Đỉnh Cao Quyền Lực

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Alan Maitland

❊ ❊ ❊

Vào buổi sáng Giáng sinh tại Vancouver, Alan Maitland thức dậy rất muộn. Khi tỉnh giấc, anh cảm thấy trong miệng như bị nhét một nắm bông, cảm giác tê dại này là hậu quả của việc uống rượu tại nhà người bạn luật sư hợp tác vào tối hôm trước. Anh ngáp một cái, gãi gãi cái đầu với mái tóc cắt ngắn đang hơi ngứa ngáy, nhớ lại tối qua anh, Tom Lewis và vợ của Tom là Lilian, ba người đã uống tổng cộng 12 chai rượu. Họ quá phung phí, vì cả anh lẫn Tom đều chẳng dư dả gì để tiêu xài như vậy, nhất là khi Lilian đang mang thai, còn Tom thì ngày càng khó khăn trong việc chi trả tiền thế chấp cho căn nhà nhỏ mà họ mua ở phía bắc Vancouver cách đây 6 tháng. Sau đó anh lại nghĩ, mặc kệ nó. Với cơ thể cường tráng như một vận động viên cao 6 feet, anh lăn xuống giường, chân trần bước về phía phòng tắm.

Từ phòng tắm bước ra, anh mặc một chiếc quần vải flannel và chiếc áo thun cổ tròn, rồi pha một cốc cà phê hòa tan, nướng bánh mì và phết lên đó chút mật ong lấy từ một chiếc lọ nhỏ. Để ăn uống thoải mái hơn, anh đành phải ngồi trên chiếc giường chiếm phần lớn diện tích căn phòng. Căn phòng của anh rất chật hẹp, nằm trong một khu chung cư dành cho người độc thân trên phố Guildford gần vịnh English. Ban ngày, anh có thể thu giường vào trong tường, giống như máy bay thu càng đáp sau khi cất cánh. Nhưng Alan Maitland hiếm khi vội vàng thu giường vào buổi sáng, mà luôn muốn từ từ bước vào ngày mới. Từ lâu anh đã nhận ra, khi thong thả bắt tay vào một việc gì đó, anh thường làm rất tốt. Kể từ đó, anh luôn hành xử như vậy.

Anh đang suy nghĩ xem có nên rán thêm chút thịt xông khói không thì điện thoại reo. Là Tom Lewis gọi tới.

"Này đồ ngốc," Tom nói, "Sao cậu chưa bao giờ nói với tôi là cậu còn có bạn bè thuộc tầng lớp thượng lưu thế?"

"Người đàng hoàng không khoác lác. Vợ chồng nhà Vanderbilt và tôi..." Alan nuốt miếng bánh mì vừa nhai được hai cái. "Cậu đang nói về người bạn thượng lưu nào cơ?"

"Ví dụ như Thượng nghị sĩ Devereux. Chính là Richard Devereux đó. Ông ấy muốn cậu đến gặp ông ấy, ngay hôm nay, phải thật nhanh."

"Cậu điên rồi."

"Tôi điên? Dẹp đi! Tôi vừa nhận được điện thoại từ G.K. Bryant, chính là Bryant của văn phòng luật sư Cullina, Bryant, Mortimer, Lanny và Roberts, cái văn phòng mà họ còn gọi là 'Chúng tôi đại diện cho nhân dân' ấy. Hầu hết các vụ việc pháp lý của Thượng nghị sĩ Devereux đều do họ đảm nhận, nhưng lần này Thượng nghị sĩ đích thân chỉ định cậu xử lý một vụ kiện cho ông ấy."

"Sao có thể như vậy được?" Alan đầy vẻ nghi hoặc. "Chắc chắn là ai đó nhầm lẫn rồi; rõ ràng là ai đó nhầm tên."

"Nghe này, chàng trai trẻ," Tom nói. "Nếu Đấng Tạo Hóa đã ban cho cậu sự ngu ngốc phi thường thì làm ơn đừng tô điểm thêm cho nó nữa. Người họ muốn tìm là Maitland trong văn phòng luật sư mới nổi - văn phòng luật sư Lewis và Maitland. Đó chẳng phải là cậu sao? Đã có vài khách hàng, ít nhất chúng ta cũng được coi là một văn phòng đang phát triển, đúng không?"

"Đương nhiên, nhưng mà..."

"Vấn đề là, tại sao một nhân vật tầm cỡ như Thượng nghị sĩ Devereux lại ủy thác cho Maitland làm việc, mà không tìm Lewis - người hơn Maitland một khóa ở trường luật và cũng thông minh hơn nhiều chứ? Tôi nghĩ mãi không ra. Nhưng..." Tom Lewis nói một cách hài hước.

"Đợi đã," Alan ngắt lời. "Cậu đang nói đến Devereux sao?"

"À, tôi nhắc tên ông ấy chưa đến 6 lần. Tôi thừa nhận, vài lần này chưa đủ để cậu ghi nhớ tên ông ấy..."

"Năm cuối đại học, tôi từng gặp một cô gái tên Sharon Devereux. Lúc đó chúng tôi gặp nhau vài lần, đi hẹn hò một lần, nhưng sau đó không gặp lại nữa. Có lẽ cô ấy..."

"Có lẽ là cô ấy có tác động; có lẽ không phải. Tất cả những gì tôi biết là, trong buổi sáng Giáng sinh trời quang mây tạnh này, Thượng nghị sĩ Devereux đang đợi một người tên là Alan Maitland."

"Tôi sẽ đi," Alan nói, "Có lẽ ông ấy đã chuẩn bị sẵn một món quà cho tôi dưới gốc cây thông Noel."

"Đây là địa chỉ," Tom đọc địa chỉ qua điện thoại, sau khi Alan ghi lại, anh ta nói thêm, "Tôi sẽ cầu nguyện cho cậu. Có lẽ tôi sẽ bảo chủ nhà của văn phòng chúng ta cùng cầu nguyện cho cậu luôn; đừng quên, ông ta còn trông chờ tiền thuê nhà từ khoản thu nhập này của cậu đấy."

"Bảo ông ấy tôi sẽ cố hết sức."

"Không vấn đề gì," Tom nói, "Chúc cậu may mắn."

Thượng nghị sĩ Devereux sống ở đường Marine Southwest. Điều này không có gì ngạc nhiên, Alan Maitland nghĩ.

Alan rất quen thuộc con đường lớn này, vừa vì nó nổi tiếng, vừa vì thời đại học anh từng đến đây. Địa thế nơi này cao, phía dưới chính là khu thương mại của thành phố Vancouver, phía nam là nhánh sông Fraser đang dần mở rộng, nước sông từ đây chảy về phía đảo Deas thơ mộng. Đây là thánh địa của các hoạt động xã hội, là nơi tích tụ của cải khổng lồ. Ở hầu hết các đoạn trên con đường lớn này, đều có thể nhìn thấy cảnh sắc tuyệt mỹ, vào những ngày trời trong xanh thậm chí có thể nhìn xa đến tận biên giới Mỹ và bang Washington của Mỹ. Alan nghĩ, phong cảnh tuyệt đẹp ở đây dường như có tính biểu tượng, bởi vì hầu hết những người sống ở đây, hoặc là nhờ nỗ lực cá nhân trở thành danh lưu xã hội, hoặc là sinh ra đã mang dòng máu cao quý. Một cảnh tượng mang tính biểu tượng khác là ngành công nghiệp gỗ phát triển mạnh mẽ ở đây, dưới sông chất đống những cây gỗ, tàu kéo hùng vĩ kéo những khối gỗ như núi vận chuyển đến nhà máy chế biến gỗ. Trước đây, ngành khai thác gỗ và công nghiệp gỗ đã mang lại khoản tài sản lớn cho tỉnh British Columbia của Canada, cho đến tận bây giờ, nó vẫn là nguồn tài chính chính của tỉnh này.

Khi Alan Maitland tìm thấy tư gia của Thượng nghị sĩ Devereux, anh lại một lần nữa nhìn thấy sông Fraser. Alan nghĩ, tư gia của vị thượng nghị sĩ này chắc chắn chiếm vị trí đẹp nhất trên toàn bộ đường bờ biển.

Hôm nay trời quang đãng, nắng đẹp, không khí trong lành. Anh lái xe đến trước tòa nhà phong cách Tudor nơi thượng nghị sĩ ở. Một bức tường tuyết tùng cao ngăn tầm mắt của người qua đường, hơn nữa ngôi nhà nằm khá xa mặt đường, khiến những người hiếu kỳ không thể dễ dàng nhìn thấy dáng vẻ của nó. Một lối đi cho xe hơi dẫn vào bên trong sân, lối vào sân là cửa sắt rèn hai cánh, trên đó đúc những họa tiết kỳ quái. Trên lối đi đỗ một chiếc xe Chrysler "Imperial" sáng bóng, vì vậy Maitland đỗ chiếc xe "Stag" cũ kỹ đã bạc màu của mình ở phía sau. Anh xuống xe, đi về phía cánh cửa lớn nạm đầy đinh sắt dưới mái hiên sang trọng, nhấn chuông cửa, một lát sau thấy một người nam bộc ra mở cửa.

"Chào buổi sáng," Alan nói, "Tôi tên là Maitland."

"Mời vào, thưa ông." Người nam bộc là một ông lão tóc trắng gầy gò, dáng đi như thể chân bị thương. Ông dẫn Alan đi qua một hành lang lát gạch có độ đàn hồi tốt, đến một tiền sảnh cao lớn. Lúc này, tại lối vào đại sảnh xuất hiện một bóng hình mảnh mai.

Cô là Sharon Devereux. Cô vẫn như anh nhớ, tuy xinh đẹp động lòng người nhưng lại nhỏ nhắn linh hoạt, khuôn mặt hình bầu dục, đôi mắt sâu thẳm và hài hước. Nhưng Alan nhận thấy, kiểu tóc của cô đã thay đổi. Mái tóc trước đây của cô đen nhánh, để dài; nay đã cắt rất ngắn, rất thời thượng.

"Chào," Alan nói, "Tôi nghe nói cô muốn thuê một luật sư."

"Hiện tại thì," Sharon nhanh chóng tiếp lời, "Chúng tôi thà thuê một thợ sửa ống nước còn hơn, bồn cầu trong phòng tắm của ông nội cứ chảy nước mãi."

Anh lại nhớ đến một chuyện - trên má trái của cô có một lúm đồng tiền, mỗi khi cô cười, lúm đồng tiền đó lại xuất hiện. Lúc này lúm đồng tiền đó lại hiện ra.

"Bây giờ vị luật sư này cũng là một thợ sửa ống nước nghiệp dư," Alan nói. "Dạo gần đây, công việc bên phía luật pháp không được thịnh vượng lắm."

Sharon bật cười. "Vậy thì tôi nhớ đến anh cũng không tệ." Người nam bộc nhận lấy áo khoác của anh, Alan tò mò quan sát xung quanh.

Toàn bộ ngôi nhà này từ trong ra ngoài đều phô bày sự giàu có và sung túc về vật chất. Anh hiện đang ở trong một tiền sảnh lớn, tường của sảnh được trang trí bằng tấm ốp vải lanh xếp nếp tinh xảo, trần nhà khảm những bức họa phong cách thời Phục hưng, sàn nhà được ghép bằng gỗ sồi bóng loáng. Trong lò sưởi kiểu Tudor cao lớn, củi đang cháy vui vẻ. Hai bên lò sưởi là những cột trụ lồi lõm, bên cạnh còn đặt một chiếc bàn ăn dài thời Nữ hoàng Elizabeth, trên bàn bày những bông hồng đỏ và vàng. Trên một tấm thảm Kerman sặc sỡ, một chiếc ghế bành Yorkshire thanh lịch đối diện với một chiếc ghế sofa Croll. Ở phía bên kia đại sảnh, xung quanh cửa sổ hình bầu dục điểm xuyết những tấm rèm thêu len nhung.

"Ông nội từ Ottawa trở về tối qua," Sharon đến bên cạnh anh nói. "Trong bữa sáng, ông ấy nhắc đến việc muốn tìm một Abraham Lincoln trẻ tuổi (Tổng thống kiệt xuất thời nội chiến Mỹ thế kỷ 19, thời trẻ từng là một luật sư tài năng - chú thích). Thế là tôi nói tôi từng quen một người tên Alan Maitland, anh ấy tốt nghiệp sẽ trở thành luật sư, anh ấy còn có đủ loại lý tưởng... Tiện thể hỏi một chút, bây giờ anh vẫn còn những lý tưởng đó chứ?"

"Tôi nghĩ là có," Alan nói, nhưng trong lòng hơi không thoải mái. Anh nghĩ những lời khoác lác anh nói trước mặt cô gái này khi đó chắc chắn nhiều hơn những gì anh nhớ bây giờ rất nhiều. "Dù sao thì, tôi phải cảm ơn cô đã nghĩ đến tôi." Trong nhà rất ấm áp, cổ anh xoay vài vòng trong chiếc cổ áo cứng của chiếc sơ mi trắng bên trong bộ vest màu xám than duy nhất tươm tất của mình.

"Chúng ta đến phòng khách đi," Sharon nói, "Ông nội lát nữa sẽ đến." Anh đi theo cô qua đại sảnh. Cô mở một cánh cửa, ánh nắng chiếu vào.

Phòng khách họ đến bây giờ còn rộng rãi, sáng sủa hơn cả đại sảnh, và quan trọng nhất là không đáng sợ như đại sảnh, Alan nghĩ vậy. Đồ nội thất trong phòng khách là kiểu Chippendale và Sheraton của Anh, trên sàn trải thảm Ba Tư, tường trang trí bằng gấm, lắp những chân nến pha lê mạ vàng, còn có một số bức tranh sơn dầu nguyên bản, bao gồm các tác phẩm của Degas, Cezanne và tác phẩm hiện đại của Lawren Harris. Một cây thông Noel lớn chiếm một góc phòng, bên cạnh là một chiếc đàn piano Steinway. Cửa sổ kính chì đang đóng, bên ngoài cửa sổ là một đoạn bậc thang đá.

"Tôi nghĩ, ông của cô chính là Thượng nghị sĩ Devereux," Alan nói.

"À, đúng rồi, tôi quên mất anh không biết điều này." Sharon chỉ chiếc ghế dài kiểu Chippendale cho Alan, rồi tự mình ngồi xuống đối diện. "Cha mẹ tôi ly hôn rồi, anh biết chứ? Bây giờ cha tôi sống ở châu Âu, hầu hết thời gian là ở Thụy Sĩ. Mẹ tôi tái hôn rồi. Sau đó đến Argentina, nên tôi sống ở đây." Cô nói rất tự nhiên, không chút bi thương.

"Ồ, ồ, ồ! Vậy ra đây chính là chàng thanh niên đó." Một giọng nói như chuông đồng vang lên trong đại sảnh. Chỉ thấy Devereux đứng đó, mái tóc trắng chải chuốt gọn gàng, bộ lễ phục buổi sáng với vạt áo bo tròn được ủi phẳng phiu, trên ve áo còn cài một đóa hồng nhỏ. Ông xoa hai tay bước vào.

Sharon đảm nhận nhiệm vụ giới thiệu.

"Tôi nên xin lỗi, ông Maitland," Thượng nghị sĩ nói rất lịch thiệp. "Tôi nghĩ việc gọi cậu đến vào ngày Giáng sinh chắc chắn đã gây cho cậu nhiều bất tiện."

"Không có gì, thưa ông," Alan nói.

"Rất tốt. Vậy trước khi chúng ta bàn việc chính, có lẽ cậu muốn cùng chúng tôi uống một ly rượu Sherry."

"Cảm ơn."

Trên một chiếc bàn gỗ gụ đặt vài chiếc ly và một chiếc bình thủy tinh tròn. Khi Sharon rót rượu, Alan đánh bạo nói một câu: "Nhà của ông thật đẹp, thưa Thượng nghị sĩ."

"Tôi rất vui vì cậu nghĩ vậy, chàng trai của tôi." Vị thượng nghị sĩ già trông rất đắc ý. "Cả đời tôi rất thích bao quanh mình bằng những thứ tinh mỹ."

"Ông nội là một nhà sưu tầm nổi tiếng," Sharon nói. Cô đưa ly cho họ. "Vấn đề duy nhất là, đôi khi anh sẽ cảm thấy như đang sống trong bảo tàng vậy."

"Người trẻ tuổi luôn chế giễu đồ cổ, hoặc giả vờ chế giễu đồ cổ." Thượng nghị sĩ cười vui vẻ với cháu gái mình. "Nhưng tôi đặt hy vọng vào Sharon. Phòng khách này là do hai ông cháu cùng nhau bài trí đấy."

"Hiệu quả ở đây tạo ấn tượng rất sâu sắc," Alan nói.

"Tôi tin đây là lời nói thật," Thượng nghị sĩ nhìn quanh với ánh mắt yêu mến. "Chúng tôi có chín món đồ rất không tầm thường ở đây. Ví dụ như cái này, nó là một kiệt tác huy hoàng thời Đường của Trung Quốc." Ông vươn tay ra, nhẹ nhàng vuốt ve một con ngựa sứ màu sắc tinh mỹ, trên lưng còn có một người cưỡi. Cổ vật này được đặt riêng trên một chiếc kệ rỉ sét mặt đá cẩm thạch. "Hai ngàn sáu trăm năm trước, tại một quốc gia có lẽ văn minh hơn xã hội chúng ta hôm nay, một bậc thầy thủ công đã thiết kế ra nó."

"Nó thật sự quá đẹp," Alan nói. Anh nghĩ, chỉ riêng trong phòng khách này thôi chắc chắn đã cất giữ một khối tài sản khổng lồ. Anh thầm so sánh mọi thứ xung quanh đây với căn nhà trệt chỉ có hai phòng ngủ giống như cái hộp vuông của Tom Lewis, nơi anh đã trải qua tối hôm qua.

"Nhưng bây giờ, chúng ta hãy bàn về công việc chính đi." Giọng điệu của thượng nghị sĩ trở nên sắc bén và nghiêm túc. Ba người ngồi xuống.

"Tôi rất xin lỗi, chàng trai của tôi, như tôi đã nói lúc nãy, gọi cậu đến đột ngột như vậy. Nhưng có một việc, khiến tôi cảm thấy quan tâm, đồng cảm, và không cho phép chậm trễ." Devereux giải thích, ông quan tâm đến kẻ lậu vé trên con tàu đó là Henri Duval, tức là "người thanh niên bất hạnh đó, không nhà không cửa, lại không quốc tịch, đang đứng trước cửa nhà chúng ta, nhân danh nhân loại khẩn cầu được nhập cảnh."

"Vâng," Alan nói, "Tôi đã đọc về nó tối qua: Tôi nhớ lúc đó tôi đã nghĩ chuyện này chẳng có cách nào giải quyết được."

Sharon vẫn luôn lắng nghe kỹ lưỡng, lúc này cô hỏi: "Tại sao không?"

Alan trả lời: "Chủ yếu là vì luật nhập cư của Canada quy định rất nghiêm ngặt về việc ai được nhập cảnh, ai không."

"Nhưng theo báo chí đưa tin, chính phủ thậm chí không cho cậu ấy một cơ hội để tổ chức một phiên điều trần." Sharon phản đối.

"Đúng vậy, cháu gái của ta, điều này giải thích thế nào đây?" Thượng nghị sĩ nhướng một bên mày, hỏi bằng giọng nghi vấn. "Khi một người ngay cả cơ hội ra tòa cũng không có, thì tự do mà chúng ta tuyên bố nằm ở đâu?"

"Xin đừng hiểu lầm ý tôi," Alan nói. "Tôi không hề bào chữa cho hiện trạng của sự việc. Thực tế là khi còn ở trường luật chúng tôi đã nghiên cứu luật nhập cư, bản thân tôi cũng cho rằng trong đó có không ít điểm bất hợp lý. Nhưng tôi đang nói về luật hiện hành. Nếu nói đến việc thay đổi luật, đó là việc của ông, thưa Thượng nghị sĩ."

Thượng nghị sĩ Devereux thở dài. "Khó lắm, khó lắm, lại còn gặp phải một chính phủ không linh hoạt như hiện nay. Nhưng làm ơn hãy nói cho tôi biết, cậu thực sự nghĩ rằng từ góc độ pháp lý mà nói, chúng ta hoàn toàn bó tay với người thanh niên bất hạnh này sao?"

Alan do dự. "Đương nhiên, đây là ý kiến không chính thức của tôi."

"Đương nhiên."

"Được rồi, giả sử những sự thật mà báo chí đưa tin đều là thật, thì Duval quả thực không có bất kỳ quyền lợi nào. Nếu cậu ta muốn có được cơ hội tổ chức phiên điều trần, cậu ta trước hết phải nhập cảnh chính thức, mà nhìn tình hình hiện tại, điểm này không thực tế lắm. Hơn nữa dù có tổ chức phiên điều trần như vậy, tôi cũng nghi ngờ liệu có tác dụng gì không." Alan nhìn Sharon một cái. "Tôi nghĩ kết quả cuối cùng của sự việc sẽ là, con tàu đó sẽ khởi hành, Duval lại theo đó mà đi, giống như lúc cậu ta đến vậy."

"Có lẽ, có lẽ." Thượng nghị sĩ suy tư, đôi mắt nhìn chằm chằm vào bức tranh phong cảnh của Cezanne trên bức tường đối diện. "Nhưng đôi khi, luật pháp cũng có kẽ hở để lách."

"Rất phổ biến," Alan gật đầu đồng ý. "Tôi đã nói tôi chỉ đang nói về ý kiến cá nhân."

"Ta đã nói rồi, chàng trai của ta." Thượng nghị sĩ đã thu ánh mắt từ bức tranh sơn dầu về, thái độ lại trở nên nghiêm túc. "Chính vì lý do này, ta mới cần cậu đi sâu nghiên cứu chuyện này, xem có tồn tại cơ hội nào để lách luật hay không. Tóm lại, ta hy vọng cậu với tư cách là luật sư bào chữa cho người thanh niên bất hạnh này."

"Nhưng nếu cậu ấy..."

Thượng nghị sĩ Devereux giơ một tay lên vẻ trách móc. "Ta khẩn cầu cậu: Hãy để ta nói hết. Ta sẵn lòng chi trả phí kiện tụng và mọi chi phí cần thiết của cậu. Điều kiện duy nhất ta yêu cầu là cậu giữ bí mật vai trò của ta trong chuyện này."

Alan cử động không yên trên ghế dài. Anh biết, bây giờ dù đối với anh, hay đối với một số người khác, đều là một thời khắc cực kỳ quan trọng. Bản thân vụ án này cuối cùng có thể không có kết quả, nhưng nếu xử lý khéo léo, thì có thể thiết lập mối quan hệ cần thiết cho tương lai, tạo điều kiện cho các ủy thác sau này. Khi anh đến đây sáng nay, anh còn không biết mình sẽ gặp phải tình huống gì; bây giờ anh đã biết, anh cảm thấy mình nên vui mừng. Nhưng anh luôn cảm thấy hơi bất an, hơi nghi ngờ. Anh cảm thấy đằng sau sự việc, chắc chắn còn có một số bối cảnh khác mà vị thượng nghị sĩ già chưa nói rõ. Anh cảm thấy ánh mắt của Sharon đang nhìn anh.

Anh không đắn đo nhiều, hỏi thẳng: "Tại sao lại như vậy, thưa Thượng nghị sĩ?"

"Tại sao lại như nào, chàng trai của ta?"

"Tại sao ông hy vọng tôi giữ bí mật vai trò của ông trong chuyện này?"

Thượng nghị sĩ nhất thời trông có vẻ khó xử, nhưng sau đó lại lộ ra nụ cười. "Trong 'Kinh Thánh' có đoạn này, ta nghĩ là viết thế này: 'Khi ngươi bố thí, đừng để tay trái biết tay phải ngươi đang làm gì'."

Diễn xuất thật đẹp. Nhưng bộ não của Alan Maitland dường như động đậy. Anh bình tĩnh hỏi: "Thưa ông, là bố thí, hay là chính trị?"

Mày của thượng nghị sĩ rủ xuống. "Ta e rằng ta không hiểu ý cậu."

Alan nghĩ, xong rồi, thế là tiêu rồi. Công việc của mình thế là hỏng rồi, khách hàng lớn số một mà mình suýt chút nữa có được thế là bị mình đánh mất rồi. Nhưng anh vẫn nghiêm túc nói: "Hiện tại, vấn đề nhập cư là tiêu điểm chính trị hàng đầu. Sự việc này báo đã đăng rồi, và có thể gây ra rắc rối lớn cho chính phủ. Thượng nghị sĩ, có phải trong lòng ông muốn lợi dụng kẻ lậu vé trên tàu làm quân tốt cho ông không? Ông tìm đến tôi, mà không sử dụng văn phòng luật sư mà ông thường dùng, có phải vì tôi trẻ tuổi ngây thơ, và sẽ không liên lụy đến ông không? Rất tiếc, thưa ông, nhưng thực sự không thể hành nghề luật sư theo cách này."

Từ ngữ của anh cứng rắn hơn so với dự định ban đầu, nhưng anh đã không thể kiềm chế cơn giận của mình. Lúc này, anh thực sự không biết sau khi về phải giải thích thế nào với người hợp tác Tom Lewis của mình, có lẽ Tom trong tình huống này cũng sẽ làm như anh? Có lẽ không. Tom là nhân vật kiểu Don Quixote, anh ta có đủ lý trí, tuyệt đối sẽ không bỏ phí khoản thu nhập sắp tới tay.

Anh dường như nghe thấy một tiếng ầm ầm. Anh ngạc nhiên phát hiện Thượng nghị sĩ Devereux đang cười lớn.

"Trẻ tuổi ngây thơ, đây là lời cậu nói sao, chàng trai của ta?" Thượng nghị sĩ dừng lại một chút, lại cười ha hả, bụng ông không ngừng phập phồng. "Cậu có lẽ trẻ, nhưng tuyệt đối không ngây thơ. Cậu thấy thế nào, Sharon?"

"Cháu phải nói là anh ấy đã nhìn thấu ông rồi, ông nội." Alan phát hiện Sharon đang nhìn anh với ánh mắt đầy tôn trọng.

"Quả thực, quả thực, cưng à; không sai chút nào. Cháu thực sự đã tìm được một chàng trai trẻ tinh khôn đấy."

Alan phát hiện tình thế đã bị thay đổi, chỉ là anh còn chưa nói rõ được là thay đổi theo hướng nào. Điều duy nhất anh chắc chắn là, Thượng nghị sĩ Devereux là một người có đa nhân cách.

"Được rồi, vậy thì các quân bài của chúng ta đều đã lật ngửa trên bàn rồi." Giọng điệu của thượng nghị sĩ thay đổi một chút, không trầm ổn như vừa nãy, mà giống như đang trò chuyện với một người cùng trang lứa. "Hãy giả sử tất cả những gì cậu nói đều là thật. Vậy thì người thanh niên trên tàu không có quyền nhận được sự giúp đỡ về mặt pháp lý sao? Chẳng lẽ chỉ vì động cơ của một người phức tạp mà phải chặn đứng bàn tay cứu giúp mà ông ta vươn ra cho người thanh niên này sao? Giả sử cậu, chàng trai của ta, giả sử cậu rơi xuống nước, sắp chết đuối, có người cho rằng cậu còn sống có thể có ích cho ông ta, nên bơi đến cứu cậu. Chẳng lẽ lúc này cậu còn bận tâm đến động cơ của ông ta mà từ chối sự giúp đỡ của ông ta sao?"

"Không," Alan nói, "Tôi nghĩ tôi sẽ không từ chối sự giúp đỡ."

"Vậy thì còn có gì khác biệt nữa chứ?" Devereux dựa người về phía trước trên ghế. "Cho phép ta hỏi cậu vài câu. Ta nghĩ cậu tin rằng nên sửa chữa những hành vi bất công đúng không?"

"Đương nhiên."

“Đương nhiên rồi.” Nghị sĩ gật đầu, tỏ vẻ thấu hiểu. “Vậy hãy để tôi cân nhắc về chàng trai trẻ trên con tàu đó. Chúng ta biết cậu ta không có tư cách hợp pháp. Cậu ta không phải người Canada, không phải người nhập cư đủ điều kiện, thậm chí chẳng phải khách quá cảnh tạm thời. Xét về phương diện pháp luật, con người này hoàn toàn không tồn tại. Do đó, ngay cả khi cậu ta muốn cầu viện luật pháp và công lý, yêu cầu tòa án cho phép mình nhập cảnh vào nước này hay quốc gia khác, cậu ta cũng không thể làm được. Nói như vậy có đúng không?”

“Nếu là tôi, e rằng tôi sẽ diễn đạt theo cách khác,” Alan đáp, “nhưng về bản chất thì không sai.”

“Nghĩa là, đúng.”

Alan mỉm cười đầy ẩn ý. “Đúng vậy.”

“Tuy nhiên, giả sử tối nay, cũng chính chàng trai trẻ đó giết người hoặc phóng hỏa trên con tàu đang đậu tại cảng Vancouver, thì cậu ta sẽ ra sao?”

Alan gật đầu. Anh đã nhìn ra điểm mấu chốt của vấn đề. “Cậu ta sẽ bị áp giải lên bờ và chịu xét xử.”

“Hoàn toàn chính xác, chàng trai trẻ. Và nếu bị kết tội, cậu ta sẽ phải chịu hình phạt, chẳng ai bận tâm xem cậu ta có tư cách pháp lý hay không. Như vậy cậu đã hiểu rõ rồi đấy, luật pháp có thể trừng trị cậu ta, nhưng cậu ta lại không nhận được sự bảo vệ từ luật pháp.”

Đây là một lập luận gọn gàng và sắc bén. Alan thầm nghĩ, cũng chẳng có gì lạ, vị lão gia này quả thực vô cùng hùng biện.

Dù có hùng biện hay không, điều quan trọng là luận điểm ông đưa ra rất vững chắc. Tại sao luật pháp ở đây chỉ có thể áp dụng một chiều? Chỉ có thể dùng để trừng phạt mà không thể dùng để bảo vệ? Hơn nữa, dù Nghị sĩ Devereaux có động cơ chính trị, điều đó cũng không làm thay đổi sự thật quan trọng rằng: ngay tại đất nước chúng ta, đã xuất hiện một con người bị tước đoạt nhân quyền cơ bản.

Alan suy tư. Luật pháp có thể làm gì cho người đàn ông trên tàu đó không? Được hay không được? Nếu không, tại sao?

Alan Maitland không hề giữ những ảo tưởng ngây thơ về luật pháp và công lý. Dù chỉ mới gia nhập hàng ngũ luật sư, anh biết rằng cái gọi là công lý không tự nhiên mà có, cũng chẳng hề vô tư. Đôi khi, phe phi nghĩa vẫn chiến thắng phe chính nghĩa. Anh biết, địa vị xã hội của một người có ảnh hưởng lớn đến cả tội lỗi và hình phạt; những kẻ dùng tiền để tận dụng mọi thủ tục pháp lý thường rất khó bị trừng trị thích đáng khi phạm tội, trong khi những người ít tiền hơn thì không làm được. Anh tin chắc rằng, sự chậm trễ của thủ tục tố tụng đôi khi khiến người vô tội mất đi quyền lợi chính đáng, và một số người không thể tìm kiếm sự khiếu nại hay bồi thường chỉ vì chi phí mở phiên tòa quá đắt đỏ. Mặt khác, tại các tòa án địa phương vốn quá tải và bận rộn, các thẩm phán vì muốn thực thi công lý hiệu quả thường không thể cân nhắc kỹ lưỡng quyền lợi của bị cáo.

Tất cả những người thực tập và luật sư đều sớm muộn sẽ hiểu rõ điều này, Maitland cũng vậy. Đôi khi, thực tế này khiến anh cảm thấy đau lòng, giống như những luật sư đồng nghiệp lớn tuổi đã bị sự nghiệp tòa án nhiều năm mài mòn đi sự sắc bén của chủ nghĩa hiện thực.

Thế nhưng, dù luật pháp có những khiếm khuyết và chưa hoàn thiện, nó vẫn có một ưu điểm lớn nhất. Đó chính là bản thân nó, sự tồn tại của nó. Công lao lớn nhất của luật pháp nằm ở chỗ nó có chương mục để tuân theo.

Bản thân sự tồn tại của luật pháp cho người dân thấy rằng, quyền con người bình đẳng là một mục tiêu đáng theo đuổi. Còn những khiếm khuyết của luật pháp thì cần phải sửa đổi thông qua cải cách. Cải cách luôn xuất hiện, dù luôn chậm chân hơn so với nhu cầu thực tế. Nhưng bất kể là đối với người thấp kém nhất hay vĩ đại nhất, chỉ cần họ muốn kiện tụng, cửa tòa án luôn rộng mở, và đằng sau đó, cánh cửa của tòa phúc thẩm cũng luôn rộng mở tương tự.

Đáng tiếc, chỉ ngoại trừ Henry Duval.

Alan nhận ra ánh mắt đầy kỳ vọng của vị Nghị sĩ đang đổ dồn về phía mình. Trên mặt Sharon thoáng hiện một chút bất mãn khó nhận thấy.

“Nghị sĩ Devereaux,” Alan nói, “nếu tôi tiếp nhận vụ án này, và giả định rằng người lậu vé trên tàu muốn tôi bào chữa, thì thân chủ của tôi sẽ là chính cậu ta, có đúng không?”

“Tôi nghĩ cậu có thể nói như vậy.”

Alan mỉm cười. “Nói cách khác — đúng là như vậy.”

Vị Nghị sĩ ngửa mặt cười lớn. “Tôi bắt đầu thích cậu rồi đấy, nhóc. Xin hãy nói tiếp.”

“Ngay cả khi ông đứng sau sự việc,” Alan thận trọng nói, “mọi hành động tôi thực hiện thay mặt thân chủ của mình chỉ có thể do tôi và thân chủ quyết định, không cần phải thảo luận với bất kỳ bên thứ ba nào.”

Lão già nhìn Alan đầy sắc sảo. “Chẳng lẽ cậu không nghĩ những người đứng sau hậu trường có quyền…”

“Không, thưa ông, trong việc này thì không. Nếu tôi có một thân chủ, tôi sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu cao nhất của cậu ấy, chứ không phải làm những việc có lợi nhất về mặt chính trị cho người khác.”

Nụ cười trên mặt vị Nghị sĩ vụt tắt, giọng ông trở nên lạnh lùng rõ rệt. “Tôi nên nhắc nhở cậu, cơ hội mà tôi đang trao cho cậu là điều mà nhiều luật sư trẻ mơ ước.”

Alan đứng dậy. “Vậy tôi khuyên ông nên tìm họ trong danh bạ điện thoại đi, thưa ông.” Anh quay sang Sharon. “Xin lỗi, tôi đã làm cô thất vọng.”

“Đợi đã!” Nghị sĩ lên tiếng trước. Ông cũng đứng dậy, nhìn thẳng vào Alan. Giọng nói sang sảng của ông lại vang lên. “Tôi muốn nói cho cậu biết, nhóc ạ, tôi cho rằng cậu thiếu kiên nhẫn, ngạo mạn vô lễ, không biết ơn, nhưng tôi vẫn chấp nhận điều kiện của cậu.”

Thế là họ bắt tay thỏa thuận, Nghị sĩ bảo Alan ở lại ăn trưa, nhưng Alan từ chối. “Tôi nghĩ mình nên đến con tàu đó xem ngay hôm nay,” anh nói. “Vì tàu sẽ khởi hành đúng giờ, e là không còn nhiều thời gian.”

Sharon dẫn anh ra cửa. Khi Alan đang mặc áo khoác, anh nhận ra cô cố ý đứng sát lại gần anh, đến mức có thể ngửi thấy mùi nước hoa trên người cô.

Anh hơi ngượng ngùng nói: “Rất vui được gặp cô.”

Cô mỉm cười. “Tôi cũng vậy.” Lúm đồng tiền trên mặt cô lại thoáng hiện lên. “Và ngay cả khi anh không báo cáo tình hình cho ông nội, nếu có dịp thì vẫn cứ đến chơi nhé.”

“Tôi thấy lạ là sao mình lại không đến tìm cô sớm hơn,” Alan vui vẻ nói.

Cơn mưa tối qua để lại những vũng nước trên bến tàu, Alan Maitland cẩn thận đi vòng qua chúng, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn hàng dài tàu thủy phía trước. Vừa rồi, một người gác cổng cụt tay dắt theo con chó lai đã chỉ cho anh đi hướng này, đó là người duy nhất anh thấy trên bến tàu tĩnh mịch và hoang vắng. Lúc này, anh đọc tên trên mỗi con tàu đang neo đậu và phát hiện tàu “Vastervik” là con tàu thứ hai phía trước.

Dấu hiệu sự sống duy nhất trên tàu là làn khói mỏng bốc lên từ ống khói, gió biển nhanh chóng làm nhạt đi và tan biến cột khói ấy. Xung quanh con tàu có những âm thanh rất khẽ: tiếng vỗ nhẹ của nước biển; tiếng gỗ cọt kẹt đâu đó bên dưới; phía trên là tiếng kêu ai oán của con diệc đang bay. Alan nghĩ, âm thanh trên bến tàu là những âm thanh cô độc. Anh tưởng tượng người mà mình sắp gặp đã từng nghe thấy những âm thanh này ở bao nhiêu bến tàu rồi.

Anh vẫn đang nghĩ xem Henry Duval sẽ là người như thế nào. Tất nhiên, báo chí đã miêu tả cậu ta bằng những nét vẽ đầy cảm thông, nhưng những gì đăng trên báo thường không có căn cứ. Có lẽ người này là một gã lang thang trên biển tồi tệ mà chẳng ai dám nhận, có lẽ người ta không cho cậu ta lên bờ là có lý do chính đáng.

Anh nắm lấy thang sắt của tàu, leo lên. Khi lên đến đỉnh thang, tay anh đã dính đầy rỉ sét.

Tại lối vào boong tàu, một sợi xích sắt chắn ngang lối đi. Trên xích treo một miếng gỗ dán nhỏ, viết bằng những nét chữ to thô kệch: KHÔNG CÓ VIỆC TÀU XIN ĐỪNG LÊN TÀU - LỆNH CỦA THUYỀN TRƯỞNG S. JEBEK. Alan gỡ móc xích sắt rồi bước qua. Anh vừa đi được vài bước về phía một cánh cửa thép thì đột nhiên một giọng nói hét lên với anh.

“Anh không thấy bảng thông báo sao? Từ chối phóng viên lên tàu!”

Alan quay người lại. Người đàn ông đang đi dọc boong tàu khoảng 35, 36 tuổi, dáng người cao gầy. Anh ta mặc một chiếc áo khoác màu nâu nhăn nhúm, cằm lởm chởm râu. Anh ta phát âm chữ “r” rất mơ hồ, nghe giọng giống như người Bắc Âu.

“Tôi không phải phóng viên,” Alan nói, “tôi muốn gặp thuyền trưởng.”

“Thuyền trưởng rất bận. Tôi là thuyền phó ba.” Gã cao gầy ho hắng một cách đục ngầu, hắng giọng rồi nhổ một bãi nước bọt ra ngoài mạn tàu đầy dứt khoát.

“Anh bị cảm nặng quá nhỉ,” Alan nói.

“À! Phải trách cái đất nước này của các người — vừa ẩm vừa lạnh. Ở quê nhà Thụy Điển của tôi, thời tiết cũng rất lạnh, nhưng khí hậu lại cực kỳ khô, như dao cắt vậy. Tại sao anh muốn gặp thuyền trưởng?”

“Tôi là luật sư,” Alan nói. “Tôi muốn xem có thể giúp được gì cho người lậu vé của các anh, Henry Duval không.”

“Duval, Duval, đột nhiên mọi thứ đều là Duval; cậu ta trở thành nhân vật quan trọng nhất ở đây rồi. Tuy nhiên, anh không giúp được gì cho cậu ta đâu. Chúng tôi đã — dùng từ gì nhỉ — đã bị kẹt rồi. Cậu ta phải ở lại với chúng tôi mãi mãi, cho đến khi con tàu này chìm.” Gã cao gầy cười mỉa mai. “Anh nhìn kỹ xung quanh đi, con tàu này chẳng còn trụ được bao lâu nữa đâu.”

Alan quan sát những mảng rỉ sét và lớp sơn bong tróc trên tàu. Anh hít một hơi, mùi cải bắp thối nồng nặc. “Đúng vậy,” anh nói, “tôi hiểu ý anh.”

“Được rồi,” gã cao gầy nói, “vì anh không phải phóng viên, có lẽ thuyền trưởng sẽ gặp anh.” Hắn vẫy tay. “Đến đây! Coi như là quà Giáng sinh, tôi đích thân đưa anh đi.”

Phòng thuyền trưởng rất ngột ngạt. Có lẽ chủ nhân con tàu thích như vậy, vì Alan nhận thấy hai cửa sổ sát mạn tàu đều đóng chặt. Không khí trong phòng cũng rất đục, khói thuốc cay nồng bao trùm khắp nơi.

Thuyền trưởng Jebek mặc một chiếc áo ghi-lê và đi đôi dép lê bằng thảm kiểu cũ. Khi Alan bước vào, ông đứng dậy từ một chiếc ghế da. Vừa rồi ông đang đọc một cuốn sách — một cuốn sách rất dày. Ông đặt sách xuống.

“Cảm ơn ông đã tiếp tôi,” Alan nói. “Tôi tên là Maitland.”

“Tôi tên là Sigurd Jebek.” Thuyền trưởng chìa ra một bàn tay to lớn, đầy lông lá với những đốt ngón tay thô kệch. “Thuyền phó ba của tôi nói anh là luật sư.”

“Vâng,” Alan nói. “Tôi đã đọc tin tức về người lậu vé của các ông trên báo, tôi muốn đến xem có thể giúp được gì không.”

“Mời ngồi.” Thuyền trưởng chỉ vào một chiếc ghế, rồi tự mình ngồi lại xuống ghế của mình. Alan nhận thấy phòng của thuyền trưởng rất thoải mái, sạch sẽ, đồ gỗ và đồng trong phòng sáng bóng, đối lập hoàn toàn với phần còn lại của con tàu. Ba mặt phòng được ốp gỗ đào, trên sàn đặt vài chiếc ghế da màu xanh lá, một bàn ăn nhỏ và một chiếc bàn viết có mặt bàn sáng bóng có thể xoay được. Một cánh cửa nhỏ treo rèm có lẽ dẫn đến phòng tắm. Ánh mắt Alan quét quanh, cuối cùng dừng lại ở cuốn sách mà thuyền trưởng vừa đặt xuống.

“Là sách của Dostoevsky,” thuyền trưởng Jebek nói, “Tội ác và hình phạt.”

“Ông đọc bản gốc tiếng Nga sao?” Alan kinh ngạc nói.

“Tôi đọc rất chậm,” thuyền trưởng nói, “tiếng Nga là một trong những ngôn ngữ tôi không giỏi lắm.” Ông cầm một chiếc tẩu thuốc từ trên gạt tàn lên, gõ sạch tàn thuốc bên trong, rồi lại bắt đầu nhồi thuốc lá vào. “Dostoevsky tin rằng, công lý luôn được thực thi.”

“Ông không tin sao?”

“Đôi khi con người không đợi được lâu như vậy, đặc biệt là khi còn trẻ.”

“Giống như Henry Duval sao?”

Thuyền trưởng suy tư, rít một hơi tẩu. “Anh có thể làm gì chứ? Cậu ta là một kẻ vô danh, cậu ta căn bản không tồn tại.”

“Có lẽ tôi không làm được gì cả,” Alan nói, “nhưng tôi vẫn muốn nói chuyện với cậu ấy. Nhiều người bày tỏ sự quan tâm đến cậu ấy, nếu có thể, còn có một số người sẵn lòng giúp đỡ.”

Thuyền trưởng Jebek nhìn Alan đầy dò xét. “Sự quan tâm này có lâu dài không? Có lẽ người lậu vé của tôi chỉ là kiểu ‘sự tò mò 9 ngày’ mà các anh thường nói?”

“Nếu đúng là vậy,” Alan nói, “thì chỉ còn lại 7 ngày thôi.”

Thuyền trưởng lại dừng lại. Một lát sau, ông cẩn thận nói: “Anh biết đấy, tôi có trách nhiệm phải tống khứ kẻ lậu vé này. Kẻ lậu vé tốn tiền nuôi dưỡng, mà kinh phí duy trì cuộc sống trên tàu hiện giờ đã quá ít ỏi rồi. Chủ tàu nói thu nhập lợi nhuận thấp, nên yêu cầu chúng tôi phải tiết kiệm. Anh đã thấy tình trạng trên tàu rồi đấy.”

“Tôi hiểu điều đó, thưa thuyền trưởng.”

“Nhưng chàng trai trẻ này đã ở với tôi 20 tháng rồi. Có thể nói trong một khoảng thời gian như vậy, con người ta có thể nảy sinh một cái nhìn, thậm chí là sự gắn bó.” Giọng ông không cao, đầy suy tư. “Đứa trẻ đó chưa từng có một cuộc sống tốt đẹp; có lẽ cậu ta sẽ chẳng bao giờ có được, và tôi nghĩ đó cũng không phải việc của tôi. Nhưng tôi vẫn không thích nhìn thấy cậu ta bị khơi dậy hy vọng, rồi những hy vọng đó lại tan vỡ.”

“Tôi chỉ có thể nói lại với ông một lần nữa,” Alan nói, “có những người hy vọng được nhìn thấy cậu ấy có một cơ hội tại đây. Có lẽ điều đó vẫn không thể thực hiện được, nhưng nếu không ai thử một lần, thì chúng ta sẽ mãi mãi không biết liệu có thực sự không thể hay không.”

“Điều đó thì đúng.” Thuyền trưởng gật đầu. “Được rồi, ông Maitland, tôi sẽ gọi người tìm cậu ấy đến ngay, các anh có thể nói chuyện ở đây. Anh có muốn nói chuyện riêng không?”

“Không cần,” Alan nói. “Nếu ông ở lại đây thì tốt quá.”

Henry Duval đứng ở cửa đầy căng thẳng. Cậu nhìn thấy Alan Maitland, rồi lại nhìn thuyền trưởng Jebek.

Thuyền trưởng ra hiệu cho Duval vào. “Cậu không cần sợ. Vị này là ông Maitland, ông ấy là luật sư. Ông ấy đến đây là để giúp đỡ cậu.”

“Tôi đã đọc tin tức về cậu trên báo ngày hôm qua,” Alan cười nói. Anh chìa tay ra, Duval do dự bắt lấy nó. Alan nhận thấy, ngoài đời cậu trông còn trẻ hơn cả ảnh trên báo, đôi mắt sâu hoắm của cậu chứa đựng một vẻ bất an và cảnh giác. Cậu mặc một chiếc quần yếm và một chiếc áo len thủy thủ tự đan.

“Viết rất hay, những thứ đó, phải không?” Cậu hỏi đầy háo hức.

“Viết rất hay,” Alan nói, “tôi đến đây là muốn tìm hiểu xem trong đó có bao nhiêu là sự thật.”

“Đều là sự thật! Tôi nói thật!” Biểu cảm của cậu như bị tổn thương, như thể có ai đó buộc tội mình. Alan nghĩ, mình phải cân nhắc từ ngữ cẩn thận.

“Tôi tin những gì cậu nói là sự thật,” Alan trấn an, “điều tôi muốn biết là tờ báo đó có đưa tin trung thực hay không.”

“Tôi không hiểu.” Duval lắc đầu, biểu cảm vẫn là một vẻ ấm ức.

“Chúng ta tạm gác việc đó qua một bên,” Alan nói. Có vẻ như anh bắt đầu không thuận lợi lắm. Anh tiếp tục: “Thuyền trưởng đã nói với cậu rồi, tôi là luật sư. Nếu cậu muốn, tôi sẽ đại diện cho cậu, và cố gắng hết sức đưa vụ án của cậu ra tòa án nước chúng ta.”

Henry Duval nhìn Alan, rồi lại nhìn thuyền trưởng. “Tôi không có tiền. Tôi không trả được phí luật sư.”

“Không cần phải trả gì cả,” Alan nói.

“Vậy ai trả?” Lại một ánh mắt cảnh giác nữa.

“Sẽ có người trả.”

Thuyền trưởng xen vào một câu. “Có phải vì lý do nào đó mà anh không thể nói cho cậu ấy biết ai trả tiền không, ông Maitland?”

“Đúng vậy,” Alan nói, “chỉ thị của tôi là không được tiết lộ tên người đó. Tôi chỉ có thể nói với cậu rằng đó là một người đầy lòng trắc ẩn và sẵn lòng giúp đỡ.”

“Đôi khi vẫn có người tốt đấy,” thuyền trưởng nói. Ông tỏ ra rất hài lòng và gật đầu khẳng định với Duval.

Nhớ đến Nghị sĩ Devereaux và động cơ của họ, Alan nhất thời cảm thấy lương tâm hơi bất an. Nhưng anh tự trấn tĩnh lại, nhắc nhở bản thân rằng dù sao anh vẫn kiên trì với những điều kiện mà mình đã đặt ra.

“Nếu tôi ở lại, tôi sẽ làm việc,” Henry Duval kiên quyết nói, “tôi kiếm tiền. Tôi trả lại tất cả.”

“Được thôi,” Alan nói, “tôi nghĩ nếu cậu muốn thì cậu có thể làm như vậy.”

“Tôi sẽ trả lại tất cả.” Vẻ mặt chàng trai trẻ lộ ra nét háo hức. Sự nghi ngờ tạm thời biến mất.

“Tất nhiên tôi phải nói cho cậu biết,” Alan nói, “có lẽ cuối cùng tôi chẳng giúp được gì cho cậu cả. Cậu hiểu không?”

Duval có vẻ bối rối. Thuyền trưởng giải thích: “Ông Maitland sẽ cố gắng hết sức. Nhưng có lẽ Cục Di trú sẽ không đồng ý… giống như trước đây vậy.”

Duval chậm rãi gật đầu. “Tôi hiểu.”

“Tôi nhớ ra một chuyện, thuyền trưởng Jebek,” Alan nói. “Từ khi đến đây, ông đã từng đưa Henry đến Cục Di trú, yêu cầu tổ chức một phiên điều trần chính thức về việc nhập cảnh của cậu ấy chưa?”

“Một nhân viên di trú đã từng lên tàu chúng tôi…”

“Không,” Alan kiên quyết. “Ý tôi là ngoài việc đó ra. Ông đã bao giờ đưa cậu ấy đến tòa nhà Cục Di trú, yêu cầu tổ chức một cuộc điều tra chính thức chưa?”

“Việc đó có tác dụng gì chứ?” Thuyền trưởng nhún vai. “Câu trả lời nhận được cũng chỉ như vậy thôi. Hơn nữa, ở cảng tôi rất bận, có bao nhiêu việc phải làm. Hôm nay là Giáng sinh, nên tôi mới có thời gian đọc sách của Dostoevsky.”

“Nói cách khác,” Alan nhẹ nhàng nói, “vì ông quá bận, nên ông vẫn chưa đưa cậu ấy đi yêu cầu tổ chức điều tra chính thức, có phải vậy không?” Anh cố gắng làm cho giọng mình nghe như đang hỏi một cách tùy ý, nhưng một ý tưởng đang dần hình thành trong lòng anh.

“Đúng là vậy,” thuyền trưởng Jebek nói, “tất nhiên, nếu có tác dụng…”

“Tạm thời không nói đến nó nữa,” Alan nói. Suy nghĩ của anh vẫn còn mơ hồ, thoáng qua, và cũng có thể cuối cùng chẳng đi đến đâu. Dù sao đi nữa, anh cần thời gian để đọc kỹ các loại quy định về di trú. Anh nhanh chóng chuyển chủ đề.

“Henry,” anh nói với Duval, “bây giờ tôi muốn cùng cậu hồi tưởng lại mọi chuyện trước đây của cậu, bắt đầu từ lúc cậu còn nhớ được những điều sớm nhất. Tôi biết một số chuyện đã đăng trên báo rồi, nhưng có thể có những chuyện đã bị bỏ sót, và cũng có thể có những chuyện sau đó cậu mới nhớ ra. Cậu bắt đầu kể từ đầu được không? Việc đầu tiên mà cậu nhớ được là gì?”

“Mẹ tôi,” Duval nói.

“Ấn tượng sâu sắc nhất mà bà để lại cho cậu là gì?”

“Bà đối xử tốt với tôi,” Duval đơn giản nói, “sau khi bà mất, không còn ai đối xử tốt với tôi nữa — cho đến khi lên con tàu này.”

Thuyền trưởng Jebek đứng dậy, quay người lại, lưng đối diện với Alan và Duval. Ông đang chậm rãi nhồi lại tẩu thuốc.

“Kể cho tôi nghe về mẹ cậu đi, Henry,” Alan nói, “bà ấy trông như thế nào, bà ấy thường nói gì, hai người đã làm những gì cùng nhau.”

“Mẹ tôi đẹp, tôi nghĩ vậy. Khi tôi còn nhỏ, bà ôm tôi; tôi nghe, bà hát.” Chàng trai lậu vé trẻ tuổi chậm rãi, cẩn thận nói, như thể quá khứ của cậu là một món đồ dễ vỡ, chỉ có thể cầm nhẹ đặt nhẹ, nếu không nó sẽ biến mất. “Còn có lúc bà nói: ngày mai chúng ta lên tàu, đi tìm một quê hương mới. Chúng ta cùng đi…” Cậu nói chuyện lúc thì do dự, lúc thì đầy tự tin.

Cậu tin chắc mẹ mình là người Pháp, trước khi cậu ra đời, gia đình bà đã quay trở lại Pháp. Còn việc tại sao bà lại cắt đứt liên lạc với cha mẹ mình, điều này chỉ có thể đoán mò. Có lẽ nó liên quan đến cha cậu, người cha (theo lời mẹ cậu) đã sống cùng bà một thời gian ngắn ở Tripoli rồi rời bỏ bà, lại tiếp tục ra khơi.

Những gì cậu kể lúc này cơ bản giống với những gì cậu đã nói với Dan Olive hai ngày trước. Alan nghe kỹ từ đầu đến cuối, khi cần thiết thì khuyến khích và gợi ý cho cậu, khi cảm thấy có sự nhầm lẫn thì xen vào một câu hỏi. Nhưng phần lớn thời gian, anh vẫn luôn quan sát khuôn mặt của Henry Duval. Đó là một khuôn mặt khiến người ta tin tưởng, theo sự kể lại của cậu về các sự kiện và những thăng trầm trong tâm trạng, khuôn mặt cậu lúc thì tràn đầy phấn khích, lúc lại bao trùm nỗi buồn phiền. Đôi khi còn lộ ra biểu cảm đau đớn, khi cậu mô tả về cái chết của mẹ mình, mắt cậu lấp lánh lệ. Alan tự nhủ, nếu đây là làm chứng tại tòa, mình chắc chắn sẽ tin những gì cậu ấy nói.

Là câu hỏi cuối cùng, anh hỏi: “Tại sao cậu lại đến đây? Tại sao lại chọn Canada?” Lần này cậu nhất định sẽ đưa ra một câu trả lời giả tạo, Alan nghĩ: cậu ta có lẽ sẽ nói vì Canada là một đất nước xinh đẹp, cậu luôn khao khát được sống ở đây.

Henry Duval cân nhắc kỹ lưỡng một chút, rồi nói: “Những quốc gia khác đều không được. Canada là nơi cuối cùng để thử. Nếu ở đây không được nữa, tôi nghĩ Henry Duval không còn nhà nữa, mãi mãi không bao giờ có.”

“Được rồi,” Alan nói, “tôi nghĩ đây là sự thật.”

Anh nhận ra bản thân đột nhiên cảm thấy xúc động một cách khó hiểu, anh không ngờ mình lại nảy sinh loại cảm xúc này. Anh đến đây với đầy sự hoài nghi, chỉ chuẩn bị tinh thần để kiện tụng khi cần thiết chứ chẳng hề trông đợi vào thắng lợi. Thế nhưng giờ đây, anh lại muốn can dự sâu hơn vào chuyện này. Anh hy vọng có thể làm điều gì đó thực sự có ý nghĩa cho Duval, đưa anh ta rời khỏi con tàu, cho anh ta một cơ hội để xây dựng lại cuộc đời theo cách mà số phận chưa từng cho phép anh ta làm trước đó.

Nhưng liệu điều này có khả thi? Liệu trong luật nhập cư có tồn tại kẽ hở nào đó mà người ta có thể khéo léo tận dụng để đưa Duval vào hay không? Có lẽ là có, và nếu đúng như vậy, thì cần phải tranh thủ thời gian để tìm ra nó ngay lập tức.

Trong giai đoạn cuối của cuộc trò chuyện vừa rồi, thuyền trưởng Jabeck đã ra vào vài lần. Giờ đây khi ông quay lại, Alan hỏi: "Tàu của ông sẽ neo đậu tại Vancouver bao lâu?"

"Ban đầu dự định chỉ dừng lại năm ngày. Không may là máy móc cần sửa chữa, giờ xem ra phải mất hai tuần, có khi là ba tuần."

Alan gật đầu. Hai hay ba tuần thì quá ngắn, nhưng vẫn tốt hơn là năm ngày. Anh nói: "Nếu tôi muốn đại diện cho Duval để tiến hành các thủ tục pháp lý, tôi cần phải có giấy ủy quyền bằng văn bản của anh ấy."

"Vậy thì anh đành tự viết ra những gì cần nói, rồi để cậu ấy ký tên," thuyền trưởng Jabeck nói. "Cậu ấy chỉ biết viết mỗi tên mình, chỉ có vậy thôi."

Alan lấy từ túi ra một cuốn sổ tay, suy nghĩ một lát rồi viết: "Tôi, Henry Duval, hiện đang bị giam giữ trên tàu chở hàng Västervik, neo đậu tại bến cảng "Cape", thành phố Vancouver, tỉnh British Columbia, Canada. Tôi hiện đang nộp đơn xin lên bờ nhập cảnh tại bến cảng này, đồng thời ủy quyền cho Alan Maitland thuộc văn phòng luật sư hợp danh Lewis & Maitland làm luật sư đại diện cho tôi, để xử lý mọi vấn đề liên quan đến đơn từ nêu trên."

Thuyền trưởng chăm chú lắng nghe Alan đọc lại những dòng trên, rồi gật đầu. "Rất tốt," ông nói với Duval, "Nếu muốn ông Maitland giúp đỡ, cậu phải ký tên vào những gì ông ấy đã viết."

Henry Duval cầm lấy cây bút máy mà thuyền trưởng đưa cho, chậm rãi và vụng về ký tên mình bằng nét chữ nguệch ngoạc như trẻ nhỏ lên mảnh giấy vừa xé ra từ cuốn sổ. Alan nhìn với vẻ thiếu kiên nhẫn, ý nghĩ duy nhất trong đầu anh lúc này là quay về để sắp xếp lại thật nghiêm túc những suy nghĩ vừa lóe lên trong đầu. Anh cảm thấy một sự phấn khích đang ngày càng dâng trào. Tất nhiên, phương án anh nghĩ ra có thể hy vọng rất mong manh. Nhưng nó cũng có thể, chỉ là có thể thôi, mang lại một tia hy vọng thành công.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »