Chúng tôi đang đứng ngay chính giữa nắp quan tài. Bề mặt nắp quan tài được vẽ chi chít đủ loại hoa văn, họa tiết, cùng với một vài ký tự trông như văn tự cổ. Ở giữa những hoa văn dày đặc đó, quả thực có một chữ Hán cổ rất lớn, nhưng tôi không nhận ra. Có lẽ đó chính là chữ "Khôi" trong lối viết triện cổ mà lão Tiền đã nhắc tới. Tôi hỏi An Cát liệu có phải là nó không, cô ấy gật đầu, nói với tôi: "Lão tiên sinh Tiền Quý quả nhiên không đơn giản, vậy mà vẫn nhận ra chữ này."
Tôi chỉ vào mấy chữ nhỏ bên cạnh, hỏi: "Còn những chữ này thì sao? Cô có nhận ra không? Nó viết cái gì? Có liên quan gì đến sự việc của ngôi mộ này không?"
An Cát nhíu mày, đáp: "Tôi cũng không rõ. Trong ngôi mộ cổ thời Hán này tại sao lại xuất hiện loại cổ Phạn văn vốn chỉ có trong kinh văn Phật giáo Ấn Độ? Thật quá kỳ lạ!"
Tôi gãi đầu: "Phạn văn? Là loại mà các nhà sư hay tụng sao? Có phải loại kinh văn mà Như Lai Phật dùng để phong ấn Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký không?"
An Cát lắc đầu: "Không hẳn là vậy. Những gì trên phim ảnh diễn ra sao có thể coi là thật được? Đó chỉ là kinh Phật viết bằng chữ Hán để người xem có thể hiểu được thôi. Còn thứ khắc trên này là một loại văn tự Phật giáo rất cổ, tôi cũng không hiểu rõ lắm, chỉ có thể đại khái đoán được xuất xứ của nó."
An Cát nói năng chẳng rõ ràng, tôi nghe mà đầu óc rối bời. Thấy cô ấy cứ nhíu mày nhìn chằm chằm vào đống văn tự và hình vẽ bất động, tôi cũng ngại không dám hỏi thêm, đành cúi đầu tự mình quan sát. Chữ thì tôi không hiểu, nhưng tranh vẽ thì chắc là xem được.
Tôi cúi đầu nhìn các hình vẽ trên nắp quan tài. Màu sắc của những văn tự và hình vẽ này vô cùng tươi sáng, trông như mới được vẽ xong vậy. Tôi đã từng thấy màu sắc của mấy cỗ quan tài gỗ phía dưới nên cũng không lấy làm ngạc nhiên lắm. Tuy nhiên, điều khiến tôi hứng thú chính là phong cách hội họa. Chúng rất chân thực. Trong ấn tượng của tôi, tranh Trung Quốc nên là những đường nét thanh thoát, giản lược mới đúng, nhưng những bức tranh này lại mang chút phong cách tả thực của phương Tây, nhìn rất có chiều sâu. Tôi thầm nghĩ, mặc kệ nó, nhìn rõ ràng được một chút cũng tốt.
Trên đó có vài bức tranh tôi vẫn có thể hiểu được ý nghĩa. Đại khái là cảnh rất nhiều người đang vây quanh làm việc. Tôi thấy có vài bức vẽ rất đông người, nhìn trang phục thì có lẽ là binh lính, tay cầm giáo mác, đang xếp hàng đi vào một hang động. Tôi thầm nghĩ chắc chắn chính là cái hang này. Lại có những người trông giống như công nhân cấp thấp hơn, mình trần trùng trục, trong tranh thể hiện các động tác đục đẽo, chắc là cảnh xây dựng lăng mộ. Nhưng bức tranh sau đó khiến tôi hơi kinh ngạc: bức vẽ đó thể hiện một con côn trùng đen ngòm to lớn, nhe nanh múa vuốt đang bị rất nhiều người vây quanh. Nhìn tiếp về phía sau, là cảnh nhiều người dùng dây thừng trói chặt con côn trùng lớn đó lại, bên cạnh dường như còn có một người mặc trường sam đang chỉ huy. Đây chẳng phải là đám Thiền thi mà chúng tôi đã gặp sao? Hình dáng rất giống, chỉ là không to đến mức này. Trong lòng tôi khẽ động, có lẽ đây chính là con Thiền thi khổng lồ đã giết cha của An Cát. Nhìn trên tranh thì mọi người đã trói được nó, vậy tại sao cha của An Cát lại gặp phải con quái vật này? Có lẽ trải qua cả ngàn năm, thứ này đã tự thoát ra ngoài. Nhưng chúng tôi cũng may mắn, vẫn chưa chạm mặt thứ này.
Khi tôi nhìn tiếp về phía sau thì phát hiện mình đã gần đến mép quan tài, tranh vẽ đến đây là kết thúc. Tôi thầm nghĩ, người cổ đại vẽ ít thế này, chẳng để cho người đời sau hiểu thêm chút gì về thời đại của các người, quả là quá keo kiệt.
Tôi thấy An Cát lúc này cũng đang xem mấy bức tranh mà tôi vừa xem, đôi mày thanh tú nhíu chặt, chắc là thấy con Thiền thi lớn nên lại nhớ đến cha mình. Tôi bước tới hỏi: "Sao rồi, tiến sĩ khảo cổ đại tài của tôi, những bức tranh này có làm sáng tỏ được vấn đề gì không?"
An Cát bị tôi ngắt dòng suy nghĩ, lườm tôi một cái rồi nói: "Xem những bức tranh này, đúng là có thể hiểu được đôi chút về việc xây dựng ngôi mộ trong hang động này, nhưng tranh vẽ ít quá, những gì giải thích được cũng rất hạn chế. Trên nắp quan tài này lại không tìm thấy bức tranh nào nói rõ thân phận lai lịch của người nằm trong đó, thật là một chuyện kỳ lạ."
Tôi nói: "Người cổ đại thật keo kiệt, xây được lăng mộ lớn thế này mà lại không nỡ vẽ thêm vài bức tranh. Cũng đỡ cho chúng ta phải vắt óc đoán mò."
An Cát mỉm cười: "Anh tưởng vẽ mấy bức tranh này dễ lắm sao? Trong xã hội thời bấy giờ, loại kỹ thuật giữ cho màu sắc không phai suốt hàng ngàn năm như thế này, e rằng chỉ có lăng mộ cấp hoàng đế mới được hưởng đặc quyền đó thôi. Vốn dĩ sẽ không có nhiều đâu, có thể vẽ được chừng này trên nắp quan tài đã là rất khá rồi. Nơi này vừa thông gió vừa ẩm ướt, kỹ thuật hội họa kiểu này càng hiếm thấy. Có thể may mắn nhìn thấy vài bức tranh như vậy đã là tốt lắm rồi, anh còn chưa thỏa mãn sao!"
Tôi nghe vậy liền lè lưỡi. An Cát tiếp tục chụp ảnh, tôi quay đầu nhìn xem "Hồ Lô Tây" đang làm gì. Gã này chẳng nói năng gì, cả ngày không có chút động tĩnh, nếu không thấy gã một lúc, bất chợt còn tưởng là gã đã biến mất rồi.
Tôi và An Cát đang thảo luận sôi nổi, gã này cứ đứng cạnh chúng tôi im hơi lặng tiếng. Lúc này gã đang đứng trên chữ "Khôi" lớn đó, tay đặt lên nắp quan tài, chậm rãi di chuyển, không biết là muốn làm gì.
Tôi thấy lạ liền bước tới, thì ra gã đang vuốt ve những chữ "Phạn văn" mà tôi và An Cát vừa bàn luận. Những văn tự này không nhiều, chỉ có hai hàng, phân bố rất đều ở hai bên chữ "Khôi" lớn, làm nền cho các hoa văn họa tiết xanh đỏ xung quanh, nhìn thoáng qua rất giống câu đối chúng ta dán vào dịp Tết.
Tôi thấy biểu cảm của Hồ Lô Tây khi chạm vào những văn tự này rất ngưng trọng, trong lòng thấy lạ nên gọi An Cát tới, hỏi cô ấy xem gã này bị làm sao.
An Cát tới nơi, thấy bộ dạng của Hồ Lô Tây cũng rất ngạc nhiên, hỏi: "Jack, anh đang làm gì vậy? Anh nhận ra những chữ này sao?"
Hồ Lô Tây nghe vậy liền ngẩng đầu nhìn An Cát, rồi gật đầu. An Cát thấy Jack vậy mà lại nhận ra những ký tự như bùa chú này thì rất vui mừng, kêu lên: "Anh hay lắm Jack, biết mà không nói sớm, làm tôi tốn bao nhiêu tế bào não. Mau nói cho tôi biết những chữ này viết nội dung gì đi?"
Tôi cũng vô cùng kinh ngạc. Gã Hồ Lô Tây câm này mà cũng biết mấy loại văn tự lộn xộn này sao? Thật không ngờ. Tôi nhìn Jack, muốn xem gã câm chưa bao giờ mở miệng này sẽ giải thích những ký tự giống như mật mã này cho An Cát như thế nào.
Tôi và An Cát đều nhìn Hồ Lô Tây, đợi gã giải thích. Không ngờ gã vẫn không nói gì, lúc này chỉ nhíu chặt mày. Tôi thầm nghĩ, tên nhóc này vốn dĩ chẳng có biểu cảm gì, sao lúc này lại học được biểu cảm độc quyền của An Cát rồi.
An Cát thì không vội, cứ nhìn Hồ Lô Tây. Lúc này từ phía dưới truyền đến giọng của Đoàn trưởng Vương, vẫn đang giục chúng tôi xuống dưới. An Cát đáp một tiếng, giục Hồ Lô Tây mau nói đi. Tôi liền thấy gã này như hạ quyết tâm, nghiến răng kèn kẹt, cơ hàm bạnh ra, rồi từ thắt lưng rút soạt một con dao nhỏ. Tôi giật mình thót tim, An Cát cũng chưa kịp phản ứng, chỉ thấy Hồ Lô Tây trở tay một nhát đâm vào ngón tay mình, cắt một vết thật sâu, máu lập tức chảy ra. An Cát kêu "Á" một tiếng, dường như đã hiểu ra điều gì, vội vàng kéo tôi sang một bên, chỉ vào thắt lưng tôi. Tôi không hiểu ý gì, An Cát liền rút khẩu súng lục ở thắt lưng tôi ra. Tôi hơi ngơ ngác, hỏi: "Ý gì đây? Muốn làm gì? Sắp đánh trận à? Có cần gọi tên to con kia lên không, hỏa lực của hắn mạnh hơn tôi nhiều đấy."
An Cát lúc này không còn phản ứng gì với lời nói của tôi nữa, nhét súng vào tay tôi, mắt chỉ dán chặt vào ngón tay của Hồ Lô Tây. Tôi cũng thấy hành động của gã lúc này: gã đang ấn ngón tay đang chảy máu của mình lên nắp quan tài, không ngừng di chuyển. Tôi đã hiểu ra, gã này đang dùng máu của chính mình để đồ lại những ký tự Phạn văn cổ đó. Tôi nhìn máu từ ngón tay gã từng giọt từng giọt nhỏ xuống nắp quan tài, khi máu nhỏ xuống, Hồ Lô Tây lại dùng ngón tay kia men theo mép văn tự mà bôi máu lên. Nhìn mà tim tôi thắt lại, gã này lại đang bày trò quỷ gì thế không biết?