Đời xưa, Chuột vốn là một giống linh thiêng ở trên Trời. Trời giao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trời. Nhưng Chuột không phải là một loài đáng tin cẩn, nhân được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúa.
Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để sai giữ chìa khóa lẫm thóc của nhân gian.
Nhưng chứng nào tật ấy, Chuột lại rủ nhau vào lẫm thóc của người rả rích ăn. Đến nỗi người phải có câu ta thán rằng:
Chuột kia xưa ở nơi nào?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này?
Người lấy làm chua xót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trời và tâu rằng:
- Chuột này vốn Chuột của Thiên đình, sao Thiên đình lại thả nó xuống hạ giới?
Trời nói:
- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khóa kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới đấy.
Vua Bếp tâu:
- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm, chúng con thiết nghĩ: lúa của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên Trời ở là phải.
Trời nghe tâu phán rằng:
- Không được, Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể lại cho nó lên đây nữa. Thôi bây giờ có một cách: Ta có một con Mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào Chuột nó ăn lúa của nhân gian, thì thả Mèo ra, cho nó bắt Chuột, rồi gầm gừ mà ăn Chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt Chuột, thì chú bảo con Mèo cứ kêu với con Chuột rằng: "Nghèo, nghèo, nghèo", thì Chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem Chuột và đem cả Mèo xuống hạ giới. Rồi cứ theo như lời dạy mà làm.
Thành tự bấy giờ khi nào Mèo rình bắt được Chuột rồi thì Mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ" và khi nào không bắt được Chuột, thì Mèo cứ ngồi kêu: "Nghèo, nghèo, nghèo, nghèo, nghèo...".
Những lúc ấy, Mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp, Mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, Mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp Mèo ỉa.
*
Thằn Lằn Mồng Năm
Xưa có một người kia, cha mẹ giàu lắm, thành sinh ra cái tính siêng ăn, biếng làm, chỉ có tiêu, mà không có kiếm ra đồng nào cả. Sau lúc cha mẹ mất đi rồi, người ấy tiêu thái quá, đến nỗi khánh kiệt cả gia tài mà lại còn mắc nợ nhiều lắm. Người ấy vay hết chỗ này, đến chỗ khác, đâu cũng vay được, mà không trả đâu cả.
Các chủ nợ đến thúc đòi luôn. Người ấy cứ khất lần. Nhưng khất nhiều lần quá không ai chịu, sau xin một lần cuối cùng nữa, là đến mồng năm tháng năm, thì trang trải trả hết cả mọi người.
Đúng ngày ấy, các chủ nợ kéo nhau lại đòi. Nhưng lấy gì mà trả, anh ta phải chui vào bụi cây đi trốn. Rồi không biết sợ hãi thế nào, anh ta chết, cái hồn hóa làm con Thằn lằn.
Bởi sự tích này mà bây giờ Thằn lằn cứ nhớ đến ngày mồng năm tháng Năm, nhằm ngày Tết Đoan ngọ là trốn biệt không ai trông thấy đâu, và người ta mới có câu tục ngữ rằng:
Trốn như Thằn lằn mồng năm.
*
Thằn Lằn Trộm Chân
Xưa có hai vợ chồng con Thằn lằn cùng ở dưới nước với hai vợ chồng con Lươn. Mà Lươn thì có chân, Thằn lằn thì không có. Thằn lằn vẫn định lấy trộm chân của Lươn, nhưng chỉ sợ nó đánh, không dám lấy.
Nhân một buổi trời mưa to lắm, Thằn lằn nghe Lươn chồng bảo lươn vợ rằng:
- Hôm nay mưa to, nước lớn, cứ để cả chân mà đi thì sợ lâu, âu là ta để chân ở nhà, cuộn đuôi lại, ta đi cho nó chóng.
Thằn lằn rình cho hai vợ chồng Lươn đi khỏi, liền đến lấy trộm chân của Lươn, rồi chia nhau mỗi con bốn cái đi vào lạch bạch ra dáng lắm.
Nhưng hai vợ chồng Thằn lằn nghĩ lại sợ Lươn nó về nó đòi chân và kiện tụng lôi thôi, mới bảo nhau bỏ nước lên trên khô ở.
Thành tự bấy giờ Thằn lằn mới có bốn chân, Thằn lằn mới ở trên cạn không dám xuống dưới nước nữa và khi nào nghĩ đến Lươn đòi chân, lại đâm sợ hãi mà thè lưỡi ra với nhau.