Từ Ottawa bay về phía tây 2300 dặm chính là bờ biển phía tây của Canada. Vào ngày 23 tháng 12, trong khoảng lặng của những trận mưa rào, tàu Västervik đã cập bến.
Gió lạnh gào thét trong cảng Vancouver. Người dẫn tàu lên tàu cách đây nửa giờ đã ra lệnh thả ba sợi xích neo. Lúc này, tàu Västervik đang neo đậu lặng lẽ trong cảng, chiếc mỏ neo khổng lồ kéo lê phía sau tàu, lướt qua lớp bùn lắng và những rạn đá ngổn ngang dưới đáy biển như một cánh cửa cống. Còi của con tàu phía trước vang lên một tiếng ngắn ngủi, một sợi dây cáp căng ra hướng về phía bờ, những sợi dây khác cũng lập tức siết chặt. Con tàu bắt đầu di chuyển.
Mười phút sau, tức là 3 giờ chiều giờ địa phương, con tàu đã được buộc chặt và mỏ neo được thu hồi về vị trí cũ.
Bến tàu "Cape" nơi con tàu neo đậu cùng vài bến lân cận nhô ra trên đường bờ biển như những ngón tay. Trên bến tàu vô cùng bận rộn, các tòa nhà san sát nhau. Xung quanh con tàu mới cập bến này, có vài con tàu đang bốc dỡ hàng hóa, dây cáp treo hàng nâng lên hạ xuống liên hồi, những chiếc xe kéo hàng chạy qua chạy lại hối hả trên đường ray bên mép cầu cảng. Cùng lúc đó, những chiếc cần cẩu lắc lư qua lại giữa tàu chở hàng và kho bãi. Tại một vị trí neo đậu gần đó, một con tàu chở hàng màu xám đang từ từ di chuyển ra phía khơi xa, trước mũi và sau đuôi mỗi bên đều có một tàu kéo.
Một nhóm ba người tiến về phía tàu Västervik với mục đích rõ ràng. Họ bước đi đều đặn, khéo léo tránh các chướng ngại vật và những nhóm công nhân đang làm việc. Trong số họ, hai người mặc đồng phục, một là nhân viên hải quan, người kia là nhân viên Cục Nhập cư Canada. Người thứ ba mặc thường phục.
"Chết tiệt!" Nhân viên hải quan chửi thề, "Lại mưa rồi."
"Lên tàu của chúng tôi đi," người mặc thường phục cười toe toét nói. Đây là đại lý của công ty vận tải. "Trên đó làm việc được."
"Tôi không trông mong gì vào chuyện đó," viên sĩ quan nhập cư mặt lạnh tanh đáp. "Một vài con tàu cũ kỹ rệu rã của các anh, bên trong còn ẩm ướt hơn bên ngoài. Thật không thể tin nổi làm sao anh có thể khiến những đống sắt vụn này nổi được trên biển."
Một chiếc thang sắt hoen gỉ từ tàu Västervik được hạ xuống.
Đại lý vận tải ngước nhìn lên mạn tàu nói: "Đôi khi chính tôi cũng chẳng hiểu nổi. Nhưng tôi nghĩ nó chở thêm ba người nữa cũng không đến nỗi chìm đâu." Anh ta nghênh ngang bước lên thang, hai người kia cũng theo sau.
Trong phòng thuyền trưởng ngay dưới buồng lái, thuyền trưởng Sigurd Jabeck đang lúng túng thu xếp giấy tờ cần thiết để nhập cảng cho hàng hóa và thủy thủ đoàn. Ông có bờ vai rộng, mang gương mặt của một thủy thủ đã dạn dày sương gió. Trước khi tàu cập bến, ông đã cởi bỏ chiếc áo len và bộ đồ bảo hộ bằng vải chéo xanh thô mặc suốt cả ngày, thay vào đó là bộ vest xanh hai hàng khuy. Thế nhưng ông vẫn lê đôi dép nỉ kiểu cũ, thứ mà ông gần như luôn mang trên tàu.
Thuyền trưởng Sigurd Jabeck nghĩ, thật tốt, cuối cùng cũng cập bến vào ban ngày, như vậy tối nay họ có thể lên bờ ăn tối, không phải chịu đựng mùi phân bón nồng nặc trên tàu nữa. Vị thuyền trưởng nhăn mũi đầy ghê tởm trước mùi hương lan tỏa trong phòng. Đó là mùi lưu huỳnh ẩm ướt pha lẫn với mùi bắp cải thối. Mấy ngày nay, mùi này cứ thoát ra từ kho hàng số 3, rồi theo đường ống nhiệt lan tỏa khắp các ngóc ngách trên tàu. Nghĩ đến việc chuyến tới con tàu của mình sẽ vận chuyển gỗ Canada vừa xuất xưởng từ xưởng cưa, ông cảm thấy an ủi phần nào.
Ông cầm những tập tài liệu, bước ra khỏi phòng thuyền trưởng, tiến lên boong tàu.
Trong khoang ở của thủy thủ đoàn ở đuôi tàu, thủy thủ vạm vỡ Stubby Gates đang chậm rãi đi lại trong phòng ăn nhỏ kiêm phòng nghỉ vào ban ngày. Anh tiến đến bên một người. Người đó đứng lặng lẽ, ánh mắt nhìn xuyên qua cửa sổ mạn tàu chằm chằm vào cảng.
Gates là một gã dân London. Anh có gương mặt đầy sẹo, ngũ quan lệch lạc, kết quả của những năm tháng làm võ sĩ quyền anh. Anh có thân hình thấp lùn, cánh tay dài, khiến anh trông giống như một con vượn người. Anh là người có thể lực tốt nhất trên con tàu này. Tuy nhiên, nếu không bị chọc giận, anh lại là người hiền lành nhất.
Người còn lại rất trẻ, dáng người nhỏ nhắn. Anh có khuôn mặt tròn, đặc trưng, đôi mắt sâu thẳm và mái tóc đen để quá dài. Anh trông vẫn còn như một đứa trẻ.
Stubby Gates hỏi: "Henry, cậu đang nghĩ gì vậy?"
Henry như thể không nghe thấy, vẫn nhìn ra bên ngoài. Trên mặt anh lộ ra vẻ khao khát kỳ lạ, ánh mắt anh đờ đẫn nhìn đường nét của những tòa nhà cao tầng chỉnh tề xung quanh bến cảng. Tiếng ồn ào từ giao thông bận rộn của thành phố truyền đến rõ rệt qua mặt nước và bến tàu trống trải. Một lát sau, Henry nhún vai, quay người lại.
"Tôi không nghĩ gì cả." Giọng anh nặng nề, kèm theo âm thanh cổ họng không mấy dễ chịu. Anh nói tiếng Anh rất chật vật.
"Chúng ta sẽ neo đậu ở bến cảng này một tuần," Stubby Gates nói, "Cậu đã từng đến Vancouver trước đây chưa?"
Người thanh niên tên Henry Duval lắc đầu.
"Tôi đã đến đây ba lần rồi," Gates nói. "Ở đây không có nhiều chỗ chơi. Nhưng câu lạc bộ thủy thủ cũng tạm được, ở đó cậu có thể tìm thấy phụ nữ rất nhanh." Anh liếc nhìn Duval, "Này anh bạn, cậu nghĩ lần này họ có cho cậu lên bờ không?"
Henry Duval trả lời bằng giọng điệu buồn bã, chán nản: "Đôi khi, tôi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ được lên bờ." Tiếng Anh của anh rất cứng và khó hiểu, nhưng Stubby Gates vẫn hiểu được.
Khi nhóm ba người họ lên tàu, thuyền trưởng Jabeck đã đón tiếp họ. Ông bắt tay với đại lý vận tải, người đại lý lại giới thiệu nhân viên hải quan và viên chức nhập cư với ông. Hai nhân viên này đều rất nghiêm túc, gật đầu lịch sự với thuyền trưởng nhưng không bắt tay.
"Thủy thủ đoàn của ông đã tập hợp đầy đủ chưa, thưa thuyền trưởng?" Viên chức nhập cư hỏi.
Thuyền trưởng Jabeck gật đầu. "Xin hãy đi theo tôi."
Đây là thông lệ, không cần ai ra lệnh, toàn bộ thủy thủ đoàn đều được tập hợp đến phòng ăn của sĩ quan cấp cao ở giữa tàu. Thủy thủ bình thường xếp hàng ngay ngắn bên ngoài phòng ăn, còn các sĩ quan cấp cao đợi sẵn bên trong.
Khi thuyền trưởng dẫn ba người họ đi ngang qua hàng ngũ, Stubby Gates khẽ chạm khuỷu tay vào Henry Duval, thì thầm: "Đây đều là người của chính phủ, việc cậu có được lên bờ hay không là do họ quyết định."
Henry Duval quay sang nhìn Gates, người hơn anh vài tuổi. "Tôi rất muốn thử một lần," anh nói khẽ. Trong giọng điệu cứng nhắc của anh ẩn chứa một sự nhiệt tình trẻ con, vẻ chán nản lúc trước hoàn toàn biến mất. "Tôi sẽ cố gắng làm việc, biết đâu có thể ở lại."
"Henry, đó thực sự là một ý hay," Stubby Gates hân hoan nói. "Đừng nản lòng!"
Trong phòng ăn, bàn ghế dành cho viên chức nhập cư đã được chuẩn bị sẵn. Anh ta ngồi trước bàn, xem xét danh sách thủy thủ đánh máy mà thuyền trưởng vừa đưa. Phía bên kia phòng ăn, nhân viên hải quan đang lật xem danh mục hàng hóa.
"30 thủy thủ, bao gồm cả sĩ quan cấp cao, một người đi lậu vé," viên chức nhập cư tuyên bố, "Con số này chính xác chứ, thuyền trưởng?"
"Chính xác," thuyền trưởng Jabeck gật đầu đáp.
"Các ông đã đón người đi lậu vé đó ở đâu?"
"Tại Beirut, cậu ấy tên là Duval," thuyền trưởng nói. "Cậu ấy đã ở cùng chúng tôi một thời gian rất dài, rất dài rồi."
Biểu cảm trên khuôn mặt viên chức nhập cư không hề thay đổi.
"Tôi sẽ kiểm tra sĩ quan cấp cao trước," anh ta gọi người sĩ quan cấp cao đầu tiên lên, người đó bước tới, đưa ra một hộ chiếu Thụy Điển.
Sau khi sĩ quan cấp cao kiểm tra xong, những thủy thủ khác lần lượt đi vào phòng ăn. Việc kiểm tra mỗi người đều rất đơn giản. Tên, quốc tịch, nơi sinh, cộng thêm vài câu hỏi lấy lệ, sau đó người được kiểm tra sẽ đi sang phía bên kia phòng ăn để trả lời câu hỏi của nhân viên hải quan.
Duval là người cuối cùng. Những câu hỏi viên chức nhập cư đặt ra cho anh không hề qua loa như vậy. Anh mang theo niềm khao khát, sử dụng thứ tiếng Anh vụng về cẩn thận trả lời từng câu hỏi. Stubby Gates và vài thủy thủ khác cố tình nán lại không chịu rời đi, lén nghe cuộc đối thoại của họ.
Phải, tên anh là Henry Duval. Phải, anh là người đi lậu vé trên tàu. Phải, anh đã lên tàu này tại Beirut, Lebanon. Không, anh không phải là công dân Lebanon. Không, anh không có hộ chiếu. Anh chưa bao giờ có hộ chiếu. Cũng không có giấy khai sinh hay bất kỳ giấy tờ nào khác. Phải, anh biết nơi mình sinh ra. Là Somaliland thuộc Pháp ở châu Phi. Mẹ anh là người Pháp, cha anh là người Anh. Mẹ anh đã qua đời, còn cha anh thì anh chưa bao giờ biết mặt. Không, anh không có cách nào để chứng minh những gì mình nói là thật. Phải, họ không cho phép anh nhập cảnh vào Somaliland thuộc Pháp. Không, các quan chức chính phủ ở đó không tin lời anh. Phải, các cảng khác cũng từng từ chối cho anh lên bờ. Có rất nhiều cảng, anh không nhớ rõ là bao nhiêu cảng. Phải, anh thực sự không có giấy tờ, không có bất kỳ giấy tờ nào cả.
Tại các cảng khác, anh cũng đã nhiều lần trả lời những câu hỏi này. Theo những câu hỏi dồn dập của viên chức nhập cư, hy vọng trên gương mặt người thanh niên tan biến, thay vào đó là sự thất vọng. Nhưng anh vẫn cố gắng lần cuối.
"Tôi làm việc," anh khẩn khoản, ánh mắt cố tìm kiếm sự phản hồi trên khuôn mặt viên chức nhập cư. "Làm ơn, tôi làm việc giỏi, làm việc ở Canada." Anh phát âm tên quốc gia đó một cách không thành thạo, giống như anh từng học nhưng chưa học tốt.
Viên chức nhập cư lắc đầu từ chối. "Ở đây không được. Cậu không được lên bờ." Anh ta nói với thuyền trưởng Jabeck: "Thưa thuyền trưởng, tôi sẽ ban hành lệnh giam giữ, không cho phép người đi lậu vé này lên bờ. Chuyện này do ông chịu trách nhiệm."
"Cứ yên tâm đi, chúng tôi sẽ chăm sóc tốt việc này," đại lý vận tải nói.
Viên chức nhập cư gật đầu. "Những thủy thủ khác đều đã được phê duyệt."
Những người chưa rời đi bắt đầu tản ra. Đột nhiên Stubby Gates lớn tiếng nói: "Thưa ngài, tôi có thể nói chuyện với ngài một chút được không?"
Viên chức nhập cư ngạc nhiên nhưng vẫn nói: "Được."
Những người đang đi ra cửa đều dừng bước, một hai người chần chừ quay lại.
"Tôi muốn nói về chuyện của Henry nhỏ."
"Cậu ta thì sao?" Giọng điệu của viên chức nhập cư chứa đựng sự sắc bén.
"Thế này. Hai ba ngày nữa là Giáng sinh rồi, lúc đó chúng tôi đều sẽ lên bờ, chúng tôi muốn biết liệu có thể để Henry đi cùng chúng tôi không, chỉ lên bờ ở lại một đêm thôi."
Viên chức nhập cư nghiêm giọng nói: "Tôi vừa nói là cậu ta phải ở lại trên tàu."
Stubby Gates lớn tiếng hơn: "Chuyện đó tôi biết rõ, nhưng ông không thể quên đi mấy cái quy tắc cứng nhắc của ông trong 5 phút thôi sao?" Anh vốn không định nổi nóng, nhưng sự khinh miệt của một thủy thủ đối với những viên chức không bao giờ ra khơi đã thúc đẩy cơn giận của anh.
"Anh nói đủ chưa!" Viên chức nhập cư gay gắt nói, mắt trừng trừng nhìn Gates.
Thuyền trưởng Jabeck bước tới, các thủy thủ trong phòng lập tức trở nên căng thẳng.
"Đối với ông có lẽ là đủ rồi, tên hợm hĩnh này." Stubby Gates nói với giọng thách thức. "Nhưng nếu một người hai năm không được xuống tàu, lại đúng dịp Giáng sinh chết tiệt..."
"Gates," thuyền trưởng nói khẽ, "đủ rồi đấy."
Cả hai bên đều im lặng. Mặt viên chức nhập cư đỏ bừng, nhưng sắc đỏ nhanh chóng tan biến. "Ý anh là, người tên Duval này đã hai năm không được lên bờ?"
"Thiếu chút nữa là hai năm," thuyền trưởng Jabeck đột nhiên xen vào một cách nhẹ nhàng. Tiếng Anh của ông rất rõ ràng, chỉ hơi mang âm hưởng Na Uy. "Kể từ khi người thanh niên này lên tàu của tôi 20 tháng trước, không một quốc gia nào cho phép cậu ấy lên bờ. Bất kể đến cảng nào, những gì tôi nghe được đều giống nhau: cậu ấy không có hộ chiếu, không có giấy tờ. Vì cậu ấy không thể rời xa chúng tôi, cậu ấy là người của chúng tôi." Thuyền trưởng giơ đôi bàn tay đặc trưng của người thủy thủ, các ngón tay dang rộng làm một cử chỉ chất vấn. "Việc này bảo tôi phải làm sao — lẽ nào vì không quốc gia nào chịu nhận mà ném cậu ấy xuống biển cho cá ăn sao?"
Những trái tim căng thẳng được thả lỏng. Vì tôn trọng thuyền trưởng, Stubby Gates lặng lẽ lùi lại.
Viên chức nhập cư lúc này đã hạ hỏa. Anh ta nghi hoặc nói: "Cậu ta tuyên bố mình là người Pháp vì sinh ra tại Somaliland thuộc Pháp."
"Không sai," thuyền trưởng đồng ý. "Đáng tiếc là Pháp cũng yêu cầu phải có giấy tờ, nhưng chàng trai này không có gì cả. Cậu ấy thề với tôi rằng mình không có bất kỳ giấy tờ nào, và tôi hoàn toàn tin điều đó. Cậu ấy rất trung thực, là một tay làm việc cừ khôi. 20 tháng là quá đủ để hiểu rõ điều này."
Henry Duval vẫn đứng một bên theo dõi sát sao cuộc trò chuyện, ánh mắt đầy hy vọng của anh chuyển từ khuôn mặt người này sang người khác. Lúc này ánh mắt anh lại rơi vào gương mặt viên chức nhập cư.
"Xin lỗi, cậu ấy không thể lên bờ ở Canada," có vẻ như viên chức nhập cư cảm thấy không yên tâm. Dù bề ngoài nghiêm khắc, nhưng anh ta không phải người sắt đá, đôi khi anh thực sự ước rằng chức trách của mình quy định mơ hồ hơn. Anh ta bổ sung thêm vẻ áy náy: "E rằng tôi không thể làm gì được, thưa thuyền trưởng."
"Một đêm lên bờ cũng không được sao?" Stubby Gates với sự bướng bỉnh của dân London vẫn ôm một tia hy vọng.
"Một đêm cũng không." Câu trả lời này nghe ra đã là kết luận cuối cùng. "Bây giờ tôi sẽ ban hành lệnh giam giữ."
Con tàu cập bến đã được một tiếng, bên ngoài tàu, màn đêm đã buông xuống.
Hơn 11 giờ đêm theo giờ Vancouver, khoảng hai giờ sau khi Thủ tướng đi ngủ tại dinh thự ở Ottawa, một chiếc xe taxi xuyên qua cơn mưa tầm tã lái đến lối vào tối om, trống trải của bến tàu Cape.
Hai người bước xuống xe. Một người là phóng viên của tờ "Vancouver Post", người kia là phóng viên ảnh của tờ báo đó.
Phóng viên tên là Dan Olive, khoảng ba mươi bảy, ba mươi tám tuổi, tuy là người vạm vỡ nhưng không hề vụng về. Anh có khuôn mặt hồng hào, má rộng, cử chỉ tùy tiện, khiến anh trông không giống một phóng viên tin tức thành công, đôi khi lạnh lùng, mà giống một người nông dân dễ gần. Ngược lại, phóng viên ảnh tên là Wally De Ville có thân hình gầy gò, cao hơn 6 feet, dáng đi nhanh và căng thẳng, lộ ra vẻ bi quan yếm thế.
Chiếc taxi lùi lại, Dan Olive nhìn quanh, vuốt phẳng cổ áo mưa. Do ánh đèn pha của chiếc taxi đang lùi lại đột ngột chiếu tới, xung quanh nhất thời không nhìn thấy gì. Nơi họ đứng xung quanh đều là những bóng ma mờ nhạt và những vũng nước đen ngòm hơi phản chiếu ánh sáng. Vạn vật tĩnh lặng; những tòa nhà trống rỗng thấp thoáng hiện ra những đường nét mờ ảo. Mắt họ dần thích nghi với bóng tối này, những cái bóng gần đó cũng lặng lẽ đi vào tiêu cự của anh. Anh thấy họ đang đứng trên một con dốc bê tông rộng rãi xây dựng song song với đường bờ biển.
Phía sau họ, theo hướng chiếc taxi đưa họ đến, có một thân kho chứa hình trụ giống như tháp và vài nhà kho đen ngòm xây trên bến tàu, bên cạnh chúng là những đống hàng hóa. Chúng đều được phủ bằng vải bạt chống nước, chất đống lộn xộn trên con dốc, hai bến tàu như hai cánh tay vươn ra trên mặt nước. Hai bên mỗi bến tàu đều neo đậu những con tàu, vài ngọn đèn phát ra ánh sáng mờ nhạt, cho mọi người biết ở đây tổng cộng có 5 con tàu đang neo đậu. Nhưng xung quanh không thấy bóng người nào, cũng không có bất kỳ động tĩnh gì.
De Ville vác máy ảnh và thiết bị nhiếp ảnh. Anh hất cằm về phía những con tàu đang neo đậu hỏi: "Là con tàu nào?"
Dan Olive dùng chiếc đèn pin bỏ túi mang theo kiểm tra một mẩu giấy, đó là thứ mà biên tập viên tin tức địa phương trực đêm đưa cho anh sau khi nhận được một cuộc điện thoại bí mật một giờ trước. "Con tàu chúng ta tìm tên là 'Västervik'," anh nói. "Tôi nghĩ nó chắc ở trong số những con tàu này." Anh rẽ phải, phóng viên ảnh đi theo anh. Từ lúc xuống taxi đến giờ đã được một, hai phút, nước mưa chảy ròng ròng xuống áo mưa của họ. Dan có thể cảm thấy ống quần mình đã ướt sũng, một dòng nước nhỏ chảy dưới cổ áo họ, rất khó chịu.
De Ville phàn nàn: "Họ nên lập một quầy thông tin ở đây, bên trong có một cô gái xinh đẹp ngồi." Họ cẩn thận đi qua một số thùng đóng gói và thùng dầu vỡ chất lộn xộn trên mặt đất. "Dù sao thì, người chúng ta cần tìm rốt cuộc là ai?"
"Là một người tên Henry Duval," Dan nói, "Theo tòa soạn, anh ta là một người không quốc tịch, không ai cho phép anh ta rời khỏi tàu nửa bước."
Phóng viên ảnh gật đầu nghiêm túc. "Một câu chuyện rất buồn, phải không? Tôi hiểu rồi, lại là một bài báo kiểu như có người vô gia cư trước đêm Giáng sinh."
"Đây cũng là một góc độ," Dan thừa nhận, "Có lẽ cậu nên là người viết nó."
"Tôi không được," De Ville nói, "Đợi chúng ta xong việc ở đây, tôi còn phải rửa ảnh. Hơn nữa tôi dám cá với anh, gã này là một kẻ lừa đảo."
Dan lắc đầu. "Ừm, có thể cậu thắng."
Họ đã đi đến giữa bến tàu bên phải, cẩn thận đi dọc theo một hàng xe chở hàng đường sắt. Cách họ 50 feet, nước biển phản chiếu ánh sáng trong bóng tối, tiếng mưa đập vào sóng trong vịnh cảng u ám vang lên rõ mồn một.
Họ kiễng chân vươn cổ nhìn số hiệu của con tàu đầu tiên. Số hiệu tàu được viết bằng tiếng Nga.
"Đi thôi," Dan nói, "Không phải con tàu này."
"Có thể là con tàu cuối cùng," phóng viên ảnh quả quyết. "Sự việc luôn là như vậy."
Kết quả con tàu thứ hai chính là "Västervik". 6 chữ lớn "Västervik" viết nổi bật, cao trên lớp ván tàu đầy những vết rỉ sét, sắp mục nát ở phía ngoài mũi tàu.
"Con tàu rách nát sắp bị loại bỏ này còn có thể đi biển sao?" De Ville hỏi với giọng hoài nghi. "Có phải ai đó đang nói dối không?"
Họ leo lên chiếc thang dây chông chênh, đứng trên nơi dường như là boong chính của tàu.
Vừa rồi nhìn từ bến tàu, ngay cả trong bóng tối, "Västervik" cũng là một con tàu tiều tụy. Bây giờ, nhìn từ góc độ gần như thế này, những dấu hiệu xuống cấp càng khiến người ta sửng sốt. Lớp sơn phai màu trên cấu trúc thượng tầng, cửa và vách ngăn của tàu đã phủ đầy những mảng rỉ sét lớn. Những vết sơn bong tróc có thể thấy ở khắp nơi. Nhờ ngọn đèn duy nhất trên thang dây, họ có thể thấy mặt boong dưới chân có một lớp bụi bẩn dày, bên cạnh là một cái thùng không nắp trông giống như thùng rác. Không xa phía trước họ, một chiếc quạt thông gió bằng thép đã gỉ sét, gãy rời khỏi vỏ quạt. Rõ ràng là do không thể sửa chữa được nữa, nên bị vứt bỏ vô ích trên boong tàu mặc cho gió bão quật vào.
Dan hít hà.
Phóng viên ảnh nói: "Anh cũng ngửi thấy rồi đúng không."
Mùi hôi thối của phân bón này tỏa ra từ khoang tàu.
"Chúng ta xem xuống dưới này," Dan nói. Anh mở cánh cửa thép ngay phía trước, đi xuống một hành lang hẹp.
Đi được vài mét, xuất hiện hai hành lang bên. Bên phải là một hàng cửa khoang nhỏ, rõ ràng đó là buồng ngủ của các sĩ quan cấp cao. Dan rẽ sang lối đi bên trái, tiến về phía một hành lang nhỏ không xa phía trước, vì từ hành lang đó tỏa ra một luồng ánh sáng. Hóa ra đó là nhà bếp trên tàu.
Stubby Gates mặc một bộ đồ bảo hộ đầy dầu mỡ, đang ngồi trên bàn đọc một cuốn tạp chí có in hình phụ nữ bán khỏa thân.
"Này, bạn," anh chào hỏi, "Các anh là ai?"
"Tôi là người của tờ 'Vancouver Post'," Dan nói với anh, "Tôi muốn tìm một người tên Henry Duval."
Gates cười toe toét vui vẻ, lộ ra hàm răng đầy vết rỉ đen. "Henry nhỏ vừa mới ở đây, bây giờ đã về khoang riêng của cậu ấy nghỉ ngơi rồi."
"Anh xem chúng tôi có thể gọi cậu ấy dậy không?" Dan hỏi, "Có lẽ chúng tôi nên gặp thuyền trưởng trước."
Gates lắc đầu. "Tốt nhất đừng làm phiền thuyền trưởng. Ông ấy không thích bị gọi dậy khi đang trong cảng. Nhưng tôi đoán tôi có thể đưa Henry đến gặp các anh." Anh liếc nhìn De Ville. "Gã này làm gì thế."
"Anh ta là người chụp ảnh."
Gates đứng dậy, nhét cuốn tạp chí in hình phụ nữ bán khỏa thân vào trong bộ đồ bảo hộ. "Được thôi, các ngài." Anh nói, "Theo tôi."
Họ đi qua hai cửa thang, lại đi về phía trước. Trên hành lang mờ nhạt chỉ có một bóng đèn công suất thấp đang sáng. Stubby Gates gõ mạnh vài cái vào cửa, vặn khóa, mở cửa, đưa tay mò mẫm bật đèn lên.
"Dậy đi, Henry," anh ta lớn tiếng gọi. "Có hai vị khách muốn gặp cậu." Anh ta lùi lại phía sau, gật đầu với Dan.
Dan tiến lại gần cửa, nhìn thấy một người dáng vẻ gầy gò, đôi mắt còn ngái ngủ đang ngồi dậy trên chiếc giường kim loại nhỏ trong phòng. Lúc này, Dan mới đưa mắt nhìn ra phía sau người đó.
Trời ạ! Anh thầm nghĩ, nơi này mà cũng gọi là chỗ ở sao?
Cả căn phòng trông như một chiếc hộp sắt, diện tích chỉ khoảng 6 feet vuông. Vách ngăn vốn dĩ được sơn màu vàng nâu, nhưng giờ đây phần lớn lớp sơn đã bong tróc, thay vào đó là những mảng rỉ sét loang lổ. Cả sơn và rỉ sắt đều bị bao phủ bởi lớp hơi nước ẩm ướt, ở những nơi độ ẩm cao, hơi nước đã ngưng tụ thành những giọt nước, rỉ rả chảy xuống. Chiếc "giường" kia chiếm trọn chiều dài và gần như toàn bộ chiều rộng của vách ngăn. Phía trên nó là một cái kệ nhỏ rộng khoảng 1,6 feet. Bên dưới là một cái thùng sắt. Đó là tất cả những gì có trong khoang.
Trong khoang không có cửa sổ, cũng chẳng có cửa hầm, chỉ có một thiết bị tạm gọi là lỗ thông hơi nằm ở phía trên sát vách ngăn.
Không khí trong khoang vô cùng ngột ngạt.
Henry Duval dụi mắt, liếc nhìn hai người đàn ông ngoài cửa.
Điều khiến Dan Olive kinh ngạc là kẻ trốn vé này trông còn quá trẻ. Cậu ta có khuôn mặt tròn trịa, không mấy ấn tượng, vóc dáng cân đối, đôi mắt đen sâu thẳm. Cậu mặc một chiếc áo lót bên trong, khoác ngoài một chiếc áo sơ mi flannel phanh ngực, bên dưới là chiếc quần vải chéo màu xanh. Thân hình ẩn sau lớp quần áo này xem chừng khá rắn rỏi.
"Chào buổi tối," Dan nói bằng tiếng Pháp. "Xin lỗi vì đã làm phiền giấc ngủ của cậu đêm nay, nhưng chúng tôi đến từ tòa soạn, chúng tôi biết cậu có một chuyện rất quan trọng cần nói với chúng tôi."
Henry Duval chậm rãi lắc đầu.
"Nói tiếng Pháp không được đâu," Stubby Gates chen vào. "Nó không hiểu tiếng Pháp. Xem chừng ngôn ngữ của nó đã bị xáo trộn từ khi còn rất nhỏ. Tốt nhất là nói chuyện với nó bằng tiếng Anh, nhưng phải nói chậm một chút."
"Được thôi," Dan quay lại, từng chữ một nói với Duval: "Tôi đến từ tờ 'Vancouver Post'. Đây là một tờ báo. Chúng tôi muốn tìm hiểu về cậu. Cậu hiểu chứ?"
Duval không trả lời. Dan lại thử nói: "Tôi muốn trò chuyện với cậu. Sau đó viết một bài báo về cậu."
"Tại sao ông viết?" Trong câu nói đầu tiên của Duval chứa đựng sự kinh ngạc và nghi hoặc đan xen.
Dan kiên nhẫn đáp: "Có lẽ tôi có thể giúp cậu. Cậu có muốn xuống tàu không?"
"Ông giúp tôi xuống tàu? Tìm việc làm? Sống ở Canada?" Ba câu hỏi này được thốt ra một cách vụng về, nhưng lại ẩn chứa sự khẩn thiết không thể nghi ngờ.
Dan lắc đầu. "Không, tôi không làm được những việc đó. Nhưng rất nhiều người sẽ đọc bài báo tôi viết. Biết đâu người nào đó đọc được tin này sẽ có thể giúp cậu."
Stubby Gates xen vào: "Henry, cậu sợ cái gì chứ? Việc này chẳng hại gì cho cậu cả; thậm chí còn có thể có lợi đấy."
Henry Duval dường như đang suy nghĩ.
Dan chăm chú quan sát cậu. Trong mắt Dan, bất kể xuất thân của chàng trai trốn vé này là gì, cậu ta rõ ràng toát lên một vẻ tôn nghiêm đặc biệt nhưng không mấy nổi bật.
Lúc này, cậu gật đầu, chỉ nói vỏn vẹn một câu: "Được thôi."
"Nghe này, Henry," Stubby Gates nói, "cậu đi rửa mặt đi, tôi và hai vị khách này sẽ đợi cậu ở nhà bếp phía trên."
Duval gật đầu, chậm rãi bước xuống giường.
Khi họ rời khỏi khoang nhỏ, De Ville khẽ thở dài: "Thằng bé đáng thương."
"Nó luôn bị nhốt trong khoang như thế này sao?" Dan hỏi.
"Chỉ vào buổi tối, khi chúng tôi cập cảng mới nhốt nó lại thôi," Stubby Gates nói. "Đó là lệnh của thuyền trưởng."
"Tại sao?"
"Để đề phòng nó tự ý xuống tàu. Thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm về nó, hiểu chưa?" Gates dừng lại ở đầu thang lên xuống, "Ở đây còn tốt hơn nước Mỹ. Khi tàu chúng tôi cập cảng San Francisco, họ từng còng tay nó vào giường đấy."
Họ đi đến cửa nhà bếp rồi bước vào.
"Uống chút trà không?" Stubby Gates nói.
"Được," Dan đáp, "cảm ơn."
Gates lấy ra 3 chiếc tách trà, đi đến trước ấm trà tráng men đặt trên bếp ga, rót ra một loại đồ uống màu đen sẫm đã pha sẵn sữa. Sau đó, anh ta đặt 3 tách đầy ắp lên bàn ăn, ra hiệu cho họ ngồi xuống.
"Trên con tàu kiểu này, luôn có cơ hội để gặp đủ loại người," Dan nói.
"Chính xác, thưa ông," Gates cười toe toét, "đủ mọi vóc dáng, màu da, chiều cao. Còn có cả những người thần kinh không bình thường, những kẻ kỳ quặc." Anh ta cố tình liếc nhìn họ.
"Ông thấy Henry Duval thế nào?" Dan hỏi.
Stubby Gates uống một ngụm trà lớn từ tách của mình rồi đáp:
"Nó là một đứa nhỏ rất tử tế. Tất cả chúng tôi đều quý nó. Bất kể chúng tôi bảo nó làm việc gì, nó đều làm, mặc dù là một kẻ trốn vé thì nó không nhất thiết phải làm những công việc đó. Đó là luật lệ trên biển," anh ta nói một cách sành sỏi.
"Khi nó trốn lên tàu này, ông đã ở trên tàu rồi à?" Dan hỏi.
"Đúng vậy! Hai ngày sau khi rời Beirut chúng tôi mới phát hiện ra nó. Lúc đó nó gầy như một cái cán chổi khó ưa. Tôi đoán chắc thằng bé đáng thương này đã phải nhịn đói rất lâu trước khi lên tàu."
De Ville nếm thử một ngụm trà trong tách rồi đặt xuống.
"Dở tệ, đúng không?" Chủ nhà vui vẻ nói. "Uống vào cứ như vị kẽm cô đặc ấy. Chúng tôi chở đầy một tàu thứ này ở Chile. Kết quả là đâu đâu cũng thấy nó—trong tóc, trong mắt, thậm chí cả trong trà."
"Cảm ơn," nhiếp ảnh gia nói, "vậy là tôi đến bệnh viện cũng có chuyện để nói rồi."
10 phút sau, Henry Duval đến nhà bếp. Cậu đã rửa mặt mũi sạch sẽ, chải tóc gọn gàng, cạo râu, và khoác thêm một chiếc áo lót hải quân màu xanh bên ngoài sơ mi. Mặc dù quần áo đều đã cũ nhưng rất sạch sẽ. Dan nhận ra vết rách trên quần của cậu đã được khâu vá lại rất chỉn chu.
"Lại đây, ngồi xuống nói chuyện đi, Henry," Stubby Gates nói. Anh ta rót tách trà thứ tư đặt trước mặt Duval. Duval mỉm cười cảm ơn, đây là lần đầu tiên cậu nở nụ cười trước mặt hai nhà báo, điều đó khiến khuôn mặt cậu bừng sáng, trông giống một đứa trẻ hơn.
Dan bắt đầu bằng những câu hỏi đơn giản. "Cậu bao nhiêu tuổi?"
Dừng lại một lúc, Duval nói: "Tôi 23."
"Sinh ra ở đâu?"
"Tôi sinh ra trên tàu."
"Tên con tàu là gì?"
"Tôi không biết."
"Vậy làm sao cậu biết mình sinh ra trên tàu?"
Lại dừng một lúc, Duval nói: "Tôi không hiểu."
Dan kiên nhẫn lặp lại câu hỏi vừa rồi. Lần này Duval gật đầu hiểu ý, đáp: "Mẹ tôi kể cho tôi."
"Mẹ cậu là người nước nào?"
"Bà ấy là người Pháp."
"Mẹ cậu hiện đang ở đâu?"
"Bà ấy chết rồi."
"Mất khi nào?"
"Nhiều năm trước rồi—ở Addis Ababa."
"Cha cậu là ai?" Dan hỏi.
"Tôi không biết ông ấy."
"Mẹ cậu có từng nói gì về ông ấy với cậu không?"
"Ông ấy là người Anh, một thủy thủ. Tôi chưa từng gặp."
"Cậu cũng chưa từng nghe nói tên ông ấy là gì sao?"
Cậu lắc đầu phủ nhận.
"Cậu có anh chị em không?"
"Không có anh chị em."
"Mẹ cậu mất khi nào?"
"Xin lỗi—tôi không biết."
Dan đổi góc độ đặt lại câu hỏi: "Cậu có biết năm mẹ cậu mất cậu bao nhiêu tuổi không?"
"Tôi 6 tuổi."
"Sau đó, ai chăm sóc cậu?"
"Tôi tự chăm sóc mình."
"Cậu có từng đi học không?"
"Không có trường học."
"Cậu có biết chữ không?"
"Tôi biết viết tên mình—Henry Duval."
"Ngoài ra không biết gì nữa sao?"
"Tôi biết viết tên," Duval khẳng định, "tôi viết cho ông xem."
Dan đẩy tờ giấy và cây bút chì trên bàn về phía cậu, Duval dùng bàn tay run rẩy, ngây ngô viết từng nét tên mình. Cái tên cậu viết ra chỉ miễn cưỡng nhận diện được.
Dan xua tay hỏi: "Tại sao cậu lại trốn lên con tàu này?"
Duval nhún vai nói: "Tôi thử tìm một quốc gia." Cậu chật vật chọn từ ngữ, rồi nói thêm: "Lebanon không tốt."
"Tại sao không tốt?" Dan bất giác cũng dùng thứ tiếng Anh giản lược của chàng trai trốn vé này.
"Tôi không phải công dân. Nếu cảnh sát phát hiện—tôi sẽ vào tù."
"Cậu đến Lebanon bằng cách nào?"
"Tôi đi tàu."
"Đó là con tàu gì?"
"Tàu Ý. Xin lỗi—tôi không nhớ tên tàu."
"Cậu là hành khách trên con tàu Ý đó sao?"
"Tôi trốn vé. Tôi ở trên tàu một năm. Muốn xuống tàu. Không ai nhận tôi."
Stubby Gates xen vào: "Theo tôi đoán, lúc đó nó đi một con tàu chở hàng không định kỳ của Ý, hiểu chưa? Con tàu đó đi lại ở Trung Đông. Vì vậy nó đã nhảy lên tàu đó ở Beirut. Hiểu không?"
"Hiểu rồi," Dan nói. Sau đó anh quay sang Duval. "Trước khi lên tàu Ý cậu làm gì?"
"Tôi ở cùng người ta và lạc đà. Họ cho tôi ăn, tôi làm việc. Chúng tôi từng đến Somalia, Ethiopia, Ai Cập." Tay cậu vung vẩy, chật vật nói ra tên những quốc gia này. "Khi tôi còn nhỏ, qua biên giới được, không ai quản. Đến khi tôi lớn, họ không cho qua—không ai cần cả."
"Chính là lúc đó cậu trốn lên con tàu Ý kia?" Dan hỏi. "Đúng không?"
Duval gật đầu đồng ý.
Dan hỏi: "Cậu có hộ chiếu, giấy tờ, hay bất kỳ bằng chứng nào chứng minh mẹ cậu là người nước nào không?"
"Không có giấy tờ."
"Cậu thuộc về quốc gia nào?"
"Không có quốc gia."
"Cậu có muốn có một quốc gia không?"
Duval có vẻ hơi khó hiểu.
"Ý tôi là," Dan chậm rãi nói, "cậu muốn xuống con tàu này, cậu đã từng nói với tôi như vậy."
Cậu gật đầu mạnh để biểu thị sự đồng ý.
"Vậy là cậu muốn có một quốc gia—một nơi để ở?"
"Tôi làm việc," Duval khẳng định, "tôi làm việc giỏi."
Dan Olive lại một lần nữa nhìn kỹ kẻ trốn vé trước mặt. Thân thế không nhà không cửa của cậu ta là thật sao? Cậu ta thực sự là một đứa trẻ bị bỏ rơi, không quốc gia nào nhận, không nơi nào dung chứa? Cậu ta là một người không quốc tịch sao? Hay tất cả những điều này đều là giả mạo, là câu chuyện được thêu dệt tỉ mỉ để lấy lòng thương hại? Một câu chuyện pha trộn giữa dối trá và sự thật?
Chàng trai trốn vé trông rất trung thực. Nhưng liệu cậu ta có thực sự trung thực?
Đôi mắt cậu lộ vẻ cầu khẩn, nhưng trong ánh nhìn ấy dường như còn ẩn giấu một nét gì đó khó hiểu. Liệu đây có phải là sự xảo trá, hay trí tưởng tượng của chính anh đang đùa giỡn?
Dan Olive do dự. Anh biết bất kể bài báo lần này anh viết ra sao, nó cũng sẽ bị đối thủ cạnh tranh của tờ Post là tờ "Vancouver Immigration News" soi mói và kiểm chứng kỹ lưỡng.
Vì không có thời hạn chót cuối cùng, anh có thể tự quyết định mất bao nhiêu thời gian để hoàn thành bài báo này. Anh quyết định phải làm rõ những nghi hoặc của mình trước.
"Henry," anh hỏi Duval, "cậu tin tôi không?"
Trong một khoảnh khắc, vẻ nghi hoặc ban đầu lại quay trở lại trong mắt chàng trai trẻ. Ngay sau đó, cậu bất ngờ gật đầu.
"Tôi tin," cậu đáp ngắn gọn.
"Tốt lắm," Dan nói, "tôi nghĩ có lẽ tôi có thể giúp cậu. Nhưng tôi muốn biết tất cả về cậu, kể từ đầu." Anh liếc nhìn De Ville đang lắp đèn flash máy ảnh. "Chúng ta chụp vài bức ảnh trước, rồi nói chuyện sau. Đừng bỏ sót chuyện gì, cũng không cần vội, chuyện này không phải nói một hai câu là rõ được."
Henry Duval vẫn mệt mỏi ngồi trong nhà hàng của con tàu "Vastervik".
Nhà báo Dan là một người có tài đặt câu hỏi.
Duval đôi khi cảm thấy rất khó để hiểu rõ nhà báo đó muốn biết điều gì.
Anh liên tục đặt câu hỏi và mong chờ nhận được câu trả lời rõ ràng. Hơn nữa, mỗi câu trả lời của Duval đều được ghi lại nhanh chóng trên xấp giấy đặt trên bàn. Ngòi bút di chuyển nhanh thoăn thoắt ấy dường như tái hiện cuộc đời Duval theo thứ tự thời gian một cách tỉ mỉ. Tuy nhiên, cuộc đời cậu trắc trở như vậy, làm gì có thứ tự nào? Chỉ có những mảnh ghép không liên quan đến nhau. Đồng thời, rất nhiều chuyện không thể diễn đạt bằng những từ ngữ đơn giản của Duval, thậm chí ngay cả việc ghi nhớ bối cảnh xảy ra cũng rất khó khăn.
Nếu cậu biết chữ, có thể dùng bút và giấy ghi lại những điều trong đầu như nhà báo này và những người khác, thì Henry Duval cũng có thể lưu giữ lại ký ức và suy nghĩ ngày trước. Không phải tất cả mọi thứ đều có thể chứa trong đầu lâu dài, giống như để đồ vật lên kệ, không sợ vì lãng quên mà biến mất, giống như những chuyện cậu đang cố vắt óc nhớ lại bây giờ, vì lãng quên mà tan biến không dấu vết.
Mẹ cậu từng nhắc đến chuyện cho cậu đi học. Bản thân bà khi còn nhỏ đã được giáo dục. Đó là chuyện của nhiều năm về trước, trước khi cậu đủ khả năng tiếp nhận giáo dục thì mẹ cậu đã qua đời. Sau đó không còn ai quan tâm cậu học cái gì, hay có cơ hội học tập hay không.
Cậu cau mày, cố gắng lục lọi trong trí nhớ những chuyện cũ; tìm mọi cách trả lời câu hỏi của nhà báo; hồi tưởng, hồi tưởng, hồi tưởng...
Đầu tiên là con tàu đó. Mẹ cậu từng kể cho cậu nghe về con tàu ấy, chính trên con tàu đó cậu đã chào đời. Con tàu đó khởi hành từ Djibouti thuộc Pháp một ngày trước khi cậu sinh ra, cậu chắc chắn mẹ từng nói cho cậu biết điểm đến của con tàu, nhưng cậu đã quên từ lâu. Hơn nữa bà còn nói với cậu con tàu treo cờ nước nào, nhưng điều này cũng bị cậu quên sạch.
Lúc cậu chào đời là ca sinh khó, và không có bác sĩ. Mẹ cậu sau khi sinh cơ thể rất yếu, lại còn sốt cao. Thuyền trưởng ra lệnh quay đầu tàu, trở về Djibouti. Con tàu vừa cập bến, hai mẹ con liền được đưa vào một bệnh viện dành cho người nghèo. Lúc đó họ rất nghèo, không có tiền, sau này cũng luôn như vậy.
Henry nhớ mẹ rất lương thiện và chu đáo. Trong ấn tượng của cậu mẹ rất xinh đẹp, nhưng có lẽ đây chỉ là tưởng tượng, vì dung mạo mẹ trong ký ức cậu đã phai nhạt. Bây giờ mỗi khi nhớ về mẹ, khuôn mặt bà giống như đang nằm trong bóng tối, diện mạo mờ mờ ảo ảo. Nhưng bà đã dành tình mẫu tử cho cậu; điều này cậu chắc chắn mình tuyệt đối không nhớ nhầm, vì đây là tình yêu duy nhất cậu được hưởng.
Ký ức của cậu về thời thơ ấu chỉ là những mảnh ghép rời rạc, cậu nhớ chỉ cần có thể, mẹ luôn làm việc để hai mẹ con được ấm no, chỉ là bà thường không tìm được việc. Cậu không thể nhớ mẹ đã từng làm những công việc gì, nhưng cậu nhớ có một lần bà làm vũ nữ. Hai mẹ con thường xuyên phiêu bạt khắp nơi—từ Somalia thuộc Pháp chuyển đến Ethiopia, đầu tiên sống ở Addis Ababa, sau đó đến Massawa. Có hai ba lần họ gian nan lặn lội giữa Djibouti và Addis Ababa.
Mặc dù họ rất nghèo khó, nhưng lúc đầu họ sống cùng người Pháp. Sau đó, vì ngày càng nghèo đi, khu vực người bản địa đã trở thành nhà của họ. Năm Henry Duval 6 tuổi, mẹ cậu rời bỏ nhân gian. Ký ức về tình hình sau khi mẹ mất lại mơ hồ không rõ. Có một khoảng thời gian, cậu lang thang trên phố, sống bằng nghề ăn xin, tối đến ngủ trong những hang hốc hoặc góc tường mà cậu tìm được. Cậu chưa từng tìm chính quyền; cũng chưa từng nhận thức được sự cần thiết đó, vì trong phạm vi sinh tồn này của cậu, cảnh sát luôn là kẻ thù chứ không phải bạn.
Không biết bao lâu sau, một ông lão người Somalia đơn độc đã cưu mang cậu. Ông lão sống trong một túp lều rách nát ở khu người bản địa. Họ nương tựa vào nhau sống suốt 5 năm. Sau đó không biết vì lý do gì, ông lão bỏ đi. Henry Duval lại rơi vào cảnh cô độc một mình.
Lần này cậu vượt biển từ Ethiopia đến Somalia thuộc Anh, có việc gì làm nấy. Trong 4 năm, cậu thay đổi công việc mấy lần, từng làm phụ chăn cừu, người trông dê và công nhân tàu. Cậu dùng số tiền lương ít ỏi đến đáng thương của mình miễn cưỡng duy trì sự sống bấp bênh mỗi ngày.
Vào thời điểm đó và một khoảng thời gian sau đó, vượt biên giới đối với Henry là chuyện dễ như trở bàn tay. Rất nhiều gia đình dắt díu con cái di cư sang nước khác, đến mức các quan chức ở trạm kiểm soát biên giới hiếm khi hỏi han từng đứa trẻ. Lúc đó chỉ cần cậu trà trộn vào một gia đình nào đó là có thể qua trạm kiểm soát mà không gây chú ý. Dần dần, cậu làm việc này ngày càng thành thạo. Ngay cả khi cậu 17, 18 tuổi, nhờ vóc dáng gầy gò, việc này vẫn diễn ra suôn sẻ. Cậu từng theo chân một số người du mục Ả Rập thường xuyên vượt biên giới, cho đến năm 20 tuổi, lần đầu tiên cậu bị chặn lại ở biên giới Somalia thuộc Pháp và bị đuổi về.
Henry Duval đột nhiên phát hiện ra hai sự thật. Một là: những ngày cậu tùy ý trà trộn qua biên giới cùng đám bạn nhỏ đã không còn nữa. Hai là: Somalia thuộc Pháp - nơi cậu luôn coi là quê hương cho đến lúc đó - cũng từ chối cậu. Đối với sự thật thứ nhất cậu đã đoán trước được; còn sự xuất hiện của sự thật thứ hai là một cú sốc lớn đối với cậu.
Cậu định mệnh phải gặp một nguyên tắc cơ bản của xã hội hiện đại: đó là, không có tài liệu hồ sơ. Không có những giấy tờ quan trọng, quan trọng nhất là giấy khai sinh, nếu một người không có giấy tờ gì cả, thì về mặt pháp luật cậu ta không hề tồn tại, trên trái đất vốn bị chia cắt thành các lãnh thổ khác nhau này, cậu ta không có chỗ đứng.
Ngay cả đối với những người có tri thức, họ cũng cảm thấy sự thật này rất khó chấp nhận, đối với Henry Duval - kẻ nhặt rác không một chút văn hóa, từ thời thơ ấu đã luôn không được ai yêu mến - sự thật này đơn giản là một đòn chí mạng. Những người du mục Ả Rập kia tiếp tục lên đường, bỏ mặc Duval lại Ethiopia. Lúc này cậu đã nhận thức được mình cũng không có quyền lưu lại quốc gia này. Suốt một ngày một đêm, cậu co quắp ngồi bên trạm kiểm soát biên giới lâu đài Hadle...
...Ở đó có một tảng đá lớn trải qua bao mưa nắng, bị phơi trắng xóa. Ở nhiều phương diện, chàng trai 20 tuổi này vẫn là một đứa trẻ chưa ráo máu đầu. Cậu đơn độc trú thân dưới tảng đá, không động đậy. Ngay phía trước cậu là vùng bình nguyên Somalia khô cằn, đầy sỏi đá. Dưới ánh trăng nó vô cùng thê lương, dưới ánh mặt trời gay gắt giữa trưa nó hoang vu, như một con rắn màu nâu sẫm uốn lượn nằm ngang trên vùng bình nguyên này là con đường nhựa màu nâu xám dẫn đến Djibouti. Ở cuối con đường chính là quá khứ của Henry Duval. Thời thơ ấu, tuổi trưởng thành, thân xác và cuộc sống sống động nhưng không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh của cậu, cùng với thành phố ven biển tắm mình trong ánh nắng kia, những con hẻm đầy mùi cá tanh của thành phố đó, và bến tàu phủ đầy muối mà cậu coi là nơi mình sinh ra và là mái nhà duy nhất.
Đột nhiên, vùng đất không người phía trước trông thật quen thuộc, thật quyến rũ. Giống như một người bị bản năng nguyên thủy thu hút về nơi mình sinh ra và bên cạnh tình mẫu tử, lúc này cậu cũng khao khát được trở về Djibouti. Nhưng hiện giờ đây là điều không thể với tới, giống như rất nhiều thứ khác, đều đã trở thành không thể với tới, và sẽ mãi mãi không thể với tới.
Sau đó, dưới sự dày vò của đói khát, cậu đứng dậy. Cậu quay người rời khỏi quốc gia cấm mình nhập cảnh, đi về phía bắc, vì cậu phải đến một nơi nào đó, đến Eritrea và Biển Đỏ.
Eritrea là một tỉnh trên bờ biển phía tây Ethiopia, hành trình đến đó là một lần cậu nhớ rất rõ. Cậu còn nhớ trong chuyến đi đó, lần đầu tiên cậu bắt đầu kế hoạch trộm cắp. Trước đây cậu từng ăn trộm thức ăn, nhưng đó chỉ là khi không còn đường ăn xin, không có đường làm việc, rơi vào đường cùng mới làm vậy. Bây giờ cậu không còn tìm việc làm nữa, cậu chỉ sống bằng nghề trộm cắp. Chỉ cần có cơ hội cậu vẫn ăn trộm chút thức ăn, cũng trộm cả hàng hóa và vài món đồ nhỏ để bán lấy chút tiền tiêu vặt. Số tiền ít ỏi cậu có được dường như vừa đến tay đã tiêu hết, nhưng sâu trong tâm trí, cậu vẫn muốn tích cóp chút tiền, trả tiền tàu, rồi đến một nơi nào đó có thể dung chứa cậu, và có thể bắt đầu lại cuộc sống.
Cuối cùng, cậu đến Massawa. Đây là một cảng san hô, đồng thời cũng là cửa ngõ từ Ethiopia tiến vào Biển Đỏ.
Tại Massawa, suýt chút nữa anh đã phải nhận hình phạt vì tội ăn trộm. Có lần, anh len lỏi vào đám đông trước sạp hàng của một người bán cá, chôm chỉa một con cá nhưng bị gã tiểu thương tinh mắt phát hiện và đuổi theo. Trong đám đông, vài người khác cũng hùa vào cuộc truy bắt, bao gồm cả một viên cảnh sát. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, đôi tai non nớt và kinh hãi của Henry Duval đã nhận ra đám đông giận dữ đang truy đuổi gắt gao phía sau mình đã nhanh chóng tăng lên thành một nhóm người lớn. Anh tuyệt vọng chạy trốn, dẫn dụ đám người chạy vòng quanh các tòa nhà san hô ở Massawa, băng qua những con hẻm nhỏ như mê cung trong khu dân cư địa phương. Cuối cùng, anh cắt đuôi được đám người, chạy về phía bến tàu và ẩn nấp giữa những kiện hàng đang chờ bốc lên tàu. Từ một lỗ nhỏ, anh nhìn thấy những kẻ truy đuổi mình tìm kiếm xung quanh một hồi rồi thất vọng bỏ đi.
Nhưng sự việc này gây chấn động quá lớn đối với anh, anh quyết tâm bằng mọi giá phải rời khỏi Ethiopia. Ngay trước chỗ ẩn náu của anh có một chiếc tàu chở hàng đang neo đậu. Khi màn đêm buông xuống, anh leo lên tàu, lách qua boong dưới rồi lủi vào một chiếc thùng chứa đồ tối om để trốn. Sáng hôm sau, con tàu khởi hành. Hai giờ sau, anh bị phát hiện và bị dẫn đến gặp thuyền trưởng.
Đây là một con tàu đốt than cũ kỹ của Ý, cứ liên tục bị nước biển rò rỉ vào khoang, chỉ miễn cưỡng chạy qua lại giữa vịnh Aden và vùng biển Địa Trung Hải.
Vị thuyền trưởng người Ý đầy vẻ mệt mỏi đang dùng móng tay cạy bụi bẩn ra ngoài một cách ghê tởm, trong khi Henry Duval đứng run rẩy trước mặt ông ta.
Vài phút sau, thuyền trưởng cất tiếng hỏi một câu bằng tiếng Ý đầy gay gắt. Không có phản ứng. Ông ta thử dùng tiếng Anh, rồi đến tiếng Pháp, nhưng vẫn không thu được kết quả gì. Duval từ lâu đã quên mất chút tiếng Pháp học được từ mẹ mình, ngôn ngữ hiện tại của anh là một thứ hỗn tạp giữa tiếng Ả Rập, tiếng Somali và tiếng Amharic, còn pha trộn thêm từ vựng của hơn 70 ngôn ngữ và gấp đôi số phương ngữ được sử dụng trên khắp Ethiopia.
Thuyền trưởng thấy không thể giao tiếp với anh, liền nhún vai đầy thờ ơ. Việc có người trốn vé trên tàu chẳng có gì lạ, thuyền trưởng cũng chẳng cần bận tâm đến luật hàng hải phiền phức đó, liền sai người sắp xếp cho Duval làm việc. Ý định của ông ta là sẽ tống khứ kẻ trốn vé này xuống tàu ở lần cập cảng tiếp theo.
Tuy nhiên, điều mà thuyền trưởng không ngờ tới là Henry Duval là một người không quốc tịch. Tại bất kỳ cảng nào con tàu ghé qua, kể cả Massawa, nơi con tàu quay trở lại sau vài tháng, các nhân viên nhập cư đều từ chối cho anh lên bờ.
Theo thời gian Duval ở lại trên tàu, sự bực bội của thuyền trưởng cũng tăng dần. 10 tháng sau, ông ta gọi thuyền phó đến bàn cách giải quyết, họ nảy ra một ý tưởng. Thuyền phó theo lệnh truyền đạt lại ý tưởng đó cho Duval thông qua một phiên dịch viên. Kế hoạch của họ là tìm mọi cách hành hạ Duval cả về đời sống lẫn công việc, khiến anh cảm thấy khổ sở không chịu nổi, đến mức cuối cùng phải tự nguyện nhảy xuống khỏi con tàu này. Dần dần, sau hai tháng chịu đựng những công việc quá sức, những trận đòn roi và sự tra tấn vì đói khát, Duval thực sự đã làm như vậy.
Duval nhớ rất rõ, đêm đó anh lặng lẽ lẻn xuống cầu thang của con tàu Ý. Đó là tại Beirut, Lebanon, nơi đây là một vùng đệm nhỏ giữa Syria và Israel, nơi truyền thuyết kể rằng Saint George đã giết con rồng của mình tại Israel.
Sự rời đi của anh cũng giống như lúc anh đến, đều trong bóng tối; tuy nhiên, rời đi lại dễ dàng hơn nhiều, bởi vì anh chẳng có gì để mang theo, ngoài bộ quần áo rách rưới trên người, anh chẳng có gì cả. Sau khi lên bờ, việc đầu tiên anh làm là vội vã băng qua xưởng đóng tàu, muốn lủi vào nội thành. Nhưng khi nhìn thấy một người mặc đồng phục ở phía trước nơi có ánh đèn sáng rực, anh lập tức mất hết can đảm, quay đầu chạy thục mạng, tìm chỗ ẩn nấp trong bóng tối. Sự trinh sát tiếp theo cho thấy, xưởng đóng tàu có tường rào bảo vệ và có người tuần tra. Anh cảm thấy toàn thân run rẩy; anh mới 21 tuổi, sự đói khát khiến cơ thể anh suy nhược, hơn nữa anh còn cảm nhận được một nỗi cô đơn khó tin và nỗi sợ hãi tuyệt vọng.
Ngay khi anh rời đi, một cái bóng khác lại sừng sững hiện ra trước mắt anh, đó là một con tàu.
Ban đầu anh còn tưởng mình đã quay lại cạnh con tàu Ý đó. Ý định lúc bấy giờ của anh là lại lén lút lẻn lên tàu. Chịu đựng nỗi khổ mà anh đã quá quen thuộc vẫn tốt hơn là bị cảnh sát bắt rồi tống vào tù. Sau đó, anh nhận ra cái bóng đó không phải con tàu Ý, mà là một con tàu lớn hơn. Anh vội vã trốn lên đó, như một con chuột chui vào hang. Con tàu này chính là tàu Västervik hiện tại. Anh biết điều này hai ngày sau khi lên tàu, khi con tàu đi được 20 dặm trên biển, cơn đói cuối cùng đã chiến thắng nỗi sợ hãi, thúc đẩy anh run rẩy bước ra khỏi chỗ ẩn náu.
Thuyền trưởng của tàu "Västervik", Sigurd Jeppek, hoàn toàn khác với vị thuyền trưởng người Ý kia. Vị thuyền trưởng này là người Na Uy, ăn nói chậm rãi, nghiêm khắc với mọi người nhưng rất công bằng. Ông tôn trọng những giới luật trong Kinh Thánh mà ông tin tưởng, đồng thời cũng tôn trọng luật hàng hải. Thuyền trưởng Jeppek nghiêm khắc nhưng rất tỉ mỉ giải thích cho Henry Duval rằng, người trốn vé không bắt buộc phải làm việc, nhưng có thể tự nguyện làm một số việc, chỉ là không có tiền công. Tóm lại, dù anh có làm việc hay không, anh đều nhận được khẩu phần ăn nhiều như các thủy thủ khác. Duval chọn phương án sau – tự nguyện làm việc.
Giống như vị thuyền trưởng tàu buôn Ý kia, thuyền trưởng Jeppek cũng một lòng muốn tống khứ kẻ trốn vé này đi ngay khi tàu cập cảng. Nhưng khác với gã thuyền trưởng Ý, sau khi biết Duval không dễ dàng bị loại bỏ đến thế, ông không hề nảy sinh ý định ngược đãi anh.
Cứ như vậy, Henry Duval ở lại trên tàu 20 tháng. Trong thời gian này, "Västervik" đã đi qua một nửa đại dương trên trái đất để vận chuyển hàng hóa. Họ đơn điệu và chậm chạp di chuyển trên Địa Trung Hải, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Họ từng đến Bắc Phi, Bắc Âu, Nam Âu, Anh, Nam Mỹ, Mỹ và Canada. Mỗi khi đến một nơi, thuyền trưởng đều xin phép cho Henry Duval lên bờ, nhưng những đơn xin này đều bị từ chối thẳng thừng. Lý do mà các quan chức tại cảng đưa ra đều trùng khớp: Kẻ trốn vé này không có giấy tờ, không có danh tính, không có quốc tịch, cũng không có quyền hạn.
Sau đó, "Västervik" an tâm chấp nhận Duval làm thủy thủ vĩnh viễn. Chẳng bao lâu sau, chàng trai trốn vé trẻ tuổi này đã trở thành "cục cưng" trên tàu.
Thủy thủ đoàn trên tàu "Västervik" bao gồm các thủy thủ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, trong đó có thủy thủ người Ba Lan, người Scandinavia, người Ấn Độ, một thủy thủ người Trung Quốc, một thủy thủ người Mỹ và vài thủy thủ người Anh. Stubby Gates là thủ lĩnh được công nhận của những thủy thủ người Anh này. Chính nhóm người này đã chấp nhận Duval, khiến cuộc sống của anh dù không nói là thoải mái, nhưng ít nhất trong điều kiện chật chội trên tàu, thì cũng coi như tạm ổn. Họ dạy anh nói tiếng Anh, hiện tại mặc dù giọng của anh vẫn còn rất nặng, cách dùng từ vẫn còn vụng về, nhưng ít nhất khi cả hai bên đều có chút kiên nhẫn, thì những gì anh nói người khác cũng có thể miễn cưỡng hiểu được.
Đây là sự hào phóng và nhân từ mà Henry Duval hiếm khi gặp phải, anh đáp lại bằng sự chân thành, giống như một chú chó nhỏ nhiệt tình báo đáp sự tán thưởng của chủ nhân. Hiện tại, anh phục vụ cá nhân cho các thủy thủ, giúp việc trong nhà bếp ở phòng ăn cao cấp, và còn làm chân chạy vặt trên tàu. Đáp lại, các thủy thủ mua thuốc lá và kẹo từ trên bờ tặng cho anh, thỉnh thoảng thuyền trưởng Jeppek cũng đưa cho anh một ít tiền, nhờ các thủy thủ khác tiêu hộ. Nhưng dù vậy, Duval vẫn là một tù nhân, con tàu "Västervik" từng là nơi trú ẩn của anh giờ đã trở thành nhà tù của anh.
Cứ như vậy, Henry Duval, người lấy biển làm nhà, đã đến ngưỡng cửa của Canada vào đêm Giáng sinh.
Cuộc trò chuyện kéo dài gần hai giờ đồng hồ, trong lúc đó, Dan Olive đã lặp lại một số câu hỏi mà anh đã đặt ra trước đó từ nhiều góc độ khác nhau, nhằm tạo ra sự mâu thuẫn trong lời nói của chàng trai trốn vé trẻ tuổi. Nhưng thủ đoạn của anh đã thất bại. Ngoại trừ những hiểu lầm do bất đồng ngôn ngữ, các tình tiết chính của sự việc đều khớp với nhau. Khi cuộc trò chuyện giữa họ ngày càng sâu sắc, những hiểu lầm lại lần lượt được làm sáng tỏ.
Khi cuộc trò chuyện gần kết thúc, Dan cố tình đặt ra một câu hỏi gợi ý với cách diễn đạt mơ hồ, nhưng Duval từ chối trả lời. Anh dùng đôi mắt đen láy của mình quan sát Dan.
"Anh đang lừa tôi, anh nghi ngờ tôi nói dối," Duval nói. Dan lại nhìn thấy ở Duval cái vẻ tự tôn vô thức mà anh đã thấy trước đó.
Dan Olive thấy thủ đoạn của mình bị vạch trần, cảm thấy có chút hổ thẹn nói: "Tôi chỉ muốn xác minh thêm một chút thôi. Tôi sẽ không làm thế nữa." Họ lại tiếp tục nói về những chuyện khác.
Bây giờ, Dan đã trở về tòa soạn báo chật chội, bừa bãi của tờ "Vancouver Post", ngồi vào chiếc bàn làm việc cũ kỹ, trải sổ ghi chép của mình ra và vươn tay lấy một xấp giấy thảo bản thảo. Vừa dùng giấy than viết nguệch ngoạc, anh vừa lớn tiếng nói với Ed Benedict, biên tập viên trực ca đêm đang ngồi ở bàn biên tập tin tức địa phương đối diện.
"Ed, đây là một bài phóng sự rất tuyệt vời. Ông có thể sắp xếp cho tôi bao nhiêu chữ?"
Biên tập viên cân nhắc một chút rồi nói: "Không quá 1000 chữ."
Dan gật đầu, kéo ghế lại gần máy đánh chữ. Cũng được, anh vốn muốn viết nhiều hơn, nhưng nếu viết súc tích thì 1000 chữ cũng có thể nói lên được nhiều điều. Anh bắt đầu gõ máy đánh chữ.