Chuyện Phiếm Sử Học

Lượt đọc: 654 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
THẦN TIỀN VÀ TIỀN THẦN

❊ ❊ ❊

Ở Nam Bộ, Sài Gòn nói riêng, thường thấy một nhân vật được thờ cúng dễ lẫn với ông địa, đó là ông thần tài. Lẫn lộn không phải vì ông ta có khi ngồi dưới đất - vị trí của ông địa bị Triệu Khuông Dẫn dời xuống để lấy chỗ nằm nghỉ trưa - mà vì cả hai, nếu được đẩy lên mức độ công tích bao quát hơn, thì đều đem lại ứng nghiệm cho lời cầu xin thỏa mãn phúc lợi của mọi người. Cụ thể hơn, ông thần tài với thân hình mập mạp, cái bụng tròn trịa đã đem tiền bạc đến cho bà bán xôi, đã chỉ trúng số đề cho các tay con. Ông ngồi chễm chệ theo xe bán bánh mì, xe nước mía... với ly cà phê sữa bên cạnh, một thời tay gắn điếu thuốc Jet sang cả vừa vặn - không tự thấy quá sang để đòi điếu Ba con Năm anh-tẹc, hay quá tồi với điếu Đà Lạt không thèm nghĩ tới. Tiền bạc vốn là thiết yếu, nên cho dù một ông chính trị gia từng viết ngàn lời kinh điển, muôn vạn ngôn thư bài bác mê tín dị đoan, đến khi mở quán cà phê, cũng nhường một góc nhà quý báu cho tài thần ngồi với tờ giấy hồng điều, bát nhang, ly nước...

Quyền lực tiền bạc được hiểu thấm thía nơi các nho sĩ đi tìm tri thức, thành đạt qua khoa bảng, không có nổi một tư thế kinh tế vững chãi nên khi thất bại, sẽ biết chia sớt đồng cảm với một Nguyễn Công Trứ bị nợ đòi, một Tú Xương van nợ... Quyền lực của tiền bạc từ khu vực kinh doanh năng động đã lấn lướt các ông nho sĩ chủ điền vốn ở khu vực ruộng đất trì trệ, nhân tuần nên làm nảy sinh tâm lý và chủ trương ức thương của nhà cầm quyền xưa. Nó tồn đọng qua năm tháng, lột da đổi sắc, nấp trong những chủ thuyết mới, như nhóm Pol Pot cố thực hiện vài trang di cảo của Lenin về việc xóa bỏ tiền bạc. Đậm hay nhạt, con đường từ vương triều Angkor, Đại Việt hay Đại Hán có đi vòng kinh đô Ánh Sáng, ghé lại Thiên đường, thì cũng một lối giống nhau. Cho nên ông thần tài vẫn ngồi đấy, đeo dải quàng kết bằng tiền điếu xưa, uy nghi không suy suyển, bởi vì sức mạnh quyền lực nào mà không dẫn đến chỗ thần hóa?

Tiền xưa, tiền điếu, một đồng tiền tròn, lỗ vuông, đường kính 22-24 mm, xù xì gập ghềnh với lòng gờ, mang vài ba chữ Hán, bản thân thật nhỏ nhoi nhưng không thể coi thường được vì có cả một hệ thống “ẩm hộ” sau lưng. “Anh Hai” là cả một thế lực. Anh Hai Lỗ vuông (Khổng phương huynh) có một lời tán tụng ở Tiền thần luận: “Tiền là của quý trên đời nên thân ái gọi là Khổng phương huynh.” Tiền đồng có teng xanh nổi tốt được tôn là Thượng thanh Đồng tử. Còn làm sao cho có Anh Hai nhiều thì vấn đề còn nằm trong Hộc đen kinh tế (hay xã hội), chỉ có dân làm ăn một dạo trên đường Hàm Nghi trình diễn một kiểu biến hóa có tên: Chẻ tiền, mới giải thích được thôi. Đó là trò ảo thuật đổi tiền lấy giấy báo cắt vuông vắn cùng cỡ nằm giữa các tờ giấy bạc thật, khác với người xưa mượn tay thần thánh để giải thích. Sưu thần ký nói đến một con sâu sống dưới nước có tên thanh phù, hễ con bị bắt thì mẹ bay lại, người ta nhân đó giết thanh phù mẹ xát vào đồng tiền, giết con xát vào dây xâu thì vứt tiền đi đâu nó cũng trở về. Nghĩa là cứ làm cách đó thì dù tiêu pha thỏa thích vẫn có tiền xài như khi ăn nồi cơm Thạch Sanh vậy.

Có lúc không cần đến ma thuật mà tiền xưa cũng di tản. Lê Quý Đôn kể chuyện “y như thật” vào giữa năm 1699, tiền từ châu Quỳnh Quảng Đông bay trên trời về hướng Đại Việt suốt trong hai tháng, vào khoảng từ giờ ngọ đến giờ dần (12 giờ trưa đến 3 giờ chiều), tiếng va đập kêu loảng xoảng làm ai cũng ngước mắt lên nhìn. Đi đầu là hai lá cờ vàng, khóa đuôi là một tua giấy màu vàng. Năm ấy, cũng theo lời Lê Quý Đôn, nhiều vùng nước ta có những người tay trắng làm nên, có đủ tên họ, làng xã làm chứng! Tiền nơi khác bay đến thì dân phát sinh giàu có, còn tiền trong xứ từ đất bay lên thì tuy “nhiều lắm” nhưng chốc lát lại hóa thành đất: Đó là bằng cớ năm 1737 được kể làm nhân chứng là ông quan đầu triều tham tụng Nhữ Đình Toản. Té ra chuyện mục nát vì nằm trong lòng đất mẹ đã có từ xưa!

Cũng như thực tế của cuộc đời, một thời tìm tiền để mua khúc bánh mì gặm buổi sáng thật không dễ, tiền thần có khi cứ như là ở tầm tay với mà vẫn chỉ là của ước mơ. L.Cadière nghe chuyện thành Chàm Cao Lao Hạ có chôn bốn ở góc thành bốn người “Mọi”, miệng ngậm nhân sâm để “sống” mà giữ xác vua, giữ của. Trâu bò đầm mình trên vùng ruộng vốn là hào thành xưa, dưới tiền đầy lưng đến nỗi đứng dậy không được, phải chịu chết chìm. Còn vực Tiền, một ao sâu ở gần Kẻ Ngói, thì lại là lò đúc tiền của quy. Trâu đến đó đầm mình, tiền cũng dính vào lưng, trẻ chăn trâu chộp lấy nhưng không bao giờ nắm được. Tiền lớn nằm dưới đáy ao, có ông quan sai lính tát cạn để lấy thì nó biến mất, và ao từ đó trở nên đục ngầu như để cảnh cáo lòng tham của con người. Trong một chuyến ra hòn Phú Quý xưa, chúng tôi cũng nghe chuyện hòn Tiền (phần vùng xa tít của Pulo Cécir de Mer) mang tên đó, vì dưới nước có nhiều đồng Minh mạng - và tất nhiên không có ông thợ lặn lành nghề nào xuống lấy được.

Người trần thì không thể nào lấy được tiền của cõi linh thiêng nhưng người ở cõi vô hình với lòng tham không đáy lại dùng tiền để gạt gẫm người trần. Ở Bình Định có địa điểm gọi là cửa Kẻ Thử/Cách Thử/Khách Thử. Chữ “cửa” đôi lúc dùng kèm với tên địa điểm, chứng tỏ người ta còn nhớ đây là một hải khẩu dù bây giờ ngập đầy cát. Bản đồ xưa 1774 của ta gọi là “cửa Nước Mặn sâu”, khác hẳn với cửa Thi Nại chảy ra Giã (Quy Nhơn). Cửa Nước Mặn là Chiêm Thành cảng danh tiếng từng đón toán quân Toa Đô đổ bộ lên, từng để cho Marco Polo ghé thuyền vào, cửa đó là của nhánh lớn sông Côn chạy thẳng ra biển, cắt bán đảo Phương Mai ngày nay thành một hòn đảo có tên Rổ Đó Khổng Lồ. (Còn hòn Cù Lao Xanh thì gọi là cù lao Mây Nước). Đó hẳn là phương tiện làm ăn của ông Khổng Lồ từng xoạc cẳng giẫm trên hai vũng Nồm, Bấc, bắt cá ăn bỏ xương chất thành núi Xương Cá ở làng Nhơn Ân bên đầm. Dư âm của thời thuyền bè nhộn nhịp trên vùng Cách Thử là câu chuyện về ma đến buôn bán với người. Tất nhiên trao đổi hàng hóa xong, khách dong buồm ra khơi hay quay lưng đi thì tiền cũng biến mất. Chẳng thể nào tức giận - mà giận thì làm gì được với kẻ có quyền lực? Người dân phải tìm cách kiểm tra cho khỏi lãnh phần thiệt về mình. Mỗi khi nhận tiền, họ bỏ chúng vào chậu nước, tiền chìm là của người, tiền nổi là của ma. Và vì thế cửa khẩu này mới có cái tên lạ lùng kia.

Tiền xưa lại không phải chỉ dừng lại ở giá trị trao đổi. Bản thảo cương mục nói chuyện tiền dùng chữa bệnh, chữa đau mắt, giúp kẻ đẻ ngược... lẫn lộn y dược với lòng tin thần thánh. Lê Quý Đôn lại ghi một nhận xét không phải chỉ mới bắt đầu vào thời ông: “Tiền đồng xưa trừ được tà ma nên người ta quý trọng giữ lại trong nhà...” Không thấy ông học giả bảng nhãn này nêu lý do nhưng chúng ta cũng biết được một ít nguyên cớ. Trước nhất, trên mặt đồng tiền có bốn chữ Hán mà hai chữ thường là niên hiệu của ông vua - bậc con trời, có quyền phong thần ở thế gian trước khi bị “cách mạng” lật nhào. Các tượng thần Phật trong nhiều chùa ở vùng Tiền Giang (lưu vực sông, không phải chỉ là tỉnh) thường có chứa các đồng tiền bên trong ruột rỗng, người ta giải thích là để tăng tính linh thiêng của vật thờ cúng. Còn trong một số nhà người Bắc di cư năm 1954, có cất giữ một xâu đủ 100 đồng tiền với 100 niên hiệu khác nhau, để lấy phước. Đây là những con mồi hấp dẫn các tay sưu tập tiền xưa ở miền Nam trước 1975. Đất nước bị chiến tranh chia cắt, họ không thể lùng sục ở miền ngoài thì tàu há mồm chở vào cho họ. Một anh bạn quen, sau khi được xem một xâu tiền loại đó, liền đề nghị chủ nhân cho hai ba đồng tiền rồi anh ta sẽ ra ngay cửa hàng, bê cái tivi Hitachi 19’ về để đền đáp. Nên nhớ, cái tivi 19’ là thuộc cỡ lớn nhất, vào thời kỳ đài Sài Gòn phát hình từ chiếc phi cơ bay vòng vòng trên trời mỗi ngày vài tiếng đồng hồ!

Đó là giá trị “siêu ngạch” của tiền xưa trong lãnh vực trò chơi dù sao cũng là quý phái. Còn giá trị cao hơn nữa ở lãnh vực linh thiêng thì tập trung vào một số loại tiền có nguồn gốc, hay từ lối sử dụng đặc biệt. Đây là trường hợp đồng tiền của Chu Thế Tông (954-959), anh cả trong bộ ba Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, Trịnh Ân của truyện Phi long diễn nghĩa. Ở Trung Quốc, đồng Chu nguyên dùng để bói, chữa đẻ khó, chữa sốt rét thay ký ninh, giá cao đến nỗi vào thời Thuận Trị (1644-1661), một đồng đơn vị giá tới một quan (trên 700 lần hơn) khiến cho một người đương thời phải thắc mắc: “Hay là dựa vào cái linh của Phật chăng?”

Đúng vậy, người ta ám chỉ đến đại nạn Tam tông của Phật giáo Trung Quốc vào những thời có các ông vua cần đúc tiền để tiêu pha mà không tìm đâu ra kim loại đồng theo yêu cầu, liền nhắm vào các ông Phật đang đứng lừng lững trong chùa! Và tiền linh thiêng vì được đúc từ cốt Phật. Qua đến Việt Nam, đồng Chu nguyên thông bảo được nhận một lời truyền tụng:

Ngàn vàng dễ kiếm, Chu nguyên khó tìm.

Thật ra thì theo kinh nghiệm của tay sưu tập tài tử một thời ít tiền này thì tìm Chu nguyên cũng không đến nỗi khó lắm. Tuy nhiên cái linh thiêng của Chu nguyên đúng là cũng có tác động đến dân Việt bởi vì tôi đã tìm thấy một đồng Chu nguyên đúc lại, lớn hơn đồng thật, dùng làm bùa cho trẻ nhỏ đeo.

Chuyện lấy tượng Phật đúc tiền cũng thường thấy diễn ra trong lịch sử Trung Quốc với các tay sứ quân, lãnh tụ địa phương. Ở Việt Nam thì phải kể đến Nguyễn Hữu Chỉnh với một số loại tiền Chiêu thống. Nguyễn Huệ có các đồng Quang trung cũng được truyền tụng là linh thiêng với mức độ thấp hơn Chu nguyên - có lẽ vì tính chất phiên thuộc so với thiên triều ăn sâu vào tận tâm ý của người dân.

Có điều lạ là với trường hợp đồng Bảo đại. Đồng tiền này thường đúc theo kiểu than củi, lò bễ truyền thống - khác với đồng Khải định trước nó đúc theo lối rập khuôn, như các đồng xu - đồng Bảo đại ra đời ở phía bắc bị oán ghét vì người có từ tâm keo kiệt, lợi dụng giá trị thấp của nó vào lúc đương thời nên dùng làm tiền bố thí, thay vì đưa ra đồng trinh có giá trị cao hơn. Cho nên “Bảo Đại hại ăn mày”. Ấy thế mà trên vùng thuộc địa của người Pháp ở phía nam, vẫn có lời truyền tụng về giá trị cao hơn thực của đồng Bảo đại. Ông vua rủi ro cuối cùng của nhà Nguyễn, giá như biết được chuyện này chắc cũng coi là điều an ủi trong cuộc đời luân lạc của mình. Đó không phải là bằng chứng về chút ưu ái của “nhân dân” dành cho mình sao?

Cũng đối với dân chúng miền Nam, ông Bảo Đại có một ông tổ linh thiêng hơn nhiều. Nguyễn Phúc Đảm có niên hiệu Minh Mạng (1820-1840) mang một chữ đồng dạng với niềm ước mong của dân chúng trong vùng đất ngóng đợi một đấng minh vương xuất thế, sẽ đem lại một thời thượng ngươn thanh bình, nên bản thân ông vua cũng được mong chờ ngày tái hiện trên vùng quê vợ của ông. Ông chẳng đã từng hứa hẹn với cô gái đất Gia Định, chính phi Hồ Thị Hoa, là kiếp sau sẽ cùng gặp nhau ở đây để trả xong nợ tình chưa vẹn ở kiếp này đấy sao? Chẳng biết từ đó có cô gái nào trên đất Thủ Đức năm-canh-thức-đủ ngóng chờ, ôm mộng làm vương phi hay không, chứ đã có một ông Đạo xưng là Minh Mạng tái thế năm 1939 ở Mỹ Tho, chưa kịp đi tìm người đẹp thì đã bị mã tà bắn súng rước về bót rồi. Và trước khi có “xác” Minh Mạng như thế thì đã có biểu tượng Minh Mạng nơi các đồng tiền. Uy linh của người được cụ thể hóa bằng vật trung gian: hồi đầu thế kỷ XX có một nhóm người Việt ở Kampot đánh Tây, miệng ngậm đồng Minh mạng, tin rằng nhờ đó sẽ không bị dao đâm thủng, súng bắn chết! Còn đồng Minh mạng ở hòn Tiền thì chỉ thấy khi đứng trên thuyền, nó sẽ biến mất khi người ta lặn xuống định vớt lên.

Người ta đã dùng các đồng Minh mạng lớn - các loại đúc làm tiền thưởng, đường kính khoảng 35 mm - làm tiền cho con trẻ đeo trừ bệnh tật, tà ma, thằng anh lớn thì truyền qua thằng em trong thời kỳ dễ bị “con sát” bắt, “Bà/Cô” kêu đi hầu hạ... Tiền Minh mạng này nằm trong một loại tiền bùa khác không cần phải đi theo lối đường vòng phức tạp như đã thấy. Tiền bùa chính thức cũng nằm trong khuôn thức tiền tròn, lỗ vuông, tuy đa dạng nhưng không dùng vào việc trao đổi, lưu thông thế tục. Các chữ Hán trên đó không phải niên hiệu vua mà là các lời chúc phúc, gia ngữ: Thiên hạ thái bình, Trường mệnh phú quý, Kim ngọc mãn đường, Gia quan tiến lộc... Có cả một bộ tiền bát tiên mang các hình Trương Quả Lão, Hán Chung Ly, Lữ Đồng Tân... với đặc tính thân xác, thái độ ứng xử riêng biệt của từng người, kèm với hàng chữ trong kinh Đạo giáo, mở đầu đại loại: Thái thượng chú viết... Vương mẫu chú viết... Đúc tiền tuy phải tổn phí nhiều nhưng các đạo quán vốn được tín đồ ủng hộ nồng nhiệt nên vẫn có đủ phương tiện để đúc tiền riêng cho “giáo phái” của mình, như trường hợp các đồng Vạn kiếp xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam có vẻ là từ nhóm phù thủy xiên lình hằng năm trên đất gốc của người anh hùng chống Nguyên đang làm tổ sư ở đấy. Tôi từng mua được trên đường phố Hà Nội một đồng Hiên viên thông bảo, cỡ bình thường như các đồng tiền khác. Ông F. Thierry thấy nét chữ có dáng tiền Minh nửa sau thế kỷ XVII, tên tiền xuất hiện trong sách xưa cũng vào thời gian đó. Tôi không thấy nó trong sưu tập lớn như Cổ tiền đại từ điển của Đinh Phúc Bảo mà dấu vết tên tiền thì rõ ràng là mang tính chất Đạo giáo nên cũng có thể cho là xuất phát từ một đạo quán nào ở nước ta (?) trong thời kỳ điện phủ hưng thịnh.

Có một loại tiền bùa vốn chính là tiền để lưu thông nhưng được gọi như thế vì có “chữ bùa”. Đó là các đồng tiền nhà Thanh, lớp quý tộc Mãn Châu cai trị đất Trung Hoa nên đúc tiền chữ Hán lại phải kèm theo ở mặt sau ghi chữ Mãn dành cho con dân, tổ tông họ, chỉ nơi đúc kèm theo chữ “bảo” Mãn có nghĩa “tiền”: ví dụ Tuyền bảo (của bộ Hộ đúc), Nguyên bảo (của bộ Công đúc), Vân (ở Vân Nam đúc), Điền (Quảng Tây), Trực (Trực Lệ)... Loại tiền “sáu chữ” này cũng gây thành vấn đề lưu thông ở Việt Nam thời Minh Mạng, có chép trong Thực lục chính biên. Tiền đúc trên các vùng Trung Á thì có chữ của các dân tộc nơi ấy. Tất nhiên đối với người dân thường thì đó là những chữ bùa. Trong các loại tiền đúc ở hai miền Nam, Bắc xưa cũng có lối bắt chước các tiền Thanh như vậy. Ta gặp ở Đàng Ngoài các đồng Thái bình mặt sau có chữ “thọ” Hán, “bảo” Mãn, tiền Cảnh hưng chữ “tô” (Giang Tô), ở Đàng Trong là một loại Tường nguyên có chữ “tuyền bảo” Mãn, một loại Minh mạng có chữ “nguyên bảo” Mãn. Chính vì biết tiền xưa có loại đúc mang chữ khác nước như vậy nên ngày xưa, khi đi xạc cẳng trong vùng Bình, Ninh Thuận, chúng tôi mới có cái ước ao khờ khạo là mong sao tình cờ tìm được một đồng tiền đúc tại Đàng Trong, mặt sau có chữ Chàm! Cũng là một thời ngông cuồng hoang tưởng của tuổi thanh niên mà thôi.

Tính cách linh ứng của tiền xưa như vậy khiến nó được dùng trong việc bói toán. Tiền, chữ gì trên mặt cũng được, cứ hỏi các ông thầy bói, thầy tướng thì rõ. Chỉ có các ông mới biết cách sử dụng các đồng tiền để “phán”: Số cô chẳng giàu thì nghèo... Chẳng phải đợi đến các bà các cô, vua chúa ngày xưa cũng lần mò hỏi thăm các bốc sư. Ngay từ thời Minh, đã có chuyện Yên Vương gọi Diêu Quảng Hiếu đến hỏi ông ta bói theo thuật gì? - Bói âm thanh. - Tiền gì? Lôi trong tay áo ra thì thấy mấy đồng tiền Thái bình. Vua Trần thưởng công bói trúng cho một ông quan nói trước việc thắng Nguyên nhưng Trịnh từng đuổi một tay thầy bói nói sai, còn Nguyễn Ánh thì khi mới thu hồi Gia Định trong tay Tây Sơn đã lập ra một ty Thầy bói, rồi chắc không thấy hiệu quả gì nên được vài tháng thì bỏ.

Thường thường thứ người ngoại cuộc dễ thấy nhất, là tiền xin keo vì nó có một mặt sấp trơn, một mặt ngửa có chữ, tiện cho lối quyết định giản dị đến mức vừa qua có ông tòa Mỹ xử án bằng lối này. Lại cũng Lê Quý Đôn kể chuyện chùa Vi Ngạc nằm giữa khu rừng rậm, có một cây đa với bình hương, trước bình hương có hai cái hộp gỗ tròn đựng hai đồng tiền, một sấp một ngửa, lớn hơn hai tấc ta đường kính (khoảng 6 cm). Ông học giả nói rằng chúng nằm đấy từ lâu mà không ai dám lấy. Vì sợ thần thánh vật chết đã đành nhưng biết đâu chẳng do là tiền bằng gỗ không giá trị gì? Ngày nay, vào thời bao cấp, một chút vàng - kể cả chiếc răng vàng thấp carat nằm trong các mộ đục đẽo cả đêm mới thủng mà còn bị các tay tìm “trầm đất” chiếu cố, huống nữa là thứ để khơi khơi ngoài trời mưa nắng. Còn nhớ mãi hình ảnh người đàn bà, giữa nghĩa trang Gò Vấp giải tỏa, đứng lom khom tay cầm khăn bịt mũi, tay cầm cái que khều khều đống xương giữa đám thịt nước lầy nhầy, bồng bềnh quần áo trận, miệng lẩm bẩm: “Hồi đó ổng có cái răng dzàng mà!”

Gọi trầm đất, gợi ý từ trầm hương trên rừng, là để chỉ mức độ làm ăn có lời của những người biết đem về cho đất nước những của cải bị chôn vùi vô ích trong lòng đất. Hồi đầu năm 1990, ông Nguyễn Đắc Xuân báo động về việc những nhà “khảo cổ” này đã xâm phạm đến mồ mả Nguyễn tộc, cái tội tày đình ngày xưa đáng bị tru di, nay được tiếp tay bởi một đường lối cách mạng địa phương chống phong kiến, nhất là phong kiến nhà Nguyễn bán nước, dời đổi kinh đô, nên đền đài lăng tẩm cung điện được đem dùng làm nhà kho, trụ sở phường khóm, đường phố bị xóa tên dành chỗ cho những nhân vật thời đại xứng đáng hơn. Chuyện đào mả lấy vàng không phải là chuyện lạ. Đào mả Tần Thủy Hoàng, đào mả Tự Đức... Có điều bây giờ công việc đã trở thành một phong trào quần chúng. Tuy không phải là người tham gia công tác để lên cò súng lắc cắc mỗi khi có ai lò dò đến gần nơi hành sự, nhưng kẻ này cũng nghĩ rằng các thành quả khai quật chắc là “hẻo”, vì đã tình cờ theo dõi câu chuyện thời sự này diễn tiến ở quê nhà vào năm 1981 khi ở trại tập trung ra về. Cứ mỗi sáng thức dậy là người ta kháo nhau đêm qua ở gò X, đêm mai chắc sẽ ở hóc Y... những nơi người ta biết: “cũng chẳng có gì đâu!”

Thật tội nghiệp cho những người cày cục lặn lội đêm hôm, vì xứ tôi đã chẳng nhiều quan lớn để có nhiều vàng ngọc, còn lụa là gấm vóc thì dễ tàn phai theo năm tháng. Một ông bạn đứng trong một cửa hàng vải cao cấp ở Sài Gòn vốn chỉ mở cho người nước ngoài, khi nhìn thấy lớp gấm gì đó hơi lợt màu, đã tỏ vẻ nghi ngờ: “Chắc là từ nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi hay nhị tì Quảng Đông, Phúc Kiến đưa ra!” Ông bạn cứ nhớ mãi những ngày đào bới, nạy xeo mấy cái mả vôi cho tuyệt tích đế quốc bành trướng thực dân Mỹ ngụy, cái mũi còn dính mùi khét của dầu hôi không át được mùi thịt da rữa nát nhầy nhụa, dầu cháy phần phật tiếp tay cho mớ củi nổ lép bép, thỉnh thoảng văng tàn ra ngoài lò thiêu vì một cái gân xương bật mạnh.

Không phải chỉ là đồ vật quý giá, thứ thường được chôn theo người từ trên đẳng cấp cao xuống đến kẻ thấp thỏi, là tiền điếu. Mục đích thì thật rõ rệt nhưng vì loại chôn theo có hình thức quá xưa nên gây ra nhiều cách lý giải đi kèm: đó là trường hợp tiền vỏ ốc. Ốc cauris làm tiền trao đổi, thấy chôn theo các trống đồng của nước Điền ở Vân Nam. Ốc này được dùng làm tiền không phải chỉ vì màu sắc, tính bền tương đối mà còn vì dạng hình gợi ý giới tính của nó nữa, người bình dân gọi tên thẳng thừng: ốc lồn! Chu Văn Vương, cha người mở nghiệp nhà Chu, thoát khỏi trại tập trung Dũ Lý của vua Trụ, nghe nói là nhờ hối lộ hai con ốc cauris to tướng. Nhưng ốc bằng vàng thì dù sao cũng hơn là ốc vôi, cho nên ngày xưa có một loại chôn theo trong mộ, làm phỏng theo cauris mà chữ khắc trên đó bí hiểm tới nỗi các nhà kim thạch học (loại khảo cổ học của Trung Hoa) bàn luận lăng xăng không ra mối. Có người chiết tự ra là “Đương các lục thù” (mỗi đồng giá ngang 6 “thù”/đơn vị đo lường). Lại có người chịu ảnh hưởng lý thuyết kinh tế chính trị của Vương Mãng, đọc là “Hữu thổ chi bản” (lấy ruộng đất làm gốc). Chữ đọc không ra, chỉ thấy rõ là các nét ngoằn ngoèo, có một lỗ sâu hút nên gọi là “Nghị tị tiền” (tiền lỗ mũi kiến). Rồi cứ như là suy diễn theo lối logic liên châu luận học của linh mục Cao Văn Luận ngày xưa, người ta giải thích: chôn nghị tị tiền theo để kiến càng thấy tưởng là đồng loại, khỏi chui vào mả làm hư thân xác người chết. Đồng loại kỵ nhau, ganh ghét nhau cũng là thường tình, nhưng sao đồ thật lại sợ đồ giả?

Cách giải thích giản dị là chôn tiền theo để người chết sử dụng. Sinh ký tử quy, nào đâu có phải chết là hết nợ. Thế mà con đường “trở về” đâu có suôn sẻ. Làm sao không có sẵn chút gì dành cho bọn ma quỷ đến bắt hồn? Rồi mỗi cửa quan là một màn làm thủ tục “đầu tiên” - tiền đâu? Và đói khát trên đường đi... Tạm dùng chút ít rồi sẽ có tiền giấy vàng bạc đưa tiếp theo. Xưa kia thì cũng là tiền thật đấy nhưng Đường Huyền Tông (nửa đầu thế kỷ VIII) cúng nhiều quá thấy không đủ (hay thấy xót?) nên ông quan Vương Dư bèn nảy ra sáng kiến lấy giấy ra bôi phết, in ấn thay thế tiền kim khí.

Một đồng tiền được bỏ vào miệng để trấn yểm: tiền phạn hàm. Có tiền bỏ vào túi áo, tiền để chồng thành cọc hai bên hông, thông thường là để trong lòng bàn tay. Ý là để người chết khỏi mất công lấy ra. Hay để khỏi ngần ngừ tiếc rẻ khi phải đưa cho người khác? Ít ra thì các vị trí đặt tiền này cũng giải quyết được một hai vấn đề của khảo cổ học. Trong một số ngôi mộ có những miếng đồng được gọi là “bánh đồng”, nằm trong tay người chết. Có thể kết luận đó là “tiền”. Còn những vấn đề nảy sinh từ xác quyết đó thì còn đòi hỏi phải “động não” nhiều hơn.

Riêng biệt quan trọng hơn là chuyện ở Gò Mun, địa điểm điển hình được các nhà khảo cổ học Việt Nam dân chủ cộng hòa hồi những năm 1960 dùng đặt tên cho một nền văn hóa khảo cổ, sắp xếp ở vị trí áp chót trong hệ thống tiền sử Việt Nam. Trong một ngôi mộ ở Gò Mun, nơi lòng bàn tay của người chết có hai cọc tiền, mỗi cọc 36 đồng, còn chữ đưa ra là “thái bình”. Niên hiệu Thái Bình thì nhiều, ông vua nào cũng muốn đời mình cai trị là đời “thái bình” dù không tránh được núi xương sông máu - hay là dù phải dùng núi xương sông máu để tạo thái bình như lý thuyết trị/loạn của Đại lão nhân gia Mao Trạch Đông, loại làm cách mạng thường trực, diệt trừ giai cấp (phản động) liên miên mới xây dựng được xã hội không giai cấp.

Ở Á Đông có tất cả chín niên hiệu Thái Bình như vậy, tuy không phải ông vua “thái bình” nào cũng đúc tiền đó, chưa kể người chưa làm vua cũng đúc tiền Thái bình như chúa Nguyễn, người chỉ là quan con nhà lưu vong như Mạc Thiên Tứ nằm khểnh chân làm thơ ở Hà Tiên, cũng cho ra Thái bình để khỏi thua sút thiên hạ. Ở Gò Mun, tiền chỉ được báo cáo là “thái bình” trống trơn, không được chuyên viên in hình, tả rõ - và chắc cũng không biết đích xác là loại của đời nào, nhưng có phần chắc là loại thông bảo lấy từ niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc của Tống Thái Tông thế kỷ X. May mà nhà khảo cổ không hấp tấp khoe khoang kiến thức như ông Trần Quốc Vượng, bảo với báo Tuổi trẻ rằng loại Thái bình nhắc đến trong cuộc hội thảo quốc tế 1990 ở Hội An là tiền của Đinh Tiên Hoàng! Tiền Tống ở Việt Nam nhiều vô số nên Thái bình ở Gò Mun có phần không sai chạy là của thế kỷ X. Tiền xưa vành ngoài tròn lỗ vuông đã trở thành khuôn thức điển hình ở Á Đông nên người ta cứ sử dụng không màng đến chuyện ông vua trên đó đã chết mất đất từ lâu. Tiền xâu trong dây mây, hoặc dây sắt như còn thấy trong các vò sành mới phát hiện ở Bình Định gần đây, phần rất lớn là tiền Tống. Không phải như sau này, đổi đời là đổi tiền, không đổi đời cũng đổi tiền, nhân dịp đó đổ vào đầu dân chúng, giải quyết được tình trạng tiền mất giá do sự bất lực của chính mình tạo nên. Cũng có khi vua chính thống lật được vua ngụy, ra lệnh cấm dùng tiền ngụy, như nhà Nguyễn đối với Tây Sơn nhưng lệnh cấm không đủ để thi hành sít sao nên trong các nhóm tiền dân chúng sử dụng vẫn có tiền Tây Sơn. Trường hợp bất ngờ đến ngạc nhiên là một lô tiền đào được ở Bến Tre có ba đồng Bảo hưng, niên hiệu cải đổi của Nguyễn Quang Toản ở tận xứ Bắc xa xôi sau khi bỏ chạy khỏi Phú Xuân. Vì thế chớ tưởng lục tìm năm ra đời của tiền nằm trong mộ là xác định được thời điểm chôn cất, theo kiểu đoán định cho các mộ tìm thấy tiền Bán lạng, Ngũ thù của Vương Mãng hồi đầu Công nguyên. Trường hợp nhóm mộ Xuân La sẽ nói nằm trong trường hợp này.

Tên tiền ở mộ Gò Mun đã rõ rệt nên nhà nghiên cứu phải xác định đó là “ngôi mộ muộn”. Tuy nhiên hình như người ta không thạo lắm về cổ tiền học Á Đông nên có một chút lấn cấn không muốn vứt nó ra ngoài tập họp Gò Mun, được coi là xuất hiện trước loại tiền đó cả hai ngàn năm. Vấn đề là nằm trong con số 36 của cọc tiền kia. Lê Quý Đôn cho biết - mà dân gian đến gần đây cũng biết, là có hai loại tính đếm trong việc sử dụng tiền đồng ngày xưa. Đó là hai tập hợp chữ: tiền cổ/tiền quý, và tiền sử/tiền gián. Một quan tiền cổ/quý có 600 đơn vị trong khi một quan tiền sử/gián chỉ có 360 đơn vị mà thôi. Do đó tỉ lệ giá trị giữa gián và quý là 3 phần 5. Cho nên mới có chuyện bỡn cợt nói là giữa bà Hồ Xuân Hương và ông Phạm Đình Hổ/Chiêu Hổ. Bà vặn ông:

Sao bảo rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra.

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,

Nhớ hái cho xin nắm lá đa!

Ai cũng ngầm hiểu, không cần phải giải thích “lá đa” nghĩa là gì. Cho nên Phạm Đình Hổ phang lại:

Rằng gián thì năm, quý có ba,(5)

Bởi người thục nữ tính không ra.

Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt,

Cho cả cành đa lẫn củ đa!

Dựa vào sự mập mờ của chữ nghĩa, chàng trai làm vẻ hào phóng, huênh hoang lòe gái, hứa cho mượn (tặng?) “một quan” để con nợ tưởng là sẽ nhận được 600 đồng, không ngờ chỉ đưa có 360 đồng, bởi vì quan nào (gián) chẳng gọi là quan (quý)!

Có điều Lê Quý Đôn không cho ta biết thời gian nào thì bắt đầu lối tính đếm kỳ quái này - có lẽ chính ông cũng không biết. Ở Trung Hoa cũng có lối tính đếm theo nguyên tắc thập phân (nên nhớ “tuần” trăng có 10 ngày) cho nên một quan tiền đúng là phải có 1.000 đơn vị. Nhưng vì chuyện thiếu tiền trong lưu thông nên con số 1.000 kia cứ co rút lại dần, phía nam Trung Hoa, vùng Ngô Việt chỉ có 6, 700 đơn vị cũng được gọi là quan, gọi là tiền lục phân, thất phân. Cái kiểu che chắn thiếu hụt, nghèo nàn bằng sĩ diện huênh hoang: có sáu, bảy trăm nhưng đúng là ta có một quan (ngàn đơn vị) đây! Và Đại Việt theo đó cũng chỉ ráng tới 600 đồng sau khi tụt xuống 500 đồng thời ông Lê Lợi mới lên ngôi. Thế mà người dân Đại Việt còn tụt xuống đến mức 360 thảm hại. Chứng liệu dồi dào của thế kỷ XVII, XVIII cho thấy vua chúa nhân tiện cũng theo đó làm lợi cho mình thêm, cứ thu thuế thì lấy đủ 600 đơn vị (“quý” là thuế thân), có ban thưởng cho cấp cao thì tính theo tiền quý, còn ban thưởng cho cấp thấp thì tính theo tiền sử/gián, nghĩa là người hưởng thụ thuộc tầng lớp kém cỏi này chỉ lãnh có hơn một nửa thôi, mà phải tự bằng lòng là đã được hưởng đủ công lao! Cái thế giới ảo của sĩ diện truyền thống trở thành thế giới thật, chui cả vào trong lãnh vực tài chính thiết thân, làm nên cuộc sống cam chịu hằng ngày, đón chờ ân đức từ trên ban xuống. Và đi vào cả thế giới người chết. Sợ, thương người thân đi về “bên kia” không có tiền xài nên gởi theo nhưng tiếc của, lại nghĩ cách gạt gẫm ma quỷ, tưởng như ông Chiêu Hổ gạt được gái. Nhưng hàng quán nào trên đường về âm ty chịu nhận tiền-thiếu mà không lột áo khách, ma quỷ nào thấy đưa hối lộ không đủ lại không quất thêm một roi sau khi nhận tiền?

Chúng ta biết đích xác thời điểm có lối tính tiền hai cấp này là từ một nguồn tin muộn, khá đơn lẻ, trong sách Cương mục của sử quan nhà Nguyễn. Họ cho biết tháng 10âl. 1467, có lệnh thưởng phạt trong các cuộc thi võ nghệ mở ra hàng ba năm một lần, tiền thưởng tính bằng tiền sử/gián. Không có thêm chi tiết nhưng khi chưa có bằng chứng khác thì đó là thời điểm sớm nhất cho ta biết, có lối tính đếm đơn vị bội số 1, 36, 360 cho tiền dân chúng sử dụng trong lưu thông. Điều đó khó có thể xảy ra vào đời Lê Thái Tổ vì quy định 50 đơn vị cho một tiền, 500 đơn vị cho một quan của ông vua này không có chỗ cho tỉ lệ tiền gián/quý: 360/600 như từ Lê Thánh Tông trở đi. Vậy ngôi mộ “muộn” ở Gò Mun chỉ có thể xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XV trở đi, cho đến khi ta tìm được bằng cớ khác. Ngôi mộ ở Xuân La cũng phải nằm trong khuôn khổ đoán định đó, tuy rằng tiền trong mộ thuộc loại đầu Công nguyên khiến người ta cứ muốn đưa về thời Đông Sơn (muộn?!) nhưng cũng nên nhớ rằng tiền lỗ vuông được dùng trong mọi giai đoạn của Á Đông từ lúc kiểu thức này xuất hiện như ta đã nói. Trong những lô tiền gặp được ở miền Nam khoảng những năm đầu 1960, vào những dịp xây dựng ấp chiến lược, cũng thấy có vài đồng Bán lạng, Ngũ thù đầu Công nguyên lẫn lộn với tiền Đường, Tống, tiền Việt.

Lan man chuyện lấy tiền làm lộ phí ở cõi âm có thể thấy ở những khu vực thật xa mà vì nguồn tin nắm được thật sơ sài nên có bàn đến cũng e rằng “phiêu” quá.

Trên một địa điểm ở phía bắc hồ Kisala thuộc nước Zaire/Cộng hòa dân chủ Congo, người ta khai quật một nghĩa địa, thấy có các hài cốt cầm trong tay một đồng tiền đồng, cũng được giải thích là để dùng ở thế giới bên kia. Nét văn hóa của khu nghĩa địa này được cho là có liên hệ với văn hóa Zimbabwe, có lẽ là đồng thời. Sách kể sự kiện này không đưa ra chi tiết nhưng chắc đó là những đồng tiền Á Đông vì ngay cả văn hóa Zimbabwe cũng chứa những dấu vết Ả Rập, Ba Tư, Trung Hoa. Chắc từ lúc đào bới này chưa có nhà “khảo cổ nửa đêm” nào của Việt Nam lặn lội qua hành nghề tận bên rừng rậm châu Phi để tìm vàng phạn hàm, giúp ta hiểu rõ vấn đề hơn. Tuy nhiên cũng có thể nghĩ rằng đã có bậc con trời nào đó từng truyền nghề hối lộ thần thánh qua những vùng trung gian, lặn lội không mệt mỏi đến tận một nơi xa điểm xuất phát cả hàng vạn dặm, bởi vì đã có tin tưởng vững chắc ở sự thành công trong xứ mình.

Cũng không nên ngạc nhiên về con đường xa xôi diệu vợi của quan niệm tiền mang tính thần thánh như thế. Mang đậm tính cách vật chất hơn, tiền điếu đã được sử dụng trong một loại trò chơi may rủi từ Trung Hoa với các tên: ức tiền, thán tiền, xuống Đại Việt trong trò tàng cưu của vua quan, ba quan, hốt lú của dân chúng, rồi đến Ball với “nắm képengs” mà một du khách người Âu nhận xét rằng hơi giống lối đánh trente quarante trong các casino. Nhưng phát hiện này không lạ đối với ngày nay vì vào casino nào cũng sẽ thấy bài cào dì dách pha trộn và chia sẻ lợi nhuận với đầm.già.ách.cơ.

Westminster, tháng Mười hai 2007,

tân trang một bài viết tháng Tư 1990 ở Sài Gòn

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026