Họ Chiến Đấu Vì Tổ Quốc

Lượt đọc: 235 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
***

❊ ❊ ❊

Trời xanh biếc - một màu xanh chói chang, mặt trời tháng sáu rực lửa; những đám mây thưa thớt, trắng nõn đến lạ kỳ, bị gió hất tung tản mác. Trên mặt đường, những vệt to rộng của xích xe tăng in hằn rõ nét lên lớp bụi xám, và đã bị vết bánh ô tô đè lên chằng chịt. Còn hai bên đường là thảo nguyên, dường như đã chết lặng vì oi bức: cỏ gục đầu mệt mỏi, những khoảng đất pha muối đục lờ, ánh lên không sức sống, một làn hơi xanh lơ lung linh trên những gò mộ cổ xa xa. Bốn bề im phăng phắc, tới mức nghe rõ tiếng rúc từ xa của con chuột vàng và tiếng rạt rạt từ những đôi cánh đỏ tí hon của một con châu chấu bay qua còn rung lên rất lâu trong bầu không khí nóng bỏng.

Nikolai đi trong toán quân đầu… Lên tới đỉnh một cao điểm anh ngoái nhìn lại; tất cả những người sống sót sau trận chiến đấu ở xóm “Bãi trũng khô” lọt gọn vào tầm mắt anh. Một trăm mười bảy người cả chiến sĩ và cán bộ, đó là quân số còn lại của cái trung đoàn bị đánh tả tơi khốc liệt trong những trận chiến đấu vừa qua. Họ hành quân trong một đội hình chặt chẽ, vừa mệt mỏi lê bước vừa nuốt cả bụi thảo nguyên đắng dợt cuồn cuộn bên đường. Đại úy Sumskov bị dập thương, chỉ huy tiểu đoàn hai cũng thế, hơi khập khiễng đi bên lề đường, đại úy đã nắm lấy quyền chỉ huy trung đoàn sau khi thiếu tá hy sinh. Trên vai rộng của trung sĩ Lyubchenko, cũng thế, cán quân kỳ trung đoàn lắc lư, lá cờ cuộn trong cái bao đã bạc màu: chỉ tới khi sắp rút lui thì lá quân kỳ từ đâu đó, rất sâu ở tiểu đội hai mới được thu lại và đưa về trung đoàn. Và các thương binh nhẹ cũng như thế, vẫn không bị tụt lại cứ bước trong hàng ngũ, bông băng trên người bị bụi bẩn lấm bê bết.

Có một cái gì đó uy nghiêm và cảm động, trong bước hành quân chầm chậm của cái trung đoàn bị đánh tan nát. Trong bước chân đều đều của những con người bị kiệt sức vì chiến đấu, vì nóng bức, vì những đêm mất ngủ, vì những chặng di chuyển dài dằng dặc, nhưng lại sẵn sàng bất kỳ giờ phút nào, triển khai đội hình và chiến đấu.

Nikolai liếc nhìn nhanh một lượt những khuôn mặt quen thuộc, gày rộc và đen xạm đi. Trung đoàn đã tổn thất nặng nề biết bao trong năm cái ngày đáng nguyền rủa vừa qua! Cảm thấy đôi môi mình bị nứt nẻ vì nóng bức đang run run, Nikolai vội quay mặt đi. Một tiếng nấc ngắn ngủi bất ngờ chặn lấy họng anh như một cơn co thắt, và anh cúi đầu sụp cái mũ sắt nóng bỏng xuống tận mắt để các đồng chí khỏi thấy giọt nước mắt của mình.

... “Mình mất bình tĩnh rồi... hoàn toàn bạc nhược rồi... Mà tất cả chỉ vì nóng bức và mệt nhọc thôi”, anh vừa nghĩ bụng, vừa vất vả đưa đôi chân mỏi nhừ nặng trịch như được đúc bằng chì, cố cho bước đi không bị rút ngắn lại.

Bây giờ thì anh không nhìn quanh nữa, một mực dán mắt xuống chân mà đi, nhưng anh vẫn cứ thấy hiện lên trước mặt mình, như một giấc mộng ám ảnh, những hình ảnh của trận chiến đấu vừa qua rời rạc in rõ mồn một trong trí nhớ, đó là trận chiến đấu mở đầu cho cuộc rút lui lớn này. Anh lại thấy đoàn xe tăng địch ầm ầm ào ạt bò theo sườn đồi, những tên lính tiểu liên di chuyển nhanh trong bụi mù, những tiếng nổ kèm theo những cột đất đen văng tung tóe, và những chiến sĩ của tiểu đoàn bên cạnh rút lui lộn xộn tản mác khắp trên cánh đồng lúa mì chưa gặt... Rồi tiếp theo là cuộc chiến đấu chống bộ binh cơ giới địch, cuộc rút khỏi vòng vây suýt nữa bị khép kín, lưới lửa thọc sườn chết người, những cây hướng dương bị mảnh đạn tiện ngang, khẩu súng máy chúi cái mũi có khía xuống một hố đạn hình phễu không sâu lắm, và người chiến sĩ súng máy bị sức nổ hất ngược nằm ngửa, toàn thân rắc đầy những cánh hoa hướng dương vàng óng, và lốm đốm những vết máu nom vừa kỳ lạ vừa kinh khủng...

Ngày hôm ấy, máy bay ném bom Đức bốn lần đánh phá tiền duyên của khu vực trung đoàn. Bốn cuộc tấn công của xe tăng địch bị đánh bật, “Chiến đấu cừ, nhưng vẫn không thể bám trụ được”. Nikolai chua chát thầm nghĩ khi hồi tưởng lại.

Anh nhắm mắt trong giây phút và lại nhìn thấy những cây hướng dương nở hoa, kiều mạch rải trên đất xốp giữa những hàng hướng dương ngay ngắn, người chiến sĩ súng máy bị chết... Anh bắt đầu suy nghĩ một cách không mạch lạc rằng hướng dương chưa được làm cỏ, có lẽ vì nông trường thiếu nhân công, rằng hiện nay ở nhiều nông trường khác cũng thế, từ sang xuân đến nay hướng dương chưa được làm cỏ nên nơi nào cũng đầy cỏ dại, rằng chiến sĩ súng máy ấy xem ra là một chàng trai chân chính, nếu không thì sao cái chết của người chiến sĩ lại khoan dung đến thế, nó không làm anh ta biến dạng, và anh ta nằm dang rộng hai tay nom rất đẹp, người hoàn toàn nguyên vẹn và cánh hoa hướng dương vàng phủ lên như một lá cờ sao? Nhưng tôi Nikolai, lại nghĩ rằng, tất cả những điều ấy chỉ là vớ vẩn, anh đã chẳng từng thấy bao nhiêu chàng trai chân chính bị những mảnh đạn đại bác xé tan làm muôn mảnh hay là bị biến dạng một cách tàn nhẫn và gớm guốc; rằng chuyện xẩy ra với anh chàng súng máy chẳng qua cũng ngẫu nhiên thôi, một tiếng nổ tạo nên chấn động sóng không khí, và một bông hoa hướng dương cánh lả tả, bay nhẹ nhàng tới chàng trai bị giết, khẽ chạm lên mặt anh như cái vuốt ve cuối cùng của trần thế. Có lẽ như vậy cũng đẹp, nhưng trong chiến tranh cái đẹp bên ngoài lại có vẻ là một sự xúc phạm, vì vậy mà Nikolai nhớ rất lâu anh chiến sĩ súng máy ấy trong chiếc áo jacket dãi nắng đã bạc phếch với đôi cánh tay lực lưỡng dang rộng trên mặt đất nóng bỏng, và đôi mắt xanh biếc đã mờ đục, không còn trông nhìn được nữa, cứ hướng thẳng vào mặt trời...

Nikolai phải tăng cường ý chí cố xua đuổi những hồi ức không cần thiết. Anh quyết định rằng tốt nhất là bây giờ đừng nghĩ gì hết, đừng nhớ lại gì hết, và cứ nhắm mắt mà đi, tai lắng theo nhịp bước nặng nề, cố quên đi cái đau ê ẩm ở lưng và ở đôi bàn chân sưng vù.

Anh cảm thấy khát, biết rằng nước không còn ngụm nào, nhưng anh vẫn cứ giơ tay lắc lắc cái bi đông rỗng và cố mãi mới nuốt được miếng nước bọt đặc sệt dính như keo đọng ở trong mồm.

Ở sườn cao điểm, gió đã liếm sạch con đường, quét bay hết bụi. Trên nền đất trần trụi bỗng rầm rập vang lên tiếng những bước chân, trước đó hầu như không nghe rõ, vì ngập trong bụi đường. Nikolai mở mắt ra. Bên dưới đã hiện ra một thôn xóm, với chừng năm chục nhà Kazakh trắng lóa giữa các vườn tược, và mặt nước mênh mang của một con ngòi thảo nguyên bị chặn lại. Từ đây, từ trên cao điểm nhìn xuống, những nếp nhà nhỏ trắng lóa ấy, nom cứ như những hòn cuội ven sông vương vãi ngổn ngang trên bãi cỏ.

Các chiến sĩ đang bước lặng lẽ bỗng nhộn hẳn lên. Nghe rõ những tiếng nói:

- Chắc là phải nghỉ chân ở đó.

- Chà, không nghỉ sao được, từ sáng đến giờ đã vượt tới ba chục cây số rồi còn gì.

Một anh chàng nào đó ở phía sau Nikolai, chép miệng thành tiếng, nói giọng the thé:

- Nước nguồn mát lạnh, mỗi anh em phải làm nửa thùng...

Qua khỏi cái cối xay gió đang dang rộng những chiếc cánh dài bất động, họ tiến vào trong xóm. Mấy con bò non lông hung, lốm đốm, uể oải gặm đám cỏ bị nắng thiêu rụi. Ở gần bờ rào, đâu đó một con gà mái cục tác có vẻ mệt mỏi, sau mấy hàng giậu những bông hoa phù dung đỏ rực cái đầu thiu thiu; một chiếc màn trắng khẽ rung rinh nơi khung cửa sổ mở rộng. Thoang thoảng một vẻ yên tĩnh thanh bình quanh Nikolai, tới mức anh phải mở to mắt nín thở dường như sợ cái quang cảnh quen thuộc từ thuở xa xưa nào đó của cuộc sống thanh bình bỗng vụt biến đi, tan nát, như một ảo ảnh giữa bầu không khí oi bức.

Trên bãi rộng mọc đầy rau lê, bước chân nện đều đặn của bộ binh lại ngừng bặt. Chỉ còn nghe tiếng lạo xạo của những búi cỏ nặng nề, gẫy gục, cọ vào ủng, rắc lên đó một lớp phấn xanh lá cây, và pha vào cái mùi bụi bặm ngột ngạt là hương vị dịu dàng rầu rĩ của lau lê đã nở hết hoa.

Chiến tranh đã lan tới cái xóm hẻo lánh heo hút giữa thảo nguyên mênh mông vô hạn vùng sông Don. Trong sân nhà, những chiếc ô tô của tiểu đoàn quân y đỗ sát các tường nhà kho, mấy chiến sĩ của đơn vị công binh đi lại ngoài đường cái, những chiếc xe tải ba tấn chở đầy ắp những tấm ván gỗ liễu vừa mới xẻ xong chạy ra phía con ngòi; một khẩu đội cao xạ được bố trí trong khu vườn gần bãi. Những khẩu pháo được ngụy trang rất khéo bằng lá xanh, đặt bên cạnh các cây to; cỏ héo đã được trải ra trên những bờ đất mới hất lên từ những công sự vừa đào xong, một cành táo sum suê chĩu chịt những quả táo Antonov xanh nhạt chưa chín, tin cậy ôm lấy cái nòng dữ dội chĩa thẳng lên trời của khẩu pháo ở sát rìa ngõ hẻm.

Zvyagintsev hích khuỷu tay vào Nikolai mừng rỡ kêu lên:

- Đúng là xe nhà bếp của chúng ta kia rồi, Mikola ơi! Ngẩng cao đầu lên! Sắp tới chỗ nghỉ, có sông có nước, có cá Perca. Lisichenko với xe nhà bếp, thế thì còn cần cái quỷ gì hơn nữa chứ.

Trung đoàn dừng chân ở ngay bờ ngòi, trong một khu vườn rộng bỏ hoang, nước lạnh, hơi có vị mặn, Nikolai uống từng hớp nhỏ, chốc chốc lại dừng, rồi lại hau háu áp môi vào mép xô. Zvyagintsev nhìn bạn nói:

- Thế đấy, cậu cứ như đọc thư của con ấy: đọc một đoạn, rồi lại dừng, rồi lại đọc. Còn mình thì mình không thích kéo dài. Về chuyện này thì mình vốn sốt ruột. Thôi đưa xô đây, không thì chướng bụng đấy.

Anh đón lấy cái xô từ tay Nikolai, ngửa đầu lên, nốc từng ngụm lớn, ừng ực như ngựa rất lâu, không lấy hơi. Cái cục hầu đầy lông cứng đỏ hoe chạy lên chạy xuống giần giật, cặp mắt lồi màu xám nheo nheo nom thật khoái trá. Uống xong, anh khà một cái, đưa ống tay áo jacket lên quệt đôi môi và cái cằm ướt đẫm, rồi bực bội nói:

- Nước chả ngon lắm, chỉ được cái là cũng tốt, vì mát lạnh và ướt, còn muối thì có thể bớt đi được đấy. Cậu uống nữa chứ?

Nikolai lắc đầu từ chối, chợt Zvyagintsev hỏi độp một câu:

- Cậu luôn luôn nhận được thư của con trai, tớ thấy không hề có thư của vợ. Cậu góa vợ à?

Và bản thân Nikolai cũng bị bất ngờ trước câu trả lời của mình:

- Mình không có vợ. Bỏ nhau rồi.

- Lâu chưa?

- Năm ngoái.

- À ra thế, - Zvyagintsev kéo dài giọng thông cảm, - Thế con cái ở với ai? Hình như cậu có hai con thì phải?

- Phải, hai đứa. Chúng ở với bà mẹ vợ mình.

- Cậu bỏ vợ à, Nikolai?

- Không, cô ấy bỏ tớ... Cậu có biết không, ngay ngày đầu chiến tranh, mình đi công tác về thì không thấy cô ta đâu cả, bỏ đi rồi. Chỉ để lại cho mình mấy chữ và đi mất...

Nikolai đang nói một cách cởi mở bỗng tự nhiên ngắc lại im bặt. Cau mày và mím chặt môi, anh ngồi xuống dưới bóng một cây táo rồi cứ im bặt như thế, bắt đầu tháo ủng. Trong lòng, anh đã lấy làm tiếc về những điều trót nói ra. Cả một năm ròng phải mang trong tim một nỗi đau âm thầm, không nói nên lời, thế mà giờ đây, chẳng vì một lý do nào cả tự nhiên lại đem thổ lộ với một người mới gặp lần đầu; mà trong tiếng nói con người ấy lại nghe có cái giọng thương hại mình. Nói ra để làm gì? Zvyagintsev thì có liên quan gì tới tâm tình của mình?

Zvyagintsev không nhìn thấy khuôn mặt sa sầm cúi xuống của Nikolai tiếp tục cật vấn:

- Thế nào, con thối thây ấy kiếm được thằng khác ả?

- Không biết, - Nikolai trả lời khô khan.

- Thế là nó kiếm được thằng khác rồi! - Zvyagintsev khẳng định và lắc đầu phiền muộn - Đấy cái giống đàn bà nó là thế đấy! Trông tướng cậu cũng chững chạc ra phết, tất nhiên là lương cao, thế thì cô ả còn đòi gì nữa kia chứ? Con chó cái ấy, nó không nghĩ đến con hay sao?

Nhìn kỹ hơn khuôn mặt dưới bóng chiếc mũ sắt của Nikolai, Zvyagintsev hiểu rằng không nên tiếp tục câu chuyện ấy nữa. Với cái tế nhị vốn có của một con người mộc mạc và trung hậu, anh ta im lặng vừa thở dài vừa ngượng nghịu hết đứng trên chân này lại đổi sang chân khác. Và rồi anh thấy thương con người cao to, lực lưỡng ấy, người đồng chí đã qua hai tháng cùng chiến đấu với anh, cùng chia sẻ những thiếu thốn của cuộc đời con nhà lính, anh ta muốn an ủi bạn, muốn kể chuyện mình; bèn ngồi xuống bên cạnh và bắt đầu nói:

- Mà thôi Mikola ạ, đừng phiền muộn về nó nữa. Đánh xong giặc rồi sẽ hay. Điều chủ yếu là cậu có các con. Người anh em này, giờ đây con cái là quan trọng, chúng nó là cội nguồn của cuộc sống, mình nghĩ thế đấy. Chúng khắc sẽ xếp đặt lại cuộc sống đã bị tàn phá, vì chiến tranh không phải chuyện đùa. Còn đàn bà thì mình nói thẳng với cậu, là cái giống chúa tráo trở. Họ đã muốn gì thì có trời mà cản được. Đàn bà là loại bất trị, mình biết họ lắm, người anh em ạ.

Cậu có thấy vết sẹo ở môi trên mình không? Cũng là chuyện xẩy ra năm ngoái đấy... Ngày mồng một tháng năm, mình và lũ bạn thợ lái máy gặt đập tổ chức một bữa chè chén, chúng mình tụ tập cả gia đình, các bà vợ cùng tham gia, chúng mình dạo chơi, vớ được một tay accordion, cũng có say sưa chút ít. Chà mình thì tất nhiên là có say, và vợ mình cũng thế. Mà vợ mình thì cũng giống như một thằng lính tiểu liên Đức: đã nổ súng là bắn liên tục cho kỳ hết các băng đạn mới thôi, và cũng là dai như đỉa đói.

Trong buổi liên hoan ấy có một cô nàng nhảy kiểu “Tsigane” thật cừ. Mình mải mê ngắm cô ả và mình cũng chẳng có ý nghĩ linh tinh gì về cô ta đâu; thế mà bà vợ mình tới cấu vào tay mình, rỉ tai bảo: “Không được nhìn!”. Lạ thật, mình nghĩ bụng lại có chuyện hay nhỉ, liên hoan mà phải ngồi nhắm mắt lại, thế là thế nào? Mình lại nhìn. Nó lại chạy tới, véo vào đùi, xoắn thịt đau điếng người “không được nhìn!”. Mình bèn quay mặt đi và thầm nghĩ quỷ tha ma bắt mày đi, tao không nhìn nữa! Không được hưởng cái thú ấy thật là hoài của. Sau cuộc khiêu vũ chúng mình ngồi vào bàn tiệc. Vợ mình ngồi ngay trước mặt mình, mắt cô ả như mắt mèo cứ tròn xoe và nẩy lửa. Còn mình thì đau buốt vì các vết bầm ở tay và ở chân. Quên khuấy đi mất, mình lại nhìn vào cái cô nàng tội nợ ấy và bực bội nghĩ thầm: “Con quỷ ạ, vì mày mà tao bị oan! Mày thì ngoáy tít đôi chân, còn tao thì phải tội phải vạ”. Mình chỉ mới nghĩ có thế, vợ mình đã vớ luôn một cái đĩa thiếc trên bàn, thẳng cánh ném vào mặt mình. Tất nhiên là mục tiêu tuyệt thật vì cái mõm của mình lúc ấy khá to. Nói thì cậu không tin, nhưng quả là cái đĩa đã gẫy gập đôi lại, còn mình thì mũi và môi đỏ lòm những máu, cứ như là bị trọng thương.

Cô nàng kia, tất nhiên là rú lên, hoảng sợ, còn anh chàng kéo accordion thì ngã ngửa ra trên đi văng cười và gào lên như thằng điên: “Lấy samovar mà choảng cho nó, cái mặt nó vững chãi đấy!”. Mình tối tăm mày mặt. Mình chồm dậy quát cho cô ả, tức là cho vợ mình một trận: “Sao thế, hả con mụ man rợ, làm cái trò gì thế, mày muốn làm gì thì làm hả? liệu hồn!” Nhưng nó trả lời mình giọng thản nhiên như không: “Con quỷ râu hoe này, đã bảo là không được dán mắt vào nó mà!”. Đến lúc đó mình đã trấn tĩnh lại đôi chút, bèn ngồi xuống và nói với mụ ta một cách lễ phép, gọi bằng “bà” cẩn thận. Mình nói “Ôi dào, bà Nastasya Filippovna, bà đã thể hiện trình độ văn hóa của mình như thế đấy? Về phía bà, cái việc cầm đĩa ném vào người ta giữa ba quân thiên hạ thì thật là hỗn láo quá quắt, bà cứ nhớ lấy, về nhà rồi ta sẽ nói chuyện sòng phẳng với nhau!”.

Rõ ràng là nó đã phá mất của mình cả một ngày vui. Môi bị toạc, một cái răng lung lay, chiếc sơ mi trắng thêu hoa bê bết máu, mũi sưng vù vẹo sang một bên. Đành phải tháo lui thôi. Chúng mình đứng lên, chào mọi người, xin lỗi ông bà chủ, làm đủ lệ bộ rồi ra về. Nó đi trước, còn mình như thằng có tội theo sau. Con khốn kiếp ấy, trên đường về nó đến là nhanh nhẹn, thế mà vừa bước qua ngưỡng cửa là huỵch một cái lăn ra bất tỉnh. Nó nằm thẳng đờ, không thở, mặt đỏ như gấc, con mắt bên trái ti hí hé ra một kẽ hở, chốc chốc lại nhìn mình. Mình nghĩ bụng, chắc có chuyện chẳng lành với mụ ta rồi đây: bây giờ không phải là lúc chửi rủa. Thôi thì bằng mọi cách cứ dội nước lên người cho nó khỏi chết cái đã. Lát sau, mụ lại ngất lịm đi. Lần này thì không hé mắt nhìn nữa. Mình lại trút thêm cho một xô nước, mụ ta hồi tỉnh, tru tréo ầm lên, nước mắt ròng ròng, chân giẫy đành đạch. Mụ ta nói:

- “Đồ chết tử chết tiệt ơi, làm hỏng mất áo lụa mới của bà rồi, trút nước bẩn nhoe nhoét làm sao giặt cho sạch được bây giờ. Đồ bạc tình bạc nghĩa! Thấy con nào cũng thô lố mắt ra, bà không chung chạ với mày nổi nữa đâu, đồ ác ôn ác bá” - và mụ ta cứ tuôn ra cả một lô một lốc những lời lẽ đại loại như thế. Mình thầm nghĩ: một khi mà chân đã giãy và còn nhớ được tới cái áo thế là sống lại rồi đấy, có nghĩa là còn sống thêm được một mùa đông nữa, hiền thê yêu quý của tôi ạ!

Mình bèn tới bàn ngồi, châm thuốc hút và nhìn hiền thê ngồi dậy, lê tới chỗ cái hòm vơ tất cả áo quần tư trang cho vào một tay nải. Mụ ta xách tay nải ra cửa và nói: “Bà đi khỏi nhà mày đây! Bà đi bà ở với chị em nhà bà thôi!” Tất nhiên là mình thấy, mụ ta bị quỷ xa tăng ám rồi, không còn lời lẽ nào có thể can ngăn được nữa, vì vậy mình tán thành luôn “Xéo đi đến đó mà ở cho sướng!”. “A, ra thế đấy, - mụ ta nói. - hóa ra tình nghĩa của mày đối với bà là thế đấy; mày không thèm giữ bà lại nữa hả? Thế thì bà chẳng đi đâu hết, bà thắt cổ tự tử ngay tức khắc, để cho mày bị lương tâm cắn rứt suốt đời, đồ chó đẻ ạ!”

Hào hứng với những hồi ức, Zvyagintsev rút túi thuốc hút mỉm cười, lắc đầu cuộn một điếu. Nikolai tay cầm đôi xà cạp nóng hổi ướt đẫm mồ hôi, cũng mỉm cười, nhưng nụ cười uể oải và héo hắt. Lẽ ra phải đi ra giếng giặt xà cạp, nhưng anh không muốn ngắt lời Zvyagintsev đang mải mê kể chuyện hắn, vả lại anh cũng không còn đủ sức để đứng dậy và bước đi dưới cái nắng thiêu người. Châm thuốc xong, Zvyagintsev kể tiếp:

- Mình suy nghĩ rồi nói: “Được thôi, Nastasya Filippovna ạ, cứ treo cổ đi, thừng ở đằng sau hòm đấy!”. Mụ ta vứt tay nải chộp lấy cái dây thừng và đi vào buồng trong. Mụ kéo cái bàn, buộc một đầu thừng vào cái móc ngày trước vẫn treo nôi trẻ con, đầu kia tết một cái thòng lọng rồi chui cổ vào. Mụ ta không nhẩy khỏi bàn mà lại khuỵu đấu gối, tựa cằm vào thừng và ò ò trong cổ làm như là bị tắc thở thật. Còn mình thì vẫn ngồi cạnh bàn; chả là cửa vào buồng trong để he hé, mình nom rất rõ toàn bộ quang cảnh ấy. Mình chờ một lát rồi nói to thế này: “Chà, lạy Chúa, hình như hắn thắt cổ xong rồi. Thế là mình hết tội, hết nợ!” Ái chà chà, thế là chị chàng từ trên bàn nhẩy phắt xuống, xông lại phía mình, đấm lấy đấm để. “Bà mà treo cổ thì mày sướng lắm hả? Chao ôi chồng yêu, chồng quý là thế đấy?!”. Phải vất vả lắm mới làm cho mụ ta nguôi được. Hơi men thế là bốc sạch sành sanh, buổi liên hoan ấy mình nốc cạn gần một lít vodka thật là phí. Sau cuộc chiến đấu ấy mình lại ngồi ngẫm nghĩ: “người ta thì đến câu lạc bộ xem biểu diễn, còn mình thì cũng được xem kịch ở ngay tại nhà, không mất tiền”. Rồi mình thấy buồn cười, nhưng lòng thì cứ như thế nào, không vui.

Đấy, các mụ đàn bà, cái nòi quỷ dữ ấy, họ có thể làm những trò như thế đấy! Cũng còn may là đêm hôm ấy lũ con mình vắng hết; mẹ mình đã đưa chúng về bên bà cụ chơi, chứ không thì chúng cũng đến chết khiếp. - Zvyagintsev im lặng một lát rồi lại nói tiếp, nhưng không còn hào hứng như ban nãy:

- Nikolai ạ, đừng nghĩ rằng vợ chồng mình sống với nhau kiểu ấy cả đời đâu. Nó chỉ mới hư hỏng hai năm qua thôi. Mà mình cũng nói thẳng rằng nó hư hỏng là tại sách văn nghệ đấy.

Tám năm trời bọn mình sống như mọi người, vợ mình làm thợ điều khiển rơ-moóc máy kéo, vốn không hề bị ngất, không hề đỏng đảnh, bỗng nhiên nhiễm thói đọc sách văn nghệ - thế là bắt đầu có chuyện. Mụ ta trở thành thông thái tới mức không còn nói những lời giản dị nữa, cứ luôn luôn mở ngoặc, đóng ngoặc; những cuốn truyện ấy làm mụ ta mê mệt tới mức đọc thâu đêm suốt sáng; còn ban ngày đi đứng cứ như con cừu cái bị bùa mê thuốc lú, thở vắn than dài mãi, cầm đến cái gì là đổ là vỡ. Thế đấy, có một lần không hiểu vì sao cứ thở dài thườn thượt, rồi tới bên mình õng ẹo nói: “Vanya ạ, ít nhất thì cũng có một lần anh thổ lộ tình yêu cao thượng với em chứ. Chưa bao giờ em được nghe anh nói những lời âu yếm như họ viết trong thơ văn”. Mình cáu tiết lên, thầm nghĩ: “Đọc mê đọc mệt đến nỗi này ư!” nhưng nói với cô ả rằng: “Nastasya này, cô lú lẫn rồi sao đấy! Chúng mình ăn ở với nhau một chục năm, đã có ba mặt con rồi, thế thì vì cớ gì mà giờ đây tôi lại phải thổ lộ tình yêu với cô! Mà cái lưỡi tôi không thể uốn éo làm cái trò ấy đâu! Hồi còn trẻ tôi cũng không hề thổ lộ những lời âu yếm với ai, bao giờ cũng hành động bằng tay thôi, còn bây giờ thì tôi hoàn toàn không thể lập được cái trò ấy, tôi không phải là thằng ngốc như cô tưởng đâu!”. Rồi mình bảo y: “Còn cô thì thay vì đọc những cuốn sách ngu ngốc, hãy chăm sóc con cái cho tốt hơn”. Mà quả thực là lũ con mình đã lâm vào cảnh bị bỏ rơi, chạy rông như lũ trẻ vô thừa nhận, bẩn thỉu, mũi dài thò lò, còn việc nhà việc cửa ngày càng bệ rạc.

Nikolai ạ, cậu nghĩ xem, thế mà cũng là đọc sách à? Mình thì tất nhiên là không phản đối những giải trí văn hóa, chính mình cũng thích đọc những cuốn sách hay, viết về kỹ thuật, về các động cơ. Mình có khối loại sách hay: bảo quản máy kéo, động cơ đốt trong, thiết bị máy diesel ở trạm cố định, chưa kể các sách về máy gặt đập liên hợp. Đã từng bao lần mình van nài cô ta: “Nastasya này, hãy cầm lấy cuốn này đọc về máy kéo đi! Đây là một cuốn sách hấp dẫn có tranh, có bản vẽ. Cô phải biết những điều đó mới được, vì đã thợ điều khiển rơ-moóc kia mà”... Cậu tưởng mụ ta đọc đấy hả! Cóc thèm đọc! Thấy những cuốn sách của mình thì mụ ta quay phắt đi như quỷ phải mùi trầm; với mụ ta thì phải đưa những cuốn sách văn nghệ, cái loại mà trong đó tình yêu cứ sủi lên như bọt men trong chậu. Mình hết sẵng rồi ngọt cũng chẳng ăn thua. Còn nện cho mụ ta thì trong đời mình chẳng bao giờ dám vì trước khi mình học được nghề lái máy gặt đập liên hợp, mình đã sáu năm làm nghề quai búa tạ; tay mình mà nện ai thì không chết cũng què.

Người anh em của mình ơi, đấy, cậu thấy cuộc sống gia đình bọn mình cứ đi chân chữ bát như thế cho đến ngày mình được gọi nhập ngũ. Vả lại cậu tưởng rằng sống xa nhau mình dễ chịu hơn hay sao? Hoàn toàn không phải như thế! Mình nói thật tình với cậu, phải bí mật nhé, mình không thể nào sửa chữa được kiểu viết thư của Nastasya Filippovna. Thật là bế tắc, cứ như thế, đến phát khóc! Bản thân cậu cũng biết đấy, Nikolai ạ, ở đây, ngoài mặt trận, chúng ta ai nấy đều thích thú khi nhận được thư nhau; chúng ta đọc to cho nhau nghe, đấy cậu vẫn đọc thư con trai cậu cho mình nghe thế mà mình thì không thể nào đọc thư vợ cho ai nghe cả. Vì mình thật xấu hổ. Hồi còn ở gần Kharkov mình đã nhận được của mụ ta liên tiếp ba lá thư, mà mỗi thư đều mở đầu như thế này: “Con gà con yêu dấu của em”. Mình đọc mà tai nóng như lửa. Không biết mụ ta đào ở đâu ra cái từ ngữ gà vịt ấy, không tài nào hiểu được, đúng là chỉ lấy ở trong những cuốn sách văn đấy thôi. Hừ, đáng lẽ cứ viết như người ta “Anh Vanya thân yêu” hoặc là một kiểu gì đại loại như thế, đằng này lại viết “gà con”. Hồi còn ở nhà, bao giờ mụ ta cũng gọi mình là “con quỷ râu hoe”, vừa ra mặt trận đã biến thành “con gà con” rồi. Trong tất cả các bức thư, mụ ta chỉ viết vắn tắt, như tiện thể nói qua, rằng con cái đều mạnh khỏe, ở trạm máy kéo chẳng có gì đặc biệt, để rồi thở ra toàn chuyện yêu đương đầy rẫy trang giấy, với những lời lẽ rút từ trong sách ra, chẳng tài nào hiểu nổi, làm cho đầu óc mình mụ đi và mắt hoa lên.

Mình đọc những bức thư khó chịu ấy hai lần liền thì thấy người cứ ngây ngất như say rượu. Slyusarev ở trung đội hai chạy tới hỏi: “thế nào, thư vợ có báo tin gì mới không?”. Mình vội giấu thư vào túi và chỉ còn có việc khoát tay bảo: cậu đi đi, anh bạn quý mến ơi, đừng quấy rầy mình. Hắn hỏi: “ở nhà vẫn bình yên vô sự chứ? - nhìn mặt, mình thấy hình như cậu có chuyện buồn thì phải?”. Mình biết nói gì với hắn bây giờ? Mình ngẫm nghĩ và bịa ra bảo: “bà nội mình chết”, thế là hắn yên trí, bỏ đi.

Đến tối mình ngồi viết thư cho vợ, mình gửi lời thăm hỏi các con, và tất cả bà con thân thuộc, viết về chuyện mình ở trong quân đội, tất cả đâu ra đấy đàng hoàng; xong rồi mình viết tiếp: cô hãy làm ơn đừng gọi tôi bằng những cái tên tếu không ra gì cả, tôi đã có tên cúng cơm của mình rồi cơ mà, ừ, có thể ba mươi lăm năm về trước thì tôi là “gà con”, nhưng giờ đây tôi đã thành một con gà trống thực sự, mà tôi cân nặng những tám mươi hai kilô trọng lượng ấy hoàn toàn không hợp với một “con gà con”. Và tôi cũng còn xin cô thôi đi đừng có viết về cái chuyện yêu đương ấy, chỉ tổ làm hại sức khỏe của tôi, cô hãy viết nhiều hơn về những chuyện như tình hình công việc của trạm máy kéo, bạn bè còn ai ở nhà, đồng chí giám đốc mới làm ăn ra sao?

Và ngay trước khi rút lui mình nhận được thư trả lời. Mình cầm thư, tay cứ run rẩy, mở thư ra thì cứ như bị lửa đốt ran cả người.

Mụ ta viết “Chào anh, con mèo con yêu quý của em!”. - rồi tiếp đó là bốn trang vở học sinh về yêu đương; không một chữ nào về trạm máy kéo, và ở một chỗ nào đó không gọi mình là Ivan, mà gọi là Edward gì đó. Trời ơi, mình nghĩ thầm thế là mụ nó đã hóa rồ đến tột đỉnh rồi. Rõ ràng là mụ ta đã chép cái chuyện yêu đương khốn kiếp ấy từ trong sách ra, nếu không thì mụ ta đào đâu ra được cái tên Edward nào đó, và sao trong thư lại lắm dấu phẩy đủ loại đến thế? về khoản các dấu phẩy ấy thì mụ ta dốt đặc cán mai, thế mà bây giờ lại chồng chất vào đó nhiều tới mức không sao đếm xuể. Trên mặt của bất kỳ một tay rỗ hoa nào, số nốt rỗ cũng ít hơn là những dấu phẩy trong một bức thư của mụ ta. Còn những biệt hiệu thì sao? Ban đầu thì “gà con” rồi “mèo con”, mình nghĩ bụng, rồi còn phải đón những cái tên gì nữa? Đến bức thư thứ năm có khi nó lại gọi mình bằng cái tên Trezor hay là một cái tên chó má nào đó. Thế nào, mình sinh ra ở trong một rạp xiếc hay sao, hả? Rời khỏi nhà ra đi mình có mang theo một cuốn sách giáo khoa về loại máy kéo ChTZ, đề phòng lúc nào muốn đọc sách thì đọc, thế là mình định chép ra vài ba trang gửi cho mụ ta để trả đũa nhưng nghĩ lại rồi thôi. Sợ mụ ta giận. Nhưng cũng phải có cách nào đấy để chữa cho mụ ta khỏi những cái chứng lố bịch ấy... Cậu khuyên mình nên làm thế nào đây, hả Nikolai?

Zvyagintsev đưa mắt nhìn bạn rồi e hèm phiền muộn, Nikolai nằm ngửa, ngủ ngon lành. Bên dưới bộ ria đen như một đường viền rủ xuống lộ ra hàm răng khấp khểnh trắng bong, hai bên mép nhếch lên còn lưu lại mấy nếp nhăn, cho thấy bóng một nụ cười chưa kịp tan biến trên môi.

Dịch từ nguyên bản tiếng Nga: Они сражались за Родину - Михаил Шолохов
Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 6 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Mikhail Solokhov