(Một câu chuyện thiếu nhi từ gần 60 năm trước...)

Chiếc Tủ Chè Mất Tích

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 11
CĂN HẦM BÍ MẬT

❊ ❊ ❊

Ba cô gái nhảy lùi ra một bước. Dưới chân họ, một khoảng tối từ từ lộ ra, rộng dần, rộng dần. Cuối cùng, nắp căn hầm đã được một bộ máy bí mật kéo lên sát tới bức vách trong của lò sưởi.

Chiếc xe Jeep đã vào tới sân. Động cơ rú lên rồi tắt hẳn. Một tiếng xịch khô khan, xe ngừng lại ngay cửa phòng ông bà Năm. Lúc này ba cô gái đã nhảy xuống hầm. Họ đang loay hoay tìm cái chốt để sập cửa xuống. Bây giờ thì tới lượt Ngọc gặp may mắn. Nàng tìm thấy cái chốt ngay bên cạnh cầu thang dẫn xuống hầm. Nắm tay xoay mạnh về bên trái một nửa vòng, Ngọc nghe thấy tiếng kẹt kẹt nổi lên và nắp hầm sập xuống thật khít khao.

Thì ra gia đình bà Phương đã cho làm cánh cửa hầm bằng sắt dầy, phía trên cũng lót gạch y như những phần khác trong lò sưởi. Hai cái chốt trên và dưới được nối liền với cửa hầm bằng một hệ thống dây cáp và bánh xe thật tinh vi. Ở ngoài nhìn vào, chẳng ai có thể nhận ra sự khác biệt nào giữa nắp hầm với ba bức vách chung quanh hết.

Phía dưới hầm, bóng tối phủ dầy đặc chung quanh ba cô gái. Họ nghe loáng thoáng từ bên ngoài vọng lại tiếng kêu the thé của bà Năm:

- Các cô ơi! Cô Minh đâu rồi? Cô Thu ơi! Cô Ngọc ơi!

Bà ta chạy từ phòng này qua phòng kia, vừa chạy vừa lần lượt gọi tên từng người một.

Ba cô gái gần như nín thở. Họ nghe rõ từng hơi thở dồn dập, từng tiếng trống thình thịch trong lồng ngực.

Từ phía trên đầu họ vang lên những tiếng rầm rầm của cánh cửa bị đóng mạnh mỗi khi ông bà Năm rời phòng này qua phòng khác.

Mặt hai người đỏ bừng lên, mồ hôi trên mặt họ chảy xuống từng giọt. Ông Năm vừa xục xạo khắp chỗ, vừa lẩm bẩm rủa sả luôn miệng:

- Chắc chúng còn ở trong nhà này. Va-li và quần áo chúng vẫn còn để nguyên trên phòng. Chắc chúng đang trốn ở chỗ nào đây.

Có tiếng ông Năm:

- Có lẽ chúng đi đường tắt đến căn nhà gỗ trong rừng rồi. Đúng ra ban nãy mình phải dời cái tủ đến một chỗ khác để chúng không thể nào biết được. Chứ bây giờ mà chúng thoát về báo cho nhà trường thì công trình của tôi trong suốt sáu tháng vừa qua cũng vứt đi hết mà thôi.

Bà Năm nghiến răng:

- Vì thế, bằng mọi cách, mình phải làm sao để giữ chúng ở lại đây cho đến tối mai mới được. Khi ấy, cái tủ sẽ thuộc về chúng ta. Tôi và ông sẽ không còn phải lo lắng gì nữa.

Ông Năm nở một nụ cười méo mó:

- Hừ, không còn phải lo lắng gì nữa ngoại trừ làm sao cho mùi dầu bóng bay mất, để giống như cái tủ thật ở đường Tự Do. Chẳng cần lo lắng gì ngoài việc đánh lừa ngay những tay sành đồ cổ nhất trong xứ này nữa. Tức quá! Giá bà với tôi hiểu được những câu bí hiểm trong cuốn Kinh Thánh ăn trộm của lão già thì đỡ biết bao nhỉ?

Bà Năm gật đầu:

- Ờ, phải đó. Lúc kiếm được mảnh giấy nhỏ trong ấy, tôi đã tưởng xong chuyện rồi chứ. Nào ngờ đọc đi đọc lại điên cả đầu lên mà chẳng biết đầu đuôi ra sao hết!

Ông Năm bĩu môi:

- Bà cô của bà thực cuồng tín hết chỗ nói! Chỗ nào trong nhà cũng có những mảnh giấy nhỏ ghi mấy câu Kinh Thánh của bà ấy. Cho nên chưa chắc mấy mảnh giấy nhỏ ấy có liên quan gì đến cái tủ đâu. Tôi cho rằng bức mật thư nằm trong những câu Kinh Thánh gạch dưới bằng bút đỏ. Nếu có thì giờ đọc kỹ những câu đó, có thể mình sẽ lần ra manh mối.

Bà vợ nói:

- Đúng thế. Nhờ thế mình sẽ tìm được bằng cớ chứng tỏ cái tủ có từ đời Gia Long.

Ông chồng tiếp lời:

- Và biết đâu mình lại còn biết được chỗ để cái tủ chè gia bảo của bà ấy? Khi đó, bà với tôi sẽ không còn bận tâm gì tới công trình giả mạo khéo léo của tôi nữa.

Bà vợ ngồi xuống chiếc ghế bành trong phòng khách:

- Tôi với ông đã moi móc khắp xó xỉnh trong trại này mà cái tủ vẫn biệt tăm. Nếu chẳng có tờ di chúc, cũng như nếu không nghe được bà con kể lại thì tôi đã nghi ngờ sự có mặt của cái tủ chè ấy trên thế gian rồi.

Ông Năm nói bằng giọng châm biếm:

- Không ngờ bà cô già của mình lại cắc cớ đến thế! Việc gì mà bà ấy phải bày đặt cho rắc rối như vậy? Muốn để lại cái tủ chè thì cứ bày hẳn ra đây có phải hơn không!

Bà Năm cũng chua cay chẳng kém:

- Chắc bà ấy cũng biết ông là hạng người như thế nào nên muốn làm vậy để nhà trường được cái tủ.

Ông chồng vừa tức giận, vừa xấu hổ. Nhưng ông ta cũng chỉ dám đỏ mặt lên và cắn chặt hàm răng lại thôi. Vài phút sau có tiếng ông la:

- Thôi, mình thử lên lầu và trần nhà xem chúng có trốn trên đó không!

Ba cô gái nghe những tiếng chân sầm sập chay lên thang lầu. Họ ngồi xuống bậc gạch rộng, dựa lưng vào vách. Mùi ẩm mốc khiến cho Thu và Minh nhảy mũi liên tiếp mấy cái. Mắt họ đã quen dần với bóng tối, nhưng vẫn chỉ thấy lờ mờ mấy bậc thang bên dưới thôi. Từ nãy đến giờ, trong lúc vợ chồng ông Năm còn ở trong phòng khách, họ gần như không dám thở nữa. Mấy lần muốn hắt hơi, Thu và Minh đều phải bịt mũi, bịt miệng thật chặt rồi nuốt nước miếng thật mạnh, đầu cúi gầm xuống.

Cổ họng họ như bị thắt lại, đầu gối họ run lập cập. Mồ hôi vã ra đầm đìa trên trán và các kẽ ngón tay. Mãi cho đến lúc những tiếng rầm rập trên thang gác đã lắng, Ngọc mới dám quay sang Minh thì thầm:

- Mình làm sao bây giờ đây? Đâu có thể để cho họ bắt giữ mình được?

Minh lắc đầu:

- Tôi cũng biết vậy. Nhưng mình không thể rời khỏi đây ngay bây giờ được. Ho sẽ bắt được mình trước khi mình rời khỏi tòa nhà này.

Thu tiếp lời:

- Và ngoài ra, mình còn phải xem có cái tủ trong này không nữa?

Ngọc chép miệng:

- Phải chi tụi mình có thể nhìn thấy rõ ràng những thứ ở dưới này nhỉ? Tối quá, có muốn bước xuống vài bậc thang nữa cũng không dám.

Thu đứng bật dậy:

- Đãng trí quá vậy Ngọc? Cái đèn bấm lúc nào bồ chẳng cất trong túi?

Ngọc “à” một tiếng mừng rỡ, móc đèn bấm ra đứng dậy theo.

 Ánh sáng từ cây đèn bấm mở một con đường cho họ đi xuống hết những bậc thang xi măng. Càng xuống dưới, đường đi càng rộng hơn, cho tới lúc họ bước vào một căn phòng nhỏ mỗi bề chừng ba thước. Ở sát vách bên trong, nổi bật lên một đồ vật có hình dạng đồ sộ. Chùm tia sáng soi rõ lớp bụi dày phủ trên vật ấy!

- Minh, xem kìa! Ngọc gần như nghẹn lời sau khi thốt ra câu vừa rồi. Trong một lúc, cả ba người đứng lặng người, không ai nói được một lời nào nữa.

Cái tủ chè trước mặt họ toát ra một vẻ cổ kính, thiêng liêng kỳ lạ, khiến cho họ tràn ngập một nỗi xúc động sâu xa. Mãi một lúc sau, Minh mới lên tiếng:

- Thật là tuyệt diệu! Trông không khác gì cái tủ ở đường Tự Do, cũng như cái trong căn nhà gỗ hết!

Thu sờ lên những đường chạm trổ trên bốn chân và hai bên hông tủ, trầm trồ:

- Cái tủ trong căn nhà gỗ cũng mang những đường nét y hệt như thế này!

Ngọc rọi đèn bấm lên cánh tủ và các ngăn kéo, nói tiếp:

- Và những hình sơn thủy nạm bằng ốc xà cừ này nữa! Cũng là mấy con chim khuyên chuyền trên cành hoa, hai ông tiên ngồi đánh cờ và mấy con rồng uốn khúc giữa đám mây. Nghệ thuật bắt chước mà lên đến mức này là nhất rồi.

Minh kéo thử ngăn tủ trên cùng. Ngăn này mở và đóng thật trơn như có thoa mỡ. Dù đã được làm ra từ gần hai trăm năm nay, mấy ngăn kéo và hai cánh tủ vẫn chắc và khít khao chẳng khác gì cái tủ mà ông Năm vừa hoàn thành hết.

Thu rút khăn trong túi chùi lớp bụi trên những hình chạm xà cừ. Nàng reo lên như một đứa trẻ con:

- Sướng quá! Không ngờ mình lại được may mắn như thế này.

- Suỵt, Minh thì thầm, ra hiệu cho bạn, Nói lớn quá, coi chừng ông bà Năm nghe được thì khốn đấy.

Ba cô gái yên lặng một lúc khá lâu. Cuối cùng có tiếng Thu:

- Bây giờ mình phải tìm xem bằng cớ gì thêm không. Dù biết đây là cái tủ thật rồi, nên có được bằng cớ gì thì lời nói mình vẫn có giá trị hơn chứ?

Họ cẩn thận mở từng ô kéo, tìm tòi từng ngăn nhỏ trên dưới xem có mảnh giấy hay chứng tích gì còn lại không. Nhưng tìm đi tìm lại mãi mà không thấy chi hết.

Tưởng rằng không còn hy vọng gì nữa, ba cô gái đóng hai cánh cửa và những ngăn kéo lại. Bỗng Minh reo lên:

- Ô kìa, có một tấm bảng đồng nhỏ ở ngay dưới cánh cửa tủ. Mình xem thử coi trên đó có khắc gì không?

Ngọc rọi đèn bấm sát vào cánh cửa. Ba cô gái chăm chú nhìn những dòng chữ trên tấm bảng. Minh thở dài:

- Ồ, toàn là chữ Hán thôi, làm sao tụi mình hiểu được?

Thu quan sát tấm bảng đồng thật kỹ rồi nói:

- Có thể đây là lời đề tặng của người đóng cái tủ cho Cụ Trần Phú. Trong những chữ này, tôi chỉ nhận được có mỗi ba chữ “Trần” và “Tiên sinh” thôi. Ngoài ra thì ngày tháng thì hai bồ cũng nhìn vào đây để biết được rằng thời gian gửi tặng cái tủ là năm 1803.

Minh rút cuốn sổ ghi chú và cây viết chì ra. Nàng xé lấy một mảnh giấy:

- Để tôi can ke những chữ khắc này rồi khi về trường báo tin, mình sẽ nhờ thầy Xương xem dùm. Thầy ấy là giáo sư Việt Văn, chắc phải rành chữ Hán lắm.

Ngọc đợi Minh làm xong mới hỏi:

- Bây giờ thì mình phải làm sao đây?

Thu nói:

- Tìm cách trốn ra và về trường báo tin chứ còn gì nữa. Ngừng lại vài giây rồi Thu tiếp:

- Nhưng vấn đề bây giờ là thoát ra ngoài bằng lối nào đây. Ông bà Năm dám thả hai con chó săn để lùng chúng mình lắm đó!

Sự lo ngại của Thu thật không sai chút nào. Ngay lúc ấy có tiếng chó sủa vang lên bên ngoài. Ba cô gái cảm thấy dường như họ chỉ ở cách mặt đất có một vách ngăn mỏng thôi. Quan sát phía trên trần căn hầm thật kỹ, họ nhận ra bốn lỗ thông hơi cỡ 20cm đường kính. Có lẽ bốn lỗ này được nối với phía trên bằng một hệ thống ống hơi đặc biệt, có ngụy trang ở khắp mặt đất. Minh chợt nhớ ra rằng phía bên trái tòa nhà là một bãi đất hoang có rào dây kẽm gai chi chít. Chắc hai con chó hung dữ kia đang sục sạo khắp bụi bờ để đánh hơi người lạ đây.

Khoảng một nửa giờ sau, tiếng chân rầm rập của ông bà Năm vang lên. Họ vào phòng khách một lần nữa. Có tiếng ông Năm:

- Nầy bà, chắc chúng không trở lại căn nhà gỗ đâu. Tôi vừa chạy lại xem xét rồi. Cái tủ vẫn còn y nguyên. Khóa và các cửa sổ đều gài chặt.

Không biết bà Năm nói léo nhéo câu gì mà ông chồng phải phân bua:

- Thôi mà, bây giờ bà trách tôi thì có ích lợi gì đâu? Để thủng thẳng rồi tôi tính mà. Chắc chắn chúng không thể nào thoát khỏi nơi đây được đâu!

Bà Năm vẫn giữ nguyên giọng hằn hộc:

- Ông bảo chúng vẫn còn quanh quẩn trong nhà này. Vậy thì chúng ở đâu? Cả giờ rồi mà cứ lải nhải mãi có một câu ấy không à! Còn hai con chó đâu? Ông đã thả chúng ra để kiếm bọn ấy chưa?

Ông Năm dịu giọng:

- Được rồi, bà cứ yên tâm. Mọi việc để tôi lo cho. Còn hai con chó thì tôi đã thả ra nãy giờ rồi. Chúng nó chạy đằng trời mới thoát khỏi tay tôi!

Nói xong, họ lại tiếp tục đi tìm ở những phòng khác vừa đi vừa réo tên ba cô gái ầm ĩ.

Bây giờ Thu, Minh và Ngọc cùng leo lên mấy bậc thang gần quan sát nắp hầm để lắng nghe động tĩnh. Tiếng chó sủa vẫn vang lên từ phía bên ngoài. Minh giơ tay nhìn chiếc đồng hồ dạ quang. Đã gần 12 giờ rồi. Ba cô gái đã bớt lo sợ, nhưng bắt đầu cảm thấy đói bụng. Chắc giờ này ông bà Năm đang ở dưới phòng ăn. Đợi một lát không còn nghe  thấy tiếng chân và giọng nói của ông bà Năm nữa, Thu nắm chặt cái chốt cửa hầm xoay ngược lại một góc chừng 30 độ. Cửa hầm từ từ hé mở. Hơi mát lùa vào giúp họ tỉnh táo hẳn ra.

Minh nói với Thu:

- Bồ cứ giữ yên cái chốt ở vị trí này đi, để tôi bò ra ngoài xem thử có gì lạ không.

     Cửa hầm hé mở vừa đủ cho Minh chui ra. Nàng khom người chạy vụt lại phía cửa ra vào. Hai con chó săn đã được cột vào cổng ngoài bằng một sợi dây dài chừng ba thước. Chúng đang nhe răng nanh, lè lưỡi, rãi chảy lòng ròng, sẵn sàng chờ đợi những kẻ muốn thoát ra ngoài.

Bỗng hai con chó quay về phía phòng khách sủa vang. Minh vội chui tọt vào hầm. Thu xoay cái chốt trở về vị trí cũ. Nắp hầm hạ xuống kéo theo bóng tối tràn ngập chung quanh.

Minh thì thầm:

- Hết đường chạy rồi. Ông bà Năm cột hai con chó ở ngoài cổng để canh tụi mình. Phải tính lối nào khác mới được!

Thu nói nhỏ:

- Mình phải làm sao báo cho nhà trường biết, muộn nhất là tối nay thì mới kịp được!

Ngọc nhăn mặt:

- Làm sao thì làm, đến tối nay mà chưa có cái gì ăn thì dám bỏ xương chốn này lắm đó!

Ba cô gái lại trở xuống phía dưới. Vừa mệt vừa đói, họ dựa lưng vào vách rồi thiu thiu ngủ lúc nào không biết.

Khi tỉnh dậy, nhìn đồng hồ tay thì Minh thấy đã hơn bốn giờ chiều rồi. Nàng lay hai cô bạn dậy. Cả ba vừa tỉnh ngủ thì cảm giác cồn cào lại đến xâm chiếm bao tử họ. Vi trùng đói như những sợi dây cước cứ tiếp tục thắt chặt cái túi trống rỗng là cõi lòng của họ mà từ sáng đến giờ mới chỉ tiếp nhận có mỗi một bữa ăn vội vã mà thôi.

Mấy năm trước trong giờ Việt Văn, họ đã được thưởng thức đoạn văn tả cái anh chàng Sinh nào đó, bụng đói meo, đứng trên gác trọ ngửi mùi xào nấu thơm phưng phức ở dưới nhà xông lên mà lòng đau như cắt. Họ đâu có bao giờ tưởng tượng nổi cái cảm giác đói nó lại mãnh liệt như thế này. Nãy tới giờ có được uống ly nước nào đâu mà sao họ cảm thấy như có một thứ chất lỏng kỳ lạ thỉnh thoảng lại cuồn cuộn lên trong bụng.

Chợt phía trên phòng khách có tiếng ông bà Năm vọng xuống. Ba cô gái lần lên mấy bậc thang sát nắp hầm để nghe cho rõ.

Giọng nói đầy uy quyền của bà Năm vang lên trước:

- Ông về phòng lấy cho tôi cuốn Kinh Thánh.

Ông Năm ngần ngại:

- Nhưng mình đã đọc mấy lần rồi mà có thấy gì mới lạ đâu?

Bà vợ quát:

- Ông có đi lấy hay không thì bảo!

Có tiếng nói líu ríu gì đó của ông chồng, các cô không nghe rõ. Chẳng biết tiếp theo là mấy phút yên lặng hoàn toàn trước khi ông Năm lại bước vào phòng.

Bà Năm đỡ lấy cuốn Kinh Thánh ông chồng vừa đưa. Bà ta lật qua lật lại một lúc rồi hỏi ông chồng:

- Mảnh giấy nhỏ kẹp trong này đâu rồi?

Ông Năm ấp úng:

- Tôi đâu có biết.

Bà vợ giận dữ:

- Hừ, cái gì cũng không biết! Chiều hôm qua tôi còn thấy nó ở trong này mà? À, có phải tối hôm qua ông đưa cuốn sách cho bọn chúng xem không? Hèn chi mà chẳng mất!

Ông chồng cố bào chữa:

- Tôi đâu có đưa. Bọn chúng lẻn vào mở ra coi đấy chứ! Nhưng mà không hề gì đâu. Tôi có ghi lại những câu ấy ở ngoài lề trang sách cuối cùng rồi.

Bà Năm dậm chân:

- Nhưng vậy thì chắc chắn chúng đã bỏ túi mảnh giấy ấy và giải đoán ý nghĩa các câu đó rồi. Chúng đã tìm được chỗ giấu cái tủ, tại sao tôi với ông lại không tìm ra nhỉ?

Ở dưới hầm, ba cô gái toát mồ hôi. Ngọc run run giọng hỏi Minh:

- Chết rồi, họ đoán được thì sao?

Minh bình tĩnh hơn:

- Đừng lo, họ chắc không hiểu nổi đâu!

   Bà Năm đọc câu Kinh Thánh thứ nhất. Nghe dứt câu ông chồng lẩm bẩm:

- Con của sự sáng… Tôi thắc mắc về hai chữ “sự sáng” này. Hay đây nói về một căn phòng sáng sủa? Trong nhà này, căn phòng nào sáng sủa nhất?

Bà Năm ngập ngừng:

- Dĩ nhiên là phòng nào có nhiều cửa sổ thì phải sáng nhất chứ. Nhưng không biết…

Ông Năm reo lên:

- Chúng ta đang ở trong căn phòng có nhiều cửa sổ nhất đây. Và cũng là phòng sáng nhất nữa.

Bà Năm vò đầu:

- Như vậy mà sao mấy hôm trước mình không nghĩ ra nhỉ? Nhưng còn phần sau nữa. Để tôi đọc thử xem nào.

Ông Năm nói:

- Đọc Kinh Thánh này mà suy nghĩ thì cũng hay đấy chứ. Chẳng hạn như câu có hai chữ “sanh lại”. Tôi chẳng hiểu câu ấy nói gì hết….

Bà vợ ngắt lời:

- Thôi, đừng nói chuyện ấy nữa đi. Ông đã gây ra khá nhiều rắc rối kể từ lúc ông hỏi chúng nó về ý nghĩa mấy câu Kinh Thánh đó đấy nhé!

Ông Năm ấp úng:

- Thì tôi có nói gì đâu? Chẳng qua mấy câu có gạch đỏ ở dưới làm tôi hơi thắc mắc một chút thôi mà.

Bà Năm gắt:

- Thôi, ông im đi! Để cho người ta suy nghĩ một lát.

Nói rồi bà ta liền đi ra khỏi phòng. Ông chồng cũng đi ra theo.

Từ nãy đến giờ, ba cô gái vẫn chăm chú nghe những tiếng nói ở trên vọng xuống. Ngọc ngồi im một lát rồi quay sang Minh:

- Minh à, tôi cũng thắc mắc giống như ông Năm vậy. Bồ biết không, đêm hôm trước tôi thao thức mãi, suy nghĩ đến những điều bồ nói cho tôi nghe về Đức Chúa Giê-xu Christ.

Minh nắm bàn tay cô bạn:

- Tôi rất mừng thấy bồ suy nghĩ về những điều đó. Nhưng suy nghĩ không chưa đủ. Chúng ta còn phải xưng tội mình ra và đặt trọn vẹn niềm tin nơi Chúa là Đấng đã chết thay cho tội lỗi chúng ta. Ngài sẽ gìn giữ chúng ta trên mọi bước đường.

Ngọc hỏi tiếp:

- Nhưng “sanh lại” nghĩa là gì?

Minh dịu dàng giải thích:

- Đó là một việc rất đơn giản. Chúng ta chỉ cần cầu xin Chúa tẩy xóa tội lỗi mình và biến đổi mình thành con người mới trong Ngài.

Ngọc nhíu mày:

- Tôi vẫn chưa hiểu hoàn toàn!

Minh nói thật chậm rãi:

- Đây nhé, trước hết chúng ta là những tội nhân. Kinh Thánh chép rằng tất cả chúng ta đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Một khi đã phạm tội, chúng ta phải trả giá cho tội lỗi mình bằng sự chết của chính chúng ta. Sự chết này không phải sự chết thông thường của xác thịt đâu, nhưng là chết thuộc linh đời đời. Nghĩa là đối với những kẻ không tin nhận Chúa, linh hồn họ sẽ hư mất đời đời nơi địa ngục, sau khi họ lìa bỏ thế gian này để trở về cát bụi. Nhưng khi tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của mình, chúng ta xưng mình là tội nhân cần được Ngài cứu rỗi. Rồi chúng ta sẽ đặt trọn niềm tin nơi Chúa và sống một cuộc đời mới cho Ngài. Như thế là chúng ta đã được “sanh lại” rồi đó.

Ngọc cắn môi không nói lời nào. Minh tiếp tục:

- Cũng giống như chúng ta chợt biết mình đang đi sai đường. Công việc đầu tiên là quay lại và hướng về con đường đưa chúng ta đến nơi phải đến. Tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa cũng chẳng khác như vậy đâu. Trước đây, chúng ta đi theo Satan trên con đường lầm lạc. Nhưng khi biết Chúa chúng ta sẽ quay lại để bước theo Ngài trên lối đi chân thật và bình an.

Ngọc ngập ngừng:

- Nhưng tôi không thể sống một cuộc đời đạo đức được. Tính tôi ham vui và ưa làm những điều mình muốn.

Minh nói:

- Chẳng ai trong chúng ta có thể tự sức mình mà sống cuộc đời tốt đẹp được hết. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta sống theo ý riêng. Khi chúng ta đặt hết niềm tin nơi Chúa. Ngài sẽ giúp chúng ta sống cuộc đời mình phải sống.

Ngọc nói bằng giọng run run:

- Minh… bồ… giúp tôi cầu nguyện đi!

Thu cười:

- Trời đất! Không ngờ có ngày mình lại được chứng kiến cái cảnh lâm ly bi đát như thế này chứ!

Nhưng Ngọc và Minh không còn nghe thấy Thu nói gì nữa. Ngọc bắt đầu cầu nguyện:

- Lạy Đức Chúa Trời, Ngài biết rằng con đã đi lầm đường. Con đã làm theo ý riêng mà không hề nghĩ đến Chúa hoặc làm những gì Ngài muốn con làm. Con biết con là tội nhân đáng bị hư mất đời đời. Cầu xin Ngài ngự vào lòng con và cứu rỗi con.

Buổi chiều hôm đó thực là buổi chiều dài nhất trong đời ba cô gái. Chốc chốc, họ lại bấm đèn xem mấy giờ rồi. Kim đồng hồ dường như chẳng hề nhúc nhích. Từng phút, từng phút chậm chạp trôi qua cùng với cơn đói mỗi lúc một tăng khiến họ bứt rứt thêm.

Đứng ngồi đều không yên, ba cô gái phải kiếm đủ thứ chuyện để nói cho quên cái cảm giác nôn nao càng lúc càng dâng lên cao hơn trong lòng. Thu nuốt nước bọt:

- Chà! Bây giờ mà có phở ở đây thì phải biết. Tôi sẽ ăn liền một hơi ba tô cho hai bồ coi!

Ngọc xuýt xoa:

- Tôi không khoái phở. Chóng ngán lắm! Giá có bà hàng bún chả ở đây thì chỉ riêng phần tôi không cũng phải gần hết nửa gánh rồi!

Minh nhắm mắt lại:

- Ước gì bây giờ có một dĩa bánh cuốn to bằng cái khay nhỉ! Bánh cuốn nhân thịt có rắc một dúm hành phi thật giòn, chấm với nước mắm chanh ớt pha nhiều đường một chút. Nghĩ đến đây thôi cũng đã thấy đau cổ họng rồi! Để bao giờ về Sài gòn tôi sẽ dẫn hai bồ đi ăn bánh cuốn Đakao.

Thu thở dài:

- Cứ ngồi đây mà tưởng tượng thì chỉ thêm thèm thôi. Mình phải tính coi có cách nào không chứ?

Minh gật đầu:

- Được rồi, bồ ráng đợi một chút nữa đi. Tối tối một chút mình làm gì cũng dễ hơn.

Buổi chiều qua dần và bóng đêm đã bắt đầu buông xuống trên vạn vật. Nhưng bên trong căn hầm, vẫn chỉ có màn tối dầy đặc bao quanh. Ba cô gái nhìn cây kim chỉ giờ nhích từng chút một. Tám giờ, tám rưỡi, chín giờ, mười giờ lặng lẽ trôi qua…

Đúng mười hai giờ đêm. Đã đến lúc hành động. Ba cô gái cùng đứng dậy một lượt. Minh xoay cái chốt một phần tư vòng tròn. Nắp hầm hé mở vừa đủ cho nàng chui đầu ra nghe ngóng. Yên lặng hoàn toàn.

Minh bảo Thu mở rộng nắp hầm ra. Ba cô gái bước lên phòng khách, hít không khí mát lạnh của trời đêm cho đầy lồng ngực. Họ rón rén tiến về phía cửa sổ, mở hé một cánh, nhìn ra ngoài:

Bốn bề vắng ngắt. Tiếng thở hổn hển của hai con chó săn từ ngoài cổng vọng vào nghe rõ mồn một. Dưới bầu trời vằng vặc ánh sao, bóng dáng chúng nổi bật lên, toát ra một vẻ đe dọa làm ba cô gái nổi gai ốc khắp người.

Đáng sợ hơn nữa là hai sợi dây cột chúng vào cổng ngoài bây giờ đã được tháo ra để chúng có thể tự do đi lại quanh sân nhà.

Ngọc le lưỡi nhìn Minh:

- Chết rồi, như vầy thì làm sao thoát nổi đây?

Minh vỗ vai bạn:

- Yên chí. Mình nên kiếm cái gì dằn bụng trước đi rồi chuyện đó tính sau.

Thu nêu ra ý kiến:

- Tại sao mình chẳng xuống nhà bếp lục coi có cái gì ăn được không nhỉ?

Nói xong, Thu ra lệnh cho Minh đợi ở hầm rồi cùng Ngọc đi xuống nhà bếp theo lối cửa sổ phòng bên cạnh.

Họ men theo bóng tối ở sát vách tường tòa nhà lớn, cho tới chỗ đối diện với nhà kho thì chạy vụt sang, nép sau chiếc cầu thang dẫn lên căn gác xép. Chờ một lát không thấy ai, họ rón rén bước tới, đẩy cửa nhà bếp.

Sau khi đã gài cửa sổ và cửa ra vào lại, Ngọc bấm đèn pin rọi lên mấy ngăn tủ. Họ tìm thấy sáu củ khoai lang, mỗi củ to bằng bắp chuối, một chai nước lọc và một gói khô nai.

Thu cởi áo lạnh ra, gói mấy củ khoai lại. Ngọc xách chai nước và gói khô nai, hé cửa, nhìn về phía phòng ông bà Năm. Cửa phòng và hai cửa sổ phòng vẫn đóng chặt.

Hai cô gái lách mình qua khe cửa, men theo lối cũ trở lên phòng khách. Minh đón họ ở đầu bậc thang dẫn xuống hầm.

Khi nắp hầm đã đậy kín, Thu mở gói, trao cho Minh một củ khoai:

- Khoai chưa luộc, nhưng ăn vào cũng chẳng chết được đâu.

Ngọc cười, tiếp lời Thu:

- Mà có chết vì đau bụng cũng còn sướng hơn là chết vì đói, Minh nhỉ?

Minh dùng vạt áo, lau cho sạch những hạt cát dính trên vỏ khoai, vui vẻ nói:

- Ăn khoai sống cũng có cái vị ngọt đặc biệt của nó chứ!

Ba cô gái nhai khoai sống rạo rạo. Cơn đói dữ dội lúc nãy bị đàn áp thật mau lẹ. Và trong một thoáng, chỉ còn lại có hai củ khoai mà thôi.

Sau khi mỗi người đã làm một bụng nước no nê, Thu giơ gói khô nai lên:

- Và đây là phần hai chú lính gác cửa.

Minh hiểu ý Thu:

- Nghĩa là mình sẽ dùng gói khô nai này để dụ hai con chó săn đó?

Thu gật đầu:

- Trong lúc chúng tranh nhau gói khô thì mình lẻn ra.

Ngọc thắc mắc:

- Tụi mình đi hết ba đứa chứ?

Minh lắc đầu:

- Không, tôi thấy mình nên để một người ở lại đây canh cái tủ chè chứ!

Thu nói:

- Đồng ý, nhưng ai chịu ở lại đây?

Sau một hồi bàn tán, họ quyết định một cách là bắt thăm để xem ai được đi, ai phải ở lại.

Thu móc trong túi áo ra một đống bạc cắc. Nàng giao hẹn:

- Mỗi đứa sẽ tung đồng tiền này lên một lần. Nếu hai đứa sấp, một đứa ngửa, hoặc hai đứa ngửa, một đứa sấp thì đứa lẻ loi ấy sẽ phải ở lại đây canh cái tủ.

Đồng tiền cắc được gieo lên ba lần. Kết quả là Thu nhận được một bó lúa, Ngọc và Minh gieo trúng mặt có chữ.

Họ sửa soạn lên đường. Nắp hầm được mở ra cho ba cô gái chui lên. Thu xé khô nai ra thành những miếng nhỏ bằng ba ngón tay ghép lại. Cô cũng để ra một miếng lớn bằng bàn tay rồi vo tròn tất cả những miếng ấy cho dễ ném.

Trong lúc Thu mở cửa sổ, bắt đầu quăng mấy miếng thịt nai cho hai con chó, Ngọc và Minh khẽ xoay chốt cửa ra vào phòng khách, hé cánh cửa nhìn ra ngoài chờ đợi.

Hai con chó có vẻ khoái món thịt nai khô lắm. Thu tung ra miếng nào, chúng nuốt chửng miếng nấy. Chúng không ngờ rằng cứ mỗi lần ném một miếng mới, nàng lại ném ra xa hơn. Chúng đã dần dần bị kéo từ cổng ngoài vào đến khu bụi rậm ở hàng rào phía bên trái tòa nhà.

Thu quăng miếng thịt lớn vào giữa bụi cây. Hai con vật cùng xộc vào tìm kiếm. Thừa dịp này, Ngọc và Minh lao vội ra cổng, cắm đầu chạy mải miết cho đến lúc hơi thở của họ gần như tắc nghẽn.

Hai cô gái khuỵu xuống kế bên một gốc cây lớn ven đường.

Đánh Máy: huytran
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »