Tay Súng (Hắc Ám Tháp 1)

Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời tựa
Về tuổi mười chín

❊ ❊ ❊

Khi tôi mười chín tuổi, "Hobbit" đang trở thành chủ đề bàn tán xôn xao trên khắp các phố phường (trong câu chuyện mà bạn sắp sửa lật giở tới đây, chúng cũng đã xuất hiện). Năm đó, tại Liên hoan âm nhạc Woodstock tổ chức trên đồng cỏ của Max Yasgur, có tới nửa tá những "Merry" và "Pippin" đang lội bùn, chưa kể ít nhất hơn chục "Frodo" cùng vô số những "Gandalf" theo phong cách hippy. Thời đó, bộ "Chúa tể những chiếc nhẫn" của John Ronald Reuel Tolkien khiến người ta mê mẩn đến cuồng nhiệt. Mặc dù tôi không thể tới được Woodstock (xin lỗi vì điều này), nhưng tôi nghĩ mình chí ít cũng đủ tiêu chuẩn của một nửa gã hippy. Nói đi cũng phải nói lại, tôi đã đọc hết tất cả các tác phẩm của ông và vô cùng yêu thích chúng, xét từ điểm này thì tôi hoàn toàn xứng đáng là một gã hippy trọn vẹn. Cũng giống như những tiểu thuyết kỳ ảo dài tập dưới ngòi bút của hầu hết các tác giả nam nữ cùng thế hệ với tôi (như "Biên niên sử Thomas Covenant" của Stephen Donaldson hay "Thanh kiếm Shannara" của Terry Brooks), loạt truyện "Tòa tháp bóng tối" (The Dark Tower) cũng là một câu chuyện ra đời dưới ảnh hưởng từ Tolkien.

Mặc dù tôi đã đọc bộ "Chúa tể những chiếc nhẫn" trong khoảng thời gian từ năm 1966 đến 1967, nhưng tôi đã chần chừ mãi không đặt bút viết. Tôi vô cùng thán phục trước tầm vóc trí tưởng tượng của Tolkien (sự thán phục đầy cảm xúc và toàn tâm toàn ý), đồng thời thấu hiểu được tham vọng chứa đựng trong các câu chuyện của ông. Thế nhưng, tôi muốn viết ra những câu chuyện mang bản sắc riêng mình; nếu lúc đó tôi bắt đầu cầm bút, tôi chỉ có thể viết ra những thứ giống hệt ông. Nếu vậy, đúng như lời vị cựu Tổng thống "lắm lời" Dick Nixon hay nói, thì đó sẽ là một sai lầm nối tiếp sai lầm. Cảm ơn ông Tolkien, thế kỷ hai mươi đã có đủ mọi tiên tộc và pháp sư mà nó cần.

Vào năm 1967, tôi hoàn toàn không biết mình muốn viết kiểu truyện gì, nhưng điều đó cũng chẳng hề hấn gì; bởi tôi tin chắc rằng khi nó lướt qua mình trên phố, tôi sẽ không để nó vuột mất. Tôi khi ấy đang độ mười chín, dáng vẻ đầy kiêu ngạo, cảm thấy mình vẫn còn đủ thời gian để chờ đợi nàng thơ và kiệt tác của đời mình (như thể tôi chắc chắn rằng tác phẩm của mình trong tương lai sẽ trở thành kiệt tác vậy). Ở tuổi mười chín, dường như tôi cho rằng một người có vốn liếng để mà vênh váo; thông thường thì năm tháng vẫn chưa bắt đầu sự ăn mòn âm thầm khiến con người ta già đi. Giống như lời một bài hát đồng quê, năm tháng sẽ lấy đi mái tóc, tước mất sự linh hoạt trong từng bước nhảy của bạn, nhưng thực tế, thời gian lấy đi còn nhiều hơn thế. Trong giai đoạn 1966 và 1967, tôi vẫn chưa hiểu được sự tàn nhẫn của năm tháng, và dù có hiểu, tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi không thể tưởng tượng nổi—thật khó mà tưởng tượng được—sống đến bốn mươi tuổi thì sẽ ra sao, lùi một bước là năm mươi tuổi? Lùi thêm bước nữa. Sáu mươi tuổi? Không bao giờ! Sáu mươi tuổi là điều chưa từng nghĩ tới. Mười chín tuổi, chính là lúc chẳng nghĩ ngợi gì cả. Cái tuổi mười chín chỉ khiến bạn thốt lên: Cẩn thận đấy thế giới, ta đang hút TNT, uống thuốc nổ đây, nếu biết điều thì đừng có cản đường ta—Stephen ở đây!

Mười chín tuổi là độ tuổi ích kỷ, những thứ quan tâm chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tôi có rất nhiều mục tiêu theo đuổi, đó là những gì tôi quan tâm. Vô vàn hoài bão của tôi, cũng là những gì tôi để tâm. Tôi mang theo chiếc máy đánh chữ, chuyển từ căn hộ tồi tàn chật hẹp này sang căn hộ khác, túi lúc nào cũng nhét bao thuốc lá, trên mặt luôn treo một nụ cười. Sự thỏa hiệp của tuổi trung niên còn cách tôi rất xa, còn nỗi nhục nhã của tuổi già thì lại càng xa vời vợi. Giống như nhân vật chính trong bài hát của Bob Seger—bài hát hiện đang được dùng làm quảng cáo xe tải—tôi cảm thấy mình có sức mạnh vô biên và đầy tự tin; túi tôi trống rỗng, nhưng trong đầu đầy ắp ý tưởng, trong tim tràn ngập những câu chuyện, nóng lòng muốn bộc bạch. Những thứ nghe có vẻ khô khan nhạt nhẽo bây giờ, lại từng khiến bản thân tôi bay bổng tận chín tầng mây vào thời điểm đó. Khi ấy, tôi cảm thấy mình thật "ngầu". Tôi không có hứng thú với bất cứ điều gì khác, chỉ chăm chăm muốn phá vỡ hàng phòng ngự của độc giả, dùng câu chuyện của mình tấn công họ, khiến họ đắm chìm, mê mẩn và thay đổi hoàn toàn họ. Khi đó, tôi cho rằng mình hoàn toàn có thể làm được, bởi tôi tin mình sinh ra là để làm việc này.

Nghe có vẻ ngông cuồng tự đại phải không? Quá tự đại hay chỉ một chút? Dù sao đi nữa, tôi sẽ không xin lỗi. Khi ấy tôi đang độ mười chín, râu ria chưa một sợi bạc. Tôi có ba cái quần jeans, một đôi bốt, trong lòng đinh ninh rằng thế giới này chính là con hàu nằm gọn trong tay mình, và hai mươi năm tiếp theo đã chứng minh suy nghĩ của tôi không hề sai. Tuy nhiên, khi tôi chạm ngưỡng ba mươi chín, rắc rối ập đến dồn dập: nghiện rượu, nghiện ma túy, một vụ tai nạn xe hơi đã thay đổi dáng đi của tôi (tất nhiên còn gây ra những thay đổi khác nữa). Tôi đã từng tường thuật chi tiết những chuyện đó, nên không cần nhắc lại ở đây. Hơn nữa, bạn cũng từng có trải nghiệm tương tự, phải không? Cuối cùng, trên đời sẽ xuất hiện một viên cảnh sát hắc ám, đến để làm chậm bước tiến của bạn và cho bạn thấy ai mới là kẻ làm chủ thực sự. Không nghi ngờ gì nữa, bạn—người đang đọc những dòng chữ này—chắc hẳn đã đụng độ với "viên cảnh sát" của mình rồi (hoặc biết đâu một ngày nào đó sẽ gặp); tôi đã từng giao thiệp với viên cảnh sát của mình, và tôi biết chắc chắn hắn sẽ quay lại, bởi hắn có địa chỉ của tôi. Hắn là một gã khốn, một "cảnh sát tồi", hắn không đội trời chung với sự ngu ngốc, hoang dâm, tự mãn, tham vọng, âm nhạc ồn ào, và là kẻ thù không đội trời chung với mọi đặc điểm của tuổi mười chín.

Nhưng tôi vẫn cho rằng đó là một độ tuổi đẹp đẽ, có lẽ là quãng thời gian tốt nhất mà một người có thể có. Bạn có thể bật nhạc rock suốt đêm, nhưng khi tiếng nhạc dần tắt, vỏ bia cạn sạch, bạn vẫn có thể suy tư, phác thảo những kế hoạch vĩ đại trong lòng. Và cuối cùng, viên cảnh sát hắc ám sẽ cho bạn biết mình nặng bao nhiêu cân; nhưng nếu ngay từ đầu bạn đã không có hoài bão, thì khi hắn xử lý xong bạn, có lẽ bạn chẳng còn lại gì ngoài gấu quần của chính mình. "Bắt được thêm một đứa!" hắn lớn tiếng reo lên, tay cầm sổ ghi chép bước tới. Cho nên, có chút ngạo khí (thậm chí là ngạo khí ngút trời) không phải là chuyện xấu—dù mẹ bạn chắc chắn đã dạy bạn phải khiêm tốn cẩn trọng. Mẹ tôi vẫn luôn dạy tôi như vậy. Bà luôn bảo, Stephen à, kẻ kiêu ngạo tất sẽ bại... Kết quả là, tôi phát hiện ra khi con người ta đến tầm ba mươi tám tuổi, dù thế nào đi nữa, cuối cùng cũng sẽ vấp ngã, hoặc bị người ta xô vào mương. Ở tuổi mười chín, người ta có thể cố tình ép bạn trình thẻ căn cước trong quán bar, hét vào mặt bạn bảo cút đi, khiến bạn lủi thủi quay lại đường phố, nhưng khi bạn ngồi vẽ tranh, làm thơ hay kể chuyện, họ không thể bài xích bạn. Ồ, lạy Chúa, nếu bạn đang đọc những dòng chữ này mà còn trẻ, đừng để những kẻ lớn tuổi hay những kẻ tự cho mình là người có học bảo bạn phải làm gì. Tất nhiên, có thể bạn chưa từng đến Paris; bạn cũng chưa từng chạy cùng bò tót trong lễ hội tại Pamplona. Không sao, bạn chỉ là một gã choai choai, ba năm trước nách mới bắt đầu mọc lông—nhưng thì đã sao? Nếu bạn không chuẩn bị ngay từ đầu để phấn đấu đến mức làm rách cả quần, chẳng lẽ bạn muốn để dành đến khi lớn lên rồi mới tìm cách lấp đầy cái quần đó sao? Thái độ của tôi luôn là, bất kể người khác nói gì về bạn, khi còn trẻ hãy làm những điều lớn lao, đừng sợ làm rách quần; hãy ngồi xuống, hút một điếu thuốc.

2

Tôi cho rằng tiểu thuyết gia có thể chia làm hai loại, trong đó bao gồm cả những người mới vào nghề như tôi hồi đầu những năm 1970. Những nhà văn bẩm sinh đã quan tâm hơn đến việc duy trì tính văn học hay sự "nghiêm túc" trong sáng tác luôn cân nhắc kỹ lưỡng từng đề tài có thể viết, và luôn không tránh khỏi việc đặt câu hỏi: Viết thể loại truyện này có ý nghĩa gì với mình? Còn những nhà văn có số phận gắn liền với tiểu thuyết đại chúng lại có xu hướng đặt ra một câu hỏi hoàn toàn khác: Viết thể loại truyện này có ý nghĩa gì với người khác? Tiểu thuyết gia "nghiêm túc" đang tìm kiếm câu trả lời và chìa khóa cho chính mình; thế nhưng, tiểu thuyết gia "đại chúng" lại tìm kiếm độc giả. Những nhà văn này thuộc hai loại hình khác nhau, nhưng lại ích kỷ như nhau. Tôi đã chứng kiến quá nhiều nhà văn, vì vậy tôi có thể tháo đồng hồ của mình ra để đảm bảo cho khẳng định này.

Tóm lại, tôi tin rằng ngay cả khi ở tuổi mười chín, tôi đã nhận ra câu chuyện về Frodo và nỗ lực thoát khỏi chiếc nhẫn vĩ đại của cậu thuộc về loại thứ hai. Câu chuyện này về cơ bản có thể coi là chuyến phiêu lưu của một nhóm khách hành hương mang đặc trưng Anh quốc, lấy bối cảnh thần thoại Scandinavia cổ đại. Tôi thích chủ đề thám hiểm—thực tế là tôi vô cùng yêu thích chủ đề này—nhưng tôi không hứng thú với những nhân vật kiểu nông dân vạm vỡ dưới ngòi bút của Tolkien (điều này không có nghĩa là tôi không thích họ, ngược lại tôi thực sự thích những nhân vật này), cũng không có hứng thú với khung cảnh Scandinavia rợp bóng cây cối đó. Nếu tôi cố gắng sáng tác theo hướng này, chắc chắn tôi sẽ làm hỏng bét mọi thứ.

Vì vậy, tôi đã luôn chờ đợi. Năm 1970 tôi hai mươi hai tuổi, sợi tóc bạc đầu tiên xuất hiện trong râu (tôi đoán điều này có thể liên quan đến việc tôi hút hai bao rưỡi thuốc lá mỗi ngày), nhưng dù người ta đã đến tuổi hai mươi hai, vẫn có vốn liếng để chờ đợi thêm một chút. Ở tuổi hai mươi hai, thời gian vẫn còn nằm trong tay mình, mặc dù lúc đó viên cảnh sát hắc ám đã bắt đầu lân la dò hỏi quanh khu phố rồi.

Một ngày nọ, trong một rạp chiếu phim gần như trống không (nếu bạn thực sự tò mò, tôi có thể nói cho bạn biết đó là rạp Biju ở thành phố Bangor, bang Maine), tôi đã xem bộ phim "The Good, the Bad and the Ugly" do Sergio Leone đạo diễn. Khi phim còn chưa đi được một nửa, tôi đã nhận ra mình muốn viết một cuốn tiểu thuyết, chứa đựng màu sắc thám hiểm và kỳ ảo của tiểu thuyết Tolkien, nhưng lại lấy bối cảnh miền Tây hoang dã hùng vĩ đến mức gần như hoang đường mà Leone đã tạo ra. Nếu bạn chỉ xem bộ phim miền Tây kỳ quái này trên màn hình tivi, bạn sẽ không hiểu được cảm nhận của tôi—có lẽ điều này hơi xúc phạm bạn, nhưng đó là sự thật. Qua sự trình chiếu chính xác của ống kính Panavision, "The Good, the Bad and the Ugly" trên màn ảnh rộng thực sự là một tác phẩm sử thi có thể sánh ngang với "Ben-Hur". Clint Eastwood trông cao tới mười tám feet, mỗi sợi râu cứng như thép trên má ông trông đều như những cây gỗ đỏ nhỏ. Những nếp nhăn nơi khóe miệng Lee Van Cleef sâu như những hẻm núi, và trở nên thu hẹp dần ở phần đáy (xem "Wizard and Glass"). Còn sa mạc trải dài vô tận trông như kéo dài đến tận quỹ đạo của sao Hải Vương. Đường kính nòng súng mà các nhân vật trong phim sử dụng to như đường hầm Holland vậy.

Ngoài kiểu thiết lập bối cảnh này, điều tôi muốn đạt được là cảm giác tận thế sử thi do quy mô này mang lại. Leone không hề hiểu gì về địa lý nước Mỹ (giống như một nhân vật trong phim đã nói, Chicago nằm cạnh Phoenix, Arizona), nhưng chính vì điểm này, bộ phim mới hình thành được cảm giác lệch lạc đầy hùng tráng đó. Sự nhiệt huyết của tôi—một niềm đam mê chỉ tuổi trẻ mới có thể bùng nổ—thúc đẩy tôi muốn viết một bộ truyện dài, không chỉ là dài, mà còn là tiểu thuyết đại chúng dài nhất trong lịch sử. Tôi đã không đạt được nguyện vọng, nhưng cảm thấy câu chuyện viết ra cũng đủ tử tế; "Tòa tháp bóng tối", từ tập một đến tập bảy kể về một câu chuyện, mà bản bìa mềm của bốn tập đầu đã vượt quá hai nghìn trang. Bản thảo của ba tập sau cũng hơn hai nghìn năm trăm trang. Tôi liệt kê những con số này không phải để nói rằng độ dài có liên quan gì đến chất lượng; tôi chỉ muốn chứng tỏ rằng mình muốn sáng tác một bộ sử thi, và xét từ một vài khía cạnh, tôi đã thực hiện được nguyện vọng thuở trẻ. Nếu bạn muốn biết tại sao tôi lại có mục tiêu như vậy, tôi cũng không nói rõ lý do được. Có lẽ đây là một phần của nước Mỹ đang không ngừng lớn mạnh: xây tòa nhà cao nhất, đào cái hố sâu nhất, viết bài văn dài nhất. Động lực của tôi đến từ đâu? Có lẽ bạn sẽ gãi đầu gãi tai mà thốt lên không thể hiểu nổi. Trong mắt tôi, có lẽ đây cũng là một phần của việc làm một người Mỹ. Cuối cùng, chúng ta đều chỉ có thể nói: Lúc đó nghe có vẻ là một ý tưởng hay.

3

Một sự thật khác về tuổi mười chín—không biết bạn có còn thích xem không—chính là khi ở độ tuổi này, rất nhiều người cảm thấy mình đang ở trong nghịch cảnh (nếu không phải về mặt sinh lý, thì ít nhất cũng là về tinh thần và tình cảm). Thời gian thấm thoắt thoi đưa, đột nhiên một ngày bạn đứng trước gương, đầy bối rối. Tại sao những nếp nhăn kia lại mọc trên mặt mình? Bạn vò đầu bứt tai không hiểu nổi, cái bụng bia xấu xí này từ đâu ra? Lạy Chúa, mình mới mười chín tuổi mà! Đây hầu như chẳng phải là một ý tưởng sáng tạo gì, nhưng nó cũng không hề làm giảm bớt mức độ ngạc nhiên của bạn.

Năm tháng khiến râu bạn bạc màu, khiến bạn không thể bật nhảy ném bóng rổ một cách dễ dàng nữa, thế nhưng từ trước đến nay bạn lại luôn cho rằng—ôi kẻ khờ khạo—thời gian vẫn nằm trong tay mình. Có lẽ người lý trí trong bạn rất tỉnh táo, chỉ là nội tâm bạn từ chối chấp nhận sự thật này. Nếu bạn may mắn, viên cảnh sát từng phạt bạn vì bước đi quá nhanh, hưởng thụ quá nhiều trên đường đi, sẽ tiện tay đưa cho bạn một liều muối ngửi. Những gì tôi gặp phải vào cuối thế kỷ hai mươi cũng gần như vậy. Liều muối ngửi đó chính là việc tôi bị một chiếc xe tải Plymouth Voyager đâm văng xuống mương bên đường ở quê nhà.

Ba năm sau vụ tai nạn đó, tôi đến hiệu sách Bird ở thành phố Tilden, bang Michigan để tham dự buổi ký tặng cuốn sách mới "From a Buick 8". Khi một người đàn ông xếp hàng đến lượt tôi, ông ấy nói rằng ông ấy thực sự rất rất vui vì tôi vẫn còn sống. (Tôi nghe xong vô cùng cảm động, điều này nghe phấn chấn hơn nhiều so với câu "Sao ông vẫn chưa chết?"). "Khi tôi nghe tin ông bị xe đâm, tôi đang ở cùng một người bạn tốt." Ông ấy nói, "Lúc đó, chúng tôi chỉ biết lắc đầu tiếc nuối, rồi nói với nhau 'Thế là xong đời cái Tòa tháp rồi, nó đã nghiêng rồi, sắp đổ rồi, ôi Chúa ơi, giờ ông ấy không thể viết xong nữa rồi'."

Ý nghĩ tương tự cũng từng xuất hiện trong đầu tôi—điều này khiến tôi rất lo lắng, tôi đã xây dựng nên "Tòa tháp bóng tối" này trong trí tưởng tượng tập thể của hàng triệu độc giả, chỉ cần có người còn hứng thú đọc tiếp, tôi có trách nhiệm phải bảo đảm sự an toàn của nó—dù chỉ là cho độc giả năm năm tới; nhưng theo những gì tôi biết, đây có thể là câu chuyện lưu truyền suốt năm trăm năm. Truyện kỳ ảo, dù hay hay dở (ngay cả bây giờ, có lẽ vẫn có người đang đọc "The Private Memoirs and Confessions of a Justified Sinner" hay "The Monk"), dường như đều có thể nằm trên kệ sách rất lâu. Cách Roland bảo vệ tòa tháp là tiêu diệt những thế lực đe dọa đến các trụ cột, như vậy tòa tháp mới đứng vững được. Sau vụ tai nạn, tôi nhận ra, chỉ có hoàn thành câu chuyện về xạ thủ mới có thể bảo vệ tòa tháp của tôi.

Trong khoảng thời gian gián đoạn dài đằng đẵng giữa việc viết và xuất bản bốn tập đầu của loạt truyện "Tòa tháp bóng tối", tôi đã nhận được vài trăm lá thư, đại loại như "Hãy thu xếp hành lý đi, vì chúng tôi rất áy náy". Năm 1998 (lúc đó tôi cứ như thể mình mới mười chín tuổi, tinh thần hừng hực), tôi nhận được thư của một bà cụ tám mươi hai tuổi, bà "không có ý định làm phiền ông, nhưng những ngày này bệnh tình trở nặng". Bà cụ này nói với tôi, bà có lẽ chỉ còn một năm nữa (tối đa mười bốn tháng, tế bào ung thư đã lan khắp toàn thân), và bà biết tôi không thể vì bà mà hoàn thành câu chuyện về Roland trong thời gian này, bà chỉ muốn biết liệu tôi có thể ("làm ơn") nói cho bà biết kết cục sẽ ra sao. Bà thề "tuyệt đối sẽ không nói với bất kỳ linh hồn nào khác", câu nói này khiến tôi đau lòng vô cùng (dù chưa đến mức khiến tôi phải tiếp tục sáng tác). Một năm sau—hình như chính là lúc tôi nằm viện sau vụ tai nạn—một trợ lý của tôi, Marsha DeFilippo, gửi tới một lá thư, tác giả là một bệnh nhân đang hấp hối ở Texas hoặc Florida, người này đưa ra yêu cầu hoàn toàn tương tự: muốn biết câu chuyện kết thúc như thế nào? (Ông ấy thề sẽ mang bí mật này xuống mồ, điều đó khiến tôi nổi cả da gà). Tôi sẽ đáp ứng nguyện vọng của hai người này—giúp họ tóm tắt hành trình phiêu lưu trong tương lai của Roland—nếu tôi có thể làm được, nhưng, than ôi, tôi cũng không biết. Lúc đó, chính tôi cũng không biết xạ thủ và những người bạn của anh ta sẽ ra sao. Muốn biết, tôi buộc phải bắt đầu viết. Tôi từng có một bản đề cương, nhưng viết mãi viết mãi, bản đề cương cũng thất lạc. (Dù sao thì, có lẽ nó cũng chẳng đáng một xu). Những gì còn lại chỉ là vài mẩu ghi chú (khi tôi viết bài này, vẫn còn một tờ giấy ghi "Childe, Childe, Childe, vần vần—vần vần—cái giỏ" đây là một bài đồng dao xuất hiện nhiều lần trong "Tòa tháp bóng tối" dán trên bàn tôi). Cuối cùng, vào tháng 7 năm 2001, tôi lại bắt đầu viết. Lúc đó tôi đã chấp nhận sự thật rằng mình không còn là mười chín tuổi nữa, biết rằng mình cũng không tránh khỏi những bệnh tật mà thân xác con người phải chịu đựng. Tôi biết mình sẽ sống đến sáu mươi tuổi, có lẽ còn đến được bảy mươi. Tôi muốn hoàn thành câu chuyện của mình trước khi viên cảnh sát tồi tìm tôi gây rắc rối lần cuối. Và tôi cũng không vội vàng xa hoa mong đợi câu chuyện của mình có thể được xếp chung với "Truyện kể Canterbury" hay "Bí ẩn của Edwin Drood".

Độc giả trung thành của tôi, bất kể khi bạn nhìn thấy những dòng này là lúc đang lật mở tập một hay đang chuẩn bị bắt đầu cuộc hành trình tập năm, kết quả sáng tác của tôi—dù hay hay dở—đều đã bày ra trước mắt bạn. Bất kể bạn yêu hay ghét nó, câu chuyện về Roland đã kết thúc rồi. Tôi hy vọng bạn sẽ thích nó.

Đối với bản thân tôi, tôi cũng đã có những năm tháng khí thế ngút trời.

Stephen King

Ngày 25 tháng 1 năm 2003

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »