Ra khỏi trường, ba cô gái đón xe lam ra bến. Chuyến xe chót đi Phan Rang- Nha trang sắp khởi hành. Bến xe giờ này vắng vẻ hơn so với buổi sáng. Lác đác có mấy bà bưng thúng dạo qua cửa mời khách mua khoai khô, cà rốt hay những khung ảnh và đồ trưng bày làm bằng gỗ thông, vật kỷ niệm của du khách trước khi rời xứ hoa anh đào. Mặt trời tỏa xuống những tia nắng ấm áp. Buổi trưa Đà Lạt không giống buổi trưa Sài gòn. Ở Sài gòn người ta chen chúc nhau giữa dòng xe cộ cuồn cuộn chảy, dưới cái nắng gay gắt, trong không khí nhức nhối của tiếng động cơ, khói và bụi. Trái lại, ở đây, buổi trưa là thời khắc của sự nghỉ ngơi, thư thái. Thư thái ngay cả trong những sinh hoạt của người dân thành phố nữa.
Ba cô gái ngồi đợi chừng mười phút thì xe đã đầy chỗ. Chiếc xe đò từ từ lăn bánh. Ra khỏi thành phố, xe bắt đầu tăng vận tốc. Thu ngồi sát cửa sổ, kề đó là Minh rồi đến Ngọc. Gió lùa vào khung xe, những chiếc khăn choàng của họ bay phần phật. Mấy lọn tóc tinh nghịch ngoáy vào cổ vào mắt, gây cho họ cảm giác buồn buồn thích thú.
Nhà cửa thưa thớt và những hàng thông hai bên đường giật lùi nhanh trước mắt ba cô thiếu nữ. Họ trò chuyện luôn miệng, thỉnh thoảng lại khúc khích cười với nhau. Thu lên tiếng hỏi Minh và Ngọc:
- Đem được cái tủ chè này về rồi sẽ để ở đâu, hai bồ nhỉ?
Ngọc kê nhẹ bạn:
- Gớm, chưa gì hết mà làm như đã có tủ chè trước mắt rồi ấy!
Thu trả đũa liền:
- Đúng vậy, chưa có cái tủ trước mặt nhưng đã có cái bên cạnh rồi!
Biết Thu muốn ám chỉ cái thân hình không lấy gì nhỏ nhắn lắm của mình, Ngọc cáu quá. Nhưng nghĩ mãi không tìm ra câu nào để phản pháo, cô gái đỏ mặt ngồi yên. Minh vội đánh tan bầu không khí chiến tranh đang đe dọa bao trùm:
- Thôi, thôi, tôi xin can hai bồ đi. Bồ nào cũng không vừa hết. Theo tôi thì tìm được cái tủ, mình sẽ đề nghị đặt nó ở thư viện cho mọi người chiêm ngưỡng.
Minh vừa nói đến đây thì một tiếng nổ vang lên. Chiếc xe lảo đảo. Người tài xế, tay ghì chặt tay lái, chân phải nhồi thắng liên tiếp. Hành khách nhốn nháo cả lên, anh lơ xe trấn an mọi người:
- Xe bể bánh chứ không có gì đâu.
Xe dừng lại sát lề. Người tài xế và anh lơ xe nhanh nhẹn nhảy xuống lấy thùng đồ nghề ra, thay bánh sơ cua.
Thu, Minh và Ngọc đứng ngồi không yên trong lúc chờ đợi. Ba cô hy vọng đến nơi trước khi trời tối. Vậy mà bây giờ xe lại hư, không biết đến bao giờ mới chạy được đây.
Sự lo lắng của họ tan biến ngay khi có tiếng nói lớn của anh lơ xe:
- Xong rồi, mời bà con cô bác lên xe đi!
Thế là chỉ trong vòng hai mươi phút, hai người ấy đã thay xong bánh xe và chiếc xe lại ra sức nuốt trọn quãng đường xa.
Phong cảnh hai bên đường thật mới lạ trước mắt ba cô gái. Nhưng họ cũng chỉ ngắm được một lát mà thôi. Cơn buồn ngủ kéo đến và họ đã tựa đầu vào thành ghế ngủ ngon lành…
Tiếng la “Tốp đi” của anh lơ xe làm Minh giật mình mở choàng mắt. Nàng lay hai bạn dậy, họ ngơ ngác nhìn chung quanh. Vẫn chỉ là màu xanh của núi rừng. Chỉ hơi khác là màu xanh ấy bây giờ thẫm hơn vì nắng chiều đã gần tắt. Ngọc hỏi ông khách lớn tuổi ngồi kế bên:
- Thưa ông, đến đâu rồi vậy?
- Gần tới Sông Pha rồi cô ạ.
Ngọc vui vẻ nói với hai bạn:
- May quá mình thức dậy vừa kịp lúc. Chứ ngủ thêm một chút nữa là có đường về tới Nha Trang luôn.
Ống nước khổng lồ bắc từ đỉnh núi xuống dưới đèo đã hiện ra trước mắt họ. Màu sáng kim loại của ống nổi bật lên giữa màu xanh trùng điệp của cây rừng.
Chiếc xe đã qua khỏi Sông Pha. Ba cô gái chú ý tìm ngôi chùa mà thầy Hồng đã chỉ. Trước mặt họ, về phía trái, ngôi chùa mái ngói cũ kỹ nằm lẻ loi trên sườn đồi. Thu quay lại gọi người lơ xe ở phía sau:
- Ông cho chúng tôi xuống ở cây cầu sắt phía trước nhé.
Khi còn cách cây cầu chừng ba chục thước, người lơ xe la lớn cho xe dừng lại. Chiếc xe chậm dần rồi ngừng hẳn phía bên này cầu. Ba cô thiếu nữ xách hành lý bước xuống, băng qua lề trái.
Vượt qua cây cầu sắt, họ thấy ngay con đường mòn và hai cây cột gỗ thông, trên đầu mang tấm bảng thiếc đã tróc sơn có ghi ba chữ “Trại Thi Phương”. Ngọc reo lên:
- Hay quá! Thầy Hồng chỉ đường như thế này là nhất rồi hai bồ nhỉ.
Thu cũng vui vẻ:
- Dĩ nhiên rồi. Thầy ấy là giáo sư toán mà. Chính xác là phương châm của thầy đấy.
Minh nhìn đồng hồ tay rồi nói với hai bạn:
- Sáu giờ hơn rồi, mình phải đi mau lên kẻo tối khó nhìn đường lắm đó.
Đi được khoảng hai trăm thước, họ gặp một ngã ba. Con đường nhỏ dẫn vào khu rừng trước mặt. Nhớ lời dặn của thầy Hồng, họ cứ men theo con đường đất đang đi.
Khi đến trước ngôi nhà hai tầng duy nhất trong khu vực đó, cả ba dừng lại chờ đợi. Lúc ấy trời đã nhá nhem tối. Bầu không khí chung quanh họ hình như mang một vẻ gì thật huyền bí. Trước mặt ngôi nhà là những bụi cây dại mọc cao ngang đầu người. Sát đó là bờ tường xây bằng đá, cắm cọc sắt lổm chổm. Hai cánh cửa sắt sơn xanh cũ kỹ rộng mở vào một lối đi cỏ hoang mọc tới gần đầu gối. Cuối lối đi là tam cấp đưa lên cửa chính. Cửa tường ẩm ướt vì rêu xanh phủ và cây leo bám vào, lan mãi lên tới lan can trên lầu. Cửa trên bao lơn cũng đóng chặt. Chỉ có bầy dơi chao lượn trên không trước khi lao vào những lỗ trống thoát hơi của trần nhà.
Ngọc tiến tới gõ cửa thật mạnh rồi lùi lại chờ đợi. Một lát sau không thấy gì, cô gái lại gõ cửa một lần nữa. Lần này thì kèm theo tiếng gọi lớn của Thu:
- Bà Năm ơi, cho tôi hỏi thăm với.
Vẫn không thấy ai ra. Bây giờ tới lượt Minh. Cô gái vừa đưa tay lên, toan gõ vào cánh cửa thì bất chợt từ phía sau lưng, tiếng chó sủa vang lên. Ba cô thiếu nữ giựt mình quay lại. Một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi từ ngoài cổng tiến vào, theo sau là hai con chó săn to lớn, dữ tợn. Thấy người lạ, chúng nhảy xổ tới, sủa ầm ĩ. Ba cô gái mặt mũi tái mét, nhảy hết lên đầu tam cấp, nép sát vào nhau. Người đàn ông quát tháo, bảo lũ chó im rồi cất tiếng hỏi:
- Mấy cô tìm ai?
Sau mấy giây định thần, Thu nhìn người đàn ông mà nàng đoán là chủ nhà, trả lời:
- Thưa ông, chúng tôi tìm bà Năm.
Thu vừa nói dứt câu thì từ phía tay mặt của tòa nhà một người đàn bà to béo tiến ra.
Người đàn ông nhìn về phía bà ta:
- Mấy cô này hỏi bà cái gì này.
Người đàn bà to béo vẫn lạnh lùng quan sát ba cô gái từ đầu đến chân. Trông mặt bà ta không có một chút thiện cảm nào hết. Minh đánh bạo hỏi:
- Thưa bà, bà có phải là bà Năm không?
Người đàn bà sẵng giọng:
- Phải, cô hỏi tui làm gì?
Minh luống cuống. Tia nhìn soi mói của bà ta khiến cô không biết trả lời như thế nào hết. Rất may là Thu đã đỡ lời cho bạn:
- Thưa bà, chúng tôi là học sinh trường Thiên Phước ở Đà Lạt. Nhân được nghỉ mấy ngày, chúng tôi định đến đây chơi sẵn dịp đi tìm hoa lan luôn.
Bà Năm cau mày:
- Đến đây chơi, sao không tìm nhà trọ ở ngoài kia mà phải vào trong này làm gì?
Sẵn trớn, Thu nói luôn:
- Thưa bà, chúng tôi nghe nói có giống lan rất quí mọc ở khu rừng bên cạnh đây nên muốn xin bà cho ở trọ mấy ngày để tiện việc tìm kiếm. Chứ trọ ở ngoài kia, mỗi lần đi vào rừng cũng hơi xa một chút.
Bà Năm vẫn lạnh lùng:
- Nhưng mà đây không phải là nhà trọ, làm sao các cô ở cho được.
Ngọc nghĩ ra một lý do nữa:
- Thưa bà, ngoài việc tìm hoa lan, tôi còn kiếm mua cho ba tôi một số đồ cổ nữa.
Mắt người đàn bà sáng lên:
- Ba cô muốn tìm mua đồ cổ à?
Ngọc tiếp tục bịa chuyện:
- Vâng, ba tôi chuyên sưu tập các đồ cổ cho Viện Bảo Tàng Quốc Gia.
Thái độ của bà ta thay đổi hẳn sau hai câu nói của Ngọc. Giọng nói của bà ta trở nên thân mật không thể ngờ được:
- Thế thì hay lắm. Mời các cô vào đây. Đi đường xa chắc các cô mệt lắm phải không?
Vừa nói bà Năm vừa quay gót dẫn họ vào lối đi bên phải ngôi nhà. Ngọc nhìn hai bạn, nở nụ cười tinh quái. Thu và Minh cũng nheo mắt biểu lộ sự đồng tình.
Bà Năm vui vẻ:
- Thực ra thì chúng tôi cũng còn một phòng dành cho khách ở phía sau đây. Ba cô ở chung trong phòng ấy thì vừa vặn lắm.
Họ đi tới một dãy nhà hai tầng toàn bằng gỗ. Một chiếc thang gỗ đặt ngay phía ngoài dẫn lên trên lầu. Dưới chân thang là một chiếc xe Jeep có rờ moọc đã cũ kỹ. Bà Năm chỉ trỏ:
- Đây là nhà kho, còn bên trên là phòng khách. Nào, mời các cô lên xem.
Bà ta vội vã lên thang trước. Dáng đi vốn nặng nề của bà cố sức cho nhanh hơn khiến Minh liên tưởng đến một con vịt xiêm trong khu nuôi gia súc của nhà trường.
Bà Năm mở cửa phòng và mấy cái cửa sổ. Ba cô gái bước vào. Trong phòng kê một chiếc giường rộng có nệm phủ, một tủ áo có gương soi, một bàn viết và hai cái ghế. Bà Năm mở ngăn kéo bàn viết, lấy ra cây nến và bao diêm. Thắp sáng ngọn nến xong, bà nói với ba cô gái:
- Các cô cứ tự nhiên như ở nhà nhé. Bây giờ thì mời các cô thay quần áo và nghỉ ngơi rồi xuống dùng cơm với vợ chồng tôi. À quên, còn nước rửa mặt nữa. Các cô cứ xuống nhà, đi ra sau một chút là gặp cái giếng ngay. Thôi, tôi xuống bếp làm cơm đây. Chừng nửa giờ nữa mời mấy cô xuống nhé.
Ánh sáng ngọn nến cũng đủ để soi cho người ta thấy những câu gốc lồng kính treo trên tường. Có cả thảy bốn câu, chia làm hai cặp treo đối diện nhau: “Vui mừng mãi mãi” đi với “Cầu nguyện không thôi” và “Yêu thương, nhơn từ” kèm theo “Bình an, nhịn nhục”.
Thu, Minh và Ngọc thay y phục, xuống nhà rửa mặt rồi lên phòng nằm nghỉ một lát. Khi họ vào phòng ăn thì thấy các món ăn đã bày sẵn trên bàn và ông bà Năm đang ngồi ở đó. Vừa trông thấy ba cô, Bà Năm liền đon đả:
- A, các cô xuống vừa kịp lúc. Chúng tôi mới ngồi vào thôi. Nào, mời các cô dùng cơm kẻo nguội.
Ba cô gái, vì buổi trưa ăn hối hả, chưa đủ no, lại đi bộ quá nhiều, nên ai nấy đều đói, vừa nhập cuộc là lặng lẽ tấn công ngay! Khi cảm thấy ba cô gái đã có vẻ chậm dần trong nhịp độ sử dụng bát đũa, bà Năm mới chỉ ông chồng, giới thiệu:
- Đây là ông Sĩ, chồng tôi. Ông ấy thứ năm nên người ta thường gọi ông Năm. Còn các cô?
Thu liền mau mắn giới thiệu tên tuổi mình và hai bạn. Câu chuyện giữa ba cô gái và ông bà Năm cũng không đến nỗi tẻ nhạt lắm, nhờ sự gợi chuyện khôn khéo của bà Năm. Bà ta hỏi họ về việc học ở trường, về những chuyện ở Đà Lạt và về gia đình của họ. Dần dần bà mới bắt vào câu chuyện chính:
- Cô tôi có để lại một số món đồ cổ mà tôi chắc các cô sẽ thích lắm. Chắc các cô cũng biết bà Phương, cô tôi, đã qua đời mấy tháng nay và tôi có phận sự coi sóc nhà cửa cho bà ấy.
Minh mỉm cười khẽ gật đầu:
- Vâng, chúng tôi cũng có nghe nói như thế.
Bà Năm vừa định nói câu gì thì ông chồng đã xen vào:
- Sống lẻ loi ở tòa nhà cổ trong vùng đất hoang vắng này kể cũng ngán các cô ạ. Cho nên hễ bán tống được mấy món đồ cổ ấy đi là chúng tôi về Sài gòn gấp.
Bà Năm quắc mắt nhìn ông chồng:
- Này, ông nói gì lạ vậy. Ông không biết rằng những món đồ đó đáng giá lắm sao?
Nói đoạn bà quay sang phía ba cô gái và cười ngượng ngập:
- Mấy cô thấy đó. Nói đến đồ cổ là đàn ông làm như của vứt đi ấy. Tuy nhiên tôi mong mấy cô sẽ thấy rằng những món đồ đó đều là những vật có giá trị hết.
Sau bữa ăn, bà Năm dẫn họ đi một vòng thăm khu trại. Sát bên nhà bếp là phòng ăn và kho dụng cụ, bên trong chứa những vật rất lạ mắt, mà vì trời tối nên họ không nhận rõ là các vật gì. Đi một quãng nữa thì đến khu nhà dành cho các gia nhân. Khu này hiện giờ tối om vì không có ai ở hết. Theo tay bà Năm chỉ, ba cô gái lờ mờ nhận ra vị trí khu chuồng ngựa, bò và heo, cũng tối tăm chẳng kém. Vòng trở về họ đi ngang ba phòng phía sau của tòa nhà cổ. Mấy phòng này ban nãy tối om. Bây giờ chắc ông Năm vừa vào nên đã bật đèn sáng. Bà Năm giải thích:
- Ở đây chỉ có ba phòng này là bà cô tôi mắc điện thôi. Không biết sao bà cụ lại chẳng chuyền điện vào khu nhà kho và phía đằng sau. Tội nghiệp bà cụ, mấy năm về sau này tính tình cụ kỳ lạ lắm. Suốt ngày bà cụ chỉ làm bạn với cuốn Kinh Thánh mà thôi.
Bà Năm bảo với ba cô gái chờ bà vào phòng lấy thêm cây đèn dầu cho họ. Ở ngoài, ba cô bàn nhau về việc trao cho bà Năm một số tiền. Ngọc nói:
- Mình sẽ ở đây ít nhất là bốn ngày. Phải đưa cho bà ấy một số tiền nào để nấu ăn cho mình chứ!
Thu gật đầu:
- Phải đó, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Các cụ đã dạy như vậy mà.
Minh đề nghị:
- Tụi mình cứ đưa tạm cho bà ấy ba ngàn đi. Tôi thấy như vậy cũng không ít quá đâu.
Vừa khi ấy thì bà Năm đem đèn ra. Thu mời bà ta cùng theo ba cô lên phòng. Lúc bà Năm định xuống nhà, Thu nói:
- Thưa bà, chúng tôi định ở đây ba bốn ngày. Thế nào bà cũng phải tốn kém thêm về chợ búa. Vì thế, chúng tôi xin gởi bà trước ba ngàn để góp vào tiền chợ.
Vừa nói Thu vừa đưa số tiền đã được bỏ vào phong bì cho bà Năm. Bà ta từ chối:
- Đừng làm vậy, các cô đến chơi vài ba ngày có là bao. Các cô cứ giữ lấy mà tiêu.
Minh nói thêm:
- Thưa bà, bà cho chúng tôi được ở đây là quí lắm rồi. Còn số tiền này xin bà cứ nhận đi cho chúng tôi mừng.
Bà Năm miễn cưỡng gật đầu:
- Thôi được. Để tôi viết cho mấy chữ là đã có nhận số tiền này.
Dù ba cô gái bảo là không cần, bà ta cứ nhất định mở ngăn kéo lấy tờ giấy và cây viết để ghi biên nhận cho họ. Khi bà Năm đã đi khỏi, Ngọc mở tủ quần áo lấy màn, chăn, gối ra, dọn giường để sửa soạn đi ngủ. Thu đứng bên khung cửa sổ, nhìn ra khu rừng cây đen kịt phía ngoài. Một lúc cô mới nói:
- Không hiểu sao ở căn phòng này, tôi cứ có cảm giác lành lạnh làm sao ấy?
Minh cười nhạo bạn:
- Sợ ma ở trong rừng chui vào bắt đem đi hả? Thế thì cứ việc đóng các cửa lại cho chặt chứ gì!
Vừa lúc ấy, một cơn gió lạnh lùa vào phòng. Ánh sáng chao đi làm ba cái bóng đen trên vách như đang cử động.
Ngọc nhìn Minh:
- Lâu quá mình mới được hưởng cái thú xài đèn dầu Minh nhỉ. Nhìn bóng của mình in trên vách, tôi lại nhớ đến câu chuyện ‘Thiếu Phụ Nam Xương’.
Minh gật đầu:
- Chuyện ấy buồn quá hả Ngọc?
Thu xen vào:
- Theo tôi thì câu chuyện phải kể như vầy mới đúng: “Ông chồng từ mặt trận trở về, nghe đứa con nói vậy, lòng đau lắm nhưng cũng phải giả vui như thường. Ông ta ở nhà với vợ cho đến tối hôm ấy thì làm bộ có việc gấp phải đi liền. Nhưng kỳ thực ông ta chỉ đi một quãng rồi vòng về núp ở ngoài để rình. Trong nhà người đàn bà đang ngồi khâu vá, đứa con chơi bên cạnh. Khi bà ta khêu tim đèn cho sáng hơn, chiếc bóng của bà trên vách hiện rõ cùng tiếng reo vui của thằng con: A, cha đã về kìa! Vừa reo nó vừa chỉ tay vào cái bóng. Người chồng sung sướng khôn xiết, nhảy xổ vào ôm lấy vợ con. Những giọt nước mắt vui mừng lăn trên khuôn mặt của ông ta. Trong khi ấy thì bà vợ không hiểu gì hết.
Ngọc cười tinh quái:
- Đúng rồi, sự việc đã xảy ra như vậy, nếu ông chồng ấy là bồ đó Thu.
Minh cũng bật cười:
- Kết thúc của bồ có hậu lắm. Nhưng nếu câu chuyện mà kết thúc như vậy có ai truyền tụng làm gì. Khuynh hướng con người vẫn là ưa những câu chuyện có tình tiết éo le, bi thảm mà.
Thu nhắm mắt mơ màng:
- Thu cũng biết vậy đó. Nhưng sao mình vẫn muốn cho hai vợ chồng kia sum họp mãi mãi cơ.
Nói chuyện một lát, Thu đóng cửa lại rồi lên giường trước. Ngọc còn mãi uốn mình làm những động tác hô hấp và thể dục trước khi đi ngủ. Minh ngồi bên ngọn đèn dầu, chăm chú đọc một khúc Kinh Thánh theo bảng đọc lời Chúa trong suốt năm. Mãi tới gần 11 giờ, cô mới lên giường nằm. Hai cô bạn đã ngủ say từ lúc nào không biết. Minh cũng chỉ nằm xoay qua xoay lại một lúc là mí mắt đã nặng trĩu. Một lát sau, trong phòng chỉ còn nghe thấy tiếng thở nhẹ của ba cô gái mà thôi.