Họ Chiến Đấu Vì Tổ Quốc

Lượt đọc: 235 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
***

❊ ❊ ❊

Đã cuối tháng năm rồi, thế mà trong gia đình Streltsov mọi sự đều cứ như cũ. Một cái gì đó vô phương cứu chữa đã phá hoại cuộc sống chung của Olga và Nikolai. Dường như một đường rạn nứt vô hình đã xuất hiện trong quan hệ giữa hai vợ chồng và dần dần những quan hệ ấy ngày càng trở nên ngột ngạt khó thở; chỉ mới nửa năm trước đây thôi, họ đâu tưởng tượng nổi lại có thể có chuyện như hôm nay. Ngày này sang ngày khác, cứ tan biến dần mối tình ý hợp tâm đầu ngày trước đã từng gắn bó họ như keo sơn; đã qua rồi những cuộc trò chuyện tâm tình đáng yêu giữa đôi lứa vào những buổi tối gia đình; và đã đến lúc không còn ai muốn trao đổi với ai những lo lắng băn khoăn, những bực mình hay những niềm vui nho nhỏ trong công tác. Trái lại thường xẩy ra nhiều hơn trước, là những trường hợp vì chuyện không đâu bỗng nổ ra cãi cọ và to tiếng, cứ như củi khô gặp gió, thảng hoặc có những lúc dàn hòa ngắn ngủi nhưng cũng giống như cuộc ngưng chiến giữa hai trận tuyến thù địch: đôi bên vẫn không ngừng cảnh giác đề phòng, vẫn không cất bỏ được mối căm thù lẫn nhau ngấm ngầm nẩy sinh từ đâu đó, tận chỗ sâu kín của tâm hồn.

Trong quan hệ giữa họ, thái độ lạnh nhạt ban đầu còn khó thấy nhưng ngày càng tăng và đã trở thành quen đi đến đáng sợ; nó chen vào cuộc sống, trở thành một bộ phận gắn liền với nó, và không còn hy vọng gì cứu vãn. Đôi lúc Nikolai cảm thấy cái cảm giác thuần túy thể xác như là đã lâu rồi phải sống trong một căn phòng không sưởi ấm, lúc nào cũng cứ muốn được ra tắm nắng...

Như một kẻ đứng từ bên ngoài để nhìn vào bản thân mình, Streltsov nhận thấy rằng, trong công tác cũng như ở nhà, anh ta không tự chủ được và dễ cáu gắt lạ lùng: trong tiếp xúc với mọi người anh cảm thấy mình ngày càng hay cố chấp hay phát khùng một cách vô cớ. Mà trước đây anh có thế đâu... Vả lại anh cũng thấy những đổi khác như vậy trong tính cách của Olga. Tất cả những điều ấy đã gây nên nhiều vụ tranh chấp bất ngờ dẫn tới chuyện cãi cọ, không sao tránh khỏi.

Trong đau xót, trong đợi chờ khắc khoải, Nikolai cảm thấy Olga ngày càng xa cách anh, ngày càng đi xa hơn và rõ ràng là anh không còn đủ sức để hoặc dịu ngọt kêu gọi hoặc bắt cô ấy quay trở lại. Ý thức về sự bất lực của mình, về việc không còn khả năng cải tạo bất kỳ một cái gì, về sự chờ đợi nặng nề chuyện ly hôn đang ngày càng tiến đến gần, ý thức ấy làm cho cuộc sống chung dưới một mái nhà trở thành vô cùng nặng nề và chán ngán.

Hơn nữa, từ sang xuân với lý do kỳ thi sắp tới, tất cả thời giờ rảnh rồi sau bữa ăn trưa, Olga hoặc đến trường hoặc đến các cô giáo bạn bè. Cô ta hầu như không còn quan tâm gì tới đứa bé, và hoàn toàn phó mặc cho bà cụ trông nom. Nikolai tìm mọi lý do không đâu vào đâu để ít phải ở nhà: công việc cày xuân, tẩy hạt giống, gieo xuân, rồi sau đó là trồng cây hàng rộng, chạy vạy lo toan về đất bỏ hóa, làm cỏ lúa mì... Tất cả mọi thứ ấy ngốn hết thời gian của anh ta. Sáng sáng, với cảm giác nhẹ nhõm pha lẫn xót xa, anh rời bỏ nhà mình và chỉ đến khuya mới trở về, khi Olga đã kiểm tra xong bài vở và đi ngủ rồi; kể ra trong một chừng mực nào đó thì như vậy cũng đỡ phải đụng độ. Nhưng trong khi lẩn tránh nhau, thâm tâm sợ phải ngồi tay đôi với nhau, họ đã trì hoãn cái giờ phút để nói lên với nhau điều quyết định, và như thế là họ càng làm trầm trọng thêm nỗi đau khổ của nhau và tình trạng không ổn định trong gia đình.

Rõ ràng là cả Olga và Nikolai đều sợ sự ly hôn, và mặc dù cả đôi bên đều thấy không còn có cách nào hàn gắn được nữa, nhưng chẳng ai muốn rằng mình là kẻ đầu tiên đề xuất ý kiến.

Tuy kỳ lạ thật đấy, nhưng ngay từ đầu cuộc xung đột gia đình, bà nhạc của Nikolai đã đứng về phía con rể. Đôi lần vì một lý do nào đó mà Nikolai về nhà bất thường, thì từ xa ngoài sân anh đã nghe vọng ra tiếng cãi nhau sôi nổi giữa Olga và bà Serafima Petrovna, nhưng khi anh bước vào tới hiên, sờ vào nắm đấm cánh cửa thì trong nhà đột nhiên im bặt. Bà nhạc mím chặt môi bước qua trước mặt Nikolai đường bệ và nghiêm khắc trong cơn giận dữ của người mẹ; còn Olga mắt đỏ hoe, tìm cách thoát nhanh ra khỏi nhà, và biến đi rất lâu, chỉ tới chạng vạng mới trở về để không ai trông thấy được cái mặt sưng húp, xấu đi vì nước mắt.

Và đây, lại còn chú Kolya bé bỏng nữa. Với cái tinh anh của lứa tuổi đã bắt đầu biết, cậu bé nhận thấy được sự bất hòa giữa bố và mẹ, nhưng chú vẫn chưa hiểu được lý do, chú theo bà sang phòng của bà cạnh bếp, học bài và ngủ luôn ở đó: dứt khoát chuyển sang ở với bà với lý do là ban đêm ngủ một mình cậu ta sợ. Nhiều lần vào bữa ăn trưa hay ăn sáng, Nikolai bắt gặp những cái nhìn dò hỏi thoáng qua rất nhanh của cậu bé, nhưng rõ ràng, là anh không thể giải đáp được. Con người bé nhỏ rất muốn hiểu biết này chưa đủ trình độ để nghe câu chuyện...

Olga và Yuri Ovrazhny gặp gỡ nhau không phải chỉ ở trường. Nikolai đoán biết được điều ấy nhưng anh không thể tự bắt mình phải theo rình vợ; dù thế nào đi nữa anh cũng không thể làm như vậy được. Điều đó vượt quá sức của anh. Và khi nào nàng lưu lại ở trường hay ở nhà bạn bè đến khuya thì anh ta ra khỏi nhà, im lặng ngồi trong bóng tối ở bậc thềm, hút thuốc, chờ đợi. Sau hàng rào vang lên tiếng bước chân gấp gáp của Olga. Anh phân biệt được những tiếng bước chân ấy giữa muôn ngàn bước chân phụ nữ, anh còn nhớ như in cái dáng đi thoăn thoắt nhanh nhẹn ấy. Và bao giờ cũng thế, nghe tiếng gót giày lóc cóc quen thuộc, anh cảm thấy hơi ngạt thở và dường như tim muốn đập chậm lại. Olga lặng lẽ đi qua, phả vào anh mùi hương của chiếc áo dài mới giặt, của bụi ẩm ban đêm, còn anh nhẹ nhàng tránh đôi bàn chân trần của mình sang bên, để nàng đi qua rồi theo gót đi vào bếp. Ở đó họ lặng lẽ ăn tối, họa hoằn mới trao đổi vài câu vô nghĩa, rồi ai về giường nấy ngủ. Sáng hôm sau mọi sự lại bắt đầu như hôm trước.

Suốt cả mùa xuân Nikolai chỉ gặp Ovrazhny có một lần, tình cờ trên đường. Anh đi ngựa từ Voronka ra đồng, Ovrazhny đi ngược về phía cửa hàng hợp tác. Trên đường còn nhiều vũng nước, gió nhẹ thổi gợn lăn lăn. Nước trong các vũng lấp loáng rất khó chịu dưới ánh mặt trời, không khí được sưởi ấm sực nức mùi tuyết tan nhàn nhạt, mùi đất đen ẩm ướt. Vó ngựa dẫm lóc bóc vào các vũng nước bắn tung tóe, lóe sáng đủ màu sắc rực rỡ dưới ánh mặt trời. Bùn nhão đen có dầu mazut lép nhép và bật văng lên từng cục dưới vó ngựa. Lũ gà trống gáy inh ỏi, láo nháo, trong một khu vườn gần đâu đó. Có tiếng gà mái cục tác uể oải, và con sơn ca đầu tiên thử sức mình, cất tiếng hót giữa bầu trời xanh biếc còn ám khói, sà xuống miếng đất ẩm của bãi chăn nuôi. Trong bầu không khí hân hoan thanh bình đang ngự trên vùng Khe Cạn này. Nikolai quên hết mọi sự ở đời, anh để mình lắc lư theo nhịp chân ngựa buông cương; toàn tâm toàn ý tận hưởng làn gió mát và ánh mặt trời; vừng mặt trời chỉ ẩn mình chốc lát sau những đám mây cứ như những đám mù trong suốt - tận hưởng những tiếng hót thử còn rụt rè của chú sơn ca...

Bỗng anh thấy không xa lắm Ovrazhny thận trọng lần theo dọc hàng rào, trượt trẹo bước trong bùn bẩn. Anh vụt cảm thấy cổ họng co thắt ghê gớm làm anh nghẹt thở. Thế giới thốt nhiên câm bặt, hoàn toàn không một âm thanh. Nikolai chỉ còn thấy có Ovrazhny đang tới gần. Anh nhìn rõ y từ đầu đến chân: đẹp trai, ngăm ngăm hồng hào, khuôn mặt tròn với một vành ria mép đen, bờm tóc đen nhánh xòa dưới vành mũ mềm màu xám những hình vuông đen và đồ thêu trên chiếc sơ mi Ukraine, cái áo vét sọc xám khoác cẩu thả trên đôi vai rộng và cân đối. Anh nhìn thấy đôi chân lội bùn và chiếc quần đen đã cũ đôi ủng ngắn bắt đầu vấy bẩn. Đó là hình ảnh Yuri Ovrazhny mà Nikolai ghi nhớ mãi suốt đời, như bức ảnh chụp được bằng phim màu. Và lúc ấy Nikolai nhìn chằm chằm vào mặt của con người đã phá hoại đời anh, đã trở thành kẻ thù không đội trời chung. Xáp mặt nhau, Ovrazhny vui vẻ nhe hàm răng óng ánh:

- Chào anh, Nikolai Semenovich! Ôi giời, đường xá lép nhép đến bẩn! Thế mà lại gọi cái đất quý báu này là Khe Cạn.

Nikolai muốn đáp lại lời chào, nhưng trong cổ anh như có cái gì đó khò khò ọc ạch. Anh cố bắt cuống họng nuốt mạnh một cái, nhưng không tài nào thốt ra tiếng. Và khi cất bàn tay phải lên thành mũ lưỡi trai, thì cái roi ngựa ở tay cứ như là quả tạ...

Đi khỏi chừng mươi bước, Nikolai chống tay trái vào đệm yên nhìn ngoái lại. Ovrazhny đang nhìn anh, y vịn vào một cọc rào và trên đôi môi rất rõ nét, chớm hiện một nụ cười mơ hồ.

Cho tới chỗ ngoặt vào ngõ hẻm, Nikolai để ngựa đi bước một, lại lắng nghe tiếng phì phò thoải mái của con Ô, và tiếng hót kiên trì ca ngợi mùa xuân của chú sơn ca. Thế giới, trở lại tràn ngập âm thanh, hương vị và hơi thở của sự sống...

Sau chỗ ngoặt Nikolai cho ngựa phi nước kiệu, ra khỏi làng anh cho phi nước đại và chỉ sau chừng một cây số rưỡi mới kìm ngựa lại trên thảo nguyên. Cả người lẫn ngựa dừng lại, đều thở phào.

Ừ, chính là mình có thể giết hắn. Tất cả có thể xẩy ra chỉ vài phút trước đây thôi. Chẳng hạn, ta có thể như đang quá đà xáp sát gần hắn, giơ tay ra và không bắt tay mà xiết chặt lấy cuống họng. Rồi chỉ trong nháy mắt, ta đã đè hắn nằm dưới bùn. Ai có thể gỡ hắn ra khỏi tay mình? Ai có thể rứt bàn tay ta ra được. Trên đường chẳng có một ai. Đến khi mọi người biết được thì... Mình khỏe hơn hắn; khỏe hơn rất nhiều. Tay trái mình đè tay phải hắn dưới đất, và thế là xong! Và rồi sau đó…

Trong phút chốc, lập tức cái trí nhớ quá mẫn cán của anh nhắc anh tới chuyện mười hai năm trước, hồi còn ở học viện, trong một cuộc vui ở nhà một người bạn cùng lớp, suýt nữa thì anh bóp chết ngạt một cậu bạn vì hắn đã xúc phạm tới anh. Hồi đó người ta phải giáng một ghế đẩu nặng vào đầu khiến anh bất tỉnh nhân sự thì bàn tay anh mới chịu buông... Và lại hiện ra trước mắt anh khuôn mặt đẹp trai của Ovrazhny và nụ cười ngập ngừng, lơ láo...

Nikolai thấy hơi buồn nôn, anh cất cái mũ lưỡi trai ra khỏi đầu. Hai bàn tay anh đẫm mồ hôi.

Từ đó anh cố tránh để khỏi xáp mặt Ovrazhny. Cũng không nên liều mạng. Cũng không nên đùa với sinh mệnh của kẻ khác và của chính mình...

Còn tình trạng không ổn trong gia đình dường như rồi cũng thành quen đi, như vết thương đã lại mọc da. Và chỉ vào những ngày đầu tháng sáu, cuộc sống tẻ nhạt này mới bị chấn động mạnh vì một bức điện do người anh của Nikolai từ Kislovodsk đánh tới. Người ta trao bức điện cho Nikolai vào buổi sáng ở văn phòng trạm máy kéo: “Đón anh ở ga ngày hai, tàu hai mươi hai, toa số bảy, hôn em. Alexander”.

Không kìm giữ được nụ cười sung sướng, Streltsov vào văn phòng giám đốc có phần vội vã hơn ngày thường, sẽ sàng đặt bức điện lên bàn:

- Ivan Stepanovich ơi, tôi có khách.

Qua đôi kính gọng kim loại, giám đốc ngạc nhiên nhìn Nikolai:

- Chả nhẽ ông anh đến ư?

- Chính anh ấy đấy.

- Nhưng giấy điều dưỡng của anh ấy hình như đến tận giữa tháng sáu cơ mà.

Vẫn nụ cười trên miệng, Nikolai giang rộng đôi tay nói:

- Hình như anh ấy không chịu được chế độ điều dưỡng ở đấy nên chuồn trước thời hạn. Ở đó lạ, anh ấy không thích: mà theo tôi nhớ thì đây là lần đầu tiên anh ấy đi điều dưỡng đấy. Anh ấy bao giờ cũng thích kiểu nghỉ tự do, thoải mái, săn bắn, câu cá...

Giám đốc đọc lại bức điện một lần nữa, bỏ kính vào túi trên của chiếc áo vét bằng vải thô đã cũ, hể hả nói:

- Ái chà, ông anh cậu khá thật, Nikolai ạ. Anh ta đã suy nghĩ đúng đấy. Ở chỗ chúng ta đây, anh ấy nghỉ ngơi tốt hơn và bệnh tim cũng được chữa khỏi một cách nhẹ nhàng. Theo tôi thì không khí thảo nguyên đồng nội của ta không phải chỉ chữa khỏi bệnh tim mà còn chữa được mọi thứ bệnh. Tôi đã đọc ở đâu đó rằng bá tước Tolstoy đã đi Bashkir chữa bệnh bằng khí trời và uống sữa ngựa đấy. Chà, cái sữa ngựa ấy thì còn phải xét lại đã... Trong thời nội chiến tôi đã uống sữa ngựa của dân Kalmyk và đã xác định rằng nó chẳng bổ béo gì đối với người Nga đâu. Chỉ có ợ chua lên mũi và sôi bụng, thế thôi, chẳng bổ béo gì ráo! Tôi uống chỉ vì tò mò cho biết và chỉ uống sữa tươi mới vắt. Cậu chưa bao giờ uống thử chứ, Nikolai? Chưa hả? Thế thì thôi đừng thử làm gì. Một thứ nước xanh xanh mới dọn ra thì rất nhiều bọt, chẳng thấy bổ cũng chẳng thấy no; nhưng thấy sao được, vì có gì đâu mà thấy.

Lặng im một lát, rồi để cho có sức thuyết phục hơn, ông nói thêm:

- Tất nhiên, chỉ một mình khí trời, dù là khí trời của chúng ta thì cũng không thể nuôi sống người được. Nhưng ở đây cùng với khí trời không có thứ sữa ngựa tồi tệ ấy, mà lại có thứ sữa bò tự nhiên nguyên chất, có năm phần trăm chất béo, trứng gà mới đẻ còn nóng hôi hổi, chứ không phải loại trứng khô khốc, rồi mỡ lá từng lớp dày đến một phân tư; rồi các loại bánh, mằn thắn, với kem sữa, thịt cừu non; còn quả tim nào ngang bướng được nữa, dần dà cứ phải đập đúng nhịp thôi. Và nếu thêm vào đó thứ cháo củ cải đỏ ngon lành, mỗi bát tô trước bữa ăn trưa thì ông anh cậu có thể sống ở đây đến một trăm năm và cho đến chết chẳng hề nấc cụt lấy một cái. Anh ấy quyết định đến đây với chúng ta như thế là đúng đấy, vô cùng đúng đấy!

Từ những lời nói của con người thảo nguyên hừng hực sức sống, toát lên cả một niềm tin chất phác, có phần ngây thơ kiểu trẻ con khiến cho Nikolai đã có thể cười cởi mở và nói:

- Tôi cũng nghĩ như thế, Stepanych ạ, còn ô tô thì thế nào?

- Còn phải bàn gì nữa, sáng sớm mai lấy xe ra ga đón anh ấy.

- Thế đồng chí lấy xe đâu mà đi?

- Nếu có việc cần thì tôi đi ngựa, anh cứ lấy xe. Ông anh của cậu là cấp tướng, mà lại đang ốm không thể đón anh ấy một cách tùy tiện như thế được. Cậu nói với lái xe chuẩn bị và đi thật sớm. Bảo lái cho khéo đừng để nó nhẩy như ngựa trên đường đầy ổ gà của chúng ta: ông ấy đang ốm mà.

- Cảm ơn đồng chí Stepanovich.

- Còn cần gì nữa không? Chúc cậu may mắn!

- Một lần nữa xin cảm ơn đồng chí. Tất nhiên là tôi sung sướng vô cùng. Chín năm chưa được gặp nhau rồi mà.

Giám đốc đứng dậy, rời khỏi bàn:

- Tôi đi xuống xưởng đây, anh đã có kế hoạch gì chưa?

- Tôi phải báo tin cho người nhà chuẩn bị đón tiếp. Xin đồng chí cho tôi nghỉ phép ở nhà hôm nay.

- Tất nhiên rồi. Tôi có thể giúp đỡ gì chút ít chăng?

- Cám ơn đồng chí, mọi thứ đều đầy đủ, tôi sẽ lo liệu lấy được.

Chân cứ dậm dậm tại chỗ bên cạnh bàn, giám đốc nhích sát tới gần Nikolai và không hiểu sao ông lại hỏi thầm:

- Anh ấy đã bị giam bao lâu. Mikola nhỉ?

- Ít nhất là bốn năm rưỡi.

Ivan Stepanovich cau mặt xót xa. Rồi ông kiên quyết bước tới cửa khóa lại, ra hiệu mời Streltsov ngồi xuống, rồi nặng nề tự gieo mình vào chiếc ghế bành cổ; chiếc ghế được sản xuất từ thời trước cách mạng không chỉ kêu cót két mà còn rít lên thảm thiết dưới thân hình ông. Sau phút im lặng ngắn ngủi, ông hỏi:

- Cậu có biết tại sao anh ấy được thả ra không?

Streltsov im lặng nhún vai. Câu hỏi đến với anh quá bất ngờ.

- Nhưng dù sao thì cậu cũng nghĩ như thế nào chứ!

- Chắc là rốt cục rồi người ta cũng thấy rằng đã kết án bất công, thế là thả ra thôi.

- Cậu nghĩ như thế đấy à?

- Còn nghĩ cách nào khác được nữa, hả đồng chí Stepanych?

- Còn cái đầu óc đơn giản của tôi thì nghĩ rằng mắt đồng chí Stalin bắt đầu mở ra chút ít.

- Nhưng này đồng chí... thế nào, đồng chí ấy nhắm mắt mà lãnh đạo đất nước sao?

- Đại khái như vậy. Nhưng không phải bao giờ cũng thế, mà từ năm ba mươi bảy.

- Từ trạm máy kéo của chúng ta, tôi với bác thì thấy được gì? Có phải chúng mình ở cương vị lên án những chuyện ấy không? Theo bác thì Stalin năm năm sống mù quáng rồi bỗng chốc sáng mắt ra à?

- Ở đời vẫn có chuyện như thế đấy...

- Tôi chả tin vào những điều huyền diệu...

- Tôi cũng vậy, tôi không tin những điều huyền diệu, nhưng với trường hợp của ông anh cậu thì không còn có cách giải thích nào khác được. Đồng chí Stalin còn lạ gì Yezhov. Và anh biết sao được, có thể là đồng ấy chí ấy đã khởi sự gọt đầu Beria...

- Ta đi đi, tôi đưa bác xuống xưởng. Tôi không thích nói chuyện theo kiểu của bác; thì thầm, thì thầm rồi bỗng hét tướng lên... Thôi, trên đường tới xưởng ta sẽ nói nốt câu chuyện.

- Thế tôi là một nhà hoạt động, bí mật tồi nhỉ.

- Chả ra gì! Bác rất dễ bị kích động.

Giám đốc rên khừ khừ tay nắm lấy vùng thắt lưng và đứng lên một cách khó nhọc, ông khập khiễng đi về phía cửa, lầu bầu cáu kỉnh:

- Khoa học bảo rằng bệnh viêm rễ thần kinh là do bị cảm hàn. Chuyện vớ vẩn, chứ khoa học gì. Mình cũng là thầy thuốc đấy. Mình ấy à, hễ cứ xúc động là cái thứ viêm rễ thần kinh khỉ gió này lập tức nổi lên ở cái xương cụt vùng thắt lưng. Đứng cũng thế, ngồi cũng thế. Mình có quan điểm y học của mình, họ không bịp được mình đâu. Cái của này của mình đã bị xộc xệch từ hồi nội chiến.

Họ im lặng bước dọc hành lang vắng ngắt, qua một lối đi tối mò, họ bước ra sân xưởng vắng tanh. Gió lang thang rầu rĩ khắp cái sân rộng mênh mông với một hàng rào xám xịt bao quanh lướt trên những ngọn cỏ bị bánh xích máy kéo quần cho khô héo. Gió cứ luôn luôn đổi chiều: khi thì lặng lẽ từ phía tây thổi tới, khi lại từ phía nam và đôi lúc chẳng biết vì sao nó lại ráo riết hơn, mãnh liệt hơn. Sáng hôm ấy mát trời. Một đám mây đơn độc trắng như bọt lửng lơ trôi tự do trên nền trời xanh nhạt. Từ cánh cửa xưởng mở toang vẳng lại tiếng rào rào của máy tiện. Trong lò rèn ầm ĩ những tiếng búa vui tai, đệm theo tiếng bễ khò khè; và ngay đằng ấy, phía sau hàng giậu, trong bụi gai dầu dại, một con cun cút gõ nhịp mãnh liệt và kiên trì như muốn hòa tấu với âm thanh của đe búa.

Tới giữa sân, gần giếng nước, Ivan Stepanovich dừng lại. Không ai bảo ai, họ cùng ghé ngồi lên thành giếng thấp.

- Mình nghĩ rằng ban đầu ông anh cậu sẽ tránh mặt mọi người, - Ivan Stepanovich nói. - nhưng rồi sẽ qua, sẽ ổn thỏa thôi.

- Alexander là một người cởi mở, trong trường hợp nào, anh ấy cũng vẫn vậy thôi, - Streltsov nói giọng trầm tư.

- Vấn đề là ở chỗ ấy. Vẫn như vậy. Nhưng anh ấy đã trở nên như thế nào? Để rồi chúng ta xem. Tất cả vấn đề là ở chỗ có phải người ta chỉ thả có một mình anh ấy? Nhất định anh ấy phải biết chứ. Đấy, vì vậy mà nghe tin ông anh cậu đến là mình rất khoái Mikola ạ. Có thể sau anh ta sẽ đến lượt những người khác, những kẻ bị oan ức thế nào cũng sẽ được tự do chứ nhỉ? Cậu nghĩ như thế nào, hả Mikola?

- Tôi thì tôi muốn biết rõ chứ không muốn phỏng đoán...

- Chính thế. Phải biết rõ. Người ta không thể chỉ thả có một mình anh ấy.

- Tại sao lại không thể? Có thể chỉ thả một mình anh ấy chứ. Stepanych ạ, chúng ta hãy chờ Alexander đến. Chúng ta chưa biết gì hết, đoán mò vô bổ làm gì.

Ivan Stepanovich vung đôi bàn tay ngắn và khỏe, dáng điệu như đàn bà.

- Sao lại vô bổ? Mình ấy à, trong khi đợi chờ ông anh cậu tới thì đầu mình cứ muốn vỡ toác ra vì bao nhiêu ý nghĩ! Trong mình giờ phút này dây thần kinh bắt đầu căng giãn ra cả. Còn cái bệnh viêm rễ thần kinh lại làm nhức buốt thắt lưng rồi. Mình chưa biết làm sao để đứng lên khỏi cái thành gỗ này, có khi muốn tới xưởng phải bò cũng nên... Cậu này, khi ông anh vừa nghỉ ngơi lại sức rồi là phải lập tức tìm hiểu nhé, xem có chuyện gì, tại sao lại thế. Anh ấy đã ở Moskva, nhất định anh ấy phải biết ở trên đó họ nghĩ gì chứ... Phải tế nhị, thận trọng, tùy cơ ứng biến, có gì phải hỏi cho cặn kẽ, phải moi cho hết nhé.

Streltsov nói, giọng năn nỉ:

- Không thể ngay lập tức đâu. Phải để cho anh ấy còn thở đã chứ. Bác có hiểu không, Stepanych, anh ấy sẽ đau khổ khi phải nói về tất cả những điều ấy.

- Ở đây cậu phải tế nhị, cần phải thận trọng...

- Ối giời, người anh em sẽ giết chết mình mất “tế nhị, thận trọng, anh ấy sẽ đau khổ...” Thế còn mình và những người khác không đau khổ vì chưa được biết sự thật hay sao? Ôi cậu ơi, Mikola ơi!

- Được, hiểu cả rồi!

- Cậu chả hiểu gì cả! Ở trong hội nghị mùa xuân cậu đã chỉ trích mình trước thiên hạ nào là Ivan Stepanych hèn nhát, đồng chí ấy sợ kẻ non gan, sợ kẻ nóng nẩy hung hăng, sợ cấp trên, đồng chí ấy sợ tất tần tật... Có thể là cậu nói đúng đấy, trong những năm gần đây mình hóa ra nhút nhát. Còn những năm mười tám thì mình không nhút nhát chút nào khi xông lên quật bọn bạch vệ với khẩu súng chỉ có một băng duy nhất trong hộp đạn. Mình không rụt rè khi xông vào tấn công bọn sĩ quan tình nguyện của Denikin. Trong những năm tháng thiêng liêng đối với trái tim mình ấy mình không sợ gì hết! Còn bây giờ mình sợ thằng nóng tính hung hăng, mình sợ thằng thợ nguội Banka lười chẩy thây, không dám xử sự nghiêm khắc với nó, trước thủ trưởng mình run... Mình đã trở thành kẻ nhút nhát! Nhưng đám người vô tội bị giam ở Odessa làm cho khẩu hiệu: “Chúng ta chiến đấu vì cái gì!” hóa ra mỉa mai. Mình biết là mình chiến đấu vì cái gì chứ! Gặp ông anh cậu mình sẽ nói chuyện với anh ấy không phải về trời về đất cũng không phải về những nhiệm vụ kinh tế nông nghiệp. Mình chả cần tế nhị gì hết. Vứt cái tế nhị đáng nguyền rủa ấy đi, mình cần biết những gì xẩy ra ở Moskva, ở trên trung ương người ta nghĩ gì và thở bằng gì. Chẳng lẽ chúng ta sẽ đi vào cuộc chiến tranh chống phát xít mà trước đó lại không chấn chỉnh trật tự nội bộ hay sao? Cậu hãy tìm hiểu kỹ ông anh rồi kể lại cho mình nghe nhé. Tất nhiên là với tình cảm ruột thịt, cậu dễ thấy rõ hơn.

Ivan Stepanovich cố nén tiếng rên khừ khừ, đứng dậy nắm tay xoa xoa hồi lâu vùng thắt lưng, và nói để chia tay:

- Rút cục tôi đã quá xúc động với cậu, thần kinh lại chấn động, và giờ đây cái bệnh viêm rễ thần kinh chết tiệt đó tấn công mình với tất cả mọi quy tắc chiến tranh rồi lại. Phải đi tới nông trường Beria, nhưng mình đi bằng cách nào đây? Xấu hổ thật, nhưng rồi cũng buộc lòng phải xin bà vợ một cái gối bỏ đi nào đó, lót cái đít vại, nếu không thì chịu, không ngồi nổi lên xe ngựa được.

Rồi bác thở dài nặng nề:

- Ấy thế mà vốn là chiến binh đấy, mà lại là chiến binh cừ, tay không thì đừng hòng tóm được tớ. Chết cháy ngay. Lạy chúa, còn cái nông trường ấy tại sao lại đặt tên là Beria? Ối giời! Ai cần cái ấy chứ, mà cái thằng ngốc nào lại dựng lên cái tên gọi ấy? Cái chính là để làm gì? Thần kinh mình rã rời vì con người vô cớ bất thần rơi vào nông trường chúng ta ư? Chà, nông trường tốt, ở đó người ta lao động tốt, mình đi tới đó, vậy mà chỉ có một cái tên gọi đã bắt đầu làm khổ mình còn tệ hơn là cơn buồn nôn say rượu. Chúng mình là kiện tướng, còng số tám nào cũng vặn gẫy tung, chao ôi, những kiện tướng, đốt vào gan vào ruột hắn kia! Thôi, mình đi Mikola nhé! Mình chờ cậu cho biết tin tức đấy.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Они сражались за Родину - Михаил Шолохов
Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Mikhail Solokhov