bạch đàn bên đường nói.

"Nghe như tiếng ong mật," Susannah nói.

Đôi mắt xanh nhạt của Roland lóe lên. "Có lẽ tối nay chúng ta sẽ có món tráng miệng."

"Tôi không biết phải nói với ngài thế nào, Roland," Eddie nói, "nhưng tôi cực kỳ ghét bị ong đốt."

"Không ai trong chúng ta thích cả," Roland đồng tình, "nhưng hôm nay vừa hay không có gió. Ta nghĩ chúng ta có thể châm lửa hun cho chúng ngủ say, sau đó nhân cơ hội lấy trộm tổ ong, như vậy sẽ không rước họa vào thân. Chúng ta cứ qua xem sao đã."

Ông bế Susannah đang đầy phấn khích, nôn nóng đi về phía rừng cây. Eddie và Jake theo sau, còn Oy rõ ràng chọn sự thận trọng hơn là dũng cảm, nó ở lại bên lề đường thở hồng hộc, thận trọng nhìn họ rời đi.

Roland dừng bước ở bìa rừng, quay đầu nói khẽ với Eddie và Jake: "Ở đây đừng nhúc nhích, chúng ta qua xem trước, không có vấn đề gì ta sẽ ra hiệu cho các cậu." Nói xong ông bế Susannah đi vào bóng râm lốm đốm ánh sáng trong rừng rậm, còn Eddie và Jake vẫn đứng dưới ánh mặt trời tiễn họ.

Bước vào bóng râm, một luồng khí lạnh ập đến, tiếng vo ve đơn điệu khiến người ta buồn ngủ. "Nhiều quá," Roland khẽ nói. "Bây giờ là cuối hè, chúng lẽ ra phải đi hút mật mới đúng. Ta không —"

Ông liếc mắt thấy tổ ong nhô ra trên thân cây giữa bãi đất trống, liền ngắt lời.

"Chúng bị sao vậy?" Susannah sợ hãi hỏi nhỏ. "Roland, rốt cuộc chúng bị sao vậy?"

Một con ong mật béo như con ruồi trâu tháng Mười bay chậm rãi qua bên đầu Susannah, làm cô sợ hãi lùi lại phía sau.

Roland ra hiệu, những người khác cũng tiến lên. Tất cả đều nhìn chằm chằm vào tổ ong, không nói một lời. Tổ ong không phải hình lục giác đều mà có hình dạng, kích thước khác nhau; bản thân tổ ong trông như đang tan chảy một cách kỳ dị, như thể có ai đó đặt một chiếc đèn khò lên trên. Những con ong mật bò lười biếng lại có toàn thân trắng như tuyết.

"Tối nay không có mật ong đâu," Roland nói. "Mật lấy từ tổ ong đó có lẽ rất ngọt, nhưng ta chắc chắn rằng nó sẽ khiến cả bọn chúng ta trúng độc."

Một con ong trắng dị dạng bay lù đù qua đầu Jake, cậu vội vàng né tránh với vẻ ghê tởm.

"Chuyện gì đã xảy ra?" Eddie hỏi. "Cái gì khiến chúng trở nên như thế này, Roland?"

"Cùng một thứ đã tẩy sạch cả thế giới này; nó cũng khiến hầu hết bò rừng bẩm sinh dị dạng, không thể sinh sản. Ta từng nghe có người gọi nó là cuộc chiến tranh cổ xưa, ngọn lửa vĩ đại, đại họa tận thế, và chất độc ăn mòn xương tủy. Dù gọi là gì, đây chính là nguồn gốc của mọi tai họa, tất cả xảy ra từ rất lâu rất lâu về trước, thậm chí một ngàn năm trước khi cụ kỵ của đám người già ở ngã ba sông chào đời. Theo thời gian, ảnh hưởng của đại họa — những con trâu hai đầu và loại ong trắng trước mắt này — đã dần suy yếu. Ta cũng từng tận mắt nhìn thấy những ảnh hưởng đó. Những thay đổi khác còn kịch liệt hơn, ngay cả khi mắt thường không thấy được, vẫn đang tiếp diễn."

Họ nhìn những con ong trắng bò một cách vô định, thậm chí bất lực dọc theo tổ ong. Một số rõ ràng vẫn cố gắng làm việc; số khác chỉ đâm sầm vào nhau một cách không mục đích. Eddie nhớ lại trước đây từng xem một bản tin, trên đó đăng bức ảnh những người sống sót sau vụ nổ khí gas chạy trốn khỏi hiện trường, vụ nổ đó đã san phẳng gần như toàn bộ khu phố của một thị trấn ở California. Những con ong này trông rất giống những người sống sót trong ảnh, cũng bối rối, hoảng loạn như vậy.

"Các người đã phát động chiến tranh hạt nhân, phải không?" anh hỏi — với giọng điệu gần như là buộc tội. "Những tổ tiên Trung Thổ mà các người thích bàn tán... họ đã tự tống khứ chính mình xuống địa ngục. Không phải sao?"

"Ta không biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Không ai biết cả. Hồ sơ thời đó đều đã thất lạc, những câu chuyện lưu truyền lại cũng đầy mâu thuẫn, chẳng rõ ràng."

"Chúng ta đi nhanh thôi," Jake run rẩy nói. "Con thấy mấy thứ này thật kinh tởm."

"Chị cũng vậy, cưng à," Susannah nói.

Họ rời đi, để lại đàn ong vô định tiếp tục sống cuộc đời đã vỡ vụn trong khu rừng cổ xưa. Tối nay không có mật ong.

6

"Rốt cuộc khi nào ngài mới định nói cho chúng tôi biết tất cả những gì ngài biết?" Sáng hôm sau Eddie hỏi. Bầu trời xanh trong vắt, nhưng cái lạnh thấu xương đã thấm vào không khí. Mùa thu đầu tiên trong thế giới này sắp đến rồi.

Roland liếc nhìn anh. "Ý cậu là sao?"

"Tôi muốn ngài thẳng thắn kể cho chúng tôi tất cả câu chuyện, từ đầu đến cuối, bắt đầu từ Gilead. Ngài lớn lên như thế nào, nơi đó diệt vong ra sao. Tôi còn muốn biết ngài biết về Tòa tháp bóng tối như thế nào, và tại sao ngài bắt đầu truy tìm nó. Tôi cũng muốn biết về nhóm bạn đầu tiên của ngài, rốt cuộc họ đã xảy ra chuyện gì."

Roland cởi mũ, dùng tay lau mồ hôi trên trán rồi lại đội mũ vào. "Cậu có quyền biết tất cả những điều này, ta đoán vậy, và ta cũng sẽ kể hết cho các cậu... nhưng không phải bây giờ. Câu chuyện rất dài, ta chưa bao giờ nghĩ sẽ kể cho ai nghe, nếu có nói, ta cũng chỉ nói một lần."

"Vậy khi nào ngài nói?" Eddie hỏi.

"Khi thời cơ đến," Roland trả lời. Họ chỉ có thể hài lòng với câu trả lời này.

7

Khoảnh khắc trước khi Jake bắt đầu lay mình, Roland đã tỉnh giấc. Ông ngồi dậy nhìn quanh, Eddie và Susannah vẫn đang ngủ say. Dưới ánh sáng mờ nhạt của bình minh, ông không phát hiện bất kỳ điều gì bất thường.

"Sao vậy?" ông hạ thấp giọng hỏi Jake.

"Con không biết. Có lẽ đang có chiến tranh. Lại đây nghe đi."

Roland hất chăn ra, đi theo Jake đến bên đại lộ. Ông phát hiện hiện tại cách nơi sông Ký chảy qua thành phố chỉ còn ba ngày đường, mà cây cầu treo đó — vuông góc với con đường ánh sáng — vắt ngang toàn bộ đường chân trời, hiện rõ độ nghiêng hơn bao giờ hết, và ông phát hiện giữa những cột thép trông như dây đàn hạc có ít nhất một tá khoảng trống, đó đều là những cột thép bị kéo quá căng đến mức gãy ngang.

Đêm nay gió lớn thổi trực tiếp từ phía thành phố tới, âm thanh theo gió bay tới tuy yếu ớt nhưng vẫn rõ ràng.

"Đang có chiến tranh sao?" Jake hỏi.

Roland gật đầu, đặt một ngón tay lên môi.

Ông mơ hồ nghe thấy tiếng kêu la, tiếng loảng xoảng như vật nặng đập xuống đất — tất nhiên rồi — và cả tiếng trống. Tiếp đó lại là tiếng loảng xoảng, nhưng lần này êm tai hơn, như tiếng kính vỡ.

"Trời ơi," Jake vừa khẽ thở dài vừa dựa sát vào tay súng.

Âm thanh truyền đến từ bên dưới là điều Roland hy vọng mình không nghe thấy: tiếng vũ khí hạng nhẹ dồn dập, khàn đặc, sau đó là tiếng vang lớn — rõ ràng là một vụ nổ nào đó, tiếng nổ lớn như một quả bóng bowling vô hình lăn qua bình nguyên, lao về phía họ. Tiếp theo, tiếng hét, tiếng đập mạnh, tiếng vỡ vụn nhanh chóng bị tiếng trống át đi. Vài phút sau, tiếng trống lại đột ngột dừng lại như thường lệ, sự im lặng bao trùm lên thành phố, nhưng lúc này sự im lặng đó khiến người ta cảm thấy giống như một sự chờ đợi lo âu hơn.

Roland vòng tay ôm vai Jake. "Bây giờ quyết định đi đường vòng vẫn chưa quá muộn," ông nói.

Jake nhìn ông. "Chúng ta không thể."

"Vì đoàn tàu?"

Jake gật đầu, chậm rãi nói: "Blaine là một thảm họa, nhưng chúng ta buộc phải lên chuyến tàu này. Và thành phố này là trạm duy nhất chúng ta có thể lên tàu."

Roland trầm tư nhìn Jake. "Tại sao con nói chúng ta buộc phải? Là Ka sao? Bởi vì, Jake, con phải hiểu rằng con không hoàn toàn hiểu về Ka — nó cần con người dùng cả đời để học hỏi."

"Con không biết đây có phải là Ka không, nhưng con biết nếu không có sự bảo vệ thì chúng ta không thể đi vào vùng hoang dã, và đó chính là Blaine. Không có nó chúng ta sẽ chết, giống như số phận của những con ong trắng chúng ta đã thấy khi mùa đông đến. Chúng ta buộc phải có sự bảo vệ, vì vùng hoang dã phát ra khí độc."

"Sao con biết những điều này?"

"Con không biết!" Jake trả lời, gần như có chút cáu kỉnh. "Con chỉ biết thế thôi."

"Được rồi," Roland an ủi nhẹ nhàng, chuyển hướng nhìn về phía Lud. "Nhưng chúng ta buộc phải cực kỳ cẩn thận. Thật không may là đạn dược của họ vẫn chưa dùng hết, và họ có thể còn có vũ khí uy lực hơn. Ta nghi ngờ họ không nhất định biết cách sử dụng, nhưng điều này chỉ làm tăng thêm rủi ro. Có lẽ họ sẽ quá phấn khích rồi thổi bay tất cả chúng ta lên trời."

"Lên trời." Sau lưng đột nhiên vang lên một giọng nói trầm thấp. Họ quay đầu lại thấy Oy đang ngồi bên lề đường nhìn họ.

8

Tối hôm đó, họ đến một ngã rẽ, một con đường nhỏ từ phía tây xuyên ra hợp nhất với đại lộ. Đại lộ hiện đã rộng hơn nhiều, rất nhiều đá đen sáng bóng ở giữa đường chia mặt đường thành hai làn — nhìn xuống từ đây, đại lộ chìm dần ở phía xa, những con đê bê tông dựng đứng hai bên đường, phủ đầy vết nứt, khiến những người lữ hành cảm thấy một nỗi hoảng sợ bị giam cầm. Họ dừng lại ở chỗ khuyết của con đê bê tông nơi cho phép họ nhìn thấy một dải bình nguyên rộng mở, và ăn một bữa tối tạm bợ.

"Ngài nghĩ lý do họ cố ý xây con đường thấp như vậy là gì, Eddie?" Jake hỏi. "Ý con là, có người thực sự có thể xây như vậy, đúng không?"

Eddie nhìn qua chỗ khuyết của con đê, ngắm nhìn bình nguyên trải dài xa tít tắp, gật đầu.

"Vậy tại sao?"

"Không biết, nhóc à," Eddie trả lời, nhưng thực tế anh cảm thấy mình biết lý do. Anh liếc nhìn Roland, đoán ông chắc chắn cũng hiểu rõ trong lòng. Đại lộ chìm xuống dẫn đến cây cầu treo dùng làm phòng thủ, chỉ cần đặt cẩn thận hai công sự phòng thủ là có thể kiểm soát bất kỳ đội quân nào xuất hiện trên dốc cao. Một khi người giữ thành không chào đón những đội quân đi dọc theo đại lộ tiến về Lud, họ sẽ phát động tấn công.

"Ngài chắc là không biết?" Jake hỏi.

Eddie cười với Jake, cố gắng kiềm chế không tưởng tượng ra kẻ điên nào đó trong thành phố đang chuẩn bị sẵn sàng ném một quả bom rỉ sét về phía họ dọc theo con dốc bê tông đổ nát. "Chẳng có khái niệm gì cả," anh trả lời.

Susannah hừ lạnh đầy ghê tởm. "Con đường này dẫn đến địa ngục, Roland. Vốn dĩ tôi tưởng chúng ta không bao giờ cần dùng đến cái yên ngựa chết tiệt đó nữa, nhưng bây giờ ngài tốt nhất vẫn nên lấy nó ra đi." Ông gật đầu, không nói nửa lời, lấy yên ngựa từ trong ba lô ra.

Tình trạng đường của đại lộ rất tệ, những con đường nhỏ khác đổ vào như nhánh sông cũng chẳng khá hơn là bao. Khi họ đến gần cầu treo hơn, mặt đường đá cuội thay thế bằng một loại mặt đường mà Roland nhìn thấy giống như kim loại, còn những người khác nhìn thấy giống như nhựa đường. Tình trạng mặt đường còn không bằng đường đá cuội trước đó, lâu ngày không tu sửa, mòn vẹt nghiêm trọng, ước tính từ lần bảo trì cuối cùng còn có lượng lớn xe ngựa hàng hóa qua lại, đây là nguyên nhân chính gây hư hỏng. Đá vụn trên mặt đường lởm chởm, đi lại rất khó khăn, nếu muốn đẩy xe lăn của Susannah trên đó thì quả thực là nực cười.

Những con đê hai bên càng xây càng dốc, trên đỉnh đầu họ có thể nhìn thấy một vài vật thể nhọn hoắt mảnh khảnh chĩa lên bầu trời. Roland nghĩ đến những mũi tên — chắc chắn là cung tên khổng lồ do người khổng lồ tạo ra. Nhưng đồng bạn của ông lại nghĩ đó là tên lửa hoặc đạn đạo. Susannah nhớ đến tên lửa Redstone phóng từ Cape Canaveral, Eddie nhớ đến tên lửa đất đối không có thể phóng từ bệ hàng xe tải, còn Jake thì nhớ đến những tên lửa đạn đạo liên lục địa giấu trong các hầm tên lửa kiên cố ở bình nguyên Kansas hoặc vùng núi Nevada không người ở, chờ đợi chiến tranh hạt nhân bùng nổ là sẽ phóng về phía Trung Quốc hoặc Liên Xô. Tất cả mọi người đều cảm thấy họ đang bước vào một cái bóng tối tăm thê thảm, bước vào một vùng đất vẫn còn bị bao phủ bởi lời nguyền cổ xưa nhưng vẫn đầy quyền năng.

Vài giờ sau khi họ tiến vào khu vực này — Jake gọi nó là khu vực phóng cắt ngang — những con đê bê tông biến mất bên lề đường, đồng thời hàng tá ngã rẽ đường cao tốc tụ hội lại từ bốn phương tám hướng như mạng nhện, tầm nhìn lại trở nên rộng mở... nhưng sự thật này không khiến bất cứ ai cảm thấy an ủi, mặc dù cũng chẳng ai nói ra miệng. Tại ngã tư lại treo một chiếc đèn giao thông khác, lần này hình dạng đối với Eddie, Susannah và Jake đều rất quen thuộc, chỉ có điều bốn mảnh kính lẽ ra phải có thì đã vỡ từ lâu.

"Tôi dám cá con đường này chắc chắn là kỳ quan thứ tám của thế giới trong quá khứ," Susannah nói. "Nhưng nhìn bộ dạng bây giờ xem, chẳng khác gì bãi mìn."

"Cách thức cổ xưa đôi khi lại là cách thức tốt nhất," Roland đồng tình.

Eddie chỉ về phía tây. "Nhìn kìa."

Hiện tại những con đê bê tông cao chót vót đã biến mất, cảnh tượng trước mắt họ không khác gì cảnh tượng ông già ở ngã ba sông mô tả khi đang uống cà phê. Ông già lúc đó nói: "Chỉ có một đường ray, các cột đá nhân tạo chống đỡ. Đường cái và tường thành do tổ tiên Trung Thổ tạo ra đều như vậy." Đường ray mảnh thẳng được xây trên cao tầng màu vàng hẹp, kéo dài từ phía tây về hướng họ, xuyên qua sông Ký rồi tiến vào thành phố. Kiến trúc đơn giản thanh lịch — và cho đến nay là tác phẩm duy nhất họ từng thấy không bị rỉ sét — nhưng vẫn đầy rẫy vết nứt. Ở giữa quãng đường, một đoạn đường cao tầng lớn đứt gãy, chìm vào dòng sông chảy xiết bên dưới, chỉ còn lại hai cột đá cao chót vót, như hai ngón tay đang buộc tội lẫn nhau. Một phần thân xe kim loại hình dáng khí động học nhô lên khỏi mặt nước, màu xanh lam sáng bóng năm nào đã mất đi vẻ rạng rỡ vì những vết rỉ sét lốm đốm. Nhìn từ đây, thân xe rất nhỏ.

"Blaine tiêu đời như thế đấy," Eddie nói. "Thảo nào họ không bao giờ nghe thấy nó nữa. Chắc chắn là lúc qua sông trụ cột sụp đổ, nó cũng theo đó mà cắm đầu xuống. Lúc xảy ra chuyện chắc chắn nó đang giảm tốc, nếu không nó đã bay ra ngoài, tạo thành một cái hố lớn như bom nổ trên bờ sông xa hơn rồi. Ừ, lúc nó chưa bị hủy hoại chắc chắn là một thứ tuyệt vời."

"Macy từng nói vẫn còn một chiếc nữa," Susannah nhắc anh.

"Bỏ súng xuống, anh bạn," gã đàn ông quấn khăn vàng nói. Giọng hắn nặng nề đến mức khó lòng nghe ra hắn đang nói gì. "Bỏ súng xuống, anh bạn thân mến. Các người đều có vũ khí, chà, không cần nói cũng biết, nhưng lần này thì các người thua chắc rồi."

Chiếc quần của gã có vài miếng vá bằng nhung xanh, đứng bên rìa hố nứt của cầu treo, trông gã chẳng khác nào một tên hải tặc vừa đi cướp bóc trở về: suy kiệt, rách rưới nhưng vẫn đầy nguy hiểm.

"Nếu tôi không muốn thì sao?" Roland hỏi ngược lại. "Nếu thứ duy nhất tôi muốn làm là tặng cho cái đầu thối rữa đầy mủ của ngươi một viên đạn thì sao?"

"Vậy thì tôi sẽ xuống địa ngục trước ngươi một chút, vừa kịp để mở cửa đón ngươi," gã quấn khăn vàng cười lớn. Hắn vung cánh tay đang giơ cao lên rồi nói tiếp, "Với tôi thì cũng thế cả thôi, đằng nào cũng là một cái chết."

Roland thầm nghĩ điều đó là thật. Gã này trông có vẻ chỉ còn sống được tối đa một năm nữa... và càng về cuối chắc chắn càng đau đớn. Những vết mủ lở loét trên mặt hắn chắc chắn không liên quan gì đến phóng xạ; trừ khi đó là vết thương giả, bằng không Roland khẳng định hắn đã mắc phải căn bệnh mà giới bác sĩ gọi là "bệnh ghẻ lở giai đoạn cuối", còn người đời thường gọi là bệnh hoa liễu. Đối mặt với một kẻ nguy hiểm thì luôn chẳng tốt lành gì, nhưng ít ra vẫn còn tính toán được phần thắng. Thế nhưng, khi đối mặt với một kẻ đã cận kề cái chết, mọi chuyện lại khác hẳn.

"Các người có biết trong tay ta đang cầm thứ gì không, những người bạn thân mến?" tên hải tặc hỏi. "Các người có thấy thứ mà bạn già Gasher của các người đang cầm không? Là một quả lựu đạn, món đồ tốt từ thời xưa, và ta đã rút chốt rồi – vì không tháo mũ trước khi giới thiệu bản thân là bất lịch sự, phải không nào!"

Hắn cười khúc khích đầy khoái chí, rồi sắc mặt đột ngột trầm xuống, mọi vẻ hài hước biến mất không dấu vết, tựa như một công tắc trong cái đầu lở loét của hắn vừa bị ngắt đi.

"Ngón tay ta đang móc chặt vào chốt lựu đạn đây, cưng à. Ngươi vừa nổ súng là lựu đạn sẽ nổ ngay lập tức, ngươi và con khỉ cái trên lưng ngươi sẽ tan thành tro bụi. Cả thằng nhóc kia nữa, ta đoán vậy. Thằng trẻ ranh đứng sau lưng ngươi, đang chĩa khẩu súng đồ chơi vào ta kia có lẽ sẽ sống sót, nhưng mạng nhỏ của nó cũng chỉ giữ được đến khoảnh khắc nó rơi xuống sông thôi... Nó sẽ rơi xuống sông, vì cây cầu này bốn mươi năm nay chỉ còn treo trên một sợi dây, đẩy nhẹ một cái là sập ngay. Giờ ngươi muốn cất súng đi, hay muốn tất cả chúng ta cùng xuống địa ngục?"

Trong một thoáng, Roland định bắn bay quả lựu đạn trên tay Gasher, nhưng thấy hắn nắm quá chặt, đành phải tra súng vào bao da.

"A ha, rất tốt!" Gasher lại vui vẻ trở lại, reo lên. "Ta biết ngay ngươi là kẻ thông minh mà, nhìn là biết ngay! Ồ, đúng vậy! Ta biết ngay mà!"

"Ngươi muốn gì?" Roland hỏi, dù trong lòng đã biết đáp án.

Gasher nhấc bàn tay kia lên, những ngón tay bẩn thỉu chỉ vào Jake. "Thằng nhóc đó. Giao thằng nhóc đó cho ta, những người còn lại có thể đi."

"Cút đi!" Susannah gắt lên.

"Sao lại không chứ?" tên hải tặc khàn giọng nói. "Cho ta một chiếc gương lớn, ta sẽ rút chốt lựu đạn rồi nhét thẳng vào đó – sao lại không chứ, đằng nào thì những ngày qua ta cũng chẳng sống dễ dàng gì! Chà, như thế ta sẽ cháy từ đầu đến chân, nước cũng không dập tắt nổi!" Đôi mắt hắn hiện lên một màu xám kỳ lạ, tĩnh lặng khác thường, chưa từng rời khỏi gương mặt Roland. "Ngươi nói sao, anh bạn già?"

"Nếu ta giao thằng bé ra, những người còn lại sẽ thế nào?"

"Chà, các người cứ tiếp tục lên đường, ta sẽ không gây rắc rối!" gã quấn khăn vàng đáp ngay. "Tick-Tock Man giữ lời hứa. Hắn nói với ta như vậy, ta cũng nói với các người như vậy, và quân tử nhất ngôn. Ta không dám nói nếu các người gặp người Pubes thì sẽ ra sao, nhưng người Grays dưới trướng Tick-Tock Man tuyệt đối sẽ không làm khó các người nữa."

"Ngươi đang nói nhảm cái gì thế, Roland?" Eddie gầm lên. "Anh không thực sự định giao Jake ra đấy chứ, hả?"

Roland không cúi đầu nhìn Jake, môi hắn gần như không cử động, khẽ thì thầm: "Ta sẽ giữ lời hứa."

"Đúng vậy – ta biết anh sẽ làm thế." Jake bèn lên tiếng lớn hơn: "Bỏ súng xuống đi, Eddie. Để tự tôi quyết định."

"Jake, cháu mất trí rồi!"

Tên hải tặc lại khoái chí cười khà khà. "Không hề, anh bạn! Nếu ngươi không tin ta, ngươi mới là kẻ mất trí. Ít nhất thì thằng bé ở với chúng ta sẽ tránh được sự hành hạ của tiếng trống, không phải sao? Và thử nghĩ xem – nếu ta không có thành ý, ta đã bắt các người vứt súng đi từ đầu rồi! Chuyện dễ như trở bàn tay! Nhưng ta có làm thế không? Không!"

Susannah nghe thấy cuộc đối thoại giữa Roland và Jake, cô cũng nhận ra trong tình cảnh hiện tại, lựa chọn của họ rất hạn hẹp. "Bỏ súng xuống đi, Eddie."

"Làm sao biết được sau khi có thằng bé, nó sẽ không ném lựu đạn vào chúng ta?" Eddie chất vấn.

"Chỉ cần nó ném, ta sẽ bắn trúng ngay trên không trung," Roland đáp. "Ta làm được, và nó cũng biết ta làm được."

"Có lẽ là ta biết. Trông ngươi rất tự tin, quả thật vậy."

"Nếu lời nó nói là thật," Roland tiếp lời, "thì ngay cả khi ta không bắn trúng lựu đạn, nó cũng khó lòng thoát thân, vì cầu sập là tất cả chúng ta đều rơi xuống."

"Rất thông minh, anh bạn già thân mến!" Gasher nói. "Ngươi thực sự rất tự tin, đúng không?" Hắn lại cười khẩy đầy nham hiểm, rồi trở nên nghiêm túc, nói đầy ẩn ý: "Thảo luận kết thúc, anh bạn già. Quyết định đi. Là giao thằng bé ra, hay là tất cả chúng ta cùng đi báo cáo ở Minh phủ?"

Roland chưa kịp mở lời, Jake đã bước dọc theo sợi cáp thép. Cánh tay phải cậu ôm lấy Oy đang co rúm lại, rồi cứng nhắc giơ cánh tay trái đẫm máu lên.

"Jake, đừng!" Eddie tuyệt vọng hét lên.

"Ta sẽ đến cứu cháu," Roland nói với tông giọng trầm tương tự.

"Cháu biết," Jake lặp lại. Gió lớn lại nổi lên, thổi cây cầu treo kêu kẽo kẹt. Trên sông Send nổi lên từng lớp sóng trắng, tạo thành những xoáy nước đầy bọt xung quanh nửa chiếc tàu điện một ray màu xanh cắm ngược ở thượng nguồn.

"Nào, anh bạn!" Gasher há miệng lầm bầm. Những chiếc răng còn sót lại đâm ra từ nướu nhợt nhạt, giống như những bia mộ mục nát. "Nào, thằng nhóc! Mau lại đây."

"Roland, có lẽ hắn chỉ đang phô trương thôi!" Eddie hét lên. "Thứ đó có khi chỉ là đồ giả!"

Tay súng không đáp.

Khi Jake sắp đến phía bên kia của hố nứt, Oy nhe răng trợn mắt sủa điên cuồng về phía Gasher.

"Vứt con súc vật sủa bậy đó đi." Gasher ra lệnh.

"Cút đi." Jake đáp trả bằng tông giọng bình thản tương đương.

Trong thoáng chốc, vẻ ngạc nhiên hiện trên mặt Gasher, rồi hắn gật đầu. "Thích nó à? Được thôi." Hắn lùi lại hai bước. "Ngươi đến chỗ mặt cầu bê tông bên này thì thả nó xuống. Nếu nó chạy về phía ta, ta thề sẽ đá bay não con súc vật này."

"Ra ngoài." Oy rít qua kẽ răng hai chữ.

"Im đi, Oy." Jake lầm bầm. Đôi chân cậu vừa chạm vào mặt cầu bê tông thì một cơn gió dữ dội nhất ập đến, lần này dường như tiếng dây cáp đứt vang lên ở khắp mọi nơi. Jake ngoái đầu nhìn lại, thấy Roland và Eddie vẫn nắm chặt tay vịn, còn Susannah thì tựa vào vai Roland nhìn cậu, mái tóc xoăn bị gió thổi bay lòa xòa. Jake giơ tay về phía họ, Roland giơ tay đáp lại.

Lần này anh sẽ không để cháu rơi xuống chứ? Cậu từng hỏi. Không – vĩnh viễn không bao giờ, Roland từng đáp. Jake tin hắn... nhưng đồng thời cậu cũng rất lo lắng về những chuyện có thể xảy ra trước khi Roland đến kịp. Cậu đặt Oy xuống, Gasher lao đến, nhấc chân định đá Oy. Oy nghiêng người né được.

"Chạy mau!" Jake hét lên. Vừa dứt lời, Oy đã cắm đầu chạy thục mạng về hướng Lud, vòng qua những cái hố lớn khác, băng qua các vết nứt trên mặt cầu mà không hề ngoái đầu lại. Một lát sau, một cánh tay của Gasher đã siết chặt lấy cổ Jake. Hắn có mùi của bùn đất lẫn thịt thối, hai mùi trộn lẫn tạo nên một thứ xú uế nồng nặc khiến Jake suýt nôn mửa.

Hắn dùng hông ép chặt vào mông Jake. "Có lẽ ta sẽ chưa chết ngay đâu. Chẳng phải có câu nói rằng trẻ nhỏ như rượu ngon, người già tóc bạc say sưa trong đó sao? Chúng ta sắp được tận hưởng một phen rồi, phải không, thằng nhóc ngọt ngào? Chà, lúc đó ngay cả thiên sứ cũng phải cất tiếng hát."

Ôi, Chúa ơi, Jake thầm than.

Gasher lại lên giọng: "Chúng ta phải đi ngay đây, người bạn mạnh mẽ của ta – chúng ta có việc lớn phải làm, có người quan trọng phải gặp, nhưng ta nhất định sẽ giữ lời hứa. Còn các người, cứ đứng yên đó mười lăm phút, nếu đủ thông minh thì đừng có cử động. Nếu ta thấy các người có hành động gì, thì chúng ta cùng lên thiên đàng. Rõ chưa?"

"Rõ." Roland đáp.

"Ta vừa nói ta chẳng còn gì để mất, ngươi tin không?"

"Tin."

"Rất tốt. Đi thôi, nhóc! Mau!"

Gasher siết rất chặt, Jake gần như không thở nổi. Cậu đối diện với Roland, Susannah trên lưng Roland và Eddie vẫn đang cầm khẩu súng Luger mà Gasher gọi là súng đồ chơi, bị kéo lùi lại từng bước một. Jake có thể cảm nhận hơi nóng từ hơi thở của Gasher phả vào tai mình, tệ hơn nữa là mùi hôi thối cũng xộc vào mũi.

"Đừng hòng phản kháng," Gasher thì thầm bên tai cậu, "nếu không ta sẽ lột da rút xương ngươi rồi nhét vào ba lô. Như thế hẳn là rất đáng buồn nhỉ? Quả thật rất đáng buồn."

Họ đi đến đầu cầu. Lúc này Jake tưởng Gasher vẫn sẽ ném quả lựu đạn, người cứng đờ lại. Nhưng hắn không làm vậy... ít nhất là không ném ngay. Hắn kéo Jake đến hai căn chòi nhỏ có lẽ từng là trạm thu phí, đi qua lối đi hẹp ở giữa, những nhà kho bằng gạch đá sừng sững như nhà tù hiện ra phía trước.

"Giờ thì, nhóc à, ta sẽ nới lỏng cổ ngươi ra, nếu không ngươi không thể chạy nhanh cùng ta được. Nhưng ta vẫn sẽ nắm chặt tay ngươi, nếu ngươi không thể chạy nhanh như gió, ta thề sẽ bẻ gãy tay ngươi rồi dùng nó làm gậy đánh ngươi. Rõ chưa?"

Jake gật đầu, áp lực nghẹt thở nơi cổ họng biến mất, cùng lúc đó cậu bắt đầu nhận ra cơn đau ở tay – nóng rát và sưng tấy như bị lửa đốt. Nhưng khi tay Gasher như gọng kìm sắt kẹp chặt lấy cánh tay trên của cậu, cậu lại quên bẵng đi cơn đau ở tay.

"La la la!" Gasher dùng chất giọng giả thanh kỳ quặc hát vang, vung vẩy quả lựu đạn về phía những người còn lại. "Tạm biệt, cưng nhé!" Tiếp đó hắn hét vào mặt Jake: "Giờ thì, chạy đi, thằng nhóc tạp chủng! Chạy mau!"

Jake bị giật mạnh, lao đi, cả hai lao xuống một đại lộ từ con dốc. Ban đầu Jake thậm chí còn nhầm tưởng đây là đại lộ East River ở New York, hai, ba trăm năm sau, khi một loại viêm não quái đản nào đó đã giết chết tất cả những người tỉnh táo trên thế giới.

Hai bên đại lộ rải rác những bộ khung gỉ sét, chắc chắn từng là ô tô, trong đó có nhiều chiếc xe thể thao hình bong bóng mà Jake chưa từng thấy (ngoại trừ, có lẽ, trong truyện tranh Disney). Nhưng giữa những đống phế liệu này, cậu nhận ra một chiếc Volkswagen Beetle cũ, một chiếc Chevrolet Corvair, và một chiếc mà cậu nghĩ là Ford Model A. Những cái xác xe này khiến người ta bất an, tất cả đều không còn bánh, hoặc là bị trộm mất, hoặc là đã tan thành tro bụi. Tất cả kính đều vỡ vụn, như thể những cư dân còn lại của thành phố căm ghét mọi thứ có thể phản chiếu hình ảnh của chính mình, dù chỉ là thoáng qua.

Dưới những chiếc xe bỏ hoang, cống rãnh đầy rác thải kim loại không thể nhận diện và những mảnh thủy tinh lấp lánh. Hai bên vỉa hè trồng những hàng cây, nhưng mỗi cái cây đều đã chết, trông như những bức tượng kim loại khô khốc. Một vài nhà kho hoặc bị đánh bom, hoặc tự sụp đổ, và qua đống đổ nát đó, Jake có thể nhìn thấy những sợi cáp treo gỉ sét, lỏng lẻo của cây cầu treo trên sông Send. Lúc này, mùi ẩm mốc thối rữa – thứ mùi gần như không thể xua tan – nồng nặc hơn bao giờ hết.

Đại lộ kéo dài về hướng đông, thoát khỏi đường đi của những tia sáng. Trong tầm mắt của Jake, đại lộ càng về phía dưới càng nhiều đống đổ nát, khoảng sáu, bảy dãy phố phía trước đã bị chặn hoàn toàn. Nhưng Gasher kéo cậu chính là hướng về phía đó. Ban đầu cậu còn theo kịp, nhưng bước chân Gasher quá nhanh, chẳng bao lâu sau Jake bắt đầu thở hổn hển, không theo kịp nữa. Cậu gần như bị Gasher kéo lê, lao về phía chướng ngại vật làm từ rác thải, xi măng và những thanh thép gỉ sét ở phía xa. Chướng ngại vật – trong mắt Jake thì giống như được cố tình sắp đặt ở đó hơn – bị ép giữa hai tòa nhà, bề mặt tòa nhà phủ đầy bụi đá cẩm thạch. Trước một trong hai tòa nhà có đặt một bức tượng, Jake nhận ra ngay lập tức: đó là tượng Nữ thần Công lý bị bịt mắt, điều này khiến Jake gần như khẳng định phía sau là một tòa án. Nhưng cậu chỉ kịp liếc nhìn một cái, sau đó Gasher không chút nương tay kéo cậu lao về phía chướng ngại vật, cậu hoàn toàn không thể chậm lại.

Nếu hắn muốn xuyên qua đó, cả hai chúng ta đều sẽ mất mạng! Jake thầm nghĩ, nhưng Gasher – mặc dù khuôn mặt cho thấy hắn đang mắc bệnh nặng – vẫn chạy nhanh như gió – chỉ siết chặt cánh tay Jake hơn. Lúc này một lối đi hẹp xuất hiện trong đống khối xi măng, đồ nội thất cũ, ống nước gỉ sét và những chiếc xe tải bỏ hoang. Cậu chợt hiểu ra. Cái mê cung quỷ quái này sẽ làm chậm bước Roland hàng tiếng đồng hồ... nhưng với Gasher thì nó như sân sau nhà hắn, mọi hướng đi hắn đều thuộc lòng.

Phía bên trái của đống rác đổ nát lộ ra lối vào hẹp và tối tăm. Khi họ sắp đến nơi, Gasher ném quả lựu đạn màu xanh trên tay ra sau. "Tốt nhất là cúi người xuống, bảo bối nhỏ!" hắn hét lên, rồi cười ré lên đầy cuồng loạn. Một lát sau, một vụ nổ lớn làm rung chuyển cả đại lộ, một chiếc xe thể thao hình bong bóng bị hất tung lên không trung cao hai mươi feet, rồi lộn ngược rơi xuống. Một loạt đá vụn rít qua đầu Jake. Đột nhiên có thứ gì đó đập trúng vai trái của cậu, cậu loạng choạng, nếu không nhờ Gasher kéo lên thì chắc chắn đã ngã xuống. Đợi vụ nổ lắng xuống, Gasher nhanh chóng kéo cậu chạy vào lối vào hẹp trong đống đổ nát. Ngay khi họ tiến vào lối đi chật hẹp, bóng tối âm u ập đến, nuốt chửng lấy họ trong chớp mắt.

Sau khi bóng dáng họ biến mất, một bóng nhỏ đầy lông lá từ sau khối xi măng ló ra. Hóa ra là Oy. Nó vươn cổ đứng ở lối vào, đôi mắt sáng rực. Một lát sau, nó đi theo vào trong, vừa đi vừa dùng mũi đánh hơi khắp nơi.

15

"Mau." Roland hét lên ngay khi Gasher quay người bỏ chạy.

"Sao anh có thể làm thế?" Eddie chất vấn. "Sao anh có thể để tên tâm thần đó bắt Jake đi?"

"Vì ta không còn lựa chọn nào khác. Mang xe lăn theo. Chúng ta sẽ cần đến nó."

Họ vừa đi đến phía bên kia của hố nứt, một vụ nổ đã làm rung chuyển cây cầu treo, đá vụn bắn lên bầu trời mù mịt.

"Chúa ơi!" Eddie mặt cắt không còn giọt máu quay sang Roland.

"Chưa cần lo lắng," Roland bình tĩnh nói. "Những kẻ như Gasher hiếm khi bất cẩn với chất nổ của chính mình." Họ đi đến trạm thu phí ở cuối cầu, Roland dừng lại trên đỉnh con dốc.

"Anh biết sớm là gã đó không phô trương, đúng không?" Eddie nói. "Ý tôi là, anh không phải đang đoán – anh thực sự biết."

"Hắn đã là một xác chết biết đi, loại người này căn bản không cần phô trương." Giọng Roland đã rất bình tĩnh, nhưng vẫn lộ ra vẻ đắng cay và đau khổ. "Ta biết chuyện này sẽ xảy ra, giá mà chúng ta phát hiện ra gã này sớm hơn, khi đó chúng ta còn ở ngoài tầm bắn của lựu đạn, chúng ta còn cơ hội ngăn chặn hắn. Nhưng lúc đó Jake trượt xuống, còn hắn đã ở quá gần. Ta đoán hắn tưởng chúng ta mang thằng bé này theo là để làm phí qua đường. Chết tiệt! Vận may chết tiệt!" Roland giận dữ dùng nắm đấm đập mạnh vào đùi mình.

"Được rồi, vậy thì chúng ta đi cứu nó về!"

Roland lắc đầu. "Chúng ta chia tay ở đây. Chúng ta không thể đưa Susannah đến nơi tên khốn đó đang tới, chúng ta cũng không thể bỏ cô ấy lại một mình."

"Nhưng –"

"Nghe ta, đừng tranh cãi – nếu các người muốn cứu Jake. Chúng ta đứng đây càng lâu, dấu vết của nó càng mờ đi. Dấu vết mờ dần thì rất khó theo dõi. Các người có nhiệm vụ của mình. Nếu còn một chiếc Blaine, ta cũng tin chắc Jake đã nghĩ như vậy, thì cậu và Susannah phải tìm ra nó. Trong thành phố chắc chắn có một nhà ga, người thời xưa gọi nơi đó là Cái Nôi. Rõ chưa?"

Lần này Eddie không chút tranh cãi. "Ừ. Chúng tôi nhất định sẽ tìm thấy. Sau đó thì sao?"

"Cứ mỗi nửa tiếng thì bắn một phát súng. Đợi ta cứu được Jake về, ta sẽ đến."

"Tiếng súng có thể dẫn dụ những người khác đến." Susannah nói. Eddie bế cô rời khỏi yên ngựa, cô ngồi lại vào xe lăn.

Roland bình tĩnh quét mắt nhìn cả hai. "Các người tự liệu lấy."

"Được." Eddie đưa tay ra, chạm nhẹ vào tay Roland. "Cứu nó về, Roland."

"Ồ, ta sẽ làm vậy. Các người chỉ cần cầu nguyện với Chúa của các người rằng ta có thể cứu nó về sớm nhất có thể. Và nhớ lấy khuôn mặt của cha các người, cả hai người."

Susannah gật đầu. "Chúng tôi sẽ cố hết sức."

Roland quay người, bước đi nhẹ nhàng lao xuống con dốc. Đợi đến khi hắn khuất tầm mắt, Eddie quay đầu nhìn Susannah, anh phát hiện cô đang khóc. Bản thân anh cũng cảm thấy muốn khóc. Nửa tiếng trước họ là một đội ngũ thân thiết, vậy mà chỉ vài phút, liên minh đã tan rã – Jake bị bắt cóc, Roland đi cứu nó. Thậm chí ngay cả Oy cũng không thấy tăm hơi. Một sự cô đơn chưa từng có ập đến với Eddie.

"Em có linh cảm chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại cả hai người họ nữa." Susannah nức nở.

"Chúng ta chắc chắn sẽ gặp lại họ!" Eddie gắt gỏng phản bác, nhưng anh hiểu ý cô, vì anh cũng có cảm giác tương tự. Lòng anh nặng trĩu một linh cảm, cuộc hành trình của họ còn chưa thực sự bắt đầu đã kết thúc. "Ngay cả khi đấu với Attila, anh vẫn đánh cược Roland có phần thắng tuyệt đối. Mau lên, Susy – chúng ta có một chuyến tàu phải bắt."

"Nhưng đi đâu?" cô tuyệt vọng hỏi.

"Anh không biết. Có lẽ chúng ta cần tìm những gã tiên râu dài gần nhất để hỏi đường, nhỉ?"

"Anh lại đang nói nhảm cái gì thế, Edward Dean?"

"Không có gì," anh đáp. Anh cảm thấy nước mắt mình sắp trào ra, đành nắm chặt tay cầm xe lăn, dọc theo con dốc đầy ổ gà và mảnh thủy tinh tiến về phía thành phố Lud.

16

Jake chìm vào thế giới đầy sương mù trong chốc lát, cột mốc duy nhất là cơn đau thấu xương: vết thương ở tay nhói lên từng hồi, những ngón tay như gọng kìm của Gasher siết chặt cánh tay cậu và lá phổi đang nóng rát. Họ chưa chạy được bao xa, cơn đau ở bên trái cơ thể ngày càng dữ dội. Cậu không biết Roland có đang theo sau không, cậu cũng không biết Oy trong cái thế giới khác biệt hoàn toàn với vùng rừng đồng bằng nơi cậu từng sống này có thể sống sót hay không. Đang lúc thẫn thờ, Gasher đấm thẳng vào mặt cậu, máu mũi trào ra ngay lập tức, mọi suy nghĩ trước đó đều tan biến trong cơn đau đỏ rực đang ập đến.

"Nhanh lên, thằng nhóc tạp chủng! Theo kịp ta!"

"Chạy... đã nhanh nhất rồi." Jake thở hổn hển nói, suýt tránh được một mảnh thủy tinh dày đâm ra từ bức tường rác bên trái như một chiếc răng nanh trong suốt.

"Tốt nhất là không phải, vì nếu đây đã là nhanh nhất, ta sẽ đấm cho ngươi ngất đi rồi nắm tóc lôi ngươi chạy! Chạy nhanh thêm chút nữa cho ta, thằng nhóc tạp chủng!"

Không hiểu vì sao, Jack ép mình phải tăng tốc. Lúc mới bước vào lối đi, cậu cứ ngỡ sẽ sớm trở lại được đại lộ rộng rãi, nhưng giờ đây, cậu miễn cưỡng nhận ra điều đó là không thể. Lối đi này không đơn thuần là một hành lang; nó thực chất là một đường hầm được ngụy trang và gia cố, dẫn thẳng tới lâu đài dưới lòng đất của người Grays. Những bức tường cao vút hai bên đang chực chờ đổ sụp, ép sát vào người họ. Một loạt vật liệu kỳ dị tạo nên những bức tường ấy: những chiếc ô tô bị đá granite nghiền nát một phần hoặc toàn bộ, với những thanh thép gác ngang bên trên; những cột đá cẩm thạch; những cỗ máy công xưởng phủ đầy gỉ sắt đỏ sẫm và dầu mỡ đen kịt; và một con cá pha lê màu sắc to bằng máy bay tư nhân, trên những chiếc vảy cá sáng loáng khắc tỉ mỉ một từ ngữ cao cấp: "Hỷ Lạc". Những món đồ nội thất vỡ nát hỗn độn được cột chặt bằng những sợi xích chéo to bằng đầu Jack, treo lơ lửng đầy chông chênh trên đỉnh đầu họ, trông cứ như những chú voi trong rạp xiếc đang đứng trên một chiếc ghế đẩu nhỏ.

Đúng lúc đó, họ tới một ngã rẽ, Gasher không chút do dự chọn lối bên trái. Tiến thêm một đoạn lại xuất hiện ba lối rẽ hẹp đến mức gần như là đường hầm, kéo dài về các hướng khác nhau. Lần này, Gasher chọn lối bên phải. Hai bên con đường mới này trông như được chất đống từ những thùng giấy mục nát và những xấp giấy vụn – đoán chừng từng là sách báo tạp chí. Lối đi cực kỳ hẹp, không đủ cho hai người đi song song. Gasher đẩy Jack lên phía trước, rồi bắt đầu không thương tiếc đập vào lưng cậu, ép cậu chạy nhanh. "Cảm giác này chắc giống như bò tót bị lùa vào lò mổ", Jack thầm nghĩ, trong lòng thề thốt nếu có thể sống sót thoát ra ngoài, từ nay về sau cậu sẽ không bao giờ ăn bít tết nữa.

"Chạy mau! Cục cưng ngọt ngào của ta! Chạy mau!"

Jack nhanh chóng mất phương hướng trong con đường nhỏ ngoằn ngoèo này. Dưới sự thúc ép của Gasher, cậu càng lún sâu vào bãi rác khổng lồ đầy sắt thép, nội thất và máy móc cũ kỹ, đồng thời cũng dần từ bỏ hy vọng được giải cứu. Giờ đây, Roland đã chẳng còn chút cơ hội nào để tìm thấy cậu. Dù có cố gắng đến đâu, ông cũng có thể lạc lối trong mê cung ác mộng này, thậm chí đến tận ngày chết cũng không tìm được lối ra.

Sau đó, họ bắt đầu xuống dốc, những đống giấy vụn hai bên đường được thay thế bằng tủ hồ sơ, máy tính kỹ thuật số và những đống linh kiện máy tính, tựa như họ đang đi xuyên qua kho ngầm của một cửa hàng RadioShack. Suốt một phút đồng hồ, mảng tường lướt qua bên trái Jack toàn là những chiếc tivi hoặc màn hình hiển thị xếp chồng tùy tiện, nhìn cậu chằm chằm như những đôi mắt của người chết. Khi nền đường dưới chân dần sụt xuống, Jack nhận ra họ thực sự đang ở trong đường hầm. Bầu trời đầy mây mù ban đầu chỉ là một dải rộng, rồi thu hẹp thành một sợi ruy băng, cuối cùng biến thành một sợi dây mảnh. Lúc này, họ đã hoàn toàn ở trong thế giới ngầm âm u, trở thành những con chuột chạy loạn trong bãi rác khổng lồ.

Nếu trần đường hầm sập xuống thì sao? Jack tự hỏi trong lòng, nhưng vì trạng thái đau đớn và mệt mỏi hiện tại, khả năng này không còn làm cậu quá sợ hãi nữa. Nếu trần hầm sập xuống, ít nhất cậu cũng có thể nghỉ ngơi một chút.

Như nông phu quất lừa, Gasher không ngừng đập vào vai trái để ra hiệu rẽ trái, đập vào vai phải để rẽ phải, còn nếu đi thẳng thì gã nện thẳng vào sau gáy Jack. Jack cố tránh một đường ống nhô ra nhưng không thành. Đường ống đập trúng mông cậu, khiến cậu lảo đảo lao vào đống mảnh vỡ thủy tinh bên đường. Gasher kịp thời túm lấy cậu rồi lại bắt đầu đẩy về phía trước. "Chạy mau! Đồ vụng về! Mày không biết chạy à? Nếu không phải vì Tick-Tock Man, tao đã cưỡng hiếp rồi cắt cổ mày ngay tại đây rồi. Chà, cắt cổ mày!"

Jack đã rơi vào cơn chóng mặt đỏ rực, thứ duy nhất cậu có thể cảm nhận được là nỗi đau xé lòng cùng những cú đấm giáng xuống vai hoặc sau gáy. Cuối cùng, ngay khi cậu cảm thấy không thể chạy nổi nữa, Gasher túm lấy sau gáy cậu rồi giật mạnh khiến cậu dừng lại, động tác đột ngột đến mức Jack thét lên rồi đâm sầm vào lòng gã.

"Ở đây phải cẩn thận một chút!" Gasher thở dốc, đầy hứng thú. "Nhìn về phía trước, mày sẽ thấy hai sợi dây điện mảnh vắt ngang sát mặt đất. Mày thấy chưa?"

Ban đầu Jack không nhìn thấy. Ánh sáng rất mờ, bên trái là đống bình đồng khổng lồ, bên phải là những thứ xếp cao ngất như bình thép lặn. Jack cảm thấy chỉ cần mình thở mạnh một hơi, những bình thép này có thể đổ ập xuống. Cậu dùng cẳng tay dụi mắt, vuốt ngược mái tóc xõa xuống, cố gắng không tưởng tượng đến cảnh mười sáu tấn thép đè lên người mình. Cậu nhìn theo hướng ngón tay Gasher chỉ. Phải rồi, cuối cùng cậu cũng thấy – rất mờ – hai sợi dây bạc mảnh, giống như dây đàn guitar hoặc banjo, kéo từ hai bên lối đi, điểm giao nhau cách mặt đất khoảng hai feet.

"Bò qua bên dưới đi, cục cưng bé bỏng. Nhất định phải cẩn thận, mày chỉ cần chạm vào một trong hai sợi thôi là hơn nửa số sắt thép, xi măng trong thành phố này sẽ đổ ập lên cái đầu nhỏ của mày đấy. Tất nhiên là tao cũng không thoát được, dù tao đoán điều đó chẳng khiến mày dễ chịu hơn chút nào, đúng không? Giờ thì, bò qua đi!"

Jack trút bỏ chiếc ba lô trên lưng, nằm xuống rồi đẩy chiếc ba lô qua khe hở, sau đó từ từ di chuyển cơ thể dưới sợi dây điện căng cứng. Lúc này cậu nhận ra mình thực sự vẫn muốn sống thêm một thời gian nữa, cậu gần như có thể cảm nhận được những đống rác nguy hiểm trên đầu đang chờ đợi để đè bẹp mình. Có lẽ hai sợi dây này đang buộc giữ những viên đá vòm được lắp đặt đặc biệt, cậu thầm nghĩ. Chỉ cần một sợi đứt... tất cả chúng ta đều biến thành tro bụi. Lưng cậu khẽ chạm vào một sợi dây, từ phía rất cao truyền xuống tiếng lách tách ngay lập tức.

"Cẩn thận, nhóc con!" Gasher thì thầm. "Nhất định phải cẩn thận!"

Jack dùng cùi chỏ và bàn chân dồn sức, bò qua điểm giao nhau của sợi dây. Mái tóc ướt đẫm mồ hôi và hôi hám lại rơi vào mắt, nhưng lần này cậu không dám đưa tay ra gạt tóc.

"Mày rất thông minh," cuối cùng Gasher khinh bỉ lầm bầm, rồi chính gã cũng thuần thục chui qua sợi dây. Gã đứng dậy, thừa lúc Jack chưa kịp đeo ba lô lên thì cướp lấy. "Trong này có gì, nhóc con?" Gã kéo dây ba lô rồi nhìn vào trong. "Có cái gì tặng cho người bạn già của mày không? Bạn già Gasher thích quà lắm đấy!"

"Trong này không có gì, chỉ có—"

Gasher vung tay, một cái tát giáng thẳng vào mặt Jack, đầu Jack bị đánh ngửa ra sau, máu lại trào ra từ mũi.

"Tại sao ông làm thế?" Jack đau đớn và giận dữ hét lên.

"Bởi vì không cần mày nói, đôi mắt chết tiệt của tao tự biết nhìn!" Gasher vừa gầm lên vừa ném chiếc ba lô của Jack sang một bên, rồi nhe cái miệng gần như không còn chiếc răng nào về phía Jack, nở một nụ cười nham hiểm độc ác. "Còn vì mày mang mấy thứ chết tiệt này đến chỗ chúng tao!" Nói xong gã khựng lại, rồi bổ sung bằng giọng điệu bình tĩnh hơn. "Và vì tao muốn thế – tao phải thừa nhận điều đó. Cái biểu cảm cừu non ngu ngốc của mày luôn kích thích tao muốn tát vào mặt mày, là vậy đấy." Nụ cười nham hiểm của gã dần mở rộng, để lộ phần nướu trắng bệch mưng mủ, Jack gần như không nỡ nhìn tiếp. "Nếu người bạn cứng rắn của mày đuổi tới đây, chỉ cần chạm vào sợi dây điện là sẽ nhận được món quà bất ngờ lớn, phải không?" Gasher lại cười nham hiểm nhìn lên đỉnh đầu. "Nếu tao nhớ không nhầm thì bên trên đang đỗ một chiếc xe buýt đấy."

Jack không kìm được mà bật khóc – những giọt nước mắt mệt mỏi tuyệt vọng lăn dài trên khuôn mặt lấm lem bụi bẩn của cậu, để lại hai vệt nước mắt.

Gasher vung tay, đe dọa: "Chạy mau, nhóc con, trước khi nước mắt của chính tao rơi xuống... Bạn già của mày rất đa sầu đa cảm, có thể nói là vậy, khi ông ấy buồn bã, chỉ có tát người khác mới khiến nụ cười quay trở lại trên khuôn mặt ông ấy thôi. Chạy mau!"

Họ lại chạy tiếp. Gasher vẫn đập vào vai Jack để chỉ đường, mỗi lựa chọn tưởng chừng ngẫu nhiên lại dẫn họ vào sâu trong mê cung kêu cọt kẹt và hôi thối. Đột nhiên tiếng trống lại vang lên, tựa như đến từ mọi nơi mà cũng như không đến từ đâu cả. Còn đối với Jack, đây chính là đòn chí mạng cuối cùng. Cậu đã hoàn toàn từ bỏ hy vọng và bất kỳ suy nghĩ nào, mặc cho bản thân rơi vào cơn ác mộng vô tận.

17

Roland tới trước vật cản chặn đường đại lộ thì dừng bước. Khác với Jack, ông không hề hy vọng phía bên kia là đại lộ rộng rãi. Những tòa nhà phía đông giống như những hòn đảo đầy chốt gác, nổi lên từ đại dương phế thải gồm rác rưởi, công cụ, linh kiện... và những cái bẫy – về điều này ông không hề nghi ngờ. Một vài thứ trong đó chắc chắn từ năm trăm, bảy trăm, thậm chí một ngàn năm trước rơi xuống rồi chưa từng di chuyển, nhưng Roland cảm thấy hầu hết rác rưởi là do người Grays từng chút từng chút một tha về. Khu đông của Lud, trên thực tế, đã biến thành pháo đài của người Grays, còn Roland lúc này đang đứng bên ngoài bức tường.

Ông chậm rãi bước tới vài bước, phát hiện lối vào đường hầm bị che khuất một nửa đằng sau đống bê tông lộn xộn. Trên lớp bụi có thể nhận ra hai dãy dấu chân, một lớn một nhỏ. Roland định đứng dậy, nhìn lại một lần nữa rồi lại ngồi xổm xuống. Dấu chân không chỉ có hai dãy, mà là ba, dãy thứ ba là dấu chân của một loài động vật nhỏ.

"Ote?" Roland khẽ gọi. Ban đầu không có tiếng trả lời, một lúc sau từ trong bóng tối truyền đến một tiếng sủa khẽ. Roland bước vào đường hầm, phát hiện một cặp mắt viền vàng đang nhìn ông chằm chằm từ khúc quanh đầu tiên. Roland tiến về phía con linh thú đó. Ote dù đến tận bây giờ vẫn không quá thích gần gũi với người khác ngoài Jack, nó lùi lại một bước, đứng yên, ngước mắt lên nhìn Xạ thủ đầy lo lắng.

"Mày muốn giúp tao à?" Roland hỏi. Ông có thể cảm nhận được cơn cuồng chiến sắp bùng nổ, nhưng ông biết bây giờ chưa phải lúc. Thời cơ sắp đến, nhưng lúc này ông không thể cho phép mình mất kiểm soát ở đây. "Giúp tao tìm Jack được không?"

"Jack!" Ote sủa hai tiếng, ánh mắt lo âu không hề rời khỏi Roland.

"Vậy đi thôi. Tìm nó đi."

Ote lập tức xoay người, mũi dán sát đất chạy nhanh vào sâu trong ngõ nhỏ. Roland đi theo phía sau, thỉnh thoảng ngước mắt nhìn Ote, hầu hết thời gian ông cúi đầu nhìn chằm chằm vào mặt đất cũ nát, không bỏ sót bất kỳ dấu vết nào.

18

"Chúa ơi," Eddie nói. "Những kẻ này rốt cuộc là ai?"

Họ xuất phát từ dưới chân con dốc, dọc theo đại lộ đã đi qua mấy khu phố, do phát hiện vật cản phía trước (vừa vặn lướt qua lối đi nửa ẩn trong đống rác mà Roland vừa bước vào), nên chuyển hướng đi về phía bắc. Trước mặt họ xuất hiện một đoạn đại lộ rộng lớn, thậm chí làm Eddie liên tưởng đến Đại lộ số 5. Anh không dám nói với Susannah suy nghĩ của mình; thành phố chết đầy rác rưởi, hôi thối này mang đến cho anh sự thất vọng cay đắng khiến anh thậm chí không dám mở miệng nhắc đến từ hy vọng.

"Đại lộ số 5" dẫn họ tới một quảng trường nơi những tòa nhà bằng đá trắng đứng sừng sững, điều này lại khiến Eddie nhớ đến những bộ phim về đấu sĩ La Mã cổ đại mà anh xem trên tivi hồi nhỏ. Phong cách kiến trúc của quảng trường rất nghiêm trang, và hầu hết vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Anh khá chắc chắn đây từng là một loại địa điểm công cộng nào đó – phòng tranh, thư viện, hoặc có thể là bảo tàng. Một trong số đó có mái vòm, giờ đã đầy vết nứt như một quả trứng hoa văn bằng đá granite. Nơi đây rất có thể từng là đài thiên văn, dù Eddie từng đọc được rằng vì ô nhiễm ánh sáng sẽ ảnh hưởng đến quan sát thiên văn, các nhà thiên văn học đều thích chọn nơi xa các thành phố lớn.

Giữa những tòa nhà hùng vĩ này có rất nhiều khoảng trống. Mặc dù hoa cỏ từng được trồng ở đây giờ đã bị cỏ dại và bụi rậm thay thế, nhưng khu vực này vẫn tỏa ra vẻ uy nghiêm, Eddie đoán nơi đây có lẽ từng là trung tâm văn hóa của Lud. Tất nhiên đó là chuyện rất lâu về trước; Eddie không tin Gasher và đồng bọn của gã lại có chút hứng thú nào với múa ba lê hay nhạc thính phòng.

Anh đẩy Susannah đến ngã tư chính, bốn con đường rộng lớn tỏa ra bốn phía như nan hoa, mà trung tâm của bánh xe là một quảng trường lớn lát gạch đá. Xung quanh quảng trường bao quanh bởi những cột thép cao bốn mươi feet, trên cột còn treo những chiếc loa phóng thanh. Ở giữa quảng trường là bệ của một bức tượng, bức tượng bên trên chỉ còn lại một phần – một con ngựa đồng khổng lồ với hai chân trước nhấc bổng, thân ngựa đã phủ đầy gỉ đồng màu xanh. Người chiến binh từng điều khiển con chiến mã này đổ gục sang một bên, một tay vung thứ trông giống vũ khí súng máy, tay kia vung một thanh kiếm. Hai chân anh ta co lại trên yên ngựa cũ, đôi ủng vẫn còn hàn chặt vào bàn đạp hai bên. Bốn chữ "Người Grays chết" được viết bằng sơn cam đã phai màu trên bệ tượng.

Eddie nhìn về phía những con đường tỏa ra bốn phía, thấy thêm nhiều cột thép treo loa phóng thanh. Một vài trong số đó đã đổ, nhưng hầu hết vẫn đứng vững, điều đáng sợ hơn là trên mỗi cột thép đều treo một vòng xác chết. Cảnh tượng này chẳng khác nào một đội quân nhỏ gồm những xác chết đang canh giữ quảng trường nằm ở cuối "Đại lộ số 5" này.

"Những kẻ này rốt cuộc là ai?" Eddie lại hỏi một lần nữa.

Anh không mong đợi nhận được câu trả lời, và Susannah cũng không đưa ra phản hồi... nhưng thực ra cô vốn dĩ có thể trả lời. Cô từng thấu hiểu quá khứ của thế giới Roland, nhưng chưa bao giờ có sự lĩnh ngộ nào rõ ràng và chắc chắn như lúc này. Những lĩnh ngộ trước đây, giống như cái cô có ở ngã ba sông, chỉ mơ hồ như giấc mộng, nhưng giờ đây sự lĩnh ngộ đánh mạnh vào cô như tia chớp, tựa như một luồng điện chiếu sáng khuôn mặt vặn vẹo hiểm ác của gã điên.

Loa phóng thanh... xác chết treo lơ lửng... tiếng trống. Trong nháy mắt, cô hiểu ra những thứ này làm sao lại tụ lại một chỗ, cũng như cô hiểu không phải la hay ngựa mà là bò kéo chiếc xe chở đầy hàng hóa qua ngã ba sông hướng về phía thị trấn Jim.

"Đừng bận tâm đến đống rác này," giọng cô chỉ hơi run rẩy. "Thứ chúng ta muốn là tàu hỏa – anh nghĩ là đường nào?"

Eddie ngước nhìn bầu trời đêm đen kịt, những đám mây cuồn cuộn giúp anh dễ dàng nhận ra đường đi của luồng sáng. Anh ngoảnh lại nhìn, phát hiện một con rùa đá khổng lồ đang canh giữ lối vào con phố gần đường đi của luồng sáng nhất, nhưng cũng không quá ngạc nhiên. Cái đầu rùa đá vươn ra từ dưới mai đá granite; đôi mắt sâu thẳm dường như đang tò mò quan sát họ. Eddie gật đầu với rùa đá, nở một nụ cười gượng gạo. "Nhìn thấy cái mai rùa rộng lớn đó không?"

Susannah liếc nhìn, gật đầu. Eddie đẩy cô đi qua quảng trường trung tâm thành phố, hướng về phía phố Rùa Đá. Những xác chết treo trên cột thép hai bên đường tỏa ra mùi quế khô, khiến dạ dày Eddie co thắt... nhưng không phải vì buồn nôn, mà vì mùi đó khá dễ chịu – là loại gia vị thơm ngọt mà bọn trẻ con thích rắc lên bánh mì nướng vào bữa sáng.

Phố Rùa Đá rất rộng rãi một cách nhân từ, những xác chết treo trên cột thép hai bên phần lớn không khác gì xác ướp, nhưng Susannah phát hiện một vài cái vẫn chưa khô hẳn, ruồi nhặng bay lượn quanh những khuôn mặt sưng tấy và làn da đen kịt, giòi bọ không ngừng bò ra từ hốc mắt thối rữa.

Mà dưới mỗi chiếc loa phóng thanh đều có một đống xương trắng nhỏ.

"Chắc phải có hàng ngàn hàng vạn cái," Eddie nói. "Đàn ông, phụ nữ, trẻ con."

"Phải," giọng nói bình tĩnh của Susannah nghe rất xa xăm, ngay cả bản thân cô cũng cảm thấy xa lạ. "Chúng có đủ thời gian để giết chóc lẫn nhau, và có vẻ như chúng cũng không lãng phí một giây một phút nào."

"Đám tinh linh trí tuệ chết tiệt đó thật đáng đời!" Eddie nói, rồi anh cười lớn, nhưng nghe giống tiếng khóc hơn. Anh cảm thấy mình cuối cùng đã hiểu ý nghĩa thực sự của cách nói giảm nói tránh đó – thế giới đã chuyển đổi – bên trong che giấu sự ngu dốt và tội ác quá đỗi rộng lớn.

Quá đỗi rộng lớn.

Loa phóng thanh là cơ sở tạm thời khi chiến tranh bùng nổ, Susannah thầm nghĩ. Tất nhiên là vậy. Chỉ có Chúa mới biết đó là cuộc chiến gì, bùng nổ từ bao lâu trước, nhưng chắc chắn không phải chuyện nhỏ. Những kẻ thống trị Lud từ trong hầm trú ẩn trung tâm thành phố – loại boongke mà Hitler dùng để ban bố lệnh rút lui trước khi Thế chiến II kết thúc – thông báo, công bố qua loa phóng thanh.

Và cô có thể nghe thấy chương trình phát sóng truyền ra từ loa phóng thanh – giống như cô nghe rõ mồn một tiếng xe hàng kêu cọt kẹt đi qua ngã ba sông, nghe rõ tiếng roi quất trên lưng những con bò đang cố hết sức kéo xe.

Khu A và khu D hôm nay sẽ đóng cửa; xin hãy mang theo phiếu giảm giá thích hợp di chuyển đến khu 8, khu C, khu E và khu F.

Tiểu đoàn dân quân số 9, 10 và 12 xin nhanh chóng báo cáo tại bờ sông Ký.

Dự kiến sẽ có không kích từ 8 giờ đến 10 giờ. Tất cả cư dân không tham gia chiến đấu xin đến các trạm trú ẩn đã được phân bổ. Xin hãy mang theo mặt nạ phòng độc. Nhắc lại lần nữa, xin hãy mang theo mặt nạ phòng độc.

Phát sóng, phải rồi... còn có những đoạn tin tức – loại mà George Orwell gọi là tuyên truyền quân sự phóng đại. Nhạc quân đội chói tai xen kẽ giữa các bản tin và chương trình phát sóng, trộn lẫn với những lời lẽ kích động, mượn danh nghĩa tôn trọng người hy sinh để đưa thêm nhiều nam nữ thanh niên đến lò mổ chiến tranh chịu chết.

Sau đó chiến tranh kết thúc, thế giới quay lại bình yên... nhưng chẳng được bao lâu. Một ngày nọ, loa phóng thanh lại bắt đầu phát sóng. Đó là bao lâu trước? Một trăm năm? Năm mươi năm? Nhưng điều đó thì có nghĩa lý gì? Điều thực sự quan trọng là khi những chiếc loa phóng thanh này được tái sử dụng, việc duy nhất chúng làm là phát lại một cuộn băng... cuộn băng tiếng trống. Hậu duệ của những cư dân ban đầu của thành phố tưởng rằng đây là... là gì? Tiếng hát của rùa? Ý chí của luồng sáng?

Susannah nhớ lại cha cô là một người khá hoài nghi. Trước đây cô từng hỏi ông có tin vào thiên đường, nơi có Chúa kiểm soát mọi thứ của con người không. Ừ, ông trả lời lúc đó, ta nghĩ chuyện này là năm mươi năm mươi, Odetta. Ta tin có Chúa tồn tại, nhưng ta cảm thấy ngày nay Chúa và chúng ta đã không còn bất kỳ liên hệ nào nữa, ta tin rằng kể từ khi chúng ta giết con trai Ngài, Ngài cuối cùng đã nghĩ thông suốt, Ngài bất lực với con cái của Adam và Eva, cuối cùng quyết định rửa tay gác kiếm. Kẻ thông minh.

Sau khi nghe câu trả lời của cha (đúng như dự đoán của cô; cô bé mười một tuổi đã khá hiểu tư duy của cha mình), cô đưa cho cha xem một bài viết nhỏ đăng trên mục cộng đồng nhà thờ của tờ báo địa phương, nói rằng mục sư Murdoch của Nhà thờ Ân điển thuộc Giáo hội Giám lý Thống nhất sẽ giảng đạo vào Chủ nhật về chủ đề "Chúa trò chuyện với mỗi tín đồ mỗi ngày" – và sẽ trích dẫn một đoạn nguyên văn trong "Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô". Cha cô cười nghiêng ngả, thậm chí còn rơm rớm nước mắt ở khóe mắt. Ừ, ta đoán mỗi người chúng ta đều sẽ nghe thấy ai đó nói chuyện, cuối cùng ông nói, có một chuyện con không bao giờ phải nghi ngờ, cục cưng à: mỗi người chúng ta – bao gồm cả mục sư Murdoch hiện tại – đều sẽ nghe thấy giọng nói đó nói ra những gì họ vừa vặn muốn nghe. Như vậy thật tiện lợi.

Rõ ràng, những người này muốn nghe thấy từ cuộn băng tiếng trống chính là lời mời gọi thực hiện giết chóc hiến tế. Và giờ đây, khi tiếng trống được phát ra từ hàng ngàn chiếc loa phóng thanh – chỉ là nhịp điệu nền của bài "La Grange" của nhóm ZZ Top, nếu Eddie không nói sai – âm thanh này lập tức trở thành tín hiệu để họ tháo dây thòng lọng, treo vài kẻ lên cột thép.

Có bao nhiêu người? Cô tự hỏi trong lòng, trong khi Eddie đẩy xe lăn của cô đi qua những mảnh vỡ thủy tinh và đống giấy vụn đầy mặt đất, những chiếc bánh xe đầy vết sẹo nghiền lên đống rác đó kêu lạo xạo. Bao nhiêu năm qua, có bao nhiêu người đã mất mạng vì một lỗi mạch điện nhỏ ở đâu đó? Chẳng lẽ nguyên nhân của tất cả những điều này là do họ phát hiện ra đoạn nhạc này không thuộc về nơi đây – giống như chúng ta, chiếc máy bay đó và một số ô tô trên phố – mà đến từ một thế giới khác?

Cô không biết câu trả lời, nhưng cô biết mình đã tin vào quan điểm của cha mình về Chúa và cuộc trò chuyện của Chúa với con cái Adam, Eva, dù có hơi hoài nghi. Những người này chỉ luôn tìm kiếm một lý do để tàn sát lẫn nhau, và tiếng trống là lựa chọn phù hợp nhất mà họ có thể tìm thấy.

Cô lại nhớ đến tổ ong nhìn thấy trên đường – nếu họ ngu ngốc ăn nhầm mật của lũ ong trắng đó chắc chắn đã trúng độc mà chết. Còn ở đây, phía bên kia sông Ký, lại là một tổ ong khác đang hấp hối; bên trong có nhiều ong trắng biến dị hơn, và sự bối rối, mê muội, hỗn loạn của chúng cũng có thể gây chết người như nọc độc của chúng vậy.

Còn bao nhiêu người nữa phải bỏ mạng trước khi cuộn băng từ cuối cùng hỏng hẳn? Dường như ý nghĩ của cô đã linh nghiệm, những nhịp trống không dứt đột ngột vang lên từ loa phóng thanh. Eddie kinh ngạc thốt lên, còn Susannah thì hét toáng rồi lấy tay bịt chặt tai—nhưng trước khi kịp bịt tai, cô thoáng nghe thấy những phần còn lại của bản nhạc, như thể ai đó đã nhấn nút cân bằng từ nhiều năm trước (có lẽ hoàn toàn là ngẫu nhiên), xóa sạch các dải âm khác, khiến phần đệm guitar và giọng hát đều bị triệt tiêu hoàn toàn.

Eddie tiếp tục đẩy xe lăn dọc theo con đường rải rác những mảnh vỡ của Đại lộ Rùa và hướng đi của luồng sáng. Anh cố gắng quan sát bốn phương tám hướng, đồng thời cố gắng không ngửi thấy mùi xác chết phân hủy. Tạ ơn Chúa, gió đã nổi lên, anh thầm nghĩ.

Anh vừa đi vừa nhìn vào những khe nứt đầy cỏ dại giữa các tòa nhà màu trắng, liên tục tìm kiếm đường ray đơn chạy dài trên cao, đồng thời rảo bước nhanh hơn. Anh hy vọng có thể sớm đi hết con đại lộ của người chết này, nhưng dường như mãi chẳng thấy điểm kết thúc. Anh hít một hơi thật sâu bầu không khí ngọt ngào mang mùi quế khô, và bất ngờ nhận ra đây là mùi hương mà anh khao khát nhất từ khi sinh ra đến giờ.

19

Gasher không hề báo trước, túm lấy cổ áo sau của Jake, dùng sức mạnh bạo liệt ép cậu dừng bước, lực đạo đó chẳng khác nào một kỵ sĩ tàn nhẫn ghì chặt con ngựa đang phi nước đại. Cơn chóng mặt của Jake bị phá tan tức khắc. Cùng lúc đó, Gasher đưa một chân ra cản, Jake ngã ngửa ra sau, gáy đập mạnh xuống đất, trong khoảnh khắc xung quanh tối sầm lại. Tiếp đó, kẻ không biết nhân tính là gì như Gasher túm lấy môi dưới của Jake, tàn nhẫn kéo ngược lên, thô bạo nhấc bổng cậu dậy.

Jake hét lên rồi ngồi thẳng dậy, hai nắm đấm khua khoắng loạn xạ trong không trung. Gasher dễ dàng né tránh những cú đấm của Jake, đồng thời vươn tay đỡ lấy nách cậu rồi kéo đứng dậy. Jake đứng lên, lắc lư như một kẻ say rượu. Giờ cậu đã không còn sức phản kháng, thậm chí không thể suy nghĩ, điều duy nhất chắc chắn là mọi cơ bắp trên người cậu đều đang đau nhức, vết thương trên tay gào thét dữ dội như một con thú bị dồn vào bẫy.

Rõ ràng là Gasher lúc này cần nghỉ lấy hơi một chút. Hắn khom lưng đứng dậy, hai tay chống lên đầu gối chiếc quần xanh, thở hồng hộc, mỗi nhịp thở đều phát ra tiếng rít như tiếng còi. Chiếc khăn quàng vàng trên đầu hắn lệch sang một bên, còn con mắt không bị mù thì sáng quắc như viên đá giả rẻ tiền. Miếng che mắt bằng lụa trắng đã nhăn nhúm, những nốt mụn mủ đầy trên má trông thật kinh tởm, dịch mủ vẫn không ngừng chảy ra.

"Tự ngẩng đầu lên mà nhìn đi, nhóc con, rồi ngươi sẽ hiểu tại sao ta bắt ngươi dừng lại. Nhìn cho kỹ vào!"

Jake ngước đầu lên, trong sự bàng hoàng tột độ, cậu nhận ra mình đã sớm dự đoán được cảnh tượng này: một đài phun nước bằng đá cẩm thạch to bằng chiếc xe nhà lưu động đang treo lơ lửng trên đầu họ tám feet, bị giữ lại bởi hai sợi cáp rỉ sét gần như ẩn khuất trong hàng ghế nhà thờ. Cậu và Gasher đang đứng ngay phía dưới đài phun nước. Ngay cả trong trạng thái gần như tê liệt hiện tại, Jake cũng nhận ra hai sợi cáp này đã mòn hơn nhiều so với những sợi dây treo ít ỏi còn sót lại trên cầu treo.

"Thấy chưa?" Gasher cười toe toét hỏi. Tay trái hắn đưa lên cạnh con mắt đeo miếng che, kéo miếng che ra, móc một cục mủ từ bên dưới rồi thản nhiên vứt sang một bên. "Đẹp lắm phải không? Ồ, Lão Tick-Tock thật thông minh, thật đấy, chẳng bao giờ sai sót. (Tiếng trống chết tiệt kia đâu rồi? Lẽ ra giờ này phải bắt đầu rồi chứ—nếu Copperhead quên mất, ta sẽ chọc một cây gậy vào mông hắn để hắn nếm mùi vỏ cây). Giờ thì nhìn về phía trước đi, nhóc con ngon lành."

Jake làm theo, Gasher bất ngờ đánh cậu một cái, Jake ngửa ra sau, suýt nữa thì ngã nhào.

"Không phải nhìn sang đối diện, đồ ngốc! Nhìn xuống dưới! Có thấy hai viên đá cuội màu đen không?"

Một lát sau, Jake nhìn thấy mục tiêu, cậu gật đầu vô cảm.

"Ngươi đừng hòng giẫm lên đó, vì hai viên đá kia sẽ đưa thứ bên trên xuống đầu ngươi đấy, rồi ngươi sẽ tan xác thôi, nhóc con, muốn thu dọn xác ngươi còn phải tốn cả xấp giấy vệ sinh dày đấy, hiểu chưa?"

Jake lại gật đầu.

"Tốt lắm." Gasher hít một hơi thật sâu cuối cùng, rồi vỗ vỗ vai Jake.

"Chạy tiếp đi, còn chờ gì nữa? Nhanh!"

Jake bước qua viên đá đầu tiên bị biến màu, nhận ra đó thực chất không phải đá cuội mà là một tấm kim loại bị vặn xoắn thành hình khối. Viên thứ hai nằm ngay phía trước, được đặt rất xảo quyệt, nếu một kẻ xâm nhập không biết mà tránh được viên thứ nhất thì chắc chắn cũng không thoát được viên thứ hai.

Tiến lên, rồi giẫm lên, cậu thầm nghĩ. Tại sao không chứ? Tay súng không bao giờ có thể thoát khỏi mê cung để tìm thấy ngươi. Vậy nên cứ giẫm lên, để thứ đó rơi xuống, như thế còn sạch sẽ hơn những gì Gasher và bạn bè của hắn sẽ làm với ngươi. Mà cũng nhanh hơn nữa.

Chân Jake đặt ngay phía trước cái cò bẫy. Việc cậu muốn sống thêm một thời gian nữa không phải vì cậu vẫn còn hy vọng được Roland cứu; đây chỉ là cách mà Roland cũng sẽ chọn—luôn tiến về phía trước cho đến khi bị ép phải dừng lại, thậm chí sau khi bị ép dừng lại vẫn phải cố gắng bò thêm vài mét nữa.

Nếu bây giờ cậu làm thế, cậu có thể bắt Gasher chết cùng mình, nhưng chỉ một mình Gasher thì chưa đủ—nhìn qua hắn là biết hắn nói mình là người sắp chết không hề nói dối. Nếu cậu tiếp tục kiên trì, cậu có thể có cơ hội kéo cả bạn bè của Gasher theo—thậm chí là cả gã gọi là Lão Tick-Tock kia.

Nếu mình thực sự phải chết, Jake thầm quyết tâm, mình thà kéo theo đủ nhiều bạn đồng hành.

Roland sẽ hiểu thôi.

20

Jake đã đánh giá thấp khả năng theo dõi của tay súng trong mê cung; chiếc ba lô của Jake chỉ là dấu vết rõ ràng nhất, nhưng Roland nhanh chóng nhận ra anh không cần dừng lại để tìm dấu vết. Anh chỉ cần đi theo Oy là được.

Mặc dù vậy, mỗi khi đến ngã rẽ anh vẫn dừng lại với hy vọng xác định chắc chắn hơn. Và mỗi lần anh dừng lại, Oy lại ngoái đầu sủa nhẹ đầy mất kiên nhẫn, như thể đang nói, nhanh lên! Chẳng lẽ ông muốn mất dấu họ sao? Những dấu vết anh chú ý được có tới ba lần—một dấu chân, một sợi chỉ trên áo sơ mi của Jake, một mảnh vải từ khăn quàng vàng của Gasher—đều chứng minh lựa chọn của con Billy-bumbler này không sai. Sau đó, Roland chỉ đi theo Oy. Anh không từ bỏ việc tìm kiếm dấu vết, nhưng không còn vì thế mà giảm tốc độ nữa. Đúng lúc này, tiếng trống lại vang lên, và chính tiếng trống—cộng với sự nghi ngờ của Gasher đối với những thứ Jake mang theo—đã cứu mạng Roland vào buổi chiều hôm đó.

Anh đột ngột dừng lại, tay đã nắm lấy súng trước khi kịp nhận ra đó là âm thanh gì. Khi cuối cùng đã định thần, anh tra súng vào bao, càu nhàu đầy khó chịu. Đúng lúc anh định tiếp tục tiến lên, chiếc ba lô của Jake lọt vào tầm mắt anh đầu tiên... rồi anh chú ý đến hai sợi dây phản quang treo lơ lửng phía bên trái chiếc túi. Roland nheo mắt, cuối cùng cũng nhìn rõ hai sợi dây mảnh đang vắt chéo nhau ở độ cao ngang đầu gối, cách anh khoảng ba feet phía trước. Oy với thân hình vốn thấp bé khéo léo chui qua hình chữ V ngược do hai sợi dây tạo thành, nhưng nếu không phải nhờ tiếng trống, nếu không phải nhờ anh phát hiện ra chiếc túi bị vứt bỏ, có lẽ Roland đã đâm sầm vào cái bẫy này rồi. Anh nhìn theo hướng của sợi dây lên trên, phát hiện hai đống rác không phải ngẫu nhiên treo trên tường hai bên lối đi, tim Roland thắt lại. Vừa rồi thật là nghìn cân treo sợi tóc, chính Ka đã cứu anh.

Oy kêu lên thúc giục.

Roland hạ thấp người, cẩn thận bò chậm rãi qua bên dưới sợi dây—mặc dù anh cao lớn hơn Jake và Gasher, nhưng anh nhận ra những người thực sự cao lớn không thể nào bò qua dưới sợi dây một cách an toàn mà không kích hoạt trận lở đất được lên kế hoạch tỉ mỉ này. Tiếng trống rung lên từng nhịp trong màng nhĩ anh. Thật không biết nhóm người này có điên hết cả rồi không, anh thầm nghĩ. Nếu ngày nào mình cũng phải nghe thứ âm thanh này, mình nghĩ mình sẽ phát điên mất.

Anh bò đến đầu kia của sợi dây, đứng dậy nhặt chiếc túi lên, thấy sách của Jake và vài món quần áo vẫn còn trong đó, cùng với những món bảo bối cậu thu thập được trên đường—một viên đá có vệt vàng trông như vàng thật; một mũi tên có lẽ là do người xưa để lại, đây là thứ Jake tìm thấy trong rừng vào ngày thứ hai khi vào thế giới này; một vài đồng xu từ thế giới của chính cậu; kính râm của cha cậu; cùng với những thứ chỉ có các cậu bé mới thích và hiểu. Cậu ấy chắc chắn muốn lấy lại những món đồ này... nếu Roland có thể cứu cậu trước khi Gasher và bạn bè của hắn thay đổi cậu, làm hại cậu, khiến cậu mất đi tất cả sự ngây thơ, sở thích, theo đuổi và trí tò mò của một cậu bé.

Nụ cười nham hiểm vặn vẹo của Gasher thoáng hiện lên trong tâm trí Roland, đó là bộ mặt của con quỷ trong chai: hàm răng gãy, ánh mắt trống rỗng, những nốt mụn mủ bò đầy trên má và hàm. Nếu ngươi dám làm hại thằng bé... anh thầm nghĩ, rồi ép mình không nghĩ tiếp nữa, vì nghĩ tiếp cũng là ngõ cụt. Nếu Gasher làm hại cậu bé này (Jake! anh kịch liệt kiên quyết sửa lại trong lòng—không chỉ là cậu bé, mà là Jake! Jake!), Roland nhất định sẽ giết hắn, vâng. Nhưng giết hắn cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì Gasher vốn đã là một kẻ chết rồi.

Tay súng nới dài dây đeo, chiếc khóa linh hoạt này khiến anh khá kinh ngạc, rồi tự đeo ba lô lên và đứng dậy. Oy quay người định rời đi, Roland gọi nó một tiếng, con Billy-bumbler ngoái đầu lại.

"Đến đây với ta, Oy." Roland không biết con Billy-bumbler này có hiểu lời anh không (hoặc nếu hiểu thì có phục tùng không), nhưng nếu nó lại gần thì tốt nhất—cũng an toàn hơn. Có bẫy thứ nhất thì sẽ có bẫy thứ hai, lần sau Oy chưa chắc đã may mắn như vậy.

"Jake!" Oy không di chuyển, kêu lên. Tiếng kêu rất khẳng định, nhưng đôi mắt đó lại bộc lộ cảm xúc thực sự của nó: nỗi sợ hãi làm đen ngòm đôi mắt nó.

"Đúng vậy, nhưng quá nguy hiểm," Roland nói. "Đến đây với ta, Oy."

Trên đường họ đi qua có thứ gì đó rơi xuống rất mạnh, ước chừng là do chấn động dữ dội của tiếng trống làm rơi xuống. Giờ Roland có thể nhìn thấy cột thép treo loa phóng thanh, như loài động vật cổ dài kỳ quái nhô đầu ra khỏi đống rác.

Oy chạy về phía anh, thở hổn hển ngẩng đầu lên.

"Lại gần chút nữa."

"Jake! Jake-Jake!"

"Đúng. Jake." Anh bắt đầu chạy, Oy bám sát bên cạnh anh, động tác nhẹ nhàng linh hoạt hơn bất kỳ con chó nào Roland từng thấy.

21

Đối với Eddie, mọi thứ dường như đều đã quen thuộc: anh đẩy xe lăn chạy đua với thời gian. Mặc dù bãi biển đã thay bằng Đại lộ Rùa, nhưng mọi thứ khác đều rất giống. Ồ, còn một điểm khác biệt tương ứng nữa: lần này thứ anh tìm là nhà ga (hay còn gọi là cái nôi), chứ không phải một cánh cửa đơn độc.

Susannah ngồi trên xe lăn, lưng thẳng tắp, tóc bị gió thổi bay ra sau, tay phải nắm chặt khẩu súng lục của Roland, nòng súng chĩa vào bầu trời đầy mây cuồn cuộn. Tiếng trống như những chiếc gậy lớn đập thình thịch rung chuyển họ. Trên con đường phía trước xuất hiện một vật thể hình đĩa khổng lồ, Eddie có lẽ do được truyền cảm hứng từ những công trình kiến trúc phong cách cổ điển hai bên đường, trong tâm trí quá căng thẳng lại hiện lên hình ảnh Jupiter và Thor đang chơi trò ném đĩa. Jupiter ném đĩa đi rất xa, Thor không bắt được khiến đĩa rơi xuống tầng mây—gặp quỷ thật, lại nghĩ đến thời gian giải trí của các vị thần trên đỉnh Olympus.

Trò chơi ném đĩa của các vị thần, anh vừa nghĩ vừa đẩy Susannah vòng qua hai chiếc xe hơi cũ rỉ sét, khái niệm này quả thật quá phóng đại.

Anh đẩy xe lăn lên vỉa hè để vòng qua vật thể khổng lồ này. Nhìn gần, anh phát hiện thứ này giống như một loại ăng-ten vệ tinh hình đĩa. Một lát sau anh lại đẩy xe lăn trở lại đường—vỉa hè đầy rác, căn bản cũng chẳng tiết kiệm được bao nhiêu thời gian—đúng lúc này, tiếng trống lại đột ngột dừng hẳn. Tiếng vang xoay vần trên bầu trời, rồi sự tĩnh lặng mới lại bao trùm mặt đất, chỉ là Eddie nhận ra ở đây không thực sự yên tĩnh. Phía trước, nơi giao nhau giữa Đại lộ Rùa và một đại lộ khác lộ ra lối vào hình vòm của một tòa nhà bằng đá cẩm thạch. Bề mặt tòa nhà bò đầy những loài thực vật màu xanh trông như dây leo, nhưng vẫn hùng vĩ thậm chí là trang nghiêm. Ở góc phía sau tòa nhà, một nhóm người đang hò hét phấn khích.

"Đừng dừng lại!" Susannah hét lên. "Chúng ta không có thời gian—"

Trong tiếng hò hét phấn khích truyền ra một tiếng hét sắc nhọn, cuồng loạn, đồng thời còn kèm theo tiếng reo hò tán thưởng. Điều khiến Eddie không thể tin được là anh còn nghe thấy tiếng vỗ tay, giống như tiếng vỗ tay bùng nổ sau khi màn trình diễn phụ họa kết thúc ở sòng bạc tại Atlantic City. Những người hét lên như bị nghẹt thở, tiếng hét biến thành tiếng nấc nghẹn trong lúc giãy chết, nghe như tiếng ve kêu. Eddie cảm thấy lông tơ sau gáy dựng đứng cả lên. Anh liếc nhìn cái xác trên cột thép gần nhất, cuối cùng cũng hiểu những người Pambe thích giải trí lại đang hành hình công khai.

Thật tuyệt vời, anh thầm nghĩ. Nếu bây giờ là Tony Orlando và Dawn đang hát bài "Gõ ba lần", họ có thể cùng nhau vui vẻ xuống địa ngục rồi.

Eddie tò mò liếc nhìn đống đá ở góc kia. Những dây leo gần đó tỏa ra mùi thảo dược nồng nặc, đắng đến mức làm anh chảy cả nước mắt, nhưng so với mùi quế khô tỏa ra từ xác khô, anh thà ngửi mùi đắng này còn hơn. Những dây leo xanh mướt rủ xuống từng chùm, tạo thành những thác dây leo che khuất một hàng lối vào hình vòm vốn có. Đột nhiên, một bóng người từ trong một thác dây leo chui ra rồi lao nhanh về phía họ. Là một đứa trẻ, Eddie phát hiện ra, và từ vóc dáng mà xét thì đứa trẻ này vừa mới qua tuổi mặc quần thủng đít. Nó ăn mặc như một tiểu công tước Fauntleroy, mặc chiếc áo sơ mi trắng kỳ lạ và quần ngắn bằng nhung, trên đầu còn buộc nhiều dải ruy băng. Eddie đột nhiên có một sự thôi thúc muốn giơ tay lên cao, vẫy tay hét lớn này này này, chúng ta đến thành Lud rồi!

"Nhanh lên!" Đứa trẻ dùng giọng trẻ con sắc nhọn hét lên, vừa chạy vừa tùy tiện dùng tay trái phủi đi vài sợi dây leo xanh dính trên tóc. "Họ định giết Spank! Lần này đến lượt Spank đi đến lãnh địa của tiếng trống! Nhanh lên, nếu không các người sẽ bỏ lỡ cả nghi lễ đấy, thần linh sẽ nguyền rủa đấy!"

Susannah cũng bị ngoại hình của đứa trẻ này làm cho giật mình, nhưng khi nó chạy đến gần hơn, cô phát hiện động tác dùng tay phủi đi những sợi dây leo quấn trên tóc của nó rất kỳ lạ, vụng về: nó luôn chỉ dùng một tay, tay kia từ khi nó chui ra khỏi thác dây leo đã luôn giấu sau lưng.

Thật là ngốc! Cô suy nghĩ, lúc này trong đầu bất ngờ hiện lên cảnh tượng trước kia như đang chiếu phim, cô nghe thấy Roland đứng ở cuối cầu nói. Tôi biết chuyện như vậy sẽ xảy ra... nếu chúng ta có thể phát hiện ra gã này sớm hơn một chút, lúc đó chúng ta còn nằm trong tầm bắn của lựu đạn... vận may chết tiệt!

Đứa trẻ tiểu công tước Fauntleroy băng qua vỉa hè lao thẳng về phía họ, cô giơ súng của Roland nhắm vào nó. "Đứng lại!" Cô hét lớn. "Không được cử động, ngươi!"

"Susie, cô đang làm gì vậy?" Eddie lớn tiếng hỏi.

Susannah không nghe thấy lời anh. Thực tế, Susannah Dean lúc này đã biến mất; ngồi trên ghế là Detta Walker, trong đôi đồng tử tôi luyện lóe lên sự nghi ngờ cuồng nhiệt. "Đứng lại, nếu không ta bắn!"

Tiểu công tước Fauntleroy như không nghe thấy lời cảnh báo của cô. "Sao nào!" Nó vui vẻ hét lớn. "Các người sắp bỏ lỡ màn trình diễn đặc sắc nhất rồi! Spank sắp—"

Tay phải của nó cuối cùng cũng từ sau lưng vươn ra, đồng thời, Eddie nhận ra thứ trước mắt hai người họ không phải là một đứa trẻ, mà là một gã lùn dị dạng, tuổi thơ của hắn sớm đã là quá khứ xa vời. Biểu cảm trên mặt hắn mà Eddie ban đầu hiểu lầm là sự phấn khích của trẻ con thực chất lại là sự pha trộn giữa lòng căm thù lạnh lùng và cơn giận cuồng nhiệt. Má và lông mày của gã lùn đầy những nốt mụn mủ mà Roland gọi là "hoa điếm", đã chảy mủ đổi màu.

Susannah không nhìn thấy mặt hắn, ngược lại cô dồn toàn bộ tinh thần chú ý vào tay phải đang từ từ rút ra của hắn cũng như quả cầu màu xanh đậm hắn cầm trên tay. Thứ cô cần nhìn thấy chính là cái này. Súng của Roland vang lên một tiếng "đoàng". Gã lùn trúng đạn, ngã ngửa ra vỉa hè, miệng phát ra tiếng hét đau đớn, giận dữ. Hắn buông tay, quả lựu đạn nảy trên mặt đất, rồi lăn về phía lối vào hình vòm nơi hắn chui ra.

Giống như một giấc mơ, Detta biến mất. Susannah ngạc nhiên, sợ hãi, chán nản nhìn nòng súng còn đang bốc khói và bóng người nằm trên vỉa hè. "Ồ, Chúa ơi! Tôi bắn trúng hắn rồi! Eddie, tôi bắn trúng hắn rồi!"

"Người Goleh... chết!"

Tiểu công tước Fauntleroy còn cố gắng gào lên những từ này một cách đầy kháng cự, nhưng kèm theo hàng loạt tiếng ho là máu hắn phun ra, nhuộm đỏ vài mảng vải trắng còn sót lại trên chiếc áo sơ mi xếp nếp. Từ tòa nhà ở góc phố truyền đến một tiếng nổ trầm đục, những dây leo xanh xơ xác bên ngoài lối vào hình vòm như những lá cờ bị gió mạnh thổi tung ra, đồng thời khói đặc cuồn cuộn bốc ra từ bên trong. Eddie vội vàng quay người đứng trước Susannah, dùng cơ thể che chắn cho cô. Anh cảm thấy một trận mảnh xi măng—may mắn thay đều rất nhỏ—như mưa rơi trên lưng, sau gáy và đỉnh đầu mình. Bên trái truyền đến hàng loạt tiếng vỗ mặt nước, anh hơi mở mắt nhìn về hướng đó, kết quả nhìn thấy đầu của tiểu công tước Fauntleroy lăn đến cạnh rãnh nước rồi dừng lại. Mắt hắn vẫn mở, đôi môi cố định thành hình dạng tiếng gào thét tuyệt vọng trước khi chết.

Lúc này lại liên tiếp truyền đến những âm thanh khác, có tiếng hét, có tiếng gào khóc, đều rất giận dữ. Eddie đẩy xe lăn của Susannah—một bánh xe của xe lăn bị kẹt, buộc phải dừng lại—anh nhìn về phía gã lùn lao tới. Lại có khoảng hai mươi người đàn ông, đàn bà ăn mặc rách rưới từ hướng đó tới, một số chui ra từ góc phố, những người khác xuyên qua màn dây leo che khuất lối vào hình vòm, hiện thân từ trong làn khói đặc sau vụ nổ lựu đạn như những con quỷ dữ. Hầu hết họ đều đội khăn trùm đầu màu xanh, tất cả đều cầm vũ khí—đủ loại (trong đó một số thậm chí thảm hại đến mức khiến người ta thương hại) vũ khí, như kiếm rỉ, dao cùn, gậy gỗ gãy, trong đó còn một người đàn ông tay dũng mãnh vung chiếc rìu. Họ là người Pambe, Eddie thầm nghĩ. Chúng ta đã làm gián đoạn nghi lễ hành hình riêng tư của họ, lần này thì chọc giận họ rồi.

Khi nhóm người này thoáng thấy Susannah ngồi trên xe lăn và Eddie đang quỳ một gối phía trước, họ hét lớn—giết người Goleh! Giết cả hai bọn chúng! Chúng đã giết Last! Chúa sẽ tước đoạt đôi mắt của chúng! Người đàn ông cầm đầu quấn một tấm vải kẻ sọc Scotland quanh eo, tay điên cuồng vung chiếc mã tấu (mã tấu suýt nữa cắt bay đầu một người đàn bà béo phía sau hắn, nếu không phải bà ta né kịp) lao tới. Những người còn lại phấn khích gào thét bám sát phía sau.

Nòng súng lục của Roland bắn ra vài viên đạn, tiếng nổ vang vọng trong làn gió âm u. Đạn bắn bay đầu tên thủ lĩnh người Pambe quấn vải kẻ sọc Scotland đi đầu tiên, máu phun ra tức khắc nhuộm đỏ làn da tái nhợt của người đàn bà béo suýt bị chém trúng bên cạnh hắn, bà ta lập tức kinh hoàng gào khóc thảm thiết. Những người khác khi đi qua người đàn bà béo và người đàn ông đã chết thì ai nấy đều trợn mắt, gần như phát điên.

"Eddie!" Susannah hét lên rồi lại nổ súng. Một người đàn ông mặc áo choàng đính ruy băng, đi bốt da ngang gối lại ngã xuống chết.

Eddie đưa tay sờ khẩu súng Luger của mình, trong một khoảnh khắc kinh hoàng tưởng rằng mình đã làm mất súng. Hóa ra là không biết thế nào, báng súng trượt vào trong thắt lưng quần anh. Tay anh nắm chặt báng súng, dùng sức kéo ra, nhưng cái thứ chết tiệt này thế nào cũng không chịu ra. Ống ngắm trên nòng súng không biết thế nào lại kẹt vào quần lót của anh.

Susannah bắn liên tiếp ba phát, mỗi phát đều trúng một người, nhưng điều này không làm chậm bước tiến của người Pambe.

"Eddie, giúp tôi với!"

Eddie giật phắt thắt lưng quần, cảm thấy toàn bộ động tác này chẳng khác nào một phiên bản bắt chước vụng về các siêu anh hùng, cuối cùng anh cũng rút được khẩu Luger ra. Lòng bàn tay trái đập mạnh vào chốt an toàn, một bên khuỷu tay tì vào đùi, rồi bắt đầu khai hỏa. Chẳng cần phải suy nghĩ – thậm chí không cần phải nhắm. Roland từng nói với họ rằng, trong chiến đấu, đôi tay của một Xạ thủ có thể hoàn toàn tự chủ, và giờ Eddie nhận ra ông ấy nói không hề sai một chút nào. Vả lại, ở khoảng cách gần như thế này, ngay cả một người mù cũng không thể bắn trượt. Susannah đã giảm số lượng đám người Pao đang lao tới xuống còn không quá mười lăm tên; còn Eddie, tựa như cơn gió lớn quét qua cánh đồng lúa mì, chỉ trong vòng hai giây đã hạ gục thêm bốn tên nữa.

Lúc này, biểu cảm đơn điệu ban đầu của đám người kia, cái vẻ nhiệt tình ngu muội ấy, bắt đầu tan rã. Một tên trong số đó đang vung vẩy cây rìu bỗng nhiên quăng vũ khí sang một bên, vội vã sải đôi chân biến dạng vì viêm khớp chạy một cách kệch cỡm để nhặt lại vũ khí. Hai tên khác cũng chạy theo sau hắn, số còn lại thì quay cuồng vô định trên đường phố.

“Theo kịp đi!” Một gã đàn ông trông có vẻ trẻ hơn hét lớn. Cổ hắn thắt một chiếc khăn quàng màu xanh, trông giống như cà vạt bản rộng của vận động viên chạy tiếp sức. Trên cái đầu trọc lóc chỉ còn sót lại hai chỏm tóc đỏ xoăn, mỗi bên một chỏm. Trong mắt Susannah, gã này trông giống chú hề Clarabelle; còn trong mắt Eddie, gã lại giống chú hề Ronald McDonald hơn, nhưng cả hai cùng nhận ra hắn là một mối phiền toái. Hắn ném ra một ngọn giáo có lẽ được chế từ chân bàn sắt, rơi xuống bên phải Eddie và Susannah. “Mau theo kịp đi, tao bảo thế! Nếu chúng ta đoàn kết lại, chúng ta có thể đánh bại bọn chúng –”

“Xin lỗi nhé, anh bạn.” Eddie lầm bầm, rồi một phát súng găm thẳng vào ngực hắn.

Clarabelle/Ronald McDonald lảo đảo lùi lại vài bước, một tay mò mẫm lên áo, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn Eddie, ánh mắt lộ rõ vẻ tan vỡ không hề che giấu: Sự việc lẽ ra không nên diễn ra như thế này. Tay hắn buông thõng xuống, khóe miệng trào ra một dòng máu tươi, trông đặc biệt chói mắt dưới bầu trời âm u. Những tên Pao còn lại lặng lẽ nhìn hắn gục xuống, rồi một tên trong số đó quay đầu bỏ chạy bán sống bán chết.

“Đứng yên,” Eddie nói. “Đừng nhúc nhích, bạn của tôi, nếu không ngươi sẽ chỉ còn được nhìn thế giới này lần cuối thôi.” Sau đó anh nâng cao giọng. “Bỏ vũ khí xuống, mọi người! Tất cả bỏ xuống! Ngay lập tức!”

“Ngươi…” gã đàn ông đang hấp hối khẽ hỏi. “Ngươi… là Xạ thủ?”

“Đúng vậy.” Eddie trả lời, ánh mắt nghiêm nghị quét qua đám người Pao còn lại.

“Xin… tha thứ.” Gã tóc đỏ thều thào nói xong câu đó rồi đổ ập mặt xuống đất.

“Xạ thủ?” Một tên khác hỏi, giọng nói không giấu nổi nỗi sợ hãi khi biết được sự thật.

“Ừm, các người rất ngu ngốc, nhưng đôi tai thì vẫn thính đấy,” Susannah nói, “Điều này cũng khá quan trọng, dù sao đi nữa.” Cô vung vẩy nòng súng, Eddie khá chắc là bên trong đã hết đạn. Nhắc đến chuyện này, Eddie thầm đoán xem trong khẩu Luger còn lại bao nhiêu viên. Giờ anh mới nhận ra mình hoàn toàn không biết một băng đạn chứa được bao nhiêu viên, anh thầm chửi rủa bản thân là đồ ngốc… nhưng liệu anh có lường trước được sự việc sẽ đi đến bước này không? Anh không nghĩ vậy. “Các người nghe thấy lời hắn rồi đấy. Bỏ vũ khí xuống. Nghỉ giải lao kết thúc rồi.”

Từng người một làm theo. Người đàn bà béo với khuôn mặt bị bắn đầy máu của "ngài Scimitar-Plaid" nói: “Ông không nên giết Winston, thưa ông – hôm nay là sinh nhật của anh ấy, sinh nhật của anh ấy.”

“Ừm, vậy tôi đoán anh ta nên ở nhà ăn thêm một miếng bánh sinh nhật thì hơn.” Eddie đáp. Xét đến trải nghiệm vừa rồi, anh cảm thấy lời của người đàn bà này và câu trả lời của chính mình chẳng còn chút ý nghĩa siêu thực nào nữa.

Trong số những người Pao còn lại có một người đàn bà gầy trơ xương, mái tóc vàng dài mọc thành từng chùm từ da đầu như thể bị hói. Eddie thoáng thấy bà ta định di chuyển về phía xác chết của tên lùn – và cái cổng vòm đầy dây leo ở phía xa – nên anh nổ một phát súng, viên đạn găm ngay xuống mặt đường nứt nẻ dưới chân bà ta. Anh không biết mình muốn làm gì với bà ta, nhưng anh không muốn bất kỳ ai đưa ra dù chỉ một gợi ý bỏ trốn cho những kẻ còn lại. Một phần vì anh lo lắng rằng nếu đám người điên cuồng bệnh hoạn này cố gắng chạy trốn thì đôi tay anh sẽ làm gì. Dù lý trí anh nhìn nhận thế nào đi nữa, thì đôi tay này thực sự khá thích công việc nổ súng giết chóc này.

“Đứng yên tại chỗ, người đẹp. Cảnh sát nhân dân bảo phải cẩn trọng hành sự.” Nói xong anh liếc nhìn Susannah, sắc mặt tái nhợt của cô khiến anh vô cùng lo lắng. “Susie, em ổn chứ?” anh hỏi khẽ.

“Ổn.”

“Em sẽ không ngất chứ, hả? Bởi vì –”

“Không.” Cô nhìn sâu vào mắt anh, đôi đồng tử sâu thẳm như hồ nước. “Chỉ là trước đây em chưa từng giết người… được không?”

Ừm, tốt nhất là em nên làm quen đi, câu này đã chực chờ nơi đầu lưỡi, nhưng anh vẫn nuốt ngược trở lại, tầm mắt chuyển sang năm người còn lại ở phía trước. Họ nhìn anh và Susannah với vẻ u ám sợ hãi, nhưng chỉ dừng lại ở đó, chưa đến mức kinh hãi tột độ.

Mẹ kiếp, đám người này đã quên mất sợ hãi là gì rồi, anh thầm nghĩ. Vui vẻ, đau buồn, tình yêu… cũng quên sạch rồi. Chắc là họ sống trong địa ngục quá lâu, đến mức chẳng còn bất kỳ cảm xúc nào nữa.

Sau đó, anh nhớ lại tiếng cười, tiếng hò hét phấn khích, tiếng vỗ tay sau buổi biểu diễn vừa nghe thấy, đành phải sửa lại ý nghĩ vừa rồi. Ít nhất vẫn còn một thứ có thể kích thích họ, mở công tắc cảm xúc của họ. Spank có thể làm chứng cho điều đó.

“Ai chịu trách nhiệm ở đây?” Eddie hỏi, vừa cẩn thận quan sát ngã tư phía xa, đề phòng có kẻ nào đó đột nhiên lấy lại can đảm mà xông tới. Cho đến giờ anh vẫn chưa phát hiện điều gì khả nghi, chắc là những kẻ khác đã quyết định mặc kệ đồng bọn tự sinh tự diệt.

Họ nghi hoặc nhìn nhau, cuối cùng người đàn bà béo với khuôn mặt đầy máu lên tiếng. “Spank từng là người đứng đầu, nhưng khi tiếng trống của Chúa vang lên lần này, viên đá của Spank rơi ra khỏi mũ, nên chúng tôi đã phái anh ta đi nhảy múa. Tôi đoán Winston lẽ ra sẽ kế nhiệm, nhưng anh ấy lại bị khẩu súng chết tiệt của anh lấy đi mạng sống, mạng sống của anh ấy.” Bà ta cẩn thận lau vết máu trên má, nhìn thoáng qua, rồi lại u ám nhìn Eddie.

“Được rồi, vậy cô nghĩ Winston múa may cây giáo chết tiệt đó định làm gì tôi?” Eddie hỏi ngược lại. Anh giận dữ nhận ra người đàn bà này thực sự đã khiến anh cảm thấy tội lỗi về việc mình vừa làm. “Tỉa tóc mai cho tôi à?”

“Còn giết cả Frank và Last,” bà ta cố chấp buộc tội tiếp, “Rốt cuộc các người là ai? Hoặc là người Gurney, điều đó rất tệ, hoặc là hai kẻ ngoại lai bị nguyền rủa, điều đó còn tệ hơn. Người Pao ở phía bắc thành phố còn lại ai? Topsy, tôi đoán – thủy thủ Topsy – nhưng hắn không ở đây, đúng không? Hắn đi thuyền xuống hạ lưu sông rồi, chà, đi xuống hạ lưu sông rồi. Chúa cũng nguyền rủa hắn, tôi nói thế đấy!”

Susannah không nghe nữa, câu nói vừa rồi của người đàn bà kia khơi gợi liên tưởng khiến toàn thân cô cứng đờ. "Viên đá của Spank rơi ra khỏi mũ, nên chúng tôi đã phái anh ta đi nhảy múa." Cô nhớ lại thời đại học từng đọc tiểu thuyết "Xổ số" của Shirley Jackson, trong lòng hiểu ra rằng những hậu duệ sa đọa của người Pao này đang trải qua cơn ác mộng của Jackson. Họ biết mình phải tham gia nghi lễ bốc thăm rùng rợn, nhưng không phải một năm một lần như trong tiểu thuyết, mà là một ngày hai ba lần, bảo sao họ đã mất khả năng cảm nhận bất kỳ cảm xúc mãnh liệt nào.

“Tại sao?” Cô hỏi gắt gao người đàn bà béo đầy máu. “Tại sao các người lại làm thế?”

Người đàn bà béo nhìn Susannah, như thể cô là kẻ ngốc số một trên đời. “Tại sao ư? Để những con quỷ ẩn nấp trong máy móc không điều khiển những linh hồn đã chết – người Pao và người Gurney – chui ra từ những cái hố lớn trên đường phố để ăn thịt chúng ta. Kẻ ngốc nào cũng biết điều đó.”

“Trên thế giới này không có ma quỷ,” Susannah đáp, mặc dù giọng điệu nghe như chính cô cũng đang nói dối. Tất nhiên là có. Trên thế giới này ma quỷ lang thang khắp nơi. Nhưng cô vẫn nói tiếp. “Tiếng động mà các người gọi là trống của Chúa chỉ là một đoạn băng từ bị kẹt trong máy móc phát ra thôi. Đó là toàn bộ sự thật.” Đột nhiên, trong đầu cô lóe lên một ý tưởng, bổ sung thêm: “Có lẽ đây hoàn toàn là do người Gurney cố tình sắp đặt – các người đã nghĩ đến chưa? Họ sống ở phía bên kia thành phố, đúng không? Hơn nữa còn sống dưới lòng thành phố. Họ luôn muốn đuổi các người đi. Có lẽ họ cuối cùng đã tìm ra một cách cực kỳ hiệu quả để các người tự giúp họ đạt được mục đích đó.”

Bên cạnh người đàn bà béo đầy máu đứng một ông lão, đầu đội chiếc mũ quả dưa trông có vẻ cổ xưa nhất thế gian, mặc chiếc quần soóc vải kaki đã sờn rách gấu. Ông ta bước lên một bước, vẻ thanh lịch khiến sự khinh miệt thầm kín trong ông trở thành lưỡi dao sắc bén. Ông ta lên tiếng: “Cô sai rồi, Xạ thủ tiểu thư. Dưới thành Lud ẩn chứa rất nhiều máy móc, bên trong chứa đầy quỷ dữ – chúng là linh hồn của ác quỷ, căm thù tất cả những kẻ đang sống. Chúng có năng lực mạnh mẽ, có thể đánh thức người chết… ở Lud thì có vô số người chết có thể bị đánh thức.”

“Nghe này,” Eddie nói. “Các người có tận mắt nhìn thấy con ma nào chưa, Jeeves? Có ai không?”

Jeeves cong môi, không nói gì – nhưng hành động cong môi đã nói lên tất cả. Ông ta như đang hỏi, với một lũ ngoại lai chỉ biết nổ súng chứ không biết dùng não thì còn trông mong gì nữa?

Eddie cảm thấy tốt nhất không nên thảo luận tiếp, dù sao anh cũng chưa bao giờ là người có khiếu làm giáo sĩ. Anh vung khẩu Luger về phía người đàn bà béo đầy máu. “Cô và đám bạn ở đây – cái gã trông như quản gia người Anh đã nghỉ hưu này – dẫn chúng tôi đến nhà ga. Đến đó rồi, chúng ta có thể nói lời tạm biệt. Tôi nói thật với cô: điều đó sẽ làm tôi hạnh phúc chết đi được.”

“Nhà ga?” Ông lão trông như quản gia Jeeves hỏi. “Nhà ga là gì?”

“Dẫn chúng tôi đến cái Nôi,” Susannah nói, “Dẫn chúng tôi đi tìm Blaine.”

Câu nói này cuối cùng cũng khiến Jeeves trở nên căng thẳng; vẻ kinh ngạc và sợ hãi thay thế cho vẻ chán đời và khinh miệt mà từ nãy đến giờ ông ta luôn trưng ra. “Các người không thể đến đó!” ông ta thốt lên. “Cái Nôi là vùng cấm, Blaine là kẻ nguy hiểm nhất trong tất cả quỷ dữ ở Lud.”

Vùng cấm? Eddie thầm nghĩ. Tuyệt thật. Nếu đây là sự thật, ít nhất không cần phải lo lắng cho đám ngu ngốc các người nữa. Tất nhiên nghe tin vẫn còn một chiếc Blaine cũng khiến anh vô cùng vui mừng… ít nhất thì những người này tin là như vậy.

Những người khác ngơ ngác nhìn Eddie và Susannah với vẻ ngạc nhiên, như thể người nói đang bảo một đám tín đồ Cơ đốc giáo ngoan đạo rằng họ tìm thấy Hòm Bia Giao Ước, rồi cải tạo nó thành nhà vệ sinh thu phí.

Eddie giơ khẩu Luger, chĩa thẳng vào trán Jeeves. “Chúng tôi phải đến,” anh nói, “Nếu các người không muốn đi theo vết xe đổ của đồng bọn đã mất mạng, tôi khuyên tốt nhất các người nên ngừng càm ràm, lập tức dẫn chúng tôi đi.”

Jeeves và người đàn bà béo đầy máu trao đổi ánh mắt nghi hoặc, nhưng khi ông lão đội mũ quả dưa quay lại nhìn Eddie và Susannah, biểu cảm của ông ta trở nên nghiêm nghị kiên định. “Nếu các người muốn, hãy bắn chết chúng tôi ngay bây giờ,” ông ta nói. “Chúng tôi thà chết sớm ở đây còn hơn.”

“Các người đúng là một lũ khốn não ngắn!” Susannah hét vào mặt họ. “Không ai phải mất mạng cả! Các người chỉ cần dẫn chúng tôi đến nơi chúng tôi cần đến, vì Chúa!”

Người đàn bà béo u ám nói, “Nhưng bước vào lãnh địa của Blaine đồng nghĩa với cái chết, thưa bà, đồng nghĩa với cái chết! Bởi vì Blaine đang ngủ, những kẻ làm phiền giấc ngủ của hắn đều phải trả cái giá rất đắt.”

“Thôi đi, người đẹp,” Eddie buột miệng. “Cô không thể vừa giấu đầu vào mông vừa muốn ngửi mùi cà phê được.”

“Tôi không biết điều đó có nghĩa là gì,” câu trả lời của bà ta mang theo một vẻ tôn nghiêm khó hiểu.

“Ý nghĩa là cô hoặc là chấp nhận rủi ro Blaine nổi giận để dẫn chúng tôi đến cái Nôi, hoặc là chấp nhận rủi ro Eddie nổi giận để đứng yên tại chỗ. Có khả năng tôi sẽ không kết liễu các người bằng một phát súng đâu, cô thấy đấy. Tôi có thể bắn cô từng chỗ một, và bây giờ tôi đang rất có hứng thú làm điều đó. Hôm nay ở thành phố của các người tôi không có tâm trạng tốt – âm nhạc khó chịu, ai cũng hôi hám, người đầu tiên chúng tôi gặp còn cầm lựu đạn bắt cóc bạn chúng tôi. Bây giờ các người nói sao?”

“Tại sao các người nhất định phải đi tìm Blaine?” Một tên trong số đó hỏi. “Hắn đỗ ở cái Nôi đã yên lặng từ rất lâu rồi – rất nhiều năm rồi. Hắn thậm chí đã ngừng nói chuyện và cười đùa.”

Nói chuyện và cười đùa? Eddie nhìn Susannah, cô cũng nhìn lại, nhún vai.

“Người cuối cùng đi tìm Blaine là Ardis.” Người đàn bà béo đầy máu nói.

Jeeves sầm mặt gật đầu. “Ardis cứ say rượu là biến thành kẻ ngốc. Blaine hỏi hắn mấy câu. Tôi từng nghe thấy, nhưng hoàn toàn không hợp lý – đại loại như mẹ của con quạ là ai, tôi nhớ là thế – Ardis không trả lời được, Blaine liền phun ra ngọn lửa xanh vào hắn.”

“Lửa điện?” Eddie hỏi.

Jeeves và người đàn bà béo cùng gật đầu. “Phải,” người đàn bà béo nói. “Lửa điện, trước đây người ta vẫn gọi như thế, gọi như thế đấy.”

“Các người không cần phải đi vào cùng chúng tôi,” Susannah đột nhiên đề nghị. “Chỉ cần chúng tôi nhìn thấy đích đến là được, đoạn đường còn lại chúng tôi tự đi.”

Người đàn bà béo bán tín bán nghi nhìn cô, rồi Jeeves kéo bà ta sang một bên, ghé tai thì thầm một hồi. Những người Pao khác đứng tản mát phía sau họ, trông như một đám người sống sót sau cuộc không kích, nhìn Eddie và Susannah đầy vẻ hoang mang.

Cuối cùng ánh mắt người đàn bà béo quét qua đám đông. “Chà,” bà ta nói. “Chúng tôi sẽ dẫn các người đến cái Nôi, đây là sự giải thoát duy nhất khỏi đau khổ.”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Eddie nói. “Cô và Jeeves ở lại. Những người còn lại đi đi.” Anh nhìn quanh một lượt, rồi nói tiếp: “Nhưng hãy nhớ một điều – chỉ cần dùng một ngọn giáo, một mũi tên, một viên gạch lén tấn công chúng tôi, hai người này sẽ chết.” Chỉ là câu đe dọa này vừa thốt ra đã nghe vô cùng yếu ớt, không thể đạt được hiệu quả như Eddie mong đợi. Làm sao họ có thể quan tâm đến hai người này, hay bất kỳ đồng bọn nào? Khi mà ngày nào họ cũng phải treo cổ hai hoặc nhiều người trong số họ. Anh nhìn những người khác rời đi không quay đầu lại, thầm nghĩ: Ừm, giờ lo lắng chuyện này đã quá muộn rồi.

“Nhanh lên,” người đàn bà béo nói. “Tôi muốn nhanh chóng kết thúc với các người.”

“Cô đừng tưởng chỉ có mình cô hy vọng thế.”

Nhưng trước khi họ khởi hành, một hành động của người đàn bà béo khiến Eddie hơi hối hận về những suy nghĩ tàn nhẫn của mình: bà ta quỳ xuống cạnh xác chết người đàn ông mặc vải kẻ sọc Scotland, vuốt tóc anh ta ra sau, đặt một nụ hôn lên khuôn mặt lấm lem của anh ta. “Tạm biệt, Winston,” bà ta nói. “Đợi khi anh đến nơi nước trong lá xanh, nhớ đợi em. Em sẽ đến tìm anh, chà, điều này chắc chắn như bóng đổ về phía tây khi nắng chiều vậy.”

“Tôi không hề muốn giết anh ấy,” Susannah nói. “Tôi muốn anh biết điều đó. Nhưng bản thân tôi càng không muốn chết.”

“Phải.” Người đàn bà béo quay sang Susannah, sắc mặt u ám nghiêm nghị, không một giọt nước mắt. “Nhưng nếu các người định bước vào cái Nôi của Blaine, dù thế nào cũng sẽ mất mạng, và rất có thể khi sắp chết, các người sẽ rất ghen tị với Winston tội nghiệp. Hắn cực kỳ tàn nhẫn, Blaine cực kỳ tàn nhẫn, là kẻ tàn nhẫn nhất trong tất cả quỷ dữ ở nơi tàn nhẫn, tàn nhẫn này.”

“Nhanh lên, Maud.” Jeeves thúc giục, đỡ bà ta đứng dậy.

“Phải. Hãy mau chóng kết thúc với phía bọn họ đi.” Ánh mắt bà ta đảo qua Susannah và Eddie, ánh mắt nghiêm khắc cũng không giấu nổi sự bối rối. “Chúa sẽ nguyền rủa mắt tôi, ai bảo tôi lại là người nhìn thấy hai người đầu tiên chứ. Chúa cũng sẽ nguyền rủa những khẩu súng các người mang theo, chúng mãi mãi là nguồn gốc của mọi rắc rối chúng tôi.”

Thái độ này của các người, Susannah thầm nghĩ, sẽ khiến rắc rối của các người kéo dài thêm ít nhất một ngàn năm nữa, cưng ạ.

Maud đi rất nhanh dọc theo phố Rùa ngay từ đầu, Jeeves theo sát bên cạnh bà ta. Eddie đẩy xe lăn của Susannah, thở hổn hển cố gắng theo kịp. Những tòa nhà tráng lệ hai bên đường đã đến điểm cuối, sau đó xuất hiện những ngôi nhà nông thôn đầy dây thường xuân, trước nhà còn có những bãi cỏ lớn, chỉ là giờ đã cỏ dại mọc đầy. Eddie nhận ra họ đã tiến vào khu dân cư xa hoa ngày trước. Một tòa nhà hùng vĩ cao hơn nhiều so với các khối nhà khác xuất hiện phía trước mọi người. Vẻ ngoài hình vuông đơn giản, kết cấu gạch trắng, mái hiên được chống đỡ bởi nhiều cột đá, khiến Eddie lại nhớ đến những bộ phim về đấu sĩ mà mình thích xem hồi nhỏ. Còn Susannah được giáo dục chính quy hơn thì liên tưởng đến đền Parthenon. Cả hai cùng nhìn thấy nhiều bức tượng động vật điêu khắc tinh xảo – gấu và rùa, cá và chuột, ngựa và chó – xếp thành cặp bao quanh đỉnh tòa nhà, lập tức kinh ngạc không thôi. Cả hai lập tức hiểu đây chính là nơi họ tìm kiếm bấy lâu nay.

Họ luôn cảm thấy căng thẳng vì có nhiều ánh mắt bắn về phía mình – những ánh mắt đầy căm thù và ngạc nhiên. Khi đường ray tàu đơn ray uốn lượn lọt vào tầm mắt, bầu trời vang lên tiếng sấm rền; cùng hướng với cơn bão, đường ray cũng kéo dài từ nam ra bắc, nhập vào phố Rùa, rồi đi thẳng đến cái Nôi Lud. Khi họ đến gần, gió càng thổi mạnh hơn, những cái xác cổ xưa treo hai bên đường nhảy múa trong gió.

22

Họ chạy điên cuồng một lúc lâu, Chúa mới biết là bao lâu (điều duy nhất Jack biết rõ là tiếng trống cuối cùng cũng dừng lại lần nữa). Đột nhiên Gasher lại phanh gấp. Lần này Jack đứng vững, cậu đã hồi phục chút tinh thần, còn Gasher thì rõ ràng là một chân đã bước vào quan tài.

“Hự! Trái tim già nua của tao sắp không nhảy nổi nữa rồi, cưng ơi.”

“Tệ thật.” Jack nói với vẻ mặt vô cảm. Lời vừa dứt, Gasher chìa bàn tay xương xẩu ra, túm chặt lấy má cậu, kéo ngửa ra sau.

“Nhóc, nếu tao chết ngay tại đây, mày có rơi những giọt nước mắt đắng cay không? Chắc chắn là không. Nhưng mày đừng có mong thế, nhóc con – lão Gasher này đã trải đời nhiều lắm rồi, tao sẽ không chết dưới chân một thằng nhóc non nớt như mày đâu.”

Jack nghe ông ta nói đứt quãng, biểu cảm lạnh lùng. Cậu dự định đêm nay sẽ giết chết Gasher. Gasher có thể sẽ kéo cậu theo cùng, nhưng cậu không còn quan tâm nữa. Cậu sờ vào cái môi vừa bị rách, suy tư nhìn vết máu trên tay, thầm ngạc nhiên rằng ham muốn giết người lại có thể chiếm lĩnh, tấn công tâm hồn con người nhanh chóng đến vậy.

Gasher quan sát Jack nhìn vết máu trên ngón tay mình, cười toe toét. “Dịch chảy ra rồi à? Nhưng đây sẽ không phải là lần cuối lão bạn già Gasher này đánh bật dịch ra khỏi cái cây non như mày đâu, trừ khi mày tăng tốc; trừ khi mày thực sự tăng tốc.” Nói xong ông ta chỉ vào con hẻm hẹp phía trước, trên mặt đường có một nắp hố ga rỉ sét, Jack phát hiện mấy chữ khắc trên nắp cậu vừa nhìn thấy cách đây không lâu: Đúc Lamoko.

“Bên cạnh có cái tay cầm,” Gasher nói. “Thấy không? Thò tay vào đó, kéo nắp hố ga ra. Mau lên, đi lên đó, ngay bây giờ, như vậy khi đến trước mặt lão Tick-Tock, có lẽ mày còn giữ được nguyên hàm răng đấy.”

Jack túm lấy nắp sắt kéo mạnh, nhưng không dùng hết sức bình sinh. Mê cung đường hầm mà Gasher dẫn cậu chạy qua đã đủ tồi tệ rồi, nhưng ít nhất cậu còn nhìn thấy phương hướng. Thế giới ngầm của thành phố này lại là thứ không thể tưởng tượng nổi, sự tăm tối dưới đó sẽ khiến mọi giấc mơ trốn thoát trở nên hoàn toàn bất khả thi, nên trừ khi bị dồn vào đường cùng, cậu không hề có ý định đi khám phá tận cùng.

Nhưng chẳng bao lâu sau, Gasher đã cho cậu biết cậu buộc phải đi khám phá tận cùng.

"Nặng quá——" Jack vừa mở miệng, tên cướp biển đã túm lấy cổ họng cậu, nhấc bổng cậu lên để đối mặt với hắn. Việc chạy bộ đường dài khiến đôi má hắn ửng lên hai vệt đỏ ẩm ướt nhạt nhòa, cũng khiến những nốt mụn mủ hằn sâu trong da biến thành màu vàng tím ghê tởm. Những vết loét hở miệng đã nhiễm trùng, không ngừng chảy mủ máu. Trên người Gasher tỏa ra một mùi hôi thối nồng nặc, xộc thẳng vào mũi Jack, ngay sau đó cổ họng cậu bị bóp nghẹt, đến thở cũng không nổi.

"Nghe đây, đồ ngu, mày phải nghe cho kỹ, vì đây là lời cảnh cáo cuối cùng. Mày hoặc là ngay bây giờ nhấc cái nắp sắt chết tiệt này lên, hoặc là tao sẽ thọc tay vào mồm mày mà lôi lưỡi mày ra ngoài. Nếu mày muốn cắn tao thì cứ việc cắn, vì virus trong máu tao sẽ khiến mày chưa kịp hết một tuần đã thấy khuôn mặt mình nở ra đóa hoa đầu tiên——nếu mày còn sống được lâu đến thế. Bây giờ, mày hiểu chưa?"

Jack điên cuồng gật đầu. Khuôn mặt Gasher ẩn trong bóng tối, giọng nói của hắn như vọng lại từ nơi rất xa.

"Được rồi." Gasher đẩy cậu ra sau một cái, Jack ngã nhào vào đống đồ đạc bên cạnh nắp hố ga, suýt chút nữa thì nôn mửa. Cuối cùng cậu cũng gắng hít được một hơi thật sâu, lồng ngực nóng rát như đang bốc cháy. Cậu nhổ ra một thứ gì đó lẫn máu, liếc nhìn một cái rồi ghê tởm đến mức suýt nôn ra ngoài.

"Bây giờ kéo nắp ra đi, tao vui vẻ thì sẽ không cần phải nói nhảm với mày nữa."

Jack bò lên trên nắp hố ga, hai tay luồn vào tay cầm, lần này dùng hết sức bình sinh. Trong khoảnh khắc, cậu kinh hoàng nghĩ rằng mình vẫn không thể lay chuyển cái nắp dù chỉ một chút, hình ảnh bàn tay Gasher thọc vào miệng lôi lưỡi cậu ra hiện lên trong tâm trí. Hình ảnh đáng sợ đó lại mang đến cho cậu sức mạnh dư thừa. Lưng cậu lại truyền đến một cơn đau âm ỉ, nhưng cái nắp hình tròn cuối cùng cũng từ từ trượt ra, lộ ra một vệt trăng khuyết, bóng tối ùa lên từ khe hở.

"Rất tốt, nhóc con, rất tốt!" Gasher vui vẻ hét lớn. "Mày đúng là một con lừa ngoan! Tiếp tục kéo đi——đừng bỏ cuộc ngay lúc này."

Vệt trăng khuyết biến thành hình bán nguyệt, lúc này cơn đau sau lưng Jack ngày càng dữ dội. Gasher đá mạnh vào mông cậu, cậu lập tức ngã rạp xuống đất.

"Tuyệt vời!" Gasher vừa nói vừa nhìn xuống bên dưới. "Bây giờ, nhóc con, cẩn thận men theo thang mà xuống. Đừng có trượt tay mà rơi thẳng xuống đáy giếng đấy, vì mấy cái bậc thang này trơn lắm. Tao nhớ là có hơn hai mươi bậc, xuống dưới đó rồi thì đứng yên đấy, đợi tao xuống. Có lẽ mày sẽ muốn vứt bỏ người bạn cũ của mình, nhưng mày nghĩ đó là ý hay sao?"

"Không," Jack đáp. "Tôi nghĩ là không."

"Rất thông minh, thằng nhãi!" Gasher nở nụ cười xấu xí đặc trưng, lại để lộ hàm răng chẳng còn lại bao nhiêu. "Dưới đó tối lắm, có cả ngàn đường hầm nối liền với nhau. Người bạn cũ Gasher của mày thì rành rẽ đường hầm như lòng bàn tay, đúng vậy, rành rẽ như lòng bàn tay, nhưng mày thì sẽ lạc lối ngay lập tức. Với lại còn có chuột nữa——những con chuột rất to và đói khát. Thế nên mày cứ đứng yên đó mà đợi."

"Tôi sẽ đợi."

Gasher nheo mắt đánh giá cậu. "Cách mày nói chuyện hơi ranh mãnh, đúng là vậy, nhưng mày không phải người Pith. Cái này tao dám cá. Mày từ đâu đến, nhóc con?"

Jack không trả lời.

"Chuột cống ăn mất lưỡi mày rồi à, hả? Được rồi, không sao cả; Lão Tích Tắc sẽ hỏi ra đáp án, lão sẽ hỏi ra thôi. Lão có cách của lão; tự nhiên sẽ khiến người ta phải mở miệng nói chuyện. Chỉ cần lão làm họ mở miệng, họ thậm chí sẽ nói nhanh và to đến mức người ta phải gõ vào đầu họ mới chịu chậm lại. Lão Tích Tắc sẽ không cho phép lưỡi của bất kỳ ai bị chuột cống ăn mất, bao gồm cả mấy thằng nhóc như mày. Bây giờ thì mày xuống dưới đó mau cho tao. Nhanh!"

Hắn lại đá tới một cái. Lần này Jack co người né được. Cậu nhìn vào miệng giếng đang mở một nửa, thấy cái thang, rồi bắt đầu trèo xuống. Đúng lúc cậu xuống được một nửa, một tiếng động ầm ĩ vang lên từ phía xa khoảng một dặm. Chẳng cần nói Jack cũng biết chuyện gì đã xảy ra, tiếng kêu thảm thiết không kìm được trào ra khỏi môi cậu.

Khóe miệng Gasher lộ ra một nụ cười nham hiểm tàn nhẫn. "Người bạn mạnh mẽ của mày lần theo dấu vết đến nơi đó xa hơn mày tưởng đấy, đúng không? Cũng giống như tao dự đoán, nhóc con, vì tao đã nhìn thấy mắt hắn——cố chấp, quỷ quyệt. Tao nghĩ hắn có thể lần theo nhiều manh mối, nếu hắn chịu đuổi theo, và hắn quả thực đã đuổi theo. Hắn phát hiện ra lưới bẫy điện chéo, nhưng vẫn trúng kế của đài phun nước, như vậy rất tốt. Tiếp tục xuống đi, cưng."

Hắn đá vào cái đầu đang nhô lên khỏi mặt đất của Jack, Jack né được, nhưng đồng thời chân bị trượt, may mà cậu kịp túm lấy mắt cá chân đầy vết sẹo đỏ của Gasher mới không rơi xuống. Cậu ngước nhìn lên đầy cầu khẩn, nhưng trên khuôn mặt nhiễm trùng đầy mủ của Gasher không tìm thấy chút dấu vết mềm lòng nào.

"Xin ông đấy." Cậu khẩn cầu, nghe thấy giọng mình gần như sắp khóc. Trong tâm trí cậu không ngừng hiện lên cảnh tượng thảm khốc của Roland khi bị đè dưới đài phun nước khổng lồ. Gasher đã nói gì nhỉ? Nếu có ai muốn thu xác thì phải mang theo một xấp giấy thô dày.

"Nếu mày muốn, thì cứ cầu xin tao đi, bảo bối thân yêu. Chỉ là đừng mong tao sẽ mềm lòng, vì ở phía bên này của cầu treo hoàn toàn không tồn tại lòng nhân từ, không tồn tại đâu. Bây giờ xuống đi, không thì tao sẽ đá cái bộ não chết tiệt của mày ra khỏi đôi tai chết tiệt của mày đấy."

Jack tiếp tục trèo xuống, đợi đến khi hai chân chạm vào nước đọng dưới đáy giếng, nỗi thôi thúc gào khóc đã qua đi. Cậu buông thõng vai, cúi gầm đầu, chỉ đợi Gasher xuống dẫn cậu đến đích đến định mệnh.

23

Roland suýt chút nữa đã giẫm phải cơ quan điều khiển vụ sạt lở rác thải, nhưng đài phun nước lơ lửng giữa không trung thực ra rất nực cười——giống như cái bẫy do một đứa trẻ ngốc nghếch đặt ra. Cort từng dạy họ rằng khi ở trong lãnh địa kẻ thù phải quan sát tứ phía, bao gồm cả trên dưới trước sau.

"Dừng lại." Hắn lớn tiếng gọi Oy để tránh bị tiếng trống át đi.

"Xuống!" Oy dừng lại, sau đó nhìn về phía trước rồi kêu lên một tiếng, "Jack!"

"Đúng vậy." Xạ thủ lại ngước mắt nhìn đài phun nước bằng đá cẩm thạch lơ lửng trên không trung, sau đó quan sát kỹ mặt đường để tìm cơ quan. Hắn nhìn thấy hai cái. Có lẽ sự ngụy trang bằng đá cuội từng rất hiệu quả, nhưng đó chắc hẳn là chuyện từ rất lâu rồi. Roland cúi người, hai tay chống lên đầu gối, nói với khuôn mặt đang ngước lên của Oy: "Ta định bế ngươi lên một lát. Đừng làm ầm ĩ đấy, Oy."

"Oy!"

Roland vươn tay ôm lấy con lửng, ban đầu thân mình Oy cứng đờ, còn cố gắng né tránh, chốc lát sau Roland cảm nhận được con vật nhỏ này đã từ bỏ sự chống cự. Nó vẫn không thích gần bất kỳ ai không phải là Jack, nhưng rõ ràng nó đã quyết định tạm thời chịu đựng một chút. Sự thông minh của Oy lại khiến Roland ngạc nhiên.

Hắn bế nó đi qua lối đi hẹp, cẩn thận bước qua hai viên đá cuội ngụy trang, xuyên qua đài phun nước Lud lơ lửng giữa không trung. Khi họ đến vùng an toàn, hắn cúi người thả Oy ra, cùng lúc đó, tiếng trống dừng lại.

"Jack!" Oy kêu lên đầy sốt sắng. "Jack-Jack!"

"Đúng vậy——nhưng trước tiên còn một việc nhỏ cần giải quyết."

Hắn để Oy chạy vào lối đi mười lăm thước, rồi cúi người nhặt một khối bê tông, trầm ngâm tung khối đá qua lại giữa hai tay. Cùng lúc đó, phía đông truyền đến một tiếng súng. Tiếng trống rền vang đã át đi trận đấu súng trước đó giữa Eddie, Susannah và người Pith, nhưng tiếng súng này vang lên rất rõ ràng, Roland mỉm cười——gần như có thể khẳng định, nhà Dean đã đến được Cái Nôi. Hôm nay mới một ngày mà dài như cả tuần, đây là tin tốt đầu tiên.

Roland quay người ném khối bê tông, giống như khi dùng đá ném vào đèn giao thông cũ ở ngã ba sông, nó trúng phóc vào cơ quan bẫy ngụy trang. Một trong những sợi dây rỉ sét đứt đánh "bộp" một tiếng, đài phun nước bằng đá cẩm thạch rơi xuống. Những sợi dây khác vẫn còn buộc, đài phun nước lắc lư vài cái trên không——Roland nhận ra, thực tế khoảng trống này đã đủ để một người phản ứng nhanh nhẹn thoát khỏi khu vực này. Cuối cùng những sợi dây không chịu nổi nữa, đài phun nước ầm ầm rơi xuống đất, vỡ tan thành một đống đá vụn màu hồng.

Roland nấp sau một đống dầm thép rỉ sét, khoảnh khắc đài phun nước rơi xuống, Oy nhanh nhẹn nhảy lên đầu gối hắn. Những khối đá cẩm thạch hồng to lớn, có khối to bằng cả xe ngựa, bay vèo qua không trung, vài mảnh nhỏ hơn rơi trúng mặt Roland. Hắn phủi vụn đá khỏi bộ lông của Oy, rồi ngước nhìn thấy đài phun nước đã vỡ làm đôi như một chiếc đĩa đá, có thể tạm dùng làm vật cản đường. Dù sao chúng ta cũng sẽ không quay lại đường cũ, Roland thầm nghĩ. Lối đi vốn đã hẹp, nay đã bị chặn hoàn toàn.

Hắn không biết Jack có nghe thấy tiếng đài phun nước rơi hay không, nếu nghe thấy thì cậu sẽ nghĩ gì. Hắn sẽ không lãng phí thời gian để đoán ý nghĩ của Gasher; Gasher chắc chắn sẽ tưởng rằng cậu đã bị nghiền thành thịt nát, đây chính là điều Roland mong muốn. Nhưng liệu Jack có nghĩ như vậy không? Cậu bé này nên biết và nên tin rằng xạ thủ tuyệt đối sẽ không bị giết bởi một thiết bị thô sơ như vậy, nhưng giả sử Gasher cứ đe dọa cậu, Jack có lẽ không thể giữ được cái đầu tỉnh táo. Ờ, bây giờ lo lắng cũng đã muộn. Nếu cho hắn chọn lại lần nữa, hắn vẫn sẽ hành động như vậy. Dù có phải là người sắp chết hay không, Gasher vẫn có cả lòng dũng cảm lẫn sự xảo quyệt của loài vật. Nếu bây giờ hắn đã buông lỏng cảnh giác, thì tất cả đều xứng đáng.

Roland đứng dậy. "Oy——đi tìm Jack."

"Jack!" Oy vươn dài cổ, ngửi ngửi mặt đất xung quanh, sau khi tìm thấy mùi của Jack liền lao về phía trước. Roland theo sát phía sau. Mười phút sau Oy dừng lại bên miệng hố ga, nó ngửi kỹ xung quanh một vòng, rồi ngước nhìn Roland, kêu lên những tiếng chói tai.

Xạ thủ quỳ một chân xuống, quan sát thấy vài dấu chân lộn xộn, còn có một vết xước khá rộng trên mặt đường, hắn đoán cái nắp hố ga này chắc chắn thường xuyên bị di chuyển. Khi nhìn thấy bãi đờm máu trong khe đá bên cạnh, mắt hắn nheo lại thành một đường.

"Thằng khốn đó cứ đánh thằng bé." Hắn lầm bầm.

Nhấc nắp hố ga ra, hắn nhìn xuống bên trong, rồi cởi sợi dây buộc áo sơ mi, bế con lửng nhét vào trong áo. Oy nhe răng, Roland trong khoảnh khắc có thể cảm nhận được những móng vuốt nhỏ xíu của nó cào cấu trên ngực và bụng mình như những con dao sắc nhọn. Sau đó Oy thu móng vuốt lại, chỉ để lộ đôi mắt sáng lấp lánh từ trong áo Roland, thở hổn hển như một chiếc máy hơi nước. Xạ thủ có thể cảm nhận được trái tim Oy đang đập loạn xạ. Hắn xỏ sợi dây da qua khuy áo, thắt chặt lại, rồi tìm thấy một sợi dây da dài hơn trong túi đeo bên hông.

"Ta phải dùng dây da buộc ngươi lại. Ta không thích thế, ngươi lại càng không thích, nhưng bên dưới sẽ rất tối."

Hắn buộc hai đầu dây da lại, làm thành một vòng thòng lọng, quàng vào đầu Oy. Hắn vốn tưởng Oy sẽ lại nhe răng trợn mắt, thậm chí cắn hắn, nhưng Oy không làm vậy. Nó chỉ ngước đôi mắt viền vàng nhìn Roland, rồi sốt sắng giục: "Jack!"

Roland ngậm lấy đầu kia của sợi dây, rồi ngồi xuống mép nắp hố ga……nếu đây là một cái hố ga. Hắn duỗi chân dò dẫm, chạm vào bậc thang đầu tiên, cẩn thận chậm rãi trèo xuống. Thang sắt trơn trượt đầy dầu mỡ, có lẽ đã mọc đầy rêu, lúc này bàn tay phải tàn phế của hắn khiến hắn cảm thấy bất tiện hơn bao giờ hết. Cơ thể nặng trịch, ấm áp của Oy giấu giữa áo sơ mi và bụng hắn, không ngừng thở dốc, đôi mắt viền vàng đối lập với ánh sáng mờ nhạt như hai tấm huân chương rực rỡ.

Cuối cùng, xạ thủ đứng vững hai chân trong nước đọng dưới đáy giếng. Hắn ngước nhìn đốm sáng nhỏ bằng đồng xu trên đỉnh đầu, từ đây trở đi sẽ càng khó khăn hơn, hắn nghĩ. Đường hầm ấm áp ẩm ướt, tỏa ra mùi của nhà xác cũ kỹ. Đâu đó gần đây truyền đến tiếng nước nhỏ giọt rỗng tuếch, đơn điệu. Xa hơn nữa, Roland có thể nghe thấy tiếng máy móc vận hành ầm ầm. Hắn bế Oy đang tỏ vẻ biết ơn ra khỏi áo, đặt nó xuống làn nước đọng nông, nước chảy chậm chạp dọc theo cống ngầm về phía trước.

"Bây giờ tất cả trông cậy vào ngươi đấy," hắn nhẹ nhàng dặn dò bên tai con lửng. "Đi tìm Jack đi, Oy, đi tìm Jack!"

"Jack!" Con lửng sủa một tiếng như để đáp lại, nhanh chóng lao về phía trước trong bóng tối mịt mù, cái đầu trên chiếc cổ dài lắc lư qua lại như quả lắc đồng hồ. Một đầu dây da quấn quanh bàn tay phải tàn phế của Roland, kéo hắn chạy về phía trước.

24

Cái Nôi——diện tích rộng lớn đến mức dễ dàng chiếm lấy vị thế danh từ riêng trong lòng họ——đứng sừng sững giữa quảng trường. Quảng trường này lớn gấp năm lần quảng trường họ vừa đi qua, nơi có những bức tượng bị phá hủy. Susannah quan sát kỹ nơi này, phát hiện ra so sánh thì những phần còn lại của thành phố Lud đơn giản là xám xịt, cũ kỹ và bẩn thỉu. Cái Nôi trước mắt sạch sẽ đến mức gần như chói mắt, bên cạnh tòa nhà không có lấy một cọng dây leo, trên những bức tường trắng tuyết, bậc thang và cột đá không có lấy một vết vẽ bậy. Lớp đất vàng bao phủ những nơi khác ở đây cũng không thấy tăm hơi. Khi họ đến gần, Susannah đã biết lý do: trong bóng râm của mái hiên bọc đồng ẩn giấu nhiều vòi phun, nước chảy từ trong đó ra không ngừng cọ rửa các bức tường bên cạnh của Cái Nôi. Những vòi phun ẩn giấu khác phun ra những cột nước ngắt quãng để rửa sạch bậc thang, biến bậc thang thành những thác nước đứt đoạn.

"Oa," Eddie thốt lên. "Nhà ga trung tâm này trông giống như trạm xe buýt Greyhound ở Nebraska vậy."

"Anh nói chuyện thật có tính thơ ca, cưng à." Susannah trả lời với giọng khàn đặc.

Trên đỉnh của vòng bậc thang bao quanh tòa nhà là một đại sảnh mở rộng rãi. Bên ngoài đại sảnh không có dây leo che phủ, nhưng Eddie và Susannah vẫn cảm thấy không thể nhìn rõ; cái bóng đổ xuống từ mái vòm lơ lửng quá sâu. Những hình tượng động vật bao quanh tòa nhà theo từng cặp, nhưng loại động vật ở góc tòa nhà lại khiến Susannah hy vọng chỉ gặp trong ác mộng chứ đừng bao giờ chạm mặt——tượng đá yêu long với khuôn mặt dữ tợn, thân đầy vảy, móng rồng sắc nhọn cong vút, đôi mắt nhìn chằm chằm đầy hung ác.

Eddie chạm vào vai cô, chỉ lên trên, Susannah thuận thế nhìn theo……trong khoảnh khắc hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng. Phía trên hình tượng chùm sáng và tượng đá hình rồng, một bức tượng chiến binh bằng vàng cao ít nhất sáu feet đang cưỡi trên đỉnh tòa nhà. Chiếc mũ cao bồi cũ kỹ đội lệch trên đầu, để lộ vầng trán đầy nếp nhăn, sương gió; trước ngực bức tượng vắt chéo một chiếc khăn tay lớn, như thể từ lâu đã được dùng làm khăn che bụi, bây giờ mới vừa tháo xuống. Một nắm tay hắn giơ cao, cầm một khẩu súng lục, tay kia cầm thứ gì đó giống như cành ô liu.

Roland của Gilead đứng trên đỉnh Cái Nôi của Lud trong bộ giáp vàng.

Không đúng, cuối cùng cô cũng nhớ phải hít thở. Đó không phải là hắn……nhưng nhìn từ khía cạnh khác, lại đúng là hắn. Người đó là một xạ thủ, có lẽ đã chết từ hơn một ngàn năm trước. Nhưng sự tương đồng của hắn với Roland chính là tất cả sự thật mà bạn cần biết về Ka-tet.

Từ phương nam truyền đến tiếng sấm ầm ầm, tia chớp xua đuổi mây mưa, chạy băng băng trên bầu trời. Cô hy vọng mình có thêm thời gian để quan sát kỹ bức tượng vàng trên đỉnh và những hình tượng động vật bao quanh mái nhà; mỗi hình tượng dường như đều khắc chữ, có lẽ là một số thông tin hữu ích. Nhưng trong tình huống hiện tại, không có thời gian dư thừa nữa.

Trên vỉa hè nơi đại lộ Rùa giao với quảng trường Cái Nôi có vẽ một đường rộng bằng sơn đỏ. Maud và người đàn ông mà Eddie gọi là quản gia Jeeves thận trọng dừng lại sau vạch đỏ.

"Chỉ đến đây thôi, không thể tiến thêm nữa," Maud nói với khuôn mặt không cảm xúc. "Các người có thể lấy mạng chúng tôi, dù sao mỗi người, đàn ông, phụ nữ, đều nợ thần linh một mạng, nhưng dù thế nào đi nữa, nếu có chết tôi cũng chỉ nguyện chết ở phía bên này của ranh giới tử thần. Tôi không dám vì người lạ mà chọc giận Blaine."

"Tôi cũng không dám," Jeeves phụ họa, hắn cởi chiếc mũ phớt dính đầy bụi bặm, ôm trước ngực, trên mặt viết đầy vẻ kính sợ.

"Được rồi," Susannah nói. "Hai người đi đi."

"Chúng tôi vừa quay người là các người sẽ đánh lén từ phía sau," Jeeves run rẩy nói. "Tôi hy vọng có thể nhận được lời hứa, chỉ vậy thôi."

Maud lắc đầu, máu trên mặt cô đã khô thành những đốm nâu. "Xạ thủ không bao giờ đánh lén từ phía sau——điểm này tôi có thể khẳng định."

"Chúng tôi chỉ nghe họ nói họ là ai."

Maud chỉ vào cán súng lục bằng gỗ đàn hương mà Susannah đang nắm, ánh mắt Jeeves nhìn theo……một lúc sau, hắn đưa tay về phía người phụ nữ béo, Maud nắm lấy tay hắn. Lúc này, hình ảnh những kẻ sát nhân nguy hiểm của họ sụp đổ trong tâm trí Susannah. Họ giống Hansel và Gretel hơn là Bonnie và Clyde; mệt mỏi, sợ hãi, hoang mang, không tìm thấy lối ra trong khu rừng mà họ lớn lên, chỉ có thể dần già đi. Sự căm ghét và sợ hãi đối với họ biến mất, thay vào đó là sự thương hại sâu sắc và nỗi buồn đau đớn.

"Tạm biệt, hai người," cô nhẹ nhàng từ biệt. "Các người đi đi, không cần lo tôi và chồng tôi sẽ làm hại các người."

Maud gật đầu. "Tôi tin cô sẽ không làm hại chúng tôi, tôi cũng tha thứ cho việc cô giết Winston. Nhưng xin hãy nghe tôi nói, nghe cho kỹ: Tránh xa Cái Nôi ra. Dù các người vào đó vì lý do gì, những lý do đó đều không đủ đầy. Vào Cái Nôi của Blaine chỉ có đường chết."

"Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác," Eddie đáp. Lúc này trên đầu lại vang lên một tiếng sấm ầm ầm, dường như ông trời cũng đang bày tỏ sự đồng tình. "Bây giờ các người hãy nghe tôi nói. Tôi không nói rõ được dưới thành phố Lud rốt cuộc là thứ gì, nhưng tôi biết rằng thứ hành hạ các người đến kiệt quệ chỉ là một đoạn băng ghi âm——một bài hát——đến từ thế giới của tôi và vợ tôi." Nói xong, nhìn thấy vẻ mặt ngơ ngác của đối phương, anh thất vọng giơ hai tay lên. "Lạy Chúa tôi, chẳng lẽ các người không hiểu sao? Các người chỉ vì một đoạn nhạc thậm chí chưa từng được xuất bản thành đĩa đơn mà giết hại lẫn nhau!"

Tay Susannah ấn lên vai anh, lẩm bẩm gọi tên Eddie. Trong khoảnh khắc anh không để ý, ánh mắt từ Jeeves lướt sang Maud, rồi lại lướt về phía Jeeves.

"Các người muốn tận mắt nhìn thấy quái vật không? Vậy thì hãy nhìn lẫn nhau đi. Đợi các người quay lại cái nơi ma quỷ mà các người gọi là nhà, thì hãy nhìn kỹ lại người thân bạn bè của mình."

"Anh không hiểu," Maud cuối cùng cũng trả lời, ánh mắt mờ nhạt u tối. "Nhưng anh sẽ hiểu, than ôi——sẽ hiểu thôi."

"Bây giờ đi đi," Susannah bình tĩnh nói. "Cuộc đối thoại giữa chúng ta không còn ý nghĩa nữa; tất cả lời nói nói ra đều đã chết. Các người quay về đi, chỉ cần cố gắng ghi nhớ khuôn mặt cha mình, vì tôi nghĩ từ lâu lắm rồi các người đã quên mất rồi."

Hai người không nói một lời, dọc theo đường cũ quay về. Nhưng họ vẫn nắm chặt tay nhau, còn thỉnh thoảng ngoái đầu nhìn lại: Hansel và Gretel lạc lối trong khu rừng sâu thẳm.

"Tôi muốn rời khỏi đây thật nhanh," Eddie nặng nề nói. Anh chốt an toàn, cắm khẩu Luger trở lại thắt lưng, rồi giơ tay dùng lòng bàn tay xoa đôi mắt đỏ hoe. "Rời khỏi đây thật nhanh, đây là tất cả yêu cầu của tôi."

"Tôi biết anh muốn nói gì, cưng à." Cô rõ ràng cũng bị dọa sợ, nhưng đầu cô vẫn cứng đầu nghiêng sang một bên, đây là tư thế mà anh dần bắt đầu thưởng thức và yêu thích. Anh ôm lấy vai cô, cúi người bắt đầu hôn cô. Môi trường xung quanh và cơn mưa gió sắp ập đến không ngăn cản được anh hôn cô thật sâu. Khi anh cuối cùng rút lui, đôi mắt sáng lấp lánh của cô tìm kiếm kỹ trên mặt anh. "Oa! Cái này là để làm gì?"

"Vì anh yêu em," anh đáp, "anh đoán đây là tất cả lý do. Vẫn chưa đủ sao?"

Ánh mắt cô trở nên dịu dàng, trong khoảnh khắc suýt chút nữa thốt ra bí mật của mình, nhưng tất nhiên lúc này không thích hợp——cô không thể nói cho anh biết có lẽ cô đã mang thai, cũng như cô không thể dừng lại để nhìn kỹ những dòng chữ trên hình tượng động vật.

"Đủ rồi, Eddie." Cô nói.

"Em là điều tuyệt vời nhất mà anh từng gặp trong đời." Đôi mắt màu hạt dẻ của anh tràn ngập hình bóng cô. "Anh không giỏi ăn nói lắm - sống với Henry lâu ngày khiến những lời như thế này trở nên khó thốt ra, anh đoán vậy - nhưng đây là lời tận đáy lòng anh. Anh nghĩ ban đầu mình yêu em là vì em là tất cả những gì Roland khiến anh phải rời bỏ - ý anh là tất cả những gì ở New York - nhưng giờ đây mọi chuyện đã vượt xa hơn thế, bởi vì anh không còn muốn quay lại đó nữa. Còn em thì sao?"

Cô nhìn về phía chiếc nôi, đầy lo âu, không biết họ sẽ tìm thấy thứ gì bên trong, nhưng đồng thời... ánh mắt cô quay trở lại với Eddie. "Không, em cũng không muốn quay lại. Em nghĩ phần đời còn lại của mình sẽ dành cho những chuyến hành trình của chúng ta. Miễn là anh ở bên cạnh em, ý em là vậy. Anh thấy đấy, thật nực cười, anh nói anh yêu em vì em khiến anh rời bỏ tất cả."

"Tại sao lại nực cười?"

"Em yêu anh vì anh giúp em thoát khỏi Detta Walker." Cô dừng lại, suy nghĩ một chút rồi khẽ lắc đầu. "Không - không chỉ vậy. Em yêu anh vì anh đã giải thoát em khỏi hai người phụ nữ. Một kẻ chuyên văng tục, chuyên đi quyến rũ đàn ông và trộm cắp, một kẻ tự phụ, kiêu ngạo và đạo đức giả. Hai người đó chẳng qua là năm mươi bước cười trăm bước. Em thích Susannah Dean hơn... và chính anh đã giải thoát cho em."

Lần này đến lượt cô chủ động. Đôi bàn tay cô đặt lên đôi gò má rắn chắc của anh, kéo mặt anh xuống và bắt đầu hôn nhẹ nhàng. Khi anh khẽ đặt tay lên ngực cô, cô thở dài, vươn tay phủ lên bàn tay anh.

"Em nghĩ chúng ta nên lên đường thôi," cô nói, "nếu không thì có lẽ chúng ta sẽ phải nằm ngay giữa phố mất... và nhìn trời thế này thì chắc chắn sẽ bị mưa lớn làm ướt sũng."

Eddie nhìn quanh những tòa tháp im lìm, những ô cửa sổ vỡ nát và những bức tường phủ đầy dây leo lần cuối rồi gật đầu. "Được thôi. Dù sao thì anh cũng chẳng thấy hy vọng gì ở cái thành phố này cả."

Anh đẩy cô tiến về phía trước, khi chiếc xe lăn nghiền qua ranh giới tử thần mà Maude từng nhắc đến, thân hình cả hai đồng thời cứng đờ, đều lo sợ sẽ vướng phải cái bẫy cổ xưa nào đó mà bỏ mạng. Nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Eddie cứ thế đẩy cô đi đến tận quảng trường, khi họ tiến gần đến những bậc thang dẫn tới chiếc nôi, một cơn gió lạnh kèm theo mưa phùn bắt đầu trút xuống.

Dù cả hai không hề hay biết, cơn bão đầu tiên của mùa thu ở Mid-World lúc này đang ập đến.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »