Người thứ nhì ở trên đời mà bà Varvara Petrovna Xtavroghina quyến luyến ngang với ông Verkhovenxki là cậu con trai độc nhất của bà tên là Nicolai Voxevolodovitr Xtavroghin. Chính ông Verkhovenxki được mời tới là để kèm cho cậu này học. Hồi ấy Nicolai mới lên 8 tuổi. Người cha vô trách nhiệm của cậu lúc đó đã sống riêng và cậu được giao phó hoàn toàn cho mẹ chăm sóc.
Để công bằng với ông Verkhovenxki, phải nói rằng ông biết cách làm sao để chiếm cảm tình của cậu học trò. Bí quyết của ông đơn giản lắm: chính ông là một đứa trẻ. Khi ấy tôi chưa đến ở gần, và bởi luôn luôn cần một người để trút bầu tâm sự, ông không ngại ngần tạo ngay một đứa con nít như thế thành bạn, và đứa trẻ càng lớn thì cái hố cách có thể có giữa hai người dường như cũng tiêu tan luôn. Ông bao lần giữa đêm khuya khoắt lay người bạn mười hay mười một tuổi đầu dậy rồi nước mắt dầm dề thổ lộ những tình tự bi thương của ông ra hoặc có khi còn chia sẻ cả bí mật gia đình với đứa trẻ - điều hẳn là hoàn toàn không thể tha thứ được. Rồi họ ôm nhau mà nức nở khóc. Cậu bé biết mẹ thương yêu mình, nhưng cậu không có vẻ hướng cảm tình về mẹ nhiều. Bà ta không chuyện trò nhiều với cậu và chẳng có mấy khi ngăn cản cậu làm cái gì cậu muốn, nhưng không hiểu sao cậu vẫn cảm thấy tia nhìn nặng trĩu của bà mẹ làm cậu khó chịu một cách nhức nhối. Dù sao thì bà Varvara cũng giao phó hoàn toàn việc giáo dục cũng như xây dựng cá tính cậu con trai cho ông Verkhovenxki.
Chúng ta có thể phỏng đoán rằng ông thầy phải gánh một phần trách nhiệm trong việc làm đảo lộn thần kinh đứa học trò, vì khi đứa nhỏ mười lăm tuổi được gửi đi học nội trú thì nó ốm nhom, xanh xao và khép kín một cách lạ lùng. Tuy vậy sau này cậu ta nổi tiếng là có sức mạnh thể chất đặc biệt. Chúng ta có thể đoán rằng những giọt lệ của đôi bạn đó khi ban đêm ôm nhau nức nở không phải bao giờ cũng do những vụ lộn xộn trong nhà gây ra. Ông Verkhovenxki đã chạm đến những sợi dây sâu thẳm nhất trong lòng đứa trẻ, tạo ra cái cảm giác đầu tiên, tuy còn mù mờ, về một nỗi vọng tưởng thiêng liêng khôn nguôi mà một tâm hồn siêu đẳng một khi đã nếm là sẽ không bao giờ chịu đánh đổi lấy sự thỏa mãn tầm thường, (Cũng có những người coi trọng nỗi vọng tưởng kia hơn là sự mãn túc triệt để nhất, dẫu điều đó có thể thực hiện được). Dù sao đi nữa, phân cách hai thầy trò sau rốt cũng là một ý tưởng tốt, mặc cho có khá muộn.
Trong hai năm đầu nội trú, cậu Xtavroghin về nhà trong những dịp nghỉ hè. Rồi, khi mẹ cậu và ông Verkhovenxki lên ở Petersburg, thỉnh thoảng cậu cũng đến dự các buổi họp mặt văn nghệ của họ, chỉ nhìn và lắng nghe. Cậu không nói nhiều, mà rụt rè và im lìm cũng như khi trước. Cậu vẫn đối xử với ông Verkhovenxki một cách thân ái, nhưng khép kín hơn, và rõ là ngần ngại trong việc thảo luận với ông những chuyện cao xa, đặc biệt là về quá khứ.
Theo đúng ước nguyện của mẹ, sau khi tốt nghiệp ở trường ra cậu gia nhập một trong những đoàn kị vệ bảnh bao nhất. Tuy nhiên, cậu không về nhà để cho mẹ cậu trầm trồ ngắm cậu trong bộ quân phục như bà đề nghị, và sau đó cậu chỉ năm thì mười họa mới gửi thư về nhà.
Bà Varvara hễ con muốn có bao nhiêu tiền là gửi bấy nhiêu liền, dù rằng ngay sau vụ giải phóng nông nô, lợi tức của bà rút lại chỉ còn có một nửa. Nhưng qua nhiều năm trước đó, bà cũng đã tích góp được một khoản vốn nào đó, không đến nỗi ít ỏi lắm. Bà rất trông mong cậu con thành công trong xã hội, và bà không phải thất vọng. Những nơi mà bà không nối lại được mối giao du, những sĩ quan vệ binh trẻ tuổi và giầu có thừa sức làm việc đó. Trên thực tế, cậu ta còn kết giao được với những chỗ bà không hề dám ước mơ tới nữa. Mọi người đều hoan hỉ đón tiếp cậu.
Nhưng rồi những tin đồn quái đản bắt đầu tới tai bà Varvara. Cậu con của bà dường như thình lình lao mình vào sự trụy lạc điên rồ nhất. Không phải là chuyện rượu chè cờ bạc thông thường đâu. Tin báo về kể ra những sự bạt mạng man rợ của cậu: nào là cưỡi ngựa giày xéo thiên hạ, nào là lối cư xử tàn nhẫn không thể nói được của cậu đối với một thiếu phụ trong xã hội quí phái hạng nhất mà cậu lăng nhăng rồi làm nhục ngay trước công chúng. Hẳn là tất cả trong những chuyện đó có một cái gì bất thường. Đối với bên ngoài, cậu đã trở thành một tay bạo ác ghê gởm cứ nhởn nhơ lấy việc lăng nhục thiên hạ làm vui. Bà Varvara lo sầu ảo não. Ông Verkhovenxki tìm cách an ủi bà rằng đó chỉ là những cơn sốt vỡ da của một người bản tính thiên bẩm và quá phức tạp, rằng giông bão rồi sẽ lắng đi, và tuổi thanh xuân của cậu con trai bà cũng giống như của ông hoàng Harri mà đại văn hào Anh là Shakespeare đã mô tả những cuộc say điên cùng với Falstaff, Poinx và cô Quickli trong vở kịch Henri Đệ tứ, phần I. Bà Varvara không có xua ông đi với câu “Tào lao, tào lao!”, như gần đây bà thường làm. Trái lại, bà chăm chú lắng nghe, và xin ông giảng cho bà rõ hơn về Shakespeare. Rồi bà đích thân đọc cả vở kịch kia nữa. Nhưng kịch của Shakespeare không làm bà an tâm - bà không tìm ra điểm tương đồng cỏn con nào giữa hai trường hợp. Đồng thời bà đau đáu chờ con hồi âm mấy lá thư của bà.
Tuy nhiên, những thắc mắc của bà chẳng bao lâu được giải đáp liền. Bà nhận được tin buồn là ông hoàng Harri của bà đã dính líu vào hai vụ đấu súng liên tiếp nhau, và trong cả hai vụ cậu ta đều trái. Cậu hạ sát một địch thủ và gây thương tích cho người kia. Cậu bị ra trước tòa án binh, bị cách chức và thuyên chuyển đến một trung đoàn bộ binh. Thực ra, chỉ nhờ sự can thiệp đặc biệt từ giới cao cấp cậu mới khỏi bị một bản án nghiêm khắc hơn.
Đến năm 1863, cậu lại tìm cách chứng tỏ khả năng xuất sắc, không hiểu như thế nào mà họ thưởng cho cậu huy chương và thăng lên chức đội trưởng. Rồi trong một thời gian ngắn ngủi không ngờ, cậu lại được phục chức sĩ quan. Trong suốt thời kì đó, bà Varvara đã phải gửi cả trăm lá thư lên thủ đô xin được cứu xét đặc biệt. Riêng trong trường hợp này bà mới chịu hạ mình. Nhưng, vừa được phục hồi là chàng thanh niên kia đột ngột từ chức và rời bỏ quân ngũ. Tuy nhiên, cậu không trở về Xcvoresniki; thực ra cậu cũng chấm dứt luôn việc viết thư cho mẹ. Sau này dò hỏi công phu bà mới khám phá ra rằng cậu ta trở về Petersburg nhưng không bao giờ thấy cậu đi lại mấy nơi giao du cũ nữa. Dường như cậu tránh né họ. Sau cùng bà tìm ra rằng cậu kết bạn quái dị toàn là với lớp hạ lưu ở Petersburg; rằng cậu đi lại với những người nghèo rớt mồng tơi, những dân nhậu, và các sĩ quan hồi hưu phải hạ mình ăn xin “một cách đàng hoàng” ngoài phố. Người ta nói rằng cậu đến chơi các căn nhà hôi hám của họ, sống ngày đêm trong xóm nhà lá và không biết những hẻm dơ dáy nào khác nữa; rằng cậu ta phóng túng hình hài, trông như một tên du thủ du thực và coi bộ lại lấy làm thích thú. Cậu không bao giờ xin tiền mẹ. Cậu được thân phụ để lại một điền trang nhỏ, nó dù sao cũng đem lại đôi chút lợi tức, nghe nói cậu cho một người Đức nào đó gốc ở Sacson thuê. Sau cùng mẹ cậu thành công trong việc thuyết phục cậu về thăm bà ta, và ông hoàng Harri xuất hiện trong tỉnh chúng tôi. Đó là lần đầu tiên tôi thấy anh ta.
Anh ta là một thanh niên chừng hai mươi lăm tuổi, rất đẹp trai và tôi xin thú thực anh làm tôi rất xúc động. Tôi tưởng gặp một gã giang hồ rách rưới, trác táng hư thân và sặc sụa mùi rượu. Nhưng tôi chỉ thấy một người quí phái lịch sự bậc nhất chưa hề gặp bao giờ: anh ta ăn bận cực thanh nhã và cử chỉ ra vẻ con người từng quen với nếp sống cao sang bậc nhất. Không phải chỉ có tôi mới ngạc nhiên mà cả tỉnh đều chưng hửng vì ai cũng biết câu chuyện Xtavroghin, luôn cả những chi tiết làm người biết phải quái dị. (Và còn quái dị hơn nữa, là hơn phân nửa những chi tiết này lại hóa ra là đúng sự thực). Người khách mới tới bắt ngay được sự chú ý của phụ nữ địa phương. Họ phân làm hai nhóm đối nghịch: một nhóm thán phục, còn một nhóm thì đòi xin anh ta tí huyết. Nhưng tất cả họ đều bị anh ta thu hút. Một sốcác bà các cô bị hấp dẫn vì họ cảm thấy anh ta có cái gì huyền bí; những kẻ khác thì thực sự mê tít với ý nghĩ rằng anh ta là một kẻ sát nhân. Anh ta cũng tỏ ra là người khá có giáo dục, còn hiểu biết nữa. Dĩ nhiên không cần phải biết nhiều mới đủ gây một ấn tượng đối với chúng tôi, nhưng anh ta biết đủ để nói một cách có thẩm quyền về những đề tài lớn của hiện tại, và thêm nữa, anh ta nói rất bình tĩnh, thuyết phục. Lạ thay, ngay từ buổi anh ta mới tới, chúng tôi đã thấy anh ta là một người rất mực phải chăng. Anh ta lịch sự mà không giả tạo, không ba hoa lắm, rất khiêm tốn, và đồng thời lại táo bạo và tự tin. Quanh chúng tôi không có ai như anh ta. Các tay kiện tướng ở địa phương chúng tôi bị đẩy vào hậu trường, tức hận tràn hông.
Tôi cũng không choáng ngợp vì hình dung của anh. Chiếc đầu đẹp đẽ của anh tóc hơi đen lánh quá, đôi mắt trong của anh có lẽ quá chòng chọc, nước da của anh quá mềm dịu, và hai má của anh quá hồng hào mạnh khỏe; răng anh như chuỗi ngọc và môi đỏ như san hô. Như thế khuôn mặt nghe có vẻ đẹp lạ lùng, nhưng trên thực tế nó gớm ghiếc hơn là đẹp đẽ. Mặt anh gợi người ta nghĩ tới một chiếc mặt nạ. Người ta cũng đồn đại nhiều về sức khỏe phi thường của anh. Anh cao hơn tầm mức. Bà mẹ anh ngắm nhìn anh mà kiêu hãnh, nhưng cũng luôn luôn âu lo. Anh ở với chúng tôi được sáu tháng. Thoạt đầu anh ít nói, xa cách và khép kín. Anh dự các lễ lạc xã hội và giữ phép xử thế một cách cứng nhắc. Qua người cha, anh có họ hàng với quan tổng đốc và được người trong dinh tổng đốc tiếp đón như một người trong gia đình. Thế rồi con thú dữ thình lình giơ ra móng vuốt.
Tôi phải ghi nhận ở đây là quan tổng đốc trước của chúng tôi, ông già Ivan Oxipovitr quí mến, có nhiều phần giống như một bà già - nhưng là một bà già quí phái có ô dù, nên ông có thể tại chức lâu như vậy trong khi vẫn tìm cách trốn tránh công việc và trách nhiệm được. Tính hiếu khách và sự dễ thương của ông có thể đã giúp ông được mời làm chủ tịch hiệp hội của giới thượng lưu địa phương vào những ngày êm đềm xa xưa, nhưng nhất định không thể khiến ông làm tổng đốc trong thời xáo trộn của chúng tôi nổi. Người ta thường nói rằng chính bà Varvara Xtavroghina, chứ không phải quan tổng đốc, mới là người điều hành công việc trong tỉnh tôi. Tuy nhiên, đó chỉ là một nhận xét xấu miệng và hoàn toàn vô căn cứ. Thực ra, có quá nhiều người đã đem chuyện đó ra làm đề tài hài hước. Nói cho ngay, trong những năm gần đây, bà Varvara đã cố tình rút lui khỏi những quan hệ chặt chẽ với những người nắm quyền, và mặc dù uy tín rất cao của bà trong giới thượng lưu xã hội, bà tự nguyện giữ mình trong vòng giới hạn chặt chẽ mà bà đã tự đặt ra cho mình. Thay vì lo chuyện chính trị trọng đại, bà chuyên tâm vào việc quản lý tài sản và chỉ trong vòng đôi ba năm bà đã nâng mức lợi tức của bà lên gần bằng trước hồi giải phóng nông nô. Thay vì làm những cử chỉ lãng mạn trong quá khứ - như là chuyến đi Petersburg hay dự tính tập một tờ tạp chí theo khuỳnh hướng tự do - bà xén bớt khoản chi tiêu và bắt đầu để dành tiền. Bà còn quyết định tách rời khỏi ông Verkhovenxki, để cho ông thuê một căn phòng ở nhà khác, là điều mà trước đây viện ra nhiều cớ ông đã từ lâu xin phép bà thực hiện. Dần dà, ông Verkhovenxki bắt đầu mô tả bà như người lè tè mặt đất, gọi bà một cách khôi hài là “bà bạn lè tè mặt đất của tôi”. Dĩ nhiên, ông chỉ đùa vui như thế một cách cực kì kín đáo và trong những hoàn cảnh thích hợp.
Tất cả những ai trong chúng tôi biết rõ bà - và biết rõ nhất là ông Verkhovenxki - đều hiểu rằng bây giờ cậu con trai của bà tượng trưng cho những hi vọng mới và luôn cả một giấc mộng mị mới của bà. Tình thương lớn của bà đối với người con phát khởi từ thời cậu thành công trong xã hội Petersburg và trở thành bao la khi cậu bị cách chức xuống hàng lính. Nhưng đồng thời bà dường như sợ hãi cậu ta và đối xử với cậu ta một cách quá quỵ luỵ. Hiển nhiên là bà e dè một cái gì mù mờ và bí ẩn, một cái gì mà chính bà cũng không định rõ được chân tướng. Bà thường ngắm con một cách lén lút và đăm đăm như muốn khám phá và tìm hiểu một điều gì... Thế rồi con thú dữ thình lình giơ ra móng vuốt.
2
Thình lình, không ai trêu ai chọc, ông hoàng của chúng tôi phạm ngay vào bạo hành chưa từng có, khác hẳn mọi điều người ta có thể tưởng tượng ra, không phải là những sự kiện tầm thường thường thấy. Đó là những cơn tức bùng ra một cách hoàn toàn trẻ con không ai trêu ghẹo và hoàn toàn vô nghĩa lí. Có trời mới biết tại sao anh ta lại làm như vậy. Một trong những hội viên khả kính nhất của nhóm chúng tôi là ông Gaganov có thói quen vô hại là mỗi khi bị khích động, ông thường chêm vào mỗi câu ông nói một đoạn như sau: “Á, không được, tôi sẽ không đời nào để họ kéo mũi tôi mà lôi đi!” Như thế có hại gì đâu? Thế mà, có một lần, khi ông thốt lên câu đó cùng một tốp khách quan trọng thì Xtavroghin, lúc ấy đang đứng ở một góc phòng và không hề tham dự chút nào trong cáu chuyện, bước ngay tới chỗ ông Gaganov rồi đột nhiên giơ bàn tay ra lấy ngón cái và ngón trỏ nắm ngay lấy mũi ông già đó rồi lôi ông ta ra đi theo sau dăm bước. Anh ta không có chuyện gì để có thể gọi là phải phàn nàn về ông Gaganov cả, nên việc làm kia nhất định chỉ là một sự nghịch ngợm của học trò không thể nào tha thứ được. Sau này, thiên hạ nói rằng họ đã quan sát nét mặt anh trong lúc anh lôi nạn nhân đằng sau anh và đều đồng ý rằng anh dường như đang mơ mộng, “như thể người mất trí”. Nhưng đó chỉ là mãi lâu sau người ta mới nhớ lại. Còn lúc sự việc sôi nổi xảy ra, người ta không ngạc nhiên khoảnh khắc ban đầu cho bằng khoảnh khắc kế tiếp, khi ấy chắc chắn anh đã tỉnh trí rồi. Dù sao, anh cũng không hề tỏ ra bối rối một chút nào. Trái lại, anh còn mỉm cười một cách tinh quái và có vẻ thích thú vô cùng, và như người ta diễn tả, “không hề tỏ chút dấu hiệu gì hối hận về những gì anh ta mới làm”. Người ta đều bàng hoàng quá đỗi và tất cả vây quanh anh, Xtavroghin ngoái đầu lại, ngó thẳng vào mặt những kẻ ở gần anh nhất, không thốt một lời để đáp lại những lời la ó của họ. Rồi dường như anh lại đắm mình trong cơn mơ - ít nhất là theo lời kể lại của các nhân chứng - anh nhíu mày, rắn rỏi bước lại phía ông Gaganov mới bị làm nhục kia, và lẩm bẩm rất mau, với sự bực tức không che giấu:
- Dĩ nhiên ông sẽ phải tha lỗi cho tôi... Tôi không hiểu tại sao tự nhiên mình lại cảm thấy muốn làm cái chuyện... rồ dại như vậy...
Lời xin lỗi của anh bâng quơ như thế ngay tự nó lại là một sự sỉ nhục mới. Sự la ó lại tăng lên gấp bội. Xtayroghin nhún vai và bước ra.
Tất cả câu chuyện quá ư rồ dại, không kể cái bạo hành đó là một sự sỉ nhục cố tình và có tính toán trước đối với tất cả hội chúng tôi. Thực tình ai cũng xem như thế. Khởi đầu là Xtavroghin bị trục xuất khỏi hội. Rồi họ quyết định đưa ra một thỉnh nguyện thư trình lên quan tổng đốc mà tất cả hội viên đều ký tên, xin ngài (không cần chờ đợi tòa xử vụ kia) “kiềm chế tên ác nhân tai tiếng này, tên gây rối khốn nạn từ thủ đô về này, bằng những biện pháp ngài sẵn có, để bảo đảm an ninh công cộng của tỉnh nhà khỏi bị những vụ bạo hành ô nhục tương tự như thế nữa”. Họ còn giả bộ ngây thơ mà thòng thêm một câu: “Rất có thể cần phải có một điều luật nào đó có thể áp dụng ngay cả đối với ông Nicolai Xtavroghin”. Mục đích của câu này là để nói khích ông tổng đốc về mối liên hệ giữa ông và bà Varvara Xtavroghina. Họ còn hăng hái thêu dệt thêm nhiều nữa. Khéo sao là khéo, quan tổng đốc lại không có mặt ở tỉnh. Ông mới đi sang tỉnh bên để bồng một đứa bé con một quả phụ nhan sắc cho nó chịu lễ rửa tội; chồng bà này qua đời khi bà đang mang thai. Tuy nhiên, chẳng bao lâu thì ông cũng phải trở về. Trong khi chờ đợi, nạn nhân là ông Gaganov khả kính được mọi người đều hoan nghênh: ai cũng bắt tay ông, ôm lấy ông, và cả tỉnh đều thăm ông để chứng tỏ mối cảm tình và lòng thán phục ông. Họ còn định quyên tiền làm một bữa tiệc để thết mừng ông nữa, và cuối cùng chỉ vì đương sự khẩn khoản họ mới chịu bỏ dự tính đó. Có lẽ sau chót họ cũng thoáng nhận ra rằng nói cho cùng chính nạn nhân đã bị nắm mũi lôi đi, và đó khó có thể là một dịp thích đáng để ăn mừng.
Thế nhưng chuyện đó thực tình là như thế nào? Làm sao nó lại có thể xảy ra được? Lạ một điều là không ai trong tỉnh cho rằng hành vi phi lí kia là do chứng điên. Điều này chứng tỏ rằng người ta trông chờ ở anh Xtavroghin những hành vi như thế khi hoàn toàn tỉnh táo bình thường, về phần tôi, cho đến ngày hôm nay tôi cũng không thể giải thích sự kiện kia, mặc dù ngay sau đó một biến cố tiếp theo dường như giải thích được mọi chuyện và thỏa mãn mọi người. Tôi chỉ xin nói rằng, bốn năm về sau, Xtavroghin nhíu, mày và trả lời tôi như sau khi tôi thận trọng đặt câu hỏi về những điều đã xảy ra bữa đó ở hội quán:
- Phải, lúc ấy tôi không được khỏe cho lắm.
Nhưng thôi, tôi không muốn đi trước câu chuyện làm gì.
Tôi cũng khá sửng sốt về sự thiên hạ đột nhiên đâm ra thù hằn “tên ác nhân, gây rối khốn nạn từ thủ đô về”. Họ khăng khăng vạch ra rằng hành động của anh là một sự cố tình sỉ nhục toàn thể xã hội chúng tôi. Con người đó đã thành công trong việc gây mâu thuẫn với mọi người. Nhưng thực ra họ có gì để phản đối anh? Cho đến khi vụ ấy xảy ra, anh chưa hề cãi cọ với ai lấy một lần, chưa ai bị anh hành hung chút xíu nào, và lúc nào anh cũng lịch sự như một hình nhân biết nói: tôi cho là chính cái kiêu hãnh của anh đã khiến mọi người trút thù hằn lên đầu anh. Ngay cả các bà các cô thoạt đầu say mê anh nay cũng ghét anh còn hơn là bọn đàn ông nữa.
Đó là một vố nặng đối với bà Varvara. Tuy vậy, sau này bà kể cho ông Verkhovenxki nghe là bà đã cảm thấy mỗi ngày rằng nó phải đến, và còn gần như trông chờ “một điều gì hệt như vậy”. Một bà mẹ mà phải thú nhận một điều như thế thì cũng lạ thật. “Nó đến rồi đây!” bà đã tắc lưỡi nghĩ. Bữa sau vụ tai tiếng ở hội quán, bà đã thận trọng khơi mào vấn đề với cậu con trai, và mặc dù quả quyết bà vẫn còn run. Cả đêm bà ngủ không được. Sáng sớm bà vội đến chỗ ông Verkhovenxki để thảo luận, và ở ngay đó bà oà lên khóc, đó là một chuyện trước đây bà không hề làm, trừ ra những khi một mình. Bây giờ bà muốn con bà nói một cái gì với bà, nghĩ đến bà ít nhiều mà đưa ra đôi lời giải thích nào đó. Nicolai Xtavroghin, lúc nào cũng ngoan ngoãn và biết nghĩ đến mẹ, nhíu mày lắng nghe bà nói một hồi, rồi lẳng lặng đứng dậy không nói một lời, hôn tay bà, rồi đi ra khỏi phòng. Tối hôm đó - dường như cố tình - anh ta lại gây ra một vụ tai tiếng thứ hai, tuy rằng kém mãnh liệt và chấn động so với vụ thứ nhất, nhưng cũng đủ để làm quật khởi sự phẫn nộ trong công chúng vì trạng thái xao động đã có sẵn. Ngay sau cảnh giữa mẹ và con kể trên, Liputin tới để mời Xtavroghin dự bữa tiệc anh ta tổ chức để mừng sinh nhật của vợ. Bà Varvara từ lâu đã kinh hoàng mà nhận thấy rằng con bà rất ưa những buổi tụ hội bình dân như thế, nhưng bà không nói gì. Hơn nữa, Xtavroghin còn chơi bời với nhiều kẻ hạ lưu khác trong xã hội chúng tôi, kể cả thứ mạt rệp hạng bét. Dường như đó là khuynh hướng của anh ta. Xtavroghin chưa bao giờ đến nhà Liputin, tuy đã có gặp anh ta trong những dịp giao tiếp xã hội. Anh đoán, rằng sự mời mọc của Liputin có dính dấp tới vụ tai tiếng mà anh đã gây ra tại hội quán, rằng là một người địa phương theo chủ nghĩa tự do, Liputin hẳn là khoái chí về chuyện đó và thành thực nghĩ rằng đó là lề lối thích đáng để đối đãi với những hội viên khả kính, và mọi chuyện đều tốt lành cả. Anh cười to và húa sẽ đi dự.
Bữa tiệc rất đông khách, và nếu không trội bật cho lắm thì cũng sinh động. Dù là một kẻ háo danh và ganh tị, Liputin không hề hà tiện chút nào khi mời mọc khách khứa tới nhà, tuy mỗi năm anh chỉ mời có một đôi lần. Lần này vị khách sáng chói thường lệ của anh là ông Verkhovenxki không đến dự được vì bị đau. Có trà, đồ ăn chơi và rượu. Có ba bàn gẩy sòng bài bạc, và trong khi chờ đợi bữa ăn, bọn trẻ khiêu vũ theo tiếng đàn dương cầm. Xtavroghin nhẩy vài bản với chị của Liputin, một thiếu phụ mảnh mai cực xinh và sợ sệt anh đến chết khiếp. Nhẩy xong anh ngồi cạnh chị ta, nói chuyện với chị ta làm chị ta phá ra cười. Đột nhiên, nhận thấy khi cười sao mà chị ta xinh xắn quá, anh vòng tay ôm lấy eo chị ta, và ngay trước mặt đông đủ khách khứa, anh hôn chị ta ngay trên môi, thật lâu và khoan khoái ra mặt, hôn liền ba lượt. Người thiếu phụ đáng thương và kinh sợ kia bị ngất đi luôn. Xtavroghin cầm lấy mũ, bước lại chỗ anh chồng chết đứng mà lầm bầm vài câu với sự bôi rối ra mặt, “chớ có giận,” rồi ra khỏi phòng. Liputin chạy theo anh, đích thân lấy áo khoác cho anh, và tiễn anh xucmg cầu thang với sự lễ phép tràn trề. Ngày hôm sau, có một đoạn hạ hồi ngộ nghĩnh tiếp theo biến cố tương đôi vô hại đó, một hạ hồi làm tăng giá trị cho Liputin và anh ta tìm cách khai thác triệt để.
Vào lúc mười giờ sáng, cô hầu gái của gia đình Liputin tên là Agafia lại đằng nhà bà Varvara Xtavroghina. Người đàn bà rắn rỏi, má đỏ, chừng ba mươi tuổi này nói rằng chủ sai tới để chuyển một lá thư cho cậu Xtavroghin và bắt buộc chị phải trao cho “đích thân công tử.” Mặc dù đau đầu dữ dội, Xtavroghin cũng ra tiếp. Mẹ cậu tình cờ có mặt ngay lúc trao thư. Chị Agafia vui vẻ tuôn ra một tràng:
- Ông chủ sai tôi trước hết gửi lời kính thăm cậu, thỉnh an cậu, và hỏi xem sau bữa tiệc tối qua cậu có ngủ ngon không và bữa nay cậu cảm thấy ra sao?
Nicolai nhăn ra cười:
- Chị Agafia làm ơn cho tôi gửi lời thăm ông chủ của chị và bảo ông rằng ông ta là người đàn ông thông minh nhất trong tỉnh.
- Về điều đó, chủ tôi dặn tôi thưa lại với cậu rằng ông không cần cậu nói cho ông nghe điều đó, và ông muốn trả lại lời khen về cậu.
- Thực vậy sao? Nhưng làm sao ông ta biết được những gì tôi sẽ nói với chị?
- Tôi cũng không hiểu nữa, nhưng khi tôi sắp đi đến đây, ông chủ chạy theo tôi, đầu không kịp đội mũ, mà dặn rằng:
“Nếu, trong trường hợp tình cờ mà cậu ta dặn chị nói với tôi rằng tôi là người đàn ông thông minh nhất trong tỉnh này, thì chị đừng có quên thưa lại với cậu ta rằng tôi cũng biết điều đó và muốn xin cũng nói về cậu ấy như thế...”
3
Rút cuộc rồi cũng phải đến lúc giải thích với quan tổng đốc. Ông quan hiền lành tử tế Ivan Oxipovitr của chúng tôi được các hội viên đệ trình bản thỉnh nguyện giận dữ kia ngay sau khi ông trở lại tỉnh nhà. Ông biết rằng phải làm một cái gì đó, nhưng ông không quyết định nổi làm gì bây giờ. Ông già hiếu khách đó dường như khá sợ người bà con trẻ tuổi kia. Cuối cùng, ông quyết định tìm cách thuyết phục anh xin lỗi người mà anh đã xúc phạm và xin lỗi toàn thể hội viên sao cho mọi phe bị xúc phạm đều được mãn nguyện - và nếu họ đòi hỏi, thì viết thư xin lỗi nữa. Ông tổng đốc còn tin tưởng rằng ông có thể tìm ra những lí lẽ tế nhị để khuyên Xtavroghin chịu rời chúng tôi mà ra đi, chẳng hạn sáng Tây Ban Nha du học, hoặc một nước nào khác.
Trước kia Xtavroghin tha hồ đi lang thang khắp nhà như một người trong gia đình nhưng lần này ông tổng đốc tiếp anh ở phòng khách. Ngồi ở bàn trong một góc phòng, anh thư kí rất có phong độ là Aliosa Teliatnicov ít nhiều cũng được coi như một người nhà của ông tổng đốc, đang mở những bưu kiện. Ở phòng kế bên, ngồi cạnh cửa sổ là một ông đại tá phục phịch to con trước đây cùng ở một trung đoàn với ông tổng đốc. Ông đến thăm và đang đọc nhật báo Tiếng Nói, vàdĩ nhiên không màng chú tâm tới những gì đang xảy ra ở phòng sát cạnh. Thực ra ông quay lưng lại phòng đó.
Ông tổng đốc đề cập vấn đề một cách vòng vo. Ông nói rất nhẹ nhàng, như bằng hơi thở. Nhưng ông làm lộn xộn hết cả. Thái độ của Xtavroghin hoàn toàn bất thân thiện. Không có gì gợi cho thấy chút tình cảm gia đình nồng ấm nào. Người anh xanh xao; anh ngó xuống đất và cau mày như thể anh cố dồn nén một cơn đau mãnh liệt. Ông già nói đại khái:
- Tôi biết cậu có một tấm lòng tốt và cao thượng. Cậu là một người có giáo dục và đã tiếp xúc với giới thượng lưu xã hội... phải, và cho đến khi sự việc này xảy ra ngay cách cư xử của cậu ở đây cũng không có gì có thể chê trách được cả, đó là một niềm an ủi lớn cho mẹ cậu, là người chúng tôi ở đây ai cũng quí mến... Thế rồi bây giờ mọi chuyện đều hóa ra lạ lùng nguy hiểm! Xin cậu cho phép tôi nói, như một người bạn già trong gia đình, như một người trong họ lớn tuổi thực lòng quan tâm đến cậu, mà lời lẽ xin cậu chớ có bao giờ hiểu lầm... Cậu hãy nói cho tôi nghe, cái gì đã thúc đẩy cậu thực hiện những việc rồ dại đó - những việc mà không một tiêu chuẩn xử thế tiếp vật nào có thể chấp nhận được? Những hành vi dường như của kẻ đang cơn mê sảng kia ý nghĩa ra làm sao?
Xtavroghin lắng nghe, bực tức và nóng nẩy. Chợt một vẻ tinh quái và châm chọc hiện trên gương mặt anh. Anh nói một cách sỗ sàng:
- Vâng, tôi cho rằng thôi thì cũng nói béng cho ông nghe cái đã thúc đẩy tôi làm những chuyện đó cho rồi, - đoạn nhìn quanh vội một vòng, anh nghiêng mình ghé lại tai ông tổng đốc. Anh Aliosa Teliatnicov lịch sự đã âm thầm đẩy bàn ra xa vài bước. Trong phòng kế cận, ông đại tá vừa đọc tờ Tiếng Nóivừa ho sù sụ. Ông lvan Oxipovitr đáng thương vội tưởng thật bèn đưa tai lại gần phía Xtavroghin, vì ông là một người tính rất tò mò. Ngay lúc đó, một chuyện không thể ngờ tới - mặc dù xét theo một số phương diện khác hoàn toàn dễ hiểu - đã xảy ra. Ông tổng đốc đột nhiên nhận ra rằng, thay vì thì thầm một điều bí mật thú vị nào đó vào tai ông, Xtavroghin đã lấy răng đớp lấy vành tai ông mà cắn thật mạnh. Ông già rùng mình khắp người, thở không ra hơi. Ông rên bằng một giọng lạc hẳn di:
- Nicolai, anh giỡn cái gì lạ thế hử?
Aliosa và ông đại tá không thể đoán được chuyện gì đang xảy ra; họ trông ra như tuồng hai người đang- thì thầm những chuyện bí mật với nhau. Tuy nhiên, nét mặt dại điếng của quan tổng đốc làm họ lo lắng. Họ đưa, mắt nhìn nhau dò hỏi: không biết nên chạy lại cứu ông hay chờ một chút xíu nữa? Xtavroghin chắc phải nhận ra điều này và càng nghiến chặt hơn. Nạn nhân lại rên lên:
- Nicolai, Nicolai... Thôi được, giỡn thế đủ rồi, bây giờ thôi chứ...
Chỉ một hồi nữa thì ông lão có lẽ đến chết vì sợ nhưng kẻ hành tội ông đã hãm lại và nhả tai ông ra. Tuy nhiên, trạng thái kinh hoàng đó đã tiếp diễn suốt cả một phút, và sau đó ông bị lên cơn thần kinh. Chỉ trong vòng nửa giờ, Nicolai Xtavroghin bị bắt và tạm giữ trong phòng vệ binh, nhốt vào một xà lim đặc biệt có khóa ngoài cửa với một người lính đứng canh. Đó là một biện pháp nghiêm khắc, nhưng quan tổng đốc hiền lành quá nổi giận nên ngài quyết định làm bất kể hậu quả ra sao, kể luôn việc bà Varvara có giận thì giận. Mọi người ngạc nhiên xiết bao khi bà hấp tấp và hậm hực chạy lao tới dinh tổng đốc để hỏi cho ra lẽ, quan tổng đốc ra lệnh không, tiếp bà. Bà cứ thế ngồi nguyên trên xe quay về nhà mà cũng không dám tin đó là chuyện có thực.
Rồi cuối cùng mọi thắc mắc của họ đều được giải đáp. Vào lúc hai giờ sáng, tù nhân từ trước đến lúc ấy vẫn lặng yên và còn ngả ra làm một giấc nữa, thình lình bắt đầu giậm chân và nắm tay đấm cửa thình thịch. Anh bẻ cong chấn song ở cửa sổ - một kỳ công đòi hỏi sức mạnh dị thường - đập vỡ cửa kính và làm đứt cả tay. Khi sĩ quan canh phòng chạy tới cùng với lính và chìa khóa, đồng thời ra lệnh mở khóa xà lim để cho lính của ông có thể áp đảo và trói kẻ khùng kia lại thì mới biết Nicolai Xtavroghin đang bị một cơn sôi thần kinh kịch liệt hành hạ. Thế nên anh được đưa về nhà cho bà mẹ. Mọi chuyện tức khắc sáng tỏ ngay. Ba vị bốc sĩ của tỉnh chúng tôi đều đồng ý là từ ba ngày trước có thể bệnh nhân đã mê sảng, và mặc dầu anh ta trông như hành động có ý thức và còn tinh quái nữa, anh ta không kiểm soát nổi lí trí và ý chí - điều đó xem ra dường như ăn khớp với các dữ kiện. Thế là Liputin là kẻ đầu tiên đoán đúng sự thực. Ông tổng đốc vốn rất nhạy cảm và tế nhị không biết xoay xở làm sao. Nhưng một điều lạ đáng ghi nhận là chính ông cũng cho rằng Xtavroghin là người có thể làm bất cứ việc điên rồ nào khi ở trạng thái bình thường. Các hội viên cũng bối rối là sao lại quên sót một lý lẽ giải thích rành rành đến thế. Dĩ nhiên, cũng có một số người đa nghi, nhưng không ai gây được ảnh hưởng nào đáng kể.
Xtavroghin nằm liệt giường trên hai tháng. Một vị danh y từ Moskva được mời về để chẩn bệnh, cả tỉnh tới vấn an bà Varvara và bà tha thứ cho họ. Nicolai bình phục hoàn toàn và chấp nhận không hề phản đối lời đề nghị của mẹ đi du lịch Italia một chuyến. Bà cũng thuyết phục được anh chịu đi một vòng chào từ giã và nếu có thể đương nổi, thì xin lỗi luôn những người anh đã xúc phạm. Anh hăm hở tán đồng. Trong hội có tin kháo nhau rằng anh và ông Gaganov đã có cuộc nói chuyện thật lâu tại nhà ông này và đã khiến bên bị xúc phạm hoàn toàn thỏa mãn. Đánh xe đi thăm viếng quanh quanh, Xtavroghin cung cách trang trọng và có phần ủ dột. Mặc dù mọi người dường như tiếp anh với nhiều thiện cảm, họ vẫn cảm thấy lúng túng đối với anh và thở ra nhẹ nhõm khi nghĩ anh sắp đi Italia. Quan tổng đốc thực sự nhỏ một giọt nước mắt, nhưng không hiểu vì lí do gì không dám ôm anh ngay cả trong bữa tiệc chia tay. Tuy nhiên, một số người trong đám chúng tôi dường như vẫn tiếp tục tin rằng anh là người vô tích sự, chỉ biết châm chọc phá quấy người ta, còn cái chuyện đau bệnh của anh không ăn nhằm gì tới cả. Xtavroghin cũng ghé thăm cả Liputin nữa. Anh hỏi:
- Nói cho tôi biết đi, làm sao anh đoán được tôi sẽ nói gì về trí thông minh của anh mà cấp sẵn cho chị Agafia câu trả lời?
Liputin cười mà bảo rằng:
- Giản dị lắm. Chính tôi cũng xem anh là một người thông minh, nên có thể dự đoán phản ứng của anh.
- Dù sao đó cũng là một sự trùng hợp lạ kỳ. Bây giờ xin anh cho biết, phải chăng điều đó có nghĩa là khi gửi chị Agafia đến chỗ tôi, anh coi tôi như một người có đủ lí trí chứ không phải một thằng điên?
- Đúng, xem anh như một người thông minh nhất, khỏe mạnh nhất. Nhưng tôi cũng làm bộ tin rằng anh hơi mất trí... Dù sao anh cũng đã đoán ra thật đúng những gì tôi nghĩ trong đầu và còn nhờ chị Agafia chuyển cho tôi một chứng chỉ về trí thông minh nữa.
Xtavroghin nhíu mày lẩm bẩm:
- Chỗ đó thì anh có phần hiểu sai rồi. Lúc đó tôi thực sự không được khỏe cho lắm. Nhưng này, anh có thực sự nghĩ rằng tôi có thể đi lang thang tấn công người ta khi hoàn toàn tỉnh trí? Làm sao tôi lại làm những chuyện như vậy?
Liputin có vẻ bối rối; anh ta không biết nói sao, Xtavroghin hơi có sắc lợt lạt, hay ít ra Liputin ngỡ như thế. Xtavroghin nói thêm:
- Dù sao, anh cũng có một lối suy nghĩ rất ngộ. Còn về chị Agafia tôi độ chừng rằng anh gửi chị ta tới để làm nhục tôi.
- Tôi đâu có thể nào đòi quyền đấu với anh được!
- À, phải rồi, tôi có nghe nói anh không ưa đấu súng...
Liputin nói một cách không được vui cho lắm:
- Việc gì chúng ta phải bắt chước phong tục của bọn Pháp trong nước mình?
- Vậy ra anh ủng hộ tập tục quê hương?
Ngồi trong ghế Liputin càng thu mình nhỏ hơn và kém vui thêm. Xtavroghin chợt kêu lên vừa giơ tay chỉ một cuốn sách của Consideran23 mở sẵn trên bàn:
- Không biết anh có phải một tín đồ của Fourier hay chăng? Điều đó không có gì làm tôi ngạc nhiên cả. Nhưng sách này không phải là một bản dịch từ tiếng Pháp sao?
Xtavroghin vừa phá ra cười vừa lấy mấy ngón tay gõ nhịp trên cuốn sách.
Liputin nổi khùng ra mặt đáp lời anh:
- Không, đây không phải là một bản dịch từ tiếng Pháp! Đây là một bản dịch từ một ngôn ngữ đại đồng nhân loại, chứ không phải là dịch từ tiếng Pháp. Nó dịch từ ngôn ngữ cộng hòa xã hội và của sự hòa điệu của cộng hòa nhân loại, chứ không phải chỉ dịch từ tiếng Pháp. Anh có hiểu chăng?
Xtavroghin vừa cười vừa nói:
- Mẹ kiếp, chả làm gì có một ngôn ngữ như thế.
Đôi khi chỉ một điều cỏn con lại làm cho người ta chú tâm đặc biệt và in đậm mãi trong trí nhớ. Chúng ta sẽ quay lại chuyện anh chàng Xtavroghin này sau. Bây giờ, tôi chỉ xin ghi nhận rằng trong các ấn tượng của tỉnh tôi đối với anh, cái sâu đậm nhất lại là hình ảnh vô nghĩa của anh chàng công chức nhỏ này, con người độc tài trong gia đình, thô lỗ và ganh tị này, kẻ cho vay biển lận thường cất khóa cả những mẩu nến và những đồ cơm thừa canh cặn mà đồng thời lại mạnh mẽ chủ trương một thứ “hòa điệu xã hội” trời đất mới hiểu nổi này, kẻ đêm đêm say mê viễn cảnh một Thế giới Đại đồng, Thiên đường trong tương lai mà anh ta tin tưởng sắp giáng hạ xuống nước Nga và tỉnh tôi một cách đinh ninh như anh tin vào mạng sống của chính anh vậy. Và anh tin rằng Thế giới Đại đồng kia sắp gom đủ tiền để tậu một căn nhà cho chính mình, nơi anh lấy cô vợ thứ nhì chỉ vì món của hồi môn, và lại là nơi không có một ai, kể luôn cả anh, trong vòng bán kính một trăm dặm giống được mảy may một người của nước cộng hòa xã hội đại đồng trong tương lai.
Xtavroghin trầm ngâm nghĩ ngợi mỗi lần anh nhớ đến tín đồ quái dị của Fourier, đó: “Có trời mới biết làm sao những tay đó lại ra như thế!”
4
Ông hoàng của chúng tôi đi du lịch trên ba năm trời nên người trong tỉnh hầu như quên đứt anh đi. Chúng tôi nghe ông Verkhovenxki nói lại là anh lê gót khắp Âu châu và ghé thăm luôn cả Ai Cập và Jerusalem; rằng sau này anh đã gia nhập một đoàn bác học đi thám hiểm cả xứ Iceland gần Bắc cực và thực sự đến vùng đó. Chúng tôi cũng nghe nói là anh đã bỏ ra cả một mùa đông đi nghe giảng ở một trường đại học Đức. Anh chỉ viết thư về nhà cho mẹ sáu tháng một lần, đôi khi còn thưa thớt hơn, nhưng dường như bà không lấy thế làm giận. Bà nhún mình chấp nhận mối liên hệ với cậu con trai thế nào cũng được, mặc dù bà nhớ Nicolai của bà lắm và ban ngày mơ màng đến con bằng muốn cách. Bà không bao giờ than vãn hay chia sẻ những giấc mơ đó với ai. Bà còn tỏ ra phần nào xa cách đối với ông Verkhovenxki. Dường như bà đang dự trù bao nhiêu là kế hoạch bí mật, vì bà trở nên tiện tằn hơn lúc nào hết, hăng hái để dành tiền hơn, và càng ngày càng bực tức về những sự thua bạc của ông Verkhovenxki.
Sau cùng, vào tháng Tư, bà nhận được một lá thư từ Paris do người bạn hồi con gái nay là vợ của tướng Drozdov tên là Praxcovia Ivanovna gửi. Họ không từng gặp mặt hay thư từ cho nhau đã trên tám năm trời, thế mà nay thình lình bà Drozdova viết thư cho biết Nicolai đã thực thụ trở thành bạn rất thân của cô con gái độc nhất của bà tên là Liza, và cậu định tháp tùng họ đi Vernex Montreux ở Thụy Sĩ trong mùa hè năm ấy, mặc dù sự kiện là trong gia đình bá tước K. (một nhân vật rất có thể lực ở Petersburg) cậu được coi như con cái trong nhà và gần như sống hẳn ở đó. Thư của bà Drozdova ngắn và có chủ định rõ rệt, mặc dù bà không rút ra kết luận nào từ những dữ kiện kể trên. Bà Varvara chẳng mất thì giờ để quyết định ngay việc phải làm. Mang theo cô gái bà bảo học là Dasa (em gái Satov), bà đi Paris vào trung tuần tháng Tư và từ đó sang Thụy Sĩ. Đến tháng Bẩy, bà trở về nước một mình. Bà để Dasa ở lại với gia đình nhà Drozdov mà bà cho chúng tôi hay là họ cũng sắp sửa trở về Nga vào cuối tháng Tám.
Gia đình nhà Drozdov cũng có đất cát ở trong tỉnh tôi nhưng tướng Drozdov (là bạn cũ của bà Varvara, và trước kia là đồng nghiệp trong quân ngũ cùng với chồng bà) vì bận công vụ luôn luôn nên chẳng có lúc nào về ở tòa dinh cơ tráng lệ của ông cả. Rồi đến khi ông tướng chết, bà vợ góa của ông buồn bã khôn nguôi bèn đem đứa con gái ra ngoại quốc. Khi ở bên ấy, bà quyết định theo lối trị bệnh như ởVernex Montreux trong nửa cuối mùa hè. Sau đó khi trở về nước bà tính định cư vĩnh viễn ở tỉnh chúng tôi. Bà Drozdova có một căn nhà lớn ở dưới phố để không, cửa đóng then cài đã nhiều năm. Thực sự, bà là người rất sung túc. Cũng giống như người bạn hồi con gái là Varvara, Praxcovia là ái nữ của một nhà thầu cho chính phủ giầu có, và khi lấy ông chồng thứ nhất là Tusin đã được chia một món hồi môn kếch sù. Tusin là một đại úy kỵ binh hồi hưu, thông minh phú bẩm và cũng rất giầu nữa. Khi ông mất đi, có để lại một gia tài đáng kể cho con gái là Liza, lúc ấy mới lên bẩy. Bây giờ cô đã hai mươi hai tuổi rồi, và ước tính dè dặt ra cũng phải bảo vốn liếng cô ta lên đến hai trăm ngàn đồng rúp, đó là không kê phần bà mẹ để lại cho, vì khi lấy ông chồng thứ hai là Drozdov bà không có thêm được mụn con nào cả. Bà Varvara Xtavroghina có vẻ hài lòng về chuyến đi lắm. Bà cảm thấy đã đạt được một thỏa hiệp mỹ mãn với bà bạn là Praxcovia Drozdova, nên vừa về đến nhà là bà kể hết cho ông Verkhovenxki nghe. Thực ra, lâu lắm bà mới lại cởi mở với ông như thế! Ông Verkhovenxki búng ngón tay một cái tách và reo lên: “Số dách!”.
Ông rất hào hứng, đặc biệt là vì ông đã cảm thấy có phần xuống tinh thần trong thời gian bà đi vắng. Khi đi, bà cũng chưa chào từ giã ông đúng lệ, mà cũng chẳng thổ lộ một chút dự tính nào của bà cho “mụ già này”, sợ rằng ông lại ngồi lê mách đôi mách. Lúc đó bà cũng nổi giận với ông vì ông mới thú thật là đã thua một canh bạc lớn hơn thường lệ. Tuy nhiên, ngay khi còn ở Thụy Sĩ, bà đã cảm thấy mình đối xử với ông ít lâu nay có phần khắc bạc. Thực ra, chuyến ra đi bất ngờ và bí ẩn của bà xé nát trái tim dễ bị thương đau của ông Verkhovenxki, và rắc rối câu chuyện hơn nữa, là ông đột nhiên mới bị nhiều vấn đề khác áp đảo. Đầu tiên là ông bị day dứt về một khó khăn tài chính đã dây dưa lâu ngày mà không thể nào giải quyết nổi nếu không có sự can thiệp của bà Varvara. Rồi đến tháng Năm, ông tổng đốc Ivan Oxipovitr dễ thương và khiêm nhường của chúng tôi bị thay thế, hơn nữa lại bị thay thế trong những hoàn cảnh khá buồn. Và trong khi bà Varvara còn đang ở ngoại quốc, quan tổng đốc mới là Andrei Antonovitr fon Lembke đến thay thế. Lập tức có một sự thay đổi đáng kê xảy ra trong thái độ của mọi người đối với bà Varvara, và tự nhiên là đối luôn với cả ông Verkhovenxki nữa. Ít ra ông cũng nhận thấy một số dấu hiệu không vui và có ý nghĩa và cũng gần quỵ khi phải một thân một mình dương đầu với mọi chuyện. Ông ngờ rằng có người đã báo cáo với quan tổng đốc mới rằng ông là một kẻ nguy hiểm. Do những nguồn tin tuyệt đối đáng tin ông biết là một số phu nhân trong tỉnh dự định chấm dứt đi lại với bà Varvara. Người ta nói rằng bà đệ nhất phu nhân sắp tới dù nổi tiếng cao ngạo nhưng ít ra bà cũng là con nhà quí phái thực thụ, “không như mụ già Varvara Xtavroghina hèn hạ kia.” Dường như mọi người không rõ bằng cách nào đều nghe nói rằng vị tân đệ nhất phu nhân và bà Varvara đã gặp nhau trong dịp xã giao và đã chia tay một cách hoàn toàn không thân thiện và hễ chỉ nhắc đến cái tên của bà fon Lembke cũng đủ gây ra những triệu chứng đau đớn cho bà Varvara rồi. Nhưng nay vẻ đắc thắng của bà Varvara và sự dửng dưng miệt thị của bà đối với những dư luận trong giới phụ nữ về bà làm tinh thần lảo đảo của ông Verkhovenxki được hồi sinh và lập tức ông trở nên vui tươi hoạt bát trở lại. Ông bắt đầu tả lại cho bà nghe bằng một giọng tiếu lâm (trong đó bà thấy ẩn giấu phần nào nịnh bợ đối với bà) việc quan tân tổng đốc tới tỉnh nhà nhậm chức. Ông nói bằng một giọng giả tạo kéo dài các nguyên âm ra:
- Bà bạn thân mến ơi, tôi chắc chắn bà đã hoàn toàn nhận thức rõ một ông quan cai trị Nga ra làm sao nói chung, và một ông quan cai trị Nga mới được thăng chức, và chúng ta có thể nói là mới ra lò, nói riêng, nó ra làm sao... Nhưng tôi đoán rằng bà không nắm vững được ý nghĩa của cái có thể gọi là “đam mê hành chính”, hay con khỉ con tườu gì cũng thế.
- Đam mê hành chính hả? Không, tôi không rõ nó là cái gì.
- Vâng... bà biết đó, ở nước chúng ta ấy mà... Tắt một lời, nếu bà đặt một tên vô tài bất tướng không thể nói được tại bất kì chỗ nào, chẳng hạn tại một phòng bán vé hỏa xa ọp ẹp, thì tên khốn nạn đó sẽ bắt đầu lên mặt với bà như chính gã là hiện thân của thiên lôi ban phước giang họa mỗi khi bà muốn mua vé. Như thế chỉ cốt để chứng tỏ quyền uy của hắn đối với bà. Đó là một mẫu người mắc chứng đam mê hành chính... Tắt một lời, tôi đã đọc chuyện về một thủ từ trong một nhà thờ của chúng ta ở ngoại quốc - chuyện lạ lắm - bác ta đuổi cô ra khỏi nhà thờ, tôi muốn nói thực sự tống cổ, một gia đình người Anh rất lịch sự - các bà các cô kiều diễm - ngay trước khi bắt đầu lễ Tro – hẳn bà biết lại những bài thánh ca với cuốn sách Job24 đó mà bác ta viện cớ chỉ vì “người ngoại quốc không được cho đi lang thang nơi giáo đường Nga, trừ phi đúng trong giờ thăm viếng đã định”... Các bà kia suýt ngất xỉu đi... Đó, bác thủ từ đã tận tình đam mê hành chính và bác ta đã chứng tỏ quyền uy của mình...
- Ông bạn ơi, xin hãy hết sức vắn tắt câu chuyện giùm.
- Ông fon Lembke hiện đi kinh lí quanh tỉnh, Tắt một lời, mặc dầu ông ta là một người Nga gốc Đức, đã theo chính thông giáo của Nga, và nói cho ngay, cũng bảnh bao, mới trạc độ tứ tuần...
- Làm sao ông có thể nghĩ là hắn ta bảnh bao? Mắt hắn như mắt trâu ấy.
- Phải, đúng như thế, nhưng tôi phải nhượng bộ dư luận các bà ở đây.
- Xin ông làm ơn nói ngay vào đề cho. Nhưng này, ông thắt cà vạt đỏ từ bao giờ đấy?
- Cái đó hả?... Mới bữa nay đây.
- Thế ông có tập thể dục đều hay không? Mỗi ngày ông có đi bộ tám cây số như bác sĩ dặn hay không?
- Không... không được đều đặn cho lắm.
- Biết ngay mà! Ngay khi còn ở Thụy Sĩ, tôi đã biết thừa rằng ông thế nào cũng bỏ bê, - bà nói một cách giận dữ. - Từ nay trở đi mỗi ngày ông sẽ đi không phải tám cây số mà là mười hai cây số. Ông buông lung không thể tưởng - thực là không thể ngờ nổi! Không những ông chỉ già đi, mà ông còn trở nên hoàn toàn lão nhược trong mấy tháng vừa qua. Tôi thực sự giật mình khi nhìn thấy ông lúc mới về; mặc dù ông thắt cái cà vạt đỏ kia. Ôi dào, cà vạt với chẳng cà vạt, ý tưởng đỏ lòm! Thôi bây giờ ông kể cho tôi nghe về fon Lembke đi, nếu thực sự ông có điều gì đáng nói, và xin ông làm ơn nói chóng vánh, vì tôi rất mệt.
- Tắt một lời, tôi đang định bảo với bà là hắn thuộc loại những kẻ thình lình được giao phó cho quyền cai trị khi đã vào lứa tuổi tứ tuần, còn từ trước cho đến lúc đó là vô danh tiểu tốt chỉ có vất vưởng mà thôi. Thế rồi, tìm cho được một cô vợ mới tinh hay bằng một biện pháp trời ơi nào khác đó... Nghĩa là... hắn ta bây giờ không có ở tỉnh... Nghĩa là, tối muốn kể cho bà nghe rằng thiên hạ ở đây đã rỉ thầm vào tai hắn về chuyện tôi, bảo tôi là một thứ người làm trụy lạc thanh niên, là một kẻ gieo rắc hạt giống vô thần trong tỉnh... Thế cho nên hắn ta tức tốc cho điều tra về tôi liền.
- Ông có chắc những điều mình nói không?
- Chắc chứ. Không những thế tôi còn đã áp dụng một số biện pháp đối phó. Thêm nữa, khi người ta đến hớt lẻo với hắn là bà trước đây thường điều hành công việc trong tỉnh, hắn dám đáp lại rằng: chuyện như thế sẽ không còn xảy ra ngày nào tôi còn ở đây.
- Hắn nói như thế thực sao?
- Vâng - “Chuyện như thế sẽ không còn xảy ra ngày nào tôi còn ở đây”, hắn nói với cái vẻ phách lối riêng của hắn... Và đến cuối tháng Tám chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng dung nhan bà vợ của hắn. Mụ từ Petersburg đến thẳng đây.
- Không, ở ngoại quốc về. Chúng tôi đã gặp nhau ở bên đó.
- Thực vậy sao?
- Ở Paris và luôn cả ở Thụy Sĩ. Mụ ta có họ với gia đình Drozdov.
- Mụ ta, có họ với gia đình Drozdov? Thật là một ngẫu nhiên kì thú! Tôi nghe nói mụ ta tham vọng khủng khiếp và quen biết nhiều nơi rất có thế lực.
- Tào lao! Giao du rất ư là bình thường. Mụ ta là gái già không một đồng trinh dính túi mải đến năm bốn mươi lăm tuổi mới câu được anh chàng fon Lembke. Bây giờ dĩ nhiên là mụ phải ráng sức đẩy cho ông chồng tiến lên. cả vợ lẫn chồng bọn họ đều là những tay mưu mô cả.
- Nghe nói mụ ta lớn hơn chồng đến hai tuổi.
- Năm tuổi. Mẹ mụ ta ngồi mòn đũng quần ở phòng khách chờ được tôi tiếp khi tôi còn ở Moskva, hồi ông tướng nhà còn sinh tiền. Khi bà lão tới, là cô con gái ngồi cả đêm với chiếc bím xanh to tướng trên trán mà chẳng có ai thèm tới mời khiêu vũ. Tôi cũng ái ngại cho cô ta, nên hễ thấy quá hai giờ mà chưa có ai thì tôi lại gửi một người tới mời cô ta nhảy. Lúc ấy cô ta đã hai mươi lăm tuổi đầu, nhưng họ còn để ăn mặc áo cộc như thể con gái nhỏ. Mời họ đến nhà thực là không ổn.
- Bây giờ tôi còn thấy cái bím đó.
- Tôi nói cho ông nghe. Vừa tới nơi là tôi đụng ngay phải một vụ âm mưu. Ông cũng biết đó - như trong lá thư của bà Praxcovia Drozdova mà ông mới đọc đây - còn gì rõ rệt hơn nữa? Và trong đó tôi đã tìm ra điều gì? Bà Praxcovia ngốc nghếch - bà ta lúc nào cũng ngốc nghếch - nhìn tôi dò hỏi như thể muốn nói: “Trời đất, chị sang bên này làm gì?” Ông có thể tưởng ra nỗi ngạc nhiên của tôi không? Tôi ngó chừng xung quanh kĩ lưỡng và thấy ngay mụ Lembke đó đang mưu din cùng với tên cháu gọi ông lão Drozdov bằng cậu. Thế là mọi chuyện đều sáng tỏ! Chỉ cần trong nháy mắt là tôi làm chúng liểng xiểng và kéo bà Praxcovia về phe tôi trở lại. Đó đã mưu din thì đây cũng mưu din cho mà biết tay. Nhưng ông nghĩ thế nào về âm mưu kia?
- Dù sao bà cũng thành công trong việc dẹp tan kế sách của họ. Thật là Bismarck25 tái sinh!
- Tôi không cần phải là Bismarck cũng khám phá được những sự gian dối và ngu ngốc khi tôi gặp phải. Mụ Lembke đó là sự gian dối và mụ Drozdova là sự ngu ngốc. Tôi chưa bao giờ gặp người đàn bà nào nhu nhược đến như thế. Chân bà ta thì sưng, lại đèo thêm một trái tim tử tế. Trên đời còn gì ngu ngốc hơn một kẻ đã khờ lại tốt bụng?
Ông Verkhovenxki bất đồng ý kiến một cách can trường:
- Bà bạn thân mến ơi, có chứ, đó là một kẻ khờ mà xấu bụng. Khờ mà xấu bụng thì còn ngu ngốc hơn.
- Phải, có thể về điểm đó ông có lí không chừng. À này, chắc ông còn nhớ Liza chứ?
- Một con bé kháu khỉnh? Thôi, cô ta không còn là con bé nữa đâu; cô ta bây giờ đã là thiếu nữ, rắn rỏi lắm. Cô rất vững tinh thần và mau mắn. Tôi ưa cái lối cô ta dám cự lại bà mẹ vừa ngốc nghếch vừa cả tin kia. Gần đến thành chuyện gây gổ về tên cháu gọi ông Drozdov kia bằng cậu.
- Vâng, nhưng... anh ta thực ra đâu có dính dáng gì đến Liza... Trừ khi anh ta muốn gấm ghé.
- Ông biết không, gã ta là một sĩ quan trẻ tuổi ít nói, thực ra là một thanh niên khá khiêm tốn. Nói cho ngay, tôi phải nhận rằng tôi không nghĩ bao giờ gã ta lại chấp thuận toàn thể vụ âm mưu kia. Tất cả là ý của mụ Lembke. Người cháu đó phục cháu Nicolai lắm. Dĩ nhiên là như thế mọi chuyện sẽ tùy thuộc ở Liza. Khi tôi về, cô ta thân với Nicolai lắm, và cháu nó hẹn tháng Mười Một này sẽ trở về nhà đây. Vậy là chính âm mưu là ở mụ Lembke, còn chị Praxcovia thì chỉ có mắt như mù thôi. Ông có thể tưởng tượng được không - chị ta bất chợt tuyên bố với tôi rằng mọi sự hồ nghi của tôi chỉ là ảo giác thuần túy! Thế nên tôi nói thẳng ngay vào mặt rằng chị ta là một người ngốc. Và cho đến ngày Tận thế phán xét tôi cũng sẵn lòng nhắc lại câu đó. Nếu không có cháu Nicolai năn nỉ tôi tạm thời để nguyên mọi chuyện đâu ở đó, thì tôi đã không về trước khi lột mặt mụ đàn bà điêu trá kia ra! Mụ ta cố dùng Nicolai để chiếm cảm tình của bá tước K. Mụ còn thực sự gắng đưa con chống lại mẹ nữa! Nhưng cô Liza về phe với chúng tôi, và tôi đã đạt được một thỏa thuận với chị Praxcovia. À này, ông có biết mụ Lembke đó có họ với Karmazinov không?
- Sao? Karmazinov là bà con với bà fơn Lembke ư?
- Phải, họ hàng xa.
- Bà muốn nói nhà tiểu thuyết đó hả?
- Đúng rồi, ông nhà văn đó. Có gì đáng cho ông ngạc nhiên? Hắn ta tự coi mình là vĩ nhân. Thứ đồ kiêu ngạo rởm. Cả hai sẽ cùng đi về đây; còn hiện nay mụ đang dẫn hắn di làm rùm beng ở bên đó. Theo tôi biết mụ ta định tổ chức một thứ những buổi họp mặt văn nghệ ở đây hay đại loại như thế. Hắn ta về đây chừng một tháng để thanh toán miếng sản nghiệp cuối cùng mà hắn sở hữu cũng ở gần đâu đây. Tôi suýt gặp hắn ta ở Thụy Sĩ dù không định tâm, xin ông tin hộ cho. Tuy nhiên, tôi hi vọng rằng hắn sẽ có lòng tốt mà nhận ra tôi khi gặp lại. Ngày xưa hắn thường đến nhà và viết thư cho tôi... Ôi chao, tôi mong ông ăn bận đàng hoàng hơn một chút, ông Xtepan, càng ngày ông càng xập xệ hơn... Ôi, ông làm tôi bận tâm khổ trí biết bao nhiêu! Hiện nay ông đang đọc sách gì?
- Tôi... tôi...
- Tôi hiểu rồi. Ông bao giờ cũng thế: bè bạn, nhậu nhẹt, hội quán, bài bạc, và mang tiếng là vô thần nữa. Ông Xtepan, tôi không ưa cái tai tiếng ấy đâu. Tôi không thích thiên hạ gọi ông là vô thần, nhất là trong lúc này. Trước kia tôi cũng đã không thích chuyện đó rồi, vì đó dù sao cũng chỉ là chuyện nói tào lao rỗng tuếch. Thôi thì trước sau gì tôi cũng phải nói ra.
- Nhưng bà bạn thân mến của tôi ơi...
- Ông hãy nghe tôi nói đây: nói về kiến thức thì dĩ nhiên là so với ông tôi chỉ là một kẻ ngu si. Nhưng khi trên đường từ nước ngoài về, tôi vẫn hằng nghĩ tới ông, và tôi đã đi đến một kết luận.
- Kết luận ra sao?
- Rằng chúng ta - ông và tôi - không phải thực sự là những kẻ khôn khéo nhất trần đời đâu; còn có khối người khôn khéo hơn chúng ta.
- Điều đó vừa mẫn tuệ vừa chính xác. Có nhiều người tinh nhanh hơn chúng ta, và vì thế họ có thể đúng nhiều hơn chúng ta. Cho nên chúng ta có thể sai lầm, đúng không? Nhưng bà bạn thân mến của tôi ơi, cứ giả thử là tôi sai lầm đi, tôi vẫn có quyền bất diệt, tối thượng của con người là quyền tự do tư tưởng chứ? Vậy, tôi vẫn có quyền không làm một kẻ cuồng tín hay đạo đức giả chứ, dù cho điều đó có khiến một số người thù ghét tôi cho đến xanh tím cả mày mặt. Thêm nữa, bao giờ người ta cũng thấy nhiều thầy tu hơn là lí trí, và vì tôi hoàn toàn đồng ý về điểm đó...
- Cái gì vậy? Ông nói cái gì?
- Tôi nói bao giờ người ta cũng thấy nhiều thầy tu hơn là lí trí và vì tôi tán thành...
- Tôi chắc chắn câu đó không phải của ông. Ông phải mượn nó ở đâu đó.
- Pascal26 nói đấy.
- Tôi biết chắc nó không phải của ông mà. Tại sao không bao giờ ông chịu nói vắn tắt và đi vào đề ngay? Ông luôn luôn kéo dài lê thê mọi chuyện. Tôi ưa lối đặt định của ông ta như ông vừa mượn hơn là lối lòng thòng của ông khi ông thao thao bất tuyệt về cái đam mê hành chính...
- Vâng, bà ơi, tôi phải nói là tôi đồng ý với bà. Nhưng, điểm thứ nhất, tôi không phải là Pascal, và thêm nữa người Nga chúng ta không thể nói điều gì bằng tiếng mẹ đẻ được. Ít ra, cho đến nay chúng ta cũng chưa nói lên được gì cả.
- Hừm... điều đó có thể không đúng. Nhưng ông phải nên ghi lại và nhớ nằm lòng những câu như thế để dùng trong lúc đàm thoại... À, ông Xtepan, ông thử nghĩ xem trên đường về đây tôi đã mong mỏi có một lần nói chuyện đàng hoàng với ông.
- Ôi người bạn hiền thân mến của tôi!
- Thôi tất cả bọn người như Lembke và Karmazinov. Trời đất ơi, ông đã quá suy sụp! Ôi, ông làm tôi khổ sở quá chừng! Tôi muốn những người kia kính nể ông, bởi vì họ không xứng đáng bằng ngón tay út của ông. Nhưng xem kìa phong độ của ông! Tôi sẽ lấy cái gì mà phô bầy cho họ ngắm? Họ sẽ thấy những gì? Thay vì đứng vững như một tấm bia sống phó chúc các lý tưởng của chúng ta và nêu cho họ một tấm gương, ông chỉ tụ tập quanh mình toàn đồ vô lại, học lấy những thói xấu và trở thành lão nhược. Ông không thể sống nổi nếu thiếu rượu và bài bạc; sách thì ông chỉ đọc có thứ tiểu thuyết Tây rẻ tiền của Pol de Coc; ông không bao giờ cầm bút viết một chữ; và suốt ngày suốt buổi ông chỉ nói tào lao vô bổ. Chẳng hạn, ông nói cho tôi biết ông có cho rằng làm bạn tâm tình với một kẻ khả ố như tên Liputin của ông là phải hay không?
- Tại sao bà lại bảo hắn là của tôi? Và cớ gì hắn là bạn tâm tình của tôi? - Ông Verkhovenxki phản đối một cách ỉu sìu.
Bà Varvara hỏi gắt và nghiêm:
- Thế bây giờ hắn ở đâu?
- Hắn - hắn kính trọng bà vô cùng. Hắn mới đi Xmolenxk để nhận gia tài do mẹ hắn để lại.
- Tôi xem chừng như hắn chỉ biết làm có mỗi một việc là nhận tiền mà thôi. Còn Satov thì ra sao? Vẫn như cũ chứ gì?
- Vẫn khó tính và vẫn là một người tốt bụng.
- Tôi không chịu nổi hắn. Hắn ta khinh đời và tự mãn quá.
- Thế còn Daria Pavlovna vẫn mạnh giỏi chứ bà?
- Ông muốn nói con Dasa hả? Ông hỏi làm gì? - Bà tò mò ngó ông. - Phải, nó vẫn khỏe. Tôi để nó lại với gia đình nhà Drozdov... Ông có biết không, khi còn ở Thụy Sĩ tôi có nghe nói về cậu con trai của ông - toàn chuyện xấu.
- À, đó là một câu chuyện tồi tệ. Tôi cũng định sẽ kể cho bà nghe, bà ạ.
Thôi thôi, thế đủ rồi, ông Xtepan; hãy để cho tôi được yên hồn yên cốt. Tôi đang mệt nhoài ra đây. Chúng ta còn chán vạn thì giờ để nói cho cạn chuyện, nhất là những chuyện xấu. Khi cười ông bắn văng cả nước miếng, đó đúng là dấu hiệu lão nhược rồi, ông biết không! Hồi này tiếng cười của ông sao mà lạ quá chừng... Trời đất, ông tập nhiễm bao nhiêu là thói xấu! Cứ như tình trạng hiện nay của ông, Karmazinov sẽ chẳng bao giờ thèm đến thăm ông đâu, và thế là họ càng sướng. Cuối cùng ông đã để lộ chân tướng cho mọi người cùng thấy. Nhưng thôi, thế đủ rồi, đủ quá rồi. Thỉnh thoảng ít ra ông cũng phải biết tỏ ra thương nể tôi đôi chút và để tôi nghỉ ngơi với chứ! Ông Verkhovenxki tỏ ra thương nể bà và rút lui. Nhưng ông rút lui mà trong lòng rối rắm bời bời.
5
Ông Verkhovenxki thực sự đã học được một số thói xấu, nhất là mới đây. Ông ăn mặc xập xệ hẳn đi. Ông uống rượu nhiều hơn và trở thành mau nước mắt, dễ hoảng hốt và quá xúc cảm trước các giá trị thẩm mĩ hơn. Gương mặt ông nhiễm cái thói đổi thay liền liền, như từ một trạng thái nghiêm trang, hứng khởi sang một trạng thái khôi hài, có khi ngu xuẩn nữa. Ông không thể chịu được người ta bỏ mặc ông trong một lúc và luôn luôn khao khát giải trí. Ông bao giờ cũng hăm hở nghe chuyện ngồi lê đôi mách và các mẩu tiếu lâm địa phương mới nhất. Khi nào không có ai đến thăm là ông rầu rĩ bước hết phòng này sang phòng khác, dừng lại bên cửa sổ, cắn môi, rồi cuối cùng thế nào cũng vật vã khóc than. Ông có những dự cảm, sợ rằng một điều gì không thể tránh khỏi bất ngờ sẽ giáng xuống ông. Ông trở thành sợ sệt và bắt đầu coi trọng những giấc mơ.
Cả ngày hôm đó và buổi tối, ông ủ ê và xao động; ông cho gọi tôi đến và nói chuyện với tôi thật lâu, nhưng chuyện chẳng ra đâu vào đâu. (Bà Varvara từ lâu đã biết rằng ông không giấu tôi điều gì hết). Tôi có cảm tưởng là một cái gì đặc biệt đang làm ông lo lắng hiện nay - một cái gì mà chính ông cũng không thể hình dung ra trọn vẹn được. Trước đây, mỗi khi có riêng hai chúng tôi với nhau, và hễ ông bắt dầu tả cho tôi nghe những mối tơ lòng của ông là lại có sẵn một chai rượu gọi vào và câu chuyện trở nên dễ chịu hơn. Nhưng lần này không có rượu, và ông tỏ ra phải dằn lòng nhiều bận mới không cho gọi mang rượu vào. Ông cứ than vãn mãi như một đứa con nít:
- Làm sao mà bà ấy lúc nào cũng giận dữ với tôi như thế? Tất cả các thiên tài, các người nỗ lực cho sự tiến bộ ở nước Nga trước kia và cho đến về sau bao giờ cũng là dân cờ bạc và dân nhậu đốt cháy tài năng của mình trong men rượu... Nhưng thực ra tôi đâu phải là một kẻ nghiện ngập và cờ bạc bất trị như thế. Rồi bà ấy trách tôi là không viết lách gì. Ý tưởng thật là kỳ quặc! Rồi trách tôi sao suốt ngày nằm dài làm gì? Bà ấy bảo tôi: “Ông phải đứng như một tấm gương, một sự khiển trách!” Nhưng, giữa chúng ta tôi mới nói, một người đàn ông mà số phận là “đứng như một tấm gương, một sự khiển trách” thì còn biết làm gì hơn là nằm xuống? Bà ấy không nhìn thấy điều đó hay sao?”
Cuối cùng tôi mới hiểu ra cái đã làm ông xuống tinh thần như thế. Tối hôm đó, ông cứ đứng mãi ngắm nghía mình trong gương. Một lần, ông quay mặt lại bảo tôi: “Anh bạn của tôi ơi, tôi là một người đã để mình xuống dốc”. Sự thực, cho đến ngày hôm đó, nếu có một điều ông vững tin, giữa tất cả những tư tưởng và lập trường mới cũng như những sự thay đổi quan điểm của bà Varvara, thì đó là niềm tin rằng ông vẫn còn giữ được cái duyên dáng vô song đối với bà như một người phụ nữ, không phải chỉ vì ông là một người lưu vong kiêm học giả sáng chói mà còn bởi vì ông điển trai. Trong hai mươi năm trường ông đã ấp ủ niềm tin vuốt ve và trấn an đó, và trong tất cả các niềm tin của ông, mất nó chắc là ông phải đau đớn nhất. Tối hôm đó không biết ông có dự cảm gì về cuộc thử thách lớn lao mà ông sắp phải trải qua hay chăng?
6
Bây giờ tôi xin kể đến một điều cổ khá vui đánh dấu sự mở đầu đích thực cuốn truyện của tôi.
Mãi tận cuối tháng Tám, gia đình nhà Drozdov mới trở về. Việc họ đến, xảy ra một thời gian ngắn trước khi một người bà con của họ là vị tân đệ nhất phu nhân của tỉnh tôi tới, đã gây xôn xao lớn. Nhưng thôi, chuyện đó hãy để về sau. Bây giờ tôi chỉ xin nói rằng bà Drozdova, mà bà Varvara nóng nảy đợi chờ, đã mang theo rắc rối bất ngờ khi tới nơi. Nicolai Xtavroghin đã rời nhà Drozdov ngay từ trong tháng Bảy. Anh đã gặp bá tước K. cùng với gia đình (kể luôn cả ba cô gái của bá tước) trên sông Rhein ở nước Đức và cùng theo họ trở về Petersburg.
Bà Drozdova nói: “Tôi không thể hỏi con Liza cho ra chuyện gì được cả. Chị cũng biết đấy, tính khí nó rất khinh khỉnh và cứng đầu. Tuy vậy, tôi cũng nhìn ra là phải có chuyện gì giữa nó và cậu Nicolai. Tôi không rõ điều gì đã sai khiến nên chuyện ấy, nhưng có lẽ chị hỏi Dasa lại ra manh mối chăng. Tôi cho rằng con Liza bị đụng chạm chuyện gì đó. Và này chị Varvara, tôi phải thú thật là tôi rất mừng được trả lại cô cháu nuôi của chị. Thế là thoát nạn, nhẹ cả người”.
Nhận xét chua cay này được bà ta thốt ra với vẻ mặt hầm hầm, rõ ra là người đàn bà “nhu nhược” kia đã sửa soạn từ trước câu đó và bây giờ đang khoan khoái thưởng thức hậu quả của nó. Nhưng bà Varvara đâu phải là người chịu để cho những lời châm chích hay bí ẩn đó ảnh hưởng. Bà lạnh lùng hỏi thêm chi tiết. Thế là bà Drozdova đổi ngay giọng và sau một hồi, òa lên khóc; sau cùng bà ta thổ lộ nỗi niềm tâm sự thầm kín nhất ra. Người đàn bà dễ nổi nóng nhưng đầy tình cảm này cũng khao khát tình bạn chẳng khác gì ông Verkhovenxki, và sự phiền trách chính của bà đối với Liza là cô con gái này không chịu làm “người bạn chân thực” với bà.
Tuy nhiên, tất cả những gì chắc chắn bà Varvara có thể thu thập được trong mớ tâm sự lòng thòng kia là Liza và Nicolai đã cãi nhau. Còn cãi nhau về chuyện gì thì bà Droxdova rõ ràng không thể soi sáng cho bà được. Còn về lời nhận xét không được đẹp về Dasa, thì bà kia xin rút câu nói đó lại, với lời biện bạch rằng lúc đó chỉ là do cơn bực bội mà ra. Nhưng tình trạng chung vẫn còn mơ hồ và khả nghi. Theo bà Drozdova, tất cả nguyên do là bởi “cái thái độ cứng đầu, và ưa nhạo báng của Liza”, mà “Nicolai, vốn kiêu ngạo - nên dù rất yêu nàng - cũng không thể nào chịu đựng nổi, hay trả miếng đáp lại”.
Bà Praxcovia nói thêm:
- Ngay sau đó, chúng tôi gặp một thanh niên - nghe đâu như là người cháu của ông “giáo sư” của bà thì phải. Cậu ta cùng một họ...”
Bà Praxcovia không bao giờ nhớ nổi cái họ Verkhovenxki, nên bao giờ cũng gọi ông Xtepan là “giáo sư”.
Bà Varvara chỉnh liền:
- Không phải cháu đâu, con trai ông ấy đấy.
Vâng, thì con trai, như thế càng hay - có khác gì đâu? Cậu ta cũng là một thanh niên như mọi kẻ khác. Cậu ta rất tự do khoáng đạt, nhưng ngoài ra không có gì đặc biệt. Dù sao, đến điểm này, con Liza cũng làm một điều đáng ra không nên làm: nó bắt đầu giao du với nhiều cậu thanh niên đó mục đích để làm cho Nicolai ghen. Tôi thực sự cũng không thể trách nó quá được: đó là một mánh khóe thông dụng của đàn bà, và theo tôi cũng khá đáng yêu. Nhưng bà có biết chuyện gì xẩy ra chăng? Thay vì ghen, cậu Nicolai lại trở nên thân thiết ngay với thanh niên kia, như thể rằng cậu không nhìn ra hay cóc cần. Điều đó làm cho Liza nổi sùng. Thế rồi, thanh niên kia bỏ đi một nơi nào đó (cậu ta dường như hấp tấp nữa), và Liza bắt đầu châm chọc Nicolai trong mọi cơ hội. Nó nhận thấy đôi lúc Nicolai chuyện trò với Dasa; nó nổi cơn giận dữ làm tôi hết sống nổi. Chị cũng biết, bác sĩ đã cảnh cáo tôi không được phép xúc động quá. Rồi tôi cũng quá chán ngấy cái hồ tuyệt diệu của họ - hơn nữa răng tôi lại nhức vì bệnh thấp... Thực ra, tôi đã đọc trong báo, là hồ Genève làm cho người ta nhức răng; nó có tiếng về chuyện đó. Thế rồi, trên hết mọi sự, là Nicolai nhận được một lá thư của bà bá tước; cậu ta gói ghém hành lí và lên đường ngay ngày hôm đó. Tôi phải nói rằng hai đứa nó chia tay nhau như là đôi bạn thân. Liza đưa tiễn cậu ta rất vui và cười luôn miệng. Nhưng nó chỉ giả đò, tôi chắc chắn như thế. Ngay khi cậu ta mới đi, là nó trở thành câm như hến; nó không bao giờ nhắc đến tên cậu ta, và cũng không cho tôi nhắc nữa. Tôi cũng khuyên chị, chị Varvara ạ, là trước mặt nó chị đừng đề cập đến chuyện ấy làm gì - kẻo mọi việc chỉ thêm khó khăn thêm ra. Nếu chị đừng nói gì, có thể nó lại muốn thổ lộ và chị sẽ biết được nhiều việc. Dù sao tôi tin tưởng rằng mọi chuyện sẽ êm xuôi nếu Nicolai về đây như cậu ta đã hứa.
- Tôi sẽ viết thư cho nó ngay. Nếu chỉ có thế thì chuyện đâu có gì. Còn về con Dasa thì tôi biết nó quá mà - chỉ là tào lao thôi.
- Đối với Dasa, tôi có điều không nên không phải, như đã xin thưa với chị. Chúng nó chỉ chuyện trò với nhau, mà cũng đâu phải thầm lén gì cho nó cam. Lúc đó chỉ tại tôi bị mọi chuyện làm đảo lộn hết đầu óc. Dù sao thì con Liza với cô ấy vẫn thân thiết với nhau như trước.
Ngay bữa hôm ấy bà Varvara viết thư cho cậu con trai là Nicolai, năn nỉ cậu trở về ít nhất là một tháng sớm hơn trước kia cậu dự liệu. Nhưng tất cả nội vụ vẫn còn nhiều điểm bà chưa thấu triệt. Bà suy đi nghĩ lại trong đầu suốt buổi tối và đêm hôm đó. Các lời kết luận của bà Praxcovia Drozdov theo bà là quá ngây thơ và tình cảm. Bà hồi tưởng: “Chị Praxcovia bao giờ cũng tình cảm, ngay cả khi còn là nữ sinh lưu trú, nhưng thằng Nicolai đâu có lẽ lại là người chỉ vì mũi kim châm chọc của một đứa con gái mà chuồn mất. Chuyện này phải có cái gì khác nữa đây - nếu chúng có một vụ cãi nhau thực sự. Còn tên sĩ quan kia nữa... Họ mang hắn theo, và hắn sống tại nhà họ như một người trong gia đình. Rồi còn chị ấy làm sao phải vội vã rút lại lời nhận xét về Dasa như thế? Chắc chắn phải có điều gì chị ta không muốn cho mình hay...”
Đến sáng, bà Varvara đã có một chương trình hành động. Ít ra nó cũng giải quyết được một trong các vấn đề làm bà bận tâm và kế hoạch có tính cách bất ngờ một cách đáng kể. Tôi sẽ không cố công giải thích chính xác những gì bà có trong đầu khi bà thai nghén kế hoạch đó, tôi cũng không thể ghi nhận tất cả những thành phần mâu thuẫn của nó. Tôi chỉ tự hạn trong việc mô tả các sự việc như chúng xảy ra và tôi không chịu trách nhiệm nếu chúng có vẻ quá khó tin. Tuy vậy, tôi cũng phải nhắc lại rằng, cho đến buổi sáng bà cũng vẫn chưa hề nghi ngờ Dasa chuyện gì - nếu có bao giờ bà nghi ngờ cô ta. Bà tin chắc về cô gái ấy quá. Vào buổi sáng, khi Dasa đang rót trà, và Varvara để ý quan sát cô và khẽ lẩm bẩm: “chỉ toàn là chuyện tào lao!”.
Bà nhận thấy Dasa có vẻ mệt mỏi và cô ta còn có phần im lặng hơn thường lệ, và thực ra khá lãnh đạm. Sau bữa ăn sáng, theo một thói quen đã lâu ngày, họ cùng ngồi đan. Bà Varvara bảo Dasa kể lại đầy đủ chuyến du lịch ở nước ngoài của cô, nhất là những ấn tượng của cô về đồng quê, dân gian, thành thị, tập quán, những nghề và kỹ nghệ địa phương - nói tóm lại, tất cả những gì cô đã có thì giờ ghi nhận. Bà không hỏi về gia đình Drozdov và việc cô ăn ở với họ ra sao. Dasa ngồi gần bà Varvara, giúp bà trong việc đan lát thêu thùa, và trả lời mọi điều bà hỏi bằng giọng hơi trầm và độc điệu của cô.
Bất chợt bà Varvara lên tiếng:
- Dasa! Cháu có điều gì đặc biệt muốn kể cho dì nghe hay không?
Dasa ngừng lại, đưa cặp mắt nhợt nhạt liếc bà Varvara rồi đáp:
- Thưa dì không, đâu có gì.
- Cháu có chắc không? Cháu không có gì bận lòng hay bận lương tâm cả sao?
- Không có gì cả.
Dasa nói nhỏ nhẹ, nhưng có một sự quyết tâm ngấm ngầm trong giọng nói của cô.
- Dì cũng chắc thế. Dasa này, dì muốn cháu hiểu rằng không bao giờ dì nghi ngại gì cháu cả. Bây giờ hãy ngồi ngay ngắn mà nghe dì nói đây. Cháu ngồi xuống trên ghế kia. Dì muốn cháu ngồi đối diện để dì có thể nhìn cho rõ. Được rồi. Nghe đây: cháu đã muốn lập gia đình chưa?
Dasa nhìn bà đăm đăm dò hỏi, nhưng cô không ngạc nhiên cho lắm về câu nói kia.
- Hãy gượm. Đừng trả lời vội. Trước tiên, có sự cách biệt lớn về tuổi tác, nhưng dì tin chắc rằng cháu hiểu vấn đề đó không quan hệ mấy. Cháu là một cô gái biết điều, và cháu có thể tránh được những lỗi lầm quá hiển hiện. Và dù sao ông ta cũng là người bảnh bao... Thôi, để dì nói thẳng với cháu - dì nghĩ đến ông Xtepan Verkhovenxki, mà cháu lúc nào cũng tỏ ra rất quí mến đó. Cháu nghĩ sao?
Cái nhìn của Dasa càng soi mới hơn, và lần này có đượm phần ngạc nhiên: cô đỏ bừng mặt.
Hãy gượm - đừng nói gì hết; đừng vội vã trả lời! Dì để lại trong chúc thư cho cháu một ít tiền, nhưng tuy thế cháu vẫn thử nghĩ coi, nếu dì mất đi thì chuyện gì sẽ xẩy đến cho cháu, dù là có tiền hay không. Chắc chắn thiên hạ sẽ đánh lừa và lấy mất tiền của cháu, lúc ấy thì cháu hẳn phải giã từ mọi sự. Nhưng nếu cháu lấy ông đó, cháu sẽ thành vợ của một người có danh tiếng. Bây giờ dì lại xét vấn đề dưới một góc cạnh khác: nếu ngày mai dì chết - dĩ nhiên là dì cũng đã để lại một món cho ông ta nữa - biết ông ta sẽ ra sao? Cháu thấy đó, dì biết dì có thể hoàn toàn trông cậy nơi cháu được. Hãy gượm, để dì nói nốt đã. Dì hiểu rất rõ rằng ông ta là một người không thể nương tựa được, vô tích sự, thiếu cảm tình, ích kỉ, và nhiễm nhiều thói xấu. Nhưng dù thể cháu cũng phải nên coi ông làm trọng bởi vì còn nhiều người tồi tệ hơn. Cháu không nghĩ rằng dì đưa ra một kẻ thô lỗ xấu xa chỉ cốt để tống cháu đi cho khuất mắt, phải không cháu? Thêm nữa, lí do chính cháu phải nên nể trọng ông ta là vì chính dì xin cháu làm điều đó. Sao, cháu nghĩ thế nào mà ngồi thừ ra nín thinh như vậy?
Dasa vẫn lặng im.
- Thôi được - hãy nghe dì nói đây. Dì cũng biết rằng ông ta chẳng khác nào một bà lão già, nhưng điều đó càng lợi cho cháu, cháu thấy không? Ông ta là một bà lão đa cảm, và chắc chắn trong con người ông ta không có gì làm hứng khởi tình yêu nơi một người đàn bà, ngoại trừ sự yếu đuối cần giúp đỡ của ông ta. Thôi cháu hãy ráng yêu ông ta vì sự yếu đuối đó. Dì chắc cháu đã hiểu điều dì nói. Cháu hiểu rồi, phải không cháu?
Dasa gật đầu.
Dì biết cháu không bao giờ phụ lòng trông đợi của dì cả. Ông ta sẽ thương yêu cháu vì bắt buộc, nhất định ông ta phải như thế. Ông ta chỉ còn có nước là phải thờ phụng cháu thôi, Dasa ạ! - Bà Varvara nói bằng một giọng lạ lùng, the thé. - Dù sao, đã hiểu ông ta, dì không còn hồ nghi gì là ông ta sẽ thương yêu cháu - mà không phải chỉ vì ông ta cảm thấy có bổn phận làm thế đâu. Hơn nữa, cháu nên nhớ là còn có dì ở gần. Cháu đừng lo. Lúc nào dì cũng ởgần bên. Ông ta sẽ than vãn về cháu, loan đủ mọi tin đồn, nhỏ to những chuyện xấu xa về cháu với bất kì người nào ông ta gặp mặt; ông ta sẽ khóc mếu và ăn vạ liên miên; ông ta sẽ viết thư cho cháu ở ngay phòng bên cạnh - mấy lá thư một ngày... nhưng ông ta sẽ không thể sống nổi nếu thiếu vắng cháu, và đó mới là điều đáng kể. Cháu phải làm cho ông ta vâng lời cháu; nếu không cháu chỉ là một đứa ngốc. Nếu ông ta bảo cháu là ông ta muốn treo cổ tự tử, cháu chớ có tin - nhưng phải dè chừng: chuyện gì cũng có thể xảy ra, và có ngày, ông ta dám treo cổ thực sự. Loại người như ông ta tự treo cổ không phải vì tính cách mạng, mà là vì yếu đuối. Nên chớ đẩy ông ta tới bước đường cùng. Đó là nguyên tắc đầu tiên trong cuộc sống vợ chồng. Cháu cũng nên nhớ rằng ông ta là một thi sĩ. Bây giờ cháu nghe dì nói đây, không có hạnh phúc nào lớn hơn là sự hi sinh. Hơn nữa, trong việc này cháu lại giúp đỡ cho dì rất to tát, và đó là điều hệ trọng. Vậy cháu đừng nghĩ rằng những gì dì vừa nói chỉ là một mớ chuyện tầm phào. Dì biết mình đang nói gì. Dì nghĩ đến quyền lợi của dì; cháu cũng phải nghĩ đến quyền lợi của cháu nữa chứ. Nhưng dì không hề ép buộc cháu điều gì - cháu muốn định liệu ra sao thì là như thế. Sao, sao cháu ngồi thừ ra như thế? Cháu nói đi chứ!
Dasa nói một cách vững vàng:
- Thực sự, cháu cũng chẳng thiết, dì ạ. Nếu chẳng còn cách nào khác, thì cháu sẽ theo.
- Sao cháu lại nói: “Nếu chẳng còn cách nào khác?” Cháu định nói gì?
Bà Varvara nhìn chòng chọc vào cô. Dasa lặng lẽ lấy kim móc trong khung thêu.
- Cháu là người thông minh, Dasa ạ, nhưng điều cháu nói mới rồi không được tinh mấy. Dĩ nhiên là dì định gả chồng cho cháu, nhưng đó không phải là chuyện “chẳng còn cách nào khác”. Dì chỉ nghĩ một cách giản dị là cháu lấy chồng là điều tốt và người kia là ông Verkhovenxki chứ không phải ai khác. Nếu không có ông ấy ở đây, thì dì chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện gả cháu đi, mặc dù cháu năm nay đã hai mươi tuổi đầu rồi... Cháu nghĩ sao?
- Thưa dì, cháu sẽ làm như dì muốn.
- Vậy thế là bằng lòng, phải không? Hãy gượm, cháu đừng nói gì hết - kìa cháu đi đâu đó? Dì chưa nói hết mà. Trong chúc thư dì sẽ để lại cho cháu mười lăm ngàn đồng rúp, nhưng bây giờ cháu sẽ có món đó vào ngay ngày cưới. Trong món đó, cháu sẽ cho ông ta tám ngàn - nghĩa là, không phải đưa cho ông mà đưa cho dì, và dì sẽ lấy để trả một món nợ ông ta mắc phải. Nhưng dì muốn ông ta phải hiểu rằng tiền trả món nợ đó là của cháu. Vậy cháu sẽ còn lại bẩy ngàn, và cháu phải nhất định không có bao giờ cho ông ta một đồng trong số đó. Không bao giờ. Và cũng không bao giờ trả nợ đậy cho ông ấy, vì hễ cháu làm một lần là cứ phải làm mãi. Nhưng dì bảo cháu là dì vẫn ở gần bên, cháu sẽ nhận được một khoản phụ cấp của dì cho là một ngàn hai trăm rúp một năm - luôn tất cả các khoản thêm là một ngàn năm trăm đồng - không kể ăn ở mà dì vẫn tiếp tục cấp dưỡng như dì đã cấp cho ông ta cho đến ngày nay. Nhưng cháu phải lo trả cho người ăn người làm riêng. Còn về phụ cấp, dì sẽ trả luôn cho cháu mỗi năm làm một lần, cháu sẽ giữ hầu bao, nhưng dì muốn cháu dễ dãi với ông ta và để cho ông tiếp bạn bè ở nhà mỗi tuần một lần. Tuy nhiên, nếu họ đến thường xuyên hơn, thì đuổi cổ họ ra khỏi cửa. Nhưng chính dì sẽ phụ trách việc đó chừng nào dì còn sống đây. Còn, nếu dì chết - ông ta chết, cháu nghe rõ không? - Bởi vì đó là phụ cấp cho ông ta chứ không phải cho cháu. Còn về phần cháu, ngoài sốtiền bẩy ngàn - mà nếu cháu khôn khéo thì chẳng bao giờ cháu đụng tới - dì sẽ để lại cho cháu tám ngàn đồng nữa trong chúc thư. Đó là tất cả phần của dì dành cho cháu. Dì muốn biết chắc rằng cháu hiểu rõ điều đó. Sao, cháu đồng ý không? Cháu nói đi chứ.
- Nhưng cháu đã trả lời rồi thôi.
- Hãy nhớ là cháu hoàn toàn tự do. Cháu muốn quyết định ra sao cũng được.
- Chỉ xin dì cho biết một điều. Ông Verkhovenxki có nói gì với dì chưa?
- Ông ta chưa nói. Ông ta chưa biết gì cả, nhưng dì hứa với cháu là rồi ông ta sẽ nói ngay đấy thôi!
Bà đứng phắt ngay dậy, vắt chiếc khăn quàng đen quanh vai. Dasa hơi đỏ mặt và đưa mắt bối rối theo từng cử chỉ của bà. Chợt bà Varvara quay về phía cô, mặt bà bừng bừng giận dữ. Bà nói xỉa xói vào Dasa như một con diều hâu:
- Mày là một đứa ngu - một con bé ngu khốn ngu khổ. Mày là một đứa ngu, vô ân bạc nghĩa! Mày tưởng tao ghét bỏ mày phải không? Phải không? Tao nói cho mày biết, ông ta sẽ quì gối lạy mày, sướng đến chết đi được! Đường lối sắp xếp phải là như thế! Mày phải biết tao không để cho ai động đến mày! Có lẽ mày nghĩ rằng ông ta lấy mày vì tám ngàn bạc - như thế tao đem mày đi bán. Mày thực là một con bé ngu ngốc, vô ân bạc nghĩa, hệt như những người khác! Thôi được rồi, lấy cho tao cái dù!
Thế rồi bà Varvara vội vã đi theo con đường lót gỗ và lát gạch ẩm ướt sang chỗ ông Verkhovenxki.
7
Bà Varvara nói thực: bà không bao giờ chịu để cho cái gì làm hại đến Dasa. Thực ra bà cảm thấy mình rất rộng lượng đối với cô gái. Sự bực tức của bà rất mực cao cả và đạo nghĩa ngay khi vắt chiếc khăn lên vai bà bắt gặp tia nhìn bối rối và nghi ngại của Dasa. Bà thành thực ưa Dasa ngay từ lúc cô còn là một đứa bé con, và bà Drozdova đã nói đúng khi bà gọi cô gái kia là “cục cưng” của bà Varvara. Bà Varvara đã quyết định một lần và dứt khoát rằng Dasa không giống anh cô là Ivan Satov chút nào; rằng cô tính tình trầm lặng, hiền dịu, có thể hy sinh lớn và rất tận tụy với bà, cực kỳ khiêm tốn, hiểu thiệt hơn và nhất là biết ơn. Cho đến nay, Dasa dường như minh chứng cho điều suy đoán này của bà.
Bà Vatvara đã tuyên bố khi Dasa chưa lên mười hai tuổi rằng: “Đời đứa bé này không được để cho có lầm lỗi nào.” Thế rồi với khuynh hướng đeo chặt vào bất cứ dự kế nào, bất cứ điều tưởng tượng hay ý kiến nào quyến rũ bà, bà tức thì quyết tâm nuôi Dasa như một đứa con ruột. Bà dành riêng một số tiền cho đứa bé, đứng tên và thuê một giám hộ cho nó, một cô nào đó tên Cngx, và cô giám hộ này ở với họ mãi cho đến khi Dasa đưực mười sáu tuổi. Rồi không hiểu vì lí do gì cô Cngx đột ngột bị bà cho thôi. Sau đó, bà cho mời các giáo sư tại trường trung học trong tỉnh tới nhà để giảng dậy cho Dasa. Trong số này có một người là dân Pháp thực thụ dậy Dasa Pháp văn, nhưng vì một lí do nào đó ông cũng bị cho thôi ngang. Một bà mệnh phụ góa, nghèo và lớn tuổi được mời tới để dạy cho Dasa đánh dương cầm.
Tuy nhiên, người đảm nhận phần giáo dục chính của cô là ông Verkhovenxki. Sự thực là ông “khám phá” ra cô. Ông khởi sự dạy cô gái nhỏ lặng lẽ đó trước cả khi bà Varvara nghĩ đến cô. Như tôi đã trình bầy ở trên, trẻ em rất quyến luyến ông. Con gái bà Drozdova là Liza cũng là học trò của ông từ năm lên tám đến năm mười một tuổi (dĩ nhiên ông dạy Liza không lấy thù lao - ông không bao giờ nhận tiền của gia đình Drozdov cả).
Nhưng trong trường hợp này, ông đem lòng yêu đứa bé gái dễ thương kia, và ông đặt ra đủ mọi câu chuyện lãng mạn để kể cho Liza nghe về đất đai, lịch sử nhân loại, và tổ chức thế giới. Các bài giảng của ông về dân chúng và các bộ lạc sơ khai mê hoặc không thua gì những truyện Ngàn lẻ một đêm, Liza đắm đuối nghe những câu chuyện do ông kể sau này về nhà bắt chước ông một cách rất ngộ nghĩnh. Ông tìm ra điều ấy và một lần bắt chợt em đang đóng trò. Lúng túng quá cỡ, Liza nhào vào vòng tay ông và òa lên khóc. Ông Verkhovenxki cũng nhỏ vài giọt lệ hân hoan. Nhưng sau đó ít lâu, gia đình Liza dời đi tỉnh khác, chỉ còn lại có Dasa.
Khi các thầy giáo khởi sự đến nhà dạy Dasa, ông Verkhovenxki thôi giảng cho cô và dần dà cũng hết chú ý đến cô bé. Tình trạng này kéo dài một thời gian lâu. Đến một ngày kia, lúc đó cô đã mười bẩy tuổi, ông Verkhovenxki chợt nhận ra rằng lớn lên Dasa xinh xắn quá chừng. Họ cùng ngồi tại bàn uống trà của bà Varvara. Ông nói chuyện với cô và rất xúc động một cách có thiện cảm với những câu đáp lời của cô. Lập tức ông đề nghị giảng cho cô trọn khóa về văn chương Nga. Bà Varvara cho rằng đó là một ý kiến tuyệt hảo và cảm ơn ông. Dasa mừng lắm. Ông Verkhovenxki khởi công sửa soạn đặc biệt cho các bài học, và sau rốt họ bắt đầu. Ông khai giảng bằng thời kì xa xưa nhất. Bài giảng đầu rất hấp dẫn. Bà Varvara cũng tham dự nữa. Khi dạy xong, ông Verkhovenxki loan báo cho cô học trò là bài giảng kế tiếp sẽ chuyên về Bài ca về Igor27. Bất đồ bà Varvara đứng phắt dậy và nói thôi từ nay không có học hành giảng dạy gì hết nữa. Ông sửng sốt, nhưng không nói gì. Dasa đỏ bừng mặt. Thế là xong.
Đến nay, ba năm sau, bà Varvara lại đột ngột nẩy ra tư tưởng mới. Tội nghiệp cho Verkhovenxki ngồi một mình, đâu có biết chuyện gì. Ông cảm thấy hơi buồn chán và cứ chốc chốc lại liếc ra cửa sổ mong có người bạn nào may ra tới chăng. Nhưng chẳng có một ai xuất hiện. Trời mưa bụi, và không khí càng thêm buốt; ông nghĩ lẽ ra người nhà phải đốt lửa mới phải. Ông thở dài. Chợt qua cửa sổ ông ngó thấy một cảnh tượng làm ông giật mình: bà Varvara đang sang bên ông. Vào giờ này và thời tiết như thế bà muốn gì đây? Và tại sao bà ấy lại đi chân và vội vã như vậy? Quá chưng hửng, ông quên cả nghĩ đến chuyện chạy đi mặc áo khoác và cứ thế mặc áo tây chẽn lót bông mầu hồng đón tiếp bà. Ông tiến ra gặp bà và kêu lên một cách ngờ ngợ:
- Bà bạn thân mến của tôi!
- Ông có một mình hả! Tốt! Tôi chịu không nổi các bạn của ông. Ui chao! Ở đây toàn khói là khói. Thật như là xông không bằng! Xem đó, đã quá 2 giờ, mà ông cũng chưa ăn sáng xong! Ông thích sống trong cảnh hỗn độn như thế, phải không? Còn những rác rưởi trên sàn nhà này là gì đây? Naxtaxia, chị Naxtaxia ơi! (Bà cất tiếng gọi người giúp việc). Chị Naxtaxia của ông đâu mất rồi? À, đây. Này con, mở cửa sổ ra, cả cửa lớn nữa. Tôi muốn tất cả cửa ngõ đều mở toang ra; trong khi đó, ông với tôi đi ra phòng khách. Tôi đến đây có công chuyện, ông rõ chưa. Còn chị Naxtaxia, làm cho nó mau mắn lên. Quét căn phòng cho tươm tất một lần xem có được hay không!
Chị Naxtaxia nức nở như tiếng còi:
- Ông chủ suốt ngày cứ liệng tùm lum xuống sàn đó, thưa bà.
- Vậy thì chị suốt ngày dọn cho ông. Nếu cần thì một ngày quét mười lăm lần!
Rồi họ đi sang phòng khách.
Bà Varvara nói:
- Phòng khách của ông nom sao mà tẻ quá. Thôi ông đóng cửa lại đi, tôi không muốn để chị ta nghe thấy. À, rồi tôi phải cho thay cái thứ giấy dán tường này. Tôi nhớ đinh ninh là đã gửi thợ trang hoàng cùng các mẫu đến cho ông. Sao ông không lựa lấy một thứ? Ông ngồi xuống đi và lắng nghe đây. Nào, ông có ngồi xuống hay không thì bảo? Bây giờ ông định đi đâu? Ông đi đâu đấy?
Ở bên kia cửa ông Verkhovenxki kêu vọng sang:
- Tôi, chỉ một phút là sang ngay. Đây - tôi đây.
Bà Varvara soi mói quan sát ông:
- Vậy ra ông thay đổi trang phục. (Ông đã choàng một áo khoác bên ngoài cái áo chẽn lót hồng). Phải, như thế hợp với điều tôi sắp bàn với ông đây. Thôi, bây giờ tôi xin ông làm ơn hãy ngồi xuống cho!
Bà nói toạc móng heo cho ông nghe, một cách thẳng thừng và chắc nịch. Bà cũng nói bóng gió tới số tám ngàn đồng rúp ông đang hết sức cần và đề cập khoản hồi môn. Đôi mắt ông Verkhovenxki cứ trố ra. Ông bắt đầu run. Ông nghe bà nói nhưng chẳng hiểu nếp tẻ ra sao cả. Ông muốn nói một điều gì nhưng tiếng ông lạc đâu mất. Ông chỉ biết rằng mọi chuyện rồi sẽ như bà định liệu, có phản đối cũng chẳng đi đến đâu, và trên thực tế ông đã bị gả cưới một cách vô phương cứu chữa.
Sau cùng ông cũng cố gắng thốt ra được:
- Nhưng, bà bạn thân mến của tôi ơi, như thế là đến lần thứ ba... vào tuổi tôi... và với một đứa nhỏ như vậy. Nó chỉ là một đứa nhỏ.
- Một đứa nhỏ hả? Ông nhớ là nó đã hai mươi tuổi đầu. Xin ông đừng có tròn xoe mắt ra như thế nữa. Ông đâu có phải đóng tuồng trên sân khấu. Ông thông minh kinh khủng, lại học rộng, đủ thứ, nhưng ông không biết gì về đời sống và cần một người khán hộ suốt đời. Nếu tôi chết đi, rồi ông sẽ ra sao? Nó sẽ là một vú em tuyệt hay cho ông: nó khiêm tốn, vững vàng và biết điều. Dĩ nhiên, tôi còn ở gần bên trong một thời gian, vì tôi không có trông đợi chết ngay lúc này. Nó là một người quán xuyến việc nhà và hiền dịu như một cô tiên. Tôi nẩy ra ý nghĩ tốt lành này lần đầu khi còn ở Thụy Sĩ. Ông có biết tôi định nói gì khi bảo rằng nó hiền dịu như một cô tiên chăng? - Bà Varvara đột nhiên giận dữ la to. Ông hiện sống giữa đống rác. nó sẽ đem sạch sẽ cùng trật tự đến và mọi thứ sẽ sáng choang như gương. Còn ông, ông ngỡ rằng tôi phải hạ mình năn nỉ để cho ông chịu nhận một kho tàng như thế,và tôi phải kể lể mọi vẻ đẹp điều hay của nó ra như một kẻ đi làm mai hay sao? Chính ra ông phải quỳ gối xuống mà van xin... Thứ người đâu mà hời hợt, chẳng ra cái trò trống gì!
- Nhưng, tôi già rồi...
- Năm mươi ba tuổi có thấm vào đâu? Năm mươi chưa phải đã kể miệng lỗ mà mới chỉ nửa đời người. Ông là một người tốt tướng, điều ấy ông rành quá mà. Ông cũng biết rằng nó rất kính mến ông. Nếu bây giờ tôi chết, biết nó sẽ ra sao? Nhưng lấy ông rồi. nó sẽ yên một bề và tôi hết phải lo về nó. Ông là một người có địa vị, có tên tuổi và có một tấm lòng; ông cũng có một khoản phụ cấp mà tôi tự cho là mình có bổn phận phải chu tất. Ông sẽ có thể tránh cho nó hết thảy mọi chuyện; dù sao đi nữa thế cũng là hân hạnh cho nó. Ông sẽ chỉ dạy cho nó cách sống ở đời, uốn nắn tính khí cho nó, và hướng dẫn các quan điểm của nó. Biết bao thanh niên thiếu nữ ngày nay hư cả một đời chỉ vì thiếu sự hướng dẫn tốt! Đồng thời, từ nay đến đó, cuốn sách của ông sẽ chào đời và thiên hạ sẽ lại nhắc nhở đến ông.
Ông Verkhovenxki khoan khoái vì sự phỉnh nịnh khéo léo của bà Varvara. Ông nói:
- Thế thì quá vui. Mới đây tôi vừa nghĩ đến việc khởi thảo cuốn Tây Ban Nha sử thuật ký.
- Đó, ông thấy không!
- Nhưng, nhưng còn cô ta thì sao? Bà đã đề cập chuyện đó với cô ta chưa?
- Ông đừng có lo cho nó. Dù sao đi nữa, chuyện đó cũng không dính dáng gì tới ông. Dĩ nhiên, là đích thân ông sẽ phải ngỏ lời với nó - thuyết phục nó, van nài nó, và làm đủ mọi chuyện đại loại như thế. Nhưng ông đừng có lo, còn có tôi đây; tôi sẽ coi sóc cho mọi việc phải xong mới thôi. Hơn nữa, tôi biết là ông yêu nó.
Ông Verkhovenxki cảm thấy ngất ngây; căn phòng bắt đầu xoay vòng vòng. Ông có một ý tưởng khủng khiếp mà không làm sao ông ta xua đuổi nổi ra khỏi đầu. Ông vừa run vừa thở hào hển:
- Bà bạn quí nhất trên đời của tôi ơi! Không bao giờ, không bao giờ tôi lại nghĩ là bà có thể gả tôi đi cho một kẻ khác...
Bà Varvara nói xóc hông:
- Xtepan, ông đâu phải một đứa con gái nhỏ. Người ta chỉ “gả” con gái đi mà thôi, ông nhớ cho điều đó.
Ông tiu nghỉu nhìn bà:
- Phải, tôi dùng chữ có lẽ không được chỉnh cho lắm, nhưng... có ăn nhằm gì.
Bà Varvara xì một tiếng khinh miệt:
- Phải, có ăn nhằm gì.
Rồi bỗng:
- Ôi trời, ông ấy ngất đi kìa! Naxtaxia, chị Naxtaxia ơi! Lấy nước lạnh, mau!
- Nhưng ông không cần nước. Ông hồi tỉnh. Bà Varvara cầm lấy dù: Tôi thấy rằng tình trạng ông hiện như vậy không phải là lúc nói chuyện...
- Vâng, vâng, lúc này tôi không thể...
- Nhưng từ bây giờ cho đến mai ông hẳn đã nghỉ ngơi và nghĩ cho chín rồi. Ông ở nhà, và nếu có chuyện gì xẩy ra, cứ cho tôi biết - dù là nửa đêm gà gáy. Cũng đừng tốn công viết thư cho tôi nữa làm gì - tôi sẽ không đọc đâu. Ngày mai tôi sẽ đến đây để xin ông một câu trả lời dứt khoát, mà nên là một câu trả lời sao cho thỏa đáng. Từ bây giờ cho đến lúc đó, ông ráng đừng tiếp một người bạn nào; và tôi không muốn thấy lần sau nơi đây còn rác rưởi gớm guốc như lần này. Thấy mà ghê! Chị Naxtaxia đâu, lên đây!
Khỏi cần phải nói cũng biết là ngày hôm sau ông trả lời bằng lòng. Ông không làm sao không trả lời bằng lòng cho được; đó là một cảnh ngộ đặc biệt phải xét cho ông...
8
Cái gọi là sản nghiệp của ông Xtepan Verkhovenxki - trước ngày Giải phóng vỏn vẹn có năm mươi nông nô mà người ta quen gọi là năm mươi linh hồn - thực ra cũng không thuộc về ông. Đất đó (liền kề ngay trại Xcvoresniki) là do bà vợ cả của ông để lại, và kẻ thừa hưởng đúng ra phải là con trai của ông và bà là cậu Piot’r Xtepanovitr Verkhovenxki. Ông Xtepan chỉ giám hộ sản nghiệp thay cho người thừa kế, và đến khi trưởng thành cậu con đã ủy nhiệm cho cha quyền quản trị sản nghiệp. Sự dàn xếp đó rất có lợi cho cậu: vì cha cậu, năm nào cùng trả cho cậu một món tiền thỏa thuận với nhau từ trước là một ngàn rúp, trong khi lợi tức thực sự của sản nghiệp sau vụ bãi bỏ chế độ nông nô năm 1861 chưa chắc cơ tới được năm trăm đồng. Làm sao đôi bên lại đi đến con sốthỏa thuận kia thì có mà trời biết! Dù sao chính bà Varvara thì thực sự không đóng góp một đồng xu nhỏ vào đó. Ông giữ hết cả lợi tức sản nghiệp mang lại mà tiêu xài riêng. Hơn nữa, ông còn làm giảm giá trị của nó vì cho một nhà kỹ nghệ lãnh trưng và bán từng lô nhỏ cho người ta vào đốn cây (là thứ sản vật chính trong trại) mà không hề cho bà Varvara hay biết. Giá trị gộp của cây ít ra là vào khoảng tám ngàn đồng nhưng ông bán được có năm ngàn, sở dĩ ông đến cơ sự ấy là vì ông thua bạc ở hội quán quá đậm, không dám mở miệng thú nhận với bà Varvara. Bà nghiến răng nổi giận khi sau rốt bà khám phá ra nông nỗi. Thế mà nay cậu con trai lại báo tin sắp về để bán sản nghiệp và giao phó cho người cha việc thu xếp. Vốn tính rộng rãi và vô tư, ông cảm thấy mình mắc tội đối với đứa con yêu dấu (mà lần cuối ông gặp còn là một sinh viên ở Petersburg). Ban đầu sản nghiệp có thể lên đến mười ba mười bốn ngàn rúp, nhưng bây giờ chắc hẳn không tới được năm ngàn. Hẳn là, xét theo quan điểm thuần túy pháp lí, ông Xtepan có thể viện dẫn quyền ủy nhiệm để biện minh cho việc bán cây; ông cũng có thể đòi quyền khâu trừ sự cách biệt giữa số một ngàn rúp hàng năm ông gửi cho con và lợi tức đích thực của sản nghiệp. Nhưng ông là một người trọng danh dự, ưa những cử chỉ cao thượng. Ông đã mường tượng ra một màn kịch bi thương mà hùng tráng và quyết định đóng đến cùng: khi Piot’r về tới, ông sẽ cao cả trải trên bàn số tiền tối đa có được - có thể lên đến mười lăm ngàn rúp - mà không nói một tiếng về số tiền bấy lâu nay vẫn gửi cho con. Rồi, những giọt lệ thương yêu sẽ tuôn tràn, ông sẽ ôm ghì đứa con trai yêu dấu kia vào lòng, kết toán thơm thảo mọi chuyện giữa đôi bên.
Một cách kín đáo và cẩn thận, ông cũng bắt đầu kéo bà Varvara vào màn kịch kia. Ông còn nói bóng gió cho bà biết rằng sự tham gia của bà sẽ phủ lên tình bạn và lí tưởng của họ một vầng hào quang cao quí đặc biệt; rằng nó sẽ chứng tỏ các người cha của thời đại đã qua rộng lượng là chừng nào, và cả thế hệ trẻ ngày nay vô trách nhiệm, ham mê chạy theo chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra ông còn nói nhiều nữa.
Bà Varvara cứ để cho ông nói. Rồi một ngày kia bà báo tin là bà sẵn lòng trả giá cao nhất - nghĩa là sáu, hay cùng lắm là bẩy ngàn (bà nói, lẽ ra bốn ngàn cũng phải chán). Đặc biệt bà không nhắc nhở gì đến việc tám ngàn bạc sút giảm về giá trị việc đốn cây.
Những lần nói chuyện này xảy ra khoảng một tháng trước việc mai mối xe duyên. Ông Xtepan Verkhovenxki rất buồn bực và âu lo về chuyện cậu con trai. Đã có lần có hi vọng cậu ta sẽ chẳng về nữa đâu (dĩ nhiên, khi tôi nói “hi vọng” là tôi dùng một kiểu nói của người ngoài, vì ông Xtepan với tư cách là cha, hẳn là sẽ phẫn nộ gạt phăng chữ đó đi). Thế nhưng các tin đồn kì quái về cậu Verkhovenxki cứ tới tai chúng tôi đều đều. Sau khi tốt nghiệp đại học khoảng sáu năm trước đây, dường như cậu chỉ sống vất vưởng ở Petersburg. Rồi chúng tôi nghe nói rằng cậu liên can vào việc soạn thảo một bản tuyên ngôn phản nghịch nào đó và sắp bị mang ra xét xử. Thế rồi lại nghe tin cậu ở Genève, Thụy Sĩ, nên chúng tôi đoán rằng cậu ta đã bỏ trốn ra nước ngoài. Khi đó ông Xtepan bối rối giãi bầy với chúng tôi:
- Tôi thật ngạc nhiên về nó quá. Thằng Piot’r thật là đầu xanh tội nghiệp! Nó là một đứa trẻ tốt bụng, có cốt cách, và quá đỗi nhậy cảm. Hồi gặp nó ở Petersburg, tôi mừng quá vì nó khác hẳn bọn thanh niên ngày nay. Nhưng dù sao nó cũng là một đứa yếu đuối... Để tôi xin kể các ông nghe, tất cả mọi sự rắc rối đều bắt nguồn từ sự thiếu trưởng thành và tình cảm sướt mướt mà ra! Không phải là những khía cạnh thực tiễn của chủ nghĩa xã hội quyến rũ chúng đâu, mà là sự hấp dẫn về cảm xúc, cái lý tưởng - chúng ta có thể gọi là khía cạnh thần bí và tôn giáo - cái lãng mạn... của chủ nghĩa ấy; và thêm nữa, chúng chỉ bắt chước người khác như lũ vẹt. Nhưng điều đó lại đặt tôi vào một cảnh khốn khổ khốn nạn: tôi có nhiều kẻ thù và bọn họ thế nào cũng gán tất cả chuyện đó cho ảnh hưởng của phụ huynh... Ôi trời ơi là trời, chúng ta sống trong thời buổi nhố nhăng! Một thằng như Piot’r Verkhovenxki nhà tôi mà cũng tập tễnh đòi làm lãnh tụ cách mạng!
Tuy nhiên, chẳng mấy lâu sau, Piot’r Verkhovenxki gửi vé cho cha địa chỉ chính xác tại Thụy Sĩ để ông gửi tiền sang. Điều này chứng tỏ anh ta đã xuất ngoại hợp pháp. Bây giờ, sau khi sống ở nước ngoài bốn năm, anh ta thình lình trở về Nga và báo tin cho cha là sắp đến tỉnh chúng tôi. Điều này có nghĩa là anh ta chưa hề bị rắc rối với nhà cầm quyền. Trái lại, dường như có một nhân vật ở địa vị cao lại chú tâm đến anh ta. Cái thư anh ta gửi về là từ miền Nam nước Nga, nơi anh ta đang tiến hành một tư tác quan trọng, tổ chức một cái gì đó. Tin đó rất hay, nhưng ông chưa biết đào đâu ra bẩy tám ngàn bạc thiếu để gộp thành một món tiền tối đa coi được, để trả cho cậu con trại về việc bán cái sản nghiệp? Và thử tưởng tượng nếu có cãi cọ tùm lum, la ó, hay còn kiện tụng, thay vì màn kịch cao đẹp kia? Ông Verkhovenxki có cảm tưởng là đứa con nhạy cảm của ông là Piot’r kia chắc chẳng lép vế chịu thua thiệt về tài chính đâu. Có lần ông thì thào tâm sự với tôi: “Tôi có cảm tưởng như thế vì tôi đã để ý nhận thấy rằng tất cả những bọn xã hội chủ nghĩa và cộng sản văng mạng kia đều keo cú, hà tiện không thể tưởng, và hăm hở muốn có của kinh khủng. Người ta có thể nói là một người càng nhiệt thành với xã hội chủ nghĩa bao nhiêu thì lại càng có nhu cầu tích lũy tài sản bấy nhiêu. Tại sao vậy? Phải chăng nó bắt nguồn từ yếu tố cảm xúc trong cái chủ nghĩa xã hội của họ?” Tôi không rõ nhận xét của ông Xtepan Verkhovenxki có ít nhiều gì đúng với sự thật hay không. Tôi chỉ biết rằng Piot’r đã được người ta cho hay về việc cha anh bán cây trong trại cùng những giao dịch khác, và ông Xtepan cũng hiểu là con đã rõ chuyện. Tôi cũng đã đọc vài lá thư anh gửi cho cha. Anh viết thư rất ít - một năm không đến một lá - nhưng mới đây, khi báo tin anh sắp về, anh đã viết hai lá thư liền nhau. Nói chung, những lá thư này chẳng hơn gì những mảnh giấy báo tin vắn tắt; nhưng từ buổi gặp gỡ ở Petersburg, hai cha con đã theo trào lưu tân tiến mà xưng hô với nhau là moa moa, toa toa, nên thư của Piot’r gửi cho cha nghe chẳng khác nào thời xưa các ông địa chủ không có mặt ở quê gửi thư ra chỉ thị cho các nông nô mà các ông đã giao phó cho việc quản lí gia sản. Thế mà bây giờ, đột nhiên, như trong phép lạ, bà Varvara lại tặng cho ông Xtepan tám ngàn đồng rúp, dĩ nhiên trong có ngầm ám chỉ là với điều kiện là... Vậy thì khỏi thành vấn đề gì hết - ông dĩ nhiên phải chấp nhận.
Bà vừa đi khỏi là ông gọi tôi tới rồi đóng cửa cài then cẩn thận. Tất nhiên là ông phải khóc lóc qua loa, nói thao thao một cách hay ho, thường khi đánh rơi mất cả luồng tư tưởng, thỉnh thoảng lại chơi chữ một ván và lấy làm khoái chí lắm, sau hết là một cơn lên ruột sơ sơ. Nói tóm lại, mọi chuyện in như thường lệ. Đến một lúc, ông mở ô kéo giơ tấm hình bà vợ người Đức xinh xắn mất đã hai chục năm nay ra ngắm nghía và than vãn mấy hồi: “Ôi, có bao giờ em tha thứ cho anh hay chăng?” Thực ra, ông có vẻ hơi quẫn trí. Để giải muộn trong cơn khủng khoảng hiện nay, chúng tôi nhắm vài li và chẳng mấy chốc ông ta nằm lăn quay ra ngủ mê man. Sáng dậy ông ăn bận cực cẩn thận, chải chuốt ngắm nghía mãi trước gương và thắt cà vạt thật diêm dúa. Ông cũng kín đáo rẩy ít nước hoa lên khăn tay, nhưng khi nhìn qua cửa sổ thấy bóng bà Varvara, ông vội lấy một chiếc khăn khác, và giấu chiếc đã xức dầu thơm dưới nệm gối.
- Tốt! - Bà Varvara phán một câu khi ông báo tin đồng ý. - Thứ nhất, nó chứng tỏ một sự quyết tâm tốt lành, và thứ nhì, ông dường như đã lắng nghe tiếng nói của lí trí, một điều ít khi ông làm trong những việc riêng tư. Tuy vậy, không cần gì phải gấp rút công việc cả, - bà nói thêm khi nhìn thấy chiếc cà vạt trắng thắt kiểu cách của ông. - Lúc này đừng nói gì cả, tôi cũng vậy nữa. Chẳng mấy chốc là đến sinh nhật của ông, và tôi sẽ đưa nó sang dự tiệc trà. Nhưng không có nhậu nhẹt đâu nhé, ông nhớ đấy. Tôi nghĩ tốt hơn thì để chính tôi coi sóc việc đó mới được. Ông sẽ mời các bè bạn của ông - nhưng trước hết chúng ta sẽ cùng nhau quyết định xem phải mời những ai. Nếu cần, ông sẽ phải nói chuyện với nó từ bữa hôm trước. Nhưng trong bữa tiệc ở nhà ông ta đừng có tuyên bố chính thức gì hết, chỉ hàm ý lửng lơ thế thôi. Rồi một vài tuần sau ta sẽ làm một lễ cưới lặng lẽ, đúng ra càng lặng lẽ càng tốt. Có thể tốt nhất là sau cuộc lễ, cả hai nên đi xa một thời gian – chẳng hạn lên Moskva. Tôi cũng có thể đi theo luôn... nhưng, trong khi chờ đợi tốt hơn là ông hãy giữ kín cái miệng.
Ông ngạc nhiên. Ông còn lên tiếng phản đối yếu ớt rằng ông thấy không thể tiến hành chuyện đó mà không nói qua với cô dâu tương lai, nhưng bà Varvara chặn phắt ngay đi:
- Như thế để làm gì? Hơn nữa chuyện còn có thể xôi hỏng bỏng không...
Ông chưng hửng nói không ra câu:
- Bà nói sao?
- Tôi nói thế đấy. Tôi còn phải xem sao đã... Được, mọi chuyện rồi sẽ cũng đâu vào đó như tôi đã bàn với ông, chính tôi sẽ báo tin cho nó. Ông khỏi phải lo gì cả, mọi chuyện gì cần nói cần làm đều sẽ được thực hiện cả. Ông thì có giúp được gì? Vậy thì ông lo chi cho mất công. Ông làm ơn tránh xa nó ra, cũng đừng có thư từ gì cho nó cả. Xin ông cứ làm như không hay biết chuyện gì cả. Tôi cũng im hơi lặng tiếng nữa.
Bà cương quyết không chịu giải thích rõ hơn và lúc ra đi nét mặt khá xao xuyến. Sự tán đồng hăm hở của ông Xtepan làm bà đôi chút sững sờ. Hỡi ôi, ông vẫn không hiểu rõ cảnh ngộ thực của mình và cũng chưa cứu xét vấn đề theo những góc cạnh khác. Trái lại, tôi nhận thấy giọng nói ông có một âm điệu giả tạo mới, thoáng phần cao kì và khinh khoái của một anh chàng tự đắc. Ông dừng lại trước mặt tôi, dang hai tay giơ lên trời và cứ lặp đi lặp lại mãi: “Chuyện đó nào tôi có thích gì. Anh thử nghĩ xem? Tôi cho rằng bà ấy đang cố tìm cách gây khó cho tôi mọi chuyện để rồi tôi phải từ chối. Bà ta biết sức kiên nhẫn của tôi cũng có giới hạn và cuối cùng cũng có lúc tôi bị đẩy đến chỗ phải trả lời không! Bà ấy bảo tôi ngậm kín miệng và đừng giao dịch với cô dâu tương lai! Nhưng việc gì tôi phải lấy vợ kia chứ? Chỉ vì cái tư tưởng kì quặc kia nẩy sinh trong đầu bà ta? Nhưng tôi là một người có trách nhiệm và có thể không muốn khép mình tuân phục những cái dở hơi của một người đàn bà quái dị! Tôi có trách nhiệm đối với con tôi và đối với bản thân tôi! Bà ấy không ý thức được rằng tôi đang đem mình ra hi sinh hay sao? Có lẽ tôi sẵn lòng muốn cho qua hết mọi sự chỉ vì tôi chán đời và không còn gì đối với tôi quan trọng nữa. Nhưng nếu bà ấycòn cứ chọc giận tôi như thế này nữa, nó sẽ trở thành quan trọng đối với tôi - Tôi sẽ nổi giận và sẽ từ chối cho mà xem! Kết cục, dị hợm... Rồi trong hội quán họ sẽ bàn tán ra làm sao? Liputin sẽ nói gì? Và bà ấy nói “chuyện còn có thể xôi hỏng bỏng không”... Anh nghĩ như thế nào? Đó mới thực là đầu mối bòng bong! Thật chịu hết nổi! Tôi là một tên tù khổ sai, một kẻ bị dồn vào chân tường!...”
Và trong suốt lúc than thân trách phận như thế, ông vẫn để lộ ra một cái gì giả tạo hợm hĩnh như cợt như đùa. Chiều lại, chúng tôi đánh ngã thêm một chai nữa.
[←23]
Victor Considerant (1808-1893): nhà xã hội chủ nghĩa người Pháp, truyền bá các học thuyết cải cách xã hội của Fourier (1772- 1837), và đứng đầu trường phái này sau khi thầy mất. Tác phẩm chính của ông là cuốn Định mệnh xã hội xuất bản năm 1838. Ông có qua Hoa Kỳ lập một cộng đồng hợp tác để thực hành học thuyết nhưng thất bại.
[←24]
Job: tên tập sách thứ 18 trong 66 tập làm thành bộ Kinh Thánh của Kito giáo, nội dung mô tả sự tin tưởng tuyệt đối vào Thượng đế dù gặp bao thử thách gian lao ở đời này.
[←25]
Bismarck (1815 - 1898): nhà chính khách xứ Phổ, có tài thao lược, lập nên đế quốc Đức. Ông từng làm Đại sứ ở Nga những năm 1859 - 1862. Đối với Âu châu ông cũng nổi tiếng như Gia Cát Lượng ở Á Đông.
[←26]
Pascal (1623-1662): triết gia kiêm khoa học gia người Pháp, từ nhỏ đã sớm phát lộ thiên tài, nhưng đến 25 tuổi ông hi sinh bộ óc tuyệt vời để phục vụ cho Kito giáo. Đã suy nhược, lại hành xác hãm mình, ông mất năm 39 tuổi. Tác phẩm dở dang của ông nhan đề Tư tưởng là danh văn bất hủ của nhân loại.
[←27]
Igor là ông hoàng khai quốc của nước Nga, Khúc ca về cuộc hành binh Igor là tác phẩm vĩ đại nhất của thời sơ khai văn học Nga, soạn vào cuối thế kỉ XII, đầu thế kỉ XIII, và được so sánh ngang hàng với bản anh hùng ca nhan đề Bài ca Roland (La Chanson de Roland) nổi tiếng, soạn vào cuối thế kỉ II ở Pháp. Đó cũng là một bản anh hùng ca mô tả sự thất trận và bị cầm tù của ông hoàng Igor trước quân Mông Cổ cũng như nỗi buồn của người chinh phụ bằng một giọng trữ tình bi thảm và chan chứa tinh thần dân tộc.