Ngọn Lửa Bí Ẩn

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Đơn độc một mình

❊ ❊ ❊

Đêm muộn thứ Tư, bản tin truyền hình đã phát đi những thước phim về sự kiện vừa xảy ra, nhưng phải đến sáng hôm sau, khi mọi người thức dậy, họ mới được chứng kiến toàn cảnh sự việc. Lúc này, tất cả những thông tin mà giới phóng viên thu thập được đều đã được biên tập lại theo đúng khuôn mẫu "tin tức" mà người Mỹ ưa chuộng.

Thứ tin tức mà họ nói chẳng qua cũng chỉ là "kể cho tôi nghe một câu chuyện" – phải có đầu, có giữa, và có kết.

Công chúng Mỹ nhâm nhi tách trà sáng, thông qua các loại báo chí và bản tin sáng của CBS, tiếp nhận câu chuyện đại loại như sau: một phần tử khủng bố đã dùng bom tấn công một căn cứ quân sự nghiên cứu tuyệt mật tại Longmount, Virginia. Dù chưa xác định được chính xác đó là tổ chức khủng bố nào, nhưng đã có ba tổ chức đứng ra nhận trách nhiệm về vụ việc này.

Mặc dù không ai biết kẻ nào đã dàn dựng cuộc tấn công, nhưng các bản tin đều mô tả chi tiết toàn bộ quá trình. Một đặc vụ tên là Rainbird (hắn là người da đỏ, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam) hóa ra lại là một điệp viên hai mang. Chính hắn là kẻ đã đặt bom cho tổ chức khủng bố. Tại một trong những nơi đặt bom – một chuồng ngựa – hắn cũng đã chết vì tai nạn hoặc tự sát. Có một nguồn tin cho biết, thực chất Rainbird bị sóng nhiệt và khói hun ngất xỉu khi đang cố gắng lùa đàn ngựa ra khỏi chuồng. Điều này cũng khá phù hợp với cái nhìn định kiến của mọi người về những tên khủng bố máu lạnh: chúng quan tâm đến động vật hơn là con người. Trong bi kịch này, hai mươi người đã thiệt mạng, năm mươi lăm người bị thương, trong đó mười người đang trong tình trạng nguy kịch. Những người sống sót hiện đã được chính phủ "cách ly bảo vệ".

Đó chính là câu chuyện trên mặt báo. Cái tên Charlie hầu như không được nhắc đến. Xét về mọi khía cạnh, đây là một kết cục tốt đẹp cho tất cả.

Nhưng câu chuyện vẫn còn một cái đuôi chưa kết thúc.

"Tôi không quan tâm bây giờ nó đang ở đâu." Bốn tuần sau vụ hỏa hoạn và cuộc chạy trốn của Charlie, vị quản lý mới của "The Shop" đã nói như vậy. Trong mười ngày đầu tiên, đáng lẽ họ đã có thể dễ dàng giăng lưới bắt lại cô bé. Nhưng lúc đó, mọi thứ rơi vào tình trạng hỗn loạn tột độ, các bộ phận vẫn chưa phục hồi hoạt động bình thường. Vị quản lý mới lúc này đang ngồi sau một chiếc bàn làm việc tạm bợ (bàn riêng của bà ta phải ba ngày nữa mới chuyển đến), bực bội nói: "Tôi cũng không quan tâm nó có thể làm được gì. Nó chỉ là một đứa trẻ tám tuổi, không phải Nữ siêu nhân. Nó không thể cứ thế biến mất. Không bao giờ xuất hiện. Tôi muốn các người tìm ra nó, rồi giết nó."

Đứng đối diện bà ta, hứng chịu cơn thịnh nộ này là một người đàn ông trung niên: trông ông ta chẳng khác nào một thủ thư ở thị trấn nhỏ. Tất nhiên, không cần nói cũng biết, chúng ta đều hiểu ông ta không phải là thủ thư.

Ông ta trầm ngâm gõ ngón tay lên những bản in từ máy tính trên bàn làm việc của vị quản lý mới. Toàn bộ tài liệu trong tay Cap đã bị thiêu rụi trong đám cháy, nhưng may mắn thay, phần lớn thông tin đã được lưu trữ trong máy tính. "Tình hình hiện tại thế nào?"

"Đề xuất tái khởi động Dự án số 6 (Lot Six) đã bị hoãn vô thời hạn." Cấp trên mới của ông ta trả lời: "Tất nhiên là vì những cân nhắc về chính trị. Một vài kẻ – mười một ông già, một gã thanh niên vắt mũi chưa sạch, và ba bà nghị sĩ già cỗi – họ sợ đến mất vía khi nghĩ đến những chuyện có thể xảy ra sau khi con bé xuất hiện. Họ..."

"Nhưng tôi nghi ngờ rằng những thượng nghị sĩ từ Iowa, Maine và Minnesota sẽ chẳng có bất kỳ lo ngại nào về việc thực hiện thí nghiệm này đâu." Người đàn ông trông như thủ thư lẩm bẩm.

Vị quản lý nhún vai bất lực. "Họ rất hứng thú với Dự án số 6. Chúng ta biết rõ điều đó." Bà ta bắt đầu vuốt ve mái tóc dài của mình. Dưới ánh đèn, mái tóc bồng bềnh của bà ta ánh lên sắc đỏ nâu. "...Hoãn vô thời hạn, nghĩa là phải đợi đến khi chúng ta đem xác con bé đặt trước mặt họ."

"Chúng ta phải chuẩn bị thức ăn cho một bữa tiệc, nhưng đến giờ cái đĩa vẫn trống rỗng..."

Người đàn ông đối diện bàn lẩm bẩm.

"Cái quái gì mà ông đang lảm nhảm thế?"

"Không có gì." Ông ta nói, "Có vẻ như chúng ta đã đổ sông đổ biển hết rồi. Mọi thứ phải làm lại từ đầu."

"Không hoàn toàn là vậy." Vị quản lý trả lời nghiêm nghị. "Nó không còn cha để che mưa chắn gió cho mình nữa. Bây giờ nó chỉ còn một mình. Tôi muốn các người tìm ra nó. Tìm ra nó ngay lập tức."

"Nếu nó đã tiết lộ mọi chuyện trước khi chúng ta tìm thấy nó thì sao?"

Vị quản lý ngả người ra sau chiếc ghế của Cap, đặt hai tay ra sau gáy. Người đàn ông nhìn bộ ngực được bao bọc bởi chiếc áo len của bà ta với vẻ tán thưởng, thầm nghĩ Cap không bao giờ làm thế.

"Nếu nó định làm vậy, nó đã làm từ lâu rồi." Bà ta lại rướn người về phía trước, mất kiên nhẫn gõ lên cuốn lịch để bàn. "Đã là ngày 5 tháng 11 rồi." Bà ta nói, "Nhưng vẫn chưa có bất cứ chuyện gì xảy ra. Đồng thời, tôi nghĩ chúng ta đã thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa. Tạp chí Time, Washington Post, Chicago Tribune... chúng ta đã giám sát tất cả những tờ báo lớn đó, nhưng đến giờ vẫn chưa nhận được bất kỳ tin tức nào."

"Nếu đó là một tờ báo nhỏ thì sao? Nếu nó tìm đến một tờ 'Time' địa phương thay vì tờ 'Time' ở New York thì sao? Chúng ta không thể giám sát mọi cơ quan báo chí trên toàn quốc được."

"Đáng tiếc, đó đúng là sự thật." Vị quản lý gật đầu đồng ý, "Nhưng đến giờ vẫn chưa có động tĩnh gì, nghĩa là nó vẫn chưa mở miệng."

"Liệu có ai tin vào một câu chuyện kỳ quái do một cô bé tám tuổi kể lại không?"

"Nếu nó kể xong câu chuyện rồi phóng hỏa, tôi nghĩ họ sẽ tin." Vị quản lý trả lời. "Nhưng ông có biết máy tính nói gì không?" Bà ta cười, vỗ nhẹ vào tập tài liệu trên bàn: "Máy tính nói có 80% khả năng chúng ta sẽ không tốn chút sức lực nào để đặt xác nó trước mặt ủy ban... chỉ cần xác định được danh tính của nó là đủ."

"Ý bà là nó sẽ tự sát?"

Vị quản lý gật đầu. Nghĩ đến khả năng này khiến bà ta không khỏi nở nụ cười rạng rỡ.

"Vậy thì tốt quá." Người đàn ông nói rồi đứng dậy: "Nhưng cá nhân tôi thì nhớ rằng máy tính cũng từng nói Andrew McGee đã mất đi khả năng đặc dị của mình."

Nụ cười của vị quản lý bỗng cứng đờ.

"Tạm biệt, sếp." Nói xong, ông ta thản nhiên bước ra ngoài.

Cũng chính vào ngày hôm đó, dưới bầu trời tháng 11 xám xịt, một người đàn ông mặc áo khoác nỉ, quần dài và đi đôi ủng cao su màu xanh lá cây đang chẻ củi. Thời tiết vẫn còn ấm áp, người ta chưa cảm nhận được bóng dáng của mùa đông. Ông treo chiếc áo khoác mà vợ bắt phải mặc lên một cọc rào. Phía sau ông, bên bức tường nhà kho cũ, chất một đống bí ngô màu cam đỏ – đáng tiếc là một số quả đã bắt đầu hư hỏng.

Ông dựng một khúc gỗ lên thớt chẻ, rồi giơ cao chiếc rìu chém mạnh xuống. Bốp một tiếng, khúc gỗ tách làm đôi rồi đổ xuống đất. Lúc này, một giọng nói vang lên sau lưng ông: "Ông có thớt mới rồi, nhưng vết hằn cũ vẫn còn đó, phải không? Nó vẫn ở đó."

Ông giật mình quay lại. Đột ngột, ông không tự chủ được mà lùi lại phía sau, chiếc rìu trong tay rơi xuống mặt đất, va vào vết cháy sém trên tấm thớt cũ. Ban đầu, ông tưởng mình nhìn thấy một hồn ma, hồn ma của đứa trẻ chạy ra từ nghĩa địa cách đó ba dặm. Cô bé đứng đó, sắc mặt nhợt nhạt như bộ xương khô. Chiếc váy trên người đã rách nát, đôi mắt trống rỗng lấp lánh trong hốc mắt sâu hoắm. Trên cánh tay phải của cô bé có một vết xước dài, trông đã bị nhiễm trùng. Dưới chân là đôi giày trông như giày du lịch, nhưng giờ khó mà nhận ra đó là thứ gì nữa.

Sau đó, ông nhận ra cô bé. Đây chính là cô bé của một năm trước: cô bé nói mình tên là Roberta, và cái đầu nhỏ của cô bé có thể tạo ra lửa.

"Robbie?" Ông nói. "Là Robbie phải không?"

"Vâng, nó vẫn ở đó." Cô bé lẩm bẩm nhắc lại, dường như không nghe thấy câu hỏi của ông. Ông chợt hiểu ra ánh sáng trong mắt cô bé; cô bé đang khóc.

"Robbie." Ông nói, "Cưng ơi. Đã xảy ra chuyện gì vậy? Bố cháu đâu?"

"Vẫn ở đó." Cô bé nói một lần nữa, rồi đôi chân mềm nhũn, ngã nhào về phía trước. Irv Manders vội bước tới đỡ lấy cô bé. Ông ôm cô bé, quỳ xuống giữa đống bụi bặm ở sân trước, bắt đầu gọi lớn tên vợ mình.

Đến chập tối, bác sĩ Hufriz đến trang trại. Ông ở lại trong phòng ngủ phía sau với cô bé khoảng 20 phút. Irv và vợ ông, Norma Manders, ngồi đờ đẫn bên bàn ăn trong bếp, không phải là đang ăn mà là đang nhìn chằm chằm vào những đĩa thức ăn. Norma thỉnh thoảng lại ngước lên, không phải để trách móc mà là để hỏi ý kiến chồng mình. Một nỗi sợ hãi vô hình bao trùm lấy cặp vợ chồng.

Ngày hôm sau vụ hỏa hoạn ở trang trại, một người tên là Tarkington đã đến. Hắn tìm đến bệnh viện nơi Irv đang nằm, đưa tấm danh thiếp chỉ in vỏn vẹn dòng chữ: Whitney Tarkington - Điều phối viên Chính phủ... "Cút khỏi đây ngay." Norma gầm lên với hắn. Bà mím chặt đôi môi nhợt nhạt, trong mắt lộ rõ sự giận dữ và đau đớn. Người chồng tội nghiệp của bà bị băng bó kín cánh tay, đã phải chịu đủ khổ sở. Ông từng nói với bà rằng, ngoại trừ một lần bị bệnh trĩ, suốt Thế chiến thứ hai không để lại cho ông bất kỳ vết sẹo nào. Vậy mà giờ đây, ngay tại nhà mình ở Hastings Glen lại bị bắn. "Cút đi." Norma nói lần nữa.

Nhưng Irv có lẽ đã cân nhắc nhiều hơn, ông chỉ nói: "Ông có gì muốn nói thì nói đi, Tarkington."

Tarkington lấy ra một tấm chi phiếu ba mươi lăm ngàn đô la – không phải chi phiếu chính phủ mà là rút từ tài khoản của một công ty bảo hiểm lớn. Tuy nhiên, đó không phải là nơi nhà Manders mua bảo hiểm.

"Chúng tôi không cần tiền bẩn của các người." Norma gay gắt nói, rồi chuẩn bị nhấn chuông gọi người.

"Tôi nghĩ tốt hơn là bà nên nghe tôi nói hết, để sau này khỏi phải hối hận." Whitney Tarkington nhẹ nhàng nói một cách lịch sự.

Norma nhìn Irv. Irv gật đầu. Tay bà miễn cưỡng buông nút chuông.

Tarkington đặt chiếc cặp mang theo lên đùi rồi mở ra, lấy từ trong đó một tập hồ sơ. Trên đó ghi "Manders" và "Breedlove". Mắt Norma mở to, lòng dạ rối bời. Breedlove là họ thời con gái của bà, sao lại xuất hiện ở đây?

Không ai muốn nhìn thấy tên mình xuất hiện trong hồ sơ chính phủ; lại càng không muốn đời tư bị kẻ khác soi mói.

Tarkington nói bằng chất giọng trầm, bình tĩnh trong khoảng bốn mươi lăm phút. Đôi khi hắn lấy ra vài bản sao từ tập hồ sơ Manders/Breedlove để minh họa thêm cho những gì mình nói. Norma mím chặt môi lật xem những tài liệu đó, rồi đưa chúng cho Irv đang nằm trên giường.

Chuyện này liên quan đến an ninh quốc gia, Tarkington nói với họ vào buổi chiều tối kinh hoàng đó.

Các người phải nhận thức được điều này. Chúng tôi không muốn làm vậy, nhưng chúng tôi buộc phải cho các người thấy lý do tại sao. Các người biết quá ít về những việc này.

"Tôi biết các người muốn sát hại một người không tấc sắt trong tay cùng con gái ông ấy." Irv đáp trả.

Tarkington cười khẩy – nụ cười dành riêng cho những kẻ không biết gì mà cứ tỏ ra hiểu biết về công việc chính phủ – rồi trả lời: "Các người không biết những gì mình đã chứng kiến có ý nghĩa gì đâu. Nhiệm vụ của tôi không phải là bắt các người tin vào sự thật này, mà là cố gắng thuyết phục các người đừng đi rêu rao khắp nơi. Bây giờ, nghe cho kỹ đây: Tấm chi phiếu này được miễn thuế. Nó sẽ giúp các người sửa nhà, chi trả viện phí, và vẫn còn dư một khoản kha khá. Như vậy cả hai bên đều tránh được nhiều điều không hay."

"Không hay", Norma lúc này đang ngồi bên bàn ăn nghĩ thầm. Bà lắng nghe tiếng bác sĩ Hufriz đi lại trong phòng ngủ, rồi cúi đầu nhìn bữa tối gần như còn nguyên. Ngày hôm đó sau khi Tarkington rời đi, Irv lặng lẽ nhìn bà, ánh mắt tràn đầy căm hận và đau khổ. Ông nói với bà:

"Bố tôi từng nói, nếu không may bị cuốn vào một vụ đấu đá, bôi nhọ lẫn nhau, thì điều quan trọng không phải là bạn đã tạt bao nhiêu thùng nước bẩn, mà là người khác đã tạt vào bạn bao nhiêu."

Vợ chồng nhà Manders đều xuất thân từ những gia đình đông con. Irv có ba anh em trai và ba chị em gái. Norma có bốn chị em gái và một người em trai. Có chú bác, cháu trai, cháu gái, anh chị em họ, rồi cả cha mẹ và ông bà.

Theo tài liệu của Tarkington, một người cháu của Irv, một thanh niên tên là Fred Dreer, có một mảnh vườn nhỏ ở sân sau nhà tại Kansas, trong đó có trồng cần sa; một người chú làm thầu khoán của Norma đang làm ăn bết bát ở Texas, nợ nần chồng chất, chỉ cần tiết lộ một chút thông tin thôi cũng đủ khiến ông ta phá sản hoàn toàn, trong khi ông ta còn phải nuôi gia đình bảy miệng ăn; một người chị họ của Irv (Irv nhớ hình như đã từng gặp, nhưng không còn nhớ mặt mũi ra sao) đã từng biển thủ một khoản tiền nhỏ tại ngân hàng nơi cô ta làm việc sáu năm trước. Ngân hàng phát hiện ra nhưng để tránh ảnh hưởng xấu đến công chúng nên không khởi tố mà chỉ sa thải cô ta. Cô ta mất hai năm để trả hết số tiền đó, hiện đang mở một tiệm làm đẹp khá khấm khá ở Minnesota. Nhưng thời hiệu khởi tố vẫn chưa hết, cô ta vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý vì vụ việc sáu năm trước. Cục Điều tra Liên bang (FBI) đang giữ hồ sơ của Don, người em trai út của Norma. Vào giữa thập niên sáu mươi, Don từng tham gia một tổ chức khủng bố có kế hoạch đánh bom tòa nhà văn phòng của Dow Chemical tại Philadelphia. Chứng cứ của họ chưa đủ để khởi tố Don (và chính Don từng nói với Norma rằng khi nghe tin những kẻ đó định làm gì, cậu ta đã rút khỏi tổ chức), nhưng nếu một bản sao của hồ sơ này được gửi đến công ty hiện tại của cậu ta, chắc chắn cậu ta sẽ mất việc.

Trong căn phòng bệnh nhỏ hẹp thiếu thông gió, chất giọng đơn điệu của Tarkington cứ vang lên không dứt. Hắn giữ lại quân bài tốt nhất cho đến cuối cùng. Khi ông cố của Irv đến Mỹ từ Ba Lan vào năm 1888, họ của họ là Mandrosky – họ là người Do Thái. Ông nội của Irv cưới một cô gái không phải người Do Thái và từ bỏ đạo Do Thái. Đến đời bố ông, ông cưới một cô gái theo đạo Tin Lành. Irv cũng vậy, ông cưới Norma theo đạo Tin Lành.

Như vậy, dòng máu Do Thái trong gia đình ngày càng loãng đi. Nhưng tại Ba Lan, vẫn còn rất nhiều người mang họ Mandrosky, và những người cai trị Ba Lan là những người Cộng sản. Chỉ cần CIA muốn, họ có thể khiến cuộc sống của những người thân mà Irv chưa từng gặp mặt này trở nên cực kỳ khó khăn, bởi ở đó, người Do Thái không được chào đón.

Tarkington cuối cùng cũng im lặng. Hắn cất hồ sơ vào cặp, đặt chiếc cặp lại giữa hai chân. Hắn rạng rỡ, đắc thắng nhìn họ, như một học sinh giỏi vừa hoàn thành xuất sắc bài tập về nhà.

Irv tựa đầu vào gối với vẻ mệt mỏi cùng cực. Ông có thể cảm nhận được Tarkington đang nhìn mình, điều đó ông không bận tâm. Nhưng ánh mắt đầy nghi vấn của Norma cũng đang chăm chú nhìn ông đầy khẩn thiết.

"Những người thân xa xôi ở xứ người kia ư? Hửm?" Irv nghĩ thầm. Nghe có vẻ nực cười như một lời nói sáo rỗng, nhưng lúc này ông không thể cười nổi. Họ cách mình mấy đời? Bốn đời? Sáu đời? Tám đời? Chúa ơi. Nếu chúng ta không chấp nhận điều kiện của tên khốn này, mà bọn chúng đưa những người đó đến Siberia thì sao? Tôi phải làm thế nào, gửi một tấm bưu thiếp nói rằng họ đang làm khổ sai ở đó chỉ vì tôi đã cho một cô bé và cha nó đi nhờ xe ở Hastings Glen sao? Lạy Chúa.

Bác sĩ Hufriz, đã gần tám mươi tuổi, chậm rãi bước ra từ phòng ngủ, vừa đi vừa vuốt mái tóc bạc bằng đôi bàn tay nổi đầy gân xanh. Irv và Norma quay đầu nhìn ông, rất vui vì mình đã thoát ra khỏi những hồi ức vừa rồi.

"Con bé tỉnh rồi." Bác sĩ Hufriz nói rồi nhún vai. "Cô bé lang thang của các người tình trạng không ổn lắm. Trên cánh tay và lưng có một vết thương đã nhiễm trùng, con bé nói là do trèo qua hàng rào thép gai để tránh một con lợn đực hung dữ nên bị rạch phải."

Hufriz thở dài ngồi xuống bàn ăn. Ông lấy ra một bao thuốc lá Camel, rút một điếu châm lửa. Ông đã hút thuốc cả đời và chưa bao giờ thấy chán.

"Ông có muốn ăn chút gì không, Carl?" Norma hỏi.

Hufriz nhìn những chiếc đĩa trước mặt họ. "Không, nhưng xem ra dù tôi có định ăn chút gì thì cô cũng chẳng cần phải làm thêm món nào nữa đâu." Ông nói một cách khô khốc.

"Con bé sẽ phải nằm trên giường lâu chứ?" Irv hỏi.

"Đáng lẽ phải đưa con bé đến Albany." Hufriz nói. Ông bốc vài quả ô liu từ cái đĩa trên bàn. "Do vết thương nhiễm trùng, con bé sốt đến 101 độ F (khoảng 38,3 độ C), cần phải theo dõi. Tôi sẽ để lại cho các người một ít penicillin và thuốc mỡ kháng khuẩn. Con bé bị suy dinh dưỡng, mất nước nghiêm trọng, chủ yếu cần thức ăn và nghỉ ngơi." Ông bỏ một quả ô liu vào miệng. "Norma, cô cho con bé uống nước luộc gà là đúng đấy, ăn thứ khác vào là nó nôn ra hết. Ngày mai chỉ cho nó uống nước thôi. Nước hầm bò, nước luộc gà. Nhiều nước, và tất nhiên là cả nhiều rượu gin nữa, đó là thức uống tốt nhất." Nói đến đây, ông cười; lại bỏ thêm một quả ô liu vào miệng. "Các người biết đấy, lẽ ra tôi nên thông báo chuyện này cho cảnh sát."

"Không." Irv và Norma đồng thanh nói. Bác sĩ Hufriz lại cười, điều này khiến họ trao nhau cái nhìn đầy kỳ lạ.

"Con bé gặp rắc rối, phải không?"

Irv trông có vẻ rất không thoải mái. Ông há miệng, không nói được chữ nào rồi lại ngậm lại.

"Có lẽ có liên quan đến rắc rối của ông hồi năm ngoái?"

Lần này Norma định lên tiếng. Nhưng trước khi bà kịp nói, Irv đã giành lời: "Tôi nghĩ điều ông cần báo cáo chỉ là vết thương do đạn bắn thôi, Carl."

"Theo quy định của pháp luật." Hufriz nói một cách mất kiên nhẫn, đồng thời dập tắt điếu thuốc trong tay, "Nhưng các người biết đấy, tinh thần của pháp luật là thứ không nằm trên văn bản. Bây giờ có một cô bé đến đây, các người nói nó tên là Roberta McGauley. Nhưng tôi không tin, cũng giống như tôi không tin lợn có thể đẻ ra đô la Mỹ vậy. Con bé nói nó trèo qua hàng rào thép gai nên bị thương, tôi nghĩ chuyện này xảy ra trên đường đi thăm người thân thì thật là nực cười. Con bé nói nó không nhớ nổi những chuyện xảy ra tuần trước, điều này tôi cũng không tin. Con bé rốt cuộc là ai, Irv?"

Norma nhìn chồng với vẻ sợ hãi, Irv tựa lưng vào ghế, nhìn bác sĩ Hufriz.

"Đúng vậy." Cuối cùng ông cũng lên tiếng, "Con bé có liên quan đến chuyện năm ngoái. Đó là lý do tại sao tôi gọi ông đến, Carl. Ở đây, hay ở quê nhà Ba Lan của chúng ta, ông đều đã chứng kiến những chuyện bất hạnh. Ông biết nó là như thế nào. Và ông cũng biết pháp luật đôi khi nằm trong tay những kẻ nắm giữ chúng. Ý tôi là nếu ông nói với người khác rằng cô bé đang ở đây, nhiều người sẽ gặp phải những rắc rối mà họ đáng lẽ không nên gặp. Norma và tôi, người thân của chúng tôi, và cả cô bé đó nữa. Tôi nghĩ mình chỉ có thể nói với ông bấy nhiêu thôi. Chúng ta đã quen biết nhau hai mươi lăm năm rồi, Carl. Ông phải tự mình quyết định xem nên làm gì."

"Nếu tôi giữ im lặng về chuyện này," Hufriz vừa nói vừa châm một điếu thuốc khác, "ông định làm thế nào?"

Irv và Norma nhìn nhau. Một lát sau, bà bối rối lắc đầu nhẹ, cúi mắt nhìn đĩa thức ăn trước mặt.

"Tôi không biết." Irv nói khẽ.

"Ông định nhốt con bé trong lồng như một con vẹt sao?" Hufriz hỏi, "Đây là một đứa trẻ, Irv. Tôi có thể giữ im lặng về chuyện này, nhưng dù sao tôi cũng chỉ là thiểu số. Ông và vợ ông đều là người mộ đạo, thường xuyên đi lễ nhà thờ. Người ta sẽ đến thăm. Thanh tra gia súc thi thoảng sẽ đến kiểm tra đàn bò của ông. Gã hói thu thuế kia vào ngày đẹp trời cũng sẽ đến định giá lại ngôi nhà của ông. Ông tính sao? Xây cho nó một căn phòng dưới tầng hầm à? Điều đó thật tuyệt vời cho một đứa trẻ đấy."

Norma càng tỏ ra bất an.

"Tôi không biết." Irv lặp lại, "Tôi nghĩ mình phải suy nghĩ kỹ về chuyện này. Tôi hiểu ý ông, nhưng nếu ông biết những kẻ muốn bắt con bé..." Nghe đến đây, ánh mắt Hufriz chợt trở nên cảnh giác. Nhưng ông không hỏi thêm gì nữa. "Tôi phải suy nghĩ kỹ đã. Nhưng tạm thời ông đừng nói với ai nhé, được không?"

Hufriz bỏ quả ô liu cuối cùng vào miệng, thở dài đứng dậy. Ông nắm lấy mép bàn nói với Irv: "Được thôi. Bây giờ con bé đang rất yên tĩnh, thuốc tôi cho đã phát huy tác dụng. Tôi sẽ không nói với ai về chuyện này, Irv, nhưng ông tốt nhất nên nghĩ cách xử lý đi, suy nghĩ cho kỹ vào. Bởi vì một đứa trẻ không phải là con vẹt."

"Vâng." Norma nói khẽ, "Tất nhiên là không phải rồi."

"Đứa trẻ đó có chút kỳ lạ." Hufriz nói rồi cầm chiếc túi da đen của mình lên, "Có điều gì đó khác biệt ở con bé. Tôi cũng không nói rõ được là gì, nhưng tôi có thể cảm nhận được."

"Đúng vậy." Irv nói, "Con bé có chút khác biệt, Carl, ông nói đúng. Chính vì vậy mà con bé mới gặp rắc rối."

Ông tiễn bác sĩ ra cửa, nhìn ông bước vào đêm mưa tháng Mười Hai ấm áp.

Sau khi đôi bàn tay nổi đầy gân xanh nhưng vô cùng dịu dàng của bác sĩ kiểm tra xong cho Charlie, cô bé lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Cô bé có thể nghe thấy tiếng họ nói chuyện ở phòng bên cạnh, và biết rằng họ đang nói về mình. Nhưng cô bé cảm nhận được họ chỉ đang nói về... chứ không phải đang mưu tính điều gì.

Ga trải giường sạch sẽ và mát mẻ, chăn đắp nhẹ nhàng trên người cô bé. Dòng suy nghĩ của cô trôi dạt. Cô nhớ mình đã rời khỏi nơi đó, vẫy một chiếc xe tải chở đầy những người Hippie trên đường. Họ đều đang hút cần sa và uống rượu. Cô nhớ họ gọi cô là "em gái nhỏ", và hỏi cô định đi đâu.

"Hướng Bắc." Cô đáp. Những người đó cười lớn tỏ ý đồng tình.

Từ lúc đó cho đến chuyện ngày hôm qua, cô chẳng còn nhớ gì nữa. Làm sao cô đến được "nông trại" của nhà Manders? Tại sao cô lại đến đây – là quyết định có ý thức của cô hay vì nguyên nhân nào khác – những điều này, cô hoàn toàn không thể nhớ rõ.

Dần dần, cô chìm vào giấc ngủ. Trong mơ, cô lại trở về Harrison: cô vừa tỉnh dậy sau cơn ác mộng, nước mắt đầm đìa, hét lên vì kinh hãi; mẹ lao vào, mái tóc màu nâu đỏ lấp lánh ánh sáng chói lọi trong ánh nắng ban mai. Cô khóc thét: "Mẹ ơi, con mơ thấy mẹ và bố đều chết rồi!" Mẹ dùng tay xoa vầng trán nóng hổi của cô, dịu dàng nói:

"Suỵt, Charlie, ngoan nào, không sao đâu. Trời sáng rồi, đó chỉ là một giấc mơ nực cười thôi."

Đêm đó, Irv và Norma Manders ngủ rất ít. Họ ngồi đó xem tivi: đầu tiên là những bộ phim truyền hình nhảm nhí nối tiếp nhau, sau đó là tin tức, kế đến là chương trình đêm khuya. Cứ khoảng mười lăm phút, Norma lại đứng dậy, lặng lẽ rời khỏi phòng khách để vào xem Charlie.

"Con bé sao rồi?" Khoảng một giờ mười lăm phút, Irv hỏi.

"Vẫn ổn. Đang ngủ rồi."

Irv lầm bầm một tiếng.

"Ông đã nghĩ kỹ chưa, Irv?"

"Chúng ta phải chăm sóc con bé, đợi nó khỏe hơn đã." Irv nói, "Sau đó chúng ta phải nói chuyện với nó, xem bố nó xảy ra chuyện gì. Hiện tại tôi chỉ có thể nghĩ đến đây thôi."

"Nếu những người đó quay lại..."

"Tại sao họ phải quay lại?" Irv hỏi, "Họ đã bịt miệng chúng ta rồi. Họ tưởng chúng ta đã sợ chết khiếp rồi..."

"Chúng ta đúng là sợ chết khiếp." Norma khẽ nói.

"Nhưng điều đó không đúng." Irv cũng khẽ đáp, "Bà hiểu đấy, số tiền đó – số "tiền bồi thường bảo hiểm" kia – lòng tôi chưa bao giờ thấy yên ổn, còn bà thì sao?"

"Tôi cũng vậy." Norma nói. Tiếp đó bà lại nói: "Nhưng lời của bác sĩ Heflin là đúng, Irv. Một cô bé nên có người thân bên cạnh. Con bé phải đi học, kết bạn và..."

"Bà đã tận mắt nhìn thấy những gì con bé làm." Irv nói ngắn gọn, "Cái gọi là nhiệt phân tách gì đó. Lúc đó bà đã nói nó là quỷ dữ."

"Tôi vẫn luôn cảm thấy tội lỗi vì câu nói đó." Norma nói, "Cha nó – ông ấy trông thực sự là một người hiền lành. Giá mà biết ông ấy đang ở đâu."

"Ông ấy chết rồi." Một giọng nói vang lên phía sau họ. Khi Norma quay người lại nhìn thấy Charlie đang đứng ở cửa, bà không khỏi kinh ngạc thốt lên. Con bé mặc lỏng lẻo chiếc áo choàng tắm bằng vải flannel của Norma, trông rất sạch sẽ; nhưng vì thế mà trông càng thêm tái nhợt; vầng trán sốt cao sáng như một chiếc đèn lồng. "Bố con chết rồi. Họ đã giết ông ấy, con không còn nơi nào để đi. Giúp con với, được không? Con rất xin lỗi, nhưng đây không phải là lỗi của con. Con đã bảo họ rằng đây không phải lỗi của con, con đã nói với họ, nhưng người phụ nữ đó nói con là một phù thủy. Bà ta nói..." Nước mắt cô bé trào ra, lăn dài trên hai má.

"Được rồi, cưng à, lại đây với ta." Norma đau lòng nói. Charlie dang tay chạy về phía bà.

Ngày hôm sau, khi bác sĩ Heflin đến khám cho Charlie, ông nói tình trạng của con bé đã khá hơn. Hai ngày sau, ông nói con bé đã tốt hơn nhiều. Cuối tuần đến lần nữa, ông nói Charlie đã hồi phục. "Irv, ông đã quyết định làm thế nào chưa?"

Irv lại lắc đầu.

Sáng Chủ nhật hôm đó, Norma một mình đến nhà thờ. Bà nói với mọi người rằng Irv bị sốt. Charlie tuy còn rất yếu nhưng đã có thể đi lại trong nhà, nên Irv ở nhà trông con bé. Ngày hôm trước, Norma đã mua cho nó rất nhiều quần áo ở Albany – vì mua những thứ này ở Hastings Glen chắc chắn sẽ có người bàn tán.

Irv ngồi bên lò sưởi gọt một khúc gỗ. Một lát sau, Charlie đi tới ngồi cạnh ông. "Ông không muốn biết sao?" Con bé hỏi, "Ông không muốn biết chuyện gì đã xảy ra sau khi chúng ta lái xe rời khỏi đó sao?"

Ông ngẩng đầu mỉm cười với nó: "Ta nghĩ khi nào con sẵn sàng, con sẽ kể cho ta nghe thôi, cô bé."

Vẻ mặt con bé căng thẳng. Khuôn mặt tái nhợt nghiêm nghị không thay đổi: "Ông không sợ cháu sao?"

"Ta có nên sợ không?"

"Ông không sợ cháu châm lửa đốt ông sao?"

"Không, cô bé. Ta không nghĩ thế. Ta muốn nói với con vài điều. Con không còn là một cô bé nhỏ nữa. Tuy chưa thể nói là một thiếu nữ, nhưng con đã lớn rồi. Những đứa trẻ ở tuổi con – tất cả những đứa trẻ – nếu muốn đốt nhà hay thứ gì đó, hoàn toàn có thể kiếm được diêm. Nhưng không mấy ai làm thế cả. Tại sao họ lại phải làm vậy? Và tại sao con lại phải làm vậy? Những đứa trẻ ở tuổi con nên để người lớn yên tâm – cảm thấy có thể đưa cho con một con dao hay một hộp diêm. Vì thế ta không sợ."

Nghe thấy những lời này, khuôn mặt Charlie không còn căng thẳng như trước, trên đó thoáng qua một vẻ nhẹ nhõm.

"Cháu sẽ kể cho ông." Con bé nói, "Cháu sẽ kể cho ông tất cả mọi chuyện." Nó bắt đầu câu chuyện dài đẫm máu và nước mắt của mình. Một giờ sau khi Norma trở về, nó vẫn đang kể. Norma đứng ở cửa lắng nghe câu chuyện của nó, rồi chậm rãi cởi áo khoác ra. Giọng nói trẻ trung nhưng có phần già dặn của Charlie tiếp tục kể... Tất cả những bi thương. Tất cả những đau đớn. Tất cả sự phẫn nộ và bất lực.

Khi câu chuyện kết thúc, Irv và Norma đã hiểu được mối nguy hiểm mà họ đang đối mặt, và sự to lớn của mối nguy hiểm đó.

Mùa đông đến. Irv và Norma vẫn chưa quyết định nên làm thế nào. Họ lại cùng nhau đến nhà thờ. Charlie ở nhà một mình. Họ dặn đi dặn lại nó không được nghe điện thoại; nếu có người đến thì trốn xuống hầm. Lời của Heflin "như một con vẹt bị nhốt trong lồng" thỉnh thoảng lại văng vẳng bên tai Irv. Ông mua một đống sách giáo khoa – vẫn là ở Albany – bắt đầu dạy Charlie học chữ. Tuy con bé rất thông minh, nhưng đáng tiếc ông lại không phải là một giáo viên giỏi. Norma giỏi hơn ông một chút. Nhưng đôi khi khi bà và Charlie cùng đọc một cuốn sách lịch sử hay địa lý, bà sẽ ngẩng đầu lên nhìn Irv, trong ánh mắt mang theo sự dò hỏi... sự dò hỏi mà Irv không thể trả lời.

Năm mới đến; rồi đến tháng Hai. Tháng Ba. Sinh nhật của Charlie. Hai vợ chồng mua quà cho nó từ Albany. Tội nghiệp Charlie, như một con vẹt trong lồng. Nhưng bản thân Charlie dường như không bận tâm. Đôi khi vào những đêm khó ngủ, Irv lại tự an ủi mình rằng: Điều này có lẽ là một điều tốt cho sự hồi phục của Charlie về một vài phương diện nào đó. Nhưng sau đó thì sao? Ông không biết.

Đó là một ngày đầu tháng Tư, mưa lớn liên tục hai ngày, củi gỗ đều bị nước mưa thấm ướt. Irv làm thế nào cũng không nhóm được bếp lò trong bếp.

"Lùi lại một chút ạ." Charlie nói. Ông lùi lại một cách máy móc, tưởng rằng nó muốn xem thứ gì đó. Trong không khí có thứ gì đó lướt qua người ông – một thứ gì đó ấm áp. Một lát sau, bếp lò bùng cháy dữ dội.

Irv quay người lại, mở to mắt ngạc nhiên nhìn nó. Charlie nhìn ông với vẻ mặt căng thẳng và chờ đợi.

"Cháu đã giúp ông, đúng không ạ?" Nó nói với giọng hơi run run, "Điều này không xấu, phải không ạ?"

"Phải." Ông nói, "Chỉ cần con có thể kiểm soát, thì điều đó không xấu, Charlie."

"Cháu có thể kiểm soát những thứ nhỏ."

"Đừng làm vậy trước mặt Norma, con à. Bà ấy sẽ sợ đấy."

Charlie khẽ mỉm cười.

Irv do dự một chút rồi nói: "Còn với ta, lúc nào con muốn giúp thì cứ giúp, đỡ phải để cái lò đó hành hạ ta. Ta vốn không giỏi nhóm lò."

"Vâng ạ." Nó nói, cười càng tươi hơn, "Và cháu sẽ cẩn thận."

"Tất nhiên, tất nhiên là con sẽ cẩn thận." Trong một khoảnh khắc, ông dường như lại nhìn thấy những người trên hiên nhà đang điên cuồng đập vào mái tóc đang cháy của chính mình, cố gắng dập tắt nó.

Charlie hồi phục rất nhanh, nhưng khẩu vị của nó vẫn rất kém, và thỉnh thoảng lại gặp ác mộng. Theo cách nói của Norma, là cực kỳ "kén ăn".

Một đêm giữa tháng Tư, nó đột nhiên choàng tỉnh sau cơn ác mộng, mồ hôi lạnh đầm đìa. Cơn ác mộng không biến mất ngay lập tức, vẫn hiện lên sinh động và đáng sợ trước mắt (chiều nay Irv đã đưa nó vào rừng; trong mơ, họ lại đến khu rừng đó. Đột nhiên nó nghe thấy tiếng động phía sau, quay đầu lại nó nhìn thấy John Rainbird đang lặng lẽ áp sát họ. Dáng người ông ta lấp ló sau gốc cây, gần như không thể nhận ra; con mắt độc nhất đó lóe lên tia nhìn lạnh lùng. Trong tay ông ta cầm khẩu súng – khẩu súng đã giết chết cha nó, ông ta càng lúc càng đến gần...). Sau đó, cơn ác mộng tan biến. May mắn là nó sẽ sớm quên đi giấc mơ đáng sợ này; và cũng sẽ không còn hét lên cầu cứu khi tỉnh dậy làm kinh động đến Irv và Norma nữa.

Lúc này, Charlie nghe thấy họ đang nói chuyện trong bếp. Trong bóng tối, nó sờ thấy con gấu bông của mình trên bàn trang điểm, đưa nó lên trước mặt. Bây giờ là mười giờ. Nó mới ngủ được một tiếng rưỡi.

"...Phải làm sao đây?" Norma hỏi.

Nghe lén là không đúng, nhưng nó có thể làm gì khác được? Hơn nữa, họ đang bàn luận về nó; nó biết.

"Tôi không biết." Irv nói.

"Ông đã nghĩ đến báo chí chưa?"

Báo chí. Charlie nghĩ, bố từng muốn kể chuyện của họ cho báo chí. Bố nói sau đó mọi chuyện sẽ ổn thôi.

"Tờ nào cơ?" Irv hỏi. "Hastings Glen Horn? Họ sẽ đặt nó cạnh quảng cáo và lịch chiếu chương trình mất."

"Cha con bé vốn định làm thế mà."

"Norma," ông nói, "Tôi có thể đưa con bé đến New York. Tôi có thể đưa nó đến tờ New York Times. Nhưng nếu có bốn người rút súng ra xả đạn vào chúng ta ở hành lang thì sao?"

Charlie lúc này vểnh tai lên nghe. Tiếng bước chân của Norma đi ngang qua bếp; ấm nước reo lên, không nghe rõ bà nói gì.

Irv nói: "Phải, tôi biết có thể xảy ra chuyện như vậy. Và còn có thể xảy ra chuyện tồi tệ hơn thế nữa. Mặc dù tôi rất yêu con bé, nhưng tôi buộc phải nói như vậy. Một khi nó không kiểm soát được thứ đó, giống như ở nơi họ giam giữ nó... Thành phố New York có gần tám triệu dân đấy, Norma. Tôi cảm thấy mình đã có tuổi, không thể mạo hiểm như vậy được nữa."

Tiếng bước chân của Norma lại đi về phía bàn, sàn nhà cũ kỹ dưới chân bà kêu lên những tiếng dễ chịu. "Nhưng, Irv, nghe tôi nói này." Bà nói. Norma nói rất chậm, rất cẩn trọng, dường như đã suy nghĩ rất lâu. "Ngay cả một tờ báo nhỏ như tờ Horn cũng rất chú ý thu thập thông tin. Bây giờ tin tức đến từ khắp mọi nơi. Hai năm trước, một tờ báo nhỏ ở Nam California đã giành được giải thưởng báo chí Pulitzer, mà lượng phát hành của nó còn chưa đến một nghìn năm trăm bản!"

Ông cười. Charlie dường như nhìn thấy ông nắm lấy tay bà: "Bà nghiên cứu những thứ này kỹ thật đấy, Norma?"

"Không tệ, tôi đã nghiên cứu. Và ông không cần phải giễu cợt tôi vì điều này, Irv Manders! Đây là một chuyện rất nghiêm trọng! Chúng ta đang ở trong tình thế rất khó khăn! Chúng ta còn có thể giấu con bé ở đây bao lâu nữa mà không bị phát hiện đây? Chiều hôm qua ông còn đưa nó vào rừng..."

"Norma, tôi không giễu cợt bà, hơn nữa con bé cần phải ra ngoài đi dạo..."

"Ông nghĩ tôi không biết sao? Tôi đâu có cấm các người ra ngoài, đúng không? Chính vì điểm này! Trẻ con lớn lên cần vận động. Không khí trong lành, như vậy mới có khẩu vị tốt, mà nó thì..."

"Kén ăn, tôi biết."

"Sắc mặt tái nhợt và kén ăn. Cho nên tôi không phản đối các người ra ngoài. Thấy ông đưa nó ra ngoài tôi rất vui. Nhưng, Irv, nếu Johnny Gordon hay Ray Parks tình cờ đi dạo ngang qua nhìn thấy các người thì sao? Họ thỉnh thoảng vẫn đến mà."

"Cưng à, họ không đến." Nhưng Irv nghe có vẻ không yên tâm.

"Lần này không đến! Lần trước cũng không đến! Nhưng Irv, không thể lúc nào cũng như vậy được! Chúng ta từ trước đến nay còn coi là may mắn, ông hiểu mà!"

Tiếng bước chân của bà lại đi ngang qua bếp. Tiếp đó là tiếng rót nước.

"Phải." Irv nói, "Phải, tôi hiểu. Nhưng... ồ, cảm ơn cưng."

"Không có chi." Bà nói rồi lại ngồi xuống. "Đừng nói gì đến chữ 'nhưng', ông biết chỉ cần một hai người là chuyện này sẽ lan truyền thôi. Irv, người ta sẽ biết chúng ta ở đây có một cô bé. Đừng nói đến việc này sẽ ảnh hưởng thế nào đến con bé; nếu những người đó biết được thì sao?"

Trong bóng tối mịt mù của phòng ngủ, Charlie dang rộng hai tay.

Irv chậm rãi nói: "Tôi hiểu ý bà, Norma. Chúng ta phải làm gì đó, tôi đã nghĩ vô số lần rồi. Một tờ báo nhỏ... nhưng, điều này không an toàn. Bà biết đấy, nếu chúng ta muốn đảm bảo cuộc sống sau này cho con bé, chúng ta phải truyền chuyện của nó đi. Nếu muốn nó được an toàn, thì phải có nhiều người biết đến sự tồn tại của nó và những gì nó có thể làm – chẳng phải sao? Rất nhiều người."

Norma Manders động đậy một cách bất an, nhưng bà không nói gì.

Irv tiếp tục nói: "Chúng ta phải làm những việc này cho con bé, chúng ta cũng đang làm cho chính mình, vì cuộc sống của chính chúng ta cũng có thể bị đe dọa. Tôi đã ăn một phát đạn rồi. Tôi yêu con bé như con ruột của mình, tôi biết bà cũng vậy, nhưng chúng ta phải thực tế một chút, Norma. Chúng ta có thể bị giết vì nó."

Charlie cảm thấy khuôn mặt mình nóng bừng vì xấu hổ... và cả vì sợ hãi. Không phải cho bản thân mà cho họ. Nó đã mang đến điều gì cho cuộc sống của họ?

"Và việc này không chỉ liên quan đến chúng ta và nó. Bà chắc chắn vẫn nhớ lời của Tarkington, và hồ sơ ông ta cho chúng ta xem. Việc này còn liên quan đến em trai bà và cháu trai Fred của tôi, và..."

"...và cả những người ở tận Ba Lan xa xôi kia." Norma nói.

"Có lẽ về điểm này ông ta chỉ đang dọa dẫm thôi. Cầu Chúa hy vọng là như vậy. Tôi khó mà tưởng tượng được có người có thể làm ra chuyện đê tiện đến thế."

Norma buồn bã nói: "Họ đã rất đê tiện rồi."

"Dù sao đi nữa." Irv nói, "Chúng ta biết những tên khốn đó sẽ không bỏ qua chuyện này. Chuyện chắc chắn sẽ lan truyền. Norma, điều tôi muốn nói là sau khi lan truyền thì nhất định phải có kết quả. Nếu chúng ta muốn hành động, tôi hy vọng đó là một bước đi khôn ngoan. Tôi không muốn kể chuyện này cho một tờ báo nông thôn nào đó, rồi để họ nghe được phong thanh rồi lại dập tắt chuyện này. Họ làm được đấy."

"Vậy chúng ta còn có thể làm gì nữa?"

Irv nói một cách nặng nề: "Đây chính là vấn đề tôi luôn suy nghĩ. Nhất định phải là một tờ báo hoặc tạp chí mà họ không ngờ tới. Nó phải nói sự thật, và phải có quy mô toàn quốc. Nhưng quan trọng nhất là không được có bất kỳ liên hệ nào với chính phủ."

"Ý ông là không được có liên hệ với Shop..." bà thẳng thắn chỉ ra.

"Đúng vậy. Tôi chính là có ý đó." Irv bắt đầu uống trà. Charlie nằm trên giường, lắng nghe, chờ đợi.

...Cuộc sống của chúng ta cũng có thể bị đe dọa... Tôi đã ăn một phát đạn rồi...

Tôi yêu con bé như con ruột của mình, tôi biết bà cũng vậy, nhưng chúng ta phải thực tế một chút, Norma... Chúng ta có thể bị giết vì nó.

(Không, xin đừng nói vậy, con...)

(Chúng ta có thể bị giết vì nó. Giống như mẹ nó bị giết vì nó vậy.)

(Không, cầu xin mọi người đừng nói nữa.)

(Giống như cha nó bị giết vì nó.)

(Cầu xin mọi người đừng nói nữa.)

Nước mắt chảy ra từ mắt Charlie, chảy vào tai, chảy xuống gối.

"Chúng ta hãy suy nghĩ kỹ thêm lần nữa." Norma cuối cùng nói, "Nhất định sẽ có cách thôi, Irv."

"Phải. Hy vọng là vậy."

"Trong lúc đó." Bà nói, "Chúng ta còn phải hy vọng không có ai phát hiện ra nó ở đây." Giọng bà đột nhiên phấn khích lên, "Irv, có lẽ chúng ta phải tìm một luật sư..."

"Mai hãy tính." Ông đáp, "Tôi mệt rồi, Norma. Ít nhất hiện tại vẫn chưa có ai biết nó ở đây."

Nhưng đã có người biết.

Và tin tức này đã bắt đầu lan truyền đi xa.

Bác sĩ già độc thân Heflin cho đến tận khi ngoài sáu mươi tuổi vẫn luôn ngủ cùng bà quản gia Shelly McKinney. Quan hệ tình dục giữa hai người đã là chuyện từ rất lâu rồi: trong ấn tượng của Heflin, lần cuối cùng họ ân ái đã là khoảng mười bốn năm trước. Nhưng ngay cả khi đó, việc này trông đã có phần không bình thường. Nhưng hai người vẫn rất thân thiết, thực tế là, khi quan hệ tình dục kết thúc, tình bạn của hai người càng sâu sắc hơn, và không còn những va chạm như những đôi tình nhân nữa. Tình bạn của họ trở thành một mối quan hệ thuần túy về tinh thần, mối quan hệ này có lẽ chỉ tồn tại giữa những người khác giới cực trẻ và cực già.

Heflin đã giữ bí mật về nông trại Manders suốt ba tháng trời. Tuy nhiên, vào một đêm tháng Hai, sau khi uống ba ly rượu, ông và Shelly (bà đã bước sang tuổi bảy mươi lăm vào tháng Hai này) đang xem tivi, ông đã kể toàn bộ câu chuyện cho bà nghe, và yêu cầu bà thề giữ bí mật.

Giống như Cap có lẽ sẽ nói với bác sĩ Heflin, tính ổn định của bí mật còn kém hơn cả U-235, và một khi đã nói cho người khác biết, tính ổn định của nó lại càng giảm theo tỷ lệ thuận. Shelly McKinney giữ bí mật được khoảng một tháng, rồi kể cho người bạn gái thân nhất của mình là Hortense Buckley. Mười ngày sau, bí mật này từ miệng Hortense lại truyền đến tai người bạn gái thân nhất của bà là Christine Trigg. Và Christine gần như ngay lập tức kể lại cho chồng mình và những người bạn tốt của cô (tổng cộng là ba người).

Ở những thị trấn nhỏ, "sự thật" được lan truyền như vậy đấy: vào đêm tháng Tư đó, khi Irv và Norma thực hiện cuộc trò chuyện mà Charlie đã nghe lén, rất nhiều người ở Hastings Glen đã biết nhà họ đang giấu một cô bé bí ẩn. Sự tò mò của mọi người bị kích thích mạnh mẽ. Những kẻ ngồi lê đôi mách đang rục rịch.

Cuối cùng, tin tức đã truyền đến tai những người không nên nghe. Một cuộc điện thoại bí mật đã được thực hiện.

Ngày cuối cùng của tháng Tư, các đặc vụ của Shop một lần nữa áp sát nông trại Manders. Hôm nay, trời lất phất mưa phùn, những đặc vụ này mặc đồ chống cháy như những người ngoài hành tinh. Phía sau họ là một đội Vệ binh Quốc gia. Những người này hoàn toàn không biết về nhiệm vụ của mình, cũng không biết tại sao lại phái họ đến thị trấn yên tĩnh Hastings Glen ở tiểu bang New York này.

Họ phát hiện Irv và Norma Manders đang ngồi ngẩn ngơ trong bếp. Trên chiếc bàn giữa hai người đặt một mảnh giấy. Sáng sớm lúc năm giờ Irv dậy đi vắt sữa bò thì phát hiện ra nó. Trên đó chỉ có một dòng chữ: Con nghĩ con biết mình nên làm gì. Yêu hai người, Charlie.

Con bé lại một lần nữa trốn thoát khỏi sự truy đuổi của Shop – nhưng dù nó ở đâu, nó cũng chỉ có một mình.

Niềm an ủi duy nhất là lần này nó không cần phải vẫy xe đi một quãng đường xa nữa.

Người quản lý thư viện là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, để râu và tóc dài. Một cô bé mặc áo sơ mi xanh lá cây và quần jean xanh đứng trước bàn làm việc của anh, một tay cầm túi giấy mua sắm. Con bé gầy đến mức đáng sợ, chàng thanh niên không khỏi tò mò nghĩ: Bố mẹ nó rốt cuộc đã cho nó ăn thứ gì... hay là chẳng cho ăn gì cả?

Anh nghiêm túc và lịch sự lắng nghe hết câu hỏi của con bé. Nó nói, bố nó bảo với nó rằng nếu con gặp khó khăn gì, con đều có thể đến thư viện tìm câu trả lời, vì người ở đó biết câu trả lời của hầu hết các câu hỏi. Trong sảnh của Thư viện Công cộng New York phía sau họ mơ hồ vang vọng tiếng nói chuyện của họ. Bên ngoài cổng lớn, đôi sư tử đá vẫn đang chăm chú quan sát mọi thái độ của nhân gian.

Khi con bé nói xong, người quản lý đếm ngón tay lặp lại những điểm chính của nó.

"Phải nói sự thật."

Nó gật đầu.

"Một tờ báo lớn... ý nói là phạm vi toàn quốc."

Nó lại gật đầu.

"Và không có bất kỳ liên hệ nào với chính phủ."

Cô bé gầy gò lại gật đầu lần nữa.

"Nếu cô không phiền, có thể nói cho tôi biết tại sao không?"

"Cháu..." – nó ngập ngừng – "Cháu muốn nói cho họ vài điều."

Chàng thanh niên suy nghĩ một lát. Anh mở miệng dường như muốn nói gì đó, rồi lại giơ một ngón tay lên rồi bỏ đi. Anh thương lượng với một người quản lý khác một lát, sau đó quay lại nói với cô bé hai chữ.

"Ông có thể cho cháu địa chỉ không ạ?" Nó hỏi.

Anh tìm địa chỉ, cẩn thận chép nó vào một mảnh giấy màu vàng.

"Cảm ơn ạ." Cô bé nói xong quay người định rời đi.

"Đợi đã." Anh nói, "Lần cuối cùng cô ăn là khi nào, nhóc? Cô có cần ít tiền mua bữa trưa không?"

Nó mỉm cười – ngọt ngào và dịu dàng đến bất ngờ. Trong một thoáng, chàng quản lý trẻ tuổi gần như đã yêu nó.

"Cháu có tiền ạ." Nó nói rồi mở túi giấy cho anh xem.

Trong túi giấy đầy những đồng xu.

Anh còn chưa kịp nói gì – hỏi xem nó có phải đã đập vỡ lợn đất của mình không – thì nó đã bước ra ngoài.

Cô bé bước ra khỏi thang máy ở tầng mười sáu của tòa nhà. Những người đàn ông và phụ nữ đi cùng thang máy tò mò nhìn cô — một cô bé mặc áo sơ mi xanh lá, quần jean xanh, một tay ôm túi giấy nhăn nhúm, tay kia cầm một quả cam. Nhưng họ là người New York, mà tinh thần cốt lõi của người New York chính là "đèn nhà ai nấy rạng, việc ai nấy làm".

Cô bé bước khỏi thang máy, nhìn bảng chỉ dẫn rồi rẽ sang trái. Cuối sảnh là một phòng tiếp tân rất đẹp. Trên mặt kính của cánh cửa lớn có viết hai chữ mà người quản lý trẻ tuổi kia đã dặn cô.

Charlie đứng ngoài cửa một lúc.

"Con sắp làm việc này rồi, cha." Cô bé lẩm bẩm, "Hy vọng con không làm sai."

Charlie McGee đẩy cửa kính, bước vào một văn phòng của tạp chí Rolling Stone.

Người tiếp tân là một phụ nữ trẻ, có đôi mắt màu xám trong veo. Cô lặng lẽ nhìn Charlie, chú ý đến chiếc túi giấy, quả cam và dáng vẻ gầy gò của cô bé; cô bé gầy đến mức gần như bệnh hoạn, nhưng lại cao so với một đứa trẻ; trên gương mặt tỏa ra một sự bình thản.

Một ánh sáng an nhiên. Cô bé sẽ trở nên xinh đẹp biết bao, người tiếp tân thầm nghĩ.

"Chị có thể giúp gì cho em đây, cô bé?" Người tiếp tân mỉm cười hỏi.

"Em muốn gặp người viết bài cho tạp chí của các chị." Charlie nói. Giọng cô bé không cao nhưng rõ ràng và kiên định, "Em có vài chuyện muốn nói, và vài thứ muốn cho họ xem."

"Giống như giờ kể chuyện theo tranh ở trường học sao?" Người tiếp tân hỏi.

Charlie mỉm cười. Nụ cười từng khiến người quản lý trẻ tuổi kia phải say đắm. "...Vâng." Cô bé nói, "Em đã đợi khoảnh khắc này rất lâu rồi."

(Hết)

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »