"Vậy là anh đã nói với nội các rồi," Brian Richardson lên tiếng. "Phản ứng của họ thế nào?" Trưởng đoàn Đảng vụ dùng tay day day mắt, cố xua đi sự mệt mỏi. Kể từ khi Thủ tướng trở về từ Washington ngày hôm qua, Richardson gần như phải làm việc liên tục bên bàn giấy. Anh chỉ vừa rời văn phòng 10 phút trước để bắt taxi đến tòa nhà Quốc hội.
James Howden đứng trước cửa sổ văn phòng tại tòa nhà trung tâm, hai tay đút sâu trong túi áo vest, tiếp tục nhìn xuống dòng người tấp nập ra vào tòa nhà vào buổi chiều. Trong vài phút vừa qua, một vị đại sứ đã vào rồi lại đi; ba vị thượng nghị sĩ trông như những nhà khảo cổ học lững thững bước vào và đã khuất dạng; một vị linh mục với khuôn mặt chim ưng, khoác trên mình chiếc áo lễ màu đen, lướt đi như một bóng ma điềm gở; vài nhân viên công vụ kẹp những chiếc cặp tài liệu khẩn có in chữ viết tắt đi đứng đầy kiêu ngạo; vài phóng viên thường trú tại Quốc hội; vài hạ nghị sĩ vừa dùng bữa trưa xong hoặc đang đi dạo, phong thái tự do tự tại như đang ở trong câu lạc bộ; và tất nhiên là cả những du khách, một vài người trong số họ đứng cạnh những cảnh sát kỵ binh hoàng gia Canada đang mím môi ngượng ngùng để nhờ bạn bè chụp ảnh lưu niệm.
Howden tự hỏi tất cả những điều này có ý nghĩa gì? Cuối cùng, tất cả sẽ dẫn đến kết quả ra sao? Mọi thứ xung quanh chúng ta dường như vĩnh cửu bất biến: dòng người chảy trôi quanh năm; bức tượng kia; những tòa nhà cao tầng đó; thể chế chính phủ của chúng ta; và cả nền văn minh của chúng ta, hay đó chỉ là góc nhìn của chúng ta mà thôi? Thế nhưng tất cả lại ngắn ngủi đến thế, còn chính chúng ta lại là phần mong manh nhất, phù du nhất trong số đó. Tại sao khi chúng ta đã dốc hết sức lực mà vẫn chẳng làm nên trò trống gì, chúng ta vẫn phải đấu tranh, cạnh tranh và giành giật những thứ mình muốn?
Ông nghĩ, câu hỏi này không có lời giải. Sẽ chẳng bao giờ có đáp án. Giọng nói của Trưởng đoàn Đảng vụ kéo suy nghĩ của ông trở về thực tại.
"Phản ứng của họ thế nào?" Brian Richardson lặp lại câu hỏi vừa rồi. Cuộc họp toàn thể nội các đã diễn ra vào sáng sớm hôm nay.
Howden quay người từ phía cửa sổ, hỏi: "Cái gì thế nào?"
"Tất nhiên là phản ứng về Hiến chương Liên minh rồi. Ngoài cái đó ra còn chuyện gì khác nữa?"
James Howden không trả lời ngay câu hỏi của Brian mà trầm ngâm suy nghĩ. Cả hai đang ở trong văn phòng của Thủ tướng tại tòa nhà Quốc hội – phòng S307, một căn phòng nhỏ hơn và ấm cúng hơn so với những văn phòng tiêu chuẩn ở tòa nhà phía Đông, hơn nữa từ Hạ nghị viện đến đây chỉ cần đi thang máy là tới.
"Nếu anh hỏi chuyện khác thì mới lạ đấy. Về Hiến chương Liên minh, đa số thành viên nội các đều chấp nhận. Tất nhiên, khi chúng ta thảo luận lại, chắc chắn sẽ xuất hiện một vài bất đồng, thậm chí có thể là bất đồng nghiêm trọng."
Brian Richardson đáp một cách khô khốc: "Khó giải quyết lắm, phải không?"
"Tôi nghĩ vậy," Howden sải bước trong phòng. "Nhưng cũng chưa chắc. Thực tế, những quan điểm quan trọng thường dễ chấp nhận hơn những quan điểm ít quan trọng hơn."
"Đó là vì đa số mọi người đều tầm nhìn hạn hẹp."
"Chưa chắc." Thái độ hoài nghi của Richardson đã không ít lần khiến Howden nổi cáu. "Tôi nghĩ anh đã chỉ ra rằng, từ lâu xu thế đã nghiêng về phía Hiến chương Liên minh rồi. Thêm vào đó, các điều khoản chúng ta đang đàm phán hiện nay cực kỳ có lợi cho Canada." Thủ tướng dừng lại một chút, hít mũi, rồi suy tư nói tiếp: "Điều kỳ lạ là trong cuộc họp nội các sáng nay, một số người lại sốt sắng bàn về cái vụ việc nhập cư chết tiệt đó."
"Phải nói là ai cũng đang bàn tán. Tôi nghĩ anh đã đọc báo hôm nay rồi chứ?"
Thủ tướng gật đầu, ngồi xuống, ra hiệu cho Richardson ngồi vào chiếc ghế đối diện. "Luật sư Maitland ở Vancouver có vẻ đã gây cho chúng ta rắc rối lớn. Chúng ta có biết gì về tình hình của hắn không?"
"Tôi đã điều tra rồi. Chỉ là một gã thanh niên bình thường, hắn rất thông minh, theo những gì chúng ta biết thì người này không có bối cảnh chính trị gì cả."
"Có lẽ bây giờ thì không còn như vậy nữa. Nhận những vụ án kiểu này là cách tốt để bắt đầu xây dựng bối cảnh chính trị. Chúng ta có cách nào tiếp cận gián tiếp với Maitland không? Nếu hắn chịu làm ăn tử tế, sau này có thể kiếm cho hắn một ghế dự khuyết tại Quốc hội."
Trưởng đoàn Đảng vụ lắc đầu. "Quá mạo hiểm. Tôi đã hỏi thăm nhiều nơi, có người khuyên tôi tốt nhất nên tránh xa. Nếu chuyện này bị lộ ra, Maitland sẽ lợi dụng nó để tấn công chúng ta. Hắn là loại người như vậy đấy."
Howden nghĩ, bản thân ông thời trẻ cũng từng là loại người như vậy. "Được rồi," ông nói, "anh còn cao kiến gì nữa không?"
Richardson ngập ngừng. Kể từ khi Millie giao cho anh bản sao thỏa thuận định mệnh giữa Thủ tướng và Harvey Warrender, đã 3 ngày 3 đêm anh vắt óc suy nghĩ cách giúp đỡ Thủ tướng.
Brian Richardson tin chắc rằng ở đâu đó vẫn tồn tại điểm yếu để khuất phục Harvey Warrender; ngay cả kẻ tống tiền cũng có những bí mật cần phải giữ kín, vấn đề chỉ là làm sao để moi được bí mật đó ra. Nhiều năm qua, trên sân khấu chính trị có không ít nhân vật – cả trong đảng lẫn ngoài đảng – mà bí mật của họ đã bị Richardson nghe được hoặc vô tình phát hiện. Và tất cả những bí mật đó đều được anh ghi chép lại bằng một loại ký hiệu chỉ mình anh hiểu trong một cuốn sổ tay nhỏ màu nâu, cất trong chiếc két sắt có khóa tại văn phòng.
Thế nhưng trong cuốn sổ tay màu nâu đó, dưới mục "Warrender" mới được ghi thêm một hai ngày trước, vẫn chưa có lấy một chữ.
Nhưng... dù sao đi nữa... điểm yếu để tấn công hắn nhất định phải tìm ra; đồng thời Richardson hiểu rất rõ, nếu có ai đó có thể phát hiện ra điểm yếu này, thì người đó chỉ có thể là anh.
Suốt 3 ngày 3 đêm, anh đã sàng lọc lại tất cả những gì trong trí nhớ của mình... đào sâu... hồi tưởng từng câu chữ, sự kiện, lời dẫn... những khuôn mặt mơ hồ, địa điểm và những lời nói. Quy trình này trước đây từng hiệu quả, nhưng lần này lại có vẻ không linh nghiệm.
Tuy nhiên trong 24 giờ qua, anh có cảm giác sắp thoát khỏi tình trạng bế tắc, khiến anh ngồi đứng không yên. Anh tin chắc rằng nhất định tồn tại một điểm yếu nào đó; nhưng điểm yếu này lại cứ lởn vởn ngoài tầm trí nhớ của anh. Một người nào đó, một ký ức nào đó, một câu nói nào đó có lẽ có thể khơi gợi sự liên tưởng của anh. Nhưng cho đến giờ, cơ hội khơi gợi đó vẫn chưa xuất hiện. Vấn đề nằm ở chỗ: bao giờ nó mới xuất hiện.
Anh hy vọng có thể nói trước mặt Howden rằng mình đã hiểu rõ nội tình của bản hiệp ước quý ông 9 năm trước, như vậy anh có thể có một cuộc trò chuyện thẳng thắn, triệt để với Howden. Cuộc trò chuyện này có thể giúp làm sáng tỏ sự thật, thậm chí có thể vạch ra một kế hoạch nào đó để khuất phục Harvey Warrender, thậm chí có thể giải phóng một vài suy nghĩ đang bị phong tỏa trong đầu anh. Nhưng nếu làm vậy sẽ liên lụy đến Millie, người đang ở ngoài văn phòng để ngăn cản người khác làm phiền cuộc trò chuyện của họ. Dù là bây giờ hay sau này cũng không nên liên lụy đến Millie. Lúc này Thủ tướng lại hỏi dồn một câu: "Anh còn đề nghị gì nữa không?"
"Có một phương pháp cứu vãn cực kỳ đơn giản, thưa sếp, phương pháp này tôi đã từng khuyên anh rất nhiều lần."
Howden nói với giọng gay gắt: "Nếu anh định cho tên lậu vé đó nhập cảnh như một người nhập cư, thì bây giờ đã là không thể. Chúng ta đã chọn một lập trường, thì phải kiên trì với lập trường đó. Rút lui sẽ cho thấy sự bất lực của chúng ta."
"Nếu Maitland cứ khăng khăng làm tới, thì tòa án sẽ gây áp lực lên anh đấy."
"Không! Nếu chuyện này được xử lý thỏa đáng thì sẽ không dẫn đến kết cục đó. Tôi muốn nói chuyện với Warrender về viên chức chính phủ đang phụ trách ở đó."
"Kramer," Richardson nói, "hắn chỉ là quyền cục trưởng, được cử đến đó tạm thời."
"Hắn có thể bị triệu hồi. Một người có kinh nghiệm sẽ không đồng ý tổ chức phiên điều trần đặc biệt. Theo báo cáo, sau khi lệnh bảo hộ thân thể bị từ chối, chính hắn đã tự nguyện đề nghị tổ chức phiên điều trần." Howden giận đến đỏ mặt, nói thêm: "Chính vì hành động ngu xuẩn đó của hắn mà toàn bộ sự việc mới trở nên ầm ĩ."
"Có lẽ anh nên đến đó xem sao rồi tính tiếp. Khi đó anh có thể đích thân mắng cho hắn một trận ra trò. Anh xem lịch trình chưa?"
"Xem rồi." Howden đứng dậy khỏi chiếc ghế đang ngồi, đi về phía chiếc bàn làm việc chất đầy tài liệu bên cửa sổ. Ông ngồi vào ghế bành trước bàn, đưa tay lấy tập tài liệu đang mở. "Xét đến thời gian gấp rút như vậy," ông tán thưởng, "lịch trình anh lập ra cũng khá đấy."
Howden lướt nhìn bảng lịch trình. 10 ngày nữa công bố Hiến chương Liên minh tại Nghị viện, vậy thì có thể có 5 ngày để thực hiện một chuyến thăm chớp nhoáng trên toàn quốc, đó chính là giai đoạn tiêm phòng mà họ đã vạch ra. Ngày kia ông sẽ bắt đầu chuyến đi từ Toronto, trước tiên tham dự cuộc họp liên tịch của những người Canada có ảnh hưởng và các thành viên câu lạc bộ Hoàng gia, ngày cuối cùng kết thúc tại thành phố Quebec và Montreal. Trong thời gian này ông sẽ đến Fort William, Winnipeg, Edmonton, Vancouver, Calgary và Regina. Ông lạnh lùng nói: "Tôi thấy anh lại sắp xếp thêm vài buổi lễ trao bằng danh dự."
"Tôi cảm thấy anh vốn dĩ thích chúng mà." Richardson nói.
"Có thể nói là vậy. Tôi để chúng dưới tầng hầm nhà mình, cùng với chiếc khăn đội đầu người da đỏ tặng. Hai thứ này hữu dụng như nhau."
Richardson cười khẩy. "Đừng để phóng viên nghe thấy đoạn này, nếu không, chúng ta sẽ mất cả phiếu bầu của người da đỏ lẫn giới trí thức đấy." Anh nói thêm: "Anh nói nội các thảo luận về Hiến chương Liên minh và vụ Duval. Có kết luận gì mới không?"
"Không. Chỉ quyết định rằng nếu phe đối lập chiều nay nhất quyết muốn tranh luận tại hội nghị, thì Harvey Warrender sẽ đại diện chính phủ phát biểu, khi cần thiết tôi sẽ can thiệp."
Richardson cười nói: "Hy vọng lần này anh có thể thận trọng hơn hôm qua."
Mặt Thủ tướng đỏ bừng như gạch nung. Ông bực bội nói: "Tôi không muốn nghe những lời này. Những gì tôi nói tại sân bay hôm qua là một sai lầm của tôi, nhưng ai cũng có lúc này lúc khác sơ suất. Ngay cả anh cũng thường xuyên sai lầm mà."
"Tôi thừa nhận." Trưởng đoàn Đảng vụ chán nản dùng tay day day chóp mũi. "Tôi nghĩ mình lại vừa phạm sai lầm nữa rồi. Xin lỗi anh."
Howden dùng giọng hòa hoãn hơn một chút nói: "Có lẽ tự Harvey Warrender có thể xử lý tốt chuyện này."
Thực tế, Howden nghĩ, nếu Harvey tại Nghị viện có thể nói xuất sắc và tự tin như trong cuộc họp nội các, có lẽ hắn có thể vớt vát lại được chút tổn thất cho chính phủ và đảng. Sáng nay dưới sự tấn công dữ dội của các bộ trưởng khác, Harvey đã dùng những lời lẽ đanh thép để bảo vệ hành động của Bộ Nhập cư, khiến sự kiện này trông có vẻ hợp tình hợp lý đến thế. Hơn nữa, phong thái khi tranh luận của hắn cũng không thể chê vào đâu được; mặc dù lúc đó Harvey rất kích động, nhưng bài phát biểu của hắn lại rất ôn hòa, rất giàu tính triết lý. Vấn đề là, anh không bao giờ biết được cảm xúc của hắn khi nào sẽ thay đổi.
Thủ tướng lại đứng dậy, quay lưng về phía Brian Richardson nhìn ra ngoài cửa sổ. Ông thấy bên dưới chẳng còn mấy người. Ông nghĩ đa số mọi người đều đã vào tòa nhà trung tâm, vài phút nữa Hạ nghị viện sẽ họp tại đó.
"Quy định có cho phép tranh luận trong tòa nhà Quốc hội không?" Richardson hỏi.
"Trong tình huống thông thường là không được phép," Howden đáp, ông không quay người lại. "Nhưng chiều nay sẽ có một kiến nghị của Ủy ban Cung ứng, khi đó phe đối lập có thể chọn bất kỳ chủ đề nào để gây khó dễ. Tôi nghe đồn Bonar Daitz hôm nay có thể sẽ chọn vấn đề nhập cư."
Richardson thở dài. Anh đã có thể tưởng tượng ra các bản tin trên đài phát thanh và truyền hình tối nay, cùng với tin tức trên báo sáng mai.
Lúc này vang lên tiếng gõ cửa khẽ khàng. Millie bước vào. Howden quay mặt lại nhìn cô. "Đã đến nửa giờ rồi," Millie nói. "Nếu hai người muốn cầu nguyện..." Cô mỉm cười và gật đầu với Richardson. Trưởng đoàn Đảng vụ vừa nãy khi vào đã đưa cho cô một tờ giấy gấp, trên đó viết một cách đầy đặc trưng: "Tối nay 7 giờ đợi tôi. Có việc quan trọng."
"Được rồi," Thủ tướng nói, "tôi đi ngay đây."
Phía trên họ, tiếng chuông từ tháp Hòa Bình bên ngoài trụ sở Nghị viện vang lên những âm thanh du dương.
Khi James Howden bước vào phòng nghỉ của chính phủ tại sảnh Nghị viện, giọng nói vang dội, đầy khí chất của Chủ tịch Hạ nghị viện đã đi vào hồi kết của bài cầu nguyện. Thủ tướng nghĩ, như thường lệ, ông Chủ tịch đang diễn một vở kịch xuất sắc. Ông đi qua cánh cửa bên cạnh, vào sảnh Nghị viện, nghe thấy những lời lẽ đã quá đỗi quen thuộc... "Khẩn cầu Ngài, Chúa... đặc biệt là Tổng đốc, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện... mong Ngài hướng dẫn và làm cho mọi thảo luận của họ được thịnh vượng... để hòa bình và hạnh phúc, chân lý và công lý, tôn giáo và lòng thành kính tồn tại mãi mãi trong chúng ta qua bao thế hệ..."
Những lời cầu nguyện đầy tình cảm cao đẹp này mỗi ngày được luân phiên nói bằng tiếng Pháp và tiếng Anh cho vị Chúa được cho là thông thạo cả hai thứ tiếng nghe. Howden nghĩ, đáng tiếc là vài phút sau, những lời cầu nguyện này sẽ bị lãng quên, mọi người lại sẽ lao vào những cuộc tranh luận tẻ nhạt về những chuyện chính trị vụn vặt.
Từ bên trong vang lên lời kết thúc cầu nguyện vang dội "Amen", đây là đặc quyền của mục sư Nghị viện khi đọc to.
Lúc này, các bộ trưởng và thành viên nội các khác lần lượt bước vào, sảnh Nghị viện như mọi khi vào giờ này chật kín người. Những người ủng hộ trong đảng của Howden lần lượt ngồi vào chỗ ngồi xung quanh ông. Howden vừa trò chuyện ngắn gọn với các thành viên nội các, vừa gật đầu chào những người đi ngang qua và kính cẩn hướng về phía ông.
Howden không vào hội trường ngay, ông muốn để mọi người ổn định chỗ ngồi trước.
Như thường lệ, khi ông xuất hiện, mọi người đua nhau quay lại nhìn, gây ra một sự xao động. Ông dường như không nhận ra sự chú ý của mọi người, cứ ung dung bước vào phía bên ghế của các quan chức chính phủ trong sảnh Nghị viện, đi đến chiếc bàn làm việc đôi ở hàng ghế đầu, chiếc bàn này ông dùng chung với Stewart Cawston, và Cawston đã ngồi vào chỗ trước ông. James Howden cúi chào vị Chủ tịch đang ngồi trên chiếc ghế tựa như ngai vàng có mái che ở phía bắc sảnh Nghị viện hình bầu dục cao lớn, rồi ngồi vào chỗ của mình. Một lát sau, ông gật đầu một cách lịch sự, nhã nhặn với Bonar Daitz đang ngồi ở ghế lãnh đạo phe đối lập đối diện với lối đi trung tâm.
Những câu hỏi dồn dập thường lệ dành cho các bộ trưởng bắt đầu.
Một đại biểu tỉnh Newfoundland bày tỏ sự bất an về việc một lượng lớn cá tuyết chết trôi dạt trên bờ biển Đại Tây Dương, chính phủ có dự định gì về việc này? Bộ trưởng Thủy sản đưa ra câu trả lời vừa khó hiểu vừa kiểu cách.
Bộ trưởng Tài chính Stewart Cawston ngồi cạnh Thủ tướng thì thầm: "Tôi nghe nói Daitz thực sự đã chọn vấn đề nhập cư, định lấy nó ra để mổ xẻ. Hy vọng Harvey có thể đối phó được."
James Howden gật đầu, lại liếc nhìn Harvey Warrender đang ngồi ở hàng ghế thứ hai phía sau ông, tại ghế của chính phủ. Biểu cảm của Warrender rõ ràng là rất bình thản, chỉ có cơ mặt thỉnh thoảng giật giật.
Khi các câu hỏi tiếp tục, tình hình ngày càng rõ ràng, Bộ Nhập cư và vấn đề Duval rõ ràng đã bị mọi người bỏ qua. Mà theo tình hình bình thường, phe đối lập sẽ tận dụng tối đa cơ hội chất vấn này để nêu ra những vấn đề như vậy nhằm gây khó dễ cho chính phủ, điều này càng chứng tỏ Bonar Daitz và những người ủng hộ ông ta đã lên kế hoạch sẵn cho một cuộc tranh luận chính thức vài phút sau đó, khi hội nghị Ủy ban Cung ứng bắt đầu.
Howden u ám nhận thấy khu vực phóng viên rất đông đúc. Các ghế hàng đầu đều đã bị chiếm chỗ, còn có vài phóng viên chen chúc ở phía sau.
Kết thúc chất vấn, "Stewart mỉm cười" đứng dậy từ ghế ngồi cạnh Thủ tướng. Ông chính thức đề nghị Nghị viện bước vào giai đoạn kiến nghị của Ủy ban Cung ứng.
Chủ tịch thu gọn chiếc áo choàng luật sư hoàng gia bằng lụa của mình, gật đầu. Lãnh đạo phe đối lập lập tức đứng dậy.
"Thưa Chủ tịch," Bonar Daitz cất giọng với âm điệu dứt khoát, rõ ràng. Sau đó ông dừng lại, khuôn mặt gầy gò có vẻ trí thức của ông xoay sang người điều hành hội nghị với vẻ dò hỏi. Chủ tịch lại gật đầu, ông ngồi trên chiếc ghế dưới mái che chạm khắc hình cây sồi trông như một con bọ cánh cứng màu đen để người ta ngắm nghía.
Daitz dừng lại một lúc, ngẩng đầu nhìn lên trần nhà cao 50 foot của sảnh Nghị viện. Đây là một thói quen vô thức của ông. James Howden ở phía bên kia sảnh Nghị viện nghĩ, đối thủ của ông dường như đang muốn tìm kiếm những từ ngữ gây chấn động từ những tấm vải lanh Ireland được sơn dầu và những đường gờ trang trí bằng vàng lá tinh xảo trên trần nhà đó.
"Ví dụ gây nản lòng nhất trong hồ sơ đáng tiếc của chính phủ hiện tại chính là chính sách nhập cư và việc quản lý các vấn đề nhập cư hàng ngày," Daitz mở lời. "Thưa Chủ tịch, tôi đề nghị chính phủ hiện tại cũng như Bộ Quốc tịch và Nhập cư của họ hãy quay về thế kỷ 19 đi, khi đó, họ sẽ không phải lo lắng về một thế giới đang thay đổi hay những vấn đề nhân đạo đơn giản hàng ngày."
Lời mở đầu này khá thích hợp và mạnh mẽ, Howden nghĩ, xem ra bất kể Bonar Daitz lấy được gì từ trần nhà, nhưng chắc chắn không phải là thứ gì đó vĩ đại. Hầu như mỗi câu ông ta nói, trước đây đều đã được phe đối lập trong Hạ nghị viện sử dụng nhiều lần dưới hình thức này hay hình thức khác.
Nghĩ đến đây, ông viết vội một bức thư ngắn cho Harvey Warrender. "Dẫn chứng một vài ví dụ, chứng minh khi phe đối lập còn tại vị, họ cũng từng hành xử hoàn toàn theo cách chúng ta hiện nay. Nếu anh không có ví dụ cụ thể, hãy chỉ thị bộ của anh nhanh chóng gửi những thông tin đó đến đây." Ông gấp bức thư lại, gọi một nhân viên phục vụ, nhờ anh ta chuyển cho Bộ trưởng Nhập cư.
Một lát sau, Harvey Warrender quay đầu gật đầu với Thủ tướng, và tay chạm vào một trong số những tập tài liệu đặt trên bàn làm việc trước mặt. Tốt, Howden thầm nghĩ trong lòng, nên là như vậy. Một trợ lý cấp cao xuất sắc luôn có thể đưa ra những chỉ dẫn tóm tắt cho bộ trưởng của mình trước.
Bonar Daitz vẫn đang tiếp tục nói: "...Trong kiến nghị 'không tín nhiệm' này... một ví dụ hiện tại là, những cân nhắc về nhân đạo và quyền con người đã bị phớt lờ một cách vô trách nhiệm."
Daitz dừng lại một chút, lúc này từ phía phe đối lập vang lên tiếng đập bàn. Ở phía chính phủ, một nghị sĩ hàng ghế sau hét lên: "Tôi hy vọng chúng tôi cũng đã phớt lờ cả ông nữa."
Lãnh đạo phe đối lập ngập ngừng một lát.
Bonar Daitz chưa bao giờ thích sự thô lỗ và hỗn loạn trong Hạ nghị viện. Kể từ khi ông mới trúng cử nghị sĩ vài năm trước, ông luôn cho rằng Hạ nghị viện giống như một đấu trường thể thao, nơi các đội cạnh tranh mỗi ngày mỗi giờ đều đang mưu đồ chiếm lợi thế của nhau. Quy tắc hành xử ở đây đơn giản đến mức ngay cả đứa trẻ 3 tuổi cũng có thể hiểu được: nếu một biện pháp có lợi cho đảng của mình, thì biện pháp đó đương nhiên là đúng; nếu một biện pháp không có lợi cho đảng của bạn, mà lại có lợi cho đảng khác, thì biện pháp đó đương nhiên trở thành sai. Giữa hai bên hầu như không có chỗ cho sự hòa giải. Tương tự, nghi ngờ lập trường của chính đảng mình về một vấn đề nào đó, hay muốn biết liệu đối thủ của mình có một hai lần nào đó là đúng hay sáng suốt hơn mình hay không, tất cả đều sẽ bị coi là bất mãn và không trung thành với đảng.
Daitz, một học giả và trí thức, còn kinh ngạc phát hiện ra rằng, sự trung thành thực sự với đảng còn bao gồm: đập bàn để ủng hộ đồng đảng, chế giễu, la ó như những cậu bé đầy năng lượng, cũng như dùng sự la ó để phản kích lại những tiếng cười nhạo của đảng phái ở phía bên kia sảnh Nghị viện. Đôi khi hành vi của họ còn chẳng bằng những đứa trẻ có học thức, có tu dưỡng. Ngay từ khi Bonar Daitz chưa trúng cử lãnh đạo phe đối lập, ông đã học được hai bản lĩnh này, chỉ là khi làm như vậy, trong lòng ông luôn có cảm giác bứt rứt không yên.
Phía đối diện vừa có người hét lên: "Tôi hy vọng đã phớt lờ cả ông nữa."
Phản ứng bản năng của ông là không thèm để ý đến sự can thiệp thô lỗ, vô lý và ngu xuẩn này. Nhưng ông biết, những người ủng hộ ông đang mong đợi ông có một phản ứng trả đũa. Vì vậy ông phản kích: "Hy vọng của vị nghị sĩ đáng kính là điều có thể hiểu được, vì chính phủ mà ông ta ủng hộ đã phớt lờ quá nhiều chuyện trong một khoảng thời gian dài như vậy rồi." Ông dùng ngón tay chỉ về phía bên kia sảnh Nghị viện, cáo buộc: "Nhưng thời điểm lương tâm của quốc dân Canada không thể bị phớt lờ nữa sắp đến rồi."
Không quá mạnh mẽ, Bonar Daitz thầm nghĩ trong lòng. Ông đoán nếu để Thủ tướng, người giỏi hùng biện, phản kích thì ông ta sẽ thể hiện xuất sắc hơn. Nhưng ít nhất hành động phản kích của ông đã giành được sự ủng hộ bằng tiếng đập bàn của các đồng nghiệp ngồi phía sau.
Lúc này, phản ứng của phía bên kia là những tiếng cười nhạo và la hét. "Hô, hô." "Ông là lương tâm của chúng tôi à?"
"Trật tự! Trật tự!" Chủ tịch đứng đó hét lớn, đồng thời đội chiếc mũ ba góc của mình lên. Một hai phút sau, sự xao động lắng xuống.
"Tôi vừa nhắc đến lương tâm của người dân Canada," Bernard Daitz tuyên bố, "Hãy để tôi nói cho các vị biết lương tâm ấy đã bảo tôi điều gì. Nó bảo tôi rằng, chúng ta là dân tộc giàu có nhất, đồng thời cũng là dân tộc thưa thớt nhất trên thế giới. Thế nhưng, chính phủ của chúng ta lại thông qua các bộ trưởng mà thông báo với chúng ta rằng, ở đây đến cả chỗ chứa thêm một người bất hạnh cũng không còn..."
Ở phía bên kia não bộ của vị lãnh đạo phe đối lập, ông biết mình đang dùng từ ngữ bất chấp hậu quả. Việc ghi chép lại loại tình cảm này một cách không che đậy là rất nguy hiểm. Bởi lẽ, bất kỳ đảng cầm quyền nào cũng sẽ nhận ra rằng, áp lực chính trị đòi hạn chế nhập cư là điều không thể phớt lờ. Daitz biết, rồi sẽ có ngày ông phải hối hận vì những lời lẽ gay gắt hôm nay.
Nhưng đôi khi – và lần này chính là một lần như thế – những thỏa hiệp chính trị cùng các bài phát biểu dài dòng, quanh co khiến ông phiền lòng và chán ghét. Hôm nay, chỉ một lần này thôi, ông muốn nói thẳng những gì mình tin tưởng, mặc kệ hậu quả ra sao!
Ông nhìn thấy những người ở hàng ghế phóng viên đều rạp người xuống.
Để biện hộ cho Henri Duval, một nhân vật nhỏ bé mà ông chưa từng gặp mặt, Bernard Daitz tiếp tục bài phát biểu tại nghị viện.
Ở phía bên kia lối đi trung tâm, James Howden đang nghe một cách thờ ơ. Trong vài phút vừa qua, ông vẫn luôn nhìn chiếc đồng hồ lớn treo phía dưới hàng ghế khách nữ ở phía nam đại sảnh. Hôm nay, ba phần tư số ghế khách nữ đã chật kín. Ông biết chỉ một lát nữa thôi, một phần tư số phóng viên sẽ rời khỏi hội trường, dùng điện thoại hoặc điện báo gửi bài về tòa soạn để kịp hạn chót cho ấn bản buổi chiều của tờ báo mình.
Khi giới hạn cuối cùng đến gần, họ sẽ rời đi bất cứ lúc nào, còn Howden lúc này đang chăm chú lắng nghe, ông đang chờ đợi một cơ hội...
Bernard Daitz tuyên bố: "Dĩ nhiên, đôi khi những cân nhắc mang tính nhân đạo cần phải đặt lên trên các điều khoản luật pháp."
Thủ tướng đứng dậy. "Thưa ngài Chủ tịch, vị lãnh đạo phe đối lập có cho phép đặt một câu hỏi không?"
Bernard Daitz ngập ngừng một chút. Nhưng đây là một yêu cầu hợp thức, khiến ông không thể từ chối. Ông đáp ngắn gọn: "Được."
Howden bất ngờ hỏi với giọng điệu chặt chẽ: "Phải chăng vị lãnh đạo phe đối lập đang ám chỉ rằng, chính phủ nên phớt lờ luật pháp, phớt lờ quốc pháp đã được Quốc hội thông qua..."
Lời của ông bị cắt ngang bởi những tiếng la hét từ phía phe đối lập. "Câu hỏi, câu hỏi!", "Cút đi!", "Đây là đang phát biểu!". Những người ủng hộ ông cũng phản đòn bằng tiếng quát: "Trật tự!", "Chú ý nghe câu hỏi!", "Các người sợ cái gì?". Bernard Daitz, người đã ngồi xuống ghế, lại đứng bật dậy.
"Tôi sắp nói đến điểm mấu chốt của vấn đề rồi," Thủ tướng dõng dạc tuyên bố, ông nâng cao giọng để lấn át những người khác. "Thực ra chuyện này rất đơn giản." Ông dừng lại một chút, chờ đợi sự tĩnh lặng tương đối. Khi sự im lặng đến, ông nói tiếp: "Theo luật pháp của chính chúng ta, thanh niên bất hạnh Henri Duval này không thể nhập cảnh vào Canada, điều này rõ như ban ngày. Tôi muốn hỏi vị lãnh đạo phe đối lập, liệu ông ta có đồng ý chuyển vấn đề này lên Liên Hợp Quốc hay không. Đồng thời, tôi có thể thông báo rằng, dù thế nào đi nữa, chính phủ này cũng dự định sẽ ngay lập tức trình vấn đề này lên Liên Hợp Quốc..."
Sự ồn ào lập tức bùng nổ. Trong sảnh lại vang vọng tiếng la hét, những lời kết tội và phản kết tội. Chủ tịch lúc này đứng dậy, nhưng giọng của ông đã bị tiếng ồn lấn át. Bernard Daitz nhìn thẳng vào Thủ tướng, mặt ông đỏ gay, trong mắt rực cháy ngọn lửa phẫn nộ. Ông giận dữ quát: "Đây là một thủ đoạn –"
Quả thực là một thủ đoạn.
Trên hàng ghế phóng viên, các nhà báo lần lượt rời chỗ ngồi, vội vã chạy ra ngoài. Thời điểm Howden ngắt lời đối phương và phản công đều được tính toán một cách chính xác...
James Howden có thể hình dung ra, câu đầu tiên trong các cuộc điện thoại hoặc điện báo mà các phóng viên sắp gửi đi sẽ là: Thủ tướng hôm nay tiết lộ tại Hạ viện, sự kiện của Henri Duval, người không quốc tịch, sẽ được chuyển lên Liên Hợp Quốc. Thông tấn xã Canada và hãng tin AP của Mỹ có lẽ đã phát đi bản tin lúc 12 rưỡi: "Sự kiện Duval sẽ được chuyển lên Liên Hợp Quốc – Thủ tướng". Tiếng máy đánh chữ điện báo lạch cạch không ngừng, những biên tập viên đang nóng lòng tìm kiếm góc độ mới và cảm thấy thời gian gấp rút sẽ lấy câu này làm tiêu đề bài báo. Còn về sự tấn công của phe đối lập; bài phát biểu của Bernard Daitz tất nhiên sẽ được nhắc tới, nhưng chỉ ở vị trí thứ yếu.
Thủ tướng không giấu nổi sự phấn khích trong lòng, ông viết một mẩu giấy gửi cho Arthur Lexington, trên đó chỉ vỏn vẹn: "Viết một bức thư." Nếu sau này có ai hỏi, ông có thể giải thích rằng đề xuất gửi lên Liên Hợp Quốc đã được giao cho Bộ Ngoại giao hoàn tất.
Bernard Daitz bắt đầu lại bài phát biểu bị gián đoạn của mình. Nhưng dường như nguồn cơn của luồng khí đã bị phân tán, sức ảnh hưởng cũng không còn lớn nữa. James Howden hiểu rất rõ điều này; ông đoán Daitz có lẽ cũng hiểu.
Đã lâu lắm rồi, Thủ tướng từng có lúc rất yêu mến và kính trọng Bernard Daitz, mặc dù vực thẳm giữa hai đảng đã chia cắt họ. Vị lãnh đạo phe đối lập này có vẻ là người chính trực, tính cách trầm ổn, mọi lời nói hành động đều nhất quán, thật khó để không kính trọng. Nhưng sau đó, thái độ của Howden đã thay đổi, đến tận bây giờ, mỗi khi nghĩ về Bernard Daitz, ông đều có cảm giác khinh miệt.
Sự thay đổi này chủ yếu xuất phát từ năng lực của Daitz với tư cách là một lãnh đạo phe đối lập. Howden biết có rất nhiều lần Bernard Daitz đã không tận dụng cơ hội để tấn công vào những điểm yếu của chính James Howden trong các vấn đề cụ thể. Đôi khi hành động này – hay còn gọi là không biết cách hành động – có lẽ biểu thị sự kiềm chế lý trí của Daitz, nhưng đó không phải là mấu chốt vấn đề. Vai trò của người lãnh đạo là phải lãnh đạo, bất cứ khi nào cơ hội xuất hiện, anh ta phải dùng trái tim sắt đá để tận dụng nó một cách tàn nhẫn. Chính trị đảng phái không phải là sự nghiệp của kẻ hèn nhát, con đường dẫn đến quyền lực chắc chắn phải rải đầy những hy vọng tan vỡ và vỏ bọc tham vọng của người khác.
Thứ mà Bernard Daitz thiếu chính là sự tàn nhẫn.
Ông ta còn có những phẩm chất khác: tài trí và học vấn, sự nhạy bén và tầm nhìn xa, sự kiên trì và sức hút. Nhưng tất cả những phẩm chất ấy chưa bao giờ giúp ông trở thành đối thủ của James Howden, ít nhất là trông có vẻ như vậy.
Howden nghĩ, giả sử Bernard Daitz là Thủ tướng, thật không thể tưởng tượng nổi ông ta có thể điều khiển nội các, kiểm soát Hạ viện và thực hiện như những gì mình vừa làm – dùng mưu kế, nghi binh và hành động nhanh chóng để giành lấy lợi thế chiến lược trong tranh luận.
Nhưng nếu ở Washington thì sao? Đối mặt với Tổng thống Mỹ và những trợ lý khó nhằn của ông ta, vị lãnh đạo phe đối lập liệu có thể giữ vững lập trường và rời khỏi Washington với thành quả nhiều như Howden đã đạt được không? Daitz có lẽ sẽ lý trí hơn, không bao giờ cứng rắn như Howden, nhưng cuối cùng cũng chỉ nhận lấy kết cục mất nhiều hơn được. Và hiện tượng này trong tương lai vẫn sẽ lặp lại.
Suy nghĩ khiến ông liên tưởng đến việc chưa đầy 10 ngày nữa, ông, James Howden, sẽ đứng ở vị trí này trong tòa nghị viện, tuyên bố về Hiến chương Liên Hợp Quốc cùng các điều khoản của nó. Theo sau đó sẽ là một thời khắc trọng đại huy hoàng, những sự kiện nhỏ nhặt sẽ bị lãng quên hoặc phớt lờ, như những kẻ đi lậu vé, vấn đề nhập cư, v.v. Ông có một cảm giác phiền muộn và phẫn uất, ông cảm thấy cuộc tranh luận đang diễn ra tuy quan trọng ở hiện tại, nhưng thực tế, so với những gì ông sắp công bố, mọi thứ trước mắt đều tầm thường đến nực cười.
Lúc này, bài phát biểu gần một tiếng đồng hồ của Bernard Daitz đã đi đến hồi kết.
"Thưa ngài Chủ tịch," vị lãnh đạo phe đối lập nói, "Chính phủ hiện tại nếu muốn xuất phát từ lòng nhân ái và khoan dung, cho phép thanh niên Henri Duval đạt được quốc tịch Canada mà anh ta mong mỏi, thì bây giờ vẫn chưa quá muộn. Để anh ta rời khỏi cái nhà tù thảm hại mà số phận đã đẩy anh ta vào, bây giờ vẫn chưa quá muộn. Để Duval với sự giúp đỡ của chúng ta, và trở thành một thành viên hữu ích, hạnh phúc trong xã hội của chúng ta, bây giờ cũng vẫn chưa quá muộn. Tôi khẩn cầu sự cảm thông của chính phủ, tôi yêu cầu mạnh mẽ, đừng để lời khẩn cầu của chúng ta trở thành ước muốn đơn phương."
Sau đó, ông trình bày kiến nghị bằng những từ ngữ trang trọng: "...Đối với việc chính phủ từ chối công nhận và thực hiện đúng đắn trách nhiệm của mình trong vấn đề nhập cư, nghị sĩ này cảm thấy đáng tiếc..." Bernard Daitz ngồi xuống, phía phe đối lập lập tức vang lên một tiếng đập bàn như sấm sét.
Harvey Warrender lập tức đứng dậy.
"Thưa ngài Chủ tịch," Bộ trưởng Bộ Nhập cư bắt đầu bằng giọng trầm đục, "Như thường lệ, vị lãnh đạo phe đối lập hôm nay lại dùng những kỳ vọng viển vông để bóp méo sự thật, dùng cảm xúc thái quá để làm rối loạn một vấn đề đơn giản, và biến một chức năng hợp pháp bình thường của Bộ Nhập cư thành một âm mưu ngược đãi nhân loại."
Phía bên kia đại sảnh lập tức vang lên tiếng phản đối và tiếng hô "Rút xuống", trong khi phía này vang lên tiếng tán thưởng và đập bàn.
Harvey Warrender mặc kệ những tiếng la hét, tiếp tục nói bằng những từ ngữ gay gắt: "Nếu chính phủ này vi phạm pháp luật, chúng tôi xin chịu sự sỉ nhục của nghị viện. Hoặc nếu Bộ Công dân và Nhập cư không thực hiện đúng chức trách theo luật định, quay lưng lại với các sắc lệnh mà nghị viện đã quy định, tôi sẽ cúi đầu nhận tội. Nhưng cả hai điều đó chúng tôi đều không phạm phải, vì vậy bất kỳ sự trừng phạt nào chúng tôi cũng không chấp nhận."
James Howden cảm thấy, ông ước gì thái độ của Harvey Warrender lúc này có thể ôn hòa hơn một chút. Đôi khi trong nghị viện đúng là cần những chiến thuật bạo liệt, nhưng hôm nay làm vậy là không phù hợp. Vào lúc này, áp dụng thái độ lý lẽ bình tĩnh có lẽ sẽ hiệu quả hơn. Đồng thời, Thủ tướng lúc này cảm thấy bất an, trong giọng nói của Warrender dường như có một luồng âm ỉ của sự cuồng loạn, và khi bài phát biểu của ông ta kéo dài, luồng âm ỉ này dường như cũng đang phát triển. "Sự thật về cái gọi là tai tiếng và thiếu lòng trắc ẩn mà vị lãnh đạo phe đối lập cáo buộc là gì? Rất đơn giản, đó là chính phủ không hề phá luật; Bộ Công dân và Nhập cư đã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình, tuân thủ Luật Nhập cư của Canada, và làm được sự công bằng kiên định."
Ừm, những lời này thì không thể chê vào đâu được; thực tế cũng cần nói những điều như vậy. Nếu Harvey có thái độ nhẹ nhàng hơn chút nữa thì tốt...
"Vị lãnh đạo phe đối lập đã nhắc đến nhân vật Henri Duval. Hãy tạm gác lại chuyện liệu đất nước chúng ta có cần thêm một gánh nặng không ai cần hay không, tạm không bàn đến việc chúng ta có nên mở rộng cửa đón nhận rác rưởi nhân loại từ nước ngoài hay không..."
Ở phía bên kia đại sảnh lập tức vang lên tiếng gầm phản đối, âm lượng vượt qua mọi đỉnh điểm trước đó. Howden biết, Harvey Warrender đã đi quá giới hạn. Ngay cả phía chính phủ, cũng có nhiều người lộ vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt, chỉ có vài người miễn cưỡng phản kháng.
Bernard Daitz đã đứng dậy lần nữa. "Thưa ngài Chủ tịch, xin cho phép tôi phản đối..." Bên cạnh ông vang lên những tiếng phản đối chói tai.
Trong tiếng la hét cuồng nhiệt, Harvey Warrender vẫn bất chấp tất cả mà hét lớn: "Tôi muốn nói, hãy quên những cảm xúc giả tạo đó đi, hãy tập trung vào luật pháp. Chúng tôi đã tuân thủ luật pháp..." Giọng của ông bị nhấn chìm trong những tiếng hô vang phẫn nộ ngày càng cao.
Trong sự hỗn loạn, một giọng nói kiên cường át đi tất cả. "Thưa ngài Chủ tịch, liệu có thể để Bộ trưởng Nhập cư giải thích thế nào là rác rưởi nhân loại không?" Howden bất an nhận ra, người đặt câu hỏi này là Arnold Ginnie, một nghị sĩ cấp thấp của phe đối lập, đại diện cho một trong những khu vực nghèo nhất của thành phố Montreal.
Người này có hai điểm đáng chú ý. Ông ta là một người què, chỉ cao 5 feet, thân hình có phần tê liệt và vặn vẹo, đặc biệt là khuôn mặt vô cùng xấu xí. Ngũ quan không cân đối, như thể thiên nhiên cố tình nặn ông thành một kẻ dị dạng. Thế nhưng, mặc dù có khuyết tật nghiêm trọng, ông lại vượt qua gian khổ để trở thành một nghị sĩ xuất chúng và là chiến sĩ đấu tranh cho những người nghèo. Xét về góc độ cá nhân, Howden rất ghét người này. Ông cho rằng người này chắc chắn không biết xấu hổ khi trưng bày những khiếm khuyết sinh lý của mình, hòng giành lấy sự đồng cảm của mọi người. Howden biết, mọi người thường rất dễ dành sự đồng cảm cho một người què, vì vậy ông luôn chú ý không vướng vào các cuộc tranh luận với Arnold Ginnie.
Ginnie lúc này lại yêu cầu một lần nữa: "Ngài Bộ trưởng có thể giải thích ý nghĩa của 'rác rưởi nhân loại' không?"
Cơ mặt của Harvey Warrender lại co giật. James Howden đã có thể tưởng tượng ra, Bộ trưởng Nhập cư trong lúc vội vàng có thể sẽ không suy nghĩ mà đáp lại: "Không có ai có điều kiện ưu việt như ngài nghị sĩ để hiểu ý nghĩa chính xác của tôi." Howden quyết định, phải bằng mọi giá ngăn chặn sự phản đòn này.
Thủ tướng đứng dậy, dùng giọng nói át đi những tiếng la hét: "Ngài nghị sĩ khu vực phía đông Montreal đang nhấn mạnh vào một số từ ngữ, tôi rất tin chắc rằng đồng nghiệp của tôi không cố ý nói như vậy."
"Vậy hãy để chính ông ta nói như vậy đi!" Ginnie vụng về chống đôi nạng, phẫn nộ ném lại một câu như thế. Xung quanh ông vang lên những tiếng hô ủng hộ. "Rút lại! Rút lại!" Trên hàng ghế phóng viên, mọi người nhoài người về phía trước.
"Trật tự! Trật tự!" Trong tiếng ồn ào, giọng của Chủ tịch gần như không thể nghe thấy.
"Tôi không rút lại bất cứ điều gì!" Harvey Warrender gào lên, mặt ông đỏ gay, những sợi gân cổ nổi lên cuồn cuộn. "Không rút lại gì cả, các người nghe thấy chưa!"
Lại một đợt la hét. Chủ tịch lại kêu gọi trật tự. Howden nhận ra, tình hình hôm nay rất hiếm gặp. Chỉ có những vấn đề mà hai bên có sự khác biệt sâu sắc, hoặc các vấn đề nhân quyền mới tạo ra những xung đột kịch liệt như thế này.
"Tôi yêu cầu cưỡng chế vị Bộ trưởng này đưa ra câu trả lời." Vẫn là giọng nói kiên cường sắc bén của Arnold Ginnie.
"Trật tự! Vấn đề mà nghị viện này đang tranh luận..." Chủ tịch cuối cùng cũng khiến người khác nghe thấy giọng mình. Vì sự tôn trọng dành cho Chủ tịch, Howden và Warrender phía chính phủ đều ngồi xuống. Những tiếng la hét từ khắp các góc cũng dần biến mất. Chỉ còn Arnold Ginnie lảo đảo dựa vào đôi nạng, tiếp tục phớt lờ uy quyền của Chủ tịch.
"Thưa ngài Chủ tịch, Bộ trưởng Nhập cư đã nhắc đến từ 'rác rưởi nhân loại' trong nghị viện. Tôi yêu cầu..."
"Trật tự! Tôi muốn yêu cầu vị nghị sĩ kia ngồi xuống."
"Xin cho phép..."
"Nếu vị nghị sĩ kia còn không ngồi xuống, tôi sẽ buộc phải nêu tên ông ta."
Ginnie dường như đang cố tình cầu xin sự quở trách của đối phương. Chế độ trong nghị viện rất rõ ràng, khi Chủ tịch đang đứng, mọi người đều phải nhượng bộ. Mà lúc này, Chủ tịch lại dùng lệnh miệng để bày tỏ thái độ của mình. Nếu Ginnie tiếp tục cố chấp, sẽ buộc phải áp dụng một hình thức kỷ luật nào đó với ông ta.
"Trước khi tôi nêu tên ông ta, tôi muốn cho vị nghị sĩ này thêm một cơ hội." Chủ tịch nghiêm khắc cảnh cáo.
Arnold Ginnie bướng bỉnh nói: "Thưa ngài Chủ tịch, tôi đang nói thay cho một người cách đây 3000 dặm, mà ông ta lại bị chính phủ hiện tại khinh miệt gọi là 'rác rưởi'..."
James Howden đột nhiên nhận ra, tình thế hóa ra lại đơn giản như vậy. Ginnie người què giờ đây đang cố gắng cùng tử vì đạo với kẻ đi lậu vé Duval. Đây là một chiêu bài chính trị cực kỳ khôn ngoan và đầy hoài nghi, phải ngăn chặn nó.
Thủ tướng lập tức đứng dậy cắt ngang lời ông ta: "Thưa ngài Chủ tịch, tôi tin rằng chuyện này có thể được giải quyết tốt đẹp..." Ông đã quyết định, ông sẽ thay mặt chính phủ rút lại câu nói gây tổn thương của Warrender, bất kể Warrender có nghĩ gì đi nữa...
Thế nhưng đã muộn rồi.
Chủ tịch hoàn toàn không để ý đến Howden, ông kiên quyết tuyên bố: "Rất tiếc, tôi có trách nhiệm phải nêu tên ngài nghị sĩ khu vực phía đông Montreal."
James Howden tức giận nhận ra, sự tính toán của mình đã thất bại, ông ngồi phịch xuống.
Quy trình xử phạt diễn ra nhanh chóng. Biện pháp nêu tên của Chủ tịch rất ít khi được sử dụng. Nhưng một khi nó xảy ra, các nghị sĩ còn lại buộc phải thực hiện các hành động kỷ luật đối với người bị nêu tên. Phải vô điều kiện bảo vệ uy quyền của Chủ tịch. Đây cũng là uy quyền của nghị viện, uy quyền của nhân dân, là kết quả của hàng trăm năm đấu tranh đổi lấy...
Thủ tướng viết một mẩu giấy chỉ có 4 chữ gửi cho Stewart Cawston, vì Cawston là lãnh đạo nghị viện của đảng cầm quyền. Mẩu giấy viết: "Hình phạt nhẹ nhất." Bộ trưởng Tài chính gật đầu.
Cawston vội vàng thảo luận với Tổng cục trưởng Bưu chính đứng sau ông ta. Sau đó, Cawston đứng dậy. Ông tuyên bố: "Căn cứ vào quyết định của ngài, thưa ngài Chủ tịch, tôi không còn lựa chọn nào khác, đành phải đề nghị, và được sự đồng ý của ngài Gould, Tổng cục trưởng Bưu chính: 'Hủy bỏ quyền tham gia tranh luận hôm nay của ngài nghị sĩ khu vực phía đông Montreal'."
Thủ tướng lo âu nhìn thấy hàng ghế phóng viên lại đông đúc trở lại. Xem ra bản tin truyền hình và phát thanh tối nay, cùng những tiêu đề lớn trên báo sáng mai lại có chủ đề mới.
Một cuộc bỏ phiếu có ghi chép về kiến nghị của Cawston đã tốn mất 20 phút. Kết quả bỏ phiếu là 131 phiếu thuận, 55 phiếu chống. Chủ tịch trang trọng công bố: "Tôi tuyên bố kiến nghị đã được thông qua." Hội trường nghị viện im phăng phắc.
Arnold Ginnie run rẩy chống nạng, cẩn thận đứng dậy.
Ông cố tình bước những bước vụng về, chống nạng, vung vẩy thân hình vặn vẹo, với khuôn mặt dị dạng, từng bước từng bước đi qua trước mặt các nghị sĩ hàng đầu của phe đối lập, tiến đến lối đi trung tâm. James Howden đã quen biết Ginnie trong nghị viện nhiều năm, ông cảm thấy hành động của người này chưa bao giờ chậm chạp như hôm nay. Người què đối mặt với các nghị sĩ, với vẻ chậm chạp đầy bi thương, vụng về cúi chào. Ông dường như suýt ngã xuống đất, sau đó cân bằng lại cơ thể, quay người bước ra khỏi hội trường. Đến cửa, ông lại quay người cúi chào một lần nữa, rồi bước ra ngoài. Hai viên trung sĩ lập tức nắm lấy hai cánh tay ông đỡ lấy, rồi biến mất bên ngoài. Trong hội trường nghị viện gần như có thể nghe thấy tiếng thở phào của mọi người.
Chủ tịch bình tĩnh nói: "Mời Bộ trưởng Công dân và Nhập cư tiếp tục phát biểu."
Harvey Warrender lúc này đã ôn hòa hơn một chút, ông tiếp tục nói từ chỗ vừa dừng lại. Nhưng Howden biết, dù bây giờ có chuyện gì xảy ra nữa cũng không thể thu hút sự quan tâm của mọi người được. Arnold Ginnie bị trục xuất khỏi hội trường một cách chính đáng trong vài giờ vì công khai vi phạm quy định nghị viện, nhưng giới báo chí chắc chắn sẽ tận dụng chuyện này để viết bài. Còn công chúng thì không hiểu cũng chẳng quan tâm đến các quy tắc tranh luận nghị viện là gì, cái họ nhìn thấy chỉ là hai con người bất hạnh – một người què, một người là kẻ đi lậu vé không người thân – nhìn thấy họ trở thành nạn nhân của một chính phủ thô bạo và chuyên quyền.
Nghĩ đến đây, lần đầu tiên Howden cảm thấy lo lắng, liệu chính phủ của mình còn có thể chịu đựng được sự tổn thất danh tiếng này bao lâu nữa.
Trên mẩu giấy của Brian Richardson viết: "Đợi tôi lúc 7 giờ tối nay." Đến 7 giờ kém 5, Millie Friedman vẫn còn chưa chuẩn bị xong. Cô vừa bước ra khỏi phòng tắm với thân hình ướt sũng, vừa hy vọng Richardson tốt nhất là nên đến muộn.
Millie thường tự hỏi với sự tò mò mơ hồ, tại sao cô có thể quản lý mọi thứ trong văn phòng của mình, quản lý mọi thứ trong văn phòng của Howden một cách hiệu quả như một cỗ máy, nhưng lại gần như chưa bao giờ áp dụng quy trình này một cách hiệu quả vào gia đình mình? Trên đồi Quốc hội, cô có thể chính xác đến từng giây; nhưng ở nhà, cô hiếm khi được như vậy. Văn phòng của Thủ tướng được cô giữ gìn sạch sẽ như một hình mẫu, bao gồm hệ thống lưu trữ hồ sơ ngăn nắp, khiến cô có thể tìm thấy một bức thư viết tay của một người vô danh nào đó từ 5 năm trước chỉ trong vài giây. Thế nhưng bây giờ, cô lại đang lục lọi trong ngăn kéo tủ quần áo bừa bãi của mình để tìm một chiếc áo ngực mới.
Khi có tâm trạng suy nghĩ về những hiện tượng này, cô nghĩ, sự hỗn loạn phù hợp trong thời gian sau giờ làm việc này, có lẽ là một sự phản kháng đối với các quy tắc và áp lực của thế giới bên ngoài đang ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân của cô. Cô luôn giữ thái độ phản kháng đối với các vấn đề bên ngoài và quan điểm của người khác, đôi khi thậm chí còn phản đối mạnh mẽ.
Cô cũng chưa bao giờ thích người khác lên kế hoạch cho tương lai của mình, dù kế hoạch đó là xuất phát từ ý tốt. Khi còn học đại học ở Toronto, có lần cha cô từng khuyên cô theo đuổi nghề luật sư giống ông. "Con sẽ rất thành công, Millie," ông nói, "Con thông minh, nhạy bén và giỏi nhìn thấu bản chất của sự việc. Chỉ cần con muốn, con có thể giống như cha, vượt xa những người đàn ông khác."
Sau đó cô nghĩ, nếu ban đầu là chính cô nghĩ ra ý tưởng này, có lẽ cô sẽ làm đến cùng. Nhưng cô không muốn để người khác đưa ra quyết định cá nhân cho mình, dù đó là người cha mà cô yêu quý.
Dĩ nhiên, toàn bộ sự việc này đều là một mâu thuẫn; không ai có thể sống hoàn toàn độc lập, giống như bạn không thể tách rời hoàn toàn cuộc sống trong văn phòng và cuộc sống cá nhân. Nếu không, ban đầu đã không có đoạn tình cảm với James Howden, và tối nay Brian Richardson cũng sẽ không đến đây. Cô vừa nghĩ vừa mặc chiếc áo ngực vừa tìm được vào.
Nhưng liệu chuyện này có nên xảy ra không? Cô có nên để Brian đến tìm mình? Nếu ngay từ đầu cô kiên quyết hơn, giữ vững lập luận rằng không để cuộc sống cá nhân bị xâm phạm, liệu có tốt hơn không? Kể từ khi biết rõ mối quan hệ giữa mình và James Howden chẳng có tương lai, cô đã cẩn trọng xây dựng cuộc sống độc lập của riêng mình, chẳng lẽ bây giờ lại từ bỏ nó sao?
Cô mặc vào một chiếc quần lót, nhưng trong lòng vẫn bị câu hỏi đó bủa vây.
Một cuộc sống riêng tư độc lập và nhìn chung là hạnh phúc có giá trị rất lớn. Ở bên Brian Richardson, liệu cô có đang mạo hiểm đánh mất sự hài lòng khó khăn lắm mới có được, trong khi lại chẳng nhận lại được bất cứ điều gì hay không?
Sau khi chia tay James Howden, cô đã mất một thời gian rất dài để điều chỉnh lại quan điểm và cuộc sống, khiến nó thích nghi với lối sống độc thân lâu dài. Thế nhưng, cô nghĩ, có lẽ nhờ bản năng tự giải quyết các vấn đề cá nhân vốn có, cô đã sắp xếp cuộc sống của mình một cách thỏa mãn, cân bằng và khá thành công.
Hơn nữa, Millie bây giờ thực sự không còn ngưỡng mộ những người bạn gái đã kết hôn của mình nữa. Ngược lại, đôi khi cô càng nhìn thấy những người chồng như những chiếc ô bảo vệ, miệng luôn ngậm tẩu thuốc, và những đứa con bò lổm ngổm khắp sàn nhà của họ, cô lại càng cảm thấy cuộc sống của họ thật nhàm chán và đơn điệu, không giống như cuộc sống độc lập tự do của chính cô.
Vấn đề bây giờ là: Tình cảm của cô dành cho Brian Richardson có đang kéo cô lùi lại, khiến cô rơi vào những khuôn mẫu tư tưởng trần tục hay không?
Millie mở tủ quần áo trong phòng ngủ, không biết tối nay nên mặc gì. Phải rồi, vào đêm Giáng sinh, Brian nói rằng cô mặc quần dài trông rất gợi cảm... Cô tìm ra một chiếc quần vải mỏng màu xanh nhạt, rồi lại lục lọi trong ngăn kéo lớn để tìm một chiếc áo chui đầu cổ thấp màu trắng. Cô không đi tất, chỉ xỏ vào đôi xăng đan trắng thanh mảnh. Khi cô mặc xong quần và áo, trang điểm nhẹ như thường lệ dù là ngày hay đêm, thì đã là 7 giờ 10 phút.
Cô dùng tay vuốt lại mái tóc, rồi quyết định dùng lược chải lại, vì vậy vội vã đi vào phòng tắm.
Cô nhìn mình trong gương, tự nhủ trong lòng: "Không vấn đề gì, tuyệt đối không có vấn đề gì đáng lo ngại cả. Đúng vậy, nếu phải nói thật, tôi sắp yêu Brian rồi, có lẽ tôi đã yêu anh ấy rồi. Nhưng Brian là người không thể có được, và đó chính là điều anh ấy mong muốn. Vì vậy, chẳng có vấn đề gì cả."
Thế nhưng, thực sự có vấn đề, trái tim cô đang cảnh báo. Sau khi chia tay anh ấy, cô phải làm sao? Lại bị bỏ rơi lần nữa, lại rơi vào cảnh cô đơn một lần nữa sao?
Millie khựng lại. Cô nhớ đến trải nghiệm cách đây 9 năm. Những ngày trống rỗng đó, những đêm hiu quạnh đó, những tuần lễ khó lòng vượt qua đó... Cô tự nhủ: "Mình không thể chịu đựng thêm một lần nữa đâu." Cô thầm nghĩ: "Có lẽ, mình thực sự nên kết thúc nó ngay tối nay."
Tiếng chuông cửa dưới lầu đánh thức cô khỏi những suy tư.
Brian không cởi áo khoác mà hôn cô trước. Trên mặt anh đã lún phún râu, cơ thể tỏa ra mùi thuốc lá. Millie cảm thấy một luồng cảm xúc xót xa, cảm thấy quyết tâm của mình đang tan biến. Cô nghĩ: "Mình cần người đàn ông này, bất kể hoàn cảnh và điều kiện ra sao." Tiếp đó, cô lại nhớ đến suy nghĩ vừa rồi – nên kết thúc ngay tối nay.
"Millie, cưng của anh," anh bình thản nói, "Em đẹp tuyệt vời."
Cô nhẹ nhàng thoát khỏi vòng tay anh, đôi mắt nhìn anh. Cô ân cần nói: "Brian, anh mệt rồi."
"Anh biết." Anh gật đầu. "Và anh cũng cần cạo râu nữa. Anh vừa mới từ Quốc hội ra."
Lúc này cô không bận tâm đến chuyện đó, cô tiện miệng hỏi: "Tình hình thế nào rồi?"
"Em chưa nghe thấy gì sao?"
Cô lắc đầu. "Em rời văn phòng khá sớm. Em cũng không mở đài. Em có nên nghe không?"
"Không," anh nói, "Em sẽ sớm nghe được tất cả thôi."
"Tranh luận tại Nghị viện không suôn sẻ sao?"
Anh chán nản gật đầu. "Lúc đó anh đang ở khu vực dành cho phóng viên. Anh ước gì mình không nhìn thấy gì cả. Báo chí ngày mai sẽ nuốt chửng tất cả chúng ta."
"Chúng ta uống chút gì đi," Millie nói. "Trông anh có vẻ cần thứ gì đó."
Cô pha rượu Martini, thêm một chút rượu Vermouth. Cô bưng ly rượu ra khỏi bếp, giọng gần như khá vui vẻ nói: "Cái này sẽ làm tâm trạng anh tốt hơn đấy. Thông thường là vậy."
Tối nay không kết thúc được rồi, cô nghĩ. Có lẽ một tuần sau, hoặc một tháng sau, nhưng tối nay thì không thể.
Brian Richardson nhấp một ngụm, rồi đặt ly xuống.
Anh đi thẳng vào vấn đề, gần như có chút thô lỗ: "Millie, anh muốn em kết hôn với anh."
Căn phòng chìm trong im lặng, vài giây trôi qua dài như vài giờ. Sau đó, anh khẽ nói: "Millie, em có nghe thấy không?"
Millie nói: "Em dám chắc là em nghe thấy anh nói muốn kết hôn với em." Giọng cô dường như rất nhẹ nhàng, xa xăm, tách biệt khỏi cuộc sống thực tại. Cô cảm thấy hơi chóng mặt.
"Đừng coi lời anh nói là đùa," Richardson cứng rắn nói. "Anh rất nghiêm túc."
"Brian, người yêu của em," giọng cô rất dịu dàng, "Em không đùa đâu, thật đấy, em không hề đùa."
Anh đặt ly xuống, bước lại gần Millie. Họ lại hôn nhau một cách dài lâu, nồng nhiệt. Cô tựa đầu vào vai anh, nơi vẫn còn vương mùi thuốc lá. "Ôm em đi," cô khẽ nói, "ôm em thật chặt vào."
"Khi nào em suy nghĩ kỹ, em có thể cho anh câu trả lời," anh nhìn mái tóc cô nói.
Tất cả bản năng phụ nữ trong cô đều thúc giục cô đồng ý. Cảm xúc và thời điểm lúc này đều thích hợp để nói đồng ý ngay lập tức. Chẳng phải đây là điều cô vẫn luôn mong đợi sao? Chẳng phải cô vừa mới tự nhủ rằng dù trong bất kỳ điều kiện nào cô cũng cần người đàn ông này sao? Vậy mà lúc này, cô lại bất ngờ gặp được điều kiện tốt nhất – kết hôn, một mối quan hệ cố định vĩnh viễn...
Mọi chuyện thật đơn giản. Chỉ cần thốt ra một tiếng đồng ý, thế là xong. Không thể vãn hồi được nữa...
Sự không thể vãn hồi này khiến cô giật mình. Đây là thật đấy, không phải nằm mơ. Cảm giác bất an đang ập đến với cô. Một giọng nói thận trọng đang khẽ bảo cô: "Đợi đã!"
"Anh nghĩ mình có lẽ không đáng để theo đuổi lắm," giọng trầm thấp của Brian vang lên trong mái tóc cô; anh khẽ vuốt ve cổ cô. "Anh hơi già rồi, hơn nữa còn phải ly hôn trước đã, nhưng chuyện đó không thành vấn đề. Eloise và anh có sự thấu hiểu lẫn nhau."
Dừng lại một chút, anh lại chậm rãi tiếp tục: "Anh nghĩ là anh yêu em, Millie. Anh nghĩ anh thực lòng."
Cô ngẩng đầu lên, đôi mắt đẫm lệ, lại hôn anh. "Brian, người yêu của em, em biết anh yêu em, và em nghĩ em cũng yêu anh. Nhưng em cần chắc chắn. Xin hãy cho em chút thời gian."
Gương mặt anh méo mó thành một nụ cười thô kệch. "Chậc, anh đã tập dượt suốt dọc đường, kết quả vẫn làm hỏng bét."
Anh nghĩ, có lẽ mình nói quá muộn. Có lẽ cách làm đã sai. Có lẽ đây là sự báo ứng, vì ngay từ đầu chúng ta đã không đúng: Anh quá thiếu nghiêm túc, luôn đề phòng việc dính líu quá sâu. Mà giờ đây, chính anh lại muốn đưa mối quan hệ tiến xa hơn một bước, nhưng lại bị gạt ra ngoài như một trò cười, tội nghiệp đứng nhìn vào trong. Tuy nhiên, anh tự an ủi mình, ít nhất anh đã vượt qua giai đoạn do dự đó, vượt qua sự cắn rứt lương tâm bồn chồn trong vài ngày qua, cuối cùng hiểu ra rằng Millie quan trọng với anh hơn bất cứ thứ gì. Nhưng giờ đây không có cô, anh chỉ còn lại sự trống rỗng, cô độc...
"Brian, làm ơn," giọng Millie bình tĩnh hơn nhiều, sự điềm tĩnh và tự chủ đã trở lại với cô. Cô chân thành nói: "Lời anh nói khiến em cảm thấy tự hào, kiêu hãnh, người yêu của em, và em nghĩ câu trả lời của em sẽ là đồng ý. Nhưng em cần phải chắc chắn, điều này tốt cho cả hai chúng ta. Làm ơn, người yêu của em, hãy cho em chút thời gian."
Anh thô lỗ đáp lại: "Cần bao lâu?"
Họ ngồi xuống ghế sô pha, đầu kề sát nhau, hai bàn tay nắm chặt lấy nhau. "Nói thật nhé, cưng, em không biết, hy vọng anh đừng ép em phải đưa ra thời hạn cụ thể. Em không thể chịu nổi áp lực từ những hạn định nào đó. Nhưng em hứa sẽ trả lời anh sớm nhất có thể."
Cô nghĩ, mình bị sao thế này? Mình sợ cuộc sống rồi sao? Tại sao phải do dự? Tại sao không chốt lại ngay bây giờ? Thế nhưng, giọng nói thận trọng kia vẫn đang vang lên: "Đợi đã!"
Brian dang rộng vòng tay; cô lao vào lòng anh. Đôi môi họ chạm vào nhau, anh lại cuồng nhiệt hôn cô lần nữa. Millie cảm thấy mình cũng đang đáp lại nồng nhiệt, trái tim cô đập liên hồi. Một lát sau, tay anh bắt đầu khẽ mơn trớn.
Buổi tối sắp trôi qua, Brian Richardson bưng hai tách cà phê đi vào phòng khách. Millie vẫn đang ở trong bếp thái món salad Ý, xúc xích gạo, bánh mì kẹp. Cô nhìn thấy chiếc đĩa mình dùng bữa sáng vẫn chất đống trong bồn rửa chưa rửa. Cô nghĩ, thực sự, mình nên mang thói quen ở văn phòng về nhà một chút thì hơn.
Trong phòng khách, trên chiếc bàn nhỏ đối diện với ghế sô pha lớn đặt một chiếc tivi cầm tay, Richardson đi tới bật tivi lên, rồi quay đầu lại nói: "Anh không biết mình có chịu nổi không, nhưng anh nghĩ vẫn nên tìm hiểu tình huống xấu nhất thì hơn." Millie bưng bánh mì kẹp vào, đặt đĩa xuống, lúc này chương trình tin tức truyền hình quốc gia của CBC bắt đầu.
Giống như những ngày gần đây, bắt đầu là bản tin về tình hình thế giới đang xấu đi. Cuộc nổi loạn do Liên Xô giật dây ở Lào lại dấy lên làn sóng mới, còn Điện Kremlin đáp trả công hàm phản đối của Mỹ bằng những lời lẽ cứng rắn. Có tin báo rằng tại các quốc gia vệ tinh ở Đông Âu, quân đội đang tập kết. Giữa trục Moscow-Bắc Kinh lại xuất hiện những mối giao thiệp hữu nghị mới.
"Sắp có chiến tranh rồi," Richardson nói khẽ. "Càng ngày càng gần rồi."
Bản tin tiếp theo là về Duval.
Phát thanh viên với vẻ ngoài chỉn chu đọc: "Hôm nay tại Ottawa, Hạ viện đã xảy ra cuộc tranh cãi kịch liệt về Duval, kẻ không quốc tịch đang chờ bị trục xuất tại Vancouver. Trong lúc Chính phủ và phe đối lập tranh cãi gay gắt nhất, nghị sĩ khu vực Montreal Đông, Arnold Gini đã bị đình chỉ tham gia tranh luận tại Nghị viện trong phần còn lại của ngày hôm nay..."
Trên màn hình khác phía sau phát thanh viên xuất hiện ảnh của Henri Duval, tiếp đó là ảnh tĩnh của vị nghị sĩ què. Đúng như Howden và Richardson lo ngại, sự kiện trục xuất nghị sĩ và câu nói "rác rưởi của nhân loại" của Harvey dẫn đến sự kiện này đều trở thành tin nóng. Và bất kể bài báo viết công tâm đến đâu, trong mắt mọi người, kẻ đi lậu và người què chỉ có thể được coi là nạn nhân của một chính phủ thô bạo, vô tình.
"Phóng viên Norman Deepin của CBC đưa tin tại hiện trường Nghị viện..." phát thanh viên tiếp tục nói.
Richardson đưa tay tắt tivi, "Anh không xem nổi nữa. Em có phiền không?"
"Không," Millie lắc đầu. Mặc dù cô biết những gì nhìn thấy trên tivi tối nay rất quan trọng, nhưng cô cảm thấy khó mà duy trì sự hứng thú. Chuyện quan trọng nhất vẫn chưa được quyết định...
Brian Richardson chỉ vào màn hình tivi tối đen. "Chết tiệt, em có biết chương trình này có bao nhiêu khán giả không? Đây là mạng lưới truyền hình quốc gia – từ bờ Đông sang bờ Tây đấy. Cộng thêm những thứ khác, đài phát thanh, truyền hình địa phương, báo chí ngày mai..." anh bất lực nhún vai.
"Em biết," Millie nói. Cô cố gắng khiến tư tưởng của mình quay về những việc ngoài cá nhân. "Ước gì em có thể làm gì đó."
Richardson đã đứng dậy, đang đi đi lại lại trong phòng. "Em đã làm rồi, cưng à. Ít nhất em còn tìm thấy..." anh ngừng nói.
Millie biết, cả hai người họ đều nhớ đến bản sao đó, bản thỏa thuận bí mật chết người giữa James Howden và Wallender. Cô thăm dò hỏi: "Anh đã..."
Anh lắc đầu. "Chết tiệt! Không có gì cả... không có gì cả..."
"Anh có biết không," Millie chậm rãi nói, "Em luôn cảm thấy Wallender có điểm gì đó rất lạ. Cách ông ta nói và hành động, giống như lúc nào cũng rất căng thẳng. Với lại, ông ta luôn coi con trai mình như đối tượng để thờ phụng, chính là người con trai đã tử trận trong chiến tranh đó..."
Cô dừng lại, biểu cảm của Brian làm cô giật mình. Đôi mắt anh nhìn thẳng vào mặt cô. Miệng há hốc.
"Brian –"
Anh khẽ nói: "Millie, cưng của anh, hãy nhắc lại những gì em vừa nói đi."
Cô bất an lặp lại: "Ông Wallender – em nói ông ta rất kỳ lạ trong chuyện về con trai. Em nghe nói nhà ông ta như thể thờ một cái bàn thờ vậy. Trước đây nhiều người từng bàn tán về chuyện này."
"À," Richardson gật đầu. Anh cố hết sức che giấu sự kích động trong lòng. "À, ừm, anh nghĩ chuyện đó không có gì."
Anh đang cân nhắc xem làm sao để rời đi sớm nhất có thể. Anh muốn gọi một cuộc điện thoại – nhưng điện thoại của Millie thì không được. Anh muốn làm vài việc... anh buộc phải làm... nhưng anh quyết không để Millie biết.
20 phút sau, anh gọi điện thoại tại một cửa hàng tạp hóa phục vụ 24/24. "Tôi không quan tâm bây giờ là mấy giờ," anh hét vào máy. "Tôi muốn cậu đến trung tâm thành phố ngay, tôi đợi cậu ở sảnh khách sạn Jasper."
Người thanh niên đeo kính gọng đồi mồi, sắc mặt tái nhợt ngồi đó, tay đang run rẩy xoay chân ly rượu. Cậu ta bị gọi dậy từ trên giường ở nhà. Cậu ta buồn bã nói: "Tôi thực sự không biết mình có làm được không."
"Tại sao không?" Brian Richardson hỏi. "Cậu làm việc trong Bộ Quốc phòng, việc cậu cần làm chỉ là mở miệng hỏi thôi."
"Không đơn giản như vậy đâu," người thanh niên nói. "Hơn nữa đó là hồ sơ cơ mật."
"Chết tiệt!" Richardson phản bác. "Chuyện lâu như vậy rồi, ai còn quan tâm đến cái đó nữa!"
"Rõ ràng là anh quan tâm," người thanh niên lấy hết can đảm nói. "Đây cũng là một phần điều tôi lo lắng."
"Anh đảm bảo với cậu," Richardson nói, "Bất kể anh sử dụng tài liệu cậu đưa cho anh như thế nào, đảm bảo sẽ không bị truy ra cậu."
"Nhưng rất khó tìm thấy nó. Những hồ sơ từ rất lâu rồi đều bị khóa ở phía sau tòa nhà, trong tầng hầm... có thể phải mất vài ngày, thậm chí vài tuần."
"Đó là vấn đề của cậu," Richardson dửng dưng nói. "Chỉ là anh không đợi được vài tuần đâu." Anh gọi phục vụ. "Cho thêm hai ly giống hệt."
"Không, cảm ơn anh," người thanh niên nói, "Ly này của tôi đủ rồi."
"Tùy cậu thôi." Richardson gật đầu với phục vụ. "Vậy thì cho một ly thôi."
Khi phục vụ đi rồi, người thanh niên nói: "Rất tiếc, nhưng câu trả lời của tôi e là không."
"Anh cũng rất tiếc," Richardson nói, "vì tên của cậu đã sắp lên hàng đầu trong danh sách của anh rồi." Anh dừng một chút. "Cậu biết danh sách anh nói là danh sách gì không?"
"Vâng, tôi biết," người thanh niên đáp.
Richardson nói: "Công việc của anh phần lớn là lựa chọn ứng viên nghị sĩ. Thực tế, có người nói phần lớn nghị sĩ mới được bầu của đảng ta đều do đích thân anh chọn."
"Vâng, tôi cũng từng nghe nói," người thanh niên nói.
"Tất nhiên, ủy ban địa phương của đảng có quyền quyết định cuối cùng, nhưng họ luôn làm theo sự đề cử của Thủ tướng. Mà Thủ tướng lại đề cử theo những gì anh bảo."
Người thanh niên im lặng. Cậu liếm môi.
Brian khẽ nói: "Chúng ta có thể đạt được một thỏa thuận, chỉ cần cậu làm việc này cho anh, anh sẽ để tên cậu lên đầu danh sách. Và không phải là ngồi vào cái ghế cũ nào đó, mà là cho cậu một vị trí chắc chắn đắc cử nghị sĩ."
Mặt người thanh niên đỏ bừng. Cậu hỏi: "Nếu tôi không đồng ý với yêu cầu của anh thì sao?"
"Nếu vậy," Richardson khẽ nói, "Anh đảm bảo rằng, chừng nào anh còn trong đảng, cậu đừng hòng ngồi vào Nghị viện, và cũng đừng mơ trở thành ứng viên nào có khả năng khiến cậu tranh cử nghị sĩ. Cậu sẽ làm trợ lý hành chính cả đời, cho đến khi chết thì thôi. Kể cả tiêu sạch tiền của cha cậu cũng không cứu được cậu đâu."
Người thanh niên thảm hại nói: "Anh đang muốn tôi bắt đầu sự nghiệp chính trị bằng cách xấu xa."
"Thực tế là anh đang giúp cậu," Richardson nói. "Những thực tế cuộc sống anh đang cho cậu thấy đây, nhiều người phải mất nhiều năm mới hiểu ra đấy."
Phục vụ quay lại, Richardson đáp: "Cậu thực sự không muốn đổi ý làm thêm ly nữa sao?"
Người thanh niên uống cạn chỗ đồ uống còn lại trong ly. "Được thôi, cho thêm ly nữa."
Khi phục vụ lại đi rồi, Richardson hỏi: "Nếu những gì anh vừa nói có thể chấp nhận được, cậu cần bao lâu để tìm được thứ anh muốn?"
"Ừm..." người thanh niên do dự. "Tôi nghĩ cần hai ba ngày."
"Đừng lo!" Richardson vươn tay vỗ vào đầu gối người thanh niên. "Hai năm sau, cậu sẽ quên sạch những chuyện xảy ra hôm nay thôi."
"Phải," người thanh niên khó chịu nói. "Điều tôi lo lắng chính là chuyện đó đấy."