Học Bá Yêu Nghiệt

Lượt đọc: 383 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 372
Khi nhân loại bắt đầu ngước nhìn tinh không

❊ ❊ ❊

Stephen Hawking có những tác phẩm khoa học thường thức mang tên "Lược sử thời gian", "Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ". Freeman Dyson thì có "Vũ trụ ba đào", "Vô hạn toàn diện", "Mặt trời, bộ gen và Internet", "Thế giới trong tưởng tượng". Tên gọi của chúng đều rất cao siêu, nghe qua là biết ngay đó là những cuốn sách tầm cỡ.

Vậy cuốn sách của mình nên đặt tên là gì đây? Lữ Khâu Kiến trầm ngâm một lát, ừm, cứ dùng đoạn văn kinh điển của Lưu Từ Hân trong "Triều văn đạo" đi! Cậu gõ chín chữ "Khi nhân loại bắt đầu ngước nhìn tinh không" lên phía trên cùng của văn bản.

"Khi nhân loại bắt đầu ngước nhìn tinh không, thì khoảng cách để họ vén màn bí ẩn cuối cùng của vũ trụ chỉ còn cách một bước chân." Cảm ơn Lưu Từ Hân, Lữ Khâu Kiến không thể tìm thấy câu nào phù hợp hơn để làm lời mở đầu cho tác phẩm của mình.

Yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật của nhân loại chính là trí tò mò. Khi con người bắt đầu tò mò về tinh không, họ sẽ phát huy trí tưởng tượng để suy đoán những bí mật ẩn giấu trong đó.

Thời kỳ đầu, nhân loại thông qua việc quan sát mặt trời, mặt trăng cùng một số thiên thể và thiên tượng khác để xác định thời gian, phương hướng và lịch pháp... Người Ai Cập cổ đại phát hiện ra việc nước sông Nile dâng cao ở vùng đồng bằng trùng khớp với thời điểm mặt trời và sao Thiên Lang mọc trên đường chân trời. Họ lấy khoảng thời gian giữa hai lần hiện tượng này xảy ra làm một năm, tổng cộng 365 ngày. Chia cả năm thành 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, 5 ngày còn lại dùng làm ngày lễ; đồng thời chia một năm thành 3 mùa, đó là "Mùa lũ", "Mùa cây cối đâm chồi" và "Mùa gặt", mỗi mùa 4 tháng.

Người Trung Quốc cổ đại phát hiện ra chu kỳ tròn khuyết của mặt trăng có thể dùng để đo độ dài của một năm, mười hai lần trăng tròn là một năm. Phát hiện này là một trong những thành tựu chính xác nhất của lịch pháp sơ khai.

Bãi đá Stonehenge của người Anh cổ đại trên đảo Great Britain có thể xác định chính xác 12 phương vị của mặt trời và mặt trăng, đồng thời quan sát và tính toán sự mọc lặn của các vì tinh tú theo những mùa khác nhau.

Thales của Hy Lạp cổ đại đã thực hiện dự báo nhật thực toàn phần đầu tiên; Meton phát hiện ra các pha của mặt trăng lặp lại theo chu kỳ 19 năm vào cùng một ngày dương lịch; Eudoxus đề xuất chủ trương các thiên thể chuyển động theo những vòng tròn đồng tâm quanh trái đất; Parmenides và Democritus lập luận rằng trái đất hình cầu, cho rằng sao mai và sao hôm là cùng một sao Kim, đồng thời đề xuất dải Ngân hà được cấu thành từ vô số hằng tinh dày đặc; Anaxagoras đưa ra nguyên nhân gây ra nguyệt thực và cho rằng mặt trăng sáng là do phản chiếu ánh sáng mặt trời.

Người La Mã, người Ả Rập, người Maya, người Ấn Độ, v.v. đều đưa ra những lý giải riêng về bí ẩn vũ trụ và đạt được những tiến bộ trong các lĩnh vực khác nhau.

Trong quá trình nhân loại tìm tòi bí ẩn cuối cùng của vũ trụ, họ đã tìm thấy công cụ mạnh mẽ nhất, đó chính là toán học. Thông qua toán học, họ có thể xử lý các dữ liệu thu thập được từ quan sát. Đồng thời, có rất nhiều dữ liệu không thể trực tiếp thu được qua quan sát, từ đó nảy sinh ra các kiến thức toán học như logarit, hệ tọa độ cầu và hàm lượng giác.

Đồng thời, cùng với việc đi sâu quan sát vũ trụ, yêu cầu của con người đối với công cụ quan sát cũng ngày càng cao, mà việc chế tạo những công cụ này cũng cần đến kiến thức toán học, vật lý, hóa học siêu việt. Sau khi Newton dùng hệ thống cơ học cổ điển mô tả thế giới vĩ mô bằng ngôn ngữ toán học, mối liên hệ giữa toán học và thiên văn học ngày càng khăng khít. Hình học phi Euclid, vi tích phân, v.v. đều phát triển nhanh chóng dưới nhu cầu của thiên văn học.

Đến thời cận hiện đại, dù là thuyết tương đối của Einstein hay thuyết Big Bang của Gamow, đều mượn dùng rất nhiều công cụ dữ liệu tiên tiến. Có thể nói, nếu không có toán học, nhân loại sẽ không thể đạt được thành tựu khoa học kỹ thuật như ngày nay.

Lữ Khâu Kiến dự định bắt đầu từ sự phát triển của toán học, dần dần vén màn quá trình nhân loại dùng toán học làm công cụ để giải mã bí ẩn cuối cùng của vũ trụ, trong đó cũng sẽ đan xen kể về một số kiến thức vật lý, hóa học.

Điều cậu muốn làm không chỉ là cho mọi người biết những kết luận này, mà quan trọng hơn là trình bày những phương pháp khoa học mà nhân loại đã sử dụng trong quá trình theo đuổi bí ẩn cuối cùng của vũ trụ. Giả thuyết táo bạo, kiểm chứng tinh vi, từ đó loại bỏ những suy đoán sai lầm để đi đến lý thuyết đúng đắn.

Giáo dục ứng thí mà Trung Quốc đang thực hiện đã đảm bảo sự công bằng trong giáo dục ở một mức độ nhất định, trong thời gian ngắn đào tạo được một nhóm nhân tài hữu dụng, nhưng cũng không phải là không có khuyết điểm. Giáo dục ứng thí thường coi trọng kết luận mà bỏ qua quá trình; để đạt điểm cao trong các kỳ thi, giáo viên thường bắt học sinh ghi nhớ những kết luận quan trọng như công thức, định nghĩa, v.v., mà bỏ qua việc suy luận ra quá trình dẫn đến những kết luận đó.

Làm như vậy đã nảy sinh một loạt vấn đề. Con người thường coi trọng kết quả mà bỏ qua quá trình, nào hay biết rằng trong nghiên cứu khoa học, quá trình thường quan trọng hơn kết quả.

Hơn nữa, khi kể về những kết luận này, người ta thường dùng những ví dụ và cách kể không mấy phù hợp, ví dụ như Newton bị táo rơi trúng đầu, lóe lên tia sáng mà phát hiện ra bí mật của vạn vật hấp dẫn; Watt nhìn thấy nắp ấm trà bị hơi nước đẩy lên, lóe lên tia sáng mà cải tiến máy hơi nước.

Những câu chuyện này để lại một ấn tượng sâu sắc, đó là dường như chỉ cần lóe lên một tia sáng là các phát minh sáng tạo sẽ đột nhiên xuất hiện! Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự xuất hiện của những kẻ hoang tưởng khoa học.

Thành thực mà nói, Edison cũng từng nói thành công bằng một phần trăm cảm hứng cộng với chín mươi chín phần trăm mồ hôi, nhưng tôi cho rằng một phần trăm cảm hứng đó quan trọng hơn chín mươi chín phần trăm mồ hôi kia nhiều.

Thế nhưng cảm hứng cũng cần phải có nền tảng. Nếu Newton không có kiến thức toán học, vật lý uyên thâm thì ông cũng sẽ không từ việc táo rơi mà nghĩ đến vạn vật hấp dẫn. Cây táo trên thế giới nhiều như vậy, người bị táo rơi trúng đầu đâu chỉ có mình ông, đại đa số người ta e là chỉ lau táo rồi ăn thôi, chỉ có Newton là tìm ra bí ẩn của vạn vật hấp dẫn từ đó.

Tương tự, cũng có vô số bà nội trợ nhìn thấy cảnh nắp ấm trà bị hơi nước đẩy lên, nhưng họ cũng chỉ vặn nhỏ lửa, lấy nước sôi pha trà hoặc cà phê, những người như Watt có thể từ đó ngộ ra phương pháp cải tiến máy hơi nước thì chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Cho nên trong cuốn sách này, Lữ Khâu Kiến không chỉ muốn nói cho mọi người biết những kết luận đó, mà còn muốn trình bày quá trình hình thành của những kết luận này cho tất cả độc giả, để sau khi đọc xong cuốn sách, họ có một nhận thức tương đối khoa học về khoa học, chứ không phải cứ thấy những danh từ cao siêu như sóng hấp dẫn, sóng vật chất là nảy sinh lòng sùng bái, từ đó phát biểu ý kiến mà không cần suy nghĩ.

Để hoàn thành một tác phẩm như vậy rõ ràng không phải chuyện một sớm một chiều. Hơn nữa, điều quan trọng nhất của sách khoa học thường thức là dễ hiểu và thú vị, nếu cậu viết như luận văn thâm sâu thì e là cũng chẳng có ai xem, cho nên đây là một quá trình dài hơi.

Tuy nhiên cậu cũng không vội, dù sao bây giờ cũng dần rảnh rỗi, có đầy đủ thời gian để hoàn thành. Hơn nữa, bây giờ dù có viết xong cũng chưa phải là thời điểm phát hành thích hợp; còn về cơ hội phát hành tốt nhất thì trong lòng cậu đã có dự tính, chỉ đợi một giải thưởng nào đó công bố mà thôi!

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:179
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »