Trại Đầm Đùn

Lượt đọc: 21597 | 33 Đánh giá: 6,4/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XI - XV

Sau cuộc thanh trừng rộng lớn năm đó, có tới năm ngàn người Nga bị chánh quyền vô sản đem đầy ở Tây Bá Lợi Á, một vùng sa mạc quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Năm ngàn người đó bị giam trong những căn nhà cất giữa sa mạc mênh mông, tuyết rơi liền nhau. Ban ngày họ phải đi lao tác tại các công trường vĩ đại xây cất trong rừng núi, cách trại dăm cây số.

Chừng 6 tháng sau, tù nhân chỉ còn gần một nửa, đa số đã chết vì công tác khổ sai, bệnh tật và thời tiết.

Hàng trăm trại nhỏ, mỗi trại ở vào một khu riêng biệt, lạnh lẽo đứng dưới tuyết.

Trong một trại kia, số tù nhân đông hơn trăm người, sáu tháng sau chỉ còn 50. Tất cả tù nhân đều biết chắc với mức thương vong hàng tháng như thế, chỉ ít lâu nữa họ cũng sẽ theo các bạn đồng cảnh mà vùi thây dưới tuyết, nên bàn nhau liều vượt ngục. Vượt trại giam cộng sản thì thiên niên vạn nan thật đấy nhưng còn một phần mười hy vọng sống sót, nếu cứ chịu sống trong trại sẽ cầm chắc cái chết gần kề cả mười phần.

Cùng trong một căn trại đó, có ba tù nhân thân thiết với nhau hơn tình ruột thịt vì phải chung sống trong cảnh tù tội, phần vì cùng thuộc một giai cấp trong xã hội, giai cấp trí thức. Nhưng đúng nhất là vì họ có cùng một lý tưởng chống cộng sản đệ tam, một người nguyên là kỹ sư, một là nhà văn và người thứ ba là một cựu sĩ quan cao cấp của Hồng Quân bị thanh trừng khỏi quân đội và lý do chính trị.

Sau khi dò xét kỹ càng tinh thần của mấy chục tù nhân cùng trại, ba người thuyết phục họ vượt ngục và được hưởng ứng nhiệt liệt. Địa bàn, bản đồ, khí giới chuẩn bị đầy đủ nhờ có những đường dây liên lạc bí mật giúp đỡ tổ chức ngay trong trại.

Nửa tháng sau, dịp may tới, trại chỉ còn 43 người.

Luật lệ của trại nghiêm ngặt như bất cứ luật lệ của một trại giam cộng sản nào. Tù nhân -tất cả bị án khổ sai chung thân hay hữu hạn- đều bị ban quản trị đóng dấu ‘’sống’’ trên trán để phân biệt họ với thường dân. Một miếng sắt nung đỏ lửa ấn vào trán để đóng dấu như người ta đóng dấu trâu bò. Dân chúng bắt gặp tù nhân mang dấu, bất kỳ ở đâu ngoài trại mà không có giám thị trông coi, có quyền và có bổn phận phải hạ sát, không tội vạ gì hết. Cách xa trại giam ba, bốn chục cây số, mới có nhà của dân chúng, biện pháp này nhằm ngăn chặn những vụ liên lạc với tù, nếu có. Như vậy, khỏi nói cũng thấy rằng tù khổ sai ở Tây Bá Lợi Á hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài và trên thực tế, họ bị án chết mòn trong trại giam.

Nhằm ngăn chặn tù nhân giấu giếm vật dụng hoặc khí giới đem vào trại để phá hoại hay nổi loạn, mỗi khi tù nhân vào rừng làm củi hay làm việc ở công trường về, giám thị khám xét rất kỹ. Bọn tù phải cởi truồng, dưới một thời tiết lạnh 30, 40 độ dưới độ không, để giám thị xét từng chiếc áo, từng chiếc quần và thân thể rất tỷ mỷ.

Ấy thế mà tù nhân cũng vẫn mang được dụng cụ vào trại để cưa đứt chấn song sắt vây quanh phòng giam to bằng ngón chân cái.

Người chịu hy sinh đau đớn về thể xác để giấu dụng cụ phá ngục là viên kỹ sư trong ban lãnh đạo. Không biết phải bao nhiêu lâu và làm thế nào mà anh ta giấu kín được bên trong làn da của bộ phận sinh dục ba lưỡi cưa nhỏ, mỗi lưỡi dài hơn hai đốt ngón tay, do dây thiều của đồng hồ biến chế thành. Ba lưỡi cưa đó do một đồng chí vẫn sống trà trộn trong dân quanh vùng, tìm cách chuyển đến tay viên kỹ sư.

Với ba lưỡi cưa nhỏ, đêm đêm ba người trong ban lãnh đạo bọn tù nhân vượt ngục, kiên nhẫn cưa một cây chấn song sắt. Công việc mỏi mệt nguy hiển đó tiến hành liên tiếp trong hai mươi mốt đêm. Mỗi đêm 5 người luân phiên nhau cưa và 5 người canh chừng. Lưỡi cưa đầu tiên gẫy nửa chừng, lưỡi cưa thứ hai mòn gần hết và phải ‘’giũa’’ nhiều lần bằng dao giũa do một tù nhân mang vào trại từ lâu chưa kịp sử dụng thì chết. Khi dùng mòn lưỡi cưa thứ ba được một phần, chấn song đã bị cắt đứt. Đêm hôm đó, mấy chục người tù mừng rỡ khóc trong đêm tối và chắp tay cảm tạ Thượng Đế đã cứu thoát đời họ. Họ nhất loạt quỳ xuống cầu nguyện và xin Thượng Đế giúp họ thêm nghị lực và sức chịu đựng để họ vượt thoát hơn một ngàn cây số sa mạc tuyết đặng trở về đời sống nhân gian như mọi người.

Đám tù nhân phải chờ hai hôm nữa mới có dịp bẻ oằn chấn song sắt, chui ra khỏi phòng giam rồi trốn ra ngoài sa mạc.

Đêm hôm đó, tuyết rơi tới tấp như mưa sa, gió thổi như bão trên sa mạc. Thời tiết có lẽ lạnh tới 60 độ dưới không. Các giám thị và chức việc chúi đầu ngủ trong những căn buồng ấm có củi đốt trong lò sưởi. Củi đó do tù chặt ở rừng về. Những con chó canh trại lớn như con bê, bị đánh bả bằng thuốc độc không biết bọn tù kiếm được bằng cách nào, đã nằm lăn quay từ hồi tối ở ngoài sân, bị tuyết lấp kín không để lại dấu vết.

Nương bóng tối, bọn tù lặng lẽ trốn ra sa mạc, dắt nhau đi về hướng Tây. Vừa ra khỏi trại, một số tù chợt nhận thức được sự vất vả giam nam, sợ hãi ngập ngừng định thối lui nhưng không được. Để khỏi bị tiết lộ, các đồng cảnh sẽ buộc lòng phải giết họ.

Người nào cũng giấu được rìu, dao, búa mang theo dùng làm khí giới tự vệ. Nhưng cần nhất là những tấm chăn trắng. Khi có nhân viên của trại hay dân làng đuổi theo, họ sẽ nằm xuống tuyết, trùm chăn lên trên mình. Không tới năm phút, tuyết sẽ phủ kín họ, không sao tìm thấy. Lương khô họ dành dụm trong hai tháng trời nên sẽ kiếm cách đánh bẫy hay săn các thú rừng làm lương thực. Tuy không chắc chắn về kết quả song họ đành phải liều, hy vọng vào sự may mắn.

Đoàn tù gồm 43 người đi suốt đêm đầu tiên, xa trại càng mau càng đỡ nguy hiểm, nhưng đến gần trưa hôm sau khi vừng Thái Dương ảm đạm chiếu xuống sa mạc tuyết mênh mông, kiểm điểm lại, ban chỉ huy mới thấy mất năm người. Đó là những người yếu đuối không chịu nổi thời tiết và mệt nhọc, đã ngã gục ở dọc đường. Không ai biết mấy người nọ gục xuống lúc nào nhưng dù cho có biết, cũng không ai dám dừng lại để cứu vì sợ mất thì giờ vô ích, vả lại, chính những người đang lết đi cũng mệt mỏi quá sức rồi.

Bây giờ những hiểm nguy cấp bách lúc đầu đã vượt qua, họ quây quần lại để kiểm điểm tình hình và ấn định kế hoạch ‘’vạn lý trường chinh’’. Ban ngày họ sẽ đi luôn từ lúc có mặt trời đến quá trưa, và đêm thì nghỉ ngơi trong rừng có kín gió. Mỗi đêm, họ cắt cử mươi người luân phiên nhau canh gác, võ trang bằng rìu, dao, búa gậy v.v...cho những người khác ngủ, đề phòng những trường hợp bị thú dữ như gấu tuyết, chó sói tấn công. Lương thực là vấn đề khó giải quyết nhất trong mọi vấn đề đặt ra cho đoàn tù nên họ ăn rất dè dặt, càng ít càng tốt, càng có nhiều hy vọng tới đích hơn.

Đến chiều ngày thứ ba, hầu hết đoàn người vượt ngục đều không giấu được vẻ mệt nhọc chán nản. Hai người già nhứt trong bọn khoảng trên dưới 60 tuổi, tóc đã bạc trắng như tuyết, ngước nhìn trời rồi nhìn sa mạc tuyết mênh mông trắng xóa tứ phía, bất giác chảy nước mắt. Dưới trời lạnh, những giọt nước mắt lăn nửa chừng trên má đã đông lại thành đá. Mọi người thấy thế đều buồn nản lo lắng cho những ngày sắp tới, nhưng không ai dám thở dài thành tiếng.

Quá trưa hôm sau, theo ý kiến của ban lãnh đạo, đoàn tù vào ẩn náu trong một cánh rừng khá rậm rạp và sau lúc nghỉ ngơi ngắn ngủi, họ chia nhau đi tìm kiếm săn bắn bắt thú rừng làm lương thực. May mắn quá, lần đó họ đập chết một con chồn, hai con thỏ rừng và một con nhím. Họ làm thịt luôn mấy con thú rừng và đốt lửa nướng ăn ít miếng cầm hơi, còn bao nhiêu chia đều để dự trữ ăn dần. Sau đó, họ bàn nhau lưu lại rừng này một ngày nữa để ‘’kiếm thêm lương thực. Họ bắt được một con chồn và một con cu-ly (marmotte) đang ngủ say trong giấc ngủ mùa Đông.

Đêm đó, trong đám tù, đã có nhiều tiếng ho sù sụ không ngớt. Nhiều người không chịu nổi cái lạnh ngoài trời mắc bệnh sưng phổi rất trầm trọng.

Trưa hôm sau, khi mặt trời đã lên cao khỏi khu rừng, mọi người lục tục sửa soạn để lên đường. Khi đó, họ mới thấy có bẩy người ngủ luôn thức dậy nữa. Trong số này, có hai ông già lớn tuổi nhất đám ngồi dựa lưng vào nhau mà chết. Còn năm người kia thì có kẻ nằm gục trên tuyết, có kẻ ngồi mà chết rét lúc nào không hay. Khi viên kỹ sư trong ban chỉ huy xô mạnh vào vai để đánh thức, cái xác đổ lăn kềnh, giữ nguyên thế ngồi chết cóng.

Trước cảnh đó, một tù nhân nguyên là văn sĩ thay mặt ban lãnh đạo, ngỏ lời tiếc thương mấy người ra đi vĩnh viễn, cầu nguyện cho họ tìm thấy yên ổn ở bên kia thế giới. Rồi xin những người chết tha thứ cho họ nếu vì tình thế họ phải lấy quần áo và vật dụng của người chết cấp phát cho những người thiếu thốn trong đoàn. Nghe nói vậy, nhiều người tù thiếu quần áo ấm lật đật nhìn một cách soi mói vào mấy cái xác chết như để ước lượng giá trị thực tiễn của những vật dụng các xác chết mang trên mình.

Sau đó, họ đào hố để chôn tập thể cả 7 xác sau khi ban chỉ huy đã lột lấy nhiều vật dụng cần thiết. Một người chặt cành làm cây thập tự cắm trên mộ nhưng viên chỉ huy ngăn cản, nói không nên để lại dấu vết có thể phát giác bọn tù đã đi qua nơi đây. Mọi người đều ngậm ngùi đồng ý.

Hôm sau, một trận bão tuyết nổi lên bất ngờ nên cả đoàn tù không thể lên đường, phải chui hết vào trong một cánh rừng. Để tránh những tai nạn bất ngờ, viên kỹ sư trong ban lãnh đạo hội họp tất cả mọi người thực hiện gấp mấy cái mái bằng cành, lá cây, rồi đốt lửa bên dưới đặng sưởi cho khỏi bị chết cóng.

Để xua đuổi không khí chán nản, ban lãnh đạo đề nghị mọi người cùng hát bên ngọn lửa bài hát ‘’Niềm hy vọng của đoàn tù vượt ngục’’ mà nhà văn trong bọn tù đã viết lời ca và một tù nhân khác nguyên là nhạc sĩ, đã phổ nhạc. Hát xong, họ ngồi dựa vào nhau mà ngủ gà ngủ vịt để lấy lại sức và...quên đói.

Sáng hôm sau, bão tuyết tan cơn, song việc di chuyển còn nhiều khó khăn nên ban lãnh đạo đưa ra ý kiến ở lại ngày nữa săn thêm thú rừng lấy lương thực đi đường.

May thay hôm đó, bọn tù vây đập chết được một con sói bị thương đi kiếm ăn lẻ loi và một con cáo. Họ làm thịt ngay hai con thú rừng rồi nhúm lửa, nướng thật chín. Lần này, bọn người vượt ngục ý thức đúng tầm quan trọng của lương thực trên sa mạc tuyết nên không bỏ phí một miếng thịt hay cục xương nào cả. Cả bộ lòng của con chó sói, đoàn tù cũng làm rất sạch sẽ rồi nướng ăn hết. Mặc dầu không ai loại bỏ một miếng nào, vì thòi quen, có một, hai người vừa nhai vừa nhăn nhó gượng gạo.

Lần đầu tiên có sự bất đồng ý kiến trong việc chia khẩu phần người được phần lớn, người phần nhỏ nên một tù nhân còn trẻ đề nghị ban chỉ huy sửa đổi lại cách thức chia lương thực cho công bằng.

Sau khi hội ý, thể thức sau đây được áp dụng: Mỗi con vật được chia làm 31 phần đều nhau, đánh số từ 1 đến 31. Rồi rút thăm, ai được số nào nhận phần mang số ấy.

Viên kỹ sư lên tiếng nhắc nhở mọi người nên ăn thật dè dặt, phòng khi lương thực cạn mà chẳng may chưa hạ được con thú nào.

Sáng hôm sau, khi ai nấy đang chuẩn bị hành lý để lên đường thì có tiếng la bải hãi làm mọi người hoảng hốt. Thì ra một người tù đã bị đánh cắp phần thịt xấy mà hồi hôm, trước khi đi ngủ, anh ta đã cất kỹ trong bọc. Nay phần lương thực đã bị đánh cắp mất, làm sao anh ta có sức đi nổi. Người bị mất trộm giở tung quần áo, hành lý trước mặt mọi người để ‘’phân bua’’ rồi lạnh lùng xếp gọn lại bỏ vào bọc, nhìn mọi người như dò xét thủ phạm rồi yêu cầu ban chỉ huy giải quyết.

Ba người trong ban chỉ huy bèn đứng riêng ra một chỗ thảo luận với nhau rồi viên kỹ sư tập họp mọi người lại. Trước tiên, ông ta ngỏ ý lấy làm tiếc rằng một việc như thế đã xảy ra trong đoàn. Nếu đó là một vụ ‘’đùa nghịch’’ thì sự đùa nghịch đó nên chấm dứt để khỏi làm thiệt hại đến quyền sở hữu của người khác. Vả lại, đoàn tù vượt ngục tuy nhiều người nhưng chỉ là một, vì cùng một ý chí, một quyết tâm đi tìm tự do, không sợ chết, không sợ nguy hiểm. Như vậy, nếu phải nhịn đói thì cùng nhịn đói như mọi người chớ nhất định không chịu chiếm phần ăn của người khác đồng cảnh ngộ gian khổ như mình.

Viên kỹ sư ngừng lại giây lát rồi tuyên bố:

- Để chia sẻ sự thiệt thòi với một đoàn viên, ban chỉ huy sẵn sàng chia sớt bớt phần lương thực của ba người trong ban để đền bù phần nào cho người anh em, nạn nhân của một hành động không đẹp.

Nhiều tiếng vỗ tay hoan nghênh nổi lên. Bốn người khác tuyên bố theo gương ban chỉ huy rồi mở bọc lấy gói thịt ra thì bất ngờ, người nọ lên tiếng cám ơn, từ chối sự giúp đỡ và nói:

- Tôi tự xét không đủ sức theo anh em nên tôi biết trước sau gì tôi cũng không thực hiện được ý định tìm tự do mà tôi hằng ôm ấp. Hơn thế nữa, xét mình không giúp ích gì mà còn là một gánh nặng cho anh em, tôi xin rút lui khỏi đoàn và xin chúc anh em gặp mọi sự may mắn hơn tôi...

Nhiều tiếng xì xào nổi lên...Viên kỹ sư nghiêm nét mặt rồi lạnh lùng hỏi:

- Đi theo đoàn là tùy tâm, không bắt buộc, nhưng bạn ở lại, bạn có biết những hình phạt bạo quyền sẽ giành cho bạn không ?

- Biết...Tử hình...!

- Vậy mà bạn đành chịu lãnh án tử hình ?

- Khi cùng đường, tôi sẽ có cách tự xử. Tôi tự kết liễu cuộc đời...

Nhiều người nhìn nhau thở dài như chợt nghĩ đến thân phận mình. Người kia nói xong, ngồi xếp trên bọc hành lý, cúi gầm xuống nhìn đôi giầy dính đầy tuyết. Ba người trong ban chỉ huy thảo luận thầm thì với nhau một lát rồi nhà văn đút hai ngón tay vào miệng. Một tiếng còi ré lên tan liền trong bầu không khí lạnh và vô cùng tận của sa mạc. Lệnh lên đường đã ban hành.

Mọi người lục tục bước theo hàng, mỗi người cầm một cây gậy để chống trên tuyết. Sau cơn bảo, trời quang đãng trở lại. Được một quãng, người hướng dẫn ra lệnh ngừng. Khi đó, mọi người mới biết là viên kỹ sư và viên sĩ quan cao cấp còn ở lại thảo luận với người ‘’bỏ cuộc’’ hồi nãy, chưa theo kịp đoàn.

Lát sau, hai người trong ban chỉ huy đuổi kịp cả bọn. Mọi người thấy sắc mặt của hai người nọ bừng bừng sát khí nên không đoán được việc gì đã xảy ra. Đến khi thấy vết máu trên lưng áo của viên sĩ quan, họ mới xì xào bàn tán với nhau, nhưng vẫn chưa dám tin là ‘’chuyện đó’’ có thực.

Nhưng ‘’chuyện đó’’ có thực một trăm phần trăm. Viên sĩ quan và viên kỹ sư đã phải hạ sát người bỏ cuộc, vì sợ hành tung của đoàn tù vượt ngục bị bại lộ vì người này.

Sau vụ thủ tiêu bất đắc dĩ của một đồng chí bỏ cuộc, viên sĩ quan và viên kỹ sư đã rửa sạch các vết máu nhưng không chùi hết một vết máu thấm trên lưng áo. Hậu quả của sự sơ xuất này thật là trầm trọng.

Chiều hôm đó, đến một cánh rừng nhỏ, đoàn tù dừng lại nghỉ ngơi, tìm chỗ trú ẩn. Viên kỹ sư chợt nhận thấy có một bọn chừng 10 người ngồi riêng ra một chỗ và đang xầm xì bàn tán với nhau. Viên kỹ sư lảng vảng lại gần thì họ ngưng bàn tán, rồi bắt sang nói chuyện khác. Thái độ của bọn này từ lúc đó có vẻ bí mật, không tự nhiên nên viên kỹ sư phải ngầm báo động ngay cho hai người bạn đặng đề phòng. Đêm hôm đó, ba người trong ban chỉ huy luân phiên nhau canh chừng, luôn luôn thủ khí giới trong tay.

Qua đêm đến sáng, chẳng có chuyện gì xẩy ra hết. Mọi người sửa soạn lên đường, và nhận ra có sự thay đổi về nhân số của đoàn. Kiểm soát lại, thấy thiếu mất mười người. Đúng là bọn người có thái độ bất mãn, nghi hoặc chiều hôm trước. Khi đó viên cựu sĩ quan mới sực nhớ lại rằng vào hồi gần sáng dường như ông ta có nghe những tiếng động do nhiều người bước trên mặt tuyết gây ra, nhưng ông ta tưởng lầm là gió thổi làm tuyết trên cây rớt xuống đất.

Ban chỉ huy tập họp mọi người, báo cáo sự việc đáng tiếc rồi nói thêm:

- Chúng ta chỉ cần những người can đảm, chịu đựng gian khổ và tin tưởng mãnh liệt rằng chúng ta phải tới đích. Cứ đi theo cái mức bình thường, chỉ phải cố gắng trong một tháng rưỡi đến hai tháng là nhiều, sẽ tới thị trấn đầu tiên có thể giúp ta phương tiện muốn đi đâu tùy ý. Nghĩa là khi đó, ta đã đến bến Tự Do để tìm cuộc sống thích hợp với mỗi người...

Một ông lão lạnh lùng hỏi:

- Chúng ta đã đi được bao nhiêu đường đất rồi ?

Viên kỹ sư lẩm nhẩm tính rồi đáp:

- Trên dưới 100 cây số...Mới vượt được khoảng một phần mười con đường phải đi.

Nhưng cũng bắt đầu từ buổi sáng hôm đó, một làn không khí chán nản, phảng phất nghi kỵ bao bọc đoàn người vạn lý trường chinh. Họ ít nói chuyện với nhau, lầm lầm lỳ lỳ, người nào cũng lộ vẻ suy nghĩ bí hiểm. Sự bất đồng ý kiến manh nha từ bữa chia khẩu phần thịt chó sói xấy lại phát hiện trong một vài sự việc khác như canh gác ban đêm hay đi săn. Đoàn tù chỉ còn 21 người, nghĩa là còn một nửa.

Chiều hôm đó, trước khi ăn để cầm hơi, họ căng mấy tấm chăn che tuyết rồi cầu kinh khá lâu. Sự tin tưởng ở Đấng Tối Cao chí công chí chính hiển nhiên đã mang lại cho mấy người trong bọn sự bình tâm và sự hăng hái. Đã có người mỉm cười buổi sáng khi thức dậy.

Nhưng việc phải đến đã đến. Đến ngày thứ 25 trong cuộc trường chinh, chỉ còn lại một nhóm 4 người, sau khi chịu nhiều sự tang thương biến đổi. Một số đoàn viên quá nản chí trước những gian nan nguy hiểm do vấn đề lương thực gây ra vì yếu tố may rủi là yếu tố chính hoàn toàn chi phối sự sống của họ, một số khác quá kiệt sức buộc lòng bỏ cuộc, đành ngồi lại trong rừng rưng rưng nước mắt nhìn theo các đồng chí lên đường, xa dần, nhỏ dần trên sa mạc tuyết. Lại có người không chống chỏi nổi với bệnh hoạn, buổi tối còn lẩm nhẩm cầu kinh rồi sáng hôm sau không đứng dậy nữa, chẳng một lời từ biệt...

Tối hôm trước, khi bọn tù vào ẩn trong rừng, chỉ còn vỏn vẹn ba người trong ban chỉ huy với một ông già trên 50 tuổi và một thanh niên đúng hai mươi. Nhưng sáng hôm sau, ông già đã lên đường sớm hơn mọi người để tìm Tự Do ở một thế giới khác, chỉ có trong niềm tin của những người có đạo. Ông già vẫn ngồi trên bọc hành lý nhỏ, lưng dựa vào một chỗ lõm của thân cây nhưng độ lạnh của tuyết đã khiến cơ thể ông cứng nhắc liền sau khi mạch đập vừa ngừng.

Mặc dầu vậy, 4 người còn lại vẫn phải lên đường. Ban chỉ huy đã tự ý giải tán vì hết đoàn viên! Viên kỹ sư nhờ có nhiều khả năng đặc biệt, sức mạnh tinh thần và thể chất ít có nên vẫn được 2 người tín nghiệm và yêu cầu dẫn dắt họ. Liệu viên kỹ sư còn dẫn dắt họ được bao lâu nữa ?

Bốn người đã phải nhịn đói gần một ngày vì cạn lương. Mãi đến chiều hôm qua mới bẫy được con chồn nhỏ xíu không đủ bốn bữa ăn trong 48 tiếng đồng hồ cho 4 người. Thanh niên nọ đang sức ăn, lại bị đói suốt ngày nên không ăn dè được mặc dầu đã có lời khuyến cáo của nhà văn. Chỉ từ sáng đến tối, khẩu phần dành cho hai ngày đã chui hết vào bụng thanh niên một cách thòm thèm.

Tình hình lương thực như vậy, nên hôm nay, mới quá trưa một lát, cả bọn phải vào một cánh rừng tìm thú. Viên kỹ sư vẫn có một chiếc rìu, viên sĩ quan một con dao rừng, nhà văn đeo một con dao găm to bản, thanh niên nọ thì lúc vượt trại giam đã kiếm đâu được một sợi dây kẽm gai dài mà cậu ta chấp lại làm bốn thành một võ khí trông khá dữ dội, cầm lắt lẻo trong tay. Từ ít ngày nay, không người nào để tay không mà luôn luôn cầm võ khí. Họ rất ít nói và lộ vẻ đăm chiêu. Họ nghĩ gì ? Và họ đề phòng sự gì ?

Cho tới xẫm tối bữa đó, không săn được con mồi nào hết. Cả bốn người đều phải nhịn đói tìm chỗ trú ẩn dưới hốc cây mà ngủ cho qua đêm. Sự thật thì ba người kia -trừ anh thanh niên- đều còn một ít lương thực nhưng họ phải để dành cho ngày hôm sau.

Bốn người ngồi dựa lưng vào nhau cho bớt lạnh. Nhưng nào họ có ngủ được! Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh! Quá nửa đêm, ba người kia mới chớp mắt được một lúc lại giật mình thức dậy vì thanh niên nọ cứ lục đục ngọ nguậy hoài, làm sô lệch mấy bọc hành lý lót bên dưới chỗ họ ngồi ngủ.

Vừa sáng, viên sĩ quan giật mình tỉnh dậy trước tiên vì thấy như có vật gì luồn dưới bọc hành lý. Ông ta đứng nhổm lên, bắt quả tang thanh niên nọ đang luồn tay vào trong bọc hành lý của ông ta lấy trộm miếng thịt xấy. Ông ta thét lên một tiếng dọa nạt thì thanh niên nọ bất ngờ xô nhà văn ngã lăn cù ra xa, để cướp miếng thịt xấy bằng bàn tay mà hắn đã moi ra ngoài bọc được quá nửa. Thanh niên nọ dữ tợn như con thú điên. Trong lúc thảng thốt, có lẽ tưởng rằng chính mình bị cướp đoạt, sẵn con dao rừng vừa tầm tay, viên kỹ sư vung lên rồi bổ lại xuống một nhát. Đầu thanh niên hứng chịu cả sức mạnh của lưỡi dao, chỉ nghe ‘’phập’’ một tiếng rồi thanh niên nọ loạng choạng ngã vật xuống đống tuyết, cây roi bằng kẽm gai chập lại chưa kịp sử dụng từ tay hắn văng ra xa.

Sự việc xẩy ra bất ngờ. Ba người kia đứng lặng nhìn xác của người bạn trẻ, không nói một lời. Sau cùng, một người nuốt nước miếng, lên tiếng trước tiên:

- Hắn có lỗi vì xâm phạm vật sở hữu của người khác. Dù sao, việc này cũng rất đáng tiếc...

Viên kỹ sư nói rồi nhìn hai người bạn dò xét phản ứng. Hai người này mặt tái nhợt như xác chết, vẫn không nói một tiếng...Nhà văn quay đi nhìn nơi khác, thở dài suy nghĩ.

Ba người xách hành lý ra cách xa đó mươi bước chân rồi lấy lương thực ra ăn, mặc dầu là khẩu phần cuối cùng. Họ đói quá, không nhịn lâu hơn được nữa. Khi ăn, mỗi người nhìn đi một phía như sượng sùng không muốn trông mặt nhau. Dù sao, lương tâm của họ cũng không thể yên ổn được. Người thanh niên kia là một đồng chí, đã chia sẻ những phút nguy hiểm từ đầu đến cuối và đã quyết theo họ đến cùng để tìm Tự Do.

Vậy mà nay chính thanh niên đó lại bị chết trong tay một đồng chí!

Ăn xong, theo ý kiến của viên kỹ sư, ba người lại đi sâu vào rừng để săn thú lấy lương thực. Cho đến quá trưa không gặp một con thú nào hết, ba người đành phải quay lại gốc cây nơi giấu hành lý. Cách mấy mươi bước chân là xác của người chết, tuyết phủ gần kín. Ba người lầm lầm lì lì, bụng đói, tâm hồn nặng chĩu lo âu bực dọc. Những ngày sắp tới ăn bằng gì đây ? Rừng mỗi ngày một thấy xác xơ hơn, không loài cầm thú nào sinh sống nổi. Mà muốn sống để đi đến đích phải có gì bỏ vào bụng mỗi ngày, không thể thiếu được.

Đêm hôm đó, cả ba bóp bụng trống rỗng leo lên cây ngủ.

Viên cựu sĩ quan là người háu đói nhất, đã dậy từ lúc nào không ai biết. Khi hai người kia thức giấc, thấy ông ta đứng nhìn xác thanh niên với một vẻ mặt khó tả, vừa sợ hãi vừa hung tợn. Nhà văn liếc nhìn viên kỹ sư có ý ngầm hỏi, ông này nhún vai một cách lờ mờ khó hiểu.

Hình như xác thanh niên nọ có mang một cái gì hấp dẫn lắm nên viên cựu sĩ quan để hết tâm trí vào đó, không biết ở phía này, hai đồng chí đang theo dõi nhất cử nhất động của ông ta. Lát sau, lại thấy ông ta lúi húi cúi xuống, tháo chiếc giày của xác chết ra, rồi cầm dao chặt mạnh xuống vật gì trên mình xác chết.

- Này, anh bạn! Làm cái gì vậy ?

Lúc đó, một cẳng chân của xác chết đã bị chặt đứt băng khỏi thân thể. Chà! Cái bắp chân núc ních những thịt, trông bắt thèm. Viên cựu sĩ quan đăm đăm nhìn như đang ước lượng sức nặng của miếng thịt tươi tốt, trắng như thịt heo mới cạo sạch sẽ. Nghe hỏi bất ngờ, ông ta giật mình, cười ngượng:

- Liệng bỏ ở đây, thú rừng cũng sẽ ăn hết. Chi bằng mang đi theo một cẳng làm...kỷ niệm!

Viên kỹ sư bỗng bật cười lên khanh khách như người điên, nghe mà bắt rùng mình. Ông ta mân mê cái rìu trong tay rồi hỏi với một giọng gần như khiêu khích:

- Vậy chớ tôi cũng mang một khúc làm...‘’kỷ niệm’’ được không ?

- Được chớ! Cả ba chúng ta đều có phần tình cảm bằng nhau đối với ‘’hắn’’, nên có quyền được mang theo những kỷ niệm ‘’nặng’’ bằng nhau về ‘’hắn’’.

...Kể từ ngày vượt ngục, đây là lần đầu tiên họ có điều kiện ăn no đủ nhất. Nhưng vì một lẽ dễ hiểu, họ nhai một cách gượng gạo và nuốt rất khó khăn những miếng thịt người xấy kỹ, nghẹn ngào như bị một bàn tay vô hình chặn lấy họng, không cho nuốt.

Rồi ba người lại thu xếp lên đường một cách vội vã như sợ trông thấy những hình ảnh nhắc nhở họ sự việc ghê tởm đã xảy ra.

Số lương thực mang theo khá nhiều, đầy đủ cho một thời gian hai mươi ngày là ít. Ngoài ra, mỗi người lại còn một bọc hành lý và khí giới, tất cả đều khá nặng nề trong cuộc trường chinh nên họ không đeo trên lưng mà kéo lê hành lý trên mặt tuyết. Ba người bèn làm một cái khung bằng cây, giống như khung của chiếc xe ‘’kéo trên tuyết’’ (Traineau), xếp hết mọi thứ lên trên ngoài khí giới rồi dùng một sợi dây dài buộc vào kéo theo. Như thế gọn hơn lại đỡ mệt sức.

Từ cái buổi sáng ghê sợ đó, thái độ và tính nết của ba người thay đổi hẳn...Ít nói, chỉ nói khi thiệt cần. Viên kỹ sư từ sáng đến chiều luôn luôn trầm ngâm, viên cựu sĩ quan càng lầm lì hơn trước và thỉnh thoảng phải nhìn trộm hai người kia. Còn nhà văn nét mặt u tối, đăm chiêu, nhưng khi nghỉ ngơi cố ý ngồi cách xa hai người bạn, lấy bút hí hoáy ghi vào cuốn sổ tay rồi cất trên túi áo ngực. Hai người kia nhiều lúc tò mò muốn biết nhà văn ghi những gì, song không hỏi.

Có lương thực đầy đủ nên họ có sức chịu đựng, đi đều đặn hơn trước từ trưa cho đến xế chiều, mới kiếm chỗ nghỉ ngơi. Sự mệt nhọc giảm rất nhiều.

Chiều đó, như thường lệ, họ vào trú ẩn trong một khoảng rừng, đốt lửa nướng lại phần thịt mang theo. Trong lúc quân quần bên ngọn lửa, nhà văn lạnh lùng cất tiếng hỏi viên kỹ sư:

- Còn chừng bao nhiêu lần nữa thì...hy vọng tới ?

- Nếu tính không lầm và nếu ta không đi sai đường, khoảng hơn một tháng nữa!

Rồi viên kỹ sư rút trong túi ra một bản đồ vẽ tay. Y chỉ chỉ, vạch vạch trên bản đồ, tính cộng lại những quãng đường đã qua, thời gian đi mỗi ngày, ngày nào có người chết, có người trốn, nhất nhất viên kỹ sư đều ghi rõ.

Ăn xong, trong khi hai người kia đang kiếm chỗ ngủ, nhà văn lững thững đi ra xa một quãng để thỏa mãn một nhu cầu về tiêu hóa.

Ít phút sau, bỗng có tiếng la hét rùng rợn từ phía sau một gốc cây lớn đưa lại, hai người bạn lật đật xách khí giới chạy tới tuy chưa hiểu chuyện gì. Đến nơi, họ thấy nhà văn đang bị một con chó sói tấn công rất hiểm nghèo.

Nguyên con chó sói lạc loài này đi theo rình ba người tù đã hai tiếng đồng hồ mà họ vô tình không biết. Không dám tấn công vì thấy lực lượng của người mạnh hơn, nó đành lẽo đẽo theo, chờ cô hội. Lúc ba người ngồi ăn, chó sói nấp sau một gốc cây, thèm chẩy rãi. Chẳng may, nhà văn lại tự dẫn thân đến miệng nó. Khi vừa nhận ra có mùi khác lạ của thú vật, ông ta chưa kịp đứng lên, chó sói đã phi tới như tên bắn, chồm lên cắn vào cổ và đè dí xuống. Ngã ngửa trên tuyết, vừa la được mấy tiếng kêu cứu, nhà văn đã bị chó sói táp một miếng vào cổ họng rồi tha đi một quãng. Viên kỹ sư lật đật xách rìu đuổi theo, phang mạnh một đòn trúng giữ sống lưng chó sói, nó mới chịu nhả mồi, khập khiễng bỏ chạy.

Đêm hôm đó, nhà văn nóng mê man, cổ họng bị rách toác, không trả lời được những câu hỏi của hai người bạn, chỉ ra hiệu một cách khó nhọc. Bị thương vào chỗ phạm, máu ra nhiều, phần khác, vì thời tiết quá lạnh, sự đau đớn tăng thêm nên nhà văn kiệt sức rồi lịm chết trước khi trời sáng rõ. Trước đó, hai người bạn đốt lửa sưởi cho người bị thương và đề phòng chó sói quay trở lại tấn công, họ đành leo lên cây ngủ. Đến sáng, họ mới dám leo xuống, người bịnh đã chết từ lúc nào. Cũng may! Con chó sói bị thương không quay lại.

Lương thực của người chết được lấy ra chia đều làm hai phần. Nhờ thế, số lương thực dự trữ của hai người còn sống lại tăng thêm nên hai người cho là tạm đủ đến khi săn được thú rừng. Vả lại, nếu đem thêm lương thực nữa thì nặng quá, đi mau không nổi.

Thật ra, chỉ vì lúc này hai người không bị cái đói thắt ruột thắt gan dầy vò nên cả hai đều không đủ can đảm chặt lấy hai bắp đùi và hai cánh tay mang theo. Nhờ đó, người bạn chết được vùi sâu dưới tuyết, đầy đủ cả thân hình.

Tính đến hôm nay, hai người tù còn lại đã vượt sa mạc tuyết được thêm 25 ngày. Sự vất vả mỗi ngày một nhiều, đã có lúc tưởng bỏ thây ngoài sa mạc vì gặp bão tuyết. Nhiều lần, lại thấy cả vết chân hàng đàn chó sói.

Ban đêm, họ đều ngủ trên cây nhưng mỗi người một nơi. Và cẩn thận hơn, họ đem theo luôn cả bọc hành lý, lương thực cất kỹ càng ngay kế bên họ cùng khí giới. Viên kỹ sư không lúc nào rời chiếc rìu. Còn viên cự sĩ quan vẫn có con dao rừng to bản cán dài. Lúc sau này, một người chiếm con dao găm nhà văn đã bỏ lại, còn người kia chiếm luôn cây roi bằng dây kẽm gai của thanh niên bị hạ sát.

Cả hai đều đề phòng cẩn thận hơn trước nhiều, làm như kẻ thù lúc nào cũng lẩn quẩn trước mặt! Thật là kỳ cục vì không hề có hình bóng một người thứ ba.

Thì ra, hoàn cảnh bất ngờ đã đưa hai người đến một tình trạng thê thảm lạ lùng.

Hai người tù khổ sai kia, đồng một chí hướng, không thể sống dưới một chế độ tàn bạo nên liên kết lại để có thêm sức mạnh đặng vượt ngục. Giờ đây, họ có thêm một kẻ thù tàn bạo ghê gớm không kém mà hàng ngày, hàng giờ họ phải chống cự rất gay go.

Đó là thần đói.

Cái đói làm thay đổi nhãn quan của con người, làm thay đổi luôn lòng dạ và quan niệm về sự sống còn và cái chết.

Do đó, hai người sống sót cuối cùng của đoàn người vượt ngục bắt đầu đề phòng nhau vì họ bắt đầu kính sợ, ghê tởm nay. Hai bên sức lực gần tương đương nên cuộc tranh sống sẽ rất gay go gian khổ.

Đã hơn mười ngày, họ không đánh bẫy được con mồi nào để bù đắp số lượng lương thực hao hụt lần mòn. Những ngày họ sống trên sa mạc tùy thuộc vào số lương thực dự trữ. Nói một cách khác, ăn hết đến đâu đời sống của họ thu ngắn lại đến đấy. Hai người cũng biết như thế nên cùng bị một nỗi ám ảnh. Tuy vậy, họ cứ không thể rời bỏ nhau mà vẫn phải đi cùng một đường nhưng cách xa nhau vừa đủ để người nọ không thể tấn công bất ngờ mà người kia không kịp đối phó.

Cái xe kéo trên tuyết đã liệng vào một xó rừng. Lúc này, người nào vác hành lý của người nấy, riêng biệt. Viên kỹ sư vẫn là người dẫn đường vì có địa bàn, viên cựu sĩ quan vẫn lẽo đẽo theo nhưng đi ngang hàng, bên tay mặt hoặc tay trái. Như thế, lúc nào hai người cũng vẫn ‘’thấy’’ nhau mà không cần nhìn.

Cả hai cùng có một nhận định đáng sợ: Người nào chịu đựng được lâu hơn dù chỉ một tiếng đồng hồ, là người ấy sống. Muốn thế, cần phải ăn ít hơn mỗi bữa một vài miếng, chịu đói gan hơn và nhất là ít và tỉnh ngủ hơn. Khi ngủ say, làm sao đỡ hoặc tránh được một nhát búa hay một nhát dao vào đầu.

Rồi thì lương thực cũng hết mà đã hai ngày ròng đã không gặp một con thú rừng nào. Viên cựu sĩ quan có tật háu đói, đã có lúc phải vặt mấy cái lá cây rừng nhai. Hoặc giả lão ta đã bắt đầu mất trí ? Lão đói quá, đói không chịu nổi, đói từ sáng đến chiều và từ chiều đến sáng, liên miên bất tận. Có lúc lão ta toát mồ hôi đẫm lưng trong khi tuyết rơi lả tả chung quanh. Cả hai người bạn cùng lấy vẻ thành thực nói cho nhau biết đã cạn hết lương thực dự trữ rồi và đành chịu chết đói. Nhưng trong thâm tâm, người nào cũng tha thiết mong mỏi người cùng thề nguyền sống chết với mình ngã gục xuống trước mình dăm, mười phút là đủ. Đủ cho mình sống thêm một thời gian khá dài nữa.

Cả hai cầm khí giới trong tay, sẵn sàng tấn công và sẵn sàng tự vệ. Viên cựu sĩ quan nhìn viên kỹ sư một cách căm thù hiển nhiên vì hắn biết người kia nói dối, còn hai miếng thịt bằng bàn tay giấu trong mình mà nói là hết, chờ đến tối mới kín đáo lấy ra ăn một mình. Sáng hôm sau hắn năn nỉ mãi, bạn hắn mới liệng cho một miếng bằng ngón tay trỏ và ngón tay giữa chập lại. Rồi nhất định không cho nữa, mặt hầm hầm, tay lăm lăm cán rìu. Viên sĩ quan ước lượng sức khỏe của địch thủ ngang tay với mình, lại còn nhanh nhẹn hơn nên tính hạ thủ hắn bằng sức mạnh, ắt không xong. Phải tìm thế đánh bất ngờ mới mong có kết quả.

Viên kỹ sư lặng lẽ đi, bước hơi mau hơn lúc thường khiến viên cựu sĩ quan phải cố gắng mới đuổi kịp. Y thấy mồ hôi khi không lại toát ra đẫm mình rồi ruột gan thắt lại vì đói, cẳng chân rời rã không muốn nhấc nữa. Song y vẫn phải bám sát, không thể bỏ người bạn đồng hành, chẳng khác chi con chó đói đuổi theo miếng mồi. Lúc đói, người ta không còn bạn, chỉ có địch thủ giành ăn để sống.

Viên cựu sĩ quan thầm nhủ: Phải hết sức tỉnh táo mới được! Giây phút này là giây phút của định mệnh. Tâm trí mình bàng hoàng, tay chân mình lẩy bẩy là...không xong rồi.

Hắn rảo bước và hướng chênh chếch về phía viên kỹ sư với mục đích sát lại gần đối thủ mà không muốn cho đối thủ nhận thấy dụng ý của hắn. Đằng kia, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước, nửa mình trên ngả về trước, nhìn thẳng, cây rìu cầm chắc bên tay trái. Viên cựu sĩ quan lại nghĩ thầm:

- Thắng cha này thuận tay trái. Vậy phải nhớ: Ta từ phía trái tiến lên.

Rồi đặt một kế hoạch tấn công chớp nhoáng. Thời gian này đây, chỉ còn mỗi ‘’cách đó’’ để tự cứu.

Trong khi ấy, viên kỹ sư vẫn lầm lũi bước như không hay gì hết.

Hai người chỉ còn cách nhau mươi bước chân thì vừa vặn tới hàng cây đầu tiên của một khu rừng thưa. Vẻ mệt nhọc, viên kỹ sư đặt bọc hành lý dưới gốc rồi ngồi lên trên, chống cây rìu xuống tuyết, ngẩn nhìn người bạn cùng đường.

- Lại mất một dịp thuận tiện rồi!

Viên cựu sĩ quan nghĩ thầm như vậy một cách tức tối rồi cũng đặt hành lý bên gốc cây. Nhưng lão ta không ngồi mà đứng, tính toán mưu kế và ước lượng địa thế. Hai người cách nhau khoảng sáu thước, nghĩa là chỉ ba bước nhẩy là tới bên, vừa tầm tay.

Bỗng viên kỹ sư thò tay vào trong ngục móc ra một khúc thịt bọc bên ngoài một ống xương chân. A! Lần này hắn không cần giữ gìn che dấu nữa mà ăn ngay trước mặt địch thủ. Hiển nhiên là một sự thách thức, hắn đưa thịt vào miệng cắn một miếng nhai ngon lành, mắt long lanh một vẻ thỏa mãn. Vừa ăn hắn vừa nhìn nơi khác để khỏi trông thấy người kia đang nhăn nhó chìa tay ra xin như một kẻ hành khất sắp chết đói. Hai con mắt viên cựu sĩ quan vẫn đăm dăm nhì, lóe ra những tia sáng thèm giết người. Rồi miệng hắn nhếch thành một nụ cười, rãi rớt chảy lòng thòng như rãi chó sói.

Trong khi đó, viên kỹ sư lạnh lùng nhai nhồm nhoàn, mắt lấm lét liếc ngang liếc dọc, nhưng vì say mê với miếng ăn, không biết rằng kẻ địch đang nhích lại gần, chỉ còn một bước là nhẩy tới...Đúng lúc đó, xẩy ra một sự việc bất ngờ. Khi dằng cho đứt một miếng đã ngậm một nửa trong miệng, viên kỹ sư dùng quá sức nên tuột tay, cả một khúc xương còn dính thịt văng xuống mặt tuyết, khoảng giữa 2 kẻ thù. Nhanh như cắt, viên cựu sĩ quan lăn xả tới, ngả người trên tuyết chụp lấy khúc xương đưa ngay vào miệng. Giữa khi đó, nhanh hơn cắt, một đường búa đã vung lên tựa ánh chớp đập trúng gáy người nằm trên tuyết, khiến khúc xương văng ra xa. Người bị thương mất trí liền sau khi trúng đòn, cố nhỏm lên mà không nổi, còn ngơ ngác ngước nhìn kẻ đã giết được mình thì một đường búa thứ hai lại đập trúng giữa sọ hắn. Sau nhát này, hắn nằm thẳng cẳng không cục cựa, máu tuôn xối xả.

Liền sau đó, giữa sa mạc mênh mông, những tiếng cười -hay những tiếng khóc thì đúng hơn- nổi lên, man rợ và đau đớn, vừa hùng tráng tàn bạo lại vừa thảm thiết thê lương. Chó sói nghe thấy cũng phải rùng mình khiếp hãi mà chạy trốn.

...Bóng tối buông xuống dần trên sa mạc tuyết lạnh lẽo, phủ lên một cái xác chỉ còn khúc giữa. Đằng xa, một bóng người nặng nề mỏi mệt lẻ bước vào trong rừng...

oOo

Bốn tháng sau đó, một buổi chiều, tại một tiệm rượu đường X...ở Thủ Đô Varsovie (Ba Lan), một người đàn ông hốc hác kể xong câu chuyện cho mấy bạn nghe, run rẩy đưa tay lên vuốt mồ hôi tên trán, trên mặt, nốc một hơi cạn ly rượu, rồi quay về phía quầy rượu, quát lớn.

- Ê bồi! Rót cho tao ly rượu nữa đấy! Một ly cối nghe. Tao phải uống để quên hết chuyện cũ...

Đó là một nhân vật độc nhất còn xót lại trong số 43 người tù khổ sai vượt ngục Tây Bá Lợi Á kể trên.

Nhưng 3 tháng sau, y phát điên thật sự, phải nhốt vào ‘’Trung Tâm Những Người Mất Trí’’. Luôn luôn lúc cười lúc khóc, y chối bai bải -dường như với người vô hình đứng trước mặt- rằng y không hề ăn thịt mấy người bạn ‘’cùng vượt ngục’’.

XII.

 

982 nhăn nhó vì hai cẳng chân tê dại trong chiếc cùm, gần như không thể sai khiến được nữa. Anh ta cầm mép cùm kéo hai cẳng chân lại gần rồi bóp từ đầu gối xuống bắp chân, đến đầu các ngón chân cho máu chảy đều hòa. Lúc đó, trăng sắp lặn. Anh ước đoán là 4 giờ sáng. Rồi không sao ngủ lại được nữa.

Vụ 43 người tù khổ sai vượt ngục Tây Bá Lợi Á lần lượt diễn ra trước mắt anh như một cuốn phim dài linh động, nhất là khúc cuối thật bi thảm chua xót.

Quay về hiện tại, 982 rán sức tập trung tư tưởng để sắp xếp trong trí những kế hoạch vượt Trại Giam Đầm Đùn, rời bỏ túp lều phong vương này. Anh tính nhẩm: Còn bốn ngày nữa để chuẩn bị.

Bữa nay là Rằm, trăng tròn. Đợi đến tối 19, trăng hạ tuần mọc rễ, xẩm tối sẽ trốn trại, chạy vào ẩn trong rừng rồi đợi trăng mọc, anh sẽ nương ánh trăng lu mà cao chạy xa bay. Sau nữa ra sao, đành nhờ Trời, nhờ số phận. Có một điều bất lợi là anh không thuộc đường lối trong địa phương Thanh Hóa. Nhưng tùy cơ ứng biến, anh sẽ hỏi thăm đường về Chi Nê, Nho Quan rồi từ đấy sẽ kiếm cách vào làng Tề, là thoát!

Ước gì giữa đường gặp mặt trận, công việc sẽ dễ dàng biết bao nhiêu!

982 lại quay về thực tại. Sự việc cần phải giải quyết trước khi vượt ngục, ngay giờ phút này đây là vấn đề ăn, uống, nghĩa là vấn đề đói, khát. Phải làm sao cho khỏi phải ăn gạo sống, tránh uống nước vũng. Nếu không, mọi việc đều hư hết, anh sẽ mắc bệnh ‘’phân cò’’ như mọi người bị phong vương trước anh, và vấn đề vượt ngục sẽ coi như không có. Như thế, chỉ còn mỗi việc là ngồi hay nằm chờ chết, cho tới khi chết thực sự, không nhổm dậy được nữa.

Cả ngày hôm qua cũng vẫn không gặp thằng nhỏ Hợi làm ở ban thợ rèn. Và cả Toàn cũng biệt tích luôn. Mới có một ngày 982 bị gạt ra ngoài cuộc sống chung trong trại mà đã thấy dài thật là dài. Đúng vậy: Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Nhưng phải là một ngày ở lều phong vương thì câu ví mới đúng hết ý nghĩa của nó.

Cái đêm đầu tiên ngủ tại lều phong vương thật là đêm thê lương khủng khiếp mà 982 sẽ nhớ mãi, nhớ suốt đời cho đến khi xuống lỗ. Cái cảm giác rõ rệt nhất là cảm giác cô đơn, sợ hãi. Nằm trên ‘’long sàng’’ bằng tre mà 982 tưởng là nằm dưới mộ, nghe gió thổi rào rào lạnh lẽo như mưa đêm Đông. 982 nhận chân một sự thực, anh đã bị gạt ra ngoài cộng đồng Đầm Đùn trước khi bị gạt ra ngoài nhân thế. Vừa đói bụng lại vừa lạnh, rét từ trong ruột rét ra, anh đã cắt một đường sợi gai ở đáy bao tải vừa đủ rộng để chui lọt đầu rồi chụp luôn bao tải vào mình, thò đầu ra ngoài bao, hai tay lùng bùng ở bên trong quấn chặt bao tải vào mình. Ấy vậy mà khí lạnh vẫn thấm vào trong người khiến 982 run lên từng hồi.

Gió từ trong rừng thổi ra, rít lên từng chập như tiếng thở dài của sơn lâm. Mấy cây cột rung rinh, mái rạ rào rạt như bị bốc đi đến nơi. 982 nhích lại nằm sát bên cây cột, đề phòng gió thổi sập lều sẽ ôm chặt cứng cây cột.

Cách một giờ, tiếng mõ cầm canh của cảnh vệ lại lóc cóc một hồi. Rồi yên lặng hoàn toàn.

982 nghe nói hồi trước đó, sàn nằm của lều phong vương hẹp lắm, mỗi bề không quá 90 phân, tù nhân phong vương chỉ ngồi chứ không nằm. Vì chỉ có một khoảng từ bả vai đến mông đít được nằm, còn đầu và hai cẳng chân thì lủng lẳng chênh vênh ‘’chân chẳng đến đất, cật chẳng đến giời’’. Nằm trong tư thế đó, mỏi đến gẫy xương nên tù nhân chỉ ngồi còm cọm sáng đến tối ngày. Nay, không biết vì lý do gì ban quản trị cho làm lại sàn lều rộng rãi để tù nhân nằm một cách thoải mái đàng hoàng. Nhờ vậy, đêm hôm trước, 982 chợp mắt từ canh ba cho đến gần sáng. Anh cần ngủ để quên đói.

Chiều hôm qua, vì đói quá, anh ta đành bỏ mấy dúm gạo sống vào miệng nhai nát rồi chiêu ngụm nước. Nhai xong gạo lại thấp thỏm sợ vì lo mắc bệnh ‘’phân cò’’. Đến tối, trước khi ‘’đi ngủ’’ anh bốc hết gạo vào trong mảnh áo, gói kỹ rồi giữ luôn bên mình. Phòng đang đêm, cần dúm gạo nhai cho đỡ đói. Lại nữa, chuột bọ khỏi ăn mất. Nghĩ đến chuột, 982 hơi hy vọng. Trước khi cất bọc gạo, anh ta đếm đủ ba chục hạt gạo, vãi trên một mảnh là chuối khô, đặt trên sàn lấy đồ đè lên kỹ cho khỏi bay. Nếu sáng dậy, thấy mấy chục hạt gạo biến mất, ắt là đã có chuột tới. Như thế, anh sẽ tìm cái bẫy chuột, vì thịt chuột ăn rất...ngon nếu được nấu chín đàng hoàng. 982 lẩm bẩm: Sáng mai, sẽ lạy van giám thị xin được để trên sàn lều một cành cây, phòng đêm hôm có rắn leo lên sàn thì đuổi. Sự thực anh sẽ dùng cành cây đập chuột, lấy thịt ăn. Ăn bằng cách nào, 982 chưa nghĩ tới, bẩy được chuột, nghĩ cách cũng chưa muộn.

Trời sắp sáng rõ, tuy thế sương mù còn dầy đặc trong rừng và trên những lùm cây. Chưa có lệnh kẻng, tù nhân chưa được ra sân, nhưng giám thị và mấy tên cảnh vệ đã đi lại trong sân trại. Bọn này vẫn phải có mặt dưới trại từ trước lúc có tiếng kẻng.

Nghĩ đến ăn cơm, 982 thấy thèm rõ rãi, mặc dù khẩu phần hạng C không đủ vào đâu cho tù. Tuy vậy, tù chỉ đói dài mà chưa đến nỗi chết. Giờ đây, 982 lại không có cả hai chén ‘’cơm chín’’ mà chỉ được hai nắm gạo sống mỗi ngày! Hai ngày nay, không có ‘’hơi cơm chín’’ vào bụng, cơ thể anh ta yếu đi nhiều lắm. Bất giác 982 tha thiết cầu mong được ân huệ trở lại làm tù nhân thường tội dù khẩu phần C cũng tốt! Anh biết mong ước đó đối với anh từ lúc này, không thể nào thực hiện nổi. Rồi 982 triết lý vụn: Cái khổ cũng như cái sướng lại còn có cái sướng hơn, và sướng hay khổ là do sự so sánh mà có.

982 vẫn tiếp tục vẩn vơ suy nghĩ, nhìn về phía nhà tiểu công nghệ. Tù nhân đang tấp nập bưng cơm từ bếp lên. Hơi nóng từ các chảo cơm bốc lên nghi ngút, ăn được chén cơm nóng no lòng ấm bụng, khỏe sức biết là dường nào. Người ta sinh ra, ai cũng có quyền có chén cơm, đến con chó nuôi cũng được quyền có miếng cơm, vậy mà 982 không bằng con chó, vì có ai bắt chó mình nuôi phải ăn gạo sống thay cơm bao giờ!

982 thấy uất ức, phẫn nộ căm thù cả xã hội loài người, căm thù cái chế độ vô nhân đạo! Ý định vượt ngục lại sôi lên sùng sục trong lòng.

- Nhưng quái lạ! Không thấy giám thị tới mở cùm cho mình xuống dưới đất!

982 băn khoăn lo lằng, chờ đợi trong sự phập phồng.

Đến lúc tù nhân, đám sắp hàng đi làm củi, toán đi cuốc đất, người gánh nước tưới rau hay ra ngoài ruộng cuốc đất làm màu, trại vắng hẳn người mà vẫn không thấy bóng vía giám thị đâu hết. Bụng rân rân đau khó chịu, 982 đành phải men ra mép sàn, nắm lấy cột lều cho khỏi té, lom khom nửa đứng nửa ngồi vì vướng cùm ở chân, rồi tống các chất thừa trong bụng xuống bên dưới sàn.

684 ngừng tay thụt bể, cầm xẻng xúc đầy than đá lấp kín lên đống than hồng. Không biết có chuyện gì, giám thị vừa tới gọi tù thợ rèn lên văn phòng ban quản trị. Thằng nhỏ thứ hai phụ việc ở lò rèn bữa nay được cắt công tác gánh nước tưới ruộng cà, đến trưa mới về. Thỉnh thoảng, một trong hai thiếu niên thuộc ba thợ rèn vẫn phải cắt đi làm công tác bên ngoài một, hai buổi những khi kẹt người. Lúc này, chỉ có một mình 684 ngồi bên lò rèn. Hắn đem một cuộn sắt tròn cũ ra, nắn lại cho thẳng theo lệnh của trưởng ban thợ rèn trước khi hắn ta lên văn phòng. Nắn xong là cắt ra từng khúc 12 phân một, để rèn thành mắt xích làm xiềng cho tù.

684 nhớ lại câu chuyện tán ri-vê hôm vừa đây mà tù nhân 982 bị tên thợ rèn cố tình cho trượt búa vào mắt cá chân để lột lấy chiếc áo cánh còn tốt. Lúc đó, vì thương hại 982 nên 684 đã ra hiệu cho biết nên đổi áo tốt cho thợ rèn để khỏi bị què chân. Khi giám thị dẫn 982 khập khễnh ra lều phong vương, 684 nhìn theo mà vẫn không nhớ đã gặp 982 ở đâu, trong trường hợp nào. Nhất định 982 không phải là người xa lạ. Cả ngày, cố sức bới trong trí mà 684 vẫn không nhớ ra là ai ?

684 vừa nắm cây sắt tròn cho thẳng, vừa suy nghĩ...

Bỗng một người đến trước lò rèn liệng lưỡi cuốc xuống mặt đất, nhanh nhẩu nói:

- Cháu làm ơn sửa dùm...

Thiếu niên ngửng lên nhìn, nhận ngay được Toàn, vui vẻ hỏi:

- Bác cần sửa như thế nào ? Tra cán vào cuốc, hả ?

- Phải, tra cán vào cuốc. Và làm dùm ngay, nghe cháu ?

684 kiếm dao dựa, gọt bớt cán cho vừa lỗ, rồi lanh lẹ đóng chặt cứng cán vào bàn cuốc. Xong, hắn lại còn cẩn thận đóng thêm một cây đinh vào cán, đánh quặp lại cho lưỡi cuốc khỏi lung lay.

Thiếu niên này thường gặp Toàn trong giờ ăn và hai người -một lớn một nhỏ- có cảm tình với nhau. Thấy 684 nhanh nhẹn, mặt mũi sáng sủa, ăn nói ra vẻ con nhà tử tế, cùng thuộc giai cấp tiểu tư sản nên Toàn mến 684, định có dịp thuận tiện sẽ hỏi lý do đã đưa 684 vào trại giam này. Một lần, Toàn đã cho ba thìa đường nên 684 nhớ mãi. Khi đó 684 đang bịnh, thèm một miếng đường kinh khủng.

Bữa nay Toàn xung phong đi cuốc đất trồng khoai. Đang làm, Toàn thấy thằng cha thợ rèn lên văn phòng, anh nghĩ không còn dịp nào tốt hơn, bèn cố ý đẩy mạnh cán cuốc cho gẫy, để có dịp đến lò rèn nhờ sửa lại và được gặp thiếu niên 684.

684 cắm cúi sửa cán cuốc. Toàn bỗng lộ vẻ suy nghĩ nhìn quanh quất một vòng thấy không có người, anh cúi nhìn đăm đăm vào mặt 684, khẽ buông một tiếng vừa cho người đối thoại đủ nghe:

- Hợi!

Thiếu niên vẫn tiếp tục đóng như không nghe. Nhưng Toàn cũng kịp nhận thấy cậu ta hơi giật mình mà trầm tĩnh kịp. Toàn khen thầm 684 còn nhỏ mà có bản lãnh, khẽ gọi lần nữa:

- Hợi! Hợi!!

Lần này, thiếu niên mới ngửng lên nhìn vào mắt Toàn, lạnh lùng và soi mói.

- Bác biết cháu là người thân của bác Dũng. Cháu không cần phải giấu bác nữa. Bác Dũng đang muốn gặp cháu lắm. Cháu không nhận ra bác Dũng sao ?

Bây giờ 684 mới nhớ ra người tù phong vương là bác Dũng, đầu năm ngoái vẫn hoạt động trong cùng một tổ chức chính trị với ba của Hợi. Hắn mừng rỡ thốt lên:

- Cháu nhớ ra rồi!

Sau đó, Toàn tóm tắt kể lại cho Hợi nghe 982 đã nhờ anh việc gì. Hợi vẫn nghe, luôn luôn liếc ngang liếc dọc đề phòng có người tới bất ngờ. Toàn nhắc đi nhắc lại:

- Bác Dũng rất cần gặp cháu. Bác ấy đói lắm và đặt hết hy vọng vào cháu đấy.

- Cháu sẽ gặp bác Dũng, bằng bất cứ giá nào.

Toàn vác cuốc đi khỏi, Hợi tiếp tục cắm cúi làm việc. Nhưng tâm trí hắn chỉ nghĩ đến 982. Không ngờ bác Dũng lại bị bắt vào đây cùng với hắn. Một lần kia, ba của Hợi bị bọn cộng sản bắt hụt tại nhà riêng, chúng liền bắt luôn con để thế cho bố. Rồi Hợi bị đưa vào giam tại Đầm Đùn với các tội danh bịa đặt: Làm tay sai cho Phòng Nhì của Pháp! Hợi có máu liều lĩnh gan dạ của bố nên cắn răng chịu tội, nghĩ mưu tính kế chờ dịp vượt trại giam.

Nay gặp đồng chí của bố trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Hợi nhất quyết sẽ giúp ích phần nào.

Còn đang nghĩ ngợi, Hợi thấy 271 quay lại lò với cây cuốc. Lúc đó, tù thợ rèn vẫn chưa về. Toàn xin đóng thêm một cây đanh nữa vào gần cổ cuốc, không thấy ai, Toàn nói vội:

- Cháu nói với bác Dũng rằng bác Thanh ở trên lò than đã về trại, được lưu lại trại vài hôm. Bác ấy hỏi thăm và sẽ đưa bác Dũng ít viên thuốc phòng trường hợp ăn gạo sống bị bệnh tả lỵ. Chiều nay, trong bữa cơm, sẽ chuyển thuốc cho cháu để đưa bác Dũng dùng khi cần.

Rồi Toàn vác cuốc đi thẳng ra ruộng, thoáng nghĩ đến Thanh. Tối hôm qua, sau lúc học tập, Thanh mới tâm sự với Toàn và tiết lộ anh ta là bạn thân của 982. Toàn quyết đoán hai người cùng hoạt động trong một đảng phái quốc gia và bỗng thấy có cảm tình với họ hơn trước. Vừa làm, Toàn vừa liếc nhìn chung quanh, coi có ai để ý đến mình không. Trên bờ ruộng, tên cảnh vệ vẫn đi đi lại lại, coi chừng bọn tù cuốc đất, gánh nước tưới rau và cầy ruộng. Trước khi đi, Toàn lại trình tên cảnh vệ, đưa xem cán cuốc gẫy vì mục và được phép quay về lò rèn sửa lại cán cuốc đàng hoàng. Tuy thế, bản tính nhút nhát Toàn vẫn thấp tha thấp thỏm.

Vừa cuốc như máy, Toàn vừa suy nghĩ tính toán mưu định riêng của anh. Thấm thoát tới cuối tháng 4 rồi. Toàn vẫn chưa ‘’xoay’’ được lên làm than trong rừng với bọn Tuyên, Thanh và Mạnh...Thanh cho biết lứa than cuối đã ra lò được mấy bữa, từ đầu năm đến giờ, được 5 lứa than rất tốt, xếp đầy một khu trong rừng mà ban quản trị Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm chưa cho người lên gánh về phân phối. Thanh được cắt vào việc gánh than về trại. Tuyên và Mạnh cũng xung phong xin gánh than. Thấy có dịp, Thanh nhắc Toàn ‘’vận động’’ xin lên rừng làm than như Toàn vẫn mong ước. Nghe các bạn kể lại, Toàn thấy công việc làm than ‘’thích’’ hơn, nhất là được tự do hơn, thỉnh thoảng tù được gánh than ra chợ, bán được hàng lại có tiền thưởng, đủ mua một quả chuối, một phong thuốc lào, có thể lui tới các xóm của dân thiểu số địa phương, gặp dịp tán chuyện với đàn bà, con gái...Đã lâu nay, Toàn không được nghe tiếng nói trong trẻo của đàn bà con gái, chỉ nghe tiếng hô ‘’báo cáo’’, quát tháo, mắng nhiếc, đe dọa cục cằn, tiếng búa rèn xích trên đe, tiếng roi song quất đen đét. Toàn mĩm cười ví von: ‘’Tai mình thèm nghe tiếng chim hót, mắt mình thèm trông thấy bông hoa cười...’’ Phải chỉ lúc khác được tự do, cao hứng như thế, Toàn dám lấy giấy bút ra làm thơ ca ngợi tiếng oanh vàng rồi đó. Cái chất ‘’phiếm’’ đặc biệt của con người tiểu tư sản vẫn thường lộ ra như vậy, ngay ở trong nhà tù.

Nhưng trên hết, đi làm than ở rừng có một điểm khoái nhất là được ăn no, và tù có thể làm lấy món ăn nếu có tiền mua thực phẩm sống ngoài chợ.

Tại sao tù làm than lại được ăn no ?

Lý do cũng giản dị: Chỉ những tù nhẹ tội có hạnh kiểm tốt, mới được cho đi làm than và họ hy vọng sẽ được trả tự do khi có đại xá. Trên phương diện phục vụ, tù nhân làm than đem lại một mối lợi khổng lồ, đủ sức nuôi cả Trại Giam Đầm Đùn nên được hưởng chút xíu ân huệ. Vả lại, công tác làm than cũng rất vất vả nguy hiểm, dễ mất mạng, khác với tưởng tượng của Toàn.

Vì có mục đích riêng, Toàn đang cố gắng xung phong trong mọi công tác, và làm đầy đủ công việc không dám để giám thị chê trách. Dịp này, Toàn hy vọng lắm. Nghĩ vẩn vơ xa gần, Toàn sực nhớ đến số quần áo còn lại mà buồn. Hồi đầu tháng, khi thấy vô hy vọng nhận đồ tiếp tế của gia đình, anh đã liền cắt nốt nửa chiếc quần dài may thành quần đùi vì quần cũ đã bợt lắm không còn mặc được. Nhớ lại, dịp Lễ Giáng Sinh vừa rồi, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế có thả dù cho tù nhân Pháp -ở riêng trại bên kia- và tù nhân Việt mà họ gọi chung là ‘’nạn nhân của cuộc chiến’’, bao nhiêu thực phẩm và quần áo. Nhưng tù nhân Việt phải khăng khăng từ chối, không thèm ăn hay dùng đồ của thực dân phản động. Ít lâu sau, tù thấy nhân viên ban quản trị mặc nhiều kiểu áo lạ mắt lắm, không phải ở Việt Nam. Nhưng không anh nào dám nhìn kỹ, ngắm nghía hay bàn tán gì. Vì họ không muốn mất mạng một cách lảng nhách.

(Tù nhân Pháp tương đối mặc lành lặn hơn. Thời gian đầu tiên ở tù, tù nhân Pháp cũng rách rưới không tả được. Và có nhiều chuyện tức cười lắm. Vốn phong lưu, tác phong thực dân đã quen, mỗi lần đi cầu không có giấy chùi, tù nhân Pháp phải xé quần, xé áo ra để chùi cho sạch. Chùi riết mất tiêu luôn cả quần lẫn áo. Về sau, học theo lối tù Việt, ‘’đi’’ xong lấy que ‘’chùi’’ đỡ. Tù nhân Việt không kiếm được que, dùng hòn đất cũng được. Nhưng tù Pháp phải kiếm là thay que. Một lần, bất đồ hái phải lá han, anh tù Pháp nọ gần chết vì ngứa và dát, nhẩy đùng đùng trong trại như thằng hóa dại.

Với ‘’kinh nghiệm xương máu’’ đó, tù nhân Pháp bảo nhau đề phòng lá han, loại lá có ‘’chất độc nguy hiển’’. Câu chuyện ‘’thiếu vệ sinh’’ này, tù vẫn thường kể lại cho nhau nghe ...những giờ rảnh rỗi. Người kể chuyện còn tả lại từng nét mặt anh tù binh Pháp, vẻ cuống quít vì ngứa và dát nên cả bọn cùng cười, quên được nỗi buồn trong giây lát. Toàn buồn chán như thế, cũng phải bật cười).

...Toàn chợt thấy gan bàn tay rát như bị bỏng. Anh đã cuốc được một khoảng hơn hai chục thước vuông nghĩa là từ sáng sớm đến giờ mới được một phần năm công việc phải làm trong một ngày. Anh chống cuốc xuống đất, nhổ toẹt vào mỗi bàn tay một miếng nước bọt, rồi vội vã nắm chặt cán cuốc, nghiến răng cuốc như máy. Có làm tận lực như thế mới đạt tới mức trung bình...

Hợi làm không hở tay trong khi đầu óc suy tính đến trường hợp của 982 không ngừng. Từ khi vào trại giam, chính mắt hắn đã thấy sáu tù phong vương lần lượt mất mạng trước sau không đầy một tháng. Vì thế Hợi cho rằng nếu bác 982 không tìm cách vượt Trại Đầm Đùn ngay, e không kịp. Bây giờ, có hai phương pháp giúp đỡ 982, một là giúp bác ta làm sao khỏi chết vì tả lỵ, hai là giúp bác ta làm cách nào tháo cùm và xiềng để trốn. Về điểm trên, phải lấy trộm cơn hay cháy của nhà bếp đặng tiếp tế cho 982. Đó là một việc rất khó khăn không biết có làm nổi không ? Trong Trại Đầm Đùn, một miếng cơm chín, một thìa nước rau, một cục xương, một điếu thuốc lào, thường đổi lấy mạng người như bỡn, vẫn thường thấy.

Muốn cắt xiềng, phải kiếm cho bác ta một cái giũa -cố nhiên phải giấu kín nhẹm thằng cha thợ rèn- để giũa mắt xiềng. Còn việc mở khóa cùm thì không khó, chỉ một sợi dây kẽm cứng, đập bẹt đầu, bẻ quặp lại như cái mỏ, cho vào lỗ khóa, nậy đúng khớp lò xo bật ngay. Điều này không đáng ngại. Hợi nghĩ tiếp:

- Bây giờ, nhân lúc lão thợ rèn vắng mặt, ta có thể chế tạo luôn chìa mở khóa đã.

May quá, Hợi vừa mở thùng đựng sắt vụn, tình cờ thấy một cây nan hoa (căm) xe đạp đã rỉ. Hợi vội rút ra, ngó coi chừng thợ rèn trong khi đập bẹt đầu cây nan hoa, rồi bẻ quặp lại thành một đầu mẩu vuông thước thợ, bằng hột thóc. Cẩn thận hơn, Hợi đập bẹt luôn đầu kia, nhưng làm ‘’khấc’’ ngắn hơn chút đỉnh. Chỉ ba phút là xong, Hợi giấu luôn lên mái rạ rồi thảm nhiên tiếp tục chặt sắt làm mắt xích. Thợ rèn vẫn chưa về.

Tuổi trẻ vẫn hăng, nhất là vừa thực hiện xong một phần chương trình, Hợi tính đến việc kiếm giũa. Hợi nhớ mang máng trong một lần dọn đồ, cách đây hơn một tháng, có thấy một chiếc giũa cũ, nhưng xài vào việc vặt như cắt mắt xích của xiềng thì dư sức, không biết thợ rèn cất đâu. Thủng thẳng sẽ kiếm ra, quanh quẩn chỉ trong hai thùng đựng đồ nghề.

Hợi tiếp tục nghĩ, phấn khởi vì kết quả:

- Nhưng khi trốn vào rừng mà không có khí giới tự vệ sẽ rất nguy hiểm. Phải kiếm cho bác Dũng một con dao, có thể dùng để cắt trái cây, chặt cành cây v.v...Thôi cho luôn bác con dao của mình, làm con dao khác sau.

Hợi có rèn được một con dao bằng thép, chưa kịp làm cán, vẫn giấu trong thùng sắt vụn phòng khi cần. Như vậy, chỉ còn kiếm được giũa là hoàn toàn.

Hợi vẫn có dịp vào nhà bếp tuy có lệnh cấm rất nghiêm ngặt. Vì tù vào nhà bếp thường không dằn nổi sự thèm muốn, thấy thức ăn gì cũng lấy trộm bỏ vào miệng, thuận tiện sẽ nhai, không thì nuốt chửng. Nhiều tù bị đánh hộc máu mũi, máu miệng chỉ vì giả đò vấp té sấp vào rổ rau muống luộc, cố bốc một miếng rau bỏ vào miệng nuốt chửng. Lần nọ, một anh chẳng may bị nhà bếp, -ban hỏa thực cũng là tù trừ trưởng ban và dăm phụ tá- khám phá được mưu kế bắt há miệng nhe răng ra coi. Không còn sợi rau nào dính vào răng, anh tù ăn vụng tưởng đã thoát nhưng tên trưởng ban hỏa thực bắt há miệng đứng yên đó rồi quát nhân viên lấy chén nước lã bắt anh tù súc miệng nhổ vào chén. Coi lại, nước súc miệng còn xanh chất rau, tang chứng rành rành.

Sau đó một lát, anh tù đói ôm mặt từ nhà bếp đi ra, máu mồm máu mũi đổ ra ròng ròng vì bị ‘’ăn’’ gần hai chục quả tống thay cho rau muống.

Như trên đã nói, tù không tha nuốt một thứ gì. Lần kia, một người tù vào bếp bưng cơm lên trại, chợt liếc thấy mấy cái xương cá đã ăn hết thịt và một nắm vỏ tôm đã giã lọc lấy nước ngọt (nấu riêng cho nhân viên ban quản trị) vứt bỏ ở góc bếp. Người tù mừng quá vội bốc hết bỏ vào túi đem lên trại, định ăn lại. Không may bị bắt quả tang, người tù bị phạt nhịn ăn một bữa là lãnh đủ năm roi song vì đã hành động trái với quan điểm của nhân dân và làm hại đến uy tín của chính phủ (!). Như thế khác gì nói xấu chính phủ không săn sóc đến đời sống của tù nhân (!), cho tù nhân ăn đói ăn khát ??!! Tối hôm đó, trong giờ kiểm thảo, người tù phạm lỗi công nhận hành động hủ hóa của mình đáng tội và long trọng hứa sẽ sửa đổi, đề cao cảnh giác để không có những cử chỉ phương hại đến uy tín của chính phủ, bêu xấu chế độ.

Từ trước tới nay, Hợi vẫn vào nhà bếp, tuyệt nhiên chưa bao giờ ăn vụng, ăn trộm. Nhiều khi hắn cũng đói lắm nhưng tự kiềm giữ được. Có một vài lần nhân viên nhà bếp giương bẫy, nhưng Hợi may mắn không mắc, nhờ đó hắn được trưởng ban hỏa thực tin cậy và có cảm tình. Mấy chục con dao của nhà bếp đều do tay Hợi sửa lại khi quằn hay mài khi lụt. Hợi có ‘’tay’’ mài dao, cả nhà bếp ai cũng thích hắn! Vì cảm tình riêng, lâu lâu trưởng ban hỏa thực lại giấu diếm cho Hợi một miếng cơm cháy lớn bằng hai bàn tay, Hợi để dành ăn dần ba, bốn ngày mới hết.

Cách đây tám hôm, được miếng cơm cháy lớn bằng nửa trang giấy học trò, Hợi chưa ăn đến, bẻ vụn ra bỏ vào lon sắt để dành. Đã có lần Hợi chia cho Toàn một miếng cháy thật lớn, bằng gói thuốc lá. Toàn giấu liền vào cạp quần, hồi hộp, mừng rỡ, yêu đời, yêu bạn đồng cảnh, đợi lúc vắng vẻ lấy ra nhai từng chút, ngon không thể tả được. Còn một miếng bằng hai đốt ngón tay, Toàn muốn kéo dài sự thích thú nên để dành đến đêm, mọi người trong trại ngủ yên, Toàn len lén vạch lưng quần lấy miếng cháy bỏ dần vào miệng, ngậm cho nát ra, chất gạo ngọt lừ, cho đến khi ‘’miếng ngọc thực’’ biến dần...đi đâu mất hết! Toàn có kể lại cho Hợi nghe, cả hai bác cháu cùng cười.

Hợi miên man suy nghĩ, định chiều nay hay mai, mài dao cho nhà bếp xong, hắn sẽ ngoại giao xin một miếng cơm cháy nữa đặng tiếp tế cho bác Dũng.

Mọi việc tạm xếp đặt xong.

- Thế nào, làm xong chưa ?

Thợ rèn tươi cười bước vào. Hợi ngửng lên trả lời:

- Dạ, chặt cũng sắp xong hết.

- Thôi, bỏ đấy ra thụt bể, đặng tao có chuyện làm đồ gấp...

Đến trưa, vừa có tiếng kẻng nghỉ việc, tên giám thị lại lò mò tới. Thợ rèn đang thu dọn đồ nghề, thấy giám thị vội ngừng tay kính cẩn gật chào, kiếm chuyện bợ đỡ:

- Giờ này, ông giám thị còn chưa được nghỉ vì công việc. Ông giám thị nên nghỉ một chút cho đỡ mệt.

Giám thị hách dịch gật đầu, quay sang bảo Hợi:

- 684! Vào nhà bếp nói với ông trưởng ban đưa cho lưng bát gạo, mày cầm ra cho thằng cha phong vương. Cho nó ăn nhiều gạo một chút đặng nó mau về với tổ tiên. Tao còn nhớ nọc kiến bò nhọt của nó, chưa hết buốt đây.

684 mừng thầm, lễ phép hỏi lại:

- Thưa ông giám thị, một lưng bát gạo phải không ạ ?

- Ừ! Nếu nó đã nằm ngủ luôn không dậy nữa, báo cáo cho tao biết ngay. Để cho nó ‘’ra bai’’ gấp.

- Vâng.

Thợ rèn phụ họa:

- Trước khi phát gạo, hãy gọi nó tỉnh dậy đường hoàng, nhận khẩu phần cho đủ, biết không ?

Rồi nháy 684 một cách rất đểu, hạ thấp giọng:

- Mầy ngó luôn mắt cá chân nó, coi đã...‘’sâu quảng’’ chưa ?

- Vâng.

Giám thị quay mặt lại, tủm tỉm cười một vẻ đồng lõa rồi đi thẳng lên văn phòng. Thợ rèn vội vã ra ngoài làm chi đó. Một mình trong lều, nhanh như chớp, Hợi với tay lên mái lều rút cây căm xe đạp trong mình, thủng thẳng lên nhà bếp.

Lát sau, tay cầm bát gạo, hắn theo con đường nhỏ đến lều phong vương, trong lòng xốn xang hồi hộp, nửa mừng nửa sợ...Vì trong quần phía trước bụng, hắn lại giấu được miếng cơm cháy, đủ nuôi sống người tù trong một ngày rưỡi. Cơm cháy vẫn bền no hơn cơm nạc. Qua cơn nguy hiểm ngặt nghèo, 684 đã hết hoảng sợ, hai chân bước thoăn thoắt. Khi đó, trên lều phong vương, 982 gần xỉu vì đói. Nhưng anh ta còn đủ tỉnh táo để mong mỏi, gói gạo sống còn lại từ hôm qua đặt trước mặt, 982 vẫn chưa dám bỏ vào miệng nhai. Anh ta có linh tính thế nào Toàn hoặc thiếu niên Hợi cũng đến. Nhưng hết cả buổi sáng, hồi kẻng nghỉ việc đã vang lên hồi nãy mà không có người nào tới. Giám thị cũng mất mặt luôn, không tới mở cùm như mọi ngày, cũng không phát cho gạo sống. 982 bỗng rợn người vì ý nghĩ:

- Hay nó bắt mình nhịn đói luôn tới chết để trả thù ?

Nếu đúng như thế, đằng nào cũng chết, khi tên giám thị léo hánh lại lều, nhất định phải làm cách nào giết chết được nó, rồi mới chịu nhắm mắt sau. Không có vũ khí, anh sẽ ôm chặt nó cắn vào mũi, vào tai, vào cổ họng cho tới khi nó chết mới thôi. Ít nhất cũng trả thù được một kẻ trong đám cộng sản, một kẻ thù anh muốn giết hơn hết dù phải đổi mạng.

Mặt 982 bỗng bừng bừng, hai con mắt trũng sâu vì đói ăn trường kỳ quắc lên một cách dữ tợn. Nhưng...

982 lắng tai nghe rồi quay phắt về bên phải. Một người đang xăm xăm bước tới. 982 nhận ngay ra Hợi tuy Hợi có lớn hơn và thay đổi chút ít nét mặt, so với hồi còn ở Hà Nội. Vậy mà hôm nọ ở lò rèn, anh không thể nào nhớ ra Hợi, con một đồng chí chứ không phải em như anh nhớ lầm lúc đầu. Thiếu chút nữa, 982 hét lên một tiếng mừng rỡ.

Nhưng Hợi thảm nhiên leo lên cầu thang, mặt hắn tai tái vì xúc động, miệng nửa cười nửa lại như mếu một cách kỳ cục khó tả.

- Cháu Hợi!

- Bác Dũng!

982 định đứng lên nhưng bị cản trở vì cùm, đành ngồi nguyên vị mà chìa tay ra. Hợi nắm lấy bàn tay gầy guộc, nhìn thẳng vào mắt 982. Mới ba ngày mà 982 đã tóp đi nhiều. Cả hai cùng yên lặng trong mấy giây rồi 982 nói:

- Lấy tư cách là đồng chí của ba cháu, bác mong cháu giúp bác trong lúc này, tận tình giúp bác.

- Bác hãy tin ở cháu. Cháu xin cố gắng hết sức.

982 vội cho Hợi biết kế hoạch chuẩn bị: Nội tuần trăng này anh phải trốn. Muốn vậy, phải tháo cùm, cưa xiềng, phải có cơm ăn để khỏi và bịnh mới có sức băng rừng, vượt suối... 982 mong Hợi đang làm lò rèn. 982 nói không chút dè dặt, hoàn toàn tin chắc Hợi sẽ tận tình giúp anh.

Hợi chăm chú lắng nghe. Đến lúc 982 ngưng nói, Hợi lạnh lùng rút trong lưng quần miếng cơm cháy đưa cho 982. Phản ứng thật lạ lùng. 982 sững sờ, nhăn nhó vì cảm động, trông không khác chi một người gặp chuyện đau lòng, không nói được một tiếng, đến lúc chớp mắt mấy cái, hai giòng nước mắt đã lã chã. 982 đã có thuốc hồi sinh cứu tử một cách bất ngờ.

- Bác cất kín, kẻo giám thị thấy thì cả bác lẫn cháu đều mất mạng. Bác giấu từng miếng nhỏ trong nơi kín đáo để ăn dần. Cháu sẽ cố tiếp tế cho bác một lần nữa.

982 bẻ một miếng cháy bỏ tọt vào miệng, giữ thêm một miếng lớn hơn trong tay, rồi vịn cột lều đứng lên, đút miếng cơm cháy còn lại ngập trong lớp rạ thật kín. Một bữa của tù phong vương bấy nhiêu là tạm đủ.

- Bác sẽ nhớ ơn cháu mãi mãi.

Hợi liếc ngang liếc dọc tứ phía, buổi trưa, trong trại vắng vẻ, yên tĩnh. Tù nghỉ ngơi hết trong trại ngủ. Hợi đưa nhanh cây căm xe đạp cho 982 và nói:

- Đây là chìa khóa mở cùm...

982 chỉ xuýt xoa mấy tiếng ‘’Hay quá! Hay quá!’’ rồi ngắm nghía cây căm và nói nhanh:

- Được rồi! Lúc lại đây, cháu thấy có mấy hòn đá trong đám cỏ. Nhưng cháu nghĩ không cần đến!

- Còn cái này ?

982 chỉ vào sợi lòi tòi, đưa mắt hỏi. Hợi lặng lẽ đáp:

- Cháu sẽ mang cho bác một cái giũa còn tốt. Phút chót, trước khi rời lều này, bác sẽ cưa mắt xích. Cần nhất, bác phải nhớ mang theo cây giũa đừng để tụi nó kiếm thấy. Nếu không, đành là cháu vào ngồi thay bác ở lều này...Cháu còn trẻ quá, lên ngôi ‘’vua’’ không xứng.

982 mỉm cười, thầm phục sự bình tĩnh, gan dạ và khôn ngoan của thiếu niên. Sực nhớ ra, anh vội nói:

- À, có chỗ giấu đồ kín lắm. Đủ rộng để cất 4, 5 miếng cơm cháy lớn và nhiều thứ khác. Cháu khỏi lo không có nơi kín đáo.

- Bác nên tập mở khóa cùm cho thạo, khi cần sẽ mở được ngay. Ngày một, ngày hai, cháu sẽ mang giũa cho bác. Thôi cháu về.

- Có tin của ba cháu không ?

- Không! Bác Thanh trên lò than đã về trại được mấy bữa. Bác Thanh sẽ chuyển cho bác ít viên thuốc phòng bệnh tả lỵ, cháu sẽ đưa bác sau...

982 đưa Hợi ống tre, nhờ múc đầy một ống nước.

Hợi vác ống tre lại bên vũng nước. Mấy con chuồn chuồn đậu trên ngọn cỏ ở giữa vũng cất cánh bay đi. Hợi khỏa nhẹ ông tre cho tan váng ‘’riêu cua’’ rồi múc đầy ống mang về cho 982.

Hợi đã quay về tới lò rèn mà 982 còn nhìn theo.

Quan sát khóa cùm, 982 biết ngay là một thứ khóa thường. Anh mừng thầm trong bụng, nhìn trước nhìn sau rồi vịn cột đứng lên, rút cây căm, cho đầu mẫu vào trong lỗ khóa. Hồi nhỏ, anh ta có học việc với một người thợ khóa ở Phố Lò Rèn Hà Nội nên chỉ một phút sau, nghe ‘’cách’’ một tiếng, khóa bật ra liền. 982 lặng người đi vì mừng tuy biết trước kết quả, sau đấy anh mở ra, khóa vào mấy lần cho quen.

Sau cùng, 982 khóa cùm như trước, gài cây căm lên mái rạ, thầm nghĩ một cách sung sướng, đêm nay anh sẽ tháo cùm ra một lúc cho thoải mái cặp giò, để hiểu thấm thía thế nào là tự do của hai cẳng chân.

Từ lúc mở được khóa cùm, 982 có cảm tưởng tìm lại được sinh lộ và giờ khắc vượt trại chẳng còn xa. Anh ngồi dựa vào cột lều, ước lượng khoảng cách từ lều phong vương đến hàng ráo nứa thứ nhất, băng qua lối đi hẹp đến hàng rào thứ hai rồi...hết. Tự do! Tự do!

Khoảng hai mươi thước là ba chục bước chân, bước thật đều. Trong đêm tối, phải lấy bước chân tính đường. Tới hàng rào thứ nhất, anh sẽ đào ngạch dưới chân để chun qua, rồi đào ngạch chun qua rào thứ hai. Đào xong một ngạch, phải mất nửa tiếng đồng hồ đào hai ngạch mất một tiếng. Bỏ thêm ra nửa giờ nữa cho những trở ngại bất ngờ, thế là một tiếng rưỡi đồng hồ dùng vào việc đào ngạch.

Bảy giờ tối, trời đã tối mịt, sẽ bắt đầu mở cùm giũa xích. Mất một tiếng đồng hồ để cắt hai mắt xích ở hai đầu sợi xiềng, nửa tiếng cho một mối sắt, đào ngạch một tiếng rưỡi, 7 giờ tối khởi sự thì 9 giờ rưỡi sẽ ra lọt bên ngoài trại giam. Chạy vào rừng, chừng một tiếng đồng hồ nữa sẽ vượt được nửa cây số, hay nhiều lắm một cây số. Tối 19 âm lịch, tới 10 giờ khuya trăng mới mọc. Cố chạy thêm hai tiếng nữa dưới ánh trăng rồi leo lên cây ngủ, tới gần sáng sẽ chạy nữa. Khi đó vẫn còn trăng. Thế là thoát trận đầu.

Trong mình tràn trề một sinh lực mới vì 982 đã thấy lóe ra một niềm hy vọng chắc chắn. Theo kinh nghiệm, tù nhân nào còn nuôi hy vọng trong lòng sẽ là tù nhân sống sót.

982 bỗng ngồi thẳng người lên, nghểnh cổ đếm lại từng bước chân theo đường tưởng tượng, từ lều đến hàng rào. Lần này anh ước lượng khoảng đường đó dài từ 20 đến 21 thước nghĩa là từ 30 đến 32 bước chân. Trong đêm tối, cứ đếm đủ bước chân thì vừa tới hàng rào. Nhưng còn nhiều khó khăn khác trong thời gian lẩn trốn trong rừng, kiếm đâu ra thức ăn ?

Vào nhà dân mượn nồi nấu cơm hoặc đổi gạo lấy thức ăn chín ? Không được! Lộ hành tung thì nguy! Kiếm hoa quả trong rừng ăn tạm vậy. Nhưng nếu không kiếm được trái cây, củ sắn, củ khoai...? Đành vào nhà dân ăn xin lấy cỡ lỡ độ đường, cùng lắm sẽ ăn trộm, miễn sao sống sót!

982 miên man suy tính, tự đặt hàng trăm câu hỏi rồi tự trả lời. Tù nhân trong trại đã làm việc lúc nào không biết. Anh đang sống hoàn toàn trong giấc mơ giải phóng, tưởng tượng đang là con chim tự do bay trong rừng, sắp bay về tận tổ ấm gia đình, về tận trụ sở bí mật để hội họp, thảo luận, hoạt động với các anh em cùng chí hướng.

Trong trại giam cộng sản, quên được hiện tại khổ não mà hướng tâm trí về tương lai một cách tin tưởng là một sự kiện hiếm có và quý báu vô cùng. Cũng vì có tác dụng làm quên được khổ não nên một điếu thuốc lào mới trở thành một thức vật quan trọng, quan trọng ngang mạng người. Có người tù không được tiếp tế, phải để dành cả tháng mới kiếm đủ một điếu thuốc lào vì mỗi lần có dịp ‘’mót’’ bã thuốc chỉ được một, hai sợi thuốc chưa cháy hết là nhiều. ‘’Mót’’ được thêm sợi nào, người tù lại gom vào mảnh lá chuối dắt trong mình. Tới khi có ngót nghét một điếu thuốc, tù nhân đó mới chuẩn bị nửa ngày hay cả một ngày trời, đợi lúc thuận tiện nhất, thường thì vào buổi tối, sau khi học tập kiểm thảo xong trở về trại ngủ. Ngồi rảnh rang, người tù thận trọng sửa soạn kỹ càng cái điều cầy, rồi xin lửa kéo một hơi...thật dài, để hết cả thần lẫn trí vào điều thuốc.

Vừa tàn điếu thuốc là nằm lăn quay xuống trõng, lập tức không phí một giây, người tù dùng sức mạnh của tâm tưởng, nghĩ đến người thân nhất đối với mình, thường tình là cha mẹ, vợ con. Như vậy, người tù quên được hiện cảnh đau khổ và sống hai, ba mươi giây trong mộng ước. Rồi quay về sống thực tế trong trại giam.

Trường hợp của 982 không phải là điếu thuốc lào mà là mấy miếng cơm cháy và cây căm xe đạp có tác dụng mở khóa cùm để trốn khỏi trại giam...

XIII.

 

Trời sắp về chiều, một cơn mưa dăng dăng phủ kín cả vùng núi rừng quanh Trại Giam Đầm Đùn. Đám tù làm củi ở rừng về, lếch thếch gánh củi trên vai, ướt lướt thướt như đàn gà gặp mưa, thấy thật thảm hại. Dưới cơn rét, tù nhân càng gầy guộc xác xơ, có người tóp lại, trông chỉ còn một nửa.

Một cơn gió thổi tạt ngang lều phong vương, bốn phía không có vách nên nước mưa đổ hắt vào sàn lều ướt như ngoài sân. Tù 982 vướng cùm ở chân, lê đít vào mé sàn cuối gió tránh mưa, không khác chi người què ngồi lê để di chuyển. Anh ta tháo ống tre đựng nước chìa ra dưới giọt gianh, hứng đầy nước. Dù sao, nước mưa mái rạ cũng lành hơn mương vũng. Anh ta cố uống thêm mấy hớp nước mưa nữa, hứng đầy ống tre trở lại rồi treo lên cây đanh bằng tre đóng trên cột, cho khỏi đổ. Tiếc của trời, 982 xòe hai bàn tay hứng nước rửa mặt, rửa cổ, rửa nách rồi thò hai bàn chân ra cho giọt gianh chẩy và rửa sạch đất.

Sáng hôm nay, bất ngờ giám thị xuất hiện tại lều phong vương như một bóng ma. Lúc đó, chưa đến giờ tù được dậy, chưa có kẻng. 982 thức dậy lúc canh năm khi nghe gà gáy ran ở khu chăn nuôi gà vịt trong trại, nhưng trời lạnh quá không ngủ lại được. Vả chăng, từ ba ngày nay, tâm trí anh ta làm việc rồn rập, tính toán đường đi nước chạy trong những ngày sắp đến, luôn luôn xúc động hồi hộp vời trăm mối lo ngổn ngang trong lòng. Đối với người tù, ngày giải thoát là ngày mong ước nhất trong đời, vậy mà gần đến ngày vượt ngục, tự nhiên 982 có cảm giác bàng hoàng thấp thỏm, pha lẫn mừng, sợ tùy từng lúc.

Tên giám thị khốn nạn bước rất nhẹ trên cỏ để tới bất chợt, song nhờ thính giác đã tập quen với sự phân biệt các tiếng động trong đêm tối, 982 nhận ra ngay sự xuất hiện bất thường, chỉ liếc mắt một cái đã biết đúng tên giám thị tới. Anh ta liền rên rỉ khe khẽ trong miệng, lúc nối lúc tắt như người bệnh nặng sắp chết đến nơi. Và làm như không trông thấy gì hết, mắt tên tù phong vương đã mờ rồi! Hắn đang chết!

Giám thị leo lên bực thang tre như bóng ma, yên lặng quan sát, tưởng 982 nhắm mắt nên không thấy hắn tới. Rồi hắn lẩm bẩm trong miệng một cách bực tức: Tên này chưa chết, cũng chưa có dấu hiệu rõ rệt là sắp chết. Hắn nghĩ đến nọc độc của kiến bò nhọt đã được thưởng thức, bất giác lẩm bẩm chửi thề. Nghe tiếng rên rỉ của tên tù phong vương, hắn càng tức lộn tiết:

- Này, thằng kia thằng Việt gian phản động kia!

982 vờ giật mình, mở choàng mắt, rụi mấy cái để nhìn cho rõ, khi nhận ra có giám thị tới mới hốt hoảng vụng về chồm dậy:

- Thưa ông giám thị...

- Tiên nhân cha thằng Việt gian! Sao mầy không chết cha mầy đi cho được việc, đỡ tốn cho nhân dân hai nắm gạo một ngày...

Phải chi đến bữa nay 982 chưa bắt được liên lạc với thiếu niên Hợi và chưa có hy vọng gì về mưu định trốn khỏi Trại Giam Đầm Đùn, chắc chắn anh ta phải nhào vào ôm chặt tên giám thị mà cắn mà xé, chết thì chết, cũng liều.

Nhưng một vùng trời tự do đã hiện trước mắt nên anh ta nhịn được một cách dễ dàng, chỉ tiếp tục rên khe khẽ với ý định làm lạc hướng nhận xét của kẻ thù. Tuy thế, tên giám thị cũng thấy những tia thù hận chợt như lóe lên trong hai lỗ mắt sâu hoăm hoẳm của người tù phong vương khiến hắn ta rờn rợn. Nhưng hắn lấy lại ngay vẻ hách dịch, quyền uy:

- Thằng phản động kia, sắp tả lỵ chết chưa mầy ?

Tiếng trả lời hổn hển, như tù 982 có nói mà không hiểu nói gì:

- Dạ...sắp...

Tên giám thị đang giận mà cũng suýt bật cười. Hắn hỏi lại, giễu cợt:

- Bao giờ mấy chết ?

- Dạ, sắp...

- Chết ngay cho được việc, nghe không, thằng Việt gian ? Đừng tưởng bở mà sống mãi, tốn gạo...

- Dạ...

Dạ xong, 982 lật bật, cố gắng mãi mới ngồi lên được. Trời lạnh lại chưa sáng rõ, da thịt anh ta đen bầm lại như xác chết đã mấy ngày. Tên giám thị chỉ nhìn sơ qua rồi chậm chạp bước xuống thang. Hình như ý cố ngó khoảng đất dưới sàn để tìm biết bệnh của 982 nặng đến đâu rồi, nhưng trời chưa sáng hẳn nên không thấy gì trong đám cỏ.

Một hồi kẻng từ nhà tiểu công nghệ vang trong gió sớm. Giám thị vội vã quay đi, không nói một tiếng. 982 lại nằm vật xuống nghĩ thầm:

- Mình đóng kịch cũng không nỗi...tệ lắm!

Vụ ‘’đóng kịch’’ che mắt tên giám thị khiến 982 thích thú cả ngày hôm đó.

Lát sau, 982 vịn cột đứng lên, nhân lúc tên cảnh vệ ngồi trên chòi canh quay lưng lại, anh ta liền thò tay vào đầu ống tre, nơi giáp với mái rạ moi ra một miếng cơm cháy, bỏ vào miệng nhai trệu trạo. Đây là cái kho giấu đồ vật thức ăn mà anh ta đã tình cờ kiếm ra, trong một đêm không ngủ, đi du lịch và khám phá tất cả mọi nơi, mọi chốn, mọi khe, mọi lỗ hổng trên sàn lều.

Cây giũa Hợi đưa, cũng cất trong ống tre này. Muốn lấy, một tay đẩy mạnh mái rạ, tay kia thò vào trong lòng ống, móc ra. Riêng cây căm xe đạp vẫn gài kín trên mái, cứ đến đêm anh mở khóa cùm cho hai cẳng thảnh thơi, gần sáng mới đút chân vào cùm, tự tay khóa lại.

Sáng hôm qua thức dậy, anh hết hồn vì bị đi tiêu chảy, nhưng nhờ mấy viên thuốc Thanh cho -qua Hợi- anh hết bệnh. Mặt khác, cũng nhờ được ăn cơm cháy do Hợi tiếp tế, chứ nếu nhai hai bữa gạo sống mỗi ngày chắc chẳng thuốc nào chữa nổi.

Cây giũa và lưỡi dao, Hợi mang đến cho 982 một lần. Chỉ tiếc cây giũa đã rỉ, không còn sắc, 982 băn khoăn. Anh sẽ phải dùng tận lực mới hy vọng cắt đứt được hai mắt xích ở hai đầu xiềng trong khoảng thời gian ấn định. Bữa nay là 18, tối mai anh sẽ được giải thoát khỏi Trại Giam Đầm Đùn. Bao nhiêu sức lực phải dành cho giờ hành động sắp tới. 982 hồi hộp nghĩ đến những giờ phút quyết liệt tối mai. Theo kế hoạch, lúc trăng mọc là lúc anh sẽ được tự do ở trong rừng, đang cao chạy xa bay.

Đồ vật của 982 còn những gì ? Dù sao cũng phải mang đi theo vì nhiều lý do. Một bộ quần áo cánh còn lành lặn chưa in số tù, một bao tải cũ, một nón lá, tấm khăn quấn cổ bằng vải và đôi dép cao su ‘’con hổ’’ đã mòn hết đế. Ba miếng vải cũ lớn bằng chiếc khăn mùi xoa để dành từ khi còn bị khổ sai ở Việt Bắc cũng mang theo về Đầm Đùn. Tất cả sẽ bỏ trong bao tải, còn vốc gạo sống nhặt nhanh bỏ vào trong tấm khăn quấn cổ, xếp khăn lại như ruột tượng thắt ngang bụng. Chiếc nón lá bỏ lại vì sợ gây ra tiếng sột soạt. Đôi dép cao su mang luôn vào chân khỏi sợ gai góc và đá nhọn lởm chởm trên đường.

Cây căm xe đạp, cây giũa và lưỡi dao sẽ mang theo. Trừ cây căm chỉ dùng một lần để mở khóa, con dao và giũa sẽ cần đến luôn, hai thứ này phải dắt kỹ trong người. Con dao rèn theo dáng dao găm, nhọn mũi sống khá dầy, đào ngạch rất tiện...

982 vẫn miên man tính toán. Mưa đã tạnh hẳn. Nhờ miếng cơm cháy vừa nuốt, bụng anh đã hết cồn cào.

Tù nhân đã ăn xong bữa chiều, một số đang dọn dẹp bát đũa xuống nhà bếp. Lính cảnh vệ đi lại quan sát. 982 nhận ra vẻ khác thường trong cử chỉ của bọn cảnh vệ. Hình như có xảy ra chuyện gì nên 982 thấy tù nhân vội vã, khúm núm, len lén hơn ngày thường.

Đến lúc xếp hàng về trại ngủ, tù nhân đi trong hàng ngũ chỉnh tề hơn mọi ngày. Cả những tù bệnh, ốm đói, què chân vì sâu quảng, vì đạp phải gai, mảnh sành, vì tai nạn cây đè, cũng cố tập tễnh vịn vào vai người khỏe, chạy theo cho kịp cả bọn.

982 nghe tiếng quát tháo rồi có tiếng rên la thảm thiết. Một tên giám thị đang giơ roi vụt một con vật trên mặt đấy, như đang đánh một con chó thì phải.

Nhưng trại giam không nuôi chó. 982 giương mắt nhìn kỹ, một tù nhân què đi không được bằng hai chân, phải ngồi một cách chật vật, lết một bước lại nghỉ một lần. Có lẽ tù nhân này làm mất thì giờ của giám thị nên bị ăn đòn chăng ?

Rồi có hai tù nhân tách khỏi hàng, lại xốc cánh đồng cảnh đang lết đứng lên, dìu hắn đi một cách khó khăn.

982 còn thấy cái hình dáng tập tễnh té xuống hai, ba lần trước khi lần về tới trại ngủ.

Cảnh tượng trên khiến 982 suy nghĩ đến khuya không ngủ được. Đêm nay là đêm thứ ba, 982 dùng cây căm xe đạp mở khóa rút hai chân ra khỏi cùm cho bớt tê bại. Anh xoa nắn hai cẳng từ bắp đùi trở xuống đến đầu các ngón chân cho mạch máu chảy đều. Tối mai anh sẽ dùng đến hai cẳng chân ‘’thiên lý mã’’ này. Mắt cá chân bị ăn đòn trượt búa của thợ rèn đã gần hết nhức nhối tuy vẫn tím bầm như quả bồ quân. Cũng còn may vì vết thương không biến thành sâu quảng, 982 mừng thầm tự nhủ, nếu bữa đó, thằng cha thợ rèn mạnh tay chút nữa, mình đành bỏ mạng tại ‘’sa trường’’. Hoặc què không đi được, hoặc vết thương lở loét thành sâu quảng! Đằng nào cũng chết. Còn may!

Trong ‘’kho’’, 982 còn hai phần cơm cháy để dành cho hai bữa ngày mai. Nếu ngày mai, Hợi có dịp mang gạo sống và tiếp tế thêm cho ít cơm cháy nữa, sẽ sung sướng biết dường nào! Sẽ để dành cho những ngày sống trong rừng.

Đêm đó, cứ chợp mắt được hơn tiếng đồng hồ, 982 lại giật mình thức dậy. Bốn bề lặng lẽ như bãi tha ma. Thỉnh thoảng tiếng mõ lách cách cầm canh vẳng tới càng làm tăng vẻ chết chóc thê lương trong trại. Tiếng gà eo óc gáy trong trại chăn nuôi nghe xa xôi như từ trong làng xa.

982 bỗng đứng thẳng lên lần từng bước, đi quanh trên sàn một lát, đứng lên ngồi xuống như người tập thể dục. Xong, anh nằm ngửa, co đầu gối lên ngực, đạp chân một hồi như đạp xe máy. Đến lúc thấy nóng ran cả người, anh ta mới ngưng, cho chân vào cùm khóa lại. Hai cẳng chân vẫn mạnh, chưa bị cùm và sự dinh dưỡng thiếu thốn làm cho thương tổn. 982 thêm vững bụng.

Khoảng ba giờ sáng, bỗng thấy có ánh đèn ngoài sân đi xuống khu trại giam những người bị án tử hình. Ánh lửa ngừng bên ngoài xà lim, lát sau một người cởi trần chập chững đi ra, bước theo người xách cây đèn bão. Đi sau người tù, một tên lính cảnh vệ cầm súng, lưỡi lê sáng loáng phản chiếu ánh đèn theo nhịp bước.

Cả bọn ba người vào bên trong nhà tiểu công nghệ. Khoảng nửa giờ sau, cây đèn sáng trong tay người giám thị rời nhà tiểu công nghệ, đi ra sân trước rồi chập chờn tiến về cổng sau của trại giam, ra khỏi trại mất hút.

982 biết người tù bị án tử hình vừa ăn bữa cơm thịnh soạn -bữa ăn cuối cùng- trước khi thân xác hắn ‘’hoàn thổ quy nguyên’’. Hình như có tiếng khóc lóc khi người tù ra khỏi trại được một quãng. Nhiều người tù bị đói lâu quá nên chỉ cầu được ăn một bữa cơm ngon, no phưỡn bụng rồi chết cũng cam lòng. Nhưng trái lại, người tử tù lúc sắp phải ra bai, ngồi trước mâm cơm thịnh soạn, có thức ăn tráng miệng và điếu thuốc lá, kể cả những tay gan lì nhất, chỉ ăn được vài miếng và trái chuối là tắc họng, hết nuốt được vì sợ.

Nhớ những lời đồng cảnh kể lại, 982 thấy ớn lạnh cùng mình. Tình cờ khuya nay, anh ta chứng kiến một vụ ‘’ra bai’’. Là người theo Đạo Phật, nhưng chưa bao giờ 982 tụng một câu kinh đọc một câu kệ, chỉ ngồi chắp tay trước ngực, nhắm mắt lại mà hồi hộp.

Lát sau, một tiếng súng vang đưa tới, 982 tưởng tượng một bộ xương ngã gục xuống trong khi một điểm linh hồn oan ức thoát ra bay lên thinh không. Bất giác, anh ta nghĩ đến hoàn cảnh của mình rồi tự nhiên, từ miệng 982 bật ra lời niệm Phật trước đó anh ta không hề nghĩ tới:

- Nam Mô A Di Đà Phật!

Dường như trong khi niệm Phật nguyện cầu cho người tù ‘’ra-bai’’ được siêu thoát và nhất là cho mình khỏi sợ, 982 cảm thấy nỗi thống khổ triền miên của chính anh nhẹ đi phần nào. Anh ta chắp tay, đọc thêm mấy chục lần nữa câu ‘’Nam Mô A Di Đà Phật’’, rồi nằm xuống nghĩ vơ vẩn.

Quá trưa một lát, khi tù nhân trong trại đã đi lao tác rồi, 982 bắt đầu bồn chồn, nóng ruột, hồi hộp, lo lắng không yên.

Hôm nay là 19 âm lịch, ngày trọng đại đối với đời anh, ngày cuối cùng của anh trong Trại Giam Đầm Đùn, hoặc là ngày áp chót của đời anh nếu anh trốn không thoát.

Lúc đó vào khoảng hai giờ trưa, vì ánh nắng đã chiếu xiên vào đúng mép sàn lều. Khi nào bóng mái rạ lùi đến chân cột giữa là năm giờ, giờ chuẩn bị.

Nhưng bắt đầu từ 2 giờ trưa, thời khắc trở nên nghiêm trọng, 982 hồi hộp lạ thường. Trong đời, anh đã gặp nhiều trường hợp quan trọng, hiểm nghèo, nhưng ít có lần xúc động run rẩy như thế này. Vượt một trại giam cộng sản, có nghĩa như đánh tiếng bạc chín mươi phần trăm thua, chỉ có mười phần trăm thắng. Là vì dưới chế độ cộng sản, nhân dân là tình báo đắc lực của nhà nước. Lọt qua khe lưới tình báo của nhân dân là một việc khó khăn vô cùng, từ khi cộng sản nắm chính quyền, ít người làm nổi. Thời gian hoạt động cách mạng ở bên ngoài, 982 đã có nhiều dịp biết rõ điều đó.

Mặc dầu vậy, 982 vẫn phải tiến hành theo kế hoạch đã ấn định, không thể lùi được nữa. Cho là thua cũng chỉ đến ‘’ra bai’’ là cùng!

Sáng nay, thiếu niên Hợi đã đem gạo sống đến cho bác Dũng với một vốc cơm cháy phơi khô. Đó là cơm cháy Hợi để dành cho mình phòng khi cần đến, nay lấy hết ra tặng luôn bác Dũng. Hai bác cháu nói một vài lời từ biệt vắn tắt rồi Hợi chúc 982 can đảm, có đầy đủ nghị lực thực hiện mong ước.

Trước khi Hợi quay về lò rèn, cậu ta còn dặn thêm một lần nữa:

- Xin bác nhớ, đừng để lại đồ vật gì có thể khiến ban quản trị tìm ra những người liên can. Phải tiêu hủy liền khi không cần dùng đến những thứ đó.

- Bác đã nhớ kỹ, cháu hãy yên tâm.

Hợi đi thẳng một mặt về lò rèn, chẳng hề ngoái cổ lại. Cả ngày hôm đó, giám thị không héo lánh đến lều lần nào. 982 cho là điềm may vì anh ta có cảm giác lo lắng mỗi khi giám thị tới. Chỉ sợ lỡ ra, hắn phát giác được sơ hở nào đó và suy đoán ra mưu định của anh thì thật nguy hiểm, không sao nói hết. Nguy hiểm cho anh mà người khác cũng liên lụy.

Quá năm giờ chiều, trời sắp tối chạng vạng, mặt trời đã xuống thấp sau rặng cây phía Tây. Tù nhân lũ lượt về trại nghỉ sau hồi kẻng.

Những nữ tù nhân (trại phụ nữ) gánh nước tưới cây hoặc sàng gạo trong nhà tiểu công nghệ đã đem dụng cụ cất vào kho, tù nhân thuộc ban canh nông, trồng trọt, cuốc đất, kéo cầy gần trại cũng đã tấp nập trở về. Lát sau, bọn tù làm củi về tới, đi một hàng dài như đoàn dân công. Trời tạnh ráo nên thân hình họ bớt tiều tụy. 982 sực nhớ lại buổi đi làm củi trong rừng, lần đầu tiên xung phong khi về Trại Đầm Đùn này, rồi nẩy sinh ý kiến bắt kiến bò nhọt cho tổng tấn công rận khiến gây ra hậu quả tai hại ngày nay. 982 bất giác thở dài, không thể ngờ mình bị phong vương. Và càng không thể ngờ mình vượt trại giam tối hôm nay. Mọi sự xẩy ra như trong giấc mơ.

Trong khi tù nhân ăn cơm, để tiết kiệm thì giờ, 982 cũng lấy một nắm cơm cháy phơi khô nhai một cách ngon lành. Gạo sống đã hốt hết vào trong tấm khăn quấn cổ. Quần áo xếp gọn ghẽ với bao tải thành một bọc nhưng chỉ mới cột sơ sài, đề phòng giám thị hay cảnh vệ bất ngờ đến khám xét, chúng thấy khác sẽ nghi ngờ chăng ?

Từ hôm được tiếp tế cơm cháy, 982 nhớ lại chưa bị quá đói bữa nào. Nhờ thế sức khỏe của anh hồi phục thêm chút đỉnh. Cái lõi ngô 271 cho bữa nọ, 982 đã nhai nát hít hết nước, rồi phơi bã trên sàn để dành. Hôm qua anh ta chỉ nhai lại sơ qua rồi nhổ đi, không nuốt. Vì chẳng còn bổ béo gì, không khác nhai cái sơ mướp khô vẫn dùng để rửa chén đũa.

982 nhai thêm nắm cơm cháy phơi khô để lấy sức vững vàng, uống một hơi lưng ống nước mưa, bụng bảo dạ phải uống hết ống nước mưa này trước khi xuống lều, kẻo phí. Miếng nước trong lành đối với tù nhân cũng quý không kém ‘’ngọc thực’’.

Trời đã xâm xẫm. Bóng tối từ dưới đất chui lên xóa mờ rất mau các ngọn cây trong rừng phía trước mặt. Sương mù chập chờn bao phủ mái nhà tiểu công nghệ và trại ngủ. Đây đó trong trại, ánh đèn dầu le lói nức nở sau màn sương như những hơi thổn thức của người tù. Hình dáng tên lính cảnh vệ ngồi trên chòi canh đã nhòe vào bóng đêm. Tiếng côn trùng rỉ rỉ dưới cỏ như tiếng than dài của những tù nhân bạc phước sống những ngày đói khát liên miên bất tận, lao động kiệt sức, không biết sống chết lúc nào, không biết kêu xin cầu cứu với ai cho bớt nỗi thống khổ.

982 thấy phấn khởi trong lòng. Trốn là phải, trốn là cách tranh đấu tích cực nhất của người tù dưới chế độ cộng sản nếu không thể làm reo hay phá trại. Anh ta đưa mắt nhìn quanh hai ba vòng, nhìn thật kỹ từng khoảng một. Giờ này cảnh vệ hoặc giám thị không đến đây bao giờ. Có thể khởi sự. 982 nghe rõ hơi thở hồi hộp của mình. Anh đặt tay lên ngực để trần tĩnh. Trong lúc sự sống và sự chết chỉ cách nhau gang tấc, anh mới cảm thấy có sức mạnh kỳ bí, linh diệu chi phối mọi cuộc sống trên thế gian này. Anh nghĩ đến những người đã bỏ mạng trong trại từ trước khi anh tới, những người đã chết vì tù đày, vì cách mạng mà linh hồn lảng vảng trong rừng núi âm u không siêu thoát được. 982 ngước nhìn lên cao, chấp tay trước ngực, van vái ‘’những vong hồn phò hộ cho anh vượt qua những hiểm nguy đặng trốn thoát’’. Vì không nhất tâm theo một tín ngưỡng chân chính nào, anh ta trở thành mê tín, dị đoan những lúc hiểm nghèo.

Lát sau, tâm trí 982 bình tĩnh trở lại. Lần thứ hai, anh ta nói thầm như ra lệnh cho chính mình:

- Đã tới giờ, khởi sự là vừa!

Tay vịn cột, 982 vươn mình lên, lùa tay trong mái rạ, rút ra cây căm xe đạp. Vì đã quá quen tay, chỉ tò mò sơ qua là anh lách được đầu mẫu cây căm vào lỗ khóa. ‘’Cách’’ một tiếng, lò xo bật, khóa mở. Bỏ khóa xuống sàn, lựa thế tháo rời hai tấm ván dầy của cùm, 982 rút hai chân ra nhẹ nhàng, không mảy may gây tiếng động. Anh dắt luôn cây căm vào cạp quần, định bụng vào đến rừng sẽ liệng bỏ.

Xếp hai tấm ván cùm lại bên cột, 982 rờ sang bên trái, đặt tay lên bọc quần áo, dùng sợi dây chuối cột sơ lại cho khỏi rơi rớt lung tung rồi nhanh nhẹn lại ‘’kho’’ một tay đẩy góc mái lên, tay kia thò vào trong lòng ống tre rút ra cây giũa. Bên trong còn cơm cháy, gạo và con dao, lát nữa cắt xiềng xong sẽ lấy sau.

982 ngồi phệt xuống sàn, dựa lưng vào cột, quay lại về phía nhà tiểu công nghệ coi chừng, một tay giữ cứng mắt xiềng nối liền với khoen sắt, tay kia cầm chắc cây giũa, bắt đầu cắt xiềng.

Tiếng giũa cọ trên mắt xiềng bằng sắt ken két như tiếng nghiến răng. Những nhát đầu tiên, giũa chưa ‘’ăn’’ nên trơn trợt, 982 phát hoảng. Anh dùng đầu ngón tay làm cỡ giũa thật mạnh mươi cái đều tay. Quả nhiên đã có một đường rãnh làm cỡ, 982 tiếp tục giũa theo rãnh đó. Nhờ đã ‘’luyện tập’’ nhiều lần (nhưng không có giũa) anh không đến nỗi lúng túng. Trời tối mịt, mấy con đom đóm lập lòe nhởm nhơ bay ngoài sân, trên bãi cỏ quanh lều. 982 luôn luôn đảo mắt nhìn tứ phía, đề phòng mọi bất ngờ, tay vẫn giũa đều. Cạnh giũa không bị trơn trợt nữa, 982 rờ vào đường cắt trên mắt xích thấy ‘’rãnh’’ đã khá sâu, 982 yên trí đều tay giũa tiếp.

Đột nhiên, cây giũa kẹt cứng, 982 dạng hai chân căng thẳng sợi xiềng rồi hai tay nắm giũa giựt mạnh cho bứt ra. Bằng ngón cái và ngón trỏ, 982 rờ thấy mắt xiềng. 982 lại cắm cúi giũa mạnh tay hơn. Chà! Nóng quá, tay nắm mắt xiềng muốn bỏng. 982 ngậm cây giũa ngang miệng, cởi áo làm đồ lót tay sau khi dốc ít nước vào áo cho ướt. Rồi tiếp tục giũa thật hăng, kết quả sờ thấy rồi! Mừng ơi là mừng!

Chừng hút tàn điếu thuốc lá mắt xiềng đã đứt hẳn một đường khá rộng, đủ tháo lọt. Công việc cắt xiềng mới xong một nửa 982 đã thấy phấn chấn quá chừng, anh ta nhe răng ra cười trong bóng tối tự thưởng công rồi dạng chân thật rộng để hưởng cái thú tự do, hai cẳng không bị xiềng liến với nhau nữa tuy một bên chân vẫn đeo sợi xiềng.

982 lại tiếp tục giũa mắt xiềng nối với khoen sắt ở cẳng chân bên phải. 982 thuận tay phải nên công việc cắt mắt xiềng này khó khăn hơn vì luôn luôn tay bị vướng khoen sắt. Anh ta chăm chú hết tinh thần vào công việc, thay đổi cạnh giũa hai, ba lần đề lựa cạnh sắc, nghiến răng lại giũa cho mau đặng kịp thời gian giành cho việc này. Nửa giờ phải cắt đứt một mắt. Công việc còn nhiều khó khăn lắm mà vẫn chưa xong giai đoạn đầu.

982 thấy bàn tay đã tê dại vì gắng sức quá mức. Anh nhẹ nhàng bỏ giũa xuống mặt sàn, rón rén vì thói quen đứng lên nhấc ống tre đựng nước treo trên cột ‘’làm’’ một miếng nước. Rồi treo ống tre lên, tay rờ rờ trên mặt sàn kiếm cây giũa, tiếp tục cho chóng xong. Thời giờ đi mau quá, nhưng...

Thiếu chút nữa anh ta nói bật thành tiếng:

- Ô hay! Giũa biến đâu mất rồi!

982 xòe rộng hai bàn tay, nhè nhẹ dạo lên mặt sàn, đưa qua đưa lại vẽ thành những hình cánh cung trong đêm tối mười mấy hai chục lượt mà vẫn không rờ thấy cây giũa đâu. Bất giác anh ta toát mồ hôi đầm mình, lặng đi suy nghĩ. Thì mới vừa đặt cây giũa trên sàn, cạnh cột lều mà!!

XIV.

 

982 chợt nhớ ra rằng cả mặt sàn chỉ có một khe hở đủ rộng đút lọt ngón tay cái, tuy người đóng đã ghép thêm một thanh tre để bịt kín, lâu ngày, thanh tre tóp lại nên khe hở vẫn còn. Do khe hở này, cây giũa lọt xuống đất chăng ? Mà dưới đất lại toàn là cỏ mọc rậm rạp, bây giờ kiếm tìm cây giũa trong đêm tối mới thật khổ vô cùng!

982 điếng người đi vì hoảng sợ. Chỉ sơ ý một chút mà hậu quả dường này! Bây giờ, phải xuống dưới đất mò kiếm cây giũa. Nghĩ vậy, anh ta trố mắt ra nhìn quanh quẩn, lắng tai nghe ngóng thật kỹ về phía chòi cảnh vệ, khi yên trí không có gì khác thường mới bước xuống thang tre, một tay cẩn thận nhấc sợi xiềng lên cao cho khỏi va chạm thành tiếng.

Đến đất, 982 dò dẫm từng bước chân, đi đi lại lại trên đám cỏ, một tay vẫn nhấc cao sợi xiềng, tay kia rờ lung tung trên cỏ, mò mẫn như người mù kiếm cây gậy. Mười phút đã trôi qua mà không thấy cây giũa đâu, thật nguy vô cùng! 982 vừa giận vừa lo. Anh ngửng kiếm, ôn lại những cử chỉ của mình từ lúc bỏ giũa xuống sàn, đứng lên nhấc ống tre đựng nước, treo ống tre, rờ kiếm chiếc giũa...Không có lý nào!

Một ý nghĩ bỗng nẩy ra trong đầu. 982 lại leo lên sàn ngồi đúng chỗ vừa rồi.

Anh đút ngón tay lọt qua khe hở mò theo lòng ống tre đóng ghép vào mặt dưới sàn, rồi ‘’à’’ một tiếng trong cổ họng. Thì ra cây giũa đã lọt qua khe hở, nằm dưới lòng ống tre như nằm giữa lòng máng sối.

982 mừng quá, dùng cây căm xe đạp móc ra. Cây giũa đây, trong tay đây rồi. Sợ vô ý làm rớt, anh ta gài cây căm lên mái rạ cẩn thận ngay kế bên đầu cây cột tre cho dễ kiếm rồi vội vã tiếp tục giũa mắt xiềng. Mất mười phút vô ích và kinh hoàng!!

Một lúc sau, khi cánh tay đã mỏi rời và hai hàm răng cũng ê dại vì nghiến chặt vào nhau lấy sức thêm cho cánh tay, 982 đã cắt đứt sợi xiềng khỏi khoen sắt. Anh ta nhẹ nhàng đặt sợi xiềng trên bọc quần áo rồi đi lại vài bước, cân não căng thẳng trước kết quả đầu tiên, mặt nóng bừng như đứng gần bếp lửa mùa Đông. Tình thế thật sự nghiêm trọng. Bước sang giai đoạn hai. Anh ta đếm trên đốt ngón tay, lẩm bẩm:

- Cây giũa.

- Con dao.

- Cây căm.

- Sợi xiềng.

Có bốn thứ tất cả, bốn thứ bằng sắt phải nhớ mang theo vào rừng kẻo nguy hiển cho người ở lại. Trong bốn thứ, ban quản trị chỉ lượm được một cũng phăng lần ra tòng phạm vụ vượt ngục.

Bây giờ, lấy cơm cháy, gạo, lưỡi dao găm ra, cột quần áo lại làm một buộc, rồi xuống lều...

Tay không rời chiếc giũa, 982 lại góc lều, móc con dao găm trong ống tre ra gài vào lưng quần, rồi bốc hết những miếng cháy bọc riêng vào một mảnh vải, buộc thất kỹ. Anh ta vét không còn hạt gạo nào bện trong ống tre. Thế là hết, không còn gì bỏ quên ở lều phong vương nữa.

982 đặt bọc cơm cháy vào giữa giải khăn vải rồi, thắt liền giải khăn quanh bụng như mấy người thiếu nữ quê thắt hầu bao. Anh ta bỏ cây căm, sợi xiềng, mấy cái quần áo vào trong bao tải, dùng dây cột chặt chẽ theo chữ thập. Lúc đó, 982 mới cảm thấy hai tay buộc dây run cầm cập. Mồ hôi ướt dinh dính trên trán, trong người lại thấy ớn lạnh, 982 rùng mình mấy lần như sắp lên cơn rét.

Đôi dép cao su đã mang vào chân. Gan bàn chân anh cũng ướt nhèm mồ hôi. Một tay xách bọc quần áo, một tay cầm dao và giũa. Còn ống tre và chiếc nón lá, thôi đành bỏ lại. Hai tấm ván cùm đã xếp bên nhau, đặt sát cột lều. 982 thì thầm: Thế là xong! Trong óc anh ta hiện lên hình ảnh Hợi, người có công sức nhất trong vụ trợ giúp anh vượt trại giam đêm nay. Giờ phút được giải phóng, 982 thấy thương và mang ơn Hợi vô cùng.

- Cây giũa, con dao, cây căm, sợi xiềng bốn thứ đủ cả! Cơm cháy trong ống tre đã vét sạch không còn một hột. Yên trí không để lại dấu vết nào!

982 lần tay rờ ruột tượng (đựng gạo sống và cơm cháy) thắt quanh bụng. Chắc chắn không sợ sút nhưng gạo phồng cả một bên, 982 thót bụng lại, xoay khoảng khăn đựng gạo qua cạnh sườn bên trái.

Vậy là xong hết. 982 ngồi thụp xuống, dáo dác nhìn quanh hai ba lượt, ngó kỹ về nhà tiểu công nghệ, trại ngủ, lấy hết tinh thần lắng tai nghe khắp mọi phía. Sương mù xuống thật dầy, bóng tối đã hoàn toàn ngự trị nên chỉ thấy đen thui. Không còn một ánh đèn. 982 lặng lẽ xuống thang, tim đập như trống làng, hai chân muốn run.

Đến chân thang, anh ta quay mặt lại hàng ráo, lom khom bắt đầu bước, đếm thầm:

- Một...hai...ba...

Rồi đếm 30 bước chân. Theo ước lượng, nhiều nhất cũng chỉ 32 bước chân là phải tới bên hàng rào. 982 chìa tay ra phía trước như người mù do đường. Nhưng đếm đến 32 bước rồi 33, 34, 35...38 cũng chưa gặp hàng rào. 982 băn khoăn, ngồi thụt xuống, suy nghĩ. Có lẽ đi trật đường, đi vòng quanh nên không gặp hàng rào. Trời tối thui, trố mắt nhìn cũng không thấy đầu ngón tay. 982 sực nhớ lại một nhận xét anh đã đọc trong một bài nghiên cứu về cơ thể học, cho rằng: ‘’Những người thuận tay phải khi bị lạc trong rừng thường có khuynh hướng đi quẹo về bên tay phải trong khi thuận tay trái thì có khuynh hướng ngược lại’’.

- Có thế chăng ?

982 chìa bàn tay ra trước mặt dò dẫm bước hơi xiên qua bên trái...Bỗng có cảm tưởng như cỏ dưới chân rậm và cao hơn, rồi...tay đụng phải chướng ngại! Đây rồi, hàng rào nứa đây rồi, 982 mừng quá, nghe ngóng động tĩnh, vẫn yên lặng hoàn toàn. Đặt bọc quần áo xuống cỏ, anh ta rờ lên rào nắm một cây nứa cho chắc dạ là đúng, rồi dò dẫm trên khoảng đất dưới chân. Gài cây giũa thật kỹ vào thắt lưng cho khỏi rớt lần nữa, 982 cầm lưỡi dao ấn mạnh xuống đất coi cứng, mềm ra sao. Mùa này, trời còn mưa phùn luôn nên đất mềm và ẩm ướt.

982 mừng thầm, khởi sự đào đất liền. Trong trí, anh ta định đào một lỗ tròn lớn bằng cái rổ ở phía bên này rào sâu chừng 40 phân, rồi đào mé bên kia rào một lỗ tương đương để làm nột cái lỗ ‘’chó chui’’. Sau đó, 982 sẽ đào van vát từ lỗ ra xa phía ngoài một chút đặng lấy chỗ thấp nằm xuống mà lách mình chui dưới rào.

Bọc quần áo đặt ngay kế bên. 982 luôn tay đào và vét đất. Thỉnh thoảng, dao chạm phải cục gạch hay hòn đá, bật ra tiếng ‘’cách’’. Nhưng không sao, chòi lính cảnh vệ xa nơi đây tới 60 thước, dễ gì phát giác được.

Đào xuống sâu, đất lép nhép như đất bùn.

982 khẽ khỏa tay trong lỗ ước lượng đường kính. Đã đủ rộng và đủ sâu. Bây giờ 982 quỳ xuống đào rộng sang phía bên kia. Lưỡi dao không dài quá một gang, bản dao lại hẹp nên đào rất chậm.

Đã thế, dao lại không có cán, khó cầm. Nhưng dù sao, còn hơn phải dùng cây hay mảnh sành, còn khó khăn và mất thì giờ gấp bao lần nữa. Mà chắc đâu đã kiếm được!

Chừng 12 phút sau, 982 nằm sấp xuống chui thử, gần được! Cần đào van vát ra phía ngoài thêm một chút nữa. Việc này không quá năm phút là xong.

982 tự nhủ ‘’đủ chui rồi’’, cầm bọc quần áo đưa lọt qua bên kia rào. Rờ tay vào bụng kiểm soát lại, cây giũa còn đây. Yên trí, 982 nằm ngửa cho hai cẳng chân qua trước rồi tuồn dần. Tới khúc bụng, anh vẫn nằm ngửa, nhích dần từng chút...Hai cẳng chân đã đặt lên mặt đất phẳng và mát lạnh. Anh biết đã lọt vào con đường nhỏ chạy giữa hai hàng rào, dùng riêng cho nhân viên trại đi tuần.

982 ý tứ nhè nhẹ ngồi lên, yên lặng ngó bên phải bên trái con đường ‘’tử thần’’, rồi xách bọc đồ đến sát mép hàng rào thứ hai. Anh ta dò dẫm, lựa chỗ đất mềm khởi sự đào một lỗ như vừa rồi. Đất phía bên này lổm nhổm đá, khó đào hơn. Nhưng 982 không sợ. Dù sao cũng còn gần hai tiếng đồng hồ nữa, trăng 19 tới 10 giờ mới mọc, dư thì giờ.

982 nghiến răng bẩy từng miếng đất lổm nhổm gạch và đá. Công việc này sở dĩ khó khăn là vì làm ban đêm mò mẫm trong bóng tối, chứ nếu có ánh sáng thì không nghĩa lý đối với tù nhân của trại giam cộng sản. Anh ta ngừng tay nghỉ mệt một phút, đưa khuỷu tay lên chùi vì mồ hôi chảy vào mắt làm cho xót. Rồi lại nghiến răng tiếp tục đào, nghĩ thầm:

- Đào nốt một nửa lỗ phía bên kia rào là được tự do. Dũng ơi! Rán lên!!

982 gọi tên mình để tự khuyến khích thêm hăng hái mỗi lần phải vượt hiểm nguy.

Rồi nhoài mình xuống đất lia lưỡi dao dưới chân rào, qua mé bên kia. Từng tảng đất lở ra rơi xuống đáy lỗ. Anh ta cúi rạp xuống vốc đất bỏ ra bên ngoài. Lát sau, 982 đưa bọc quần áo qua mé bên kia trước, rồi nằm ngửa đưa trước hai cẳng nhân, tới mình, tới đầu. Lọt qua hết không khó khăn. 982 nhè nhẹ ngồi lên:

- Thế là thoát! Con cảm tạ Trời Phật giúp con tìm được lối thoát.

Trong lòng mừng rỡ như mở cờ nhưng 982 cảm thấy có mấy giọt nước âm ấm trên má. Đúng vậy, anh ta mừng rỡ đến chảy nước mắt vì đã vượt qua phân nửa khó khăn, một nửa đoạn trường.

Sực nghĩ đến Hợi, anh ta tự nhắc nhở để kiểm điểm lại, cây căm và sợi xiềng ở trong bọc. Cây giũa gài ngang bụng. Con dao cầm trên tay. Đủ hết!

Không thèm quay nhìn về phía trại lần cuối, 982 cắp bọc quần áo, một tay lăm lăm con dao làm khí giới tự vệ, hướng về phía rừng cây. Bóng tối dầy đặc quanh mình. Nhưng 982 vẫn dò dẫm bước...

Nhìn lại sau lưng, nhìn về đằng trước, chỉ có đen tối. Trại Đầm Đùn đã chìm nghỉm mất dạng. 982 hồi hộp tưởng đâu như vừa rời khỏi địa ngục, trên đường trở về dương thế.

Bước dò dẫm được một lát, 982 nhận thấy đất dưới chân bớt gồ nghề lồm nhổm. Rồi mặt đất bằng phẳng như anh đang đi trên một con đường mòn hẳn hòi. Khấp khởi mừng thầm 982 còn đang tự nhủ đừng đi chệch đường đã hổng chân bước hụt xuống một cái hố, lộn nhào một vòng, bọc quần áo văng đâu mất chỉ còn con dao nắm trong tay.

Mình mẩy đau nhừ, ê ẩm, anh ta nén cái đau, mò mò trên mặt đất vẫn không tìm thấy bọc quần áo.

- Thôi, đành chờ trăng lên mới kiếm được bọc đồ và đường đi. ta tìm chô ngồi nấp đỡ một lát.

Khi đó, 982 mới thấy khô cổ và hai cánh tay rã rời nhọc mệt. Anh ta ngửa mặt nhìn lên. Nền trời lấp lánh vài ngôi sao và chân trời phía Đông đã hơi sang sáng. Trăng sắp mọc. Như vậy, anh đã tính sai thời gian dùng vào việc đào ngạch hơn nửa tiếng đồng hồ. Nhưng còn may. Trăng đã mọc mà chưa thoát ra ngoài hàng rào trại mới thật là...chết!

Lát sau, đêm đã bớt tối, anh nhận được một lùm cây um tùm cao ngất lờ mờ in trên nền trời. Như vậy, gần đây có một cây cổ thụ lớn. Đúng rồi, mấy bữa trước, ngồi trong lều phong vương ngó ra, anh vẫn thấy tàn một cây cổ thụ vượt lên cao khỏi rừng cây. Nếu thế, chưa đi xa trại bao lăm. Chưa quá 500 thước.

Bỗng 982 đá phải một vật gì mềm. Anh ta mừng rú khi nhận ra bọc quần áo, lượm lên liền, rồi bước về phía trước nhưng không dám đi mau, sợ lọt xuống khe hay hốc thì thật là nguy hiểm.

- Kiếm một cành cây làm gậy chống như người mù lại tốt và đỡ nguy hiểm. Trong khi trăng chưa lên, đi xa được quãng nào, tốt quãng ấy.

Những khu thưa cây, đường đi thấy lờ mờ, 982 ngó về phía Đông, vầng sáng đã lộ hẳn ở chân trời. Trăng đang mọc. 982 quyết định ngồi nghỉ, đợi trăng lên...

Bỗng 982 cảm thấy rờn rợn...Vì Trại Đầm Đùn kinh khủng quá, anh chỉ có ý vượt ngục nên chưa thấy đi một mình vào rừng là việc nguy hiểm và đáng sợ vô cùng. Lúc này, hết sợ trại giam cộng sản lại bắt đầu thấy sợ nhiều thứ khác, sợ thú dữ, sợ đi một mình trong rừng đêm, sợ ma quỷ...Bao nhiêu người đã bỏ thây trong rừng và trở thành hồn ma bóng quỷ...Để tự trần tình, 982 nhủ thầm:

- Ma quỷ cũng không nguy hiểm bằng giám thị, cảnh vệ Trại Đầm Đùn. Không ‘’đi’’ đến đâu! Không có gì đáng sợ!

982 nói đúng hoàn toàn: Ma quỷ không hành hạ người, không đánh người lòi xương rách da, không bắt nhịn đói, nhịn khát không đem tù ‘’ra bai’’ vô cớ. Vậy, đi đêm trong rừng không có gì đáng phải sợ đối với người tù phong vương vượt ngục.

Anh ta chuẩn bị tinh thần như vậy rồi lần đến bên một gốc cây lớn, rễ mọc chồi khỏi mặt đất như mình con trăn, ngồi dựa vào thân cây, ôm bọc hành lý trước bụng, ruỗi thẳng chân cho thoải mái đặng lát đi nữa. Anh lấy làm lạ vì khi còn bị cùm ở lều phong vương tưởng tượng lúc ra bên ngoài sẽ đâm đầu mà chạy, bất kể tối tăm. Vậy mà lúc này anh lại bình tĩnh ngồi nghỉ ngơi đường hoàng chờ trăng lên...Cho hay tưởng tượng với thực tế thường khác nhau rất nhiều.

Mảnh trăng hạ tuần nhô cao dần. Ánh trăng bàng bạc đã lọt vào tới khu rừng, từng mảng sáng rải rác quanh nơi ngồi nghỉ. Anh ngó đôi khoen sắt còn đeo nơi cổ chân. Bùn lấm be bét từ đầu gối trở xuống. Nhưng việc cần làm ngay là chạy cho xa Đầm Đùn. Những cảnh thường ngày trong trại giam lại hiện ra trước mắt.

982 như người tỉnh giấc mơ, lật đật đứng lên tiếp tục đi theo con đường mòn nho nhỏ, tiến vào rừng thưa.

Cứ đi như thế được hơn tiếng đồng hồ vượt qua một quãng đường chừng hơn một cây số, 982 mới kiếm gốc cây, ngồi nghỉ, vì đã mệt và đói bụng.

Sực nhớ đến ‘’ruột tượng’’ gạo, 982 hốt hoảng kiểm soát lại. Chết rồi, bọc gạo buộc ngang bụng lép xẹp, mất hơn nửa. Anh ta nắn nắn giây lát rồi ngẩn người ra vì tiếc và lo. Thì ra khi nãy té ‘’ruột tượng’’ bị bung ra, gạo sống theo kẽ hở vãi gần hết.

982 kiếm sợi dây leo buộc chặt nơi khăn rách dồn gạo về phía khác cho khỏi chẩy. May thay, vốc cơm cháy còn nguyên nhờ còn lượt khăn nữa bao kín.

982 ngại ngùng nhìn bốn bề. Nơi anh đang đứng vẫn là khu rừng thưa, đi không cần len lõi bao nhiêu. Nhưng phía trước chỉ thấy đen ngòm, tàn cây rậm rạp quá, ánh trăng không lọt xuống tới mặt đất. Đi nữa cũng sợ và nguy hiểm. Vả lại, cũng mệt rồi. Chi bằng kiếm cây leo lên ngồi nghỉ, mai sớm sẽ tính.

Nghĩ vậy, 982 kiếm chỗ ẩn nấp qua đêm. Tuy trăng đã lên cao mà rừng phía trước còn tối lắm, không nhìn rõ quá hai chục thước. Bỗng 982 thoáng thấy có ánh trăng loang loáng trên tảng đá gần đấy.

Đó là một vũng nước đọng trong một hõm đá, 982 không nghĩ ngợi, cúi xuống uống mấy hơi đã khát rồi tạt nước rửa mặt cho sạch. Mặt anh lấm be bét đất, cát vì đào lỗ và chui qua hàng rào. Xong, 982 kiếm một thân cây thẳng, khá cao, dấu dép cao su trong bụi, leo lên chạc ba ngồi cho vững vàng. Anh cắm con dao và cây giũa vào cành cây kế bên, sợ ngủ quên té xuống dao xóc vào người. Trước đây đã có người làm củi, từ trên cây té xuống, bị dao đâm thủng bụng chết liền.

Không biết nghĩ sao, 982 lại leo lên một chạc cây cao hơn nữa, tới 6 thước. Như vậy không sợ cọp hoặc thú dữ khác. 982 ôn lại trong trí những việc vừa qua từ lúc cắt xiềng, chui qua lỗ ‘’chó chui’’ rồi đến đây. Lúc này, ở trại giam trăng đã sáng, nếu lính cảnh vệ đi tuần trên con đường nhỏ giữa hai hàng rào tất sẽ phát giác vụ tù vượt trại. Như thế, có thể sáng sớm tinh sương bọn cảnh vệ sẽ rượt theo.

Trống ngực 982 đánh thình thịch. Anh mường tượng đến vẻ mặt thù hận, độc ác, đểu giả của lũ giám thị và cảnh vệ mà phát gớm. Nhưng trong rừng có cả trăm đường lối khác nhau, biết anh trốn ngả nào mà tìm ?

- Dù sao, ta vẫn có hy vọng thoát...Không sợ!

Chỉ sợ không kiếm được hoa quả hay thức ăn bỏ vào miệng để có sức chạy nữa. Đó mới là trở ngại ghê gớm nhất.

982 suy nghĩ vẫn vơ rất lâu, sau mệt quá kiếm thế ngồi cho chắc rồi thiếp đi như chết. Lúc anh giật mình mở mắt, trăng đã nằm giữa đỉnh đầu.

982 nghe rào rào đằng xa như có tiếng chân chạy trên lá khô. Rồi gió ào ào trên ngọn cây. 982 lấm lét nghe ngóng nhìn trước ngó sau, bất giác kéo cành lá rậm rạp che lên mình cho kín.

Trong cái yên lặng thăm thẳm của rừng, bỗng có tiếng gà eo óc vẳng đưa lại. Anh ta nghĩ thầm:

- Nơi đây, gần Bản của người Mường, Mán hay sao mà lại nghe tiếng gà gáy ? Nếu thế, phải đi thêm một chặng nữa mới được. Kẻo sáng ra, dân địa phương thấy tung tích ta thì nguy.

Thì ra đối với người tù vượt ngục, cái cảm tưởng chung là lúc nào, chỗ nào cũng thấy có ‘’kẻ thù’’ ở gần.

Chợt anh ngó lại khoen sắt ở cổ chân. Cái đồ quỷ này tố cáo người mang là tù vượt ngục rồi còn gì nữa!

982 co chân lên, lấy giũa mài mũ cây đanh ri-vê đóng vào khoen sắt. Anh tính mài mòn mũ đanh rồi kiếm cách ‘’đột’’ cho đanh sút ra đặng tháo khoen. Chà, khoen sắt làm trầy trợt rướm máu cổ chân mà anh không lưu ý. Trong rừng vắng, tiếng giũa soèn soẹt nghe bắt rợn người. Chỉ một lát, hai mũ đang ri-vê mòn hết.

982 ngước nhìn trăng đoán giờ khắc rồi tụt xuống đất sau khi liệng bọc đồ và con dao.

Nửa giờ sau, 982 loay hoay bằng cây giũa và con dao, tháo được hai chiếc khoen ra. Cổ chân anh ta đã bị chẩy máu loang lỗ. Anh nhè nước miếng ra đầu ngón tay bôi lên vết xây sát theo thói quen vẫn thường làm ở trại giam.

Bỏ được khoen sắt rồi, 982 mừng quá đỗi là mừng và cảm thấy hai cẳng chân nhẹ tênh tênh, chỉ muốn chạy một vòng cho khoái. Để phi tang, anh đào lỗ nhỏ dưới gốc cây, bỏ hai khoen sắt xuống, lấp đất. Thế là xóa thêm một dấu vết tù tội, cái dấu vết khó xóa nhất! Mừng ơi là mừng!

Quá nửa đêm về sáng, trời lạnh căm căm. Thời tiết đang vào độ cuối Xuân. 982 mở bọc quần áo ra thay và nhân thể tiêu hủy luôn sợi dây xiềng, sợi dây sắt này không có công dụng gì trong khi 982 đi trốn, tốt hơn hết là tiêu hủy cho mất tang chứng.

982 mở bọc, lấy bộ quần áo còn lành lặn ra thay, lúc đó mới nhớ ra là vẫn còn mặc quần ‘’không đũng’’.

982 bận chiếc áo cánh dài tay, quần còn đủ hai ống dài, rất may trên ngực và lưng áo chưa in ‘’số tù’’! Anh ta ngắm nghía cây căm xe một cách lưu luyến rồi ngồi xuống lại đào lỗ, bỏ sợi xiềng cùng cây căm xuống, lấp đất, lấy gót chân đạp lên mặt đất mấy cái cho phẳng. Bọc quần áo lúc này nhẹ hều, chỉ còn một bộ đồ rách với bộ đồ mới thay ra, mấy mảnh giẻ với chiếc bao tải, cầm cũng gọn.

Vành trăng khuyết trôi lênh đênh trên trời xám nhạt. 982 cứ nhìn theo trăng đi về phía Tây-Bắc mà anh ước đoán là vùng Chi Nê, Nho Quan. Lúc này, trăng đã từ phía trước mặt rọi lại, bóng anh đổ về sau lưng. Khi trăng mới mọc, còn thấy bóng mình ngã dài phía trước, cũng đỡ cô độc, bây giờ bóng mình cũng không thấy nữa. 982 đã được nghe đồng cảnh kể chuyện có nhiều tù nhân trốn trong rừng nhiều ngày, đi mãi mất phương hướng lại quay vòng trở lại nơi mình khởi hành mà không biết để đến nỗi bị bắt lại. Vì vậy, 982 hết sức chú ý đến phương hướng, luôn luôn ngó trăng làm đích.

982 lầm lũi đi chừng hơn cây số nữa, hai bên cây cối thêm rậm rạp, cỏ gianh nhiều quãng mọc cao đến ngực, con đường mòn biến mất lúc nào. Anh biết, đã bắt đầu tiến vào rừng rậm hoặc đã lộn đường nên ngừng chân suy tính.

Bỗng 982 thấy có nhiều mảng sáng lấp loáng phía trước mặt, những mảng sáng đó liên tục thành một giòng dài và thay đổi vị trí luôn luôn. Nhìn kỹ mới biết là con suối, 982 vạch cỏ tiến lên mươi bước nữa, tự hỏi:

- Nên vượt qua con suối hay dừng lại đây, đợi tảng sáng sẽ hay ?

Anh ta lại bên bờ, nhìn dây lát giòng nước lấp lánh ánh bạc đang róc rách, rồi vén quần thò một chân xuống, coi nông sâu ra sao. Nước lạnh buốt như kim châm.

982 nắm một rễ cây mọc vươn ra mép nước, thò ngập cả cẳng chân xuống cũng không thấy đáy. Giữa dòng, suối tất sâu lắm, phải bơi mới qua được. Bề ngang con suối chừng 8 thước, chỉ dăm sải tay là bơi qua bên kia bờ, không khó khăn. Vả lại, đang vào mùa Xuân nên nước không lớn bao nhiêu.

Sau khi suy nghĩ, 982 quyết định ở lại bên này suối, sớm mai trông rõ địa thế sẽ tính. Anh quay trở lại kiếm một cây nhiều chạc để ngồi dựa lưng nghỉ qua đêm, và dựa vào cành cao hơn mặt đất sáu, bảy thước vị trí vững vàng, lỡ ra cọp tới cũng không nguy hiểm.

Nghĩ đến cọp, 982 sực nhớ vùng này có cọp, tù nhân đi làm rừng đã thường gặp vết chân cọp trên mặt đất ẩm ướt. Nghe nói trước đây sáu tháng một tù nhân trốn vào rừng nhân đi làm củi, đã bị cọp bắt. Hồi bị giam ở Việt Bắc, 982 đã nghe nhiều chuyện cọp rình bắt tù ăn thịt, lúc này nhớ lại thấy hoảng. Câu chuyện lạ kỳ dưới đây anh nhớ nhất:

Cũng một đêm sáng trăng, một người tù trốn khỏi trại giam cộng sản ở giữa rừng leo một ngọn đồi trọc để vượt qua bên kia là vùng thung lũng. Sườn đồi dốc ngược và khá dài, người tù ngã mình về phía trước để leo cho dễ, đăm đăm nhìn xuống lối đi đặng tránh những chướng ngại, đầu óc mải mê suy nghĩ. Gió thổi vù vù hai bên tai. Leo lên đỉnh đồi, người tù dừng lại định kiếm chỗ ngồi núp đặng lấy lại sức. Bất ngờ, khi đó anh ta đã đứng ngay gần đuôi một ông ‘’kễnh’’ mà không biết.

Thì ra có một con cọp đang nằm dài trên một tảng đá phẳng phiu, say mê ngắm trăng lên. Những người ở miền rừng núi cho rằng cọp thích ngắm trăng khi đã no mồi. Thật không gì hùng tráng bằng cảnh tượng chúa sơn lâm, nằm dài trên phiến đá ngắm cảnh trăng lên, rồi ngắm nhìn bao quát khắp vùng rừng bốn phía dưới chân đồi trong phạm vi sinh sát của cọp. Khi đó cọp có vẻ hiền lành và...mơ mộng như bất cứ một loại thú rừng hiền lành nào.

Trường hợp của người tù nọ thật là tiến thoái lưỡng nam. Tiến lên cũng chết, lùi lại cũng chết mà ngồi dí ở đó chờ đến lúc cọp đi khỏi -mà chắc gì nó đã đi- cũng hiểm nguy không kém. Đúng là trốn cọp cộng sản lại gặp con sơn lâm. Trong lúc vừa sợ hãi, vừa liều lĩnh vì tuyệt vọng, lại thêm cuồng trí, người tù uất ức gào lên một tiếng căm thù cả cộng sản lẫn cọp, đồng thời nhẩy lên vồ trúng vào đít cọp. Cọp đang mơ mộng lim dim ngắm trăng, bất ngờ bị một vật gì vồ trúng hạ bộ kèm theo một tiếng hét long đồi lở núi, giật mình đến thót một cái mất tinh thần băng xuống bên kia đồi, chạy biến vào rừng.

Người tù nọ thoát chết một cách lạ lùng.

Từ trên chạc cây cao, 982 vẩn vơ suy nghĩ rồi đảo mắt nhìn quanh quất từ phía dưới chân. Đây đó, những khoảng sáng trăng nho nhỏ chập chờn, lúc xa lúc như đang chạy lại gần. 982 nhìn kỹ, lại thấy có nhiều vệt sáng li ti trên mặt đất đột hiện đột biến. Anh ta đoán đó là những sinh vật nhỏ như sâu đất có mang chất lân tinh nên phát quang trong tối.

Một cơn gió ào lướt trên ngọn cây rừng. Cành lá bỗng xào xạc rung động. Nhiều tiếng răng rắc, thân cây kèn kẹt cọ vào nhau bên kia suối. 982 đoán gần đây có nhiều bụi giang hay nứa nên mới có những tiếng ken két rợn người như vậy. Liệu còn phải sống chui sống nấp trong rừng bao nhiêu ngày nữa ? Rồi lấy lương thực ở đâu ra dằn cơn đói đặng đủ sức lội bộ cả trăm cây số ? Trời tạnh ráo đã vậy, rồi mưa gió bão bùng làm sao đây ?

Anh ta thấy gian nguy mỗi lúc một nhiều, khi trước ở lều phong vương không dự tính được hết. Giả sử có hai, ba người tù trốn cùng một lúc với nhau, còn dễ dàng bàn tính và vững tâm hơn. Chứ một thân một mình lang thang, lầm lũi trong rừng lớp thì đói khát, lớp lo gặp thú dữ, khi phải tránh né bộ đội, dân quân du kích, dân làng...Khó lòng quá!

Tuy không dám tự thú nhưng 982 cũng nhận thấy không còn cương quyết và vững tâm như lúc sắp trốn khỏi trại giam...

XV.

 

Vụ tù phong vương 982 mở khóa cùm, cắt xiềng, đào ngạch hồi đêm và trốn thoát, phát nổ như tiếng sét. Trong trại giam cộng sản, tù chết hoặc phải ra bai để lãnh viên đạn tử hình hay nhát búa vào gáy không quan trọng bằng trường hợp tù vượt trại. Và hậu quả của vụ tù vượt trại còn dằng dai triền miên nhiều ngày, gây tai hại cho cả ban quản trị trại giam lẫn tù nhân.

Đêm hôm trước, vừa quá canh hai một lúc, nhiều tù nhân trong trại nhất là đám tù nhân nhà cùm, nghe tiếng còi tu huýt rít lên hấp tấp từng hồi ở góc Tây trại mà họ đoán là gần lều phong vương. Tiếng còi xê dịch theo bước chân rồi thốt nhiên chạy về phía trại ngủ thường tội. Giám thị trực tại trại này bổ choàng chạy ra, tiếp theo có tiếng xì xào bàn tán ngoài hiên của cảnh vệ và giám thị. Sau đó, giám thị trở vào, trong khi bên ngoài có tiếng chân chạy thình thịch. Vài người khác còn thấy ánh đèn le lói đi ngang sân.

Giám thị khiêu lớn ngọn bấc, hầm hầm kiểm soát hai dẫy trõng. Số tù nhân vẫn đủ như hồi tối. Tù nhân trực thấy giám thị kiểm điểm xong quay lại mà không nói gì mới mừng thầm. Một tù nhân cựa mình rên khe khẽ rồi một giọng run run ốm yếu cất lên:

- Báo cáo...tôi xin đi tiểu...!

Giám thị quát:

- Nằm yên...Lệnh đặc biệt, cấm đi tiểu cho đến sáng!

Có tiếng thở dài, lầm thầm than khổ của người tù nằm đầu dẫy, thân hình mỏng dính như con cá khô. Anh nầy bị bệnh về thận, đêm nào cũng xin phép đi tiểu một lần ở nhà cầu ngay sau trại. Đã vậy, anh ta lại bị phù thũng cả tháng nay nên nằm bẹp ở trại ngủ, không thể xung phong đi lao động sản xuất. Thêm vào đó, còn bị sốt rét rừng nặng, mỗi đêm cơn rét kịch liệt hành hạ anh ta cả tiếng đồng hồ. Hết sốt rét đến sốt nóng li bì, quần áo ướt đẫm mồ hôi như vừa lội dưới ao lên.

Da thịt biến thành mồ hôi toát ra ngoài nên sau mỗi cơn sốt rét, rồi sốt nóng, bệnh nhân tóp hẳn đi, trông chẳng khác chi lá dưa phơi nắng héo quằn lại. Hai con mắt trũng sâu thêm, hàm răng nhe ra như dọa nạt người nhìn, mới bốn ngày đã có người cùng trại không nhận ra anh ta.

Tiếng quát của giám thị khiến tù nhân tỉnh dậy suốt lượt. Hình như đêm nào tù nhân cũng chỉ dám ngủ một mắt, có tiếng nói lớn hay tiếng động mạnh là họ tỉnh liền. Họ nằm yên nghe ngóng và quan sát nhìn trộm giám thị để ước lượng mức độ quan trọng của sự việc. Có người đoán phi cơ của quân đội viễn chinh Pháp bay quanh thám thính hoặc sắp thả bom đánh phá trại. Lại có người đoán quân Pháp đã nhảy dù xuống Chi Nê, Nho Quan, đang tấn công vào Khu Tư như có tin đồn trước đây ít lâu. Nhiều tù nhân mừng thầm trong bụng, mong quân xâm lăng đánh thốc vào trại giam giúp họ có dịp thoát thân trong lúc hai bên hỗn chiến!

Nhưng chỉ sáng sớm hôm sau, khi có tiếng kẻng đánh thức, tù nhân tập hợp ngoài sân trước khi ra ao rửa mặt và làm những công việc cần thiết buổi sáng, họ đã sầm xì bàn tán và gần biết sự thật. Không rõ họ tìm hiểu bằng cách nào ? Lúc sắp hàng vào nhà tiểu công nghệ, họ thoáng thấy viên phó trưởng ban quản trị trại và viên tiểu đội trưởng cảnh vệ đi vội vã về phía lều phong vương, nên quyết đoán chỉ có thể là vụ tù trốn trại, không sai được. Vì tù chết, không bao giờ phó trưởng ban quản trị phải mất công xuống tận nơi chứng kiến từ sáng sớm. Tù chết, chỉ như con chuột chết, hốt cái xác bỏ ra ngoài bãi lấy đất là xong. Rồi văn phòng gạch một con số, thông báo cấp tốc cho nhà bếp đặng bớt một khẩu phần mới là sự việc tương đối quan trọng.

Bữa cơm sáng hôm đó, có ba tù nhân biết trước tù phong vương trốn mà vẫn bị xúc động hơn mọi người. Đó là Toàn, Thanh và thiếu niên Hợi, những người đã trực tiếp giúp 982 vượt ngục. Người tinh ý sẽ thấy mặt Toàn xanh mét hơn mọi ngày và giọng nói run run mệt nhọc như vừa dứt cơn sốt. Chiều hôm trước, Toàn được gọi lên văn phòng đúng như mãn giờ lao tác, ban quản trị cho biết, nhờ có hạnh kiểm tốt, tinh thần xung phong trong mọi công tác, chăm chỉ học tập, không phạm lỗi nào, anh được lên làm việc một thời gian trên lò than, miễn phải theo lớp huấn luyện làm than tại Kim Tân và được thực hành ngay tại lò. Toàn mừng quá song cố giữ không để lộ ra mặt. Giữa lúc xẩy ra vụ tù phong vương vượt ngục có chuẩn bị, chủ mưu rõ ràng, được xa Trại Đầm Đùn là một điều may mắn.

Trong bữa ăn, giám thị đi đi lại lại bên những mẹt cơm, cố ý lắng tai nghe lời bàn tán, chuyện trò thầm thì của tù. Nhưng bữa nay, tù nhân tự động áp dụng câu tục ngữ: ‘’Có mồm thì cắp, có nắp thì đậy’’ chẳng người nào nói câu gì thừa. Chỉ nghe tiếng đũa, bát lách cách chừng mươi phút, rồi tù nhân thu dọn mâm bát xuống nhà bếp rửa. Nói là rửa chứ sự thật chỉ cần tráng qua lượt nước là sạch. Mẹt nào cũng vậy, không sót một hạt cơm, một cọng rau. Đó là tù đã bị cấm ngặt liếm bát, mút đũa. Phạm lỗi sẽ bị phạt nhịn ăn một bữa, tái phạm sẽ ăn thêm mười ‘’hèo’’.

Một tù nhân đã đứng lên dợm bước, chợt phát giác mấy hạt cơn dính vào chôn bát, lại vội vàng ngồi xuống nhặt bỏ vào miệng nhai tóp tép rất lâu. Ăn thêm được một hạt cơm, cũng bớt đói được một chút xíu. Tù nghĩ như vậy.

Tuy không được phép liếm đĩa bát nhưng tù nhân đều có một kỹ thuật phi thường ‘’vét’’ sạch đĩa, bát chẳng khác chi ‘’sang sông’ bằng lưỡi. Một tù nhân lớn tuổi tự phê: ‘’Chắc kiếp trước mình phí phạm của Trời nên kiếp này Trời bắt mình phải ‘’vét chùi’’ cho thật sạch thức ăn thức uống! Cũng như kiếp trước mình làm nhiều điều độc ác nên kiếp này phải chịu nghiệp báo nặng nề!’’ Nghe nói vậy, nhiều tù nhân thở dài bâng khuâng nghĩ ngợi. May thay, câu nói nặng ý nghĩa tôn giáo phản lại ‘’duy vật biện chứng pháp’’ không lọt vào tai giám thị!

Xong bữa, tù nhân chuẩn bị đồ nghề cho công tác của mình. Họ lặng lẽ làm, không nói chuyện vớ vẩn. Mỗi khi xẩy ra một sự việc quan trọng có thể gieo tai họa cho tù, mọi người trở nên lầm lì rất ít nói. Không khí trại giam đột nhiên nặng nề khó thở như sắp có vụ Đầu Trâu đánh tù nhân phạm lỗi dưới lá cờ đẫm màu máu.

Theo lệnh của giám thị, tù nhân tập họp riêng từng bọn cho mỗi công tác, làm than, làm củi, vác tre và nứa ở bờ sông về, cuốc đất (thay trâu cầy), trồng trọt, tưới rau, xay lúa v.v...

Toàn đi làm củi ở rừng và toán đi làm than đông tới hơn hai trăm người, một trăm người đi gánh than ở lò về trại còn bao nhiêu đi làm củi. Khi số lượng than ra lò đã được chuyển về Trại Sản Xuất một phần, còn một phần đã gánh thẳng ra Chợ Kim Tân giao cho Hợp Tác Xã phân phối, trong số 100 người đi gánh than có mười người được ân huệ ở lại giúp việc đốt than tại lò. Toàn có tên trong số mười người này nên mừng rỡ, sung sướng như thí sinh thấy tên trên bảng vàng.

 Đoàn tù vào rừng làm củi ra khỏi trại được dăm phút, đến lượt đoàn tù làm than chỉnh tề hàng ngũ đợi giám thị kiểm soát lần thứ hai. Sự kiểm soát bỗng chặt chẽ kỹ càng hơn mọi lần. Giám thị hầm hầm nét mặt, luôn luôn quát tháo, tay múa cây roi trúc đặc ruột, quất veo véo lên nón lá, lên vai tù để kiểm điểm. Một người tù ngơ ngác, bàng hoàng, thần trí còn chưa tỉnh hẳn sau cơn sốt lúc sáng sớm, lúng túng sửa lại vị trí đứng cho ngay hàng, nhưng chưa kịp làm đã bị một roi quất ngang lưng, giật bắn mình. Chờ giám thị đi qua, anh ta nói bạn đồng cảnh đứng bên, để tự an ủi:

- ‘’Được’’ quất một roi buốt thịt toát mồ hôi, may mà nhẹ bệnh!

Kinh nghiệm cho biết một người tù trốn sẽ gây hậu quả tai hại cho cả trại. Thật vậy, mỗi lần xẩy ra vụ tù vượt ngục luật lệ của trại giam lại áp dụng một cách khe khắt ‘’chết người’’ gấp bội. Thiếu gì người bị đòn, bị đánh, bị tra tấn oan uổng. Lần này đến phiên ai ? Đã có lần một tù cùm trốn, bốn tù nhân khác bị giam ở nhà cùm không là tòng phạm, cũng bị bỏ đói oan uổng đến chết cho đáng kiếp.

Giám thị đã kiểm soát xong. Hắn bỏ cuốn sổ nhỏ vào túi áo trên ngực cùng cây viết nguyên tử rồi hầm hầm nhìn đám tù lần nữa như vẫn chưa hài lòng, chưa được đấm đá tù vỡ mặt vỡ mũi, còn ngứa tay ngứa chân không yên. Nhưng sau cùng hắn cũng ra lệnh lên đường.

Đoàn tù đi gánh than lầm lũi ra khỏi trại, theo sau tên cảnh vệ dẫn đường. Một tên cảnh vệ thứ hai đi bọc hậu, súng ống đàng hoàng như tên thứ nhất. Viên giám thị ngênh ngang đi vào khoảng giữa, giây lâu quay lại ngó những hàng cuối cùng gườm gườm cặp mắt, tức thì những lời xì xào trò chuyện nín bặt. Toàn sắp cùng hàng với Thanh, nôn nao muốn nói về vụ 982 vượt ngục đêm hôm trước mà không dám, sợ lộ chuyện. Hai người thỉnh thoảng nhìn nhau để thông cảm rồi mỗi người đuổi theo một ý nghĩ với bao hồi hộp lo lắng. Cầu Trời khẩn Phật cho 982 yên ổn thoát về vùng chính quyền quốc gia kiểm soát.

Từ trại vào đến lò than mới, đường dài khoảng 16 cây số, thời gian đi ấn định là ba tiếng đồng hồ. Dưới mưa Xuân, đường lầy lội trơn trợt nên có nhiều anh ‘’vồ ếch’’, lại có nhiều quãng đường phải leo đồi dốc như mái nhà.

Lượt về phải gánh nặng leo đồi trơn và dốc, tù rán làm sao cho khỏi té. Vì té, than sẽ bể vụn, mất cân và tù sẽ bị phạt, không tránh được. Nghĩ vậy, Toàn quay nhìn Thanh, thấy Thanh cũng đang nhìn anh lắc đầu chán nản.

Toàn nghĩ bụng: Trong trại giam cộng sản, không có công việc gì nhẹ, không tốn hơi tốn sức. Chỉ có người bệnh nặng mới không phải lao tác, nhưng bị bệnh nằm một chỗ, chỉ được một chén cháo loãng mỗi bữa, đói run rẩy cả người hoa cả mắt, chịu sao nổi! Nhiều khi lại nhịn đói luôn, cháo cũng không được ăn. Thà xung phong công tác còn hơn, xung phong cho đến lúc nào không nổi nữa, ra bãi là vừa, chấm dứt luôn thân phận người tù trong trại giam cộng sản.

Nghĩ đến cơm đến cháo, Toàn lại thấy...đói, thèm ăn tuy mới ăn được hơn tiếng đồng hồ. Thì ra anh bị bệnh đói ‘’kinh niên’’ nên bất cứ lúc nào cũng thèm ăn.

- Nguy quá! Nguy quá!

Toàn than thầm như vậy khi nghĩ tới công việc phải làm trước khi được ăn bữa cơm thứ hai trong ngày, phải lội bộ hơn 30 cây số lên đèo xuống dốc, và phải gánh 40 ký lô than trên quãng đường mười mấy cây số. Nguy quá! Nguy quá!

Chúng ta hãy để mặc bọn tù vào rừng làm củi và bọn tù lên lò gánh than làm theo số phận của họ mà quay về Trại Giam Đầm Đùn xem những sự việc gì xẩy ra sau khi tù 982 trả lại ‘’ngôi vua’’ cùng long sàng cho ban quản trị trại giam.

Khi đó trong trại đã vắng người, chỉ còn toán tù phụ nữ ngồi sàng gạo và dăm bẩy tù nhân già, có ông râu lơ thơ bạc trắng, đang uể oải xay lúa trong nhà tiểu công nghệ. Mấy ông già xay lúa trông tức cười lắm, ưỡn à ưỡn ẹo cả thân hình, lấy trớn đẩy cần cối để giúp sức thêm cho hai cánh tay đã tiêu hết bắp thịt chỉ còn da bọc xương. Mới bắt tay vào cần cối được hơn tiếng đồng hồ, họ đã thở phì phò như trâu. Ấy vậy mà đến chiều, trước giờ nộp gạo vào kho, người nào cũng làm đủ phận sự, cái đó mới thật lạ. Nhưng nhiều lần, có người đang xay đều tay thốt nhiên ngừng lại, mặt nhăn rút vẻ đau đớn, hai tay ôm ngực để mửa ra một đống máu tươi có lẫn bong bóng rồi ngã vật xuống, ‘’xuôi’’ luôn không kịp từ giã đồng cảnh. Được giải thoát rất bất ngờ, ‘’đương sự’’ chưa kịp mừng đã chết!

Bọn tù làm than đi được một lúc, ban quản trị trại mới khởi sự cuộc điều tra vụ trốn trại đêm hôm trước. Vì có liên hệ với vụ này nên viên giám thị có nhiệm vụ kiểm soát tù nhân ngày hôm qua và người lính cảnh vệ canh gác trại hồi đêm cần có mặt.

Ban điều tra gồm hai người phó trưởng ban quản trị trại và viên tiểu đội trưởng cảnh vệ.

Cả hai đều nai nịt súng lục, nghiêm trang từ trên văn phòng xuống thẳng lều phong vương tiến hành cuộc điều tra. Có bóng dáng hai người một lần, không khí trong trại giam bỗng trở nên nặng nề, khó thở gấp bội. Khi hai nhân vật này đi qua tù nhân, cúi gằm mặt xuống, chăm chú làm, không dám thì thầm hay nhìn ngang nhìn dọc. Là vì kinh nghiệm cho biết phó trưởng ban đi tới đâu gieo rắc tai họa đến đó, chẳng khác chi hung thần quỷ dữ.

Ngay hồi đêm, chừng ít phút sau khi phát giác vụ trốn, ban quản trị trại đã biết, kể cả giám thị, cảnh vệ, các trưởng ban hỏa thực, canh tác, chăm nuôi, trưởng ngành làm củi, làm than v.v...Nhưng có một người tuy là nhân viên ban quản trị mà chưa biết chút gì. Đó là tên giám thị đã bị kiến bò nhọt đốt và cũng chính là người đã đề nghị lên ban quản trị cùm riêng biệt 982 ra lều phong vương cho chết.

Tại sao hắn không có mặt sáng nay ở trại ? Không ai rõ! Chỉ biết chiều hôm qua, hắn có xin phép thượng cấp vào thăm một người quen trong làng Mán cách trại 3 cây số và ngủ đêm tại đó, sang nay sẽ về trại sớm. Nhưng giờ này vẫn chưa thấy về.

Khi phó trưởng ban quản trị tới lều phong vương, y chỉ dừng lại nhìn qua loa túp lều rồi ra thẳng hàng rào nứa, đứng bên lỗ ‘’chó chui’’ quan sát kỹ càng. Y lấy que đo bề sâu cùng đường kính của ‘’lỗ đào’’ ghi vào cuốn sổ nhỏ từng chi tiết, ghi những dấu vết đặc biệt do dụng cụ đào đất để lại. Những dấu vết đó còn in trên thành lỗ. Y mỉm cười nhìn tiểu đội trưởng cảnh vệ và nói:

- Tội nhân đã dùng một vật cứng bằng kim khí dẹp và sắc để đào lỗ. Có thể là một con dao có sống dầy. Y cúi xuống rờ lên những vết nhắn thín cắt bằng dao trên thành lỗ rồi hỏi:

- Đồng chí có thấy vậy không ?

Tiểu đội trưởng ngẫm nghĩ, lễ phép thưa:

- Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban, thật đúng như lời đồng chí phó trưởng ban.

 - Theo đồng chí nhận xét, đào xong một lỗ như thế này, phải bao lâu ?

Tiểu đội trưởng cảnh vệ còn đang suy tính, phó trưởng ban lại nói:

- Đào trong lúc tối tăm, trăng chưa mọc, chứ không lý gì đào lỗ lúc có trăng sáng mà đồng chí cảnh vệ có phận sự canh gác lại không thấy.

Rồi y cười nhạt kẻ đối diện như dò xét:

- Trừ phi cảnh vệ canh gác ngủ say hoặc tòng phạm với trại viên vượt ngục trại thì...lại khác.

Tiểu đội trưởng cười gượng:

- Theo tôi nhận xét, thưa đồng chí phó trưởng ban, trong đêm tối đào một lỗ thiệt mau cũng phải mất từ nửa giờ đến 45 phút.

Phó trưởng ban ghi trên cuốn sổ tay dăm chữ, vài con số. Đồng chí tiểu đội trưởng không quen đọc và viết nhưng dù có liếc trộm cũng không đọc nổi. Sau đó, ban điều tra đi vòng qua hàng rào thứ hai, ra bên ngoài trại, quan sát mặt đất tù nhân trốn bắt buộc phải đi qua để nhận xét những dấu vết để lại. Y kết luận chỉ có một tên tù phong vương hành động trong vụ này vì không thấy dấu chân nào khác trên mặt bùn. Nói một cách khác, không có đồng lõa đứng bên ngoài tiếp sức hay bảo vệ cho tên tù vượt ngục.

Sau đấy, ban điều tra trở lại lều phong vương xem xét kỹ những dấu chân người tù vượt ngục đã để lại trên bãi cỏ lầy lội vì mưa Xuân. Phó trưởng ban lấy cây que cời những bụi cỏ qua một bên và tìm được những vết chân bước rất đều của tù nhân trên mặt bùn. Nhiều ngọn cỏ bị đạp còn nằm rạp xuống mặt đất chưa ngóc lên được.

Hắn nói một mình:

- Tù nhân lại bên hàng rào sau khi cắt được xiềng và tháo cùm.

Phó trưởng ban quản trị lại quan sát tổng quát quanh vị trí của lều, nhìn kỹ mặt đất rồi mới leo lên thang, thấy liền nhiều vết chân lấm bùn trên mặt sàn lều.

Hắn chưa dẫm chân mà dừng ở mép tìm tòi, quan sát từng khoảng sàn nhỏ bằng cặp mắt nhanh nghẹn, đã được huấn luyện về khoa chuyên môn. Đã có thời gian hắn giúp việc tại ban truy tầm và tra cứu thuộc sở tài liệu mật của công an Bắc Bộ đường Hàng Cỏ Hà Nội.

Tiểu đội trưởng nhìn mái lều, nhìn mặt sàn, nhìn hai mảnh ván cùm, chưa ‘’thấy’’ chi tiết nào đặc biệt, phó trưởng ban đã mừng rỡ:

- Đây rồi! Chứng tích đây rồi!

Rồi hắn bước thêm hai bước ngồi xổm xuống sàn, lấy ngón tay trỏ chấm xuống mặt sàn giơ lên ngắm nghía, giây sau, hắn nói:

- Tù nhân đã chuẩn bị được dụng cụ mở khóa cùm, chuẩn bị giũa để cắt xiềng...

Hắn xé một mảnh giấy nhỏ, dùng cạnh tờ giấy vun những ‘’mạt sắt’’ rồi hốt hết, gói kỹ trong một tờ giấy khác. Tù nhân giũa xiềng đã để lại những chứng tích rõ ràng!

Một câu hỏi rộn rã trong đầu cựu chuyên viên công an truy tầm:

- Vậy, ai đã giúp cho tù vượt ngục những dụng cụ cần thiết mà chỉ lò rèn mới có ?

Công việc điều tra tạm kết thúc. Hắn thảm nhiên xuống lều nhìn về phía chòi canh cảnh vệ để ước lượng khoảng cách với lều phong vương, ghi thêm vài chữ rồi bỏ cuốn sổ tay vào túi áo, thở một hơi khoan khoái, quay sang bảo viên tiểu đội trưởng cảnh vệ:

- Thôi, về văn phòng. Đồng chí có thấy dấu vết hoặc chi tiết nào đặc biệt không ?

Viên tiểu đội trưởng cười gượng lúng túng:

- Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban...Em chưa thấy gì đặc biệt ngoài những điều đồng chí phó trưởng ban đã phát giác...

Đúng lúc đó, từ xa, một người tất tả tiến lại, rất vội vã. Đến nơi, người đó hùng hổ giơ quả đấm lên ngang trán chào, rụt rè nói:

- Thưa đồng chí phó trưởng ban, đồng chí cho kiếm em ?

- Tôi cho kiếm đồng chí từ hồi khuya, sau khi xẩy ra một sự việc quan trọng trong trại. Đồng chí bỏ trại đi đâu ?

- Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban, chiều qua, em có xin phép được vào trong làng thăm người quen. Bị đau bụng và chóng mặt nên sáng hôm nay em mới về được. Xin đồng chí trưởng ban tha lỗi cho.

Phó trưởng ban lạnh lùng, mặt lạnh như tiền:

- Đồng chí có biết trong khi đồng chí vắng mặt không có lý do chính đáng, đã xẩy ra việc gì trong trại không ?

- Thưa, em vừa nghe nói ở trên văn phòng, có một tên tù phong vương vượt ngục.

- Vượt bằng gì đồng chí giám thị biết không ?

- Dạ...Em chưa được biết.

Phó trưởng ban lạnh lùng ‘’hừ’’ một tiếng:

- Lần cuối cùng, đồng chí đến đây kiểm soát tù phong vương vào lúc nào, ngày nào ?

Cảm thấy việc rắc rối nguy hiểm hơn hắn tưởng lúc đầu, giám thị lắp bắp không ra tiếng:

- Dạ, sáng sớm hôm kia...

Phó trưởng ban cau mặt dằn từng tiếng:

- H...a...i n...g...à...y ?!! Hôm nay là mồng 10, vậy kể từ sáng sớm mồng 8, đồng chí không đích thân tới lều kiểm soát tù phong vương lần nào ?

- Dạ, thưa đồng chí, em không tới tận lều, nhưng em có đi rẻo gần đấy và vẫn ngó thấy tù 982, lúc hắn ngồi, khi hắn nằm, không có thái độ hay hành động gì khác thường cả.

- Lần cuối cùng, đồng chí ‘’thấy hắn’’ vào ngày giờ nào ?

Giám thị tái mặt, lẩm bẩm tính rồi thưa:

- Dạ...Vào hồi 2 giờ trưa hôm qua, lúc cho các trại viên đi lao động sản xuất.

- Chắc không ?

- Dạ, chắc.

- Đồng chí thấy thái độ, cử chỉ của trại viên 982 như thế nào ? Hãy nói lại nghe.

- Dạ, hắn ngồi dựa vào cột lều xây lưng lại nhà tiểu công nghệ, có vẻ rất mệt mỏi.

- Vậy, đồng chí có biết hắn ăn hết khẩu phần gạo sống hàng ngày không ? Tình trạng sức khỏe của hắn ra sao ?

- Dạ...Dạ...Em...

Giám thị lại càng luống cuống, nín thinh, cấp trên lại hỏi:

- Lần cuối cùng, đồng chí phát gạo sống cho hắn vào ngày nào, giờ nào ?

Giám thị lẩm nhẩm tính nhưng lúng túng chưa trả lời được, phó trưởng ban lại hỏi:

- Chính đồng chí đích thân mang gạo ra cho hắn hay sai người khác ?

- Dạ, em có sai thằng nhỏ giúp việc ở lò rèn mang ra.

Phó trưởng ban hơi sững sờ khi nghe hai tiếng ‘’lò rèn’’. Nhưng chỉ thoáng một cái như hơi gió, vẻ mặt và giọng nói của hắn đã trở lại thảm nhiên, không sai khác mảy may.

- Tên thằng nhỏ ? Danh số ?

- Dạ, tên Hợi, danh số 684.

- Thằng Hợi mang gạo trước sau mấy lần ?

Ngẫm nghĩ giây lát, giám thị khẽ thưa:

- Dạ...ba lần.

- Ba lần. Ba ngày ?

- Dạ, phải.

- Đồng chí có biết tù nhân 982 trốn thoát vào rừng bằng cách nào không ?

Giám thị cúi nhìn xuống đất vừa ngượng vừa sợ:

- Thưa không...

- Giám thị coi tù mà không hay tù trốn và trốn bằng cách nào ? Vậy đồng chí làm gì ? Có nhiệm vụ gì ?

Giám thị không biết trả lời sao nên lại cúi gằm xuống đất, mặt nhợt nhạt, chẳng bù những lúc hành hạ tù nhân, đánh, đấm, đá, quất, bất kể trúng đâu, vào đâu trên mình tù nhân!

Phó trưởng ban lạnh lùng ra lệnh:

- Nửa giờ nữa, đồng chí lên trình diện tôi tại văn phòng.

Giám thị đứng nghiêm nói ‘’xin tuân lệnh’’, chào rồi đi luôn. Hắn đi rồi, phó trưởng ban bảo tiểu đội trưởng cảnh vệ cho gọi chú cảnh vệ gác hồi đêm đến, lấy lời khai luôn cho tiện. Nghe tiểu đội trưởng gọi, chú lính cảnh vệ chạy tới, đứng nghiêm trước mặt hai người. Phó trưởng ban hỏi:

- Đồng chí cảnh vệ gác đêm hôm qua và đã phát giác vụ tù trốn trước tiên ?

- Dạ...thưa đồng chí phó trưởng ban, chính em

- Đồng chí phát giác vụ trốn vào lúc mấy giờ ?

- Dạ, em không có đồng hồ nên không biết. Em ước chừng khoảng hơn 12 giờ đêm.

- Tại sao phát giác được ?

- Lúc đó trăng mọc cũng đã khá cao. Tôi đi tuần, bất ngờ phát giác lỗ đào dưới hàng rào bên ngoài rồi tìm ra luôn lỗ đào ở hàng rào trong. Tôi chạy đến lều phong vương gọi, không thấy tù nhân đâu. Tôi thổi còi báo động liền rồi chạy lên cấp báo.

- Nếu 10 giờ trăng bắt đầu mọc thì lúc đó trăng mọc đến đâu, vào khoảng mấy giờ ?

Chú cảnh vệ ngước nhìn trời, ngẩm nghĩ rồi thưa:

- Dạ, khoảng 12 giờ đêm. Tôi lên văn phòng, lúc đó là 12 giờ rưỡi.

- Từ tối, đồng chí có nghe tiếng động gì khác ở lều không ? Có lần nào thấy người mang gạo phát cho tù phong vương không ?

- Thưa không.

- Tiếng giũa xiềng cũng không nghe ? Tiếng dao đào lỗ cũng không nghe thấy luôn ?

- Thưa không!

- Trước buổi tối, chú em thấy tù nhân ở lều phong vương có hành động hay thái độ gì khác không ?

- Dạ...không!

Phó trưởng ban cười nhạt rồi nói:

- Chú em làm tờ khai, kể lại đầu đuôi vụ phát giác rồi trình lên văn phòng.

- Tuân lệnh.

Chú cảnh vệ chào rất hùng dũng rồi quay về chòi canh. Phó trưởng ban thong thả trở lên văn phòng...Đi ngang nhà bếp, hắn tạt vào coi qua loa, rồi ghé lò rèn, hỏi kỹ càng về công tác của hai thiếu niên phụ việc, và được biết một người bị sốt rét nặng, mới vào bệnh xá bữa nay. Hắn lẩn mẩn hỏi Hợi vài câu vớ vẩn không đâu rồi chắp tay sau đít đi ra. Được mấy bước, hắn bỗng quay trở vào, đăm đăm nhìn thẳng vào mặt Hợi như muốn ‘’hớp hồn’’ Hợi rồi ngọt ngào hỏi:

- Chú em được may mắn giúp việc tại ban lò rèn bao lâu rồi ?

- Dạ, thưa ông phó trưởng ban, được gần 6 tháng.

Phó trưởng ban thảm nhiên hỏi tiếp:

- Có cây giũa nào dư, không dùng tới, cho văn phòng mượn một cây ?

Hợi muốn choáng váng mặt mày vì chợt nghĩ đến cây giũa đưa cho 982, cố gắng bình tĩnh trả lời:

- Dạ...cháu...không có cây giũa nào hết. Nhưng lò rèn...thì có lẽ có...

Phó trưởng ban lạnh lùng cười nhạt rồi buông thõng hai tiếng:

- Thế à ?

Hợi cố chịu đựng cái nhìn soi mói của hắn cho tới khi hắn lững thững bước ra ngoài lò rèn. Nhưng hắn chợt quay lại quan sát vẻ mặt của Hợi rất kỹ càng rồi đột ngột hỏi thợ rèn:

- Trong lò rèn này có mấy cây giũa ?

Thợ rèn ngẫm nghĩ, trả lời lúng túng:

- Thưa ông phó trưởng ban, có năm cây giũa lớn, nhỏ.

- Hiện giờ có đủ không ?

Thợ rèn mở rương đếm rồi trả lời:

- Dạ, đủ năm cây.

- Sổ ghi vật dụng lò rèn đâu ? Đưa coi.

Thợ rèn lấy cuốn sổ nghi vật dụng. Phó trưởng ban đọc ở hàng cột ghi số giũa:

- 5 cây (lớn, nhỏ).

Trong khi đó, thợ rèn nhặt hết 5 cây giũa trong rương cầm ở tay cho phó trưởng ban kiểm điểm. Nhưng hắn chỉ liếc sơ qua rồi lững thững đi ra không hỏi gì thêm nữa.

Chờ cho y đi được một quãng, thợ rèn mới lộ vẻ mặt băn khoăn khó hiểu, nhìn Hợi. Không biết vụ tù phong vương trốn có liên hệ gì đến ban lò rèn mà phó trưởng ban quản trị lại hỏi như vậy ?

- Tại sao ông phó lại hỏi mượn mày cây giũa ? Bộ mày có hả ?

- Dạ, cháu đâu có biết. Ông ấy muốn hỏi thế nào chẳng được ?!

Thợ rèn không nói, lặng người đi suy nghĩ, tay vẫn lăm lăm cán búa, giây lát lại nhìn trộm Hợi. Nhưng thiếu niên này đang để hết tâm trí vào việc nắn những cây sắt tròn rồi chặt ra từng đoạn để thợ rèn có vật liệu làm xiềng gấp cho nhu cầu của trại. Trông nó nghiêm nghị như người lớn.

Sáng nay, trong lò rèn không nóng lắm mà chiếc áo rách của Hợi đẫm mồ hôi như mắc mưa...

« Lùi
Tiến »