Con Đường Cách Mạng

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 5

❊ ❊ ❊

Các kỹ sư xây dựng tòa nhà Knox không hề có ý định thiết kế nó cao lớn hơn, thế nên quả nhiên nó trông thấp bé hơn hẳn những tòa nhà hai mươi tầng thông thường; họ cũng chẳng mảy may cân nhắc đến việc làm cho nó đẹp mắt hơn, thế nên nó quả nhiên vô cùng xấu xí. Cao gầy, mái bằng, phần diềm mái nhô ra được sơn màu xanh lá. Nó nằm ở một khu vực tầm thường ngay trung tâm thành phố, từ lúc khánh thành vào đầu thế kỷ này, nó đã định sẵn là sẽ chìm nghỉm giữa vô vàn những công trình kiến trúc nhạt nhòa. Trong các bức ảnh chụp từ trên không, chúng chỉ là những đường nét phẳng lì bên cạnh những tòa cao ốc hùng vĩ của New York.

Dẫu tầm thường, tòa nhà Knox vẫn có vẻ vững chãi. Nó không mang lại cảm giác hùng tráng, nhưng thể tích không hề nhỏ; nó chẳng có khí phách gì, nhưng cũng không hề hèn mọn; đây là tòa nhà được xây dựng một cách thực tế để phục vụ công việc kinh doanh.

"Đến đó thôi, Frank," một buổi sáng mùa hè năm 1935, Earl Wheeler nói với con trai. "Ngay phía trước kìa. Đó là tòa nhà văn phòng trụ sở của công ty. Con tốt nhất nên nắm chặt tay bố, ngã tư này hơi lộn xộn đấy."

Đó là lần duy nhất bố của Frank đưa cậu đến New York. Chuyến đi này đã được ấp ủ suốt mấy tuần liền, trong ký ức của Frank, đó là những ngày hiếm hoi mà bố cậu có thể được coi là hòa nhã và vui vẻ. Ông thích nhắc đến ông "Otis Fields" trên bàn ăn, cùng với những từ như "New York" và "văn phòng trụ sở" vân vân, mẹ cậu luôn phụ họa theo: "Ồ, thật tuyệt vời, Earl. Nghe anh nói vậy em thật sự rất vui." Sau này Frank mới vỡ lẽ ra rằng Otis Fields chẳng liên quan gì đến bột yến mạch Quaker, mà chỉ là một cái tên kỳ quặc của một người nào đó. Đây là một người gây chú ý, không chỉ vì vóc dáng (bố cậu mô tả ông ta là "gã to con nhất trong văn phòng trụ sở"), mà còn vì sự linh hoạt nhạy bén của ông ta. Frank không hề để tâm đến những thông tin này, cho đến khi mẹ cậu tuyên bố một tin tức: Sau khi nghe tin Earl Wheeler có một cậu con trai mười tuổi, ông Otis Fields đã mời ông đưa con trai cùng đến văn phòng trụ sở. Hai bố con sẽ là khách mời trong bữa "ăn trưa chính thức" của ông Fields (đây là lần đầu tiên cậu nghe mẹ nói "ăn trưa chính thức" thay vì "ăn trưa"), sau đó ông Fields sẽ đưa họ đến sân vận động Yankee để xem một trận đấu bóng chày. Sau khi biết tin, Frank càng ngày càng mong đợi ngày đó đến. Cho đến sáng ngày xuất phát, sự nôn nóng suýt chút nữa đã phá hỏng tất cả: trên chuyến tàu đến thành phố, vì căng thẳng và say tàu xe, cậu gần như nôn sạch bữa sáng vừa ăn. Sau đó ngồi trên taxi cậu lại cảm thấy khó chịu, nếu không phải xuống xe trước vài dãy nhà, cậu đã phải nôn thêm một chận nữa trên taxi. May thay, sau khi đi bộ một lúc trong không khí trong lành, đầu óc cậu dần tỉnh táo, mọi thứ từ từ trở lại bình thường.

"Nhìn đằng kia kìa," khi băng qua đường, Earl nói, "đó là một tiệm cắt tóc, lát nữa chúng ta sẽ đến đó cắt tóc. Còn đằng kia là ga tàu điện ngầm, con thấy không, họ xây lối vào ga tàu điện ngầm ngay trong tòa nhà đó. Lại nhìn đằng này, đây là một phòng trưng bày, tủ kính của nó rộng bằng tòa nhà này, kéo dài từ đây đến tận đầu bên kia của tòa nhà. Con xem, cái này còn thô sơ và cũ kỹ hơn phòng trưng bày bên nhà chúng ta nhiều, đúng không? Con nhìn tiếp này, đây chỉ là một phần rất nhỏ trong số các sản phẩm của công ty chúng ta thôi. Đây là máy đánh chữ, cái này là máy cộng, máy tính, và một vài hệ thống phân loại tài liệu. Góc đằng kia đặt chiếc máy đăng ký sổ sách mới được phát triển. Cửa sổ tiếp theo trưng bày máy đục lỗ thẻ, cái lớn kia là máy lập bảng, chiếc máy nhỏ bên cạnh là máy phân loại. Xem họ trình diễn chiếc máy đục lỗ thẻ đó mới gọi là đã mắt chứ! Nhân viên sẽ lấy một xấp thẻ lớn, xếp ngay ngắn rồi bỏ vào máy, nhấn nút, thế là những tấm thẻ sẽ nhanh chóng chui tọt vào trong đó."

Ánh mắt của Frank luôn di chuyển từ những cỗ máy sang hình ảnh phản chiếu của chính mình trên lớp kính. Cậu cảm thấy bộ vest mặc hôm nay khiến mình trông vô cùng bảnh bao, chiếc áo khoác và cà vạt giống hệt của bố cậu. Hơn nữa, cậu thích hình ảnh tươi sáng của hai người đứng cạnh nhau, người đàn ông và cậu bé, vô số người qua đường lướt qua phía sau họ. Một lúc sau, cậu lùi lại vài bước, ngước đầu nhìn lên cho đến khi cổ chạm vào cổ áo sau. "Oa!" Cậu từng tưởng tượng đây sẽ là một tòa nhà chọc trời. Cậu phải thừa nhận lần đầu tiên nhìn thấy nó, cậu có chút thất vọng. Nhưng bây giờ khi ngước nhìn, nỗi thất vọng đó đã tan biến không dấu vết. Từng tầng từng tầng cửa sổ kính kéo dài lên trên, mỗi tầng đều nhỏ và thấp hơn tầng trước một chút, cho đến khi những đường viền ngày càng mảnh mai như nối liền lại với nhau. Tưởng tượng cảnh người ta rơi từ tầng cao nhất xuống. Tiếp đó cậu nhìn thấy phần diềm mái ở tít trên cao, cảm giác như nó đang chậm rãi, vững chãi di chuyển về phía bầu trời. Tòa nhà này đang đổ sụp về phía họ – cậu còn chưa kịp hoảng sợ thì đã nhận ra đó là một ảo giác. Thứ đang di chuyển là bầu trời chứ không phải tòa nhà. Những đám mây trắng chậm rãi lướt qua mép mái nhà, lúc này một cơn run rẩy chạy dọc cơ thể cậu: tòa nhà này mới mạnh mẽ và kiên cố làm sao. "Oa!" Trong lòng cậu lại thốt lên một tiếng trầm trồ.

"Đi được chưa?" Bố nói, "Chúng ta đến tiệm cắt tóc đi, chỉnh đốn bản thân cho tươm tất rồi mới vào. Lát nữa chúng ta sẽ đi thang máy lên thẳng tầng cao nhất."

Frank không ngờ rằng, khoảng thời gian trên vỉa hè lại là khoảnh khắc thú vị nhất của chuyến đi này. Tiệm cắt tóc đó quả thật không tệ, đại sảnh lát đá cẩm thạch ở tầng một của tòa nhà, nơi thoang thoảng mùi xì gà, ô dù và nước hoa phụ nữ, cũng rất có khí thế, tuy nhiên trải nghiệm sau đó lại càng lúc càng tệ. Thang máy không mang lại cảm giác bay bổng, mà chỉ có sự áp bức, chóng mặt và buồn nôn. Sau khi đến tầng cao nhất, Frank chỉ nhớ đến một màu trắng xóa của những ống đèn và một người phụ nữ vô cùng gầy gò. Cổ áo sơ mi của bà ta hơi trễ, có thể thấy trên người bà ta để lại không ít vết hằn, đó rõ ràng là dấu vết của bộ đồ lót quá chật mà bà ta mặc. Bà ta gọi cậu là "nhóc con", còn trình diễn cho cậu xem cách sử dụng máy lọc nước: "Chú ý nhìn nhé, nhóc con. Xem ta nhấn nút xong cái bong bóng lớn đó trồi lên kìa, bục một cái, có phải rất vui không? Nào, chính con thử xem." Frank cũng không thể quên cảm giác khó chịu tột độ khi nhìn thấy ông Fields. Dù đây không phải là người có vóc dáng đồ sộ nhất mà cậu từng thấy, nhưng ít nhất cũng là người béo nhất. Tròng kính của ông ta phản chiếu ánh đèn trong văn phòng, nên khi ông ta nói chuyện, Frank hoàn toàn không nhìn thấy mắt ông ta, hơn nữa ông ta nói rất to, như thể căn bản không hề lắng nghe đối phương đáp lại điều gì.

"Ừm, đúng là một chàng trai lớn rồi nhỉ! Con tên gì? Có thích đi học không? Ừm, thật tuyệt vời, con thích bóng chày chứ?"

Điều đáng ghét nhất ở ông ta chính là cái miệng ướt át, mỗi khi môi ông ta cử động, nước bọt đọng lại cũng theo đó mà đắc ý. Điều này khiến Frank mất hết khẩu vị khi ăn trưa (hay bữa ăn trưa chính thức), mặc dù bữa trưa được chọn tại nhà hàng của một khách sạn lớn. Khi ông Fields nhai thức ăn, ông ta không bao giờ khép miệng, hơn nữa còn để lại rất nhiều vụn thức ăn trắng xóa trên mép ly nước. Có một lần, khi ông ta nhúng một mẩu bánh mì cuộn vào bát súp, sau khi ngấm mềm thì vội vã nhét vào miệng, thế là để rơi một miếng bánh lên áo ghi-lê, để lại một vết bẩn rất dễ thấy.

"Ông nói thật không sai chút nào, Otis," trong suốt bữa trưa, Earl liên tục lặp lại câu này, "về chuyện này tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông." Ông rất ít khi quay sang nhìn Frank, những cái nhìn ít ỏi đó còn mang theo chút kinh ngạc, như thể đang thắc mắc tại sao Frank lại ngồi ở đó. Trận đấu sau đó cũng khiến Frank vô cùng thất vọng: cả hai đội đều không đánh được cú home run nào, mà theo cách hiểu nông cạn của Frank, home run là thứ duy nhất đáng chú ý trong môn thể thao này. Trong giờ cuối cùng của trận đấu, mặt trời chiếu thẳng vào mắt cậu, khiến cậu cảm thấy đau đầu. Cậu rất muốn đi vệ sinh nhưng lại không biết phải nói với bố thế nào. Sau đó là ký ức ảm đạm trong tàu điện ngầm, bố cậu rất tức giận vì Frank đã không lịch sự nói với ông Fields một câu: "Cảm ơn ông, hôm nay cháu rất vui." Khi họ đang đợi cửa tàu mở trên toa tàu, Frank mượn ánh đèn lạnh lẽo lén nhìn bố. Gương mặt bố lộ vẻ kiệt sức và thất bại về đạo đức. Ông trông lỏng lẻo, già nua và đầy rẫy những vết thương lòng. Frank cúi đầu xuống, lại phát hiện ống quần của bố đang rung lên theo nhịp, hóa ra ông đang đặt một tay vào túi quần để mân mê bộ phận sinh dục của mình.

Cảnh tượng này đương nhiên trở thành phần ấn tượng sâu sắc nhất của Frank về ngày hôm đó. Và đêm hôm đó, khi một mình rón rén đi vào nhà vệ sinh, thứ khiến cậu liên tục buồn nôn muốn ói lại chính là cái miệng đang nhai thức ăn ngấu nghiến của Otis Fields.

Phải vài năm sau cậu mới chắp ghép được những mảnh vụn của sự việc và hiểu rõ mối liên hệ giữa chúng. Bố cậu vốn là trợ lý giám đốc của một chi nhánh công ty Knox ở Newark, may mắn thoát khỏi đợt cắt giảm biên chế và thất nghiệp quy mô lớn trong thời kỳ Đại suy thoái, sau đó không biết bằng cách nào đã lọt vào mắt xanh của tổng công ty, trở thành một trong những ứng viên cho vị trí trợ lý của Otis Fields. (Về cái tên kỳ quặc Otis, Frank cũng dần hiểu ra. Otis rất có thể là cách gọi tắt của "Odiss". Trong một công ty có quá nhiều Bill, Jack, Herbs và Ted, những cái tên không thể viết tắt như "Earl" ngược lại lại là một khiếm khuyết.) Tuy nhiên, sự thăng tiến này đã không thành hiện thực, vì ban lãnh đạo công ty cuối cùng đi đến kết luận rằng, Otis có thể xử lý tốt công việc của mình mà không cần trợ lý. Earl Wheeler đã biết hoặc đoán được kết quả này ngay từ bữa trưa hoặc trận bóng chày hôm đó.

Dù bố cậu có chấp nhận thực tại hay không, Frank biết đến cuối đời bố cũng không hiểu nổi tại sao mình lại thất bại. Từ lúc bắt đầu cho đến khi lún sâu vào suy sụp, bố cậu luôn không hiểu nổi sự thất bại lần này và hàng loạt cú đả kích tiếp theo rốt cuộc là chuyện gì. Những năm sau đó, ông luôn bị điều chuyển lung tung, cho đến khi nghỉ hưu ngay sau chiến tranh (chẳng bao lâu sau khi Otis Fields nghỉ hưu và qua đời). Trước khi rời công việc, Earl đã bị điều từ vị trí trợ lý giám đốc sang làm nhân viên kinh doanh bình thường ở Harrisburg, Pennsylvania. Trong những năm đó, giữa sự bối rối ngày càng tăng, ông không nhận ra cơ thể mình đã không còn như xưa, vợ ông nhanh chóng già đi trong vất vả, con trai cả và con trai thứ chẳng hề quan tâm đến ông, cuối cùng là sự nổi loạn, thờ ơ và thậm chí là suy đồi đạo đức của cậu con trai út.

Một công nhân bốc xếp! Một nhân viên thu ngân trong quán ăn tự phục vụ! Đó chính là con trai ông. Một đứa con bất hiếu không biết ơn nghĩa, ôm lòng thù hận ông, hàng ngày cùng một đám người không ra gì đi dạo phố khắp Greenwich Village. Nó là một gã hư hỏng coi thường mọi quy tắc, chưa bao giờ nghĩ đến mẹ, sáu tháng thậm chí tám tháng không viết thư về nhà. Mãi mới trông ngóng được một lá thư, nhưng trên đó lại không có địa chỉ gửi lại, chỉ có một dòng chữ ngắn ngủi: Tuần trước đã kết hôn, có thời gian sẽ đưa cô ấy về.

May mắn cho Earl là khi con trai ông đang trò chuyện với bạn bè tại một quán bar rẻ tiền gần Đại học Columbia, ông không có mặt ở đó. Đó là năm 1948, bạn của anh tên là Sam, sinh viên tốt nghiệp khoa Triết, cũng là một thanh niên lười biếng. Anh ta làm thêm tại trung tâm giới thiệu việc làm cho sinh viên.

"Có chuyện gì vậy, Frank? Tôi cứ tưởng anh đã trở lại châu Âu rồi chứ."

"Đùa thôi. Eve có bầu rồi."

"Lạy Chúa."

"Nghe này, chúng ta có thể nhìn nhận hoàn cảnh hiện tại của tôi dưới nhiều góc độ, Sam. Hay là chúng ta nhìn theo cách này đi. Hiện giờ tôi cần một công việc, hiểu chứ? Tôi cũng hy vọng công việc này đừng làm tôi quá phiền lòng. Thứ tôi muốn là kiếm đủ tiền để sống qua một hai năm tới, cho đến khi tôi nghĩ thông suốt một vài chuyện. Đồng thời tôi cần giữ lại "chính bản thân mình". Vì vậy, điều tôi muốn tránh nhất là loại công việc có thể bị coi là "thú vị", tránh những thứ có thể chạm đến cảm xúc của tôi. Tôi muốn tìm một công ty quy mô khổng lồ có lịch sử lâu đời, đã cắm cúi kiếm tiền suốt mấy trăm năm nay, sẽ tìm tám người làm một công việc tẻ nhạt, bởi vì họ chẳng ai thực sự quan tâm xem công việc có hoàn thành hay không. Tôi hy vọng mình có thể bước vào công ty đó và nói với họ: Này, các người có thể sở hữu cơ thể tôi và nụ cười rạng rỡ kiểu sinh viên đại học của tôi trong nhiều giờ mỗi ngày, cái tôi nhận lại chỉ là một mức thu nhập ổn thỏa, ngoài ra chúng ta nước sông không phạm nước giếng. Sam, hiểu ý tôi không?"

"Tôi nghĩ là tôi hiểu," cậu sinh viên triết học nói, "đi cùng tôi về văn phòng đi." Ở đó, Sam đẩy gọng kính trên sống mũi, lật ra một xấp thẻ, rồi bắt đầu viết ra một danh sách các công ty phù hợp với yêu cầu của Frank. Trong đó bao gồm một nhà sản xuất đồng và thau khổng lồ, một công ty thiết bị công cộng, một doanh nghiệp lớn chuyên sản xuất các loại túi giấy.

Khi Frank nhìn thấy tên của Công ty Máy móc Thương mại Knox cũng được thêm vào danh sách, anh còn tưởng Sam nhầm lẫn. "Này, đợi đã. Tôi biết chắc chắn là anh nhầm rồi." Sau đó, anh kể sơ qua cho Sam nghe về sự nghiệp của bố mình. Không ngờ gã học triết học này lại nghe một cách đầy hứng thú.

"Anh sẽ thấy tình hình đã thay đổi rồi, Frank," Sam nói, "hồi đó là thời kỳ Đại suy thoái, anh đừng quên. Hơn nữa, ông ấy luôn làm công việc biệt phái, còn anh sẽ ở văn phòng trụ sở. Nói thật, nơi này chính là nơi anh muốn. Tôi biết trong đó có vài gã ngoài việc nhận lương ra thì đến cả ngón tay cũng lười cử động. Nếu là tôi, tôi sẽ nhắc đến tên của bố trong buổi phỏng vấn, biết đâu lại có chút giúp ích."

Ngày phỏng vấn, Frank một mình bước vào dưới bóng râm của tòa nhà Knox, ký ức về lần đầu tiên đến thăm tòa nhà lại bủa vây lấy anh ("Con tốt nhất nên nắm chặt tay bố, ngã tư này hơi lộn xộn đấy."). Vì vậy, anh quyết định rằng trong buổi phỏng vấn, hoàn toàn không nhắc đến bố có lẽ sẽ thú vị hơn. Sau đó anh quả nhiên không nói, và ngay trong ngày hôm đó đã thuận lợi nhận được công việc này. Địa điểm làm việc là văn phòng mang tên "Bộ phận Thúc đẩy Kinh doanh" ở tầng mười lăm.

"Bộ phận thúc đẩy cái gì cơ?" Eve hỏi, "Thúc đẩy? Em không hiểu lắm. Vậy công việc của anh là gì?"

"Ai mà biết được chứ. Họ tìm người giải thích cho anh nửa tiếng đồng hồ, nhưng anh vẫn chẳng hiểu gì mấy, anh đoán chính họ cũng không hiểu. Nhưng em không thấy chuyện này quá buồn cười sao, anh lại vào đúng Công ty Máy móc Thương mại Knox cũ kỹ đó. Đợi xem anh kể chuyện này cho ông già nghe, đợi anh kể cho ông ấy biết anh thậm chí còn không nhắc đến tên ông ấy."

Thế là mọi chuyện bắt đầu như vậy, theo một cách đùa cợt. Người khác có thể không thấy buồn cười, nhưng trong lòng anh có một niềm vui thầm kín. Anh lười biếng đối phó với công việc mỗi ngày, đi lại trong công ty với dáng vẻ như một con mèo. Sau khi Eve nói dáng đi này "rất gợi cảm", anh liền quen với cách đi như thế: chậm rãi, tràn đầy sự kiêu ngạo của phái mạnh, truyền tải sự khinh thường đối với sự căng thẳng và vội vã xung quanh. Đối với Frank, phần hay nhất của trò đùa này bắt đầu từ lúc năm giờ chiều. Anh sẽ cài khuy áo khoác như những người Knox khác, gật đầu mỉm cười với mọi người, chúc họ ngủ ngon khi ra khỏi thang máy, sau đó bắt xe buýt trở về đường Bethune. Anh phải đi qua hai đoạn cầu thang đã rỉ sét kêu cọt kẹt mỗi khi bước lên, rồi mở cánh cửa được sơn đi sơn lại nhiều lần trở nên sần sùi như da cóc, sau đó bước vào một căn phòng rộng rãi ngăn nắp. Bên trong là mùi thuốc lá, nến, vỏ cam và nước hoa cologne làm người ta chóng mặt, và còn có một cô gái xinh đẹp nhưng ăn mặc xộc xệch đang đợi anh. Căn hộ này chẳng giống nhà của người Knox chút nào, cô gái này cũng chẳng giống vợ của người Knox chút nào. Anh cũng không giống những người khác uống một ly cocktail trước, mà trực tiếp làm tình với cô gái đang chờ đợi mình. Có lúc họ ở trên giường, có lúc ở dưới sàn. Có lúc hai người quấn lấy nhau đến tận hơn mười giờ mới bò dậy, rồi bước ra đường phố yên tĩnh để ăn tối. Lúc này, tòa nhà Knox đã ở cách xa hàng ngàn dặm.

Khi công việc sắp được một năm, Frank nhận thấy niềm vui này dần nhạt nhòa. Điều khiến anh thất vọng nhất là những người xung quanh không hề cảm thấy việc anh đến làm tại công ty nơi bố mình từng làm việc là một trò đùa. "Ồ, ý anh là bố anh từng làm việc ở đây sao?" Mỗi khi Frank giải thích với họ, ánh mắt họ nhìn anh giống hệt như nhìn những thanh niên hiếu thảo, phục tùng, không có chút tinh thần mạo hiểm nào khác. Không lâu sau đó (đặc biệt là sau năm thứ hai, khi bố mẹ anh đều lần lượt qua đời), Frank không còn giải thích những chuyện này nữa, mà chuyển sang nói về những chuyện buồn cười và châm biếm trong công việc, ví dụ như sự tương phản cực lớn giữa lý tưởng cá nhân của anh và mục tiêu của công ty Knox, sự chênh lệch giữa năng lượng công ty muốn anh bỏ ra và năng lượng anh thực sự bỏ ra. "Ưu điểm lớn nhất ở công ty như Knox là, mỗi sáng chín giờ anh có thể ngắt nguồn điện bộ não của mình, để nó dừng lại cả ngày mà không ai nhận ra bộ não có quay hay không thì có gì khác biệt."

Lại một thời gian sau, đặc biệt là sau khi chuyển đến vùng ngoại ô, anh bắt đầu tránh né mọi câu hỏi về công việc của mình. Mỗi khi người khác hỏi anh làm nghề gì để kiếm sống, anh đều trả lời rằng thực ra anh chẳng làm gì cả, bởi vì công việc của anh là công việc tẻ nhạt nhất mà con người có thể nghĩ ra.

Thứ Hai đầu tiên sau khi buổi biểu diễn của câu lạc bộ kịch kết thúc, anh vẫn bước vào tòa nhà Knox với trạng thái máy móc thường lệ. Bây giờ trong tủ kính trưng bày những sản phẩm hoàn toàn mới. Trong tranh quảng cáo màu sắc rực rỡ là một nhóm phụ nữ dáng người mảnh mai, ăn mặc thời thượng, vừa mỉm cười vừa dùng bút chì chỉ vào những ưu điểm của sản phẩm được liệt kê – tốc độ, độ chính xác, khả năng kiểm soát. Phía sau tranh quảng cáo là đầy ắp các mẫu thử. Trong đó có một vài mẫu, đặc biệt là những cỗ máy đơn giản, trông rất giống những cỗ máy cũ mà bố anh đã nhiệt tình giới thiệu với anh hai mươi năm trước, chỉ là vẻ ngoài màu đen góc cạnh lúc đó đã bị thay thế bởi kiểu thiết kế "khắc vân" tròn trịa hiện nay, vỏ ngoài của sản phẩm mới bây giờ đều có màu thịt con hàu. Trong đó có một vài cỗ máy xử lý công việc với tốc độ nhanh đến mức vượt xa trí tưởng tượng của Earl Wheeler lúc bấy giờ. Ngay lúc này trong phòng trưng bày này, ngay vị trí xa nhất nơi ánh đèn sáng nhất, một cỗ máy mang nhãn hiệu "Máy tính điện tử Knox 500" đã được đặt ở đó. Theo hướng dẫn trên nhãn dán ở đáy máy, nó có thể "hoàn thành trong ba mươi phút những công việc mà một người phải mất cả đời mới làm xong với một chiếc máy tính thông thường."

Nhưng Frank chẳng thèm liếc nhìn một cái mà đi thẳng vào đại sảnh, lơ đãng đưa ngón tay nhấn nút thang máy, cũng không để ý xem rốt cuộc là người quản lý thang máy nào đã chào hỏi mình. (Anh hiếm khi để ý đến họ, trừ khi gặp phải hai người có đặc điểm ngoại hình nổi bật đến mức anh không thể phớt lờ sự tồn tại của họ. Một trong số đó là một người rất già, đầu gối run rẩy dữ dội, người còn lại là một gã choai choai có vóc dáng đồ sộ, mông cong vút như phụ nữ nhưng tóc trên đầu lại thưa thớt mềm mại như trẻ sơ sinh.) Sau khi bước vào thang máy, anh lịch sự đứng vào vị trí dựa tường, tiếp đó nghe thấy tiếng cửa thang máy đóng lại, rồi chìm nghỉm giữa những cuộc trò chuyện ồn ào của đồng nghiệp. Trong đó có một giọng nói trầm, nghe như giọng vùng Đại Bình nguyên, nội dung đều là về hành trình, chuyến đi, nơi ở tốt nhất vân vân, "Tất nhiên là khi đi về phía Chicago chúng tôi đã gặp thời tiết hơi tệ – thế là tôi nói: Cái gì, anh đang đùa tôi à? Rồi anh ta nói: Không, nghe này, tôi không đùa đâu..." Ngoài giọng nói này ra, Frank còn mơ hồ nghe thấy bảy tám giọng nam nữ, khẽ chào nhau buổi sáng trong tiếng vo ve của quạt thông gió. Sau đó là thủ tục gật đầu nghiêng người tránh đường, những người muốn ra ngoài vừa lầm bầm "xin lỗi" vừa chen lên phía trước, cửa thang máy mở ra, đóng lại, lại mở ra, lại đóng lại. Thang máy chậm rãi đi lên, tầng mười một, tầng mười hai, tầng mười bốn...

Thoạt nhìn, những tầng trên cùng của tòa nhà Knox đều giống hệt nhau. Mỗi tầng là một căn phòng rất rộng rãi. Những ống đèn trắng trên trần nhà chiếu thẳng xuống, cả căn phòng được ngăn cách thành những vách ngăn và lối đi như mê cung. Các tấm ngăn dùng để ngăn cách từ eo đến vai là những tấm kính phẳng dày không khung, qua quá trình xử lý nhăn tạo nên một màu xanh trắng bán trong suốt. Đối với bất kỳ ai vừa bước ra khỏi thang máy, cảm giác mà cả căn phòng mang lại giống như một bể bơi trong nhà khổng lồ, xa gần đều có rất nhiều người bơi đang di chuyển qua lại, một số người bơi thẳng về phía trước, một số người đang đạp nước, một số người đang nhô lên hoặc lặn xuống mặt nước, phần lớn mọi người thì chìm dưới mặt nước – khi họ chìm vào chỗ ngồi của mình, khuôn mặt họ phân tách thành một mảng hồng mờ nhạt chao đảo. Nếu tiếp tục đi sâu vào trong phòng, ảo giác này sẽ dần tan biến, bởi vì không khí bên trong này vô cùng khô. Frank đã nhiều lần phàn nàn: mắt khô đến mức sắp rơi ra ngoài rồi.

Dù có nhiều lời phàn nàn, đôi khi anh ta cảm thấy một chút thích thú từ văn phòng cực kỳ khó chịu, mang theo cảm giác tội lỗi. Trong nhiều năm, anh ta thường đùa rằng nếu một ngày anh ta rời đi, anh ta sẽ nhớ Old Knox, dĩ nhiên, ý anh ta là sẽ nhớ những người ở đây. "Họ quả thực là một nhóm người khá tốt, ít nhất một số trong số họ là như vậy." Nhưng thành thật mà nói, anh ta không thể phủ nhận mình có cảm giác thuộc về văn phòng tầng mười lăm. Những năm qua, anh ta không thấy tầng này có gì khác biệt lớn so với các tầng khác, điểm duy nhất là đây là tầng "của anh ta". Ở đây ánh sáng chói chang, không khí khô ráo, nơi đây thực hiện những bước sinh hoạt đơn điệu ngày qua ngày. Nó đã dạy anh ta cách sắp xếp thời gian ban ngày theo một phương pháp mới – gần đến lúc xuống uống cà phê, gần đến lúc ăn trưa, gần đến lúc về nhà. Ba việc này là những phần tương đối dễ chịu trong mỗi ngày làm việc, nhưng anh ta phát hiện mình đã quen phụ thuộc vào những khoảng thời gian khác, những khoảng thời gian phải lãng phí, giống như một người tàn tật đã quen phụ thuộc vào những cơn đau chắc chắn sẽ tái diễn. Điều này đã trở thành một phần của anh ta.

"Chào buổi sáng, Frank." Vince Lathrop chào hỏi.

"Chào buổi sáng, Frank." Ed Smer chào hỏi.

"Chào buổi sáng, ông Wheeler." Đó là giọng của Grace Mancuso, cấp dưới của Herb Underwood ở phòng Nghiên cứu Thị trường.

Chân anh ta biết phải rẽ vào hành lang có biển "Phòng Xúc tiến Bán hàng", biết cần bao nhiêu bước để vượt qua ba ngăn làm việc đầu tiên và bước vào ngăn thứ tư. Anh ta tin rằng ngay cả khi ngủ, chân anh ta cũng có thể tự động đi đến đích.

"Xin chào!" Molly Grubb nói. Cô là lễ tân của tầng này, đồng thời là nhân viên của bộ phận In ấn dưới quyền bà Jorgensen. Cô dùng một giọng nịnh nọt, rất nữ tính để chào hỏi, khi anh ta nghiêng người nhường đường cho cô đi qua, Frank có một xung động muốn ôm cô và đưa cô đến một nơi nào đó (có lẽ là phòng thư tín, hoặc thang máy chở hàng), nơi anh ta có thể ngồi xuống, để cô ngồi lên đầu gối mình, cởi chiếc áo len xanh của cô, và lần lượt đưa hai bầu ngực của cô vào miệng mình.

Frank không phải lần đầu tiên có xung động như thế, điểm khác biệt duy nhất là lần này, ngay khi anh ta có xung động, trong đầu anh ta nghĩ: Sao lại không nhỉ?

Đôi chân anh ta rất có trách nhiệm đưa anh ta đến chỗ làm việc của mình, trên tấm biển nhựa ở cửa viết: J.R. Ordway, F.H. Wheeler. Anh ta dừng lại ở cửa, một tay đặt lên vách ngăn kính để có thể quay lại nhìn cô. Lúc đó cô đã đi đến đầu kia hành lang, mông cô đung đưa nhịp nhàng dưới lớp váy ngắn, Frank nhìn chằm chằm cho đến khi cô chìm xuống dưới đường chân trời của vách ngăn, lặn vào chỗ ngồi của lễ tân của chính mình.

"Thư giãn một chút, từ từ." Frank tự nhủ trong lòng. Chuyện này chắc chắn phải lên kế hoạch kỹ lưỡng. Anh ta biết việc đầu tiên mình cần làm là bước vào văn phòng, chào Ordway, cởi áo khoác ngoài và ngồi xuống. Anh ta đã làm vậy. Sau khi ngồi xuống, anh ta không thể nhìn thấy động tĩnh của người khác bên ngoài ngăn làm việc. Khi anh ta tự nhiên dùng ngón chân kéo một ngăn kéo rất thấp ra và dùng nó làm bệ gác chân (vì thói quen nhiều năm, mép ngăn kéo đã bị giẫm lõm), anh ta cho phép một tia vui sướng len vào lòng: Sao lại không nhỉ? Tháng qua cô ấy đã cho tôi không ít ám chỉ. Cô ấy luôn cố tình hay vô tình lướt qua anh ta trên hành lang, thường xuyên cúi xuống bàn anh ta để đưa tập tài liệu, và nụ cười mơ hồ, khác biệt của cô ấy với anh ta. Trong bữa tiệc Giáng sinh năm đó, chẳng phải cô ấy đã run rẩy trong vòng tay anh ta và thì thầm: "Anh thật dễ thương." Đến giờ anh ta vẫn chưa quên cảm giác của đôi môi cô.

Tại sao không chứ? Dù không phải trong phòng thư tín hay thang máy chở hàng, chẳng phải cô ấy nên có một căn hộ ở đâu đó sao? Có thể có bạn cùng phòng, nhưng biết đâu hôm nay người đó lại ra ngoài cả ngày?

Lúc này Ordway bất ngờ không đúng lúc lại đến nói chuyện với anh ta. Trong lòng anh ta rất miễn cưỡng, nhưng vẫn gắng ngẩng đầu lên đáp: "Anh nói gì?" Nếu là người khác quấy rầy, Frank có thể không quan tâm, anh ta vẫn có thể gật đầu một cách lịch sự và đưa ra phản ứng hoặc câu trả lời thích hợp, trong khi tâm trí vẫn hoàn toàn tập trung vào Molly Grubb. Chỉ riêng Ordway là khác.

"Sáng nay tôi rất cần sự giúp đỡ của anh, Franklin," Ordway nói, "Đây là trường hợp khẩn cấp, tôi nghiêm túc đấy, anh bạn." Anh ta dường như đang nghiên cứu tập tài liệu dày cộp trên bàn, với vẻ tập trung, chỉ những ai hiểu rõ mới thấy rằng bàn tay anh ta đặt lên mắt tưởng như che ánh sáng, thực ra là để đỡ đầu. Mắt anh ta nhắm nghiền. Anh ta ngoài bốn mươi, dáng người nhỏ nhắn cân đối, tóc muối tiêu, khuôn mặt khá đẹp trai, rất giống nam chính trong phim tình cảm lãng mạn. Nhưng anh ta nghiện rượu nặng, suýt có thể gọi là con nghiện. Cách tự giải thoát của anh ta là liên tục tự giễu, anh ta còn là cao thủ khuấy động cảm xúc trong văn phòng. Mọi người đều thích Jack Ordway. Hôm nay anh ta mặc một bộ vest cắt may kiểu Anh, được đặt may riêng từ vài năm trước từ một thợ may ở London, tốn của anh ta cả nửa tháng lương. Cổ tay áo của bộ vest này có thể cài chặt, quần dài thì phải dùng dây đeo mới mặc được, mỗi lần mặc bộ đồ này, anh ta đều đặt một chiếc khăn tay lanh sang trọng trong túi ngực, hôm nay cũng không ngoại lệ. Nhưng đôi chân dài và hẹp, ngây thơ và vụng về nằm lộn xộn dưới gầm bàn cuối cùng cũng để lộ bản chất người Mỹ chính hiệu của anh ta – vì hôm nay anh ta đi một đôi giày da màu cam rẻ tiền, và dây giày chưa buộc. Sự tương phản lớn như vậy là do sau cơn say hôm qua, điều duy nhất Ordway không thể làm là buộc dây giày.

"Trong khoảng –" Giọng anh ta hơi khàn và không ổn định, "Trong hai đến ba giờ tới, nhiệm vụ của anh là mỗi khi Bandy đi qua thì ra hiệu cho tôi, và giúp tôi đối phó với bà Jorgensen, nữa là nếu tôi bắt đầu nôn thì đừng để người khác thấy. Tình trạng của tôi bây giờ thực sự tệ lắm."

Câu chuyện của Jack Ordway ở tầng mười lăm là một huyền thoại nhỏ. Mọi người đều biết anh ta đã cưới con gái một gia đình giàu có như thế nào, và sống nhờ vào tài sản thừa kế của cô ấy. Nhưng chiến tranh đã làm tan biến số tiền đó. Kể từ đó, sự nghiệp của anh ta trải qua trong Tòa nhà Knox, từ ngăn làm việc kính này sang ngăn kính khác, làm nhiều công việc khác nhau và không bao giờ mắc sai sót. Ngay cả khi đến Phòng Xúc tiến Bán hàng, một nơi mà ngoài Bandy là quản lý ra, chẳng ai làm việc chăm chỉ, anh ta vẫn giữ được danh tiếng tốt đã xây dựng trước đây. Trừ khi cơn say đêm trước khiến anh ta không thể tỉnh táo, anh ta thường đi lại trong văn phòng và nói chuyện, mọi nơi anh ta đi qua đều để lại tiếng cười vui vẻ. Đôi khi ngay cả Bandy tương đối nghiêm túc cũng tham gia, chứ đừng nói đến bà Jorgensen thường bị anh ta chọc cười đến chảy nước mắt.

"Nghe này," Ordway bắt đầu giải thích, "Thứ Bảy, mấy đứa bạn điên khùng của Sally từ Bờ Tây bay đến thăm nó, mọi người đều muốn tụ tập. Bọn tôi có thể đưa chúng đi thăm thành phố không? Tất nhiên là được. Đều là bạn thân nhất của nó cả, lại nữa, bọn chúng đều mang theo đồ tốt. Thế là bọn tôi bắt đầu, đầu tiên là ăn trưa ở nhà hàng André. Trời ạ, tôi dám cá anh chưa từng thấy martini nào ngon như vậy. Cũng không thể chỉ uống một hai ly cho có, thế là tôi uống mất kiểm soát, anh bạn. Rồi – rồi – ồ đúng rồi, bọn tôi chẳng làm gì được nữa, chỉ ngồi đó uống tiếp cho đến giờ cocktail. Sau đó là giờ cocktail." Nói đến đây anh ta đã hoàn toàn từ bỏ vẻ làm việc giả tạo, ngả người ra ghế, đưa hai tay ôm đầu, đồng thời lắc đầu qua lại theo nhịp nói, vừa nói vừa cười lớn. Nhìn cảnh người này thất thố, Frank vừa ghê tởm vừa thương hại. Có vẻ mỗi lần anh ta say rượu đều là do bạn điên của Sally bay đến, từ Bờ Tây, hoặc từ Bahamas, hoặc từ châu Âu, lần nào cũng mang theo rượu ngon. Và trong câu chuyện của anh ta, Sally luôn là nhân vật chính thú vị. Một cựu danh tiếng xã hội, thời thượng và không con cái, và là một người bạn chơi hiếm có. Ít nhất đó là ấn tượng Ordway muốn để lại cho người nghe ở tầng mười lăm. Frank chấp nhận ấn tượng này, và còn tưởng tượng căn hộ của họ có thể giống như bối cảnh sân khấu trong vở kịch của Noël Coward. Cho đến một ngày anh ta đến nhà Ordway uống vài ly, mới phát hiện ra Sally da chùng nhão, nhăn nheo, đã là một người phụ nữ không còn sức sống và bắt đầu già đi. Đôi môi cô ta luôn được tô thành hình cung hoàn hảo, lo lắng than khóc cho tuổi thanh xuân đã mất. Tối hôm đó, khi cô ta bước qua những món đồ da cũ kỹ và pha lê, bạc phủ bụi, gọi tên Jack, thể hiện bao nhiêu oán hận đối với Jack, oán hận anh ta vì đã làm thế giới sụp đổ. Có lần Sally ngước nhìn trần nhà, như đang gọi Chúa, cầu xin Người trừng phạt Ordway. Người đàn ông yếu đuối ngu ngốc này, cô ta đã hy sinh cả cuộc đời mình vì anh ta, nhưng anh ta chỉ biết tính toán từng đồng tiền, phá hỏng mọi tình bạn của cô ta, anh ta dồn tâm trí vào công việc văn phòng nhàm chán của mình, và dẫn những đồng nghiệp nhàm chán đó về nhà. Jack ngồi đó với vẻ xin lỗi, thỉnh thoảng cố gắng dùng những câu chuyện cười nhỏ để xoa dịu bầu không khí, thậm chí còn gọi cô ta là "mẹ".

"Còn về việc bọn tôi về từ Idlewild thế nào," Ordway tiếp tục kể, "thì tôi không biết. Điều cuối cùng tôi nhớ được là đứng ở sảnh Idlewild lúc ba giờ sáng, cố nghĩ xem có ai có thể cho tôi biết tại sao ban đầu lại đến đó. Ồ không, khoan đã. Hình như có chuyện về một tiệm hamburger gì đó – ừ, cũng không đúng, chuyện đó phải sớm hơn –" Cuối cùng sau khi kể xong câu chuyện, anh ta mới bỏ hai tay ra khỏi đầu, rồi thử vài lần nhăn mày, chớp mắt, như kiểm tra xem mình đã trở lại bình thường chưa. Sau đó anh ta tuyên bố mình cảm thấy khá hơn.

"Rất tốt." Frank đặt chân vẫn đang gác trên ngăn kéo xuống, và ngồi ngay ngắn trước bàn. Bây giờ anh ta phải suy nghĩ. Cách tốt nhất là suy nghĩ trong khi làm việc. Đống tài liệu được gửi đến sáng nay đặt trong rổ "Đến", bên dưới là tài liệu gửi đến thứ Sáu tuần trước. Thế là hành động đầu tiên của anh ta là lật ngược cả xấp tài liệu, bắt đầu xử lý từ tờ dưới cùng. Mỗi ngày khi xử lý tài liệu (chính xác là khi anh ta có tâm trạng xử lý, vì nhiều ngày anh ta hoàn toàn chẳng động đến), đầu tiên anh ta sàng lọc ra những tờ có thể vứt đi mà không cần nhìn. Một số anh ta vứt thẳng, một số anh ta viết ở phần trống một câu đại loại như "Vậy cái này thì sao", ký tên viết tắt, rồi gửi cho Bandy, xử lý như thế thực ra cũng chẳng khác gì vứt đi. Một số tài liệu khác anh ta viết "Có biết về cái này không?", rồi gửi cho người nào đó ở ngăn bên cạnh, như Ed Smer chẳng hạn. Tuy nhiên, xử lý qua loa như vậy vẫn có rắc rối sau, vài ngày sau tài liệu đó có thể quay lại nguyên vẹn, Bandy viết "Được", còn gửi cho Smer thì trả lời "Không biết". Vì vậy, cách an toàn hơn là ghi "Lưu hồ sơ" lên tài liệu, rồi giao cho bà Jorgensen và các cô dưới quyền bà, miễn là sau khi lướt qua nội dung nhanh, anh ta xác định không phải việc khẩn cấp quan trọng. Nếu hơi quan trọng, thì anh ta hoặc ghi "Lưu hồ sơ, xử lý trong vòng một tuần", hoặc để nó sang một bên, xem tờ tiếp theo. Những tài liệu để sang một bên này sẽ dần dần chất đống, sau đó anh ta sẽ bắt đầu xử lý ngay sau khi hoàn thành tất cả tài liệu trong rổ "Đến", đôi khi khi xử lý tài liệu trong rổ "Đến" phát chán, anh ta cũng quay sang xem đống tồn đọng. Anh ta sẽ sắp xếp tài liệu theo mức độ quan trọng và khẩn cấp, sau đó dùng các chồng giấy dày từ sáu đến tám inch để phân cách. Trên bàn anh ta luôn chất những chồng giấy dày như vậy, phía trên đè một cái chặn giấy bằng gốm do Jennifer làm ở trường mẫu giáo tặng. Bây giờ anh ta đặt tài liệu cần xử lý hôm nay trước mặt, trong đó có nhiều tờ Bandy ký "Được", không ít tờ có chữ "Không biết" của Smer, và một số tờ anh ta đã xử lý vài lần bằng cách ghi "Lưu hồ sơ, xử lý trong vòng một tuần". Ngoài ra còn có một số tờ ghi "Frank – xem cái này", rõ ràng là quà tặng từ những người khác, những người đang lợi dụng anh ta theo cách anh ta lợi dụng Smer. Thỉnh thoảng anh ta lấy một tờ từ xấp này ra và đặt vào xấp tài liệu cũng chất cao ở góc phải bàn. Xấp tài liệu này, đè dưới mô hình thu nhỏ bằng chì của máy tính Knox 500, là những thứ anh ta cảm thấy hiện tại không thể xử lý. Trong đó, phiền phức nhất là cả xấp giấy cùng kẹp sẽ từ từ nhồi vào ngăn kéo bên phải đầy ắp, nơi chứa tất cả tài liệu được Ordway gọi là "đồ ngon thật sự". Ngăn kéo này đối diện với ngăn kéo để gác chân, là ngăn anh ta không muốn mở nhất, như thể trong đó có rắn độc đang nằm chờ.

Tại sao không chứ? Cứ đi tới, mời cô ấy ăn trưa cùng thì có khó gì? Đúng là khó, đó là vấn đề. Ở tầng mười lăm có một quy tắc bất thành văn, nam và nữ nếu không thảo luận công việc thì không nên đến gần nhau, ngoại lệ duy nhất là bữa tiệc Giáng sinh. Nam nữ sẽ ăn trưa riêng, giống như họ dùng nhà vệ sinh riêng biệt vậy. Chỉ có kẻ ngu mới công khai thách thức quy tắc này, vì vậy Frank phải lên kế hoạch cẩn thận.

Đang xử lý tài liệu trong rổ "Đến" được một nửa, một khuôn mặt cười gầy và một khuôn mặt đầy đặn nghiêm túc hiện ra phía trên vách ngăn kính. Hóa ra là Vince Lathrop và Ed Smer, báo hiệu giờ uống cà phê đã đến.

"Quý ông," Vince Lathrop nói, "Tới giờ khiêu vũ chưa?"

Nửa giờ sau họ trở lại văn phòng. Trong khi đó Frank và Vince kiên nhẫn nghe Ed phàn nàn, vì anh ta luôn chăm sóc không tốt bãi cỏ bên ngoài ngôi nhà ở Roslyn, Long Island. Ordway sau khi uống cà phê có vẻ khá hơn, mặc dù rõ ràng anh ta thực sự muốn uống rượu. Để chứng minh mình đã khỏe hơn, anh ta đi qua đi lại trong phòng làm việc, thậm chí còn bắt chước Bandy, vừa lắc đầu không ngừng, vừa mút một cái răng gần khóe miệng phát ra âm thanh giống như tiếng hôn: "Ừm, nhưng tôi nghĩ hiệu suất làm việc của chúng ta có đủ cao không, đó mới là điểm quan trọng nhất (tiếng hôn). Bởi vì nếu chúng ta thực sự muốn hiệu quả, thì chúng ta phải làm mọi việc thấu đáo, và càng phải (tiếng hôn), càng hiệu quả hơn."

Frank lần thứ hai hoặc thứ ba cố gắng đọc tờ tài liệu trong tay, đó là một bức thư của một quản lý chi nhánh ở Toledo, toàn bộ câu từ rất lộn xộn, như thể được viết bằng tiếng nước ngoài. Frank nhắm mắt, rồi mở ra, dùng hai tay xoa mắt, sau đó đọc lại. Lần này anh ta hiểu ra.

Quản lý Toledo theo truyền thống của Công ty Knox, toàn bộ bức thư đều dùng "chúng tôi" tự xưng: ""Chúng tôi" muốn làm rõ, trước đây "chúng tôi" đã viết một lá thư khiếu nại rằng tài liệu SP1109 có nhiều lỗi nghiêm trọng và những câu từ gây hiểu lầm, thì công ty đã có hành động gì?" SP1109 là một cuốn brochure bốn màu dày, với tiêu đề "Knox 500 làm cho việc kiểm soát sản xuất của bạn chính xác hơn". Vừa thấy brochure này là Frank đau đầu. Đây là sản phẩm của một copywriter vô danh mấy tháng trước, sau đó Knox không thuê anh ta nữa. Về sau brochure này được in hàng vạn bản phân phối đến các văn phòng bán hàng chi nhánh trên khắp cả nước, trên đó ghi "Chi tiết xin hỏi F.H. Wheeler, trụ sở chính". Frank ngay từ cái nhìn đầu tiên đã phát hiện brochure này rất tệ: bố cục chằng chịt, vi phạm nguyên tắc đọc, và hình minh họa chẳng liên quan gì đến nội dung. Nhưng Frank vẫn phân phát n

Đây là lần đầu tiên anh cho phép bản thân quan sát kỹ khuôn mặt cô. Cô có khuôn mặt tròn, mũi to, quả thực không mấy xinh đẹp - giờ đây anh đã dám thừa nhận điều đó. Cô trang điểm rất đậm, có lẽ để che đi nước da không mấy tươi tắn, cũng như đường kẻ mắt đen nhỏ xíu nơi khóe mắt, nhằm giúp đôi mắt trông to hơn và khoảng cách giữa hai mắt xa nhau hơn. Mái tóc được chải chuốt kỹ lưỡng của cô có lẽ là khuyết điểm lớn nhất - hồi nhỏ chắc chắn tóc cô trông như một đống cỏ khô rối bời, đoán chừng chỉ cần dính mưa là sẽ lộ nguyên hình. May thay, khuôn miệng cô rất đẹp, hàm răng hoàn hảo, đôi môi đầy đặn mang vẻ mịn màng của bánh hạnh nhân. Frank nhận ra nếu mình tập trung ánh nhìn vào đôi môi cô, làm mờ đi các phần khác trên khuôn mặt, rồi lùi lại một chút để bao quát toàn bộ vóc dáng cô vào trong hình ảnh mờ ảo đó, anh có thể tự thuyết phục bản thân rằng, người đang đứng trước mặt mình chính là người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới.

"Ngay tại đây," cô nói, "anh muốn tìm tất cả các thư mục liên quan đến những mã số này, đúng không?"

"Ừ, chính là những thứ đó. Có thể sẽ khiến cô mất chút thời gian, tôi hy vọng cô không có ý định đi ăn trưa sớm."

"Không, tôi vẫn chưa tính đến chuyện ăn trưa."

"Vậy thì tốt quá, lát nữa tôi sẽ quay lại xem sao. Hôm nay thật sự cảm ơn cô rất nhiều, Molly."

"Anh quá khách sáo rồi."

Frank quay trở lại phòng làm việc của mình. Sắp xếp này khá ổn. Anh có thể đợi mọi người trong tầng này đi ăn trưa hết, rồi quay lại trung tâm lưu trữ tìm cô. Vấn đề cuối cùng còn lại bây giờ là phải bịa ra một lý do để giải thích với các đồng nghiệp tại sao hôm nay không đi ăn trưa đúng giờ như mọi khi. Một lý do có thể khiến anh ở bên Molly suốt cả buổi chiều mà không bị nghi ngờ.

"Đi ăn không?" một giọng nói trầm thấp đầy nam tính hỏi. Lần này có ba cái đầu xuất hiện trên vách ngăn. Lathrop và Smur, người còn lại chính là người vừa lên tiếng. Anh ta như một ngọn núi màu xám, lông mày rậm rạp, thân hình to lớn. Qua tấm kính vẫn có thể thấy anh ta mặc áo sơ mi kẻ sọc giản dị, cà vạt len xù lông và chiếc áo khoác đen trắng xen kẽ. Người này tên là Sid Roscoe, được công nhận là người có kiến thức văn hóa và tư tưởng chính trị sâu sắc nhất tầng mười lăm. Anh ta tự xưng là "lão làng tin tức", phụ trách biên tập tờ báo nội bộ "Knox News" của công ty. "Nhanh lên nào, nhân vật lớn," anh ta nói với vẻ đầy nhiệt huyết, "đứng dậy đi chứ."

Jack Ordway ngoan ngoãn đứng dậy, rồi dừng lại lầm bầm hỏi: "Anh sẵn sàng chưa, Frank?" Frank tựa lưng ra sau, cúi đầu nhìn đồng hồ, giả vờ như đang rất bận rộn.

"Chắc hôm nay tôi không đi cùng mọi người được rồi," anh nói, "chiều nay phải ra ngoài gặp vài người, tôi chắc sẽ tiện thể ăn luôn ở đó."

"Lạy Chúa, Frank." Trên mặt Ordway lộ rõ vẻ bàng hoàng và thất vọng không đáng có, như thể anh vẫn nên đi cùng họ vậy. Một lúc sau Frank mới hiểu ra: Ordway cần anh. Nếu có Frank ủng hộ, Ordway có thể kích động mọi người cùng đến quán ăn nhỏ mà anh ta gọi là "Chỗ tốt". Đó là một nhà hàng Đức u ám, nơi họ thường thưởng thức món Martini nồng độ thấp nhưng đủ để an ủi Ordway. Còn nếu Frank không đi, mọi người sẽ phải nghe theo sự sắp xếp của Roscoe để đến quán ăn nhỏ mà Ordway gọi là "Chỗ xấu". "Waffle Heaven" này ánh sáng rực rỡ và sạch sẽ không tì vết, nhưng ngay cả một ly bia cũng không mua được. Bên trong tràn ngập mùi bơ tan chảy và siro phong nồng nặc, khiến Ordway luôn muốn nôn vào khăn giấy. Nếu họ cùng đến đó, anh ta chỉ có thể ngồi đờ đẫn trên ghế chịu đựng cái mùi đó, đợi nhóm người này đưa mình về, rồi tranh thủ lẻn ra ngoài uống vài ly để trụ qua buổi làm việc buổi chiều. Làm ơn đi mà! Khi họ dẫn anh ta đi, đôi mắt tròn xoe như phim hoạt hình của anh ta nhìn Frank: Làm ơn đừng để họ làm thế với tôi.

Thế nhưng Frank vẫn ngồi vững trên ghế, hai ngón cái bóp chặt mép tài liệu. Anh đợi cho đến khi mấy người này bước vào thang máy một cách chắc chắn, rồi vẫn định đợi tiếp. Mười phút trôi qua, hai mươi phút trôi qua, anh vẫn cảm thấy văn phòng quá đông đúc. Một lát sau, anh cuối cùng cũng nửa nhấc người khỏi ghế, quét mắt nhìn thật kỹ khắp các hướng.

Khuôn mặt của Molly hiện lên trên mặt nước tại trung tâm lưu trữ. Còn vài cái đầu chen chúc bên cạnh thang máy, và vài người rải rác ở những góc xa. Frank cảm thấy không cần đợi thêm nữa, văn phòng không thể trống trải hơn được nữa. Thế là anh cài khuy áo khoác, bước ra khỏi phòng làm việc.

"Thế này là được rồi, Molly." Anh nhận lấy các thư mục từ tay cô. "Tôi nghĩ chừng này là đủ rồi."

"À, nhưng đây chỉ mới là một nửa tài liệu liên quan thôi. Chẳng phải anh cần tất cả mọi thứ sao?"

"Nói thế này nhé, tạm thời đừng quan tâm đến việc đó. Chúng ta đi ăn chút gì đó nhé?"

"Được thôi, tôi rất sẵn lòng."

Frank vội vã chạy ngược về phòng làm việc, vứt đống tài liệu đó xuống, rồi tất tả chạy vào nhà vệ sinh chỉnh đốn trang phục. Tuy nhiên, khi đứng cạnh thang máy đợi cô từ nhà vệ sinh bước ra, lòng anh bắt đầu hoảng loạn. Bây giờ xung quanh thang máy đã có vài người ăn trưa xong từ bên ngoài quay về, nếu cô không nhanh chân, rất có thể họ sẽ chạm mặt Ordway và vài người khác. Cô ấy rốt cuộc đang lề mề chuyện gì trong đó vậy? Chẳng lẽ đang hào hứng bàn tán với những người phụ nữ khác về việc mình sắp được dùng bữa trưa với ông Wheeler kính mến sao?

Lúc này cô cuối cùng cũng từ nhà vệ sinh bước ra, trên người khoác một chiếc áo mỏng. Đúng lúc cửa thang máy mở ra, giọng người quản lý vọng ra từ bên trong: "Đi xuống!"

Khi thang máy chở cả hai đi xuống, Frank đứng cách cô không xa phía sau, giữ tư thế đứng cứng đờ như kiểu "nghỉ". Các nhà hàng quanh khu vực tòa nhà Knox chắc chắn đã chật kín nhân viên của Knox, vì vậy anh phải đưa cô đến nơi xa hơn một chút. Khi đi qua sảnh, anh ngập ngừng chạm vào khuỷu tay cô, cứ như thể đang chạm vào ngực cô vậy. "Nghe này," anh thì thầm, "quanh đây có vẻ không có chỗ nào ngon lắm, cô có phiền nếu chúng ta đi xa hơn một chút không?"

Họ bước ra vỉa hè, chen chúc trong đám đông, Frank nhất thời không biết phải làm gì, anh đứng đó như một kẻ ngốc cho đến khi một từ hiện lên trong đầu: "Taxi". Và thật may mắn, anh vừa vẫy tay thì một chiếc taxi đã dừng lại. Anh vui vẻ nhìn cô mỉm cười cúi người và ngồi vào xe một cách đầy thanh lịch, đến mức hoàn toàn không chú ý đến cảnh tượng ở góc phố: thân hình to lớn của Sid Roscoe xuất hiện trong đám đông, bên cạnh là Lathrop, Smur và Ordway, đang đi tới từ "Chỗ xấu". Anh không biết mấy người đó có nhìn thấy mình không, vào khoảnh khắc đó, anh cảm thấy mọi thứ đều không quan trọng nữa. Anh đóng cửa xe, cho phép bản thân liếc nhìn về phía đó lần cuối trước khi xe khởi động. Lúc này anh đột nhiên có thôi thúc muốn bật cười, dáng vẻ Ordway ngốc nghếch bước đi trong đám đông với đôi giày da xấu xí đó, thật sự quá buồn cười.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:10
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »