Ba người anh em

Lượt đọc: 71 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 15

❊ ❊ ❊

Vào tầm giữa trưa, lượng xe cộ đậu trước cửa công ty dịch vụ bưu chính "Hộp thư Mỹ" bắt đầu tăng lên. Một đặc vụ mặt không cảm xúc lách qua hai khách hàng để vào trong, đây là lần thứ hai trong ngày anh mở hộp thư số 455. Bên trong có ba tờ rơi quảng cáo: một của tiệm pizza, một của tiệm rửa xe và một của Bưu điện Mỹ. Ngay trên xấp quảng cáo, anh chú ý thấy một lá thư mới - một phong bì màu cam nhạt kích thước năm nhân tám inch.

Anh dùng một chiếc nhíp nhỏ trên chùm chìa khóa gắp lấy lá thư, nhanh chóng bỏ vào một chiếc cặp da nhỏ. Những tờ quảng cáo vẫn nằm nguyên vị trí cũ, không hề xê dịch.

Tại Langley, các chuyên gia cẩn thận mở phong bì, lấy ra hai tờ giấy viết tay rồi tiến hành sao chụp.

Một giờ sau, Deville bước vào boong-ke của Teddy, tay cầm một tập tài liệu. Deville là người chuyên xử lý các vấn đề nội bộ cấp cao tại Langley, vốn được gọi là "Vụ bê bối của Lake". Anh đưa bản sao lá thư cho Teddy và York, sau đó quét nội dung lá thư lên một màn hình lớn. Ánh mắt của Teddy và York ngay lập tức dán chặt vào màn hình. Lá thư được viết bằng chữ in, rất dễ đọc, như thể người viết đã nắn nót từng chữ một cách cực kỳ cẩn thận. Nội dung thư như sau:

Al thân mến,

Anh chạy đi đâu rồi? Có nhận được lá thư trước của em không? Em viết ba tuần trước rồi mà chẳng thấy anh hồi âm. Em nghĩ chắc anh bận lắm, nhưng xin anh đừng quên em. Ở đây em cô đơn lắm, những lá thư của anh luôn giúp em trụ vững. Chúng cho em sức mạnh và hy vọng, vì em biết ngoài kia vẫn có người quan tâm đến mình. Al, xin đừng mất hy vọng ở em.

Cố vấn pháp lý của em bảo có lẽ hai tháng nữa em sẽ được thả; ở Baltimore có một trại chuyển tiếp, cách nơi em lớn lên chỉ vài dặm. Quản giáo đang cố gắng giúp em đến đó để thích nghi. Thời gian chuyển tiếp là chín mươi ngày, đủ để em tìm việc, kết bạn và làm vài thứ khác. Anh biết đấy, người ta gọi đó là tái hòa nhập cộng đồng. Trại đó áp dụng chế độ cấm túc cấp một vào ban đêm, nhưng ban ngày em được tự do. Em chẳng có nhiều ký ức đẹp đâu, Al à. Những người từng yêu em đều đã chết cả rồi.

Chú em sẽ chi trả phí ở trại cho em, chú ấy rất giàu nhưng cũng rất tàn nhẫn.

Em thật sự rất cần bạn bè, Al à.

Nhân tiện, em lại giảm thêm năm cân, vòng eo giờ chỉ còn ba mươi hai inch. Em bây giờ không còn giống như trong tấm ảnh gửi anh nữa. Em chưa bao giờ thích gương mặt trong ảnh, thịt trên mặt nhiều quá.

Giờ em gầy hơn nhiều rồi, da cũng rám nắng nữa. Chỉ cần trời đẹp là mỗi ngày chúng em được phơi nắng hai tiếng. Thời tiết ở Florida có những ngày thật tuyệt vời. Em sẽ gửi cho anh một tấm ảnh khác, có lẽ là ảnh bán thân. Em đang cố hết sức tập cử tạ. Em nghĩ anh sẽ thích ảnh của em thôi.

Anh từng nói sẽ gửi ảnh cho em. Em vẫn đang mòn mỏi chờ đợi. Xin đừng quên em, Al. Em cần anh viết thư cho em.

Yêu anh, Ricky

Vì York từng chịu trách nhiệm điều tra mọi khía cạnh trong cuộc sống của Lake, anh cảm thấy mình cần phải nói gì đó. Nhưng anh lại chẳng thốt nên lời. Mấy người lặng lẽ đọc đi đọc lại bức thư.

Cuối cùng, Deville phá vỡ sự im lặng: "Đây là phong bì." Anh chiếu hình ảnh phong bì lên tường. Người nhận là Al Knowles, địa chỉ tại "Hộp thư Mỹ". Địa chỉ gửi lại là: Ricky, hộp thư 44683, Bắc Aladdin, Bãi biển Neptune, Florida 32233.

"Đây là địa chỉ giả." Deville nói, "Không hề có nơi nào gọi là Bắc Aladdin cả. Chỉ có một số điện thoại của dịch vụ nhận tin nhắn hộ. Chúng tôi đã gọi mười lần để hỏi nhưng nhân viên trực tổng đài không hề biết gì về nơi này. Chúng tôi đã gọi cho mọi trại cai nghiện và trung tâm điều trị ở Bắc Florida, không ai nghe nói về địa điểm đó."

Teddy im lặng, mắt vẫn dán chặt vào bức tường.

"Bãi biển Neptune ở đâu?" York lẩm bẩm hỏi.

"Jacksonville."

Deville coi như đã xong phần việc của mình nhưng vẫn được yêu cầu đứng chờ một bên. Teddy bắt đầu ghi chép vào một cuốn sổ tay màu xanh tiêu chuẩn: "Còn những lá thư khác, và ít nhất là một tấm ảnh nữa." Ông nói, giọng điệu như thể đây chỉ là một vụ việc thường nhật. Teddy Maynard chưa bao giờ biết sợ hãi là gì.

"Chúng ta phải tìm được những lá thư và tấm ảnh đó." Ông nói.

"Chúng tôi đã khám xét nhà hắn hai lần rồi." York nói.

"Vậy thì khám xét lần thứ ba. Tôi nghi ngờ hắn giấu những thứ này ở văn phòng."

"Khi nào thì..."

"Ngay lập tức. Lake đang ở California để vận động tranh cử. Chúng ta không còn thời gian để trì hoãn nữa, York. Có lẽ còn những hộp thư khác, và mối quan hệ giữa họ không chỉ dừng lại ở việc viết thư khoe khoang về làn da rám nắng hay vòng eo đâu."

"Ông định nói chuyện trực tiếp với hắn sao?"

"Còn quá sớm."

Vì không có mẫu chữ viết tay của ông Knowles, Deville đưa ra một gợi ý mà cuối cùng Teddy cũng thấy là kế sách hay. Họ sẽ dùng một chiếc máy tính xách tay đời mới có tích hợp máy in bên trong. Bản nháp đầu tiên của lá thư do Deville và York cùng soạn thảo. Một giờ sau, bản nháp thứ tư ra đời với nội dung như sau:

Ricky thân mến,

Đã nhận được thư của em ngày hai mươi hai, tha lỗi cho anh vì không hồi âm sớm. Dạo này anh cứ chạy đôn chạy đáo nên việc gì cũng bị trì hoãn. Thực ra, anh đang viết thư này trên độ cao ba mươi lăm nghìn feet trên Vịnh Mexico, trên đường đến Tampa. Anh dùng một chiếc máy tính xách tay đời mới, kích thước rất nhỏ, gần như bỏ vừa túi áo. Công nghệ thật tuyệt vời. Máy in vẫn cần cải tiến, hy vọng em có thể đọc rõ.

Tin em sắp được thả, đến trại chuyển tiếp ở Baltimore thật là tin vui. Anh định làm vài việc ở đó, chắc chắn anh có thể giúp em tìm một công việc.

Chỉ còn hai tháng nữa thôi, hãy cố gắng lên. Em đã mạnh mẽ hơn trước nhiều, và đã sẵn sàng để dồn hết tâm trí tái hòa nhập cuộc sống. Đừng nản lòng.

Anh sẽ làm mọi cách để giúp em. Khi em đến Baltimore, anh rất vui lòng dành thời gian ở bên em, đưa em đi đây đó, được không?

Anh hứa từ nay về sau sẽ viết thư cho em kịp thời. Rất mong nhận được hồi âm của em.

Yêu em, Al

Họ quyết định để Al viết lá thư này trong lúc vội vã nên quên ký tên. Họ đánh dấu đủ kiểu lên lá thư, sửa đi sửa lại, cân nhắc kỹ lưỡng, mức độ nghiêm túc còn hơn cả soạn thảo một hiệp ước. Bản cuối cùng được in trên giấy tiêu đề của khách sạn Royal Sonesta ở New Orleans, bỏ vào một chiếc phong bì màu nâu nhạt dày dặn. Dọc theo đáy phong bì được bố trí ngầm các đường dẫn quang học, góc dưới bên phải có một chỗ trông như bị rách, tại điểm đó họ lắp một máy phát tín hiệu siêu nhỏ cỡ đầu kim. Sau khi kích hoạt, máy có thể gửi tín hiệu đi xa một trăm thước trong vòng ba ngày.

Vì Al đang trên đường đến Tampa, phong bì được đóng dấu bưu điện Tampa, ghi ngày viết thư. Tất cả những việc này được thực hiện trong chưa đầy nửa tiếng bởi nhóm "kỳ quái" ở phòng giấy tờ tầng hai.

Bốn giờ chiều, một chiếc xe tải nhỏ màu xanh đậu bên đường trước nhà Allen Lake. Nhà của Lake nằm trong một khu dân cư xinh đẹp ở Georgetown, trên con đường 34 đầy bóng cây. Trên cổng nhà dán một tờ quảng cáo của công ty kỹ thuật đường ống khu vực. Bốn người thợ sửa ống nước xuống xe, bắt đầu dỡ công cụ và thiết bị.

Chỉ có một người hàng xóm chú ý đến sự xuất hiện của họ. Vài phút sau, bà ta đã chán nản quay lại với chiếc tivi. Lake đang ở California, bên cạnh có đặc vụ Cơ quan Mật vụ đi theo, nhưng nhà của hắn chưa bị giám sát hai mươi bốn giờ, ít nhất là Cơ quan Mật vụ chưa làm vậy. Tuy nhiên, việc giám sát đó sẽ sớm diễn ra thôi.

Kế hoạch của họ là thông đường ống cống dưới bãi cỏ nhỏ trước nhà, như vậy họ có thể không cần vào trong nhà, ngay cả khi có đặc vụ Cơ quan Mật vụ ghé qua cũng sẽ không làm họ kinh động.

Nhưng có hai thợ sửa ống nước thực sự đã dùng chìa khóa riêng mở cửa vào nhà. Một chiếc xe tải khác đậu trước nhà để kiểm tra tiến độ, hai thợ sửa ống nước từ chiếc xe thứ hai cũng vào trong nhà. Đến đây, một nhóm khám xét bốn người đã được hình thành.

Bên trong nhà, bốn đặc vụ bắt đầu cuộc khám xét tẻ nhạt. Họ tỉ mỉ tìm kiếm từng căn phòng, không bỏ sót bất kỳ chỗ nào dù là ngoài sáng hay trong tối.

Chiếc xe tải thứ hai rời đi, lại một chiếc xe khác từ hướng khác chạy đến. Giống như nhiều xe sửa chữa khác, nó đậu trên vỉa hè. Trên xe lại có bốn thợ sửa ống nước xuống, gia nhập vào đội ngũ thông cống, trong đó hai người cuối cùng cũng lẻn vào nhà. Sau khi trời tối, một chiếc đèn pha được lắp phía trên cống trước sân, ánh đèn chiếu vào trong nhà khiến ánh sáng bên trong không bị người ngoài chú ý. Bốn người đến sau cùng ở lại bên ngoài. Để không bị lạnh, họ vừa uống cà phê vừa trò chuyện vui vẻ. Hàng xóm đi ngang qua họ một cách vội vã.

Sáu giờ sau, đường ống đã thông suốt, nhưng cuộc khám xét trong nhà chẳng thu được kết quả gì.

Không tìm thấy bất cứ thứ gì có giá trị, tất nhiên cũng không có lá thư nào từ người tên Ricky đang thụ án trong trại cải tạo, càng không tìm thấy tấm ảnh nào. Những người thợ sửa ống nước tắt đèn, thu dọn công cụ rồi biến mất không dấu vết.

Tám giờ ba mươi sáng hôm sau, bưu điện Bãi biển Neptune vừa mở cửa, một đặc vụ tên là Barr vội vã bước vào như thể có việc gấp. Barr là chuyên gia mở khóa. Chiều hôm qua tại Langley, anh đã dành năm tiếng đồng hồ nghiên cứu các loại hộp thư mà bưu điện sử dụng. Anh có bốn chiếc chìa khóa vạn năng, anh tin rằng một trong số đó có thể mở được cửa hộp thư số 44683. Nếu không mở được, anh sẽ phải dũa thêm một chiếc khác, việc này mất khoảng sáu mươi giây và có thể thu hút sự chú ý. Chiếc chìa khóa thứ ba đã mở được hộp thư, anh bỏ chiếc phong bì màu nâu vào trong. Người nhận là Ricky, không có họ. Dấu bưu điện là thành phố Tampa, thời gian là hôm kia, chuyển qua Bắc Aladdin. Anh còn lấy đi một tờ quảng cáo, khóa cửa hộp thư lại. Anh vò nát tờ quảng cáo rồi ném vào thùng rác.

Barr và hai đặc vụ khác ngồi trong một chiếc xe tải ở bãi đậu xe, vừa uống cà phê vừa quay phim từng khách hàng vào bưu điện, kiên nhẫn chờ đợi. Họ cách hộp thư bảy mươi thước, thiết bị thu tín hiệu trong tay phát ra tiếng bíp nhỏ từ phong bì. Trong dòng người qua lại có trà trộn những nhân viên mật vụ của CIA - một phụ nữ da đen mặc áo khoác ngắn màu nâu, một người đàn ông da trắng để râu mặc áo khoác jacket, một phụ nữ da trắng mặc đồ tập thể dục, một người đàn ông da đen mặc đồ bò. Họ đều đang giám sát hộp thư đó, nhưng ai là người viết lá thư, lá thư sẽ gửi đi đâu, họ hoàn toàn không hay biết. Nhiệm vụ của họ chỉ là phát hiện ai là người thuê hộp thư này.

Sau bữa trưa, họ đã tìm thấy hắn.

Trevor ăn trưa tại nhà hàng Peter's Grill, nhưng hắn chỉ uống hai ly bia lạnh, món nhắm là một bát đậu phộng muối dùng chung. Vừa ăn uống vừa thua năm mươi đô trong cuộc đua chó kéo xe ở Calgary. Trở lại văn phòng, hắn ngủ trưa một tiếng. Tiếng ngáy như sấm của hắn khiến cô thư ký vốn đã khổ sở vì đi theo hắn phải đóng cửa lại. Thực ra, cô đã đóng sầm cửa lại nhưng tiếng động đó vẫn không thể đánh thức hắn.

Hắn đi bộ đến bưu điện, trong đầu toàn nghĩ về những chiếc thuyền buồm. Lần này hắn chọn đi bộ vì không có việc gì tốt hơn để làm, hơn nữa đầu óc hắn cũng cần tỉnh táo lại.

Phát hiện bốn lá thư sẽ mang lại tài lộc cho mình nằm ngay ngắn trong hộp thư Bắc Aladdin, hắn vô cùng vui sướng. Hắn cẩn thận bỏ những lá thư vào túi chiếc áo khoác vải lanh cũ kỹ đang mặc, chỉnh lại cà vạt rồi thong thả bước đi. Hắn tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có tiền vào túi.

Hắn chưa bao giờ nghĩ đến việc đọc những lá thư đó. Hãy để ba gã anh em khốn khổ kia làm những việc bẩn thỉu đó. Hắn có thể giữ mình trong sạch, chỉ cần đi gửi thư đi lại là có thể nhận được một phần ba số tiền. Hơn nữa, nếu Spicer phát hiện những lá thư hắn chuyển đi đã bị động chạm, hắn ta sẽ giết hắn.

Bảy đặc vụ dõi theo từng bước chân hắn tản bộ về văn phòng.

Khi Deville vào, Teddy đang chợp mắt trên xe lăn. York đã về nhà. Thời gian đã quá mười giờ tối. York có vợ, còn Teddy thì không.

Deville đang báo cáo tình hình, thỉnh thoảng lật xem mấy trang ghi chép nguệch ngoạc trong tay: "Lá thư được một luật sư địa phương tên là Trevor Carson lấy ra khỏi hộp thư lúc một giờ năm mươi chiều. Chúng tôi theo hắn đến văn phòng luật của hắn ở Bãi biển Neptune. Hắn ở đó tám phút. Đó là một văn phòng rất nhỏ, chỉ có một luật sư và một thư ký, khách hàng không nhiều. Carson chỉ là luật sư hạng hai trong số rất nhiều văn phòng luật ở bãi biển, làm mấy vụ ly hôn và bất động sản, đều là những vụ nhỏ. Hắn bốn mươi tám tuổi, ít nhất đã ly hôn hai lần, người Pennsylvania, học đại học tại Furman, sau đó học luật tại Đại học Bang Florida, mười một năm trước bị tước giấy phép hành nghề vì nhập nhằng tiền của khách hàng, sau đó mới lấy lại được."

"Được, được." Teddy nói.

"Ba giờ ba mươi, hắn rời văn phòng, lái xe một tiếng đồng hồ đến nhà tù liên bang Turnbull ở Florida. Hắn mang theo những lá thư đó. Chúng tôi theo hắn, nhưng sau khi hắn vào nhà tù thì tín hiệu biến mất. Sau đó, chúng tôi thu thập được một số thông tin về Turnbull. Đây là một nhà tù hầu như không có sự phòng thủ, thường được gọi là trại. Không có tường, cũng không có hàng rào. Bên trong có khoảng một nghìn phạm nhân, mức độ nguy hiểm rất thấp. Theo nguồn tin nội bộ của chúng tôi tại Cục Quản lý Nhà tù Washington, Carson luôn đến nhà tù. Các luật sư khác, những người khác đều không đến thường xuyên như hắn. Một tháng trước là mỗi tuần một lần, giờ thì ít nhất mỗi tuần ba lần, đôi khi là bốn lần. Lần nào cũng là cuộc gặp luật sư khách hàng chính quy."

"Khách hàng của hắn là ai?"

"Không phải Ricky. Hắn là luật sư của ba vị thẩm phán."

"Ba vị thẩm phán?"

"Đúng."

"Ba vị thẩm phán đang thụ án?"

"Không sai. Họ tự gọi mình là 'Ba anh em'."

Teddy nhắm mắt lại, hai tay xoa thái dương. Deville dừng lại một chút để Teddy suy nghĩ, rồi tiếp tục báo cáo: "Carson ở trong nhà tù bốn mươi lăm phút. Khi hắn từ nhà tù ra, chúng tôi vẫn không thể nhận được tín hiệu phát ra từ phong bì. Lúc này, xe của chúng tôi đậu ngay cạnh xe hắn. Hắn đi lại trong phạm vi năm thước cách thiết bị thu của chúng tôi, nên chúng tôi có thể khẳng định lá thư không còn trên người hắn. Chúng tôi theo hắn về Jacksonville, về lại bãi biển. Hắn đậu xe gần một nhà hàng tên là Peter's Grill, ở trong đó ba tiếng đồng hồ. Chúng tôi khám xét xe của hắn, tìm thấy cặp tài liệu, bên trong có tám lá thư gửi cho những người đàn ông khác nhau trên khắp cả nước. Tất cả các lá thư đều được gửi từ trong tù ra, không có lá thư nào gửi vào trong. Rõ ràng, Carson chuyển thư qua lại cho khách hàng của mình. Cho đến ba mươi phút trước, hắn vẫn ở trong quán bar, uống say khướt, lại còn đang cá độ các trận bóng rổ đại học."

"Một kẻ thua cuộc."

"Phần lớn là vậy."

Kẻ thua cuộc này sau khi xem xong hiệp phụ thứ hai của một trận đấu ở bờ biển phía Tây thì loạng choạng bước ra khỏi Peter's Grill. Spicer đã chọn ba trong số bốn đội thắng. Trevor trung thành làm theo y hệt, tối hôm đó thắng hơn một nghìn đô la.

Mặc dù say khướt, hắn vẫn biết không được lái xe khi đã uống rượu. Vụ lái xe khi say rượu ba năm trước vẫn là một ký ức đau thương. Hơn nữa, nơi này đầy rẫy lũ cảnh sát chết tiệt.

Những nhà hàng và quán bar gần khách sạn Turtle thu hút khá nhiều thanh niên và những kẻ bất ổn, nên mới có nhiều cảnh sát như vậy.

Đi bộ đối với hắn là một thử thách. Hắn thành công đi đến văn phòng chỉ cách đó một tầm ném đá về phía Nam. Hắn đi qua những ngôi nhà cho thuê nghỉ mát yên tĩnh và những biệt thự của người về hưu, mọi thứ đều ẩn mình trong màn đêm dày đặc. Trong cặp tài liệu của hắn đựng những lá thư mang ra từ Turnbull.

Hắn gắng sức bước tiếp, tìm kiếm ngôi nhà của mình. Hắn không có lý do gì mà băng qua đường, đi được nửa dãy phố rồi lại băng ngược trở lại. Trên đường không có xe. Khi hắn quay lại, hắn chỉ cách một đặc vụ đang nấp sau chiếc ô tô hai mươi thước. Các đặc vụ lặng lẽ dõi theo hắn, bỗng lo lắng gã say rượu này sẽ đâm sầm vào một trong số họ.

Sau đó hắn từ bỏ ý định về nhà, lại quay về văn phòng. Trên bậc cửa trước, hắn làm chìa khóa kêu loảng xoảng, sau khi ném cặp tài liệu xuống thì quên bẵng nó đi. Vào cửa chưa đầy một phút hắn đã lười biếng ngồi vào chiếc ghế xoay trước bàn làm việc, ngay lập tức ngủ khò khò, cửa chính vẫn mở hé.

Cửa sau để mở suốt đêm. Barr và đồng bọn thực hiện mệnh lệnh của Langley, vào văn phòng, lắp máy nghe lén ở khắp mọi nơi. Trong nhà không có hệ thống báo động, cửa sổ không khóa, cũng chẳng có thứ gì đáng để trộm. Việc lắp máy nghe lén trong điện thoại và trên tường chẳng tốn chút công sức nào, vì rõ ràng sẽ không có ai từ bên ngoài chú ý đến văn phòng của luật sư kiêm cố vấn pháp lý Trevor Carson.

Cặp tài liệu của chủ nhân bị lục tung lên, tuân theo chỉ thị của Langley, mọi thứ bên trong đều được ghi chép vào sổ sách. Langley cần một bản ghi chép chính xác về những lá thư mà luật sư mang ra từ Turnbull. Sau khi kiểm tra mọi thứ và chụp ảnh lại, chiếc cặp được đặt ở hành lang bên cạnh văn phòng. Tiếng ngáy trong văn phòng vẫn vang như sấm, không ngừng nghỉ.

Gần hai giờ sáng, Barr thành công khởi động chiếc xe hơi Beetle đậu gần Peter's Grill. Anh lái xe ra con phố trống trải, rồi đỗ nó ngay ngắn bên đường trước văn phòng luật sư, để gã say rượu vài tiếng sau tỉnh dậy sẽ dụi mắt và tán thưởng kỹ năng lái xe siêu phàm của chính mình. Có lẽ, hắn sẽ cảm thấy sợ hãi vì lại một lần nữa lái xe khi say rượu. Dù hắn phản ứng thế nào, họ đều sẽ nghe lén được.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang