Hàng chục vạn gã độc thân, ít nhất cần số lượng nữ tử tương ứng để xứng đôi vừa lứa.
Biết tìm đâu ra chừng ấy cô nương?
Lưu Triệt cũng thấy đau đầu!
"Mạc Nam chắc có thể huy động khoảng mười vạn phụ nữ..." Lưu Triệt suy nghĩ một hồi, miễn cưỡng tìm ra một nguồn cung nữ tử ổn định.
Các bộ tộc vùng Mạc Nam hai năm nay liên miên chinh chiến, nhân mạng rẻ như cỏ rác.
Hàng loạt thanh niên trai tráng tử trận, khiến tỷ lệ nữ giới ở các bộ tộc Mạc Nam vượt ngưỡng. Trong chiến tranh, đối tượng dễ sống sót nhất và cũng khó sống sót nhất đều là phụ nữ.
Mà thông thường, bên thắng cuộc trong chiến tranh đều không ra tay với đàn bà.
Ngay cả người Triết Lan vốn nổi tiếng tàn bạo hung hãn ngày trước, sau khi đánh bại kẻ thù cũng không xuống tay sát hại phụ nữ và trẻ em.
Bởi vậy, trong các bộ tộc Mạc Nam hiện nay, nữ tử nhiều vô kể.
Theo báo cáo của Trí Đô và Quán Hà, tại các điểm định cư của quân Hán ở khắp Mạc Nam, tỷ lệ nam nữ đã hoàn toàn mất cân bằng.
Lựa chọn khoảng mười vạn cô nương trong độ tuổi thích hợp từ các điểm định cư để kết đôi với dân di cư nhà Hán, hay nói cách khác, dùng làm phần thưởng ban tặng cho những thanh niên chủ động đi khai khẩn đất đai ở Hà Tây, có lẽ là một lựa chọn không tồi.
Vừa giải quyết được vấn đề độc thân của nhà Hán, vừa thúc đẩy sự hòa hợp dân tộc.
Thật không gì tuyệt vời hơn!
Thế nhưng...
Giữa mười vạn cô nương trong độ tuổi và năm sáu mươi vạn gã độc thân, vẫn còn thiếu hụt ít nhất bốn mươi vạn.
Biết tìm bốn mươi vạn cô nương còn lại ở đâu đây?
Lưu Triệt cũng bó tay toàn tập.
"Trẫm có nên phái một sứ đoàn đến Bắc Hung Nô để thu mua không?" Lưu Triệt gãi đầu.
Nhập khẩu từ Bắc Hung Nô, có lẽ là một phương án tốt.
Chất lượng nữ tử từ các nước Tây Vực dưới sự kiểm soát của Bắc Hung Nô, thậm chí là nữ tử từ các nước như Khang Cư, Đại Hạ nằm trong tầm ảnh hưởng của họ đều rất khá.
Có những cô nàng tóc vàng mắt xanh ngực khủng, cũng có những cô nàng tóc đen mắt nâu ngực phẳng.
Đằng nào thì bản thân Bắc Hung Nô chắc cũng có dư thừa rất nhiều nữ tử. Hai năm qua, việc buôn lậu giữa nhà Hán và Bắc Hung Nô đã giúp các thương nhân nhà Hán nhập khẩu gần năm vạn nô công từ Bắc Hung Nô.
Đó mới chỉ là con số được ghi chép trong sổ sách.
Những nô công bị các thương nhân lén lút đưa vào trong Vạn Lý Trường Thành, rồi giam giữ trong các công xưởng làm việc ngày đêm còn chưa được tính đến.
Đã khi Bắc Hung Nô cũng đang chơi trò buôn bán nô lệ, thì việc tiện thể xuất khẩu thêm ít nữ tử cũng là chuyện bình thường.
Chiến tranh ra chiến tranh, buôn bán ra buôn bán.
Từ xưa đến nay, tư bản không có biên giới, lợi ích không phân chủng tộc.
Cùng lắm thì bán ít đồ sắt cho Bắc Hung Nô là xong!
Nếu là bốn năm trước, ai dám buôn lậu đồ sắt cho Bắc Hung Nô thì chỉ có chờ bị giết cả nhà.
Đến tận bây giờ, trên thực tế, triều đình nhà Hán đã khuyến khích các thương nhân buôn lậu thỏi gang sang Bắc Hung Nô.
Lý do rất đơn giản: theo sự tiến bộ của kỹ thuật, sản lượng gang của nhà Hán đã tăng gấp nhiều lần so với bốn năm trước.
Chỉ riêng sản lượng sắt của căn cứ luyện sắt Nam Dương trong năm nay đã vượt quá ba triệu cân.
Tương đương với tổng sản lượng gang của cả nước tám năm trước!
Mà sản lượng của các xưởng luyện sắt dân gian và Thiếu Phủ còn chưa được tính vào.
Nếu vài năm nữa, khi việc cải tạo kỹ thuật lò cao luyện sắt ở Nam Dương hoàn tất và các lò cao mới được đưa vào sử dụng, e rằng chỉ riêng sản lượng sắt của Nam Dương thôi cũng đủ đáp ứng nhu cầu nông nghiệp của một nửa Trung Quốc.
Gang đã dư thừa, tất nhiên phải bán!
Dù sao thì, cho dù có bán một triệu cân sắt cho người Hung Nô, người Hung Nô vẫn chỉ là con gà thịt mà thôi!
Thậm chí còn tuyệt vời hơn, việc xuất khẩu một lượng lớn gang biết đâu lại có thể tiêu diệt hệ thống luyện kim của chính Hung Nô.
Nghĩ như vậy, Lưu Triệt liền quyết định.
Chỉ là, phái ai đi sứ Hung Nô đây?
Đây lại trở thành một vấn đề nan giải!
Trong quá khứ, đi sứ Hung Nô vốn chẳng có mấy ai muốn đi.
Nhiều sứ giả thường bỏ trốn giữa đường vì sợ rằng khi sang đến Hung Nô sẽ bị người Hung Nô giết chết.
Nhưng bây giờ, tình thế lại khác.
Mọi người không còn sợ chết khi sang Hung Nô nữa. Ngược lại, sau trận Mã Ấp, cuộc sống của các sứ giả nhà Hán khi sang Hung Nô phải nói là vô cùng sung sướng.
Muốn đàn bà có đàn bà, muốn tiền bạc có tiền bạc.
Người Hung Nô dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo, dụ dỗ các sứ giả nhà Hán, hòng kéo họ xuống nước, bắt họ làm việc cho mình hoặc bán đứng tình báo của nhà Hán.
Trong quá trình này, không ít kẻ ý chí không kiên định hoặc không quản nổi phần dưới của mình đã bị người Hung Nô lôi kéo.
Nhiều kẻ thậm chí trở thành gián điệp của Hung Nô, chuyển giao tình báo cho chúng.
Sau đó...
Liền bị Tú Y Vệ bắt quả tang, đem ra Đông Thị xử trảm.
Cả gia tộc của kẻ đó đều vì vậy mà nhục nhã, thậm chí có cha mẹ già vì xấu hổ mà tự sát khi sinh ra đứa con phản quốc như vậy.
Còn Tú Y Vệ thì... bạn biết đấy, dưới bóng tối của chính trị đặc vụ, khó tránh khỏi đôi khi có những vụ án oan sai, thậm chí có những tên đầu sỏ đặc vụ thấy ai không vừa mắt liền cố tình vu oan giá họa.
Thế là, việc đi sứ Hung Nô dần trở thành con đường hiểm nguy.
Sĩ đại phu và văn quan quý tộc bình thường đều không muốn đi sứ nữa.
Thậm chí có người vừa nghe tin mình có thể phải đi sứ Hung Nô liền treo ấn bỏ trốn, không chạy được thì uống rượu độc tự sát.
Dù sao thì chết cũng không đi Hung Nô.
Bởi vì so với cái chết, danh dự quan trọng hơn! Vinh dự của gia tộc quan trọng hơn!
Tú Y Vệ cũng vì chuyện này mà mang tiếng xấu trong dân gian cùng nhiều câu chuyện phóng đại.
Nếu không có Lưu Triệt che chở, e rằng sớm đã bị các "quân tử" giải tán và tiêu diệt rồi.
Tóm lại là hiện nay, muốn tập hợp một sứ đoàn bình thường đi Hung Nô là quá khó khăn!
Trong triều đình, không thể tìm ra một người nào chịu đi.
Các quan lại phía dưới cũng sẽ tự động từ chối lựa chọn đi sứ.
Nhưng chuyện nhập khẩu nữ tử lại cần tìm một người đáng tin cậy để lén lút đi đàm phán.
Lưu Triệt suy đi tính lại, quyết định phái một hoạn quan đi Hung Nô.
Dù sao trong cung cũng có nhiều hoạn quan muốn ngoi lên, tiết tháo của mấy kẻ này cũng chẳng đáng là bao.
Tuyệt vời hơn nữa là thông tin chúng nắm giữ cũng chỉ có hạn, dù có bị người Hung Nô mua chuộc cũng không thể bán đứng được gì có giá trị.
Thế là, Lưu Triệt chọn lựa trong Vị Ương Cung, rồi nhắm trúng một hoạn quan trung niên trong Tuyên Thất Điện tên là Trương Thường.
Người này từ trước đến nay khá cần cù, trung hậu, quan trọng nhất là giữ mồm giữ miệng, là một ứng viên phù hợp.
Cứ như vậy, Trương Thường mang theo quốc thư và tiết của Thiên tử, dẫn theo hơn bốn mươi tùy tùng sứ đoàn, lặng lẽ xuất phát từ Trường An vào giữa tháng chín, dự định ra khỏi ải từ Lang Mãnh Ấp, đi từ Long Thành đến Tuấn Kê Sơn. Chỉ cần đến được Tuấn Kê Sơn, hắn có thể tìm các thương nhân buôn lậu địa phương, rồi thông qua những kẻ này để bắt mối với người Hung Nô.
Lưu Triệt tin rằng, Bắc Hung Nô chắc chắn sẽ rất nhiệt tình chào đón sứ đoàn nhà Hán.
Bởi vì lần cuối cùng sứ giả nhà Hán đến Bắc Hung Nô đã là chuyện của hai năm trước.
Ngoài việc bàn chuyện nữ tử, chuyến đi này của Trương Thường còn gánh vác trọng trách thảo luận với phía Bắc Hung Nô về việc cùng nhau quét sạch đám mã phỉ Nhu Nhu đang lộng hành trên đại mạc.
Đừng ngạc nhiên vì sao Bắc Hung Nô lại bàn chuyện này với nhà Hán.
Thời Thế chiến thứ hai, Mỹ và Phát xít đánh nhau sứt đầu mẻ trán trên chiến trường, nhưng các nhà ngoại giao Phát xít và Mỹ tại Thụy Sĩ vẫn nâng ly cụng chén trong quán cà phê đấy thôi.
Mà đám mã phỉ Nhu Nhu này hiện là kẻ thù chung của nhà Hán và Bắc Hung Nô.
Đám cặn bã này không chỉ tấn công các trạm biên phòng và đoàn buôn của nhà Hán ở phía bắc và tây Mạc Nam, đôi khi chúng còn tấn công cả các đoàn buôn và bộ tộc di cư của Bắc Hung Nô.
Có thể nói là kẻ thù chung của Hán và Hung!