Gần trưa, ban điều tra nhận được hai tờ trình, một của giám thị, một của cảnh vệ. Hai người này gặp nhau ngoài sân trại đều nhăn nhó phàn nàn sự không may của mình. Nhân dịp, viên giám thị yêu cầu chú cảnh vệ thuận lại đầu đuôi vụ phát giác cho hắn nghe. Đến đoạn nói phó trưởng ban quản trị đã có bằng chứng tù phong vương dùng giũa cắt xiềng, giám thị ngẩn mặt một cách lo sợ. Không dè hắn đã tạo điều kiện cho bọn phản động mang dụng cụ cắt xiềng cho tù 982. Nguy quá!
Không biết trong tờ trình, giám thị viết những gì mà giữa trưa, trong giờ nghỉ, có nhân viên xuống lò rèn gọi thiếu niên Hợi lên văn phòng, tối mịt cũng không thấy cậu ta về.
Sau bữa ăn chiều, thợ rèn mật trình cho giám thị biết sự vắng mặt của Hợi, giám thị gật đầu ra vẻ ‘’biết rồi’’, và nói:
- Không chừng, thằng phản động bé con đó còn làm nhiều người bị tội lây!
Gián thị hạ thấp tiếng:
- Rất có thể có một bọn ‘’phản động’’ hoạt động ngay trong trại. Phải coi chừng!
Tù thợ rèn là tay sai thân tín của giám thị, đảm nhiệm bóc lột tù cho hắn nên giám thị không nỡ giấu một vài tin quan trọng. Thợ rèn sợ hãi thất sắc, định hỏi thêm về Hợi nhưng giám thị đã dợm chân quay đi và nói:
- Chú mày kiếm một cái xiềng thật nặng dành sẵn cho nó!
Thật ra, đã có thời gian, trại giam không quan tâm đến tù trốn trại cho lắm. Vì theo kinh nghiệm, tù không chết trong trại giam thì chết trong rừng. Khỏi mất công vùi ngoài bãi.
Ở trại thì chết đói, chết bịnh, chết vì đòn tra tấn trừng phạt, vì lao động quá mức, suy nhược tinh thần và vì quá sợ. Trốn vào rừng cũng chết đói, chết vì thú dữ, rắn độc, vì quá cực nhọc, đi mãi đi hoài không tìm được đường về vùng quốc gia để sau chót lại rơi vào tay nhân dân, dân quân du kích hay bộ đội. Đi đến đâu, người tù vượt ngục cũng thấy vòng vây thắt lại quanh mình như thiên la địa võng, bay không thoát chui không lọt. Rồi kết cuộc, tù nhân thắt cổ tự tử trong rừng để thoát nợ đời. Lại cũng có người thối chí quá ra đầu thú để dân chúng trói tay, buộc dây dắt như dắt chó về nộp cho trại giam.
Nhưng dù sao, trong giai đoạn này, vụ tù vượt ngục trại giam bằng những phương tiện chuẩn bị trước cũng gieo rắc những nhận định không hay về toàn thể ban quản trị, cả về phương diện hành chánh lẫn chính trị. Tiếng xấu đó bay về đến trung ương sẽ gây hậu quả tai hại cho ban quản trị. Tất nhiên sẽ có những cuộc tuyên chuyển, cải đổi, trừng phạt và điều tra bí mật hoặc công khai. Trung ương lại còn cho cấp trên đến thanh tra nữa là khác. Mà nhân vật nào sẽ thanh tra các trại giam ở Liên Khu 3 và 4 nếu không phải là hung thần Lý Bá Sơ. Phải, chính tên cựu lý trưởng Sơ đi thanh tra. Thiếu gì kẻ sẽ mất mạng ?
Vì vậy ban quản trị Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm Đầm Đùn quyết định cho lùng bắt kỳ được 982, nhất là theo kết luận của cuộc điều tra sơ khởi, đây là một vụ vượt ngục trong một kế hoạch rộng lớn có chuẩn bị kỹ càng, có tòng phạm là tù trong trại một phần, phần khác do một tổ chức chính trị ‘’phản động’’ bên ngoài -có thể là đoàn thể Liên Tôn Diệt Cộng- yểm trợ. Qua những sự kiện trên, Thượng cấp còn thấy việc học tập của tù nhân chưa đem lại kết quả mong đợi, việc đôn đốc, kiểm soát, coi sóc tù nhân của nhân viên trại giam không được chu đáo, tạo dịp cho bọn ‘’Việt gian’’ lợi dụng các sơ hở.
Nhân viên được trao trọng trách theo dõi lùng bắt tên tù vượt ngục lại chính là tên giám thị hiểm độc, tàn bạo nhất đã đề nghị phong vương 982, ban quản trị trao nhiệm vụ cho hắn là giúp hắn có dịp chuộc tội lập công. Ngoài ra, về mặt tâm lý, 982 còn là tử thù của hắn vì đã mưu định giết hắn bằng nọc độc kiến bò nhọt. Vậy trao cho hắn nhiệm vụ lùng bắt 982 là hợp tình, hợp lý. Bắt buộc hắn phải cố sức đến cùng.
Nên, chỉ khi được lệnh của thượng cấp, giám thị Tùng lật đật vào một Bản cách trại giam hơn ba cây số. Dân Bản này là dân thiểu số người Mán, ở rải rác lưng chừng ngọn núi ngay bìa rừng.
Vì lý do riêng, giám thị khoái vào làng Mán là khác. Chiều hôm kia, không có công tác gì của trại và mặc dù trời mưa, hắn cũng lặn lội vào tận Bản này, mãi sáng qua mới trở về trại để đến nỗi bị phó trưởng ban quản trị cảnh cáo một trận nên thân. Chắc chắn còn bị kiểm thảo, trừng phạt là khác.
- Ối chào! Khỏi cần!!
Viên giám thị thốt ra một câu bực tức.
Là vì không còn ‘’trại sản xuất nào vất vả, nhọc nhằn, buồn thảm, tù chết nhiều vì đói, vì bệnh tật, tai nạn, và giám thị với các nhân viên khác các trại chết vì lây bệnh của tù nhiều hơn Trại Đầm Đùn. Tuyên chuyển về đây là cùng đường mạt lộ rồi, còn trại nào thảm hại hơn mà mà tống khứ đi nữa ?
Nhưng giám thị Tùng vào làng Mán làm gì, mưu toan việc gì ?
Tùng làm việc tại Trại Đầm Đùn đã hơn hai năm nay, quyền hạn của hắn trên thực tế đối với tù thật bao la, muốn đánh, muốn giết chỉ việc bịa ra chuyện này, vu cho chuyện nọ là tù đáp ‘’chuyến tàu suốt’’. Lâu dần, hắn bị ‘’méo mó nghề nghiệp’’, tính độc ác, tàn bạo trở thành một ‘’bản tánh thứ hai’’, đối với người dân trong vùng, hắn cũng có cử chỉ hách dịch, những hành động áp bức, dọa nạt. Con người ác tâm, lại làm việc tại một cơ quan chuyên làm điều ác độc, càng trở nên ác độc là lẽ thường.
Mới đây, một buổi dẫn tù đi làm, tình cờ hắn gặp một thiếu phụ Mán đi chợ. Thiếu phụ dân tộc thiểu số không đẹp gì nhưng lối phục vụ lòe loẹt, lạ mắt, dị kỳ đã làm tăng dáng vẻ hấp dẫn của thiếu phụ khiến tên ác nhân ngơ ngẩn. Nhất là cặp mắt của thiếu phụ sếch và sắc như dao cau lại long lanh đưa đẩy, thầy giám thị như bị lạc hồn mất vía. Sau đó, giám thị Tùng mở cuộc điều tra nho nhỏ, được biết thiếu phụ Mán ở Bản X...gần trại giam, mới lấy chồng được nửa năm, hương lửa đang nồng thì anh chồng bị rắn độc cắn chết. Thiếu phụ nọ góa, gậm nhấm nỗi cô đơn đau đớn từng đêm dài.
Ít ngày sau đó, hắn ta bèn lân la đi lại với gia đình thiếu phụ Mán, tính đợi dịp ép liễu nài hoa. Dân làng biết tiếng tên hung thần của trại giam, có ý ngại ngùng.
Tên giám thị đang sức trai, vợ con ở xa, nhưng cũng sợ phản ứng quyết liệt gây hậu quả không tốt, nhất là sợ tiếng đồn xấu đến tai thượng cấp. Hắn quyết định dùng cảm tình để đạt mục đích. Lâu dần, thiếu phụ nọ muốn đã xiêu lòng, chỉ phản ứng lấy lệ mà thôi. Vả lại, nói chung, tâm hồn người miền núi cao thường giản dị, họ hành động theo bản năng nhiều hơn lý trí.
May thay, đến lúc thiếu phụ nọ gần sa ngã trước sự đàn áp tinh thần và tấn công tình cảm của tên giám thị, có một thanh niên Mán, người cùng bản, đến hỏi thiếu phụ làm vợ. Giữa thời gian này, tên giám thị lại lần mò tới, thái độ hống hách không coi ai ra gì, tính gấp chuyện nài liễu ép hoa trước khi hoa trở nên có chủ.
Nhưng sáng nay, tên giám thị tới làng Mán trước hết vì công vụ. Hắn tới nhà ông chủ tịch xã cho biết nhiệm vụ của hắn.
Những ai có dịp tới những vùng núi cao rừng sâu, đều thấy đồng bào thiểu số quý nhất một thức vật, quý hơn gạo, hơn thịt hơn tất cả mọi thứ. Đó là muối ăn. Dân thiểu số làm ra được tất cả trừ muối. (Cũng có nơi biết cách đốt than củi ra tro rồi lọc lấy chất muối, nhưng kết quả không được bao nhiêu và muối thiếu ‘’độ’’ mặn cần thiết).
Với muối, đồng bào thiểu số có thức ăn ngon và nhất là có thể ướp thịt rừng, ướp cá, ướp các thứ củ, lá và làm nhiều thứ khác, không có muối không xong. Muối lại còn cần cho cơ thể dưới hình thức đồ ăn nữa.
Vậy, với 1 kg muối, người Mán có thể làm bao nhiêu việc ích lợi và cần thiết cho đời sống hàng ngày của họ.
Nay, Trại Giam Đầm Đùn treo giải thưởng ba ký lô muối, thật là một giải thưởng to lớn quá sức tưởng tượng. Một ký lô cũng đủ gây háo hức lắm rồi, huống hồ...Muốn được ba ký chất mặn đó, chỉ việc vào rừng, lùng kiếm tên tù vượt ngục. Công việc dễ ợt! Vì đường lối đi trong vườn, trong sân nhà mình. Chỗ nào có hang hốc, chỗ nào là khúc suối sâu, nơi nào có cầu treo, nơi nào cầu nổi chỉ có hai thân cây nổi lềnh bềnh, nơi nào thường có trăn có cọp hay rình bắt người, khu rừng nào thường gặp ma rừng ban ngày v.v...người địa phương đều biết rõ. Có những khu rừng đã lạc vào sẽ khó tìm đường ra lại không kiếm được hoa quả gì bỏ vào miệng, nhất nhất họ đều thuộc lòng và chỉ bảo cho bạn bè, con cháu, bà con trong Bản.
Hơn thế nữa, họ còn một phương tiện khác giúp họ đỡ tốn công, đó là những con chó săn. Mỗi gia đình Mán, Mường có nuôi một, hai hoặc ba con chó dùng vào việc đi săn. Không biết người Mán, Mường huấn luyện theo phương pháp nào mà chó săn rất tinh khôn tài giỏi. Nhờ khứu giác tế nhị và bén nhạy lạ thường, chó đánh hơi giúp chủ tìm ra nơi ẩn núp của thú rừng: Hươu nai, lợn rừng, cáo, chồn, trăn...và nhất là tìm người bị lạc trong rừng. Cho đàn chó ngửi hơi hướm, quần áo, đồ vật của người bị lạc rồi dắt chó vào rừng. Chó đánh hơi trong gió, dẫn chủ đi tìm, kết quả hầu như chắc chắn.
Giải thưởng ba ký lô muối gây xôn xao trong làng Mán. Tin được loan truyền rất mau và chưa tới nửa tiếng đồng hồ, năm người Mán đã từ ngoài nương, rẫy về, lật đật dắt chó lại xin đuổi bắt tên tù trốn trại. Tuy vậy, họ cũng đeo ‘’gùi’’ ở lưng, mang theo một cây ná, vài bó tên, (tên thường và tên độc) một cuốn dây luộc và con dao rừng cán dài, lưỡi sắc như nước và rất khỏe. Với con dao rừng này, họ dám chống cự cả với thú dữ. Họ sẵn sàng lên đường ngay, hy vọng chiếm giải thưởng.
Giám thị tập hợp những người Mán tình nguyện, cho biết những chi tiết cần thiết để hướng dẫn cuộc săn bắt. Đến đây, nẩy sinh một sự phiền phức, bất tiện cho Tùng. Nguyên do là mấy người Mán cần cho chó ngửi ‘’hơi hướm’’ của tên tù vượt ngục, có như vậy mới dễ kiếm. Muốn thế, giám thị phải đưa họ về Trại Đầm Đùn cho đàn chó tới lều phong vương đánh hơi...kỹ cái nón lá và hai cái tấm ván cùm. Giám thị không thể lưu lại Bản này một thời gian cần thiết đặng thi hành mưu định xâm phạm tiết hạnh thiếu phụ Mán. Dịp may, bao giờ gặp lại ? Giám thị cau mặt suy nghĩ, vẻ bực mình. Sau cùng hắn nói:
- Thôi, mấy người hãy đi kiếm trong khu rừng gần đây, trong khoảng đường bán kính bốn, năm cây số trở lại là thấy tên tù trốn rồi. Nó bị đói, lại đau ốm yếu đuối, đâu có chạy xa nổi. Chưa quá hai đêm, một ngày mà!
Rồi hắn nhìn mấy người Mán, dọa nạt:
- 8 giờ sáng mai, mấy người ra trại, tôi sẽ kiếm cho mấy người những thứ còn giữ lại cái hơi ‘’thối’’ tên của tù phong vương. Làm việc phải có giờ giấc, kế hoạch. Bữa nay, tôi còn có công tác khẩn do trung ương ủy nhiệm, phải thực hiện gấp!!
Mấy người Mán không biết làm sao hơn, bàn nhau líu tíu bằng thổ ngữ của họ giây lát rồi dắt chó đi, mỗi bọn một ngả. Bọn ba người đi về phía Tây Bắc, nghĩa là đúng con đường 982 đã chạy qua. Còn bọn hai người dắt chó về phía Tây Nam Trại Đầm Đùn.
Nhưng đến đây mới xẩy ra một vụ ‘’trật đường rầy’’ khiến tên giám thị độc ác lại rơi vào trong tay những người hắn đang giết chết lần mòn.
Bọn người Mán đi rồi, giám thị Tùng ngồi nói chuyện với ông lão Mán, chủ tịch ủy ban nhân dân xã này. Lâu nay, có giấy tờ, công văn hoặc công tác, hắn thường vào trong Bản và có dịp giao thiệp với các chức việc.
Bản này gồm hơn chục nhà sàn, cất rải rác trên lưng chừng núi theo phong tục và thói quen của sắc dân thiểu số. Thành kiến của người miền xuôi đối với người Mán thường lầm lẫn khi cho họ là một sắc dân lạc hậu ngớ ngẩn. Sự thật, người Mán tương đối tiến bộ hơn các sắc dân thiểu số khác, họ biết văn tự và phần nhiều thông Hán tự. Mỗi nhà đều có bàn thờ gia tiên, ở gian giữa, thường treo hoành phi, câu đối chữ nho và bày biện, trang hoàng chẳng khác chi người dân quê miền đồng bằng Bắc Việt.
Nói vài chuyện vẩn vơ, tên giám thị cáo lui lấy cớ đến thăm một người bạn trong Bản.
Thật ra, hắn lò dò đến nhà thiếu phụ Mán nọ ở mãi ngã ba hai con đường chính bò ngang lưng núi. Khi đó, ông bà già Mán đều đi khỏi. Ông già ra ngoài rẫy cuốc khoai, bà già ra suối giặt. Chỉ có thiếu phụ đang xay bắp một mình ở nhà dưới.
Con chó Vệt đã theo bà già ra suối nên tên giám thị vào đến trong nhà, thiếu phụ Mán vẫn không hay. Nàng vừa xay bắp vừa thì thầm hát một bài hát trữ tình phổ thông của người miền núi. Đến lúc quay lại nhìn phía sau, nàng từ bao giờ. Nàng càng lạ lùng và sợ sệt khi nhận ra người này có vẻ hách dịch, súng lục dắt cạnh sườn.
Nàng luống cuống, chắp tay chào và nói lí nhí trong miệng:
- Thầy hỏi ai ?
Khách cười nói nham nhở:
- Tôi hỏi cô chứ còn ai nữa ? Cô quên tôi rồi à ? Noọng Slao ??
Slao chợt nhớ ra. Bữa đó đi chợ gặp thầy giám thị này dẫn tù đi làm, thấy ta nhìn nàng bằng cặp mắt lẳng lơ, chờ cho bọn tù đi xa một quãng, thầy ta lại gần nắm lấy tay nàng rồi thì thầm vào tai những điều khó nghe một cách thô bỉ. Nhưng nàng gỡ tay ra được, nghiêng nét mặt phản đối.
Slao đã bớt hoảng sợ, gượng cười:
- Có chuyện chi đó, thầy...giám thị ?
- Có chuyện quan trọng cần hỏi ông già. Và có chuyện vui đem đến cho Noọng Slao.
Noọng Slao vội vã đáp:
- Nếu có chuyện cần gấp, xin ‘’thầy đồng chí’’ ngồi đợi đây chút xíu, tôi ra rẫy gọi ông già về liền. Cũng gần thôi...
Giám thị gạt ngang:
- Khỏi cần! Không gấp lắm. Chừng nào ông già về cũng được.
Thiếu phụ ngần ngừ vài giây, chưa biết nên giải quyết cách nào cho tiện, đành phải đon đả với nhân viên chánh quyền. Hồi đó, tâm lý chung của sắc dân thiểu số và rất sợ người nhà nước. Ngày xưa họ sợ người Pháp và bọn quan lại tay sai, bây giờ họ sợ Việt Minh, sợ những đảng viên, sợ chính quyền. Uy quyền của đảng viên cộng sản thật vô hạn, họ đã thấy.
- Mời ‘’thầy đồng chí’’ lên nhà uống nước.
Giám thị cười:
- Đừng gọi tôi là ‘’thầy đồng chí!’’ Bỏ chữ ‘’thầy’’ gọi ‘’đồng chí’’ đủ rồi! Nghe không em Slao ?
Noọng Slao không trả lời, thoăn thoắt đi trước dẫn khách. Giám thị Tùng ngắm cái thân hình đang vào thời kỳ phát triển đầy đủ nhất mà rạo rực.
Thật vậy, hai bắp chân chắc lẳn của thiếu phụ hàm chứa một sức mạnh dẻo dai. Từ cổ chân lên tới đầu gối quấn xà cạp xanh theo phong tục. Nàng mặc yếm hồng bó sát, ngực nàng vồng lên một cách tấm tức ngạo nghễ.
Ngoài cùng hết, nàng bận một tấm áo dài màu chàm ngắn cụt cỡn chưa tới đầu gối lại không có khuy cài nên nửa kín nửa hở. Tóc thiếu phụ chải ngược tết lại thành búi cao giữa đỉnh đầu có cài trâm bạc dài, mỗi nhịp cánh tay đong đưa, vòng bạc chạm vào nhau reo vui thánh thót như ân cần, mời mọc. Váy nàng rất chật lại ngắn, cao gần đến kheo chân, thêu chỉ ngũ sắc rất cầu kỳ ở mép vải.
Mầu sắc rực rỡ xôn xao trên thân hình thiếu phụ tạo nên một vẻ kỳ thú, gợi cảm đặc biệt đối với bộ óc mất thăng bằng của tên giám thị. Hắn nhìn soi mói, đờ đẫn vì thèm khát. Khi không, hắn mỉm cười như đang ‘’ăn’’ trước bằng tưởng tượng một món ăn thèm thuồng, vành môi nơi gần mép mấp máy trễ xuống để lột mấy cái răng nanh, trông hắn ngây ngô, kỳ cục như con dê đang...tủm tỉm.
Giám thị Tùng ở vùng này khá lâu nên biết thiếu phụ Mãn không còn đội chiếc mũ xếp nhiều cạnh bằng vải dầy nhuộn màu cánh sen là nàng đã qua thời kỳ con gái, nàng đã có chồng. Một ý nghĩ vẩn đục thốt làm cho mặt tên ‘’cường hào ác bá’’ nóng bừng máu chảy dần dật. Vợ con ở mãi ngoài Nam Định, hai năm nay không về thăm lần nào. Hơn nữa, bản tánh hung dữ lại ‘’xấu máu’’ hắn không dằn nổi sự nôn nao mặc dầu hắn vẫn nhớ phạm tội ‘’hủ hóa’’ mà không có vây cánh che chở, có thể mất mạng như không.
Lòng si mê như một tấm màn đen che kín lương tri khiến hắn biến thành một con thú. Khi thiếu phụ Mán mời hắn lên trên sàn ngồi ở gian giữa rồi nàng trở vào gian đầu hồi để sửa soạn gì đó, hắn đã lặng lẽ đi sát theo chân nàng tự bao giờ. Hoặc giả nàng có liếc thấy nhưng không biết đối phó cách nào nên làm như không thấy chăng ? Trái lại, giám thị coi thái độ thụ động của nàng như một sự ưng thuận, một sự khuyến khích hắn tiến thêm một bước. Thiếu phụ bàng hoàng cất giọng run run vì xúc cảm, hỏi bâng quơ một câu -thật ra, nàng quýnh quá nên cũng không hiểu mình định nói gì- thì hắn đã đưa chân ngáng rồi lựa cách đẩy nàng ngã nhè nhẹ xuống sàn, một tay giữ chặt không cho thiếu phụ phản ứng rồi thuận tay kia, hắn cài then cửa.
Trước sự tấn công điêu luyện và đúng lúc của tên ‘’cường hào’’ khốn nạn, người thiếu phụ góa chồng bàng hoàng chống cự một cách vô hiệu.
...Lát sau, tên giám thị thảm nhiên mở cửa bước ra. Y sửa lại áo quần cho thẳng thắn, vừa cười vừa nói:
- Ngày mai tôi đem cho Noọng Slao một ký lô muối. Bằng lòng chưa ?
Nói xong, vội quay đi cho được việc, hắn đã thấy sừng sững trước mặt một thanh niên Mán chạc tuổi hắn và đằng sau thanh niên là hai ông bà già mà hắn đoán là cha mẹ thiếu phụ. Cả ba đều hầm hầm tức giận. Ông già lên tiếng trước tiên:
- Thầy giám thị vào trong nhà tôi cưỡng hiếp con gái tôi hả ?
Rồi quát lớn:
- Slao! Slao!!
Thiếu phụ từ trong phòng bước ra, vẻ ngượng ngùng rõ rệt. Đến lúc nàng ngửng lên, mọi người thấy nàng đầm đìa nước mắt. Bà già òa lên khóc theo một cách bất ngờ. Giám thị tái mặt nghĩ thầm:
- Nguy rồi! Chỉ chậm một phút mà thật tai hại!
Nhưng bỗng hắn hùng hổ trừng mắt hỏi:
- Có người báo nhà này giấu tù nhân vượt trại. Có không ? Phải khai thật.
Câu hỏi của người đại diện pháp luật và là nhân viên của Trại Giam Đầm Đùn có một tác động ghê gớm khiến mấy người nhìn nhau, lo sợ. Bị giam ở Trại Đầm Đùn, chỉ có chết mất xác!
Thấy không khí đã bớt nghiêm trọng, giám thị bèn xuống giọng ‘’thân mật’’ hơn:
- Nếu mấy người không giấu tù nhân mà biết chỗ tù nhân trốn thì chỉ cho tôi bắt, cũng nhẹ tội. Với bà con quen biết trong Bản, tôi che chở cho.
Thấy ông già còn đang suy nghĩ, hắn bước lại gần, khẽ nói:
- Chỉ cho tôi bắt tên tù vượt ngục. Ông già sẽ được thưởng lớn. Dù sao, ngày mai tôi sẽ cho ông, bà một ký lô muối.
Ông già, bà già cùng lặng thinh. Hắn tấn công thêm, để giải quyết cho xong sự rắc rối:
- Tôi sẽ che chở nếu ông bà già là người ‘’biết chuyện’’. Tôi sẽ thưởng cho ông bà, cả ký muối với nhiều thứ khác...
Hắn thảm nhiên, đường hoàng bước xuống cầu thang sau khi đe dọa lần chót:
- Bây giờ, tôi về trại trình sự việc lên thượng cấp. Mai, tôi sẽ trở lại với lệnh trên.
Tên giám thị ra khỏi cổng, khấp khởi mừng thầm thoát khỏi nguy hiểm. ‘’Hủ hóa’’ là một tội rất nặng theo luật lệ của trại giam, đối với nhân viên cũng như tù.
...Ông già Mán lầm lì ngồi xuống sàn bỏ mồi thuốc vào điếu, kéo một hơi thật dài, nhìn khói tỏa, cau mày lại suy nghĩ...Đóm cháy hết, lửa bén đến tay mà không biết...
Trong lúc tên giám thị đang ‘’hủ hóa’’ với thiếu phụ Slao, bọn Mán năm người chia làm hai tốp, đi lùng tù 982 đặng giành lấy ba lô muối quý như vàng. Năm con chó, luôn luôn kéo thẳng sợi dây tiến vào rừng, thỉnh thoảng hướng mũi lên cao sủa bâng quơ mấy tiếng khiến đàn chim đậu trên cánh vỗ cánh bay ào ào.
Nhưng bọn người Mán thấy ngay lùng kiếm vớ vẩn như vậy chỉ trông cậy vào sự may rủi, chỉ trường hợp tù vượt ngục ốm yếu quá, không lết được đành ngồi trong một bụi rậm hay nấp trong hang hốc nào đó, chờ chết hay chờ bị bắt lại, họ mới tìm được. Con đường rừng trăm ngàn ngả khác nhau, nơi thưa cây, quãng rậm rạp, biết tù vượt trại nấp ở đâu mà kiếm nếu không nhờ chó đánh hơi.
Chi bằng quay lại Trại Giam Đầm Đùn trước đã, cho chó săn ngửi cái ‘’hơi’’ của tù 982 còn để lại nơi nằm ngồi trước hoặc ở đồ vật như cùm, chiếu, quần áo chẳng hạn.
Có làm như thế mới chắc chắn thu được kết quả.
Bàn nhau như trên, bọn thợ săn thứ nhất gồm ba người quay trở lại trại giam.
Trước cổng trại, một người lính cảnh vệ hung hăng cầm ngang cây súng trường, chặn mấy người Mán, quát:
- Đứng lại!
Bọn người Mán đứng khựng lại, bán tính giây lát rồi một người tiến lên, trình bầy sự việc. Tên cảnh vệ không hề nghe nói về chuyện này nên lại chòi canh cho người phụ tá vào trình sự việc với văn phòng. Lát sau, một giám thị ra dẫn ba người Mán nói chuyện, anh ta cũng là dân thiểu số, có quen biết mấy người có cho săn.
Sau đó, giám thị được lệnh của phó trưởng ban quản trị trại dẫn mấy người Mán và đàn chó xuống lều phong vương. Được dắt lên sàn lều cho đánh hơi thật kỹ hai tấm ván cùm, chiếc nón lá và chỗ ăn nằm của 982, đàn chó hiểu công tác trao cho chúng, vừa đánh hơi vừa rít, và kích thích đặt biệt. Khi xuống bãi cỏ, chúng kéo căng sợi dây tiến ngay lại hàng rào, nơi 982 đã đào ngạch để chui. Nhưng lỗ này đã được lấp kín.
Những tù nhân đang lao tác trong trại thấy mấy người Mán dẫn cho đến lều phong vương, biết rằng việc truy tầm 982 đã tới giai đoạn kịch liệt.
Họ đưa mắt cho nhau thay lời. Một tù nhân già đang gánh nước tưới mấy mẫu cà, không thấy bóng giám thị, buộc miệng than thầm với người bạn đồng cảnh, râu cũng đã bạc trắng:
- Đằng nào cũng chết, chết mẹ nó trong trại cho đỡ vất vả! Trốn làm gì ?
May thay, những lời phê bình mất ‘’lập trường’’, như thế không lọt vào tai giới chức.
Thợ rèn đang quai búa trên đe, thấy người và chó đứng lố nhố trên sàn lều phong vương, bất giác nghĩ đến thiếu niên Hợi bị gọi lên lên văn phòng rồi bị giữ, hoặc bị nhốt xuống xà-lim, bặt tin và mất tích luôn.
Lát sau, ba người Mán đi ngang lò rèn, vòng ra cửa sau trại vào rừng cho tiện đường.
Tiếng chó sủa mỗi phút một xa...Rồi mất luôn. Đàn chó đã dẫn chủ vào trong rừng đuổi theo tên tù trốn.
Ba người Mán và ba con chó tiến về phía Tây Bắc, theo đúng con đường 982 đã lần mò đi qua, vào đến khu rừng thưa thì đã quá trưa được một lúc. Còn có bốn tiếng đồng hồ để tìm kiếm, họ chỉ đi theo một đường vòng cách trung tâm trại không quá 4 cây số.
Vào đến rừng, họ tháo dây cột, mấy con chó được tự do chạy qua chạy lại, đánh hơi trên mặt đất hay hướng mũi lên cao bắt hơi trong gió.
Đến xế chiều, mấy người Mán ‘’hú’’ gọi nhau, cùng quay về Bản. Không có kết quả. Không gặp dấu vết gì khả nghi, cũng không gặp người nào đi rừng để hỏi thăm về hành tung tên tù trốn trại.
Ngày thứ hai, cả năm người Mán dắt chó đi hết về phía Tây Bắc. Kinh nghiệm cho biết trong mười người tù vượt ngục có đến tám người trốn về mạn rừng Tây Bắc để tìm đường về vùng Bỉm Sơn, Đồng Giao để bỏ thây trong miệng cọp hoặc rơi vào tay bộ đội thường xuyên di chuyển dọc theo Quốc Lộ 1, từ Thanh Hóa ra Ninh Bình, Nam Định.
Bữa nay, chuẩn bị lương thực ăn hai ngày đường, họ dậy sớm quấy bột ngô thành một thứ bánh đúc hoặc cho gạo nếp và nước vào ống giang bịt kín, đốt ống cho chín gạo thành cơm nếp rồi gói theo muối, ớt để ăn đường. Ngoài ống tre đựng nước, con dao rừng, tên độc, tên thường và cây ná là những thứ không thể thiếu khi đi rừng, họ còn mang theo một bó ‘’dây luôc’’ nhỏ mà rất chắc, dài tới vài ba chục thước, phòng khi phải quăng dây lội qua con suối nước chảy xiết, hoặc trói giữ tên tù trốn trại.
Con dao rừng không rời tay, họ ngước nhìn những ngọn cây rậm rạp, ngó kỹ những hốc, những hang, mỗi lần ngờ trong bụi có người nấp, họ ‘’suỵt’’ chó sục vào đánh hơi.
Cho tới quá trưa, vẫn không có kết quả. Tên tù trốn không để lại tăm hơi dấu vết gì.
Gần chiều, mấy người Mán ngồi nghỉ bên một gốc cây cổ thụ, giở lương thực ra ăn. Bỗng có tiếng động cơ máy bay ì ì lại gần rất mau. Liền sau, ba chiếc phi cơ khu trục của quân đội Pháp đã ầm ầm bay sát ngọn cây. Cả người lẫn chó đều rúm lại vì sợ hãi. Mấy người Mãn vừa nép mình vào thân cây bưng chặt lấy tai, máy bay đã mất dạng. Ít lâu nay, phi cơ Pháp thường bay rà rà trên các vùng thôn quê, các vùng đồi núi để khủng bố dân chúng, nhất là để oanh kích các toàn bộ đội và những đám dân công đào đường, hoặc gánh lương thực, đạt dược, võ khí tiếp tế cho bộ đội ở Khu Tư.
Ăn xong, ba người Mãn lại tiếp tục công việc lùng kiếm. Họ đi được gần hai cây số trong rừng, bỗng mấy con chó sủa lên dữ dội rồi xăm xăm chạy về đám cây um tùm phía trước một cách bất ngờ. Am tường địa thế, mấy người Mán biết gần đây có một cái am nhỏ bằng cây đã xiêu vẹo, cất trên một khu đất bằng phẳng. Nhưng bên trên khoảng đất lại là một tàn cây rậm rạp, lá cành đan kẽ với nhau làm thành một mái lá thiên nhiên xanh um, những loại cây hoang đã leo lên các thân cây, cành cây, bắt gặp nhau trên lưng chừng không, quấn quít che kín khiến ánh nắng không lọt xuống được, mặt đất quanh năm suốt tháng ẩm ướt.
Theo tục lệ của dân thiểu số địa phương, mỗi khi đi qua miếu này họ thường vào làm lễ, van vái. Nhiều người đã kể lại những chuyện hiển linh khó hiểu của Thần Rừng. Còn bộ đội nhân dân khi qua khu rừng này, vẫn ngồi nghỉ trên khoảng đất phẳng phiu quanh miếu, hoặc mang lương thực ra ăn, trước khi tiếp tục chuyển đi. Những toán dân công, đông cả mấy ngàn người, chuyển vận võ khí cho bộ đội trấn giữ miền rừng núi, cũng dừng lại nơi đây một vài tiếng đồng hồ để giải lao hay ăn uống.
Ba người Mán huýt gió gọi chó, xòe bàn tay đập nhè nhẹ vào đầu mấy con, vật ra hiệu im tiếng. Rồi họ dừng lại nghe ngóng động tĩnh. Thấp thoáng sau những bụi rậm rạp gần miếu như có bóng người. Họ bàn nhau giây lát, rồi chia làm ba mặt, tiến lại gần miếu. Bỗng có tiếng quát khiến mấy anh Mán giật nẩy mình.
- Đứng lại!
Từ sau một gốc cây cổ thụ, một anh bộ đội tư thế cận chiến đột nhiên xuất hiện. Ba anh Mán bị mấy anh bộ đội chận lại cùng lúc. Rồi thì đám dân công từ phía sau ùa đến, nhanh nhẹn lần khám trong mình ba anh Mán đứng chung một chỗ sừng sộ hỏi:
- Mấy người đi đâu ? Làm gì ở trong rừng mà dắt theo chó ? Đưa coi chứng minh thư.
Mấy người Mãn sợ hãi móc túi lấy chứng minh thư. Xong, họ trình bày công việc của họ bằng thứ tiếng Việt Nam chưa sõi lắm. Anh bộ đội vốn i tờ nên càng không hiểu, bàn nhau trói ba người Mán dẫn đi theo, khi đến Bản gần nhất, sẽ trao cho ủy ban xét xử gian ngay. Thời thế này, không biết đâu mà tin được, nhất là trong sắc dân thiểu số, nhiều phần tử, tỏ ra chống đối, vẫn còn thái độ lạc hậu lưu luyến chế độ cũ. May thay, trong đám bộ đội có một người Mán, nhờ người này thông ngôn, anh cán bộ chỉ huy mới hết nghi ngờ và trả lại tự do cho ba người Mán đi công tác.
Lát sau, đoàn dân công lên đường xuyên rừng đi về phía Nam. Bọn người Mán lại tiếp tục tiến lên Tây Bắc, đi vòng sang cánh rừng bên mé trái vì họ suy tính rằng tên tù vượt ngục không bị bộ đội và đoàn dân công phát giác thì chắc chắn hắn không đi cùng một con đường với đoàn dân công.
Đến gần chiều, họ vào một Bản tìm nhà người quen ngủ trọ và dò la tin tức. Sáng hôm sau, họ lại lên đường sau khi chuẩn bị lương thực.
Xế chiều ngày thứ tư trong cuộc tìm kiếm, bọn người Mán lại vào Bản, kiếm nhà thân thuộc ngủ đêm. Họ rất mệt mỏi, bực tức vì công việc chưa mang lại kết quả. Hay tên tù đã chết gục ở bờ bụi khe hốc nào đó, hoặc bị thú rừng bắt ăn thịt rồi cũng nên ? Tính ra từ đây về Trại Đầm Đùn, xa đến mười cây số.
Dù vừa đi vừa chạy, tên tù vượt ngục cũng khó lòng vượt xa quá quãng đường này, vì không thuộc đường lối trong rừng. Vả lại, hắn không dám cứ đi thẳng đường mà đi như vô tội. Còn phải tránh né những Bản, những làng, những người đi lại trên con đường mòn, những người kiếm củi trong rừng hoặc làm rẫy, đi săn v.v...Không tránh né, lẩn trốn sẽ bị lộ tung tích ngay, khi đã lộ tung tích, chỉ trong nửa ngày, một ngày sẽ bị túm đầu liền. Chính dân làng tự động đến vây bắt, không cần phải có lệnh.
Tuy mệt mỏi, bọn người Mán vẫn hăm hở như thường. Ba ký lô muối là một phần thưởng lớn lắm, giúp người dân thiểu số bao nhiêu ích lợi quan trọng thiết thực. Ngày mai, họ sẽ lùng kỹ càng hơn nữa trong mấy khu rừng rận, nếu không kết quả, họ sẽ quay về Trại Đầm Đùn hỏi tin tức. Biết đâu trong khi họ lùng kiếm một nơi, tên tù vượt ngục đã bị bắt ở một nơi khác, dẫn về trại rồi không chừng. Chứ không lý nào!
Đêm đó, ba người Mán ngồi quanh bếp lửa trên nhà sàn nọ, đem câu chuyện đi lùng bắt tù vượt ngục ra bàn với chủ nhân. Bất ngờ, họ được nghe kể một vụ trộm vừa xẩy ra trong Bản khiến họ càng nôn nao chờ sáng.
Từ bao lâu nay, không xẩy vụ trộm cắp nào trong vùng.
Lúc bấy giờ vào khoảng bốn giờ chiều.
Một thiếu phụ ra suối giặt, khi trở về nhà thấy cổng ngõ mở chốt tự bao giờ. Con chó vệt thấy người lạ trong vườn, đuổi theo táp một miếng vào cổ chân khiến kẻ gian ngã lăn quay. Hắn ta hươi cây gậy đuổi chó rồi tập tễnh chạy vào rừng, mất dạng luôn.
Đồ đạc, vật dụng, không mất gì ngoài một miếng cơm nếp và bánh đúc ngô, kẻ gian lục lọi trong nồi lấy ra ăn tại chỗ, cơm và ngô còn vãi trên sàn chưa kịp nhặt cho sạch.
Người ta kết luận rằng kẻ gian chỉ vào nhà kiếm thức ăn vì đói chứ không chủ tâm trộm đồ vật.
Ba người Mán thầm đoán kẻ trộm bất đắc dĩ rất có thể là tên tù vượt ngục. Không kiếm được thức ăn trong rừng, y phải liền vào nhà dân chúng kiếm bữa qua cơn đói.
Sáng hôm sau, chuẩn bị lương thực đầy đủ, đợi mặt trời lên ngọc cây, ba người Mán lại vào rừng tiến hành công tác, trong lòng háo hức như nắm chắc kết quả trong tay.
Họ xông vào một khu rừng rận, cành cây đan kẽ nhau trên cao như một tấm ‘’trần’’, đây đó một khoảng ánh nắng lọt xuống nhấp nháy lay động. Đêm hồi hôm, trời mưa, cỏ cây ướt nhẹp. Vắt rừng này nhiều quá chừng, bám đầy cẳng chân người và mình chó. Mấy con vật, bùn lấm lên tận tai, luôn luôn dừng lại gãi cho rớt vắt bám chặt dưới bụng. Tuy nhiên, sáng nay chúng bị kích thích mạnh nên sục sạo, hướng mũi lên ngọn cây đánh hơi, rồi sủa những tiếng ‘’báo động’’. Bọn người Mán nhận định ra tiếng sủa đặc biệt, thì thầm bảo nhau:
- Con ‘’cẩu’’ nó bắt được ‘’hơi’’ không chừng!
Thốt nhiên, ba con chó băng băng đến một cây đa cổ thụ gần con suối nhỏ xanh như rêu. Họ tất tả đuổi theo chó, lăm lăm con dao rừng, nhìn nhớn nhác. Đến bên gốc cây đa ba con chó nhất tề dừng lại, trõ mõm sủa ran.
Nhưng trên cây vẫn không thấy gì khác lạ.
Ba người Mán đi vòng quanh gốc cây, lựa chỗ nhìn lên quan sát, sợ cành lá um tùm che kín không phát giác được tên tù vượt ngục chăng ? Nhưng vẫn không thấy bóng người. Trên cây, có trăn độc, thú dữ nên chó đánh hơi lầm ?
Ba con chó bị khích thích quá độ, cứ chạy quanh gốc cây sủa tới tấp không ngớt. Tiếng sủa vang tận vách núi. Một đàn chim rừng vỗ cánh bay ào ạt trên ngọn cây bên kia bờ suối. Bọn thợ săn bàn nhau:
- Hay chúng ta leo lên cây để kiếm cho kỹ ?
Rồi một người xum xoe sắn tay áo, sắn ống quần, kiếm chỗ trèo.
Một người khác đã nhận thấy dấu vết đặc biệt trên cây, nhưng không muốn cho hai người kia biết, kiếm cớ ngăn cản và nói:
- Nếu trên cây có người ẩn nấp, tất chúng ta đã tìm thấy. Trái lại, chỉ nghe chó sủa mà không thấy người, không chừng trên cây có rắn độc. Ta cần đề phòng cho kỹ kẻo nguy hiểm...
Hai người kia phân vân, tay vẫn không rời con dao rừng, tiếp tục bước vòng quanh gốc cây, mắt ngước nhìm cành lá um tùm không chớp. Vẫn không thấy gì khác lạ. Nhưng khi nhận ra thái độ đặc biệt của người thứ ba, hai người đưa mắt ngầm cho nhau, tỏ vẻ ngờ vực. Trong khi đó, ba con chó tự chúng tập trung lại cùng một chỗ, hướng thẳng mũi lên ngọn cây liên tiếp sủa dữ dội. Đám lông trên gáy và dọc theo xương sống đến đuôi dựng đứng lên, cho biết chúng đã khám phá ra có ‘’vật lạ’’. Không thể báo động lầm được!
Đột nhiên, người Mán lớn tuổi bảo hai người kia:
- Hai chú đứng dưới đất, đợi tôi leo lên cây, coi có gì khác không ?
Anh ta dựng con dao rừng trong gùi rồi không đợi trả lời, thoăn thoắt nắm những rễ rủ của cây đa, leo lên nhanh như khỉ. Nhưng lên cao khoảng hai đầu người, anh ta bỗng dừng lại, chăm chú quan sát.
Đúng lúc đó, trên cành cây có tiếng sột soạt khác lạ tại một khoảng rậm rạp nhất. Rồi một hình thù gì không rõ rệt, loay hoay nhấp nhổm trong đám cành lá chằng chịt tối thui, chợt hiện ra rồi lại chợt biến đi hai ba lần khiến mấy người Mán ngơ ngác, chưa đoán ra là cái gì.
Đàn chó lồng lộn nhầy chồm lên sủa dữ dội hơn nữa, vang rân cả khu rừng.
Trong đám cành lá, cái hình thù không rõ rệt kia bỗng vươn dài rồi đứng lên. Một cái gì như một cánh tay vạch lá, để lộ bộ mặt người mà không phải mặt người. Nhìn kỹ thấy một bộ mặt trơ xương, hai gò má nhô lên nhọn hoắc, đất cát, nhựa cây bôi lem luốc trên mặt như người rừng với bộ râu đen thui. Bộ mặt ấy thò ra khỏi đám lá, ngó quanh quẩn rồi mệt nhọc buồn bã nhìn xuống mấy con chó đang sủa dữ dội hơn lúc nào hết.
Hai người Mán đứng dưới gốc cây vẫn sững sờ, không rõ có phải con mồi họ lùng kiếm không ? Đúng lúc đó, cái hình dáng người đứng trên cây liệng một cái bọc xuống cỏ, rồi một giọng yếu đuối chán chường hổn hển cất lên, nghe thăm thẳm xa xôi như từ hang hốc nào vẳng tới:
- Các ông ơi! Tôi đây này! Tôi xuống cho các ông bắt. Không phải leo lên cây làm gì, mất công vô ích...!
Một tia nắng bỗng chiếu chênh chết vào giữa mặt con người dị dạng nọ...Tức thì ba cái miệng cùng la lên một lần:
- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!!
XVII.
Vượt trại giam được ba đêm hai ngày, 982 lâm vào một tình trạng thập phần nguy nan, không thể nào tả xiết. Cơn đói phát hiện cấp bách từng phút từng giây đến nỗi anh tù vượt ngục không lo bị bắt bằng lo gục xuống chết bất ngờ giữa rừng vì đói.
Cả ngày hôm qua, 982 chỉ kiếm được một nắm lá và ít rau vớ vẩn bỏ miệng. Trên mép suối sát mặt nước, có mấy cây rau dền và một búi nhỏ cây càng cua. 982 lật đật vặt hết, nhúng xuống suối rửa sạch rồi vẩy mạnh cho ráo nước, cuộn lại từng miếng nhỏ, cho vào miệng, nhai ròn rã. Rau mày ăn sống không có gia vị, ngai ngái tanh tanh rất khó nuốt. 982 xuýt xoa tiếng: Phải chi có mấy hạt muối thì đỡ quá.
Ngốn rau xong, 982 mở bao tải lấy mấy trái ổi xanh, nhá luôn, bất kể rắn như đá và chát lè. Tuy đói phát run người, 982 cũng chỉ nhá hết ba trái ổi là bứ họng.
Chiều hôm qua đi ngang một sườn đồi, 982 gặp một rẫy trồng khoai mì nhưng chưa cây nào cao quá một thước thì làm gì đã có củ! Vừa tiếc vừa bực, anh ta hái hai nắm ngọn và là non khoai mì bỏ vào bao bố, tuy chưa biết có ăn được không ?
Ngày thứ hai qua trong một cơn đói liên tục, rấm rứt liên miên. Sáng sớm ngày thứ ba, khi thái dương vừa mọc, 982 ngồi trên một tảng đá, ngó ngọn đồi ở bìa rừng. Lưng chừng đồi, mấy căn nhà sàn cao lênh khênh của dân thiểu số lờ mờ trong sương như cảnh trong tranh.
Những cảnh vật trước mắt mờ dần rồi nhòe hẳn. 982 hoảng sợ trừng mắt trầm tĩnh tinh thần nhìn cho kỹ nhưng vô hiệu, anh vẫn thấy chập chờn, những hình thù không rõ rệt rung rinh lúc biến lúc hiện. Đúng vậy, 982 lại bị hoa mắt vì quá đói. Anh co hai đầu gối vào sát bụng vòng tay ôm thật chặt, cố nén chặt bao tử lép xẹp. Đó là cử chỉ bóp bụng tù nhân thường làm khi bị cơn đói hành hạ.
Nhưng không lý nào chịu chết đói! Nếu không kiếm được thức ăn trong rừng thì kiếm trong Bản, chung quanh Bản, sợ gì ? Chỉ sợ đói chớ không sợ người, khỏi sợ bất cứ thứ gì!
Trong cơn đói, 982 trở nên bất cần, hết sợ bị bắt lại.
Anh ta vụt đứng lên, xăm xăm băng ngang cửa rừng tới ngọn đồi. Được một quãng, anh chợt đứng sững nhìn xuống cổ chân. Những vết trầy trụa đã tấy lên, đang làm mủ. Nếu không giữ gìn, rất dễ bị sâu quảng. Mà sâu quảng thì què, thì chết! Khỏi có lết được nữa!
982 bừng bừng nổi giận. Họa vô đơn chí là như vậy.
- Nhưng ta phải sống bằng bất cứ giá nào!
Anh ta tự nhủ sẽ làm bất cứ điều gì để giành sự sống. Nhưng đi được một thôi đường, khi gần tới Bản, 982 cũng ngập ngừng, vòng ra những bãi đất dưới thung lũng. Gần Bản phải có rẫy. Trước khi vào Bản ta hãy ra rẫy, may ra kiếm được củ khoai, củ sắn chăng ?
Lát sau, 982 men theo mấy lùm cây đến gần một ruộng mía. Gió rừng thổ, lá khô chạy xào xạc như người chạy. 982 ngồi thụp xuống dưới bụi rậm, hồi hộp lạ thường. Trước mắt là ruộng mía tươi tốt. Những ngọn lá mía bị làn gió thổi rạp, mềm mại như những giải lụa. Anh ta mừng quá đỗi là mừng, bất giác rãi ứ đầy miệng. Nghe ngóng giây lát, 982 chép miệng rồi nôn nả lom khom chui vào giữa rộng mía, ngó từng gốc cây để lựa.
Là vì mía hãy còn non quá, mới có khoảng hai, ba đốt nhô lên khỏi mặt đất.
- Thây kệ, non cũng nhá liền...
982 lựa hai, ba cây lớn nhất, nhổ phắt lên, đập gốc mía cho rớt hết rồi xách ra khỏi ruộng, cuống cuồng chạy vào rừng. Tới đây, anh nấp sau bụi rậm, rút dao chặt cụt ngọn định đưa lên miệng nhai bỗng nghe có tiếng la ở phía nhà sàn xa rồi thấp thoáng có những người mặc quần áo chàm vác gậy và dao chạy lại nơi anh ta nấp.
982 hoảng sợ cắm cổ chạy, vừa ngó phương hướng vừa ngó chừng bọn người rượt theo. Chạy được khoảng cây số thì kiệt sức, anh ta bèn ngồi thu mình sau một gốc cây lớn ngó dáo dác tìm những bóng người đuổi theo. Không thấy gì, anh ta đưa mía lên miệng nhai cho đỡ thèm.
Mặc dầu mía còn non, nhưng chất nước mía đã ngọt, mát, thấm đến đâu, 982 tỉnh người đến đấy, chẳng khác chi người bệnh nặng gặp được thuốc tiên.
Anh ta còn đang nghĩ bụng sẽ quay trở lại ruộng mía vào lúc xâm xẩm tối chợt thấy bốn năm người mặc quần áo chàm đang sục sạo trong bụi cây ở đàng xa. Hết hồn hết vía, 982 xách bao bố, dắt nhanh con dao rồi bất kể gai góc sình lầy, đâm đầu chạy thẳng một thôi dài mới dám dừng lại thở. Chất nước ngọt bổ dưỡng của mấy khúc mía coi như tiêu tan hết vì cuộc chạy tốn sức vừa rồi. Hai chân tóe máu lên láng lúc nào không biết. Hèn gì trong khi chạy 982 có cảm giác nhột nhột ở hai mu bàn chân!
Đêm xuống, trời bỗng lạnh khác thường! Gió rừng thổi ào ào. Ngồi trên cây, 982 run bần bật. Anh ta chụp bao bố qua đầu xuống đến vai, quấn chặt lại cho ấm, chỉ để thò đầu ra ngoài, rồi lấy chiếc áo cánh rách chùm lên đầu, hai tay áo buộc dưới cằm. Đêm đó, 982 nghe thấy tiếng nói mớ và rên hừ hừ của anh nên hốt hoảng tỉnh dậy mấy lần.
Sáng ngày thứ năm, 982 thức thật sớm. Trong rừng, còn tối thui. Đến tiếng đồng hồ sau mới nghe tiếng gà rừng gáy rồi trời sáng rõ. 982 vừa lộ vẻ nhọc mệt vừa lộ vẻ tàn nhẫn, dữ tợn. Hôm nay, anh quyết định làm hai việc phi thường. Nếu không, sẽ bỏ mạng trong rừng.
Trước tiên, anh sẽ đường hoàng đi trên đường mòn. Gặp người, sẽ xin ăn, không cho thì cướp, nếu cần, dùng dao. Không lẽ bó tay chịu chết.
Thứ hai, vào trong Bản ăn trộm. Trộm thức ăn, quần áo và đồ vật khác nếu được, nhất là cái ‘’bùi nhùi’’ đánh lửa và con dao rừng. Đi rừng mà thiếu dao sắc, khỏe, có cán dài, là không được.
Ăn trộm được ngũ cốc sống vào rừng đốt lửa nướng chín làm lương thực ăn đường rồi đi một mạch về Chi Nê, Nho Quan. Chứ vượt ngục đi trốn trong rừng mà cứ lẩn quẩn, ngơ ngác mất hồn mất vía vì đói, trước sau gì cũng đến hậu quả thảm khốc là chết gục, hoặc bị bắt lại.
Chi bằng, liều trong hoàn cảnh nguy nam thập phần này.
982 hăng hái mở hầu bao bốc một dúm gạo sống nhai từng miếng nhỏ. Cần có chất gạo cho cơ thể mới đủ sức thực hiện ý định. Đây là lần đầu tiên, 982 đành ăn gạo sống sau mấy ngày nhịn đói trong rừng.
Nhai gạo xong, tìm một vũng nước mưa đọng trong hõm đá 982 ngắt lá làm môi, múc nước bốn năm hơi. Rồi xách bao bố lững thững ra con đường mòn. Có chất ngũ cốc trong bao tử, 982 tỉnh táo đôi chút.
Mặt trời đã lên cao, chim chóc ríu rít hót rộn rã trong rừng.
982 nhìn mặt trời để định hướng phương hướng như anh có thói quen mỗi lần lên đường sau chặng nghỉ. Rồi lầm lũi đi về khoảng rừng thưa cây, đoán thế nào cũng gặp đường mòn, tay xách chiếc bao tải đã buộc gọn thành một gói nhỏ, tay kia chống gậy cho khỏi trơn, con dao găm gài ngang thắt lưng lẩn sau vạt áo cánh, sẵn sàng...
982 hầm hầm tức giận. Giờ phút này nước đến chân, anh mới thấy rõ mấy ngày qua không có ngay kế hoạch phấn đấu để giành sự sống mà chỉ trông chờ ở sự may rủi tìm được thực vật, hoa quả trong rừng, thật là ngu dại! Tất nhiên, không tìm được là bị lả, bị kiệt sức. So với lúc mới ra đi, sức chịu đựng của 982 đã giảm sút rõ rệt.
- Ta chết đói trong rừng, chết nhục nhã, có đứa nào thương ta đâu ? Thế tại sao ta không thí mạng để cướp mà có, giết mà sống ?
Trước kia, ta tranh đấu cho ‘’thiên hạ’’ nên mới khổ, mới bị tù tội như thế này. Giây phút này, ta chiến đấu cho sự sống còn của chính bản thân, cho khỏi chết đói như con chó hoang. Sao không được ?!
Chuẩn bị tinh thần bằng những ý nghĩ trên, 982 vững bụng hơn rất nhiều.
Giờ phút chót, 982 chủ trương dùng sức mạnh giành sự sống. Nghĩa là để vượt qua cơn đói khổ cực. Rừng, thiên nhiên không cho thức ăn bỏ vào cái bụng lép xẹp, buộc lòng cướp của đồng loại, vậy.
Đang suy nghĩ, tự biện luận với mình, anh ta giật mình đến thót một cái, ngồi xuống nấp sau một bụi rậm. Từ phía lùm cây trước mặt, lố nhố có ba người đàn ông tiến lại gần đi hàng một. Cả ba đều đội nón lá, mặc quần áo ka ki kiểu cán bộ cao cấp, lưng đeo ba lô giầy cộm.
Tới trước bụi cây 982 đang nấp, tình cờ làm sao, người đi giữa dừng lại đốt thuốc lá. Hai người kia cũng dừng theo và khi người nọ đưa cho mỗi người một điếu, hai người kia lễ phép cám ơn rồi xin lửa mồi thuốc, 982 tái mặt vì sợ. Nếu họ đi vòng ra sau bụi cây chừng năm thước thôi, thế nào 982 cũng lộ nguyên hình là tên tù vượt ngục đang bị săn đuổi. May thay, họ chỉ dừng lại nói chuyện vài giây. Cả hai người cùng võ trang súng lục, một người rõ ràng là cấp chỉ huy của hai người kia, dắt hai khẩu súng lục, một khẩu rất lớn.
982 ngạc nhiên hết sức khi chợt nhận ra ‘’người chỉ huy’’ có bộ mặt rất quen, nhất thời vì hoảng hốt anh không nhớ ra là ai.
Người nọ lạnh lùng hỏi:
- Còn chừng bao nhiêu cây số ?
Một người lễ phép trả lời:
- Thưa đồng chí, chừng 13, 14 cây số nữa.
- Gần đây, có ‘’căn cứ’’ nào của ta không ?
- Dạ có...trong làng Mán, cách trại 3 cây số.
Người chỉ huy ngẫn nghĩ rồi hỏi:
- Ở khu này, ta có ‘’tiểu tổ’’ nào không ?
- Dạ, có...cách đây chừng hai cây số, trong một xóm nhỏ...gần làng Mường X...
- Vẫn liên lạc điều hòa chứ ?
- Vẫn điều hòa...
Người chỉ huy ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói:
- Nhân đi qua, ta vào liên lạc trước, báo tin vài hôm nữa ta sẽ đưa về đây nghỉ ngơi ít ngày, những anh em bịnh tật, ốm đau. Rồi mới đưa đi sau. Cho họ bố trí trước. Giấy tờ, chứng minh thư hợp lệ ta đã có đủ hết.
- Dạ...
Bàn tính xong, họ tiếp tục đi hàng một như trước, 982 chưa dám ló đầu ra vội, ngồi một lúc thật lâu cho hoàn hồn. Anh ta băn khoăn quá, cố bới trong trí mà vẫn chưa nhớ ra ‘’người có bộ mặt rất quen’’ đó là ai ? Hắn là giám đốc một trại giam nào chăng ? Câu chuyện họ nói có ý nghĩa như thế nào ?
982 bỗng buốt đến nhói một cái ở chân, lật đật cúi xuống coi. Có mấy con vắt bám vào những vết thương ở chân anh ta hút máu. Cau có, 982 nắm chặt ngang mình con vắt, nhưng mình nó trơn quá, đành phải nhổ nước miếng vào mới bứt ra được. Nước miếng anh khô đặc như cơ thể anh thiếu cả nước. Tư tưởng giành sống lại dồn dập trong đầu. Gần đấy có một tảng đá cao, anh ta thụt xuống ngồi nấy, mắt lom lom nhìn ngược, nhìn xuôi trên đường mòn.
Từ xa, một người đàn bà thiểu số gánh một gánh thóc hay gạo gì đó. Khi thiếu phụ tới gần, 982 thấy mụ còn ‘’địu’’ một đứa nhỏ sau lưng. Đầu đứa nhỏ nghiên về một bên, lắc lư theo nhịp bước. Anh ta cuống cuống nhìn phía trên, phía dưới. Đường vắng tanh không một bóng người! Chỉ có lá cây xào xạc. 982 tự hối thúc: ‘’tấn công luôn đi, không thì chết đói’’.
Nghĩ vậy, 982 bật lên như chiếc lò xo, nhẩy phắt xuống đường dữ tợn như tên cướp thực thụ, chắn ngang lối đi, vung cây gậy trong tay ra hiệu ngừng lại. Thiếu phụ Mường thất kinh, la lên một tiếng, đứng sững nhìn 982, lắp bắp không thành tiếng:
- Cái gì ? Cái Gì ?
Thiếu phụ nói tiếng Việt khá rõ ràng. 982 quát lớn, để tự trần tĩnh hơn là dọa nạt đối phương:
- Đứng lại, tôi hỏi...
Thiếu phụ ngó sững kẻ cướp đường, chừng như thấy bộ vó của y không đáng sợ, liền đặt gánh xuống thật lẹ, rút ngay con dao rừng đặt trên đòn gánh mà lúc đầu 982 không thấy, lăm lăm cầm tay. Coi bộ thiếu phụ sẵn sàng đối phó bằng khí giới. 982 phân vân khó nghĩ, nhìn thẳng vào mặt thiếu phụ. Mụ ta cũng nhìn vào mắt anh, cặp mắt mụ sếch, sáng quắc, dữ tợn. Khi thấy kẻ lạ gầy còm, mặt mày lơ láo như đang có bịnh, râu ria lờm chởm, thiếu phụ đoán chừng không phải kẻ cướp nên tỏ ra bớt hung hăng. Tuy thế, mụ ta vẫn gắt gỏng, lăm lăm con dao rừng:
- Muốn cái gì ?
Lạ thay, trong phút giây, bao quyết tâm hung hãm biến đâu hết. Giọng nói bỗng trở nên nhọc mệt, 982 chậm rãi gần như phân trần:
- Tôi đi làm rừng xa, bị bệnh, phải trở về quê gần Nho Quan, Vì lạc đường, không tìm được nhà bà con. Tôi...đói quá. Xin cho tôi một miếng ăn, làm phúc...Tôi đói quá, cô ơi!!
982 không nói sai, anh đang đói thắt ruột thắt gan. Nhưng anh ta muốn nói những lời tử tế trước khi đi đến chỗ quyết liệt. Hai tay ôm bụng, thoáng trong một giây, mồ hôi anh vã ra đầm đìa trên mặt, trên cổ, khiến anh ta đưa ngón tay gạt mồ hôi, vẩy xuống đất. Thiếu phụ nhìn 982 từ đầu đến chân rồi hỏi:
- Đói...hả ? Tôi không...
Chưa nói hết câu, thiếu phụ chừng nhớ ra, cúi xuống giở mẹt đậy thúng. Thúng đựng toàn thóc...thóc! 982 thất vọng quá, thở dài. Thiếu phụ quay lại thúng sau, giở mẹt, 982 sáng mắt lên khi thấy một củ khoai lang luộc nằm giữa thùng thóc. Thiếu phụ chìa củ khoai cho 982, rấm rắn nói:
- Có một củ khoai để dành cho thằng nhỏ này ăn khỏi đói. Nó chưa ăn. Thôi, ông ăn đi. Tôi gần về đến nhà rồi.
982 run run đưa tay ra chụp lấy củ khoai lang, miệng lí nhí ‘’cám ơn’’ rồi bẻ luôn củ khoai bỏ nào miệng nuốt. Hai hàng nước mắt 982 bỗng trào ra. Không biết anh ta khóc vì tủi thân, vì đẩy lùi được thần đói một ngày, hay thoát nhúng tay vào máu một cách vô ích ? Củ khoai ngọt lừ như mật ong, chưa kịp nhai đã nuốt hết, chỉ nhấp nháy là 982 lại vẫn tay không!
982 mút tay chùn chụt như để ‘’ăn’’ hết cái hơi khoai còn dính rồi ngẩn ra nhìn thiếu phụ, quên phắt vai trò cướp đường đang đóng. Củ khoai tuy lớn nhưng không thấm đâu với một người ba, bốn ngày nhịn đói. Bất giác, 982 lại chìa tay như người ăn xin:
- Làm phúc cho tôi xin một củ nữa, khoai sống cũng được.
Thiếu phụ nhăn mặt, lắc đầu:
- Không có! Hết rồi!
Ngừng giây lát để quan sát, thiếu phụ lại nói:
- Đi theo tôi về Bản, tôi cho ăn no...
Chưa kịp quyết định ra sao, 982 lại hết hồn hết vía. Một bọn chừng mười người có vẻ là du kích quân địa phương đang đi tới, chỉ còn cách chừng 300 thước. 982 thoáng thấy những thanh mã tấu và những ngọn súng trường chỉa ngang chỉa dọc. Anh ta hoảng hốt ngó thiếu phụ, như năm nỉ:
- Tôi xin gánh đỡ cô về Bản...
982 nhặt lẹ đòn gánh, luồn vào quai quang, đặt gánh lên vai bước đi thoăn thoắt. Hơn năm trời làm tù trong các trại giam cộng sản, 982 gánh thạo như một nông phu thực thụ, và cũng vì thói quen ở trại giam vừa gánh vừa chạy. Thiếu phụ lẽo đẽo theo sau, không nói năng. Tới một bụi rậm, anh kín đáo quay lại ngó chừng bọn du kích quân. Chúng vẫn nhấp nhô ở đàng xa, như đang theo dõi anh.
982 bước mau hơn nữa. Nhưng có tiếng thiếu phụ Mường gọi, chỉ có anh đi vào con đường ngoằn ngoèo khác. Đi được một thôi đường, ngó lại thấy đám dân quân đã sang đường khác, 982 giả đò loạng choạng rồi đặt gánh xuống. Vết thương làm mủ ở hai cổ chân bật chảy máu chan hòa. Anh ngồi xuống xuýt xoa, bóp chân. Thiếu phụ Mường ngó thấy, thương hại:
- Kiếm lá mà đắp cho mau lành.
- Lá gì ?
Thiếu phụ không nói, lại bên một bụi cây, kiếm loanh quanh rồi hái một nắm lá đầy chét tay, đưa cho 982 và nói:
- Giã nát ra rồi đắp vào vết thương.
982 lẳng lặng cầm, thấy hình dáng lá giống như là ‘’nhọ nồi’’ ở miền quê, anh lại hỏi:
- Cô ơi, từ đây về Nho Quan Chi Nê còn bao đường đất ?
Thiếu phụ ngẫm nghĩ, lắc đầu tỏ vẻ xa lắm rồi trả lời:
- Sáu, bẩy...ngày đường!! Xa lắm!
- Đi về phía nào ?
Thiếu phụ nhận định, chỉ tay về hướng Tây Bắc và nói:
- Đó...Chi Nê, Nho Quan ở mạn đó.
982 nhìn thiếu phụ Mường, nhìn đứa bé ‘’địu’’ trên lưng, đột ngột chắp tay nói:
- Cám ơn cô đã cho ăn. Thôi, tôi xin đi...
Rồi vội vã đi thẳng vào khoảng rừng phía tay phải, trong khi thiếu phụ Mường còn ngạc nhiên, không hiểu tại sao anh ta bất ngờ bỏ đi. Thật ra, 982 đã suy tính, tù vượt ngục, không có giấy tờ, chứng minh thư gì trong người lại dấn thân vào làng Mường một cách công khai, khác chi nộp mạng cho nhân dân, cho ủy ban địa phương đó.
Khi nẫy, anh phải gánh thóc cho thiếu phụ mà anh đã chặn đường ‘’đòi tiền mãi lộ’’ vì sợ tụi dân quân thấy anh đi một mình nghi ngờ, đuổi theo xét giấy tờ chăng. Có làm bộ gánh như thế mới có thể đánh lừa họ mà thoát thân.
Được một quãng, không thấy bóng người, 982 quặt sang mé rừng bên trái, vừa đi vừa chạy đến hơn cây số mới ngồi nghỉ bên gốc cây đa cổ thụ. Anh ta sợ cả thiếu phụ Mường lẫn bọn du kích quân.
982 kiểm điểm lại kế hoạch giành sống, điểm hai, vào trong Bản, ăn trộm cơm hoặc bánh đúc ngô hay bất kể thứ gì, thịt thà cá mú, rau cỏ, thức vật gì nuốt cho khỏi chết đói là được.
Ngẫm nghĩ xong, anh nhìn những căn nhà sàn ở lưng chừng núi, tính nhẩm xa, gần rồi tự nhủ:
- Ta chờ vào khoảng 2, 3 giờ chiều, giờ đó dân thiểu số thường làm việc ngoài nương, rẫy. Nhà họ không có người, thuận tiện nhất cho ta hành động.
Bấy giờ mới khoảng 10 giờ sáng, 982 tính leo lên cây đa um tùm nghỉ ngơi một lúc cho tỉnh táo, khỏe sức. Anh vừa thấy trong mình có triệu chứng sắp lên cơn sốt.
982 định bụng lấy trộm được ít nhiều gì cũng phải rời vùng ngay, cao chạy xa bay là thượng sách. Càng sớm về tới Chi Nê, càng tránh bớt được rủi ro.
Trên cao, cây đa cổ thụ chỉa ra làm mấy thân lớn, xung quanh thân cây chi chít cành lá, rễ rủ chằng chịt, đứng bên dưới không thể thấy người nấp trên cây, thật tiện cho anh vô cùng. Từ hôm trốn lủi trong rừng, chưa gặp cây nào có đủ ‘’tiện nghi’’ như cây đa cổ thụ này.
Ánh nắng buổi trưa nhấp nhánh trên vòm cây, 982 lót bao bố làm gối rồi đưa tay lên che mặt, thiu thiu một lát. Chốc nữa, anh phải dùng đến sức mạnh và sự lanh lẹ để sống còn...
Sực nhớ đến chét lá ‘’nhọ nồi’’ thiếu phụ Mường ngắt cho lúc nãy, 982 moi trong bao tải ra một nắm, dùng dao băm nát rồi đắp vào vết thương, lấy chiếc quần ‘’không đũng’’ bao kín chân lại. Xong, anh ta nằm ngửa trên thân cây, cố nhắm mắt nhưng không sao ngủ được, phần vì ruột gan cồn cào, phần hồi họp vì sắp làm một việc chưa bao giờ dám làm.
982 tự an ủi:
- Trong hoàn cảnh hiện thời, nếu vạn bất đắc dĩ ta có ăn trộm, ăn cắp cũng không phải là điều xấu xa, đáng chê trách. Có đáng chê trách chăng, là khi thấy một kẻ trộm, ta không độ lượng mà xét cho hoàn cảnh bĩ cực cùng đường, đã xô đẩy hẳn đến hành động này. Thế thôi!
Vả lại, sau này, thiếu gì cách cho ta chuộc...lỗi!!
982 cứ lẩn quẩn biện luận như vậy để tự bào chữa và thêm can đảm. Mãi đến lúc đứng bóng, mới chợp mắt trong một giấc ngủ chập chờn, mệt nhọc.
Đang ngủ anh ta bỗng hốt hoảng, liệng bọc đồ, cây gậy xuống đất rồi tụt xuống. Thấy hình ảnh chung quanh chập chờn không rõ, 982 biết mình lại bị hoa mắt vì đói nên nhắm mắt ngồi dựa gốc cây để tự trần tĩnh.
Được một lát, 982 xách bọc đồ, cầm gậy lại bên giòng suối cách đấy một khoảng ngắn, rửa mặt và vết thương ở chân cho sạch sẽ. Anh giặt luôn bộ quần áo rách, hôm vừa rồi bị ướt nước mưa nên hôi quá. Ngồi lên tảng đá nằm sát ven suối, 982 vừa giặt vừa suy nghĩ. Nhân dịp này, ngoài việc quan trọng nhất lấy trộm thức ăn, sẽ cố lấy trộm được ‘’cái bùi nhùi đánh lửa’’ của dân thiểu số. Nếu có quẹt lửa thì hay quá nhưng người thiểu số ít dùng quẹt mà vẫn dùng lối đánh lửa bằng bùi nhùi như thời thượng cổ. Đó là một vận dụng bằng gang, hình giáng giống như cối giã trầu, lớn bằng cái hột vịt, trong lòng cối có để bông gòn hay sơ tre, sơ nứa thiệt khô. Muốn đánh lửa, người thiểu số cầm một mẫu sắt vuông cạnh như cây thước kẻ của học trò nhưng sức sẹo lồi lõm, siết mạnh vào thành cối liên tiếp mười cái. Tia lửa tóe ra bén vào bùi nhùi, thổi mạnh mấy cái cho lửa phừng lên, mồi sang đóm là có lửa.
Trong rừng, nhiều trường hợp rất cần đến lửa như nướng khoai, nướng sắn, nướng hạt mít, nướng thịt chim chóc, thú rừng v.v...
Ngoài ra, sẽ lấy trộm luôn một con dao rừng để tự vệ cho chắc chắn.
982 giặt xong, đặt đồ trên tảng đá, chụm tay móc nước rửa mặt lần nữa, khi đó mới thấy râu tóc mọc dài quá, rõ là tù vượt ngục. Bỗng 982 nẩy ra ý tưởng muốn coi mặt mũi mình ra sao, đã bốn năm tháng nay không có dịp soi gương ngắm nghía ‘’nhan sắc’’ Khờ quá! Những dấu vết lộ liễu nhất lại không tìm cách che dấu!
982 đợi cho mặt suối phẳng lặng lại mới vươn cổ ra ngó xuống nước, soi bóng. Anh quay mặt nhìn nghiêng bên trái, bên phải rồi thốt nhiên thở dài: Không dè mặt anh vêu vao đến thế! Nhìn mãi bóng mới nhận ra là bóng mình! Hai mắt trũng sâu, gò má sát tận xương, vành môi như quằn teo lại để lộ cả răng. Trông mà phát kinh người.
982 ngẫm nghĩ, thừ người một lát rồi lại nhô đầu ra ngắm bóng lần nữa. Anh lẩn mẩn tự hỏi không hiểu sao lúc này còn có can đảm, bình tĩnh ngồi đây soi bóng. Thật lạ lùng, không hiểu tâm trạng mình ra sao nữa...
Bóng 982 vừa rung rinh tan vỡ đã ráp lại nguyên vẹn, in lên nền trời phản chiếu dưới nước. 982 bỗng nghiêm nét mặt, hoảng sợ đến lặng người. Dưới nước, anh ta thấy bóng một người mặt rất nhỏ đứng trên cây nhìn anh rồi biến mất trong chớp mắt.
982 hoảng hốt đứng phắt lên ngó dáo dạc rồi ngẩn nhìn đám cành lá trên cây kế cận. Quả nhiên cành lá vẫn còn đang lay động một cách khác lạ. 982 nhìn kỹ, phát giác một con khỉ đang ngồi yên trên cành tò mò nhìn anh. Gần đấy, còn hai ba con khỉ nữa. Thở phào một cái để trút hết nỗi sợ, 982 mang dép vào chân, nhặt bộ đồ vừa giặt, nhẩy qua một cái vũng nước. Mấy con khỉ bỗng chí chóe báo hiệu cho nhau. Giá bắn được một con mà nướng thịt thì ngon biết chừng nào! Nhìn kỹ thấy mấy con khỉ đang ăn chuối, 982 lặng người đi vì thèm, rãi rớt đầy miệng. Sực nhớ qua một kế, anh ta bèn nhặt hòn đá liệng nhẹ vào đám khỉ.
Vẫn không có kết quả, anh nhặt mấy hòn đá nữa tung lên nhè nhẹ vừa tầm gần tới chỗ đàn khỉ nấp trên cây. Tức thì có hai quả chuối nguyên vẹn và một quả ăn dở dang còn một nửa, liệng tới tấp xuống. Thì ra, bọn khỉ vốn có tánh hay bắt chước, đã mắc mưu 982 và liệng thức ăn xuống cho anh ta. (Đây là một phương kế tù nhân thường làm rất có hiểu quả để chiếm thức ăn của khỉ).
Không thể kể hết nỗi mừng của 982. Anh ta lượm chuối nhanh hơn khỉ, bỏ lọt vào miệng nhai cả vỏ. Sự tình cờ may mắn đã cho hai trái chuối rưỡi với ba cái vỏ, 982 hấp tấp nhai nuốt hết ngay, làm như sợ đàn khỉ đòi lại.
Mặt 982 đã tươi tỉnh phần nào. Anh tính quay về cây đa cổ thụ ngồi nghỉ chừng nửa giờ, giấu bọc đồ trên cây. Được thua gì anh cũng trở về đây, ngủ qua đêm, sáng mai sẽ lên đường thiệt sớm! Khi hành tích bị lộ và vụ trộm bị phát giác, phải xa lánh ngay vùng này.
Gần cây đa có một cây gỗ dầu cao vút, vượt khỏi góc rừng, đứng xa cũng thấy. Hành động xong, 982 cứ ngó ngọn cây dầu làm đích sẽ tìm được ngay ‘’sào huyệt’’.
Ăn được mấy trái chuối, 982 hết nôn nao trong bao tử. Chuối ngon ngọt đã đành nhưng vỏ chuối cũng bùi bùi, chan chát có một hương vị đặc biệt, lâu lắm 982 mới gặp lại hương vị thích thú như thế.
- Thôi, giờ ta vào Bản...
982 cầm cây gậy, dắt con dao vào thắt lưng, len lõi nhắm hướng những căn nhà sàn ở lưng chừng núi. Nhưng càng tới gần càng thấy trong lòng xôn xao hồi hộp lạ thường.
XVIII.
Nhờ mấy trái chuối ‘’dựt’’ được của đàn khỉ, sức khỏe của 982 phục hồi rõ rệt và tinh thần lên rất cao. 982 lại nghĩ vẩn vơ. Vật chất quyết định hết thảy là như vậy. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo và đói, 982 thấy chỉ những người cùng cảnh mới dễ thông cảm được với nhau. Và chỉ những kẻ vô duyên mới quên rằng mình đang no bụng mà dám bạo miệng bảo kẻ đói phải làm như thế này thế nọ, phải trong sạch từ thể chất đến tinh thần, phải đạo đức, phải tiếp tục nhịn đói, nhịn thèm, phải tốt bụng, phải đủ thứ v.v...Người no ít hiểu kẻ đói là thế.
Lúc này, không bị cái đói dày vò, 982 lanh lẹ hơn nhiều. Anh ta cảm thấy phấn chấn, hăng hái len lõi một mạch đến gần khu đồi có những căn nhà sàn cao lênh khênh. Rồi khi chỉ còn cách khoảng 200 thước, anh thoăn thoắt leo lên một ngọn cây rậm rạp lặng lẽ quan sát.
Phải chọn nhà nào vắng vẻ, không có người ở nhà mà có vườn rộng để dễ lẩn trốn, ẩn nấp. Và khi rút lui cũng tiện, không sợ bị vây bắt.
Sau một lúc nghiên cứu tình hình, 982 quyết định chọn lựa căn nhà sàn đứng riêng biệt trong một khu vườn có nhiều cây um tùm thuộc loại có trái.
982 soát lại con dao găm rồi xách gậy lom khom chạy tới nấp bên một bụi rậm phía sau nhà sàn. Anh ta lấm lét ngó trước ngó sau, nhìn xa, nhìn gần, và khi chắc chắn không có người trong nhà, anh ta chạy ùa đến trước cổng, nhấc then cài lẻn vào khép vội cổng lại, chạy vụt đến chân cầu thang leo lên sàn một hơi. Dụng ý của anh là thu hết sức ngắn thời gian lộ diện.
Bất ngờ, 982 lại hồi hộp một cách kinh khủng.
Tấm liếp tre mặt tiền nhà đã hạ xuống, đóng kín mít trong lúc nhà vắng người. 982 đẩy cửa ra vào, cửa không nhúc nhích. Anh ta chép miệng, nắm mép liếp tre kéo ra thật mạnh, rồi bò xuống chui vào theo khe hở ở mép liếp. Trong buồng tối thui vì ánh nắng lọt qua khe liếp rất ít, anh ta nhắm mắt mấy giây cho quen với bóng tối rồi mới dáo dác nhìn tứ bề.
Ở một góc nhà, treo lủng lẳng những quang mây mang những nồi đất lớn, nhỏ đủ cỡ. 982 vừa mừng vừa run. Anh chỉ cần có bấy nhiêu! Nhấc vung nồi, anh kiễng chân ngó vào bên trong, nồi trống không. 982 thò tay khoắng loan lên bên trong nồi rồi thở dài đậy vung lại.
Nhưng 982 đi lần đến góc phòng, nơi có treo một chiếc nồi lớn và mừng rơn.
Trong nồi, có khoanh cơm nếp và mấy miếng bánh đúc ngô thức ăn hàng ngày của người thiểu số. 982 móc ra, cầm sẵn khoanh cơm nếp một tay, tay kia cầm miếng bánh đúc ngô đút vào miệng nhai gấp nhưng lật đật nuốt vội nên nghẹn trợn cả mắt, đành phải lè hết vào bàn tay.
Thật lâu, đến gần phút sau, 982 mới lại bắt đầu nuốt được.
Nhưng cũng lúc đó, 982 nghe tiếng chó sủa vang ngoài cổng rồi tiếng đàn bà quát chó. Anh ta hết hồn, lách qua khe liếp ra bên ngoài, ngó về phía có tiếng người. Chết rồi! Chủ nhà đã về, đi sau một con chó sù to lớn. Trên sàn, không có chỗ nào nấp được, lại chỉ có mỗi cây thang lên xuống. 982 cuống lên, đành đâm bổ xuống cầu thang, chạy vụt ra ẩn sau bụi cây ngoài vườn, định bụng đợi người đàn bà Mường lên trên sàn rồi mới chạy ra cổng tẩu thoát. Người đàn bà vô tình không biết có trộm, thảm nhiên leo lên thang. 982 mừng thầm, tay vẫn khư khư cầm miếng cơm nếp và cây gậy.
Nhưng con chó đã đánh hơi thấy người lạ. Nó gừ gừ rồi thốt nhiên sủa lên dữ dội, rập rình tiến lại bụi cây có 982 nấp. Thiếu phụ ngạc nhiên, đứng trên cầu thang trông xuống, phát giác liền kẻ gian phi và thét lên những tiếng Mường rít rít. 982 cuống cuồng, chỉ còn cách duy nhất chạy ra cổng, thoát vào rừng.
Anh ta còn loay hoay mở then cổng, con chó đã đuổi kịp sát gót 982 khua gậy đuổi chó, một tay mở cổng, con chó đã đuổi kịp sát gót, lúng túng mãi mới ra được bên ngoài. Bất ngờ, con chó vẫn rượt bén gót, táp một miếng vào bụng, chân khiến 982 đau đớn lăn cù xuống đất. Anh ta lượm vội cây gậy, nổi xung đập con chó túi bụi, nó mới chịu bỏ chạy vào trong vườn. Trong khi đó, anh ta thấy thấp thoáng mụ đàn bà xuống đến chân thang và chạy lại phía anh.
982 xách gậy cắm cổ chạy, bên tai vẫn văng vẳng tiếng la líu lo của người đàn bà Mường. Đến lúc mệt đứt hơi, chân đau nhức quá, anh ta mới dừng lại thở. Miếng cơm nếp đã rớt từ lúc bị chó táp cẳng. May còn con dao găm dắt ở cạp quần. 982 chán ngán vô cùng. Mấy vết răng chó ngập sâu vào bắp chân, máu chảy ướt đẫm ống quần. 982 nhăn mặt bóp chân cho máu độc chảy ra rồi vừa đi vừa chạy về phía cây dầu.
Tập tểnh lết về đến cây đa, 982 buồn bã, đau khổ leo lên cây ngồi cho kín đáo.
May còn nuốt vội được miếng bánh đúc ngô chứ không thì lỗ to. Thời gian bị giam trong Trại Đầm Đùn, có nhiều lúc 982 chán nản, thất vọng nhưng ít khi thất vọng đến mức độ này. Tất nhiên vết thương chó cắn sẽ làm độc, như thế đành là bỏ xác trong rừng, 982 không còn thiết gì nữa, đời anh coi như sắp hết.
982 ra suối vục nước uống, vì tuyệt vọng nên hết sợ nước độc. Rồi ngẫm nghĩ các sự việc xảy ra, hoang mang không còn biết tính ra sao nữa. Đêm đó, 982 lại sốt nóng mấy tiếng đồng hồ, luôn miệng rên hừ hừ.
Sáng hôm sau, mặt trời lên đã khá cao, anh ta mới tỉnh dậy, thân thể đau nhừ như bị ăn đòn Đầu Trâu. Bỗng nghe chó sủa văng vẳng. Hoảng hốt, anh ta lắng tai nghe. Tiếng chó thứ hai, ba phía khác nhau đưa lại cùng một lúc. Nghĩa là có nhiều chó. 982 tự hỏi: Sao lại có tiếng chó sủa trong rừng ? Hay có thợ săn, dẫn chó đi săn ? Lát sau đoán ra, 982 mới thật sự hoảng sợ cuống cuồng. Tiếng chó mỗi lúc một gần. 982 ngóc dậy, ngồi trên cây quan sát bốn phía rừng, sắp xếp cành lá che mình cho kín. Việc làm này vô ích vì đứng dưới trông lên cây, không thể thấy người nấp.
Sau một khoảng thời gian ngắn yên tĩnh, tiếng chó đột ngột tiến lại thật gần từ bao giờ như đã đánh lừa được 982. Đồng thời, anh ta phát giác mấy người dân thiểu số đang hăm hở lục soát các bụi cây, tay cầm khí giới, thận trọng đi từng bước theo sau chó săn của họ.
Trong một phút, 982 hiểu hết sự việc. Rừng này, anh ta không hề gặp chim chóc, gà rừng, hươu nai, thú vật nào hết mà lại thấy thợ săn sục sạo. Tất không phải săn thú mà săn người. Săn tù vượt ngục.
Đúng rồi! Đúng là vây bắt tù phong vương vượt ngục rồi! Trong đầu 982, cuộc đời tù đày trong các trại giam cộng sản từ Việt Bắc đến Đầm Đùn thoáng qua rất nhanh như một cuốn phim rút ngắn. Thôi, thế là từ giã cõi tạm vô nghĩa này. 982 bỗng có cảm tưởng như một người hấp hối nhưng rất tỉnh, đang kiểm điểm rất nhanh cuộc đời sắp chấm dứt.
Nhưng trong giây phút cuối cùng, 982 không cảm thấy buồn sợ hay hối hận.
Anh ta đã an đành với số phận. Không thành công thì thất bại, không sống thì chết, không trốn thoát thì bị bắt lại, thế thôi. 982 thảm nhiên, ngó qua khe cành lá bọn thợ săn và đàn chó.
Những tiếng sủa đã vang rân quanh cây đa cổ thụ, 982 nấp trên cao nghe càng rõ. Phía trước, phía sau, đều có chó, có người. Rồi tiếng sủa tới tấp không dứt, tiếng người bàn tán, gọi nhau ngay dưới chân. 982 nằm rạp xuống thân cây, không ngó nữa, mặc muốn ra sao thì ra. Vậy là hết Chi Nê, Nho Quan, những địa danh thân yêu mà 982 vẫn chưa biết đích xác ở vùng nào.
982 lại ngồi nhổm lên ngó xuống vì anh bắt đầu thấy nôn nao trở lại. Dưới gốc cây, ba con chó hướng mũi lên chỗ anh nấp, chồm lên sủa một cách điên cuồng giận dữ. Hiển nhiên, chó cũng ghét tù vượt ngục. 982 quan sát dáng điệu của bọn người Mán, biết họ vẫn chưa phát giác ra người trốn trên cây nên họ vẫn tiếp tục đi quanh gốc, lựa chỗ thưa cành lá nhìn lên.
Trong lúc thập phần nguy hiển, 982 kiểm điểm lại lần chót tình thế để có một thái độ thích ứng. Người mệt nhọc, những vết thương tại mu bàn chân và cổ chân bị mưng mủ, bắp chân bị chó táp đau nhức và bụng lại đói ray rứt. Cái đói nguy hại nhứt, phải chi được một, hai miếng dằn bụng cũng còn sức chạy trốn nữa.
Từ trên cao, 982 chăm chú ngó trong gùi của mấy người Mán, đoán thế nào họ cũng mang theo thức ăn. Chi bằng ‘’đầu hàng’’, buộc họ phải cho ăn mới có sức bước đi theo. Ăn no bụng rồi lại...tính cách liều...Nếu như chỉ có một thằng, với con dao găm, lừa lúc bất ngờ ‘’thí...một nhát’’. Ba thằng...khó, khó quá! Thôi cũng liều...việc đến đâu, tính đến đấy...
982 thò tay ra vạch cành lá, nhìn xuống đám người và chó bên dưới.
Nhưng hai cẳng chân đã tê dại, anh ta ngồi xuống bóp một lát, mới có sức đứng chồm lên. Trong khi đó, một người Mán đã leo lên cây tiến lại chỗ anh nấp. Để tỏ thiện chí đặng đánh lừa bọn thợ săn theo kế hoạch đã phác họa, 982 thò đầu ra khoảng trống nói chõ xuống:
- Tôi đây này! Các ông ơi! Tôi xuống cho các ông bắt. Không phải leo lên cây, mất công vô ích!
982 thấy rõ vẻ ngạc nhiên sững sờ trên mặt hai người Mán đứng dưới đất. Trong khi đó, người Mán thứ ba đã leo lên cây từ nãy, nghe 982 nói, lật đật chuyền cành thật nhanh lại gần nơi anh nấp.
982 liệng bao tải và cây gậy xuống đất, còn đang lựa chỗ tụt xuống đã nghe tiếng cãi lộn sô sát trên cây. Thì ra ba người thợ săn đang đánh lộn để dành độc quyền con mồi. 982 mặc họ, lo xuống cho mau, đầu óc chỉ chăm chú vào thức ăn của bọn người Mán cất trong gùi. Nhưng anh giận điên tiết vì bị ba con chó xúm lại tấn công, phải lượm vội cây gậy dựa lưng vào cây đa để che kín mặt sau, rồi liên tiếp đập đàn chó, đuổi chúng lùi ra xa ngoài tầm gậy.
Một hình thù trên cây nhảy huỵch xuống đất, tức thì hai người kia nhảy đại xuống theo. Người Mán lớn tuổi xô hai người đồng bọn té về phía trước rồi nhảy phắt lại, nắm lấy tay 982, miệng la lên những tiếng líu lo để ‘’phân bua’’ hắn là người trước tiên nắm giữ được tên tù vượt ngục, tức là hắn được hưởng hết quyền lợi do việc bắt giữ tên tù đem lại. Đừng có giành với hắn mà có chuyện. Vì quyền lợi, bạn trở nên thù là sự thường.
Hai người kia căm tức xông lại, người Mán lớn tuổi đã đứng trước mặt 982 ngăn cản không cho hai người tới gần. Có lẽ theo lệ của người Mán, trong một cuộc săn -người hay thú vật, chim muông- kể nào trông hoặc rờ được trước ‘’con mồi’’, kẻ đó là sở hữu chủ, ‘’con mồi’’ đó thuộc về hắn hoàn toàn.
Nếu đúng như vậy, con mồi 982 thuộc về người Mán lớn tuổi 982 còn đang phân vân, đã thấy hai người Mán kia giơ chân giơ tay tranh luận, bàn tính với nhau rồi lấy gùi đeo vào lưng, hậm hực bỏ đi thẳng. Hai con chó cũng theo chủ luôn.
Chừng như người thợ săn lớn tuổi, chợt nhận ra khó khăn sắp phải đương đầu, nhìn chằm chặp 982 rồi cau mặt suy tính. Sau mấy tiếng quát của chủ, con chó đã ngưng sủa tuy vẫn gừ trong cổ. 982 khấp khởi mừng thầm khi thấy chỉ còn một tên Mán còn ở lại. Từ đây về Trại Đầm Đùn, không lẽ chẳng tìm được dịp để thoát sao ?
Người Mán bỗng hầm hầm tức giận nhìn 982 quát lớn:
- Đi về trại, định trốn hả ?
982 nổi xung, muốn rút phắt con giao găm xỉa một nhát vào giữa ngực tên thợ săn nhưng dằn lòng kịp, lấy vẻ ngớ ngẩn hỏi:
- Tại sao anh bắt giữ tôi ? Về Trại Đầm Đùn làm gì ? Anh là ai ?
- Không biết làm gì hả ? Về trại sẽ rõ...
Rồi hắn chỉ tay về phía cửa rừng:
- Lính cảnh vệ và giám thị của trại giam đang lùng xét ở ngoài kia kìa...
982 vô tình ngó theo tay tên Mán thì loáng cái, cổ tay đã bị sợi dây luộc trói lại. Anh ta đang lúng túng dằng sợi sợi dây lại bị tên Mán xông lại ôm ngang lưng quật ngã xuống đất, buộc thêm một nút thật chặt nữa.
982 lồm cồm đứng lên, nghĩ thầm bị trói một tay không sao nên không phản ứng nữa, cốt để tên Mán hiểu anh ta đã chịu theo lệnh của hắn. May thay, con dao găm vẫn không bị rớt hoặc bị phát giác lúc vật lộn vừa rồi. Cơ hội đến sẽ hay.
982 nhặt bao tải và cây gậy cầm chung một tay, tỏ vẻ phục tòng. Tên Mán yên trí phần nào, sửa lại dây ‘’gùi’’ đeo lên vai huýt chó rồi hất đầu làm hiệu cho 982 ra khỏi rừng.
Khoảng dây nối liền cổ tay 982 và người Mán dài chừng hai thước. Thấy hai người thợ săn kia đã mất hút sau lùm cây, tên Mán nóng ruột, dục hối hả:
- Đi về Bản, mau lên!
982 làm ra vẻ ngạc nhiên và tức giận, nhìn tên Mán vặn hỏi:
- Về Bản nào ? Làm gì ?
Tên Mán cười nhạt:
- Thôi, đừng giả bộ nữa!
Bất ngờ hắn xáp lại gần đẩy mạnh 982 một cái, để hối đi cho mau. Con chó lại sủa lên mấy tiếng, phụ họa với hành động của chủ. Dè đâu, vì quá yếu 982 đã ngã lăn kềnh xuống đất. mãi mới lóp ngóp ngồi lên được. Hai tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, 982 cúi gằm xuống đất hổn hển nói:
- Đói quá, không đi nổi!
Tên Mán cáu kỉnh, giựt sợi dây một cái thiệt mạnh. 982 gượng đứng lên rồi lại nằm lăn ra đất liền. Anh ta thừa biết dù tức đến chết, tên Mán cũng không dám hạ thủ anh vì nhiều lý do.
Nghĩ đến ba ký lô muối sắp được hưởng một mình, tên Mán nôn nóng và bực tức lắm nhưng đành nén giận lấy giọng bình tĩnh hỏi:
- Đói hả ? Đi mau về Bản ăn cơm...
- Đói quá! Đi hết nổi. Tôi ngồi lại trong rừng vậy ? Anh cần về Bản thì về trước đi.
Tên Mán muốn nổi khùng lên được nhưng vẫn lặng thinh nghĩ kế đối phó. Sau cùng, hắn hỏi 982:
- Muốn ăn không ?
982 không thèm trả lời, làm như không nghe. Tên Mán tháo gùi, lấy một miếng bánh đúc ngô chìa ra cho 982. Rồi hắn cũng ngồi xuống, lấy cơm nếp ra ăn luôn thể cho no bụng đặng lát nữa còn đi.
Từ đây về đến Đầm Đùn, 14, 15 cây số đường rừng, ngữ tù ốm đói này phải đi làm hai ngày mới tới.
982 chẳng nói chẳng rằng, đưa luôn miếng bánh vào miệng nhai nhồm nhoàm, cặp mắt long lanh một vẻ thỏa mãn, rõ ra anh chết đói. Tên Mán dốc trong ống tre ra một ít muối, ớt và gừng thái nhỏ, bỏ lên trên chiếc lá đưa cho 982. Nuốt xong miếng bánh chót, 982 thảm nhiên chìa tay xin. Tên Mán ngẫm nghĩ, rồi cắt cho một khoanh cơm nếp, dầy bằng đốt ngón tay. 982 run run cấm ‘’nguồn sống’’ trong lòng bàn tay, trịnh trọng bốc thêm muối, ớt và gừng bỏ lên miếng cơm. Kể từ khi về Trại Đầm Đùn, chưa bữa nào ngon miệng bằng bữa cơm này, tưởng chừng nhai khỏi miệng, miếng cơm sẽ biến ngay thành chất máu tươi tốt, đem lại sức mạnh cho anh ta. Một luồng nóng ấm bắt đầu lan trong cơ thể.
Ánh nắng một ngày cuối Xuân vui tươi nhảy nhót trên thảm cỏ và trên các bụi cây quanh nơi 982 ngồi. Trời đất, non sông rộng rãi, tươi đẹp như thế này mà lại bị bắt đưa về chịu tội tại Trại Đầm Đùn thì...thà chết còn hơn!
982 liếc nhìn tên Mán, ước lượng sức lực của hắn. Anh ta lo ngại khi nhận thấy hắn mạnh mẽ và nhanh nhẹn như một người có võ nghệ. Vừa rồi, hai tên Mán trẻ còn không giành nổi ‘’con mồi’’ với hắn. 982 chỉ còn mỗi cách hạ thủ lén trong lúc bất ngờ nhất, may ra mới xong. Nhưng lúc này, phải lợi dụng hắn một cách triệt để!
Tên Mán sắp sửa đứng lên, 982 lại chìa tay ra xin một miếng cơm nữa. Giận lắm, nhưng tên Mán vẫn suy tính kỹ: Giờ, chỉ cần làm thế nào đưa tên tù vượt ngục (đúng hắn, không thể trật được) vào trong một Bản cách đây hơn ba cây số, trao hắn cho ủy ban nhân dân xã giữ giùm rồi về báo cáo cho ban quản trị trại giam biết là đủ. Mặc trại giam muốn làm thế nào thì làm, miễn là được lãnh ba ký lô muối.
Người Mán lại xẻ thêm một miếng cơm nếp, lạnh lùng đưa cho 982. Anh này cắn một miếng nhỏ rồi...bỏ trong túi áo và giải thích:
- Đau bụng quá...lát nữa ăn.
Thật ra, 982 chủ tâm để dành. Đối với người nhịn đói đã lâu, ăn như thế là nhiều, quá miệng chút nữa dễ bị bội thực mà chết. Hai kẻ tử thù lại tiếp tục lên đường, cách nhau không quá ba bước chân, luôn luôn tên Mán đi phía sau. Hắn phải đề phòng những chuyện bất ngờ. Con chó săn khi chạy trước, khi chạy sau hai người và đã quen hơi tên tù vượt ngục, không sủa nữa. Đầu óc 982 làm việc rất cấp bách, nghĩ mưu kế...trốn, trong khi người Mán nôn nóng dẫn mau tên tù về đến Bản gần nhất cho chắc ăn ba ký lô muối.
982 đoán được phần nào ý định của tên Mán nên càng lo ngại thêm. Mặc dù anh lừng khừng, đi thật chậm, chỉ hơn hai tiếng đồng hồ là cũng phải đến làng Mán đầu tiên. Nếu giữa đường mà gặp bọn du kích, bộ đội hoặc dân chúng, cuộc đời của 982 coi như...tàn. ‘’Phải tính mau lên mới kịp! Tính lẹ lên! Dũng ơi!’’ Nhưng 982 vẫn chưa nghĩ ra cách nào. Đường về Bản rút ngắn dần. 982 quay lại, nhìn trộm tên Mán. Hắn vẫn luôn luôn đề phòng, cảnh giác rất cao, 982 vừa có ý khác, hắn sẵn sàng đối phó liền nên 982 chưa dám giở trò.
982 tập tễnh bước, suy tính rất cấp bách. Phía xa xa một chút, thấp thoáng những căn nhà sàn đầu tiên. Còn chừng gần cây số, hai người sẽ ra khỏi rừng. Nguy rồi! Nguy rồi! Không quay lại nhưng 982 biết tên Mán đang nhìn anh đăm đăm, không bỏ sót cử chỉ nào của anh. Anh thử bước chần chậm hơn, tên Mán đã quát:
- Đi mau lên, sắp chiều tối rồi.
Thật ra, nhìn bóng nắng, 982 biết chưa quá ba giờ trưa. Không nói không rằng, anh ta ngồi thụp xuống, thảm nhiên bóp chân, xuýt xoa đau đớn. Mấy giòng máu lẫn nước vàng từ vết thương mưng mủ chảy ra đỏ lòm cả bàn chân. Tên Mán ngó sơ, cau mặt không nói, 982 năn nỉ:
- Cho tôi một miếng nước! Khát quá.
Bất đắc dĩ, tên Mán phải đưa ống tre đựng nước uống, 982 ngửa cổ làm mấy hơi liền cho đã khát. Sau đó, lại tập tễnh bước thấp bước cao, hít hà luôn miệng. Có tiếng phi cơ văng vẳng từ xa nhưng cả hai đều không nghe. 982 để hết tâm trí xếp đặt kế hoạch, tên Mán đang tìm cách lôi cổ tên tù về Bản gần nhất càng mau càng tốt.
Cặp mắt 982 bỗng long lanh, đỏ ngầu khác thường. Anh ta kín đáo khẽ đưa khuỷu tay chạm vào cạp quần lần nữa để yên trí con dao găm vẫn nằm đúng tầm tay. Yên trí rồi, anh ta cúi mặt, liếc nhìn phía sau. Hai bàn chân tên Mán và gấu quần vải chàm vẫn nhấp nhô bước, nhịp theo bước đi của anh, sợi dây luộc nối liền hai người hơi võng xuống một chút. Con chó đã chạy tuốt lên phía trước, đánh hơi trên ngọn cỏ.
Dịp may đã đến. Ít ra, giây phút này cũng bớt một địch thủ dữ tợn. 982 làm như vô tình bước thụt xuống một cái hõm, lính quýnh vướng chân ngã sấp xuống đất, cố cất đầu lên hai, ba lần mà choáng váng không nhỏm dậy nổi. Anh ta nằm dài khuỷu tay trái chống xuống đất, nghiêng mình, quay nhìn lại sau với vẻ cầu cứu tên Mán.
Trong một lúc không ngờ, tên Mán xăm xăm bước lại, đặt vội con dao rừng trên mặt đất, chìa tay ôm hai bên sườn 982 định nhắc lên. Nhanh như cắt, 982 rút phăng con dao găm, nhắn đúng ngực tên Mán, vung tay đâm ngược mũi dao một nhát chí tử rồi chồm dậy liền, vượt khỏi tầm tay của địch thủ.
Không may cho 982, lúc tên Mán lom khom ngồi xuống, theo động tác tự nhiên hai đầu gối hắn che kín ngực phần nào và cản trở bàn tay cầm dao của 982 nên mũi dao chỉ vừa vặn chạm tới ngực hắn thì ngưng, không vào sâu thêm được nữa. Tuy nhiên, vì là nhát dao chí mạng, 982 dùng tận lực, tên Mán bị đẩy bật ngửa, con dao rừng lọt ngoài tầm tay hắn. Trong lúc hắn còn chới với, 982 đã kịp nhỏm phách dậy chụp liền con dao rừng, vung lên nghiến răng chém vạt một nhát chênh chếch dưới cần cổ đối thủ. Người Mán không phải tay tầm thường, vẫn đeo gùi trên lưng mà lăn tròn mấy vòng, vừa kịp thoát khỏi độc thủ. Chém hụt, 982 vừa tức vừa liều, hai tay nắm chắc cán dao bổ dọc một nhát, nếu trúng đích, nhát dao sẽ chẻ địch thủ làm hai mảnh như chẻ nứa. Bao nhiêu sự căm thù chế độ, 982 dồn vào nhát dao này. Tên Mán lách mình tránh vừa kịp song tay áo đã bị rách toạc một đường dài. 982 như con chó sói bị đòn, phạt chéo, phạt ngang khiến người Mán buộc lòng phải thả vội sợi dây luộc nhẩy qua một bên tránh đòn, quài tay lại sau lưng rút kịp cây ná làm bằng thứ gỗ rất cứng lại dẻo. Trong lúc nguy cấp, hắn tạm dùng cây ná làm khí giới tự vệ, 982 hoảng sợ, tấn công liên tiếp không cho tên Mán có thì giờ rút tên trong gùi ra. Nếu hắn sử dụng được ná với tên, 982 coi như hết sống. Người Mán bắn ná rất giỏi, có thể bắn trúng mắt lợn lòi cách 10 thước.
982 lại bổ dọc một nhát như gió. Tên Mán vung cây ná lên đỡ, đồng thời chuẩn bị một thế võ nhằm đánh bật con dao rừng khỏi tay địch thủ. Nhưng 982 nghe ‘’phựt’’ một tiếng, lưỡi dao đã chém đứt băng sợi dây ná bằng cật tre se lại. Tên Mán hoảng hốt quay lưng bỏ chạy.
982 xách dao tập tễnh đuổi theo. May thay, mãi lúc này, con chó mới lững thững quay lại. Đuổi được mấy bước, 982 thấy hai cẳng chân đau nhức rời rã, cất không nổi. Còn tên Mán lộ vẻ kinh hoàng và căm tức đến tột độ, tay vung cây ná bóng loáng, tiếp tục chạy ra khoảng bãi trống, dụng ý của y là nhử cho 982 đuổi theo, y mới kiếm cách vây bắt sau. Không ngờ tên tù vượt ngục ốm đói lại có thể trở nên một địch thủ liều lĩnh nguy hiểm đến thế.
Chạy một quãng, y đã ra tới khoảng lộ thiên trong khi 982 vẫn còn lẽo đẽo, tật tễnh quanh các bụi rậm. Con chó thốt nhiên như hiểu những sự việc mới xẩy ra, sủa như điên rồi xông vào tất công 982 theo lệnh của chủ. 982 lừa lừa chém mấy nhát mà không sao trúng con vật. Anh ta bắt đầu thấy nguy hiểm trở lại, một lúc phải đối phó với hai kẻ thù.
Chợt có tiếng phi cơ ầm ầm ngay trên ngọn cây. 982 chỉ kịp thấy tên Mán đâm đầu chạy. Đồng thời, phi cơ bắn xuống rào rào, đạn trúng đá tóe lửa. 982 chúi xuống, nhào vào nấp dưới gốc cây. Con chó hết sủa, trốn đâu mất...
Đến lúc ngửng đầu lên, nhìn kỹ lại, 982 bỡ ngỡ xiết bao: Người Mán đã nằm dài trên mặt đất mà giẫy giụa, chiếc ná văng ra xa. Con chó đang liếm mặt chủ như đánh thức người ngủ.
Tiếng động cơ máy bay xa dần rồi tắt hẳn, 982 xách dao bước thấp bước cao, hổn hển như sắp đứt hơi vì kiệt sức lật đật lại gần người Mán tính kết thúc. Nhưng anh ta thấy kẻ thù đã nằm bất động, hai mắt vẫn mở mà đờ đẫn hết thần, ngực áo chàm đẫm máu. Trong lúc con chó quấn quýt với cái xác, 982 dùng sống dao chém trúng cẳng chân sau khiến nó rít lên một tiếng đau đớn, khập khiễng bỏ chạy về phía cửa rừng. 982 bèn xông lại, hai tay nắm chặt cán dao, tính bổ một nhát xuống cái xác nằm đó nhưng bỗng dừng lại, co chân đạp thiệt mạnh vào mạng mỡ tên Mán, rồi lùi lại thủ thế. Không thấy phản ứng.
982 đập nhẹ sống dao vào trung tâm thần kinh ngay bên dưới cái xác. Cẳng chân vẫn không động đậy.
Hắn đã bị trúng đạn từ trên phi cơ bắn xuống. Khi nhận ra kẻ thù đã chết rồi, thốt nhiên bao nhiêu sức cố gắng chịu đựng trong người xụp đổ, 982 bàng hoàng vài giây, cảnh vật tứ phía đảo lộn anh ta không đứng nổi trên hai cẳng chân run run nên khuỵu xuống, ngã lăn trên mặt đất bên cạnh xác be bét máu hãy còn nóng.
Trong lúc thần trí hoang mang chơi vơi trong tình trạng bán thức, anh ta còn tự nhủ: Phải tỉnh táo mà chạy trốn ngay, nếu không sẽ bị bắt lại.
Tuy vậy, cũng phải tới hơn 10 phút, 982 mới điều hòa được hơi thở và đầu óc anh ta sáng suốt trở lại. Như tỉnh một giấc mơ hãi hùng, 982 dáo dác, nhìn tứ phía rồi đứng lên ngó về phía Bản Thượng trên lưng chừng núi, sau rặng cây xanh um. Không một bóng người. Con chó săn bị trọng thương không thấy quay trở lại.
Lúc đó, anh ta mới nhận thấy một cổ tay còn bị trói vào sợi dây luộc nên lật đật tháo ra rồi cuộn bó dây bỏ trong gùi. Nhớ lại mới hốt hoảng, bao tải và con dao găm không biết liệng mất nơi nào rồi ? Phải kiếm ngay rồi trốn liền.
Nhưng một ý nghĩ thoáng trong đầu khiến 982 cau mặt suy nghĩ. Rồi anh ta ỳ ạch kéo xác người Mán lại gần bụi cây, lột luôn bộ quần áo chàm. Máu hết ri rỉ ở vết thương. Viên đạn từ sau lưng trổ ra phía trước ngực. 982 mang luôn bộ quần áo chàm vào người sau khi cởi bỏ bộ đồ đang mặc. Tháo luôn gùi của người Mán kiểm soát lại. Mừng quá chừng, vì trong gùi còn gần một đòn cơm nếp và hai miếng bánh đúc ngô, một ống giang đựng nước, hai bó tên cắm trong ống. Còn một ống tre nhỏ, không mở ra 982 cũng biết là đựng muối, ớt và gừng thái nhỏ, gia vị chính của người dân thiểu số! Đủ hết!! Nếu Trời Phật độ cho thì với số lượng thực phẩm này, có thể đủ ăn tới Chi Nê, Nho Quan. Có thiếu cũng chẳng bao nhiêu. Sung sướng nào bằng sung sướng này!!
Ngẫm nghĩ giây lát, 982 tháo luôn giải khăn sặc sỡ trên mái tóc xác chết. Đành phải lột lấy khăn đặng bịt cái đầu lởm chởm, rõ là đầu tóc tù nhân vượt ngục.
982 đứng nhìn cái xác nằm tênh hên trên mặt đất mường tượng đến tù 125 bị Đầu Trâu đánh đòn trừng phạt trước đó ít lâu, theo như anh em kể lại. Anh cảm thấy trong lòng bất nhẫn, ngần ngừ vài giây rồi cúi xuống kéo cái xác vào trong bụi rậm, ỳ ạch hổn hển mãi mới xong. Sau đó, anh chặt ít cành lá đậy lên cái xác, dụng ý che cho kín, xác khỏi bị phát giác sớm.
Trong túi áo của người Mán, 982 nắn thấy có giấy tờ cồm cộm, đó là tờ chứng minh thư. Đọc thật kỹ tên họ, tuổi, quê quán ghi trên chứng minh thư nhập tâm cho nhớ, 982 tự căn dặn:
- Từ lúc này, tên ta là Niết-Khao-La. Niết-Khao-La 40 tuổi. Con ông Buôi-Rep và bà Niết-Klao-Liang...
982 đã tập tễnh quay đi, bỗng dừng lại ngó xác chết, buồn bã nói:
- Tôi với anh, lúc sống không thù nhau. Chẳng qua hoàn cảnh xui khiến nên xảy ra vụ xung đột vừa rồi. Anh chết vì bị đạn phi cơ Pháp bắn. Thôi, anh hãy yên nghỉ Niết-Khao-La!!
Lúc đó đã gần chiều. Mặt trời từ trên đỉnh ngọn núi chiếu quái lại khiến 982 phải lim dim cặp mắt cho khỏi chói. 982 sửa lại giải khăn quấn trên đầu, định bụng cứ hướng Tây Bắc mà đi luôn một lèo, gần tối mới kiếm chỗ ngủ trên cây.
Trong gùi có đủ những thứ của người thợ săn Mán để lại, thêm bộ quần áo anh ta vừa thay ra và cuộn dây luộc. Phải quay lại kiếm cái bao tải đã rớt lúc anh giả đò ngã xuống và con dao găm anh làm văng vào bụi cỏ lúc nào không nhớ.
Chỉ một lát ngắn, 982 tìm được bao tải. Con dao găm vẫn không thấy đâu. Nghĩ đến thiếu niên Hợi đã liều chết giấu giếm cho anh con dao này, 982 không đành lòng bỏ đi nên cứ lúi húi tìm. Mồ hôi trong người đầm đìa vì nóng bức thì ít mà vì lo sợ ân hận, tiếc nuối vật kỷ niệm thì nhiều. Trong tù mấy ai đã gặp được người đồng cảnh có tâm hồn và tinh thần như Hợi ?
982 vừa kiếm vừa suy nghĩ về những sự việc đã xẩy ra. Chắc hai thiếu niên Mán kia về thẳng làng họ. Tin bắt được tên tù phong vương vượt ngục sẽ được loan đồn ngay tối hôm đó. Ngày mai, không thấy người thợ săn dẫn tên tù vượt ngục về trại, ban quản trị không hiểu ra sao tất sẽ cho người đi lùng kiếm. Chóng thì chầy, họ sẽ phát giác xác chết của người Mán thứ ba. 982 sẽ bị choàng lên cổ thêm một tội nặng: Tội giết người! Đã vượt ngục, còn giết người để thoát thân!! Ba lần...tử hình mới đáng tội!
982 nghe tim đập thình thịch, mồ hôi vã ra lành lạnh ở sống lưng.
- Thôi, đành mất con dao găm, phải trốn xa cho mau kẻo nguy! Nếu bị bắt lần nữa, nhất định không thoát nổi!
Anh ta đứng lên, vừa thì thầm trong trí ba chữ ‘’Niết-Khao-La’’ bỗng thấy đám lá cây bên tay mặt lay động một cách khác lạ tuy không có một ngọn gió. Thú dữ hay người ? 982 rợn khắp châu thân một lượt, cầm con dao rừng chênh chếch thủ thế, trố mắt nhìn trừng trừng. Lúc này, đến lượt lùm cây phía bên trái lại rung rinh lay động. 982 hết hồn, chưa biết đối phó ra sao, một tiếng quát bất ngờ lại dõng dạc từ phía sau lưng anh ta đưa tới, kêu đích danh số tù, nghe nửa lạnh lùng, nửa mỉa mai giễu cợt:
- 982! Giơ tay lên! Mau!!
Trong một giây, 892 nhận định ngay được tình thế. Hiển nhiên anh ta đã bị vây cả ba mặt từ lúc nào, không hề biết.
Nghĩ vậy, anh điếng hồn, rụng rời suýt đánh rớt con dao rừng. Hấp tất quay lại nhìn kỹ nơi phát ra lời đe dọa chết người, 982 thấy một người mang quần áo ka ki, có vẻ một cán bộ cao cấp, đang lạnh lùng tiến lại gần, tay lăm lăm khẩu súng lục, chỉ thẳng vào ngực anh. Trong lúc hoảng hốt, anh còn kịp nhận ra người đứng trước mặt là người có ‘’bộ mặt quen quen’’ sáng hôm qua thấy đi trên con đường mòn cùng với hai cán bộ khác. Một ý nghĩ chua sót, tuyệt vọng hiện ra trong trí 982: ‘’Lần này, thật là chết’’!
Tên cán bộ cao cấp lại dõng dạc quát:
- 982! Giơ tay lên! Không, bắn bể sọ!
Giọng quát tiềm tàng một âm hưởng quyết liệt, tàn nhẫn biểu lộ ý định thẳng tay hạ sát liền nếu 982 kiếm cách tẩu thoát.
Nhưng 982 không giơ tay, cũng không nói một tiếng. Anh là Niết-Khao-La, chứ không phải là tên tù phong vương vượt ngục Đầm Đùn. Vì là người Mán, không biết tiếng Việt Nam nên không trả lời. Niết-Khao-La nhất định đóng vai kịch của mình tới màn chót.
Một vẻ sững sờ ngơ ngẩn thoáng hiện trên khuôn mặt người cán bộ nọ. 982 ngó hai bụi cây lúc nãy và thấy hai hộ vệ viên của y đang tiến lại. Không đầy năm giây, 982 đã bị ba người có súng vây chặt. Viên cán bộ chỉ huy làm thinh giây lát, nhìn chòng chọc vào mặt 982 như cố khám phá một bí ẩn gì. Hai người kia cũng yên lặng quan sát, đợi lịnh của thượng cấp trước khi hành động quyết liệt. Niết-Khao-La hết nhìn người nọ đến người kia, cảm tưởng ‘’bộ mặt quen quen’’ lại lởn vởn trong đầu anh, nhất thời mặt anh thộn ra một cách kỳ cục.
Bỗng người cán bộ chỉ huy thở dài một cái nhè nhẹ, hạ mũi súng xuống, bước tới gần cầm lấy bàn tay ghẻ lở đầy thương tích của 982 một cách thân ái, miệng khẽ gọi bằng một giọng xót sa, thành thực mà trước đó 982 tưởng rằng đời anh không bao giờ còn được nghe:
- Anh Dũng! Không ngờ anh đã ‘’biến đổi’’ đến thế này!!
Trong một giây, đầu óc 982 quay cuồng đảo lộn, rồi trong trí bỗng lóe ra một tia sáng, anh nhìn chằm chặp con người gọi bí danh của anh, thốt nhiên ôm choàng lấy mà khóc nức nở như đứa trẻ:
- Anh Hùng! Anh Hùng! Con anh đã cứu tôi, bây giờ chính anh và các đồng chí lại cứu tôi lần nữa.
- Anh Dũng! Anh Dũng!!
Người cán bộ cao cấp ‘’có bộ mặt quen thuộc’’ mà 982 gặp sáng hôm qua, nghĩ mãi không nhớ là ai thì lúc này đã nhớ ra rồi.
Đó là đồng chí Hùng, ba của thiếu niên Hợi, đang bí mật hoạt động trong tổ chức ‘’Liên Tôn Diệt Cộng’’, nấp dưới cái vỏ và chức vụ của một đảng viên cộng sản có tín nhiệm.
Đêm hôm đó, 982 tức Niết-Khao-La ngủ tại nhà một đồng chí Mường trong ‘’Liên Tôn Diệt Cộng’’. Hai năm nay, anh mới ngủ được một giấc nhẹ nhàng đầy giấc như người vô tội...Mãi gần đến sáng, anh ta thức dậy để uống một viên thuốc ký ninh và chích thuốc chữa những vết thương và mụn lở loét ở chân. Những thuốc này do mấy đồng chí mang theo để chữa cho anh. Nghĩ đến địa ngục Đầm Đùn, đến Hợi, đến Toàn, Thanh, 983 và nhiều bạn khác còn trong vòng lao lý rồi lan mam nghĩ tới hoạt động đấu tranh một mất một còn với việt cộng sau này, 982 thức luôn đến sáng bạch.
Trong đêm khuya yên tĩnh, đầu óc 982 trong lắng không một chút gợn. Nhớ lại những ngày sống trong các trại giam cộng sản và lẩn trốn trong rừng, anh mới thấy chân giá trị của một miếng cơm, một manh áo. Đã có những lúc mà bao nhiêu hoài bảo lớn lao vẫn ôm ấp đành vứt đi hết chỉ vì thèm một chén cơm, một miếng cháy hoặc vài ba trái chuối bỏ vào bao tử. Chưa bao giờ bằng lúc này, anh thành thực tin rằng điều quan hệ nhất đối với con người là làm thế nào cho no bụng.
Một chính thể bắt người dân phải chịu đói khổ lâu dài hay không bảo đảm được sự ấm no tối thiểu của người dân là một chính thể không thành công, nếu còn đứng được cũng chỉ nhất thời, sớm muộn gì cũng xụp đổ. 982 tự căn dặn:
- Nếu còn có hoàn cảnh làm cách mạng hay chính trị, ta phải luôn luôn nhớ chính trị, cách mạng gì thì cũng phải bắt đầu từ cái bao tử của người dân. Nếu không, chỉ là không tưởng!
Mười ngày sau đó, với những giấy tờ giả mạo, 982 rời Bản Mường theo một liên lạc viên lên đường trốn về Phát Diệm. (một thành trì chống cộng của người Công Giáo do Giám Mục Lê Hữu Từ lãnh đạo).
XIX.
Toàn đổi vai gánh luôn luôn mà hai vai vẫn rát như phải bỏng. Ra khỏi Bản Mường một quãng, anh đã moi trong gánh than một búi rơm, quấn chặt rơm trong miến lá chuối khô làm ‘’độn’’ lót vai cho bớt rát. Tuy thế, thỉnh thoảng đòn gánh vẫn nghiến vào vai như nhai nát làn da, bắt anh chảy nước mắt, hít hà nhăn nhó hoài. Thanh đi kế bênh thấy vậy, chọc tức thêm:
- Ăn ớt hay sao mà chảy nước mắt, nước mũi như thế kia ?
Suýt nữa, Toàn buộc miệng văng tục. Anh cố gắng giữ bình tĩnh, gượng cười. Thanh vẫn không tha chế giễu:
- Gớm! Cười tươi quá, cứ như hoa cứt lợn! Có đau vai muốn khóc thì khóc òa lên, không ai bắt lỗi đâu. Quanh đây, chỉ có mấy anh em bọn mình cả.
Toàn giở khóc giở cười, sực nhớ đến câu ‘’khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười’’, lặng thinh không đối đáp. Bỗng anh ta chậm bước, điều hòa hơi thở cho bớt hổn hển, rồi cất tiếng ngâm, vẻ khinh mạn lẫn hằn học:
‘’Ước gì ta có đôi vai sắt...
Anh còn ngập ngừng tìm vần chưa nghĩ ra câu dưới, Thanh đã thảm nhiên trịnh trọng ngâm tiếp:
Gánh cả sơn hà, khỏi gánh than...’’
Cười ha hả lấy làm thú vị, quên cảnh ngộ, hai anh tù thuộc giai cấp tiểu tư sản trong một lúc cảm khái tự trào đã lại để lộ chân tướng thích ngâm vịnh của giai cấp mình. Bộc lộ được phần nào nỗi uất ức, hai người thấy vui vui và khỏe sức được một lúc.
Bữa nay, cùng trong bọn đi gánh than, ngoài Toàn, Thanh còn có Mạnh, 325 và Tuyên. Độc giả còn nhớ, 325 là anh tù bị bệnh nặng lâu quá, nằm nghiêng hoài một bên, tai lở loét và bị ròi ‘’gặm’’ cụt hết nửa tai lúc nào không biết. Sau một cuộc chiến đấu dai dẳng mấy tháng trời, anh rù này đẩy lui được thần chết mà không ai có thể ngờ nổi, nay đã mạnh khỏe như thường và cũng được ‘’ân huệ’’ lên làm than!
Xế trưa hôm qua, đoàn tù lên đến trại than giữa cơn mưa lớn, người nào cũng ướt lướt thướt, run cầm cập. Lò than xây trong rừng xa trại đến cây số, dễ gì tù có hoàn cảnh xấy đồ và sưởi ấm. Tù nhân chia nhau chúi vào trong mấy căn trại ngủ, ngồi thu lu cho đỡ lạnh. Hơi người, quần áo ẩm ướt, mồ hôi, những vết thương nặng mùi, tạo nên một không khí quen thuộc. Trong phạm vi nhà tù, tù nhân đổi từ trại này qua trại khác, tựu trung cũng vẫn sống trong một làn không khí tù hãm, hôi thối, lợm giọng, tàn bạo...
May có mấy người bạn cùng toán khi ở Đầm Đùn là Mạnh, Tuyên và Thanh nên Toàn không thấy bỡ ngỡ lạc lõng mấy. Gặp nhau, mấy anh em tay bắt mặt mừng. Thấy Mạnh và Tuyên vẫn gầy gò, lẻo khoẻo nhưng đã bớt tái mét và bụng không trương phình như những người bị chướng khí, Toàn mừng thầm cho bạn và cho mình, tự an ủi:
- Cầu sao được sống sót mà trở về!
Trái với chương trình đã xắp đặt trước, bọn tù lên gánh than sẽ lưu lại lò 24 tiếng đồng hồ, để phụ giúp những công việc cầm kíp. Ngay buổi chiều, họ vào rừng hạ cây, chặt khúc, đục lỗ, những cây lớn cho trâu kéo về lò, những cành nhỏ, tù gánh về để đun nấu trong trại.
Trái với sự phỏng đoán của Toàn và điều này làm anh thích thú nhứt, là trại của tù nhân làm than cất ngay trong bản của dân Mường nhưng riêng biệt một khu. Đây là một sự đề phòng cần thiết, vùng này thường có thú dữ như hổ, gấu, trăn...lợn lòi v.v...tù phải ngủ trong Bản mới có an ninh, không bị thú dữ sát hại.
Toàn ngồi trong nhà chòi, ngó ra những căn nhà sàn xa gần, thấy thấp thoáng những người mặc quần áo chàm. Có những phụ nữ Mường đứng trên sàn, tò mò nhìn về trại tù. Toàn cảm thấy trong lòng êm ái, nhè nhẹ như thời tiết cuối Xuân bữa đó. Dù sao, anh đã may mắn sắp được hưởng một sự tự do tương đối, bớt thấy những hình ảnh chết chóc, khổ cực, xiềng xích. Trên lò than, tù nhân ra vào trại tự nhiên, không lấm lét sợ sệt như ở Trại Đầm Đùn.
Như đã nói, trại của tù làm than là một căn nhà sàn dài đủ chỗ nằm cho dăm chục người...Trước khi bọn Toàn lên, trại than còn có 40 người, một số bị sốt rét liên miên không công tác được, sắp phải tống về Đầm Đùn để chữa bệnh hoặc chờ chết, nên có một số tù khác được đưa lên bổ xung.
Lò than xây dựng ngay trong rừng cách trại chừng cây số, luôn luôn đứng gần giòng suối vì công việc đốt than phải cần đến nước thường xuyên và rất nhiều. Công tác của tù mỗi ngày là vào rừng hạ cây, chặt theo kích thước đã định sẵn cho mỗi toán, mỗi người thích hợp với nhu cầu và kiến trúc của mỗi lò. Cây dài nhất là bốn thước, rồi ba thước tám, ba thước sáu, xuống thấp nhất dần đến 80 phân. Đường kính lớn nhất là ba mươi phân.
Hình dáng lò than như cái bát úp, xây bằng gạch chét với đất sét và bùn vét ở suối lên, đường kính chân lò khoảng sáu thước, có một ống khói thông hơi bên trong lò và một lối ra vào (nhưng không có cửa). Vách lò bằng gạch dầy tới nửa thước, bên ngoài tù nhân còn chét thêm một lớp bùn cho kín, thật kín. Tù nhân phụ trách việc đốt lò luôn luôn săn sóc đến điểm này, giữ lớp bùn bao lò cho kín và ướt vì bùn khô sẽ nứt hoặc rớt xuống, không bọc kín hơi nóng bên trong. Trong trường hợp này than sẽ cháy rạc ra tro hết, hoặc sẽ ‘’sống’’, khi đốt, than sẽ nhiều khói và cháy như củi. Bao nhiêu công sức của Trại Sản Xuất và Tiết Kiệm theo khói và hơi nóng bay đi hết, bao nhiêu chén cơm nuôi tù trở thành vô dụng. Những người gây ra ‘’tai họa’’ bị buộc ngay tội phản động, phá hoại, Việt gian...và có nhiều may mắn được... phong vương hoặc phải chịu nhiều trừng phạt nặng nề khác cho đáng tội!
Sáng dậy, cơm nước xong, tù nhân chia ra từng toán, vào rừng lao tác cách trại ba, bốn cây số. Họ hạ cây xuống, chia theo khích thước đã ấn định cho mỗi người, rồi đục một cái lỗ ở đầu thân cây, luồn dây qua lỗ cho trâu kéo về lò. Lò than có bốn con trâu giúp việc, có thời kỳ chỉ còn hai mà thôi. Trâu cũng bị ‘’tai nạn lao động’’ và sốt rét như tù nhưng hơn tù ở chỗ trâu chết còn cho tù bữa chén no bụng ngon lành và có giá trị dinh dưỡng như bát yến, mỗi năm may ra chỉ sáng mồng 1 Tết Nguyên Đán, tù mới được đại phúc thưởng thức một lần. Ấy thế mà tù nhớ và mong đợi suốt 12 tháng trời.
Dưới chế độ cộng sản, trâu giá trị gấp mấy mươi ngàn lần bãi phân, và bãi phân có giá trị thực tiễn hơn một người trí thức nên khó có thể tính trâu đích thực trị giá bằng bao nhiên người tù. Chăn trâu, để trâu đói hoặc bịnh mà chết, tù phải đem mạng sống trả nợ...trâu.
Ngoài thời giờ lao tác chia khổ cực với tù, trâu được một hoặc hai người tù chăn cho ăn cỏ trên sườn núi hay dưới thung lũng gần trại. Chăn trâu là một công tác nhẹ nhàng ‘’thú vị’’ nên chỉ tù nhân ‘’vai vế’’ hoặc ngoại giao vận động khéo với trưởng ngành mới được ‘’cắt cử’’. Trâu được coi là ‘’anh hùng lao động’’ cao quý tột bực nên chăn cho trâu ăn cỏ là một việc làm quan trọng, phải tìm cỏ tốt cho trâu no bụng, đặng trâu mạnh khỏe tiếp tục sự nghiệp lao động sản xuất, làm tăng giá trị cho xã hội chủ nghĩa.
Suốt buổi chiều hôm qua, bọn tù vào rừng chặt ‘’cây làm than’’, xếp đống lại. Sáng nay, họ lại vào rừng làm cây nữa rồi buộc dây vào lỗ cho các ‘’anh hùng lao động’’ kéo cây về lò dần dần. Đến trưa, nghỉ ngơi chừng tiếng đồng hồ rồi hơn trăm tù nhân sửa soạn gánh than về Trại Đầm Đùn, cho vơi bớt số than đã ra lò. Sau công tác này, một số tù nhân được làm việc luôn trên lò than.
Khoảng quá trưa một lúc, tù nhân sửa soạn xong, chuẩn bị cân than rồi là lên đường. Lệ thường, mỗi gánh than phải cân được tối thiểu 40 ký (vì than cồng kền và nhẹ hơn củi, tù chỉ phải gánh 40 ký lô thôi).
Nhưng lần này trưởng ngành sản xuất than ra lệnh mỗi người phải gánh 45 ký lô, thể theo đề nghị của một số tù nhân xung phong.
Tù nhân sửng sốt nhìn nhau, hy vọng nghe lầm. Nhưng trưởng ngành than lạnh lùng nhắc lại: ‘’mỗi người gánh 45 ký lô trở lên’’. Cũng có chín, mười người xung phong gánh 50 ký.
Mọi người lẳng lặng chờ kiểm điểm lại. Ai nấy đều cân đúng hết vì nếu gian lận, khi về đến Trại Đầm Đùn, phải cân lại trước khi xếp vào vựa, thiếu cân tù lấy than đâu bù vào cho khỏi bị trừng phạt ?
Gánh thêm 5 ký trên vai trên quãng đường 15, 16 cây số là một sự vất vả phi thường. Nhất là trong năm, sáu cây số cuối cùng, 5 ký sẽ thực sự nặng bằng 20 ký đè chĩu vai xuống, lết không nổi...Những người có kinh nghiệm gánh đường trường đã thấy như vậy.
Sau khi hội ý với trưởng ngành than, giám thị quát lớn, tuyên bố lệnh lên đường. Một tên cảnh vệ hăm hở dẫn đầu. Tiếng ồn ào nổi lên giây lát như chợ họp rồi đòn gánh kĩu kịt, bước chân thình thịch trên mặt đất ẩm, tiếng ho, khạc nhổ, chép miệng thở dài...Đoàn tù gánh than như sợi thun giãn dài ra, dài gấp bốn năm lần khi họ còn xếp hàng đợi lệnh lên đường.
Gánh được dăm cây số, quả nhiên hai ‘’nhà thơ tiểu tư sản’’ Toàn, Thanh lại tụt xuống gần chót. Hai người cũng muốn đi sau cùng để có dịp bàn tính về vụ 982. Không nói ra, nhưng trong lòng hồi hộp không yên. Toàn rảo bước, đuổi kịp Thanh, khẽ gọi:
- Anh Thanh! Chầm chậm một chút.
Thanh đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt, đổi vai không trả lời.
- Nghe tôi bàn đây...
- Chuyện gì!?
- 982...
- Sao, 982...? Bị bắt lại à ?
- Không biết! Nhưng tôi thấy khó lòng lắm! Cầu Trời Phật độ trì cho hắn thoát.
Toàn nói giọng buồn rầu:
- Nếu không thoát, thà chết trong rừng còn hơn bị bắt đưa về trại, chịu cực hình.
Thanh nhìn trước nhìn sau, thấy không có người, hỏi:
- Nói dại đổ xuống sông xuống biển, nếu 982 bị bắt đưa về trại thì chúng ta, nghĩa là tôi với anh, phải có thái độ như thế nào ?
- Ấy đấy, tôi đang định bàn với anh về điểm đó.
Hai người yên lặng một lúc. Rồi Thanh nói một giọng nghiên nghị:
Nếu vì một lẽ gì, chúng ta bị cật vấn và bị buộc là có liên lạc cách này hay cách khác với 982 và Hợi, nhất định khai không dính dáng gì.
Toàn nhắc lại:
- Không dính dáng, không liên lạc gì với 982 và Hợi. Hoàn toàn không. Dù bị tra tấn cũng không nhận, chết thì đành chịu...Nhưng tôi tin...không đến nỗi nào.
- Đồng ý...Nhất định không nhận.
Từ phía sau, một tù nhân đang lặc lè lên dốc đồi, vẻ khó nhọc vô cùng. Toàn và Thanh đã leo đến ngọn dốc, đặt gánh xuống nghỉ mệt, chú ý coi người gánh đi sau chót hết là ai mà dáng quen quen.
Lát sau, chập chững leo lên đến ngọn đồi, người nọ thốt ngửa mặt lên, Toàn bất giác ‘’à’’ một tiếng:
- 983!
983 là tù nhân từ Việt Bắc về một lượt với 982, bàn tay mặt bị chặt mất một ngón. 982 và 983 bị trói liền một dây với 8 người khác trong khi đi đường đổi trại giam. Nay 982 đã vượt ngục, không biết 983 nghĩ thế nào về vụ này ?
Toàn định hỏi nhưng thấy chờn chợn, lại thôi. Trong trại, đã có nhiều người nhận định rằng 983 có ‘’máu’’ điên.
Nhất là anh vừa thấy sắc mặt 983 tối xầm lại như đang bất mãn uất ức. Đêm hôm kia, rạng ngày hôm qua, lên cơn rét cả giờ, sáng ra lại ‘’bắt buộc’’ phải xung phong đi gánh than ở lò về, lúc sắp hàng ra khỏi trại, bị giám thị quất cho một roi quắn thịt vì đứng không ngay hàng, 983 bất mãn vô cùng. Từ lúc đó, anh ta cứ hầm hầm như muốn gây sự với bất cứ ai.
Toàn và Thanh ngồi nghỉ chừng dăm phút thấy bớt mệt, hối nhau lên đường đuổi theo bọn người đằng trước đã bỏ xa đến 200 thước. Đặt đón gánh lên vai, trong khi sửa soạn lại để lấy đúng thăng bằng trước, sau, Toàn quay sang thân mật:
- 983! Lên đường với chúng tôi cho vui...!
983 lầm lì:
- Hai anh đi trước đi! Tôi còn mệt lắm. Đi không nổi...không chừng...
Anh ta không nói dứt câu. Toàn đưa mắt cho Thanh rồi thủng thẳng đổ dốc đồi. Được một quãng, Toàn hỏi:
- Thằng cha nói gì, anh có nghe không ?
- Không chừng...hắn ta trốn chăng ? Vả lại, tù đang bị phong vương còn vượt ngục được, huống hồ...
Toàn lặng thinh, dừng giữa dốc, quay lại nhìn ngược lên ngọn đồi chỉ thấy trời cao vời vợi, mây phơ phất bay như cảnh trong tranh. 982 ngồi nghỉ bên kia dốc nên bị mõm đồi che khuất.
Sự thật, 983 không định trốn nhưng thực hiện một ý định khác. Lượt đi, anh ta đã thấy ở cách xa một con lộ chính vài trăm thước, mấy thửa ruộng trồng mầu, lá đã xanh um. Đó là thửa ruộng trồng khoai lang và khoai mì. Gần đó, còn rải rác nhiều ruộng mầu nhưng không nhận ra trồng gì. 983 đói quá, bải hoải chân tay, đi không muốn nổi nên định bụng khi về sẽ lẩn xuống ruộng, đào trộm ít củ khoai lang ăn sống rồi giấu trong gánh than mang về trại để dành. Không ăn thì ‘’đổi’’ lấy quần áo cũng được, anh ta hết quần rồi, chiếc quần đang mặc đã rách bươm. 983 đứng trên ngọn dốc cao ngó con đường trước mặt, kiếm giám thị và hai tên cảnh vệ. Thấy thoáng bóng dáng hai tên cảnh vệ mà không thấy giám thị đâu, 983 đoán chừng giám thị đã cùng đi trước với tốp tù đầu tiên. Nhìn lại phía sau, không còn người nào nữa. Anh ta đã biết mình đã ‘’xách đèn đỏ’’ nên yên trí nhấc gánh lên vai, đổ dốc thật nhanh. Đến ngang bờ ruộng đưa vào đám ruộng mầu, anh ta quẹo ngay vào sâu thêm ít bước nữa rồi đặt gánh, rút trong bó than ra một cành cây vạt nhọn dài bằng cây thước kẻ học trò. 983 xách đòn gánh lom khom chạy thẳng đến thửa ruộng xanh tốt. Cành cây vạt nhọn này, anh ta đã sửa soạn từ lúc chặt cây trong rừng.
Quả nhiên là ruộng khoai lang, 983 mừng rỡ hết chỗ nói.
Khắp bốn phía đều vắng vẻ. Nhìn về con đường cái, đoàn tù gánh than coi lố nhố, nhỏ như hình trong tranh vẽ.
982 ngồi thụp xuống giữa ruộng, lựa luống nào giây khoai ‘’già nhất’’ nghĩa là là xanh thẫm nhất thọc cây nhọn xuống bới thật lẹ.
Hì hục đào chừng mấy phút, anh ta đã bới lên được dăm củ khoai, củ nào củ nấy lớn bằng bắp tay. 983 bứt hết giây khoai rũ sạch đất, nhìn trước nhìn sau ngó chừng. Trước khi đứng lên chạy về nơi đặt gánh than, không dằn nổi sự thèm muốn anh nhồm nhoàm nhá một củ khoai. Gần đây còn có một ruộng mía. Mía đã cao, bông mía phơ phất, gió thổi lá mía lạt sạt. 983 bỗng thấy khát nước lạ lùng. Anh ta chép miệng nhìn mấy củ khoai ôm trong tay, bụng bảo dạ:
- Chết thì chết! Bẻ một cây mía ăn cho đỡ khát rồi sẽ hay...
983 nghĩ đến chất nước ngọt mát nhừ đường phèn, nuốt nước miếng ừng ực...
Tù nhân Trại Giam Đầm Đùn bất kể lúc nào, ngày nào, đêm nào, cũng như sắp chết đói chết khát đến nơi. Chỉ trừ có đất là không cạp được, còn bất kể thứ gì, tù cũng ăn tuốt. Có những tù bị cùm trong xà-lim tối không được ăn đói quá, phát cuồng hay mất trí, xé phăng quần áo đang mặc ra nhai, nuốt cho đỡ đói. Lúc họ nằm chết cong queo rồi, đồng cảnh thấy họ đi tiêu ra toàn giẻ, có mảnh còn lòng thòng nửa trong nửa ngoài. 983 cũng đói cũng khát như các đồng cảnh. Nhưng, nguy hại hơn là anh ta có nhiều sự việc kích thích ‘’chất điên’’ phát hiện rõ rệt hơn.
Anh ta len lén chui vào giữa ruộng mía, còn đang lơ lơ láo láo bỗng giật mình đứng sững lại, rụng rời hai chân, mấy củ khoai lục tục rơi xuống đất. Trước mặt anh ta, một người đang ngồi ăn mía, đống vỏ mía dưới chân chưa vùi kịp trong cái lỗ ngoáy bằng chân.
Người đó là tên giám thị đã ngược đãi anh ta sáng hôm qua.
Sắc mặt đang tái ngắt bỗng hồng hào hẳn, 983 đột nhiên hết sợ bừng bừng nổi giận, rồi phát lên cười một cách ghê rợn như gặp lại kẻ thù không đợi trời chung mà mình sắp giết. Giám thị không coi tù vào đâu mà nghe tiếng cười của 983, bất giác rợn người. Y cau mặt lại một cách tức tối, nghĩ thầm: ‘’Thằng này muốn nằm lại ở ruộng đây’’, rồi đứng phắt lên đặt tay vào bao súng, ngó mặt 983. Thốt nhiên, y quát lớn:
- A! Thằng này ăn trộm khoai của nhân dân ?!
Trường hợp này, giám thị bắn chết tù phạm lỗi vô tội vạ. Về trại, chỉ cần báo cáo tù ăn trộm tài sản của nhân dân rồi tẩu thoát là hợp thức hóa vụ giết người. Nhất là bị bắt quả tang xâm phạm tài nguyên của nhân dân một cách ngang nhiên trắng trợn trước mặt giám thị, tên tù lại càng đáng chết. Nhưng giám thị chưa làm vậy ngay, coi thằng tù này định làm gì mà có thái độ như thằng điên. Hoặc nó phát điện thật chăng ?
983 lấy lại vẻ bình tĩnh, chịu đựng cái nhìn của giám thị không nao núng, thảm nhiên nói móc họng:
- Thì ăn trộm khoai, cũng như ăn trộm mía, cùng là ăn trộm của nhân dân, đều mất lập trường và có lỗi như nhau...
Một tiếng quát lớn khiến 983 nín bặt:
- Câm miệng! Mày có muốn nằm chết ngay tại đây không ?
Tù nhân lim dim cặp mắt suy nghĩ vài giây, ôn tồn nói:
- Tôi không thể nằm đây được vì có một sự bí mật vừa khám phá ra, tôi cần trình lên ban quản trị chiều nay. Đó là âm mưu phá trại của tù, cùng chủ trương giết hết chức việc trong trại giam, phối hợp với cuộc nhảy dù đổ bộ của quân Pháp đánh chiếm Đầm Đùn...
- Mầy nói cái gì ? Thằng Điên ?
Tuy làm ra vẻ cứng cõi nhưng tên giám thị cũng hoảng kinh trước một tin động trời có thể làm xụp đổ uy tín của ban quản trị cùng phương hại nghiêm trọng đến chính thể vô sản chuyên chính mà hắn đã góp phần xây dựng từ lúc đảng còn hoạt động trong bóng tối.
- Có lẽ tôi...điên thật. Nhưng tôi đã công khai tuyên bố sẽ tố giác sự việc quan trọng này. Nhiều người đã biết, trong số có trại viên 224.
Giám thị cau mặt suy nghĩ. 224 là tù tay sai của ban quản trị vẫn thường dùng khổ nhục kế chịu đòn trừng phạt để dễ dò la đám tù trong trại. Nếu 224 đã biết tin này, hắn không thể giết chết 983 luôn bây giờ. Biết đâu lại chẳng bị nghi ngờ là muốn ngăn chặn sự tố giác vụ nổi loạn trong trại. Có nhiều tòng phạm trong âm mưu đó mới hành động như vậy.
Giám thị hầm hầm nổi giận vì chưa biết xử trí ra sao trong trường hợp tréo cẳng ngỗng, hắn bị tù bắt quả tang xâm phạm tài nguyên của nhân dân. Nếu 983 tố cáo hành động phạm pháp của hắn với ban quản trị thì sao ? Thật khó nghĩ quá!! 983 nói một cách chắc chắn, minh bạch khiến hắn không thể ngờ bị một tên tù đang nổi cơn loạn trí dối gạt.
- Thôi! Gánh than về trại!
- Chưa được!
983 lạnh lùng chỉ vào đống bá mía giám thị chưa kịp vùi, hỗn xược nói:
- Chú đã ăn mía, ta lại không ăn được sao ? Ta cũng là người như chú, đâu ta có phải là con vật ?
Giám thị điên đầu lộn tiết. Lần thứ hai, hắn đặt tay lên bao súng, tính ‘’giải quyết’’ thằng này cách nào cho hả giận mà không gặp trở ngại. Cái khó xử là do hắn không thể phân biệt lời nói của 983 thật hay dối, của người tỉnh táo hay của thằng điên!
Sau một lát ngắn, trong khi 983 đang tước mía nhai ròn gau gáu, giám thị thảm nhiên bỏ đi, đuổi theo đoàn tù gánh than. Hắn chỉ vào mặt 983:
- Cho mày ăn cây mía chót trong đời mày!
Sự thật, hắn đã nghĩ ra kế giết 983 một cách tàn ác hơn nhiều cho bỏ hờn chứ nổ một phát súng, cái xác ngã gục xuống chết, đâu có đau đớn gì!
Trong khi 983 vừa nhai mía vừa cười tủm tỉm một mình như thằng...hóa dại, giám thị ba chân, bốn cẳng đi kiếm tù mật vụ 224 trong đoàn gánh than...
Sau khi giải lao với cây mía, 983 lật đật ôm mấy củ khoai giấu vào gánh, xếp than che đậy thật kỹ. Nhưng anh ta vừa đi vừa suy tính. Đầu óc trở lại bình lặng sáng suốt, 983 nhận thấy bịa chuyện tầy trời để ‘’bịp’’ giám thị như vậy thật nguy hiểm, chết dễ như bỡn. ‘’Không biết khi đó sức mạnh nào đã kích thích khiến ta có những ý nghĩ và hành động lạ lùng, không kiểm soát nổi ? Hay ta loạn trí chăng ?’’
983 tự hỏi vậy rồi phân vân lo sợ, hốt hoảng vừa gánh vừa chạy, chừng 4 cây số sau, đuổi kịp bọn tù thứ hai đang đi một hàng dài. Toàn và Thanh vẫn lẵng đẵng đi chận hậu tốp này. 983 quay sang gọi khẽ:
- 271...!
Toàn vuốt mồ hôi trên mặt, nhìn kỹ 983 rồi hỏi:
- Gì vậy!
- Ăn khoai không ?
Đang đói bụng, Toàn mừng quá, kêu Thanh rồi đặt gánh vào mép con lộ, nhìn sững 983. Anh này loay hoay moi trong đống than ra mấy củ khoai, phát cho Toàn, Thanh mỗi người một củ. Nhìn trước nhìn sau, không thấy vũng nước nào để rửa khoai bớt đất, Toàn nhặt một mảnh sành, dùng cạnh sắc cào sơ qua lần vỏ còn dính đầy đất cát rồi đưa lên miệng nhau gau gáu, vội vã đến nỗi nước miếng trắng chất khoai ứa cả ra hai bên mép. Thanh cũng lanh lẹ không kém, chùi khoai qua loa bằng nước mưa đọng trên bụi cỏ rồi nhai liền, khen rối rít là ngọt.
Cả ba ăn hết cùng một lúc. Miếng cuối cùng, họ vừa gánh vừa ăn thủng thẳng cho đã thèm. Còn hai củ, 983 phát luôn cho Toàn và Thanh mỗi người một củ và căn dặn:
- Giấu cẩn thận, nếu để nó bắt được khi xếp than vào vựa thì...rán mà chịu!
Toàn ngẫn nghĩ giây lát, bàn với Thanh:
- Chi bằng cất luôn vào cái túi...da là kín đáo nhất.
Thanh cười đồng ý. Thế là hai người vừa gánh vừa nhai hết hai củ khoai sống nữa. Họ nhớ lại cách đây nửa tháng, một bọn tù đi làm củi trong rừng, bất ngờ kiếm được một trái mít rừng. Mấy người cùng bọn chia nhau ăn lén mít, xong kiếm lửa đốt củi nướng hột mít, ăn hết luôn.
Lượt về, chẳng may trượt chân ngã khi đi ngang mặt giám thị, một anh tù bật đánh trung tiện thối hoăng. Giám thị vốn thính tai, sáng mắt lại thính mũi, bắt được liền hơi hạt mít, buộc anh tù vào tội ăn trộm hoa quả của nhân dân. Tù cố chối kêu oan. Về đến trại, giám thị bắt tù nằm ngửa rồi đạp lên bụng tù cho đến khi bật ra mùi hạt mít, tù hết đường chối cãi! Phạm nhân ngoan cố bị...hai chục hèo và phạt một tuần múc phân cầu tiên, một hình phạt kinh khủng vì có khi múc phải một mảng da đầu còn tóc bở bùng bục hoặc bàn chân đã bị ròi ăn trơ xương.
Chiều hôm đó, trong lúc ăn cơm tù nhân mật báo cho nhau biết bệnh tả lỵ đang hoàn hành trong trại giam và nội từ đêm qua đến trưa nay, đã có chín người chết vì bệnh. Chín cái xác đã được khiêng ra vườn chuối, liệng thành một đống bên hố phân chờ mang ra bãi.
Nghĩ đến chuyện ăn khoai sống, nuốt luôn cả đất cát trong lúc có bệnh thời khí ở trại, Toàn thấy hoảng. Chẳng may bỏ mạng vì mấy củ khoai sống thật là...buồn!
Ăn cùng mâm với Toàn bữa đó, không biết có phải vì sự tình cờ hay không, có tên tù được đồng cảnh đặt cho biệt hiệu ‘’lưỡi dài’’. Lưỡi dài đột nhiên có cảm tình rõ rệt với Toàn khiến anh ngạc nhiên...và lo sợ.
Sau bữa ăn, lấy vẻ thân tình. Lưỡi dài nhìn trước nhìn sau rồi thầm thì cho Toàn biết một tin quan trọng: Ban quản trị đã khám phá được những phương tiện vượt trại của tù phong vương. Phương tiện đó do tù trong trại cung cấp.
Toàn cố lấy vẻ thảm nhiên làm như tin đó không liên quan gì đến anh. Lưỡi dài lại tiếp:
- Phong vương 982 bị bắt lại rồi. Hiện đang cung khai đầu đuôi vụ vượt trại với đầy đủ các chi tiết. Làm sao giấu nổi!
Mặc dầu cố trần tĩnh, Toàn cũng tái mặt như người trúng gió. Bị bắt lại, chắc chắn 982 sẽ phải chết. Và chắc chắn còn nhiều người phải mất mạng.
Tối hôm đó, sau giờ học tập, đợi lúc thuận tiện, Toàn cố giữ cho giọng nói khỏi run, thì thầm cho Thanh biết tin tầy trời. Đến lượt Thanh lặng người đi một lát.
Cả đêm, Toàn hoang mang suy nghĩ, gần sáng mới chợp mắt. Thỉnh thoảng anh lại thấy ánh đèn le lói đi ngang sân và nghe bước chân của cảnh vệ rảo quanh trại ngủ. Kinh nghiệm cho biết chỉ lúc nào tình hình khẩn trương mới có biện pháp canh phòng như vậy.
Sáng sớm hôm sau, sau hồi kẻng lạnh lùng, tù nhân trại thường tội tập họp ngoài sân, xắp hàng ra ao rửa mặt rồi vào ăn cơm trong một nỗi hoang mang lo sợ tập thể.
Toàn hồi hộp quá chừng, ăn vội ăn vàng lo lắng nghĩ ngợi về vụ 982 bị bắt lại, không biết mình có bị liên lụy hay không ?
Mới ăn chén cơm thứ hai, Toàn giật nẩy mình khi thấy giám thị Tùng tiến lại, lần lượt nhìn kỹ mặt bốn người trong toán anh, ngó lại số tù từng người, rồi chỉ vào mặt 983 và nói:
- Thằng này lên văn phòng có lệnh của ban quản trị.
983 đánh rớt chiếc đũa mà không biết, thốt nhiên đờ đẫn như người lạc hồn. Anh ta nhìn đồng cảnh cùng toán bằng cặp mắt bất thần như người sắp từ giã cõi sống, rồi nói bâng quơ.
- Tớ...no rồi. Anh nào cần ăn thêm, có thể ăn nốt phần ăn của tớ.
Toàn càng tin chắc 983 bị tán loạn tinh thần và chứng bệnh điên khùng đã phát hiện rõ rệt. Đây là lần thứ nhất trong trại giam Toàn nghe rõ ràng ba tiếng ‘’tớ no rồi’’ từ miệng tù nhân. Trừ những tù nhân bệnh hoạn không nuốt nổi cơm và loại tù đặc biệt khẩu phần hạng A, chưa bao giờ tù được ăn tạm đủ để bù lại sức lao động đã mất, nói chi ăn no bụng. Một hạt cơm vãi dính đất, tù còn nhặt lên đưa vào miệng nhai tóp tép, huống hồ một chén cơm mà lại chịu bỏ ? Mặt khác, dù no thật, tù cũng không dám nói như thế trước mặt giám thị.
983 buồn bã đứng lên, cười gượng như mếu trông thiệt thiểu não.
Mấy người tù cùng mâm lấm lét nhìn nhau, thất sắc, hồi hộp nghe ngóng giám thị còn gọi ai nữa không ? Toàn sợ đến gần nghẹt thở. Yết hầu anh đưa lên đưa xuống mấy lần vẫn không nuốt trôi nước miếng. Còn Thanh cúi đầu vụng về nhìn mấy cọng rau lang luộc (anh để dành ăn với miếng cơm chót cho ngon miệng) để che dấu sự lo lắng xúc động. Cả hai đều không đoán ra vì sao 983 bị gọi lên văn phòng một cách gay gắt như thế. Theo kinh nghiệm, trong mười lần bị gọi lên văn phòng, tới chín lần gặp nguy hiểm.
Giám thị Tùng hầm hầm không nói. Nhưng mắt y quắc lên và hai cánh mũi phập phồng. Y chợt nhớ đến tên tù phong vương vượt ngục trong cái đêm y vắng mặt ở trại cách nay hơn một tuần. Trong số những đứa giả câm giả điếc này, thế nào cũng có tòng phạm mà chưa tìm ra đích danh tên nào. Thấy mặt Toàn, y nhớ đã có lần sai Toàn mang vật dụng quần áo ra lều phong vương trả cho 982. Y bỗng ngó Toàn làm như định hỏi điều gì song lại nín, đánh đòn gió bằng cách ‘’hừ’’ một tiếng, quan sát thật kỹ sắc mặt Toàn sau ngón đòn gió, rồi lừ lừ quay sang 983 quát:
- Thằng này! Đi theo lên văn phòng mau!
Ít khi giám thị, nói chung là nhân viên ban quản trị, công khai gọi tù nhân là thằng này, thằng nọ hoặc ‘’mấy tao chi tớ’’ với tù. Vì có lệnh cấm gọi và đối xử như vậy. Giám thị Tùng không cần giữ gìn thì dư biết y căm tức tù đến chừng nào.
983 lõng thõng bước ra sân, giám thị theo liền sau. Toàn có cảm tưởng như nhìn lần cuối cùng một người đang đi thẳng vào cõi chết.
Bỗng anh thấy 983 nghênh ngang ngửa mặt nhìn trời, xong quay phắt lại đảo mắt ngó một vòng trong trại rồi toác miệng ra...cười khanh khách thành tiếng. Toàn nghĩ thầm: 983 phát điên thật sự rồi!
Tuy thế, miếng ăn trong trại giam vẫn là điều quan trọng nhất. Phần cơm còn lại của 983 được chia làm ba phần, mỗi người được ăn thêm khoảng một miếng cơm lớn nên ai nấy đều mừng rỡ như được canh bạc bất ngờ.
Toàn và Thanh ăn xong đứng lên, bắt gặp nhiều đồng cảnh đang quay nhìn về phía hai người thì thầm bàn tán nên càng hồi hộp lo sợ, mong sao mau đến giờ đi gánh than. Ở lại chậm một phút là lo chết người thêm một phút.
Trong lúc Thanh dọn dẹp chén đũa xuống nhà bếp rửa, Toàn lững thững quay vào trong trại ngủ, tính lấy mảnh vải vẫn để dành buộc lên cổ cho đỡ lạnh. Đêm hôm qua, trời bỗng trở rét, anh ho sù sụ, đàm chặn ngang cổ làm anh khó thở muốn lên cơn xuyễn.
Có tiếng thút thít như tiếng nức nở bị chặn lại trong cổ họng khiến anh ngạc nhiên quay lại. Khóc là mất lập trường, sẽ bị phạt. Một ông già râu tóc bạc trắng, đầu cạo nhắn thín, mặt nhăn nhó, mắt đỏ hoe gấp ga gấp gay, đang tập tễnh bước. Chân ông già đeo xiềng, mỗi bước đi, xiềng lách cách chạm vào khoen sắt đeo hai bên cổ chân. Chừng ông già đã được đồng cảnh ‘’mách thuốc’’ nên biết dùng dây rút quần buộc sợi xiềng treo trước bụng. Thấy một mắt cá chân ông già tím bầm và sưng vù như chiếc bánh dầy nhỏ, Toàn đoán ngay ông già đã nếm đòn ‘’trật búa’’ của thợ rèn. Mỗi lần đặt cẳng chân bị sưng xuống đất, ông già rên rỉ, muốn khóc mà lại sợ phạm quan điểm của nhân dân!
Hai cẳng chân của tuổi già đã héo quắt lại, thâm xì, chỉ còn da bọc xương, không lớn hơn cánh tay của một người trung bình
Toàn nghe nói ông ta (trước kia có làm Chánh Tổng) bị một tên tá điền nay làm chủ tịch xã, cho bắt giam vào đây để trả nợ nhân dân trong đợt đầu tiên phát động phong trào cải cách ruộng đất tại địa phương.
Một mùi hôi thối nặng nề xông lên vì có hai đồng cảnh vừa đi ngang. Đây là hai tù nhân phạm kỷ luật, bị phạt dọn cầu tiêu công cộng tại trại, múc phân, rải tro, nhào trộn làm phân bón cho ban canh nông sử dụng. Nghĩ đến hố chứa phân, Toàn đã muốn ói mửa. Nhiều tù nhân chết trong hố phân này vì những lý do không thể tưởng tượng nổi.
Sự kinh tởm còn lởn vởn trong đầu óc Toàn cho đến khi anh quay lại nhà tiểu công nghệ, chờ lệnh đi lao tác trên lò than.
Thanh làm xong phần việc sau bữa ăn, cũng đã có mặt tại đây. Từ ngoài sân, một tên giám thị xăm xăm bước lại trước mặt Thanh ra lệnh chi không rõ, chỉ thấy Thanh lễ phép gật đầu. Rồi giám thị quay về phía Toàn ngoắc tay, như gọi chó. Toàn hốt hoảng chạy lại, nhận lệnh: Bữa nay anh được chỉ định xay thóc ở nhà tiểu công nghệ.
Toàn linh cảm tai biến đã khởi sự đến với anh. ‘’Không biết ra sao đây’’ ? Câu đó luẩn quẩn ám ảnh Toàn cho đến khi bóng nắng hiên lùi ra quá bực thềm nhà. Khoảng 10 giờ, một giám thị Mường cầm mảnh giấy có ghi số danh, gọi Toàn và Thanh lên văn phòng. Tuy đã đoán trước phần nào tai biến mà khi thấy giám thị lại gần, Toàn cũng run lên cầm cập. Anh ta than thầm như một người sắp rời bỏ cõi đời:
- Thế là chết!!
XX.
Những cảm giác hoang mang run sợ lúc đầu dần dần biến hết. Toàn tỉnh trí lại, quan sát gian phòng rộng rãi nhưng liền sau đó, trống ngực anh ta lại đập thình thịch. Tuy chưa nhận rõ chi tiết khác thường nào, Toàn linh cảm có một cái gì rờn rợn đang vây bọc đám tù, phản phất trong không khí. Dường như bao nỗi oan khuất trong những trận đòn tra tấn tàn bạo, những giòng máu đau xót, những giọt nước mắt tức tưởi của những người tù hấp hối đã thấm xuống nền nhà, thấm vào các thớ gỗ của vách nhà, tất cả những thứ đó đã khiến cảnh vật nơi đây trở nên có linh hồn như người và giao cảm được với tù.
Toàn nhìn một khoảng đất trên nền, sáu bảy cái khoen sắt đã hoen rỉ, xắp thành một hàng thẳng nằm ngang căn nhà, trông phản phất như những con mắt không có tròng của xác người nằm lấp ló dưới mặt đất ngó lên. Bất giác anh ta ngước nhìn nóc nhà, phát giác một con lằn (rò rẹt) gắn chặt vào sà ngang bằng một đai sắt chắc chắn. Một sợi dây thường chui qua rãnh con lăn, chung đôi lại, hai đầu dây buộc túm vào cây cột ở sát vách. Toàn ngẫn nghĩ chưa biết con lăn, sợi dây và những khoen sắt dùng vào việc gì ?
Đúng lúc Toàn liếc nhìn, thiếu niên Hợi bất chợt ngửng lên, ngó lơ mơ đám người trong gian nhà rồi lại gục đầu xuống như ngủ gật.
Có những bộ mặt quen trong đám đông lố nhố. Toàn chăm chú nhìn, tức thì lạnh người: Đầu Trâu! Nguy rồi! Đầu Trâu cũng có mặt. Mà Đầu Trâu có mặt ở đâu, phải có máu chảy thị rơi nơi đó. Cái ‘’nghiệp’’ của hắn là như vậy. Trong trại giam cộng sản, có chuyên viên tra tấn Đầu Trâu, cũng như dưới địa ngục có quỷ dữ. Bữa nay, tính mạng tù nhân nào nằm trong tay Đầu Trâu đây ? Với tạng người ốm yếu, Toàn sẽ không thể nào chịu nổi hai mươi lăm hèo của Đầu Trâu, như thế có nghĩa là anh đã ra ‘’người thiên cổ’’ trước khi thọ lãnh đủ hình phạt tối thiểu ba mươi hèo.
Một người mặc đồ ka ky nội hóa đã bạc màu đứng bên cạnh Đầu Trâu bỗng quay nhìn vế phía Toàn và Thanh. Cả hai đều giật nẩy mình như chạm phải luồng điện mạnh khi bắt gặp cặp mắt độc ác tóe những tia lửa căm thù của giám thị Tùng. Có mặt hai tên này một lượt, bắt buộc phải có người chết, không tránh khỏi.
Nhớ lại cách đây khá lâu, trong một lần rẫy cỏ trước căn nhà này với mấy đồng cảnh, thấy căn nhà luôn luôn đóng cửa kín mít, không hề gặp người ra vào lần nào, anh bèn hỏi thăm một đồng cảnh đã có ‘’thâm niên’’, người này hốt hoảng trợn mắt ra hiệu ‘’đứng có hỏi’’. Toàn hoảng sợ, không biết đầu đuôi ra sao. Lát sau, người đồng cảnh nhìn trước nhìn sau, bên phải bên trái, rồi mới dám xích lại gần thì thào vào tai Toàn:
- Căn nhà này có cái bề ngoài hiền lạnh như thế nhưng ai đã vào thì khi ra, phải cõng xuống trại hay khiêng thẳng ra ngoài bãi. Vì căn nhà này dùng để...
Người tù nọ không nói hết câu, nhưng Toàn đã hiểu:
- ...Để tra tấn ?
- Không đúng hẳn
- ..... ?
- Dùng để...giết người!!!
Trông dáng điệu sợ sệt của đồng cảnh, Toàn tin chắc chắn anh ta nói thật. Vậy mà hôm nay, Toàn đã bất hạnh ‘’được’’ đưa vào đây. Nghĩ vậy anh bàng hoàng ngộp thở, đầu óc choáng váng, muốn xỉu! Trong lúc luống cuống, sờ soạng tìm chỗ trên vách để vịn, anh nắm phải một vật lạnh toát người vì sợ. Nhưng nhờ có sự đụng chạm của hai bàn tay mà cả hai người cùng tỉnh lại và quay về với thực tế trước mắt.
Lúc đó, cả hai mới nhận ra một nhân vật thứ ba đang ngồi xổm lúi húi sắp xếp những cây gì đen xẫm và dài năm sát vách. Toàn đứng hơi xa, chưa thể phân biệt ra loại cây gì thì vừa đúng lúc nhân vật thứ ba kia quay lại nhìn giám thị Tùng. Té ra là tên tù thợ rèn, tay sai đắc lực của Tùng. Thợ rèn lắp bắp nói. Hung thần Tùng gật đầu ra vẻ đồng ý, ngó cổ tay coi giờ rồi lật đật cùng Đầu Trâu lại gần chiếc bàn gỗ tạp cũ kê ở góc nhà đằng này. Trên mặt bàn, có một cuốn sổ bìa đen.
- Trông ai như 983 ngồi bó gối sát vách cà!
Nghĩ vậy rồi Toàn ‘’ủa’’ thầm một tiếng. Vì mới vắng mặt chưa quá ba tiếng đồng hồ mà mặt mũi, quần áo, dáng vẻ của anh tù khùng đã thay đổi khác hẳn. Hai mắt trở nên ti hí vì sưng vù, chiếc áo cánh có in số tù trước ngực và sau lưng rách teng beng tét bét để lộ những mảnh da xám xịt. Hai cánh tay be bét máu, vành môi sưng vếu như con đỉa trâu đã thâm đen lại. 983 ngồi phệt dưới đất, đầu gối co lại trước ngực, lơ đãng ngó Toàn và Thanh, không lộ vẻ gì khác khi thấy đồng cảnh cùng toán nên hai người phân vân không biết y còn trông được hay bị hư mắt rồi. Người ta chỉ rắc một dúm nhỏ mảnh vụn thủy tinh đã nghiền nát vào tròng mắt tội nhân rồi day day nhè nhẹ một hai cái trên mí mắt là xong. Từ lúc đó, dù bị ngọn đèn ‘’bin’’ chiếu thẳng vào mắt, tội nhân chỉ thấy đêm đen, hình ảnh biểu tượng của đời sống tù đầy dưới gông cùm cộng sản.
Toàn chợt thấy 983 nhe răng ra cười với anh thì phải. Giữa hàm răng trên có một khoảng đen thui, trông lạ mắt. Anh phân vân sợ hãi, không biết 983 muốn bày tỏ điều gì ? Trong hiện cảnh, nhe răng ra mà cười, ngó thấy khiếp đảm, thảm thương, ghê rợn hơn khóc cả trăm lần.
Toàn càng phân vân sợ hãi hơn nữa khi thấy 983 vẫn nhe răng ra như cười, như mếu, trong khi bàn tay trái của hắn nắm và lẩy bẩy nhắc cánh tay phải đặt lên đầu gối. Chỉ nhận định sơ qua động tác trên, Toàn đủ biết bộ xương, hệ thống bắp thịt và thần kinh của 983 đã bị xô lệch, tơi tả, hư hao quá nhiều! Ít ra, lúc này một cánh tay của 983 đã hết xài.
Toàn nhìn Thanh định thì thầm nhưng không ra hơi. Anh thấy sợ quá, sợ tất cả mọi người, mọi thứ trong trại. Anh định nhắc lại Thanh: ‘’chết thì chết, nhất định khai không có dính líu gì với 982, với Hợi’’. Toàn liếc nhìn Hợi. Thiếu niên này như còn chưa tỉnh, vẫn lim dim tì má vào đầu gối mà thiêm thiếp.
Mọi người nhốn nháo, duy có Hợi và 983 vẫn lạnh lùng không thèm để ý, một người mặc đồ ka ky Mỹ may đẹp, hách dịch tới trước bàn sau khi đảo mắt nhìn rất nhanh một lượt. Giám thị Tùng, Đầu Trâu thoắt đứng nghiêm, giơ quả đấm lên chào.
Người mới vào là nhân vật thứ nhì trong Trại Đầm Đùn. Phó trưởng ban quản trị kiêm trưởng ban điều tra vụ tù phong vương vượt ngục. Tuy là phó nhưng uy tín và nhất là quyền hành thực tế lại vượt xa và áp đảo trưởng ban nhiều. Điều đó không có gì lạ nếu ta biết phó trưởng ban là đảng viên có nhiều tuổi đảng và thành tích hơn trưởng ban. Dưới chế độ cộng sản, những người không có quyền hành công khai, hay chỉ có những chức vụ nhũn nhặn thường là những phần tử quan trọng. Vì thế trên địa hạt hành chánh, cấp trên ‘’ngán’’ cấp dưới là chuyện thường xảy ra.
Phó trưởng ban không thèm chào lại. Y lạnh lùng đứng sừng sững trước bàn, cũng không thèm ngồi xuống ghế, chỉ khẽ ra dấu cho hai thuộc cấp lại gần rồi lần lượt nhìn lần nữa từng người trong phòng. Gặp tia mắt của y, Toàn rợn người...Nhưng hình như y không đặc biệt chú ý tới Toàn và Thanh. Không ai bảo ai mà Toàn và Thanh đều khoanh tay, cúi gằm mặt. Tên tù thợ rèn đứng nghiêm, không nhúc nhích. Cách xa mấy thước, hai người tù khác cũng đứng trong một dáng điệu sợ sệt run rẩy rõ ràng. Chỉ có 983 không có cử chỉ gì khác, vẫn ngồi bệt dưới đất, thảm nhiên rờ nắn bàn tay úp trên đầu gối xem bị hư nát ra sao. Mãi cuối phòng giáp vách, thiếu niên Hợi ngồi trầm ngâm không có thái độ rõ rệt ngoài vẻ mệt nhọc, đau đớn.
Kể lại chiều hôm trước, vừa về đến trại, cho tù xếp than vào vựa xong, tên giám thị lật đật lên văn phòng trình với phó trưởng ban quản trị những lời tù 983 đã nói khi bị y bắt quả tang xâm phạm ‘’tài sản’’ của nhân dân. Vì thế, giám thị đã không áp dụng biện pháp trừng phạt thích nghi ngay bây giờ. Cố nhiên, y không đả động đến vụ ăn trộm mía. Sau đó, 224 được gọi lên đối chứng, khai không biết gì về vụ này, tuy vậy cũng bị nhốt riêng để sẽ đối chất với 983.
Sáng hôm nay, 983 bị đòi lên văn phòng như ta đã biết. Mới đầu y tỏ vẻ ngớ ngẩn, thật thà, khai không có chuyện lạ lùng đó, hoàn toàn tên giám thị bịa đặt để vu cáo. Phó trưởng ban quắc mắt, quát lớn:
- Giám thị vu cáo cho mày làm gì ? Thiếu gì cách để trừng phạt Việt gian chúng mày mà phải vu cáo ?
Để chấm câu, phó trưởng ban vung tay phóng một trái đấm vào giữa mặt 983. Như bị một nhát búa đánh trúng, 983 loạng choạng mãi mới lấy lại được thế đứng thăng bằng. Anh ta vuốt mặt, thấy bàn tay đỏ lòm máu mũi, trợn mắt nhìn phó trưởng ban:
- ‘’Nó’’ sợ tôi trình với ban quản trị tội xâm phạm tài sản của nhân dân bị tôi bắt quả tang nên phải đặt chuyện vu cáo trước.
Phó trưởng ban nghiêm nét mặt, hỏi:
- Xâm phạm gì ?
- Mía...
- Ở đâu ?
- Dưới ruộng mía, cách xa đường cái mấy chục thước.
- Mày gánh than đi trên con lộ lớn, làm sao biết ?
- Tôi...xuống ruộng đi tiêu nên bắt gặp giám thị đang ăn trộm mía, đống vỏ mía trước mặt, y chưa vùi kịp!
983 ngập ngừng chút xíu rồi thảm nhiên một vẻ khiêu khích. Phó trưởng ban vừa ngạc nhiên vừa nổi giận. Hắn có thói quen thấy tù nhân trong trại khiếp hãi, run rẩy trước mặt hắn, lâu lắm mới gặp tên tù hỗn xược không có vẻ sợ sệt. Nhưng đồng thời hắn thấy mặt 983 dần dần ửng đỏ, gân trán nổi lên, cặp mắt long sòng sọc như người đang lên cơn điên dại, hắn sực nhớ lại nhận xét của tên giám thị cách đây ít ngày; ‘’trại viên 983 đã có nhiều chứng bệnh thần kinh, có nhiều cử chỉ lạ lùng, khác hẳn với người bình thường, cần theo dõi thật sát!’’ Sự thật, ít lâu nay 983 luôn luôn bàng hoàng, mất trí nhớ, thấy nhiều ảo ảnh kinh hãi khiến y phát la lên nhiều lần. Một buổi kia đang cuốc đất thay trâu cày, mồ hôi nhể nhại, y bỗng bỏ quốc chạy lại bờ ruộng trình với cảnh vệ có vợ y lại thăm, lát sau, y lăn xuống đất khóc lóc, than vợ đã bỏ đi lấy chồng. Những cử chỉ điên cuồng này đem lại cho y nhiều hậu quả tai hại, hàng chục ngọn roi song mật đánh tới tấp tại chỗ như mưa rào, một bữa nhịn đói và nhốt dưới xà-lim.
Một lần khác, đang ăn cơm, 983 nhìn tô nước rau luộc rồi la hoảng là tô máu. Rồi y thấy quần áo tay chân đầy máu, chung quanh toàn là máu, hốt hoảng đâm đầu chạy, tông vào cột ngã lăn quay xuống đất, bị thương nặng ở đầu.
Tất nhiên, mọi cử chỉ vi phạm luật lệ, nhất là phá rối trật tự trong trại đều bị trừng phạt và ghi vào phiếu lý lịch cá nhân.
Những lúc tỉnh táo bình thường, tù nhân 983 rất hiền lành lễ phép, nhường nhịn, chăm chỉ học tập, xung phong mọi công tác nặng, hăng say thi đua tăng năng xuất, ít trại viên nào theo kịp. Thế cho nên mặc dầu bị ban quản trị những biện pháp tai hại do tình trạng điên khùng tạo ra.
Nhưng lần này, sự rối loạn thần kinh của 983 đã phát hiện quá mức. Y đã gọi giám thị là ‘’nó’’ trước mặt phó trưởng ban quản trị và tố cáo công khai giám thị thì ‘’ăn trộm mía của nhân dân’. Còn gì là uy tín của ban quản trị ? Cứ đà này, 983 sẽ có thể công phai ‘’chửi’’ ban quản trị, chửi chính phủ, chửi đảng, chửi chế độ, và dám ‘’ăn miếng trả miếng’’ khi bị đòn trừng phạt là khác.
Phó trưởng ban sực nghĩ đến vụ 982 vượt ngục được hơn một tuần lễ mà vẫn chưa tìm được dấu vết, bèn thay bằng vẻ mặt tươi cười, thân mật hỏi:
- Thôi...chúng ta nói chuyện khác...vui vẻ hơn...Biết anh là một trại viên gương mẫu, giác ngộ, tôi đã định cho lên giúp việc tại văn phòng một thời gian để tưởng thưởng trước khi trả tự do cho anh trở về với gia đình, vợ con...
Phó trưởng ban vừa nói vừa nhìn nét mặt 983 để cân nhắc ảnh hưởng của lời hứa hẹn đường mật. Nghe hai tiếng ‘’vợ con’’, 983 bị xúc động mạnh. Phó trưởng ban bèn khai thác thêm nhược điểm ‘’nhớ vợ nhớ con’’ của tù nhân:
- Anh hãy cho tôi biết những trại viên nào âm mưu tổ chức vượt trại tập thể như anh đã nói...cũng như những người âm mưu phá trại, giết nhân viên, làm nội ứng cho giặc Pháp nhảy dù xuống vùng này...
983 vẫn yên lặng như tượng đá. Phó trưởng ban lại tiếp:
- Tố giác bọn phản động đã làm nhiều trại viên bị liên lụy trong đó có anh, anh sẽ được trả tự do để về với gia đình, vợ con...
Cặp mắt 983 bỗng long lanh như tóe lửa. Hiển nhiên, hai tiếng ‘’vợ con’’ có một tác động ghê gớm đối với tù.
Hắn bị xúc động mãnh liệt, mặt hắn vừa hồng vừa xanh loang lỗ, những đường gân máu trên trán, trên thái dương nổi lên lặn xuống bần bật, khi không, hắn òa lên khóc, chỉ vào mặt phó trưởng ban nức nở nói:
- Tao làm gì cho gia đình! Con tao chết, vợ tao bỏ đi lấy chồng!...Chỉ tại quân cộng sản chúng mày mà nên nông nỗi...
Hòn đá dùng để chặn giấy trên bàn nằm trong tay phó trưởng ban thốt đập vào giữa mặt người tù loạn trí khiến hắn ngã ngửa, hai tay che mặt, máu mồm máu mũi đổ ra lênh láng.
Rồi những cái đạp tới tấp lên ngực, lên bụng khiến 983 nằm chết giấc trên mặt đất. Nhưng phó trưởng ban vẫn chưa bớt giận, còn dậm gót chân liên hồi lên mặt, lên mũi 983, bất kể vào đâu cho tới lúc rã rời chân tay vì mệt.
Hắn ngồi phịch xuống ghế, cầm thước cây, xoay mình đập nhẹ hai tiếng vào thanh sắt treo gần vách. Đó là lệnh gọi viên thư ký.
Người này nghe tiếng đấm đá huỳnh huỵch, tiếng rên rỉ của tù trong phòng phó trưởng ban nhưng không dám vào vì chưa có lệnh. Đến lúc thò đầu vào, anh ta thấy 983 còn nằm bất tỉnh, mặt mũi be bét máu tươi. Phó trưởng ban ra lệnh:
- Buộc dây, kéo nó xuống phòng lấy cung, nếu nó chưa tỉnh.
- Thưa đồng chí phó trưởng ban, xin tuân lịnh.
Văn phòng cách xa phòng hỏi cung 30 thước. Buộc dây vào hai cổ chân 982, hai nhân viên của văn phòng kéo cái xác thân bất động xuống phòng cung. Lối đi gồ ghề, gạch đá lởm chởm cái xác bị kéo lê sềnh sệch, mỗi khi gặp chướng ngại vật lại nẩy lên tưng tưng, cái đầu đỏ lòm máu gật gù đưa qua đưa lại, hết ngửa lại nghiêng một bên má. Xác lết tới đâu để lại vết máu đến đấy.
Có lẽ vì thịt, da bị trầy sát đau quá nên 983 tỉnh lại. Trong cơn hoảng hốt, hắn đạp lung tung hai chân rồi lồm ngồm đứng lên, mặt hắn nhăn rút lại một cách đau đớn, hắn đưa tay lên xoa lưng, xoa mắt, xoa hai mông đít, chỗ nào cũng thấy máu. Mãi lúc đó, hắn mới hét lên một tiếng, nhảy đùng đùng như đang bị sẻo từng miếng thịt.
Tuy thế, hắn cũng tập tễnh, té lên té xuống, lần tới căn nhà mà hai nhân viên chỉ cho hắn. Đó là nơi dùng để giết người một cách thượng khẩn.
983 ngồi dựa lưng vào vách, luôn luôn hít hà, nước mắt nước mũi giàn giụa hòa lẫn với máu ròng ròng trên mặt. Trong khi bị kéo sềnh sệch trên mặt đất lổn nhổn đá dăm, từng khoảng da lưng, da sườn bị trốc lên, một vành tai bị mòn và rách tơi tả. 983 xuýt xoa đưa cánh tay áo rách lên chùi mặt, chùi tay, rồi khóc thút thít.
- Thằng kia! Lại đây!
Tiếng quát của giám thị Tùng làm nhiều người giật mình. 983 thảm nhiên không thèm nghe, tiếp tục thút thít khóc.
- 983! Lại đây!
Nhưng 983 vẫn không nhúc nhích, giám thị Tùng đưa mắt ra hiệu. Đầu Trâu hầm hầm bước lại, sốc nách 983 đừng lên, sấn sổ lôi lại trước bàn. Giám thị Tùng cau mặt ngó anh tù khùng hỏi gắng:
- Có chịu khai không ?
983 hỏi lại một cách ngớ ngẩn:
- Khai gì ? Biết khai cái gì bây giờ ?
- Nhưng trại viên nào tòng phạm với 982, giúp phương tiện cho 982 vượt trại ?
- Xin hỏi ban điều tra, sao tôi biết được!
Rõ ràng 983 định đùa dỡn với uy quyền của trại giam, giám thị Tùng cố dằn lòng, hỏi lại:
- Vậy những trại viên nào định phá trại, thông đồng với giặc Pháp ?
Trong phòng yên lặng, mọi người đều nghe những câu hỏi và trả lời.
Toàn lại thấy 983 nhe răng như cười. Giám thị Tùng quát:
- Khai thật! Những trại viên nào định phá trại ?
983 ngẫm nghĩ rồi lạnh lùng đáp:
- Tất cả trại viên trong Trại Đầm Đùn đều định phá trại định trốn. Nhưng chưa làm vì chưa có phương tiện.
- Kể tên những trại viên đó.
983 thảm nhiên nhìn về phía bọn Toàn, Thanh nhìn tù thợ rèn và hai người tù khác (Toàn không biết vì lẽ gì có mặt trong phòng hỏi cung) rồi nhìn Hợi. Sau khi ngẫm nghĩ giây lát, 983 chỉ vào Đầu Trâu và tù thợ rèn, thảm nhiên đáp:
- Đây, hai tên này định phá trại cho tù trốn.
Giám thị Tùng lắc đầu, tức giận hỏi tiếp:
- Còn ai nữa ?
983 liền chỉ vào mặt giám thị Tùng và nói như quát:
- Giám thị Tùng!
Sự tức giận đã trở nên ‘’nộ khí xung thiên’’ không kìm hãm được nữa. Giám thị nhẩy qua mặt bàn, tống liên hồi vào mặt vào ngực người tù khùng. 983 té lên té xuống, hai bàn tay che hai mang tai, đưa hai khuỷu tay về phía trước che mặt, rồi gập người xuống để giữ ngực. Vừa đúng lúc giám thị đưa đầu gối thật mạnh đánh trúng vào giữa mặt khiến 983 ngã bật ngửa xuống đất, nằm dẫy đành đạch mãi mới rán sực đứng lên nổi, dựa vào bàn cho khỏi té.
Giám thị định xông lại đánh nữa, đánh kỳ chết cho bỏ tức thì phó trưởng ban đã xuất hiện trên bực cửa. Giám thị Tùng vội chạy lại trước mặt thượng cấp. Toàn liếc thấy môi phó trưởng ban mấp máy rồi giám thị lại đưa quả đấm lên chào.
Sau đó, giám thị quay lại nơi bàn, cười nhạt với 983 và bảo Đầu Trâu:
- Sửa soạn!
Đầu Trâu bước liền đến sát vách, cúi xuống lựa trong số 4, 5 cây nứa xếp theo bề dài của gian nhà. Đó là những cây nứa loại nhỏ, dài chừng 5, 6 thước, mới vớt ở ao lên còn dính đẩy bùn ướt. Đầu Trâu nhấc cây nứa đã lựa, ngắm nghía rồi bảo thợ rèn:
- Bổ làm tư!
Tù thợ rèn ngồi xuống lúi húi sửa soạn. Toàn chợt nhận ra một điều khiến anh nổi da gà cùng mình. Đây là đòn ‘’tuốt nứa’’ anh đã được đồng cảnh kể cho nghe. Trong Trại Giam Đầm Đùn, khi cần phải giết tù nhân bị coi là ‘’bất trị’’ có ngôn ngữ, hành động tai hại cho tinh thần của tù hoặc cho uy tín của chế độ, của ban quản trị, người ta cho áp dụng biện pháp ‘’tuốt nứa’’. Biện pháp này mang lại sự ích lợi có tác dụng lâu dài, tù nhân nào trông thấy hay được nghe kể lại cũng rợn người lên vì khiếp đảm, nhớ mãi không quên.
Bất giác Toàn hốt hoảng nhìn Thanh. Mặt Thanh đã trắng bệch như tờ giấy.
Bỗng nghe có tiếng ‘’hứ’’ rồi một người ngã lăn xuống đất.
Sự việc xảy ra không thể nào lường trước được. 983 bị đánh đau quá, đột nhiên phát cơn điên, xông lại húc đầu vào giữa ngực giám thị Tùng, bị Đầu Trâu dùng miếng võ đặc biệt của người sơn cước, phóng một đá khiến 983 văng vào vách rồi té xuống. 983 cố nhổm lên hai, ba lần mới lom khom đứng dậy được. Hắn vừa xông vào ôm chặt được giám thị Tùng, Toàn nghe một tiếng ‘’ối’’ không biết của ai thì 983 đã bị Đầu Trâu vòng tay kẹp chặt cổ, kéo ra một góc nhà. 983 há hốc mồm vì bị nghẹt thở, một vật gì từ miệng 983 rớt xuống đất trong khi giám thị Tùng đưa tay lên tai, la hét ầm ĩ...
Té ra 983 đã cắn đứt nửa tai của giám thị Tùng.
Máu me đầm đìa từ vành tai cụt chảy xuống, giám thị định chạy ra ngoài thì phó trưởng ban hầm hầm bước vào. Mọi sự xảy ra như chưa bao giờ từng xảy ra tại Trại Đầm Đùn nên Toàn, Thanh, tù thợ rèn, sững sờ không có một cử chỉ rõ rệt. Hợi ngước lên ngó một cách dửng dưng rồi khum khum đưa lòng bàn tay lên miệng, úp mặt xuống mà liếm như con mèo uống nước. Toàn không đoán ra Hợi đang làm gì, những sự hỗn loạn xảy ra hoảng kinh quá, nhất thời anh không còn tâm theo dõi cử chỉ của Hợi.
Phó trưởng ban dừng lại trước bàn, tái mặt đi vì giận. Y đưa mắt một lượt rất nhanh rồi lạnh lùng nói:
- Đồng chí giám thị ra săn sóc vết thương rồi vào ngay làm nhiệm vụ.
Giám thị Tùng ôm tai chạy ra ngoài.
Phó trưởng ban quát hỏi Đầu Trâu:
- Sửa soạn xong chưa ?
Đầu Trâu đưa mắt cho thợ rèn. Tên này đứng lên ngay ngắn, kính cẩn nói:
- Dạ, thưa xong rồi.
Phó trưởng ban nhím cặp lông mày rậm và xếch, hất đầu ra hiệu. Thợ rèn và Đầu Trâu lật đật bước tới vách. 983 vẫn nằm chết giấc trong một góc.
Đầu Trâu liên tay vả mạnh vào hai bên má 983 sáu bảy cái. Cái xác tơi tả, máu me đầm địa, mặt mũi sưng vù, mở mắt ra đờ đẫn nhìn rồi thảm nhiên nhắm lại, chẳng khác người còn thèm ngủ. Tức thì tù thợ rèn nắm lấy tai 983 xoắn lại rồi kéo 983 mở mắt rên hừ hừ, nặng nề ngồi lên theo sức kéo của thợ rèn.
983 đã tỉnh lại. Hắn ngơ ngác, đờ đẫn nhìn Đầu Trâu, tù thợ rèn và khi thấy phó trưởng ban quản trị, hắn thất kinh chắp tay trước ngực, cúi đầu như nhận hết tội lỗi mình đã gây ra.
- Đi lại đằng kia!
983 loạng choạng bước theo Đầu Trâu, rồi dừng lại nơi có hàng khoen sắt lấp ló ngang mặt đất.
Toàn, Thanh còn chưa đoán được việc gì sắp xảy ra, tù thợ rèn đã tháo sợi dây chung đôi vẫn buộc vào cột nhà. Sợi dây từ sà nhà rũ xuống trúng chỗ 983 đứng. Toàn chợt hiểu.
Trong khi 983 như người mất hồn, ủ rũ cúi gằm mặt, Đầu Trâu đã nhanh nhẹn lại gần, dùng một đầu sợi dây quấn mấy vòng buộc chặt hai cổ tay 983. Tù thợ rèn tới đầu đàng kia kéo căng sợi dây thì đầu đàng này, hai cánh tay 983 giơ thẳng lên nóc nhà. Đợi cho tù thợ rèn dựt mạnh thêm năm bẩy cái rồi buộc chặt đầu dây vào cột nhà, Đầu Trâu mới lại gần nhìn mặt 983 mà quát:
- Khép chặt hai cẳng chân. Đứng thẳng lên.
983 chẳng nói chẳng rằng, chụm hai ngón chân. Một sợi dây trong tay Đầu Trâu buộc liền hai cổ chân gầy gò của 983 nhiều vòng rồi cột chặt vào khoen sắt lấp ló mặt đất.
Bàn tay thành thạo của Đầu Trâu quấn tiếp nhiều vòng bắp chân, đầu gối, bắp đùi rồi lên cao nữa, vòng quanh bụng 983.
Sau khi ngắm nghía kỹ càng lại một lượt, Đầu Trâu tới bên vách đánh đu kéo sợi dây thật căng, xiết chặt thêm nữa rồi buộc lại vào khoen sắt đóng ở cột. Thân hình 983 dài thêm dưới sức kéo của sợi dây.