Khi chiến tranh nổ ra ngày 1 tháng 9 năm 1939, Rudolf von Ribbentrop là 1 tân binh được bổ sung cho 1 tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh SS Deutschland tại Munich. Chỉ huy trung đoàn lúc đó là đại tá Felix Steiner. Steiner là 1 sĩ quan trong lực lượng Waffen-SS, người đã nhận thấy từ lâu rằng 1 đơn vị thành công phải là 1 đơn vị có khả năng cơ động cao. Sự cơ động này tạo nên yếu tố bất ngờ trong việc tiến công và chọc thủng 1 vị trí đối phương, đảm bảo truy kích địch đang rút lui nhanh chóng và giành được nhiều đất. Kết quả là trung đoàn trưởng đã tiến hành cơ giới hóa cho đơn vị ở mức độ cao nhất có thể.
Tháng 10 năm 1939, von Ribbentrop được chuyển về trung đoàn, đang đóng quân ở Protectorate, trong đại đội 11. Đầu tháng 4, đại đội 11 chiến thắng trong 1 cuộc thi hành quân dã ngoại toàn trung đoàn. Là 1 thành viên trong đại đội chiến thắng, von Ribbentrop được thưởng 1 ngày phép đặc biệt. Anh xin được dùng ngày phép để về Berlin ngày 30 tháng 4 trong dịp sinh nhật của cha mình là ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop. Yêu cầu bị từ chối vì chỉ huy trung đoàn muốn tránh điều tiếng là thiên vị vì phạm vi của ngày phép đặc biệt này chỉ trong vòng bán kính 300km, trong khi Berlin ở xa hơn nhiều.
Von Ribbentrop bịa ra rằng ngày phép đã được bộ chỉ huy của Himmler ủy quyền phê duyệt và anh được cho đi.
Một viên thiếu tá trong trung đoàn có quen biết đã kéo anh ra nói riêng rằng những sự can thiệp kiểu vậy dù mình không dính vào thì cũng không có lợi. Anh thề là không hề biết về việc này. Ông ta tin anh và dặn phải cẩn thận không để những việc kiểu như vậy tái diễn nữa.
Tôi lái xe đến Berlin và có 2 trải nghiệm đáng nhớ. Được kề cận Hitler hơn nửa giờ đồng hồ, khi ngài, theo thông lệ thường dự buổi tiệc sinh nhật các vị bộ trưởng, tới chúc mừng cha tôi với tư cách cá nhân.
Hôm ấy là ngày 30 tháng 4, tôi ngồi ở bàn bên cạnh suốt buổi tiệc trong khi cha tôi và quốc trưởng say sưa nói chuyện.
Hitler nói về vấn đề giao thông vận tải của châu Âu và nhận định rằng sau chiến tranh thì khổ đường ray của châu Âu nên cải tạo theo khổ đường ray rộng hơn ở Nga. Điều này sẽ khiến cho số lượng hàng hóa vận chuyển tăng lên. Không thấy có biểu hiện gì về tư tưởng chống Nga trong câu chuyện. Ngược lại, ngài còn tán dương việc chính phủ Phổ đã chuyển qua khổ đường ray rộng hơn trong thế kỷ trước.
Khi nói về những thành công của chiến dịch Weseroebung ở Đan Mạch và Na Uy (vẫn đang giao tranh tại Narvik, nơi tướng Dietl đang trong tình cảnh nguy ngập) Hitler nói về việc xây những chiếc cầu nối bán đảo Scandinavia với lục địa, đưa châu Âu đến gần hơn nếu cần thiết.
Cuối cùng ông nói về cơ hội mở ra 1 cuộc tiến công sang phía Tây. Ông ta cho rằng quy mô lực lượng viễn chinh Anh ở đây đã bị thổi phồng. Qua những ngôn từ đó, rõ ràng là ông sẽ tấn công sang phía tây trong tương lai không xa.
Tôi mong mỏi cuộc tấn công sẽ sớm bắt đầu, vì tôi nghe qua Wedel ở đại đội 2, là tất cả những khóa sinh có tiềm năng sẽ được cử đi học tại trường sĩ quan Braunschweig.
Cả hai đứa đều hy vọng sẽ được tham gia vào 1 chiến dịch ở mặt trận phía tây, vì không muốn đi học sĩ quan khi chưa có kinh nghiệm chiến trường rồi lại phải về chỉ huy những con người đã dày dạn trận mạc.
Đợt huấn luyện học viên sĩ quan bắt đầu với tiểu đoàn 3 tại Ahlen, Westphalia, ngày 9 tháng 5. Khi những quân nhân được chọn lựa đến trình diện sĩ quan giảng dạy thì họ được báo là khóa huấn luyện bị hủy bỏ. Các giáo viên được chuyển sang nhiệm vụ chiến đấu.
Hôm đó von Ribbentrop và đồng đội chứng kiến những hoạt động nhộn nhịp bất thường trước khách sạn là nơi đặt sở chỉ huy trung đoàn. Những chiếc xe chở sĩ quan tham mưu ra vào tấp nập, lính liên lạc vội vã chạy tới chạy lui. Rõ ràng là đã diễn ra sự kiện đặc biệt gì đó. Còn điều gì khác hơn ngoài việc phát động cuộc tấn công sang phía tây?
Hai người lính trẻ dò hỏi bạn bè làm trong sở chỉ huy và được biết toàn đơn vị đã được đặt trong trạng thái báo động cao nhất. Cả hai chạy về đại đội mình thấy mọi người đều đã trong tình trạng báo động sẵn sàng. Lần này chắc hẳn là rất nghiêm trọng, với von Ribbentrop thì nó có nghĩa là anh sẽ ra mặt trận chứ không phải đi học sĩ quan nữa.
Đại đội 11 đã sẵn sàng xuất phát lúc 14g ngày 9 tháng 5. Xe cộ đã được chất đầy và lính tráng được phát đạn thật. Tuy nhiên vẫn chưa có lệnh xuất phát. Binh lính vẫn trong doanh trại, rõ ràng sẽ không thể khởi hành trước khi trời tối.
Một giờ sáng ngày 10 tháng 5, lệnh báo động được phát ra. Các đơn vị lên đường ngay sau đó, thì von Ribbentrop lại phát hiện ra các học sinh sĩ quan sẽ phải đến trường sĩ quan Braunschweig.
Vào dịp sinh nhật của cha mình, tôi đã thu hết can đảm đến nói chuyện với Đại thủ lĩnh SS Heinrich Himmler, khi ông ta cũng đến chúc mừng. Tôi nói là tôi nghe đồn sẽ được đi học sĩ quan khi chưa có cơ hội chứng tỏ bản thân trong chiến đấu. Tôi cho rằng điều này sẽ khiến tôi và các bạn học bị đánh giá thấp trước những người lính giàu kinh nghiệm và khiến chúng tôi khó khăn khi chỉ huy họ sau này.
Himmler vỗ vai tôi lạnh lùng nói: “Lệnh sao thì cứ làm vậy!”
Tối ngày 9 tháng 5, tôi rất tức giận và đòi được gọi điện thoại nói chuyện với cha tôi. Dù đang rất nhiều việc nhưng cha tôi vẫn chấp nhận nghe điện và tỏ vẻ thông cảm và nói ông khó có thể tác động trực tiếp đến lệnh đã ban ra bên SS được. Ông hiểu lý lẽ của tôi và sẽ sớm nói chuyện với Himmler về vấn đề này khi có dịp.
Lúc này Ribbentrop nhớ lại cuộc nói chuyện trong khu nhà lính với vị sĩ quan phụ trách phòng quân lực của trung đoàn là Đại úy Reichel ít bữa trước đó, và quyết định đến khách sạn Gretenkort để gặp ông ta tại sở chỉ huy trung đoàn. Anh gặp đại úy Reichel tại khách sạn lúc 2 giờ. Von Ribbentrop xin ông cho phép đi theo đơn vị của mình tham gia chiến dịch miền Tây. Reichel đã tới chỗ trung đoàn trưởng và quay về giải thích rằng “Trung đoàn trưởng sẵn lòng cho cậu theo nhưng ông muốn có sự đồng ý của cha cậu, phòng có gì xảy ra trong suốt chiến dịch”.
Von Ribbentrop khẳng định cha mình đã hoàn toàn đồng ý.
Đại úy Reichel cười và bật mí: ” Trung đoàn trưởng muốn nghe tận tai điều đó”
Rudolf von Ribbentrop đưa cho ông ta số điện thoại của cha mình và chạy về trại để chuẩn bị đồ đạc. Reichel cho biết là tiểu đoàn 3 đã đi rồi và anh sẽ đi chung với những đơn vị còn lại của trung đoàn.
Ribbentrop mang đồ đạc chạy vội về sở chỉ huy trung đoàn vừa đúng lúc trung đoàn trưởng đang rời khỏi khách sạn. Ông này cho hay là cha anh đã không đồng ý, vậy nên anh sẽ không được đi theo.
Felix Steiner vỗ vào lưng anh lính trẻ nói: “Hãy tin tôi, con trai. Cậu sẽ có rất nhiều thời gian để tham gia chiến tranh. Khi đã thành sĩ quan, hãy về gặp tôi vì tôi đang xây dựng 1 sư đoàn mới”. Sau đó Steiner ra ô tô và trực chỉ tới Pháp.
Rudolf von Ribbentrop cố gắng gặp cha mình nhưng người thư ký không cho. Vì thế anh gọi cho mẹ và phân bua rằng giờ đây khắp trung đoàn sẽ cho rằng anh được miễn trừ vì là con trai của bộ trưởng. Đây là 1 điều hổ thẹn cho anh và gia đình. Mẹ anh cắt ngang:
“Con hãy nói trực tiếp với cha đi!”
Cha anh nghe điện thoại và nói ông rất hài lòng nếu anh tham gia chiến dịch. ” Ba hoàn toàn đồng ý với con. Ba không thể ra lệnh, nhưng ba sẽ nói với Himmler khi có dịp”
Hóa ra trong cuộc trao đổi giữa Steiner và 1 trợ lý của bộ trưởng bộ ngoại giao Đế chế, ông ta đã nói cho viên chỉ huy rằng ngài bộ trưởng không có quyền ra lệnh cho SS. Điều đó được suy diễn là ngài Ribbentrop đã “không đồng ý”.
Von Ribbentrop vậy là đã có câu trả lời lúc 3g sáng. Người chủ nhà trọ kiếm cho anh 1 chiếc taxi và anh dùng nó đuổi theo trung đoàn mình. Đi trên đường nhánh – trong khi đường chính giành chuyển vận binh lính sang phía Tây – cuối cùng Ribbentrop cũng tới được Lüdinghausen nơi anh bắt kịp đội hình tiểu đoàn phòng không của trung đoàn. Chiếc taxi cứ chạy qua cho đến khi đến 1 chỗ có nhiều người đang đứng cạnh chiếc xe dẫn đầu đoàn quân nữa.
Một trong số đó là vị trung đoàn trưởng của Ribbentrop. Khi Von Ribbentrop chạy đến báo cáo thì Felix Steiner nói rằng.” Từ lúc cậu đến được đây, cậu đã được tiếp nhận”
Trong khi về đơn vị trên chiếc xe chở ông sĩ quan quân y trung đoàn là bác sĩ Braun, người ta thấy trên trời có tới hàng trăm chiếc máy bay vận tải Ju-52. Chúng chở theo lính dù Đức đang hướng tới mục tiêu của họ là pháo đài Hà Lan.
Ribbentrop nhận được đồng đội đón mừng ầm ĩ. Đại đội trưởng, đại đội phó cùng các hạ sĩ quan cười và đùa rằng rồi anh lính trẻ sẽ lại bị gọi về trước khi bắt đầu chiến đấu. Không lẽ nào lại thế.
Sáng ngày 11 tháng 5, trung đoàn Deutschland vượt sông Rhine gần Rees và hành quân vào Kalkar. Tới trưa thì tiền duyên quân Đức đã tới gần Mook. Người Hà Lan vui vẻ ra vẫy cờ chào mừng trên đường tiến quân. Tốc độ tiến quân qua Hà Lan rất cao trong cả ngày hôm đó. Đại đội 10 dẫn đầu trung đoàn, trong khi đại đội 11 đi phía sau pháo đội. Khi gặp sự chống cự tại 1 cây cầu bị giật sập. Pháo đội di chuyển lên trước chiếm lĩnh vị trí bắn. Cung cấp hỏa lực yểm trợ để các trung đội nhảy xuống xe và tấn công ngay mà không cần dừng lại chuẩn bị.
Công binh chiến đấu sửa xong cầu nhanh chóng. Sau khi qua cầu, binh lính bắt gặp những xác chết đầu tiên của chiến dịch nằm 2 bên đường. Chúng là quân Pháp.
Sáng hôm sau, đại đội 11 đi đầu. Binh lính được lệnh chiếm vùng phía nam Breda. Trung đội của Ribbentrop, dươi quyền trung úy Koop, được đưa lên trước dọc theo quốc lộ.
“Bên phải chúng tôi là đồng trống, bên trái có rừng thông nhỏ. Đột nhiên từ khoảng trống rộng khoảng 50m của khu rừng, chúng tôi phát hiện 1 toán tuần tra khoảng 20 người của quân Pháp. Đang đi cùng hướng với chúng tôi. Trung úy Koop đặt ngón tay trỏ lên môi. Qua ám hiệu đó chúng tôi rẽ sang trái và âm thầm di chuyển qua rừng cây cho tới khi đến khi tới gần những lính Pháp khoảng 30m. Khi đang quan sát, bỗng 1 lính Pháp phát hiện ra chúng tôi. Tôi chết chân đứng nhìn. Sau đó tôi giơ súng trường lên bắn, nhưng không trúng. Lúc đó – súng bọn tôi đang lắp lưỡi lê- chúng tôi la hét, nhảy xổ vào bọn Pháp, mà không bắn thêm phát nào. Bọn Pháp đã đầu hàng.
“Là người duy nhất biết tiếng Pháp, tôi tiến hành hỏi cung những lính Pháp nhằm xác định xem đơn vị nào của chúng đang đi phía sau.”
Lần tiếp xúc đầu tiên của Ribbentrop với đối phương đã kết thúc. Ngày hôm sau trung đoàn tiến tới tận Bergen op Zoom, trên bờ biển. Ở ngoại vi thành phố, lính trung đoàn đã đụng độ với lính Hà Lan đang rút ra.
“Tôi được giao cho làm lính liên lạc, nên có vẻ độc lập hơn so với đồng đội. Tôi xâm nhập vào 1 trang trại có đầy nhóc lính Hà Lan, bỗng tôi chạm trán 1 trung úy, chỉ cách độ mấy mét. Tôi quát lớn: “Giơ tay lên!”. Anh ta trả lời tôi bằng tiếng Đức rất sõi báo cho tôi biết anh ta đại diện đơn vị và ra lệnh cho lính của mình hạ vũ khí.”
Von Ribbentrop thấy 1 chiếc mô tô DKW 350 phân khối đang trong tay của 1 lính Hà Lan. Chiếc xe này thật hợp với anh với nhiệm vụ là lính liên lạc trong 1 đơn vị cơ giới. Trung đội trưởng lệnh cho anh chạy xe về phía Tây để bắt liên lạc với tiểu đoàn 2 nằm bên trái đơn vị.
Tôi lái xe trực chỉ bán đảo Beveland và phát hiện 1 lính gác đứng trên đê. Tôi đã vượt qua chỗ trung sĩ Seiler, nên chắc đây phải là lính gác của tiểu đoàn 2.
Tôi cứ chạy thẳng tới người lính gác với tốc độ tối đa. Khi còn cách 30m, tôi mới nhận ra 1 điều là người đó không mặc áo ngụy trang và là 1 lính Hà Lan không mang vũ khí. Anh ta nghĩ tôi là lính Pháp nên vẫy tôi lại gần. Tôi vẫy lại rồi quay xe, nằm rạp lên bình xăng phóng ngược trở lại. May thay, đạn súng máy của địch nhằm vào tôi đều không trúng đích.
Khi gặp lại Seiler, lúc đó cũng đã kiếm được xe đạp cho mình và lính, chúng tôi quyết định sẽ diệt chốt gác đó. Chúng tôi lẻn đến chỗ con đê và ném sang đó 1 quả lựu đạn. Sau đó nhóm chúng tôi – gồm 5 người- nhảy lên mặt đê. Quân Hà Lan đang bỏ chạy cánh đó 100m. Bọn tôi chỉ kịp thấy lưng chúng.
Sau đó chúng tôi bị súng từ 1 cái hầm bắn đến và phải nấp sau con đê. Tiểu đoàn đã tới kịp thời. Trong lúc chúng tôi nấp sau con đê, mấy công sự của Hà Lan bắn yểm trợ cho nhau bằng đủ loại súng.
Khi đó, chúng tôi đi lấy xe đạp rồi phóng như điên về phía Tây. Trung đội trưởng của bọn tôi, lúc này đang nắm đại đội, giữ ba lính liên lạc trung đội đi cùng. Ba chúng tôi chạy xe theo đám lính mô tô đang chạy cách vài km trên đường quốc lộ. Hai bên đường là vùng đất ngập nước do người Hà Lan đã tháo nước vào. Chúng tôi vừa tới chỗ đám lính mô tô, thì vấp phải hỏa lực súng máy dày đặc từ 1 dẫy công sự boongke.
Chúng tôi vừa nhảy sang trái thì lập tức bị bắn từ ngay hướng đó nên phải chuyển chỗ qua phía bên kia con đường và lại bị súng máy quất túi bụi. Chúng tôi nhảy ra khỏi đường tới nấp sau 1 cái gò thấp có nhiều sỏi. Hartmann nằm phía trước tôi, còn 1 đồng đội khác mà tôi không còn nhớ tên nằm phía sau. Thẳng chỗ tôi là chiếc mô tô có người lái xe đã bị bắn hạ. Máy vẫn gầm lên và tôi bỗng bị điếc đặc trong chốc lát.
Tôi thận trọng ló đầu lên và thấy ngay đằng trước có 1 boongke, đang nã đủ loại súng vào chúng tôi. Đạn súng máy ghim thun thút vào thùng xe của chiếc mô tô 3 bánh. Cơ hội thoát chết của chúng tôi là hết sức mong manh. Một giờ rồi 2 giờ đồng hồ trôi qua. Bỗng đôi chân viên sĩ quan trợ lý tham mưu trung đoàn xuất hiện cạnh chiếc mô tô vẫn còn nổ máy. Ông ta “vũ trang” bằng 1 lá cờ trắng và bước tới chỗ cái boongke. Đạn không bắn ra nữa. Tôi nhảy lên và báo có mặt liền bị ăn mắng vì cái tội liều mạng. Thế nên tôi lui về nấp sau khúc cong của con đê là chỗ mà lúc trước tôi rất muốn chạy tới nhưng quá nguy hiểm. Tôi gặp toàn bộ đại đội ở đó.
Trung đoàn đã nhận được tin báo quân đội Hà Lan dưới quyền đại tướng Winkelman đã đầu hàng. Chỗ này cũng vậy, quân Hà Lan cũng đang được rút đi.
Trung úy Koop cho tôi về trạm sơ cứu, do bị 1 mảnh đạn từ 1 viên đạn bị vỡ khi bắn vào sỏi ghim vào vai. Hai đồng đội, những người cùng bị ghìm chặt với tôi cạnh chiếc mô tô đều bị giết. Thật đau xót khi tôi vẫn còn mà họ thì không.
Người nằm bên trái lẫn bên phải tôi đều chết. Số mệnh đã tha cho tôi.
Trung đoàn nhanh chóng tới được Verseke sau khi đi qua các ngôi làng bỏ ngỏ của Krabbendijk, và ở đây cũng không thấy bóng dáng địch quân. Ngày hôm sau thì vượt qua kênh đào.
Lính công binh chiến đấu xuất hiện vào sáng sớm và chuẩn bị vượt kênh bằng xuồng cao su. Những chuyến đầu tiên là những xuồng chở 3 người. Lính trong đợt đầu sẽ lên bờ bên kia và thiết lập đầu cầu tại đó.
Tại chỗ trú ẩn trên đê, trung úy Koop gọi, “Ai tình nguyện lên chỗ tôi!” rồi nói tiếp, “Đằng trước có nhiều chỗ ngon. Hãy lên xí 1 chỗ đi!”. Tình nguyện viên Ribbentrop được phân đi đợt đầu cùng 1 đồng đội và 1 lính công binh chiến đấu. Pháo binh Đức tiến hành 1 đợt oanh kích ngắn. Sau 1 hồi còi, ba người lính vọt lên vượt qua mặt đê phóng xuống kênh. Sau đó họ nhảy lên xuồng cao su và chèo qua bờ bên kia dưới làn đạn súng máy đối phương. Chẵng mấy chốc họ tới được vùng mà hỏa lực địch mất tác dụng, 3 người lính chạy lên mặt đê. Họ nhanh chóng được các tổ khác cùng đại đội tiếp sức và khai hỏa vào đám lính Pháp đang rút chạy. Bám sát gót bại quân địch, trung đoàn xốc tới chiếm Kapelle. Tại đó lính tráng có thể kiếm xe đạp và đạp xe trực chỉ Goes. Vừa qua 1 khúc cua, họ nhìn thấy 2 đại đội Pháp, có vẻ đang sẵn sàng hạ vũ khí.
“Chúng tôi tới chỗ họ cùng 1 tiểu đội trưởng và 1 thiếu úy trong trung đội. Một đại úy lớn tuổi đứng nghiêm chào và đưa 2 đơn vị ra đầu hàng. Tôi tới nói chuyện và bảo ông ta đưa cho tôi cái ống nhòm lớn đang đeo trên cổ. Ông ta không muốn giao nó và cố giải thích đó là tài sản cá nhân, tôi đã chấp thuận cho ông ta giữ lại dù rằng cái ống nhòm đó là đồ quân sự mà chúng tôi được lệnh phải tước hết.”
“1 viên trung sĩ người Bavarian thì lại phớt lờ trước sự phản đối của tay đại úy Pháp, tiến tới tước mất ống nhòm của ông ta. Sau đó những tù binh Pháp được chuyển về phía sau”
Trung đoàn Deutschland di chuyển nhanh chóng, sự thiếu thốn phương tiện cơ giới lại khiến mọi người bớt hăng hái hơn. Băng qua bán đảo Beveland là tới Walcheren. Muốn tới đảo thì phải đi qua 1 con đê hẹp. Hai bên đê là những vùng quê ngập nước. Đạp xe dọc theo đê, lính của đại đội 11 đã chạm trán 1 số lính quân cảnh Pháp. Với bộ áo ngụy trang mặc ngoài – 1 sáng kiến của Felix Steiner – lính Pháp cứ ngỡ đó là quân Anh.
“Khi những ổ súng máy địch nhận ra sai lầm và nổ súng thì chúng tôi đã đến khá gần. Lính Đức nhảy xuống mương nước và lui đến chỗ kín đáo hơn, có khi ngập đến tận thắt lưng để tập hợp lại với đại đội lúc này mới tới gần.
“Bỗng chiếc xe bọc thép của trung đội thám báo trung đoàn xuất hiện. Nó lao tới rất nhanh, khẩu ca nông 20mm khai hỏa vào quân Pháp từ cuối con đê cho tới Walcheren, nhằm dọn quang 1 nơi tập trung cho cuộc tấn công sau buổi sáng. Nó bị dính đạn pháo chống tăng địch và phải lui lại. Tuy nhiên, lính Pháp cũng bỏ vị trí và rút qua bên kia khu vực ngập nước.”
Sư đoàn SS Verfügungs (tiền thân của sư đoàn SS Das Reich), với trung đoàn Deutschland trong biên chế đi qua Bỉ tới Huy tiến vào eo đất tới bờ biển. Sau khi chiếm được Vlissingen thì cuối cùng xe vận tải đã đến và nhờ vậy mà bớt đi được 3 ngày hành quân bộ mệt nhọc.
Đầu tiên, tiểu đoàn 3 của trung đoàn chiếm được con đê dẫn tới đảo Walcheren. Tiểu đoàn vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của Pháp và các cuộc tấn công không có kết quả. Sáng hôm sau 3 máy bay ném bom He-111 với sự hướng dẫn của sĩ quan liên lạc không quân đã tới nơi và oanh tạc vị trí phòng thủ của quân địch ở cuối con đê. Khi lính phòng thủ Pháp đã dao động thì đại đội 11 xông lên phía trước chiếm được điểm đầu bên kia của đê. Trên đường tiến quân, đại đội 11 thấy nhiều xác đồng đội thuộc đại đội 9 nằm chết tại sườn dốc đê.
Lúc tiểu đoàn 3 trung đoàn Deutschland chiếm được đảo, thì từ những ngôi nhà và bụi cây, lính Pháp nhô ra đầu hàng. Khi viên chỉ huy của 1 khẩu đội pháo PAK 37mm hướng nòng về 1 toán lính Pháp đang tập trung phía xa thì đại úy Gesecke nhảy lên đập tay vào mũ sắt của anh ta và quát “Chúng ta không phải là quân man rợ!”
Tay khẩu đội trưởng phản ứng rằng anh ta không hề có ý bắn mà chỉ định phòng xa mà thôi.
Với 1 khẩu pháo chống tăng duy nhất đi cùng, tiểu đoàn 3 đạp xe đến Vlissingen. Đến cảng thì mọi người thấy con tàu Pháp cuối cùng đã rời bến. Khẩu pháo chống tăng bắn vào nó nhưng nó vẫn đi thoát.
Rudolf von Ribbentrop ghi lại trong nhật ký:
Tại 1 ngôi nhà trên cảng, chúng tôi thấy có 1 bàn ăn chắc là giành cho bộ tham mưu quân Pháp. Chúng tôi đang rất đói, vì tiến quá nhanh nên đã nhiều ngày nay,chúng tôi chẳng được ăn khẩu phần bình thường. Sau khi đã ních đầy bụng, chúng tôi kiệt sức chìm vào giấc ngủ.
Sớm hôm sau, chúng tôi bị đánh thức và đưa lên xe tải tiến về phía Đông. Tới Krabbendijk thì dừng lại để cầu nguyện bên nấm mộ 2 người lính liên lạc đồng đội của tôi đã chết ở đó. Rồi chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi đâu đó ở miền nam Hà Lan. Trong khi đang cạo râu, tắm rửa thì bỗng nghe có tiếng chỉ huy: “Xếp hàng!”
Đại thủ lĩnh Himmler bước từ trên xe ô tô xuống. Tôi rút xuống hàng thứ 3 để tránh mặt ông ta. Nhưng cuối cùng thì phó của Himmler là trung tướng Wolf, khá nổi tiếng sau này gọi tôi.
“Khỏe chứ Ribbentrop?”
Himmler đột ngột thay đổi thái độ, gọi tôi đến và vỗ về ngọt ngào: “Cháu đã xoay xở giỏi đó”. Sau đó ông ta cho phép tôi ở lại trung đoàn đến ngày 31 tháng 5. Trước khi đi Himmler nói: “Nhưng sau đó là phải đến Braunschweig ngay nhé!”
Sau khi ông ta đi, chúng tôi lại lên xe tải tiếp tục hành trình dọc theo bờ biển, trực chỉ hướng Tây Bắc. Bỗng có 1 lính liên lạc đến trước mặt và gọi tôi.
“Ribbentrop, cha cậu đang ở phía trước đó!”
Không lâu sau, tôi đã ở trong 1 trang trại là nơi đóng quân của các sĩ quan tham mưu trong sở chỉ huy trung đoàn và gặp được cha mình. Ông đã khéo léo lẻn ra khỏi Tổng hành dinh của Quốc trưởng, lái xe ra mặt trận với sĩ quan liên lạc của mình là vị đại tá điển trai von Geldern.
Ngày hôm đó thật tuyệt vời. Tôi được phép ở lại dùng bữa tối, sau đó ngồi ngồi ngoài và tận hưởng 1 buổi tối khó quên. Đã có lệnh cho ngày mai, cha tôi nói với tôi rằng:
“Cứ tiếp tục thế ngày mai nhé”
Khi chia tay, cha dặn “Phải luôn kiên định”
Suốt trong chiến tranh, ông thường lặp lại câu đó với tôi. Lần cuối cùng ông nhắc lại những lời đó qua tấm vách ngăn là tại Nuremberg trong chuyến thăm ngắn ngủi khi đang là tù nhân. Hồi còn bị giam ở trại Dachau, tôi đã xin được đi thăm ông sau khi ông bị kết án nhưng bị từ chối.
Trên đường về với đại đội, tôi đã có lúc phải chui xuống nấp dưới gầm xe tải suốt đêm vì liên tục có báo động.
Sáng hôm sau có lệnh xuất phát sớm nhưng chúng tôi vẫn phải đợi trong xe dù đã sẵn sàng. Rồi lại có lệnh hủy, và chúng tôi lại phải chờ đợi.
Ngày kế tiếp, chúng tôi được chở tới phía đông Merville. Chúng tôi rời xe và tấn công lên hướng bắc. Lần này chúng tôi phải chiến đấu với 1 đơn vị quân Anh có xe tăng hỗ trợ, còn chúng tôi thì không. Các đơn vị Waffen-SS không được trang bị xe tăng cho đến tận năm 1942. Những khẩu pháo chống tăng 37mm của chúng tôi, cái loại gọi là “kẻ gõ cửa” có rất ít cơ hội giành chiến thắng. Một khẩu đội pháo chống tăng đã lãnh 1 cú trực xạ, làm toàn bộ pháo thủ từ chết đến bị thương.
Mọi người chạy đến cứu họ. Một người lính bị thương nặng, tay bị nát cùng nhiều mảnh đạn ghim trên người kêu lên: “Chiến đấu tiếp đi, các chiến hữu!”
Cảnh tượng ấy gây ấn tượng sâu sắc trong tôi. Hầu như không ai trong chúng tôi là cựu binh, tôi chỉ vừa qua 19 tuổi mấy ngày trước đó.
Đại đội trưởng đại đội 14, người đã đưa những khẩu pháo chống tăng của mình lên phía trước, xuất hiện trên chiếc xe Kübelwagen. Không đếm xỉa đến hỏa lực địch, đưa thương binh lên xe mình mang về rồi lại phóng lên khẩu đội chống tăng gần nhất và nhắm bắn. Ông ta bắn tài đến nỗi xe tăng Anh phải rút lui. Tiểu đoàn đã đến và vượt kênh bằng xuồng cao su. Đương đầu với mọi sự kháng cự nó vượt qua Merville tới đầu mút của con đường ở phía đông thị trấn và cắt đứt nó. Suốt đêm, những ổ súng máy của tiểu đoàn đã nã vào rất đông xe cộ của Anh đang cố trốn thoát khỏi Merville.
Hôm sau chúng tôi lại tiến ra cắt đường và không gặp sự kháng cự mạnh nào. Toàn cảnh con đường là 1 đống đổ nát hoang tàn. Xe cộ bị bắn cháy nằm khắp nơi. Ở hai bên đường và trong mương nước có nhiều xác lính Anh.
Tối đến, chúng tôi đào công sự dọc theo 1 hàng rào cây. Ở đó chúng tôi tìm thấy 1 cái mũ sắt đức hồi chiến tranh thế giới thứ I. Chúng tôi đang chiến đấu ở Flanders, nhiều thứ kiểu vậy cũng được tìm thấy. Xa xa là vùng Kemmelberg khét tiếng, nơi từng có những trận đánh giữ dội, lính Pháp và Đức đã chết rất nhiều ở đấy.
Sáng hôm sau thì trung sĩ nhất Kratochwil dẫn 1 toán lính đi thám sát tới 1 ngôi làng bị bỏ hoang. Tôi tình nguyện làm nhiệm vụ này. Kratochwil chỉ huy cuộc thám sát rất điềm tĩnh và khéo léo. Chúng tôi tới được ngôi làng mà không có sự cố nào xảy ra. Điều đó chứng tỏ quân Anh đã rút lui.
Chúng tôi quay về theo cách còn êm hơn lúc đi vào. Trên đường về chúng tôi gặp chạm chán 1 số lính bộ binh của lục quân đang tiến vào làng từ hướng khác. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy quân Đức trên hướng này không hành động quyết liệt và mau chóng để truy kích địch. Lực lượng viễn chinh Anh quốc đang rút lui, nếu quân truy kích nhanh hơn, sẽ có thêm nhiều lính Anh bị bắt. Tạo ra lợi thế lớn hơn khi tiến hành đổ bộ vào nước Anh.
Đại đội bắt được 1 số tù binh, tôi được lệnh áp giải chúng về phía sau. Lúc này thì tôi biết rằng đã đến lúc tôi phải rời trung đoàn. Tôi phải đến Braunschweig ngày 31 tháng 5. Sau này tôi mới biết rằng cha tôi đã phải hứa chấp thuận việc tôi bị gọi về sau 1 cuộc tranh luận khá vất vả với Himmler.
Tôi cứ lo tính toán xem mình sẽ phản ứng ra sao nếu như 15 tên tù binh bỏ chạy hay thậm chí bắt tôi làm tù binh.
Tôi cho chúng sắp hàng đôi và đi đằng sau. Chúng rất dễ bảo và chúng tôi đã đến được sở chỉ huy trung đoàn. Tôi tới trình diện sĩ quan quân lực và được biết, thật không may là hiện không có sẵn xe nên tôi phải về lại đại đội. Tôi cuốc bộ về đại đội, khấp khởi hy vọng sẽ bị “bỏ quên” thế nhưng sáng ra đã có ô tô từ bãi xe đến đón đi.
Tôi đến Junkerschule ở Braunschweig, với tư cách là 1 trung sĩ được thưởng huân chương chữ thập sắt hạng nhì, huy hiệu chiến thương trên đen. Có 8 người trong đại đội được thăng cấp vì chiến đấu dũng cảm trước kẻ thù trong chiến dịch chống Hà Lan. Đây là lần thăng tiến khoái nhất trong đời binh nghiệp của tôi. Một trung sĩ đã tháo lon trên quân phục mình đưa cho để tôi có thể khâu ngay nó lên áo.
Rudolf von Ribbentrop đã tới Junkerschule ở Braunschweig trễ mất 3 tuần.
“Thế là xong. Vậy là sẽ không có ai có thể nói tôi né việc ra trận để đến Junkerschule vì là con trai bộ trưỡng được nữa.”
Vấn đề “con ông cháu cha”, như tôi từng gọi không có ảnh hưởng gì cho đến sau năm 1945, nhưng nó vẫn hiện hữu ở đây nên phải có kỹ năng và đôi khi phải phớt tỉnh để đối phó.