6.11 Ghế khuyết ngoài dự kiến xuất hiện tính từ khi:
(a) ủy viên hội đồng không thể tuyên bố nhậm chức trong thời hạn hợp lý, hoặc
(b) hội đồng nhận được đơn từ chức của ủy viên; hoặc
(c) ủy viên hội đồng qua đời
Charles Arnold Baker
Điều lệ Ban quản trị hội đồng địa phương
In lần thứ Bảy
❀❀❀
CHỦ NHẬT
Barry Fairbrother thật ra không muốn ra ngoài ăn tối chút nào. Cơn nhức đầu bám riết ông suốt kỳ nghỉ cuối tuần, đã thế, ông còn phải đua với hạn nộp bài cho tòa soạn.
Nhưng vợ ông suốt bữa trưa đã không thèm nói năng gì, hẳn tấm thiệp mừng kỷ niệm ngày cưới thôi thì không đủ bù đắp chuyện im ỉm khóa cửa làm việc suốt sáng. Đã thế bài ông đang viết lại về Krystal, Mary chẳng ưa gì con bé dù đã khéo giấu.
- Mary này, ta ra ngoài ăn tối nhé. - Ông vờ hào hứng để xua tan không khí lạnh lẽo. - Thế mà đã mười chín năm rồi đấy, các con! Mười chín năm đấy nhé, mẹ các con bây giờ vẫn tươi tắn như hoa!
Thấy vợ đã dịu đi và chịu mỉm cười, ông liền gọi điện thoại cho câu lạc bộ golf đặt bàn vì chỗ này gần và thể nào họ cũng được dành chỗ. Ông gắng tạo cho vợ những niềm vui nho nhỏ như thế vì dần nhận ra suốt hai mươi năm qua ông đã khiến bà thất vọng trong biết bao nhiêu chuyện lớn khác. Tất nhiên không lần nào là do ông cố ý cả. Đơn giản là họ bất đồng về chuyện nên dành thời gian cho những ưu tiên nào trong đời.
Bốn đứa con cũng đã khá lớn nên không cần thuê người trông trẻ. Khi ông chào tạm biệt, bọn chúng vẫn đang dán mắt vào tivi, chỉ có đứa bé nhất ngoái đầu giơ tay vẫy chào lại.
Cơn nhức đầu vẫn dội từng cơn thùm thụp khi Barry de xe rồi lái xuyên qua thị trấn Pagford nhỏ bé xinh đẹp, hai vợ chồng đã dọn về đây ngay sau đám cưới. Họ xuôi xuống Church Row, con phố dốc thoải, hai bên sừng sững những dinh thự xa hoa kiểu Victoria đắt đỏ bậc nhất khu này, vòng qua góc đường có ngôi nhà thờ xây theo kiến trúc Gôtíc phục hưng, ông từng vào xem hai cô con gái sinh đôi diễn vở Joseph và chiếc áo choàng muôn màu kỳ diệu trong đó. Họ tiếp tục băng ngang quảng trường, từ đó thấy rõ được bộ khung đổ nát của tòa tu viện cũ vạch bóng đen sẫm trên nền trời tím than, che khuất cả đường chân trời.
Vừa đánh tay lái rẽ theo các khúc cua quen thuộc, Barry vừa nghĩ đến mấy lỗi sai không tránh khỏi lúc vội vội vàng vàng viết cho xong rồi email bài báo cho tờ Yarvil và District Gazette. Bình thường ông là người hoạt khẩu và cuốn hút, nhưng thể hiện thế mạnh đó trong bài viết thật chẳng dễ chút nào.
Cách quảng trường bốn phút chạy xe, câu lạc bộ golf chỉ quá khỏi mấy căn nhà gỗ cũ kỹ một chút, thị trấn chạy dài ra tới đó thì đuối dần rồi chấm dứt. Barry đậu xe ngoài nhà hàng Burdie của câu lạc bộ rồi nán lại giây lát cho vợ dặm lại son môi. Làn gió đêm mát mẻ ve vuốt mặt ông một cách dễ chịu. Ông nhìn đường golf nhòe dần trong bóng hoàng hôn, tự hỏi sao mình vẫn cứ giữ chân hội viên ở chỗ này làm gì. Ông vốn chơi golf dở tệ, cú swing chuệnh choạng còn điểm chấp thì cao. Khi chơi cũng chẳng bao giờ được yên vì điện thoại liên tục réo. Cơn đau đầu của ông trở nên nhức nhối hơn bao giờ hết.
Mary tắt đèn cạnh gương trên xe rồi sập cửa. Barry bấm nút khóa tự động trên chìa; đôi giày cao gót của bà vợ gõ lóc cóc trên mặt đường, hệ thống khóa xe kêu bíp, ông thấy buồn nôn và tự hỏi không biết cảm giác này có dịu bớt đi khi dùng bữa không.
Cơn đau xé chưa từng thấy chợt xoáy vào não ông như dùi. Ông thậm chí không cảm thấy đau khi đầu gối quỵ xuống đập vào mặt đường lạnh lẽo; sọ ông như ngập trong máu và lửa nóng rừng rực; cơn tra tấn thật quá sức, nhưng ông vẫn phải quằn quại chịu đựng cả phút trước khi rơi vào hư vô.
Mary rú lên. Vài người đàn ông ở trong bar chạy lại. Một người chạy vội vào tòa nhà thử tìm mấy vị bác sĩ đã nghỉ hưu của câu lạc bộ. Một cặp vợ chồng có biết nhà Barry nghe động vội bỏ món khai vị đang dùng dở trong nhà hàng chạy ra giúp một tay. Ông chồng rút di động gọi 999.
Xe cấp cứu nằm tận bên thành phố Yarvil, như vậy phải mất hai mươi lăm phút mới tới được. Đến khi ngọn đèn xanh chớp tắt hiện ra thì Barry đã nằm dài bất động trên đất, trên đống nôn mửa của chính mình; Mary phục bên cạnh, quần tất rách toạc chỗ đầu gối, vừa nắm chặt tay chồng vừa nức nở khóc gọi.
THỨ HAI
I
- Bố gắng mà trấn tĩnh nhé - Miles Mollison nói trước, anh đang đứng trong gian bếp của một trong những dinh thự hoành tráng trên phố Church Row.
Miles đã định đợi đến sáu rưỡi sáng mới gọi. Đêm qua ngủ nghê thật chẳng ra làm sao, anh thức chong chong, thi thoảng mới chợp đi được một giấc ngắn mệt mỏi. Lúc bốn giờ, anh thấy vợ cũng đã tỉnh, hai người thì thầm nói chuyện với nhau trong bóng tối một lúc. Dù còn sốc và sợ hãi khi nhắc tới vụ tai nạn phải chứng kiến bất đắc dĩ ấy, Miles vẫn cứ ngứa ngáy sốt ruột muốn báo ngay tin này cho ông bố. Lúc đầu anh định ráng đợi đến bảy giờ, nhưng lại e có người hớt trước nên gọi luôn.
- Có chuyện gì? - Howard hỏi, giọng lão trầm vang, pha chút kim. Miles bật loa ngoài cho cô vợ Samantha cùng nghe. Chiếc áo ngủ màu hồng nhạt của cô dính mấy vệt nâu, cô đang tranh thủ bữa dậy sớm bôi một vốc đầy kem nhuộm rám nắng lên làn da đã bợt đi. Căn bếp nồng mùi café tan và dầu dừa tổng hợp.
- Fairbrother chết rồi. Gục ở câu lạc bộ golf tối qua. Lúc đó con với Sam đang ăn tối ở nhà hàng Birdie.
- Cái gì, Fairbrother chết rồi hả? - Lão Howard rống lên.
Rõ ràng là lão luôn mong làm một cú ngoạn mục lật nhào địa vị của Barry Fairbrother, nhưng không ngờ đến cái chết này.
- Gục ngay bãi xe - Miles lặp lại
- Trời đất. Tay ấy mới quá bốn chục tuổi, phải không? Quỷ thần ơi.
Miles và Samantha nghe tiếng lão Howard thở phì phò như ngựa trong ống nghe. Lão hay bị khó thở vào buổi sáng.
- Mà sao thế? Do tim à?
- Hình như não có vấn đề, mấy bác sĩ bảo thế. Tụi con đi cùng bà Mary tới bệnh viện, rồi...
Nhưng lão Howard không nghe tiếp. Miles và Samantha nghe tiếng lão văng vẳng từ ống nghe.
- Barry Fairbrother! Chết rồi! Thằng Miles gọi báo!
Miles cùng Samantha nhấp café, chờ lão Howard quay lại. Áo ngủ của Samantha trễ bung khi cô ngồi bên bàn bếp, để lộ đường cong của bộ ngực phì nhiêu đang tì lên cánh tay. Ở tư thế bị ép lại như vậy, đôi vú trông có vẻ phồng căng và mịn màng hơn khi đong đưa không áo ngực. Phần da phía trên vú trông như da thuộc hằn mấy đường nhăn li ti không mất đi ngay cả khi không tì ngực như thế nữa. Lúc trước cô đã tắm nắng quá nhiều.
- Sao? - Howard lại cầm máy lên. - Con nói vụ bệnh viện thế nào?
- Con với Sam đi theo xe cấp cứu - Miles đáp rõ ràng - Hộ tống bà Mary và cái xác.
Samantha để ý khi kể lại lần này, Miles nhấn mạnh vào khía cạnh có thể xem là “hút khách” hơn trong vụ tai nạn đó. Cô không trách anh. Chuyện vừa xảy ra đâu có dễ chịu gì, thế nên một khi đã gắng trải qua được thì họ có quyền kể cho người khác chứ. Chắc mình chẳng thể nào quên được cảnh tượng ấy, cô nghĩ, Mary thì kêu khóc, mắt Barry hãy còn mở he hé trên gương mặt bị chụp ống thở như đeo rọ mõm; cô và Miles gắng nhét vào đầu lời giải thích của nhân viên cấp cứu; lòng xe chật chội xóc nảy; những cửa sổ xe tối đen; nỗi kinh hoàng bao phủ.
- Trời đất ơi! - Hovvard lại rên lên lần thứ ba, mặc kệ bà Shirley đang khẽ hỏi gì đó phía sau, lão chỉ tập trung nghe Miles. - Ông ta cứ thế là gục xuống bãi xe mà chết hả?
- Vâng. - Miles đáp - Con vừa nhìn thấy ông ta là đã biết hết đường cứu rồi.
Anh nói dối, tránh nhìn vợ khi nói câu này. Cô hãy còn nhớ cảnh anh vòng cánh tay rộng ôm lấy đôi vai run rẩy của Mary an ủi: Ông ấy không sao đâu... ông ấy sẽ ổn thôi...
Nhưng dù sao đi nữa, Samantha nhân nhượng nghĩ, muốn tỏ ra công bằng với Miles, làm sao biết được chuyện gì xảy ra khi mà người ta chụp mặt nạ cho ông ấy, lại còn tiêm mấy mũi nữa? Khi đó dường như họ đang gắng cứu Barry, và chẳng ai biết chắc mọi chuyện là vô vọng trước khi cô bác sĩ trẻ bước lại chỗ bà Mary đang đợi trong bệnh viện. Lạ lùng là Samantha hãy còn nhớ rõ mồn một mọi thứ, gương mặt chết điếng, trôi sạch phấn son của Mary, vẻ điềm tĩnh pha chút thận trọng của cô bác sĩ trẻ tuổi đeo kính, tóc chải mượt, mặc chiếc áo choàng trắng... Cảnh giống như trong mấy phim truyền hình dài tập kinh điển, chỉ khác rằng đây là sự thật...
- Không có dấu hiệu gì cả. - Miles đang nói tiếp - Mới thứ Năm vừa rồi Gavin còn chơi bóng quần với ông ấy mà.
- Lúc đó ổng có vẻ vẫn bình thường hả?
- Vâng. Còn thắng cả Gavin.
- Trời đất ơi. Đúng là chuyện gì cũng có thể xảy ra. Chờ đã, mẹ con muốn nói vài câu này.
Nghe lách cách một lúc, rồi giọng dịu dàng của bà Shirley vang lên trong ống nghe.
- Thật khủng khiếp quá, Miles ạ. Con không sao chứ?
Samantha hớp một hớp to café, vụng về để café tràn qua khóe miệng xuống cằm bèn lấy luôn ống tay áo quệt miệng và ngực. Miles liền chuyển sang giọng anh thường dùng khi nói với mẹ: trầm hơn, kiểu không-có-gì-làm-con-cuống, đầy sức thuyết phục và lý lẽ. Đôi khi, nhất là lúc say, Samantha nhại kiểu Miles nói chuyện với mẹ “Mẹ đừng lo gì. Có con ở đây. Chàng lính nhỏ của mẹ đây.” “Con trai tuyệt vời của mẹ ơi, con mới to khỏe, dũng cảm thông minh làm sao chứ.” Sau này, có một hai lần Samantha còn diễn trò này trước người khác khiến Miles vừa bực vừa ngại, nhưng vẫn phải vờ cười phá lên. Lần trước họ đã cãi nhau một trận tơi bời trên đường lái xe về nhà cũng vì thế.
- Con đi cùng cô ấy suốt quãng đường đến bệnh viện à?- Bà Shirley hỏi.
Chẳng tự nguyện gì đâu - Samantha nghĩ, tới nửa đường thì hai đứa đều chịu hết nổi, chỉ mong mau cho thoát nợ.
- Ít nhất con cũng phải làm thế chứ mẹ. Chỉ tiếc là không giúp được nhiều hơn.
Samantha đứng dậy ra chỗ lò nướng bánh mì.
- Hẳn là Mary mang ơn con lắm - Shirley nói. Samantha mở túi bánh mì, lấy ra bốn lát nhét vào khe nướng. Giọng Miles đã trở nên tự nhiên hơn.
- Vâng, lúc các bác sĩ kể, ý con là khẳng định rằng ông ấy chết hẳn, Mary muốn gọi Colin và Tessa Wall lên. Sam gọi cho vợ chồng nhà ấy, chúng con đợi họ lên tới nơi rồi mới về.
- Ồ, may cho Mary là có tụi con ở đó - Shirley nói. - Bố muốn nói chuyện tiếp này Miles. Mẹ đưa máy cho bố nhé. Nói chuyện sau nhé.
- Nói chuyện sau nhé - Samantha lắc lắc đầu, dài giọng nhại từ chỗ đặt ấm nước. Sau một đêm mất ngủ, cặp mắt màu hạt dẻ của cô hằn tia đỏ, và trò giễu nhại càng khó chịu hơn. Trong lúc lật đật dỏng tai nghe Howard nói gì, cô vô ý làm rơi kem nhuộm rám da vào vành bếp.
- Hay là tối nay con với Sam ghé đây đi - Lão Howard lại oang oang - Khoan, chờ tí, mẹ con nhắc tối nay có hẹn chơi bài với nhà Bulgens. Vậy mai nhé. Đến ăn cơm. Khoảng bảy giờ.
- Con chưa biết nữa - Miles đáp, liếc mắc nhìn Samantha. - Để con hỏi xem Sam có bận gì không.
Nhưng cô không hề tỏ ý muốn đi hay không. Không khí trong bếp có vẻ nhẹ hẳn đi sau khi Miles gác máy.
- Bố mẹ bất ngờ lắm - Miles nói, như thể nãy giờ vợ anh chẳng nghe thấy gì.
Họ im lặng ăn bánh mì nướng, uống café mới pha. Trong khi ăn, tâm trạng Samantha có khá hơn. Cô nhớ lúc sáng sớm, khi giật mình thức dậy trong phòng ngủ tối đen, mình đã mừng và nhẹ nhõm thế nào khi cảm thấy Miles nằm cạnh, cao lớn, bụng to, người thoảng mùi cỏ vetiver và mùi mồ hôi đọng. Rồi cô tưởng tượng cảnh mình sẽ kể cho khách hàng trong tiệm nghe chuyện có người quỵ xuống chết ngay trước mặt thế nào, và mình đã tử tế đi theo đến bệnh viện ra sao. Cô nghĩ cách làm sao thêm mắm dặm muối cho chuyến đi đó và đoạn cao trào là lúc gặp bác sĩ. Vẻ trẻ trung của người phụ nữ điềm đạm đó dường như làm cho tin xấu càng khó chấp nhận hơn. Đáng ra họ phải giao nhiệm vụ báo tin cho bác sĩ nào đứng tuổi hơn chứ. Thế rồi, khi đã vui vẻ hơn lên, cô nhớ ra ngày mai mình có hẹn với đại diện bán hàng khu vực Champêtre, cô và tay này đã tán tỉnh nhau tí đỉnh khá vui trên điện thoại.
- Anh phải đi thôi - Miles nói, uống cạn cốc café, liếc mắt nhìn màu trời sáng rõ ngoài cửa sổ. Anh thở dài, vỗ vai vợ khi đem bỏ cốc đĩa bẩn vào máy rửa bát.
- Lạy chúa, thế nhưng vụ này cũng làm mọi chuyện đâm ra đúng kế hoạch, phải không?
Miles lắc lắc mái tóc xám cắt sát, bỏ ra khỏi bếp.
Đôi khi Samantha thấy Miles thật lố bịch, thậm chí là đần độn. Nhưng cũng có lúc cô thích vẻ phô trương của anh, nhất là trong mấy dịp long trọng. Dù sao thì sáng nay cũng nên ra vẻ trang nghiêm đạo mạo một chút. Cô ăn nốt bánh mì, dọn dẹp bữa sáng rồi tập trung nghĩ làm sao kể lại chuyện này cho hay ho với tay trợ lý.
II
- Barry Fairbrother chết rồi - Ruth Price hào hển thông báo.
Cô đi như chạy qua lối mòn lạnh lẽo trong vườn để kịp gặp chồng vài phút trước khi anh ta đi làm. Không kịp dừng lại để cởi áo choàng, cô mang nguyên khăn quàng găng tay lao vào nhà bếp, chỗ Simon và hai cậu con trai tuổi teen đang ăn sáng.
Ông chồng sững sờ, chậm rãi bỏ xuống miếng bánh mì nướng chưa kịp đưa tới miệng. Hai cậu con trai đã sẵn sàng trong bộ đồng phục đi học không mấy quan tâm, hết nhìn bố lại nhìn mẹ.
- Các bác sĩ nói có lẽ là chứng phình mạch - Ruth vừa nói vừa rút găng, tháo khăn và cởi nút áo khoác, hơi thở hãy còn hơi gấp gáp. Cô thuộc tạng người gầy gò xám xịt, cặp mắt ủ rũ hùm hụp, bộ đồng phục y tá màu xanh cứng nhắc khá hợp với cô. - Ông ta gục xuống câu lạc bộ golf, Sam và Miles Mollison đưa ông ấy vào viện, rồi sau Colin với Tessa Wall cũng vào...
Cô đi vội ra hiên treo đồ đạc lên rồi quay vào kịp đáp lời Simon vừa quát hỏi:
- Cái gì mà bình mạch?
- Phình, phình mạch. Nghĩa là động mạch chính trong não vỡ ra.
Cô lướt lại chỗ đặt ấm nước, bật lên, rồi vừa quét vụn bánh mì nướng rơi vãi quanh lò vừa nói không ngừng.
- Ông ấy xuất huyết não ghê lắm. Bà vợ ông ấy, tội ơi là tội, bà ấy suy sụp hẳn...
Đột nhiên bị xúc động, Ruth nhìn qua cửa sổ nhà bếp, bãi cỏ bị sương giá đóng cứng trắng xóa, bên kia thung lũng là tu viện ảm đạm in bộ khung trơ trụi lên nền trời xám ánh hồng, tầm nhìn bao quát khắp thị trấn chính là niềm tự hào lớn nhất của Nhà Trên Đồi. Thị trấn Pagford về đêm chỉ thấy vài đốm sáng lấp lánh trong thung lũng sâu đen kịt, giờ ló dạng trong ánh bình minh lạnh lẽo. Ruth ngó ra ngoài nhưng không thấy gì cả: cô còn mãi mường tượng cảnh ở bệnh viện, khi Mary ra khỏi phòng đặt xác Bary, mọi thiết bị hồi sinh gắn vào người ông đều bị tháo bỏ. Ruth Price thường cảm thấy thương cảm mạnh mẽ và chân thành nhất với những người mà cô nhận thấy giống mình. “Không, không, không”, Mary rên rỉ, kiểu phủ nhận đầy bản năng ấy dội đúng vào lòng Ruth, vì cô thoáng nhận ra chính mình trong hoàn cảnh hệt như thế...
Không chịu nổi ý nghĩ ấy, cô quay sang nhìn Simon. Mái tóc nâu sáng của anh ta vẫn còn khá dày, vóc dáng hầu như vẫn dẻo dai như thuở hai mươi, còn những nếp nhăn nơi khóe mắt chỉ khiến Simon trông hấp dẫn thêm. Nhưng khi trở lại nghề y tá sau một thời gian dài gián đoạn, Ruth đã chứng kiến cả triệu cách mà cơ thể con người đi dần tới ngưỡng hư hoại. Hồi trẻ, cô ít chú ý hơn, giờ mới cảm nhận rõ con người ta hãy còn sống tới giờ là chuyện kỳ diệu đến thế nào.
- Họ không làm gì cho ông ấy à? - Simon hỏi - Nút cái lỗ ấy lại không được sao?
Giọng anh ta có vẻ cáu kỉnh, như thể giới y khoa lại phạm lỗi cẩu thả trong nghề và từ chối chữa chạy một ca đơn giản rõ ràng như thế.
Andrew rùng mình trong cơn khoái trá cuồng nộ. Dạo này nó phát hiện ra cứ mỗi khi mẹ dùng thuật ngữ y học nào đó là ông bố liền dùng lời thô lỗ đập lại. Xuất huyết não ồ ạt. Nút cái lỗ. Mẹ nó không nhận ra ông bố có ý gì. Bà chưa khi nào nhận ra cả. Andrew nhai món ngũ cốc điểm tâm, chiêu nó xuống với lòng căm ghét sôi sục.
- Lúc ông ấy được đưa đến bệnh viện thì đã quá trễ rồi - Ruth đáp, nhúng mấy túi trà vào bình. - Ông ấy chết trên xe cứu thương, ngay trước khi đến được bệnh viện.
- Chết tiệt thật - Simon hầm hừ - Ông ta bao nhiêu tuổi rồi, bốn mươi hả?
Nhưng Ruth đã nhãng đi vì chuyện khác.
- Kìa Paul, tóc gáy con rối bù kia kìa. Con có chải đầu không đấy?
Cô rút trong túi xách ra cái lược, ấn vào tay cậu con nhỏ.
- Không có dấu hiệu gì trước đó à? - Simon hỏi trong khi Paul xọc cây lược vào mớ tóc dày.
- Vài ngày trước ông ấy bị đau đầu nặng lắm, dấu hiệu quá rõ còn gì.
- À - Simon vừa nói vừa nhai bánh mì - Thế mà ông ta cứ để kệ thế à?
- À, vâng, ông ấy không hề ngờ tới chuyện này.
Simon nuốt miếng bánh trong miệng xuống.
- Đấy, thấy chưa? - Simon vênh vang bảo - Phải biết tự coi sóc bản thân chứ.
Thông minh ghê nhỉ - Andrew điên giận nghĩ; nghe mới sâu sắc làm sao. Thế nghĩa là Barry Fairbrother bị vỡ tung não hoàn toàn do lỗi của ông ấy đấy. Đồ khốn kiếp tự mãn, Andrew quát thầm trong đầu.
Simon trỏ con dao vào cậu con lớn: “À, nhân thể nói luôn. Nó phải đi mà tìm việc đi. Cái thằng Mặt Pizza kia kìa.”
Ruth giật mình ngoảnh lại nhìn hai bố con. Mấy nốt mụn trên gò má đỏ tía của Andrew tím lại, lồ lộ bóng loáng khi nó chúi xuống bát bột ngũ cốc màu nâu nhạt của mình.
- Đúng thế - Simon nói - thằng nhãi lười biếng này phải học cách cày tiền đi là vừa. Nếu nó muốn hút thuốc thì cứ tự lấy lương mà mua. Không có tiền tiêu vặt gì nữa sất.
- Andrevw - Ruth rền rĩ - chẳng lẽ con..?
- Đúng thế đấy. Tôi bắt gặp nó hút trong kho củi - Giọng Simon đầy vẻ ác ý.
- Kìa Andrew!
- Đừng hòng xin tiền nữa. Mày thèm khói thì tự đi mà mua - Simon bảo.
- Nhưng mà anh, - Ruth thút thít nói - mình đã thỏa thuận là con nó đang sắp phải thi...
- Xem cái kiểu nó chơi bời như thế thì qua môn nào ăn may môn đấy thôi. Thế thì đi làm cho McDonald sớm đi, cho nó quen. - Simon vừa nói vừa đứng dậy xô ghế ra, khoái trá trước ánh nhìn của Andrew, mặt lộ vẻ độc địa - Vì chẳng ai nuôi mày thi lại đâu con ạ. Đậu hoặc chấm hết.
- Nói gì thế anh Simon - Ruth khẽ trách.
- Sao hả?
Simon sầm sầm xông về phía bà vợ. Ruth co rúm người dựa vào bồn rửa. Chiếc lược nhựa màu hồng tuột khỏi tay thằng Paul.
- Tôi không muốn dung dưỡng cái thói đó của thằng đần này! Cái thói láo lếu của nó, ai cho nó thở khói phì phì trong kho củi của tôi!
Khi nói tới “của tôi” Simon đập tay vào ngực đánh thịch khiến Ruth phải nhăn mặt.
- Tôi mang tiền về nhà từ hồi mới là thằng nhãi con. Nếu nó muốn hút thì cứ việc tự kiếm mà trả, nghe chưa? Nghe rõ chưa?
Anh ta dí sát vào mặt Ruth.
- Vâng, Simon - Cô lí nhí đáp.
Bát ngũ cốc của Andrew dường như đã chảy thành nước. Nó mới tự thề với chính mình cách đây chưa đầy mười ngày, lẽ nào thời điểm đó lại tới sớm thế? Nhưng Simon đã bước khỏi nhà bếp ra phía hiên. Ruth, Andrew lẫn Paul vẫn bất động, như thể họ đã ngầm hứa không nhúc nhích khi ông bố đi khỏi.
- Cô có nhớ đổ xăng không đấy hả? - Simon gào lên, cứ mỗi lần cô lấy xe đi làm ca đêm là anh ta lại hỏi thế.
- Có đấy! - Ruth gọi với ra, cố gắng làm cho câu đáp có vẻ bình thường vui vẻ.
Cánh cửa trước kêu lách cách rồi dập đánh sầm.
Ruth lăng xăng với bình trà, chờ không khí căng thẳng trong phòng dịu bớt. Mãi tới lúc Andrew sắp đi đánh răng, cô mới bảo:
- Chỉ vì bố lo cho con đấy thôi, Andrew. Lo cho sức khỏe của con.
Khốn nạn, hắn ta như cứt thì có.
Andrew lôi cả đống ngôn từ thô tục đấu với ông bố Simon trong trận chiến tưởng tượng. Ít ra trong óc nó thì hai cha con có thể chơi một trận công bằng.
Rồi nó nói to đáp lời mẹ: “Vâng. Con biết.”
III
Nhà Trăng Khuyết là căn nhà có dáng như trăng lưỡi liềm xây theo kiểu bungalow thập niên 30, chỉ cách quảng trường chính của Pagford hai phút chạy xe. Tọa lạc ở số 36, căn nhà này có lịch sử lâu đời hơn mọi nhà khác trên cùng con phố. Shirley Mollison ngồi tựa vào đống gối nhấp tách trà chồng vừa pha cho. Bóng bà phản chiếu trong tấm gương gắn cửa tủ âm tường trông hơi mờ, có lẽ phần vì bà chưa đeo kính, phần vì luồng nắng dịu dàng lọc qua tấm rèm có trang trí hoa hồng đang tràn vào phòng. Trong thứ ánh sáng mơ hồ hư ảo ấy, gương mặt trắng hồng với lúm đồng tiền cùng mái tóc bạch kim cắt ngắn trông thật dịu dàng.
Phòng ngủ chỉ đủ kê một chiếc giường đơn cho Shirley và giường đôi cho Howard, hai chiếc giường chen chúc cạnh nhau trông như cặp song sinh khác trứng. Tấm đệm của Howard trống trơn, hãy còn hằn vết tấm thân đồ sộ của ông. Tiếng nước vòi sen lào xào vẳng ra tận chỗ Shirley đang ngồi đối diện cái bóng hồng hào tươi tỉnh của chính mình trong gương, tận hưởng cái tin hãy còn mới sủi tăm trong không khí như bọt champagne mới mở.
Barry Fairbrother đã chết. Tiêu biến. Chấm dứt. Chưa có sự kiện tầm cỡ quốc gia, trận chiến, đợt vỡ chứng khoán hay vụ tấn công khủng bố nào có thể làm dậy lên cảm giác vừa sợ, vừa khao khát, lại phát sốt lên vì tính toán trong Shirley như hiện giờ.
Bà ghét Barry Fairbrother. Shirley và chồng mình thường chung cảm giác yêu ghét với nhiều người, nhưng đối với trường hợp này thì khác. Đôi lúc Howard cũng phải thừa nhận lão thấy thú vị với người đàn ông thấp bé râu ria lúc nào cũng gay gắt chống đối mình qua tấm bàn dài đầy vết xước trong sảnh nhà thờ Paford; còn Shirley không phân biệt giữa việc chính trị và quan hệ cá nhân. Barry đối nghịch với Howard trên con đường chồng bà theo đuổi suốt đời, như vậy tay đó không đội trời chung với bà.
Sự ủng hộ chồng là lý do chính nhưng không phải là điều duy nhất khiến Shirley ghét cay ghét đắng Barry như vậy. Khuynh hướng đối nhân xử thế của bà lúc nào cũng chỉ được mài giũa theo một hướng duy nhất, như loại chó được huấn luyện phát hiện ma túy. Bà luôn cực nhạy với thói hợm mình, mà từ lâu đã ngửi thấy mùi ấy trong thái độ của Barry Fairbrother và đám cánh hẩu của ông ta trong hội đồng địa phương. Cánh của Fairbrother tự cho rằng tấm bằng đại học khiến họ cao hơn hẳn những người như bà và Howard, nên ý kiến của họ giá trị hơn. Đấy, giờ thì thói kiêu căng đó phải nhận một cú đích đáng nhé. Cái chết đột ngột của Fairbrother càng củng cố lòng tin lâu nay trong lòng Shirley, rằng dù ông ta lẫn đám phe cánh có nghĩ gì đi nữa, thì Barry vẫn dưới cơ chồng bà, một con người đầy phẩm chất tốt, và còn vượt qua được cơn nhồi máu cơ tim hồi bảy năm về trước.
(Chưa có giây phút nào Shirley tin rằng Howard sẽ chết, ngay cả lúc ông nằm trong phòng phẫu thuật. Đối với bà, sự tồn tại của Howard trên cõi đời này đã được định sẵn, như ánh mặt trời và không khí. Về sau, bà cũng nói hệt như thế khi bạn bè và hàng xóm trầm trồ việc ông thoát khỏi lưỡi hái tử thần một cách kỳ diệu, rằng may mà có phòng khám tim ở ngay Yarvil gần đó, và hẳn là bà đã lo lắng khủng khiếp đến thế nào.
- Tôi biết anh ấy sẽ qua khỏi mà - Shirley từng bình thản đoán chắc như thế - Lúc nào tôi cũng tin chắc như thế.
Và giờ ông ấy ở đây, vẫn khỏe mạnh như thường, còn Fairbrother thì trong nhà xác. Đã biết trước như vậy mà.)
Trong buổi sớm phấn khởi này, Shirley nhớ lại ngày sau khi cậu con trai Miles chào đời. Nhiều năm trước bà cũng ngồi trên giường, đúng như thế này, ánh nắng cũng tràn qua cửa sổ như vậy, bà cầm trên tay tách trà ai đó pha giúp, chờ người giúp việc đưa cậu con trai mới sinh bụ bẫm đến cho bú. Trong nhận thức của bà, chuyện sinh tử đều là dạng thức tồn tại ở mức cao và có ý nghĩa quan trọng. Tin Barry Fairbrother đột ngột qua đời rơi vào lòng bà như đứa trẻ sơ sinh bụ bẫm được mọi người quen biết hau háu vồ vập lấy; mà bà sẽ chính là nguồn tin, vì bà là người đầu tiên, hay ít ra là một trong số những người đầu tiên nhận được tin.
Khi Howard ở trong phòng, niềm phấn khích sôi sục trong lòng Shirley không hề lộ ra. Họ chỉ trao đổi vài câu thông thường về cái chết đột ngột ấy trước khi ông chồng đi tắm. Shirley thừa biết trong lòng Howard cũng đang phấn khích cực độ chẳng khác gì mình khi hai người đưa đẩy tới lui mấy lời bình luận; nhưng nếu nói toạc ra cảm giác ấy trong khi tin báo tử hãy còn nóng hổi thì chẳng khác nào cởi trần truồng ra mà nhảy nhót gào rú; mà Howard và Shirley lúc nào cũng quần áo chỉnh tề trong cái vỏ lịch thiệp vô hình họ chưa bao giờ tháo bỏ.
Shirley lại nảy ra một ý hay ho nữa. Bà đặt tách dĩa xuống bàn, chuồi mình khỏi giường, đeo kính, choàng áo bông rồi nhẹ nhàng bước xuống hành lang gõ cửa phòng tắm.
- Anh Howard này.
Bên trong vẳng ra tiếng ừ hử xen giữa tiếng nước lách rách không ngừng.
- Anh nghĩ em có nên đăng thông cáo trên website không? Về vụ Fairbrother ấy?
- Hay đấy - lão nói vọng qua cửa sau khi thoáng cân nhắc - Ý kiến tuyệt vời.
Bà hối hả tới phòng làm việc. Đó vốn là phòng ngủ bé nhất trong nhà dành cho cô con gái Patricia, nhưng Pat đã đi London từ lâu, trong nhà chẳng mấy khi nhắc nhỏm tới cô và căn phòng từ đó cũng bỏ trống.
Shirley hết sức tự hào về kỹ năng dùng internet của mình. Mười năm trước, bà có tham gia lớp học đêm ở Yarvil, khi đó bà thuộc loại lớn tuổi chậm hiểu nhất. Nhưng bà vẫn kiên trì theo lớp, quyết tâm trở thành quản trị viên của website mới toanh của hội đồng địa phương Pagford. Bà đăng nhập rồi mở trang chủ của hội đồng địa phương.
Đoạn thông cáo ngắn gọn được viết dễ dàng như tự động tuôn ra từ các đầu ngón tay.
Ông Barry Fairbrother, ủy viên hội đồng
Chúng tôi vô cùng thương tiếc thông báo đến quý vị, ủy viên hội đồng Barry Fairbrother, đã qua đời. Xin được phân ưu cùng gia quyến trong khoảng thời gian đau buồn này.
Bà đọc kỹ lại lần nữa, bấm nút rồi xem lại đoạn thông cáo xuất hiện trên bảng tin.
Khi công nương Diana mất, nữ hoàng còn ra lệnh hạ cờ trên điện Buckingham mà. Nữ hoàng có vị trí rất đặc biệt trong tim Shirley. Khi ngắm nghía mẩu tin trên website, bà có cảm giác thỏa mãn và phấn chấn khi đã làm một điều đúng. Học theo người cao quý nhất...
Bà thoát mục tin tức trên trang hội đồng địa phương rồi vào website y khoa ưa thích, cẩn thận gõ từ “não” và “tử vong” vào khung tìm kiếm.
Kết quả tìm thấy dài dằng dặc. Shirley cuộn lướt qua các kết quả, cặp mắt ôn hòa của bà quét từ trên xuống dưới, tự hỏi trong mớ nguyên nhân tử vong với những từ thậm chí bà đọc không ra đó đâu là nguồn cơn đem lại nỗi vui sướng cho mình. Shirley làm tình nguyện viên trong bệnh viện; từ khi bắt đầu làm việc tại bệnh viện Trung tâm Tây Nam, bà dần dà cũng quan tâm ít nhiều tới các vấn đề y khoa, thi thoảng còn đoán bệnh cho bạn bè nữa.
Nhưng sáng này, bà không tập trung đọc những dòng mô tả và triệu chứng dài dặc ấy, vì bà còn mải nghĩ tới chuyện làm sao loan truyền rộng rãi cái tin này, bà đã kịp sắp xếp thầm trong óc danh sách số điện thoại cần gọi. Không biết khi nghe tin, Aubrey và Julia sẽ thấy thế nào và nói gì nhỉ; với lại không biết Howard có nhường bà báo tin này cho bà Maureen không hay tự mình hưởng cái thú đó.
Thật là đã.
IV
Andrew Price đóng cánh cửa trước của căn nhà nhỏ sơn trắng rồi theo chân cậu em đi xuôi xuống lối ngang vườn dốc đứng lạnh trắng sương giá, dẫn tới cánh cổng rào sắt mở ra con đường nhỏ. Không đứa nào liếc mắt nhìn quang cảnh trải rộng dưới chân: thị trấn Pagford tí hon lọt thỏm giữa ba ngọn đồi, trên đỉnh một ngọn nhấp nhô tàn tích của tu viện xây từ thế kỷ 12. Dòng sông mảnh uốn lượn quanh đồi cũng chảy qua thị trấn, vắt ngang nó là cây cầu đá bé tí như đồ chơi. Phong cảnh lờ đờ như tấm phông nền vẽ sau lưng hai anh em. Andrew ghét những lúc hiếm hoi nhà có khách, ông bố dẫn ra giới thiệu phong cảnh như kiểu chính ông thiết kế xây dựng tất cả những thứ ấy. Dạo này Andrew bỗng nhiên thích những con đường trải nhựa, cửa sổ vỡ và hình graffiti, nó mơ tới London và một cuộc sống cho ra sống.
Hai anh em đi xuống cuối đường rồi chậm bước chỗ khúc quanh ngoặt ra đường lớn. Andrew lại chỗ bờ rào thận trọng dò dẫm rồi rút ra một gói thuốc lá Benson & Hedges còn phân nửa và bao diêm hơi ẩm. Sau vài lần thất bại vì đầu diêm cứ vỡ vụn, cuối cùng nó cũng châm được thuốc. Kéo được hai ba hơi dài, tiếng động cơ xe buýt đã vang lên phá vỡ không khí tĩnh lặng. Andrew thận trọng dụi tắt điếu thuốc rồi bỏ phần thừa lại vào bao.
Thường khi đến đây, chiếc xe buýt đã đầy hai phần ba vì trước đó đã đi vòng qua các nhà và nông trại ở khu xa. Hai anh em ngồi xa nhau như thường lệ, mỗi đứa chiếm một chiếc ghế đôi, quay mặt nhìn ra cửa sổ khi chiếc xe lại rừm rừm khởi động chạy xuống thị trấn Pagford.
Ngay dưới chân đồi là căn nhà đứng giữa mảnh vườn hình cái nêm. Bốn đứa trẻ nhà Fairbrother thường đứng đợi xe ngoài cổng chính nhưng hôm nay chỗ đó vắng tanh. Màn cửa trong nhà nhất loạt buông xuống. Andrew không biết người ta có thường ngồi trong bóng tối khi có ai đó qua đời hay không.
Trước đó vài tuần, Andrew vừa chài được Niamh Fairbrother, một trong hai cô bé song sinh nhà Barry tại buổi khiêu vũ trong phòng diễn kịch của trường. Sau lần đó, cô nàng cứ lẵng nhẵng theo ám nó một thời gian. Bố mẹ Andrew không quen thân gì với nhà Fairbrother, Simon và Ruth hầu như không có bạn, nhưng họ có vẻ cũng hơi quý mến Barry, chủ chi nhánh bé tẹo của ngân hàng duy nhất ở Pagford. Cái tên Fairbrother khá nổi nhờ gắn với hội đồng địa phương, các buổi biểu diễn trong hội trường thị trấn và cuộc chạy bộ do nhà thờ phát động. Andrew chẳng quan tâm đến mấy hoạt động đó mà bố mẹ nó cũng chẳng buồn tham gia, chỉ trừ vài đợt tài trợ hiếm hoi hay xổ số.
Chiếc xe buýt rẽ trái xuống đường Church Row, ngang qua dãy dinh thự bề thế kiểu Victoria thấp dần theo con đường dốc, Andrew mơ màng tưởng tượng đến cảnh ông bố mình cũng gục xuống chết vì bị tay súng vô hình nào đó bắn hạ. Thế rồi nó sẽ vỗ về an ủi bà mẹ đang thổn thức trong khi gọi điện thoại cho bên dịch vụ lễ tang. Andrew sẽ vừa phì phèo thuốc lá vừa ra lệnh đặt mua loại quan tài rẻ tiền nhất.
Ba đứa nhà Jawandas, Jaswant, Sukhvinder và Rajpal lên xe ở đoạn cuối phố Church Row. Andrew đã cố tình chọn chỗ ngồi còn ghế trống phía trước, cầu mong Sukhvinder sẽ ngồi vào đó, tất nhiên không phải vì ưa gì con bé (Fats, bạn thân của Andrew gọi cô bé là RCV, nghĩa là râu chấm vú), mà vì nàng rất thường chọn ngồi cạnh Sukhvinder. Sáng nay hình như “sức mạnh tinh thần” của nó đặc biệt mạnh hay sao đó, mà Sukhvinder quả là ngồi đúng vào ghế ấy. Andrew sung sướng vờ liếc về phía tấm cửa sổ dày bụi và ôm cặp sát hơn vào lòng hòng che bớt “thằng nhỏ” đang bị kích thích bởi những cú rung mạnh của xe buýt.
Nỗi mong ngóng tăng theo mỗi cú xóc nảy, khi chiếc xe kềnh càng luồn lách qua những con đường hẹp, quặt qua khúc cua gắt vào quảng trường, hướng về phía góc phố đường nhà Nàng.
Andrew chưa bao giờ thích cô gái nào nhiều như vậy. Nàng là học sinh mới, dù chuyển trường ngay học kỳ xuân của năm thi GSCE (General Certificate of Secondary Education: Chứng chỉ giáo dục trung học tổng quát) cũng khá là lạ. Tên nàng là Gaia, thật phù hợp làm sao, vì Andrew chưa từng nghe nói tới cái tên này và đối với nó, bản thân nàng cũng là điều hoàn toàn mới mẻ. Một sáng nọ, nàng bước lên xe buýt như biểu tượng giản đơn về những đỉnh cao tuyệt vời mà tạo hóa có thể vươn tới được, rồi ngồi xuống cách nó hai ghế phía trước, còn Andrew chỉ biết chết sững trước vẻ hoàn hảo của bờ vai và mái tóc nàng.
Tóc nàng màu nâu đồng, buông lơi từng lọn dài xuống xương vai; mũi nàng nho nhỏ, thẳng tắp hoàn hảo, hơi ngắn nên càng làm nổi bật vẻ quyến rũ của đôi môi căng mọng; hai mắt nàng nằm hơi xa nhau, rèm mi dày, tròng mắt rực rỡ những đốm màu nâu pha lục như vỏ táo. Andrew chưa khi nào thấy nàng trang điểm, làn da nàng hoàn hảo không tì vết. Gương mặt nàng là sự hòa quyện giữa những chi tiết cân đối tuyệt vời lẫn tỉ lệ bất thường, Andrew có thể ngắm nhìn gương mặt ấy hàng giờ mà tự hỏi cội nguồn vẻ quyến rũ ấy là từ đâu. Mới tuần trước đây thôi, nó dự liền hai tiết sinh học vì hôm ấy cách sắp xếp bàn ghế và chỗ ngồi ngẫu nhiên thế nào đó lại cho phép nó ngắm nàng liên tục. Thế rồi tối đó, khi đã vào giường, Andrew viết “vẻ đẹp là hình học” (Sau hơn nửa tiếng ngắm tường, rồi sau đó là một trận tự sướng ra trò). Nó xé tờ giấy ngay sau đó, rồi cứ mỗi lần nhớ tới lại thấy thật ngu ngốc, nhưng vẫn có chút gì đáng kể trong vụ đó. Vẻ lộng lẫy của nàng là tổng hòa những điều chỉnh li ti theo khuôn khổ, và kết quả tuyệt đến nín thở.
Nàng có thể lên xe bất kỳ lúc nào, mà nếu nàng chọn ngồi cạnh con bé Sukhvinder bè bè sưng sỉa như thường lệ, thì có khi ngửi thấy cả mùi khói thuốc trên người Andrew. Nó thích nhìn những vật vô tri biến đổi khi chạm vào nàng, như đệm ghế xe buýt hơi lún xuống khi nàng ngồi, hay nạm tóc màu vàng pha đồng uốn cong quanh thanh kẹp kim loại trên đỉnh đầu.
Tài xế hãm xe dần, Andrew ngoảnh mặt khỏi cửa lên xuống, vờ như đang mải nghĩ; như thế khi nàng lên, nó có thể ngoái nhìn quanh như thể chợt tỉnh vì thấy xe ngừng; nó sẽ chạm mắt nàng, có khi gật đầu nữa. Andrew ngóng tai chờ tiếng cửa mở, nhưng tiếng động cơ rì rì vẫn không hề bị ngắt quãng bởi tiếng cửa rít rồi sập mạnh quen thuộc.
Andrew liếc quanh nhưng chẳng thấy gì ngoài con phố Hope ngắn ngủi tồi tàn chạy giữa hai dãy nhà liên kế. Tài xế nghiêng người ra xem cô bé có đang đến không. Andrew muốn xin ông ta đợi thêm một lát, vì mới tuần trước thôi rõ ràng nàng lao ra từ một căn nhà nhỏ trong dãy phố ấy và chạy dọc vỉa hè (lúc đó nhìn nàng cũng chẳng sao vì ai trên xe cũng nhìn), và chỉ cảnh tượng ấy thôi cũng đủ ám ảnh đầu óc nó hàng giờ sau đó. Thế nhưng bác tài đã lại xoay vôlăng, chiếc xe buýt tiếp tục lên đường. Andrew quay lại nhìn chằm chằm vào khung cửa sổ lem nhem, cả tim lẫn chỗ nhạy cảm của cơ thể cùng nhức nhối.
V
Dãy nhà liên kế nhỏ hẹp trên đường Hope khi trước là chỗ ở dành cho dân lao động. Trong phòng tắm căn nhà số 10, Gavin Hughed đang chậm rãi cạo râu một cách cẩn thận quá mức. Râu gã rất nhạt lại thưa, thực ra một tuần chỉ cần cạo hai lần là đủ; nhưng căn buồng tắm lạnh lẽo, hơi nhếch nhác này là nơi trú ẩn duy nhất của gã. Nếu kề cà trong này được tới tận tám giờ thì mới có cớ hợp lý để nói mình phải rời nhà đi làm ngay lập tức. Gã vốn sợ phải nói chuyện với Kay.
Tối hôm trước, gã phải khởi động màn làm tình dài nhất và sáng tạo nhất từ khi hai người bắt đầu qua lại tới nay mới thoát được cuộc nói chuyện. Kay đáp ứng ngay lập tức và cuồng nhiệt đến phát sợ: cô tự vỗ nhè nhẹ khắp người; chìa cặp giò khỏe khoắn còn mang vớ lên cho gã; vặn vẹo như cô diễn viên nhào lộn người Slavơ, mà quả là cô ta cũng có làn da màu ôliu và mái tóc sẫm cực ngắn như cô. Quá trễ rồi. Gã nhận ra cô đang coi hành động đòi hỏi đơn thuần này là ngầm thừa nhận những điều gã nhất quyết tránh đề cập đến. Cô hôn gã nồng nhiệt. Những nụ hôn dấn sâu ướt át của cô thuở mới quen sao mà gợi tình, giờ chỉ nghe cờn cợn. Gã loay hoay một lúc lâu mới bùng nổ, nỗi sợ hãi điều mình đã bắt đầu cứ nhăm nhe đè dúi cơn lên đỉnh. Mà cả cái chuyện khốn khổ này cũng hại gã, vì cô nàng cứ tưởng do đối tác lão luyện lắm mới giữ được lâu thế.
Xong cuộc, cô cuộn mình nép vào người gã trong bóng tối, tay xốc xáo tóc người tình một lúc. Gã ngán ngẩm mở mắt nằm đó, kế hoạch mở dây hóa ra lại thành thắt dây chặt thêm. Cuối cùng cô nàng cũng thiếp đi, còn gã vẫn nằm thượt, một tay kẹt dưới người cô nàng, tấm khăn trải giường trên tấm nệm lò xo cũ lồi lõm cứ nhơm nhớp quấn vào đùi, và chỉ ước sao mình đủ khốn nạn để cứ thế chuồn thẳng rồi lặn mất tăm.
Phòng tắm nhà Kay có mùi bọt biển ẩm ướt mốc meo. Hàng nạm tóc còn kẹt bên thành bồn tắm nhỏ. Sơn tường đang lở dần.
- Đến lúc phải sửa sang lại rồi - Kay từng bảo thế.
Gavin cố tránh không buột miệng mà dính vào vụ này. “Không cam kết” là lá bùa và là tấm chắn tự vệ của gã trước cô; lúc nào gã cũng ghi nhớ và nhẩm đi nhẩm lại như lần tràng hạt. Gã không bao giờ nói “yêu”. Không bao giờ nói tới chuyện cưới xin. Không bao giờ đề nghị cô chuyển về sống ở Pagford. Ấy thế mà cuối cùng cô nàng vẫn ở đây và làm sao đó khiến gã lại thấy phải có trách nhiệm.
Gương mặt trong tấm gương mờ xỉn nhìn lại gã. Mắt quầng thâm, mái tóc vàng mỏng và khô. Bóng đèn trần trên đầu rọi rõ một bộ mặt yếu đuối, dâm dục và nghiệt ngã.
Ba mươi bốn rồi - Gã nghĩ - Đến bốn mươi hãy ra.
Gã lại cầm dao cạo râu lên tỉ mẩn xén hai cọng râu to tướng mọc hai bên trái cổ.
Có ai nện thùm thụp vào cửa nhà vệ sinh. Gavin giật mình trượt tay, máu từ chiếc cằm gầy gò của gã rơi xuống lốm đốm tấm áo sơ mi sạch trắng tinh.
- Gã bồ của mẹ - Một giọng con gái cáu kỉnh gào lên - cứ ngồi lì trong nhà tắm còn con thì trễ rồi đây này!
- Xong rồi đây! - Gã hét lại.
Vết cắt cũng khá đau nhưng có sao đâu chứ? Đây chính là cái cớ tuyệt vời của gã: Xem con gái em làm gì anh này. Anh phải về nhà thay áo trước khi đi làm. Thế rồi gần như nhẹ nhõm, gã mặc áo khoác, đeo cà vạt treo trên móc sau cửa rồi mở khóa.
Gaia xô gã ra rồi lao vào nhà tắm, sập cửa cài chốt. Chiếu nghỉ tí xíu chỗ đầu cầu thang đặc mùi cao su cháy khét lẹt. Gavin nhớ lại cảnh tối qua, tấm ván đầu giường cứ thúc vào tường, chiếc giường gỗ thông rẻ tiền cót ka cót két, tiếng Kay rên rỉ hổn hển. Có khi rất dễ quên bẵng mất là còn có cô con gái trong nhà.
Gã thong thả bước xuống cầu thang trơ trụi không thảm lót. Kay kinh hãi kêu rú lên khi thấy máu trên áo gã. Cô đang mặc cái áo choàng kiểu kimono màu tím rẻ tiền nom rất hợp, dù gã chẳng thích nó tí nào.
- Gaia nện cửa làm anh giật thót cả mình. Giờ phải về nhà thay áo đây.
- Ôi, nhưng em làm bữa sáng cho anh xong rồi này - cô vội vã nói.
Gã nhận ra cái mùi tưởng là cao su cháy hóa ra là mùi trứng bác. Trông đám trứng có vẻ nhợt nhạt lại quá chín.
- Thôi không kịp đâu Kay, anh phải về thay áo nữa, sáng sớm nay có...
Cô đã kịp múc mớ trứng ra đĩa.
- Năm phút thôi mà, anh ở thêm năm phút nữa hẳn là được...
Điện thoại trong túi áo khoác réo ầm ĩ, gã vừa rút ra vừa tự hỏi mình có đủ trơ tráo mà vờ rằng đó là tin nhắn gọi họp khẩn hay không.
- Lạy Chúa! - Gã kinh hãi thốt lên, lần này là hoàn toàn thành thực.
- Sao thế anh?
- Barry. Là Barry Fairbrother! Ông ấy... chó thật, ông ấy... chết rồi! Miles báo. Trời ơi! Trời mẹ ơi!
Cô đặt cái muỗng gỗ xuống.
- Barry Fairbrother là ai thế?
- Anh chơi bóng quần với ông ta. Ông ta mới có bốn bốn tuổi! Trời ơi!
Gã đọc tin nhắn lần nữa. Kay bối rối nhìn gã. Cô biết Miles là cộng sự của Gavin trong hãng luật, nhưng chưa bao giờ được giới thiệu với anh ta. Thế nên đối với cô Barry Fairbrother chỉ đơn thuần là một cái tên.
Trên cầu thang vang lên tiếng rầm rầm, Gaia vừa chạy vừa dậm thình thịch.
- Lại trứng - cô bé liếc về phía cửa bếp - sáng nào cũng như sáng nấy. Không. Và nhờ ơn chú - Cô ném cái nhìn độc địa vào gáy Gavin - mà có khi tôi trễ cái xe buýt chó chết đó rồi.
- Thôi đi, nếu con không tỉa tót tóc tai lâu thế thì làm gì tới nỗi - Kay quát với theo bóng con gái, cô bé không trả treo nữa mà lao qua hành lang, cặp sách đập bồm bộp vào tường rồi sập cửa ngoài đánh rầm.
- Kay, anh phải đi thôi - Gavin nói.
- Nhưng mà, anh xem này, em nấu xong hết rồi, anh chỉ việc ăn rồi...
- Anh phải thay áo chứ! Với cả, chết tiệt, khi trước anh từng giúp Barry lập di chúc, giờ phải trông coi xem thế nào. Thôi xin lỗi nhé, anh phải kiếu đây. Thật không tin nổi, - gã nói thêm, lại đọc tin nhắn của Miles lần nữa. - Thật không tin nổi. Mới hôm thứ Năm còn chơi bóng quần chung với ông ấy chứ đâu. Thật không... Chúa ơi.
Có một người vừa qua đời, giờ cô mà chèo kéo kiểu nào cũng thành ra không phải lẽ. Gã hôn vội đôi môi cứng đơ của cô rồi bỏ đi, băng qua hành lang hẹp tối om.
- Thế em có gặp anh...?
- Anh gọi em sau. - Gã hét với lại, vờ không nghe.
Gavin vội vã băng qua đường vào xe, hít sâu không khí khô lạnh, giữ chặt cái tin mới nhận như thể nó là lọ chất lỏng dễ bay hơi mà gã không dám lắc mạnh. Khi vặn chìa khởi động xe gã hình dung cảnh hai đứa con gái sinh đôi nhà Barry đang úp mặt xuống giường khóc lóc. Lần cuối cùng khi đến nhà Barry ăn tối, lúc đi ngang phòng ngủ, gã từng thấy hai đứa nằm bò ra như thế mà chơi trò Nintendo DS.
Khi trước vợ chồng nhà Fairbrother là cặp gắn bó nhất trong số những gia đình gã biết. Giờ thì không bao giờ còn cơ hội dùng cơm ở nhà họ nữa. Trước đây gã cũng từng trầm trồ bảo Barry đến là may mắn. Giờ thì hết rồi.
Có ai đang đi bộ dọc vỉa hè về phía gã. Gã hoảng lên, tưởng là Gaia quay lại chửi bới hay đòi đi nhờ bèn vội vàng de gấp và đâm luôn vào chiếc xe đậu sau, đúng ngay chiếc Vauxhall Corsa cũ của Kay. Người khách bộ hành đi ngang qua cửa sổ xe gã hóa ra là một bà cụ tiều tụy tập tễnh, chân đi dép nhung. Toát cả mồ hôi, Gavin đánh tay lái lách khỏi chỗ đỗ xe. Khi tăng tốc, gã liếc nhìn kính chiếu hậu và thấy Gaia đang quay vào nhà.
Khó khăn lắm gã mới thở được. Ngực gã thắt nghẽn. Mãi tới lúc này, gã mới nhận ra Barry Fairbrother là bạn thân nhất của mình.
VI
Chiếc xe buýt của trường đã tới Fields, khu nhà tạp nham nằm ở ngoại ô thành phố Yarvil. Mấy căn nhà xám xịt bẩn thỉu, vài căn bị phun sơn mấy chữ cái viết tắt tên riêng hay từ tục tĩu; đây đó vài ô cửa sổ đóng ván chặt, chảo vệ tinh và những bãi cỏ rậm rạp thiếu người chăm tỉa - đối với Andrew, mấy thứ đó cũng chẳng có gì đáng nhìn hơn tòa tu viện đổ nát trắng lóa vì sương giá ở Pagford. Andrew khi trước vừa tò mò vừa sợ khu này, nhưng rồi quen quá hóa nhàm.
Vỉa hè đầy bọn nhóc và đám choai choai đang đổ về trường, nhiều đứa phong phanh mỗi áo thun dù trời lạnh. Andrew nhận ra Krystal Weedon, đầu đề những trò bông đùa tục tĩu của cả bọn. Nó đang vừa khoác lác gì đó vừa cười ầm ĩ giữa một nhóm choai choai đủ loại. Tai Krystal bấm liền mấy lỗ, chiếc quần thể thao lưng trễ không đủ che dây quần lót. Andrew biết con bé từ hồi tiểu học, trong ký ức thời thiếu niên ngông cuồng, Krystal là một trong nhiều thứ để lại ấn tượng đậm nhất. Khi trước, lúc bị lôi tên ra chế nhạo, con bé không khóc như mấy cô bé năm tuổi khác mà vừa hò theo vừa cười ngặt nghẽo “Có lông! Krystal có lông!”. Rồi nó tuột luôn quần giữa lớp..; và cô Oates mặt đỏ tận mang tai chạy ngay tới điệu Krystal ra khỏi phòng.
Đến năm 12 tuổi, Krystal lột xác hoàn toàn thành nữ sinh phổng phao nhất khối, có lần ở cuối lớp, nơi mà tụi học sinh khi làm xong bài tập toán phải đem bài xuống đó rồi đổi lấy tờ bài tập kế tiếp, và Andrew (lúc nào cũng trong nhóm làm toán chậm nhất, như mọi khi) không rõ chuyện bắt đầu thế nào, nhưng khi bước đến chỗ mấy khay nhựa đựng bài tập xếp ngay ngắn trên nóc tủ lớp thì bắt gặp hai thằng mãnh Rob Calder với Mark Richards đang thay nhau sờ ngực con Krystal. Hầu hết bọn con trai trong lớp đang háo hức liếc nhìn, giấu mặt sau sách giáo khoa cho thầy khỏi phát hiện trong khi bọn con gái đỏ tía mặt mày vờ như không thấy. Andrew phát hiện ra hơn nửa đám con trai đều đã thử qua, rõ ràng là tới lượt nó. Andrew chần chừ... Chẳng phải sợ gì, nhưng nó cứ có cảm giác tội lỗi khi vấp phải cái nhìn câng câng thách thức của con nhỏ. Cuối cùng khi ông thầy Simmonds bất lực, chẳng hiểu chuyện gì xảy ra ngước lên bảo: “Em đứng đó lâu quá rồi Krystal, lấy tờ bài tập rồi ngồi xuống đi”, Andrew thực sự cảm thấy nhẹ cả người.
Từ lâu hai đứa không còn học chung lớp, nhưng do vẫn có vài môn đăng ký chung nên Andrew biết Krystal thỉnh thoảng mới tới lớp, còn thì thường xuyên cúp học và lúc nào cũng dính vào rắc rối. Con bé chẳng biết sợ là gì, cũng như bọn con trai chọn cách xăm mình, Krystal đến trường với đôi môi dập rách ngậm xì gà, hàng đống chuyện đụng độ với cảnh sát, ma túy và tình dục buông thả.
Tòa nhà ba tầng Winterdown Comprehensive nằm ngay trong thành phố Yarvil, trông nó kềnh càng xấu xí với mấy cánh cửa sổ màu lam lắp rải rác. Cửa xe mở ra, Andrew hòa vào đám đông mặc áo khoác blazer đen và đồ ấm bên ngoài tràn qua bãi đỗ xe đổ vào hai cổng trước của trường. Khi sắp chen vào đám đông đang ùn lại ngay cổng, nó thấy một chiếc Nissan Micra đang từ từ lại nên dừng bước chờ thằng bạn thân.
Thằng Stuart Wall có nhiều biệt danh nhất trường: Tubby, Tubs, Tubster, Flubber, Wally, Wallah, Fatboy, Fats. Tướng gầy ngẳng, đi đứng cứ nhún nha nhún nhảy, mặt mày tóp teo nhợt nhạt, tai to tướng, ngoại hình thế đã đủ quái, nhưng chính khiếu hài hước sắc sảo, vẻ phớt đời và cái vẻ tự tin cực kỳ mới là thứ khiến nó nổi bật. Nó nhún vai phớt lờ mọi lời trêu chọc vì là con của ông thầy hiệu phó vừa dốt vừa khó ưa; vì có bà mẹ mập tròn ăn mặc lôi thôi, khéo thế nào lại chính là giáo viên tư vấn định hướng của trường, chuyện này khiến nó bị trêu chọc suốt. Nó vừa xuất sắc vừa độc đáo, là biểu tượng trứ danh của cả trường. Ngay cả mấy đứa khu Fields cũng đều khoái nghe nó chọc cười, nhưng chẳng mấy khi dám cười nó vì nó trả đũa khá cay.
Sáng nay, vẻ phớt tỉnh của thằng Fats càng rõ, vì trước mặt cả đám bạn học đang chen nhau qua cổng không có ông bố bà mẹ nào đi kèm, nó phải chui khỏi chiếc Nissan với cả bố lẫn mẹ, dù bình thường hai người này đi xe riêng đến trường. Vừa nhìn Fats nhún nhảy tiến lại, Andrew vừa mường tượng tới cái dây quần lót của Krystal Weedon.
- Đi chứ mày, Arf? - Fats hỏi
- Chào, Fats.
Hai đứa chen vào đám đông, cặp sách đong đưa trên vai đập cả vào đầu bọn thấp hơn, vạch một khe nhỏ cho hai đứa luồn qua.
- Lão Tủ nhà tao khóc - Fats nói khi leo lên cầu thang đông nghẹt.
- Cái gì?
- Tối qua lão Barry Fairbrother chết rồi.
- Ờ, tao có nghe vụ này - Andrew đáp.
Fats liếc Andrew một cái vẻ chế nhạo, ra điều mày-thì-biết-gì-mà-ra-vẻ.
- Thì lúc đưa ổng vào viện mẹ tao đang trực đó mà - Andrew bực mình bảo - Mẹ tao làm trong bệnh viện, nhớ không?
- Ờ phải - Thằng Fats đáp, không tỏ vẻ nhạo báng nữa. - Mày biết đó, ổng với ông già nhà tao là bồ ruột mà. Ông già tao sắp thông báo vụ này. Chẳng có gì hay ho cả, Arf.
Tới đầu cầu thang, hai đứa tách ra vào hai lớp khác nhau. Lớp Andrew vào gần đông đủ, ngồi trên bàn đong đưa chân, hay dựa tủ kê cặp tường, túi xách vứt dưới chân. Sáng thứ hai lúc nào cũng thoải mái rôm rả hơn mấy bữa khác, vì hôm nay sinh hoạt đầu tuần, nghĩa là cả đám sẽ đi bộ ra phòng thể thao ngoài trời. Giáo viên đăng ký ngồi sau bàn, đánh dấu điểm danh. Cô không buồn đọc tên điểm danh cho tử tế, đây là một trong nhiều trò hòng lấy lòng học sinh nhưng cả bọn vì thế lại xem thường cô.
Krystal vào lớp đúng lúc chuông reng gọi đi tập hợp. Con bé đứng ở cửa gào lên: “Em tới rồi nha cô”, rồi lại chạy vọt ra. Cả lớp đổ ra theo, vừa đi vừa tiếp tục trò chuyện xôn xao. Andrew và Fats lại gặp nhau ở đầu cầu thang rồi mới hòa cùng đám bạn đi qua cửa sau, băng ngang khoảng sân xám rộng.
Phòng thể thao có mùi mồ hôi lẫn mùi giày, tiếng ồn ĩ của một nghìn hai trăm cô cậu choai choai vang dội những bức tường quét vôi trắng ảm đạm. Sàn phòng trải thảm cứng màu xám công nghiệp đầy đốm bẩn, trên vẽ vạch nhiều màu làm sân cầu lông, tennis, hockey và bóng bầu dục. Sàn này mà đi chân trần lên thì rát, nhưng êm mông hơn sàn gỗ khi phải ngồi sinh hoạt toàn trường. Andrew và Fats nhanh chân giành được chỗ ngồi quý giá trên dãy ghế dài có lưng tựa bằng nhựa kê phía sau phòng, tuổi thọ của chúng chắc cũng cỡ năm sáu năm rồi.
Cô hiệu trưởng Shawcross ngồi ngay cạnh bục gỗ trước phòng, hướng về phía học sinh. Bố của Fats, Colin Wall “Tủ” bước tới ngồi kế bên. Ông khá “dài đòn”, trán cao hói, dáng đi cực dễ bắt chước, vì hai cánh tay cứng đơ cứ giơ lên hạ xuống theo nhịp bước một cách cứng đơ quá lố. Ai cũng gọi ông 1à thầy Tủ vì ông lúc nào cũng chăm chắm giữ cho mấy hộc tủ gắn trên tường bên ngoài văn phòng mình được gọn gàng. Sổ sách ghi xong có khi bỏ vào đó, có khi chuyển thẳng cho phòng ban cụ thể. “Nhớ bỏ vào đúng hộc nhé Ailsa!” “Kevin, đừng để đồ cheo leo thế, rơi khỏi tủ bây giờ!” “Đừng có bỏ đi ngang thế chứ, em kia! Nhặt lên, bỏ nó vào đây, phải để nó trong tủ chứ!”
Các giáo viên khác đều gọi mấy dãy tủ đó là “chuồng bồ câu”, nghe đồn để không dính dáng gì đến thầy Tủ.
- Ngồi nhích qua, ngồi nhích qua - thầy Meacher dạy nghề mộc kêu Andrew và Fats, vì hai đứa bỏ một ghế trống cách Kevin Copper.
Thầy Tủ bước lên trước bục. Thường hễ cô hiệu trưởng lên thì học trò ổn định nhanh hơn. Lúc tiếng xì xào cuối cùng tắt hẳn, cánh cửa bên cánh phải mở ra, Gaia bước vào phòng.
Cô bé nhìn lướt qua phòng (Andrew tự cho phép mình nhìn cô, vì ai cũng đang nhìn mà: cô nàng đi trễ, lại đặc biệt, lại xinh đẹp, mà xét cho cùng thì chỉ mỗi thầy Tủ đang phát biểu chứ có gì quan trọng đâu), rồi bước nhanh nhưng không vội vã (cô nàng cũng được cái phớt tỉnh hệt như Fats) ngang qua đám bạn học. Andrew không dám ngoái cổ nhìn theo cô nàng, rồi bỗng đầu nó nổ bùng một cái: lúc nhích người theo Fats nó đã vô tình chừa một ghế trống ngay bên cạnh.
Andrew nghe tiếng chân nhẹ nhàng nhanh nhẹn tiến lại gần; nàng ngay đó rồi, ngồi sát bên nó. Ghế Andrew hơi xê dịch, cơ thể nàng cũng làm nó chộn rộn. Mũi nó bắt được mùi hương thoang thoảng. Suốt phần người bên trái Andrew nóng rực lên vì cảm thấy sự hiện diện của nàng, nó thầm mừng là gò má trái, phía nàng thấy, đỡ mụn đỏ hơn má phải. Chưa bao giờ Andrew gần nàng thế, nó cũng không biết có dám quay sang nhìn hay chào hỏi gì không; nhưng rốt cục nó thấy mình đơ ra lâu quá lỡ mất cơ hội rồi, giờ mà chào thì lại không tự nhiên.
Andrew vờ giơ tay gãi gãi màng tang, đảo mắt liếc vội xuống tay nàng đang đan nhau hờ hững trong lòng. Móng tay ngắn sạch sẽ, không sơn. Chỉ đeo một chiếc nhẫn bạc trơn đơn giản trên ngón tay.
Fats khẽ thúc khuỷu tay làm Andrew căng thẳng thêm.
- Sau cùng - thầy Tủ nói, Andrew nhận ra nó nghe thầy nói chữ này hai lần rồi, tiếng cọ quậy sột soạt bỗng im bặt, cả hội trường lặng phắc căng tai chờ đợi.
- Sau cùng, - thầy Tủ lặp lại, giọng run run, - Tôi có một tin… một tin rất đáng buồn. Ông Barry Fairbrother, huấn luyện viên... cho đội nữ đua thuyền cực kỳ thành công, thành công... của trường ta suốt hai năm qua, ông ấy đã... đã
Ông nghẹn ngào lấy tay che mắt.
- ... qua đời...
Thầy Wall “Tủ” khóc ngay trước mặt toàn trường. Cái trán hói cao gục xuống ngực. Tiếng xầm xì khúc khích rộ lên, nhiều đứa ngoái lại nhìn Fats, thằng này hơi có vẻ giễu cợt nhưng vẫn điềm nhiên ngồi yên một cách đáng phục.
- Qua đời... tối hôm qua.
Có đứa nào ngồi giữa đám ghế sau hội trường không nhịn nổi kêu ré lên ầm ĩ.
- Trò nào cười đó hả? - Thầy “Tủ” gầm lên, cả hội trường im bặt khoái chí. - SAO DÁM CƯỜI HẢ? Trò nữ nào cười đó? Trò nào?
Thầy Meacher đã đứng phắt dậy, tức giận chỉ tay vào một đứa trên hàng ghế giữa ngay sau Andrew và Fats. Ghế của Andrew lại bị thúc một cái vì Gaia quay hẳn người xuống xem như mọi người. Andrew thấy toàn thân mình trở nên siêu nhạy cảm, nó cảm thấy được cơ thể Gaia đang nhoài sang phía mình. Giờ mà quay về phía cô nàng, hẳn hai đứa chạm ngực được vào nhau.
- Ai cười đó? - Thầy “Tủ” lại quát lên, ráng rướn người trên đầu ngón chân cứ như thể sẽ tóm được đứa mắc lỗi từ trên đó. Thầy Meacher vừa tuôn ra một tràng giáo huấn vừa hăng hái trỏ tay chỉ điểm.
- Đứa nào thế hả thầy Meacher? - Thầy “Tủ” gào lên.
Thầy Meacher có vẻ không muốn nói, vì vẫn chưa bảo được cái đứa mắc lỗi kia ra khỏi chỗ ngồi, nhưng xem ra thầy Tủ đã muốn nhảy khỏi bục mà tự đi điều tra lấy, thế là Krystal Weedon nhảy bật dậy, mặt đỏ tía tai gạt phăng mấy đứa cùng hàng để đi ra.
- Sau buổi sinh hoạt toàn trường em phải lên văn phòng tôi ngay - thầy “Tủ” gào lên - Cái đồ vô ơn, thiếu giáo dục! Đi ra ngoài ngay!
Krystal lúc đó đã đi tới cuối dãy liền dừng phắt lại, làm một cử chỉ bậy bạ hướng về phía thầy “Tủ” và rống lên “NHƯNG MÀ CON NÀY CÓ CƯỜI ĐÂU CHỨ...”
Cả hội trường phá lên cười và bàn tán ầm ĩ; các thầy cô gắng dẹp loạn mà không nổi, một hai giáo viên bắt đầu rời ghế để ổn định lớp của mình.
Hai cánh cửa sập lại đằng sau Krystal và thầy Meacher.
- Trật tự - Cô hiệu trưởng nói to, hội trường tạm yên, nhưng tiếng xầm xì rúc rích vẫn cứ dậy lên. Fats vẫn ngồi nhìn thẳng phía trước, chẳng hề biến sắc hay chộn rộn lấy mảy may.
Andrew cảm thấy Gaia đã ngồi lại xuống ghế. Nó gom hết can đảm quay sang trái, nhe răng cười. Cô nàng mỉm cười đáp lại.
VII
Hiệu thực phẩm chế biến Pagford mở cửa lúc chín giờ ba mươi, biết thế nhưng Howard Mollison vẫn đến sớm. Lão năm nay đã sáu bốn tuổi, béo phì béo nộn. Cứ nhìn cái bụng phệ trĩu của lão là bất cứ ai cũng không kìm được mà tự hỏi lần cuối Howard thấy con cò của mình là khi nào, làm sao mà rửa ráy, và nhất là xoay xở ra sao khi cần dụng tới công năng trời ban của nó. Phần vì ngoại hình, phần vì lối trêu cợt khéo léo, lão giỏi khích bác lẫn xoa dịu ngang nhau, thế là đa số khách lần đầu ghé tiệm luôn mua nhiều hơn dự tính. Lúc làm việc lão cứ hềnh hệch ba hoa không ngừng, chốc chốc lại nháy nháy cặp mắt xanh tròn, cái nọng rung rung, ngón tay ngắn mập thành thạo kéo đẩy thoăn thoắt chiếc máy xắt thịt, từng lát dăm-bông đều đặn rơi xuống lớp giấy bóng hứng bên dưới.
Khi đi làm Howard luôn đánh độc một bộ: áo sơ mi trắng, tạp dề vải dày màu lục đậm, quần nhung kẻ, mũ lưỡi trai hai vành đính một mớ mồi câu giả. Lâu lắm rồi chẳng ai còn cười cái mũ ấy của lão nữa. Cứ mỗi sáng trước khi vào làm, lão lại soi vào tấm gương nhỏ trong phòng rửa mặt nhân viên, nghiêm chỉnh chụp nó lên mái tóc xoăn dày xám.
Howard luôn thích cảm giác mở cửa tiệm mỗi sáng. Lão thích đi lòng vòng trong cửa hiệu vắng lặng, âm thanh duy nhất vang lên là tiếng tủ đông rì rầm, tận hưởng cảm giác đánh thức mọi thứ: bật đèn, kéo rèm, mở các nắp đậy để lộ ra niềm tự hào của quầy đông lạnh: nào là bông atisô xám xanh, ôliu đen nhức, cà chua sấy cuộn tròn lại như bầy cá ngựa đỏ ngâm trong dầu trộn rau thơm nghiền.
Nhưng sáng nay nỗi sốt ruột làm lão không tận hưởng trọn vẹn niềm vui thường ngày. Bà bạn làm ăn Maureen đến trễ, mà lão cũng giống Miles hồi sáng nay, cứ lo có ai đó kể trước cho bà cái tin nóng hổi kia vì bà không có điện thoại di động.
Lão dừng bên lỗ trống mới trổ trên bức vách giữa cửa hiệu và tiệm giày cũ nay đang sửa thành tiệm café mới nhất ở Pagford, thử kéo tấm nhựa công nghiệp trong suốt bền chắc nhằm che bớt bụi từ công trình bay qua cửa hiệu thực phẩm. Bên đó tính khai trương quán café trước lễ Phục Sinh, vừa đúng lúc kéo du khách về vùng nông thôn miền Tây, Howard năm nào cũng chất đầy kệ cửa sổ đặc sản rượu táo, phô mai và búp bê ngô.
Có tiếng chuông cửa leng keng, lão quay phắt lại, trái tim từng trải qua ca phẫu thuật háo hức nhảy thùm thụp.
Bà Maureen là vợ góa của ông bạn cùng Howard gây dựng cửa hiệu khi xưa, bà năm nay sáu mươi hai tuổi, người mảnh khảnh, lưng gù. Cái dáng lòng khòng ấy làm bà trông già hơn tuổi thật, dù bà đã làm đủ mọi cách níu kéo tuổi xuân, như nhuộm tóc đen bóng, mặc quần áo sáng màu lại thêm đôi giày gót cao cheo leo, cứ đến cửa hiệu thì bà cởi đôi ấy ra đi sandal.
- Chào chị Mo - Howard cất tiếng.
Lão quyết không vội vàng mà làm hỏng cái thú báo tin, nhưng chẳng mấy chốc khách hàng sẽ kéo tới mà lão có bao nhiêu chuyện để kể.
- Chị nghe tin gì chưa?
Bà nghi hoặc cau mày.
- Barry Fairbrother vừa mất rồi.
Mồm bà thành chữ O.
- Lẽ nào! Như thế nào?
Howard giơ tay vỗ vỗ đầu.
- Có chuyện. Chỗ này. Thằng Miles có mặt ngay lúc đó. Bãi xe câu lạc bộ golf.
- Lẽ nào! - Bà lập lại.
- Đi kiểu đó là hết cứu! - Howard nhấn thêm, làm như kiểu chết đó của Barry Fairbrother là cái gì thật xấu xa.
Vành môi tô son màu chói của Maureen vẫn trễ ra khi bà làm dấu thánh. Những lúc thế này, tôn giáo của bà luôn có hành động rất lâm ly.
- Cậu Miles cũng ở đó hả? - Bà quàng quạc hỏi. Lão nghe ra được vẻ hau háu khát tin trong cái giọng trầm khào khào của người từng hút thuốc lá đó.
- Hay chị đi bật ấm nước đi, Mo.
Ít ra lão cũng bắt bà chờ thêm được ít phút nữa. Bà ta bị sánh cả trà nóng ra tay vì vội vội vàng vàng trở lại nghe lão kể tiếp. Họ cùng ngồi trên chiếc ghế đặt sau quầy thường để ngồi nghỉ khi vắng khách, Maureen lấy một vốc đá ướp olive đắp vào chỗ tay bỏng. Hai người đưa đẩy vài ba chuyện hay nói trước bi kịch kiểu này: Chị vợ góa (“tội quá, chắc chị ta trống trải lắm, cả đời sống vì chồng mà”); bầy con nhỏ (“bốn đứa còn ăn chưa no lo chưa tới, không có cha thì biết làm sao”); chết sớm (“ổng đâu có già hơn cậu Miles bao nhiêu đâu, phải không?”) cuối cùng họ cũng bỏ qua mấy thứ râu ria để đi vào chuyện đáng quan tâm nhất.
- Rồi bây giờ sao? - Bà Maureen hồi hộp hỏi.
- À thì - Howard đáp - Vụ này mới là đau đầu đây. Giờ tự nhiên cánh ta có cái ghế khuyết ngoài dự kiến có khi làm nên chuyện đấy.
- Tự nhiên có cái gì? - Maureen hỏi lại, sợ nghe sót.
- Ghế khuyết ngoài dự kiến - Howard lặp lại. Nghĩa là vị trí trong hội đồng bị khuyết vì lý do người đương nhiệm qua đời. Thuật ngữ chuyên môn đấy. - Lão giảng giải.
Howard là chủ tịch hội đồng địa phương, và là người đứng đầu thị trấn Pagford. Chức vị này mang lại cho lão chuỗi mề đay mạ vàng, giờ nằm gọn trong chiếc két sắt nhỏ xíu mà lão và bà Shirley thiết kế dưới đáy tủ âm tường. Giả mà Pagford được nâng cấp lên thành phố thì hẳn lão đã tự gọi mình là thị trưởng rồi, dù vậy xét theo mọi nghĩa lão vẫn là người đứng đầu. Trên website của hội đồng, bà Shirley đã tỏ rõ vị thế đó. Dưới tấm ảnh Howard đầy sung mãn cổ đeo mề đay là đoạn giới thiệu cho biết lão sẵn lòng hợp tác trong các hoạt động cộng đồng lẫn kinh doanh tại địa phương. Mới vài tuần trước, lão đã phát chứng chỉ chạy xe đạp an toàn cho học sinh một trường tiểu học trong vùng.
Howard thong thả nhấp hớp trà, nhếch miệng cho giảm vẻ châm chích trong lời nói, “Cái tay Fairbrother đúng là chết tiệt, thật đấy, chị Mo. Một gã thực sự đáng ghét”.
- Ờ, chứ gì nữa - bà đáp - tôi biết mà.
- Gã mà còn sống là lúc nào đó tôi sẽ làm cho một trận. Cứ hỏi vợ tôi thì biết, thằng cha ấy cứ thậm thà thậm thụt.
- Phải, tôi biết.
- Cứ đợi mà xem. Đợi đấy. Giờ vụ này thế nào cũng xong. Trời, thật ra tôi đâu muốn thắng kiểu này, - Lão thở đánh sượt - nhưng xét về lợi ích chung cho Pagford... cho bà con…. thì vụ này kể ra cũng có cái may...
Howard nhìn đồng hồ.
- Sắp chín rưỡi rồi kìa.
Hai người họ chưa bao giờ mở trễ đóng sớm, việc kinh doanh chạy đều tăm tắp như lễ đền.
Bà Maureen tập tễnh đứng dậy mở khóa, kéo màn, từ từ mở ra quang cảnh quảng trường phía trước gọn gàng và đẹp mắt, đó là nhờ nỗ lực chung của các gia đình có dinh thự hướng ra quảng trường. Các bồn cây, bồn hoa, giỏ treo trồng đủ loại cây cỏ rực rỡ do mọi người cùng chọn theo từng năm. Quán Black Canon (một trong những quán rượu lâu đời nhất nước Anh) nằm đối diện cửa hiệu Mollision và Lowe phía bên kia quảng trường.
Howard hết ra lại vào, bưng mấy đĩa dài đầy ắp paté tươi xếp gọn gàng trong tủ kính, điểm thêm mấy lát cam và trái mâm xôi rực rỡ vui mắt. Howard hãy còn hơi hổn hển vì đã gắng sức quá nhiều trong mấy cuộc trò chuyện sáng nay, lão bỏ miếng paté cuối cùng xuống, đứng yên nhìn ra tấm bia tưởng niệm chiến tranh đặt giữa quảng trường một lát.
Thị trấn Pagford sáng nay vẫn đáng yêu như bao giờ, Howard cảm thấy rõ ngay lúc này niềm vui sống hiện hữu trong lão lẫn trên mảnh đất quê hương, sống động như nhịp tim đang đập... Lão đứng đây, say sưa tận hưởng - những chiếc ghế dài đen bóng, đám hoa tím đỏ chen nhau, ánh mặt trời lấp lánh viền đỉnh cây thập tự bằng đá - và Barry Fairbrother đã biến mất. Lão và Barry đã đấu đá nhau suốt bấy lâu nay, nên rõ ràng có thể hình dung cục diện khác hẳn nhờ sự cố bất ngờ này.
- Ông Howard - bà Maureen giật giọng - Kìa ôngHoward!
Một phụ nữ đang sải bước băng ngang quảng trường; vóc người bà gầy guộc, mái tóc đen với làn da nâu, vạt áo choàng đập phần phật vào đôi bốt theo nhịp bước chân.
- Ông nghĩ cô ta có...? Cô ta đã nghe chuyện chưa? - Maureen thì thầm hỏi.
- Tôi làm sao biết được - Howard đáp.
Bà Maureen sáng giờ vẫn chưa kịp đổi sang đôi giày sandal, suýt tí nữa trật mắt cá chân khi vội vàng rời cửa sổ quay về trước quầy. Howard đĩnh đạc đi sau, chiếm lĩnh hoàn toàn khoảng không sau quầy tính tiền như tay xạ thủ lão luyện vào vị trí.
Chuông cửa rung lên, bác sĩ Parminder Jawanda mặt mày khó đăm đăm đẩy cửa bước vào. Bà không mảy may liếc mắt tới hai người chủ cửa hàng, xăm xăm đi thẳng tới kệ đựng dầu ăn. Bà Maureen đảo mắt nhìn theo chăm chắm như chim ưng đang nhắm đến chú chuột đồng.
- Sáng nay đẹp trời nhỉ - Howard lên tiếng khi bà Parminder cầm một chai dầu bước tới quầy tính tiền.
- Chào ông.
Bác sĩ Jawander hiếm khi nhìn thẳng vào lão, dù họ đụng mặt nhau tại hội đồng địa phương hay bên ngoài nhà thờ. Howard luôn khoái nhìn cái vẻ chán ghét không giấu nổi của bà, vậy nên lão đâm ra vui tính và cực kỳ lịch thiệp.
- Hôm nay chị không phải đi làm sao?
- Không - Bà Parminder lục ví.
Bà Maureen không nhịn được nữa.
- Có chuyện khủng khiếp lắm - Bà lên tiếng, giọng khàn khàn - về Barry Fairbrother.
- Ờ - Parminder ừ hữ cho qua, rồi hỏi thêm - Chuyện gì?
- Về ông Barry Fairbrother.
- Ông ta thì làm sao?
Khẩu âm vùng Birmingham của bà Parminder vẫn còn khá rõ dù bà sống ở Pagford đã được mười sáu năm. Nếp nhăn sầu thường trực giữa cặp chân mày khiến bà trông lúc nào cũng căng thẳng như đang bực tức hay tập trung.
- Ông ấy chết rồi - Maureen trả lời, háo hức dán mắt vào gương mặt đang cau có kia. - Tối qua. Ông Howard mới kể tôi nghe.
Bà Parminder sững lại, bàn tay còn nguyên trong ví. Mắt bà đảo sang phía Howard.
- Ông ấy gục xuống rồi đi luôn, ở bãi đậu xe câu lạc bộ golf - Howard nói - Lúc đó thằng Miles nhà tôi cũng có mặt chứng kiến.
Thêm vài giây ngột ngạt trôi qua.
- Nói đùa đấy hả? - Cuối cùng bà Parminder quát lên the thé.
- Tất nhiên là không rồi - Bà Maureen thích thú đáp dù vừa bị xúc phạm - Ai lại lấy chuyện này ra mà đùa chứ?
Bà Parminder đặt chai dầu đánh cốp xuống mặt quầy bằng kính rồi bước thẳng khỏi tiệm.
- Thế đấy - Bà Maureen khoái trá dè bỉu - “Nói đùa đấy hả”, lịch sự ghê!
- Thì bị sốc mà - Howard ra vẻ hiểu biết, nhìn theo bóng Parminder vội vã băng ngang quảng trường, áo choàng bay phần phật phía sau. - Bà ấy cũng buồn chẳng kém gì bà vợ đâu. Rồi xem, vụ này sẽ hay lắm đây - lão nói thêm, gãi gãi cái bụng lúc nào cũng ngưa ngứa, - để xem bà ta có...
Lão bỏ lửng câu nói, nhưng chẳng hề gì, bà Maureen hoàn toàn hiểu. Cả hai cùng suy tính về cái ghế tự nhiên khuyết khi nhìn dáng bà ủy viên hội đồng Jawanda khuất sau ngã rẽ. Đối với họ, cái ghế trống chẳng khác nào chiếc túi ảo thuật thần kỳ chứa đầy những điều bất ngờ.
VIII
Nhà Giáo Sĩ Cũ là dinh thự to nhất đứng cuối dãy nhà xây theo phong cách Victoria trên phố Church Row. Nó đứng chót hàng, đối diện nhà thờ Thánh Michael và Các Thánh, với khu vườn rộng rãi ngay góc đường.
Bà Parminder đi vội, thậm chí chạy gằn khi tới gần nhà, lập cập mở ổ khóa cứng ngắc bước vào. Bà phải tìm ai đó để hỏi lại cho chắc hòng tin nổi chuyện vừa nghe, bất kỳ ai cũng được, nhưng chưa kịp làm gì thì điện thoại trong bếp đã réo lên như điềm gở.
- Vâng tôi nghe?
- Anh Vikram đây.
Chồng bà Parminder là bác sĩ phẫu thuật tim. Ông làm việc tại bệnh viện Trung tâm Tây Nam đặt ở Yarvil, thường chẳng mấy khi ông gọi điện từ chỗ làm về nhà. Parminder nắm chặt cái ống nghe đến nỗi tay phát đau.
- Anh mới nghe kể về vụ đột quỵ. Nghe triệu chứng thì có vẻ do phình mạch. Anh nhờ Huw Jeffries ưu tiên đẩy ca này lên mổ khám nghiệm trước rồi. Phải cho chị Mary biết rốt cục nguyên nhân là gì. Chắc giờ đang mổ cho ông ta rồi đấy.
- Vâng - bà Parminder khẽ đáp.
- Tessa Wall đang bên đó. Em gọi cô ấy đi.
- Vâng - Parminder đáp - Được rồi.
Nhưng khi gác máy xong, bà chỉ còn đủ sức ngồi sụp xuống chiếc ghế trong bếp, nhìn trừng trừng vô định vào cánh cửa sổ mở ra vườn sau, áp tay lên miệng.
Thế giới đã tan vỡ. Dù bức tường, những chiếc ghế, tranh bọn trẻ vẽ treo trên tường trông vẫn như thế. Vô nghĩa. Từng phần tử nhỏ bé của thế giới đã nổ tung rồi lập tức tái hợp lại, cái vẻ vững chắc trường cửu bề ngoài kia thật nực cười; mọi thứ đột nhiên trở nên mong manh khôn tả, chỉ cần một cú chạm, nó sẽ vỡ vụn.
Bà không kiểm soát nổi ý nghĩ của mình nữa. Có vẻ như chúng cũng đã bể nát, những mẩu ký ức đây đó lướt qua rồi mất hút: Lần khiêu vũ cùng Barry tại tiệc mừng năm mới tại nhà Wall, những câu chuyện không đầu không đuôi họ chia sẻ khi đi bộ về sau cuộc họp gần đây nhất của hội đồng địa phương.
- Nhà anh trông như mặt con bò ấy - Bà từng nói với ông ấy như thế.
- Mặt bò ấy à? Thế nghĩa là sao?
- Thì phần trước nhà hẹp hơn phần hậu. Như thế là tốt. Nhưng anh không để ý cái góc chữ T à, thế không may đâu.
- Thế thì hên xui vừa khéo bù trừ. - Barry đáp.
Có khi ngay lúc đó đó, động mạch trong đầu ông ấy đã phình ra một cách đáng báo động rồi, thế mà hai người họ không ai biết gì cả.
Parminder đờ đẫn dời bước từ bếp sang phòng khách tối âm âm dù trời nắng hay mưa, vì bị rợp bóng cây thông giống Scotland ở vườn trước. Bà ghét cái cây đó nhưng đành cứ để thế, vì hai vợ chồng đều biết hàng xóm sẽ làm ầm lên nếu hạ nó.
Không bình tĩnh nổi, bà lại đi dọc hành lang xuống bếp, nhấc máy gọi cho Tessa Wall nhưng cô không nghe máy. Chắc đang bận. Bà lại run rẩy buông mình xuống ghế.
Nỗi đau buồn quá lớn như con quái thú điên cuồng xông ra từ lòng đất ập vào bà. Barry bé nhỏ, Barry râu rậm, người bạn của bà, chiến hữu của bà.
Cha bà cũng ra đi đúng như thế. Năm đó bà mười lăm tuổi, khi đi phố về, bà thấy ông nằm úp mặt trên bãi cỏ, máy cắt cỏ còn bên cạnh, ánh mặt trời chói chang rọi vào gáy. Parminder ghét cái chết bất ngờ. Ai khác sợ viễn cảnh chết dần chết mòn, thì bà lại thích chuyện đó; dù gì cũng còn có thời gian để mà sắp xếp mọi việc, nói lời vĩnh biệt...
Đôi tay bà vẫn đang áp chặt lấy miệng. Bà nhìn gương mặt trơ trơ dịu dàng của Guru Nannak trong tranh.
(Vikram không thích bức tranh này.
- Em treo cái đó làm gì?
- Em thích thế - bà ngang ngạnh đáp.)
Barry, đã mất rồi.
Bà nuốt xuống cơn nghẹn ngào mãnh liệt với sự sắt đá lúc nào cũng làm mẹ bà buồn lòng, nhất là khi cha bà vừa qua đời, khi các cô con gái khác, cả các cô và cháu trai cháu gái đều khóc lóc đấm ngực. “Khi xưa bố cưng con biết bao nhiêu mà!”. Nhưng Parminder vẫn khóa chặt những giọt lệ ấy trong tim, ở đó dường như chúng được chuyển hóa sao đó, và phát lộ ra ngoài theo từng cơn thịnh nộ mà bà trút lên lũ trẻ và mấy nhân viên tiếp tân trong phòng khám.
Vẫn hiển hiện trước mắt bà hình ảnh Howard và Maureen phía sau quầy hàng, một gầy một béo, đầy vẻ hạ cố khi báo tin bạn bà đã chết. Bà căm hờn nghĩ, Bọn chúng đang vui mừng. Bọn chúng nghĩ giờ thì thắng chắc.
Bà đứng thẳng dậy, bước vào phòng khách, rút từ kệ cao nhất tập một cuốn Sainchis mới nguyên. Bà mở hú họa một trang và đọc mà không hề ngạc nhiên, chỉ thấy như đang nhìn vào chính khuôn mặt méo mó của mình trong gương. “Ngay lúc này, thế giới là cái hố đen sâu thăm thẳm. Từ khắp mọi phía, cái Chết giăng sẵn lưới vây. “
IX
Căn phòng dành làm phòng tư vấn của trường Winterdown Comprehensive tách biệt hẳn với thư viện trường. Phòng không có cửa sổ, chỉ được chiếu sáng bởi bóng đèn neon độc nhất.
Tessa Wall, là trưởng phòng tư vấn và là vợ của thầy hiệu phó, bước vào phòng lúc mười giờ rưỡi, người đờ ra vì mệt, tay cầm cốc café hòa tan pha đặc lấy từ phòng giáo viên. Cô có dáng người thấp mà thô, mặt bè bè, mái tóc tự cắt bắt đầu ngả xám, mái trước lam nham không đều, trang phục quê mùa, mê các loại đồ thủ công, kiểu như trang sức bằng gỗ và hột. Cái váy dài cô mặc hôm nay tựa như làm bằng vải bao bố, lại thêm cái áo khoác dày cộp cục mịch màu xanh lá. Tessa hầu như không bao giờ soi gương lớn và cô cũng cạch mặt cửa hàng nào gắn gương loại ấy.
Để phòng tư vấn đỡ giống xà lim, cô treo một tấm thảm Nepal có được từ hồi sinh viên: Tấm thảm sặc sỡ in hình mặt trời và mặt trăng vàng rực tỏa ra những đường gợn sóng tượng trưng cho tia sáng. Bề mặt tường trơ trụi còn lại đính đầy áp phích chứa những lời khuyên hữu ích để tự xốc dậy tinh thần, kèm số điện thoại để liên lạc khi cần tư vấn ẩn danh về sức khỏe và tâm lý. Trong lần ghé thăm phòng tư vấn vừa rồi, cô hiệu trưởng đã nhận xét với vẻ hơi châm biếm: “Nếu có gì trục trặc thì cứ gọi Đường Dây cho Trẻ em, tôi hiểu rồi.” Cô vừa nói vừa chỉ vào tấm áp phích nổi bật nhất.
Tessa buông mình xuống ghế, rên lên một tiếng, lần tháo cái đồng hồ siết chặt lấy cổ tay rồi quẳng nó lên bàn giữa đống giấy tờ ghi chép đủ loại. Cô chẳng rõ hôm nay mình có đủ sức tư vấn cho học sinh không, cũng chẳng biết liệu Krystal Weedon có đến không. Thường cứ mỗi lần buồn bực hay chán nản là con bé lại bỏ ra ngoài. Có khi chưa ra đến cổng nó đã bị thộp cổ dẫn vào, vừa đi vừa la hét chửi rủa ầm ĩ; cũng thi thoảng con bé lẻn ra được rồi cúp học luôn một hơi nhiều ngày. Đã mười giờ bốn mươi, tiếng chuông vang lên, Tessa bắt đầu đợi.
Krystal chạy xộc vào lúc mười giờ năm mươi phút, sập cửa đánh sầm. Con bé ngồi phịch xuống trước mặt Tessa, tay khoanh lại trước vòng một nảy nở, đôi bông rẻ tiền đong đưa trên tai.
- Cô đi mà nói với ồng cô rằng - giọng nó run run vì kích động - tui không cười cái quái gì hết, rõ chưa?
- Đừng có chửi thề trước mặt cô thế, Krystal - Tessa bình tình đáp.
- Tui không có cười - được chưa? - Krystal gào lên
Một đám học sinh cuối cấp ôm bìa hồ sơ đến thư viện. Chúng nhìn qua ô kính trên cửa, một đứa cười nhăn nhở khi nhận ra Krystal trong đó. Cô Tessa đứng dậy buông rèm che kín cửa sổ, rồi quay về chỗ ngồi trước tấm thảm có hình mặt trăng và mặt trời.
- Được rồi, Krystal. Em kể cô nghe chuyện vừa rồi đi.
- Ông chồng cô kể cái gì đó về ông Fairbrother, đấy, tôi có nghe ông ấy nói cái quái gì đâu, thế rồi con Nikki nó dụ tôi, rồi tôi không nhịn được cái mẹ nó...
- Krystal!
- ... Thì tui giật mình, thế, tui hét lên chứ có cười gì đâu! Tui không hề, mẹ nó...
- Krystal!
- Tôi không có cười, được chưa? - Krystal lại hét lên, hai tay khoanh chặt, chân bắt chéo.
- Cô nghe rồi, Krystal.
Làm việc trong phòng này, Tessa đã quen thấy bọn trẻ nổi nóng. Nhiều đứa thiếu cả những lễ phép tối thiểu: nói dối, quậy phá, bịp bợm thường xuyên, nhưng hễ bị buộc tội oan là chúng thực sự nổi khùng. Tessa thấy cái hằn học đó lại đáng tin cậy hơn vẻ giả tạo mà Krystal rất giỏi nặn ra khi vờ vĩnh. Thật ra âm thanh Tessa nghe trong buổi sinh hoạt toàn trường nghe có vẻ sốc và hốt hoảng chứ không có vẻ thích thú; cô đờ cả người khi Colin gọi đó là tiếng cười trước mặt cả trường.
- Tui thấy ông thầy Tủ...
- Krystal!
- Tui đã bảo ông chồng chết tiệt của cô...
- Krystal, cô nói lần cuối cùng đấy nhé, đừng có văng tục trước mặt cô
- Tui đã nói là tôi không có cười, tui có nói mà! Thế mà ổng vẫn phạt tui cấm túc, bà nó!
Con bé tức phát khóc, cặp mắt tô chì đậm đen nhòe nước. Máu dồn hết lên mặt nó đỏ bừng, nó trừng trừng nhìn Tessa, sẵn sàng chạy đi, chửi thề, chĩa ngón tay thối vào cô như đã làm sáng nay. Sợi dây tin cậy mong manh hai bên vất vả lắm mới xây dựng được suốt hai năm qua căng lên như sắp đứt phựt.
- Cô tin em, Krystal. Cô tin em không cười. Nhưng em ráng đừng có văng tục với cô chứ.
Con bé đột nhiên giơ mấy ngón tay mũm mĩm lên dụi cặp mắt lem luốc. Tessa rút ra nắm khăn giấy trong hộc bàn đưa cho Krystal, nó cầm lấy, không buồn cảm ơn, ấn lên mắt rồi xì mũi. Bàn tay của Krystal là phần đáng yêu nhất trên người nó, móng tay vừa ngắn vừa rộng, sơn màu lem nhem, và cách con bé cử động có gì đó trông thơ ngây như đứa bé.
Tessa chờ cho Krystal nguôi bớt rồi bảo: “Hẳn là em cũng rất buồn vì ông Fairbrother đã qua đời...”
- Vâng, đúng. - Tessa sốt ruột ngắt ngang - thế thì sao?
Tự nhiên Tessa hình dung Barry đang lắng nghe cuộc trò chuyện này. Cô nhìn thấy ông cười buồn bã, nghe ông nói rõ ràng “cầu chúa phù hộ cho trái tim con bé”. Tessa nhắm đôi mắt nhức nhối, không nói nổi nên lời. Cô nghe tiếng Krystal sốt ruột cọ quậy, nhẩm đếm chậm từ một tới mười rồi mở mắt. Krystal vẫn ngồi khoanh tay nhìn cô đầy vẻ thách thức.
- Cô cũng rất buồn vì ông Fairbrother đã ra đi - Tessa nói - Ông thật sự là người bạn lâu năm của mọi người ở đây. Chính vì vậy mà thầy Wall hơi...
- Tui đã bảo ổng là tui không...
- Krystal, để cô nói hết đã. Hôm nay thầy Wall cực kỳ đau buồn, có lẽ vì vậy mà thầy ấy... thầy ấy hiểu nhầm hành động của em. Cô sẽ nói chuyện với thầy.
- Ổng sẽ không đổi cái lệnh phạt chết tiệt...
- Krystal!
- Thì thôi, nhưng ổng không đổi ý đâu.
Krystal tức tối rung chân lia lịa, thúc cả vào chân bàn Tessa đang ngồi. Cô rút tay không tỳ vào bàn nữa để tránh bị rung theo rồi lặp lại: “Cô sẽ nói chuyện với thầy Wall.”
Cô cố giữ vẻ trung lập, kiên nhẫn đợi Krystal chịu nghe lời trở lại. Con bé hậm hực ngồi im, đá chân bàn, nuốt khan liên tục.
- Thế ông Fairbrother bị sao vậy? - Cuối cùng nó hỏi.
- Bác sĩ nói động mạch não bị vỡ - Tessa đáp.
- Sao lại thế?
- Vì ông ấy có dị tật bẩm sinh mà không biết.
Tessa hiểu Krystal quen đối mặt với những cái chết bất ngờ hơn cô nhiều. Những người qua lại với mẹ Krystal đột tử liên tục tới nỗi ngỡ như họ tham gia vào trận chiến bí mật nào đó mà chẳng ai hay biết. Năm Krystal sáu tuổi, con bé từng kể nhìn thấy trong nhà tắm của mẹ có xác một thanh niên. Đó là một trong nhiều lý do khiến con bé dọn sang ở hẳn với bà cố nội Nana Cath. Bà có mặt trong phần lớn những chuyện Krystal kể thời nhỏ, với nó, bà khắc nghiệt nhưng lại là vị cứu tinh duy nhất.
- Giờ cả đội coi như chìm mẹ nó rồi - Krystal lên tiếng.
- Không đâu - Tessa đáp. - Với lại, đừng có văng tục chứ, Krystal.
- Nó chìm chắc rồi - Krystal đáp.
Tessa muốn phản đối nhưng cô kiệt sức không cất lời nổi. Krystal nói đúng, một phần lý trí trong Tessa thầm công nhận như vậy. Đội đua thuyền tám tay chèo sẽ tan rã. Chẳng ai ngoài Barry đưa được Krystal Weedon vào một nhóm và giữ chân nó trong đó. Con bé sẽ bỏ đội, Tessa biết, mà có lẽ tự Krystal cũng rõ. Họ cùng ngồi yên lặng một lúc, Tessa quá mệt, không nghĩ ra được lời nào để thay đổi không khí. Cô thấy run rẩy, yếu đuối, đau nhức tới tận xương tủy vì thức suốt hai mươi tư giờ qua.
(Samantha Mollison gọi điện từ bệnh viện lúc 10g, ngay lúc Tessa vừa ra khỏi bồn tắm để xem tin tức trên kênh BBC. Cô mặc vội quần áo trong khi Colin lẩm bẩm gì đó không rõ, vấp vào hết thứ này đến thứ khác. Hai vợ chồng gọi với lên lầu cho con trai, báo ra ngoài, rồi hấp tấp chạy ra xe. Colin phóng xe điên cuồng tới Yarvil, như muốn vượt qua mặt thực tại để lừa nó thay đổi.)
- Nếu cô không nói gì nữa thì tui đi đây - Krystal nói.
- Đừng có bất lịch sự thế Krystal - Tessa bảo - Sáng nay cô mệt rã rời. Thầy Wall với cô đã ở trong bệnh viện suốt tối qua với vợ ông FairBrother. Hai vợ chồng họ đều thân với nhà cô.
(Khi Tessa tới, Mary đã hoàn toàn suy sụp, chị ta ôm chặt lấy cô, vùi mặt vào cổ cô mà thất thần nức nở. Cả trong lúc nước mắt cô rơi xuống tấm lưng mảnh dẻ của Mary, cô vẫn nghe rõ tiếng gào khóc của bạn. Thân hình mảnh mai hấp dẫn mà Tessa thường ghen tị giờ run rẩy trong tay cô, không chịu nổi gánh thương đau ập xuống.
Tessa không nhớ vợ chồng Miles và Samantha ra về lúc nào. Cô chẳng thân với nhà đó, và nghĩ rằng họ cũng khá mừng khi được rời đi.)
- Em gặp vợ ông ấy rồi - Krystal nói - Tóc vàng. Bà ấy tới xem tụi em đua.
- Ừ - Tessa đáp.
Krystal gặm gặm đầu ngón tay.
- Ông ấy định cho em phỏng vấn với báo chí - Đột nhiên con bé nói.
- Chuyện gì kia? - Tessa không hiểu.
- Ông Fairbrother. Định mời người phỏng vấn em. Mình em thôi.
Khi trước tờ báo địa phương từng có bài về đội đua thuyền trường Winterdown đoạt giải nhất cấp vùng. Krystal khi ấy vốn đọc kém nên mang bản sao bài báo đến nhờ Tessa, cô đã đọc to bài ấy lên, tự thêm vào nhiều lời khen ngợi động viên. Đó là buổi tư vấn vui vẻ nhất của cô.
- Báo phỏng vấn em về vụ đua thuyền à? - Tessa hỏi - phỏng vấn cả đội à?
- Không - Krystal đáp - Chuyện khác kia. Thế đám tang là khi nào? - Con bé hỏi thêm
- Còn chưa biết được. - Tessa đáp.
Krystal lại gặm móng tay, Tessa quá mệt để có thể làm gì đó phá vỡ bầu không khí im lặng này.
X
Mẩu thông báo về cái chết của Barry đăng trên website của hội đồng địa phương chìm nghỉm không tăm tích trong làn sóng tin tức xôn xao. Sáng thứ Hai đó, đường dây điện thoại tại Pagford đồng loạt bận, từng nhóm nhỏ người đi đường tụ tập trên vỉa hè hẹp để hỏi đi hỏi lại tin nghe được bằng giọng kích động.
Tin tức lan đi cùng vài chuyện kỳ quặc phát sinh. Chữ ký của Barry hãy còn rải rác trong các hồ sơ tại văn phòng và dưới email gửi vào inbox cả núi người ông quen biết giờ nhuốm màu sắc bi thương như mẩu vụn bánh mì thằng bé lạc trong rừng để lại. Nét ký tháu từ những ngón tay nay đã vĩnh viễn bất động vẫn làm người ta sởn gai ốc. Gavin bắt đầu bực bội khi thấy tin nhắn từ ông bạn đã chết còn trong điện thoại. Rồi có cô bé trong đội đua thuyền, khi rời buổi sinh hoạt toàn trường hãy còn khóc, đột nhiên tìm thấy trong cặp tờ đơn Barry từng ký, thế là suýt phát điên vì sợ.
Cô phóng viên 23 tuổi làm cho tờ Yarvil và District Gazette không hề biết rằng bộ óc bận rộn của Barry nay đã nằm bèo nhèo như miếng bọt biển trên khay kim loại tại bệnh viện Trung tâm Tây Nam. Cô đọc email Barry gửi mình độ một giờ trước khi chết rồi bấm số di động của ông nhưng không ai trả lời. Barry đã chiều ý vợ tắt điện thoại khi đi đến câu lạc bộ golf, giờ nó nằm yên lặng cạnh lò vi sóng trong bếp cùng với những món đồ cá nhân bệnh viện gửi người nhà đem về. Không ai chạm vào chúng. Thẻ chìa khóa, điện thoại di động, chiếc ví cũ sờn, những món đồ quen thuộc ấy như một thành phần thực sự thuộc về người đã khuất, cũng như ngón tay hay lá phổi của ông.
Tin tức về cái chết của Barry cứ thế tỏa ra khắp hướng từ những người có mặt trong bệnh viện. Nó bay tới tận Yarvil, lọt vào tai những người chỉ mới thấy hay nghe qua danh tiếng của Barry. Dần dà, tin ấy mất đi những điểm chính, thậm chí bị bóp méo đi. Lắm lúc, tin buồn về một người đã ra đi biến thành mớ hổ lốn các chi tiết giật gân, biến Barry thành một đống co giật vừa nôn vừa són, rốt cục có vẻ như kiểu báo tin ấy làm người ta thấy có cái gì đó không phải phép, thậm chí buồn cười đến lố bịch trong cái chết chẳng lấy gì làm đẹp mắt của ông ta tại câu lạc bộ golf nhỏ bé ấy.
***
Simon Price sống trong căn nhà trên đỉnh đồi, từ đó nhìn bao quát được khắp Pagford. Gã là một trong số những người đầu tiên nghe tin về cái chết của Barry, nhưng tin tức mới quanh vụ này lại đến từ xưởng in Harcourt - Walsh, nơi gã làm việc suốt từ khi rời ghế nhà trường. Tin này xì ra từ tay tài xế xe nâng trẻ suốt ngày nhóc nhách nhai kẹo cao su. Một chiều muộn nán lại làm việc, Simon phát hiện nó lẩn lút cạnh cửa phòng làm việc khi gã đi toilet về.
Lúc đầu, thằng nhóc chẳng nói gì về vụ Barry.
- Cái món ông anh nói có khi muốn mua - nó rì rầm sau khi theo chân Simon vào phòng và cửa đã đóng lại - Thứ Tư thằng này mang tới được đấy, nếu ông anh còn khoái.
- Thế hả? - Simon ngồi xuống ghế sau bàn làm việc - Chẳng phải chú mày bảo hàng sẵn sàng hết rồi sao?
- Thì thế, nhưng mà tới thứ Tư mới sắp xếp đi lấy được.
- Nói lại xem, hôm trước chú mày bảo bao nhiêu tiền?
- Tám chục vé, tiền mặt.
Thằng nhãi nhai kẹo cao su tòm tọp, Simon nghe được cả tiếng nước miếng nhóp nhép. Nhai kẹo cao su là một trong nhiều thứ Simon ghét cay đắng.
- Phải đáng tiền đấy nhé? - Simon đòi hỏi - Rác rưởi thì khỏi chơi nhé.
- Lấy từ kho ra luôn mà - Thằng nhóc vặn vẹo chân và vai - hàng thật đấy, còn nguyên trong thùng.
- Thế được rồi - Simon bảo - Thứ Tư mang đến đây.
- Cái gì, ở đây hả? - nó đảo mắt - Không, giao ở chỗ làm không được đâu... Thế ông sống ở đâu?
- Pagford - Simon đáp.
- Pagford mà chỗ nào chứ?
Simon không thích nhắc tới nhà cửa vì một niềm tin gần như là mê tín. Gã ghét khách khứa không chỉ vì xem đó là bọn chuyên xâm phạm sự riêng tư, có khi còn phá hoại tài sản gia chủ, mà còn vì tự cho Nhà Trên Đồi của mình là nơi thanh khiết bất khả xâm phạm, tách hẳn khỏi Yarvil và xưởng in ầm ĩ.
- Mai hết giờ làm tao qua lấy - Simon làm như không nghe câu hỏi - Chú mày để nó ở đâu.
Thằng nhóc có vẻ không vui. Simon nhìn nó chòng chọc.
- Thế thì cho thằng em lấy tiền mặt trước - tên lái xe trì hoãn.
- Khi tao có hàng thì chú mày có tiền.
- Có ai làm ăn vậy đâu ông anh.
Sinmon bắt đầu thấy đau đầu. Gã không gạt được cái ý nghĩa mà bà vợ vô ý gieo vào đầu hồi sáng này, rằng trong đầu người ta có khi giấu trái bom nhỏ tí hàng nhiều năm không ai hay biết. Rõ ràng tiếng máy chạy rầm rập ngoài kia chẳng có lợi cho gã chút nào, có khi nhiều năm nay nó đã bào mỏng thành động mạch của gã rồi cũng nên.
- Thôi được - Gã càu nhàu, nhích mông rút ví. Thằng nhãi tiến lại cạnh bàn xòe tay ra.
- Ông anh có sống gần sân golf Pagford không? - Hắn hỏi trong khi Simon đang đếm tiền - Tối qua thằng bạn tui bên đó thấy có gã lăn ra ngoẻo. Cứ thế phun vòi ra rồi gục luôn trong bãi gửi xe.
- Ờ, tao có nghe nói - Simon đáp, miết tay vào tiền trước khi đưa phòng hai tờ tiền dính vào nhau.
- Ủy viên hội đồng biến chất, cái tay mới chết ấy. Gã đi đêm với bên Grays để cho cánh ấy nhận thầu.
- Thế hả - Simon hỏi cầm chừng dù đang dỏng cả hai tai lên.
Barry Fairbrother làm thế, ai mà ngờ chứ?
- Tìm ông anh sau nhá - Thằng nhóc vừa nói vừa nhét kỹ tám chục bảng vào túi sau - Ta cùng đi lấy hàng, thứ Tư này.
Cửa văn phòng đóng lại. Simon quên hẳn cơn nhức đầu thoáng qua vì mải phấn khích với cái tin Barry đi đêm. Barry Fairbrother, người bận rộn như thế, hòa đồng như thế, nổi tiếng và nhiệt huyết như thế, ấy mà hồi giờ vẫn ăn của đút từ Grays.
Giả như tin này đến tai những người quen khác của Barry hẳn họ sẽ bất ngờ hơn Simon gấp nhiều lần. Nhưng Simon thậm chí không vì chuyện này mà thấy Barry kém cỏi đi, ngược lại, gã càng thêm kính trọng người đã khuất. Bất kỳ ai có não cũng đều đang liên tục và ngấm ngầm làm mọi cách để vơ vét về mình càng nhiều càng tốt, Simon biết thế. Gã đờ đẫn nhìn bảng tính trên màn hình máy tính, tai lại ù đặc vì tiếng máy ầm ầm đằng sau cánh cửa sổ đầy bụi.
Một khi đã có gia đình thì anh chẳng có cách nào khác là cắm đầu cày cuốc mỗi ngày từ chín giờ sáng tới năm giờ chiều. Nhưng Simon biết, luôn có lựa chọn khác hay ho hơn: viễn cảnh cuộc sống thoải mái dư dật lơ lửng trên đầu hắn như quả bầu đất đựng quà, chỉ cần hắn kiếm được cây gậy đủ to và đập đúng chỗ là lấy được thứ bên trong. Simon vẫn giữ một niềm tin rất trẻ con rằng những người còn lại ngoài gã ra chỉ tồn tại để mà kéo lê cho hết bi kịch của riêng họ mà thôi; rằng vận mệnh treo trên đầu gã, chăng đường chỉ lối cho gã. Ngay lúc này, gã không kìm được cảm tưởng rằng gã đã được ban cho một dấu hiệu, một cái nháy mắt từ thiên đàng.
Trước đây, không ít lần những lời chỉ dẫn siêu nhiên này là nguồn cơn những quyết định viển vông của Simon. Nhiều năm trước, khi còn là anh thợ học việc hạng bét trong xưởng in, vợ gã đang có thai, lại thêm gánh nợ cầm cố gắng lắm mới xoay xở nổi, thế mà nhân giải đua ngựa Grand National, gã dám cược cả trăm bảng cho con ngựa rất được ưa thích thời đó tên Bé Cưng của Ruthie, con này rốt cục về áp chót. Chẳng bao lâu sau hai vợ chồng mua được Nhà Trên Đồi, Simon cầm 1,200 bảng mà Ruth dự tính dùng để sắm sửa rèm và thảm để đầu tư dạng sở hữu thời gian sử dụng (time-share) với một người quen cũ ở Yarvil, tay này hóa ra là kẻ bịp bợm, nên khoản đầu tư của Simon bốc hơi cùng tay giám đốc. Lần đó Simon nổi điên, chửi bới, còn đá thằng con nhỏ lăn từ cầu thang xuống đất vì tội vướng chân gã, thế nhưng lại không hề báo cảnh sát. Trước khi đầu tư, gã biết lề lối kinh doanh của công ty có nhiều chỗ bất thường, nên thế nào cảnh sát cũng hỏi nhiều câu khó đỡ khi nhúng tay vào điều tra.
Dù thế, cũng có lúc gã gặp may, linh cảm đúng như thần mách, thế nên khi đong đếm thì Simon vẫn chọn tin vào những điềm báo này. Cũng chính vì thế mà gã vẫn tin cậy vào ngôi sao chiếu mệnh, vẫn vững lòng rằng vũ trụ này hẳn còn dành sẵn thứ gì đó cho gã, chứ không thể nào cứ mãi kiếp làm thuê với đồng lương bèo bọt tới tận khi nghỉ hưu rồi chết. Gian lận, đi lối tắt, nhờ vả rồi đền đáp, ai cũng làm thế cả thôi, kể cả Barry bé nhỏ, giờ cháy nhà mới ra mặt chuột là thế.
Trong căn phòng làm việc chật chội, Simon Price thèm khát nhìn trừng trừng vào cái ghế khuyết trong guồng máy đó, nơi mà tiền vẫn đổ xuống chỗ trống nhưng không có ai chờ hứng.