Sau khi đến thăm dinh Quốc Trưởng, Bake được đi nghỉ phép. Ngày 1 tháng 5 năm 1944, anh ta được thăng cấp đại tá. Hitler cho biết là ông ta vẫn có những sự ngạc nhiên khác trong kho. Nó liên quan đến sự thăng cấp. Bake được đặt trong hàng ngũ sĩ quan tại ngũ và tình trạng sĩ quan dự bị được bỏ đi, một chuyện hiếm khi xảy ra trong quân đội Đức.
Một phần trong chương trình trình thành lập 13 lữ đoàn (Lữ đoàn) xe tăng là việc thành lập Lữ đoàn 106 Xe Tăng Feldherrhalle. Những Lữ đoàn này là sự đáp ứng của nhu cầu chiến trường và thay vào các đơn vị nhỏ hơn, di động hơn với khả năng chiến đấu tương đối nhưng với cái đuôi hậu cần nhỏ hơn. Ngày 13 tháng 7 năm 1944 đại tá Bake trở thành chỉ huy đầu tiên của Lữ đoàn. Ngày 31 tháng 8 anh ta báo cáo là Lữ đoàn đã sẵn sàng chiến đấu và được gởi đi mặt trận phía tây. Tiểu đoàn Panther của Lữ đoàn có 4 đại đội, mỗi đại đội có 11 xe tăng Panther, và đại đội chỉ huy cũng có 11 chiếc. Lữ đoàn có tổng cộng 2500 người.
Giữa tháng 9, Bake và Lữ đoàn của mình hoạt động trong vùng nam Metz dưới sự chỉ huy của Quân đoàn 13 Xe Tăng SS. Một lần nữa Bake đã làm nổi bật mình qua sự cẩn trọng và tài chỉ huy quyết định cho đơn vị thiết giáp của mình. Ngày 4 tháng 10, Lữ đoàn được đặt dưới Quân đoàn 85 Bộ binh ở khu vực phía tây của Belfort.
Trong thời gian chiến đấu phòng thủ ở phía tây, Bake và các xe tăng Panther của mình liên tục chiến đấu dưới các chỉ huy khác nhau. Một lần nữa Bake chứng tỏ kỹ năng của mình kiểm soát được những tình hình khó khắn nhất. Mùa đông năm 1944, anh ta chiến đấu dưới Quân đoàn 13 Bộ binh và sau đó với Sư đoàn 21 Xe Tăng. Anh ta hoạt động ở vùng Mulhausen của Alsace là những ví dụ cơ bản của một người chỉ huy biết dùng người và các trang thiết bị tốt nhất. Bake bắn cháy thêm nhiều xe tăng với chiếc Panther của mình, tuy nhiên, con số tiêu diệt chính sát trong thời gian này không được biết.
Trận đánh nặng nhất của Lữ đoàn 106 Xe Tăng là trận phòng thủ đầu cầu Alsace, bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 1945. Lữ đoàn là trung tâm của quân Đức phòng thủ giữ đầu cầu cho đến ngày 7 tháng 2. Ngày 3 tháng 2, Bake giao Lữ đoàn cho trung tá Bác Sĩ Drewes. Bake được triệu tập bởi OKH (bộ tư lệnh tối cao) để thành lập và nắm chức tư lệnh Sư đoàn 13 Xe Tăng.
Sư đoàn 18 Xe Tăng, gần như bị tiêu diệt trong trận Budapest, đưa Trung đoàn 4 Xe Tăng cho Sư đoàn tân lập Feldherrnhalle 2, Bake cuối cùng chỉ huy. Sự thành lập của Sư đoàn mới được mau chóng nhờ sự tách rời các đơn vị từ khác Sư đoàn khác, mau chóng sau đó, Sư đoàn được đưa đến Slovakia.
Bake thấy rõ là Sư đoàn của mình được giao nhiệm vụ bảo vệ đoạn hậu của một con số lớn tị nạn Đức chạy khỏi Hồng Quân. Được thăng cấp lên chuẩn tướng ngày 1 tháng 4, Bake chỉ huy Sư đoàn của mình trong trận đánh lớn trong khi rút lui qua khỏi Ai Cập thì hắn đến Mỏavia và cuối cùng là vùng Budweis. Sư đoàn đạt nhiều thành quả, cứu được một số lớn những người tị nạn và đưa họ về phía tây.
Chiến tranh chấm dứt ngày 8 tháng 5 năm 1945, Bake cố gắng đầu hàng Sư đoàn của mình vào tay quân Mỹ để Sư đoàn khỏi rơi vào tay Soviet. Tuy nhiên, anh ta không thể thuyết phục được người Mỹ, Sư đoàn của anh ta, cũng như những đơn vị khác, bị giao cho quân Soviet.
Chuẩn tướng Bake bị bắt buộc phải ra lệnh Sư đoàn giải tán. Anh ta yêu cầu các sĩ quan tập trung binh lính lại và vượt qua tuyến Mỹ từng nhóm nhỏ. Nhiều nhón binh lính đến được tự do tây phương. Một trong những nhóm đó là do Franz Bake dẫn đầu. Tuy nhiên, nhiều thành viên của Sư đoàn rơi vào tay quân Nga và bị đem đi Liên xô, nơi họ phải làm việc khổ sai trong các hầm mỏ trong 10 năm trời.
Những Ngày Quan Trọng Trong Cuộc Đời của Chuẩn Tướng Nha Sĩ Franz Bake
28 tháng 2 năm 1898: sinh ra ở Schwarzenfels (Franconia)
19 tháng 5 năm 1915: tình nguyện tham gia trung đoàn 53 bộ binh ở tuổi 17. Huân chương: Chữ Thập Sắt, hạng 1 và hạng 2.
Tháng 11 năm 1918: cấp bậc trung sĩ và sinh viên sĩ quan trong trung đoàn 7 bộ binh.
Tháng 1 năm 1919: giải ngũ.
1 tháng 12 năm 1937: tham gia Wehrmacht là thiếu úy dự bị. Tham gia Chiến Dịch Ba Lan với chức vụ trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 6 thám báo của Sư đoàn 1 Nhẹ.
1 tháng 11 năm 1939: được thăng cấp lên trung úy.
1 tháng 2 năm 1941: sĩ quan phụ tá trung đoàn 11 xe tăng
1 tháng 5 năm 1941: chỉ huy 1 phần của trung đoàn xe tăng và được thăng cấp đại úy dự bị.
1 tháng 10 năm 1941: sĩ quan phụ tá hành quân trung đoàn 11 xe tăng.
1 tháng 12 năm 1941: tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, trung đoàn 11 xe tăng.
1 tháng 4 năm 1942: tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn 11 xe tăng.
1 tháng 8 năm 1942: thăng cấp thiếu tá dự bị.
1 tháng 1 năm 1043: huân chương Chữ Thập Hiệp Sĩ, Chữ Thập Sắt.
14 tháng 7 năm 1943: trung đoàn trưởng trung đoàn 11.
1 tháng 8 năm 1943: trở thành người lính thứ 262 nhận Lá Sồi cho huân chương Chữ Thập Hiệp Sĩ.
21 tháng 2 năm 1944: Trở thành người lính thứ 49 nhận Thanh Kiếm cho huân chương Chữ Thập Hiệp Sĩ với Lá Sồi.
13 tháng 7 năm 1944: được chỉ định làm chỉ huy trưởng lữ đoàn 106 xe tăng Feldherrnhalle.
8 tháng 3 năm 1945: tư lệnh sư đoàn 13 xe tăng và đổi thành sư đoàn xe tăng Feldherrnhalle 2.
1 tháng 4 năm 1945: thăng cấp chuẩn tướng.
12 tháng 12 năm 1978: mất ở Hagen, Westphalia, trong một tai nạn giao thông.