Họ Chiến Đấu Vì Tổ Quốc

Lượt đọc: 235 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
***

❊ ❊ ❊

Tinh sương sáng thứ bảy Alexander Mikhailovich và bé Kolya xách cần câu ra sông. Sau hai giờ họ trở về, đắc thắng kiêu hãnh với thành tích, yêu cầu bà Serafima Petrovna đem ra một cái vại sành to, và lặng lẽ, với cái vẻ đường hoàng chân chính của người làm nghề cá, họ trút từ trong giỏ ra một đống những con cá bống còn tươi đang dãy đành đạch.

- Bà Serafima Petrovna quý mến! Mớ cá xinh xẻo này tính trọn là sáu mươi bảy con. Nếu làm sạch, cho vào chảo rán với bơ bò cho đến khi ròn tan, rồi đập thêm vào đó chừng chục trứng, thế là ta có một bữa sáng tuyệt không thể tưởng tượng được! Đó là ước mơ của mọi dân chài đứng đắn! - Alexander Mikhailovich nói.

Cuối bữa ăn sáng, khi bé Kolya đã bí mật chuồn khỏi bàn, Alexander Mikhailovich đôi mắt tươi cười nhìn bà Serafima Petrovna hồi lâu, gõ gõ ngón tay vào bàn, ông nở nụ cười tinh nghịch.

- Alexander Mikhailovich, ông cười gì thế? - bà Serafima Petrovna tự nhiên đỏ mặt, hỏi.

- Tôi không cười, mà chỉ cảm thấy vui sướng thôi, và có thể là nhìn vào bà mà tôi cười thì cũng hơi nghếch. Và tôi nghĩ rằng rõ ràng là thời còn trẻ bà là một trang tuyệt thế giai nhân! Giờ đây nhìn ngắm bà mãi mà không chán, huống gì hai mươi năm trước đây? Đám đàn ông ngày ấy rõ ràng là cứ say như điếu đổ?

- Alexander Mikhailovich, ngày còn trẻ thì hẳn ông cũng thuộc loại chàng trai bám riết lắm đấy?

- Chưa kịp bám được gì, bà mẹ ạ, chiến tranh đã ngốn hết tất cả!

- Thế nào, hết tất cả ư?

- Sạch sành sanh! Bà xem nhé, hai mươi tuổi vào quân đội Nga hoàng, bốn năm chiến tranh thế giới, rồi nội chiến, rồi mọi thứ phỉ lớn, phỉ nhỏ, rồi cưới vợ. Còn có lúc nào để trổ tài mau lẹ của mình? Còn bà thì lại khác! Bà góa bụa sớm...

- Hai mươi mốt tuổi.

- Hai mươi mốt tuổi đã là một nữ Kazakh tự do!

- Tự do mới tuyệt vời sao. Còn hai con nhỏ trên tay, làm thế nào được? Còn có cái tự do nào ở đó? Nô lệ thì đúng hơn.

- Bà ở góa vào năm nào đấy nhỉ?

- Năm một nghìn chín trăm mười tám.

- Lạy Chúa, sao tôi lại không gặp được bà vào cái năm kỳ diệu ấy? Chính tôi cùng với trung đoàn mình đã đi qua vùng Mariupol của bà đấy.

- Như vậy có nghĩa là số phận đã không run rủi - bà Serafima Petrovna giả vờ thở dài. Và bà phá lên cười trẻ trung, - mà nếu như chúng ta gặp nhau thì sao?

Alexander Mikhailovich làm ra vẻ ngạc nhiên nhướng đôi lông mày bạc trắng:

- Còn sao nữa? Tôi gặp thì tôi chinh phục.

- Chinh phục dễ thế ư?

- Có trời chứng giám! Tôi sẽ choàng lên bà cái áo khoác burka, và nói “Em của anh!” Thế là xong!

- Chúa sẽ phạt ông về cái đức quá tự tin đấy, ngày ấy tôi còn nhanh nhẹn, thế là tôi luồn ngay ra khỏi cái áo burka thôi.

- Xin lỗi Serafima Petrovna, tôi có cách khoác không để cho bà luồn ra khỏi được đâu. Ngày ấy tôi là một chàng trai bốc lửa. Còn giờ đây tôi chỉ là khúc củi tàn trong lò... Bà hãy tưởng tượng một chàng trai hai mươi bốn tuổi, trung đoàn trưởng; đôi ủng với đinh thúc ngựa bé bé kiểu sĩ quan, với tiếng nhạc ngựa trong trẻo, quần chùng dạ đỏ, bluson dạ, bên trái là thanh gươm với chuôi cầm bằng bạc, và bên phải, đối xứng, là khẩu Mauser ở thắt lưng trong cái bao gỗ, chiếc mũ lông đội hơi lệch và trong đôi mắt: ánh lửa xanh lè... Rực rỡ! Tuyệt vời! Không một chút khoan dung nào đối với phái đẹp. Diễu qua đường trong tư thế ấy, giữa cái hỗn loạn của kỵ binh, và các cô gái cụp mắt xuống vì sợ cháy bỏng mất con ngươi, chỉ có những tiếng thở dài nhè nhẹ đuổi theo anh. Và một vài kẻ trong số đó...

- Số đó nghĩa là thế nào? - Serafima Petrovna chống khuỷu tay lên bàn, đôi mắt ướt lệ vì cười nhìn khách, đôi môi đỏ mọng của bà rung lên vì nụ cười không nén được.

- Số đó nghĩa là thế nào ư? Tình trạng giở mê giở tỉnh mà, thế đấy! Còn trong những trường hợp riêng, những trường hợp trầm trọng đặc biệt thì choáng không hơn, không kém. Chúng tôi ở thời buổi ấy không biết đùa đâu, Serafima Petrovna quý mến ạ! Ấy thế ngày nay, đôi lúc gặp những người phụ nữ vào lứa tôi và trẻ hơn mà đôi mắt chan chứa một nỗi đau buồn khôn nguôi, thì tự nhiên tôi lại nghĩ: “Đây là một nạn nhân của nội chiến và của tính thiếu thận trọng của mình. Ở thời xuân xanh mà người phụ nữ ấy đã trót nhìn đắm đuối, quá đắm đuối, vào một chàng trai chẳng hạn như ta hồi ấy và xin lỗi, lại sẵn sàng, thế thì - trái tim cô nàng đã vỡ tan vĩnh viễn, vỡ tan tành rồi!”. Đối với người anh em này thì điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả. Không người phụ nữ nào lọt qua được đâu. Thế thì, thử hỏi, bà làm sao còn yên lành được, nếu hồi ấy gặp tôi?

- Dù rằng tôi không mê tín, nhưng không thể nghĩ khác được, chính nữ thánh Barbara, thần hộ mệnh của những phụ nữ yếu đuối đã che chở cho tôi. Vì thế tôi đã không gặp ông, và thế là vẫn yên lành vô sự.

- Vị thánh Barbara xen vào việc của chúng ta làm gì nhỉ. Ai cần bà thánh ấy đâu? Ôi, đối với tôi, những người đàn bà ấy, dù cho là thánh đi nữa cũng chẳng đi đến đâu. Té ra vì bà thánh Barbara mà mọi sự đã hỏng cả!

Alexander Mikhailovich, hai tay ôm lấy cái đầu hói của mình, bắt đầu lắc lư một cách đau khổ, giả vờ thất vọng kêu lên:

- Mọi sự đều hỏng cả, và Barbara là thủ phạm gây ra tất cả! Bà ấy chẳng phải là thánh mà là điển hình một kẻ phá hoại hạnh phúc thiên hạ, hơn nữa đó là một kẻ đố kỵ! Trời ơi, sao phụ nữ lại nhỏ nhen trong tình cảm của họ như thế, ngay cả các bà thánh nữa!

- Alexander Mikhailovich, xin ông, thôi đừng nói nữa! Tôi chịu không nổi - ngạt thở vì cười, Serafima năn nỉ với giọng như khóc.

Olga lặng lẽ mỉm cười lắng nghe câu chuyện đùa giữa hai ông bà già, còn Nikolai, lúc ấy ở hành lang, đang cố nói nhỏ trong điện thoại:

- ... Vẫn không nói gì... Cho đến giờ thì chưa biết gì hết. Stepanych... Tôi cũng nghĩ như thế. Thôi hãy chờ đã. Tôi sẽ kể lại ngay. Thôi, chúc bác khỏe.

Mấy bà phụ nữ đi lo việc nội trợ, hai anh em vẫn còn ngồi ở bàn, uống trà pha đặc theo lối cổ, vừa uống vừa gặm đường, người đẫm mồ hôi, nhẩn nha trò chuyện.

Luồng gió ấm lùa vào các cửa sổ mở toang, thổi phồng lay động các rèm tuyn, đem vào trong phòng mùi hương thoang thoảng còn sót lại đêm qua cái mùi pha trộn của dã yên thảo, cỏ thể hình và cây hoa tím đêm, mọc dưới cửa sổ, và vị đắng thô thô của ngải cứu bị tàn úa vì ánh mặt trời, từ bãi chăn nuôi thảo nguyên chạy dài đến tận sân nhà. Đâu đó sát trần nhà, tiếng ong đất bay vù vù, các cánh cửa sổ ken két rít lên buồn bã.

Alexander Mikhailovich, trước khi đứng dậy rời khỏi bàn, im lặng hồi lâu, nhìn Nikolai, đôi mắt mơ màng rồi nhè nhẹ cất tiếng nói:

- Kolya, mình nhìn chú và rất ngạc nhiên sao mà chú giống mẹ đến thế! Cũng nụ cười ấy, cũng cái kiểu vươn vai, ngẩng đầu ấy, khi người ta phản đối chú, cũng đầu mày, cuối mắt ấy... Chỉ có điều hơi khác cặp mắt đen giống in như mẹ không hiểu vì sao lại buồn buồn... Đã lớn lên rồi, phải không?

- Đã đến lúc trưởng thành rồi. Bốn chục cái xuân xanh lúc nào không biết... Hoàn toàn không biết, anh Sasha ạ! Năm tháng trôi qua cứ như chiêm bao!

Nikolai quay mặt ra cửa sổ, hoặc là do cái giọng dịu dàng thân tình của người anh, hoặc do hồi ức về người mẹ đã khuất trong tim bỗng đột ngột nhói lên, anh chợt cảm thấy hết sức thương thân như ngày còn thơ ấu. Phải chăng vì thời son trẻ đã thực sự lùi xa đằng sau chân trời thảo nguyên xa xôi, đắm chìm trong làn khói nhẹ xanh lam, hay vì cuộc sống gia đình đã bị phá hoại không gì cứu vãn được, cái cảm giác đau đớn ngắn ngủi như một vết bỏng nhói buốt tới mức Nikolai cảm thấy ứa nước mắt cay cay, và xấu hổ vì những giọt nước mắt ấy, xấu hổ về nỗi dễ xúc cảm kiểu trẻ con, anh vẫn không quay lại nói dõng dạc:

- Thôi đừng nói chuyện không vui nữa! Trong một buổi sáng như thế này không nên nói chuyện buồn. Này anh có biết không, trước hôm anh đến là ngày giỗ mẹ lần thứ chín đấy... Thôi, đủ rồi!

Nhận thấy sự xúc động của em, Alexander Mikhailovich sực nhớ:

- Ờ, mà đúng thế, mình gợi chuyện thật không phải lúc. Nhưng quỷ tha ma bắt chúng đi, những hồi ức ấy cứ đến, bất kể tâm trạng anh, bất kể ngày hay đêm, như là bệnh nhức răng ấy. Sao chú lại không nói ngay với tôi về ngày giỗ, khi tôi mới đến? Mà thôi mình hiểu rồi, thôi. Kolya này, hôm nay ta đi câu một chuyến cho ra trò nhé. Không hiểu sao lũ cá bống cứ như muốn trêu ngươi mình ấy. Chú có bảo với mình là đâu đó cách đây chừng khoảng chín cây số có một cái vực sâu. Nhân tiện ta tổ chức một buổi cắm trại đêm ở đó, có được không? Có thể tóm được vài chục cá Perca rồi nấu luôn cái món xúp cá tại trận. Thế nào Kolya, chú thấy được chứ?

- Tôi tính thế này: từ giờ đến mười hai giờ ta chuẩn bị, sau đó tôi thắng con Ô vào xe và lên đường.

- Thế thì khoái thật! Mình có thể giúp chú được việc gì nhỉ?

- Một cách giúp duy nhất là đừng có can thiệp vào việc chuẩn bị của em.

- Thế thì cũng thích! Nhớ đưa cho mình một cái quần cũ của chú, cái nào cũng được. Chả nhẽ lại thắng bộ đi câu.

- Xin tuân lệnh. Này, anh tìm Kolya và cùng với cháu đi đào giun mồi nhé! Nó biết chỗ đấy. Và xin anh đừng nuông nó quá, chúng ta không đem cháu theo đâu, ban đêm ở đó muỗi ăn thịt nó mất.

- Kolya, giun thì chúng tôi sẽ đào, và tôi sẽ can cậu bé đừng đi theo, nhưng sao lại ra đi giữa lúc nắng to như thế?

- Anh muốn ăn cá ám chứ? Thế thì phải đi sớm để có thể nấu cá khi trời còn sáng, khỏi phải lục đục lúc tối tăm.

- Có lý đấy. Ta cứ đi, nóng thì mặc nóng. Mình sẵn sàng chấp nhận mọi sự hy sinh để được chén món cá Perca ám. Mà ta chỉ cần tóm được khoảng chục con. Chả nhẽ không hoàn thành nổi nhiệm vụ ấy hay sao? Chú cứ bảo đảm món cá ám cho mình thì cuốc bộ mình cũng đi...

Khoảng hai giờ xế trưa thì họ đã tới bờ sông. Nikolai tháo đai cho con Ô dòng chân nó lại, xếp gọn đồ nghề đi câu lên chiếc bè con và đề nghị:

- Chúng ta đi thôi, coi chừng cái lạch. Người ta gọi nó là lạch Pakhomov. Ngày xưa, thời Nga hoàng Gorokh có cụ già lên là Pakhom chết đuối ở đấy; để nhớ sự kiện này, người ta lấy lên ông cụ đặt cho cái lạch ấy. Lạch này thì anh khoái đấy. Nhất định thế.

Lội trong cát mịn tới mắt cá, vất vả lách qua nhưng bụi liễu lúp xúp họ xuôi theo bờ dốc thoai thoải tới một doi cát hẹp.

Trước mặt họ mặt nước trải ra phẳng lặng như gương, rộng chừng sáu chục mét, nom hệt cái vỏ sò được tạc vào mặt đất. Bờ đối diện với lạch đột ngột dốc đứng lên, bên trên, sát tận bờ vực là một cánh rừng già hỗn tạp, chưa hề bị đốn chặt, cũng chưa từng được sửa sang, những cây sồi, cây kara, cây du, không cao lắm nhưng vững chắc cỡ hai ba người ôm, chen lẫn với những cây táo dại, liễu dương, liễu hoàn diệp - toàn bộ cái hỗn hợp nháo nhào những cây lá bản với những bụi cây rậm rì rậm rịt kéo dài thành luống từ thấp lên cao dọc theo dòng sông; và đằng xa nơi giáp giới với thảo nguyên nhấp nhô gò đống những cây dương đen, tần bì nhô lên đường bệ, thân xanh nhạt giống như những cột trụ bằng cẩm thạch, vút thẳng ngọn lên cao đón gió.

Ngay chỗ đối diện trực tiếp với triền dốc xuống sông, rừng rẽ đôi để lộ một bãi cỏ rộng. Giữa bãi, một cây du cổ thụ đơn độc phô vẻ đẹp của mình; tán nó xòe rộng tới mức dưới bóng râm của nó nằm la liệt thoải mái được cả một đàn cừu khoảng ba trăm con. Ngột ngạt vì cái nóng bức xế trưa, lũ cừu phân tán thành mấy đám quây thành vòng tròn, đầu quay vào giữa, thỉnh thoảng dẫm dẫm đôi chân sau, thở phì phò. Ngay tận bên này sông cũng ngửi thấy mùi bãi chăn cừu.

Cách cây du không xa, dưới nắng gắt, lão chăn cừu râu bạc trắng, đứng im như tượng, hai tay chống lên chiếc gậy, đầu quấn trong một manh vải rách màu đỏ đã bạc phếch, quần vải thô bẩn thỉu, áo sơ mi dài tận gối chẽn lại dưới thắt lưng.

Cảnh đẹp như tranh kia có một vẻ gì cổ kính, như trong kinh thánh: cây du cổ thụ, lão chăn cừu với bầy cừu, khu rừng nguyên thủy chưa để bàn tay người chạm tới và cái vắng lặng âm u, chốc chốc lại bị khuấy động vì tiếng hót nhỏ nhẹ của chim vàng anh và tiếng gù gù của con cu cườm - tất cả dường như từ bức tranh của một họa sĩ ngày xưa chuyển hóa thành sự sống có âm thanh với màu sắc rực rỡ tuyệt vời.

Mắt long lanh nhìn Nikolai, Alexander Mikhailovich thì thầm:

- Kolya này, xem kìa, cứ như trong truyện cổ tích! Quái thật mình chưa bao giờ nghĩ rằng lại có thể được nhìn cảnh đẹp đến thế...

- Chỗ này tốt lắm rồi, - Nikolai nói đơn giản, - Nào ta ném các thứ xuống nước, làm mẻ cá, rồi sang bờ bên kia nghỉ đêm.

- Lấy thuyền đâu mà sang?

- Thuyền nhận chìm dưới sông, chốc nữa em sẽ kéo tới, chớ có cởi giày ra đấy, cát nóng lắm, anh không chịu nổi đâu.

- Sao thế hả người anh em, trên đất còn trinh bạch chưa một vết chân người này mà lại đi giày ư? thật là một sự xúc phạm đối với thiên nhiên!

Ông ngồi bệt trên cát, nhanh nhẹn cởi giày, cởi tất, khoan khoái vận động mấy ngón tay. Rồi, sau phút chốc lưỡng lự, tụt luôn quần ra. Đôi bắp chân nhẽo nhẹt, tái xanh, đầy những vệt đen lồi lõm. Để ý thấy Nikolai nhìn mình, Alexander Mikhailovich nheo mắt:

- Chú tưởng đạn vằm đấy hả? Không, chẳng có gì là hào hùng ở đây cả. Vẻ đẹp này được tạo nên ở các khu khai thác gỗ đấy. Đôi chân bị cóng lạnh, ở trại giam thì giày dép cũng chính là nó... Bao nhiêu mụn nhọt. Suýt nữa thì về chầu ông vải rồi. Nhưng không phải vì mụn nhọt đâu, mà vì suy dinh dưỡng. Từ lâu ai chả biết, tay làm hàm nhai tay quai miệng trễ, nhưng thực tình thì đã sức cùng lực tận không còn là kiếp người nữa. Còn lao động sao được, một khi đôi chân đứng không vững? Các đồng chí cho ăn thêm đấy. Ừ qua kinh nghiệm mới biết rằng trong cơn hiểm nghèo tình đồng chí thật là vĩ đại! Còn mụn nhọt chữa bằng cách nào, chú có biết không? Xát tro thuốc lá vào, bọn mình không còn loại thuốc chữa bệnh nào tốt hơn. Nhưng rồi cũng qua, chỉ như beo gấm tới đầu gối thôi, còn cao hơn thì không thuộc loài thú ăn thịt, trái lại hoàn toàn là giống ăn chay. Mình hy vọng rằng tạm thời...

Chống hai bàn tay lên cát, lùi lại một tí về phía sau, Alexander Mikhailovich ngước nhìn Nikolai mỉm cười. Giữa nụ cười hồn nhiên trẻ thơ với chất hài hước hơi thô lỗ có một sự lạc điệu tới mức Nikolai chỉ còn biết có lắc đầu.

- Sức đâu mà anh đứng vững được đến thế, hả anh Alexander. Còn em, có lẽ em không thể...

- Đó là giống nòi và bản lĩnh Nga. Hơn nữa, là cựu chiến binh mà. Máu hộc ra mũi vẫn cứ cười! Vả lại. Kolya ạ, lâm vào cảnh ấy rồi chú cũng sẽ đứng được! Tình thế bắt buộc mà. Thiên hạ vẫn nói, cá giếc nhảy múa trên chảo nóng đâu phải vì quá vui, chẳng qua là tình thế bắt buộc... Thôi, lại phí mất thời gian quý báu vì những chuyện không đâu rồi, đi thôi, kẻo lại hỏng ăn món cá ám. Không, không thể như thế được! Chao ôi, một cái lạch như thế này mà chịu nhịn món ca ám à? Nào bắt đầu! Dù chỉ vét được tí chút, ít cũng được, để làm cái món cá ám, chúng mình chỉ cần dăm con Perca là đủ. Chú em ạ, đã mười năm rồi, mình chưa được chén một bữa cá ám thật sự.

- Anh phải tự mình tóm đủ cho một bữa cá ám ngon lành đấy nhé!

- Thế còn chú ở đâu? Đứng nhìn thôi à?

- Em còn phải đi lượm củi khô để tối đốt, còn làm lán, tóm lại là em làm phần việc nội trợ, còn anh phải bảo đảm có cá. Anh còn những ba tiếng đồng hồ, phải nấu xong món cá ám trước khi trời tối; tất cả tùy thuộc vào sự cố gắng của anh đấy...

- Kolya, một mình mình không xong đâu. - Alexander Mikhailovich nói giọng năn nỉ. - Vì Chúa, cả hai ta phải cùng câu mới được, không thì ta sẽ chỉ uống trà suông thôi. Mình chẳng làm ăn gì được đâu. Còn chú lại là tay câu có kinh nghiệm. Không, cả hai ta cùng câu cơ! Vả lại chúng mình không thể mạo hiểm một cách vô lý như thế được. Mình thấy bà Serafima Petrovna bỏ vào trong giỏ bánh mì, khoai tây, thìa là, hành khô, hành tươi và cả nửa lít rượu vodka nữa, bà cụ đáng quý thật, chiêu đãi chúng ta đấy. Để có món cá ăn, chỉ thiếu một thứ hoàn toàn không quan trọng là mấy con cá, thế mà bỗng nhiên chú lại định mạo hiểm một cách vô lý và không cần thiết. Một mình thì có mà bắt được quỷ sứ ấy.

Nikolai đáp lại rất kiên quyết:

- Anh muốn ăn món cá ám thì anh hãy bắt lấy cá. Công việc của em cũng đã ngập đầu rồi. Còn em cho đến rạng sáng ngày mai còn phải nhặt cho được một xô sò.

- Để làm gì hả?

- Để câu cá chép.

- Kolya ơi, cá chép là chuyện phù phiếm, có cũng được, không cũng được. Còn món cá ám là nhất thiết phải có. Điên hay sao mà đuổi theo con sếu trên trời, giữa lúc ta đang cần con chim bạc má, mà nó đã ở trong tầm tay.

- Vậy anh tóm lấy con chim bạc má của anh, và nói chung, đừng có kêu rên. Ông tướng gì mà lại cứ ngồi kêu rên. Cần phải tóm có nghĩa là hãy tóm đi. Cá đấy, như ở trong bể cạn rồi, thế mà anh cứ kêu rên. Chúng mình qua bên kia sông, em sẽ bắt cho anh một chục con mồi. Cắt mỗi con làm ba khúc, cá Perca thích chén khúc đầu và khúc đuôi. Chớ có mắc nguyên cả con mồi. Nó sẽ kéo cá măng đến, thế là đi đời lưỡi câu! Đằng ấy sâu chừng bốn bánh lái, nghĩa là sáu mét. Cách chỗ câu không xa, có cây du rất to. Nó hoàn toàn chìm dưới nước. Vùng trú ẩn của cá Perca đấy. Ta sẽ ném câu như thế nào: chỗ sợi cước thừa quấn vào tay trái, cần câu chỉ khoảng ba mét thôi, tay phải vung từ dưới lên trên, dây cước sẽ tung mồi ra hết chiều dài của nó. Anh thấy không, cục chì làm bằng đạn ria đấy, làm theo dáng điếu xì gà để khi ném nó không kêu bõm.

- Việc huấn luyện này phải mất bao lâu đây.

Nhưng Nikolai chẳng để ý tới câu hỏi, tiếp tục nói:

- Vả lại chì mà nhẹ thì nó không kéo được dây cước theo. Cứ xem ở mút cần câu thì biết cá cắn mồi. Phao mà không cẩn thận thì lúc ném câu sẽ vướng. Anh cầm con dao nhỏ này mà gọt bớt đầu phao đi, cá cắn mồi là lúc cái phao cần cho mình đấy. Nào bây giờ ta bắt tay vào việc. Còn chuyện huấn luyện thì xin lỗi anh, nếu không, anh chẳng biết ném câu đâu, tôi biết được là nhờ mấy tay đi câu tài tử ở thành phố dạy cho đấy.

Sang tới bên kia lạch, Nikolai lấy mái chèo khoét một hõm vào sườn dốc, kéo mũi thuyền lên cho phía lái hạ thấp xuống và nói:

- Nào, anh thì chả cần che với đậy. Anh hãy đặt miếng vải bạt này ở lái, để khi đặt cần câu vào đó khỏi chạm lọc cọc. Hãy giữ trước trong nước chừng năm phút cho thấm ướt. Dẻo phải biết, tuyệt vời. Chốc nữa tôi sẽ trở lại xem. Giỏ cá thì buộc vào cái đinh đóng ở mạn thuyền bên phải ấy.

Hai lần Alexander Mikhailovich tung câu, sợi cước đều cứ rối tung lên. Anh vừa lầu bầu chửi đổng vừa loay hoay gỡ rối hồi lâu, nhưng rốt cục đến lần thứ ba thì sợi cước căng ra, cục chì thon thon rơi đánh chụt một cái khẽ khàng, ngọn cần câu bằng bạch dương mềm mại uốn cong rồi vươn thẳng trở lại - hòn chì đã nằm ở đáy lạch.

Cái nóng bức vẫn không dịu bớt. Dưới vành mũ rơm đã cũ, mồ hôi cứ chảy ròng ròng trên trán, trên cổ Alexander Mikhailovich. Những giọt mồ hôi chảy buồn buồn trên vành tai, lạnh đi dưới làn áo sơ mi sau lưng, nhưng ngư ông ngoan cường chỉ lắc lắc cái đầu, còn bàn tay phải vẫn không rời cán cần câu.

Không một chút gió thoảng. Mấy đám mây thưa thớt lừ đừ chuyển động trên nền trời xanh nhạt nóng bỏng. Dòng nước xanh xanh trông đặc quánh như dầu hướng dương, nhìn mấy cọng rác trôi lờ đờ trên mặt nước mới biết dòng sông đang chảy rất chậm. Xông lên mùi rong tảo bị nung nóng, mùi sình lầy và mùi ven sông ẩm ướt.

Để khỏi phân tán tư tưởng, Alexander Mikhailovich không mở cần câu thứ hai. Vẫn không thấy cần câu... Anh đã hút đến điếu thuốc thứ ba; đã vài lần nỗi thất vọng lấn át niềm hy vọng, nhưng rồi niềm hy vọng lại thắng nỗi thất vọng. Ngọn cần câu vẫn im lìm bất động đến nỗi mấy con chuồn chuồn xanh xanh vàng vàng cứ tự nhiên đậu lên đó nghỉ ngơi. Không khí lặng lẽ càng tịch mịch với âm điệu đều đều của tiếng chim đầu rìu, và tiếng gù gù xa xăm buồn thảm của chim cu. Thời gian trôi qua, cơn buồn ngủ êm ái đã choán lấy Alexander Mikhailovich ông đã toan bỏ cuộc nằm dài ra mui thuyền đánh một giấc ngon lành, nhưng kìa ngọn cần câu lay động, rồi rung lên và oằn chìm xuống nước. Alexander Mikhailovich bật dậy đột ngột đến nỗi suýt nữa nước trào vào thuyền. Đầu sợi cước một con cá to đang quẫy mình dẫy dụa rất căng dưới nước. Chiếc cần câu nhẹ nhàng uốn gập làm đôi. Chật vật túm lấy sợi dây cước, Alexander Mikhailovich vứt cần câu vào lòng thuyền, mấy ngón tay và cả bàn tay đã cảm thấy rõ rệt sự chống cự dữ dội của con cá bị mắc câu. Một con cá Perca to sụ, chừng một cân, phơi cái lườn to bè, có vằn, chui xuống bên dưới thuyền. Ráng sức kéo sợi dây cước, ngư ông may mắn xúc động quá chừng, nhưng vẫn lôi được nó lên khỏi mặt nước. Con cá nép mình vào đáy thuyền ẩm ướt, đuôi quẫy đành đạch. Cẩn thận ép cái vây lưng hung hãn đang dựng đứng lên vào lưng con cá, kẹp chặt lấy mình nó gần phía đầu, Alexander Mikhailovich gỡ lưỡi câu ra khỏi mồm con cá chắc nịch, đẹp mắt còn giữ được cái mát lạnh của dòng nước sâu. Ông thận trọng bỏ cá vào cái giỏ tròn đan bằng cành cây con, và mãi đến lúc ấy ông mới nhận thấy hai bàn tay mình run run. Chùi lòng bàn tay vào cái quần vải thô, không ném câu vội, châm thuốc hút và cứ liếc nhìn vào cái bóng tối xanh xanh trong đó con Perca đang uốn cong cái lưng to như đúc, lội quanh.

“Chỉ cần dăm cô nàng xinh đẹp như thế này là bảo đảm bữa cá ám, nồi cá ám phải biết là ngon!”. Alexander Mikhailovich hào hứng thầm nghĩ rồi lại móc mồi ném câu.

Khoảng năm phút sau, ngọn cần câu khẽ rung và uốn cong về phía mặt nước. Chỉ một cái giật là chú cá Perca bé bỏng như một đoạn bút chì đã ngoan ngoãn nằm trong lòng thuyền. Alexander chỉ biết chép miệng thất vọng nhìn con mồi thảm hại. Ông toan thả con cá ra, nhưng chợt nghĩ đến câu ngạn ngữ: “đi câu tính con chứ không tính cân” - và con cá lại được bỏ vào trong giỏ.

Trời bắt đầu mát dịu hơn, mặt trời khuất sau dải mây dài thuôn thuôn. Gió nhẹ phân phất thổi, cá cắn câu nhặt hơn. Lôi một con Perca bự, một cân dư, cứ lôi mãi trong nước sâu thăm thẳm, lôi căng sợi cước, kéo mạnh nó xuống và Alexander Mikhailovich vừa lẩm bẩm những lời nguyền rủa thật lực, vừa vươn mãi cánh tay trái ra bắt, nhưng không tài nào tóm được sợi cước. Con cá Perca đã bị ném tuột vào lòng thuyền mà còn quẫy bật lên một cái thật cao suýt nữa văng ra khỏi mạn. Và một lần nữa Alexander Mikhailovich lại thấy hai bàn tay run run khác thường và thấy một niềm vui xao xuyến xúc động cả tâm hồn.

Thời gian ngừng lại. Mắt long lanh, ông theo dõi đầu mút cần câu. Ông rất muốn hút thuốc nhưng không còn thì giờ mở túi lấy thuốc. Một con Perca cỡ nhỏ bơi tới. Nó yên trí hau háu đớp mồi. Sau khi con bự đầu tiên sổng mất, nói “bự” đây là căn cứ vào sức kháng cự của nó - thì con này nối con khác cứ theo đuôi nhau sổng hết. Con cá Perca thứ tư suýt lọt vào mạn thuyền mà vẫn còn bứt được khỏi lưỡi câu. Nó hoảng hốt nổi ngay trên mặt nước, rồi loáng lên như một ánh chớp xanh biến mất vào đáy sâu.

- Không có vợt là không xong - thật là trẻ con! - Alexander khàn khàn nói to và bực bội nhổ toẹt vào chỗ con cá vừa mới dừng lại đó.

Sau hai giờ cố nén cơn thèm thuốc, ông vươn thẳng lưng. Từ phía sau, Nikolai nhè nhẹ bước tới sườn dốc, ngắm nhìn ông anh hồi lâu, lặng lẽ mỉm cười.

- Đội cái mũ rơm này, nom anh giống hệt ông cụ giữ ruộng dưa. Anh ngồi gù gù cái lưng, cứ như là ông lão tám mươi ấy.

- Thế nào, ngồi câu cá cũng phải giữ gìn tư thế đàng hoàng hay sao? Sao chú không hỏi xem mình câu được mấy con rồi. Mình đã vượt khả năng đấy, chú có biết không? Mình đã đánh giá thấp khả năng mình! Này nhìn xem này.

Nikolai hãm chân giày lại, trượt theo sườn dốc, bước vào thuyền. Trong cái giỏ vừa lôi dưới nước lên lũ cá Perca bắt đầu quẫy lép nhép.

- Được một bữa cá ám khá ra phết đấy, - anh nói giọng rõ ràng là muốn khen ngợi ông anh. - Được bao nhiêu tất cả? Ồ, lại cả hai chú gù tuyệt vời nữa.

- Hai mươi ba mống, còn mấy mống sổng mất nữa đấy. Sao chú lại không có cái vợt hớt cá nhỉ? Thật là bậy bạ quá chừng! Dây cước dài, phải lấy tay bắt, thế là sổng hết con này đến con khác.

- Em chả bắt thứ cá ấy đâu, em chả tính vào loại tép riu ấy, còn gầu to cho cá chép thì có! Câu đủ rồi anh Sasha ạ, đừng tham nữa. Quấn cần lại và đi nấu cá đi, em đã nói với anh rằng cá ở đây cứ như trong chậu đấy mà.

Alexander Mikhailovich vặn người răng rắc và nói:

- Nikolai, chú không hiểu nổi ngày hôm nay mình khoái tới mức nào đâu. Đã lâu lắm mình chưa được lần nào sung sướng và xúc động đến thế. Chú biết không, ngồi liền bốn giờ đồng hồ không vươn vai, tính từ khi cá cắn câu thì tưởng như chỉ mới bốn phút trôi qua. Trong những giờ phút ấy mình trở lại thời thơ ấu, giá mà chú biết được mình khoái đến chừng nào! Không một ý nghĩ nào vương vấn trong đầu, không một thoáng hồi ức... Chú không tưởng tượng được với chuyến đi này chú làm cho mình sung sướng đến nhường nào. Lại đây để mình ôm hôn chú, anh chàng Chechen dữ tợn kia!

Khi mặt trời lặn, họ chén đẫy một bữa cá và món cá ám. Alexander Mikhailovich uống một cốc rượu vodka nhắm với món cá Perca ninh nhừ. Ông dứt khoát từ chối không chịu uống cốc thứ hai:

- Chú em ơi, đừng có ép mình. Trước đây mình có thể uống nhiều và không say quá bao giờ, nhưng bây giờ thì khác. Hơn nữa, không cần rượu thì tâm hồn mình cũng đã dễ chịu chán rồi! Chuyện trò với nhau thì hơn. Mình phải kể cho chú nghe thiên Odyssey[1] của mình. Hãy rót cho mình một chén trà, đặc vào.

Hơi ẩm từ nước sông tràn lên. Trời lành lạnh. Phía tây sau rặng liễu ven sông đã rực rỡ ráng chiều. Bóng tối xanh lơ từ phương đông đang chuyển dần tới. Chỉ còn ở giữa đỉnh trời trên một đám mây lẻ loi, bị mặt trời chiếu hắt từ dưới lên nên rạng màu tản bạch dịu dàng. Nikolai nhìn đám mây trong lòng dậy lên một nỗi buồn da diết.

[1] Odyssey: cuộc sống chìm nổi truyện phiêu lưu.

Trong bụi một con họa mi cất tiếng hót rụt rè. Alexander Mikhailovich ngồi canh đống lửa đã tàn, lấy một cành cây con khơi mớ tro, tìm một hòn than hồng châm thuốc hút. Sau một phút, lắng nghe tiếng hót kéo dài của con họa mi, ông nói:

- Chú chim non ơi, đừng mải mê hót nữa, chú chưa học thành thạo đâu, - ông ngừng nói bặp bặp môi, rít điếu thuốc ẩm - Đấy các bạn cũng thế, các bạn trẻ ạ, dù thế nào đi nữa thì có một số trong các bạn, lúc còn chưa có kinh nghiệm sống, đã vội bắt tay phê phán đủ mọi sự cả về những điều mà các bạn chưa thấu hiểu, chưa suy nghĩ thấu đáo; và các bạn cứ mượn giọng của kẻ khác nên tiếng hót cũng giống như con chim họa mi này, cứ hót mà bài bản thì chưa thuộc... Mình cũng đã từng hót lên cái giọng kiểu ấy đấy. Cái giọng biện luận: thôi các anh, thời cách mạng đã có những gì? Tất cả đều đơn giản đến thô thiển: “Ruộng đất cho nông dân, công xưởng cho thợ thuyền”. Thế nhưng trong cuộc sống, trong cuộc đấu tranh giai cấp thì mọi việc phức tạp hơn rất nhiều. Thật vậy cuộc sống là cả một sự phức tạp, và đi trước cái “thô thiển” ấy, cái ruộng đất cho dân cày, công xưởng cho thợ thuyền ấy, là cả một cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và hàng bao nhiêu chục năm công tác vĩ đại của Đảng ta, những công tác đòi hỏi bao nhiêu hy sinh, và những hy sinh không thể tưởng tượng nổi!

Chú có biết không, vào những năm hai mươi ở Paris có xuất bản một cuốn sách gồm nhiều tập của tướng Denikin, nguyên là tư lệnh quân tình nguyện. Y đặt tên cuốn sách ấy là “Ký sự về cuộc phiến loạn ở Nga”. Đấy, Denikin viết rằng trong quân tình nguyện không có khẩu hiệu chiến đấu cho quân lính và cho các sĩ quan có tư tưởng tiến bộ. Nhưng thực ra thì trái lại: khi đạo quân tình nguyện, trên đường tiến về Moskva, vừa mới bước vào các tỉnh của Ukraine và của Nga thì tất cả bọn quân của Kornilov, của Markov, của Drozdov - lũ con cháu địa chủ bắt đầu treo cổ và dùng que thông nòng đánh đập nông dân vì tội đã chia nhau đất của địa chủ và lấy hết gia súc, nông cụ. Một phần của cái “thô thiển”, - “ruộng đất cho dân cày”, - trong thực tế đã xoay chuyển thành như thế đấy! Đội quân tình nguyện vừa mới chiếm được một trung tâm công nghiệp, thì lũ con cháu bọn chủ xưởng và chủ mỏ bất mãn lập tức ra tay treo cổ và và xếp hàng đem bắn những công nhân đã quốc hữu hóa xí nghiệp của chúng. Phần còn lại của cái “thô thiển” đối với công nhân đã xoay chuyển ra như vậy. Tất cả những điều ấy không phải mình chỉ đọc trong sách báo, mà bản thân mình đã chứng kiến hồi nội chiến trong khi đánh nhau với chính bọn quân tình nguyện đó.

Thế thì vui sướng nỗi gì mà công nhân và nông dân lại gia nhập vào đội quân tình nguyện ấy? Bọn Denikin đã giúp đỡ đắc lực tuyệt vời vào việc củng cố chính quyền Soviet! Nếu như chính bản thân Denikin đã chứng minh điều ấy, thế thì còn phải nói gì về điều ấy nữa. Mình đã đi theo cái “thô thiển” ấy từ trước Cách mạng tháng Mười, với tư cách là chủ tịch ủy ban cách mạng của trung đoàn ở mặt trận. Hồi ấy chú đang còn là một chàng nghếch.

Hơn nữa, ngay từ thời thơ ấu, đang ở trường phổ thông, đầu óc mình đã bị dày vò vì cảnh bất công trong xã hội giữa lũ con cháu béo tốt, được nâng niu chiều chuộng, của bọn thương gia, địa chủ, và bọn giàu có khác, và lũ trẻ nghèo khổ ăn mặc lếch thếch với nhưng chiếc quần vá chằng vá đụp, con cái viên chức nhỏ, thợ thủ công, trí thức bình dân... Thời ấy hiện tượng đó đã xé nát tim mình. Lớn lên, mình bắt đầu đọc, suy nghĩ, chúi mũi vào sách báo như con cún trước đĩa sữa, bỗng chiến tranh bùng nổ. Trong các chiến hào thì mình đã thực sự sáng mắt ra. Trong quân đội mình là cây bút tự do; tốt nghiệp trường võ bị mình trở thành sĩ quan. Kết thúc chiến tranh đã là trung úy. Nhưng quân hàm sĩ quan không khiến cho mình trở thành kẻ bảo vệ chế độ Nga hoàng! Cương lĩnh của những người Bolshevik đã hoàn toàn chinh phục được mình, mình dứt khoát bác bỏ bọn xã hội nửa vời, bọn Menshevik và bọn vô chính phủ, thế là chú em ạ, mình trở thành một người Bolshevik nồng nhiệt, triệt để và có thể là hơi cuồng tín. Hồi đó, và ngay cả bây giờ nữa, đối với mình không có gì thiêng liêng hơn là sự nghiệp của Đảng ta! Mà đâu có phải chỉ một mình mình từ hàng ngũ sĩ quan Nga hoàng đi sang phía những người Bolshevik? Còn Brusilov, Shaposhnikov, Kamenev và nhiều người khác nữa ở các cấp bậc thấp hơn? Một lần, vào những năm hai mươi, Stalin tới một cuộc diễn tập dã ngoại ở quân khu mình. Đêm hôm ấy có một cuộc chuyện trò về nội chiến, một trong những chỉ huy quân sự tình cờ buông ra một câu như thế này về Kornilov: “Chủ quan mà xét thì y là một người chính trực”. Cặp mắt vàng của Stalin lim dim lại, giống như con hổ trước lúc chồm lên, nhưng đồng chí ấy nói giọng cố kiềm chế: “Chủ quan mà xét thì người chính trực là người đi với nhân dân, chiến đấu vì nhân dân, còn Kornilov chống lại nhân dân, đánh lại quân đội do nhân dân thành lập thì y là người chính trực thế nào được?”. Đấy, toàn bộ Stalin là thế đấy, chân lý ngắn gọn. Ở đây thì mình hoàn toàn đồng ý với đồng chí ấy! Tất cả mọi người chính trực xuất thân từ giới trí thức và cả lũ quý tộc đều đi theo những người Bolshevik, theo nhân dân, theo chính quyền Soviet. Không thể có cách nào khác. Hoặc là theo hoặc chống lại, mọi thứ lưng chừng ở giữa đều bị hai thớt cối xay này nghiền nát. Còn sau đó thì chú biết rồi, mình đã trở thành cán bộ quân sự. Đã gắn bó toàn bộ cuộc đời của mình với Hồng quân.

Và hai mươi năm qua chúng ta đã xây dựng nên một đội ngũ tuyệt vời. Một khối kết tinh cái đẹp của con người. Bản thân chúng ta lớn lên, và những lớp trẻ trưởng thành. Những cán bộ chỉ huy tài giỏi, trung thành với Đảng tới hơi thở cuối cùng, sẵn sàng ngay từ tiếng gọi đầu tiên, đứng lên bảo vệ Đảng chống lại bất kỳ kẻ thù nào, còn trong đời sống hàng ngày là những chàng trai khiêm tốn, giản dị, không tham tiền, không trục lợi, không bon chen danh vọng. Tài sản của gia đình cán bộ chỉ huy nào cũng chỉ gọn trong hai va li. Và các bà vợ cũng được chọn tâm đầu ý hợp với các ông chồng. Họ chả rước lấy những thảm trải nhà hay thảm treo tường, ăn mặc thì giản dị, và “những thợ làm đồ gỗ quý không gửi hàng tới nhà họ”. Lẽ sống của tất cả chúng tôi không phải là ở đó! Nhưng đâu có phải chỉ trong quân đội mới lớn lên được một khối người tốt đẹp như thế? Còn những người cộng sản ở ngoài quân đội, những đoàn viên thanh niên cộng sản? Chúng ta đã đúc nên những trường thành bằng thép như thế để bảo vệ Tổ quốc, chú nghĩ xem, thế đấy, không còn ma quỷ nào có thể làm cho chúng ta phải lo sợ nữa hết.

Thời ấy chúng ta sống cứ như trong truyện cổ tích![2] Toàn bộ ngọn lửa trái tim, toàn bộ trí tuệ, toàn bộ sức lực chúng ta đều dồn vào để xây dựng quân đội, để củng cố sức mạnh của chế độ chúng ta, chế độ công bằng duy nhất trên quả đất này! Chúng mình cũng chẳng quan tâm nhiều đến các bà vợ thân yêu, đến gia đình, còn những chàng trai độc thân cũng chẳng quan tâm tới những cô gái; mà cũng quái thật, các bà vợ, các cô gái ấy cũng chẳng bực bội với chúng mình, họ bằng lòng với sự hào phóng của chúng mình, các bà các cô thông minh của chúng mình hiểu rằng chúng mình đang quay cái bánh lái lịch sử như thế đấy, không thể nào giảm bớt vòng quay được. - Alexander Mikhailovich im lặng một lúc, mắt nhìn vào ngọn lửa, chắc hẳn là đang nhớ lại thời quá khứ, lặng lẽ mỉm cười với những hồi ức, rồi châm thuốc hút, và lại tiếp tục nói. Chỉ thấy ông rít một hơi thuốc thật sâu, nuốt khói, là biết nỗi xúc động thầm kín của ông. - Kolya ạ, mình ngắm nghía không biết chán quân sĩ của mình. Mình thi hành với cấp dưới một chế độ kỷ luật nghiêm khắc như chế độ cũ, nhưng trong thâm tâm mình chiêm ngưỡng họ. Và những người lính trẻ, những người được tập trung ở các đợt huấn luyện quân sự địa phương, trong họ ai cũng có thiên tư của Suvorov. Ông cụ hẳn là sung sướng khi nhìn vào đám hậu sinh xứng đáng của những dũng sĩ kỳ vĩ của mình. Nói có trời, mình không khoác lác, không hư cấu đâu nhé! Suvorov mà sống dậy và đến thăm các cuộc diễn tập của chúng mình thì ông cụ sẽ mừng rơi nước mắt và sẽ khoái chí nốc cạn thêm một bát rượu hôi!

[2] Câu thơ của Mayakovsky.

Đó là mình chưa nói tới đội ngũ cán bộ chỉ huy ở Tây Ban Nha mình say mê chiêm ngưỡng người của ta và vô cùng tự hào về họ! Ở đó họ là những con phượng hoàng tuyệt vời! Chẳng hạn như tư lệnh sư đoàn Kirill Meretskov, tư lệnh sư đoàn Voronov Nikolai, trung đoàn trưởng Malinovsky Rodion, và trung đoàn trưởng Batov Pavel. Đó là những trung đoàn trưởng bẩm sinh, có thể nói là siêu loại. Trotsenko Efim, Shumilov Mikhail, Dmitriev Mikhail cũng là những tay cự phách, - trời sinh đấy! Họ chẳng nhường ai về mặt tài hoa, kiến thức và phẩm chất cương nghị. Ngay cả những tay trẻ hơn, những kẻ đạt tới trình độ tuyệt vời như thượng úy Nikolai Lyashchenko, trung úy Rodimtsev Sasha, - chú cứ yên tâm, đó là những trung đoàn trưởng tương lai không bị giảm giá vì nghèo khổ hay vì nguồn gốc xuất thân. Nói chung, đó là những con người vô giá. Trung đội trưởng Rodimtsev chẳng hạn, có thể khắc tên họ mình vào trái tim bằng một loạt súng máy đấy. Mình chả dại gì mà đứng trước lưới lửa của khẩu súng máy do Rodimtsev điều khiển. Mà chú xem, anh chàng ấy lại dễ thương, khiêm tốn, đến một con ruồi cũng không nỡ giết, những chàng trai kiểu ấy thì lại rất nhiều ở trên nước Nga thân yêu của chúng ta. Phải, chả có gì mà nói ở đây nữa. Đến chơi nhà người ta thì các chàng trai ấy là những vị khách tuyệt vời, mà ở nhà mình thì họ là những người chủ rất mực chu đáo, ngay cả đối với những vị khách không mời mà đến... Chú còn nhớ không, Pushkin có những câu thơ tuyệt diệu tả Mazepa, tình yêu của anh ta với Maria?” - bên đống lửa, Alexander Mikhailovich ngồi theo kiểu Kazakh chân gập lại quỳ gối, cất giọng xúc động vừa trầm ngâm thuộc lòng theo lối thơ cổ:

“Trái tim trẻ bừng lên cháy sáng

Rồi vụt tắt lên như ánh chớp ngang trời

Trong trái tim trẻ, tình yêu qua, tình yêu lại đến

Trong trái tim trẻ, tình cảm hàng ngày đổi dời diễn biến

Còn trái tim lão với tháng năm đã hóa đá lạnh lùng

Đâu có bùng cháy quá dễ dàng nông nổi

Được nung đỏ trong ngọn lửa đắm say kiên trì chậm rãi

Và sức nóng muộn màng ấy không bao giờ nguội lạnh

Chỉ tắt đi khi trái tim ngừng đập...”

Đối với bọn già chúng mình, thay cho Maria nào đó, chính là tư tưởng Bolshevik của chúng ta, và điều đó đã đến với bọn mình rất đúng lúc. Chỉ có khác một điều, là ngay từ thời trẻ bọn mình đã bị niềm say mê duy nhất ấy chinh phục, và bọn mình đã thủy chung với nó cho đến già, còn đối với lão ấy thì thế nào? “Và sức nóng muộn màng ấy không bao giờ nguội lạnh nó chỉ tắt đi khi trái tim ngừng đập”. Diễn đạt hay thật! Phải, chú em ạ, khi người ta tứ tuần, thì sẽ cảm thụ thơ Pushkin một cách khác. Đọc thơ Pushkin, người Nga nào mà chẳng rơi nước mắt, ngay đến một tên lính tù như mình cũng vậy. Ở trong các trại tập trung, khi không ngủ được, bao giờ tâm trí mình cũng nghĩ đến Pushkin, Tyutchev, Lermontov... Đặc biệt là ban đêm, mất ngủ, mình cứ nhớ lại những câu thơ hay. Nơi niềm đau xót trong tâm can cũng vơi bớt đi, và những giọt nước mắt cũng không đến nỗi quá rát bỏng...

Năm ba mươi bảy ập tới như tuyết đổ xuống đầu. Trong quân đội ta bị tổn thất nhiều, rất nhiều. Mà chiến tranh phát xít thì đã ở trước mũi rồi... Đó là điều đáng lo! Mà nào chỉ có thế thôi đâu!

Thế rồi chuyện đã xẩy ra với mình, cũng như với nhiều người khác: một tên đê tiện vu khống mấy chục con người, chỉ còn thiếu điều vu không tất cả mọi người mà hắn có dịp giao tiếp qua hai mươi năm công tác; mình cũng bị vào trong số đó. Tất cả những ai bị hắn cung khai đều bị tống giam, vợ họ bị đưa đi đầy; tất nhiên là cả Anya của mình cũng chung số phận. Chắc hẳn chú đã được nghe nói về các phương pháp tra hỏi để lấy cung, về các phương pháp tiến hành thẩm cứu, và về các chế độ trại giam? Mình mong rằng chú đã nghe rồi, nghe rồi chứ?

- Có nghe.

- Điều đó có gì phải giấu giếm và mình cũng không muốn làm cho chú phải đau lòng một lần nữa, mình giữ gìn cho chú. Tất cả mọi điều ấy đã xẩy ra ở mỗi địa phương một khác. Nhưng vấn đề không phải là ở đó, mà là ở chỗ làm sao lại có thể xẩy ra như thế được? Ai là kẻ có lỗi. Mình tin tưởng một cách sâu sắc rằng đại đa số những người đã và đang ở tù là oan, họ không phải là kẻ thù. Tất nhiên, ngoại lệ thì cũng có một số là kẻ thù thực sự, nhưng đó là số ít, một số vô cùng ít. Năm ba mươi tám ở Rostov, ngày mồng Một tháng Năm, khi tiếng Quốc tế ca từ cuộc biểu tình vang dội đến tận nhà tù, thì trong tù vang dậy tiếng hát Quốc tế ca hòa theo ngay. Và, trời ơi, người ta hát. Trong đời mình chưa bao giờ mình được nghe hát như thế, trời ơi, giá mà được nghe một lần nữa!... Họ hát say sưa, căm hờn, tuyệt vọng! Họ lay các chấn song sắt và hát... Nhà tù rung lên vì bài hát của bọn mình! Thử hỏi kẻ thù làm sao mà hát được như thế?” - Tiếng của Alexander Mikhailovich nghẹn lại khuôn mặt hốc hác nhăn nhó, nhưng cặp mắt vẫn ráo hoảnh, ông im lặng hồi lâu và lại bắt đầu nói. Sau khi đã nén cơn xúc động, - “Mình nói với chú rằng: những người cộng sản chân chính vào đó vẫn cứ là cộng sản... Mình vẫn không hề mất lòng tin đối với Đảng, và ngay giờ đây mình sẵn sàng làm tất cả vì Đảng. Xóa sạch toàn bộ cuộc đời đã giác ngộ của mình ư? Găm sâu mối căm hờn trong lòng ư? Mình không thể làm như thế được! Mình giận Stalin? Sao đồng chí ấy lại có thể để đến nông nỗi ấy? Nhưng mình vào Đảng từ lúc đồng chí ấy đang còn là một hình ảnh mờ nhạt khuất sau bóng của Lenin vĩ đại. Giờ đây đồng chí ấy được công nhận là lãnh tụ. Đồng chí ấy đã đứng đầu cuộc đấu tranh công nghiệp hóa đất nước, tập thể hóa nông nghiệp. Tất nhiên, sau Lenin thì đồng chí ấy là người vĩ đại nhất trong Đảng ta, nhưng đồng chí ấy cũng đã gây ra cho Đảng những tổn thất to lớn như thế đấy. Mình đã cố gắng để suy xét về đồng chí ấy một cách khách quan, và cảm thấy là mình bất lực. Có một điều trở ngại, là mình với đồng chí ấy ở trong những điều kiện không giống nhau: nếu đối với đồng chí ấy mình có thái độ bực dọc, thì đồng chí ấy chẳng thèm đếm xỉa đến, đối với đồng chí ấy chẳng có ảnh hưởng gì, còn nếu đồng chí ấy có thái độ bực dọc đối với mình lập tức mình sẽ bị ảnh hưởng ngay, mà có khi còn tệ hại hơn nữa kia. Thế thì thử hỏi làm sao mình lại có thể khách quan được? Nhưng mình không phải là con nít và mình biết rất rõ rằng thành kiến là một cố vấn tồi. Dù sao đi nữa, thì mình thấy rằng trong bao nhiêu lâu đồng chí ấy là một người khó hiểu và không phải chỉ đối với riêng mình. Mình dẫn ra cho chú một ví dụ. Vào những năm hai mươi, sau một cuộc diễn tập ở quân khu mình, cuộc diễn tập mà mình vừa nói đến lúc nãy, đồng chí ấy nhận lời ở lại ăn trưa với bọn mình. Hôm ấy có tám đồng chí cán bộ quân sự cao cấp. Trong cuộc trò chuyện một kẻ nào đó - trong bọn mình nhận xét có vẻ nghi ngờ về một tư lệnh sư đoàn “Đồng chí ấy nguyên là sĩ quan trong quân đội Nga hoàng”. Và Stalin nói: “Sao, nguyên là sĩ quan thì sao? Sĩ quan cũng có người thế này người thế khác. Vào năm mười tám ở Tsaritsyn, gần Krivaya Muzga, một sĩ quan Kazakh bị bắt làm tù binh. Anh ta bị thương ở cả hai chân vì súng máy, bị ở phần mềm không chạm đến xương. Tôi và đồng chí Voroshilov quyết định nói chuyện với anh ta. Chúng tôi đến. Anh ta nằm trên cái cáng, giữa nền xi măng. Chúng tôi hỏi: “Vì sao anh đánh nhau với chúng tôi?” Anh ta nhổ toẹt và hét lên: “Ta không nói chuyện với bọn chính trị viên Bolshevik”. Chúng tôi đến lần thứ hai anh ta im lặng. Lần thứ ba. Đi lại nhiều lần, anh ta bắt đầu nói chuyện. Và ngày nay anh ấy là một trong những chỉ huy quân sự cao cấp của chúng ta”.

Năm mười tám thì đồng chí ấy quan tâm tới số phận của một sĩ quan địch, tại sao hai mươi năm sau lại không quan tâm tới số phận của hàng nghìn người cộng sản. Chuyện gì đã xẩy ra với đồng chí ấy thế? Đối với tôi thì đã rõ một điều là những người được giao trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia, bắt đầu từ Yezhov, đã làm đồng chí ấy lạc hướng, đã dẫn đồng chí ấy tới những lầm lạc khủng khiếp, đã lừa bịp đồng chí ấy một cách đơn giản. Nếu như điều đó có thể trong một chừng mực nào đó biện hộ cho đồng chí ấy...” Alexander vụt im lặng lắng nghe.

Có bước chân ai đó sột soạt trên bãi cỏ. Từ trong bóng tối nhá nhem nghe có tiếng nói ồm ồm:

- Chào các bạn đi câu!

- Chào cụ Sidor, - Nikolai đáp - mời cụ vào ngồi đây. Thật là quý hóa!

Cụ già chăn cừu bước tới bên đống lửa, tay sờ lên miếng giẻ đỏ quấn trên đầu, cất giọng trầm trầm:

- Lũ cừu của tôi ngủ đêm gần đây thôi, tôi chợt nghĩ ra rằng, bây giờ mình tìm đến kỹ sư nông học Nikolai, có khi món cá ám vẫn còn đấy, nhất định là anh ấy phải thết lão chăn cừu này chứ. Trước đây anh vẫn cho lão ăn món cá ám đấy mà. Còn bây giờ sao? Có được mẻ cá nào không?

- Cá ám có đấy, cá luộc nữa, chúng tôi còn sẵn sàng mời cụ cạn chén nữa đấy!

- Lạy Chúa cứu thế, anh thật là người tốt bụng, cầu Chúa ban cho anh và cả vị khách của anh sức khỏe dồi dào.

Ông già nhẹ nhàng khuỵu gối xuống, gập chân trái lại, ngồi cho thoải mái hơn và nhìn Alexander Mikhailovich qua đôi mắt sắc sảo nhưng vui vẻ kiểu thanh niên, ẩn dưới đôi mày bạc trắng.

Sau mấy câu chuyện thường lệ về mùa màng, cỏ rả và thời tiết, ông già hỏi:

- Đồng chí này, hình như đồng chí là anh của kỹ sư nông học Mikola chúng tôi, phải không nhỉ?

- Đúng thế đấy bố ạ. Chúng tôi là anh em cùng mẹ khác bố. Bố tôi mất đi, mẹ tôi ở vậy rất lâu, rồi sau lấy chồng khác, ông chồng khác của mẹ tôi là bố Kolya đấy. Bố có hiểu không?

- Có gì mà không hiểu? Theo già này nghĩ thì bà mẹ là gốc, còn các ông bố thì, tóm lại là bất kỳ... Có phải các cụ đều đã khuất núi?

- Vâng. Anh em chúng tôi đều mồ côi cả bố lẫn mẹ. Không có bố thì khổ cũng nhiều mà sướng cũng lắm.

- Không sao! Các anh đã lớn cả rồi. Các anh cứ sống mà không thấy cái già nó xông tới... Đấy, như với tôi đây thì… nghe người ta đồn rằng đồng chí bị án chính trị. Có thật thế không?

- Đúng thế đấy.

- Thế đồng chí bị giam mấy năm? Tôi hỏi đường đột quá, xin lỗi, đồng chí bỏ lỗi cho nhé.

- Bố cứ tự nhiên, cứ hỏi đi, bố ạ, với bố thì tôi chả dấu diếm gì đâu, - Alexander Mikhailovich, ném một cành khô vào đống lửa tàn, để nom rõ hơn mặt ông già - tôi bị giam bốn năm rưỡi.

Lão chăn cừu mặt đăm đăm lặng im, rồi nói có vẻ như là thất vọng.

- Cũng chưa phải lâu lắm.

- Ở ngoài này mà nhìn thì thấy không lâu, nhưng ở trong đó thì thấy khá lâu đấy...

- Sự đời là thế nhưng tôi ngẫm nghĩ về chuyện nhà mình và thấy rằng tội anh đối với Nhà nước cũng nhỏ thôi.

- Tại sao bố lại nghĩ như thế?

- Tại sao à? năm ba mươi ba, con dâu tôi bị kết án mười năm. Ngồi tù bảy năm, rồi được ân xá. Mới được về năm ngoái. Năm đói ấy nó ăn cắp của sân kho bốn ki lô lúa mạch. Nếu không thì mẹ con nhà nó chết đói ư? Nó đi lấy phần của mình, nhưng lấy mà không báo cáo. Vì mười pound[1] lúa mạch mà bị kết án mỗi pound một năm tù. Vì những pound ấy mà phải lao động đền trong bảy năm. Còn anh chỉ bốn năm thế là tội của anh chỉ bằng nửa tội của nó... Có phải thế không?

[1] 1 pound = 0.45359237 kg

- Bố ạ, tôi chả phạm tội gì cả, người ta kết án nhầm. Bố biết đấy, tôi bị tù không phải vì tội trộm cắp còn cụ hơi lẫn trong câu chuyện, trong so sánh đấy. Không thể so sánh tặng phẩm của Chúa với thịt lợn con được. So sánh không được đâu. Hồi ấy nếu ăn cắp bốn cân lúa mình không bỏ tù, thì họ sẽ ăn cắp bốn tạ, có phải thế không hử bố?

- Tất nhiên là như thế. Và họ sẽ bòn rút cho nông trang lụn bại!

- Được thế là tôi với bố đã đồng ý với nhau rồi đấy. - Alexander Mikhailovich phá lên cười.

Lão chăn cừu đưa bàn tay đen đủi lên che miệng, cười lặng lẽ.

- À, bố ranh ma lắm, bố cứ nghĩ theo ý mình, - Alexander Mikhailovich nói.

- Con vịt mái ranh ma, mỗi ngày nó mưu mẹo bốn chục lượt để kiếm ăn, còn tôi thì ranh ma nỗi gì? Từ sáng sớm được chút sữa chua lè với mẩu bánh mì rồi nhịn cho đến tối, nhờ lòng tốt của anh mà được nếm thêm món cá ám, thế là lại sống. Ở trong xóm chúng tôi, chỉ có mỗi mình tôi là đầu óc chất phác, còn mọi người đều thông minh, mọi người đều đấu tranh chính trị. Đấy chẳng hạn như là con lợn của Ivan chui vào vườn rau của Petro láng giềng, vẩn vơ ở bên đó thế là Petro, đáng lẽ thương lượng thuận thỏa với nhau, như tôi với các anh đấy thì lại lấy bút chì, thấm nước bọt, rồi viết cho cơ quan an ninh, tố cáo Ivan: đại loại là Ivan người láng giềng của tôi, ngày trước là bạch vệ - và đã nhạo báng các gia đình Hồng quân. Thế là cơ quan an ninh tóm cổ Ivan mời tới trụ sở. Rồi anh xem, một tháng sau anh ta đã đi dạo mát ở Siberia. Anh của Ivan viết lời tố cáo Petro nói rằng anh chàng này ngày trước ở trong đội quân càn quét đã tàn hại nhân dân kinh khủng. Thế là người ta tóm hắn ta đi. Người bà con của Petro lại thấm nước bọt vào bút chì tố cáo người anh kia. Bằng cách ấy họ thay phiên nhau tố cáo, và đàn ông trong thôn chỉ còn lại rất ít, vài ba mống thôi. Giờ đây, người ta gọi dân xóm tôi là “những cây bút chì”. Đấy người ta nguyền rủa nhau như thế đấy. Họ nhiễm phải cái sở thích cứ người này bỏ tù người kia, mọi người đều làm chính trị. Mà ngày trước làm gì có chuyện như thế. Ngày trước ấy à, cứ xúc phạm nhau là choảng luôn, mọi chính trị đều kết thúc ở đó. Giờ đây thì khác.

- Thế còn bố, bố viết giấy tố cáo ai?

- Cầu Chúa tha tội. Nói thật, tôi muốn viết khiếu nại về mấy con cừu non, chúng không chịu vâng lời tôi, một lão già, bạ cành non nào chúng cũng chén, nhất là thứ cỏ linh lăng. Tôi đã từ cuộc sống đảo điên giữa loài người mà lọt vào giữa đám cừu.

Nikolai hâm lại phần cá ám còn lại, múc cho ông cụ một bát to cắt một mẩu bánh. Lão ăn thong thả vươn dài cái cổ khẳng khiu gân guốc. Bộ răng, không hợp với tuổi, đang còn tốt: đầu mẩu bánh bị cắn cứ dòn tan mỗi khi lão cắn gọn những miếng to. Rượu vodka lão uống cả cốc lớn trịnh trọng ngửa đầu nốc cạn và nhắm với cá Perca nguội.

Sau bữa trà, no nê, thoải mái, lão nói:

- Lâu lắm chưa được ăn một bữa thoải mái như hôm nay. Cám ơn các anh. Cầu chúa ban cho các anh sức khỏe. Đường về nhà tôi xa lắm, ban đêm tôi ngủ lại gần đây với đàn cừu, ăn uống thì qua quýt, khó khăn, thế là hôm nay tôi chén ở chỗ các anh một bữa no nê, có thể no đến hai ngày đấy.

- Cụ chăn một mình, không có mục đồng giúp đỡ à? - Nikolai vừa hỏi vừa úp bát đĩa đã rửa sạch.

- Chỉ một mình thôi. Thằng bé giúp việc tôi cho nó ở nhà, nó đang học thi. Nó đã học xong trung học phổ thông mười năm ở nhà tôi đấy - ông già nói một cách tự hào. - Vâng, tôi chăn có một mình.

- Thế cụ không sợ ban đêm sói nó vào mổ cừu hay sao?

- Không, tôi và sói đã có một thỏa thuận tạm thời là nó không bắt cừu của tôi. Giữa chúng tôi đã có điều kiện: ngươi không động đến ta thì ta không chạm tới ngươi. Trong khu rừng này vào mùa xuân, có một sói cái quen biết đẻ con, còn tôi thì chăn cừu ở gần ổ của nó. Nó không bắt hàng xóm láng giềng, nó đi kiếm ăn xa. Và nó cũng không ra lệnh cho chồng cướp bóc vùng phụ cận. Thế là tôi có thể gửi lũ cừu non cho nó đến tận mùa thu. Đến tháng tám nó sẽ lôi lũ con tới ruộng dưa và cho chúng ăn dưa. Này, làm ơn nói cho tôi biết làm sao con vật ấy lại phân biệt được dưa chín với dưa xanh? Nó đánh hơi phải không? Nhưng mùa thu tới thì tình bạn giữa tôi và nó tạm chấm dứt cho đến năm sau mới lại tiếp tục. Lúc ấy tôi sẽ giữ cho đàn cừu non của tôi cách xa nó. Nhỡ ra nó vì thương lũ sói con mà phạm tội vào mùa rét thì gay, còn tôi thì chẳng thích canh chừng nó, mặc nó muốn sống thế nào tùy ý. Con sói cái già ấy, thông minh và biết kính trọng tôi, thế là tôi cứ mặc cho nó sống yên ổn nốt cuộc đời nó. Sức nó thì cũng chỉ còn vui sống ở trần gian chừng dăm năm nữa... Mà này, các anh chàng tốt bụng ơi, hãy ghi lòng tạc dạ điều này nhé: với con sói cái thì ta có thể tin được trước mùa đông lạnh, chứ còn với Hitler thì xin đừng, chớ có tin đấy. Con vật cái ấy bao giờ cũng đáng tin hơn, bởi vì nó có lương tâm của nó, cái lương tâm dã thú. Chứ với Hitler thì đâu có lương tâm? Hắn đã đè bẹp biết bao nhiêu quốc gia rồi! Với hắn thì không thể chờ đến mùa rét đâu. Lũ sói con của hắn đã lớn lên cả rồi. Chúng đã đủ lông đủ cánh, dữ dằn như gà mái đẻ cả rồi...

Lão chăn cừu cảm ơn một lần nữa về bữa ăn tối, rồi chào tạm biệt.

- Tôi về chăm nom đàn cừu non của tôi đây. Không có tôi là chúng buồn đấy. Dù sao thì có người chúng vẫn yên tâm hơn.

Lộp cộp chống gậy trên nền đất khô, ông đi ra khỏi vùng sáng của đống lửa và biến vào trong đêm tối.

- Ông già lý thú thật! - Alexander Mikhailovich thích thú nói, nghe tiếng nói thì biết anh đang mỉm cười trong bóng tối, - Còn về Hitler thì nói chung là ông ta hiểu đúng. Như vậy có nghĩa là trong nhân dân người ta đã nói đến chiến tranh rồi đấy nhỉ?

- Người ta nói đủ thứ. Thế anh thì anh nghĩ thế nào, hở ông tướng?

- Các chiến hữu của tôi đều chờ đợi. Chỉ mong sao kịp trang bị lại kỹ thuật mới cho quân đội. Nhưng chúng có để cho ta thời gian làm việc ấy không? Về điểm ấy thì chúng không phải là những thằng khờ đâu. Mình đã hai lần chạm trán với bọn Đức, trong chiến tranh thế giới và ở Tây-ban-nha, mình đã quan sát chúng nó. Mình sợ rằng thời gian đầu sẽ khó khăn cho ta đấy. Quân đội của nó đã được động viên, đã dầy dạn chiến đấu, sau hai năm huấn luyện đã nắm chắc kỹ thuật quân sự, nói chung, đó là một kẻ thù nguy hiểm. Nhưng quái thật người Nga bao giờ cũng đánh bại bọn Phổ sao? Lần này chúng ta cũng sẽ đánh bại chúng! Nhưng với giá nào? Mà chú em ạ, khi câu hỏi này đặt ra - có hay là không - thì người ta không nói và không hỏi cái giá phải trả! Thông tin báo chí của ta thì trấn yên nhưng nói chung cứ sống rồi xem. Riêng mình thì mình không loại trừ khả năng sắp đánh nhau, có thể là trong năm nay thôi.

Họ chuyện trò đến gần sáng. Vừa chớm mờ sáng, Alexander Mikhailovich lại đun ấm trà, bỏ cả một nắm trà vào, và vừa nhấm nháp chén trà đặc nóng bỏng vừa nói:

- Ở Siberia, mình quen uống trà hết sức nóng, tất cả chỉ là vì muốn cho ấm người, bây giờ thì không cần nữa nhưng thói quen ấy không bỏ được. Và đây, mình yêu cầu chú một điều. Chú hãy cố mời cho được Ivan Stepanovich của chú đến chơi. Cậu phải chuyện trò với đồng chí ấy. Đồng chí ấy hình dung về thực tế còn ngây thơ lắm. Nếu có một vài người được thả ra thì điều đó không có nghĩa là họ sẽ lần lượt thả ra tất cả đâu. Cái thằng khốn kiếp đã bắt giam chúng mình, chính nó là gián điệp, mà gián điệp thâm niên lão luyện. Mãi đến khi các cơ quan khám phá ra manh mối và thực sự tin chắc rằng hắn làm việc cho cơ quan tình báo Đức ngay từ thời Rapallo, chỉ đến lúc ấy người ta mới bắt tay thẩm tra lại vụ bọn mình, mới tin chắc rằng những điều buộc tội chúng mình là hoàn toàn giả mạo, rồi người ta mới trả lại tự do kèm theo những lời xin lỗi... Bọn mình đã nằm trong các trại giam, và sau hai năm vụ án về bọn mình đã được gỡ ra cho đến một kết thúc hoàn toàn tốt lành đối với bọn mình. Mọi sự đều phức tạp, Kolya ạ. Phức tạp không thể tưởng tượng được! Thôi hôm nay kết thúc câu chuyện ở đây, kẻo lại không buồn đi câu nữa. Cái món độc hại này phải ăn dần từng mẩu nhỏ, nếu không thì sẽ bị mất trí đi đấy. Vả lại chúng ta đang còn cả một tuần để dự trữ kia mà, còn kịp để nói cho hết câu chuyện. Tốt nhất là chú hãy đưa đồ nghề câu cá chép ra đây và giải thích rõ xem phải làm gì để tóm lấy con thú dữ này? Mình đã câu được cá rô rồi, bây giờ mình phải tóm cho được cá chép nữa để về biếu bà Serafima Petrovna. Mình phải là người lịch sự tuyệt vời với các bà các cô mới được. Chú có thấu hiểu được cái nhiệt tình hiệp sĩ của mình không?

- Hiểu chứ. Nhưng không thể phê phán trước về những cái cần câu cá chép đâu, sẽ kiểm nghiệm trong thực tế thôi.

Nikolai vác hai cần câu từ bờ sông vào và nói:

- Cũng một nguyên tắc như câu cá Perca thôi, cũng phải ném câu giống như thế. Chỉ có móc mồi là khác. Anh xem, ở đây cá chép không ăn mồi thực vật, như loại bột nhào, cháo đặc, khoai luộc đâu, nó không quen ăn chay, nó là loại ăn mặn, vì vậy hôm qua tôi phải kiếm sò ốc. Đó là món ăn mà nó khoái nhất đấy.

Alexander Mikhailovich xem xét, sờ nắn sợi cước và phát hoảng lên:

- Thôi đi Kolya, dây của chú to bằng cả que diêm thế này thì còn nói đến những nguyên tắc câu, những mồi miếc này nọ làm gì cơ chứ? Có con cá chép ngu ngốc nào lại bập vào cả cái dây thừng như thế này? Dây câu của chú thì cột được cả con ó đấy?

- Nhưng anh bảo làm thế nào bây giờ? - Nikolai cãi lại, - sợi cước mảnh thì cá chép lớn nó bứt dễ như bỡn. Câu cá chép thì cứ phải dây thừng thật bền vào, chứ cái thứ cước mảnh như sợi chỉ thì chả ăn thua đâu. Anh hiểu chưa?

- Ở đây có cá chép loại bự chứ?

- Tự anh sẽ cảm thấy ở đầu cần câu ấy. Cước nhỏ thì vứt đi không trụ nổi đâu. Cá chép sẽ ngập luôn cả lưỡi câu trong mồm, bị thương và chuồn mất; với em thì cứ phải có dây thừng thật bền vào. Đi săn hay đi câu thì em chúa ghét những con vật bị thương. Dây câu này tôi bện tới mười hai sợi lanh đấy, cứ bứt thử xem.

- Thế trong số dự trữ không có sợi nào nhỏ hơn à?

- Không và sẽ không bao giờ có...

- Thế thì thôi, còn biết làm sao, đành phải chờ cá cắn vào những sợi thừng này vậy. Thật là tồi tệ...

- Phải, đó là những sợi thừng; quả là dây có hơi to thật đấy.

- Chàng trai Chechen đen sì của tôi ơi, bàn cãi làm gì, dây câu to thật mà lỵ.

- Đồng ý là có to, nhưng lại bền. Mà thôi, anh Sasha ạ, anh đừng có định kiến, hãy bình tâm suy nghĩ: nếu anh muốn ăn cá chép xin hãy câu bằng dây câu to. Còn nếu không muốn ăn thì thôi, đừng câu bằng dây nhỏ. Anh hãy lưu ý một điều, sông Cát này là một tỉnh cá hẻo lánh: dân cư nhà chép ở đây rất cổ xưa, ít được học, không con cá nào được học tới đại học, thế là chúng cứ bập vào bất kỳ sợi dây câu nào. Cứ bập vào và tin tưởng rằng với sức mạnh của nó, nó sẽ không chỉ bình tĩnh bứt đứt mọi dây câu to, mà còn cắn nát gãy luôn lưỡi câu, và đôi lúc phá hủy cả cần câu nữa.

Alexander Mikhailovich mỉm cười hoài nghi nhưng không nói gì nữa. Họ tụt xuống khỏi bờ dốc. Alexander Mikhailovich lại ngồi câu trên thuyền. Nikolai thu xếp một chỗ ngồi trên bờ, phía ngược dòng sông khoảng hai chục mét, gần cây dương bị lũ lụt quật ngã đã chìm mất một nửa thân trong nước.

Sáng hôm ấy mát trời, sương mù lơ lửng trên mặt sông. Hạt sương nặng trĩu và uốn cong những lá cỏ xuống đất. Và tiếng chim ríu rít líu lo đủ loại làm cho Alexander Mikhailovich ngẩn ngơ say đắm quên hết mọi sự đời. Chỉ có một thoáng buồn mong manh, mơ hồ, len vào le lói trong tim, khi từ xa vẳng lại tiếng gù não nuột và dễ thương của chim cu.

Chừng nửa giờ đã trôi qua. Mấy cần câu móc mồi nhân sò vẫn bất động. Nhìn những sợi dây câu to tướng màu xám nhạt ngoằn ngoèo, chết cứng ở đầu mấy ngọn cần câu. Alexander Mikhailovich cảm thấy bực bội; vẻ tuyệt vọng lộ rõ trên đôi mắt “Câu mới kéo cái chết tiệt! Thật phí công ngồi lì từ sáng sớm đến giờ. Cứ câu tiếp cá Perca lại còn hơn! - ông suy nghĩ và vươn tay lấy bao “Belomor” đặt ở mạn lái thuyền. Bỗng ông chú ý tới tiếng quẫy nghe lách bách như tiếng nấc khe khẽ. Nhìn lên qua đầu các cần câu, ông thấy giữa lạch hiện ra một con chép vàng nâu óng ánh, dài chừng một mét, đang uốn lưng quẫy nước. Đuôi cá màu đỏ da cam, to bè bè như cái chổi kê, đập nước ầm ĩ, mạnh tới mức tạo nên những cuộn sóng tràn lan đến tận thuyền, dâng cao và lay đầu lái lắc lư, thuyền đã lún sâu xuống, và ngay lập tức dường như đang chờ hiệu lệnh ở bên phía bờ kia, một con chép vọt thẳng đứng lên, con cá thứ hai này mập không thể tưởng tượng được, nó quẫy mạnh cái đuôi rẽ nước bên trái thuyền chấp chới vây vàng rực rỡ và với một tiếng rên rỉ khe khẽ nó lại chuồi vào trong làn sóng xanh biếc.

Trò nô giỡn của lũ cá chép kéo dài liên tục chừng mười lăm phút, rồi các kiểu nhảy nhót thưa dần. Trong suốt cả thời gian ấy, Alexander Mikhailovich ngẩn người lặng nhìn lạch nước nổi sóng, không kịp đếm những con cá chép đã phóng vụt lên cao, và những con chỉ thoáng hiện giây phút lên khỏi mặt nước rồi lại chìm sâu vào trong môi trường thân thuộc, kèm theo một tiếng ọc ạch.

- Bây giờ thì hãy chờ đấy! - Nikolai nói vừa đủ nghe.

Đáp lại anh ta, Alexander Mikhailovich không kìm được niềm phấn khởi, hét tướng lên, hoàn toàn không phải theo kiểu dân đi câu:

- Ma quỷ thánh thần ơi, thật là kỳ lạ quá chừng, Kolya ơi. Cả đời mình, mình chưa bao giờ được thấy một quang cảnh kỳ lạ đến thế!

- Lạy chúa, anh im đi chứ! - Nikolai khẽ tiếp tục khuyên anh.

Alexander Mikhailovich nghe theo, anh im lặng, cặp mắt đầy nhiệt tình nhìn chăm chăm vào mấy ngọn cần câu. Muỗi đốt rất đau vào dái tai bên trái, những nhà đi câu kiên trì chịu đựng, ngứa thì mặc ngứa, không giơ tay lên, chờ cá kéo dây câu. Nhưng hạnh phúc lại không đi về phía ông. Nikolai giật được một chú chép, không to lắm nhưng lại rất hung hăng, anh im lặng cố lôi nó vào bờ.

- Đừng có điên Kolya ơi! Cái chú Ingush quỷ tha ma bắt này, đừng có lôi khi nó đang khỏe. Cứ để cho nó hăng máu quẫy tha hồ, rồi nó sẽ phải ngoan ngoãn thôi, - Alexander Mikhailovich nhiệt tình khuyên, ông đứng thẳng cả người lên ở đầu lái và cứ liên hồi dậm dậm đôi chân trần vì quá xúc động.

Nhìn cần câu vừa mới uốn vòng cung, Alexander Mikhailovich đã thấy toàn thân run lên.

Một con chép đã nổi lên mặt nước và ngáp không khí, nó cố thu toàn lực hung hãn bơi vòng quanh chừng bốn năm phút nữa, để lại phía sau sợi dây câu những vòng tròn trăng trắng, xiên xiên trên mặt nước trong veo. Lát sau, một chàng cá chép đẹp mã, lườn vàng chừng bốn cân đã nằm ở đáy vợt rộng. Alexander Mikhailovich không nhịn nổi, bước tới xem.

Ông ngồi xổm, trìu mến xoa xoa cái lườn trơn nhẫy mát lạnh của con cá và ấm ức nói:

- Cái may mắn chỉ tìm đến những cậu tóc mun, mấy cậu dân Nogai, Kumyk và các cậu đại diện cho dân tộc thiểu số! Còn anh - anh chàng Nga chính cống lâu đời, - anh ngồi trên dòng sông lâu đời của tổ tiên anh, anh ngồi cứ như phỗng, và thế là cái thằng chép đáng nguyền rủa này vòng tránh anh, và không hiểu sao lại bập vào cần câu của con cháu Chechen, dòng dõi dân Tatar vùng Crimea đã bị chinh phục từ ngày xưa! Thật là cả một điều tệ lậu đáng rút phép thông công. Thật kỳ quái! Nhà thông thái nào nắm được cái bí ẩn ấy nhỉ? Chú nghĩ thế nào mặc kệ chú, chứ mình thì đang điên tiết lên vì ganh tị đấy.

- Thôi anh cứ về thuyền đi! Hạnh phúc đang chờ anh đấy, hỡi hiệp sĩ đã trao quả tim mình cho bà Serafima xinh đẹp, - Nikolai vừa chuẩn bị dây xâu cá vừa mỉm cười.

- Đối với chú thì đó chỉ là trò đùa, còn tôi, thì tôi làm sao mà nhìn mặt bà ta bây giờ? Khi bà ấy đặt vào giỏ nửa lít vodka, tôi đã xúc động áp bàn tay vào tim mình, nói nhỏ rằng: “Serafima Petrovna ơi, một con chép béo nhất, bự nhất từ vực Pachomova, do tự bàn tay tôi tóm được, ngày mai sẽ được đặt dưới chân bà?”

- Thế bà bảo sao?

- Bà cười như một bà hoàng và nói: “Tôi tin ở anh, Alexander Mikhailovich ạ”.

- Alexander Mikhailovich thân yêu chứ?

- Không, Alexander Mikhailovich trống không thôi, còn hai tiếng “thân yêu” thì lơ lửng trong không khí, nghĩa là chỉ hiểu ngầm thôi.

- Thế thì thế này này, “Alexander Mikhailovich trống không” ơi, để cho lời hứa của anh không lửng lơ trên không khí, để bắt được con cá thực sự, chứ không phải là con cá hiểu ngầm, để cho Dulcinea Petrovna lại cười như một bà hoàng một lần nữa, thì xin anh hãy đi đi, đi xem lại mồi và kiên trì chờ đợi.

- Rõ! đi xem lại mồi và kiên trì chờ đợi! - Alexander Mikhailovich quay ngoắt người đi suýt ngã, vì chân vấp phải một tảng đất sét, nhưng gượng lại được và mỉm cười nhanh nhẹn bước trở về thuyền.

Mặt trời lên, không khí mát dịu hơn, gió nhẹ hây hây, sương mù tan hết, những vòm cây dương phô sắc, xanh tươi, rạng rỡ dưới ánh sáng tưng bừng của vầng thái dương mới nhú ở chân trời.

“Chép loại nhỏ, loại trung thì cắn nhanh, giật mạnh, còn loại to bự thì đè nặng chậm rãi, từ từ nhấn chìm ngọn cần câu xuống nước”, Nikolai tiếp tục lên lớp ông anh. Nhưng chỉ lát sau, chính cái kiểu cắn câu ấy đã bắt Alexander phải sống khoảnh khắc căng thẳng cao độ. Dây câu căng sang phía bên phải cần câu, hơi động đậy tí chút, hạ thấp xuống, rồi sau đó ngọn cần câu bắt đầu oằn xuống rất chậm, chậm kinh khủng. Tập trung toàn bộ ý chí, Alexander Mikhailovich chờ đợi, cho đến khi ngọn cần câu chúi xuống nước, lúc ấy mới dẻo tay giật một cái thật mạnh, ông thoáng có cảm giác như lưỡi câu bị mắc cứng vào gốc cây dưới đáy sông. Nhưng ngay liền sau đó, một sức kéo rất mạnh làm cho Alexander Mikhailovich nhẩy bật dậy, cả hai bàn tay nắm chặt lấy cán cần câu. Một lực rất gần ngang với sức ông, cứ một mực uốn cong cần câu, mỗi lúc càng mãnh liệt.

Nikolai chạy tới thuyền, nhẩy những bước dài hơn hai mét qua những đống đất bờ lở xuống lổn nhổn. Tay trái anh nâng cao cái vợt vung vẩy phía trên đầu:

- Cần câu! Hất ngược cần câu về phía sau. Đừng để nó kéo thẳng dây câu! - Anh hét lên.

Nhưng Alexander Mikhailovich không nghe anh nói ông đạp chân trái vào chỗ ngồi ở đầu lái, ngả người về phía sau, cưỡng lại cái sức mạnh man rợ đang giật cần câu ra khỏi tay ông, và ông nghe gọn lỏn một âm thanh rùng rợn: dọc theo cần câu, từ giữa cho tới chỗ tay cầm, vang lên một tiếng “rắc” khô khốc dường như có một dòng điện chạy qua đoạn cây ấy. Tiếng kêu “rắc” ấy, không phải ông ta chỉ nghe mà còn cảm thấy bằng cả những ngón tay xiết chặt đến trắng bệch ra, bằng cả những bắp thịt của cánh tay.

Nikolai chạy đến tận thuyền, vừa chạy vừa kịp kêu lên:

- Buông ra! Phải, buông ra đi!...

Ngay lúc ấy, cái cần câu, bị uốn cong vì sức mạnh của hai bàn tay người câu cá, bật trở lại xuôi cùng chiều với dây câu, và duỗi thẳng ra, kêu răng rắc nghe âm vang và khô khốc như tiếng gỗ bị gẫy, thế là xong.

- Chú thấy chưa? - Alexander Mikhailovich lắc lư, quay khuôn mặt tái mét về Nikolai, hỏi giọng khàn khàn bi đát.

- Thấy gì? Cần phải buông ra cho kịp thời!

- Nhưng... sợi thừng như thế, mà buông ra à?

- Bây giờ thì anh hẳn đã tin rằng, ở xứ Cát này có loại cá chép như thế nào rồi chứ? Ôi khoa học đối với kẻ hay nghi ngờ!

- Không, Kolya ạ, nhưng quả đó là điều không thể tin được. Có ma quỷ nào biết được nó ra sao! Lôi cứ như là dùng ròng rọc. Một sức mạnh không thể tưởng tượng nổi! Mình không thể nào lôi nó lên khỏi đáy sông... Không, với kiểu câu cá như thế này thì nhất định là mình sẽ bị chứng nhồi máu cơ tim thôi, bệnh nhồi máu thực sự đấy. Giờ đây mình vẫn chưa hoàn hồn! Đầu gối mình vẫn còn run, như là trẻ con.

- Không việc gì đâu, cứ hít thở thật sâu vào, thế là qua hết.

- Những lời khuyên của chú chẳng đáng giá một đồng xu nhỏ. Mình sẽ ngồi ở cái vực này, chờ bắt cho kỳ được ông cụ tổ của con cá chép ấy. Dù cho phải ngồi một tháng, tớ cũng chờ tóm cho kỳ được! Mà nếu như bỏ cần câu ra thì sao? Nhất định là nó sẽ lôi xuống tận gốc cây dưới vực!

- Nhất định rồi!

- Thế sao chú lại bảo: cần phải bỏ ra cho kịp thời?

- Nhưng dù sao vẫn còn có hy vọng, có thể nó lại đi về phía kia. Thường vẫn xẩy ra như thế đấy...

- Ở làng các cậu, khi bắt lợn con chứ gì?

Nikolai cười phá lên ầm ĩ, tiếng cười từ nãy đến giờ cố nhịn được bung ra thoải mái. Alexander Mikhailovich cười nụ, nhưng nụ cười có cái gì đó rất chua chát.

Ông vẫn chưa trấn tĩnh được sau cơn xúc động và khi châm thuốc hút, bàn tay ông vẫn còn run rõ rệt, mãi vẫn chưa rút được que diêm ra khỏi vỏ.

Khoảng gần tám giờ, một con cá chép nữa lại bập vào cần câu của Alexander Mikhailovich, ông túm lấy cái vợt và bước ra sân, vội vã qua đến nỗi đang hút thuốc, ông đã đánh rơi bao thuốc xuống đáy thuyền ướt và chật vật lắm mới giữ được cần câu. Con cá chép nổi lên lưng chừng, láu lỉnh quay hai vòng rồi lại trồi hẳn lên mặt nước, cuộn thành một vòng xoáy xanh biếc, dữ dội, nó đập đuôi một cái bách và thoát khỏi lưỡi câu.

Nikolai đã đứng bên cạnh thuyền, chuẩn bị sẵn vợt, nhận xuống nước, vậy mà con cá chép đã xảo quyệt đánh lừa, làm hai vị đi câu bị thất vọng.

Lần này thì Alexander Mikhailovich có vẻ bình tĩnh chấp nhận thất bại của mình. Xem lại cái lưỡi câu. Ông nói giọng yếu ớt:

- Rủi quá! Rủi quá chừng! Mình chỉ tự an ủi có một điều là con cá chép này rõ ràng không phải cụ tổ của con lúc nãy, mà chỉ là cháu chú, bác thôi.

- Một chút an ủi yếu ớt. - Nikolai nói và mỉm cười thông cảm.

- Anh chàng dân Ossetia dễ thương ơi, trong cảnh khốn khổ, một tí an ủi yếu ớt cũng đã là vàng rồi đấy. Chú xem còn vodka không?

- Còn hơn nửa chai và một chai nguyên xi.

- Lấy đâu ra một chai nguyên xi.

- Tôi bí mật mang đi, nhét vào trong áo mưa khi ra khỏi nhà.

- Ôi, cái cậu dân tộc Imeretia thân yêu! Chú thật là thiên tài! Bây giờ mình phải về lều và rót cho mình cả một cốc đầy để giải phiền. Mình quỵ mất, tâm thần bất định rồi. Mình như cái thân con sò này bị tả tơi ngay trước mắt mình.

- Nhưng anh không được uống, anh Sasha ạ.

- Trong trường hợp này thì chính Botkin cũng sẽ cho phép. Đừng cản trở người lớn! Không được ngỗ ngược!

Họ vừa sắp sửa ăn sáng dưới cây du ân cần hiếu khách thì nghe phía bên kia sông, có tiếng động cơ ô tô và một tiếng còi ngắn.

- Chắc là gọi tôi rồi. - Nikolai vừa nhìn sang rặng cây trăng trắng ven bờ vừa thốt lên, vẻ không bằng lòng.

- Có chuyện gì thế?

- Có thể là một cuộc họp, dễ gì mà lường trước được. Nhưng dù sao cũng là hoàn toàn không đúng lúc. Anh Sasha ạ, nếu tôi về thì anh cứ ở lại nhé. Ngày mai hoặc là tôi sẽ tới, mang thức ăn cho anh, hoặc là tôi sẽ cho người đến.

- Rất vui lòng thôi.

- Ở lại một mình anh không buồn chứ?

- Cậu nói gì thế! Đối với mình thì câu cá và cô tịch là những nguồn an ủi trọn vẹn... Nhưng ai đến đấy?

Từ sau các lùm cây belotal, hai người đang tiến về phía bờ sông. Nikolai chăm chú nhìn và nói:

- Lái xe của huyện ủy và đồng chí cán bộ huyện Vanya Petlin. Không, có chuyện gì khác đấy...

- Nikolai Semenovich, cho tôi qua sông mấy! - Có tiếng vọng từ bên kia bờ.

Nikolai im lặng bước xuống thuyền.

Thượng úy Petlin vừa mới giải ngũ khỏi Hồng quân năm ngoái, đi đều bước theo đúng điều lệnh, tới gần Alexander Mikhailovich dơ tay lên ngang vành mũ lưỡi trai pháo binh.

- Xin phép báo cáo đồng chí đại tướng - Và anh ta đưa một bì thư, - có công văn mật gửi đồng chí.

Alexander Mikhailovich đọc xong. Nụ cười rộng mở trên môi, anh ôm chặt lấy Nikolai đứng bên cạnh. Anh thở hổn hển và nói ngắt quãng:

- Ôi, chú em ơi! lệnh phải lập tức đến Moskva nhận nhiệm vụ. Bộ tổng tham mưu ra lệnh đấy. Georgy Konstantinovich Zhukov đã nhớ tới mình! Thế chứ, chúng ta sẽ phục vụ Tổ quốc và Đảng Cộng sản của chúng ta. Với niềm tin và chân lý, chúng ta phục vụ đến cùng! - ông xiết chặt Nikolai trong vòng tay của mình, và Nikolai, lần đầu tiên trong suốt thời gian qua, thấy những giọt lệ trên đôi mắt đục mờ của anh.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Они сражались за Родину - Михаил Шолохов
Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Mikhail Solokhov