Một tuần lễ sau, câu chuyện trở nên khá rắc rối.
Tuần lễ đó tôi cũng thật khốn khổ, bởi vì với tư cách là người bạn tâm giao thân thiết, tôi không lúc nào rời người bạn mới hứa hôn đáng thương của tôi. Ông nhìn đâu cũng thấy xấu hổ, và vì suốt tuần đó ông chẳng gặp ai ngoài tôi ra để mà xấu hổ, ông xấu hổ ngay cả với tôi. Và càng thú nhận những điều thầm kín, ông càng xấu hổ và càng cáu kỉnh với tôi. Trong cái tình trạng nghi ngờ bệnh hoạn đó, ông tưởng tượng mọi người trong tỉnh đã biết rõ mọi chuyện; ông không dám xuất hiện ở hội quán và sợ gặp ngay cả đám bạn bè của mình. Buổi bách bộ hàng ngày ra ngoài cũng bắt đầu được dời tới chiều tối.
Một tuần lễ nữa trôi qua, và ông vẫn không biết mình có phải cưới vợ hay không. Ông không tìm ra được tia sáng nào dù cố gắng rất nhiều. Ông vẫn không gặp được vị hôn thê - ông cũng không chắc nàng là vị hôn thê của ông hay không. Thật ra, ông không dám chắc có một tí sự thật nào trong toàn thể câu chuyện hay không. Đã thế, không hiểu tại sao bà Xtavroghina lại không chịu tiếp ông. Bà trả lời một trong số những bức thư đầu tiên của ông (sau đó ông còn gửi thêm nhiều bức khác), nói thẳng xin ông để bà yên vì hiện bà rất bận rộn. Bà cũng cho ông biết bà có nhiều chuyện quan trọng muốn nói với ông, đợi tới khi bà rảnh rang hãy hay. Ông chỉ còn có nước chờ đợi để tới khi ông được tới gặp, bà sẽ cho ông biết. Cuối cùng bà cảnh cáo nếu ông còn gửi thư nữa, bà sẽ gửi trả lại không thèm mở ra coi, bởi vì lời lẽ của ông thật “trẻ con, ngớ ngẩn”. Ông đã đưa mẩu giấy cho tôi đọc mấy lời đó.
Tuy nhiên, sự bực bội và bấp bênh này không thấm vào đâu so với mối quan tâm chính luôn luôn ám ảnh ông, làm cho ông trở nên tiều tụy hốc hác đi. Đó là một chuyện làm ông xấu hổ đến độ không thể nói ra, ngay cả với tôi, mặc dù ngày nào ông cũng cho mời tôi tới - ông không thể thiếu tôi quá hai giờ, vì sự có mặt của tôi đã trở nên cần thiết với ông như cá cần nước - khi tôi tự đưa vấn đề ra, ông đã nói dối tôi và cố đánh lạc sự chú ý của tôi một cách thật trẻ con.
Thái độ đó làm tôi hơi mất lòng. Cũng bởi tôi hiểu thấu bụng dạ ông nên tôi đã đoán được cái bí mật lớn của ông từ đầu. Khi đó điều bí mật này làm tôi nhìn ông với con mắt mất tin tưởng: ngày đó tôi còn trẻ nên hết sức bực bội trước những nghi hoặc tầm thường và xấu xa của ông. Trong lúc bồng bột - có lẽ vì đã chán vai trò bạn tri kỉ của mình thì đúng hơn - có thể tôi đã quá nghiêm khắc với ông. Tôi đã tàn nhẫn đòi ông phải thổ lộ mọi chuyện, mặc dù tôi cũng ý thức rằng có vài chuyện khó mà nói ra được, về phần ông, ông cũng nhìn thấu tâm trạng tôi và biết tôi hiểu rõ ông đến thế nào và đang bực tức ông. Thế rồi ông đâm ra tức giận với tôi vì tôi đã tức giận với ông và nhìn rõ tim đen của ông. Mối bực tức của tôi có thể coi như nhỏ mọn và ngớ ngẩn, nhưng bạn bè cứ gặp nhau hoài, đối diện suốt ngày cũng có hại. Trên một phương diện nào đó, ông cũng đánh giá vài khía cạnh về tình trạng của mình một cách phải lẽ và còn khá bén nhạy về một số điểm mà ông không cần giấu giếm. Có khi ông cũng nói về bà Xtavroghina đại khái như: “Anh đừng nghĩ lúc nào bà ấy cũng như vậy. Ngày xưa, khi chúng tôi thường nói chuyện với nhau, bà ấy đâu có thế... Anh biết không, khi đó bà ấy còn chịu nói chuyện! Nếu tôi nói có lần bà ấy đã đưa ra những tư tưởng riêng liệu anh có tin tôi không? Bây giờ bà ấy đã hoàn toàn thay đổi; bà ấy bảo những chuyện hồi đó toàn là chuyện phiếm lỗi thời. Bà ấy khinh rẻ quá khứ... Bây giờ bà ấy lúc nào cũng khó tính và chỉ để tâm tới mớ sổ sách, kế toán của mình, cho nên lúc nào cũng gắt gỏng...”
Tôi nói: “Thế nào bà ấy lại gắt gỏng với ông trong khi ông chiều theo ý bà ấy?”
Ông nhìn tôi một cách khó hiểu rồi đáp: “Bạn thân mến, nếu tôi không chiều thì bà ấy đã nổi cáu, thật là khủng khiếp! Nhưng cũng còn đỡ hơn như tôi đã nghe lời bà ấy bây giờ”.
Ông rất hài lòng với lối trả lời này, và tối hôm đó, chúng tôi uống cạn một chai rượu. Nhưng đó chỉ là một phút đẹp trời; ngày hôm sau ông lại sầu não và khốn khổ hơn bao giờ.
Tôi rất bực tức về chuyện ông đã không thèm tới thăm gia đình Drozdov ở nước ngoài mới trở về, mặc dù họ rất mong muốn gặp gỡ lại như xưa và cứ nhắc nhở mời ông tới hoài. Ông nói tới Liza với một sự nồng nhiệt mà tôi không thể hiểu nổi. Chắc chắn ông rất quyến luyến nàng khi nàng còn bé, nhưng ngoài điều đó ra, có vẻ ông tin chắc rằng gần nàng ông sẽ tìm được sự trợ giúp tức khắc khỏi những đau khổ và giải quyết được cả mối bận tâm lớn của ông. Ông mong tìm thấy ở Liza một con người phi thường, vậy mà ông không thể quyết định tới gặp nàng, mặc dù ngày nào cũng suýt đi. Về phần tôi, chính tôi cũng mong muốn gặp nàng, và ông Verkhovenxki là người duy nhất có thể giới thiệu tôi với nàng. Tôi thường trông thấy nàng, mặc một bộ đồ kị mã sang trọng, cưỡi một con ngựa thật đẹp đi dọc trên phố, có một sĩ quan trẻ tuổi đẹp trai đi theo, đó là cháu người cha ghẻ quá cố của nàng. Nàng gây cho tôi những xúc cảm dạt dào. Mặc dù sự say đắm của tôi chóng tàn - tôi đã cảm thấy sự vô vọng sớm sủa kịp thời - nhưng cũng đủ giải thích được tại sao khi đó tôi lại mất kiên nhẫn như vậy với người bạn già trước sự cám cung ương ngạnh của ông.
Đầu tiên, tất cả đám bạn của chúng tôi được thông báo rằng ông Verkhovenxki muốn được yên tĩnh một thời gian và không thể tiếp ai được. Khởi thủy ông định gửi cho mỗi người một bức thư để thông báo như vậy, nhưng tôi khuyên can ông và cuối cùng tôi phải đi gặp từng người để nói với họ rằng bà Xtavroghina đã giao cho “ông già” - khi nói chuyện với nhau, chúng tôi thường gọi ông như vậy - công tác xếp đặt lại thư từ giao dịch từ nhiều năm nay và ông phải đóng cửa để hoàn tất công việc càng sớm càng tốt, còn tôi thì giúp ông làm. Chỉ có Liputin là người tôi không có thì giờ để gặp. Tôi cứ lần lữa mãi không tới hắn được. Thật ra, tôi sợ phải gặp hắn. Tôi biết hắn sẽ không tin một lời nào trong câu chuyện của tôi và hắn sẽ nghĩ rằng có một bí ẩn nào phải giấu riêng hắn. Tôi chắc chắn rằng ngay khi tôi đi khỏi, hắn sẽ chạy đi khắp tỉnh dò hỏi và ngồi lê mách lẻo. Nhưng trong khi hình dung những chuyện như vậy thì tôi đụng đầu với hắn ngoài đường. Thì ra hắn đã được những người bạn mà tôi đã thông báo cho biết tất cả rồi. Điều ngạc nhiên là hắn không hỏi gì về ông Verkhovenxki; hơn nữa, hắn còn ngắt lời tôi khi xin lỗi về việc không tới thăm, và đưa câu chuyện qua vấn đề khác. Thật sự, hắn chất chứa nhiều chuyện để nói với tôi. Hắn có vẻ rất khích động và hể hả khi tìm được người nghe. Hắn khởi sự nói mọi tin tức địa phương: tin bà vợ của vị tổng đốc tới, một người “nói nhiều về tư tưởng mới”; tin nhóm đối lập với bà ta đã được thành hình ở hội quán; người ta đang xôn xao như thế nào về những tư tưởng mới đó và bị chúng lôi cuốn ra sao, vân vân. Hắn nói không ngừng cả mười lăm phút và say sưa đến nỗi tôi không thể dứt ra được. Dù không bao giờ có thể ưa được hắn, tôi cũng phải công nhận rằng hắn có tài làm người ta phải nghe hắn nói, nhất là khi hắn giận dữ điều gì. Theo ý tôi, hắn là một gián điệp thiên bẩm. Hắn luôn luôn biết những gì đang xảy ra trong tỉnh, nhất là nếu có chuyện gì đáng bêu xấu, và tôi thật không hiểu được tại sao hắn lại có thể bẩn thỉu như vậy trước những chuyện chẳng chút đụng chạm gì tới hắn. Tôi luôn luôn cảm thấy rằng nét chính trong tính tình của hắn là sự đố kị. Tối hôm đó, khi kể lại cuộc gặp gỡ và nói chuyện của tôi với Liputin cho ông Verkhovenxki nghe, ông bỗng trở nên kích động và hỏi tôi một câu khờ khạo: “Liputin có biết không?”. Tôi cố giải thích với ông rằng hắn không thể biết được điều gì bởi vì không ai nói cho hắn biết. Nhưng ông Verkhovenxki vẫn ương ngạnh không tin.
Cuối cùng, ông bất ngờ kết luận: “Anh hãy nhớ lấy lời tôi nói, hắn không những biết mọi điều với những chi tiết nhỏ nhặt nhất về tình trạng của chúng tôi, hắn còn biết những điều cả tôi lẫn anh đều không biết, những điều có thể không bao giờ chúng ta tìm ra - hoặc, nếu biết cũng quá muộn!”.
Tôi không bàn gì thêm, nhưng những lời trên hàm chứa nhiều chuyện bên trong. Sau đó, trong suốt năm ngày chúng tôi không đả động tới tên Liputin. Tôi cảm thấy ông Verkhovenxki tự dằn vặt vì đã nói quá nhiều và phơi bầy những ngờ vực với tôi.
2
Một buổi sáng, chừng bảy, tám ngày sau khi ông Verkhovenxki đồng ý lấy, khoảng hai giờ, trên đường vội vã tới gặp người bạn ưu phiền của tôi, tôi bỗng dính líu vào một chuyện bực mình.
Tôi gặp Karmazinov, “nhà đại văn hào”, theo như lời của Liputin. Tôi đã đọc sách của ông khi còn nhỏ. Truyện ngắn và tiểu thuyết của ông được thế hệ trước rất ưa chuộng và vài cuốn ngày nay vẫn còn ăn khách, về phần tôi, tôi cũng mê truyện của ông, đó là cái thú thời trẻ con và thanh niên. Sau này, lòng hâm mộ của tôi có phần giảm đi. Tôi không thích những cuốn truyện luận đề mà ông viết sau này bằng những tác phẩm đầu tiên, trong đó có nhiều thi vị chân thực. Đối với những truyện ngắn mới nhất, tôi không ưa tí nào.
Nói một cách tổng quát - nếu tôi được phát biếu ý kiến về vấn đề tế nhị này - thì họ chỉ là những tài năng tầm thường nhưng lúc còn sống gần được coi như thiên tài còn khi qua đời sẽ bị xóa nhòa ngay trong trí mọi người; mà cả khi còn sống chắc chắn họ cũng bị lãng quên nhanh chóng khi một thế hệ mới thay chỗ thế hệ trong đó họ nảy nở. Giống như hậu cảnh trên sân khấu bị thay đổi đột ngột. Nhận định đó chắc chắn không đúng với những người như Puskin28, Gogol, Molier29, Volter30 cũng không áp dụng đối với những người nói lên được điều gì độc đáo. Những tài năng binh phàm lúc trở về già thường phơi bày sự cằn cỗi mà không tự biết. Và thường thường một nhà văn từng được coi là có tư tưởng sâu sắc và có hi vọng sẽ ảnh hưởng được những trào lưu tư tưởng của xã hội, sau một thời gian, chủ đề trở nên nông cạn và nghèo nàn đến độ sự suy tàn nhanh chóng không gây được sự thương tiếc của ai. Nhưng những ông già tóc bạc này không tự nhận thấy điều đó và rất tức giận. Sự nghiệp của họ càng về cuối, tính kiêu ngạo của họ càng lên tới một kích thước đáng kinh ngạc. Chỉ có Trời mới biết cuối cùng họ tưởng tượng họ là gì - ít nhất cũng là thánh! Karmazinov, theo lời đồn, coi trọng mối liên hệ với xã hội trưởng giả cùng thế lực của giới này hơn là linh hồn của mình. Cùng theo lời người ta, ông có thể thật dễ thương, cởi mở, và quyến rũ - nếu ông cần bàn về việc hoặc nếu bạn đã được một kẻ tai to mặt lớn giới thiệu. Nhưng nếu tình cờ một ông hoàng, một bà bá tước, hay bất cứ người nào mà ông kính sợ đi qua, ông rất có bổn phận thiêng liêng là quên phắt sự có mặt của bạn, trước khi bạn kịp rời căn phòng, như thể bạn là ruồi muỗi, rơm rác vậy. Đã vậy, ông còn tâm niệm như thế mới là phải phép. Mặc dù rất giỏi tự kiềm chế tính khí và hiểu rõ thế nào là phép lịch sự, ông kiêu ngạo đến độ như loạn thần kinh. Ông không dằn được sự khoe khoang về cái vốn văn chương của mình ngay cả giữa đám người chẳng có chút lưu ý gì về văn chương cả. Lỡ có người nào cả gan bày tỏ sự lãnh đạm trước những tác phẩm của ông, ông sẽ bất mãn một cách khó chịu và để tâm thù hằn.
Khoảng một năm trước, tôi đã được đọc một bài của ông đăng trên một tờ tạp chí. Viết với một giọng văn đầy kênh kiệu, ra vẻ thi vị và toàn những nhận xét tâm lí. Trong đó ông tả lại một vụ đắm tàu ở một nơi nào đó ngoài khơi bờ biển Anh quốc, cùng công việc tiếp cứu và vớt tử thi mà chính ông được chứng kiến. Bài khá dài và lời lẽ rườm rà, chỉ với một mục đích: nói về tác giả. Người ta có thể đọc ngầm thấy như: “Các bạn hãy nhìn tôi, nghĩa là xem tôi ra sao. Các bạn không cần gì phải mục kích biển cả, bão tố, núi đá hiểm trở, cùng những mảng tàu vỡ - với ngòi bút linh động của tôi, có sao tôi tả lại đúng y như vậy. Việc gì các bạn phải chú mục vào xác người đàn bà chết đuối còn ôm lấy xác đứa con kia. Hãy nhìn tôi đây này! Tôi phải quay mặt đi vì không thể cầm lòng nhìn cảnh đó. Khi thì nhìn tôi quay lưng đi, lúc thì thấy tôi xây mặt lại, nhưng đôi mắt nhắm nghiền trong kinh hoàng. Như vậy chẳng hấp dẫn các bạn kinh khủng hay sao?” Khi tôi nói với Verkhovenxki những điều tôi nghĩ về bài báo của Karmazinov, ông cũng đồng ý với tôi.
Khi nghe có người nói Karmazinov sắp tới thành phố chúng tôi, thật tình tôi nóng lòng muốn gặp ông, và nếu có thể, tìm cách làm quen. Tôi biết ông Verkhovenxki có thể giới thiệu cho tôi được, vì hai người có thời từng chơi với nhau. Nhưng rồi tôi đụng đầu với ông ở góc đường. Tôi nhận ra ông bởi vì mấy hôm trước có người chỉ cho tôi biết lúc ông ngồi trên xe với bà vợ ông tổng đốc đi qua.
Ông hơi thấp người và trông như một ông già làm dáng, mặc dù khi đó thực sự tuổi mới năm lăm. Mặt hồng hào, và mớ tóc hoa râm rậm rạp chui khỏi chiếc mũ cao, lượn quanh đôi tai nhỏ hồng. Bộ mặt nhỏ thó sạch sẽ của ông không thể coi là đẹp trai được: môi mỏng, dài, và trề ra một cách xảo quyệt; chiếc mũ khá dầy; và cặp mắt nhỏ, sắc, lanh lợi. Ông ăn mặc kiểu hơi cổ. Chiếc áo khoác như thể đã được mặc từ thời còn lang bạt ở đâu như Italia, Thụy Sĩ gì đó. Nhưng ít ra mọi thứ lặt vặt trong trang phục của ông như khoen tay áo, cổ cồn, khuy, chiếc kính đồi mồi đeo dây băng đen, chiếc nhẫn mặt ẩn, cũng rất mực thời trang. Tôi dám cá bất cứ cái gì là mùa hè lão này phải đi giầy nhẹ gài nút xà cừ bên cạnh. Khi tôi đụng đầu ông, ông cũng vừa ngừng lại bên lề đường và đang nhìn trước nhìn sau cẩn thận trước khi mạo hiểm qua đường. Nhận thấy tôi đang chú mục nhìn, ông hỏi tôi với một giọng ngọt như đường, mặc dù hỏi chát tai:
- Ông làm ơn cho tôi hỏi đường Bưcova đi lối nào?
Tôi mau mắn kêu lên:
- Đường Bưcova ư? Ồ, ngay kia kìa, cứ đi thẳng tới khúc quanh thứ nhì rồi rẽ về bên trái.
- Cám ơn ông vô cùng!
Tôi chửi thề. Sự việc quá bất ngờ và tôi sợ mình có vẻ khúm núm quá đáng đối với ông. Ông nhận thấy ngay điều này và trong một thoáng ngắn ngủi biết mọi điều về tôi - nghĩa là, nào tôi biết ông là ai, đã đọc hết sách của ông; đã khâm phục ông từ nhỏ, nào tôi cảm thấy thấp kém trước ông và nhìn lên với sự hạ mình. Ông lại nhìn tôi cười, gật đầu, và bước đi theo hướng tôi chỉ. Đến bây giờ, tôi vẫn thực không hiểu được tại sao tôi lại quay trở lại đi theo ông, tại sao tôi lại rảo chân bắt kịp ông rồi đi song song với ông chừng chục bước tới khi ông đứng sựng lại và kêu tôi hỏi:
- Ông có thể cho tôi hỏi thêm bến xe ngựa gần nhất ở đâu không?
Lần này tôi không ưa được cả giọng nói lẫn thanh âm của ông.
- Bến xe ngựa hả? Xe ngựa hay đón khách ở tạnh nhà thờ.
Nói xong tôi gần như dợm chạy đi kêu cho ông ta một chiếc xe, điều tôi tin rằng ông đang chờ đợi tôi làm. Dĩ nhiên tôi tự kiềm chế được ngay và ngừng lại, nhưng ông đã nhận thấy và nhìn tôi đăm đăm với một cái nhếch mép thầm hiểm. Giữa lúc đó bỗng có một việc xảy ra làm tôi sẽ không bao giờ quên được.
Ông bỗng làm rơi chiếc túi da nâu nhỏ đang cầm bên tay trái. Thực ra gọi đó là một thứ hộp thì đúng hơn là túi, hay đúng hơn nữa, một cái giống như túi xách tay kiểu cổ của phụ nữ. Nhưng dù là cái gì đi nữa thì sự thật cũng là tôi định nhảy tới nhặt lên.
Tôi dám chắc không đời nào tôi nhặt lên, nhưng rõ ràng là tôi đã làm cử động khởi đầu. Tôi không làm sao giấu giếm được điều đó, và mặt tôi đỏ bừng như một thằng ngốc. Ông quả thật xảo quyệt, khai thác tức khắc tình trạng để chiếm trọn phần lợi.
- Khỏi phiền ông, để đó tôi.
Ông nói một cách hể hả khi thấy tôi thực sự không định làm công việc đó. Ông nhặt chiếc túi lên, như thể hốt trước tôi, rồi lại gật đầu chào lần nữa trước khi tiếp tục bước đi, để lại tôi đứng đó như một thằng khùng. Có thể nếu tôi có nhặt lên cũng không đến nỗi mất mặt như vậy. Trong khoảng năm phút tôi cảm thấy bị sỉ nhục suốt dời không quên. Nhưng rồi khi tới gần nhà ông Verkhovenxki, tôi bỗng phá lên cười. Cuộc gặp gỡ với con người vĩ đại bỗng làm tôi buồn cười, và tôi chắc ông Verkhovenxki cũng buồn cười khi nghe tôi kể lại câu chuyện. Hơn nữa, tôi còn định diễn lại tấn kịch cho ông vui.
3
Nhưng tôi vô cùng kinh ngạc trước vẻ khác lạ của ông so với mọi ngày. Sự thật, ông cũng vội chạy tới đón tôi một cách nhiệt thành và rồi lắng nghe câu chuyện, nhưng trông ông như mất hồn đến độ tôi không biết ông có nghe thấy tôi nói gì hay không. Tuy nhiên, ngay khi tôi nói tới tên Karmazinov, ông bỗng nổi giận hết lớn, gần sùi cả bọt mép:
- Đừng nhắc tên hắn với tôi! Tôi không muốn nghe một lời nào về hắn hết! Đây, xem này! Đọc đi, đọc đi!
Ông mở ngăn kéo và ném lên mặt bàn ba mảnh giấy viết nguệch ngoạc bằng bút chì, tất cả đều là nét chữ bà Xtavroghina. Tờ thứ nhất viết cách đó hai ngày, tờ thứ nhì mới viết hôm trước, và tờ thứ ba ngay ngày hôm đó, nhận được trước khi tôi tới có một giờ. Cả ba đều nói về một vấn đề không đâu liên quan tới Karmazinov và nỗi lo lắng hiếu danh của bà Xtavroghina sợ Karmazinov có thể quên không tới thăm. Đây là mảnh giấy thứ nhất đề ngày hôm kia, (Biết đâu chẳng còn một mảnh viết từ ba ngày trước, hay một cái nữa từ bốn ngày - ai biết được?):
Nếu cuối cùng hôm, nay hắn tới thăm ông, xin đừng nói gì về tôi cả. Cũng đừng nói bóng gió gì hết. Đừng đề cập tới bất cứ vấn đề gì có thể nhắc hắn nhớ tới tôi - V. S.
Mảnh giấy thứ hai:
Nếu cuối cùng sáng nay hắn quyết định tới thăm ông, tôi nghĩ tốt hơn hết là không tiếp hắn. Tôi nghĩ như vậy, không biết ông nghĩ sao. - V. S.
Và mảnh cuối cùng, đề ngày hôm nay.
Tôi chắc phòng ông hiện chứa cả xe rác và mù mịt khói thuốc lá. Tôi sẽ cho Maria và Fomusca tới dọn, chúng sẽ dọn dẹp phòng trong vòng nửa giờ. Đừng làm vướng chân chúng trong lúc chúng làm việc, hãy tới ngồi yên trong nhà bếp. Tôi sẽ đưa cho ông một tấm thảm Bokhara31 và một cặp bình TrungHoa. Tôi đã định tặng cho ông từ lâu. Tôi cũng sẽ đưa cho ông bức tranh của Tenier32 (tạm thời thôi), mấy cái bình có thể đặt ở bực cửa sổ và tranh của Tenier nên treo dưới bức họa chân dung Goethe - để ở đó dễ thấy hơn và buổi sáng góc đó lúc nào cũng sáng sủa. Nếu hắn có tới, cứ tiếp hắn thật nhã nhặn, nhưng cố nói những chuyện không đâu hay về một đề tài bác học nào đó - và nên có thái độ như mới chỉ xa cách nhau một ngày. Đừng nói một lời nào về tôi. Có thể tôi sẽ ghé thăm ông chiều nay. - V. S.
T. B. Nếu hôm nay hắn vẫn không tới, chẳng bao giờ hắn tới đâu.
Tôi đọc mấy mảnh giấy và hơi ngạc nhiên sao ông lại bận tâm về một chuyện vớ vẩn như vậy. Tôi ngước nhìn ông dò xét và nhận thấy, trong lúc tôi bận đọc thư, ông đã thay chiếc ca vát trắng thường ngày bằng một chiếc đỏ. Chiếc mũ và cây can nằm trên mặt bàn. Trông ông nhợt nhạt, tay run rẩy. Đổ đáp lại cái nhìn dò hỏi của tôi, ông bỗng la lớn, như người điên:
- Tôi không cần biết bà ấy lo lắng cái gì. Tôi cóc cần! Bà ấy lo đủ chuyện để lên mặt với Karmazinov, vậy mà không có thì giờ trả lời mấy cái thư của tôi. Đây này, một cái gửi trả lại ngày hôm qua không buồn mở ra xem. Trên bàn kia kìa, dưới quyển sách đó, quyển Thằng cười33 đó. Bà ấy còn lo cho cậu quí tử nữa hay không đối với tôi không thành vấn đế. Tôi bất cần và tuyên bố tự do! Mặc xác lão Karmazinov. Mặc xác mụ Lembke! Tôi đã cất mấy cái bình vào phòng ngoài, giấu tranh Tenier trong tủ, và yêu cầu bà ấy phải tiếp tôi. Anh nghe tôi nói không, tôi đã yêu cầu. Tôi đã sai Naxtaxia mang đến cho bà ta cũng một mẩu giấy như vậy viết bút chì. Bây giờ tôi đang đợi đây. Tôi muốn nghe chính miệng Dasa nói ra ý muốn của nàng, để cho trời làm chứng - hay ít nhất có anh làm chứng cho tôi. Anh sẽ là người chứng của tôi, anh bạn, anh có chịu không? Tôi không muốn phải xấu hổ về cái gì hết; tôi không muốn nói dối; tôi không muốn có gì mờ ám trong công việc này cả. Tôi muốn được biết mọi chuyện - một cách cởi mở, một cách lương thiện, một cách thẳng thắn. Và tôi còn có thể làm cho cả thế hệ này phải sửng sốt vì cách xử sự của tôi!... Nào, thưa ông, ông còn coi tôi như một kẻ âm mưu xấu xa nữa hay thôi? - Ông vừa nói vừa nhìn tôi chăm chăm, như thể tôi đã nói điều gì như vậy thật.
Tôi đưa cho ông uống một hớp nước. Tôi chưa bao giờ thấy ông trong một tình trạng như vậy. Trong lúc nói, ông vẫn rảo bước trong phòng hết đầu này tới đầu kia. Rồi bỗng ông ngừng lại trước mặt tôi với một thái độ thật kì lạ, nhìn tôi từ đầu tới chân với vẻ thật ngạo mạn rồi nói:
- Anh có thực nghĩ rằng tôi, Xtepan Verkhovenxki này, không thể thu đủ can đảm để khăn gói lên vai - dù khăn gói ăn mày - để bước ra khỏi nơi đây không? Không bao giờ trở lại, nếu như danh dự và sự độc lập của tôi đòi hỏi? Đây sẽ không phải là lần thứ nhất Xtepan Verkhovenxki này có quyết định cao cả chống lại sự độc đoán, dù là sự độc đoán của một người đàn bà điên rồ, sự độc đoán tàn ác nhất, hạ cấp nhất. Tôi chắc anh đang cười vào mũi tôi nhưng tôi vẫn nói. Anh cho tôi không đủ can đảm ra đi để tàn đời dậy dỗ con cái một anh lái buôn, hay chết đói bên cống rãnh phải không? Anh trả lời đi, trả lời tôi ngay đi! Anh có tin tôi hay không?
Nhưng tôi không nói gì. Dù không định làm ông buồn bằng cách trả lời tôi không tin nhưng tôi vẫn không thể cất lời nói tin ông được. Có điều gì trong cơn giận dữ của ông đã làm tôi bất mãn - ồ, không phải vì tính cách cá nhân, không phải! Sau này tôi sẽ giải thích.
Trông mặt ông tái nhợt hơn nữa. Ông bảo tôi, bằng một giọng như bình tĩnh, nhưng là dấu hiệu thường đi trước một cơn bột phát dữ dội:
- Có lẽ ông chán tôi lắm rồi, phải không ông Govorov (đó là họ của tôi). Chắc ông chẳng còn muốn đặt chân tới đây tí nào nữa phải không?
Tôi nhảy dựng lên vì bị chạm nọc. Đúng lúc đó chị Naxtaxia bước vào và trao cho ông Verkhovenxki một mảnh giấy. Ông liếc qua rồi quăng cho tôi. Chỉ có vẻn vẹn hai chữ của bà Xtavroghina bằng bút chì: “Ở nhà”.
Chẳng thốt một lời, ông Verkhovenxki với chiếc mũ và cái can bước ra khỏi phòng. Không suy nghĩ, tôi cũng đi theo. Bỗng có tiếng nói và tiếng bước chân vội vã vang từ hành lang. Ông đứng khựng lại như bị điện giật. Nắm lấy tay tôi, ông thì thầm:
- Liputin,... chết tôi rồi!
Ngay lúc đó Liputin bước vào phòng.
4
Tôi không hiểu sao khi thấy Liputin tới ông lại thất thần như vậy. Thực ra, không quá quan trọng hóa những lời của ông, tôi cho là vì thần kinh ông bị suy nhược. Tuy nhiên, sự kinh hãi của ông thật đáng chú ý và tôi định tâm coi chừng ông cẩn thận.
Sự xuất hiện bất ngờ của Liputin cho thấy hắn có nắm một đặc quyền gì để bước vào nhà, không biết có được tiếp đón hay không. Hắn dẫn theo một người đàn ông lạ mặt, chắc chắn là người mới tới thành phố này. Đáp lại cái nhìn chòng chọc mất hồn của ông Verkhovenxki, hắn lập tức kêu lớn:
- Tôi mang theo một người khách - một người rất đặc biệt - vì thế tôi đánh bạo quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Đây là ông Alecxei Kirillov, một kĩ sư xây cất tài ba. Ngoài ra, ông ấy có quen rất thân với anh Piot’r con trai ông, và có mang theo thư của anh ấy gửi cho ông. Ông ấy cũng vừa tới xong.
Người khách lạ xen vào một cách bất nhã:
- Thư từ gì, anh chỉ thêm thắt thôi. Có thư gì đâu. Nhưng sự thật là tôi có quen anh Piot’r Verkhovenxki và mới gặp anh ấy đúng mười ngày trước đây ở gần Kharkov34.
Ông Verkhovenxki bắt tay họ một cách máy móc và ra dấu cho họ ngồi xuống. Sau đó ông đảo mắt nhìn tôi, rồi nhìn Liputin, và rồi như bỗng hoàn hồn, ông vội ngồi xuống, không để ý tay vẫn còn cầm can và cầm mũ. Liputin lên tiếng:
- Tôi thấy ông sửa soạn đi đâu mà sao nghe nói ông bận việc đến phát ốm cơ mà.
Ông Verkhovenxki quăng chiếc mũ và cái can lên ghế, đỏ mặt trả lời:
- Đúng, tôi bị ốm, tôi định ra ngoài một lúc cho khỏe.
Trong lúc đó, tôi để ý nhìn người khách. Anh ta còn trẻ lắm, khoảng hăm bảy gì đó, ăn mặc lịch sự, gầy và rắn rỏi. Tóc đen, nước da nhợt, trông như sỉn sỉn, cặp mắt đen không có vẻ tinh anh. Anh ta như nghĩ đâu đâu và đãng trí, ăn nói nhát gừng và có vẻ bất chấp văn phạm chữ xếp đặt một cách quái dị và hỗn độn khi phải nói những câu dài.
Liputin đã nhận thấy sự sợ sệt gây ra cho ông Verkhovenxki và vui vẻ ra mặt. Hắn kéo chiếc ghế mây ra tận giữa phòng để ngồi giữa ông Verkhovenxki và viên kĩ sư, đang ngồi trên hai chiếc ghế dài người đầu người cuối phòng.
Ông Verkhovenxki lầm thầm một cách lúng túng:
- Đã lâu tôi không được gặp Piot’r, chắc anh gặp ở nước ngoài?
- Tôi biết anh ấy ở đây và cả ở nước ngoài nữa.
Liputin xen vào:
- Ông Kirillov đây ở nước ngoài bốn năm vừa mới về. Ông ấy đi du học thêm về chuyên môn và hi vọng giữ một chức vụ ở đây để xây cất cầu xe lửa, hiện đang đợi trả lời đơn xin việc. Ông ấy có biết bà Drozdova và cô con gái Elizaveta qua sự giới thiệu của anh Piot’r.
Viên kĩ sư cứng người ngồi nghe với vẻ bồn chồn khó chịu. Hình như anh ta có điều gì giận dữ.
Liputin nói thêm:
- Ông ấy cũng quen Nicolai Xtavroghin nữa.
Ông Verkhovenxki hỏi lại:
- Thế ra anh cũng quen Xtavroghin à?
- Tôi có quen anh ta.
- Tôi..., đã lâu lắm tôi không được gặp con trai tôi..., tôi cảm thấy không xứng đáng làm cha nó tí nào... phải, đúng như vậy. Anh làm ơn cho tôi biết bây giờ nó ra sao? Sao anh về mà nó còn ở lại?
Kirillov một lần nữa lại trả lời sống sượng. Anh ta có vẻ giận dữ thật sự:
- Phải, tôi về còn thì không biết gì cả. Anh ấy sẽ thu xếp về đây một mình.
- Thì ra nó sắp về đây! Cuối cùng tôi..., anh biết không, tôi không được gặp nó từ lâu lắm rồi. Thật là lâu quá.
Tới đây ông Verkhovenxki càng sa lầy trong lời lẽ của mình:
- Vậy là bây giờ tôi đang chờ đứa con yêu quí của tôi đây, đứa con mà trước mặt nó cảm thấy thật có tội! Nghĩa là, tôi muốn nói, khi bỏ mặc nó ở Petersburg, tôi..., nói tóm lại, tôi chẳng nghĩ gì đến nó cả, hay cũng gần như vậy. Anh biết không, khi còn nhỏ nó là một đứa rất nhạy cảm và rất... nhút nhát. Khi đi ngủ nó quì đọc kinh và làm dấu thánh giá trên gối. Nó tin nếu không làm vậy đến đêm có thể chết. Tôi còn nhớ chuyện đó. Sau hết, nó là người không có một quan niệm thẩm mĩ nào, không có một cảm nghĩ nào về những điều cao siêu, về bất cứ cái gì phổ quát; không có một mầm mống về một tư tưởng vĩ đại nào cho tương lai..., nó như một đứa trẻ đần độn. Nhưng thôi, tôi nói lôi thôi quá. Anh thứ lỗi cho..., anh đã thấy tâm thần tôi đang...
Viên kĩ sư bất ngờ chú ý câu chuyện và hỏi:
- Ông, có thật là anh ấy làm dấu thánh giá trên gối không?
- Thật chứ, nó đã làm như vậy.
- Lạ nhỉ. Ông cứ nói tiếp đi. Tôi hỏi thế thôi.
Ông Verkhovenxki nhìn Liputin dò xét:
- Tôi rất cảm ơn các anh đã đến thăm tôi, nhưng tôi phải thú thật, lúc này tôi không thể... Tuy nhiên, xin anh cho tôi biết hiện nay anh đang ở đâu?
- Ở nhà Filippov, đường Chúa Giáng sinh.
Tôi buột miệng lên tiếng:
- Ủa, Satov cũng ở đó.
Liputin reo lên:
- Đúng, cùng một nhà, nhưng Satov ở gác xép trên lầu, còn ông Kirillov ở phòng đại úy Lebiadkin duới nhà. Nhưng ông ấy biết Satov và cả vợ hắn nữa. Hồi ở nước ngoài, ông ấy rất thân với bà vợ hắn.
Ông Verkhovenxki có vẻ bị lôi cuốn:
- Thật à? Thế anh có biết gì về cuộc hôn nhân không may của người bạn xấu số này với người đàn bà đó không? Anh là người đầu tiên tôi gặp có quen riêng với bà ta, và nếu...
Kirillov mặt đỏ bừng ngắt lời:
- Tầm bậy! Sao cái gì anh cũng xuyên tạc thế hả Liputin? Tôi gặp vợ Satov bao giờ mà nhiều. Sự thật tôi chỉ gặp có một lần. Mà có trông gần gì cho cam. Satov thì tôi biết. Sao cái gì anh cũng thêm thắt như vậy hả?
Anh ta quay ngoắt người lại trên chiếc ghế dài, chộp lấy mũ, rồi lại ném xuống và ngồi ngay lại như cũ, chiếu đôi mắt đen một cách thách thức về phía ông Verkhovenxki. Tôi không hiểu nổi điều gì làm cho anh ta giận dữ đến như vậy.
Ông Verkhovenxki nói một cách long trọng.
- Xin lỗi anh. Tôi hiểu đó là một vấn đề tế nhị.
- Không có gì tế nhị cả, đây chỉ là một sự bẩn thỉu đáng xấu hổ. Và khi tôi nói “tầm bậy” không phải tôi nói ông mà là nói Liputin vì hắn cứ bịa chuyện. Tôi xin lỗi nếu ông tưởng tôi nói ông. Tôi biết Satov nhưng tôi không quen vợ anh ta. Tôi không biết gì về bà ta hết!
- Tôi hiểu. Tôi hiểu. Nhưng ông bạn nóng tính của tôi ơi nếu tôi nhấn mạnh, chỉ vì tôi quá thương người bạn xấu số của tôi, và lúc nào cũng lưu tâm đến anh ta. Tôi có cảm tưởng hắn đã thay đổi những quan niệm xưa, những quan niệm có thể chưa được chín chắn nhưng xác đáng, tuy hơi quá cấp tiến. Và cái cách hắn luôn miệng nói tới nước Nga thiêng liêng như bây giờ - một sự có thể gọi là đảo lộn căn cốt như vậy tất phải do một biến chuyển dữ dội trong đời sống bản thân của hắn, nghĩa là do cuộc hôn nhân không may của hắn. Tôi, kẻ đã nghiên cứu cái nước Nga khôn khổ thân yêu của tôi và hiểu rõ như lòng bàn tay, kẻ đã dành cả cuộc đời để phụng sự cho dân tộc Nga, tôi quả quyết rằng hắn không biết gì về quần chúng Nga. Hơn nữa...
Kirillov nóng nẩy ngắt ngang và lại vặn mình ồn ào trên ghế, làm ông Verkhovenxki phải ngừng giữa câu, miệng còn đang há hốc.
- Còn tôi, tôi không biết gì về dân tộc Nga hay quần chúng cả, và tôi cũng không có thì giờ để nghiên cứu.
Liputin xen vào:
- Có, ông ấy có nghiên cứu! Ông Kirillov hiện đang thực hiện một cuộc nghiên cứu lí thú về nguyên nhân gia tăng những vụ tự tử ở Nga và, nói một cách tổng quát, nguyên nhân tăng giảm những vụ tự tử trong một xã hội. Theo chỗ tôi biết, ông ấy đã đi tới những kết luận đáng chú ý.
Kirillov có vẻ tức giận kinh khủng và phẫn nộ gằn giọng:
- Anh không có quyền... Đó có phải nghiên cứu gì đâu. Tôi không thèm lo chuyện không đâu. Trong lúc tâm sự tôi đã hỏi anh hoàn toàn do tình cờ. Đó không phải là một cuộc nghiên cứu để viết sách. Anh không có quyền.
Liputin trông vui thích ra mặt.
- Xin lỗi. Như vậy là tôi nhầm khi gọi công trình văn học của anh là cuộc nghiên cứu. Ông Kirillov chỉ thu nhặt những nhận xét, còn bản chất của vấn đề, hay ta có thể nói, khía cạnh luân lí của nó, ông không mó tới. Thực vậy, ông phủ nhận những cái gọi là luân lí và bênh vực nguyên tắc mới nhất - nguyên tắc hủy diệt toàn diện, nhân danh lợi ích tối hậu. Ông Kirillov đòi hỏi hi sinh trên một trăm triệu cái đầu để mang lại lương tri cho Âu châu, vượt xa con số đề nghị tại Hội nghị hòa bình mới đây. Như vậy Alecxei Kirillov đi trước tất cả mọi người.
Kirillov nghe với một nụ cười thoáng khinh miệt. Sau lời bình phẩm của Liputin, mọi người rơi vào sự im lặng trong vòng nửa phút.
Cuối cùng Kirillov nói với một vẻ trang nghiêm:
- Những gì anh vừa nói đều ngu xuẩn. Anh vớ được vài điều tôi đã vô tình nói ra khi có anh ở đó và bóp méo theo ý anh. Nhưng anh không có quyền, bởi vì tôi không bao giờ nói những điều như vậy. Tôi không ưa nói nhiều. Nếu tôi thấy những lí do xác đáng, tôi chấp nhận ngay... Anh xử sự thật xuẩn động. Tôi không muốn cãi lí về những điểm đó, chúng đã được giải quyết xong rồi. Tôi ghét lí luận. Tôi không bao giờ muốn lí luận...
Ông Verkhovenxki không dằn được xen vào:
- Có thể như thế anh mới thật khôn ngoan.
- Tôi xin lỗi ông. Tôi không cãi cọ với bất cứ ai có mặt ở đây. Bốn năm nay tôi ít gặp ai. Bốn năm nay tôi nói rất ít và tránh tất cả mọi người vì một chủ đích riêng không liên quan đến ai. Bây giờ Liputin khám phá chủ đích đó và lấy làm lí thú. Tôi hiểu nhưng tôi không cần. Tôi không bất mãn. Tôi chỉ khó chịu trước sự đùa giỡn của hắn mà thôi. Bây giờ, nếu tôi không tự giải thích, tôi cũng không muốn ông cớ ý nghĩ rằng bởi vì tôi sợ ông có thể báo cáo với nhà cầm quyền. Không, ông làm ơn đừng nghĩ vậy, nghĩ vậy là bậy.
Không thấy ai trả lời. Chúng tôi chỉ đưa mắt nhìn nhau. Cả Liputin cũng quên cười cợt.
Ông Verkhovenxki dứt khoát đứng dậy khỏi ghế. Ông nói:
- Thưa quí vị, tôi rất lấy làm tiếc. Nhưng tôi không được khỏe và hơi khó chịu. Xin quí vị tha lỗi cho.
Kirillov với lấy chiếc mũ và nói:
- Vâng, ông muốn chúng tôi đi. Cám ơn ông đã nhắc nhở, tôi thật vô ý quá.
Anh ta đứng dậy và với một nét mặt vui vẻ, đi tới ông Verkhovenxki đưa thẳng tay ra bắt.
- Rất tiếc ông không được khỏe, và tôi đã tới đây.
Ông Verkhovenxki bắt tay anh ta một cách thân mật và không có vẻ gì vội vàng.
- Chúc anh mọi thành công khi trở về đây. Tôi thông cảm, theo như lời anh nói, vì đã ở nước ngoài trong bốn năm và tránh mọi người vì lí do riêng, cho nên anh đã quên nước Nga. Anh không khỏi nhìn những người Nga ở nước nhà như chúng tôi với một chút ngạc nhiên - cũng như chúng tôi không khỏi nhìn anh như vậy. Nhưng rồi cũng qua đi. Có một điểm tôi vẫn thắc mắc: anh định xây cầu xe lửa cho chúng tôi, nhưng đồng thời anh lại chủ trương nguyên tắc hủy diệt toàn diện. Họ sẽ không để cho anh xây cầu đâu.
- Sao? Ông nói sao? À, như thế mới là hay nhất trần đời chứ!
Kirillov có vẻ sửng sốt và bỗng phá lên cười ròn vui vẻ. Trong một lúc, vẻ mặt anh ta hoàn toàn trẻ con, và tôi nghĩ đó mới thật thích hợp với anh. Liputin xoa tay khoái chí trước nhận xét hóm hỉnh của ông Verkhovenxki. Về phần tôi, tôi vẫn không hiểu tại sao ông Verkhovenxki lại kinh sợ như vậy khi gặp Liputin và tại sao ông lại than “chết rồi”.
5
Chúng tôi đứng cả trên ngưỡng cửa. Đó là lúc chủ khách trao đổi những lời thân mật cuối cùng và rồi chia tay vui vẻ. Ra khỏi phòng, Liputin bỗng buông lời:
- Chẳng qua chỉ vì hôm nay ông Kirillov bị buồn bực trong người. Ông ấy mới có chuyện rầy rà với đại úy Lebiadkin về cô em gái của ông ta. Ông đại úy đánh cái cô em gái khờ khạo chân chất đó bằng một cái roi Cozac35 thứ thật. Ngày hai trận, cứ sáng một trận chiều một trận. Vì thế ông Kirillov đã dọn ra một cái lều nhỏ ngoài vườn để tránh mặt. Thôi, xin kiếu.
Ông Verkhovenxki bỗng nhảy nhổm như thế chính mình mới bị quất một roi.
- Sao, em gái ông ấy hả? Đánh bằng roi hả? Có phải cái cô có bệnh đó không? Mà em gái nào? Lebiadkin nào?
Ông lại hoảng hốt trở lại.
- Lebiadkin, ông đại úy về hưu ấy mà - mặc dù có lần ông ấy chỉ nhận là trung úy hồi hưu...
- Tôi để ý đến cấp bậc của ông ta làm gì. Tôi hỏi em gái ai. Trời, có thật anh nói Lebiadkin không? Nhưng có mỗi một Lebiadkin ở đây...
- Đúng, ông ấy chứ ai. Ở nhà Virghinxki đó, ông nhớ không?
- Nhưng hắn đã bị bắt vì xài bạc giả rồi, đúng không?
- Đúng, nhưng ông ấy đã được về ba tuần nay rồi. Và sự xuất hiện trở lại của ông ấy có cái gì đặc biệt.
- Ồ, xá gì một kẻ vô lại như hắn!
Liputin bỗng nhếch mép cười nhìn ông Verkhovenxki, đảo điên cặp mắt ti hí nham hiểm cố hữu.
- Sao, ông tưởng trong đám chúng ta không có kẻ vô lại nào hay sao?
- À không, tôi không định nói vậy, tuy nhiên, tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Nhưng anh định ám chỉ điều gì khi mang chuyện đó ra nói? Tôi chắc anh định ám chỉ điều gì.
- Không, cũng chẳng có gì. Tôi có thể nói cho ông biết rằng Lebiadkin đã biệt tích không phải vì vụ bạc giả như chúng ta tưởng đâu. Thực ra hắn đi tìm cô em gái hình như lúc đó đang trốn tránh hắn. Thế rồi hắn tìm thấy cô ta và mang trở về, đó là sự thực câu chuyện. Nhưng sao ông có vẻ kinh hãi thế, ông Verkhovenxki? Tôi chỉ nhắc lại những gì hắn nói khi say rượu; lúc tỉnh táo chẳng đời nào hắn đả động tới những chuyện đó. Hắn là một người dễ nổi giận và có thể nói có đầu óc thẩm mĩ của nhà binh - phải cái không ra gì mà thôi. Về em gái hắn, không những đã điên điên mà còn khập khiễng nữa. Ngày xưa đã có lần cô ấy bị dụ dỗ đi, từ đó đại úy Lebiadkin nhận được đều đều tiền bồi thường cái danh dự bị tổn thương của ông ta do kẻ dụ dỗ trả. Ít nhất đó là những điều hắn rêu rao lúc say sưa, nhưng tôi tin rằng hắn chỉ khoác lác mà thôi. Theo tôi biết, một chuyện loại đó thường được dàn xếp rẻ hơn nhiều. Nhưng đúng là hắn được một món tiền lớn bất ngờ. Vài tuần trước hắn còn đi lang thang, quần áo tả tơi, mới đây tôi đã thấy hắn nắm một cọc giấy toàn tiền trăm trong tay. Hiện ngày nào em gái hắn cũng như nổi cơn điên, la hét om sòm và hắn phải khép cô nàng vào khuôn phép bằng ngọn roi ngựa. Hắn phân bua là phải dậy đàn bà vâng lời. Như thế mà không hiểu sao Satov vẫn ở ngay tầng trên được. Ông Kirillov đây không thể chịu đựng được quá ba ngày. Dù quen biết họ từ khi ở Petersburg, bây giờ ông ấy cũng phải dọn ra cái lều để xa lánh:
Ông Verkhovenxki thắc mắc:
- Tất cả những chuyện đó có thật không?
Kirillov rít lên giận dữ, vừa quay sang Liputin:
- Anh nói nhiều quá lắm.
Ông Verkhovenxki bật kêu lên:
- Thật bí ẩn và bí mật! Sao đùng một cái lại lắm chuyện bí mật như vậy?
Kirillov cau mày, đỏ mặt, nhún vai và dợm bước đi.
Liputin nói thêm:
- Ông Kirillov còn giật chiếc roi khỏi tay ông đại úy, bẻ đi rồi ném ra ngoài cửa sổ. Và hai người cãi nhau một trận kịch liệt.
Kirillov quay ngoắt người lại:
- Sao anh cứ lắm điều thế hả Liputin? Thật là chuyện vớ vẩn.
- Việc gì phải khiêm nhưỡng vă giấu giếm một hành động cao thượng. Tôi muốn nói hành động cao thượng của anh, dĩ nhiên, bởi vì không phải tôi đang nói về tôi.
- Chuyện tào lao và không cần thiết. Lebiadkin ngu ngốc, đầu óc rỗng tuếch, và hoàn toàn vô dụng cho phong trào, hắn còn tai hại là khác. Tại sao anh cứ bô bô mọi chuyện như vậy? Tôi đi đây.
Liputin kêu lên kèm theo một nụ cười ra vẻ thánh thiện:
- Rõ khổ chưa! Thôi để tôi kể cho ông Verkhovenxki nghe một chuyện khác vậy, chắc sẽ làm ông bật cười. Thật ra, tôi tới đây mục đích để kể cho ông nghe chuyện đó, mặc dù tôi chắc ông cũng đã được nghe rồi. Mà thôi, để khi khác đi. Ông Kirillov có vẻ vội đi lắm rồi, thôi... xin từ giã. Chuyện về bà Xtavroghina ấy mà. Hôm kia bà ấy làm tôi cười quá. Chính bà ấy mời tôi tới. Chuyện thật buồn cười. Thôi, xin từ giã.
Nhưng nghe đến đây ông Verkhovenxki vồ lấy vai hắn đẩy trở vào phòng và ấn hắn xuống ghế. Liputin hơi hoảng. Hắn thủ thế ngước nhìn ông Verkhovenxki và lên tiếng:
- Sao, có gì đâu, bà ấy bất ngờ gọi tôi tới và hỏi riêng tôi xem theo ý tôi, con trai bà ấy là Nicolai có mất trí không. Ông thấy có lạ không?
Ông Verkhovenxki gằn giọng và rồi bỗng nổi khùng:
- Có anh mới mất trí thì có! Liputin, tôi biết lắm, tôi biết anh tới đây là để nói một chuyện đại loại bẩn thỉu như vậy... thậm chí còn tồi tệ hơn.
Tôi chợt lóe lên một điều là Liputin biết nhiều về công việc của chúng tôi và còn biết nhiều hơn chúng tôi nữa.
Liputin lẩm bẩm, trông có vẻ rất kinh hãi:
- Nhưng mà, ông Verkhovenxki, tôi, tôi có nói gì...
- Anh im đi! Và bây giờ anh bắt đầu nói đi. Anh Kirillov, xin anh, tôi xin anh trở lại và chứng kiến mọi chuyện. Xin anh, tôi nhắc lại. Xin anh ngồi xuống đây. Còn anh, Liputin, tôi muốn anh cứ nói thẳng ra, đừng có quanh co.
- Nếu biết ông phản ứng như vậy tôi đã chẳng nói. Mặc dù tôi đã tưởng ông được bà Xtavroghina nói cho biết hết rồi.
- Không tưởng gì hết, tôi bảo anh nói thẳng vào vấn đề, nói đi.
- Được rồi, nhưng ông làm ơn ngồi xuống đi. Tôi cảm thấy ngượng khi ngồi đây mà ông cứ đi quanh phòng mãi thế kia. Trông thật là không phải.
Ông Verkhovenxki có vẻ muốn nổi khùng lần nữa, nhưng ông tự kiềm chế được và chậm chạp ngồi xuống một chiếc ghế bành. Kirillov nhìn chằm chằm xuống chân một cách buồn rầu. Liputin nhìn mọi người và có vẻ khoái chí ra mặt.
- Được rồi, nào thì nói... nhưng ông làm tôi rối cả trí. Ông biết không...
6
Liputin bắt đầu kể:
- Bỗng nhiên, hai hôm trước bà ấy cho người làm tới nhà tôi báo tin bà ấy muốn gặp tôi vào 12 giờ ngày hôm sau. Thế là hôm sau - nghĩa là hôm qua, tôi bỏ hết công việc và đúng giữa trưa đến gõ cửa nhà bà ấy. Tôi được dẫn thẳng vào phòng khách và không đầy một phút sau bà ấy bước vào. Bà ấy ngồi xuống và mời tôi ngồi đối diện. Tôi ngồi đó mà không thể tin là sự thật, bởi vì như ông biết bà ấy thường ngày đối xử với tôi như thế nào và rồi bà ấy đi thẳng vào vấn đề, không cần quanh co như thường lệ.
“Anh hẳn nhớ rằng khoảng bốn năm trước, con tôi, lúc đó trong người bất an, đã làm vài chuyện kì quặc làm mọi người ngạc nhiên, cho tới khi lí do được giải thích. Một trong những hành động kì lạ của nó có liên quan đến anh. Sau đó, khi đã bình phục, do tôi thúc giục, con tôi đã tới gặp anh. Tôi cũng biết rằng nó đã nói chuyện với anh trước rồi. Bây giờ anh hãy nói cho tôi biết một cách thẳng thắn và thành thật, (tới đây bà ấy hơi ngập ngừng) khi đó anh... anh thấy nó thế nào? Và nói chung, anh nghĩ gì về nó?... Khi đó anh nghĩ về nó như thế nào, và bây giờ như thế nào?”
Bà ấy ngừng lại có lẽ tới một phút và bỗng đỏ mặt. Tôi thấy sợ. Và rồi bà ấy tiếp tục nói với một giọng xúc động, không, tiếng ấy không hợp với bà ấy chút nào - với một giọng trịnh trọng thì đúng hơn:
“Tôi muốn anh hãy nghe một cách rất cẩn thận. Tôi cho mời anh tới bởi vì tôi nghĩ anh là một người thông minh và có óc nhận xét, có thể nhận thức đúng đắn sự việc xảy ra. (Thật quá khen!) Dĩ nhiên anh phải nhớ rằng anh đang nói chuyện với một người mẹ. Con tôi đã phải trải qua nhiều biến cố trong đời và đã phải chịu vài vố nặng. Tất cả có thể đã ảnh hưởng tới tâm trí của nó. Dĩ nhiên tôi không ám chỉ là nó có thể bị mất trí, điều đó không thể có được! (Giọng bà ấy thật chắc nịch và kiêu hãnh). Nhưng có thể là một cái gì kì lạ, một biến chuyển dị thường về tư tưởng, một khuynh hướng về một số quan điểm nào đó... (Vâng, đó là nguyên văn những lời bà ấy nói, ông Verkhovenxki ạ, tôi khâm phục cách nói khôn ngoan của bà ấy. Thật là một người đàn bà thông minh!) Ngay tôi, tôi cũng nhận thấy lúc nào nó cũng căng thẳng tột độ và khí chất bất thường. Nhưng tôi là mẹ nó... Anh là người ngoài nên anh có thể có một nhận xét về nó khách quan hơn nhiều. Tôi khẩn cầu anh, (nguyên văn lời bà ấy), anh nói cho tôi biết tất cả sự thật, không cần phải giữ ý gì với tôi cả. Ngoài ra, nếu anh luôn luôn nhớ rằng cuộc nói chuyện hôm nay hoàn toàn bí mật, tôi sẽ mang ơn anh suốt đời và lúc nào tôi cũng mong có dịp tỏ lòng biết ơn của tôi”. Sao, ông thấy thế nào?
Ông Verkhovenxki nói nhỏ:
- Tôi hả, tôi ngạc nhiên đến nỗi... đến nỗi tôi không tin nổi những lời anh nói.
Liputin tiếp tục, như không nghe ông Verkhovenxki nói gì:
- Ông có thể tưởng tượng một người như tôi cảm thấy xúc động như thế nào khi được một người cao trọng quyền thế hỏi như vậy. Ngoài ra còn được yêu cầu giữ bí mật nữa. Phải chăng có gì bất thường xảy ra cho Nicolai Xtavroghin?
Ông Verkhovenxki nói nhỏ, rõ ràng là không kiểm soát được tư tưởng:
- Tôi không biết gì cả... Tôi không được gặp bà Xtavroghina từ mấy ngày nay rồi, nhưng tôi muốn nói với anh một điều, Liputin ạ, anh đã được kể một chuyện bí mật và nay anh lại nói ra trước mọi người.
- Tuyệt đối bí mật! Trời đánh tôi chết nếu..., nhưng dĩ nhiên nới chuyện giữa chúng ta thì không sao. Ở đây không có ai là người lạ cả. Ngay ông Kirillov cũng không phải là người lạ. Ông ấy...
- Ồ, tôi chắc ba người ở đây rất kín đáo. Nhưng tôi sợ người thứ tư là anh, tôi không tin nổi anh điều gì.
- Ông nói thế là làm sao? Tôi rất mong muốn giữ bí mật bởi vì sự biết ơn của bà ấy tùy thuộc vào sự kín đáo của tôi. Nhưng tôi sắp nói tới một ngẫu nhiên kì lạ liên hệ với chuyện đó, nói là khác thường về tâm lí thì đúng hơn là kì lạ. Tối hôm qua, lúc còn bị ám ảnh vì cuộc nói chuyện với bà Xtavroghina, chắc ông cũng nghĩ là tôi bị ám ảnh thực sự, tôi hỏi ông Kirillov như sau:
“Anh từng quen Nicolai Xtavroghin ở đây và ở cả nước ngoài, anh nghĩ gì về hắn? Nghĩa là đầu óc và khả năng của hắn?” Vâng, ông Kirillov đây trả lời bằng một giọng vắn tắt thường lệ và nói Xtavroghin rất thông minh và sáng suốt. Rồi tôi hỏi ông ta là có khi nào ông ta nhận thấy Xtavroghin hơi khùng hay nhìn đời bằng một con mắt lạ thường không - nghĩa là có thể là thác loạn được không. Ông thấy đó, tôi chỉ lập lại câu hỏi mà bà Xtavroghina đã hỏi tôi. Vâng, ông Kirillov đã cau mày, đúng như ông ấy đang cau mày bây giờ, suy nghĩ một giây rồi trả lời có, có những chuyện về Xtavroghin làm ông ấy thấy kì dị. Xin ông chú ý một điểm là nếu ông Kirillov thấy điều gì kì dị, điều đó ắt phải kì dị thật.
Ông Verkhovenxki quay sang Kirillov hỏi:
- Điều đó có thật không?
Kirillov bỗng ngẩng đầu lên trả lồi, cặp mắt sáng rực:
- Tôi không ưa nói về chuyện đó. Liputin, tôi nghĩ anh không có quyền, anh không có quyền đưa tôi vào câu chuyện. Tôi không bao giờ bày tỏ hoàn toàn quan điểm của tôi. Tôi có quen anh ta ở Petersburg nhưng đã lâu lắm rồi, và bây giờ, mặc dù tôi có gặp lại anh ta nhưng tôi biết rất ít về anh ta. Anh làm ơn để tôi ra ngoài. Tôi không ưa chuyện ngồi lê đôi mách.
Liputin dang hai tay như chứng tỏ sự vô tội của mình.
Thế tôi là kẻ ngồi lê đôi mách à? Sao anh không nói hẳn ra tôi là một tên do thám luôn? Anh chỉ trích tôi thì dễ lắm Kirillov ạ, bởi vì lúc nào anh cũng đứng ngoài mọi chuyện. Ông có thể không tin tôi, thưa ông Verkhovenxki, cả đại úy Lebiadkin cũng vậy. Con người có vẻ ngu ngốc chưa từng có như ông ta, thế mà ông ta cũng tự coi là một nạn nhân của Xtavroghin, mặc dù ông ta rất khâm phục trí thông minh của con người quí phái đó. Ông ta đã nói với tôi: “Sự khôn ngoan của anh ta làm tôi sửng sốt. Anh ta là một con rắn tinh khôn”. Đó chính là những lời của Lebiadkin. Cho nên hôm qua, lúc vẫn còn âm hưởng của cuộc đối thoại, tôi tới gặp hắn để hỏi quan điểm của hắn (sau khi đã nói chuyện với ông Kirillov). Tôi hỏi: “Thưa đại úy, đại úy nghĩ gì về con rắn tinh khôn đó, nó sáng suốt hay điên khùng?” Hắn như bị ai quất cho một roi vào lưng, hắn nhảy dựng lên và tuyên bố: “Đúng, đúng..., nhưng có điều không ảnh hưởng...” Hắn không nói ảnh hưởng ra sao hay giải thích rõ hơn. Rồi hắn trầm ngâm suy nghĩ, đúng vậy, hắn suy nghĩ đến độ tỉnh cả rượu. Lúc đó chúng tôi đang ngồi ở quán của Filippov. Phải mất chừng nửa giờ hắn mới sực tỉnh, hắn nắm tay đập lên bàn và kêu lên: “Đúng, chắc chắn nó khùng! Nhưng điều đó không thể ảnh hưởng...” - và lại không nói là ảnh hưởng tới cái gì. Tất nhiên tôi chỉ truyền đạt lại tinh thần của câu chuyện, ý tứ của nó thì rõ rồi. Bây giờ có hỏi ai, mọi người đều có một ý nghĩ, mặc dù trước đó chẳng ai nghĩ như vậy cả: “Vâng, nghe nói hắn điên, rất thông minh, nhưng theo tôi hắn hơi điên”.
Ông Verkhoyenxki hình như đang cố hình dung điều gì.
- Thế sao Lebiadkin lại biết?
- Có lẽ ông Kirillov, người đã gọi tôi là tên do thám, có thể nói cho ông biết. Không biết tôi có phải là một kẻ do thám hay không, nhưng tôi chắc ông Kirillov biết tất cả về chuyện đó, có điều ông ấy không nói ra mà thôi.
Kirillov giận dữ nói:
- Tôi không biết gì cả, nếu có thì cũng rất ít. Anh cứ chuốc rượu cho Lebiadkin mà hỏi việc gì. Anh phải lôi kéo tôi tới đây để dò hỏi, để làm tôi phải nói. Anh là một kẻ do thám chứ còn gì nữa.
- Tôi không hề trả tiền rượu cho hắn. Hắn không đáng đồng tiền tôi bỏ ra, dù tôi cho những bí mật đó đáng giá tới đâu đi nữa. Bây giờ chính hắn mới là kẻ vung tiền ra; mới chỉ mười hai ngày trước hắn còn phải vay của tôi mười lăm copec36, bây giờ hắn có tiền trả sâm banh. Anh biết không, hắn chứ không phải tôi! Nhưng anh đã giúp tôi một ý kiến hay, có dịp tôi sẽ làm hắn say và moi được vô khối bí mật, cả những bí mật nho nhỏ của anh nữa ấy, - Liputin giận dữ trả đũa.
Ông Verkhovenxki lấy làm lạ lùng nhìn hai người. Họ có vẻ không nề hà tố cáo lẫn nhau trước mặt chứng tôi. Tôi đoán Liputin đã đưa Kirillov tới bởi vì hắn muốn kéo anh ta vào một cuộc đối thoại với người thứ ba. Đó là một mánh khóe sở trường của hắn.
Hắn lại tiếp tục một cách khiêu khích:
- Ông Kirillov biết Nicolai Xtavroghin rất rõ. Nhưng ông ấy muốn giấu sự thật. Còn đối với đại úy Lebiadkin, ông ấy còn gặp Xtavroghin sớm hơn, khoảng năm hay sáu năm về trước, trong thời gian chúng ta có thể gọi là thời kì mờ ám trong đời Xtavroghin, trước khi anh ta dành cho chúng ta cái vinh dự là tới đây. Ông hoàng của chúng ta hình như có một mớ bạn bè khá kì lạ ở Petersburg. Tôi tin rằng anh ta gặp ông Kirillov cũng ở đó.
- Anh hãy thân trọng Liputin ạ. Xtavroghin cũng sắp về đây, và anh ta biết cách thủ thân lắm.
-Việc gì tôi phải lơ. Tôi sẽ là người đầu tiên nói anh ta là một người thông minh lỗi lạc nhất, bén nhạy nhất. Đó là những điều hôm qua tôi đã nói với mẹ anh ta để cho bà ta yên tâm. Tôi đã nói thêm: “Nhưng dĩ nhiên, tôi không thể bảo đảm về tính tình của anh ấy”. Hôm qua Lebiadkin cũng nói với tôi là hắn đã khổ vì tính nết của Xtavroghin. Mà này, ông Verkhovenxki, sao ông có thể buộc tội tôi là thóc mách và dò xét khi chính ông chủ tâm tìm mọi cách khai thác tin tức của tôi và tò mò quá như vậy? Bà Xtavroghina còn đi ngay vào vấn đề và nói với tôi: “Tôi hỏi anh, bởi vì anh liên quan trực tiếp với một vụ đáng tiếc”. Ông nỡ nào nghi ngờ tôi âm mưu trong khi tôi phải ngậm bồ hòn làm ngọt trước mặt bạn bè của tôi vì thái độ kẻ cả của anh ta? Sau chuyện đó, tôi cho là tôi có quyền lưu tâm đến anh ta chứ không hẳn tôi là một kẻ thóc mách. Hôm nay anh ta bắt tay ông và hôm sau, trong lúc ông bày tỏ sự thân thiện, anh ta vả vào mặt ông trước mặt mọi người, chỉ vì anh ta bốc đồng cảm thấy thích như vậy. Nguyên do chỉ vì no cơm ấm cật mà vô công rồi nghề! Thế mà khi có mặt một người đẹp, những kẻ quyến rũ đàn bà ma quái này, những địa chủ giầu này, họ như ong bướm, rập rìu. Ông Verkhovenxki ạ, ông là người độc thân chai đá rồi, ông gọi tôi là một kẻ thóc mách thì dễ lắm, bởi vì tôi động chạm đến sự tôn quí của anh ta. Nhưng nếu ông lấy một người vợ trẻ đẹp - như ông biết rõ, ông còn đẹp trai lắm - ông sẽ khóa cửa suốt ngày và còn xây tường quanh nhà để ông hoàng của chúng ta không vào được. Tôi dám chắc nếu nàng Lebiadkina, người hàng ngày bị ông anh dùng roi quật, không điên khùng và đi khập khiễng, cũng đã được ông tướng chú ý và sẽ giải thích được tại sao “danh dự gia đình” của Lebiadkin lại bị tổn thương, như vị đại úy thường rêu rao. Chỉ có điều khẩu vị của họ khác nhau mà đối với họ điều đó cũng chẳng phải tai họa gì. Anh ta coi như một việc bẻ đào hái mận, tùy vào giây phút bốc đồng. Làm sao ông có thể buộc tội tôi là ngồi lê đối mách! Cả thành phố đang xôn xao không cần đợi tôi phải tung lời đồn đại. Tôi chỉ đồng ý với những gì họ đang nói về anh ta, đồng ý thì có lỗi gì không?
- Cả thành phố đang xôn xao? Xôn xao cái gì?
- Phải, tôi muốn nói lúc say sưa, đại úy Lebiadkin la lên cho cả thành phố nghe: Tôi thấy cũng không khác gì mấy. Vậy thì tôi đã làm gì hại không? Tôi chỉ nói chuyện đó giữa bạn bè, bởi vì, dù ông nói sao chăng nữa, tôi cũng tự coi như giữa bạn bè ở đây.
Liputin nhìn từng người chúng tôi ra vẻ thật thà rồi nói tiếp:
- Và bây giờ, xin quí vị hãy nghe chuyện này: tôi đã nghe nói từ Thụy Sĩ, quí ngài ấy đã gửi cho Lebiadkin ba trăm rúp qua tay một thiếu nữ rất trẻ và đáng kính - hơn nữa, tình cờ tôi biết đó là một thiếu nữ mồ côi. Tuy nhiên, sau đó, Lebiadkin được một người khả kính, xin phép tôi không nói tên, cho biết món tiền gửi không phải ba trăm mà là một ngàn rúp. Cho nên bây giờ Lebiadkin đi đâu cũng rêu rao thiếu nữ nọ đã ăn bớt của hắn bảy trăm rúp. Hắn dọa đưa ra cảnh sát. Dù sao hắn cũng đang dọa sẽ làm rùm beng về chuyện đó.
Kirillov bỗng nhổm khỏi ghế la lên:
- Sao anh có thể hạ cấp thế, hạ cấp một cách đê tiện như thế!
- Còn anh - anh có thể nói vậy hả? Bởi vì con người đáng tin tưởng tôi vừa nói không ai khác hơn là anh. Chính anh là kẻ bảo Lebiadkin rằng Nicolai Xtavroghin đã gửi cho hắn một ngàn chứ không phải ba trăm rúp. Ông đại úy đã tự ý cho tôi biết như thế lúc hắn say.
- Đó... đó là một sự hiểu lầm đáng tiếc. Chắc phải có một cái gì lầm lẫn. Chuyện không đâu vào đâu, còn anh thật đáng ghê tởm.
- Tôi cũng cố tin rằng đó là chuyện không đâu vào đâu và tôi rất buồn, bởi vì, dù anh nói sao chăng nữa, một thiếu nữ đáng kính cũng đang bị ngờ vực - thứ nhất là nhận vơ bảy trăm rúp, và thứ nhì là đã giao du thân mật với Nicolai Xtavroghin. Chúng ta thảy đều biết rằng quí ngài ấy dễ dàng hạ nhục một thiếu nữ trẻ hay vợ một người khác, như quí ngài ấy đã gây ra vụ bê bối khi ở nhà tôi. Và nếu quí ngài tìm thấy một người tốt bụng, quí ngài sẽ ép ông ta cho mượn cái tên đáng kính của ông ta để che giấu tội lỗi của mình. Đó là những gì xảy ra cho tôi, bởi vì dĩ nhiên tôi đang nói về tôi.
Ông Verkhovenxki bật khỏi ghế. Mặt ông nhợt nhạt một cách dễ sợ.
- Coi chừng Liputin, tôi cảnh cáo anh đó!
- Đừng tin hắn, đừng tin hắn! Phải có điều gì lầm lẫn bởi vì Lebiadkin lúc nào cũng say. Tất cả sẽ sáng tỏ, nhưng tôi không thể chịu đựng được nữa; thật hạ cấp và ghê tởm, thôi đủ rồi, đủ rồi! - Kirillov kêu lên trong sự xúc động rồi bước nhanh ra khỏi phòng.
Liputin bật dậy phóng theo Kirillov và la lên:
- Anh đi đâu đấy? Đợi... đợi tôi theo với!
7
Ông Verkhovenxki đứng lặng suy nghĩ một lúc, ném cặp mắt mất hồn về tôi, với lấy mũ và chiếc can rồi lặng lẽ ra khỏi phòng. Tôi bước theo. Qua khỏi cổng, khi nhận thấy tôi đằng sau ông nói:
- À, anh còn ở đây. Tốt. Anh có thể như một nhân chứng. Anh theo tôi chứ?
- Ông thực sự không định tới đó chứ? Ông hãy nghĩ hậu quả có thể xảy ra.
Ông ngừng lại một giây và nhìn tôi với một nụ cười thương tâm vô vọng, đầy tủi hổ và chán nản cùng cực, đồng thời chứa đựng một sự ngây dại kì lạ. Ông thì thầm:
- Nhưng tôi không thể cưới vợ để che đậy tội lỗi của một kẻ khác.
Tôi đã chờ đợi ông nói điều đó. Cuối cùng điều khó nói đã được thốt ra sau bao nhiêu tránh né và giả vờ. Tôi thực sự phẫn nộ.
- Sao một tư tưởng hèn hạ như thế, bẩn thỉu như thế có thể xảy ra đối với một người thông minh, độ lượng như ông, ngay... cả trước khi Liputin úp mở nói ra.
Ông đưa mắt nhìn tôi không trả lời rồi bước đi. Tôi cũng bước theo. Tôi muốn nói cho bà Xtavroghina tất cả những điều tôi nghĩ. Tôi có thể tha thứ cho ông nếu ông tin lời Liputin chỉ vì bản tính mềm yếu đàn bà của ông, đằng này ông đã nghĩ tới điều đó từ lâu; Liputin chỉ xác nhận lại những điều ông nghi ngờ và đổ thêm dầu vào lửa: Ông Verkhovenxki đã sẵn ngờ, vực người thiếu nữ ngay từ đầu, không hề căn cứ vào đâu, dù bằng lời thóc mách của Liputin. Ông đã giải thích sự thúc giục cứng rắn của bà Xtavroghina như là bị thúc đẩy bởi sự vội vã ghê gớm, muốn che đậy tội lỗi bằng cuộc hôn nhân của một người khả kính - tội lỗi điển hình của một nhà quí tộc trẻ tuổi giàu có, tức đứa con trai Nicolai vô tích sự của bà! Tôi mong ông sẽ phải trả giá chuyện đó. Ông bước thêm chừng một trăm bước nữa rồi ngừng lại. Ông bỗng kêu lên:
- Ôi trời xanh cao cả nhân từ! Ôi, biết lấy ai an ủi ta bây giờ?
Tôi dùng sức xoay người ông lại và nói:
- Thôi, chúng ta về nhà đi, rồi tôi sẽ giải thích mọi chuyện cho ông nghe.
Một giọng nói tươi trẻ bỗng vang lên như điệu nhạc phía sau chúng tôi:
- Đúng bác ấy rồi! Đúng là bác rồi, bác Verkhovenxki, chắc chắn là bác rồi!
Chúng tôi đã không nhìn thấy nàng tới và bất ngờ Liza hiện ra, sừng sững trước mặt chúng tôi trên lưng ngựa, cùng với người bạn đồng hành cố hữu phía sau. Nàng gò cương, kêu lớn bằng một giọng vui vẻ:
- Tới đây, tới đây mau! Xem nào, cháu không được gặp bác đã mười hai năm rồi nhưng nhận ra bác ngay, còn bác... bác thực không nhận ra cháu hay sao?
Ông Verkhovenxki nắm lấy bàn tay dang thẳng của nàng và bùi ngùi cúi xuống hôn, rồi chú mục nhìn nàng với một vẻ cầu nguyện. Ông không thốt được lời nào.
- Bác ấy còn nhận ra và vui mừng khi gặp lại em! Xem kìa, anh Mavriki, bác ấy sung sướng khi gặp em lại! Thế sao cả hai tuần nay bác không đến nhà cháu chơi? Cô Varvara nói là bác bị ốm và không nên quấy rầy, nhưng cháu biết cô ấy nói dối. Cháu giận lắm và trù ẻo bác dữ lắm, nhưng cháu muốn tự ý bác đến trước. Vì thế cháu đã không nhắn nhe gì bác cả. Nhưng nhờ trời, bác không có gì thay đổi! Mà có, cháu trông thấy có vết nhăn nhiều lắm, quanh mắt và hai bên má của bác. Cả tóc bác cũng đổi màu xám rồi. Nhưng, chính đôi mắt bác thì vẫn như xưa! Còn cháu thì sao, bác, cháu có thay đổi gì không? Sao bác không nói gì vậy?
Lúc đó tôi bỗng nhớ có nghe kể rằng khi được mang đi Petersburg hồi mười một tuổi, nàng đã bị ốm và trong lúc ốm nàng không ngớt khóc và gọi tên ông Verkhovenxki.
Ông bỗng thì thầm, giọng run rẩy vì mừng rỡ.
- Cháu... Bác..., đúng lúc bác nói: “Biết ai an ủi ta bây giờ?” thì bác nghe giọng nói của cháu... Thật là một phép lạ và bác bắt đầu tin tưởng...
- Tin tưởng có Trời? Trời xanh cao cả nhân từ? Bác thấy không, cháu vẫn còn nhớ thuộc lòng tất cả những bài học của bác. Anh Mavriki, anh không thể tưởng tượng được niềm tin bác Verkhovenxki đã gây cho em đối với Trời xanh cao cả nhân từ! Thế bác có nhớ bác kể cho cháu nghe chuyện ông Columbus37 khám phá ra Mĩ châu và mọi người trên tầu la lên như thế nào không? Họ la “Đất liền, đất liền!” Chị vú Aliona của cháu kể lại với cháu là lúc ngủ cháu cứ la “Đất liền, đất liền!” Cả mấy tuần lễ sau đó. Còn truyện Hamlet bác có nhớ bác kể thế nào không? Và cách bác tả lại những người di dân nghèo khổ được chở từ Âu châu qua Mĩ châu như thế nào không? Mavriki ạ, không có một tí sự thật nào trong đó cả - sau này em biết ra thực sự họ đã chuyên chở đi như thế nào - thế mà bác ấy nói dối thành ra câu chuyện thật đẹp, đẹp hơn sự thật rất nhiều. Kìa, sao bác cứ nhìn anh Mavriki như thế kia? Anh ấy là người tử tế và đáng tin cậy nhất trên đời, bác rồi sẽ phải mến anh ấy, dù bác có muốn hay không, cũng như bác đã mến cháu vậy! Anh ấy chiều cháu mọi điều. Nhưng mà, bác Verkhovenxki của cháu, bác cho cháu biết tại sao; chắc chắn bác lại cảm thấy khổ sở đến nỗi phải kêu to cần người an ủi giữa đường phố như thế này. Bác không được hạnh phúc phải không bác? Cháu nói có đúng không?
- Giây phút này bác thật hạnh phúc...
- Cô Varvara có làm tình làm tội bác không? - Nàng nói tiếp, không cần chờ ông trả lời. - Cô ấy vẫn khó chịu, bất công, nhưng luôn luôn cần thiết như trước phải không bác? Bác có nhớ bác thường ngã vào tay cháu và cháu đã khóc an ủi bác như thế nào không? Lại đây bác, bác đừng ngại Mavriki; cháu đã kể cho anh ấy nghe mọi chuyện, về bác. Nếu bác muốn, bác có thể khóc ngay trên vai anh ấy đến bao giờ cũng được, anh ấy sẽ đứng yên không nhích một phân nào? Bác nâng cái mũ lên một tí đi. Thôi bác bỏ hẳn ra đi. Đứng đây bác, kiễng chân lên, thẳng người lên bác: cháu muốn hôn lên trán bác như lần cuối cùng bác cháu từ giã nhau. Kìa, có một cô gái trên cửa sổ nhìn cảnh này kìa. Sát nữa, sát nữa! Ôi, tóc bác đã bạc trắng rồi!
Nàng cúi mình trên yên ngựa và hôn lên trán ông.
- Cháu sắp đến thăm bác bây giờ. Ngay bây giờ! Cháu biết chỗ bác ở và vài phút nữa cháu sẽ tới. Bác thật cứng đầu, thành ra cháu phải đi bước trước, nhưng sau đó cháu sẽ bắt bác đến nhà cháu chơi ở suốt ngày. Bác về nhà nhanh lên để sửa soạn đón cháu.
Rồi nàng phi ngựa đi, có anh chàng hộ tống theo sau. Khi chúng tôi trở về tới nhà ông, ông Verkhovenxki ngồi xuống chiếc ghế dài và bắt đầu khóc. Ông luôn mồm lẩm bẩm:
- Nhờ trời, nhờ trời! Cuối cùng cũng có một phút hạnh phúc.
Trong vòng mười phút sau, Liza xuất hiện, có chàng Mavriki của nàng đi theo. Ông Verkhovenxki đứng dậy đón nàng, ông nói:
- Cháu và hạnh phúc, cả hai đến cùng một lượt.
- Đây là hoa của bác. Cháu mới lấy ở nhà bà Sevalie. Mùa đông mà lúc nào bà ấy cũng có hoa để mừng sinh nhật. Bây giờ cháu muốn bác tiếp chuyện với anh Mavriki Drozdov. Cháu muốn mang biếu bác một cái bánh, nhưng anh ấy cứ bảo như vậy không hợp với tinh thần người Nga.
Mavriki là một đại úy pháo binh ba mươi tuổi. Chàng là một người cao lớn, đẹp trai, và đứng đắn không chê vào đâu được. Dung mạo chàng dễ cảm, mới trông thoáng vẻ tàn nhẫn, mặc dù bất cứ ai vừa quen chàng chưa được một phút cũng nhận ra chàng rất tử tế. Đồng thời, chàng rất kín đáo và không quen nhận bạn dễ dãi. Sau này, nhiều người trong thành phố nói chàng không sáng trí cho lắm, nhưng điều đó thật không công bằng.
Tôi thấy không cần phải tả sắc đẹp của Liza. Cả thành phố đang trầm trồ rồi, cho dù nhiều bà chê nàng. Một số còn ghét nàng nữa, đầu tiên vì sự kiêu hãnh của nàng - nàng và mẹ nàng vẫn chưa đi thăm một ai. (Sự thực là bà Drozdova trong người không được khỏe cho lắm). Lí do thứ hai khiến họ ghét Liza là vì nàng có họ hàng với vị đệ nhất phu nhân mới. Lí do thứ ba là nàng cứ đi vòng quanh thành phố trên lưng ngựa. Thành phố chúng tôi chưa hề có phụ nữ cưỡi ngựa đi rong, cho nên việc nàng xuất hiện trên lưng ngựa trước cả việc làm bổn phận viếng thăm mọi người là một thách thức đối với xã hội chúng tôi. Đó chỉ là một lẽ tự nhiên - dù cho nhiều người biết rằng nàng cưỡi ngựa là theo lời khuyên của bác sĩ. Cũng vì lời khuyên đó mà ngẫu nhiên gây ra một số phỏng đoán về tình trạng sức khỏe của nàng. Nàng thực ra không được khỏe. Mới nhìn qua ai cũng thấy ngay tình trạng căng thẳng thần kinh thường trực của nàng. Buồn thay, người thiếu nữ đáng thương đang phải trải qua một giai đoạn đau khổ, đó là chuyện sau này chúng tôi mới biết. Bây giờ, nhớ lại quá khứ, tôi nghĩ rằng nàng không được xinh cho lắm. Nàng người cao, mảnh khảnh, mềm mại, nhưng khỏe mạnh; nếu khuôn mặt nàng lôi cuốn thì đó là vì có những nét khác thường. Nàng có một khuôn mặt rất mỏng, mắt phượng, gò má cao, và có một nước da vàng nhợt. Nhưng có một cái gì quyến rũ khó cưỡng lại ở khuôn mặt nàng, và một sức mạnh kì bí trong đôi mắt đen hơi xếch ấy. Hình như nàng sinh ra để chinh phục, và chế ngự. Trông nàng kiêu hãnh, đôi khi thấy ngạo mạn, và tôi không chắc có khi nào nàng tỏ ra đễ thương được không. Nhưng nàng mong muốn một cách ghê gớm để tử tế và cố gắng hệt sức để được dễ thương. Chắc chắn trong con người rộng lượng đó có những ước vọng cao cả, nhưng con người nàng như suốt đời tìm kiếm một sự thăng bằng mà không thấy. Do đó, nàng luôn luôn như quay cuồng trong sự bồn chồn hỗn độn. Có thể nàng thực quá nghiêm khắc với mình vì không thể đạt được những đòi hỏi quá cao do nàng đặt ra.
Nàng ngồi xuống một chiếc ghế dài và đưa mắt nhìn quanh phòng.
- Sao vào những phút như thế này cháu lại cứ thấy buồn làm sao ấy? Bác học rộng như thế có hiểu tại sao không hả bác? Cháu đã tưởng tượng biết bao nhiêu sung sướng khi được gặp lại bác và nhớ lại bao nhiêu là chuyện... thế mà bây giờ cháu chẳng cảm thấy sung sướng chút nào, mặc dù cháu vẫn còn yêu bác lắm... Kìa, trời ơi, xem kìa - bác ấy vẫn còn treo ảnh tôi trên tường kìa! Cho cháu xem một tí. Cháu nhớ rồi! Cháu nhớ rồi!
Đó là một bức chân dung nhỏ bằng mầu nước của Liza mà bà Drozdova đã gửi cho ông Verkhovenxki từ Petersburg chín năm trước đây; ông đã treo lên tường từ đó đến giờ.
- Cháu mà là một đứa bé xinh như vậy à? Thật khó mà tin được đó là khuôn mặt cháu.
Nàng đứng dậy, cầm bức tranh ngang mặt và nhìn vào trong gương.
- Này bác, bác dẹp ngay đi! Không, đừng treo nữa. Cháu không muốn trông thấy nó. - Nàng ngồi trở lại và tiếp: - Một đời chấm dứt và một đời khác bắt đầu, rồi cũng chấm dứt. Một đời nữa khởi sự và cứ thế, cứ thế đến vô tận... Mọi khoảng tiếp nối mập mờ dường như đã bị cắt xén đi. Coi kìa, cháu ví von sáo quá, nhưng bác cũng thấy, có nhiều sự thật trong đó!
Cười nhẹ, nàng nhìn tôi. Nàng đã đưa mắt nhìn tôi như vậy hai ba lần rồi. Ông, Verkhovenxki, trong cơn xúc cảm, đã quên không giới thiệu mọi người.
- Tại sao bác lại treo ảnh cháu dưới mấy con dao găm đó? Mà sao bác giữ nhiều dao, kiếm như thế? Để làm gì vậy?
Quả vậy không biết vì sao, ông treo hai con dao quắm vắt chéo nhau trên tường và bên trên là một thanh kiếm Trerkex38 thứ thật. Khi hỏi, nàng nhìn thẳng về tôi làm tôi định tra Lời, nhưng ngừng lại được. Cuối cùng ông Verkhovenxki nhổ ra sự vô ý và giới, thiệu chúng tôi với nhau. Nàng bảo tôi:
- Tôi biết hết về ông rồi. Tôi rất sung sướng được gặp ông. Mẹ tôi đã được nghe nhiều về ông: tôi xin giới thiệu ông đây là Mavriki Drozdov. Anh ấy là một người rất tốt, ông cứ tin tôi đi. Ông biết không, hình như tôi có một suy nghĩ buồn cười về ông: có phải ông là một tri kỉ của bác Verkhovenxki?
Tôi đỏ mặt.
- Chết, xin ông tha lỗi cho, tôi đã dùng chữ không đúng. Thực ra tôi không định nói “buồn cười”, nhưng... nàng cũng đỏ mặt và trông khá bối rối. - Nhưng sao ông phải xấu hổ vì sự tử tế của mình? Thôi, Mavriki, chúng ta phải đi thôi. Còn bác, bác Verkhovenxki, cháu mong nửa giờ nữa bác sẽ có mặt ở nhà cháu. Chúng ta còn bao nhiêu chuyện để nói! Từ giờ trở đi, cháu xin làm người tri kỉ của bác, và cháu muốn bác nói cho cháu nghe mọi chuyện; mọi chuyện, bác nhớ nhé!
Ông Verkhovenxki lập tức sợ hãi.
- Ồ, bác đừng ngại Mavriki, anh ấy cũng biết cả rồi!
- Anh ấy biết chuyện gì? Bác không hiểu. Nàng kêu lên kinh ngạc:
- Sao, bác nói sao? Thì ra mọi người cứ cố giữ bí mật chuyện ấy! Bây giờ cháu mới biết tại sao cô Varvara đã không cho cháu gặp Dasa. Cô ấy nói Dasa bị nhức đầu.
- Nhưng làm thế nào... làm thế nào mà cháu biết?
- Làm thế nào ư? Thì cũng như mọi người khác. Không cần phải tinh ranh gì cho lắm mới khám phá được những chuyện như vậy.
- Như mọi người khác?
- Chứ sao, thế bác tưởng gì? Mẹ cháu biết được do bà vú già Aliona của cháu nói, bà ấy nghe chị người làm Naxtaxia của bác kể. Có phải chính bác kể cho chị ấy nghe hay không? ít ra cũng chính mồm chị ấy nói vậy.
Ông Verkhovenxki ấp úng, mặt đỏ bừng một cách thảm hại.
- Tôi... Bác có nói một ít cho chị ấy nghe, nhưng chỉ úp mở mà thôi.. Lúc ấy bác thật rối trí và bệnh hoạn, cho nên...
Nàng phá lên cười.
- Cháu hiểu rồi, người bạn tri kỉ thường nhật của bác không có sẵn và Naxtaxia thế chỗ, vì thế mới nên nỗi! Đã thế Naxtaxia lại có cả đống bạn bè thân thiết... Mà có sao đâu - ví dụ mọi người đều biết, cháu cho là như vậy càng tốt... Vậy bác cứ tới nhà cháu ngay nhé, nhà cháu ăn cơm chiều sớm. À, suýt nữa cháu quên, bác cho cháu biết Satov là ai?
Nàng lại ngồi xuống.
- Satov hả? Sao, hắn là anh của Dasa.
Nàng bồn chồn ngắt lời:
- Dĩ nhiên cháu biết như vậy rồi. Bác thật buồn cười. Cháu muốn biết ông ta là một người như thế nào.
- À, hắn là một kẻ mơ mộng ở đây, người tử tếnhất và cũng là người cộc cằn nhất trên đời.
- Cháu nghe nói ông ta hơi kì lạ. Nhưng điều đó cháu không để ý tới. Cháu được biết ông ấy hiểu ba thứ tiếng, kể cả tiếng Anh, và ông ấy có thể làm công việc về văn chương.
Nếu đúng, cháu có nhiều việc muốn nhờ. Cháu cần có người phụ giúp, và càng sớm càng tốt. Theo bác ông ấy có nhận lời không? Có người đã mách ông ấy với cháu.
- Ô, chắc hẳn sẽ nhận, và cháu sẽ làm được một việc thiện.
- Không phải là vấn đề từ thiện. Thực sự cháu cần một người giúp đỡ.
Tôi xen vào:
- Tôi biết Satov cũng khá rõ, nếu cô muốn, tôi có thể đi ngay bây giờ để hỏi anh ta.
- Vậy thì ông làm ơn nói ông ấy tới gặp tôi vào mười hai giờ ngày mai. May quá! Cám ơn ông rất nhiều! Nào, đi được chưa, Mavriki?
Họ đã đi khỏi. Khi tôi cũng đi để đến nhà Satov, ông Verkhovenxki hớt hải chạy theo và chận tôi ở ngoài cổng:
- Này anh bạn, làm ơn có mặt ở đây lúc mười hay mười một giờ tối nay, khi tôi trở về. À, tôi rất lấy làm ân hận đã quấy rầy anh và mọi người như vậy.
8
Satov không có nhà. Khoảng vài giờ sau tôi trở lại nhưng hắn vẫn chưa về. Rồi khoảng bảy giờ tối, tôi quay trở lại nhà hắn lần thứ ba. Tôi đã định nếu lần này không gặp tôi sẽ để lại một mảnh giấy. Hắn vẫn biền biệt và cửa khóa chặt. Tôi định hỏi Lebiadkin ở tầng dưới xem Satov đi đâu, nhưng phòng ông ta cũng khóa và không thấy đèn đóm, động tĩnh gì bên trong, cả căn nhà như bỏ hoang. Lúc đi qua cửa phòng Lebiadkin, tôi cảm thấy tò mò vì những chuyện tôi mới nghe về ông ta. Cuối cùng tôi quyết định sáng hôm sau sẽ trở lại sớm, bởi vì tôi nghĩ một mảnh giấy không đủ để thuyết phục
Satov, con người nhút nhát và ương ngạnh. Tôi vừa ra khỏi cổng lầu bầu số xui xẻo thì đụng đầu Kirillov đang đi vào. Thực ra, anh ta nhận ra tôi trước. Anh ta hỏi tôi muốn kiếm ai cho nên tôi kể rõ sự việc và còn bày tỏ ý muốn lưu lại một mảnh giấy cho Satov. Anh ta bảo tôi:
- Vào đây. Tôi sẽ dàn xếp mọi chuyện cho anh..
Tôi nhớ Liputin nói rằng Kirillov đã dọn vào một ngôi nhà phụ ngoài sân. Ngôi nhà phụ này hơi quá rộng cho một người ở, cho nên anh ta ở chung với một bà già nhà quê nghễnh ngãng lo việc giữ nhà. Người chủ nhà ở một căn nhà mới ở đường khác, nơi ông ta còn làm chủ một quán rượu. Bà già này là họ hàng xa của ông ta, giữ phần trông nom căn nhà cũ cho ông ta. Ngôi nhà khá sạch sẽ, mặc dù giấy dán trên tường đã đen bẩn. Cái phòng chúng tôi bước vào thì la liệt những đồ gỗ đủ loại đủ cỡ: hài chiếc bàn để đánh bài, một chiếc tủ ngăn kéo bằng gỗ trăn, một cái bàn gỗ thông lớn dường như mang đâu từ một nhà bếp hay từ nhà một nông dân nào về, một vài cái ghế và một cái trường kỉ lưng bằng mây có để mấy chiếc gối da. Trong một góc phòng có đặt một bức tranh Đức Mẹ, bên dưới là ngọn đèn mà bà già đã thắp trước khi chúng tôi bước vào. Trên tường treo hai bức chân dung bằng sơn dầu tối tăm, một của cố Hoàng đế Nicolai Đệ nhất, hình như được vẽ trong khoảng từ năm 1820 đến 1830 gì đó, bức ảnh kia là một vị giám mục.
Kirillov thắp ngọn nến. Rồi anh ta lôi ra từ chiếc rương còn nguyên ở góc phòng một chiếc phong bì, xi, và một con dấu bằng thủy tinh. Anh ta bảo tôi:
- Ông niêm cái thư lại rồi viết địa chỉ trên phong bì.
Tôi nói không cần nhưng anh ta cứ ép phải làm. Tôi đề địa chỉ trên bao thư rồi cầm mũ định đi.
- Ồ, để uống nước trà đã chứ. Có trà pha sẵn rồi. Ông dùng một tách nhé?
Tôi không thể từ chối. Không bao lâu sau, bà già mang trà vào, nghĩa là, một ấm nước sôi lớn; một bình nhỏ đựng trà thật đặc, hai cái tách bằng sành lớn hình vẽ thô sơ, một ổ bánh loại đặc biệt, và một đĩa đầy toàn đường cục.
Kirillov nói:
- Tôi thích uống trà. Ban đêm tôi đi tới, đi lui và uống trà, cho tới gần sáng. 0 nước ngoài không dễ gì được uống trà bạn đêm.
- Thế tội sáng anh mới đi ngủ à?
- Hôm nào cũng vậy, từ lâu rồi. Tôi ăn ít lắm, chỉ uống nước là nhiều. Liputin tinh ma nhưng hắn thiếu kiên nhẫn.
Tôi hơi ngạc nhiên thấy anh ta có vẻ thích nói chuyện. Tôi nghĩ nên lợi dụng cơ hội, Tôi nói:
- Tôi sợ cuộc gặp gỡ sáng nay hơi khó chịu.
Anh ta cau mày:
- Chuyện bậy bạ, hoàn toàn vô lý. Tất cả chỉ tại tính say sưa của Lebiadkin. Tôi không có nói gì với Liputin cả; tôi chỉ giải thích một vấn đề nhỏ thế mà hắn nắm lấy đem xuyên tạc hoàn toàn. Óc tưởng tượng của Liputin rất phong phú, hắn xây được cả một ngọn núi bằng những điều vô nghĩa. Hôm qua tôi tin hắn...
Tôi cười:
- Và hôm nay anh tin tôi?
- Nhưng dù sao ông cũng biết chuyện rồi. Bây giờ tôi mới biết hắn là người hoặc nhu nhược, thiếu kiên nhẫn, hiểm độc, hoặc... ghen ghét.
Tiếng cuối cùng làm tôi để ý. Tôi nói:
- Dĩ nhiên, anh phỏng đoán nhiều thế kia thì cũng phải có một cái đúng.
- Có thể tất cả đều đúng.
- Vâng, cũng có thể như vậy. Liputin là một hỗn hợp phức tạp. Thế có thật hắn bịa chuyện anh đang viết về một cái gì không?
Anh ta lại nhăn mặt và nhìn xuống:
- Sao ông lại nghĩ là hắn nói bịa chuyện?
Tôi xin lỗi và cho biết tôi không định tọc mạch vào công việc riêng của anh ta. Anh ta bỗng đỏ mặt.
- Cái đó có thật. Tôi đang viết. Nhưng có gì lạ đâu?
Rồi anh ta nở một nụ cười trẻ con mà tôi đã được thấy buổi sáng. Anh ta nói tiếp:
- Có điều hắn bịa đặt hoàn toàn về chuyện đầu người gì đó - chính hắn mới là kẻ đưa ra vấn đề đó với tôi. Hắn không hiểu rõ lắm. Tôi chỉ tìm hiểu giản dị lí do tại sao người ta không dám tự tử. Có vậy thôi. Và cũng không lấy gì làm quan trọng cho lắm.
- Anh nói “người ta không dám” nghĩa là làm sao? Phải chăng con số tự tử quá ít?
- Rất ít.
- Có thực anh nghĩ như thế không?
Anh ta không trả lời và đứng dậy, rời khỏi bàn đi đi lại lại trong phòng, trầm ngâm suy nghĩ. Tôi lại hỏi:
- Thế anh bảo điều gì ngăn người ta không tự tử?
Anh ta nhìn tôi như đãng trí, như đang cố nhớ xem chúng tôi đang nói về chuyện gì.
- Tôi... Tôi chưa biết rõ chuyện đó... Tuy nhiên có thể nói có hai thành kiến ngăn người ta lại - hai điều, một rất nhỏ và một rất lớn, mặc dù cái nhỏ cũng rất lớn...
- Thế cái nhỏ là cái gì?
- Sự đau đớn.
- Đau đớn? Có thật nó đóng vai chủ chốt trong trường hợp tự tử hay không?
- Đó là sự đắn đo thứ nhất. Có hai loại tự tử: những người tự tử vì buồn rầu hay giận dữ quá sức và những người vì điên khùng - hay ông gọi là gì cũng được, điều đó không quan trọng - và họ tự tử một cách thình lình. Họ không nghĩ nhiều đến sự đau đớn, họ chỉ bất ngờ thực hiện, và thế là xong. Nhưng những người có những động lực hợp lý sẽ suy nghĩ nhiều đến sự đau đớn.
- Nhưng liệu có những người có những động lực hợp lý hay không?
- Đầy rẫy. Và nếu không có những thành kiến, họ còn có nhiều hơn nữa. Sẽ có rất nhiều, hầu như tất cả.
- Tất cả?
Anh ta không trả lời. Tôi hỏi tiếp:
- Thế không có cách gì chết một cách không đau đớn hay sao?
Anh ta ngừng lại trước mặt tôi và nói:
- Ông hãy tưởng tượng một tảng đá, thí dụ, lớn bằng cái nhà, cheo leo bên trên đầu ông. Nếu nó rơi vào người ông, nó có làm ông đau đớn không?
- Một hòn đá lớn bằng cái nhà hả? Dĩ nhiên đáng sợ thật.
- Tôi không nói chuyện sợ hay không sợ. Tôi hỏi có đau đớn không?
- Một khối đá nặng hàng ngàn tấn như vậy. Không, dĩ nhiên là không. Nó không đau đớn gì.
- Nhưng ví thử đứng phía dưới trong lúc nó cheo leo bên trên, chắc ông sẽ rất sợ nó gây đau đớn cho ông. Ngay một nhà bác học thông thái nhất cũng sợ. Như vậy, ai cũng biết là không đau đớn mà ai cũng sợ.
- Thôi được, còn sự đắn đo thứ hai làm người ta ngừng lại? Cái nguyên nhân lớn ấy?
- Thế giới bên kia...
- Anh định nói sự trừng phạt?
- Cũng không khác lắm. Nói thế giới bên kia là đủ.
- Nhưng có biết bao người vô thần không tin cái thế giới bên kia đó thì sao?
Anh ta không trả lời nên tôi nói thêm:
- Có thể anh xét đoán theo ý riêng của anh.
Anh ta đỏ mặt nói:
- Không ai có thể tránh được việc xét đoán theo ý riêng của mình - Tự do thực sự sẽ đến khi không còn phân biệt việc sống chết. Đó là cùng đích của mọi người.
- Cùng đích? Nhưng khi đó không có ai muốn sống nữa thì sao?
- Thì không còn ai cả, - anh ta nói bằng một giọng quả quyết:
- Con người sợ chết bởi vì họ ham sống, đó là theo con mắt của tôi và theo như thiên nhiên đã định đặt.
Mắt anh ta sáng lên:
- Đó là một tư tưởng đồi bại chứa đựng tất cả sự lừa bịp. Đời sống là đau đớn, đời sống là sợ hãi, và con người không sung sướng. Bây giờ cái gì cũng là đau đớn và sợ hãi. Bây giờ con người ham sống là bởi họ thích đau đớn và sợ hãi. Đó chỉ là sự xếp đặt cho phù hợp. Chúng ta được ban cho đời sống mà phải trả bằng sợ hãi và đau đớn, lường gạt là ở chỗ đó. Ngày nay con người chưa thực là người. Một ngày nào đó sẽ có những con người tự do, kiêu hãnh, đối với họ sự sống hay cái chết không có gì khác biệt. Đó sẽ là một con người mới. Con người chinh phục được đau đớn và sợ hãi, con người đó trở thành một Thượng đế, và Thượng đế kia sẽ mất đi.
- Như vậy theo ý anh thì bây giờ vẫn có “Thượng đế kia” phải không?
- Không mà có. Không có đau đớn trong chính tảng đá, nhưng có đau đớn trong sự sợ hãi tảng đá, Thượng đế là sự đau đớn vì sợ chết. Kẻ nào chinh phục được đau đớn và sợ hãi, chính hắn sẽ là một Thượng đế. Lúc đó sẽ có một cuộc đời mới, một con người mới - cái gì cũng mới. Khi đó lịch sử sẽ chia làm hai phần: từ thời người vượn cho tới khi hủy diệt Thượng đế, và từ khi hủy diệt Thượng đế tới...
- Tới thời người vượn?
- Tới cuộc biến đổi con người và trái đất về thể chất. Con người sẽ là một Thượng đế và tự thay hình đổi xác, và cả thế giới sẽ thay đổi. Tâm tư của con người, luôn cả những tư tưởng và tình cảm, sẽ thay đổi. Ông có nghĩ rằng lúc đó thể chất con người sẽ thay đổi không?
- Nếu mọi người ai ai cũng không quan tâm đến chuyện sống chết thì tất cả tự tử hết, và dĩ nhiên đó là một sự thay đổi về thể chất.
- Đó không phải là vấn đề. Họ sẽ thủ tiêu sự lừa dối, đó mới là cái họ giết. Kẻ nào muốn đạt được tự do tối thượng thì phải dám tự giết mình. Kẻ nào dám thì sẽ phá vỡ được cái bí mật của sự lừa dối. Không có tự do nào cao cả hơn. Tất cả nằm trọn trong đó; không còn gì cao hơn nữa. Kẻ nào dám tự tử sẽ là một Thượng đế. Hiện nay ai cũng có thể làm cho không có Thượng đế và không có gì cả. Nhưng chưa từng có ai làm điều đó.
- Nhưng đã có hàng triệu vụ tự tử rồi.
- Phải, nhưng tất cả đều vì những lí do sai lầm - tất cả đều tự tử với sự sợ hãi chứ không phải để diệt sợ hãi. Kẻ nào tự tử để diệt sợ hãi sẽ trở thành một Thượng đế ngay lập tức.
- Nhưng có thể hắn không có thì giờ để thành.
Kirillov trả lời với một sự kiêu hãnh bình thản, gần như khinh miệt:
- Cũng không sao. - Sau một lúc anh ta nói thêm: Tôi rất tiếc thấy ông coi cả câu chuyện này như trò đùa.
- Tôi ngạc nhiên thấy rằng lúc ở nhà ông Verkhovenxki anh dễ nổi nóng như vậy mà bây giờ anh lại bình tĩnh được như thế, mặc dù anh nói với tất cả tin tưởng.
Anh ta cười trả lời:
- Ở đó à? Ở đó là chuyện khôi hài. - Và anh buồn rầu nói thêm: Tôi không thích nhạo báng ai và không bao giờ tôi cười.
- Vâng, chắc những đêm dài suy tư bên tách trà cũng không vui vẻ gì cho lắm.
Tôi đứng dậy với lấy chiếc mũ. Anh ta mỉm cười kèm một chút ngạc nhiên:
- Ông nghĩ là không vui ư? Nhưng, tại sao? Không, tôi cũng không rõ. - Anh ta bỗng trở nên lúng túng. - Tôi không biết những người khác thì sao, nhưng tôi cảm thấy không thể làm như họ được... Những người khác suy nghĩ một chuyện này rồi bỗng nhảy sang chuyện khác. Nhưng tôi không thể nghĩ sang chuyện khác được; tôi cứ suy nghĩ mãi một vấn đề. Thượng đế đã làm tôi day dứt cả đời. - Anh ta kết luận bằng một sự sôi nổi bất ngờ.
- À, anh có thể cho tôi biết tại sao anh lại nói tiếng Nga vụng về như vậy không? Có lí nào năm năm ở nước ngoài mà anh quên được?
- Tôi nói không được đúng hả? Tôi cũng không biết. Nhưng không, việc đi nước ngoài không có liên hệ gì cả. Từ xưa đến nay tôi vẫn nói như vậy bởi vì tôi không thèm để ý.
- Một câu hỏi nữa, có thể tế nhị hơn một tí: tôi đã tưởng anh không ưa gặp người khác và không thích nói chuyện cho lắm. Thế tại sao anh lại thành thật với tôi như vậy?
- Với ông? Tại sao à..., sáng nay ông đã ngồi một cách yên lặng..., nhưng điều đó cũng không ăn nhằm gì. Ông trông giống anh tôi. Rất giống. Giống một cách lạ, - anh ta bỗng đỏ bừng mặt - chết được bảy năm rồi. Giống, rất giống.
- Tôi chắc ông ấy đã ảnh hưởng sâu xa tới đường lối suy nghĩ của anh.
- Không, ông ấy không nói nhiều. Không bao giờ nói gì. Tôi sẽ chuyển giao cái thư giùm ông.
Anh ta lấy một chiếc đèn lồng để soi đường cho tôi ra cổng rồi khóa cổng lại. Tôi tự nhủ: “Hắn hoàn toàn mất trí, không còn nghi ngờ gì nữa”. Rồi tại ngay cổng, tôi lại gặp một cuộc đụng độ nữa.
9
Đúng lúc tôi nhấc chân bước qua bực cổng, một bàn tay khỏe bỗng chụp lấy ngực áo tôi. Một giọng nói ồm ồm vang lên.
- Ai đây? Bạn hay thù? Nói đi!
Giọng Liputin eo éo trong bóng tối:
- Bạn, bạn đấy! Đó là ông Govorov, một nhà quí phái có văn học và có giao du với xã hội thượng lưu chúng ta.
- Tao chịu nó nếu nó... nó thượng lưu với lại văn... văn học... Được lắm... Tên tao là Ignat Lebiadkin, đại úy lục quân hồi hưu, sẵn sàng phục vụ hòa bình và bạn bè... nghĩa là nếu chúng nó trung thành... bọn khốn kiếp!...
Đại úy Lebiadkin, một người to lớn, nặng nề, cao hơn thước tám, tóc quăn, mặt đỏ, và đã say khướt đứng thẳng người không nổi, đang lè nhè trước mặt tôi. Tôi đã thấy lão một lần từ đằng xa.
Lão lại gầm lên khi trông thấy Kirillov, lúc đó còn cầm đèn lồng đứng đấy:
- À, cả thằng này nữa!
Lão giơ năm tay lên, nhưng rồi lại hạ xuống ngay:
- Tao tha tội cho mày bởi vì mày trí thức cùng mình - Tao, Ignat Lebiadkin, kẻ có giáo dục nhất trong đám.
Quả bom tình ái nổ tung
Trái tim Ignat vô cùng đớn đau
Cụt tay Sevastopol39
Người hùng nay lại khóc ôm khối tình.
Tao không có mặt trong trận bao vây Sevastopol, cũng chẳng mất cánh tay nào ở đó, nhưng mày thấy thơ mùi không! - Lão vừa nói vừa dí sát bộ mặt nồng nặc vào tôi.
Liputin cố thuyết phục lão để tôi đi, hắn nói.
- Ông ấy đang vội, vội lắm. Ông ấy phải về nhà. Mai ông ấy mách cô Liza bây giờ.
Lebiadkin lại gầm lên:
- Cái gì? Liza hả? Khoan đã! Để tao đọc cho mày bài thơ nữa:
Trên lưng tuấn mã nàng thoáng qua
Vì sao Amazon40 hoang dã
Miệng mỉm cười ánh mắt nhìn ta
Ôi cô bé vọng tộc danh gia!
Bài đó gọi là Tặng một hoa khôi Amazon. Đó là một bài thánh ca! Mày phải biết đó là một bài thánh ca nếu mày không phải là con lừa. Những đứa vô tích sự này không biết như vậy! Khoan!
Lão lại nắm lấy áo tôi lúc tôi cố lách qua cổng.
- Mày nói với nàng tao là một hiệp sĩ, một hiệp sĩ danh dự. Còn cái con Dasa, nó chỉ là một đứa nông nô, tao sẽ xé xác nó ra. Tao sẽ không để nó...
Tối đó tôi cố hết sức đẩy lão ra và lão mất thăng bằng ngã xuống trong lúc tôi chạy vội ra đường. Liputin chạy theo sau. Hắn vừa thở vừa nói:
- Để mặc Kirillov đỡ lão dậy. Anh có biết tôi mới moi được lão chuyện gì không? Anh cũng nghe bài thơ đó chứ? Lão đã cho mấy câu Tặng một hoa khôi Amazon đó vào phong bì để ngày mai gửi chị Liza, kí đầy đủ cả tên họ. Lão thế thì thôi!
- Tôi cuộc là chính anh xúi lão làm.
Liputin cười lớn:
- Anh thua cuộc mất! Lão yêu nàng, anh có nghe rõ không? Lão yêu nàng, thế có động cỡn không. Nhưng anh biết không, đầu tiên lão ghét nàng. Lúc đầu lão ghét nàng vì nàng cứ cưỡi ngựa đi rong; lão suýt chửi toáng lên ở ngoài đường lúc trông thấy nàng. Thế mà anh mới nghe lão nói gì. Về nàng đấy! Mới hai ngày trước lão văng tục ra khi nàng cưỡi ngựa đi qua, cũng may mà nàng không nghe thấy. Thế mà bây giờ lão dở chứng với mấy câu thơ đó! Anh có thể tưởng tượng được là lão định đi hỏi nàng đó! Không, tôi nói chuyện đứng đắn! Thật mà!
Tôi nói với hắn một cách giận dữ:
- Tôi không thể tưởng tượng được anh, Liputin ạ! Cứ ở đâu có chuyện gì bậy bạ bẩn thỉu là có anh nhúng tay vào. Tôi thấy anh đi hơi quá xa, Govorov ạ. Có lẽ con tim bé nhỏ khốn khổ của anh đang rung động và anh sợ một đối thủ. Có gì làm anh giận dữ như vậy hả?
Tôi chết sững gầm lên:
- Anh nói gì?
- Được rồi, tôi sẽ phạt anh bằng cách không nói với anh một lời nào nữa! Anh không muốn biết phải không? Để rồi xem. Thí dụ khởi đầu tôi có thể cho anh biết rằng cái tên thô tục đó không còn giản dị là một đại úy về hưu nữa mà còn là một điền chủ ở tỉnh này, một điền chủ quan trọng. Có thể anh muốn biết thêm rằng Nicolai Xtavroghin đã cho lão tất cả bất động sản, ngày xưa từng có hai trăm nông nô ở đó. Có Trời làm chứng, tôi không có bịa đặt. Tôi chỉ nghe vậy thôi, nhưng do một nguồn tin chắc trăm phần trăm. Nhưng thôi, tôi không hở thêm một lời nào với anh nữa. Anh cứ tự tìm hiểu phần còn lại. Chào anh!
10
Ông Verkhovenxki đang nóng ruột chờ tôi. Ông đã về cả giờ rồi và sắp sửa phát điên lên. Lúc đầu, tôi cứ tưởng ông say rượu, mãi khoảng năm phút sau tôi mới biết là không phải. Cuộc viếng thăm của ông tới nhà Drozdov là một đòn tối hậu giáng lên đầu ông.
- Bạn ơi, tôi cảm thấy hoàn toàn lạc lối. Tôi vẫn yêu và quí mến Liza như trước, nàng là một thiên thần... phải, vẫn như trước... Nhưng còn hai người - tôi tin rằng họ chỉ muốn gặp tôi để moi móc chuyện của tôi rồi xa lánh tôi! Phải, thói thường là thế.
- Ông nên tự lấy làm xấu hổ.
- Bạn ơi, bây giờ tôi hoàn toàn cô đơn, hoàn toàn trông cậy vào mình. Cuối cùng, thật lố bịch... Nơi đó cũng đầy rẫy những bí mật. Họ vồ lấy tôi với những câu hỏi về chuyện kéo mũi, cắn tai và một vài bí mật ở Petersburg nữa. Họ mới khám phá ra những thành tích của Nicolai Xtavroghin bốn năm về trước đây. Họ hỏi: “Nhưng lúc đó ông có mặt và chứng kiến tất cả, vậy có thật anh ta điên không?” Tôi vẫn không biết tại sao họ lạí nghĩ thế và tại sao bà Drozdova lại quyết một mực là Nicolai bị mất trí. Nhưng đúng là bà ấy muốn tin như vậy. Cái anh chàng Mavriki Drozdov đó cũng là một người đàng hoàng, nhưng lẽ nào chỉ vì anh ta mà bà ấy làm như vậy, trong khi chính bà ấy từ Paris viết thư cho người bạn gái khốn khổ kia trước?... Cuối cùng, cái bà Praxcovia đó, như người bạn gái thân mến khi thường gọi, là một người mẫu giống như nhân vật Corbotrka của Gogol, nhưng một mụ Corbotrka tàn nhẫn, một Corbotrka hiếu thắng và quá quắt hơn nhiều.
- Như vậy bà ấy là một bồ chứa rồi còn gì, ông có nghĩ vậy không?
- Đúng, có lẽ tôi hơi phóng đại, nhưng để yên cho tôi nói. Đầu tôi đang quay cuồng đủ chuyện đây. Hình như họ có cãi cọ thẳng thừng với bà Xtavroghina, mặc dù Liza luôn mồm nói: “Cô Varvara thế này, cô Varvara thế kia...” Nhưng Liza khá tinh ma, như anh biết đó, và chắc có chuyện gì đó bí ẩn bên trong. Ôi, toàn những chuyện bí mật! Nhưng hai người đàn bà có cãi nhau. Chuyện cô Varvara đáng thương của nàng đi khắp nơi dọa dẫm người ta là chuyện có thật, nhất là bây giờ, nào việc bà Lembke không đếm xỉa gì đến bà ấy, việc Karmazinov không tới thăm, và việc mọi người không kính trọng, à, quan trọng hơn cả là những lời ra tiếng vào về việc Nicolai bị mất trí, rồi chuyện dính líu tới Liputin mà tôi thực tình không hiểu rõ... Tôi còn nghe một chuyện nữa là bà ấy đang phải đắp giấm lên trán, thế mà chúng ta còn đem những chuyện thư từ trách móc ra... Ôi, sao mà những lúc đó tôi còn nỡ làm phiền bà ấy như vậy! Tôi làmột kẻ vô ơn! Đây này, tôi về nhà và thấy được cái thư này của bà ấy. Anh đọc đi, đọc bây giờ đi! Ôi! Sao tôi lại có thể vô ơn bạc nghĩa như vậy!
Ông trao tôi cái thư. Bà Xtavroghina có vẻ ân hận về mảnh giấy sáng nay buộc ông ở nhà. Cái thư này đầy lịch sự, dù vẫn cứng rắn và vắn tắt. Bà muốn ông Verkhovenxki chủ nhật này tới gặp bà - nghĩa là hai ngày nữa - đúng giữa trưa - và bà khuyên ông nên dẫn theo một người bạn của ông (tên tôi được đề nghị trong ngoặc). Bà cũng hứa sẽ mời Satov tới bởi vì anh ta là anh của Dasa.
Bà viết: “Ông sẽ được cô ta trả lời dứt khoát. Tôi tin tưởng câu trả lời sẽ làm ông hài lòng. Có phải ông đang đòi hỏi cái thủ tục đó không?”
- Anh hãy để ý cái câu nói giận dữ về thủ tục ở cuối đó. Ôi, người bạn đời thân mến đáng thương của tôi! Tôi phải thú nhận rằng cái quyết định bất ngờ về tương lại của tôi này có thể nói đã đè nặng lên tôi. Tôi thú nhận trước đây tôi vẫn ấp ủ một hy vọng, nhưng bây giờ, chuyện đã rồi. Tôi biết rằng mọi việc đã chấm dứt. Thật, khủng khiếp. Ôi, ước gì không phải giải quyết mọi chuyện vào chủ nhật này. Tôi ước ao mọi chuyện vẫn y như cũ, nghĩa là anh vẫn tới thăm tôi và tôi...
- Tôi tin rằng ông đã hoàn toàn bị rối trí vì sự thóc mách và âm mưu của Liputin.
Bạn thân mến, bạn vừa mới dùng ngón tay thân ái của bạn chọc vào một vết thương nhức nhối. Những ngón tay thân ái của bạn thường vô tình và đôi khi cũng vụng về, nếu tôi được phép nói như vậy. Nhưng tin hay không, tôi cũng hầu như hoàn toàn quên những chuyện thóc mách bẩn thỉu đó rồi. Thực vậy, nếu tôi thực không quên được, ít nhất trong sự ngu muội tôi cũng đã cố gắng tỏ ra sung sướng trong suốt thời gian ở nhà Liza. Ít nhất tôi cũng đã cố tự nhủ rằng tôi hạnh phúc. Nhưng giờ đây... ôi nghĩ tới người đàn bà tử tế, rộng lượng đó, đã kiên nhẫn với tôi như vậy bất kể thái độ hèn hạ của tôi - có thể không hẳn là kiên nhẫn, nhưng dù sao, tôi là người hay súc vật mà lại xấu xa ăn nói vô trách nhiệm như thế? Tôi như một đứa trẻ tính khí, bất thường, với mọi ích kỉ của một đứa trẻ, nhưng không còn cái ngây thơ của nó. Tại sao cô Varvara, như Liza thường, gọi bà ấy một cách trang trọng, lại trông nom tôi như một vú em từ hai mươi năm nay. Thế mà bây giờ, hai mươi năm sau, đứa trẻ bỗng nhiên nằng nặc đòi lấy vợ và nhèo nhẹo bên cạnh: “Cưới đi, cưới vợ cho tôi đi, nhanh lên!” và gửi hết cái thư này đến cái thư khác trong lúc bà ấy đang phải nằm nhà đắp giấm lên trán. Đấy, bây giờ được rồi đấy, tối chủ nhật này là thành người có vợ rồi, Tại sao tôi lại phải nài nỉ như vậy, tại sao tôi lại viết những lá thư như thế? À tôi quên mất: Liza nói nàng tôn sùng Dasa như thiên thần, có điều tính nết hơi kín đáo. Cả hai đều khuyên tôi, cả Praxcovia - à không - Praxcovia thì không khuyên... Cái nhân vật của Gogol đó thật là miệng hùm nọc rắn! Và nói cho đúng, Liza cũng chẳng khuyên gì. Nàng hói: “Tại sao bác lại phải cưới vợ? Những nguồn vui trí thức không đủ cho bác hay” sao?” Nói xong nàng cười lớn. Tôi không chấp cái cười của nàng bởi vì chính nàng cũng bị tổn thương. Tuy nhiên, họ bảo tôi rằng tôi không thể tiếp tục sống mà thiếu bóng một người đàn bà bên cạnh, với tuổi tác sắp tới tôi cần có ai ấp ủ đỡ đần, hay đại loại như vậy... Đúng ra, ngồi đây với anh trong những ngày qua, tôi đã bắt đầu cảm thấy rằng hóa công sắp cho tôi một người để ấp ủ tôi trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời sóng gió, để làm mọi công việc đáng lẽ phải làm. Cứ nhìn sự vô trật tự trong nhà này kia, nhìn giấy má, rác rưởi đầy trên sàn kìa! Tôi đã bảo người làm dọn dẹp từ hôm qua mà bây giờ quyển sách đó vẫn còn nằm trên mặt đất. Người bạn gái đáng thương của tôi bực mình vì ở đây lúc nào cũng bừa bộn... Ôi, từ dây chúng ta không còn được nghe giọng bà ấy ra lệnh nữa! Hai mươi năm! Hình như có thư nặc danh nói rằng Nicolai đã bán bất động sản của anh ta cho Lebiadkin. Thật là một quái vật, cuối cùng tại sao lại có Lebiadkin trong đó? Và Liza nghe không bỏ sót một lời. Ôi, thái độ nàng nghe! Nhìn sự biểu lộ trên mặt nàng khi nàng nghe, tôi tha thứ cho nàng cái cười của nàng. Còn anh chàng Mavriki, tôi cũng không ham gì địa vị hắn ngay bây giờ, hắn cũng đàng hoàng nhưng hơi nhút nhát. Nhưng tôi cần quái gì hắn...
Ông trở nên yên lặng, trông mệt mỏi và bối rối, ngồi đầu gục xuống nhìn nền nhà. Tôi nhân cơ hội kể cho ông nghe cuộc viếng thăm nơi Satov ở. Tôi nói với ông một cách vắn tắt và tàn bạo rằng theo ý tôi, em gái Lebiadkin, người tôi chưa hề gặp, có thể đã là nạn nhân một vụ bốc đồng của Nicolai, vào một lúc nào đó trong cái thời kì mờ ám của đời anh ta, nói theo lời Liputin. Và việc Nicolai gửi tiền cho Lebiadkin có thể có lý do. Đó là tất cả câu chuyện, về chuyện nhảm nhí liên quan đến Dasa, tất cả hoàn toàn vô căn cứ và chỉ là sự bịa đặt của tên Liputin hạ cấp kia. Ít nhất đó cũng là những gì Kirillov hết sức bênh vực, và anh ta có vẻ tin cậy được. Ông Verkhovenxki nghe những lời trấn an của tôi với thái độ của một người không quan tâm mấy đến vấn đề. Rồi tôi kể cho ông nghe cuộc nói chuyện của tôi với Kirillov và thêm rằng rất có thể hắn bị điên.
Ông nói một cách hờ hững, gần như miễn cưỡng:
- Không, hắn không điên, nhưng hắn là một người khả năng suy nghĩ rất có giới hạn. Những người như hắn nghĩ rằng thiên nhiên và xã hội loài người hiện nay khác với những gì Thượng đế đã tạo ra và khác với bản chất thật. Có nhiều người đồng ý với họ nhưng tôi thì không. Tôi đã gặp những người như vậy ở Petersburg khi tôi tới đó với người bạn gái thân mến kia. Ôi, lúc đó tôi thường làm chạm lòng tự ái của bà ấy! Nhưng tôi không hề xúc động trướọ những lời la ó hay tán tụng của họ. Bây giờ tôi cũng vẫn thế. Nhưng thôi, để nói sang chuyện khác. Tôi nghĩ rằng tôi đã làm một việc khủng khiếp. Hôm qua tôi gửi một bức thư cho Dasa và bây giờ tôi tự nguyền rủa vì chuyện đó. Ông viết cho nàng những gì trong đó?
- Ôi bạn ơi, xin bạn tin rằng tôi đã làm chuyện đó với tất cả thiện ý của tôi. Tôi đã báo cho nàng biết rằng năm ngày trước đó tôi đã viết thư cho Nicolai, việc này cũng không ngoài những thiện ý cao đẹp nhất của tôi.
Tôi la lớn:
- Bây giờ tôi hiểu rồi! Nhưng ông có quyền gì gán ghép họ lại như thế?
- Thôi bạn ơi, đừng la tôi như vậy! Đừng dồn tôi vào bước đường cùng! Tôi đã bị ép như một con rệp rồi. Nhưng mà, dù sao, tôi vẫn tin rằng tôi đã xử sự một cách cao thượng nhất mà tôi có thể. Thử ví dụ đã có chuyện gì xảy ra ở Thụy Sĩ, hay đã bắt đầu ở đây chẳng hạn... Trường hợp đó tôi phải hỏi họ trước khi làm bất cứ chuyện gì. Tôi không muốn ngăn cản họ, tôi không muốn làm một chướng ngại vật trên con đường họ đi... Tôi đã hành động với những thiện ý cao đẹp nhất.
- Trời ơi trời! Sao ông lại có thể làm được một chuyện điên rồ cùng cực như vậy?
Ông chộp ngay lấy lời tôi:
- Điên, điên! Chưa bao giờ anh nói đúng hơn. Thật là điên rồ, nhưng tôi biết làm gì khác hơn được? Cuối cùng, chuyện đã rồi. Dù sao chăng nữa tôi cũng vẫn làm lễ cưới, mặc kệ việc có hay không tội lỗi kẻ khác. Vậy đủ chưa?
- Quanh đi quẩn lại vẫn chuyện đó!
- Từ nay trở đi anh không còn dịp la cho tôi sợ nữa! Anh đang đứng trước một Xtepan Verkhovenxki khác rồi. Con người cũ đã chết và bị chôn vùi, cuối cùng, chuyện đã rồi. Mà tôi hỏi lại anh, anh lấy quyền gì mà la tôi như vậy? Anh đâu phải là người sắp lấy vợ, cũng đâu phải là người sẽ bị cắm sừng! Người bạn đáng thương của tôi, bạn không biết gì về đàn bà cả, trong khi tôi đã bao nhiêu năm nghiên cứu họ. Lời nói nghe được duy nhất của Satov - ông anh vợ của tôi, một người cũng lãng mạn như anh - là: “Nếu bạn muốn chinh phục thế giới, hãy bắt đầu bằng việc chinh phục chính bạn”. Bây giờ tôi muốn mượn câu châm ngôn của anh ta. Tôi sẽ chinh phục bản thân và sẽ cưới vợ. Nhưng sau đó tôi sẽ chinh phục cái gì, thay vì thế giới? Ồ, bạn ơi, hôn nhân là cái chết tinh thần của mọi tâm hồn kiêu ngạo, độc lập. Đời sống gia đình chỉ là một sự sa đọa. Nó sẽ tước đoạt mất năng lực của tôi, sự can đảm của tôi để phục vụ cho lý tưởng... Rồi sẽ có con cái. Có thể không phải con cái của tôi - tôi muốn nói chắc đứa con kia không phải của tôi. Một người khôn ngoan không bao giờ sợ sệt phải đối diện với sự thật. “Sáng nay Liputin có nói về chuyện phải dựng rào cản để ngăn Nicolai. Hắn là một đứa đần độn. Một người đàn bà thừa sức đánh lừa được con mắt của đấng toàn năng, nếu chủ tâm làm như vậy. Thượng đế nhân từ, khi tạo ra người đàn bà, chắc hẳn cũng biết sự nguy hiểm đó... Nhưng tôi tin rằng chính người đàn bà nài nỉ Thượng đế tạo nàng ra như thế, với tất cả những vẻ quyến rũ kia. Bởi vì có người đàn ông nào muốn chuốc lấy những phiền nhiễu ấy nếu chẳng được đền bù gì? Chắc chị Naxtaxia hẳn không bằng lòng với những lời lẽ khinh rẻ đó, nhưng cuối cùng, chuyện đã rồi.
Ông đã không thật sự là ông nếu không có những lời giễu cợt rẻ tiền đầy khinh miệt đó, thịnh hành vào thời ông còn trai trẻ. Dù sao, nhờ đó ông cũng phấn khởi được một chút nào, mặc dù không lâu.
Ông bỗng bật khóc, trong sự khổ não cùng cực:
- Ôi, ước gì xóa bỏ được ngày chủ nhật này! Tại sao lại không có lấy một tuần lễ không có ngày chủ nhật? Có lẽ nào hóa công lại không thể bỏ đi được một ngày chủ nhật khốn khổ này, dù chỉ để làm sáng mắt những kẻ vô thần. Ôi, hai mươi năm nay tôi yêu nàng biết là chừng nào! Thế mà chẳng bao giờ nàng hiểu cho tôi.
- Tôi cũng không hiểu nốt. Ông đang nói tới ai đó?
- Hai mươi năm! Vậy mà chẳng bao giờ nàng hiểu. Thế có phải là tàn ác không? Và nàng nỡ nào cho rằng tôi sắp cưới vợ vì sợ hãi hay vì lí do vật chất! Vì nàng đó thôi! Ôi, xấu hổ cho tôi! Ôi, nàng là cái cô Varvara thân mến kia, nhưng nàng là người đàn bà độc nhất mà tôi đã tôn thờ trong suốt hai mươi năm nay! Nàng phải biết cho như thế, nếu không người ta phải ra sức mới lôi được tôi tới cái mà người ta gọi là đám cưới đó.
Đây là lần đầu tiên tôi được nghe những lời thổ lộ thốt ra một cách mạnh mẽ đó. Tôi phải thú nhận rằng tôi đã phải nén tiếng cười. Tôi đã không phải.
Ông bỗng kêu lên, vung tay như chợt có một ý kiến gì mới:
- Bây giờ tôi chì còn lại một điều duy nhất trên đời, một hi vọng duy nhất! Chỉ có nó, đứa con trai đáng thương của tôi, mới cứu nổi tôi. Tôi mong nó sẽ tới đây ngay. Ôi Piot’r, con tôi! Tôi thực không đáng gọi là cha... Tôi đã đối xử với nó tệ hơn là một con cọp khát máu..., nhưng... để tôi yên bạn ơi, tôi thấy cần phải ngả lưng một lúc. Tôi phải tập trung tư tưởng. Tôi mệt quá, mệt quá rồi. Còn anh cũng nên đi nghỉ đi. Nửa đêm rồi, anh thấy không,..
[←28]
A.X. Puskin (1799 - 1837): đại thi hào Nga. Ông chú trọng tới sứ mệnh của nước Nga và đề cao tinh thần dân tộc. Tác phẩm chính là cuốn Evgheni Oneghin - Năm 1880, Doxtoevxki thay mặt làng văn Nga đọc diễn từ ca tụng sự nghiệp của Puskin.
[←29]
Molier (1622-1673): nhà soạn hài kịch trứ danh của Pháp.
[←30]
Volter: (1694-1778): văn hào Pháp, khuynh hướng hoài nghi và châm biếm, có ảnh hưởng tới cuộc cách mạng 1789.
[←31]
Bokhara: còn viết là Bukhara, một xứ miền Tây Á, nay thuộc Nga, dân sống du mục và chuyên sản xuất len.
[←32]
Tenier: tên chung hai cha con cùng là họa sĩ nổi danh chuyên vẽ phong cảnh đồng quê, người xứ Flander, nay thuộc nước Bỉ, sống vào thế kỉ XVII.
[←33]
Thằng Cười: tiểu thuyết của nhà văn Pháp V. Hugo (NHĐ).
[←34]
Kharcov: một tỉnh ở phía Đông Bắc Ucraina nay thuộc Nga.
[←35]
Cozac: tên một sắc dân thuộc Nga; cưỡi ngựa giỏi và rất hiếu chiến.
[←36]
Copec: tiền đồng của Nga, bằng 1/100 rúp.
[←37]
Columbus: người khám phá ra Mĩ châu năm 1492.
[←38]
Trerkex: tên một vùng ở Tây Bắc núi Cavcaz, phía Nam nước Nga.
[←39]
Sevastopol: một hải cảng thuộc Nga, bị liên quân Anh - Pháp vây từ năm 1854 đến 1855 trong trận chiến tranh Crum chấm dứt bằng Hiệp ước Paris 1956 xem thêm chú thích ở trang 166.
[←40]
Amazon: theo huyền thoại Hi Lạp, chỉ những nữ chiến binh khỏe mạnh, hiếu chiến, cưỡi ngựa giỏi, thuộc một giống dân sống ở vùng Xiti (Scythia) gần Hắc Hải.