Mới đầu, chỉ dăm ba người trông thấy. Nhưng thoáng sau, nhiều người đang còn mê mải gặm xương cũng hay và đều quay nhìn về phía trại ngủ. Họ sững sờ rồi lộ vẻ kinh ngạc. Đằng xa, một hình người gầy ốm tong teo, loạng choạng từng bước, dường như muốn kiếm đường lên nhà tiểu công nghệ nhưng chưa nhớ ra lối nên vừa bước vừa nhớn nhác tìm kiếm. Người đó gầy lắm, chỉ có bề cao chứ không có bề ngang, bước chập chững như đứa trẻ tập đi, nhiều lúc xiêu vẹo tưởng té xấp té ngửa đến nơi mà vẫn gượng đứng vững được. Rồi lại tiếp tục bước. Con người dị hình đó mặc quần sà lỏn rách bươm, hai cẳng chân khẳng khiu như hai cây sậy đã chết khô, trên dưới bằng nhau chỉ có khúc đầu gối là lớn nhất. Trên mình đeo nham nhở nhiều mầu: Màu trắng cháo lòng, màu nâu bạc và mầu đen, mỗi màu là một áo và mỗi áo là hai ba màu
Một dải khăn trùm kín đầu quấn quanh cổ buộc múi dưới cằm cũng rách tơi tả.
Trời rét căm căm, gió thổi lật tung dải áo phía trước khiến người đó phải lấy tay chặn ngang bụng. Khi không, hắn ngồi thụp xuống, có lẽ chóng mặt nên thấy đưa tay lên ôm trán. Ánh nắng ngày đầu Xuân chiếu rõ vào mặt. Hai mắt hắn trũng sâu như lỗ đáo và nhắm nghiền.
Sự xuất hiện bất ngờ, và lạ lùng trên gây ra những tiếng than khe khẽ trong đám tù:
- Trời ơi! Trời ơi! 325 lần mò đi đâu thế kia ?
- Tội quá, hắn tỉnh dậy hồi nào không ai biết!
- May ra thì sống được đấy!
Một người sốt sắn, nêu ý kiến:
- Đề nghị ông trưởng toán vào bếp xin cho hắn phần cơm hay cháo. Đầu năm, anh em ai cũng được hưởng bữa cỗ mà đồng cảnh 325 chẳng được miếng nào! Tội nghiệp!
Dăm, bẩy người động lòng trắc ẩn, rời mâm bước ra hiên, đứng ngó hình người quái gỡ nọ với vẻ thương xót pha lẫn tò mò. Thật ra, họ không ngờ giữa lúc mọi người cùng trại tin chắc tù nhân số 325 phải ‘’ngoẻo’’ trước khi mùa Xuân tới thì y sống lại và chập choạng bước đi dưới nắng Xuân như quỷ hiện hồn. Sức chịu đựng của người tù thật phi thường.
Tù nhân xì xào bàn tán về trường hợp quái đảm nọ...
Ngoài sân, bộ xương người lại run rẩy đứng lên, tiếp tục bước tới nhà tiểu công nghệ. Hình như từ bộ xương ấy có phát ra tiếng rền rỉ vì có người nghe loáng thoáng trong gió lạnh:
- Các...ông ơi! Cho tôi xin một miếng! Đói quá! Đói...quá!
Toàn rợn người trước người trước hình ảnh ghê rợn và tiếng rền rỉ như tiếng mèo gào đêm giữa buổi sáng mồng 1 Tết. Rồi thốt nhiên anh thấy thương xót lạ lùng.
Lúc đó, anh đã xong bữa. Hai mẩu xương thuộc phần của anh đã bỏ xuống mâm sau khi kỹ càng mút đi, mút lại cả chục lần. Đưa mắt nhìn bao quát một lượt trong trại. Toàn thấy vẫn còn người chưa xong bữa tiệc...xương. Phía sau lưng anh, mấy người cũng đã ăn xong nhưng vẫn cầm khư khư mẩu xương trong tay. Họ quay nhìn ra sân, nơi có hình người rách gầy ốm đang chận choạng bước.
Không ai biết rõ 325 bị tội gì, chỉ biết anh ta bị giam tại Trại Đầm Đùn đã hơn năm nay và ba tháng gần đây, ngay từ đầu mùa Đông anh ta mang bệnh, nằm liệt giường liệt chiếu. Nhờ có hạnh kiểm tốt, tính tình hiền lành, hay làm ít nói, xung phong hăng nhất, nhiều thiện chí học tập nên mặc dầu ốm đau không sản xuất cho trại, anh ta vẫn được bỏ mặc cho sống lay lất. Bất cứ người tù nào mang bệnh như anh là cầm chắc cái chết rồi. Vì ban quản trị trại giam chỉ ra lệnh cho nhà bếp một tiếng là người tù bệnh cứ nằm chịu trận đói lả trên giường cho đến lúc hấp hối, thở hắt ra mà vẫn còn cố đợi một miếng cơm, một chén cháo loãng hay một chén nước cơm chắt không bao giờ mang tới. Ngoài đời sống tự do, những thức ăn kể trên tầm thường không đáng kể, nhưng trong trại giam cộng sản, những thức đó có ảnh hưởng trực tiếp đến hơi thở, mạch đập của người tù. Cả những thức không ăn bằng miệng được cũng rất quý báu. Có người tù may mắn lượm được khúc xương sống cá dài hơn ngón tay -khúc chót đuôi- vứt sau nhà bếp. Anh ta run rẩy vì sung sướng, gói khúc xương đó trong một mảnh giấy cất trong túi áo. Bữa ăn, để tăng thêm khẩu vị, người tù kín đáo lấy khúc xương cá ra, đặt vào giữa hai bàn tay khum khum, đưa lên gần mũi hít mạnh mấy hơi lấy hương vị cá rồi thè lưỡi liếm một cái. Trên thực tế, liếm một đốt xương khô còn có gì nữa, nhưng trên phương diện tâm lý, bữa ăn đó người tù trại giam cộng sản mơ màng đến cá và nhớ lại những bữa cơm ăn với cá trong dĩ vãng. Và bữa cơm anh ta thấy dễ nuốt hơn dù chỉ ‘’ăn’’ cá bằng mắt, bằng mũi và bằng tưởng tượng.
Ít lâu sau, sơ ý đánh mất cái xương cá, người tù băn khoăn, bứt rứt, khổ sở và mất tinh thần đến nửa tháng trời mới tìm lại được sự bình tĩnh.
Câu chuyện ‘’cái xương cá’’, nhiều tù nhân biết, nhất là Toàn vì người tù ăn cá bằng tưởng tượng cùng toán với anh. Mỗi bữa cơm, cứ đến chén thứ hai và là chén chót. Toàn thấy người nọ ngó chừng giám thị rồi lấy vẻ tự nhiên, kín đáo giở gói xương cá thường xuyên mang theo. Nhưng lúc người nọ quay lại phía sau, đưa cái xương ra ngửi ngửi trước khi thè lưỡi liếm một cái thật lẹ thì Toàn quay nhìn chỗ khác, để che dấu sự buồn tủi chính trong lòng anh. Nhưng riết rồi Toàn cũng không chú ý đến hành vi của người bạn tù nữa.
Trường hợp tù nhân 325 mới thật lạ lùng. Từ đầu tháng Chạp ta, anh lâm bệnh nặng luôn luôn mê man đến nỗi buổi sáng anh em đặt anh ta nằm theo chiều nào, buổi trưa anh em trở về trại vẫn thấy anh nằm nghiêng chiều đó, không nhúc nhích. Rận, chấy trong người 325 như xung, bò lổm ngổm từng đám trên mấy manh áo rách. Thỉnh thoảng, tiện dịp, một người bạn tù tự động đem chiếc áo ra sân rũ thật mạnh mươi cái cho rận rớt bớt rồi đem vào đắp lên mình bệnh nhân như cũ. Nhưng vì nằm riết lại không tắm rửa, một tai bệnh nhân bị lở loét. Một buổi sáng, người tù nằm trõng bên bỗng giật mình vì phát giác từ bên trong tai bệnh nhân có những vật gì bò ra. Nhìn kỹ là ‘’ròi’’. Ròi cắn tai bệnh nhân loét hết, làm chẩy máu đỏ lòm mà bệnh nhân không biết, hoặc giả có biết nhưng không còn đủ sức để phản ứng. Anh em thương hại năn nỉ với giám thị xin cho phép lau rửa vết thương giúp và xin bệnh xá cho thuốc bôi vào vết thương. Nhưng ròi không sợ thuốc của bệnh xá và tai cứ lở loét thêm.
Chừng như ròi trong trại giam cộng sản cũng đói như tù nên đến gần Tết, chúng gặm gần hết, một tai tù nhân.
Thỉnh thoảng, có đồng cảnh thương hại làm phước đem cái gối đầu bằng mây đan của 325 ra sân đập xuống đất một chặp khiến ròi và rệp trong gối văng ra bò lổm ngổm. Toàn trông thấy phát nổi da gà, lợm giọng, không biết làm cách gì cho khỏi buồn nôn, phải bỏ một trái ớt vào miệng nhai để thay dầu gió. (Lúc nào Toàn cũng có ớt rừng tươi hay khô dắt trong người, như các tù nhân khác trong trại. Anh cũng tin ăn nhiều ớt tránh được bệnh ngã nước).
Đến gần ngày cuối năm, bỗng nhiên tù nhân 325 có vẻ tỉnh táo lại, ngồi lên được một mình và chìa tay xin ăn. Anh ta đã biết đói. Nhân dịp gần Tết, nhiều tù nhân được nhà tiếp tế, động lòng thương hại, chia sẻ cho vài mẫu bánh, dăm cái kẹo, một hai trái chuối. Xin được đến đâu, 325 ăn hết đến đó một cách ngon lành...Rồi đến bữa cơm, anh ta xin ăn và nhờ anh em đem phần cơm vào tận giường nằm. Mấy ngày sau, anh ta bắt đầu tỉnh người lại, khi đó mới biết mất nửa tai lúc nào không hay nhưng cũng không tỏ ra vui hay buồn. Anh em chỉ thấy 325 thường đưa tay đặt vào nơi trước kia là vành tai mà rờ rờ rồi lặng người đi, suy nghĩ...
Giữa đêm giao thừa, anh ta lên một cơn sốt nóng li bì. Sáng mồng 1 Tết tỉnh dậy, trong trại vắng tanh nhìn lên nhà tiểu công nghệ thấy mọi người đương ngồi ăn cơm, cơn đói bỗng nổi lên dữ dội, 325 ngồi nán lại trên giường dăm phút cho tỉnh hẳn rồi bước đại xuống đất, chập chững lần lên nhà tiểu công nghệ để kiếm bữa...
Tay chân còn yếu và đầu óc còn bàng hoàng chưa tỉnh hẳn, quãng đường không xa quá một trăm thước, 325 phải đi một lúc lâu. Khi tới bực thềm nhà tiểu công nghệ, 325 không làm sao bước lên nếu không được Toàn và một người nữa ra dìu vào đặt ngồi bên một mâm cơm đã sạch trơn.
Toàn nhìn vị trí của vành tai bị ròi ‘’nhắm’’ cụt gần nửa vừa buồn cười, vừa thương hại. Anh ngửi một mùi hôi từ người 325 bốc ra nên ngồi lùi ra xa một chút. Trong khi đó, 325 nhìn lần lượt những người ngồi quanh như những người xa lạ chưa gặp bao giờ, rồi lạnh lùng nhìn xuống mặt đất, tìm kiếm. Mãi mãi mới thấy 325 nhặt được mấy hạt cơm vãi còn dính đất đưa lên miệng mấp máy nhai. Sau cùng, 325 nhặt cục xương trâu bỏ trên mâm đưa lên miệng gặm lại rồi mút lấy mút để. Một tay 325 giữ mẫu xương đưa vào miệng gặm, tay kia lượm 4, 5 mẩu xương khác cầm chặt trong tay như sợ người ta đem đi mất.
Một tháng sau, Toàn vẫn thấy 325 giữ đủ 5 cục xương. Lúc rảnh rang và tỉnh táo, ngồi chồm hổm trên trõng, anh tù nọ lại đưa cục xương lên miệng mút chơi như ta ngậm và mút hột khi ăn trái nhãn. Sau này, Toàn có dịp nhìn kỹ, nhận thấy những mẩu xương đó đã nhẵn thín, những cạnh gồ ghề do vết dao chặt trở nên trơn tru, thì ra những cục xương trâu đó mòn đi thật!
Mãi khi 325 khỏi hẳn bệnh, phải đi lao tác cùng với anh em, phần khác sợ mút xương là vi phạm quan điểm của nhân dân, lúc đó 325 mới chịu liệng bỏ những cục xương trâu quý báu một cách ngập ngừng tiếc rẻ. Anh thú thật, nhờ có mấy cục xương đó, anh đã dằn được nhiều cơn đói. Phải chi hàm răng đủ mạnh, anh cũng dám nhai nát mà nuốt từ lâu.
Chiều mồng 3 Tết, lại xảy ra một vụ lộn xộn trong bữa ăn.
Bữa ‘’tiệc vây’’ sáng ngày mồng 1 Tết chỉ còn là một kỷ niệm trong ký ức tù nhân. Ân huệ đặc biệt của đảng và chánh phủ không dài quá một bữa cơm. Vì vậy, từ bữa cơm sáng mồng 2 Tết lại là những bữa cơm thường lệ, ăn theo khẩu phần. Thực đơn bữa cơm chiều mồng 3 Tết (cho một mâm 4 người ăn) gồm bốn món như sau:
- Một dĩa nhỏ rau muống luộc (đếm được 20 cọng rau).
- Một chút mắm tép.
- Một tô nước rau luộc.
- Một dúm muối hột.
Tù nhân sớt muối làm hai phần, múc một thìa nước rau luộc pha vào muối làm nước chấm thay nước mắm. Đã lâu lắm, tù nhân không được ăn nước mắm dù đó chỉ là muối hột ướp với cua đồng (thay cá), cua ngấu thành thứ nước đen thui. Đó là nước mắm thượng hạng của tù, mỗi tháng được ăn nhiều nhất bốn lần.
Bữa cơm này là bữa cơm cuối trong ba ngày Tết. Đáng lẽ ra, ngày mai tù nhân bắt đầu lao tác nhưng vì nhằm Chủ Nhật nên tù nhân được nghỉ thêm một ngày, làm công tác vệ sinh chung trong trại rồi ngày mốt mới đi làm, toán xay lúa lại xay lúa, toán cuốc đất lại vác cuốc đi làm, toán đi rừng làm củi lại vào rừng v.v...Chỉ còn toán làm than là năm nay ăn Tết luôn trong rừng bên những lò than, gắn liền đời sống của họ vào kết quả của từng lứa than ra lò.
Trước Tết, có mấy tù nhân gánh than về trại, Toàn hỏi thăm sức khỏe của Mạnh, Thanh và Tuyên, được biết họ vẫn bình yên. Không khí ở Trại Than tương đối được tự do khiến Toàn càng ao ước được đi làm than với các bạn. Còn tại Trại Đầm Đùn, não cân lúc nào cũng căng thẳng, tù nhân luôn luôn hốt hoảng trong một tình trạng lo lắng, hồi hộp, khiếp sợ thường xuyên.
Toàn vừa ăn vừa nghĩ cách vận động xin vào rừng làm than cùng mấy người bạn. Dường như các tù nhân đều nghĩ rằng hết bữa nay là hết Tết, hết nghỉ ngơi, ngày mai cuộc đời vất vả, nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã ít nói, bữa cơm càng mau rồi.
Cả bốn người trong toán đã buông đũa, đặt bốn chén sát bên nhau để chia phần nước rau luộc trong tô. Thói quen của bọn bốn người này là uống nước rau muống luộc sau bữa. Đó cũng là một cách súc miệng nhưng thay vì nhổ ra, họ lại nuốt để những thứ cơm, rau, mắm v.v...còn dính vào miệng trôi hết xuống dạ dày mà có người ví như ‘’thùng nước vo gạo’’ kẻo phí của trời. Ăn còn chẳng đủ, làm gì có của đổ đi!
Vả lại, như trên đã nói qua, trong Trại Giam Đầm Đùn, cái gì cũng cần thiết, từ cái kim, sợi chỉ, mảnh vải rách nát, nước điếu thuốc lào, cục xương trâu đã ăn rồi, nghĩa là bất cứ cái gì cũng cần thiết đối với tù nhân. Các thực phẩm còn cần thiết hơn một bậc nữa.
Mấy thìa nước rau muống luộc trong bữa ăn cũng quan trọng không kém mấy thìa cơm, một miếng cháy, vì không có một miếng nước, rau luộc tức là cơ thể thiếu chất ‘’rau’’. Mà thiếu chất rau, tù nhân ‘’phù thũng’’ mấy hồi ? Trong Trại Đầm Đùn, bị phù thũng thì cầm chắc sắp được mặc ‘’sơ mi cói’’. (Tù nhân đáp ‘’chuyến tàu suốt’’ cũng không được mặc ‘’sơ mi...cây’’).
Bốn chén được đặt gần nhau, một người nhấc tô nước rau lên lần lượt sớt vào bốn chén còn lại nước rau trong tô, y lại sớt thêm lần nữa, gia giảm cho phần nào phần nấy bằng nhau như có cân lượng hẳn hòi, không thể hơn kém nhau dù nửa thìa, theo đúng khẩu hiệu: Một giọt nước rau luộc là một giọt máu của tù.
Trưởng toán ngồi yên, ‘’án binh bất động’’, quan sát việc chia nước rau luộc. Toàn còn chần chờ đợi cho cặn lắng xuống đáy chén, hai người kia đã nhấc chén của mình định đưa lên miệng. Trưởng toán nhanh nhẹn như cắt, thoắt nắm chặt tay một người tù trong toán, dằn xuống và quắc mắt giận dữ nói:
- Hồi nãy, anh có ăn sang phần mắm tép của tôi một miếng. Vậy, phải bớt phần nước rau của anh một nửa. Cũng như sáng hôm kia, tôi đã phải bù một phần canh thịt của tôi.
Vừa nói, trưởng toán cầm chén của người nọ, dợn sớt nước rau qua chén mình thì người tù nọ dằng lại để phản đối, không dè lỡ tay làm đổ nước rau xuống đất. Thoáng cái, mặt đất hút hết, chỉ còn để lại, một vết xẫm loang trên nền nhà. Trưởng toán tái mặt vì tức, bàn tay cầm chén run run như người đang lên cơn rét, lặng người nhìn kẻ tranh chấp quyền lợi với mình, chưa kịp có thái độ thích ứng thì người kia đã như người mất trí, cuống quýt nhấc một chén khác còn đầy nguyên đưa vào miệng.
Không khí bữa ăn đột nhiên trở thành nghiêm trọng. Toàn đoán ngay sẽ có sự không hay nên vội cầm chén của mình ngồi lùi ra, rồi nói để giải hòa hai bên:
- Tôi xin các anh bớt nóng để giữ hòa khí với nhau. Anh nào cần, tôi xin nhường một nửa...
Không ai lưu ý đến lời hòa giải của Toàn. Trong khi người kia ngậm vành chén vào miệng, trưởng toán vội nắm chặt vành chén dằng ra. Dằng không được, trưởng toán nổi giận thêm, thốt ấn mạnh chén vào đối phương khiến người tù mất thăng bằng ngã về đằng sau. Lúc anh ta lổm nhổm ngồi lên, miệng đã đỏ lòm. Vành chén đã bị mẻ một miếng, cứa vào môi anh ta. Một tay cầm chén mẻ, tay kia đưa lên xoa miệng, chìa tay ra coi thấy đỏ lòm những máu, người nọ nổi khùng, lạnh lùng ‘’hừ’’ một tiếng căm giận rồi xuất kỳ bất ý đập thật mạnh vào giữa mặt trưởng toán bằng chiếc chén vỡ trong tay. Mọi người chỉ kịp nghe chén bể vụn, nhìn lại thấy mặt trưởng toán đã đỏ lòm, máu phun ra có vòi. Trưởng toán kêu ‘’ối’’ một tiếng đưa tay lên bịt chặt mặt, thoáng cái, hai bàn tay bê bết chan hòa những máu rồi máu chảy qua các khe ngón tay, nhỏ giọt xuống đất.
Nhìn những giọt máu tóe ra như những ngôi sao trên mặt đất, Toàn thấy chóng mặt. Anh vốn yếu tim, không dám lại gần can gián đôi bên nữa.
Không khí trong trại căng thẳng thêm khi tù thấy máu đổ. Có người nói:
- Trình giám thị ngay và xin phép đưa người bị thương lên bệnh xá.
Rồi có người chạy nhốn nháo và tiếng quát:
- Yêu cầu giữ trật tự. Cấm đi lại nháo nhác. Ngồi hết cả xuống...
Tiếng quy-lát súng kéo xành xạch khiến nhiều người tái mặt. Giám thị xách súng chạy tới, mũi súng lăm lăm chỉa vào đám tù nhân gây...rối.
Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp ngồi xuống bên mâm cơm, không nhúc nhích. Giám thị đã có nhiều kinh nghiệm về các vụ xung đột của tù nên tiến thẳng đến bên mâm cơm lưu huyết. Y nhìn bộ mặt be bét những máu, dõng dạc hỏi:
- Đầu đuôi ra sao ? Vì lý do gì làm mất trật tự ?
Người tù rách môi vừa cất tiếng phân trần đã nghe quát:
- Im mồm! Chưa tới anh.
Trưởng toán vuốt máu chan hòa trên mặt, nhắm mắt và nói:
- Trại viên 125 đã đập chén vào giữa mặt tôi. Hắn đã ăn sang phần mắm tép của tôi lại cướp nước rau luộc để uống hết, làm đổ hết phần nước rau của anh em trong toán...
Người tù rách môi định phân trần, giám thị đã chỉa súng vào ngực y và quát hỏi dữ tợn:
- Anh có đả thương trưởng toán không ?
- Dạ...thưa ông giám thị, trưởng toán không cho tôi uống phần nước rau của tôi...Anh ta lại...
Giám thị cắt ngang:
- Im! Trả lời câu hỏi: Anh có đả thương người này không ?
- Dạ...Dạ...có! Tôi chót nóng vì...
- Câm miệng!
Một chiếc còng khóa liền tay hai thủ phạm phá rối trật tự. Giám thị ra lệnh:
- Lên văn phòng khai.
Hai tù nhân cùng một toán, cùng cảnh tù tội, lúc bình thường đôi khi còn thương vay cho nay, nay vì một sự thèm ăn thèm uống nhất thời mà thành đối thủ sắp phải buộc tội lẫn nhau để dành phần phải về mình. Họ lo sợ khi nhớ ra rằng ở trong tù ‘’cái sẩy nẩy ra cái ung’’, chỉ vì một miếng nước rau, một miếng mắm tép mà hết sống bởi không chịu nổi những hình phạt của trại giam.
Tối hôm đó, nghe điểm danh trước khi tù nhân ngủ. Toàn không nghe tiếng hô số của hai người bị còng tay dẫn lên văn phòng hồi chiều. Không ai dám hỏi, chỉ đưa mắt ra hiệu cho nhau giữa những người cùng toán.
Một lần không khí nặng nề bao phủ khắp trại và hình ảnh máu me, trừng phạt khủng khiếp theo dõi người tù cả trong những giấc ngủ. Đêm khuya, những người khó ngủ thường nghe những tiếng ú ớ nói mê của đồng cảnh. Hôm nay, tù nhân được chứng kiến một cảnh tượng khó quên khiến nhiều người dị đoan cho rằng: Năm nay, tù nhân phải chịu nhiều cảnh đau đớn, khổ não khác thường. Vận nước càng điêu linh bao nhiêu, nạn nhân của chế độ càng phải chịu nhục nhã, khổ ải bấy nhiêu.
Sáng Chủ Nhật, theo thường lệ có lễ chào ‘’quốc kỳ’’.
Những tù nhân có kinh nghiệm và tinh ý đều nhận ra ở giữa sân, trước cột cờ, có đóng bốn cái cọc thấp lè tè như cọc dùng để cột trâu ngoài bãi cỏ. Họ giựt mình sợ hãi nhưng không dám hỏi han bàn tán. Nhiều người bỗng trở nên rụt rè, khép nép, bất giác kiểm điểm lại quần áo coi có gì lạ cần sửa anh nào cũng quấn một manh áo một mảnh. Họa hoằn lắm, có anh mặc chiếc áo mới, quần lại tơi tả, rách bươm như sơ mướp. Tình cảnh đã bi đát, thê thảm đến như thế mà có người còn bông lơn một cách vô duyên:
- Ối dào! Cho nó...thoáng!
Không ai cười ai hết vì không có can đảm và thì giờ cười người khác. Bất cứ một sự chẳng may nào cũng có thể khiến người tù ‘’được’’ mặc quần không đũng!
Một tên lính cảnh vệ bận đồ ka-ki nội hóa, đội nón lá, lăm lăm khẩu súng trường hách dịch nhìn bẩy tám trăm tù nhân một cách giận dữ. Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp xắp hàng chuẩn bị làm lễ chào cờ.
Trại bên kia tù nhân Pháp cũng đang chuẩn bị hàng ngũ để làm lễ chào ‘’quốc kỳ’’ của những người cầm tù họ.
Lá cờ đỏ rực một cách tàn bạo, lúc nào cũng như vừa ăn gan uống máu nạn nhân của chế độ, từ từ tuồn lên ngọn cột trong khi sáu bảy trăm cái miệng hết hơi vì đói vì bệnh, cố gào lên những lời thù hận của bài quốc ca. Tiếng hát chào cờ vọng vào tận những lùm cây xa xa dưới chân núi.
Thủ tục chào cờ xong, trái với lệ thường, tù nhân không được giải tán để về trại ăn cơm sáng mà còn phải đứng lại nghe một tin làm tái mặt nhiều người. Đó là tin một tù nhân bị trừng trị vì phạm tội phá rối trật tự trong trại. Y đã đả thương trưởng toán sau khi ‘’vi phạm quan điểm của nhân dân’’: Ăn lấn sang khẩu phần của người khác, làm hư hao thức ăn và làm hư hại ‘’nghiêm trọng’’ đồ dùng của trại giam (Toàn đoán ra là bị can đã làm bể một chén sành bới cơm cho tù). Ngoài hư hao về vật chất, thương tích trên cơ thể, thiệt hại về năng xuất, bị can còn nêu một gương xấu có phương hại cho kỷ niệm chung của trại.
Viên giám thị nhìn mặt các tù nhân để nhận định tầm mức ảnh hưởng gây ra bởi những lời tuyên bố đanh thép của y rồi trịnh trọng dằn từng tiếng:
- Hình phạt cho kẻ phạm lỗi lần đầu: 50 roi.
Có những tù nhân nuốt nước miếng ừng ực. Có những anh mặt tái đi vì sợ tuy biết chắc mình vô can trong vụ này.
Sau khi tuyên bố lý do áp dụng luật lệ, giám thị ra lệnh giải tán hàng ngũ. Nhưng giải tán để đứng vây quanh kẻ phạm lỗi đặng chứng kiến sự trừng phạt mà cảnh giác.
Cả một đám đông sáu, bảy trăm người mà không nghe một tiếng xì xào. Chỉ thỉnh thoảng nghe những tiếng ho sù sụ không giữ nổi trong lồng ngực. Tù nhân khép nép trong trật tự, đứng bao quanh một khoảng đất trống giữa bãi chào cờ, lấy bốn cái cọc tre đóng trên bãi làm trung tâm điểm.
Bỗng mọi người nháo nhác quay nhìn về một phía. Rồi không ai bảo ai, các tù nhân tự động đứng dãn ra, để hở lối đi cho một tội nhân khấp khễnh bước vào với sợi xiềng lòng thòng giữa hai cẳng. Toàn chỉ quan sát sơ qua là biết tội nhân trước lúc đó đã bị xiềng thượng khẩn, nghĩa là đã bị ban quản trị quy cho một tội nặng. Vì không có vải rách hoặc lá chuối khô quấn vào cạnh khoen sắt, cổ chân tội nhân đã tóe máu.
Hình như y không lưu ý đến cổ chân chảy máu, chỉ lộ vẻ ngơ ngác đần độn có lẽ vì quá sợ hình phạt sắp phải chịu. Mới từ chiều hôm qua là lúc xẩy ra vụ đánh lộn với trưởng toán vì mấy thìa nước rau luộc, đến sáng hôm nay, mặt y già xọm và hốc hác trông thấy.
Vào bên trong hàng rào người, y thẫn thờ nhìn viên giám thị rồi đứng lặng người, khoanh tay ngó khoảng đất giữa 4 chiếc cọc. Thốt nhiên tội nhân chẩy nước mắt ròng ròng.
Y chưa khóc được bao lâu thì ngoảnh cổ ngó một người đang bước tới. Thốt nhiên lại yên lặng như tờ. Cả đến những tù nhân mắc bệnh ho kinh niên, ho sù sự luôn miệng, lúc đó cũng...tịt cả ho. Chỉ vì họ thất đảm trước sự xuất hiện của một nhân vật tuy giữ địa vị tầm thường mà có ‘’quyền hành’’ ghê gớm. Mấy trăm người có mặt đều thì thầm trong trí hai tiếng khủng khiếp: Đầu Trâu.
Phải! Đầu Trâu đã tới làm nhiệm vụ. Y cầm lắt lẻo trong tay một khúc roi dài chừng hơn thước tây. Đó là một khúc ‘’roi mây mật’’, khi đánh, roi quất vào thịt cứ ‘’ngọt lịm’’ đi như mật.
Vài tù nhân lúc rảnh rỗi bàn phiếm về tác dụng ghê gớm của cây roi mây mật đã giải thích một cách hài hước như vậy. Nhưng khi trông thấy Đầu Trâu xách roi, hồn vía họ bay tuốt lên mây.
Bỗng Đầu Trâu nhìn sững kẻ sắp là vật hy sinh dưới ngọn roi của y rồi ra lệnh:
- Nằm xuống!
Tội nhân lắp bắp trong miệng hai tiếng ‘’vâng ạ’’ lúng túng cởi áo. Trời rét ngọt , gió bấc vùng núi thổi đều từng ngọn như mũi dao lách vào da thịt. Thoáng cái, tội nhân chỉ còn đeo trên mình có chiếc xà lỏn rách. Đầu Trâu đưa mắt một cái, tội nhân rụt rè mấy giây rồi cởi quần ra, liệng xuống đất. Y run lên cầm cập, lấm lét nhìn Đầu Trâu. Có lẽ y nghiến hai hàm răng vào nhau cho bớt sợ nên Toàn thấy xương quai hàm của y giây lát lại nổi lên rõ mồn một.
Lệ đánh đòn của Trại Giam Đầm Đùn là như vậy. Khi chịu đòn, tội nhân phải trần truồng không mảnh vải trên người. Nếu mặc quần áo thì đó là quần áo chứ không phải tội nhân chịu đòn. Tội nhân lạnh lùng nằm sấp xuống đất, dang hai tay và hai chân. Một người đã chờ sẵn theo lệnh của giám thị với vật dụng cần thiết: Đó là bốn sợi dây luộc, nhỏ bằng ngón tay. Người nọ buộc hai cổ tay, hai cổ chân tội nhân bằng bốn sợi dây, còn bốn đầu dây buộc vào bốn cây cọc, siết thật chặt.
Bốn sợi dây căng thẳng nằm lơ lửng cách mặt đất chừng ngón tay khiến thân thể người tù nằm đó có vẻ dài thêm ra. Hắn nằm nghiêng một bên má, ngó về phái Đầu Trâu như an đành với số phận, hai hàng nước mắt bỗng lại ròng ròng. Toàn thấy cảnh tượng như vậy cũng muốn ứa nước mắt. Đây là lần đầu tiên được chứng kiến nên anh vừa hồi hộp vừa thương tâm. Nhưng cảm giác rõ rệt nhất trong lòng anh là sự sợ hãi kinh khủng. Nhất là cái khung cảnh đã làm cho anh mất vía, bàng hoàng như đang sống trong một cảnh tra tấn của quỷ dữ dưới âm ty địa ngục vẫn tả trong các kinh sách Nhà Phật.
VII.
Nằm nghiêng một bên má, ngó chừng Đầu Trâu, tội nhân 125 đang nghĩ ngợi, tính toán để ‘’hóa giải’’ bớt hiệu lực của những ngọn roi song mật. Mặt anh ta lại thộn ra một cách kỳ cục. Đầu Trâu liếc nhìn và mỉm cười, ra vẻ đã khám khá được mưu kế của nạn nhân. Y cười mà không phải cười, nghĩa là y nhếch mép để lộ mấy cái răng cửa đen thui khập khểnh, nom tàn nhẫn một cách khiếp đảm.
Chung quanh vẫn yên lặng như tờ. Không khí nặng nề như sáu, bảy trăm người có mặt đang coi xử tử hình một người trong khi chờ đợi đến lượt mình, chứ không phải một vụ đánh đòn trừng phạt tầm thường.
Đầu Trâu cầm ngọn roi mây nằm ngang trong tay, đắn đo từng bước trên bãi đất, đi vòng quanh người nằm đấy, kiểm soát lại bằng mắt những mối dây buộc vào cọc. Đó là một việc làm gần như vô ích vì từ khi Đầu Trâu nhận lãnh công việc đánh người, chưa bao giờ xảy ra vụ sút dây trói.
- Úp mặt xuống đất! Thằng kia!
Phạm nhân lập tức gục trán chống xuống đất, đưa miệng và mũi hơi cao hơn mặt đất để thở. Anh ta chỉ kịp thoáng nghĩ ‘’Thôi, thế là chết’’, rồi nhăn rút mặt lại, chuẩn bị một sự chịu đựng phi thường. Nhưng Đầu Trâu vẫn chưa múa roi. Y còn vờn chung quanh phạm nhân với những mục đích khác nhau.
Thứ nhất, về phương diện tâm lý. Nếu y đánh ngay, thần kinh hệ phạm nhân đỡ bị căng thẳng và cả những người chứng kiến cũng bớt khiếp hãi, hồi hộp. Mối nguy hiểm sắp sửa tới ta kinh sợ, nhưng khi tới rồi, sự sợ hãi giảm đi và ta sẵn sàng chịu đựng.
Thứ hai, y nghiên cứu đặt những ngọn roi vào vị trí nào trên cơ thể, đánh làm sao cho ‘’đẹp’’ và phạm nhân thấm đòn!
Đột nhiên mấy tiếng ‘’vút vút’’ rít lên trong làm gió lạnh khiến mọi người rùng mình, vài tù nhân quá nhát sợ nhắm cả mắt lại như chính mình đang bị đòn. Người nằm dưới đất hơi quằn quại, một vài thớ thịt trên lưng, trên mông nổi lên lặn xuống. Toàn đã được những tù nhân có kinh nghiệm truyền cho một bí quyết chịu đòn. Khi bị đòn, phải cố gắng bắt tâm trí nghĩ đến những chuyện vui sướng đã qua, dồn hết tâm trí vào những chuyện đó, mặc cho xác thân bị hành hạ. Như thế, hiệu lực của ngọn roi sẽ giảm đi rất nhiều. 125 cũng biết ‘’bí truyền’’ ấy, vậy mà khi chưa một ngọn roi nào chạm vào da, bắp thịt anh đã chuyển động gồng lên như đang chịu đòn. Cho hay từ lý thuyết đến thực hành biết bao khó khăn công sức, khác chỉ đang ăn theo khẩu phần C làm thế nào để được cải sang khẩu phần B vậy.
Nhìn người bạn tù cùng toán nằm trên mặt đất không mảnh vải trên người, tứ chi bị trói vào cọc ở bốn góc mường tượng như con chó sắp bị đưa ra làm thịt, anh cảm thấy nhục nhã vô cùng, tưởng đang sống dưới thời phong kiến mấy trăm năm về trước. Không biết vì xấu hổ hay thương xót cho số phận con người dưới chế độ phi nhân, anh lại ứa nước mắt, phải cúi mặt xuống đưa tay quệt thật nhanh. Vì ứa nước mắt như thế là không tiến bộ là vi phạm quan điểm của nhân dân, là đồng lõa với kẻ phạm lỗi.
May quá, không có ai thấy trước khi mắt anh đã ráo hoảnh.
- Đét..! Đét..! Đét..! Đét!!
Bốn năm đường roi mây quật tới tấp lên mình tội phạm giữa lúc bất ngờ nhất. Cây roi siết vào không khí lạnh bật ra những tiếng veo véo, tức thì thân thể phạm nhân nẩy lên như nằm trên tấm nệm lò xo. Rồi những tiếng ‘’đen đét’’ như mưa rào tháng Tư vụt xuống khoảng bên dưới thắt lưng và trên hai mông đít.
Người nằm dưới đất bật lên khóc ai oán:
- Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!
Đầu Trâu ngừng tay roi thốt giận dữ như một ông tướng bị lính xúc phạm đến danh dự:
- Câm mồm! Trừ năm roi!
‘’Trừ năm roi’’, có nghĩa là năm roi vừa đánh không tính, phải đánh lại. Khi đó Đầu Trâu đã đánh được 15 roi rồi, nhưng chỉ kể 10 roi. Còn 40 roi nữa.
Phạm nhân úp mặt xuống đất, nức nở như muốn than van với đất nỗi đau đớn đang phải chịu. Nhưng đất dầy quá lại không có tai không nghe. Đầu Trâu chú ý nhìn những vết roi đang thành hình trên mông phạm nhân.
Vừa rồi, vết roi mới bầm, lúc này đã xẫm lại vì máu đã rớm ra.
Đã đến lúc Đầu Trâu vào bài, vì y đánh có bài bàn. Y lùi lại một bước, nhắc tay roi lên và vụt xuống. Nhưng y tính sao cho khoảng roi chạm vào da thịt không dài quá 15 phân để bao nhiêu sức mạnh của bắp thịt cánh tay chỉ dồn vào một diện tích tối thiểu. Như thế, sự đau đớn gây ra cho kẻ bị đánh sẽ gấp bội.
Nhưng chưa phải có thế mà thôi. Đúng lúc đầu roi song mật vừa quất vào da thịt phạm nhân thì y ‘’vặn’’ cổ tay cầm roi một cái, đồng thời giựt mạnh theo chiều dài của ngọn roi với một kỹ thuật lạ lùng. Tức thì làn da của phạm nhân bị bứt lên từng mảnh hoặc bị xé như cứa bằng dao.
Đến roi thứ 30, máu ở hai bên mông đít đã chan hòa. Trên cơ thể của phạm nhân, hai mông đít là bộ phận nhiều thịt nhất đã bị tơi tả rách nát. Phạm nhân chỉ còn rên hừ hừ, ngay cả lúc Đầu Trâu ngừng tay roi. Đám tù vây quanh thấy phạm nhân thở rất gấp, bụng y phồng lên xẹp xuống rất mạnh. Nhưng ít người rõ được thâm ý ác độc của Đầu Trâu, hậu quả của vụ trừng phạt này còn tác động lâu dài rất nguy hiểm đến đời sống của phạm nhân sau này.
Lúc bị đánh đau quá, khí lực trong người vận dụng lên hết để chịu đựng rồi thoát ra bên ngoài theo hơi thở, theo lỗ chân lông. Đến lúc hít vào thì hít phải hơi ‘’đất’’ có chất ‘’hàn’’. Chất ‘’hàn’’ đó liếm vào trong cơ thể, vào lục phủ ngũ tạng rồi gây nên nhiều ác chứng về sau. Hơn thế nữa, luôn luôn tù nhân bị đòn vì phạm lỗi nặng phải giam trong xà lim, cùm hai chân. Đít và lưng bị rách nát, tù nhân đau không thể nằm ngửa nằm nghiêng mà phải nằm sấp trong lúc cơ thể suy nhược. Hơi đất liếm vào phủ tạng nên tù nhân bị ‘’chướng’’, mất mạng như bỡn!
Cây roi trong tay Đầu Trâu lại vun vút trong gió lạnh liền một hơi đến chục lần. Phạm nhân luôn miệng ‘’hứ! hứ!’’ như đang bị bào thịt rách da rồi nằm ngay đơ...hệt người ngủ say. Mặt anh ta nghiêng về một bên. Một số tù nhân thấy hai đường máu đỏ quạch từ hai lỗ mũi nạn nhân bò ra và bên mép sát đất cũng rỉ máu tươi. Đầu Trâu đánh cách nào mà tuy chỉ đánh trên lưng và mông đít, máu phạm nhân lại ứa ra đằng miệng, đằng mũi! Những người chưa thấy lần nào run lên cầm cập, một số toát mồ hôi đầm mình còn một số dấu mặt bật lên khóc nức nở như con nít. Họ không thể giữ sự thương tâm ở trong lòng lâu hơn nữa.
- Lấy một gáo nước lạnh!
Tội nhân đã chết giấc, phải dùng nước lạnh làm cho tỉnh lại đặng còn chịu đòn tiếp. Đánh một người đã chết giấc khác gì đánh vào thây ma. Mà thây ma còn biết gì là đau đớn! Nếu tiếp tục, đòn phạt sẽ vô tình trung trở nên vô dụng, phí công!
Đầu Trâu thong thả nghiêng gáo nước lạnh cho chảy thành một giòng nước nhỏ vào giữa mặt tội nhân rồi đưa lần xuống phía dưới cho chẩy trên lưng và mông đít. Gặp gió lạnh, máu đã đông lại từng mảng trên mông, giờ gặp nước bong ra và trôi xuống đất, để lộ những khoảng thịt bầy nhầy nát bấy! Bấy giờ, mọi người mới thấy rõ Đầu Trâu đã luyện khoa đánh đòn đến mức tinh vi tuyệt đỉnh: Ngọn roi sau đè lên ngọn roi trước không sai mảy may khiến da thịt rách tung như thế. Có tù nhân quá khiếp sợ đòn của Đầu Trâu phê bình rằng: Đầu Trâu quen tay quen bài đến mức có thể nhắm mắt cũng không trật một ngọn roi ra ngoài vết roi trước, nếu hắn muốn.
Tội nhân chợt tỉnh, bỡ ngỡ nhìn lên trời cao vòi vọi và đỉnh núi xanh xanh phía xa xa, rồi lại não nề nhắm mắt. Sau đó vài giây, anh ta bàng hoàng mở mắt rồi chừng như tỉnh hẳn, nhận thức được việc đang xảy ra, anh ta gào lên một tiếng trong cổ họng. Tiếng gào đó dù không có âm thanh rõ rệt nhưng chắc chắn có ý nghĩa như một lời uất hận, một lời than thân, một lời nguyền rủa độc địa khiến những người nghe thấy đều rùng mình khiếp hãi. Đầu Trâu quắc mắt, nhe răng định quát...lại thôi.
Ngọn roi song mật lại veo véo trong gió lạnh. Còn hai chục roi, Đầu Trâu nhắm đánh vào khoảng giữa hai mông đít, trên ba đốt xương sống cuối cùng. Chỉ thấy tội nhân nhổm đít lên thật cao rồi rơi phịch xuống, quằn quại như con rắn bị đánh dập đầu. Cuối cùng, tội nhân nằm ngay đơ để chịu đựng mấy roi kết thúc.
Đấu Trâu hạ ngọn roi, bước lại trước mặt giám thị, lễ phép nói:
- Thưa đồng chí giám thị, đã đủ năm mươi roi!
Giám thị không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào từ đầu đến cuối, lạnh lùng gật đầu:
- Được rồi!
Rồi quay lại bảo đám đông:
- Cởi trói ra, cho về xà-lim.
Cùng với mọi người, Toàn sán lại gần tội nhân và thấy đốt xương sống đã bị đánh bật xương lòi tủy ra ngoài. Trong khi mỗi người cởi một đầu dây, Toàn khẽ vỗ vai người nằm đó, ra hiệu ngồi lên. Nhưng anh ta vẫn nằm nguyên vị khiến một người khác vừa đắp chiếc áo rách lên mình anh cho bớt lạnh vừa nắm tóc mai giật cho tỉnh lại. Cũng vô hiệu.
Lúc đó, Toàn mới thấy mồm anh ta đầy máu. Vài ba người hốt hoảng xúm lại nhấc lên, nhận ra thân thể anh đã mềm một cách khác thường, không phải cái mềm của thân người còn sống.
Một người rờ vào tim tội nhân, tim đã hết đập! Một người vạch mồm để coi máu ở đâu chảy ra nhiều như vậy. Khi đó, mọi người mới hiểu tại sao tim anh ta hết đập.
Thì ra anh ta đã nhai nát lưỡi để tự tử.
Cách đó 3 ngày, một buổi sáng, Toàn xung phong theo đoàn tù đi chặt củi ở rừng. Kể từ ngày ông già tóc bạc treo cổ tự tử trong rừng bằng giây luộc, anh còn xung phong nhiều lần nữa. Mỗi lần đi làm củi, anh lại nhớ mấy người bạn đi làm lò than.
Hình ảnh vụ Đầu Trâu đánh đòn bữa trước lại hiện ra trong óc Toàn, rõ ràng và đẫm máu. Nhất là cái kết cục, thật bất ngờ đáng sợ. Anh biết chắc suốt đời không thể quên nổi. Tuy đa số tù nhân tội nghiệp cho 125, nhưng mừng thầm anh ta đã được giải thoát khỏi cảnh ô nhục.
Bữa nay, số người vào rừng làm củi có tới 60 tức là 12 toán 5 người, do trưởng ngành củi trong tổ sản xuất hướng dẫn và chỉ huy. Về phía ban quản trị có một giám thị và hai cảnh vệ võ trang, theo vào khu rừng xa khoảng 15 cây số, một khu rừng vẫn được khai thác lấy gỗ, củi lâu nay.
Từ hôm xẩy ra vụ xung đột vì thấy thìa nước rau luộc đưa đến kết quả một người bị đòn trừng phạt khiến phải tự tử ngay trước mặt sáu bảy trăm đồng cảnh và một người nằm bệnh xã điều trị trước khi phải thọ hình phạt chưa biết như thế nào, toán của Toàn chỉ còn hai mống. Hôm sau, có gần trăm tù nhân từ các nơi đưa đến, theo lệnh của ban quản trị bọn này được chia ra nhiều toán. Toàn được chỉ định làm trưởng toán, coi 4 người khác trong phạm vi toán của anh. Toàn mừng thầm không phải vì trưởng toán có quyền lợi gì hơn các toán viên nhưng ít ra đã được công nhận có hạnh kiểm tốt, tư tưởng đúng đường lối nhà nước ấn định, có thiện chí xung phong trong mọi công tác v.v...
Nhận xét tổng quát, các tù nhân mới nhập Trại Giam Đầm Đùn tang thương không kém những người đã bị giam lâu ngày tại đây. Người nào, người nấy đều bị mòn mỏi, tinh thần hoảng hốt, ghẻ lở, quần áo tả tơi, mặt mày hốc hác một vẻ đặc biệt ‘’ốm đói’’ như bất cứ tù nhân nào của trại giam cộng sản thời đó. Trong một lúc vắng vẻ, Toàn kín đáo và thân mật hỏi một trong hai người mới nhập toán, được biết họ từ một trại giam gần Thái Nguyên bị đưa về. Họ phải lẽo đẽo đi hơn 4 tuần lễ mới về đến Đầm Đùn sau khi đã rơi rớt quá nửa ở dọc đường, một số lớn chết gục trên đường thiên lý, một số bị bắn chết vì mưu toan trốn và một số rất ít còn đủ sức chạy thì trốn thoát nhờ chạy đại được vào giữa mặt trận, nơi hai bên đang rình rập nhau mà chưa được lịnh khai hỏa. Do đó, lính cảnh vệ không dám nổ súng vì sợ quân viễn chinh Pháp phát giác cuộc di chuyển tù nhân. Cũng do người này, Toàn được biết thêm tình hình chiến sự vùng Trung Châu Bắc Việt đang cực kỳ gay go, nghiêm trọng nên chính quyền cộng sản phải cho di chuyển tù nhân các nơi vào các vùng xa xôi, núi non hiểm trở trong vùng Chí Nê và Tây Bắc Thanh Hóa v.v...
Hai người tù mới nhập toán mang số 982 và 983, một người có vẻ thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản, một người thuộc thành phần thợ thuyền lao động như thợ máy, và có bàn tay bốn ngón. Khi Toàn hỏi thăm người này thảm nhiên kể lại trường hợp hy hữu nhờ nhanh trí và gan dạ anh ta đã thoát chết. Một bữa nọ ở Việt Bắc sau khi phạt cây, anh ta xúc đất đổ nền lấy chỗ dựng lều tạm trú trong rừng cho đoàn tù đang bới đất chợt thấy buốt đánh nhói nơi đầu ngón tay trỏ bàn tay trái như bị rắn độc cắn, anh ta vội nắm chặt ngón tay bị thương hãn cho máu độc khỏi chạy về tim và thấy một con bò cạp đen thui đang chui và lỗ nức dưới đất. Biết bị bò cạp chích, anh ta vội giằng lấy con dao trong tay người bạn, kê ngay ngón tay bị chích lên hòn đá, chặt một nhát. Chẳng may khi đó, mắt đã bắt đầu hoa, anh ta chỉ chặt được có một đốt, liền ngay bên vết cắn, nên cái cảm giác buốt nhói vẫn còn. Anh ta phải chặt lại nhát thứ hai, cụt luôn hai đốt còn lại, rồi loạng choạng ngã xuống đất, miệng la rầm rĩ, tay vẫn bịt chắt vết thương cho khỏi mất nhiều máu. Mấy người bạn tù xúm vào nhấc anh lên và kiếm lá dịt vết thương cho cầm máu. Ấy vậy mà cũng phải gần hai tháng vết thương mới lên da non.
Nọc bò cạp đến nỗi chỉ một lúc sau, đốt tay vị chặt đen thui lại, đến quá trưa hôm sau bắt đầu thối. Anh ta đào một lỗ nhỏ chôn mấy đốt ngón tay, khi đó anh ta buồn bã một cách kỳ cục và có cảm tưởng như đang đào huyệt để tự chôn mình.
Theo thể lệ mới, công tác làm củi nặng nề hơn trước nhiều. Ngoài hai bó củi tù nhân phải gánh về, còn phải chặt thêm hai gánh củi nữa (4 bó) xếp ngay ngắn bên những đống của người khác, để tù nhân khác sẽ đến gánh về trại. Như thế luôn luôn có một số lượng củi đã làm sẵn xếp trong rừng. Cho thi hành công tác làm củi theo tiêu chuẩn mới ấn định lại, nhà cầm quyền cộng sản nhằm hai mục đích:
- Sử dụng hết mức sức lao động của tù nhân.
- Đầy đọa tù nhân cho mau chết đặng loại bớt một số phần tử không có lợi, hoặc có hại cho xã hội chủ nghĩa.
Vì tiêu chuẩn đặt ra cao hơn trước nhiều nên khi vào tới rừng rồi, người nào người nấy hăm hở bắt tay vào việc ngay, chỉ sợ không đủ làm kịp số lượng bắt buộc. Toàn cùng ba người đồng toán chung sức làm một cây như mọi lần.
Trời tuy rất lạnh, nhưng làm củi chừng tiếng đồng hồ, người nào người nấy lột bỏ áo, buộc hai tay áo trước cổ, thân áo để lòa xòa trên lưng ướt đẫm mồ hôi. Riêng Toàn vì yếu phổi và chớm bị bệnh hen nên vẫn mặc áo trong lúc làm cây tuy anh cho đó là một sự phí phạm tai hại.
Chợt nhớ đến tù nhân 125 chết mấy hôm trước, Toàn ngừng tay dao hỏi người bạn cùng toán:
- Này, không biết xác của 125 ra bãi lúc nào nhỉ ?
- Sau bữa cơm một tiếng đồng hồ. Khi ban quản trị đã xóa tên, cho ‘’chạy giấy’’ xuống đem chôn ngoài bãi.
- Tội nghiệp! Lúc chôn 125 có được mặc quần áo không ?
- Nghe đâu chỉ có các quần đùi rách, còn các áo thì...tuy cũng rách nhưng bị ai lột từ bao giờ.
Toàn hiểu ý câu nói của người bạn. Anh hỏi qua mục khác:
- Thế có được quấn manh chiếu không ?
Người bạn lắc đầu:
- Lúc này chiếu khan lắm! Trong trại thiếu nhiều chiếu nên ban quản trị cho bó qua loa bằng bao cói cũ rồi cho khiêng xác 125 ra bãi chôn.
Ngừng lại, nhìn trước nhìn sau, người tù nọ hạ thấp giọng:
- Nghe nói lúc bỏ xác xuống hố, miệng 125 bỗng ứa ra nhiều máu tươi. Không biết anh ta còn uất ức điều chi vậy ? Thấy Đầu Trâu múa roi mà tôi mất vía vì sợ, 125 uất ức Đầu Trâu chớ còn uất ức ai nữa! Anh em có tranh giành nhau chẳng qua vì đói, trong tâm vẫn thương xót nhau chớ đâu có thù ghét gì!
Bỗng anh chàng nọ bỏ dao xuống, lật đật cởi hai tay áo buộc trên cổ ngắm nghía tìm tòi, nói một mình:
- Trời ơi! Rận cắn ngứa quá, bị bệnh chấy rận thì bỏ mẹ!
Anh ta vừa lột áo ra cầm tay, Toàn đã rợn da gà khắp mình. Trên lưng áo, những con rận bò chi chít như kiến, mỗi lúc một nhiều. Tù làm việc nặng, nhiệt năng trong cơ thể bốc ra, rận gặp hơi ấm, bò lổm ngổm đi kiếm ăn.
Vấn đề rận, rệp và ròi (ở các vết thương lở loét lâu ngày) của tù nhân là một vấn đề nan giải vì nơi đâu có tù là có những thứ ‘’chết tiệt’’ đó. Lâu ngày, tù cũng quen đi, ít bận tâm, chỉ những lúc rảnh rỗi mới phát động chiến dịch ‘’tổng tấn công’’ rận và rệp.
Người nào chẳng may mắc vòng lao lý -đặc biệt là tù nhân trại giam cộng sản- đều hiểu thế nào là rệp, ròi và rận, nhất là rận. Vì lý do thiếu vệ sinh chung, nên chỉ nằm một lúc trong trại giam là có rận, dù trước đó trong người không có một con. Rận truyền từ người nọ sang người kia bằng đủ mọi cách, nhưng có một cách nhiều người không biết là rận di chuyển nhờ hơi gió. Một cơn gió thổi lướt qua đủ để cả chục con rận đực, rận cái lợi dụng cánh gió bay sang người khác để sinh sôi nẩy nở. Vả lại mặt khác, cả Trại Đầm Đùn chỉ có một cái ao hàng ngày 7, 8 trăm người tắm rửa, giặt rũ, làm sao tránh được nạn rận, chấy. Rận nổi lền bềnh trên mặt ao ngoi ngóp chờ những người sau đến giặt là bám vào quần áo giặt của họ.
Vì thế, một trong những công việc chính và cần thiết cho tù lúc rảnh rỗi là ngồi ngoài nắng bắt rận. Buổi tối trước khi đi ngủ, tù nhân nằm trong bóng đêm, đưa tay lần áo trong, rờ rờ các nếp áo cũng bắt được rận như thường. Nhưng bắt rận một cách thiếu khoa học như thế cũng coi như chẳng có kết quả gì nên tù nhân truyền cho nhau nhiều cách bắt rận, tựu trung có mấy phương pháp chính tùy hoàn cảnh áp dụng:
- Dùng nước sôi ngâm quần áo cho chết rận và trứng.
- Giết rận bằng máy.
- Dùng sâu bọ cho chúng bắt rận thay người.
Phương pháp đầu rất hiệu nghiệm nhưng tù nhân không có điều kiện thực hiện. Trong trại giam cộng sản người tù nào được quyền có nồi nước sôi ngâm quần áo trong khi một ấm nước đun sôi để uống cũng không thể có, không bao giờ có.
Theo phương pháp thứ hai, người tù trải quần áo lên trên một mặt phẳng và rắn, như mặt bể nước bằng xi măng hay mặt sàn gạch, rồi dùng một cái chai lăn mạnh lên trên quần áo để giết rận. Phương pháp này giết mau nhưng không giết hết vì rận khôn không kém người, thấy nguy là chúng chui vào ẩn núp giữa những khe nếp áo hoặc những đường khâu dầy, sức ‘’cán’’ của chai không ảnh hưởng tới chúng. Như thế, phương pháp thứ hai cũng chỉ có hiệu quả phần nào thôi.
Còn phương pháp thứ ba, Toàn có nghe nói nhưng chưa có dịp áp dụng.
Hai tù nhân mới tới trại mấy bữa nay nhập toán do Toàn làm trưởng, cả hai đang bị rận cắn đỏ mẩn cả người cả cổ, luôn luôn thò tay vào trong áo gãi lấy gãi để, mặt ‘’nhăn nhó như nhà khó ăn gừng’’. Cả hai nhất tề cởi trần, phơi áo trên một tảng đá có ánh nắng rọi tới, dùng ánh sáng buộc rận ra khỏi các ‘’hầm trú ẩn’’ của chúng.
Toàn bỗng thấy ngứa ngáy khắp người như hàng trăm con rận cắn anh một lúc. Sự thật, hơi nóng trong người khiến rận bị khích thích bò lung tung gây cho anh cảm giác đó. Anh bèn cởi khuy áo cho bớt rực, rồi quay nhìn hai người tù mới làm việc gần đó. Hiển nhiên hai người này đã có nhiều kinh nghiệm ở trại giam nên dù mới nhập trại đã dám xung phong đi rừng làm củi không bỡ ngỡ chút nào. Nhưng trong hai người, một người có vẻ làm nghề trí óc, còn người kia khỏe mạnh hơn làm đến đâu gọn gàng đến đấy, rõ ràng là một tay lao động, chuyên nghiệp. Số lượng củi anh ta làm ra tới lúc này coi đã bộn, ngổn ngang một đồng. Toàn so sánh với đống củi của mình, thầm phục trại viên kia làm giỏi thật sự.
Mặt trời đã gần đứng bóng. Ánh nắng một ngày đầu Xuân ấm áp, tưng bừng xao động trên ngọn cây, nhẩy múa trên bãi cỏ, lấp loáng trên những tảng núi đá rải rác đây đó. Cơn mưa phùn lúc sáng sớm đã tạnh hẳn khi mọi người vượt được già nửa quãng đường vào rừng. Mấy người tù ngước trông bầu trời mưa phùn trong sương muối và ‘’nghe’’ thoảng hơi gió nồm, đã đoán rằng ngày hôm nay trời sẽ nắng ấm. Vậy mà đúng quá. Kinh nghiệm về thời tiết của người tù bị khổ sai nơi nước độc thật là kinh nghiệm xương náu.
Toàn bỗng thấy đói bụng. Anh sợ nhất thời giờ gần trưa là lúc anh bị cơn đói hành hạ, gần nửa năm mà anh chưa làm quen được với cơn đói buổi trưa, nhất là khi vào rừng làm củi. Những lúc đó, mặt anh thường nhợt nhạt, mồ hôi vả ra cùng mình.
Toàn lại leo lên ngọn cây đã chặt gần trụi hết cành, xách luôn cả con dao theo, làm như sắp chặt thêm nếu thấy giám thị hay lính cảnh vệ theo dõi việc làm. Đứng trên cao, anh đưa mắt quan sát một vòng. Hai chú cảnh vệ đã mỏi lưng và chán ngán công việc buồn tẻ của tù nhân, dựng súng một bên và chăm chú đánh cờ, giây lát mới ngửng đầu lên ngó chừng tù. Còn giám thị kè kè khẩu súng bên hông, thong thả đi từ nơi này đến nơi khác kiểm soát công việc của từng toán.
Tiếng rìu chặt chan chát vào thân cây, lúc mau lúc thưa, dội vào tận các vách đá. Thỉnh thoảng, có tiếng la báo hiệu rồi thân cây đổ rầm rầm.
Đứng trên cây cao, Toàn thấy mấy thửa ruộng bỏ hoang, sau vách đá. Trong năm, nơi đây là mấy ruộng mía rậm rạp xanh tươi, Mạnh và Tuyên đã lẻn đến ăn trộm mía như những kẻ chết khát. Nghe họ kể lại, Toàn chảy nước miếng vì thèm.
Toàn đảo mắt nhìn kỹ lại lần nữa. Không một ruộng khoan ruộng cà, ruộng sắn. Nghĩa là không có một thứ gì ăn được. Để an ủi, Toàn lẩm bẩm:
- Thôi! Càng đỡ nguy hiểm.
Tù luôn luôn nhờ ăn trộm hoa mầu của nhân dân là một tội rất nặng sẽ bị cùm, nhốt xà-lim liền. Và rất có thể bị ‘’phong vương’’. Hình phạt phong vương thật khủng khiếp, từ trước đến nay, bị tội này, chỉ có một tù nhân sống sót không hiểu vì lẽ gì. Danh tính tù nhân đó được ghi vào niên giám với lời cước chú cần thiết để ban quản trị có tài liệu nghiên cứu thêm về tính cách hữu hiệu của hình phạt và sức chịu đựng của tù.
Nhưng ăn trộm hoa màu vô chủ cũng bị kết tội không kém nặng nề. Vì nếu vô chủ, hoa mầu đó thuộc quyền sở hữu của nhà nước, và là tài sản quốc gia. Mà ăn trộm tài sản quốc gia là kẻ phá hoại chế độ.
Toàn bất giác lạnh người vì sợ, tưởng tượng rằng nếu lát nữa đây trong giờ nghỉ trưa, có tìm thấy một trái mít rừng, anh cũng đành lắc đầu từ chối không dám sờ tới, sợ mất mạng!!
Toàn nghĩ thế nên bao nhiêu sinh lực trong người như toát thành hơi bay đi hết. Anh chán nản leo xuống tiếp tục tính toán thầm số lượng củi đã chặt được. Luôn luôn anh lo sợ không kịp đạt đúng tiêu chuẩn.
Một hồi còi ré lên, lệnh tạm nghỉ một tiếng đồng hồ được thông báo cho toàn thể tù nhân xa gần. Mọi người xếp dọn dụng cụ nghỉ mệt một lát lấy sức, đặng làm cho xong trước khi gánh một phần củi về trại.
Toàn còn đương lom khom thu xếp, tù mới 982 bước lại gần thì thầm:
- Hay quá, anh trưởng toán à!
Toàn chưa kịp hỏi, 982 đã mừng rỡ, hí hửng:
- Tôi vừa kiếm được một thứ rất có ích cho anh em trại viên.
Toàn ngạc nhiên, đoán chừng là một thứ cây, quả hay lá gì có thể ăn được, nước miếng liền ứa ra đầy miệng. Nhưng Toàn vẫn dè dặt:
- Gì thế, bạn ?
982 chỉ bụi trẻ mọc bên vách đá rồi nói:
- May quá, tôi tìm thấy một ổ kiến bò nhọt.
Đang đói, Toàn liên tưởng đến tổ ong và mật ong, trưởng tổ kiến này là thứ ăn được cho đỡ đói đã mừng. Tuy vậy, anh vẫn làm bộ, hỏi:
- Để làm chi vậy ?
982 thảm nhiên:
- Để bắt...rận!
Toàn vừa lạ lùng vừa chán nản vì anh lại đói cào đói cấu, ngơ ngác hỏi như người mất hồn.
- Có ăn được không ?
982 bật cười:
- Mình không ăn được kiến bò nhọt nhưng nó ‘’ăn’’ được mình!
Toàn chán phè, lơ đãng nhìn đây đó, hai tay bóp bụng.
982 nói đúng phần nào. Kiến bò nhọt là một loại kiến dữ tợn thường để lại kỷ niệm khó quên cho những người chẳng may bị nó đốt. Loài kiến này thường kiếm ăn trong đám cỏ bên vệ ao nên nhiều thợ câu đánh rớt luôn cần câu xuống ao vì bị bò nhót đốt. Kiến bò nhót mình lớn bằng hạt thóc màu đen lợt, cẳng cao, chạy rất mau, đặc biệt là lúc nào cũng đi kiếm ăn một cách hăm hở, dữ tợn, sẵn sàng tấn công con mồi hay địch thủ. Nọc kiến rất độc, cho ta một cảm giác buốt như kim châm kéo dài 1, 2 phút đồng hồ không hết, nhiều khi nọc làm sưng tấy cả ngón tay, không kém gì nọc ong.
Toàn sực nghĩ ra một chước để quên đói, tiếp tục nói chuyện với 982 về kiến bò nhọt. Sau nữa, đó cũng là một kinh nghiệm có khi cần đến. Ở tù, kinh nghiệm nào cũng có thể cần đến và có thể hữu ích. Anh chậm rãi hỏi 982:
- Kiến bò nhót ở đâu ? Làm thế nào để chúng bắt rận ?
981 dẫn Toàn lại gần bụi tre. Trên một đốt tre ở lưng chừng cao, có một tổ kiến to phình dính vào thân cây, nhiều con kiến to cẳng cao chạy đi chạy lại hăm hở, dữ tợn, tha những thức ăn lớn gấp năm thân hình, chạy rất nhanh, 982 quan sát một lát, ấn định một kế hoạch, rồi quay sang bảo Toàn:
- Tôi sẽ bắt đàn kiến này về trại để chúng bắt rận cho anh em mình. Chỉ chúng mới bắt hết rận, trứng rận và cả rệp ở quần áo nữa. Đấy rồi anh trưởng toán coi tôi nói có đúng không?
982 nghĩ giây lát, nói tiếp:
- Tôi bắt một phần đàn kiến này nhốt trong ống tre là đủ rồi.
Nói xong, 982 đi vòng ra phía sau bụi tre, lựa một khúc tre vừa lớn bằng chai la-ve, chặt một gióng cả đốt rồi ngắt một nắm lá vo tròn, lấy nhợ buộc chặt làm nút. Ống tre dùng để nhốt kiến và nút đậy kín ống. Về trại, 982 sẽ thả kiến bò nhọt vào giữa bọc quần áo của mình, của anh em khác để kiến ‘’làm việc’’ rồi kiếm một vuông vải rộng bao kín quần áo không cho bò nhọt chui ra ngoài.
Bò nhọt còn là một giống kiến tham ăn và ăn rất phũ. Đánh hơi thấy mùi lạ, tanh tưởi, ngọt ngào, hay hôi hám như rận, chấy và rệp, bò nhọt sẽ tấn công như điên, chỉ trong vòng một đêm chúng sẽ cắn chết hết rận, trứng rận trong quần áo. Bò nhót sẽ tàn sát hết trước khi tha mồi về một nơi mà chúng làm kho chứa. Khi đó, chỉ cần đem bọc quần áo đã ‘’tảo thanh’’ ra sân, rũ cho sạch kiến xác rận và trứng rận!
Toàn nghe xong, hoan nghênh việc làm của 982, nhưng nói thêm:
- Nếu bò nhọt tảo thanh rệp, chúng sẽ ‘’tảo thanh’’ luôn anh em trong trại. Sợ rằng anh em khó chịu nổi nọc của một chú bò nhót.
Không ai ngờ kiến bò nhọt cũng ghét tù, cũng reo tai họa cho tù.
VIII.
Nói một cách tổng quát, không nơi đâu kinh nghiệm được phổ biến cấp tốc như trong tù.
Những người tù tự xem như cùng một giai cấp, giai cấp bị trị, phải chịu đựng sự trừng phạt của một giai cấp khác, giai cấp thống trị. Vì thế, trừ lý do đặc biệt, họ đối xử với nhau rất tận tình, thương yêu nhau, chỉ dạy lẫn nhau những kinh nghiệm ngục tù, những kinh nghiệm về tra tấn và chịu đựng đòn tra tấn để làm giảm bớt cho nhau đau đớn về thể chất cũng như tinh thần. Vì thế, sau trận đòn tra tấn, có tù nhân bò về đến phòng giam hay xà-lim của mình, sống dở chết dở, củng cố lấy hết sức tàn thì thầm vào tai kẻ cùng đến lượt lên phòng lấy cung chịu thử thách, mấy lời dặn dò hay ‘’mách nước’’ trước. Rồi mới chịu ngã xuống mê man bất tỉnh.
Trong hoàn cảnh eo hẹp của nhà tù, kinh nghiệm nào cũng thật quý giá. Một vài loại lá cây có tính dược chữa đòn chữa thương, thường được tù nhân hái lúc lao tác trong rừng, cất đi dự phòng cho những trường hợp cần dùng. Muối, nước tiểu, ‘’dáy’’ tai (bôi lên chữa đinh râu) giấy vỏ bao diêm (nơi có diêm sinh), thuốc lào và nước điếu thuốc lào (chữa ghẻ hờm) v.v... đều được sử dụng hợp thời hợp bệnh.
Rồi thậm chí cả đến cách thức chữa thương, chữa gân, khớp xương chữa đòn bị tra tấn cũng được truyền dạy cho nhau chẳng khác chi những phương thuốc ngoại khoa hay gia truyền. Trong trại giam, thiếu gì tù nhân chết vì bệnh chấy rận nên cách diệt trừ chấy rận cho hiệu quả rất cần thiết. Vì vậy, không ai lấy làm lạ khi họ ‘’truyền’’ cho nhau cách thức giết rận bằng kiến bò nhọt.
Tổng tấn công chấy rận bằng kiến bò nhọt, người tù phải chờ dịp thuận tiện. Loại kiến này rất thích chất béo, người ta bỏ miếng mỡ vào trong lòng ống tre rồi đặt bên ổ kiến bò nhọt. Đánh hơi thấy mùi mỡ, kiến từ trong ổ kéo ra, ùn ùn chui vào trong ống, tha mồi. Khi chúng đã chui vào khá nhiều, người tù dùng lá hoặc một khúc cây nút thật kín ống tre, nhốt đàn kiến bò nhọt bên trong, đem về.
Bữa đó, 982 lùng bắt một con thằn lằn trong bụi cây, ngắt đuôi đập dập ra làn mồi nhử kiến. Đuôi thằn lằn cũng như đuôi cắc kè là bộ phận nhiều mỡ nhất trong cơ thể, dùng để nhử bò nhọt rất hiệu quả.
Theo dõi từ đầu vụ bắt kiến bò nhọt, Toàn thấy cũng hay hay, 982 nút chặn ống tre đựng kiến rồi dựng một bên một tảng đá cạnh nơi anh ta đặt đồ nghề với chiếc nón lá gồi mang từ Việt Bắc về. Lúc đó, mọi người còn ngồi nghỉ tản mác dưới bóng cây hay dựa lưng vào vách đá thiu thiu ngủ. Hai tên cảnh vệ đã ngưng đánh cờ, mỗi tên quay nhìn một phía canh tù. Giám thị leo lên ngồi trên một tảng đá cao hơn đầu người, phì phèo điếu thuốc là một cách kênh kiệu, đáng ghét. Làn khói thơm phức thoảng lan rộng, nhiều anh tù thèm chẩy rãi, liếc trộm hoài.
Toàn không thèm thuốc lá nhưng đói. Trong thời gian bị tù, anh vẫn bị thói quen ăn bữa trưa dằn vặt, bụng đói như cào và ‘’sôi’’ òm ọp, cách cả thước cũng nghe ‘’sấm động’’ trong bụng. Để quên đói, anh bước sâu vào sau vách núi vài chục bước làm như cần tống các ‘’chất thừa’’ trong bụng ra ngoài!
Sự thật, anh ‘’đói meo’’ vì có gì trong bụng đâu. Đã có lần làm củi rồi đói quá, Toàn nghĩ lẩn thẩn, phì cười một mình:
- Giá mà cứ một tuần lễ đi cầu một lần, có lẽ bụng cũng bớt...trống rỗng!
Sau đó, anh suy nghĩ rồi tự nhiếc mắng thầm: Tinh thần mình sa sút quá! Không chừng cảnh khổ trong trại giam làm mình mất trí, lẩn thẩn rồi trở nên điên khùng cũng nên!
Toàn bỗng đứng khựng lại. Có tiếng sột soạt rất khẽ trên cành cây, chỉ những người quen làm việc trong rừng mới nhận thấy. Rồi ngay phía trên đỉnh đầu anh, có tiếng kêu của cắc kè, nhưng là tiếng kêu thất thanh, đặc biệt sợ hãi. Nhờ trực giác bén nhạy. Toàn lật đật nhẩy lùi lại dăm bước, đề phòng rồi ngửng lên nhìn nơi phát ra tiếng ‘’Cắc kè...Cắc kè’’.
Ra trên cành cao đang xảy ra một vụ xung đột giữa một con cắc kè và con rắn đen dài tới hơn một thước. Con cắc kè khá lớn, mình bằng cổ tay đứa nhỏ, đang chống cự một cách tuyệt vọng với con rắn đen. Con rắn quấn mình vào cành cây, tuồn dần đến trước con cắc kè, chụp lấy định thủ. Cắc kè nhẩy thoát sang cành kế bên, kêu rời rạc vài tiếng rồi rớt xuống đất.
Con rắn tấn công trượt cũng rớt theo, bỏ mồi bò vào bụi rậm. Con cắc kè ngất ngư loạng choạng giây lát rồi chạy về phía khác có vách đá.
Một ý nghĩ thoáng qua trong óc, Toàn quơ lẹ một cành cây đập trúng con cắc kè khiến nó nẩy lên, toàn thân run bần bật rồi nằm ngay đơ. Toàn đè cành cây lên đầu cắc kè nhìn quanh đề phòng con rắn đen quay lại. Không thấy gì, anh ta đập thêm một roi lên mình tắc kè rồi lật nó nằm ngửa trên mặt đất.
- Đánh được rồi phải không ? Hay quá!
982 mừng rỡ nói tiếp:
- Ngon lắm! Béo lắm! Thịt nó lại còn chữa được bệnh nữa.
Toàn tò mò hỏi:
- Chữa bệnh gì ? Mà thịt nó ăn có độc không ?
Toàn vốn nhát và chưa ăn thịt cắc kè lần nào. Anh chỉ thấy người ta ngâm cắc kè trong rượu thuốc chứ chưa thấy làm thịt ăn bao giờ!
- Chữa ‘’bệnh hen’’ chứ còn bệnh gì nữa!
Toàn mừng quýnh nhưng vẫn giữ vẻ thảm nhiên. Anh chớm mắc bệnh hen từ tháng nay, nếu đúng như vậy, thật là dịp may hiếm có:
- Anh đã ăn thịt cắc kè lần nào chưa ?
- Nhiều lần!
- Ăn bao giờ ?
- Mấy tháng trước, khi còn ở Việt Bắc. Ngon lắm, bổ lắm!
Toàn thân mật cười hỏi:
- Biết làm thịt không ?
- Biết.
Toàn ngẫn nghĩ rồi lại hỏi:
- Trong cơ thể cắc kè, có bộ phận nào độc, ăn nguy hiểm chết người như con cóc không ?
- Không! Vả lại, cóc còn ăn được, huống hồ cắc kè.
Nghĩ đến cóc, Toàn lại sợ, mất nhuệ khí. Nhưng khi anh nhớ trước đây, tù nhân Pháp đã nướng cóc ăn vì đói quá mà không nghe nói có người chết thì ăn thịt cắc kè chắc cũng không sao.
982 ngó quanh giây lát rồi hỏi:
- Có còn thì giờ không ? Được nghỉ bao nhiêu lâu nữa, anh trưởng toán ?
- Chừng 20 phút là nhiều.
- Có thể kịp làm thịt cắc kè.
Nói rồi 982 bảo Toàn cầm dao lại trong khi y lật đật vun lá khô và ít cành cây để nhúm lửa.
982 rạch một đường dao từ trán cắc kè xuống đến khấu đuôi rồi lột như lột da ếch, rất gọn gàng. Thịt cắc kè hồng lợt như thịt ếch, Toàn thấy mà thèm. Rồi 982 mổ bụng con vật, moi hết ruột gan ra liệng bỏ, dùng hai ngón tay nắm tay nắn khúc đuôi rồi nhìn Toàn gật gù nói, môi bĩu dài ra:
- Béo quá! Mỡ không!
Sau khi chặt ‘’mõm’’ cắc kè và bốn chân, 982 dùng một cây que nhỏ xiên qua mình con vật, đưa đi đưa lại nướng trên ngọn lửa nổ lách tách 982 hỏi Toàn:
- Có khói, giám thị trông thấy có sao không ?
Toàn suy nghĩ, ngập ngừng:
- Thôi! Để xin phép giám thị cho chắc chắn...
Vừa đi được mấy bước, đã nghe một hồi còi ré lên: Hết giờ nghỉ!
Anh thở dài quay lại, thẫn thờ bảo 982:
- Hết giờ! Dập tắt lửa đi. Trở lại làm việc!
982 gập đôi con cắc kè dấu trong nón lá, lấy mấy chiếc lá đậy thật kín.
Mọi người hăm hở tiếp tục công việc. Tiếng chặt cây vang dội, tiếng gọi, tiếng hò kéo đổ cây khiến khu rừng náo nhiệt trở lại. Mấy người trong toán của Toàn bàn nhau xếp số củi thước đã chặt trước khi sửa soạn từng bó cho mỗi người gánh về.
Đầu óc Toàn vẫn vẩn vơ nghĩ đến con cắc kè. Anh luôn miệng tiếc rẻ: Chỉ sớm mươi lăm phút nữa, anh và 982 đã đủ thì giờ nướng chín con cắc kè. Nếu không tiện ăn ngay thì mang về trại, đến bữa ăn đem thịt tắc kè béo ngậy thơm phức ra chấm với muối ớt thì ‘’ngon quên chết’’. Tiếc quá! Tiếc quá! Toàn lại càng thấy đói, ao ước lát nữa đây trên con đường về dài mười cây số, kiếm trộm được trái cây gì bỏ vào miệng thì sướng quá! Cái gì chớ ăn lén giám thị, tù có cả trăm mánh lới khác nhau. Đã có lần, Toàn ăn hết nửa củ khoai sống trong khi ngụp dưới nước.
Nghĩ đến bữa cơm chiều hôm nay có chất thịt cắc kè vừa béo lại chữa bệnh hen. Toàn đã thấy ngon miệng quá chừng.
Như mọi lần, quá bữa, cơn đói tự nó biến đi lúc nào không biết. Toàn bỗng làm việc hăng hái như một người khỏe mạnh.
Cảnh vệ xách súng đi đi lại lại, ngó đám này, trông chừng đám kia. Toàn nhìn mặt trời để đoán giờ giấc. Phía xa, trên lưng sườn núi, đã có sương mù loáng nhoáng.
Trời sắp về chiều. Mấy căn nhà sàn ở chân núi xa lẫn trong sương hồi nào. Toàn khẽ hối anh em:
- Sắp tới giờ rồi. Anh em nhanh tay lên cho kịp.
Năm người đã xếp xong số củi thước lưu lại trong rừng theo tiêu chuẩn mới của trại giam. Và bắt đầu bó củi gánh lại từng bó, đường kính hai gang tay. Một người chạy đi chặt thêm dây leo và mây buộc củi. Toàn lựa năm cành cây thẳng và vừa cỡ, làm đòn gánh cho cả bọn.
Ai nấy đều nhanh chân nhanh tay cho kịp. Công việc nhộn nhịp hẳn lên. Những ‘’dây’’ củi được xếp thành một đường dài, sát với vách núi, đống nọ cách đống kia một khe nhỏ làm giới hạn cho mỗi toán. Giám thị lần lượt kiểm soát kết quả công việc của tù nhân. Bữa nay, có mấy đống củi không hợp lệ, trưởng toán cùng toán viên phải làm gấp, xếp thêm một, hai lượt củi nữa trên đống củi cho đủ. Cố nhiên trưởng toán cùng ba toán viên làm không đúng thể lệ bị ghi tên vào sổ đen. Ba lần thiếu thiện chí trong công việc sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo đề nghị của giám thị là quyết định của ban quản trị trại.
Giám thị cầm cây roi, vừa đi vừa gõ lên những đống củi mà y cho là hợp lệ. Toàn hồi hộp chờ cho hắn gõ một cái vào đống củi của toán anh rồi mới quay lại liếc nhìn mấy người trong toán đang bó củi gánh mà tủm tỉm cười. Thế là xong một phần công tác.
Phần thứ hai nặng nhọc và dai dẳng hơn khiến nhiều tù nhân bị...gục vì mệt và đói, nhất là đói. Đó là gánh 50 ký củi trên quãng đường 14, 15 cây số.
Không có thì giờ nói chuyện vì ai cũng chăm chú làm cho mau rồi. Những bó củi được xếp dựng đứng, có dây nâu hay dây mây buộc chặt hai đầu và giữa bó. Mỗi người tù có một cành cây thẳng hai đầu vạt nhọn, dùng làm đòn gánh. Họ dùng sức xiêng thẳng cây đòn ngập vào hai bó củi, gánh thử ước lượng nặng nhẹ thăng bằng. Rồi đặt xuống đất, chờ lệnh của giám thị là lên đường về trại.
Gió lạnh từ trong núi đá bắt đầu thổi ra ào ào. Mưa Xuân ngớt từ hồi sáng, lại dăng dăng mờ mịt xóa nhòa hết các ngọn cây cao.
Ngọn núi sau rừng biến mất trong làn mưa bụi. Con đường đất đỏ sắp phải đi qua trở nên ướt át và trơn láng.
Trông con đường về, anh nào anh nấy đến ngán thầm.
Toán của Toàn đã chuẩn bị đâu vào đấy, từ nẫy chỉ còn chờ lệnh của giám thị là lên đường. Những cành lá rơi rớt rải rác và những mẩu cây vụn vặt được thu vào một đống cho gọn gàng sạch sẽ. Tù gọi công việc đó là ‘’thu dọn chiến trường’’. Toàn đã dùng lá bọc kín con cắc kè buộc lại rồi trịnh trọng treo vào đón gánh. Chiều nay, có miếng thịt thì sướng ‘’thần khẩu’’ biết chừng nào! Từ lúc 982 nói thịt cắc kè ‘’béo ngậy’’, hai phàm từ này cứ ‘’xoáy’’ vào óc Toàn. Đã lâu lắm, từ khi bị đưa vào Trại Giam Đầm Đùn, Toàn chưa được ‘’thưởng thức’’ một miếng thịt nào ‘’béo ngậy’’. Thèm thật là thêm! Toàn nuốt ừng ực, nước miếng ứ đầy miệng hoài.
982 lại gần Toàn, thì thầm:
- Coi chừng nhé!
- Coi chừng cái gì ?
- Cột cẩn thận, coi chừng lúng túng lại rớt mất thì tiếc lắm đó.
Toàn tủm tỉm cười, liếc nhìn gói lá bọc con cắc kè treo lủng lẳng ở đòn gánh, trả lời vẻ hóm hỉnh:
- Kiến trong miệng chén còn bò đi đâu! Có rớt vào miệng thì có!
982 cười vơ vẩn:
- Biết đâu đó!
Một hồi còi ré lên. Đó là lệnh lên đường trở về trại của giám thị. Đám đông ào ào chuyển động. Rồi tiếng đòn cây xiên sần sật vào bó củi, tiếng gọi nhau, tiếng nói xì xào, tiếng bước chân, tiếng nguyền rủa gánh nặng, phàn nàn trời mưa...
Nhưng tại hàng cuối cùng của đoàn tù gánh củi, bỗng có mấy tiếng nói lớn vượt hẳn lên tiếng xì xào chung. Toàn vẫn giữ gánh trên vai, quay lại ngó. Đã có mấy người hạ gánh xuống, vầy quanh và cúi ngó vật gì trên mặt đất mà Toàn nhìn không thấy, đoán không ra.
Giám thị xăm xăm chạy lại, mặt bừng bừng sát khí như mỗi khi y không vừa ý. Đám đông rãn rộng và nứt ra một lối để giám thị bước vào. Toàn hạ gánh xuống, tò mò lại gần.
Thì ra có hai người té xỉu. Một người đang cố đứng lên nhưng không nổi, mặt xanh lét như trúng gió. Còn người kia, mồ hôi vã ra đầy mặt, đã ngồi lên được và đang lau mồ hôi bằng một mảnh giẻ rách, mệt nhọc như người ốm nặng. Toàn thầm nghĩ không hiểu trại viên này sẽ làm thế nào đặng bò về trại với gánh củi 50 ký trên vai. Nếu lâm cảnh này Toàn cầm chắc cái chết.
Giám thị bỗng nổi giận, chỉ ngọn roi vào mặt một trong hai người đang nhăn nhó và quát:
- Thằng kia! Có đứng lên không ?
- Dạ, dạ...
Người này lại quệt mồ hôi trên mặt, chống tay xuống đất, lấy sức cố đứng nhổm lên. Đứng được rồi, y mới bước tới gần gánh củi bỗng lại dừng, đầu chúi xuống giây lát, thốt nhiên y chạy quanh gánh củi mấy vòng mà không té, chẳng khác con gà bị liệng gạch trúng đầu choáng óc chạy vòng vòng quanh sân. Sau cùng, y vịn vào một người gần đó, rán đứng ngay ngắn. Giám thị cũng ngạc nhiên chưa kịp la, y đã chậm rãi nói sau một hơi thở ra thật dài:
- Những khi quá mệt, tôi thường bị ‘’động kinh’’ (làm kinh)
Giám thị không cần biết lý do đã khiến tù nhân bị té xỉu, quát lớn:
- Muốn gánh củi về trại hay muốn ‘’nằm ngủ luôn’’ trong rừng ?
‘’Ngủ luôn’’ có nghĩa là ngủ một giấc vĩnh viễn. Người tù sợ quá, chắp hai tay lễ ‘’sống’’ giám thị. Tên này lại mắng:
- Thôi! Vẫn chưa bỏ được những cử chỉ phong kiến, lạc hậu.
Người thứ hai cũng đã gắng gượng đứng lên. Anh ta nhăn nhó ôm bụng rồi trong lúc mọi người không ngờ, anh ta nhìn quanh quất như tìm kiếm vật gì rồi chạy lại bên vách đá. Nơi đây có một mô đất, cỏ non mọc mơn mởn nhờ mấy trận mưa Xuân. Người tù xòe bàn tay ra nắm lấy một búi cỏ, bứt lên một nắm ngọn cỏ xanh trong tay. Y ngần ngừ một giây rồi nhét luôn nắm cỏ vào miệng trệu trạo nhai, như ăn rau ghém.
Lúc anh ta loạng choạng trở lại bên gánh củi, chỉ còn vài lá cỏ thò ra ở miệng. Rồi thì nhai hết. Người tù đã đánh lừa được cơn đói và nhấc gánh lên vai như mọi người. Toàn ngẩn người nghĩ thầm chua chát:
- Tù nhân trở thành một ‘’loài ăn cỏ’’ như trâu bò. Nhưng coi chừng! Ăn cỏ là mất lập trường, vi phạm quan điểm của nhân dân. Lại chết nữa!
Anh lan man nghĩ trong khi vẫn đều đếu bước theo người đi trước: ‘’Nếu người ăn cỏ mà sống được, may ra tù nhân cũng bớt đói’’.
Đoàn gánh củi đi thành một hàng dài trên con đường ngoằn ngoèo đưa họ về nơi có bữa cơm chiều. Đi được một thôi, Toàn nhận ra anh đã tụt xuống hàng cuối cùng. Anh đổi vai ba lần và bắt đầu thấy ê ẩm cả hai vai. Có khúc đường trơn như mỡ khiến anh suýt té nhiều lần.
Gió thổi từng cơn dài trên quãng đường vắng mà anh không thấy lạnh, hai bên trán còn xâm xấp mồ hôi. Đường càng đi càng trơn. Toàn tránh một vũng nước trợt chân một cái, chỉ kịp thấy thoáng một khoảng trời mờ mịt mưa bay trắng xóa thì đã nằm lăn kềnh trên vũng nước, gánh củi đổ nghiêng về một bên trên đám cỏ.
Toàn chửi thề một câu tục tỉu, lóp ngóp bò dậy. Cả lưng áo bị lấm bùn be bét. Anh cởi áo ra chùi lên ngọn cỏ ướt đẫm mưa Xuân cho trôi bớt bùn và nước dơ. Sau đó, anh dựng lại hai bó củi, xiêng đòn gánh cho chắc chắn, lặng nhìn về phía trước, thấy con đường dài dằng dặc mà sợ.
Mưa Xuân vẫn không ngớt hạt. Một làn bụi nước hay mờ mịt. Phía trước, Toàn chỉ còn thấy mấy chục người loáng thoáng đi trong mưa rơi. Toàn bỗng nhớ đến mấy bức tranh thủy mạc cổ, của người Tàu treo tại phòng khách nhà anh ở Hải Dương. Trong bốn bức tranh, có bức vẽ một người tiều phu gánh củi, lom khom bước trên tuyết, đầu đội nón tu lờ, chung quanh là núi trắng xóa lềnh bềnh trong sương. Vai gánh củi, tay xách một con cá, có lẽ anh tiều phu Trung Hoa bắt được trong khe suối. Còn Toàn gánh củi trong mưa phùn và có con cắc kè treo ở đòn gánh.
Toàn bất giác thở dài. Chao ơi! Không ngờ cái cảnh trong tưởng tượng của họa sĩ lại là cái cảnh thực tế của anh bây giờ. Đúng anh là người tiền phu trong tranh. Nếu vợ con tiều phu Toàn gặp anh lúc nào, họ sẽ nghĩ ra sao ?
Toàn xốc gánh củi đổi vai, rảo bước cho kịp đoàn. Anh chăm chú nhìn mặt đất để tránh những chỗ trơn trợt dễ té, cố lết một thôi dài mới chịu dừng lại đổi vai. Đến lúc ngửng lên theo dõi đoàn người ở phía trước, anh đứng sững lại vì nghe có tiếng quát tháo om xòm tại một thửa ruộng xanh ngắt mé tay mặt. Trên lề đường có tới 6, 7 gánh củi dựng ngổn ngang mà không thấy người. Thì ra họ đã xuống hết đám ruộng xanh vừa nói. Toàn lật đật gánh chạy đến coi.
Một cảnh tượng kỳ cục, quái gở, thảm thương một các tức cười hiện ra.
Giữa một thửa ruộng trồng xu hào xanh ngắt, có ba người tù nằm, ngồi ngả nghiêng. Người tù nằm không ngớt lăn lộn dưới đất, vật vã hết bên trái lại qua bên phải, hai tay ôm bụng cứ giây lát lại há hốc mồm ra để ngáp. Còn hai người kia ngồi phệt, chân duỗi dài, hai tay chống trên mặt đất, cặp mắt trợn ngược chỉ còn lòng trắng trông phát gớm, bụng căng phồng đưa lên đưa xuống theo từng hơi thở rất dài. Cũng như người nằm dưới đất, chốc chốc hai người này há ngoác mồm ra để mửa mà không được, chỉ thấy rớt rãi lòng thòng.
Toàn thấy lá xu hào liệng rải rác và cả chục gốc xu hào còn dính đất vất đây đó. Hai ba trái xu hào đã nhổ lên rồi nhưng còn nguyên vẹn. Toàn thoáng suy nghĩ đoán ra đầu đuôi câu chuyện, nhất là khi anh nhận diện được hai trong ba người, khi nãy, một người vì đói quá phải bứt cỏ bỏ vào miệng nhai, và một người bị ‘’kinh vì quá mệt’’ nên té xỉu.
Giây phút này, hai người đó đang ngoác mồm ra thể từng hơi như cá ngáp chết, mắt trợn ngược như bị bóp cổ. Tên giám thị từ nãy không nói gì, chỉ nhìn một vẻ giận dữ, bỗng vụt túi bụi vào hai người mà mắng.
- Chúng bay đã xâm phạm hoa màu của nhân dân, ăn sống nuốt tươi cả chục củ xu hào, bây giờ chúng bay nằm ăn vạ ở đây hẳn ?
Quát xong, tên giám thị vụt tới tấp năm, sáu mươi roi mây vào mặt, vào cổ, vào lưng hai người. Lạ thay, hai người này không phản ứng, cũng không lộ vẻ sợ sệt, chỉ ngoác rộng thêm miệng thở hổn hển, mắt mở trừng trừng mà không thấy lòng đen trông càng thêm khiếp hãi. Trong khi đó, người nằm lăn dưới đất bỗng cong rút người lại, mửa ra được một đống, khởi sự rên hừ hừ và càng thở mạnh, tuyệt nhiên không lưu ý đến sự việc đang xảy ra ngay kế bên.
Toàn chứng kiến cảnh thảm thương từ nãy đến giờ, vừa sợ vừa tội nghiệp, lại vừa thương thân mình vô hạn. Qua hình ảnh đang phơi bày trước mắt, anh thấy cảnh ngộ của anh, cảnh ngộ chết đói chết khát thường xuyên của tù nhân trại giam cộng sản.
Toàn biết ba người này khó lòng thoát chết vì bội thực. Nhưng cái chết là phương tiện giải thoát cho họ. Trong cảnh đói khổ liên miên, chết là lối thoát vĩnh viễn, nhất là chết sau khi ăn một bữa thật no, thật nhiều. Ba người tù này đã phát giác ruộng xu hào từ lượt đi, nên bàn nhau khi về sẽ lén xuống ruộng làm một bữa no nê phưỡn bụng cho đã thèm, rồi sau muốn ra sao thì ra, chết cũng được.
Quả nhiên, ăn đầy chặt một bụng xu hào sống, họ bị bội thực và đang chết...no. Mặc cho giám thị đánh mỏi tay tét cả ngọn roi song, họ chỉ lặng thinh trả lời bằng cách nhắm mắt lại ngửa mặt lên trời, há hốc miệng thở dồn dập từng chập. Mưa phùn ướt đẫm mặt, họ cũng không vuốt cho bớt nước.
Toàn lại gần giám thị, xin phép được cứu chữa cho mấy người này. Anh nghĩ ra cách chữa cấp thời cho người bội thực. Đang lúc tức giận, giám thị gật đầu cho phép, mặt y vẫn cau có dễ sợ.
Toàn bảo mấy người đứng đó phụ anh xốc người bội thực qua một bãi đất phẳng phiu gần bên, để anh làm cho họ mửa ra bớt số lượng thức ăn trong dạ dày.
Khi họ đã xốc nách ‘’người ăn cỏ’’ qua bãi đất phẳng, Toàn nắm tay người này và quay cho chạy vòng quanh. Nhưng chỉ rán chạy được hai ba vòng, anh ta loạng choạng té huỵch xuống đất, mửa ra một ít. Rồi anh ta ngồi lên, trợn ngược mắt mà thở dồn dập như đứt hơi đến nơi, coi bộ khó lòng chịu nổi cơn bội thực.
Toàn ghé vào tai ‘’người ăn cỏ’’ và nói:
- Cho tay vào miệng, móc họng để mửa ra. Ráng làm, không thì nguy đó.
Người đó rán hết sức mới lắc đầu được vài cái, tiếp tục thở gấp một cách nặng nhọc hơn trước, bụng y thốt nhiên trương phịch lên rõ rệt. Từ nãy, giám thị vẫn lộ vẻ suy nghĩ gay go. Nhìn về phía xa xa, thấy chỉ còn thấp thoáng vài người gánh chậm chạp đi sau cùng, y bèn lạnh lùng ra lệnh.
- Nếu ba thằng kia không đứng lên gánh củi trở về thì tao cho chúng bay nằm luôn cho được việc. Tao không có thì giờ chờ chúng bay tiêu hóa xong cả chục củ xu hào ăn trộm!
Rồi chỉ vào Toàn và mấy người đứng coi, quát:
- Mấy người này cũng ở lại đây luôn, hả ?
Toàn và mấy người tù hoảng kinh thui thủi quay trở lại nơi đặt gánh, thì thầm bảo nhau:
- Chắc chắn ba người đó ‘’đi đứt’’ mất rồi. Hết phương cứu chữa. Nếu ở trong trại may ra...
Rồi họ xốc gánh lên vai rảo bước, sau khi quay nhìn lần chót về phía ruộng xu hào. Trời vẫn mưa phùn, cảnh vật về chiều thêm ảm đạm, bóng tên giám thị đứng sừng sững trên bờ ruộng. Toàn tự hỏi: Không biết hắn đang làm gì ?
Sự thật, tên giám thị đang suy nghĩ lung lắm. Trước khi ‘’giải quyết’’ y ngắm nhìn ba người tù tội bội thực lần cuối. Người tù nằm đang hấp hối sắp chết xong, mắt còn mở ti hí như người buồn ngủ. Nước mưa đọng trên hàng mi mắt anh ta như giọt tranh. Còn hai người kia vẫn ngồi trong một dáng điệu kỳ cục, giây lát ‘’ngoáp’’ một cái, hai con mắt trắng đã mất hết tròng đen như lườm trời, oán trách lần cuối Trời cao bất công, độc địa. Bụng đã trương phồng lên khiến họ phải ngả người ra sau gần té ngửa. Giám thị rút súng lục, chỉa vào một người ngồi, kéo quy lát sành sạch cho nghe tiếng, rồi quát:
- Lần chót, có đứng lên không ?
Người nọ không nghe hoặc nghe mà không thèm trả lời, chỉ ‘’ngoáp’’ một cái để giỡn với câu hăm dọa. Giám thị lạnh lùng đến trước mặt người thứ hai chỉa súng hỏi nhưng cũng vẫn không gây được sự sợ hãi như mọi lần. Y chẳng nói chẳng rằng bước tới trước mặt người thứ ba. Người này nằm yên, bụng thôi phập phồng vì đã hết thở. Giám thị nghĩ thầm: Còn hai tên phải thanh toán!!
Đã tới giây phút chót, giám thị lật áo mấy người tù, thò tay vào túi áo họ, rờ khắp lưng quần rồi bĩm môi khinh bỉ. Mấy tên tù này không có đồ vật chi hết, thật đáng chết!
Trong khi đó, Toàn và mấy người tù gánh củi đang cố rảo bước để đuổi kịp bọn đi trước. Một người bỗng quay lại phía sau nhìn kỹ rồi rút trong người ra một củ xu hào còn nguyên cả lá. Anh ta đã lợi dụng lúc giám thị quay đi nhìn nơi khác, lượm vội một củ dấu trong áo, mang đi luôn. Lúc này, anh ta mới lấy ra, bứt mấy cành lá cho người đi kế bên. Người này cho liền vào miệng nhai nhồm nhoàm. Chủ nhân của xu hào gánh vừa cạp hai miếng nhai gau gáu rồi chỉa cho Toàn. Toàn không nói không rằng, cạp luôn hai miếng thật lớn rồi chuyển tay cho người thứ ba. Anh này làm luôn như hai người trước. Chuyền tay nhau được bốn lượt thì củ xu hào không còn. Người thứ tư là người ăn miếng chót trong bọn buộc miệng khen:
- Mát ruột quá! Chẳng trách ba người kia bội thực mà...
Đúng lúc đó, một tiếng nổ như tiếng pháo vẳng nghe trong làn không khí ẩm ướt.
Toàn lặng thinh đưa mắt cho ba người kia, thở dài. Một người chép miệng:
- Thế là xong!
Họ lại rảo bước như để khỏi phải nghe thêm tiếng súng giết người.
Nhưng tiếng nổ thứ hai lại vang lên, không ai nói mà cùng thở dài. Toàn sực nghĩ ra bèn nhe răng cho người đi bên cạnh coi, rồi hỏi:
- Có dính răng không ?
Người nọ lắc đầu rồi cũng nhe răng nhờ bạn coi dùm.
Bỗng Toàn hét lớn làm mọi người hoảng kinh:
- Thôi, chết tôi rồi!
Rồi đặt gánh đứng sững lại, con cắc kè đã rớt mất từ lúc nào!
Toàn thẫn thờ, chán nản như chưa bao giờ chán nản đến như thế. Anh đã có lần thua một canh bạc lớn cũng không thấy tiệc bằng đánh rớt mất con cắc kè. Trời ơi! Con cắc kè béo ngậy, con cắc kè múp mít chất thịt béo bổ, chữa được bẹn hen rớt mất rồi!
Từ đó về đến trại, Toàn như người câm. người điếc, không nói, không nghe một tiếng. Đầu óc anh chán chường, thân thể anh rã rời, anh chỉ muốn chết phứt cho xong! Con cắc kè đã mất, cuộc đời của anh coi như hết luôn!
Về đến trại, sau khi xếp củi vào vựa, câu nói đầu tiên của Toàn là phàn nàn với 982 về vụ làm rớt con cắc kè, 982 nhìn anh để nhận định Toàn nói thiệt hay không, rồi nói:
- ‘’Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định’’. Tôi đã dặn trước rồi mà vẫn không giữ được! Chỉ có ổ kiến bò nhọt của tôi là còn nguyên.
982 xách ống tre nhốt ổ kiến đặt khuất dưới chân giường. Hắn định tối nay trước khi đi ngủ sẽ thả kiến bắt rận trong quần áo của mình và của một số anh em muốn tẩy uế. Đợt sau buổi học tập, lúc sửa soạn đi ngủ, hắn sẽ ‘’thông báo’’ cho anh em sau.
Ai ngờ trong trại gian cộng sản, thiện chí lại gây ra tai họa tầy trời.
Bữa cơm chiều hôm đó, bọn tù làm củi về muộn hơn mọi ngày cả tiếng đồng hồ nên ăn xong, trời vừa tối. Trong bữa ăn, tên giám thị đi đi lại lại bên đám tù về chậm, hầm hầm tức giận chưa nguôi.
Bọn tù lấm lét nhìn trộm y, ăn vội ăn vàng cho mau xong. Tuy thế, tin ba người lén xuống ruộng ăn sống của xu hào bị bội thực rồi ngắc ngoải khiến giám thị tốn mấy viên đạn, đã được loan truyền rất mau. Đến giờ học tập, hầu hết trại viên đều rõ chuyện.
Một làn không khí ủ ê buồn thảm phản phất khắp trại. Mới đầu năm, đã có ba người bị ‘’ra bai’’ một cách ‘’lảng nhách’’. Đó là một điềm bất thường cho tù nhân. Nhớ đến vụ Đầu Trâu đánh đòn phạt. Người tù bâng khuâng, lo lắng cho số phận mình. Sau giờ học tập tại nhà tiểu công nghệ -vì trời mưa không ngồi được ngoài sân- tù âm thầm sợ sệt về trại ngủ. Trước khi đi nằm, 982 cho biết hắn sẽ phát động cuộc tổng tấn công rận đêm nay bằng kiến bò nhọt, người nào muốn ‘’tẩy uế’’ hãy đưa luôn quần áo cho hắn.
Gặp cơ hội tốt, nhiều đồng cảnh lật đật đưa quần áo cho 982 nhờ tẩy uế. 982 giở hết quần áo ra bỏ trong một tấm vải rộng, dùng tấm vải như cái túi rồi buộc chặt, thật chặt mép túi lại. Trước lúc đó, ống tre đựng kiến độc cũng được bỏ vào giữa đống quần áo. 982 còn cẩn thận dùng dây quấn thêm nhiều vòng quanh mép túi, ngăn kiến độc chui ra ngoài. Xong đâu vào đấy, hắn mới mở khúc cây nút ống tre, thả đàn kiến. Kiến độc ‘’càn’’ cả một đêm trường, khỏi có chú rận hay trứng rận nào sống sót nổi.
Trong bóng tối, 982 thích chí mỉm cười, đặt bọc quần áo ngay dưới chân giường của hắn, định bụng đến trưa mai, vào giờ nghỉ sẽ đem quần áo ra sân rũ hết bò nhọt, rũ luôn xác rận, rệp cho sạch sẽ rồi trả lại mọi người.
Tù nhân trực vặn nhỏ ngọn đèn dầu lửa trên kệ sát vách. Việc hô số tù đã xong, thiếu mất ba người. Đó là 3 người tù đã ‘’ngủ’’ trên bãi đất phảng phiu bên cạnh ruộng xu hào, sau khi được ăn một bữa thật no nê như ao ước từ lâu.
Toàn nghĩ vẩn vơ đến con cắc kè rớt mà tiếc.
Sau cùng, anh nhớ ra lúc trượt chân té, cây đòn gánh sút một đầu làm con cắc kè rớt luôn xuống bãi cỏ. Anh mải đứng lên, quên phứt coi lại nên không dè. Toàn tiếc ngẩn tiếc ngơ mãi đến lúc thiếp đi trong giấc ngủ mệt nhọc. Đêm hôm đó, anh mơ kiếm lại được con cắc kè, ăn một bữa thịt ngon thật là ngon. Ăn xong, làm một giấc thật kỹ.
...Mấy tiếng la hét vang sân khiến Toàn bừng tỉnh. Bên ngoài, trời đã tờ mờ sáng. Đúng lúc đó, tiếng kẻng đánh thức nổi lên một hồi lanh lảnh. Dưới chân giường 982, viên giám thị đang la thét om sòm, vừa la, vừa dở lung tung khắp mình như đang bị giống gì độc chui vào trong người cắn tứ tung.
Toàn giật mình tỉnh ngủ hẳn, 982 cũng đã ngồi nhổm lên rồi hốt hoảng nhảy xuống đất nhìn nơi chân giường có đặt một bọc quần áo lớn. Chết rồi! Phen này ắt chết rồi. Bất giác, 982 toát mồ hôi đầm mình như tắm.
Các tù nhân lật đật nhổm dậy suốt lượt. Ai nấy đều hoảng sợ, ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, chỉ thấy một người dở mếu, dở khóc khoanh tay đứng chết trân nhìn viên giám thị một cách thiểu não như chưa biết xử trí ra sao. Nhìn kỹ, họ nhận ra trại viên 982.
Giám thị vừa la hét vừa hấp tấp lột bỏ áo ngoài, cuống quýt xoa trên cổ, trên lưng, trên bụng, hai chân nhẩy lung tung như điên như cuồng.
Bỗng y nắm được một vật gì bé nhỏ trong tay, hốt hoảng thả xuống đất, cúi nhìn. Té ra đó là một con kiến bò nhọt. Những tù nhân có quần áo đưa cho 982 tẩy uế nhất loạt hiểu ra ngay. Một người đánh bạo lại gần cúi thấp xuống ngó bọc đồ dưới chân giường. Trên tấm vải bọc ngoài đống quần áo, hàng trăm con kiến bò nhọt đang hăm hở bò đen ngòm.
Giám thị bỗng la lên một tiếng thất thanh rồi vừa nắm chặt một khoảng quần dưới rốn, vừa cởi dây nịt lưng lột luôn quần, rũ phành phạch. Mấy chú kiến bò nhót rớt rải rác trên mặt đất. Giám thị đạp luôn bốn năm cái xuống đất, mấy con kiến độc nát bấy. Chứng cớ đã rành rành. Y quát rầm rĩ:
- Thằng nào đem kiến bò nhọt ở rừng về thả cho đốt nhân viên trong trại ? Thằng nào ? Khai ngay, nếu không chúng bay vào nằm xà lim cả lũ.
Trước cơn lôi đình của giám thị, nhiều tù nhân run lên cầm cập. Sáng sớm, trời lạnh như thế mà y chỉ còn mang quần đùi, vì quần áo ngoài y đã cởi hết vắt lên lưng ghế. Một anh tù có máu nịnh bợ, trịnh trọng cầm quần của giám thị rũ thật mạnh. Mãi mới có một con kiến độc rớt ra giúp anh ta dịp tâng công:
- Thưa giám thị có kiến! Có kiến bò nhọt!
Trong trại, anh chàng này cũng có biệt danh là ‘’Lưỡi dài’’.
Giám thị hét lên một tiếng như bị rắn cắn. Y cởi luôn quần cụt đang mặc ngay trước mặt tù nhân, rồi rũ phành phạch mươi cái.
Trên ngực , trên bụng, lưng, cổ, đùi giám thị mà Toàn phải nghiến răng mới nhịn được cười. Giám thị xuýt xoa luôn miệng, hai tay thoa nắn cùng hết. Mặc dầu trần truồng như con nhộng, hắn vẫn đeo súng lục trước bụng, trông càng dơ dáy, bẩn mắt. Nhưng có một điều chắc chắn, nọc kiến bò nhọt độc bao nhiêu, tai họa kẻ phạm lỗi phải chịu càng ghê gớm bấy nhiêu. Cái nguy ở chỗ đó!
Sau khi mặc lại quần áo đàng hoàng, sửa cây súng lủng lẳng cho oai vệ, giám thị quắc mắt nhìn đám tù, rồi chỉ bọc quần áo dưới đất, lớn tiếng:
- Bọc quần áo này của ai ?
982 rụt rè bước lại trước mặt giám thị, thở không ra hơi:
- Dạ, thưa ông giám thị, của cháu và mấy anh em cùng trại...
- Sao mày dám thả kiến độc trong trại ngủ ? Thằng nào là thủ phạm tha kiến ở rừng về trại ?
- Dạ...dạ...cháu nhốt kiến trong bọc đã buộc kín cho kiến bắt rận...Không dè vải bọc có lỗ thủng, kiến chui ra...xin ông giám thị rộng lượng tha lỗi cho cháu.
- Giấu giếm mang kiến độc vào trại ngủ thả cho đốt người...gần chết!...Thả hả ?...Tha hả!
Bất ngờ, giám thị co chân đạp vào giữa ngực 982 đến ‘’hự’’ một cái, 982 văng tới cuối giường ngã phịch xuống đất. Biết mình có tội, 982 lại khúm núm đến trước mặt gián thị chắp tay, cúi gằm mặt. Giám thị ra lệnh:
- Mọi người ra ngoài. Trại viên 982 ở lại...
Các tù nhân mừng thầm kéo nhau ra ngoài, xếp hàng đi rửa mặt. Còn một mình 982 với giám thị. Chẳng nói chẳng rằng, giám thị lặng lẽ giơ cánh tay coi vết kiến độc cắn. Mấy vầng đỏ trên da đã lan rộng bằng quả trứng. Giám thị rờ lên vết cắn, nhăn nhó rồi gật gù, hầm hầm quát:
- Lên văn phòng!
982 lại chắp tay ‘’lễ sống’’ viên giám thị như bổ củi và lộ vẻ khiếp hãi đến tột bực. Trên khuôn mặt bừng bừng sát khí, miệng giám thị bỗng toét ra thành một nụ cười giễu cợt, đểu cáng:
- Lên văn phòng khai về tội ‘’mưu sát’’ nhân viên ban quản trị. Sắp đáp chuyến tàu suốt rồi, con ơi!
Giám thị rút trong túi ra một vật. Sau một tiếng ‘’cách’’ nhỏ, hai cổ tay 982 đã bị còng, 982 phải đưa cả hai tay còng lên để chùi những giọt mồ hôi vã ra đầy mặt.
Rồi thất thểu bước như người mất hồn, đi lên văn phòng. Giám thị theo sau, vừa đi vừa suýt xoa, rên rỉ.
Ngoài kia, tù nhân đã xếp hàng trở lại nhà tiểu công nghệ đợi bữa ăn sáng trước khi đi lao tác. Vì sợ quá, 982 quên cả đói. Và cũng vì sợ quá, anh đái vãi ướt hết chân lúc nào không biết. Trước khi vào văn phòng, 982 chợt nhận thấy, phải dừng lại mấy giây, dùng bàn chân nọ chùi lên cẳng chân kia cho khô nước tiểu, để khỏi bị bắt lỗi là tội vô lễ, và khỏi chọc giận thêm nhân viên ban quản trị.
IX.
Đứng ở nhà tiểu công nghệ trông ra, căn lều đó chỉ hẹp và không cao hơn túp lều dùng làm cầu tiêu ở nhà quê bao nhiêu. Nhưng khi lại gần, người tù thấy khác hẳn và bất giác rùng mình vì cái hình ảnh đơn độc vắng vẻ của túp lều. Thật là một điều lạ lùng, rất khó giải thích. Tuy không thấy dấu vết gì để lại, tù nhân ngắm nhìn túp lều đã đoán ngay ra có nhiều người bỏ mạng nơi đây rồi!
Cách xa văn phòng đến ba trăm thước, những túp lều vẫn đứng bên trong hàng rào nứa bao vây trại, cách con đường nhỏ dành cho lính cảnh vệ đi tuần không quá 20 thước. Bên ngoài con đường nhỏ còn hàng rào nứa thứ hai, chắc chắn không kém gì hàng rào thứ nhất.
Bằng súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng bất cứ võ khí gì khác, cảnh vệ và giám thị có quyền hạ sát ngay tù nhân nào đặt chân lên con đường cấm này mà không cần phải ‘’khuyến hàng’’ trước.
Tù nhân bất hạnh bị giam riêng tại túp lều nói trên, tự coi như sắp thoát khỏi cảnh ngục tù, chậm lắm, tù nhân sẽ lên đường đáp ‘’chuyến tàu suốt’ trong vòng mười ngày trở lại. Từ trước đến nay, chỉ có một trường hợp ngoại lệ mà thôi còn không tù nhân nào sống sót nổi quá một tuần lễ. Vì đói, vì khát, vì bịnh và kiệt quệ tinh thần.
Trong trại giam cộng sản hồi đó, chế độ dành riêng túp lều nói trên cho những tù được phong vương. ‘’Phong vương’’ là phong cho làm vua, một mình một ‘’long sàng’’, một cung điện. Tù ‘’phong vương’’ ăn, ngủ một mình tại lều rồi chết đơn độc, không được mà cũng chẳng cần ngó lần cuối hình ảnh những người còn sống. Đó là một túp lều tầm thường như nhiều lều khác vẫn thấy ở miền quê, dựng trên sáu cây cột chắc chắn, mái lợp rạ. ‘’long sàng’’ cao khoảng hai thước, bằng tre ghép lại, tù lên xuống bằng một thang cây. Tù nhân nằm hay ngồi trên sàn lều, lính cản vệ hoặc giám thị dễ kiểm soát, từ xa đã trông thấy người tù phong vương mà không phải mất công lại gần. Nói một cách khác, tù nhân rời long sàng leo xuống đất là người ta biết ngay.
Đã bị xiềng cả hai chân, tù phong vương còn phải đeo cùm. Vì thế, suốt ngày anh ta chỉ ngồi hoặc nằm dài trên long sàng, nhàn rỗi không phải làm gì. Mỗi buổi sáng, một giám thị tới coi tù phong vương chết chưa, nếu chưa chết, y sẽ mở cùm cho tù nhân ở dưới đất đi đại tiện, tiểu tiện, rửa mặt trong vòng mười, mười hai phút đồng hồ. Rửa mặt, nghĩa là thò tay xuống một vũng nước rộng gần bằng chiếc chiếu, vốc nước đưa lên mặt rửa. Không biết đất có chất gì mà nước vũng cứ lờ lờ như nước luộc hến và tanh không thể tả được. Có người tù bị giam lâu biết chuyện nói vũng này nguyên trước đào để chôn tù nhưng đào phải nhiều xác người nên bỏ dở. Trời mưa, nước ngập đọng lại thành vũng nước. Giữa vũng, dăm ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi mặt nước thường là nơi hạ cánh của mấy con chuồn chuồn nhàn hạ hay mỏi cánh giang hồ. Một người tù mô tả với anh em như sau: Đây là một thau nước lớn, tù phong vương rửa mặt, giặt quần áo, rửa những vết thương, mụn ghẻ lở, rồi lại súc miệng và uống luôn mà không bao giờ chịu thay thua nước mới.
Sau công việc ‘’vệ sinh’’ buổi sáng, tù phong vương lồm cồm leo lên sàn, vội vã đút hai cổ chân vào cùm cho giám thị khóa lại. vì phải thường xuyên đeo xiềng vào cùm hai chân, tù nhân bắt buộc phải mặc quần không đũng, có như vậy mới thay được quần.
Khẩu phần của tù phong vương rất đặc biệt vì giản dị. Mỗi ngày, vào buổi sáng, người của ban quản trị tới phát cho hai nắm gạo, tù nhân muốn làm thế nào ăn được gạo thì làm. Tất nhiên, vì không có vật dụng nấu cơm, tù nhân không có cách gì khác hơn là nhai gạo sống khi không chịu nổi cái đói, tuy biết trước là ăn gạo sống, chỉ ít hôm sẽ ‘’ỉa cứt cò’’ nghĩa là phân trắng toát như nước vo gạo đặc rồi đau lỵ hay đau tả mà chết . Về khoản nước uống thì buổi sáng, nhân lúc đi đại tiện, tù mang theo một ống tre múc nước ở ‘’thau nước lưu cữu’’ đem về uống trong một ngày. Trong những điều kiện ăn uống như thế, tất nhiên cái chết phải rất gần, không thể nào tránh né được.
Ấy thế mà hai năm trước, một người tù đã có sáng kiến nấu được cơm ăn trong những điều kiện thiếu thốn như vậy. Bọn cộng sản quản trị trại giam phải khiếp phục sát đất rồi tìm cách giết cho mau, khỏi lo hậu họa.
Hồi ấy, tù phong vương bị nhốt riêng tại lều này chỉ bị xiềng hai chân chứ không bị cùm nên vẫn có thể di chuyển.
Tù nhân cùng trại được biết lờ mờ rằng anh này là một nhân vật chính trị có khuynh hướng quốc gia, đã đỗ kỹ sư ở ngoại quốc, bị cộng sản bắt vì có tư tưởng đối lập rồi bị giam tại Khu Tư cho tới chết.
Giấu được bao diêm trong mình, viên kỹ sư đó định dùng bao diêm -nghĩa là lửa- làm phương tiện vượt trại khi nhận khẩu phần gạo, viên kỹ sư biết ngay tụi cộng sản định giết anh. Anh ta nhất định không chịu chết vì bịnh ruột nên tìm cách nấu cơm ăn bằng được. Ít nhất, anh cũng tỏ cho bọn cộng sản biết rằng người quốc gia chiến đấu đến cùng chống bọn cộng sản, dù trong cảnh tù đày.
Trước tiên, anh kiếm một bẹ chuối, một tầu là chuối và vét một vốc bùn đất sét dưới vũng lên. Xong anh ta đào một lỗ nông trên mặt đất, đổ nước vào cho đất ngấm nước thành nhão. Ngâm gạo trong nước cho gạo ngấm kỹ nước, anh ta bọc gạo thật kín trong mấy lượt lá chuối, dùng bẹ chuối bọc thật kín bên ngoài như một đòn bánh tét. Sau khi cột kỹ bằng dây tước ở bẹ chuối, anh ta lấy đất nhão bao kín bên ngoài gói gạo, bỏ xuống lỗ rồi lấp đất.
Sau khi đổ nước xuống lỗ cho ngấm đẫm nước, người tù chất lá và củi lên trên mà đốt, đốt mãi. Tới khi đất bùn đã khô queo dưới sức nóng, anh còn chờ thêm một lúc lâu cho đủ sức chín cơm rồi mới giỡ bọc cơm lên ăn. Tuy không ngon lành gì nhưng gạo đã nấu chín thành cơm, ăn không bị bịnh.
Đến lần nấu cơm thứ ba, mưu kế của anh bị khám phá và bao quẹt bị tịch thu. Khi đó viên kỹ sư mới đành chịu bó tay và từ đó trại giam áp dụng biện pháp cùm luôn tù phong vương để chặn hết mọi phương tiện di chuyển.
Tù nhân đành phải ăn gạo sống nếu không muốn chết đói chăm chú hai nắm gạo sống trên miếng lá chuối khô ở góc long sàng rồi thở dài. Trông lại, nhận ra ngay 982, người đã có sáng kiến thả kiến bò nhót bắt rận trong quần áo tù, để ngừa bệnh chấy rận bị kiến bò nhót phản lại nên ‘’được’’ đưa đến giam tại lều phong vương!
Nhắc lại bữa đó, 982 cứ sự thật mà khai và nhận hết tội lỗi về phần mình vì không muốn anh em bị liên lụy một cách vô ích. Sau một trận đòn tơi bời, 982 được ‘’phong vương’’ ngay sáng hôm đó do quyết định của phó trưởng ban quản trị trại.
Một nhân viên mở hồ sơ cá nhân của 982, đọc qua loa rồi ghi thêm bản án tử hình:
- Phạm tội mưu sát nhân viên ban quản trị, được phong vương kể từ ngày...4.1954.
Y đặt cây viết trên tờ lý lịch cá nhân, tò mò nhìn 982 từ đầu đến chân như để xem tướng mạo một người sắp chết rồi buông mấy tiếng nhạt nhẽo:
- Muốn được ‘’làm vua’’ thì ‘’phong vương’’ ngay tức thì! Thôi, về cung điện mà ngự lên ‘’long sàng’’!
982 ngẩn mặt ra một cách sợ hãi, chưa hiểu ất giáp gì hết, viên giám thị bị kiến độc đốt đã hầm hầm nhìn hắn và nạt:
- Đi theo đây!
982 lần lũi theo sau giám thị, băn khoăn lo lắng, không biết sẽ bị trừng phạt cách nào. Giám thị đưa đầu ngón tay trỏ lên miệng, chấm nước miếng, day lên vết độc cắn hãy còn xưng vù rồi cau có nói:
- Xuống dưới lò rèn để đánh xiềng! Biết không ?
Tuy chưa biết đích xác lò rèn ở đâu, 982 cũng thưa:
- Dạ, biết!
Rồi toát mồ hôi đầy mình, bước trên mặt đất mà bàng hoàng như đi trong mây. Đang là tội nhân thường, nghĩa là có hy vọng một ngày kia được phóng thích, nay bỗng biến thành tù trọng tội mang xiềng và cùm. Chỉ vì mấy con kiến bò nhọt oan nghiệt!
Đến đây, tác giả xin mở một dấu ngoặc để nói qua về một ngành hoạt động chuyên môn trong Trại Giam Đầm Đùn.
Nguyên số tù nhân của Trại Đầm Đùn khi đông nhất có thể tới hơn ngàn người và ngay khi chết dần chết mòn vì ‘’ra bai’’, vì thương vong hàng ngày hay vì nhiều lý do khác, cũng còn bảy tám trăm người. Tất cả số tù nhân đông đảo ấy thuộc nhiều giai cấp, thành phần và làm nhiều nghề khác nhau: Cày ruộng, thợ cấy, thợ gặt, trồng tỉa, thợ máy, đào giếng, làm củi, làm than, giáo sư trí thức, thanh thiếu niên, du đãng, thợ rèn, thợ mộc, bếp nấu ăn, thương gia, viết văn, nhà chính trị cách mạng, tu sĩ và cả cường hào ác bá nữa v.v...Thôi thì đủ mặt anh hùng thiên hạ không sao kể hết.
Khi họ bị đưa vào giam tại Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm Đầm Đùn, ban quản trị sắp xếp chia ra làm nhiều hạng theo nghề nghiệp, thành phần, giai cấp. Vì thế, trại có một số thợ chuyên môn, để phụ trách về các công tác chuyên môn khi cần đến. Cũng bởi lý do trên, Trại Giam Đầm Đùn có một ban thợ rèn do một tay thợ rèn khá chuyên môn điều khiển. Hai thanh niên phụ giúp những công việc lặt vặt cho ban này.
Tù nhân phải mang xiềng đều được giám thị dẫn xuống lò rèn đặng làm xiềng đeo vào chân.
Thường những ngày ít việc, thợ rèn ‘’đánh’’ sẵn những sợi lòi tòi dài cả mấy chục thước quấn thành một đống lù lù lớn như đống mả ở góc nhà. Vậy mà có khi chỉ trong mấy ngày là cả ba bốn chục thước xiềng đã xài hến nhẵn, tù thợ rèn phải luôn tay quai búa chan chát trên đe mới thỏa mãn kịp cho nhu cầu của Trại.
Lò rèn cách nhà tiểu công nghệ cả bốn, năm chục thước, đặt trong một căn nhà lá khá rộng, ba bề không có vách. Đứng trên nhà tiểu công nghệ trông xuống, tù nhân chỉ thấy lấp ló mái nhá lá vì lò rèn bị lấp sau dãy nhà bếp. Nhưng có ngày những tiếng búa đập chan chát trên đe để rèn xiềng nghe như tiếng đóng ‘’cá’’ quan tài khiến nhiều tù nhân thấy đau nhói ở tim, chịu không nổi. Nhiều người tù khó ngủ hay bịnh, đêm nằm nửa tỉnh nửa thức, bỗng nghe vắng tiếng búa đập chan chát xuống mắt xiềng rồi lo sợ nghĩ ngợi lan man thao thức cho đến sáng không chớp mắt. Bởi vì hình ảnh sợi xiềng sắt xích liền hai cổ chân tù nhân là một hình ảnh thiểu não cùng cực đã in sâu vào tâm thức họ. Tuy thế, cũng chưa ghê rợn bằng nghe tiếng xiềng kéo lê trên mặt đất chạm nhau lách cách, nhịp theo bước chân ngắn dài của tù nhân đi trong ánh trăng non buổi tối mùa Thu, sương mù đầy sân. Nhiều tù nhân không phải mang xiềng tự thương thân bật khóc tức tưởi.
Muốn ‘’được’’ đeo xiềng vào chân, tù nhân còn phải đau đớn khá nhiều, vì ở trong trại giam, vẫn luôn luôn xảy ra những vụ bóc lột, hối lộ, làm tiền. Nhiều tù nhân đã bị què trước khi mang xiềng vào chân.
Đến trước lò rèn, 982 sợ hãi bước chậm lại rồi đứng trên ngưỡng cửa trân trối nhìn một người cởi trần, mình đẫm mồ hôi đang đập búa lên một mắt xích. Khi ngước thấy giám thị , người này mỉm cười gật đầu chào, và lễ phép đứng lên. Tuy giám thị chưa nói, anh ta đã biết giám thị sẽ ra lệnh cho làm việc gì. Sau khi nhìn giám thị, thợ rèn liếc mắt thật nhanh ngó 982 rồi chừng như nhận thấy dấu hiệu đặc biệt gì của giám thị -một cái đưa mắt chẳng hạn-. thợ rèn ngó sững bộ đồ trên mình 982.
Tuy bộ đồ không còn mới nhưng lành lặn nguyên vẹn và may bằng loại vải dầy và bền, vải chúc bâu trắng. Đợi cho tù thợ rèn nhận định xong, giám thị mới nói:
- Đánh sợi xiềng dài một thước cho thằng này (vừa nói vừa chỉ vào giữa trán 982). Nó mới được phong vương vì tội thả kiến độc trong trại ngủ cho cắn nhân viên gần chết!
892 vừa ức vừa sợ, nhất là sợ, định lắp bắp phân trần để giám thị hiểu cho là y không dám có ác tâm ấy nhưng không nói ra hơi. Quá tuyệt vọng trước một định mệnh tàn ác, y ngớ ngẩn nhìn giám thị rồi cúi gầm mặt xuống, lặng thinh luôn.
Tù thợ rèn hỏi:
- Thưa ông giám thị, cho đeo liền bây giờ ?
- Xiềng hai chân luôn. Dài một thước. Nghe rõ chưa ?
- Dạ, thưa rõ...
- Nửa giờ nữa, tôi quay lại lãnh tù. Làm xong, biểu nó ngồi chờ ở đây.
Rồi giám thị quay nhìn 982, quát lớn:
- Đeo xiềng xong, ngồi đợi tao đưa mày đến long sàng mới của mày. Không được bước ra ngoài ngưỡng cửa lò rèn, hiểu chưa ?
982 khúm núm:
- Thưa ông giám thị, xin tuân lệnh.
Giám thị nhìn thợ rèn lần nữa, nháy mắt một cái rồi quay đít, lên thẳng nhà bếp. Hắn kiếm bữa ăn sáng.
Tù thợ rèn mỉm cười, nhìn theo bóng dáng tên giám thị giây lát, nhưng đến lúc quay lại nhìn 982, mặt y đanh lại, với một vẻ tàn nhẫn lạnh lùng như vừa đeo một mắt nạ bằng sắt. 982 nhìn tù thợ rèn, lễ phép xuống nước năn nỉ:
- Kính chào ông anh. Xin ông anh thương giùm em bị oan, làm phước nhẹ tay cho em nhờ...
Thợ rèn lạnh lùng nghe rồi gay gắt hỏi:
- Nghề lò rèn phải quai búa tạ, đâu có nhẹ tay được! Mà nếu ‘’nặng tay’’ thì sao ?
982 luống cuống chưa biết trả lời cách nào để khỏi phật ý thợ rèn, tên này đã gườm gườm cặp mắt, nhìn chằm chặp bộ đồ 982 đang mặc với vuông khăn quấn ở cổ và nói:
- Bộ quần áo còn tốt quá nhỉ ? Ra lều ‘’phong vương’’ mặc bộ đồ này uổng quá, phí của giời. Thôi, người anh em ‘’bán lại’’ cho tôi đi.
Rồi hắn nhìn 982 toét miệng mà cười...cầu tài. 982 thấy rõ vẻ làm tiền sống sượng của hắn, bẽn lẽn còn chưa kịp trả lời, hắn đã gằn giọng:
- Đưa cổ chân ra coi!
982 sợ hãi đưa cổ chân lại gần bên cho thợ rèn ước lượng. Thợ rèn nheo mắt ước cỡ cổ chân của 982 rồi lẳng lặng lại sát vách, nơi có một thùng cây vuông vắn như cái rương đựng quần áo. Trước khi mở nắp rương, y quát bảo thiếu niên từ nãy vẫn đứng cạnh bễ tò mò theo dõi sự việc và các mẩu đối thoại giữa hai bên:
- Thắng kia! Thổi lửa lên! Mày cũng muốn được ‘’phong vương’’ hả ?
Thiếu niên lặng lẽ kéo bễ thì thụt. Đống than bỗng hồng lên theo từng hơi thụt rồi ngọn lửa xanh từ đống than vươn lên liếm vào không khí. Một làn hơi nóng bốc lên ngùn ngụt. Thợ rèn nhấc nắp rương, thò tay kéo. Tiếng kim khí loảng xoảng, một sợi xích sắt được nhấc ra vứt xuống đất, dài tới ba thước. Cảm tưởng đầu tiên của 982 là cảm tưởng nặng nề. Sợi lòi tòi này phải nặng tới 20 kg là ít.
982 định thần nhìn kỹ. Hai đầu sợi lòi tòi đã dính liền vào hai cái đai sắt tròn vành vạch, đường kính rộng hơn cổ chân chút ít. Đai sắt cao khoảng hai phân và dầy bằng tập vở học trò. Một chi tiết làm 982 hoảng kinh, cạnh đai sắt cứa vào cổ chân và mu bàn chân thì đến bật xương rách thịt, làm sao chịu cho thấu. Lần thứ hai, 982 khép nép, xuống nước nhỏ năn nỉ:
- Xin ông anh làm phước cho em cái đai sắt nào cạnh bớt sắc. Hoặc giả, xin ông anh cho phép em mượn cái giũa, giũa vài nhát vào cạnh đai cho bơt bén. Tội nghiệp em lắm!
982 chẩy nước mắt lúc nào không biết. Y chợt thấy thiếu niên đứng phía sau thợ rèn ra hiệu cho ý, một tay thiếu niên vẫn kéo bể còn một tay nắm vào ngực áo, kéo ra kéo vào vài cái, 982 vẫn chưa quyết định tính toán cách nào, thợ rèn đã quát:
- Lại gần đe, ngồi xuống.
Như người mất hồn, 982 sợ sệt nhích lại gần đe ngồi thụp xuống, rồi duỗi dài hai chân ra khi thấy thợ rèn giơ tay ra hiệu.
Hai đầu sợi lòi tòi đã gắn chặt vào đai sắt. Nhưng mép nối của đai sắt hãy còn mở, khi nào tù nhân cho lọt vào trong vòng đai rồi, người ta mới tán cho hai mẫu sắt ở mép đai cắn chặt với nhau bằng một đanh sắt có mũ gọi là ‘’ri-vê’’. Bao nhiêu công việc đóng xiềng vào chân tội nhân nguy hiểm là ở chỗ này. Có thể vô tình hay cố ý, khi đập xuống đanh ri-vê để tán, cây búa tạ đánh vào xương ống quyển hay mắt cá chân. Chỉ thấy tội nhân hét lên một tiếng điếng hồn rồi què luôn từ giây phút ấy. Nhưng trong tù có nhiều hiện tượng lạ lùng, què hẳn hoi mà vẫn phải lõng thõng bước đi như thường, khi cần.
982 theo lệnh của thợ rèn, cố đút bàn chân to như bàn cuốc cho lọt qua vòng đai sắt trong khi thợ rèn dùng kìm mở cho đường kính vòng đai rộng thêm ra. Đút lọt một chân vào trong đai sắt rồi, 982 mới nhìn lại bàn chân đã xây xước rướm máu. Chưa kịp chùi vết máu, anh ta đã phải ghếch cả cổ chân có đai sắt lên trên đe trong khi thợ rèn ướm thử một chiếc đanh ri-vê vào lỗ chuẩn bị tán:
- Ê, thằng kia, ra giữ đai cho tao ‘’đóng’’ đây!
Thiếu niên ngừng thụt bễ, lại gần dùng kìm, kẹp chặt hai mẫu sắt ở mép đai, có lỗ thủng sẵn đặng thợ rèn tán ri-vê 982 rùng mình khiếp hãi, nghĩ thầm:
- Trượt búa một cái, đành là mình gẫy đứt một giò.
Nghĩ vậy, anh ta nhắm mắt lại không dám nhìn. Nhưng lúc mở tí hí mắt thì vừa vặn đúng lúc thợ rèn giơ cao tay búa giáng xuống. Chẳng may, búa trượt ngang, đập trúng mắt cá chân đến ‘’cốp’’ một cái 982 ‘’ối’’ mấy tiếng đau đớn nằm lăn quay ra đất mà rên hừ hừ.
- Câm cái mồm lại! Chưa được!
Quả nhiên, khi nhìn lại 982 thấy cây đanh đi-vê chưa dính chặt vào lỗ và miệng đai sắt vẫn chưa đóng kín. 982 ràn rụa nước mắt vì nhức nhối, chép miệng, cởi khuy áo, lạy van rối rít:
- Thế này thật không phải, xin biếu ông anh chiếc áo này và xin ông anh thương tình cho lại em chiếc áo rách, rách thế nào cũng được, miễn còn được chỗ lành để em xin ‘’in số’’ là được. Ông anh thương mà nhẹ tay giùm.
Lúc bấy giờ thợ rèn mới mỉm cười ra vẻ thông cảm. Hắn ngẫm nghĩ giây lát rồi quay ra phía thiếu niên kéo bễ và nói:
- Mày kiếm một chiếc áo còn khá tốt đổi cho ông bạn, kẻo tội nghiệp. Trời rét này mà ở trần, làm sao chịu nổi.
Gần nửa giờ sau, 982 đã mang xong xiềng vào chân. Gần đúng như lời dặn của giám thị, sợi xiềng nối liền hai cổ chân đo được 98 phân. Lúc tới lò, 982 mặc áo lành lặn, lúc ở lò ra theo giám thị, mặc áo rách, cũ kỹ, ngắn ngũn như áo con nít. Tuy vậy, trên ngực và lưng áo còn hai khoảng lành lặn nhờ có đắp thêm hai mảnh vải còn tốt, 982 có thể năn nỉ xin ban quản trị cho in số tù trên khoảng áo lành là được rồi.
Anh ta khập khễnh như người què. Cũng còn may, cạnh vòng đai sắt đã được thợ rèn giũa qua mấy nhát cho bớt sắc, nếu không, chỉ đi mười bước là tóe máu chân ra liền. Tiếng xích sắt lách cách tiến về phía lều phong vương.
982 bàng hoàng nhìn túp lều, ngừng bước chân. Không nghe tiếng mắt xích đập vào nhau, giám thị quay lại quắc mắt, 982 lại vội cất bước.
- Bắt đầu từ giờ phút này (giám thị nhìn đồng hồ tay) 8 giờ 45 ngày...tháng 4.1954... tôi tuyên cáo từ 982 được chính thức phong vương theo quyết định của ban quản trị.
Với một giọng điệu đầy vẻ đểu cáng, giám thị mỉm cười thích thú. 982 ngẩn ngơ như người mất trí, tiến không dám, lùi thì sợ...nên chẳng khác chi người chết đứng. Túp lều phong vương thảm nhiên chờ đợi trong cái vắng lặng của khu trại, người bạn ăn nằm với túp lều trong một thời gian ngắn ngủi ít ngày.
X.
Không biết lần thứ mấy, 982 nhìn lại nắm gạo bỏ trên mảnh lá chuối khô tại góc sàn lều mà ban quản trị đặt cho mỹ danh là ‘’long sàng’’ đặng xứng với danh từ ‘’tù phong vương’’. Phải, bắt đầu từ 8 giờ 45 sáng nay, anh được thăng làm ‘’tù phong vương’’ và gần như chắc chắn rằng 8 giờ 45 phút cũng ngày này tuần tới, anh sẽ không còn sống trên cõi đời này nữa.
Ý nghĩ trên làm 982 thắt ruột vì tiếc nuối, căm hờn và đau đớn...Đầu óc 982 trở lại trống rỗng như không còn đủ sức suy nghĩ đến một việc cỏn còn nào hết. Tên giám thị đểu cáng, sau khi cho anh làm công việc ‘’vệ sinh’’ buổi sáng và rửa mặt bên cái vũng nước đục lờ lờ, hất ngón tay ra lệnh cho anh trèo lên sàn. Rồi y lấy hai mảnh ván cùm vứt lăn lóc trên sàn từ bao giờ, cùm hai chân anh lại. 892 biết chắc cùm này đã ‘’chiếu cố’’ đến nhiều tù phong vương khác, những người đã sang bên kia thế giới trước anh. Cứ coi các góc cạnh đã nhẵn thín cũng dư biết thành tích giết người của cùm. Ít ra cũng cả trăm cả tù nhân đã mất mạng vì nó.
Dần dà, đầu óc 982 bình tĩnh lại, bản năng sinh tồn của con người vùng dậy. Anh tự nhủ thầm: Hoảng hốt, sợ hãi lại càng mau chết. Đành rằng nếu tổ chức bên ngoài không thực hiện kịp thời một kế hoạch giải cứu, anh khó lòng thoát chết. Nhưng tìm cách kéo dài sự sống vẫn hy vọng hơn. Biết đâu chẳng có một cuộc đời xá...một đặc ân bất ngờ nào đó. Hoặc giả, gặp dịp may trốn thoát về vùng Tề. Biết đâu chừng!
Mắt cá chân buốt đánh thót một cái vì anh vừa gượng co đầu gối lại. Khi đó 982 đang ngồi dựa vào chân cột, ngó khung cảnh chung quanh ‘’điện ngọc’’ vắng vẻ, im lìm. Dưới đất, những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm. Trên chòi xa, một tên cảnh vệ canh gác, đang ngó về phía anh...982 nhìn chiếc áo cụt ngủn đang mặc mà giận. Đằng nào cũng mất áo mà còn bị búa đánh toét mắt cá chân. Thật ngu dốt đần độn quá, 982 tự rủa thầm như vậy.
Nhất là khi nhớ ra những chuyện bạn tù kể lại về tác phong của tên tù thợ rèn, 982 càng giận thêm. Họ đã cho anh biết những vụ làm tiền, bóc lột vật dụng quần áo là chuyện tất nhiên phải có, khi tù bị thợ rèn đóng xiềng vào chân. Dù không muốn có những hành động khốn nạn đó, nó vẫn phải làm theo lệnh của giám thị. Vì giám thị của Trại Giam Đầm Đùn cũng túng thiếu, phải bóc lột tù mới đủ ăn. Làm việc ở vùng nước độc khỉ ho cò gáy, xa nơi thị tứ, quanh năm buồn như chấu cắn, giám thị là những phần tử phạm lỗi, phải thuyên chuyển đến trại này vì lý do kỷ luật, tác phong hủ hóa, để chia sớt sự thiếu thốn với bọn tù ốm đói sắp chết và đang chết.
Thế cho nên khi tù nhân đến lò rèn để đóng xiềng, gần như bắt buộc phải mất một vật dụng gì cho giám thị qua trung gian là tù thợ rèn. Tùy giá trị món đồ bóc lột được, giám thị sẽ chia cho thợ rèn một phần.
Nhưng có những tù nhân nghèo quá, chỉ còn một bộ đồ rách bươm, giám thị có lột lấy bán lại cũng chẳng được là bao. Trường hợp này, đành phải châm chước mà tùy nghi định liệu. Tù nhân bị đóng xiềng muốn khỏi bị búa trợt vào ống quyển, vào mắt cá chân, có thể điều đình bằng cách nhường cả một bữa cơm cho thợ rèn. Thợ rèn cũng là tù nhân nên vẫn ‘’đói’’ chẳng khác chi các tù nhân cùng trại. Nhường cho hắn một bữa cơm, hắn tán đanh ri-vê mỗi đai cổ chân một cái, trúng ngay. Nếu không, hắn bèn trợt búa thì chết mẹ cái cẳng chân ăn tù cần đeo xiềng. Bữa cơm, nếu không ăn hắn cất đi, đổi lấy thuốc lá, thuốc lào hay áo cánh, quần đùi, rồi nộp giám thị hoặc bán lấy tiền đưa giám thị chia theo nguyên tắc ‘’tứ lục’’, giám thị hưởng 6 phần, thợ rèn 4 phần.
Nhưng trên thực tế, phần của sư tử bao giờ cũng phải lớn hơn nhiều nên tù thợ rèn chỉ được một, hai phần mười là đã toại nguyện lắm rồi. Để được đền bù phần nào, thợ rèn còn được giám thị che chở, nâng đỡ về tinh thần nên hắn có quyền hống hách, muốn cho ống quyển tù nhân bị đeo xiềng ăn...‘’đòn trợt búa’’ lúc nào cũng được.
Đã biết nguyên tắc nộp ‘’thuế đóng vào chân’’ như vậy, 982 còn để cho búa táng vào mắt cá chân, thật đáng tội què!
Nhưng có một mánh lới làm tiền khác của thợ rèn, 982 chưa được nghe nói đến nên chưa biết. Tù nhân phải đeo xiềng nhưng đến một hạn nào đó, tất nhiên cũng phải tháo xiềng ra trả lại cho trại. Hoặc là tù xiềng được đặc ân (trường hợp này rất hiếm) hoặc gặp kỳ đại xá, ban quản trị có thể xét cho họ tháo xiềng để trở về làm tù nhân hạng nhẹ. Lúc tháo xiềng ra mới thật khổ, không khác chi lúc đeo xiềng.
Tù thợ rèn có hai cách tán ri-vê vào đai sắt của xiềng, một là tán toét đầu ri-vê ra, hai là tán vừa đúng mức mà tù vẫn không thể nào tháo ra được. Trong trường hợp thứ nhất, khi tù nhân được bỏ xiềng, thợ rèn phải chặt đứt ri-vê bằng đục và búa. Độc giả khó tưởng tượng nổi cổ chân phải đau đớn đến mức nào khi thợ rèn chặt ri-vê trên đe!
Trong trường hợp dưới, thợ rèn chỉ dùng một cái chốt sắt đặt đúng lên ri-vê, ‘’đột’’ một cái là trúng phóc, ri vê bật ra liền, cổ chân không hề đau đớn gì hết.
Cách tán ri-vê trong trường hợp thứ nhất còn gây ra nhiều điều không hay.
Nếu tù nhân này chết, cố nhiên phải khiêng ra bãi để chôn.
Tháo ri-vê ra phiền phức mất công quá nên thợ rèn thấy không gì tiện hơn là chặt phăng bằng dựa hay rìu hai cổ chân xác chết, thu hồi xiềng trả lại ban quản trị rồi liệng hai chân xuống hố phân là xong chuyện. Chỉ trong ít hôm, ròi ăn hết hai bàn chân liền. Dưới âm phủ, cái xác mất hai bàn chân làm sao đi lại được như những xác còn nguyên vẹn thân hình (!)
Nhiều tù nhân mê tín hoặc lẩm cẩm lại còn ngẫm nghĩ cả về điềm vớ vẩn vừa nói nữa.
982 ngắm nhìn cây ri-vê đóng vào đai sắt, gọn gàng, nhẵn nhụi, bỗng cau mặt tức giận. Chắc chắn bị ‘’cúp’’ mất bữa ăn sáng nay rồi. Thật là họa vô đơn chí! 982 rền rĩ trong họng:
- Đói quá! Đói quá!!
Anh ta vòng hai tay ôm bụng, co đầu gối ép lên hai cánh tay thật chặt. Chiều hôm qua đi làm củi ở rừng về, ăn hết hai lưng cơm mà vẫn đói như chưa được hột cơm nào. Vậy mà sáng nay lại phải nhịn nữa thì chịu sao nổi. Cái đói ùa đến thật nhanh khiến mồ hôi 982 toát ra ướt đẫm lưng. Đôi mắt lờ đờ chợt hướng về phía vũng nước, anh nghĩ thầm:
- Có vũng nước thì phải có ếch, có nhái, cóc hay là tôm, cá nữa, không biết chừng. Hay ta liều xuống kiếm coi.
Liền khi đó, một ảo giác hiện ra trước mắt 982. Ngay giữa ‘’long sàng’’, một con ếch tròn vành vạch đang ngồi, gương mắt nhìn anh. Một lưỡi câu có dính bông hoa mướp vàng nhẩy nhót để nhử. Bị khích thích vì màu vàng hoa mướp, con ếch nhoài mình đuổi theo mồi. Một sức mạnh giựt ở đầu sợi dây câu khiến lưỡi câu bung lên đóng chặt vào miệng con ếch béo múp míp.
982 dụi mắt, con ếch biến mất. 982 vừa tưởng tượng đến những lần câu ếch trong dĩ vãng xa xôi ở ven ao làng. Cái đói, cái khát thường tạo ra ảo ảnh như vậy.
982 chợt ngước lên mái lều, nơi vừa phát ra tiếng lạt sạt rất khẽ nhưng vì không khí quá yên tĩnh nên anh nghe được. 982 phát giác một con thạch sùng đang bắt muỗi trên mái, da con thạch sùng vàng ngậy lẫn với màu rạ. Một ý nghĩ thoáng trong đầu 982 như một cứu cánh, mắt anh không rời con vật và lóe ra những tia sáng chói của thèm muốn. Im lặng như cái bóng, 982 vẫn ngồi mà lết dần đến bên dưới khoảng mái rạ có con thạch sùng trong khi tay anh lần cởi khuy rồi lột áo ra, xoắn lại thành một sợi dây lớn, nắm chặt một đầu trong tay. Anh vẫn ngửa mặt nhìn lên nóc nhà, cằm đưa ra đàng trước, mắt lom lom theo dõi con thạch sùng.
Con vật bỗng bò nhanh để bắt một con nắc nẻ đậu gần đấy. Khi đã lại gần đúng tầm, nó nhô mạnh về phía trước để đớp con mồi thì cũng đúng lúc đó, 982 vụt đứng thẳng lên, vung tay cầm áo đập giữa mình con thạch sùng, nhanh không thể tả.
Chiếc áo rơi xuống mang theo con thạch sùng. Nhưng con vật chỉ bị đau sơ chứ không chết. Vừa rơi trên ‘’long sàng’’, nó loạng choạng chạy về cây cột lều nhưng 982 đã nhoài người vồ được nắm gọn trong tay, mặc cho con vật vùng vẫy.
Một khoảng đầu con thạch sùng còn thò ra ngoài nắm tay của người tù đói, nhưng nó chạy sao cho thoát! Vừa định quật chết con thạch sùng, anh chợt ngừng kịp cánh tay đang giơ lên nửa chừng. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu. Hai mắt tóe lửa thèm khát của 982 nhìn chòng chọc miếng ăn sống trong tay.
982 há nhẹ hai hàm răng, đút đầu con thạch sùng lọt vào bên trong miệng. Bằng hai ngón tay, anh cấu vào đuôi con vật một cái, đồng thời lỏng bớt tay nắm. Bị đau, con thạch sùng vùng chạy chui thẳng tọt vào cổ họng 982 rồi biến luôn. 982 đã ngậm miệng như thường. Một cảm giác ngứa ngáy khó chịu khi con thạch sùng chạy theo ống thực quản xuống bao tử khiến 982 so hai đầu vai lên như bị thọc nách.
Rồi anh ngẩn người ra ngẫm nghĩ: Cũng may, con thạch sùng không bị rụng đuôi khi rớt, chứ chỉ nuốt riêng cái mẫu đuôi thì cũng dỡ dang, mà bỏ đuôi cũng uổng!
Một lát sau, cái cảm giác nhột và buồn bực do con thạch sùng bò trong bao tử gây ra mới hết dần. 982 cho là còn may, mới tới đã kiếm được thức ăn bỏ vào miệng để dằn cơn đói quái ác! Nhưng sẽ làm gì với nắm gạo sống này đây ?
982 giật mình quay về phía trại vì anh lại nghe tiếng chân dẫm trên đất ướt. Quả vậy, một người đang đi tới, tay cầm gói gì mà anh chưa nhận ra. Dáng người trông quen quen, gầy gò, nhỏ nhắn, không phải là tên giám thị khốn nạn. Người đó lại đội cái nón chóp bằng lá gối dậy dặn anh đã cố công mang từ Việt Bắc về. Không thấy mặt nhưng 982 đọc được số 271 in trên ngực người đội nón.
271 là danh số của trại viên Toàn. Hôm nay, 271 được cắt công tác xay 5 thúng lúa ở nhà tiểu công nghệ và gánh hai chục gánh nước tưới rau, vườn cà của trại. Chưa gánh xong nước, Toàn được giám thị sai mang đến trao cho 982 một bọc gồm mấy cái quần áo. Ba bốn miếng giẻ, một bao tải, một đôi dép cao su ‘’con hổ’’ đế đã mỏng như lá bàng. Với tư cách trưởng toán, Toàn sẽ cho biết luôn 982 không còn thuộc toán của anh nữa. Như thế con số 982 đã được gạch bỏ trên danh sách trại thường tội trước khi người mang con số đó bị bỏ một cách lạnh lùng ra khỏi cõi nhân thế.
Tới chân thang, Toàn giở nón là ngước nhìn lên ‘’long sàng’’ mà cười gượng như để an ủi ‘’tân vương’’. Nhưng 982 không lưu ý đến vẻ mặt cùng thái độ của Toàn mà chỉ đợi Toàn cho biết những sự việc xảy ra sau lúc anh ta bị gọi lên văn phòng và xin Toàn giúp cho một việc rất hệ trọng.
Toàn ý tứ nhìn quanh quất tứ phía, coi có ai rình rập theo dõi chăng, rồi chăm chú ngó chòi lính canh đàng xa. Tên cảnh vệ ngồi xây lưng lại phía lều phong vương, 271 yên trí leo lên thang, ngồi ghé xuống ‘’long sàng’’.
Thấy mắt cá chân của 982 tím bầm như quả bồ quân. Toàn lờ đi, không muốn gợi cái đau ra cho bạn đồng cảnh. Anh chìa bọc quần áo, cầm hết vật dụng trong tay lần lượt đưa từng thứ cho 982 và chợt có một cảm tưởng kỳ lạ, gặp 982 lần này là lần cuối cùng. Trong Trại Giam Đầm Đùn, cái sống xa cách cái chết không quá mươi bước chân. Toàn lặng lẽ nói:
- Đây , tất cả đồ dùng của anh, không thiếu thứ gì, còn quần áo, tôi đã rũ thật sạch, anh yên trí mà mặc...
Toàn cố tránh nhắc đến đàn kiến bò nhọt chết tiệt đã gây ra tai họa cho 982. Toàn thấy 982 mấp máy định nói rồi ngậm chặt vành môi đến gần chảy máu. Hắn giở từng thứ ra coi qua loa, liệng đống ngay bên cạnh, rồi thở dài. Trong giọng nói của 982, Toàn thấy một âm hưởng căm hờn, ngao ngán, nhưng không sợ sệt:
- Tôi bị ‘’phong vương’’ rồi, anh ơi! Chắc khó sống hết tháng này...Tôi gởi lời chào tất cả các bạn và mấy anh em trong giam cầm này. Dè đâu...
Thiếu chút nữa Toàn bật lên khóc thành tiếng, vừa thương người đồng cảnh, vừa lo cho thân mình. 982 bỗng ngưng ngang, mắt hắn ráo hoảnh long lanh dữ tợn, hai bàn tay nắm chặt thành hai quả đấm, run run. Toàn đoán hắn đang có những ý nghĩ liều lĩnh, bất thường. Người tù nào mới được đưa đến lều phong vương cũng có phản ứng như thế. Thoạt đầu là cảm giác sợ sệt hoang mang, rồi sau đó là lòng căm phẫn, thù hận, những ý tưởng liều lĩnh giết người hay vượt trại giam. Còn sau này có gan thực hiện những mưu định không, lại là chuyện khác.
Toàn đưa mắt nhìn địa thế quanh lều...Tuy đã vào trại giam sáu tháng, Toàn chưa có dịp đến khu này lần nào. Sự vắng vẻ, yên tĩnh, cô độc gây cho anh một cảm giác hồi hộp, sợ hãi 982 chợt hỏi bâng quơ:
- Này anh trưởng toán, sáng nay tôi bị ‘’cúp’’ mất bữa cơm một cách oan uổng nên đói quá. Trước khi bị đưa tới đây, cũng không được ăn bữa cơm cuối cùng với anh em. Thiệt đáng hận...
Nói đến cơm, dường như 982 lại càng đói thấm thía nên hãm ghì chặt hai cánh tay ôm bụng. Toàn xúc động mạnh trong lòng nhưng vẫn làm lơ, giả bộ quay nhìn xuống vũng nước và mấy ngọn cỏ mọc vượt lên khỏi váng nước vàng như gạch cua...Anh định hỏi: ‘’uống nước ở vũng này à ?’’ nhưng lại thôi.
Hai người cùng yên lặng giây lâu. Trán 982 đẫm mồ hôi và hai hàm răng hắn bỗng nghiến ken két. Toàn rùng mình ba bốn lần liên tiếp.
- Chà, cơn đói quái ác!
Mắt 982 bỗng tóe tia lửa khiến Toàn bất giác rợn người. Nếu đúng giây phút này, nhét vào tay hắn một con dao rồi dẫn hắn đi tìm giám thị, hắn giám liều. Toàn sực nhớ đến cảm giác căm thù hết mọi người khi anh bị cơn đói hành hạ. Nếu anh đủ sức khỏe, chắc anh có lần phạm tội sát nhân chứ chẳng không. Rồi so sánh với hiện cảnh của 982, anh thấy anh còn có diễm phúc. Đây là lần đầu tiên trong trại giam, sự so sánh khiến Toàn tự thấy bớt đau khổ, và còn may mắn hơn nhiều người khác.
Ngập ngừng vài giây rồi lấy hết can đảm. Toàn rút trong cạp quần ra một trái bắp luộc còn cả áo bên ngoài, mạnh dạn chìa ra cho 982 và nói:
- Tôi xin tặng anh trái bắp này. Tôi vừa đổi nửa ống quần lấy trái bắp, định tách hạt bắp ra cất để dành, phòng khi đói hay đau ốm, bây giờ chỉ ăn lõi bắp và nhai mấy tấm áo bọc ngoài hít lấy nước ngọt. Nhưng thấy anh tội nghiệp quá, tôi không đành lòng...
982 trợn tròn mắt một cách ngạc nhiên và dữ tợn, bất thần nhanh như cắt chộp luôn trái bắp trên tay 271, dường như sợ 271 thay đổi ý kiến. Rồi lột luôn bắp cạp liền, nhai ngồm nhoàm, vừa nhai vừa nói:
- Cám ơn anh! Cám ơn anh! Đói quá! Không ăn ngay thì chết mấy!
Toàn cười vớ vẩn nửa như tiếc rẻ, nửa như tự mãn, lặng thinh không nói. Lúc này Toàn mới nhận mình quá ‘’anh hùng cá nhân’’ thì đã muộn! Cướp lại sẽ gây phiền phức rắc rối, nguy cho cả hai, nội vụ sẽ vỡ lỡ. Thôi đành vậy.
Nhưng Toàn lại lần cạp quần phía trái, lấy ra một vật gì mà 982 chưa nhận định được. Toàn xuống thang, bước đến đất mới đưa vật đó vào miệng mà nhai ngon lành. 982 vừa nhận ra đó là một miếng cháy lớn bằng bàn tay thì hắn đã ngượng nghịu chìa bàn tay ra xin lúc nào rồi. Hai người không khác chi hai đứa trẻ dụ ăn của nhau. Toàn lắc đầu không trả lời, tiếp tục lạnh lùng nhai miếng cháy. Khi đó 982 đã cạp hết những hạt bắp vàng ửng chắc nịch và tiếp tục nhai lõi bắp, vừa nhai vừa hít nước, hít hết nước nhả bã lõi bắp lả tả vào bàn tay, trải xuống mặt ‘’long sàng’’, vun lại thành hàng đều đặn. Toàn đoán:
- Phơi để dành, khi đói quá không chịu nổi sẽ nhai lại nuốt hết.
Loáng cái Toàn cũng nhai hết miếng cơm cháy.
Anh đứng bên chân cầu thang, nói vọng lên, tự coi như mình nhiệm vụ tinh thần với anh em.
- Thôi, anh bạn ngồi nghỉ, tôi về trại đây.
Nhưng 982 lật bật năn nỉ:
- Xin anh làm phúc cho tôi nhờ anh một việc.
Toàn ngập ngừng leo lên thang, 982 đã chắp hai tay lại và nói nhỏ:
- Nhờ anh làm phúc hỏi dùm tôi thằng nhỏ làm ở lò rèn có phải tên Hợi, người Sơn Tây không ? Rồi nhắn cho tôi biết. Nếu đúng thằng Hợi, xin anh bảo nó có chú Dũng đang bị ‘’phong vương’’ đó. Cảm tạ anh trước.
Toàn gật đầu nhận lời, lừng lững quay đi, nghĩ bụng dù Hợi có là người nhà của 982 cũng không giúp gì được hết vì tù phong vương phải ăn gạo sống, uống nước vũng, như thế khó lòng ‘’thọ’’ được quá tuần lễ! Ngược lại, 982 lại rất hy vọng...và xắp đặt trong đầu một kế hoạch vượt trại giam tuy thấy rằng lúc này có lẽ quá muộn!
Tuy vậy, bắt đầu từ phút đó, nếu rình trộm, giám thị sẽ luôn luôn thấy 982 ngó trừng trừng vào quãng không, vẻ suy nghĩ lung lắm. Mặt hắn ta đanh lại như bằng đá. Sự thật, tuy bề ngoài có vẻ hiền lành chậm chạp nhưng 982 là một người chiến sĩ có thành tích trong hàng ngũ những người trời sinh ra là đã không thể chấp nhận được chủ nghĩa cộng sản vì bản năng hơn vì lý trí.
Cách đây năm năm, 982 gia nhập một tổ chức chính trị có khuynh hướng quốc gia cực đoan nhưng sau này tổ chức bị nứt rạn trầm trọng, 982 phải lẩn tránh, thay đổi họ tên, sống một cuộc sống che đậy giả tạo chuẩn bị trốn về Tề thì chẳng may bị chính quyền cộng sản bắt vì một lỗi chỉ có tính cách dân sự, rồi chẳng được xét xử gì hết, bị đưa lên mạn ngược, khổ sai tại các công trường tập thể trước khi bị đưa về Trại Giam Đầm Đùn. Tội trạng ghi trong hồ sơ không có yếu tố cấu thành rõ rệt như tội trạng của bao người khác bị bắt hồi bấy giờ, đó là tội lừng chừng, ‘’không triệt để ủng hộ mặt trận Việt Minh’’ v.v...
982 may mắn dấu được lý lịch thật của mình, cũng nhờ trước đây anh chỉ hoạt động chìm trong tổ chức nên thành tích chính trị của anh không bị tụi công an việt cộng phát giác. Nếu không, chắc anh đã phải bỏ thây ở Việt Bắc sau khi nhận một nhát dao găm vào ngực hay một ngọn búa vào gáy như hàng trăm, hàng ngàn người khác trong hàng ngũ đối lập với mặt trận.
Vừa ngẫm nghĩ, 982 vừa nhai những tấm lá cuối cùng bọc ngoài trái bắp. Anh nhai kỹ như nhai trầu, càng nhai càng thấy mềm môi nên nuốt luôn cả bã. Dù sao, cũng còn có chất bổ dưỡng hơn nhai vớ vẩn mảnh rẻ rách như mấy người tù mất trí vì quá đói vẫn thường làm.
982 nghĩ lan man từ chuyện này qua chuyện khác, sau cùng cũng quay lại một sự kiện thực tế lúc nào cũng sôi bỏng như lửa đốt. Đó là vấn đề ‘’đói’’. Hiển nhiên yếu tố ‘’đói’’ là một đòn ban quản trị sử dụng tới mức để trừng phạt và làm tán loạn tinh thần tù nhân. Điểm đáng sợ là lúc nào, bọn cộng sản cũng tạo được một không khí khiếp đảm hoang mang trong trại, tù nhân bị đàn áp về tinh thần lại bị chi phối gay gắt về sự sống thực tế trong mỗi giờ, mỗi khắc. Luôn luôn bất kể lúc nào, tù nhân cũng đói, thèm ăn, thèm uống, lại bị kiệt sức như người bịnh nặng nên không thể đủ minh mẫn để suy nghĩ tính toán đến việc gì khác.
982 cau mày lại một cách tức giận. Anh chỉ còn một cách trốn ngay khỏi trại giam, nếu không chỉ trong vòng một tuần lễ anh sẽ lâm bệnh nặng nếu chưa chết, và tới khi đó mọi phương tiện đều trở thành vô dụng, dù có dịp cũng không thực hiện được nữa. 983 tự nhủ:
- Chỉ cần vượt được khoảng 30 cây số xa Đầm Đùn là hy vọng thoát...
Đi bộ 30 cây số đối với tù nhân của trại giam cộng sản là việc làm tầm thường có thể đi thẳng một hơi không cần nghỉ chặng nào. Một ngày chỉ gánh bốn mươi gánh nước tưới rau, cà cũng phải đi trên 30 cây số. 982 suy tính và cho rằng anh chỉ cần bốn bữa ăn đủ no trước khi lên đường và có một lon gạo rang kỹ làm lương khô, phòng bị kẹt...không tiện xuất đầu lộ diện kiếm bữa, sợ bị phát giác. Thế thôi!
Từ lúc bị lọt trong màng lưới cộng sản, 982 phải đóng một vai ngớ ngẩn, thật thà, đặc biệt nông dân để giấu lý lịch thực hiện của anh. Vì thế, anh luôn luôn phải lộ vẻ sợ hãi quá mức, có dịp là xung phong tăng năng xuất để tỏ ra đã giác ngộ, cố gắng đái tội lập công. Nhờ tác phong đó nên 982 thoát chết khi có lệnh mật của Tổng Bộ phải ‘’thanh toán’’ càng nhiều càng tốt số tù nhân bị đưa lên Việt Bắc cho nhẹ bớt phí tổn của nhà nước. Sau đó, 982 được dắt về giam tại Đầm Đùn cùng một số đồng cảnh đã được đãi lọc rất kỹ trên phương diện tác phong và thành phần giai cấp.
Theo tin bên ngoài đưa vào, 982 phải tìm cách bắt liên lạc với một thiếu niên tên Hợi, một phần tử bị tình nghi (vì con một người bạn anh hoạt động trong đảng phái quốc gia) cũng đang bị giam ở trại và lao tác tại ban lò rèn. 982 không biết mặt Hợi, nên trong hoàn cảnh bất đắc dĩ đã đánh liều nhờ Toàn tìm hỏi giùm. Nếu 982 bắt liên lạc được, mưu định có cơ thành tựu...Lúc này ở bên ngoài, chiến tranh Việt-Pháp đã đi đến giai đoạn quyết liệt một mất một còn, mặt trận xảy ra khắp nơi, tàn bạo dữ dội...Biết đâu 982 chỉ vượt khỏi trại vài chục cây số là gặp cuộc hành quân của quân đội quốc gia hay của quân viễn chinh Pháp. 982 sẽ nhào vào giữa cửa tử để tìm sinh lộ. Anh sẽ tìm đến Bộ Chỉ Huy để trình diện và xin xung phong làm hướng đạo dẫn quân đội quốc gia đến đánh phá Đầm Đùn, giải cứu cho các tù nhân đang bị giam giữ và để trả thù...
Ý nghĩ 982 lan man theo óc tưởng tượng. Chưa ra thoát cảnh ngục tù, anh đã nghĩ đến sự trả thù...rửa hận. Nhân lúc này tâm trí bình tĩnh lại, anh cố nhớ đến những kinh nghiệm bản thân, nhớ đến chuyện vượt ngục cộng sản đã được nghe, hoặc đọc trong sách, báo v.v...rút ưu khuyết điểm mang ra thực hiện trong một ngày gần đây, nếu Trời còn tựa những người quốc gia yêu nước...
982 bàng hoàng nhìn ánh nắng Xuân trên bãi cỏ, trên hàng rào nứa và trên mặt con đường đất nhẵn thín quanh trại. Anh chợt nhớ đến một chuyện viết bằng ngoại ngữ dịch ra tiếng Việt đã đọc vào khoảng 1940 gì đó, trên một tuần báo xuất bản tại Hà Nội. Tuy đã đọc trên mười năm nhưng những sự việc chính ghê sợ, kinh tởm và vô nhân đạo nhất, anh vẫn nhớ. Anh suy ngẫm và thấy cộng sản dù là cộng sản Âu, Nga, Tầu hay Việt cũng vẫn là một thứ phi nhân, phi nghĩa, không thể để cho tồn tại trên trái đất nếu loại người còn muốn đứng trên loài ác thú. Đó là câu chuyện vượt trại giam cộng sản của một đám tù bị đày ở Tây Bá Lợi Á, một câu chuyện có thực 100 phần 100, nhưng hồi đó ít người dám tin là chuyện có thật, kể cả người đã có kinh nghiệm sống chung với cộng sản.