Giữa năm 1289, trong thời gian bình công luận tội về trận chiến với quân Nguyên, sử quan ghi rõ có hai hương Bàng Hà và Ba Điểm vì “quân dân” hàng giặc nên quân thì bị đồ làm lính của vương hầu, dân bị buộc làm nô tỳ cho các quan lớn trong triều. Và nói thêm: “Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng (Thánh Tông) sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc”. Tuy nhiên sử quan cũng không thấy rằng Thánh Tông đã mua sự an toàn của dòng chính trong họ mình bằng hành động có dáng bao dung kia.
Tuy là không kể rõ từng “vương hầu” (anh em thân thuộc) khác nhưng không thể phủ nhận các tang chứng rành rành nên phải có thái độ đối với những người mang tăm tiếng rõ rệt: Trần Ích Tắc, Trần Kiện (cháu nội Trần Liễu), Trần Văn Lộng (cháu Trần Thủ Độ). Còn có Trần Di Ái nữa, nhưng việc đã xử xong tức thời rồi. Hãy nhìn xem cách xét xử để rõ tình thế.
Sau những năm bị bức bách sang chầu, đến 1281, Thánh Tông (thượng hoàng, và đối với Nguyên là vua Việt) bất đắc dĩ phái một sứ bộ sang Nguyên, cầm đầu là ông em họ Trần Di Ái. Gặp dịp chộp được một tôn thất Trần, Nguyên liền ra lệnh thay thế Thánh Tông, cho Di Ái về nước (1282) theo bước sứ thần Sài Thung đã mang 1000 quân nghênh ngang đến Thăng Long trước (1281), để truyền báo lệnh thiên tử lớn. Toan tính của Hốt Tất Liệt không thành, vả lại đâu có nề hà gì một con cờ thí nhỏ, nên toán “Việt gian” không có quân bảo vệ khiến ngay chính sử quan chỉ ghi bình thường “... bọn Trần Di Ái đi sứ về nước”. Lê Tắc cũng nhận rằng Di Ái (hiểu là toàn sứ bộ) “sợ, ban đêm trốn về nước” - không có quân hộ tống. Kết quả thấy rõ: hai tháng sau, Di Ái (được sử đổi tên, ghi là “Ai”) bị đồ làm lính Thiên Trường, nhân viên dưới tay bị đày vào đơn vị Tống binh. Không có ai bị giết hết. Thánh Tông đã xử sự rất đúng. Sao ông không cử mấy ông em ruột (khác mẹ) như Trần Nhật Duật từng được ca tụng là một Quách Tử Nghi của Đường, một mình đi vào đất địch với lời nói hiên ngang: “Nếu nó giáo giở với ta thì triều đình còn có vương khác đến”? Sao không cử Trần Ích Tắc cho tiện thể lộ mặt chống đối khỏi phải dài dòng về sau? Hay gửi Trần Quang Xưởng khuất lấp mà tên lưu lại sử sách chỉ nhờ một gia thần gặp lúc đắc thế? Gửi đi một ông em họ là Thánh Tông cũng đã có ý nghĩ dùng một con cờ thí tồi rồi. Ông biết phần lỗi có ở mình dù đó là do tình thế cực chẳng đã. Cho nên đày ông em, tiếng là làm “lao công chiến trường” nhưng ở quân Thiên Trường của nhà mình thì chỉ là về quê ghi sổ sách tôm cá tanh tưởi, than củi đen điu mà thôi. Các nhân viên khác của sứ đoàn hưởng lây ân huệ từ đó để khỏi phải chết phanh thây, xẻo thịt.
Với tình hình “phân biệt đối xử” như vậy nên sau cuộc chiến, Trần Kiện, Trần Văn Lộng phải đổi làm họ Mai trong lúc Trần Ích Tắc chỉ bị chê là nhát như đàn bà mà thôi. Trần Kiện có cái thù của ông nội thêm mối hận mới là giành gái với Trần Đức Việp (em Nhân Tông, ông vua đương thời thực thụ đối với dân Đại Việt). Thế rồi phải trấn giữ ở đất xa, thật thuận tiện cho ý nghĩ đầu hàng được thực hiện - Trần Văn Lộng chắc cũng một phần giống như thế. Sử quan phục vụ chủ Trần nên không cần nhắc đến một gia thần của Kiện mà sử gia ngày nay một thời chà đạp, đến nay vẫn còn lấn cấn để nêu danh yêu nước của mình, cam chịu mù kiến thức thay vì tìm chút sự kiện của thời đại không thấy ở đâu khác: Lê Tắc chỉ nổi danh (xấu) vì một quyển sách để lại, nếu không thì người ta cũng chẳng biết ông là ai. An Nam chí lược(17) được văn nhân Trung Quốc ca tụng vì mớ kiến thức về đất nước ông rời bỏ nhưng điều quan trọng ở một hướng khác, đối với ta, là tâm tình tha thiết với chủ cũ và những người liên quan đã chứng tỏ vai trò phụ thuộc của riêng mình và địa vị thấp của nho sĩ đương thời - địa vị mà họ cảm nhận thành thật, chỉ dám kiêu ngạo với hoạn quan dốt nát như trường hợp Đinh Củng Viên lên mặt để hưởng nhờ cậy, với Lê Tông Giáo, ông “bõ” quản lý đất gốc Thiên Trường của dòng vua. Và nên lưu ý, có “nho-được-coi-là-sĩ” cũng chỉ được coi là gia nô, như trường hợp nói sau về gia nô tên Khoáng bị lãnh tội chết thay cho chủ vốn thuộc đẳng cấp vương hầu, chỉ vì biết chữ, đã “làm thư nặc danh phỉ báng Quốc gia (vua, Nhân Tông)”. Tuy nhiên việc hầu hạ dòng vua cũng không hấp dẫn lắm đâu: có ông Bạch Liêu đỗ trạng nguyên ở vùng thứ hai của nước, vùng Trại, lại chê không làm quan triều đình, chỉ chịu làm “môn khách”/gia thần cho ông đại vương Trần Quang Khải thôi.
Các biến động phù trợ dòng vua đẩy hào sĩ/nho sĩ lên một bực, như Đỗ Khắc Chung mang họ Trần - trường hợp độc nhất lập công trong nguy khốn cùng cực, còn thì ông Phạm Ngũ Lão - không phải đan sọt giữa đường! mà văn võ toàn tài, chiến công lai rai, giàu đến mức không thèm chiến lợi phẩm, giàu có đủ để con ông vua lê lết đến làm quen nhờ cậy, rốt lại cũng chỉ lấy được đứa con gái nào đó - con nuôi ông đại vương, rồi với thời gian len lỏi đẩy con vào cung thì con-nhỏ vẫn không được đoái hoài, rốt cuộc xin vua đi tu, chết già! Ông “Học sĩ (đọc/biết) Ngàn Chương sách” Nguyễn Sĩ Cố có mả chôn, được thi nhân thấy là rộng cả ngàn mẫu nhưng chức chỉ là đặt cho có tên, còn một ông đồng liêu khác thì trông coi mấy cái mũ quan quân! Cho nên đến cuối đời, Nghệ Tông đẩy luôn ông Chu An (1292-1370) cao quý trồi sụt vào miếu Khổng Tử ngồi chung với ông Trương Hán Siêu “chơi với kẻ không đáng chơi”, với Đỗ Tử Bình “ăn chặn vàng đút lót” của Chế Bồng Nga, chạy về bỏ vua chết tươi trên mặt trận, thêm ông quý tộc Trần Nguyên Đán “bó tay bỏ mặc vận nước” (của họ Trần), trở cờ gả con cho họ Hồ để cầu an thân. Lối sắp xếp thờ tự này không mang “ý thức dân tộc”, “đề cao thanh giáo” nào cả mà chỉ là một cách phân loại, xếp chung một nhóm mà thôi. Danh tiếng “kẻ sĩ”, “sĩ phu” - không đi theo với “hào kiệt”, chỉ xuất hiện khi gắn vào bia đá thế kỷ XV, và hơi nổi trội dưới thế kỷ loạn lạc XVII, XVIII mà thôi.
Việc hàng Nguyên của hai người trước có thể coi là thụ động, cơ hội nhưng với Trần Ích Tắc thì sử quan chỉ rõ là có ý thức, có toan tính, vì ông “từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống Nam”. Dù cho rằng đó là vì ý xấu muốn tranh ngôi với anh (Nhân Tông) nhưng sử quan vẫn không ngớt lời khen Ích Tắc “thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử lục nghệ, văn chương nhất đời” chi li cả đến những loại nghề vặt như đá cầu, đánh cờ... Đến lúc ông hàng Nguyên, sử quan dường như muốn bào chữa cho ông còn viện dẫn linh thiêng, nhắc rằng ông là thần nhân báo mộng đầu thai, thần nhân ba con mắt như Siva hóa thân thành người, hẹn sẽ “về phương Bắc”. Chứng cớ bất thường này có vẻ như một vướng víu của tình hình đương thời mà sử quan, qua thời tuyệt tình một lần nữa với việc chống Minh, đã không dứt bỏ được. Có chút gì bình thường của quá khứ còn rơi rớt mãi đến lúc sử quan cầm ngọn bút lên?
Giai đoạn chống phương Bắc của Trần thường được coi chỉ mang một tính chất trong cả ba lần đánh nhau. Tựa đề “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông...” (điểm một tên tình cờ) của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1975)(18) là một ví dụ. Gom góp sự việc vào một đề mục gọn ghẽ giúp cho người ta mau hiểu nhưng cũng khiến tập tính biếng lười, lầm tưởng việc đời lúc nào cũng là giản dị như vài nét chữ gộp lại. Thật ra Trần chỉ chống quân Nguyên có hai lần: 1285, 1287-88, lần đầu 1257-58 là chống quân Mông Cổ. Đây không phải là chuyện “chơi văn giỡn chữ”, không phải đặt căn bản ở sự chính danh cầu kỳ mà là vạch ra sự khác biệt về tính chất lực lượng, cùng tham vọng thời đại khác nhau của đoàn quân phương Bắc. Đành rằng người lập nên triều đại Nguyên là Hốt Tất Liệt đã có mặt trong toán quân chiếm Vân Nam năm 1252 nhưng ông chỉ chính thức làm vua Trung Quốc (1280) sau khi đánh tan Nam Tống. Trận chiến 1257-58 ở Đại Việt chỉ là của một toán quân Mông Cổ và phụ lực, tìm đường đánh ép tiêu diệt Nam Tống mà không thành công thôi. Đánh tan quân Tống (1279), chiếm Trung Nguyên, Hốt Tất Liệt - không chỉ là Khan của sa mạc nữa, mà đã là hoàng đế toàn Trung nguyên, có cả một vùng đất mới, rộng lớn, kết tập được lực lượng mới, đưa tầm mắt ra xa hơn, cùng với những hệ lụy của khả năng vừa gộp thêm trong vòng tay. Về phía Đại Việt, cách thế ứng xử cũng đổi thay theo tình thế mới đó: bắt nhốt sứ Mông Cổ đến ngất ngư năm 1257 nhưng Sài Thung năm 1281 lại một mình một ngựa xông vào cửa kinh thành, nghênh ngang không thèm tiếp tể tướng Việt chịu nhũn đến sứ quán cầu chuyện. Sự liên tục một chừng mực của hệ thống chỉ huy trên cao làm cho người đương thời đã không thấy được sự đổi thay tính chất sử dụng quyền bính sẽ mở ra những hướng tiến nhiều nẻo về sau, trong đó có cả sự rủi ro không nằm trong toan tính lúc đầu. Còn đối với người sau, sự liên tục của thời gian là điểm tựa nối kết xuyên suốt để cho óc nhân tuần bám giữ luận cứ đã thành hình.
***
Vậy là trong hai trận chiến sau, Nguyên và Trần đã đánh nhau trên cơ sở xuất phát khác. Tống tuy yếu ớt binh lực nhưng có cả một nếp sinh hoạt nghệ thuật cao độ (chứng cớ có ông vua nghệ sĩ Huy Tông) mở rộng theo nguồn thương mại dồn dập từ phía đại dương sau khi bị các bộ lạc sa mạc Kim, Liêu cắt đứt Con đường Tơ lụa phía lục địa. Khi Mông Cổ đòi Đại Việt để họ giao tiếp với thương nhân Hồi Hột vùng Trung Á đến buôn bán nơi này thì hẳn cũng chú trọng đến những người Nam Tống núp sau danh xưng kia khi cư ngụ ở nước Việt. Họ sẽ tiếp tục truyền thống thương mại của Tống, lần này có thêm sự thúc đẩy cường ngạnh chưa mất từ sa mạc, để đè áp lực trên các nước bên kia đại dượng. Và điểm đến chuyên chú đầu tiên không phải Đại Việt mà là Chiêm Thành.
Vòng cung đất nhô ra biển của Chiêm Thành là điểm tiếp nhận các thuyền buôn đến, đi từ nam Trung Quốc khi né tránh các rặng san hô, đá, cát ngầm ngoài khơi. Lê Tắc ở gần đó, với kinh nghiệm trước 1285, nói về Chiêm Thành, nêu được điểm chủ yếu: “Lập quốc tại mé biển, thương thuyền Trung Quốc vượt biển đi qua các nước phiên bên ngoài, thường tập trung tại đây để chứa củi và nước, là bến tàu lớn nhất tại phía nam”. (Tôi nhấn mạnh). Đại Việt và Chiêm Thành đánh nhau không phải chỉ để cướp của, chiếm đất mà còn là giành bến đỗ nữa. Năm 1303, Đoàn Nhữ Hài đi sứ Chiêm, tuy biết rằng không thể cấm được nhưng vẫn tự lấy danh nghĩa nước lớn, treo bảng cấm buôn bán ở cửa Tỳ Ni/Sri Banoi/Chiêm Thành cảng (1282)/cửa Nước Mặn (Đàng Trong)/cửa Cách Thử (tên bình dân, nay đã lấp). Tuy có ưu thế thu lợi về quyền bến đỗ nhưng chuyện cướp phá thuyền buôn vẫn là điều không tránh khỏi. Tống muốn bảo vệ thuyền buôn của mình đã nhiều lần đòi hỏi Chiêm Thành ngăn cấm nhưng không thực hiện được. Với Nguyên còn tràn đầy sức mạnh sa mạc thì không phải chỉ đòi hỏi qua người địa phương mà tự mình đi thực hiện. Vì thế không phải là vô lý mà Hành tính (một cơ quan trung ương thành lập cho địa phương) Chiêm Thành đã ra đời trước của Giao Chỉ. Không phải ngẫu nhiên mà trận đánh Chiêm xảy ra trước, vào năm 1282-83, và chuyến đánh sang Đại Việt 1285, đòi “mượn đường sang Chiêm Thành” không phải chỉ là lời dối trá.
Cuộc chiến ở Chiêm Thành được ghép với Đại Việt và được sử gia Việt Nam lưu tâm (cho nước mình) nên trở thành lớn rộng, cao cả hơn mức thực tế. Tất nhiên người Chiêm không thụ động trong việc giữ gìn đất đai của họ. Quả đã có Toa Đô đem quân đánh Vijaya không bắt được chúa Chiêm, có lần thất bại trong cuộc tấn công trên núi nhưng ông cũng đã dẫn quân chiếm vùng Cựu Châu (Quảng Nam) để đánh thông sang Việt với Thoát Hoan đang ở đấy. Nhưng ông ta chỉ đem có 5.000 quân cựu Tống, số lượng rõ ràng ghi trên những toán xuất phát, lại còn chia người cho toán đi Chân Lạp - không về là phải. Với quân số như thế thì trận thất bại ở núi Nha Hầu (Ia -?) là dĩ nhiên. Thất bại lớn nhất của Toa Đô là không bắt được chúa Chiêm - cũng như trong trận 1257, tướng của Ngột Lương Hợp Thai vì không bắt được Thái Tông mà phải tự tử. Khác với những điều hay nói về “chiến tranh nhân dân”, chiến trận ngày xưa thường chỉ kết thúc khi bắt được chủ tướng. Với lực lượng ít ỏi có trong tay như thế mà còn không bắt được chúa thì vấn đề sứ giả điều đình qua lại hẳn nhiên không thể coi như một chiến thuật khôn khéo, tài ba tột đỉnh của người Chiêm, trong đó nhân vật phía Chiêm thực ra vẫn cho thấy tính cách lợi dụng để lấy lợi riêng cho mình, đến khi thấy không thành tựu thì bỏ trốn. Quân của Toa Đô lúc thắng thế cũng có mặt hai hoàng tử Chàm theo về (rồi xoay chiều lẩn mất), lúc ra Bắc cũng có các quan chức Chàm theo, sau khi thất trận bị Đại Việt trả về Nam. Trong tình hình khó khán như thế mà Toa Đô giải quyết như lịch sử đã ghi thì khi thấy đầu viên tướng này, Nhân Tông lên tiếng thương tiếc thật cũng đã biết đánh giá đúng người.
Trận chiến Chiêm tất yếu dẫn đến Đại Việt. Nắm được lực lượng chiến thuyền và thương thuyền của Tống, Nguyên đã mở rộng quyền hành về phía biển. Cuộc chiến lần thứ ba (1288) nặng về thủy quân chứng tỏ khả năng thu tóm đó tuy rằng điều tiêu cực cũng hiện rõ, là khi trao điểm sống chết của chiến dịch vào tay quân tướng đầu hàng (Trương Văn Hổ và thuyền lương tiếp tế) thì thất bại cũng có điềm thấy trước. Tuy nhiên Nguyên bao gồm Tống đã khiến các tập họp phía mặt biển dao động. Điều này dẫn đến vấn đề Trần Ích Tắc. Đã thấy tông tộc Trần gốc biển, “đời đời làm nghề đánh cá”. Và tập họp biển đó không thuần nhất, còn riêng họ Trần-mới-làm-vua thì cũng không phải lúc nào cũng thuận thảo với nhau.
***
Không kể đến vấn đề Trần Quốc Tuấn, có những biến động tranh chấp trong dòng họ chỉ được ghi lại bằng những lời sơ sài, không đầu đuôi: “Tháng 2 (âl. 1283, trước khi quân Nguyên sang), trị tội Thượng Vị Hầu Trần Lão, cho chuộc tội 1.000 quan tiền, đồ làm lính, lăng trì tên Khoáng là gia nô của Lão ở chợ Đông, vì tội làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước”. Lệnh năm 1250 “xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là Quốc gia” đã bị người dịch Toàn thư (1993, II, 22) sửa lại là “quan gia” vì cho rằng “chưa có sách nào gọi vua là ‘quốc gia’”. Nhưng nguyên văn chữ “nhà nước” trên chính là “quốc gia”, đúng là chỉ người đương quyền: Nhân Tông, đâu có cần tìm sách nào cho xa! Tước Thượng Vị Hầu chứng tỏ Trần Lão là con một bà phi theo thứ tự sắp xếp năm 1241. Lê Tắc nhắc đến một người bị tội, cầu cứu quân Nguyên, tên Trần Thôi, là “quốc đệ”, theo cách nhìn từ phía Nguyên, là em (thượng hoàng) Thánh Tông, hẳn là Trần “Lão” của sử Việt (chắc tên riêng bị bỏ, chỉ còn là “thằng cha/già/lão Trần”). Cho nên Trần Ích Tắc muốn giành ngôi của Nhân Tông không phải là kẻ lạc loài. Trong lúc sử quan ghi sơ sài vài gia thần của các tông thất khác thì với Ích Tắc, đã kể ra đến 20 người được tập họp ở học đường bên phải phủ đệ, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài, đủ để làm một bộ tham mưu cai trị nước khi đảo chính xong! Bằng chứng này cũng là dấu hiệu của một sinh hoạt độc lập về tài chính kinh tế của các vương hầu Trần. Em ông, Trần Quang Xưởng, đã để lại các đồng tiền mang danh hiệu riêng: Chiêu đạo vương nha, Chiêu Đạo thông bảo, cho thấy một con người khuất lấp trong dòng họ đã đúc tiền cho sinh hoạt riêng đồng thời dùng để chính danh cho địa vị của mình.
Trần Lão - chắc là ông em, đã thất bại, Ích Tắc phải trông chờ nơi khác. Sự trông chờ này chỉ mang tính phe phía, không phản bội “dân tộc/đất nước” như người sau kết án, bởi vì như đã nói, “vùng sông nước” ở cuối trung châu Đại Việt là phần lẫn lộn, nhập nhòa tập đoàn, khiến cho các sách đương thời (Lĩnh ngoại đại đáp thế kỷ XII, Văn hiến thông khảo thế kỷ XIII) cho rằng Đại Việt không có bao nhiêu người bản xứ, phân nửa là từ Lưỡng Quảng đến trú ngụ. Điều đó khá khó tin nên các học giả ngoại quốc ngày nay (John K. Whitmore, Li Tana) cũng bài bác nhưng ta có thể hiểu khi nhận ra rằng các quan sát viên Trung Quốc đương thời nhìn theo tình hình giao thương, nghĩa là chú trọng nhiều về mặt biển nơi tập trung lớp người sông nước tứ xứ. Tuy nhiên tình thế đó lại thuận tiện cho “Ích Tắc đưa thư nhờ lái buôn Vân Đồn xin quân Nguyên xuống Nam”. Tính chất hải đảo của Vân Đồn lệch bên ngoài trung tâm Thăng Long khiến điểm tập kết buôn bán này tùy thuộc vào Miền Dưới hơn là Miền Trên. Khi tóm thâu quyền hành trên vùng duyên hải của Tống, thế lực của Nguyên do đó cũng lấn lướt hơn ở Vân Đồn, ở Miền Dưới, ảnh hưởng đến quan niệm chủ quyền địa vực của Trần Ích Tắc để ông nghiêng về phía Bắc. Tính chất lờ mờ của “chính nghĩa” đương thời đó đã khiến cho sử quan giải thích việc “về Bắc” của Trần Ích Tắc như đã được thiên đình định trước, qua dấu vết của một thần nhân (cụ thể: Civa), không phải là kết quả phản bội của một nhân vật trần thế.
Nhóm Trần Miền Dưới tiến lên Thăng Long trải qua những giai đoạn bị Nguyên uy hiếp nhục nhã khiến ý thức về một khối Đại-Việt-của-họ trở nên rõ ràng hơn. Trong khi “Hịch tướng sĩ” - trước 1285? còn bó gọn trong quan niệm tông tộc trị nước của Miền Dưới thì ở Miền Trên đã có những lời phẩm bình cay đắng của Lê Văn Hưu 1272 về nỗi nhục dân nước bị đè nén. Chiến thắng trên quân Nguyên đem lại sự tự tôn không phải chỉ ở tông tộc cai trị mà còn tỏa rộng đến đám dân dưới quyền - bị cai trị sít sao hơn, cho nên về sau (1374) có lệnh cấm ăn mặc theo người Bắc (Trung Quốc), cấm nói tiếng Chiêm, Lào theo những chuyển biến thời Trần vững vàng quyền hành tiếp theo. Cho nên Nguyễn Đại Phạp đi sứ Nguyên (1292) mới có thể trả lời Trần Ích Tắc: “Việc đời thay đổi, Đại Phạp trước vốn là tên biên chép/thư nhi cho Chiêu Đạo Vương (Trần Quang Xưởng), nay là sứ giả, cũng như Bình chương xưa kia là con vua, nay lại là người đầu hàng giặc”. “Việc đời thay đổi...” mà Trần Ích Tắc lại không biết thân phận mình để cho có kẻ thuận thời thế lên mặt dạy dỗ, từ đấy không còn ngồi ở Hành tỉnh khi sứ thần Việt qua, không còn dịp để nhìn một khuôn mặt quen thuộc, thấy một dấu vết của quê cũ, biền biệt... Ông đành chấp nhận sự lựa chọn thất bại, chỉ có thể ngồi lãnh trợ cấp của nước đến nhờ vả, lâu lâu chờ vua mới lên ngôi, tiến kinh để nhắc nhở xin phần tưởng thưởng đặc biệt... Có chút an ủi nào cho ông không khi lại chính Toàn thư cho rằng con ông là Trần Hữu Lượng, nhân vật trưởng lão Cái bang đầy mưu mô sâu hiểm của Kim Dung, là người chống Nguyên, lập nên nhà Hán vắn số trước khi bị Chu Nguyên Chương tiêu diệt? Tính chất lạc loài của một nhân vật trong khu vực, cố ý chen chân hay vô tình bị đưa đẩy vào biến động quốc tế cũng thấy ở một nhóm người khác mang cái tên núp lén: Hồi Hột.
***
Hồi Hột/Cốt là tên do sử gia Việt bây giờ nhận ra về lớp người Tống năm 1274 tránh quân Nguyên, đem 30 thuyền chở đầy của cải vợ con vượt biển đến cánh đồng La Cát (?) rồi được đưa về kinh thành. Tống cũng có mặt trong quân của Trần Nhật Duật, hãnh diện với một tên “gia tướng” Triệu Trung của dòng vua Nam Tống, những người không những chiến đấu bằng vũ khí mà còn tác động đến tâm lý của quân Cựu-Tống dưới quyền Nguyên nữa. Có thành phần Tống binh làm nơi đày ải nhân viên sứ bộ Trần Di Ái. Chủng loại lẫn lộn ở cả hai phe phía khiến nảy ra nhận định tức cười của sử quan: “Người Tống (phe ta) và người Thát tiếng nói và y phục giống nhau”. Sự cập nhật của danh xưng làm cho người ra đi phải mang tên của phía họ rời bỏ dù đã về với nơi lựa chọn mới: “quân Thát của Chiêu Văn”, khác với quân họ hô “sát Thát!” Là kẻ của thân phận lao đao phụ thuộc vào chủ, Lê Tắc đã ghi về hành trạng quanh quất phức tạp theo tình thế dời đổi của những người Tống chạy qua Việt khi nước mất (1279). Có người tự tử theo vua nhưng được cứu sống, làm thân lưu lạc một lúc lại trở về với kẻ thù cũ, quên việc đất nước đã đổi chủ, bởi vì với những người đó, lúc này, đất nước chỉ là ý niệm trừu tượng không thể sánh bằng tình quê hương cụ thể. Có người đổi xoay vì ân oán riêng tư. Có người như Trần Trọng Vi/Huy được Thánh Tông trọng đãi, quyết tâm “Lưu lạc chết làm ma nước Việt”, chết đi được vua làm thơ điếu nhưng con lại theo phe Trần Thôi, trở về với quân Thoát Hoan khiến Thánh Tông sai quật quan tài trị tội. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra trên đất Chiêm Thành, tuy ta không có một Lê Tắc ghi chép mà phải qua dấu vết từ phía Nguyên. Quân Toa Đô thắng ở dọc biển khiến những người Tống lưu vong trên đất này trở cờ theo quyền lực mới, còn một tên Tăng Diên để lại. Chiêm phải giết cả hàng trăm người nhưng cũng không ngăn được kẻ khác chỉ cho quân Nguyên biết nơi trú ẩn của chúa họ để đến vây bắt.
***
Tác động trên lãnh vực thương mại, sản xuất của những người Tống di tản được chứng thực ngay từ lúc đương thời. Không phải bỗng nhiên mà Thánh Tông cho đem người lạ về ở Thăng Long. Dân chạy loạn trên 30 thuyền biển kia đã chứng tỏ khả năng mang lại phồn thịnh cho nơi ở mới nên sử quan mới chịu khó ghi chép về một tên riêng là “người Kê (sửa là Cốt/Hột) quốc” với các “hàng vải lụa, dược phẩm, bày hàng mở chợ buôn bán riêng”. Họ đã từng bán loại vải quý, giá đến cả 300 quan tiền một thước (?!), từng cống người “nước Tiểu Nhân, cao 7 tấc” (khoảng 2 tấc tây, không biết có phải là cách nói quá về giống dân vùng Java mà khảo cổ học mới phát hiện gần đây không). Và chúng ta ngày nay có một bằng chứng về hoạt động của họ và con cháu trong vấn đề “gốm Chàm/ gốm Bình Định/gốm Gò Sành” theo phát hiện khảo cổ của thời đại mới.
***
“Gốm” của khảo cổ học tương đương với chữ céramique nhưng trong dân chúng nó chỉ các vật dụng đất nung không men, thường là đồ gia dụng. Gốm có men thô là sành, cao cấp là sứ, nhưng gốm thu lượm được trên gò Sành ở xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định là sành cao cấp - tạo ra tên riêng của gò, của làng, theo đà bán ve chai được đưa ra thị trường, thành sưu tập, lọt vào mắt một nhà nghiên cứu Úc, từ đó hình thành khái niệm về một loại hình gốm lấy tên từ nơi xuất hiện đầu tiên, gọi là gốm Gò Sành, gốm Bình Định, và do thời điểm chế tạo đoán định, được gọi là gốm Chàm/Chăm, là điều chúng ta sẽ bàn nơi đây.
Ở Gò Sành có dấu vết của hơn 20 lò gốm cổ. Cùng loại gốm còn thấy ở nhiều “gò” khác trên đất hai huyện An Nhơn, Tây Sơn (Bình Khê cũ). Cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học Nhật, Bỉ, Việt các năm 1993-95, 2002 thu được một số lượng hiện vật gốm tráng men, văn in chìm nổi... phong phú và độc đáo. Gốm Gò Sành còn xuất hiện ở các vùng xa trong nước (Phố Hài ở Bình Thuận, Đại Lào, Đại Làng ở Lâm Đồng nơi có lẫn gốm Long Tuyền Trung Quốc thế kỷ XIII, gốm Nhật thế kỷ XVIII) và trên thế giới, ở bán đảo Sinai (Ai Cập), trong địa tầng di chỉ khảo cổ Juffa (Vương quốc Ả Rập Thống nhất), trong các thuyền đắm ở Philippin với tiền Vĩnh lạc (1403-1427) cùng đồ sứ Trung Hoa nửa sau thế kỷ XV, nửa đầu thế kỷ XVI. Và còn thấy cũng trong thuyền đắm ở nam Trung Quốc, Thái Lan (niên đại 1403-1442).
Với nhà nghiên cứu trong nước (Đinh Bá Hòa) thì trận thắng 1471 của Lê Thánh Tông là dấu ấn lịch sử rõ rệt quyết định điểm tàn rụi của gốm Gò Sành - hoạt động trong thế kỷ XIII, XIV. Còn với học giả Nhật (Yoji Aoyagi) thì với các chứng tích không tùy thuộc vào biến động ở Việt Nam, họ cho rằng các lò gốm này hoạt động trong khoảng thế kỷ XI-XIV và vẫn còn tiếp tục sản xuất tập trung trong thế kỷ XV-XVI, thậm chí còn đến thế kỷ XVIII. Chính vì thời gian tồn tại đó mà học giả Nhật, được giải thích từ chữ gò/“mound” có nghĩa là “làng” (Momoki Shiro 1993) và gợi ý từ tên gò Hời chỉ một tộc người lạ (thật ra chỉ người Chàm) nên chuyển dịch là “village of foreigners”, để cho rằng ở đây hình như là làng của người Hoa hay có liên hệ một cách nào đó với Trung Quốc. Rồi dẫn đến kết luận là loại gốm Chàm này chịu ảnh hưởng Trung Quốc hay có thể thợ là người Hoa. Như thế cũng là tiến bộ rồi vì trước khi có các phát hiện ở Bình Định thì người ta thường ghép chúng vào với gốm Trung Quốc.(19) Tuy nhiên vẫn còn sự dè dặt về vấn đề chủ nhân, là vì người ta đã đặt tên “gốm Chàm”, cho nó phải là của người Chàm, chủ nhân cũ vùng đất Vijaya/Bình Định. Người ta chỉ mới nghĩ thêm rằng thợ ở các lò gốm kia là người Hoa mà không dám nghĩ rằng chủ nhân cũng chính là người Hoa, người Tống lưu vong khi quân Nguyên xua đuổi họ đến đất mới, không về lại nơi cũ nữa.
***
Chỉ có thể thấy là người Chàm cho đến nay không biết đến bàn xoay để làm vò hũ, nồi trã, nói chi đến làm đồ sành cao cấp. Trên tháp Chàm không hề thấy vật dụng sành sứ gắn theo như trên lăng vua Khải Định! Gốm Gò Sành có dấu gạch/ngói (tiles) tráng men mà không thấy trên tháp Chàm, trước nhất là loại hiện diện trong vùng Bình Định, vốn được cho là xây cất trong các thế kỷ XI, XII, ΧIIΙ (không đến 20 năm cuối của thế kỷ này vì tình hình chiến tranh với Nguyên). Những di vật gốm Islam, Tống, Minh, cả gốm thời Lê cũng tìm được nơi này nhưng nhà khảo cổ không cho ta thấy tính chất bộ phận của chúng trong các tháp. Các cấu trúc phụ thuộc khác (nhà ở, thành phần kiến trúc cần thiết cho hành vi tế lễ...) bây giờ không còn nữa để được suy nghĩ thêm. Gốm tráng men celadon là chuyên ngành của người Hoa, là chứng tích riêng biệt của gốm Tống, Nguyên kế tục Tống. Tất nhiên tới địa phương khác đất gốc nó phải có ứng biến đổi thay mà vì chúng ta chỉ phát hiện được vật-câm, nên chỉ có thể đoán mà thôi. Gốm Gò Sành (tên khoa học nên không cần thay đổi) được gọi là gốm Chàm vì xuất hiện trên đất Chàm xưa, nhưng là của những người Tống lưu vong sản xuất, chủ cũng như thợ, không cần phải chỉ là thợ, và thợ không phải không có người địa phương được mướn vào làm - tên gò Hời còn lại cũng là thêm một bằng chứng nhỏ. Dấu vết thế kỷ XI mà học giả thấy trên gốm của họ là di chủng của quá khứ (thế kỷ XI còn là của thời đại Tống) bởi vì đã không thấy chúng trên các tháp ở Bình Dinh/Vijaya, nghĩa là chúng chỉ xuất hiện trong thời bình về sau, sớm nhất là những năm cuối thế kỷ XIII, qua thế kỷ XIV, thời gian tương đồng với phỏng đoán của các nhà khảo cổ học. Gốm đó là chứng tích của một tập đoàn dân tộc bỏ chạy đến đất Chàm, có kẻ bị giết vì sự xung đột của các đối phương nơi họ sống gây vạ, trong đó không phải họ không có phần trách nhiệm, cuối cùng một lớp người bám trụ được, như bà con họ ở tất cả các nơi khác, và đem lối sống, kiến thức kỹ thuật từ quê gốc, thực hiện trên đất mới. Họ vẫn phải làm một vài vật dụng của địa phương theo sự thích ứng với nơi ở mới, như những cái Kala còn để lại cho thấy, nhưng rõ ràng không phải là một bộ phận khắng khít với truyền thống nơi họ nương tựa. Những con người đã chết, những kết quả phi vật chất đã tan biến, hòa lẫn với địa phương không còn có thể nhận ra, nhưng dấu vết vật chất thì khó hủy hoại: các đồ gốm sành cao cấp đã theo thương thuyền đi khắp thế giới, và còn lại nơi dấu vết các lò nung sụp đổ, chìm lấp.
Với cung cách luồn lách trên đất lạ để tồn tại, tạo thịnh vượng còn được chứng kiến đến tận ngày nay, tập đoàn lưu vong đó có thể thoát qua biến cố xung đột Chàm Việt, rồi khi đất thuộc về Việt, sống giữa vùng trống của các quyền lực trung ương, họ lại luồn lách qua các thủ lãnh địa phương mà chúa Nguyễn nuôi dưỡng bằng cách thu tiền phong chức như Lê Quý Đôn còn thấy. Tiền mua chức của các thổ hào hẳn không sai chạy là có sự đóng góp của các chủ lò sành sứ trong vùng - hay chính là họ đã tích cực tham gia để bắt đầu chen vào khung quyền lực chính trị ở cấp thấp. Con cháu họ thay đổi dần theo sự chuyển hướng dòng thương mại chung, hoặc mua ruộng thành địa chủ, học hành làm quan, hoặc thuê ruộng thành tá điền trở thành người địa phương, hay cùng với những lớp người sau, đóng chốt ở các “thị tứ” Nước Mặn, Cảnh Hàng, Đập Đá (có Canh Hãn xã, Thạch Kiều trên bản đồ 1774), An Thái theo dọc sông Côn từ dưới biển lên nguồn Tây Nguyên... Do đó có thể hiểu không phải chỉ trong thời gian ngắn cầm quyền mà nhà Nguyễn đã có hai ông tiến sĩ đầy “tai tiếng” gốc Bình Định Minh Hương: Lâm Duy Hiệp (tại chỗ), Phan Thanh Giản (đã di cư).
Một dấu vết về sản xuất gốm như thế cũng thấy ở Đại Việt tuy khuất lấp hơn vì ở đây đã có truyền thống bàn xoay, gốm sành sứ trước Trần, không đợi đến người Tống bỏ xứ lưu vong vì quân Nguyên. Người ta thấy gốm Trần có loại hình Long Tuyền của Trung Quốc. Gốm Gò Sành ở Đại Làng, trong con thuyền đắm ở Pallawan cũng nằm chung với gốm Long Tuyền. Khu sản xuất Chu Đậu chìm khuất, chỉ mới phát hiện từ 1984, được cho rằng có đời sống từ thế kỷ XIV, phát triển và tàn tạ chung một nhịp với Gò Sành gợi ý ra một ảnh hưởng cùng thời. Và cùng loại với Chu Đậu còn có Thanh Khơi, Hợp Lễ... Dù có những rối loạn triều chính, đất nước Đại Việt sau hồi thắng Nguyên cũng tiếp tục đi theo những bước phát triển riêng của nó. Triều đình Nguyên với cái chết của Hốt Tất Liệt (1293), bãi bỏ lệnh chinh nam (1294), đã trở thành giải đãi, dịu bớt sức hăng của thời ở sa mạc. Cho nên Chu Đạt Quan đi sứ Chân Lạp (1296) đã chỉ quan sát xứ sở đó như một du khách(20) chứ không soi mói như một nhân vật sứ thần nước lớn. Khuôn mẫu tổ chức chính trị, xã hội theo mẫu hình Trung Hoa đẩy từng lớp nho sĩ Đại Việt vào triều nhiều hơn theo với các kỳ thi, với nhu cầu giảm dần gia thần của các vương hầu Trần. Cho nên đến năm 1323 thì sử quan nho gia thấy đầy phấn khởi: “Nhân tài rộ nở”. Cũng năm 1323 đó, lính Trần bỏ xăm hình rồng, đoạn tuyệt với một truyền thống. Người nhiều hơn chức nên mới có ông Thiên chương học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đã nói, và Nhân Tông mới phàn nàn với ông con (chuyện năm 1320): “Cái nước bằng bàn tay mà sao phong quan tước nhiều thế!” Và theo lời Nghệ Tông (1370), vào khoảng năm Đại Trị (1358-1369) “bọn học trò mặt trắng được dùng, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc... nhiều không kể xiết”.
Điều đáng chú ý ở đây là cũng năm 1323 đó có việc đúc tiền kẽm, không nói rõ tên nhưng chắc là lấy theo niên hiệu đương thời: Đại Khánh, Khai Thái. Việc đó chỉ thực hiện được một năm thì hủy bỏ chứng tỏ người ta thấy bất lợi - có thể là không cạnh tranh được với tiền đồng, hay đã bắt đầu gây khủng hoảng tuy chưa mạnh như với chúa Nguyễn thế kỷ XVIII sau này. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ là một nhu cầu có thật đã xuất hiện theo với sự phát triển thương mại trong vùng, bởi vì sau niên hiệu Khai Thái, ta có niên hiệu Đại Trị đã đúc tiền đồng hiện nay còn lại trong sưu tập với số lượng tương đối lớn, nhiều kiểu dáng, nhiều hơn hẳn các niên hiệu khác của Trần. Thế rồi sự phát triển của sản xuất, thương mại tuy không đưa đến sự xóa bỏ tầng cấp xã hội nhưng cũng làm dịu sự cách biệt. Con ông vua lê lết đến chơi nhà ông gia thần (Phạm Ngũ Lão), ông vua (Dụ Tông) đánh bạc với nhà giàu trong dân, ông Trần Khắc Chung ngay lúc còn mang họ Đỗ khuất lấp đã khiến hình quan không dám xử em mình, đến lúc chen vào tông tộc quý hiển của đất nước, làm “thủ tướng”, lại khen vợ con “quân nhân” biếu món ăn ngon, Trương Hán Siêu làm quan đề cử của vua trông coi chùa lại gả con gái cho người nô của chùa... Họ Trần từ bỏ vai trò chủ ruộng của Lý, lên làm chủ nước nên để người thay mặt trực tiếp trông coi ruộng đất, tích trữ làm giàu, tìm cách bứt phá khỏi tầng cấp xã hội dành cho họ.
Trên vùng có sách sử ghi chép, bằng cớ ảnh hưởng của quân lưu vong Tống tỏ rõ rộng lớn, sâu xa hơn ở đất Chàm. Dấu vết của nhóm người Tống không phải chỉ ở tầng lớp trên của Đại Việt mà đã đem ảnh hưởng chồng chất thêm một lớp văn hóa của mình trên một nơi thờ cúng địa phương. Từ biến động kinh hồn của trận chiến Nhai Sơn (1279), tác động đến Đại Việt như sử quan ghi: “Qua 7 ngày có đến hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển”, cửa Cờn của Nghệ An vốn là một nơi thờ cúng cá ông (voi), đã trở thành chỗ bà cung phi Tống hiển linh đoạt quyền thần Po Riyak, không nổi sóng lớn, giúp cho Trần Anh Tông đem quân đánh thắng Chiêm Thành (1312). Rồi hai thế kỷ sau, lại thêm ông Hùng Vương XIII giữa-trời chen vào thành một thứ thần pha trộn, đủ để thờ, để sợ mà không cần thắc mắc đến gốc gác nơi đâu. Giống như xa tận về phía nam, một đền thờ thần Balaha của Thủy Chân Lạp chuyển qua thần Bạch Mã của Việt lại trở thành chùa Ông Bổn, giằng co giữa thành hoàng (bổn cảnh) và thái giám Trịnh Hòa!
Có tướng đầu hàng sống đời hàng thần trên chiến trận cho đến chết (Trương Hiển 1298), có người đem trò du hý (Đinh Bàng Đức) góp vui thêm cho cuộc sống dân dã. Trâu Tôn về hàng, chữa bệnh cho các vương hầu trở thành giàu có. Con là Trâu Canh vào cung mà khả năng chuyên môn - như một sexologue trước thời đại, đủ sức cứu bản thân dù có làm liều: cứu thái tử khỏi chết, chữa bệnh liệt dương cho vua, không những bằng thuốc mà còn bằng ngôn từ lý thuyết, chỉ dẫn thực hành (“hay dùng những câu kỳ lạ, những kế quỷ quyệt để dụ” Dụ Tông, chuyển phương pháp chữa trị qua bà công chúa chị Thiên Ninh), “đụng” đến cung nữ mà khỏi chết, còn truyền trong dân gian rằng lẩn khuất ở bờ ao, bờ mương đâu đó có sợi dây leo “tăng cường sinh lý”. Và cuối cùng, nhưng chưa hết, có người phường hát Lý Nguyên Cát mang đến đất Việt lối “tuồng truyện” đã quyến rũ danh tướng Trần Nhật Duật “không ngày nào không mở cuộc hát xướng, làm trò”, lối du hý đã đi vào cung, suýt lật đổ triều đại sớm hơn 30 năm, với con của người đào hát: Dương Nhật Lễ.
Có thể nghĩ rằng việc cải cách âm nhạc, ăn mặc theo lối người Bắc của nhóm nho sĩ vào triều năm 1323 cũng có đà từ sự hiện diện của nhóm Tống lưu vong, nhưng lối “cải cách không kể xiết” đó đã gây phản ứng bất lợi. Sự suy tàn của gốm Chu Đậu có vẻ trùng hợp với chính sách “dân tộc hóa” cụ thể bằng lệnh trở về thời Khai Thái của Nghệ Tông (1370), của lệnh cấm ăn mặc theo lối người Bắc (1374) đã chận nguồn tiếp tế nhân lực, kỹ thuật từ ngoài vào. Sự suy tàn của gốm Gò Sành lại có lẽ là do nguyên nhân biến động địa hình nơi này. Nhà khảo cổ ngày nay thấy một khu lò bị bỏ vì con đường nước ra sông lớn bị bồi lấp.(21) Nhìn ở tầm mức rộng hơn cũng thấy có hiện tượng tương tự. Đường nước thông ra biển: Sri Banoi/Chiêm Thành cảng/cửa Tỳ Ni/cửa Nước Mặn đang trên đà cạn dần. Đã có vùng đất bồi sau này mang tên Gò Bồi, quê mẹ Xuân Diệu, xuất hiện xa hơn Nước Mặn về phía đông (vì dòng chảy đã yếu đi?) chặn lối ra biển trong khi các đụn cát dồn lên từ phía bờ đông nối hòn đảo có núi Rổ Đó Khổng Lồ của “... Bình Nam đồ” thành bán đảo Phương Mai ngày nay. Lại cũng có thể nghi ngờ sự lấp cảng không hẳn chỉ vì yếu tố thiên nhiên mà là có sự can thiệp của con người. Chiến tranh từ cuộc nổi dậy của Tây Sơn đã gây sự tàn phá nội địa, làm cho thuyền bè xa lánh, cảng khẩu bỏ luống, không có sự chăm sóc của con người... Chứng cớ rõ rệt là trên bản đồ 1774, Nước Mặn là “hải môn thâm” thế mà khi phái đoàn Macartney đi ngang qua (1793) nó chỉ còn là một lạch nước nhỏ và biến mất trên bản đồ 1801 của L. Barizy. Phải nói đến tác động của địa hình vì sự phát triển của gốm Gò Sành, trước khi có kết quả bồi lấp đó, có thể nói đã là yếu tố xây dựng triều đại vinh quang cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành: triều đại Chế Bồng Nga.(22)
***
Kỳ lạ, không thấy dấu tích trên đất Chàm tên ông thủ lãnh khi tiến quân ra Thăng Long đã làm cho vua tôi Việt khóc lóc chia tay, kẻ được lệnh đánh giặc, người chạy trốn theo tiền của cất giấu. Không thấy một bia Chàm nào mang tên có thể xác nhận tương đương với Chế Bồng Nga của sử Việt. Niên giám Hoàng gia của Chàm đưa ra tên (Po) Binosuor nhưng niên đại thì không giống: 1328-1373. Người ta đã chỉ cho chúng tôi một vùng cát trắng, bảo rằng nơi đó có mả một ông vua không được nằm trong các đền miếu thờ cúng, vì mất đầu.(23) Chi tiết đó có vẻ hợp với sử sự ghi Chế Bồng Nga bị Trần Nguyên Diệu cắt đầu đem về Trần lập công chuộc tội, nhưng nếu như thế thì lớp tro được La Ngai đem về chôn trong nước phải ở Bình Định/Vijaya chứ sao lại là Ninh Thuận Panduranga? Tuy nhiên dù coi Chế Bồng Nga đã đem đến giai đoạn cực thịnh của Chiêm Thành hay chỉ là tia nắng quái chiều hôm của lịch sử nước này, thì ông cũng là một nhân vật nổi bật chưa từng thấy trong tương quan Việt-Chàm. Điều đó phải có lý do sâu xa từ trong hiện tình đương thời của đất nước này. Cả sử quan cũng phải ghi nhận: “Chiêm Thành từ đời Lê Lý tới đây, quân lính hèn nhát, hễ quân ta đến là đem cả nhà chạy trốn hoặc họp nhau khóc lóc xin hàng. Đến Bồng Nga, La Ngai mới tập họp dân họ lại bảo ban dạy dỗ, thay đổi dần dần thói cũ, trở nên can đảm hăng hái, chịu được gian khổ nên thường hay sang cướp, trở thành tai họa của nước ta.”
Sự kiện có những người nổi bật như thế thật đáng lưu ý để nối kết với một hiện tượng riêng biệt, vì vùng đất của “vương quốc” Chiêm Thành bị chia nhỏ theo từng khu vực sông ngắn, ngăn cách bởi những dãy núi đâm ra biển, khó cho sự thống nhất từ xưa. Hãy kể vào giai đoạn gần gũi là khi Anh Tông thân chinh (1312), ngoài “quốc chủ” Chiêm Thành ở Vijaya còn có “trại chủ” Câu Chiêm (Kẻ Chàm?, Quảng Nam). Mối đe dọa của Nguyên còn khiến hai nước Chàm-Việt phải giữ thế liên kết mà dấu hiệu rõ rệt là cuộc hôn nhân Huyền Trân - Chế Mân. Hai chốt gạch có chữ “trần” (Hán) tìm thấy ở Mỹ Sơn năm 2004 (và một chốt nữa của năm 2006) có thể là dấu hiệu một công trình xây cất công quả của Nhân Tông khi thăm Chiêm tìm liên kết (1301). Ông đã đi với tính cách một hòa thượng - “vân du” nên hẳn có vật biếu tặng Chiêm, và “quốc danh” Trần từng chỉ có trên các đồng tiền của vua (Nguyên Phong, Thiệu Phong...) không thể được sử dụng bừa bãi, trên đất lạ cũng phải là chỉ dấu của “quốc gia”/vua. Sức ép của phương Bắc yếu đi dẫn theo sự liên kết lơ là của hai nước, huống nữa tầng lớp nho sĩ đang lên sau chiến tranh nâng cao thêm ý thức tự tôn của Việt, cho nên sau khi Chế Mân chết là xung đột tiếp tục xảy ra. Chiêm vẫn bị đàn áp, phải “chạy trốn hay khóc lóc xin hàng”. Tiến trình vực dậy phải qua sự phát triển thương mại, dấu hiệu là ở cửa biển chính Tỳ Ni, là “bến tàu xung yếu... nơi tụ tập người buôn bán (tuy) phức tạp” nhưng vẫn có tổ chức với “viên coi cảng” mà Đoàn Nhữ Hài ranh ma hù dọa (1303).
Khảo cổ học ngày nay cho ta thấy món hàng chính là “gốm Gò Sành” tung ra khắp thế giới. Tổ chức sản xuất gốm cao cấp đã mang tính cách phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật cao, kỷ luật nội bộ, đưa lên thành món hàng quốc tế lại còn phải thêm kiến thức về giao dịch, tất cả là nền tảng của một vùng Vijaya phục hưng mà Đoàn Nhữ Hài không thể thấy đến chi tiết được. Sự buôn bán phồn thịnh trên mặt biển làm đà cho việc tạo dựng một lực lượng thủy quân hùng mạnh. Sự bình yên này lại kéo theo nhiều sự thịnh vượng khác, trong đó có nghề đánh cá. Thầy giảng Ý Odoric de Pordenone (không đến Champa) ghi chuyện vào thế kỷ XIV rằng có “một điều rất kỳ lạ, là mọi loài cá trên biển đều đến đây, tựa như người ta không thấy gì trên biển ngoài cá cả...” Nhà du hành Ả Rập Ibn Batutah đến Panran cũng nói: “dường như tất cả các loài cá đều tụ tập ở đây”. Sự dồi dào đó còn thấy dưới thời chúa Nguyễn, trên tấm bản đồ “Giáp Ngọ niên (1774)...” có vẽ tháp Phố Hài (Phan Thiết) như cái tháp chùa chín từng, có ba con cá quay đầu về tháp với ghi chú “Mỗi năm ngày tháng 5, bọn cá quay đầu chầu về tháp”. Và dân Việt đến thay thế, ngày nay cũng vào khoảng thời gian ấy có tế lễ, có hội cầu ngư, chỉ khác là dùng phương tiện văn hóa của mình: hát bả trạo. Trên nền tảng của sinh hoạt phồn thịnh đó là vai trò của những cá nhân nổi bật, biết thu tóm sinh lực chung để phục vụ cho tham vọng riêng của mình: Chế Bồng Nga, La Ngai như sử quan đã nêu ra.
Sự hồi phục của Chiêm Thành trở lại lần đầu qua nhiều thế kỷ là trận đánh thắng quân can thiệp của Trần đưa Chế Mỗ - một anh Chế nào đó, về nước tranh quyền (1352). Không thấy bóng dáng Chế Bồng Nga nhưng đã thấy hiện tượng lính Chàm “thay đổi dần dần thói cũ, trở nên hăng hái...” Không thấy mặt Chế Bồng Nga nhưng đã thấy quân Chàm cướp phá châu Hóa (1362) sau năm tấn công Dĩ Lý xa hơn về phía bắc (1361). Và đòi đất cũ, đánh tan quân Trần ở Quảng Nam (1368). Đó là lý do, sau khi thanh toán nội bộ (Dương Nhật Lễ 1370), Trần Duệ Tông với nhiều năng động hơn, đã tiếp tục thanh lọc nội bộ theo lệnh chỉ cấm nói tiếng Chiêm (1374) khiến đám nô Chàm từ đây mất tính cách riêng biệt họ giữ được trên hai, ba trăm năm nhờ sự buông lỏng của Lý. Và ông chuẩn bị tấn công Vijaya. Ông thất bại, chết trên chiến trường (1377) để quân Chiêm tràn ra ào ạt, liên tục (1377, 1378 cướp Thăng Long, 1380, 1382, 1383) đưa tên Chế Bồng Nga xuất hiện trong sử Việt (1380), tung hoành đến khi chết (1390) mà không để lại dấu tích nào ở quê hương mình, khác với những đảo lộn ông gây ra trên đất Bắc.
Với sử quan mang tinh thần nước lớn miệt thị phiên liêu thì những dòng khen Chế Bồng Nga như trên đã là quá nhưng sự lấn lướt của Chiêm trong thời gian này có vẻ còn trầm trọng hơn các sự kiện được ghi chép. Trong trận phản công 1378 sau khi thắng Duệ Tông, Chế Bồng Nga đem các tôn thất Trần bị bắt, trở cờ, lập một triều đình ngụy chiêu dụ dân Việt. Người nổi bật là Trần Húc, con Nghệ Tông, cưng đến mức mang tên là Con ngựa non của vua/“Ngự Câu Vương”, khi lấy vợ được cha tự thân đón dâu khiến sử quan phải chê trách. Bên cạnh Chế Bồng Nga còn có các tôn thất Trần khác. Toán quân ngụy đánh ra đã khiến gây dao động phe phía: sử quan nói đến “dân Nghệ An ăn ở hai lòng còn dân Tân Bình, Thuận Hóa thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành”. Toán người này khi bị thua (Trần Húc bị chiêu dụ trở về bị giết) thì có người (Trần Thiêm Bình) chạy sang Minh cầu cứu, gây mối loạn lan cả về phía bắc. Quân Chiêm không phải chỉ đánh ra rồi rút về theo loại chiến tranh gió mùa truyền thống mà còn có dáng đã chiếm đóng dài lâu. Họ có mặt thường xuyên ở vùng Thanh Hóa, mùa đông năm 1389 vẫn còn tiến công chứ chưa chịu rút về theo gió bấc. Khi có người bội phản chỉ thuyền Chế Bồng Nga cho quân Trần bắn thì vua Chiêm bị chết chứng tỏ đó là nơi dọn làm chỗ đồn trú cố định. Và quân La Ngai kéo về lại không đi đường thủy mà theo đường bộ chứng tỏ quân bộ, phần quân mang nhiệm vụ chiếm đóng đã có đội ngũ rành rẽ. Nhưng dù thất bại, vai trò nổi bật của Chế Bồng Nga làm suy yếu nhà Trần đã suy yếu sẵn cũng góp phần tạo dựng con người thay thế họ Trần: Lê/Hồ Quý Ly, người làm nổi lên vùng Trại bên lề các chính quyền Thăng Long.
Với con người này là bắt đầu một thế lưỡng cực bắc nam của Đại Việt cứ kéo dài mãi vì khả năng quản trị đất nước của các triều đại tiếp theo đã không theo kịp với lãnh địa bành trướng. Hồ Quý Ly đem thêm một “đô” - Tây Đô để đối chọi với Đông Đô, Thăng Long cũ, đưa một lượng người lớn về phía nam để làm quân bình đất nước có đô mới ở trung tâm. Hiểu biết xa về phía nam từng được Lê Tắc ghi nhận “Chiêm Lạp Vương, Cầm Bồ Gia” (Cambodgia/Campuchia, người xưa chép sách ngắt câu thành: “chiêm lạp, vương cầm, bồ gia”). Không biết đó là do kiến thức ông có từ quê nhà (1285) hay thêm mới từ Trung Quốc. Nhưng trong trận chiến với Ai Lao ở Nghệ An 1335, Đoàn Nhữ Hài đã biết đến Mekong/“sông lớn” Tiết La mà ông dự tính “sau khi thắng trận, bắt được tù binh theo dòng xuôi xuống, đi qua Chân Lạp và các nước phiên khác, diễu võ giương oai, dụ bảo con em các nước ấy vào chầu...” Mộng tưởng không thành vì thất trận, chết đuối nhưng đã mở đường kiến thức cho Hồ Hán Thương năm 1404 dự tính lấy hết đất Chàm (Bản Đạt L[R]ang - Pandaran), luôn phần Chân Lạp (“Hắc” - vùng Tức Khmau/Cà Mau?, “Bạch”/ La Bích/Lovek?, “Sa Li Nha?”) đến giáp giới Xiêm La.
Việc khai thác phía nam cùng với những biến động tự trị, một phần do ảnh hưởng quân Chiêm phục hồi, đã làm nổi lên những thổ hào thiểu số gốc Thái. Ở trung châu phía bắc, các tập đoàn này bị chận lại vì các cuộc viễn chinh của triều đình, nhưng có vẻ nơi phía nam, tộc đoàn Thái đã lấn lướt nhiều hơn chỉ vì Trần, “người Miền Dưới” tuy có khả năng nhưng cũng gặp phải giới hạn của mình. Điều đó chứng tỏ ở những trận thua vùng Nghệ An (1334-36) vì quân Trần đã xa Thăng Long mà còn lấn qua đến Mekong như đã thấy. Và lệnh cấm “nói tiếng Lào” hẳn là do tình hình lấn lướt của chủng tộc này. Tuy nhiên ở phía bắc, nhóm Thái gần với Trần nên có tên riêng (Ngưu Hống) trong sử còn ở phía nam khuất lấp, họ mang các tên xa lạ, là những nhóm vô danh theo các triền sông đi xuống các đồng bằng phía đông, lẫn lộn với các tập đoàn thiểu số khác, chịu nói tiếng Việt, Việt hóa/trung châu hóa với các họ Phan, Phạm, Trịnh, Hoàng, ẩn giấu theo liên hệ hôn nhân tộc đoàn cả bên trong các họ Lê, Nguyễn của Mường nữa... Vị thế lãnh đạo trên trước của họ lại vẫn không mất trước đám dân gốc Việt tại địa phương nên với triều đình, họ là “thổ hào” nhận chịu chức tước cai trị, quản lĩnh binh lính trong vùng, có trường hợp đủ sức chen vào triều chính Hồ Trần như Phan Mãnh (1391) - thất bại. Sức mạnh thiểu số đơn lẻ không làm họ thành đạt cao hơn nhưng khi gặp cơ hội phối hợp với các lực lượng khác thì có kết quả khả quan đến tột đỉnh. Đó là trường hợp thành công của nhóm Mường Thái Lam Sơn trong công cuộc chống ách đô hộ nhà Minh, kết thúc vào năm 1428.
Tháng Mười một 2006