Đỉnh Cao Quyền Lực

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Thẩm phán Willis

❊ ❊ ❊

Tại phòng khách một căn suite trong khách sạn Vancouver, James Howden đưa cho trợ lý hành chính của mình là Elliott Blousser một tờ tiền 1 đô la. "Xuống sảnh đi," ông chỉ thị, "mua cho tôi 6 thanh sô-cô-la."

Ông đã quyết định, nếu sau này có viết hồi ký, nhất định ông phải ghi vào đó rằng một lợi ích của việc làm Thủ tướng chính là bạn có thể sai bảo người khác đi mua kẹo cho mình. Đây là sự khích lệ to lớn đối với bất kỳ đứa trẻ nào có hoài bão.

Khi người trợ lý trẻ tuổi với vẻ mặt nghiêm nghị như thường lệ rời đi, Howden đóng cửa thông với căn phòng bên ngoài lại, để bản thân không bị quấy rầy bởi tiếng máy đánh chữ và tiếng điện thoại của đội ngũ nhân viên tạm thời gồm các đảng viên tình nguyện. Ông ngồi xuống ghế sofa, cân nhắc về tiến triển của chuyến công du diễn thuyết kéo dài mấy ngày qua.

Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một thắng lợi huy hoàng của cá nhân ông.

Trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, tài hùng biện của ông chưa bao giờ phát huy đến mức đỉnh cao như lúc này, chưa bao giờ chinh phục khán giả một cách hiệu quả như bây giờ. Hai người phụ trách viết bài diễn văn là nhân viên mới được Brian Richardson thuê, một người đến từ Montreal, một người đến từ tạp chí "Time and Life" ở thành phố New York, Mỹ. Họ viết thực sự không tệ, nhưng khả năng ứng biến của Howden còn xuất sắc hơn. Khi ông thỉnh thoảng bỏ qua bản thảo, phát biểu với đầy sự tự tin và đam mê, ông thường dễ dàng lôi cuốn khán giả hơn.

Dù là có chuẩn bị trước hay tùy cơ ứng biến, những gì ông nói đều xoay quanh truyền thống của Bắc Mỹ và mối đe dọa của hệ tư tưởng đối lập đối với sự sinh tồn của nó. Ông tuyên bố, đây là thời đại của sự đoàn kết, thời đại chấm dứt những tranh cãi nhỏ nhặt và nội bộ, là thời đại vượt lên trên những vấn đề chi tiết để trước hết theo đuổi sự nghiệp vĩ đại của tự do nhân loại.

Phản ứng của mọi người vô cùng mãnh liệt, như thể những lời ông nói chính là điều họ khao khát được nghe; như thể ông chính là vị lãnh đạo mà họ đang tìm kiếm...

Theo kế hoạch, Thủ tướng Howden không nhắc đến chuyện Hiến chương Liên minh. Theo hiến pháp, phải thông báo tin này cho Nghị viện trước.

Nhưng ông vẫn cảm nhận được, thời cơ đã chín muồi. Ông cảm thấy, dường như cả nước đã sẵn sàng thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ. Trực giác chính trị của ông hiếm khi sai lầm.

Tại Toronto, khán giả đứng dậy vỗ tay hoan hô ông suốt mấy phút liền. Tại Fort William, Winnipeg, Regina, Calgary và Edmonton, ông đều nhận được những sự hoan hô tương tự. Thành phố Vancouver hiện tại là điểm dừng chân cuối cùng trước khi ông trở về miền Đông. Tối nay, ông sẽ diễn thuyết trước 3.000 khán giả tại Nhà hát Nữ hoàng Elizabeth.

Báo giới đưa tin về chuyến công du của ông, cũng như phản ứng của dư luận đều rất nhiệt liệt. Dù trên báo chí, hay trên đài phát thanh và truyền hình, bài diễn thuyết của ông đều là tin tức quan trọng hàng đầu. Trong mấy ngày qua hầu như không có tin tức quan trọng nào khác, không có thảm họa hay tai nạn lớn, không có những vụ án tình kinh hoàng, cũng không có xung đột vũ trang khu vực nào làm phân tán sự chú ý của báo giới. Howden nghĩ, mình thật quá may mắn.

Tất nhiên, đôi khi ông cũng gặp một vài rắc rối nhỏ. Vụ việc của Henry Duval vẫn xuất hiện trên mặt báo mỗi ngày, những chỉ trích về lập trường của chính phủ đối với vấn đề này vẫn tiếp diễn. Còn có những người biểu tình ủng hộ kẻ trốn vé Duval, họ giơ biểu ngữ biểu tình ở mỗi trạm dừng chân của ông. Khi ông diễn thuyết trước công chúng, luôn có người chất vấn ông về vấn đề này. Nhưng ông có thể cảm nhận được, sự nhiệt tình của những người biểu tình đang giảm xuống. Có lẽ vì, không gì có thể tiêu tan nhanh bằng sự nhiệt tình đối với một sự nghiệp đã thất bại.

Ông hy vọng người trợ lý trẻ Blousser sẽ quay lại sớm.

Một lát sau, người mà ông đang nghĩ tới đã bước vào với túi quần căng phồng.

"Anh có muốn một thanh không?" Thủ tướng hỏi. Ông bóc vỏ bao bì, đắc ý nhai ngấu nghiến.

"Không, cảm ơn ngài," trợ lý hành chính đáp. "Thú thật, tôi thực sự không thích đồ ngọt."

Tất nhiên là anh không thích rồi, Howden nghĩ thầm. Ông nói: "Anh đã nói chuyện với người phụ trách nhập cư ở địa phương chưa?"

"Rồi ạ, sáng nay anh ta đã đến. Anh ta tên là Kramer."

"Anh ta nói gì về chuyện của Duval?"

"Anh ta đảm bảo với tôi rằng, những người ủng hộ Duval đã không còn bước pháp lý nào có thể thực hiện được nữa. Có vẻ như vụ án này về cơ bản đã đi vào ngõ cụt."

Howden nghĩ, chỉ có Elliott Blousser mới dùng những từ như "về cơ bản đã đi vào ngõ cụt" trong khi trò chuyện. "Được rồi, hy vọng lần này anh ta không nói sai," ông nói. "Nhưng tôi có thể nói với anh, chỉ khi cái xác đó được chuyển đi thì tôi mới yên tâm. Con tàu đó khi nào khởi hành?"

"Tối ngày kia ạ."

Đó là cùng ngày ông công bố Hiến chương Liên minh tại Ottawa, Howden nghĩ.

"Ông Kramer rất muốn gặp ngài," người trợ lý hành chính trẻ tuổi nói. "Anh ta có vẻ muốn giải thích hành động của mình trong vụ án này. Nhưng tôi đã nói với anh ta là không thể nào."

Howden gật đầu tán thưởng. Rất nhiều viên chức muốn giải thích hành động của họ với Thủ tướng, đặc biệt là khi họ xử lý tình huống không thỏa đáng. Rõ ràng, Kramer cũng không ngoại lệ.

"Anh có thể nhắn lại cho anh ta," James Howden nói. Ông nghĩ, không ngại gây thêm chút áp lực cho người đó. "Nói với anh ta, tôi cực kỳ không hài lòng với cách làm của anh ta tại tòa án. Đáng lẽ lúc đó anh ta không nên đề nghị tổ chức phiên điều trần đặc biệt. Làm vậy chỉ khiến một vụ án sắp kết thúc bị khơi lại."

"Tôi nghĩ đó chính là điều anh ta muốn giải thích..."

"Nói với anh ta, tôi hy vọng sau này anh ta sẽ thể hiện tốt hơn." Howden kiên quyết nói thêm. Giọng điệu của ông thể hiện rõ ràng rằng, chuyện này đến đây là kết thúc.

Người trợ lý hành chính do dự một chút, rồi hơi áy náy nói: "Còn một chuyện nữa, cũng liên quan đến Henry Duval. Luật sư của hắn, ông Maitland, đã đến đây và muốn gặp ngài. Ngài có nhớ không, ngài đã đồng ý..."

"Lạy Chúa tôi!" Thủ tướng đột nhiên nổi trận lôi đình, đập mạnh tay xuống cái bàn bên cạnh. "Chẳng lẽ không có hồi kết sao?"

"Tôi cũng đang tự hỏi câu đó, thưa ngài." Khoảng một năm trước, khi Elliott Blousser mới đến, một cơn thịnh nộ của Howden sẽ khiến anh ta bất an mất mấy ngày. Nhưng gần đây, anh ta đã có thể bình tĩnh đối phó với tình huống này hơn.

Thủ tướng tức giận hỏi: "Đây là ý tưởng của cái tòa soạn báo chết tiệt nào, có phải không?"

"Vâng, là tờ 'Vancouver Post'. Họ đề nghị..."

"Tôi biết họ đề nghị cái gì, thật là chuyện thường ngày ở huyện." Ông tiếp tục phẫn nộ nói, "Báo chí bây giờ không còn thỏa mãn với việc đưa tin nữa, họ buộc phải tự tạo ra tin tức."

"Nhưng ngài quả thực đã đồng ý..."

"Tôi biết là tôi đã đồng ý! Tại sao anh cứ luôn nói với tôi những điều tôi đã biết rồi?"

Blousser đáp với vẻ mặt đờ đẫn: "Vì tôi không chắc là ngài có nhớ hay không."

Đôi khi, Howden nghi ngờ liệu người trợ lý hành chính này có thực sự hoàn toàn không có khiếu hài hước hay không.

Yêu cầu này được đưa ra với ông ngày hôm qua tại Calgary, lúc đó tờ "Vancouver Post" đăng một bản tin nói rằng luật sư Maitland muốn tìm cách đối thoại với Thủ tướng sau khi ông đến bờ Tây. Đài phát thanh cũng đã phát tin này.

Sau khi gọi điện thảo luận với Brian Richardson, họ nhất trí rằng chỉ có thể có một câu trả lời. Bây giờ Maitland đã đến rồi.

"Được rồi," James Howden sa sầm mặt nói, "cho hắn vào."

Alan Maitland đã đợi ở phòng ngoài của căn suite được 45 phút rồi. Theo thời gian trôi qua từng giây, sự bất an và căng thẳng của anh không ngừng tăng lên. Bây giờ, khi được dẫn vào phòng trong, anh thậm chí không hiểu nổi mình đến đây để làm gì.

"Chào buổi sáng," Thủ tướng nhanh nhẹn chào hỏi. "Tôi nghe nói anh muốn gặp tôi."

Hai người thận trọng quan sát lẫn nhau. Sự căng thẳng của Alan đã được thay thế bằng sự hiếu kỳ, anh phát hiện đối phương là một người cao lớn, đôi vai hơi chùng xuống, ngồi thoải mái trên một chiếc ghế sofa. Gương mặt hình chim ưng, đôi mắt trầm tư và cái mũi dài đó, anh đã từng nhìn thấy trên hàng vạn tờ báo và màn hình tivi. Tuy nhiên, gương mặt trước mắt này già hơn và nhiều nếp nhăn hơn so với trong ảnh. Vẻ mệt mỏi trên mặt ông là điều Alan không ngờ tới.

"Cảm ơn ngài đã gặp tôi, thưa Thủ tướng," Alan nói. "Tôi muốn thay mặt Henry Duval trực tiếp kêu gọi ngài."

Howden nghĩ, luật sư trẻ thời nay còn trẻ hơn bất cứ lúc nào. Hoặc, có lẽ chỉ là trong mắt những luật sư tuổi cao và ngày càng cao mà thôi. Nhìn chàng trai trẻ để tóc húi cua, có thân hình như vận động viên trước mắt, nhìn dáng vẻ đứng do dự của anh, Howden nhớ lại xem 40 năm trước mình có phải cũng tràn đầy sức sống và nhiệt huyết như vậy không.

"Ồ, ngồi xuống đi." Thủ tướng chỉ vào chiếc ghế đối diện, Alan ngồi xuống. "Anh phải nói ngắn gọn thôi, ông Maitland, vì tôi chỉ có thể dành ra vài phút."

"Tôi đã lường trước rồi, thưa Thủ tướng." Alan thận trọng làm cho giọng mình nghe có vẻ cung kính. "Vì vậy tôi muốn lược bỏ các tình tiết của vụ án. Tôi nghĩ ngài đã nghe hầu hết các tình tiết về nó rồi."

"Nghe rồi!" Howden cố nén khao khát muốn cười một trận cuồng loạn. "Lạy Chúa! Mấy tuần nay tôi tưởng như mình không nghe thấy chuyện gì khác."

Alan cười. Đó là một nụ cười nhiệt tình và ngây thơ như trẻ con. Đến nhanh, đi cũng nhanh, Howden nghĩ vậy. Alan lập tức trở nên nghiêm túc trở lại, nói: "Thưa Thủ tướng, có rất nhiều tình huống mà những tình tiết đó không nói lên được: ví dụ như điều kiện trên con tàu đó; một con người bị giam cầm trong khoang chứa không bằng cái lồng nhốt thú; một người không có tự do, không có hy vọng..."

"Anh có từng nghĩ không, ông Maitland," Howden ngắt lời, "đó không phải là tàu của Canada; một số điều kiện trên đó đã tồn tại từ lâu rồi; và đó không phải việc của nước ta."

"Vậy thì đó là việc của ai, thưa Thủ tướng?" Trong mắt Alan lóe lên ngọn lửa, sự căng thẳng bất an ban đầu của anh đã bị lãng quên từ lâu. "Tôi hỏi ngài, chẳng lẽ chúng ta không nên quan tâm đến những người ngoài câu lạc bộ nhỏ bé chặt chẽ của chúng ta sao?"

Howden kiên nhẫn đáp: "Anh nói về câu lạc bộ chặt chẽ. Anh không biết sao, hồ sơ của Canada về nhập cư là tốt nhất thế giới."

Alan Maitland rướn người về phía trước trên ghế. "Về phương diện này người khác không có điều kiện cạnh tranh với chúng ta, phải không?"

Trúng tim đen, Howden nghĩ thầm. Nhưng ông vẫn gay gắt đáp: "Mấu chốt không nằm ở đó. Vấn đề thực sự là, chúng ta có một bộ luật và quy định liên quan, nếu những quy định này còn chút ý nghĩa nào, thì chúng ta nên tuân thủ nó."

"Một số luật quá độc đoán, đặc biệt là phần liên quan đến nhân quyền." Alan nói.

"Nếu anh có cái nhìn như vậy, anh có thể kiện ra tòa mà."

"Người phụ trách nhập cư của Bộ Di trú ngài tại Vancouver không nghĩ vậy. Anh ta nói với tôi rằng chuyện này không liên quan đến tòa án."

"Dù thế nào đi nữa, anh vẫn ra tòa rồi, và đã thua kiện." Howden khẳng định.

Alan thất vọng thừa nhận: "Vâng, chúng tôi đã thua. Chính vì vậy tôi mới đến đây để cầu xin ngài." Trên mặt anh lại lóe lên một tia cười. "Nếu cần, tôi có thể quỳ xuống."

"Không," Howden cũng cười đáp. "Tôi không muốn anh làm vậy."

"Tôi muốn nói chuyện với ngài về Duval, thưa Thủ tướng." Nếu anh không có nhiều thời gian cho cuộc trò chuyện này, thì anh phải tận dụng hết mức có thể. Alan nói, "Anh ấy là một chàng trai tốt, là một công nhân làm việc thực tế, tôi tin rằng, anh ấy sẽ trở thành một công dân tốt. Tất nhiên, tiếng Anh của anh ấy nói không tốt, chưa được giáo dục..."

"Ông Maitland," Thủ tướng kiên định ngắt lời anh, "lý do người này không thể nhập cảnh rất đơn giản. Thế giới này đầy rẫy những người có vẻ ngoài đáng được giúp đỡ. Nhưng sự giúp đỡ đối với họ phải có trật tự, có kế hoạch, có cương lĩnh hành động. Chính vì vậy, chúng ta cần có một bộ Luật Nhập cư..."

Hơn nữa, dù thế nào ông cũng không thể khuất phục trước sự phản đối phi lý, không cân xứng của công chúng này, ông bướng bỉnh nghĩ. Nỗi nhục nhã tại sân bay Ottawa vẫn khiến tim ông đau nhói. Ngay cả khi bỏ qua lời đe dọa của Harvey Warrender, thì việc nhượng bộ vào lúc này cũng sẽ tỏ ra quá yếu đuối, quá nực cười. Với tư cách là Thủ tướng, quan điểm của ông về vấn đề này đã quá rõ ràng; rõ ràng là không thể tùy tiện mà phủ nhận được.

Alan Maitland vẫn đang tranh luận. "Henry Duval hiện đang ở Vancouver, chứ không phải ở Hungary, hay Ethiopia hay Trung Quốc, thưa Thủ tướng. Anh ấy đang ở ngay đây." Anh hơi buồn bã nói, "Mà người ta nói ở đây, những người có địa vị thấp kém có thể có được cuộc đời mới."

Những người có địa vị thấp kém. James Howden nhất thời bất an nhớ đến trại trẻ mồ côi đó. Cũng nhờ một người, một Alan Maitland của riêng mình, khiến ông giành được cơ hội bất ngờ từ thế giới bên ngoài. Nhưng ít nhất ông sinh ra ở Canada. Ông nghĩ, cuộc trò chuyện này đã đủ dài rồi.

"Luật Nhập cư là luật của nước ta, ông Maitland. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó có những khiếm khuyết, nhưng đó là quyết định của người dân Canada. Theo luật này, tôi rất tiếc phải nói với anh rằng câu trả lời của tôi chỉ có thể là phủ định."

Nghi thức kết thúc cuộc gặp được thực hiện vội vã. Howden đứng dậy, bắt tay Alan. "Xin cho phép tôi chúc anh sự nghiệp thành công," ông nói. "Có lẽ một ngày nào đó anh sẽ bước vào chính giới. Tôi nghĩ chắc chắn anh sẽ làm rất tốt."

Alan bình thản nói: "Tôi sẽ không đâu, thưa Thủ tướng. Trong chính giới có quá nhiều điều khiến tôi không thích."

Khi Alan Maitland rời đi, Thủ tướng lại chọn một thanh sô-cô-la, suy tư nhai. Một lát sau, ông gọi trợ lý hành chính đến, mất kiên nhẫn muốn xem bản thảo bài diễn thuyết buổi tối của mình.

Tại phòng chờ của khách sạn Vancouver, Dan Olive đang đợi Alan Maitland. Nhìn thấy Alan đi xuống, anh đầy hy vọng hỏi: "Có thay đổi gì không?"

Alan lắc đầu.

"Ừm," Olive vui vẻ nói, "hành động của cậu khiến công chúng tiếp tục chú ý đến vụ án này, điều đó tự nó đã có giá trị rồi."

Alan ảm đạm hỏi: "Phải không? Cậu nói xem, nếu chính phủ không chịu nhượng bộ, công chúng còn có cách gì?"

"Cậu không nghe sao? Công chúng có thể thay đổi chính phủ, đó chính là cách."

"À, vậy thì tốt quá!" Alan nói. "Chúng ta cứ chờ đến cuộc tổng tuyển cử đi, đến lúc đó gửi cho Henry Duval một tấm bưu thiếp, báo tin tốt cho anh ấy. Hy vọng lúc đó chúng ta biết anh ấy đang ở đâu."

"Đi thôi," Dan Olive nói. "Tôi lái xe đưa cậu về văn phòng. Trên đường cậu có thể kể cho tôi nghe Howden đã nói những gì."

Khi Alan bước vào văn phòng, Tom Lewis đang ở trong vách ngăn bằng kính của riêng mình. Anh và Dan Olive trò chuyện suốt dọc đường, sau khi đưa anh về thì Dan lái xe rời đi, có lẽ là quay lại tờ "Vancouver Post". Alan lại lặp lại nội dung cuộc trò chuyện với Thủ tướng cho Tom nghe.

Tom nói: "Tôi thấy, một khi cậu đã cắn chặt một khúc xương, cậu sẽ không bao giờ nhả ra."

Alan gật đầu. Anh đang nghĩ xem có nên gọi điện cho Sharon không. Có lẽ không có lý do gì để gọi cả. Kể từ khi họ nói chuyện hai ngày trước, họ vẫn chưa liên lạc lại.

"Đúng rồi," Tom nói. "Trong văn phòng của cậu có một kiện hàng, là do tài xế lái xe đưa đến."

Alan tò mò bước vào căn phòng nhỏ của mình. Ở giữa bàn đặt một kiện hàng hình vuông được gói bằng giấy. Anh mở gói giấy ra, lấy ra một cái hộp. Anh mở nắp hộp, phát hiện dưới lớp giấy mềm lộ ra một bức tượng đất nặn, là một bức tượng bán thân. Trên tờ giấy ghi chú bên cạnh viết: "Em muốn nặn nó thành ông Kramer, nhưng nó lại thành ra thế này. Vì vậy, xin đừng dùng kim – tuyệt đối đừng! Yêu anh – Sharon."

Anh cầm bức tượng lên, ngạc nhiên phát hiện ra, đó là một bức tượng bán thân mô phỏng chính mình.

Cách khách sạn Vancouver nơi Thủ tướng lưu trú chưa đầy một phần tư dặm, Thẩm phán Willis của Tòa án Tối cao tỉnh British Columbia đang đi đi lại lại trong phòng tiếp khách của mình, ông đã đi như vậy hơn một tiếng đồng hồ rồi.

Thẩm phán Willis vốn luôn có vẻ mặt lạnh lùng, nghiêm khắc, vẻ ngoài điềm tĩnh, lúc này trong lòng đang diễn ra một cuộc đấu tranh.

Chiến tuyến trong cuộc chiến nội tâm này rất rõ ràng. Một bên là chuẩn mực đạo đức của ông với tư cách là thẩm phán, một bên là lương tâm cá nhân của ông. Cả hai bên đều tập trung vào một vấn đề: Henry Duval.

Edgar Kramer nói với trợ lý hành chính của Thủ tướng rằng: "Những người ủng hộ Duval đã không còn bước pháp lý nào có thể thực hiện được nữa."

Sau hơn một tuần tìm kiếm các tiền lệ pháp lý, Alan Maitland cũng đi đến kết luận tương tự.

Nhưng kiến thức mà Thẩm phán Willis nắm giữ có thể chứng minh rằng kết luận của cả hai người họ đều sai. Kiến thức ông nắm giữ vô cùng mạnh mẽ, nếu sử dụng ngay lập tức, có thể giải cứu Henry Duval khỏi con tàu. Ít nhất là tạm thời. Thậm chí có thể giải cứu vĩnh viễn.

Chìa khóa mở chiếc lồng giam được cất giấu trong một tài liệu đóng bìa dày – "Báo cáo tỉnh British Columbia" tập 34, năm 1921. Trên bàn của thẩm phán hiện đang đặt một cuốn. Cuốn sách được lật đến trang có tiêu đề "Công tố đối với Ahmed Singh". Giấy sách và chữ viết trên đó đều đã phai màu vàng ố, nhưng chúng chứa đựng nguyên lý pháp lý vẫn còn hiệu lực, nói theo thuật ngữ pháp lý, nó chứa đựng "lý do phán quyết" vẫn còn đứng vững, như thể nó vừa được tuyên bố ngày hôm qua.

Khi đó, một thẩm phán Canada đã phán quyết rằng: Ahmed Singh vào năm 1921... "không thể chỉ bị trục xuất lên một con tàu."... Vì vậy, Henry Duval ngày nay cũng tương tự như vậy, không thể bị trục xuất như thế.

Vị thẩm phán đã qua đời từ lâu đó khi ấy tuyên bố, bất kỳ ai cũng chỉ có thể bị trục xuất về quốc gia mà họ đến, chứ không thể đến nơi khác.

Nhưng con tàu "Vastvik" không phải là đi đến Lebanon... không phải đi đến quốc gia mà Henry Duval xuất thân và nơi anh ta lên tàu lúc đó. "Vastvik" là một con tàu chở hàng viễn dương chạy không theo lịch trình, cảng tiếp theo nó đến là Belfast của Ireland, còn trạm tiếp theo nữa hiện vẫn chưa rõ...

Vì vậy, lệnh giam giữ đối với Henry Duval là không đứng vững, là bất hợp pháp.

Đây là điều được nói trong phán quyết về vụ án Ahmed Singh. Thẩm phán Willis đã tìm hiểu về tình hình con tàu "Vastvik" một cách cực kỳ thận trọng, ông cũng tìm hiểu về tiến triển của vụ án này một cách vô cùng cẩn thận.

Vài ngày trước, ông biết được Alan Maitland và Tom Lewis đang tìm kiếm tiền lệ pháp lý để ngăn chặn việc trục xuất Duval. Sau đó, ông lại biết được hai người họ không tìm thấy. Đối với kết quả này, ông không hề ngạc nhiên.

Ông không trách hai luật sư trẻ không tìm thấy hồ sơ vụ "Ahmed Singh". Hồ sơ đó đã bị biên tập sai vào chỉ mục của phần "Tóm tắt Canada", mà chuyện như vậy không phải là hiếm. Nếu không phải Thẩm phán Willis vô tình phát hiện ra vụ án này từ rất nhiều năm trước, ông cũng sẽ không bao giờ biết nó được biên tập trong phần này. Kể từ đó ông luôn ghi nhớ chuyện này.

Thẩm phán Willis nghĩ, nếu ông là luật sư của Henry Duval, ông sẽ lập tức nộp đơn xin lệnh bảo vệ thân thể mới, nộp ngay chiều nay. Và với tư cách là thẩm phán, nếu ông nhận được đơn này, ông sẽ lập tức phê chuẩn. Không phải áp dụng biện pháp thỏa hiệp "nếu không có phản đối, thì thực thi ngay" như lần trước, mà là phê chuẩn trực tiếp lệnh bảo vệ thân thể, từ đó có thể giải phóng Henry Duval khỏi con tàu ngay lập tức.

Nhưng ông là thẩm phán mà; ông không phải là luật sư. Không ai có thể kiêm nhiệm cả hai vai trò này.

Trách nhiệm của thẩm phán là thụ lý các vấn đề được trình lên mình một cách công bằng theo pháp luật. Thẩm phán không nên trực tiếp tham gia vào vụ án, thực hiện hành động có lợi cho một bên đương sự. Tất nhiên, đôi khi thẩm phán để đòi lại công lý, có thể gợi ý nhẹ nhàng cho luật sư một bên thực hiện các bước nào đó. Bản thân Willis cũng từng làm vậy trong phiên điều trần "nếu không có phản đối, thì thực thi ngay" liên quan đến Henry Duval.

Nếu can thiệp vượt quá phạm vi này, thì đó là điều đáng bị lên án, đó là phản bội lại trách nhiệm của thẩm phán.

Ông Willis lại đi đi lại lại trên tấm thảm giữa cửa sổ và bàn làm việc. Hôm nay, đôi vai gầy gò của ông càng cong xuống, như thể gánh nặng trách nhiệm đã đè cong ông. Gương mặt hình chữ nhật trầm tư của ông bao trùm bởi sự bất an.

Willis nghĩ, nếu mình không phải là thẩm phán, mọi chuyện đã đơn giản hơn nhiều rồi. Mình có thể nhấc điện thoại trên bàn gọi cho Alan Maitland. Khi anh ta trả lời, mình chỉ cần nói: Hãy tra cứu "Báo cáo tỉnh British Columbia" tập 34, năm 1921, trang 191, vụ "Công tố đối với Ahmed Singh". Thế là đủ rồi. Alan là một chàng trai trẻ có đầu óc nhạy bén, không đợi đến khi văn phòng đăng ký đóng cửa hôm nay, anh ta sẽ đến nộp đơn xin lệnh bảo vệ thân thể ngay.

Như vậy mới có thể ngăn cản Henry Duval rời đi cùng con tàu.

Ông nghĩ, mình quan tâm đến việc này. Alan Maitland quan tâm, và mình cũng vậy.

Nhưng vì là một thẩm phán, ông không thể... làm chuyện đó... dù là trực tiếp hay gián tiếp.

Tuy nhiên... vẫn còn "tiền đề lớn không cần bàn cãi".

Đây là một câu nói ông ghi nhớ từ nhiều năm trước khi còn ở trường luật. Đến tận bây giờ, nhà trường vẫn giảng dạy câu này, chỉ là không thường nhắc đến, đặc biệt là khi có mặt thẩm phán.

Cái gọi là "tiền đề lớn không cần bàn cãi" chính là một quan điểm. Nó cho rằng, bất kỳ thẩm phán nào, dù nguyện vọng ra sao, cũng không thể hoàn toàn khách quan. Thẩm phán cũng là con người; vì thế, ông ta không bao giờ có thể giữ cán cân hoàn toàn thăng bằng. Mọi suy nghĩ và hành động của ông ta đều chịu ảnh hưởng, dù hữu ý hay vô ý, từ trải nghiệm sống và bối cảnh cá nhân.

Thẩm phán Willis thừa nhận luận điểm này. Ông cũng biết mình có một tiền đề lớn của riêng mình, và tiền đề đó có thể gói gọn trong một từ: Belsen.

Đó là chuyện của năm 1945.

Giống như bao người cùng thế hệ, sự nghiệp luật sư của ông bị gián đoạn bởi Thế chiến II. Với tư cách là một sĩ quan pháo binh, ông đã phục vụ cùng những binh sĩ Canada được cử đến châu Âu từ năm 1940 cho đến khi chiến tranh kết thúc. Gần cuối cuộc chiến, Thiếu tá Willis – người đã được trao tặng Huân chương Chữ thập Quân công – với tư cách là sĩ quan liên lạc của Quân đoàn II Anh quốc, đã cùng Trung đoàn chống tăng số 63 giải phóng trại tập trung Belsen của Đức Quốc xã.

Ông đã ở Belsen một tháng, và tất cả những gì chứng kiến tại đó sẽ mãi mãi ám ảnh cuộc đời ông như những bóng ma. Nhiều năm sau đó, thậm chí cho đến tận bây giờ, trải nghiệm trong 30 ngày kinh hoàng ấy vẫn hiện về trong giấc mơ một cách sống động và rợn người. Willis là một người nhạy cảm, ẩn sau vẻ ngoài nghiêm nghị là một tâm hồn học giả. Khi rời khỏi Belsen, ông đã tự hứa rằng chừng nào còn sống, ông sẽ không tiếc sức lực để góp phần cứu giúp những con người đau khổ.

Là một thẩm phán, làm được điều đó không hề dễ dàng. Có những lúc, ông tuyên án bị cáo có tội trong lòng đầy hoài nghi, bởi trực giác mách bảo rằng kẻ chủ mưu thực sự là xã hội chứ không phải bất kỳ cá nhân nào. Nhưng cũng có những lúc, đối với một số trọng phạm mà hầu hết mọi người đều cho là vô phương cứu chữa, ông lại giảm nhẹ hình phạt vì thương cảm cho số phận bất hạnh của họ, bởi cái bóng quá khứ đó... cái tiền đề lớn không cần bàn cãi đó... lại hiện lên trong tâm trí Thẩm phán Willis.

Lúc này, lại một lần nữa như vậy.

Giống như trước phiên điều trần "có hiệu lực nếu không có phản đối", vận mệnh của Henry Duval vẫn đang khiến ông trăn trở khôn nguôi.

Một người bị giam cầm. Một người được giải phóng chính đáng.

Giữa hai con người này là sự tôn nghiêm cao quý của thẩm phán.

Hy sinh sự tôn nghiêm để bảo vệ chính nghĩa, ông nghĩ. Ông bước tới điện thoại.

Ông tuyệt đối không thể gọi trực tiếp cho Alan, sự thận trọng nhắc nhở ông ít nhất phải làm được điều đó. Nhưng vẫn còn cách khác. Ông có thể gọi cho cựu cộng sự luật sư của mình, một người đáng kính. Người này cực kỳ nhạy bén, chắc chắn sẽ hiểu ý ông. Anh ta sẽ truyền đạt thông tin ngay lập tức mà không tiết lộ nguồn tin. Nhưng cựu cộng sự của ông lại là người rất phản cảm với việc thẩm phán nhúng tay vào các vụ án...

Thẩm phán Willis thở dài. Ông nghĩ, làm chuyện mờ ám không bao giờ có cách hoàn hảo.

Điện thoại thông suốt, ông cất tiếng: "Tôi là Willis đây."

Đầu dây bên kia, một giọng nói trầm thấp nhiệt tình đáp: "Tôi thật sự rất vui, thưa ngài, thật không ngờ tới."

Thẩm phán vội ngắt lời đối phương: "Đây là một cuộc gọi không chính thức."

Đối phương cười lớn: "Chào ông, Willis? Lâu lắm không gặp." Trong giọng nói của người kia chứa đựng tình cảm chân thành.

"Tôi biết. Khi nào chúng ta phải tụ tập một bữa mới được." Ông nghi ngờ liệu họ có thể gặp nhau hay không. Do công việc đặc thù, thẩm phán buộc phải sống một cuộc đời rất cô độc.

"Ừm, Willis, có việc gì tôi có thể giúp ông không? Ông muốn kiện ai à?"

"Không," Thẩm phán Willis nói. Ông vốn không giỏi tán gẫu. "Tôi muốn nói chuyện với ông về vụ án của Duval."

"Ồ, vụ kẻ trốn vé đó à. Tôi đã xem phán quyết của ông rồi. Thật đáng tiếc, nhưng tôi thấy ông cũng chẳng còn cách nào khác."

"Phải," thẩm phán thừa nhận, "không còn cách nào khác. Nhưng chàng luật sư trẻ Maitland kia cũng khá thông minh đấy."

"Tôi đồng ý," người kia nói. "Tôi nghĩ cậu ta đã góp phần làm rạng danh nghề nghiệp của chúng ta."

"Tôi nghe nói họ đã bỏ rất nhiều công sức để tìm kiếm các tiền lệ."

"Theo những gì tôi nghe được," người kia lại cười lớn, "Maitland và các cộng sự đã lật tung cả thư viện luật lên rồi. Tiếc là họ không may mắn."

"Tôi lại thấy lạ," Thẩm phán Willis nói chậm rãi, "tại sao họ không tra cứu 'Công tố đối với Ahmed Singh' trong tập 34, trang 191 của Báo cáo tỉnh British Columbia năm 1921 nhỉ. Tôi nghĩ, dựa vào tiền lệ đó, họ sẽ không gặp vấn đề gì trong việc giành được lệnh bảo hộ thân thể."

Đầu dây bên kia im lặng. Thẩm phán có thể hình dung ra đối phương đang nhướn mày, có vẻ không hài lòng. Một lát sau, đối phương hỏi với giọng lạnh lùng hơn lúc trước: "Tốt nhất ông nên đọc lại cái nguồn đó đi, tôi chưa ghi chú đầy đủ."

Ông lặp lại một lần nữa rồi đặt ống nghe xuống. Thẩm phán Willis nghĩ, làm bất cứ việc gì cũng phải trả giá. Nhưng ông biết, thông tin đó chắc chắn sẽ được truyền đi.

Ông nhìn đồng hồ, rồi quay lại với đống phán quyết đang chất cao trên bàn để làm việc.

4 tiếng rưỡi sau, khi màn đêm bắt đầu buông xuống thành phố, vị thư ký trẻ tuổi gầy gò đứng ngoài cửa nói: "Thưa ngài, ông Maitland đến để xin lệnh bảo hộ thân thể."

Dưới ánh đèn pha sáng rực, các sợi dây cáp của tàu "Västervik" nâng lên hạ xuống, đang bốc gỗ vào khoang.

Alan Maitland hào hứng và tự tin chạy lên chiếc cầu tàu đầy gỉ sét, tiến vào boong chính chật chội và tồi tàn.

Mùi phân bón trên tàu đã không còn nữa. Ngay cả chút dư vị sót lại cũng đã bị gió biển tươi mát thổi bay. Hương thơm thanh khiết tỏa ra từ gỗ linh sam và tuyết tùng mới chặt đang tràn ngập con tàu.

Đêm rất lạnh, nhưng những ngôi sao trên cao vẫn tỏa sáng.

Vị sĩ quan ba mà Alan từng gặp vào sáng Giáng sinh từ phía mũi tàu đi tới.

"Tôi đến gặp Thuyền trưởng Jabeck," Alan gọi lớn. "Nếu ông ấy ở trong cabin, tôi sẽ tự tìm đường."

Vị sĩ quan ba gầy gò tiến lại gần nói: "Vậy thì cứ tự nhiên đi. Ngay cả khi không biết đường, tối nay anh cũng có đủ tâm trạng để từ từ tìm thôi."

"Vâng," Alan đồng tình, "tôi nghĩ là vậy." Anh vô thức chạm vào túi áo vest, kiểm tra xem tờ giấy quý giá đó còn ở đó không.

Anh đi vào trong tàu, vừa đi vừa quay đầu lại hỏi: "Cảm cúm của anh thế nào rồi?"

"Đợi chúng ta ra khơi cùng nhau là sẽ khỏi thôi," vị sĩ quan ba nói. "Chỉ còn 48 tiếng nữa thôi, nhanh lắm."

48 tiếng. Thật mạo hiểm, Alan nghĩ. Nhưng có vẻ cuối cùng anh cũng đã chạy đua kịp với thời gian. Chiều nay khi đang ở căn hộ trên phố Guildford, bất ngờ Tom Lewis truyền tin đến: hãy tra cứu vụ án "Công tố đối với Ahmed Singh".

Anh quyết định không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào, dù không ôm hy vọng quá nhiều khi đến thư viện luật. Khi đọc được phán quyết năm 1921 đó, tim anh như muốn nhảy ra ngoài, tiếp đó là một cơn lốc khẩn trương soạn thảo, đánh máy, hiệu đính và sắp xếp các bản tuyên thệ cùng hồ sơ lệnh bảo hộ thân thể. Dù khẩn cấp hay không, dù quái vật có há miệng máu lao tới, cũng phải dùng giấy tờ văn bản để chặn lại...

Sau đó là cuộc chạy đua đến Tòa án Tối cao để đến kịp phòng đăng ký trước khi đóng cửa. Cuối cùng anh cũng đến kịp. Vài phút sau, anh xuất hiện trước mặt Thẩm phán Willis, người hôm nay tình cờ trực tại tòa.

Thẩm phán vẫn nghiêm nghị và lạnh lùng như thường lệ. Ông chăm chú lắng nghe, hỏi vài câu ngắn gọn rồi phê chuẩn lệnh bảo hộ thân thể – không phải lệnh "có hiệu lực nếu không có phản đối" yếu ớt như lần trước, mà là lệnh bảo hộ thân thể vô điều kiện. Đó là một khoảnh khắc khác thường, tĩnh lặng nhưng đầy phấn khích. Giờ đây, trong túi Alan đang giữ bản gốc và một bản sao của lệnh đó, trên đó viết: "Người bảo hộ của chúng ta, Nữ hoàng Elizabeth của Khối thịnh vượng chung, Canada và các vùng lãnh thổ khác, nhân danh Chúa... ra lệnh cho các người ngay khi nhận được lệnh này... phải lập tức... phóng thích thân thể của Henry Duval."

Tất nhiên, sau đó vẫn phải tổ chức phiên tòa, dự kiến vào ngày kia. Nhưng kết quả đã được định đoạt: tàu "Västervik" sẽ khởi hành, và Henry Duval sẽ không còn trên tàu nữa.

Alan tự nhắc mình, mai nhất định phải gọi điện cho vị luật sư đã cung cấp manh mối cho anh. Tom Lewis đã ghi lại tên người đó. Chính người đó đã giúp họ xoay chuyển tình thế...

Anh đi đến trước cửa cabin thuyền trưởng và gõ cửa. Từ bên trong có tiếng hô lớn: "Vào đi!"

Thuyền trưởng Jabeck đang mặc áo gile, bao trùm trong làn khói dày đặc từ chiếc tẩu thuốc, đang viết nhật ký hành trình dưới ánh đèn bàn bị che khuất. Ông đặt bút xuống, đứng dậy, lịch sự mời khách ngồi vào chiếc ghế da màu xanh như mọi khi.

Alan khẽ ho vì hít phải khói thuốc bất ngờ, anh mở lời: "Tôi đã làm phiền ông..."

"Không sao, viết xong rồi." Thuyền trưởng với tay khép nhật ký hành trình lại, mệt mỏi nói: "Các nhà khảo cổ tương lai khi nghiên cứu thời đại chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được đâu. Chúng ta để lại quá nhiều văn bản rồi."

"Nhắc đến văn bản," Alan nói, "tôi cũng mang đến một thứ." Anh mỉm cười lấy lệnh bảo hộ thân thể ra, đưa cho Thuyền trưởng Jabeck.

Thuyền trưởng chậm rãi đọc thầm, môi cũng mấp máy theo, thỉnh thoảng lại khựng lại vì những thuật ngữ pháp lý khó hiểu. Cuối cùng, ông ngẩng đầu lên, hỏi đầy khó tin: "Vậy ra, cậu vẫn thành công sao?"

"Vâng," Alan vui vẻ nói. "Lệnh bảo hộ này có nghĩa là Henry đã được phóng thích khỏi tàu. Cậu ấy sẽ không cùng ông khởi hành rời đi nữa."

"Bây giờ, ngay lập tức sao?"

"Ngay lập tức, thưa thuyền trưởng," Alan quả quyết, "tôi muốn cậu ấy thu dọn đồ đạc rồi đi theo tôi. Lệnh này yêu cầu tôi tạm thời giám hộ cậu ấy." Anh nói thêm, "Nếu ông có nghi ngờ gì, có thể gọi cảnh sát kỵ binh đến..."

"Không, không! Không cần đến mức đó." Thuyền trưởng Jabeck đặt lệnh bảo hộ thân thể xuống, trên mặt nở nụ cười nhiệt tình và quyến rũ. "Tôi thực sự không biết cậu đã làm thế nào, ông Maitland, nhưng tôi vẫn muốn chúc mừng cậu. Chỉ là quá đột ngột, quá đột ngột."

"Tôi biết," Alan nói, "chính tôi cũng thấy hơi khó thở đây."

10 phút sau, Henry Duval xuất hiện trong cabin thuyền trưởng, mắt cậu sáng rực, trên mặt là nụ cười hạnh phúc. Cậu mặc một chiếc áo khoác dạ lớn hơn vài cỡ, tay xách một chiếc vali bìa cứng cũ kỹ. Alan nghĩ, việc đầu tiên cần làm vào sáng mai là dùng số quỹ đó mua cho Duval vài bộ quần áo mới để ra tòa.

"Ông Maitland sẽ đưa cậu đi, Henry," thuyền trưởng thông báo.

Chàng thanh niên trốn vé gật đầu, sự phấn khích và khao khát khiến gương mặt cậu bừng sáng lạ thường. "Tôi đã biết."

"Cậu sẽ không quay lại tàu nữa," thuyền trưởng bình thản nói, "vậy nên giờ tôi nói lời tạm biệt với cậu."

Vẻ phấn khích trên mặt chàng thanh niên biến mất. Như thể lời của thuyền trưởng khiến cậu nhìn thấy một thực tế không lường trước được. Cậu ngập ngừng nói: "Con tàu tốt này..."

"Nhiều chuyện đều do con người quyết định," thuyền trưởng chìa tay ra. "Tôi chúc cậu hạnh phúc, Henry, cầu Chúa ban phước cho cậu. Hãy làm việc chăm chỉ, cầu nguyện nhiều hơn, và phải nghe lời ông Maitland."

Duval buồn bã gật đầu lặng lẽ. Alan nghĩ, đây thật sự là một cảnh tượng kỳ lạ, cứ như cha và con đang từ biệt nhau. Anh cảm thấy cả hai đều không muốn kết thúc khoảnh khắc này.

"Chúng ta đi thôi." Alan đòi lại bản gốc lệnh bảo hộ thân thể, để lại cho thuyền trưởng một bản sao. Alan vừa bắt tay thuyền trưởng vừa nói: "Thuyền trưởng Jabeck, làm quen với ông tôi rất vui. Hy vọng chúng ta có thể gặp lại nhau."

"Nếu tôi có thêm kẻ trốn vé nữa, tôi sẽ tìm cậu để giúp họ." Thuyền trưởng cười nói.

Tin tức lan nhanh khắp tàu. Khi Alan và Duval bước ra khỏi cabin thuyền trưởng, các thủy thủ đã tự động ngừng công việc bốc hàng, xếp hàng dọc theo lan can tàu, bàn tán đầy phấn khích. Stabby Gates lê bước tới nói: "Tạm biệt nhé, bạn hiền, chúc cậu vạn sự như ý. Đây là quà tôi và anh em gửi cho cậu." Alan nhìn thấy một xấp tiền được dúi vào tay Duval. Khi họ bước xuống cầu tàu, tiếng reo hò ồn ào vang lên giữa các thủy thủ.

"Đứng lại đó!" Từ bến tàu tối tăm vang lên một tiếng gọi lớn. Alan vừa dừng chân, chỉ thấy ánh đèn flash chớp nháy liên hồi.

"Này!" anh gọi. "Chuyện gì thế này?"

"Đưa tin thôi chứ còn gì nữa?" Dan Olive nói. Các phóng viên khác cũng vây quanh lại.

"Anh lén lút đến đây hả, Maitland," ai đó vui vẻ nói, "nhưng chúng tôi vẫn tìm ra dấu vết của anh."

Có giọng nói vang lên: "Làm tốt lắm!"

"Nghe này," Alan phản đối, "tối nay tôi không thể nói gì cả. Có lẽ sáng mai chúng tôi sẽ phát thông cáo."

"Để Henry nói vài câu thì sao?"

"Anh có sẵn lòng để Henry nói không?"

"Không," Alan kiên quyết nói, "dù sao thì bây giờ không được."

Dan Olive khẽ hỏi: "Anh đến đây bằng cách nào?"

"Tôi đi taxi," Alan đáp.

"Xe của tôi ở ngay đây, anh muốn đi đâu tôi chở đi."

"Được thôi," Alan đồng ý. "Đi thôi."

Bất chấp sự phản đối của các phóng viên khác, họ chui vào chiếc xe van của Dan Olive. Đèn flash vẫn nhấp nháy liên tục xung quanh, Duval cười không khép được miệng.

Khi xe rời khỏi bến tàu, Dan hỏi: "Anh định đưa cậu ta đi đâu?"

Alan chợt nhận ra, vì quá nhiều việc khác cần suy nghĩ, khiến anh... anh nói: "Đúng như anh nói, tôi vẫn chưa nghĩ đến vấn đề này." Anh nghĩ, căn hộ của mình quá nhỏ. Nhưng Tom và Lilian Lewis có lẽ có thể cung cấp một chỗ ngủ tạm thời...

"Tôi biết ngay mà," Dan nói. "Cho nên tòa soạn chúng tôi đã thuê một căn hộ trong khách sạn Vancouver. Chúng tôi chịu toàn bộ chi phí."

Alan ngập ngừng nói: "Tôi nghĩ cái này được đấy. Nhưng tôi vốn muốn tìm chỗ nào đơn giản hơn..."

"Mặc kệ đi!" Dan tăng tốc vượt qua một đèn giao thông màu vàng, rồi nói: "Để Henry cũng được hưởng thụ chút đi."

Một lát sau anh lại nói: "Về phòng khách sạn đó, tôi vừa quên chưa nói với anh. Thủ tướng cũng đang ở một phòng khác cùng tầng đó." Anh cười ha hả. "Holden chắc sẽ thích lắm đây!"

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »