Vùng Chết

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Tháng Năm. Lại có thể ngửi thấy mùi cỏ khô, cùng hương thơm của hoa kim ngân và hoa hồng. Ở New England, mùa xuân thực sự chỉ vỏn vẹn một tuần quý giá, đài phát thanh lại bắt đầu phát những ca khúc cũ của nhóm The Beach Boys, tiếng xe Toyota rì rầm trên đường, rồi mùa hè ập đến nóng hầm hập.

Vào đêm cuối cùng của tuần lễ quý giá đó, Johnny ngồi trong phòng khách, nhìn ra màn đêm bên ngoài. Đêm xuân dịu dàng và huyền bí. Chuck và bạn gái hiện tại của cậu ấy đã đi dự tiệc khiêu vũ của trường trung học, cô bé này thông minh hơn những người trước đó nhiều. Chuck thì thầm với Johnny rằng cô bé đọc sách như một người lớn thực thụ.

Pang đã đi rồi. Cuối tháng Ba, anh ta nhận được chứng nhận công dân Mỹ, tháng Tư, anh ta nộp đơn ứng tuyển vào vị trí phụ trách vệ sinh cho một khách sạn du lịch ở North Carolina, ba tuần trước, anh ta đi phỏng vấn và được nhận ngay tại chỗ. Trước khi rời đi, anh ta đến gặp Johnny.

"Cậu đang lo lắng về một con hổ không hề tồn tại," anh ta nói. "Hổ có vằn, những vằn đó hòa lẫn vào môi trường xung quanh, khiến người ta không nhìn thấy nó. Điều này làm những kẻ lo âu trở nên nghi thần nghi quỷ, nhìn đâu cũng thấy hổ."

"Có một con hổ," Johnny trả lời.

"Phải," Pang đồng ý. "Ở một nơi nào đó. Đồng thời, cậu ngày càng gầy đi đấy."

Johnny đứng dậy, đi đến bên tủ lạnh, rót cho mình một ly Pepsi. Cậu cầm ly Pepsi bước ra ban công nhỏ. Cậu ngồi xuống, vừa uống vừa nghĩ: Thời gian không thể đảo ngược, đó là điều may mắn biết bao. Trăng lên, tựa như một con mắt màu cam trên rừng thông, hắt một vệt dài đỏ như máu xuống mặt hồ bơi. Ếch bắt đầu kêu. Một lúc sau, Johnny vào nhà, thả một viên thuốc ngủ lớn vào ly Pepsi. Cậu đi ra ngoài, ngồi xuống, vừa uống vừa nhìn mặt trăng lên cao dần trên bầu trời, chậm rãi chuyển từ màu cam sang sắc bạc huyền bí, tĩnh lặng. Ngày 23 tháng 6 năm 1977, Chuck tốt nghiệp trung học. Johnny mặc bộ vest đẹp nhất của mình, ngồi cùng Roger và Shelley Chevass trong hội trường nóng bức, nhìn Chuck tốt nghiệp ở vị trí thứ bốn mươi ba. Shelley đã khóc.

Sau đó, một bữa tiệc ngoài trời được tổ chức tại nhà Chevass. Thời tiết oi bức. Những đám mây dông hình tròn hình thành phía chân trời phía Tây, chúng chậm rãi di chuyển qua lại nhưng dường như không kéo đến. Chuck uống ba ly hỗn hợp rượu Vodka và nước cam, mặt đỏ bừng, cậu cùng bạn gái Patty Strasser đến bên Johnny để khoe món quà tốt nghiệp bố mẹ tặng—một chiếc đồng hồ Pulsar hoàn toàn mới.

"Con đã nói với họ là con muốn loại đồng hồ cơ, nhưng họ chỉ chịu mua cái này thôi," Chuck nói, Johnny bật cười. Họ trò chuyện một lúc, rồi Chuck đột nhiên bảo, "Con muốn cảm ơn anh, Johnny. Nếu không có anh, hôm nay con không thể nào tốt nghiệp được."

"Không, không phải vậy đâu," Johnny nói. Cậu hơi căng thẳng khi thấy Chuck sắp khóc, "Việc lên lớp ở trường mới là quan trọng nhất."

"Em cũng luôn nói với anh ấy như vậy," bạn gái của Chuck nói. Cô bé đeo kính, lớn lên chắc chắn sẽ trở thành một mỹ nhân điềm đạm, thanh lịch.

"Có lẽ," Chuck nói, "Có lẽ là vậy. Nhưng con nghĩ con biết nên dành lời cảm ơn này cho ai. Cảm ơn anh rất nhiều." Cậu ôm chầm lấy Johnny, siết chặt.

Nó đột ngột ập đến—một hình ảnh tia chớp, Johnny đứng thẳng người, tay ấn chặt lên đầu, như thể Chuck không phải đang ôm mà là đang đánh cậu. Hình ảnh đó chìm sâu vào tâm trí cậu, như một bức tranh được mạ điện.

"Không," cậu nói, "Tuyệt đối không. Hai đứa phải tránh xa nơi đó ra."

Chuck bồn chồn lùi lại một bước. Cậu cảm nhận được thứ gì đó, một thứ lạnh lẽo, đen tối và không thể thấu hiểu. Đột nhiên cậu không muốn chạm vào Johnny nữa, trong khoảnh khắc đó, cậu không bao giờ muốn chạm vào Johnny thêm một lần nào nữa. Cảm giác giống như đang nằm trong quan tài của chính mình, nhìn nắp quan tài bị đóng đinh lại vậy.

"Johnny," cậu nói, rồi lại lắp bắp, "Sao... sao lại..."

Roger đang cầm đồ uống đi tới, giờ dừng lại, vẻ mặt đầy bối rối. Johnny đang nhìn qua vai Chuck về phía những đám mây dông xa xăm. Ánh mắt cậu dại đi.

Cậu nói: "Các người phải tránh xa nơi đó ra. Ở đó không có cột thu lôi."

"Jo..." Chuck nhìn bố mình, vô cùng sợ hãi, "Hình như anh ấy bị... phát bệnh gì đó."

"Sét đánh," Johnny lớn tiếng tuyên bố. Mọi người quay đầu nhìn cậu. Cậu giơ hai tay ra, "Một vụ hỏa hoạn đột ngột và dữ dội. Những tấm cách điện trên tường. Cửa... đóng chặt. Những người bị cháy có mùi như thịt lợn nướng."

"Anh ấy đang nói cái gì vậy?" bạn gái của Chuck hét lên, cuộc trò chuyện dần im bặt. Bây giờ mọi người đều đang nhìn Johnny, họ đồng thời giữ chặt đĩa thức ăn và ly rượu trong tay để không làm rơi.

Roger bước tới. "John! Johnny! Có chuyện gì vậy? Tỉnh lại đi!" Ông búng tay trước đôi mắt dại đi của Johnny. Tiếng sấm ầm ầm vang lên phía Tây. "Có chuyện gì vậy?"

Giọng Johnny rõ ràng và vang dội, hơn năm mươi người có mặt ở đó đều nghe thấy, họ là những thương nhân và vợ, những giáo sư và vợ, tầng lớp trung lưu của Durham. "Đêm nay hãy để con trai ông ở nhà, nếu không nó sẽ bị thiêu sống cùng những người khác. Sẽ có một vụ hỏa hoạn, một vụ hỏa hoạn khủng khiếp. Hãy để nó tránh xa Casey. Nơi đó sẽ bị sét đánh, cháy rụi hoàn toàn. Xe cứu hỏa không kịp đến đâu. Những tấm cách điện sẽ bốc cháy. Ở lối ra sẽ có sáu, bảy xác chết cháy đen, không thể nhận dạng, trừ khi kiểm tra răng. Nó... nó..."

Lúc này, Patty hét lên, cô bé đưa tay che miệng, chiếc ly nhựa rơi xuống bãi cỏ, những viên đá nhỏ lăn ra sáng lấp lánh như những viên kim cương khổng lồ. Cô bé đứng loạng choạng rồi ngất xỉu. Mẹ cô bé chạy tới, hét vào mặt Johnny: "Anh bị bệnh gì vậy? Rốt cuộc anh bị làm sao thế?"

Chuck nhìn chằm chằm vào Johnny, mặt trắng bệch như tờ giấy.

Đôi mắt Johnny trở nên trong trẻo. Cậu nhìn xung quanh những người đang chằm chằm vào mình. "Xin lỗi," cậu lẩm bẩm.

Mẹ của Patty quỳ xuống đất, ôm đầu con gái, nhẹ nhàng vỗ vào má cô bé. Cô gái cử động, rên rỉ.

"Johnny?" Chuck thì thầm, rồi không đợi trả lời, liền chạy về phía bạn gái.

Bãi cỏ nhà Chevass vô cùng tĩnh lặng. Mọi người đều đang nhìn cậu, họ nhìn cậu vì chuyện đó lại xảy ra lần nữa. Họ nhìn cậu với ánh mắt y hệt những y tá và phóng viên. Họ là một đàn quạ trên đường dây điện thoại. Họ cầm ly rượu và đĩa salad khoai tây, nhìn cậu như thể cậu là một con quái vật. Họ nhìn cậu như thể cậu vừa tụt quần mình ra, để lộ bộ phận sinh dục vậy.

Cậu muốn bỏ chạy, muốn trốn đi, cậu muốn nôn mửa.

"Johnny," Roger nói, một tay khoác lên vai cậu. "Vào nhà đi. Cậu cần nằm nghỉ một chút..."

Tiếng sấm ầm ầm từ xa vọng lại.

"Casey là cái gì?" Johnny nói, muốn thoát khỏi cánh tay của Roger. "Nó không phải là nhà ở của ai đó, vì có biển báo lối ra. Nó là cái gì? Nó ở đâu?"

"Anh không thể để cậu ta đi khỏi đây sao?" mẹ của Patty gần như đang hét, "Anh ta lại làm con bé hoảng sợ rồi!"

"Đi thôi, Johnny."

"Nhưng..."

"Đi thôi."

Cậu ngoan ngoãn theo ông vào phòng khách. Tiếng bước chân của họ nghe rất lớn. Dường như chẳng còn âm thanh nào khác. Khi họ đi đến hồ bơi, phía sau vang lên những tiếng xì xào bàn tán.

"Casey ở đâu?" Johnny hỏi lại.

"Sao cậu lại không biết chứ?" Roger hỏi, "Cậu dường như biết mọi thứ. Cậu làm Patty tội nghiệp sợ đến ngất xỉu rồi đấy."

"Tôi không nhìn thấy nó. Nó nằm trong vùng chết. Nó là cái gì?"

"Chúng ta lên lầu trước đã."

"Tôi không bị bệnh!"

"Vậy thì là do quá căng thẳng," Roger nói, giọng ông rất nhẹ nhàng, như đang dỗ dành một kẻ điên. Giọng nói của ông khiến Johnny cảm thấy sợ hãi. Cơn đau đầu ập đến, cậu gắng sức kìm nén. Họ lên lầu đi về phía phòng khách.

"Cảm thấy khá hơn chút nào chưa?" Roger hỏi.

"Casey là cái gì?"

"Đó là một nhà hàng bít tết và quán bar. Ở Somersworth. Tổ chức tiệc tốt nghiệp tại Casey là một truyền thống, trời mới biết tại sao. Cậu thực sự không muốn uống Aspirin sao?"

"Không muốn. Đừng để nó đi, Roger. Nơi đó sẽ bị sét đánh. Nó sẽ cháy rụi hoàn toàn."

"Johnny," Roger Chevass nói một cách chậm rãi, rất thân thiện, "Cậu không thể nào biết trước được chuyện này."

Johnny uống một ngụm nước đá, rồi đặt ly xuống, tay cậu hơi run. "Ông từng nói ông đã kiểm tra lý lịch của tôi, tôi nghĩ..."

"Phải, tôi đã kiểm tra. Nhưng cậu đang đi đến một kết luận sai lầm. Tôi biết cậu được coi là một nhà ngoại cảm hay đại loại thế, nhưng tôi không cần một nhà ngoại cảm. Tôi cần một giáo viên. Với tư cách là một giáo viên, cậu làm rất xuất sắc. Cá nhân tôi cho rằng không có sự khác biệt giữa nhà ngoại cảm tốt và nhà ngoại cảm tồi, vì tôi không hề tin vào chuyện này. Rất đơn giản, tôi không tin."

"Vậy thì tôi là một kẻ nói dối."

"Không hề," Roger vẫn hạ thấp giọng đầy thân thiện, "Tôi có một quản lý công trường, anh ta không bao giờ châm một que diêm quá ba lần, nhưng điều đó không làm anh ta trở thành một người quản lý kém cỏi. Tôi có vài người bạn rất sùng đạo, dù bản thân tôi không đến nhà thờ, nhưng họ vẫn là bạn của tôi. Cậu tin rằng mình có thể nhìn thấy tương lai, điều đó không ảnh hưởng đến việc tôi thuê cậu. Không... không hoàn toàn như vậy. Chỉ cần tôi cho rằng niềm tin này của cậu không cản trở việc dạy Chuck, tôi sẽ không bận tâm. Nó quả thực không cản trở cậu dạy Chuck. Nhưng tôi không tin đêm nay Casey sẽ cháy rụi, cũng như tôi không tin mặt trăng làm từ phô mai xanh vậy."

"Tôi không phải kẻ nói dối, chỉ là bị điên thôi," Johnny nói. Xét theo một ý nghĩa nào đó, chuyện này khá thú vị. Roger Dussaul và nhiều người viết thư cho Johnny đã buộc tội cậu lừa đảo, nhưng Chevass là người đầu tiên buộc tội cậu bị điên.

"Cũng không phải," Roger nói. "Cậu là một thanh niên gặp phải tai nạn khủng khiếp, cậu đang đấu tranh với số phận bằng một cái giá có lẽ là rất đắt. Tôi không thể tùy tiện bình luận về điều đó, Johnny, nhưng nếu bất cứ ai trên bãi cỏ kia—bao gồm cả mẹ của Patty—muốn đi đến những kết luận ngu ngốc, tôi sẽ yêu cầu họ ngậm miệng lại, đừng bình luận về những điều họ không hiểu."

"Casey," Johnny đột nhiên nói, "Vậy tại sao tôi lại biết cái tên này? Làm sao tôi biết nó không phải là nhà ở của ai đó?"

"Nghe Chuck nói. Tuần này nó cứ nhắc mãi về bữa tiệc."

"Nó chưa từng nói với tôi."

Roger nhún vai: "Có lẽ cậu vô tình nghe thấy khi nó nói với Shelley hoặc tôi. Tiềm thức của cậu đã ghi nhớ nó, cất giữ nó lại..."

"Đúng," Johnny đau đớn nói, "Bất cứ điều gì chúng ta không hiểu, bất cứ điều gì bất thường, chúng ta đều quy cho tiềm thức, phải không? Tiềm thức là vị Chúa của thế kỷ hai mươi. Khi mọi thứ không khớp với quan điểm của ông, ông thường làm vậy sao, Roger?"

Ánh mắt Roger lóe lên—có lẽ đó chỉ là tưởng tượng.

"Cậu đã liên kết tia chớp với cơn dông sắp tới," ông nói, "Cậu không thấy sao? Điều đó rất đơn..."

"Nghe này," Johnny nói, "Tôi đang nói cho ông biết một cách đơn giản nhất có thể. Nơi đó sẽ bị sét đánh, cháy rụi hoàn toàn. Hãy để Chuck ở nhà."

Chà, trời ơi, cơn đau đầu lại bắt đầu, tiến sát lại gần như một con hổ. Cậu đặt tay lên trán, gắng sức day mạnh.

"Johnny, yêu cầu của cậu quá đáng rồi đấy."

"Hãy để nó ở nhà," Johnny lặp lại.

"Đây là quyết định của nó, tôi không thể quyết định thay nó. Nó mười tám tuổi rồi, là người tự do."

Có tiếng gõ cửa. "Johnny?"

"Mời vào," Johnny nói, chính Chuck bước vào. Cậu trông rất sốt ruột.

"Anh sao rồi?" Chuck hỏi.

"Anh ổn," Johnny nói, "Anh chỉ bị đau đầu thôi. Chuck... đêm nay làm ơn đừng đến nơi đó. Anh đang yêu cầu cậu với tư cách một người bạn. Cho dù cậu có nghĩ giống bố cậu hay không. Làm ơn."

"Không thành vấn đề," Chuck vui vẻ nói, ngồi phịch xuống ghế sofa. Cậu dùng chân kéo một chiếc ghế đẩu lại. "Anh có dùng xích cũng không kéo nổi Patty đến gần nơi đó trong vòng một dặm đâu: anh làm nó sợ chết khiếp rồi."

"Anh rất xin lỗi," Johnny nói, thở hắt ra, cảm thấy một cơn buồn nôn và ớn lạnh. "Anh rất xin lỗi, nhưng anh rất mừng."

"Anh có cảm giác đột ngột nào đó, đúng không?" Chuck nhìn Johnny, rồi lại nhìn bố mình, sau đó chậm rãi quay lại nhìn Johnny. "Em cảm thấy, rất không ổn."

"Đôi khi người ta có một cảm giác nào đó. Anh nghĩ cảm giác đó rất không dễ chịu."

"Ừm, em không muốn chuyện đó xảy ra nữa," Chuck nói, "Nhưng này... nơi đó không thực sự cháy rụi chứ?"

"Sẽ cháy," Johnny nói, "Cậu phải tránh xa nơi đó ra."

"Nhưng..." cậu nhìn bố mình, rất phiền lòng. "Khối lớp cuối cấp đã đặt trước cả cái nơi quỷ quái đó rồi. Trường học khuyến khích làm vậy. Như thế an toàn hơn là hai, ba mươi bữa tiệc khác nhau. Ở đó..." Chuck im lặng một lát, rồi vẻ mặt trở nên kinh hãi. "Ở đó sẽ có hơn hai trăm cặp đôi," cậu nói, "Bố..."

"Bố nghĩ nó chẳng tin chuyện này đâu," Johnny nói.

Roger đứng dậy, mỉm cười nhẹ. "Được rồi, chúng ta hãy lái xe đến Somersworth, nói chuyện với quản lý nơi đó," ông nói. "Dù sao thì đây cũng là một bữa tiệc ngoài trời chán ngắt. Nếu cả hai đứa quay về mà vẫn nghĩ vậy, tối nay chúng ta có thể mời mọi người đến đây."

Ông liếc nhìn Johnny.

"Điều kiện duy nhất là cậu không được uống rượu, và phải giúp đỡ."

"Tôi rất sẵn lòng," Johnny nói. "Nhưng tại sao, nếu ông không tin?"

"Để cậu bình tĩnh lại," Roger nói, "Và cũng vì Chuck nữa. Nếu đêm nay bình an vô sự, bố có thể nói là bố đã bảo mà, rồi cười cho thối mũi."

"Được rồi, dù sao cũng cảm ơn ông." Khi trút được gánh nặng, cậu run rẩy dữ dội hơn, nhưng cơn đau đầu đã đỡ hơn nhiều.

"Có một điều phải nói với hai đứa," Roger nói, "Bố nghĩ chủ quán sẽ không bao giờ hủy tiệc vì lời nói chưa được kiểm chứng của cậu đâu, Johnny. Đây có thể là vụ làm ăn lớn nhất năm của ông ta."

Chuck nói: "Chúng ta có thể nghĩ cách..."

"Cách gì?"

"Chúng ta có thể kể cho ông ta một câu chuyện... bịa một câu chuyện nào đó..."

"Ý cậu là nói dối? Không, anh sẽ không làm thế đâu, đừng yêu cầu anh làm vậy, Chuck."

Chuck gật đầu, "Được rồi."

"Chúng ta đi nhanh thôi," Roger giục, "Bây giờ là năm giờ mười lăm phút rồi. Bố lái chiếc Mercedes đến Somersworth."

Khi ba người họ bước vào lúc năm giờ bốn mươi phút, chủ kiêm quản lý Bruce Carrick đang ở trong quầy bar. Ngoài cửa treo một tấm biển, "Tiệc riêng tối nay, đóng cửa lúc bảy giờ tối, hẹn gặp lại." Johnny nhìn thấy tấm biển mà lòng chùng xuống.

Carrick không quá bận rộn. Có vài công nhân đang vừa uống bia vừa xem tivi, có ba cặp đôi đang uống cocktail. Ông ta nghe Johnny kể lại, vẻ mặt ngày càng hoài nghi. Khi Johnny nói xong, Carrick bảo: "Cậu nói cậu tên là Smith?"

"Đúng."

"Ông Smith, làm ơn đi theo tôi đến bên cửa sổ này."

Ông ta dẫn Johnny đến cửa sổ hành lang, cửa sổ này sát bên cửa phòng giữ đồ.

"Nhìn ra ngoài đi, ông Smith, rồi cho tôi biết ông thấy gì."

Johnny nhìn ra ngoài, biết mình sẽ thấy gì. Quốc lộ 9 kéo dài về phía Tây, những giọt mưa nhỏ trên đường đều đã khô. Phía trên, bầu trời rất trong xanh. Mây dông đã qua rồi.

"Không nhiều lắm. Ít nhất là bây giờ không nhiều. Nhưng..."

"Không có nhưng nhị gì cả," Bruce Carrick nói, "Ông biết tôi nghĩ gì không? Ông muốn nghe sự thật không? Tôi nghĩ ông là kẻ điên. Tại sao ông lại chọn tôi để lừa đảo, tôi không biết, cũng không muốn biết. Nhưng nếu ông có thời gian, cưng à, tôi sẽ nói cho ông vài sự thật. Để có được bữa tiệc này, học sinh cuối cấp đã trả cho tôi sáu trăm năm mươi đô la. Họ thuê một ban nhạc rock rất tuyệt, đến từ Maine. Thức ăn đã ở trong tủ lạnh rồi, chuẩn bị sẵn sàng, bất cứ lúc nào cũng có thể cho vào lò vi sóng. Salad đang được ướp lạnh. Đồ uống rất nhiều, những đứa trẻ này hầu hết đã trên mười tám tuổi, muốn uống gì thì uống... tối nay chúng sẽ uống, chẳng ai trách chúng đâu, tốt nghiệp trung học chỉ có một lần. Tối nay ở quán bar, tôi có thể kiếm được hai nghìn đô la mà chẳng tốn sức. Tôi đã thuê thêm hai người pha chế. Tôi có sáu nữ phục vụ và một quản lý. Nếu bây giờ tôi hủy tiệc này, tôi mất trắng cả đêm, còn phải hoàn lại sáu trăm năm mươi đô tiền ăn đã nhận. Tôi thậm chí không còn khách quen nữa, vì tấm biển đó đã để ở đó cả tuần rồi. Ông hiểu chưa?"

"Nơi này có cột thu lôi không?" Johnny hỏi.

Carrick giơ hai tay lên. "Tôi đang nói cho gã này vài sự thật cơ bản, hắn lại muốn thảo luận về cột thu lôi! Có, tôi có cột thu lôi! Khoảng năm năm trước, một gã đến đây, lúc đó tôi chưa có. Hắn dẻo miệng nói một tràng về việc cải thiện tỷ lệ bảo hiểm của tôi. Thế là tôi mua cái cột thu lôi chết tiệt đó! Ông thỏa mãn chưa? Trời ơi!" Ông ta nhìn Roger và Chuck, "Hai người đang làm gì thế? Tại sao lại để cái thứ chó chết này chạy lung tung? Đi ra ngoài; tại sao không ra ngoài đi? Tôi còn phải làm ăn."

"John..." Chuck lên tiếng.

"Đừng bận tâm," Roger nói, "Chúng ta đi thôi. Cảm ơn ông đã dành thời gian cho chúng tôi, ông Carrick, và cảm ơn ông đã lắng nghe chúng tôi nói."

"Chẳng có gì để cảm ơn cả," Carrick nói, "Một lũ điên!" Ông ta sải bước về phía quầy bar.

Ba người họ bước ra ngoài. Chuck nghi hoặc nhìn bầu trời trong xanh. Johnny đi về phía xe, cúi đầu nhìn chân mình, cảm thấy bản thân thật ngu ngốc và nản lòng. Cậu đau đầu dữ dội, thái dương đập thình thịch. Roger đút hai tay vào túi quần, đứng ngước nhìn mái nhà dài và thấp.

"Bố đang nhìn gì thế?" Chuck hỏi.

"Trên đó không có cột thu lôi," Roger trầm ngâm nói, "Hoàn toàn không có cột thu lôi."

Họ ngồi trong phòng khách ngôi nhà lớn, Chuck ngồi cạnh điện thoại, nhìn bố mình đầy nghi hoặc. "Muộn thế này rồi, hầu hết họ chắc chắn không muốn thay đổi kế hoạch của mình đâu," cậu nói.

"Dù sao họ cũng đã chuẩn bị ra ngoài rồi," Roger nói, "Họ rất dễ dàng đến được đây."

Chuck nhún vai, bắt đầu quay số.

Cuối cùng, một nửa số người định đến Casey đêm đó đã đến đây, Johnny không biết tại sao họ lại đến. Có người đến có lẽ vì bữa tiệc ở đây nghe thú vị hơn, vì đồ uống miễn phí. Nhưng tin tức lan nhanh, nhiều phụ huynh của lũ trẻ chiều hôm đó đã dự tiệc ngoài trời—kết quả là, Johnny đêm đó cảm thấy mình như một vật trưng bày trong tủ kính. Roger ngồi trên một chiếc ghế trong góc, uống rượu Vodka Martini, ông cố gắng tỏ ra không chút lay động.

Khoảng tám giờ mười lăm, ông đi đến bên Johnny, cúi người xuống, hét lên trong tiếng nhạc ầm ĩ của Elton John: "Cậu có muốn lên lầu đánh bài không?"

Johnny gật đầu biết ơn.

Shelley đang viết thư trong bếp. Khi họ bước vào, bà ngẩng đầu lên, mỉm cười nhẹ: "Mẹ cứ tưởng hai người là hai kẻ khổ dâm muốn ở dưới đó cả đêm chứ. Chẳng cần thiết phải làm vậy đâu."

"Con rất xin lỗi về tất cả những chuyện này," Johnny nói, "Con biết điều này chắc chắn nghe thật khó tin."

"Đúng là rất khó tin," Shelley nói, "Không cần phải che giấu điều đó. Nhưng để bọn trẻ chơi ở đây cũng tốt, mẹ không bận tâm."

Bên ngoài tiếng sấm ầm ầm. Johnny nhìn xung quanh. Shelley nhìn thấy vậy thì mỉm cười nhẹ. Roger rời đi để tìm bộ bài trong tủ phòng ăn.

"Con biết không, vừa mới dứt xong," bà nói, "Đánh vài tiếng sấm, rơi vài giọt mưa."

"Vâng," Johnny nói.

Bà ký tên vào lá thư, gấp lại, cho vào phong bì, ghi địa chỉ, dán tem. "Con thực sự đã trải qua vài chuyện, phải không, Johnny?"

"Vâng."

"Một cơn choáng váng ngắn ngủi," bà nói, "Có thể do suy dinh dưỡng. Con gầy quá, Johnny. Đó có thể là một ảo giác, đúng không?"

"Không, con không nghĩ vậy."

Bên ngoài, tiếng sấm lại vang lên, nhưng vẫn còn rất xa.

"Mẹ rất mừng là nó ở nhà. Mẹ không tin vào chiêm tinh học, xem chỉ tay và ngoại cảm, nhưng... mẹ vẫn rất mừng là nó ở nhà. Nó là đứa con duy nhất của chúng ta... mẹ nghĩ con sẽ cho rằng bây giờ nó đã là một chàng trai lớn rồi, nhưng cảnh nó mặc quần đùi cưỡi ngựa gỗ trong công viên thị trấn vẫn hiện lên rõ mồn một. Rõ ràng quá. Có thể cùng nó trải qua nghi thức cuối cùng... của thời niên thiếu, điều này thật rất hạnh phúc."

"Nghĩ như vậy thật tốt," Johnny nói. Đột nhiên, cậu kinh hãi nhận ra mình sắp khóc đến nơi. Trong sáu, tám tháng qua, khả năng kiểm soát cảm xúc của cậu dường như rất kém.

"Cậu đối xử với Chuck rất tốt. Tôi không chỉ nói đến việc cậu dạy thằng bé đọc sách. Còn nhiều phương diện khác nữa."

"Tôi quý Chuck."

"Phải," cô bình tĩnh nói, "tôi biết."

Roger quay lại, trên tay cầm bộ bài và một chiếc radio bán dẫn đang phát nhạc cổ điển.

"Một liều thuốc giải độc cho Elton John, Aerosmith, Foghat và những thứ tương tự," ông nói, "Mỗi ván một đô la nhé, Johnny?"

"Được thôi."

Roger xoa tay ngồi xuống. "Ồ, cậu sẽ thua trắng tay cho xem," ông nói.

Họ chơi bài, thời gian chậm rãi trôi qua. Mỗi khi xong một ván, một trong hai người lại phải xuống lầu kiểm tra để đảm bảo không ai đang nhảy nhót trên bàn bi-a hay lén ra ngoài hẹn hò. "Trong bữa tiệc này, tôi tuyệt đối không để ai mang bầu đâu," Roger nói.

Shelley đi vào phòng khách đọc sách. Cứ mỗi tiếng một lần, nhạc trên radio lại dừng để phát tin tức, mỗi lúc như vậy, sự tập trung của Johnny lại phân tán một chút. Nhưng không có tin tức gì về vụ Casey ở Somersworth—tám giờ, chín giờ, mười giờ, đều không có.

Sau bản tin mười giờ, Roger hỏi: "Sẵn sàng từ bỏ lời tiên tri của cậu chưa, Johnny?"

"Chưa."

Dự báo thời tiết nói có mưa rào kèm sấm sét, sau nửa đêm trời sẽ tạnh.

Dưới lầu vọng lên âm thanh trầm đục của ban nhạc Sunshine.

"Bữa tiệc càng lúc càng ồn ào rồi," Johnny bình luận.

"Chết tiệt," Roger nói, nhếch mép cười, "Bọn chúng càng lúc càng say khướt. Spud Palmer say mèm nằm trong góc, có người đang chuốc thêm cho nó. Ồ, sáng mai chắc đứa nào cũng say bí tỉ. Tôi nhớ hồi tiệc tốt nghiệp trung học của mình..."

"Bây giờ là bản tin cập nhật khẩn cấp," radio phát ra tiếng.

Johnny đang chia bài, đột nhiên làm rơi toàn bộ xuống đất.

"Thư giãn đi, có lẽ chỉ là một vụ bắt cóc ở Florida thôi."

"Tôi không nghĩ vậy," Johnny nói.

Phát thanh viên nói: "Ngay lúc này, tại thị trấn Somersworth, New Hampshire, đã xảy ra một trận hỏa hoạn khủng khiếp nhất trong lịch sử bang, cướp đi sinh mạng của bảy mươi lăm người trẻ tuổi. Vụ cháy xảy ra tại nhà hàng kiêm quán bar tên là Casey. Một bữa tiệc tốt nghiệp đang diễn ra thì bất ngờ bốc cháy. Đội trưởng đội cứu hỏa thị trấn Somersworth, Milton Howe, nói với các phóng viên rằng họ tin đây không phải là phóng hỏa cố ý, họ tin rằng vụ cháy chắc chắn là do sét đánh."

Gương mặt Roger Chesworth lập tức mất sạch máu. Ông ngồi thẳng đơ trên chiếc ghế bếp, mắt dán chặt vào một điểm phía trên đầu Johnny. Hai tay ông đặt vô lực trên bàn. Từ dưới lầu vọng lên tiếng trò chuyện mơ hồ, xen lẫn giọng hát của Bruce Springsteen.

Shelley bước vào phòng. Cô nhìn chồng mình, rồi nhìn Johnny, sau đó lại nhìn chồng, "Sao vậy? Xảy ra chuyện gì thế?"

"Đừng nói gì cả," Roger nói.

"...vẫn đang cháy, Howe nói con số tử vong cuối cùng chỉ có thể biết vào lúc rạng sáng. Nghe nói có hơn ba mươi người được đưa đến bệnh viện gần đó để điều trị bỏng, phần lớn là học sinh tốt nghiệp trung học. Có hơn bốn mươi học sinh đã trốn thoát qua cửa sổ nhà vệ sinh phía sau quán bar, nhưng những người khác thì chen chúc nhau..."

"Có phải Casey không?" Shelley Chesworth hét lên, "Có phải chỗ đó không?"

"Đúng, chính là nó," Roger nói. Ông bình tĩnh một cách lạ thường. Ông trông như một bóng ma, giống như một bức tượng sáp.

Dưới lầu im lặng trong giây lát, sau đó là tiếng chân chạy huỳnh huỵch lên lầu. Cửa bếp bật mở, Chuck bước vào, nhìn mẹ mình.

"Mẹ? Sao vậy? Chuyện gì xảy ra thế?"

"Có vẻ như cậu đã cứu mạng con trai chúng ta," Roger nói bằng giọng bình tĩnh đến lạ lùng. Johnny chưa từng thấy gương mặt nào trắng bệch đến thế. Roger trông như một bóng ma, như một bức tượng sáp.

"Nó cháy rồi?" Giọng Chuck đầy vẻ không tin nổi. Phía sau cậu, những người khác cũng ùa lên cầu thang, thì thầm kinh hãi. "Ý bố là nó cháy thành bình địa rồi sao?"

Không có câu trả lời. Đột nhiên, Patty phía sau cậu hét lên đầy kích động, "Là tại hắn, gã đó! Hắn đã khiến vụ cháy xảy ra! Hắn dùng ý niệm của mình làm nó bốc cháy, giống như trong cuốn sách 'Carrie' ấy! Đồ giết người! Sát nhân! Mày..."

Roger quay sang cô: "Câm mồm!" Ông gầm lên.

Patty khóc nức nở.

"Cháy rồi?" Chuck lặp lại. Cậu dường như đang tự hỏi chính mình, tự hỏi từ ngữ đó có chính xác hay không.

"Roger?" Shelley thì thầm, "Roger? Anh yêu?"

Tiếng thì thầm trên cầu thang càng lớn hơn, dưới lầu cũng vọng lên những tiếng xì xào. Dàn âm thanh đã tắt. Giờ có thể nghe rõ những tiếng thì thầm đó.

Mike có ở đó không? Shannon đi rồi, đúng không? Thật sao? Đúng, lúc tôi chuẩn bị đi thì Chuck gọi điện. Lúc gã đó phát điên thì mẹ tôi có mặt, bà ấy nói bà ấy nổi hết da gà, bà ấy bảo tôi đến đây. Kathy có ở đó không? Ray có ở đó không? Maureen Untero có ở đó không? Ôi, lạy Chúa, cô ấy có ở đó? Ở...

Roger chậm rãi đứng dậy, nhìn quanh. "Tôi đề nghị," ông nói, "chúng ta tìm người tỉnh táo nhất ở đây để lái xe, tất cả mọi người cùng đến bệnh viện. Họ cần người hiến máu."

Johnny ngồi như một tảng đá. Cậu không nhịn được tự hỏi liệu mình có thể cử động được nữa hay không. Bên ngoài, tiếng sấm ầm ầm, sau đó cậu nghe thấy tiếng người mẹ đã khuất của mình: Hãy làm tròn nghĩa vụ của con, Johnny.

Ngày 12 tháng 8 năm 1977

Johnny thân mến:

Tìm thấy cậu không khó—tôi đôi khi nghĩ, nếu cậu có đủ tiền. Ở đất nước này, cậu có thể tìm thấy bất kỳ ai, và tôi vừa hay có tiền. Có lẽ nói thế này sẽ khiến cậu ghét bỏ, nhưng Chuck, Shelley và tôi quá biết ơn cậu. Không thể không nói cho cậu sự thật. Tiền có thể mua được nhiều thứ, nhưng nó không thể mua chuộc được sét. Họ lại tìm thấy 12 cậu bé trong nhà vệ sinh nam của nhà hàng, chúng cố gắng mở những chiếc cửa sổ đã bị đóng đinh. Lửa không cháy đến đó, nhưng khói thì có. Cả 12 đứa đều ngạt thở mà chết. Tôi không thể quên được cảnh tượng đó, vì Chuck suýt chút nữa đã là một trong số những cậu bé đó. Cho nên tôi đã để người 'theo dõi' cậu, giống như cậu viết trong thư. Vì cùng lý do đó, tôi không thể không làm phiền cậu như cậu yêu cầu. Ít nhất là cho đến khi cậu nhận tấm séc gửi kèm theo đây.

Cậu sẽ nhận thấy mệnh giá tấm séc này nhỏ hơn nhiều so với tấm cậu nhận được một tháng trước. Tôi đã liên lạc với phòng tài vụ của Trung tâm Y tế East Maine, dùng phần lớn số tiền trong tấm séc đó để thanh toán các hóa đơn y tế chưa trả của cậu. Cậu đã trả hết nợ rồi, Johnny. Những việc tôi có thể làm, tôi rất vui lòng làm.

Cậu phản đối rằng cậu không thể nhận tiền. Tôi nói cậu có thể, và sẽ nhận. Cậu sẽ nhận thôi, Johnny. Tôi lần theo cậu đến Lauderdale, nếu cậu rời khỏi đó, tôi sẽ lần theo cậu đến địa điểm tiếp theo, ngay cả khi cậu trốn đến Nepal. Nếu cậu muốn, cứ gọi tôi là kẻ phiền phức; tôi tự coi mình là 'chó săn của Chúa'. Tôi không hề muốn đuổi theo cậu, Johnny. Tôi nhớ ngày cậu bảo tôi đừng để con trai tôi đi nộp mạng. Tôi suýt nữa đã để thằng bé đi. Còn những người khác thì sao? Mười một người chết, hơn ba mươi người bị thương nặng. Tôi nhớ Chuck từng nói chúng ta có thể bịa ra một câu chuyện, lúc đó tôi thật ngu ngốc và tự phụ, tôi đã nói: "Tôi sẽ không làm thế. Đừng yêu cầu tôi làm vậy". Tôi đã có thể làm được điều gì đó. Giờ tôi cảm thấy tội lỗi vì chuyện này. Tôi đã có thể trả cho tên đồ tể Calick ba ngàn đô để hắn đóng cửa tối hôm đó. Tính trung bình, mỗi mạng người chỉ có ba mươi bảy đô la. Cho nên tin tôi đi, tôi không muốn đuổi theo cậu; tôi bận đuổi theo chính mình, không có thời gian làm việc khác. Tôi nghĩ vài năm tới tôi sẽ cứ như vậy. Tôi đang trả giá cho sự tự phụ của mình. Xin đừng nghĩ rằng thanh toán xong viện phí và gửi tấm séc này là có thể khiến tôi an tâm. Tiền không thể mua chuộc sét, nó cũng không thể kết thúc cơn ác mộng. Tiền là trả cho Chuck, mặc dù thằng bé hoàn toàn không biết chuyện này.

Nhận tấm séc đi, tôi sẽ không làm phiền cậu nữa. Đây là điều kiện trao đổi. Nếu cậu muốn, hãy gửi nó cho UNICEF, hoặc cho trại chó hoang, hoặc ném vào đua ngựa. Tôi không quan tâm. Chỉ cần cậu nhận lấy. Tôi rất tiếc vì cậu vội vã rời đi như vậy, nhưng tôi có thể hiểu. Chúng tôi đều hy vọng sớm gặp lại cậu. Chuck sẽ đến Trường dự bị Stovenson vào ngày 4 tháng 9.

Johnny, xin cậu hãy nhận tấm séc.

Trân trọng,

Roger Chesworth

Ngày 1 tháng 9 năm 1977

Johnny thân mến:

Cậu tin là tôi sẽ không cố gắng nữa sao? Làm ơn, nhận tấm séc đi.

Roger

Ngày 10 tháng 9 năm 1977

Johnny yêu quý:

Charlie và bố đều rất vui khi biết con đang ở đâu, thư của con nhẹ nhàng tự nhiên, cả hai đều thở phào nhẹ nhõm. Nhưng có một việc khiến bố rất lo lắng, con trai ạ. Bố đã gọi cho Sam Weizak và đọc cho ông ấy nghe phần con nói về những cơn đau đầu không dứt. Ông ấy bảo con phải đi khám bác sĩ ngay lập tức, Johnny. Ông ấy lo rằng có thể có một cục máu đông hình thành xung quanh vết thương cũ. Cho nên bố rất lo, Sam cũng rất lo. Kể từ khi tỉnh lại, con chưa bao giờ thực sự trông khỏe mạnh, Johnny. Lần cuối bố gặp con vào đầu tháng 6, con trông rất mệt mỏi. Sam không nói, nhưng bố biết ông ấy muốn con bay từ Phoenix về nhà để ông ấy kiểm tra. Giờ con chắc chắn không thể lấy lý do không có tiền nữa rồi.

Roger Chesworth đã gọi điện đến đây hai lần, bố đã kể cho ông ấy những gì bố biết. Ông ấy nói đây không phải là số tiền trả để đổi lấy sự thanh thản trong lương tâm. Cũng không phải là thù lao cứu mạng con trai ông ấy, bố tin những lời này là thật. Bố tin mẹ con sẽ nói rằng ông ấy đang dùng cách duy nhất mà ông ấy biết để bày tỏ sự hối lỗi. Dù sao đi nữa, con đã nhận tấm séc, con nói con nhận chỉ để "thoát khỏi" sự đeo bám của ông ấy, bố hy vọng đó không phải là sự thật. Bố tin con có đủ dũng khí để không làm bất cứ việc gì vì lý do đó.

Giờ bố rất khó mở lời, nhưng vẫn phải nói. Về nhà đi, Johnny. Sự quan tâm của công chúng đã giảm bớt, con sẽ nói: "Ồ, nhảm nhí, sau chuyện này, sự quan tâm của công chúng sẽ không bao giờ giảm". Bố nghĩ theo một nghĩa nào đó, con đúng, nhưng con cũng sai. Ông Chesworth nói trên điện thoại: "Nếu cậu nói chuyện với cậu ấy, cậu sẽ hiểu, tất cả những nhà ngoại cảm đều chỉ là hiện tượng nhất thời, trừ Nostradamus". Bố rất lo cho con, con trai ạ. Bố lo rằng con tự trách mình vì những người đã chết, thay vì tự hào vì những người đã được cứu, những người có mặt ở nhà Chesworth đêm hôm đó. Bố rất lo, cũng rất nhớ con. "Bố rất rất nhớ con", giống như bà nội con thường nói. Cho nên làm ơn hãy về nhà sớm nhất có thể.

Bố

Tái bút: Bố gửi cho con những bài báo cắt về vụ cháy và về con. Đây là những gì Charlie đã sưu tầm. Con sẽ thấy, dự đoán của con là đúng, "mọi người tham gia bữa tiệc ngoài trời đều sẽ tiết lộ cho báo chí". Bố nghĩ những bài báo này có thể chỉ làm con thất vọng hơn, nếu vậy, hãy vứt chúng đi. Nhưng ý của Charlie là, con có thể nhìn vào chúng và nói: "Không tệ như mình tưởng, mình có thể đối mặt với nó". Bố hy vọng con sẽ nói như vậy.

Ngày 29 tháng 9 năm 1977

Johnny thân mến:

Bố gửi địa chỉ của anh cho em, sa mạc lớn ở Mỹ thế nào rồi? Có thấy người da đỏ không (haha)? Ở trường dự bị Stovenson đây em không căng thẳng lắm. Em đang học 16 giờ một tuần. Môn em thích nhất là Hóa học cao cấp, mặc dù khó hơn hồi cấp ba. Em nghĩ giáo viên trung học của chúng ta, gã Farnham đáng sợ đó, thích hợp để chế tạo vũ khí hủy diệt thế giới hơn. Trong giờ Tiếng Anh, bốn tuần đầu chúng em đọc ba cuốn tiểu thuyết của Salinger: "Bắt trẻ đồng xanh", "Franny và Zooey" và "Những người thợ mộc, hãy dựng cao mái nhà". Em rất thích Salinger. Giáo viên bảo bọn em ông ấy vẫn sống ở New Hampshire, nhưng đã ngừng viết lách. Điều này làm em rất sốc. Tại sao người ta lại ẩn dật ngay khi đang nổi tiếng chứ? Ồ, đội bóng bầu dục ở đây tệ lắm, nhưng em đang học bóng đá. Huấn luyện viên nói, bóng đá là môn bóng bầu dục dành cho người thông minh, còn bóng bầu dục là môn dành cho kẻ ngốc. Em vẫn chưa hiểu ông ấy nói đúng hay là đang ghen tị nữa.

Em không biết có nên đưa địa chỉ của anh cho một số người tham gia tiệc tốt nghiệp của bọn em không. Họ muốn viết thư cảm ơn. Trong đó có cả mẹ của Patty, anh chắc còn nhớ bà ấy, trong buổi tiệc ngoài trời hôm đó, khi "cô con gái cưng" của bà ấy ngất xỉu, bà ấy cư xử rất thô lỗ. Giờ bà ấy hiểu anh là người tốt rồi. Nhân tiện, em đã chia tay Patty. Ở cái "tuổi dịu dàng" này (haha), em rất khó duy trì mối quan hệ yêu xa, Patty định đi học ở Vassar. Đúng như anh dự đoán, em đã gặp một cô nàng thông minh ở đây.

Rảnh thì viết thư cho em nhé, anh bạn. Bố bảo anh giờ suốt ngày không làm gì cả, em không hiểu tại sao, vì em thấy anh luôn rất nỗ lực. Bố nói sai rồi đúng không, Johnny? Anh không hề rảnh rỗi đúng không? Làm ơn viết thư cho em biết anh vẫn ổn, em rất lo cho anh. Kiểu lo lắng này thật nực cười phải không? Nhưng em thực sự rất lo.

Khi viết thư trả lời, hãy cho em biết tại sao Holden Caulfield luôn buồn bã như vậy.

Chuck

Tái bút: Cô nàng thông minh đó tên là Stephanie Weiman, em đã dụ cô ấy xem "Something Wicked This Way Comes". Cô ấy cũng rất thích một ban nhạc punk rock tên là Ramones, anh nên nghe thử, họ tuyệt lắm.

Ngày 17 tháng 10 năm 1977

Johnny thân mến:

Nghe anh ổn là tốt rồi. Công việc của anh ở Sở Công chính Phoenix làm em cười đau cả bụng. Với tư cách là thành viên đội Stovenson Tigers, em đã tham gia bốn trận đấu, em chẳng hề cảm thông với việc anh bị nắng làm đen da chút nào đâu. Huấn luyện viên nói đúng, bóng bầu dục là môn dành cho kẻ ngốc; ít nhất là ở đây. Kỷ lục của bọn em là một thắng ba thua, trong trận thắng đó, em đã ghi điểm ba lần, mệt đến mức ngất xỉu. Làm Stephanie sợ chết khiếp (haha).

Anh hỏi mọi người ở nhà nghĩ gì về công việc của Greg Stillson kể từ khi nhậm chức. Cuối tuần trước em về nhà, em sẽ kể hết cho anh. Em hỏi bố trước, ông bảo: "Johnny vẫn còn quan tâm đến gã đó à?". Em nói: "Anh ấy hỏi ý kiến bố, điều này chứng tỏ khả năng phán đoán của anh ấy rất kém". Thế là ông bảo mẹ em: "Xem kìa, trường dự bị đã biến thằng bé thành kẻ dẻo miệng rồi. Anh biết ngay mà".

Được rồi, nói ngắn gọn thôi, hầu hết mọi người đều ngạc nhiên trước năng lực của Stillson. Bố em nói thế này: "Nếu người dân ở khu vực bầu cử của một nghị sĩ phải đánh giá thành tích của ông ta sau 10 tháng nhậm chức, Stillson có lẽ sẽ được điểm A cho dự luật năng lượng và dự luật hạn chế giá dầu sưởi. Những nỗ lực của ông ta cũng được điểm A". Bố muốn em nói với anh, ông ấy bảo Stillson là kẻ ngốc, lời này có lẽ đã sai.

Đánh giá của những người khác khi em ở nhà: Họ thích việc ông ta không mặc vest. Jarvis quá lớn tuổi, bà ấy nghĩ Stillson không sợ các "nhóm lợi ích lớn". Henry Buck nói ông ấy nghĩ Stillson "làm rất tốt". Hầu hết các bình luận đều như vậy. Họ so sánh những gì Stillson làm và những gì Carter không làm, hầu hết mọi người đều rất thất vọng về Carter và hối hận vì đã bầu cho ông ấy. Những gã đi xe mô tô vẫn lảng vảng xung quanh, gã Sonny Elliman đó đã trở thành một trong những trợ lý của Stillson, em hỏi vài người liệu có thấy bất an vì điều này không, không ai lo lắng quá mức cả. Gã chủ tiệm đĩa nhạc rock nói thế này: "Nếu Hell's Angel có thể sống tử tế, Eldridge Cleaver có thể tin vào Chúa, tại sao người đi mô tô không thể tham gia bộ máy chính quyền chứ? Hãy khoan dung cho họ đi".

Chỉ vậy thôi. Em muốn viết thêm, nhưng sắp đến giờ tập luyện bóng bầu dục rồi. Cuối tuần này bọn em đấu với đội Wildcat. Em chỉ hy vọng mình có thể sống sót qua mùa giải này. Bảo trọng nhé, bạn của tôi.

Chuck

New York Times, ngày 4 tháng 3 năm 1978.

Đặc vụ FBI bị sát hại tại Oklahoma

Tin từ Times—Edward Lencourt, 37 tuổi, đặc vụ kỳ cựu 10 năm tại FBI, tối qua đã bị sát hại tại một bãi đỗ xe ở Oklahoma. Cảnh sát cho biết một quả bom đã được nối vào bộ phận đánh lửa trên xe hơi của ông, khi ông Lencourt vặn chìa khóa, bom đã phát nổ. Kiểu giết người theo phong cách xã hội đen này giống với vụ sát hại nhà báo điều tra Don Bolles hai năm trước, nhưng đặc vụ FBI Wimer Webster không muốn suy đoán về bất kỳ mối liên hệ nào. Ông Lencourt đang điều tra các giao dịch bất động sản đáng ngờ và mối quan hệ của chúng với các chính trị gia địa phương, về điều này, ông Webster không thừa nhận cũng không phủ nhận. Nhiệm vụ hiện tại của ông Lencourt dường như được bao phủ bởi một màn sương bí ẩn. Một nguồn tin thân cận từ Bộ Tư pháp cho biết ông Lencourt hoàn toàn không phải đang điều tra giao dịch đất đai, mà là điều tra các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia.

Ông Lencourt gia nhập FBI năm 1968, và...

Số sổ tay trong ngăn kéo của Johnny đã tăng từ bốn lên năm, đến mùa thu lại tăng lên bảy cuốn. Mùa thu năm 1978, khi hai vị Giáo hoàng liên tiếp qua đời, Greg Stillson trở thành nhân vật tin tức quốc gia.

Ông ta tái đắc cử nghị sĩ Hạ viện với số phiếu áp đảo và thành lập Đảng Nước Mỹ Ngày Nay (Today's USA Party). Điều đáng kinh ngạc nhất là có bảy nghị sĩ Hạ viện đã từ bỏ đảng cũ để gia nhập đảng mới thành lập này. Niềm tin của họ rất nhất quán, áp dụng thái độ dân chủ đối với các vấn đề trong nước, và chính sách rất bảo thủ đối với các vấn đề quốc tế. Johnny cho rằng sự dân chủ của họ chỉ là bề ngoài. Khi Hiệp ước Panama được ký kết, không một ai trong số họ đứng về phía Carter. Khi gỡ bỏ lớp vỏ dân chủ, thực tế họ cũng rất bảo thủ trong các vấn đề nội địa. Đảng Nước Mỹ Ngày Nay yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc những người nghiện ma túy, họ muốn các thành phố tự lập ("Không cần thiết để những người nông dân chăn nuôi bò sữa vất vả phải dùng tiền thuế của mình để trợ cấp cho kế hoạch giảm đau của thành phố", Greg tuyên bố), họ yêu cầu trấn áp mạnh tay gái mại dâm, ma cô, kẻ lười biếng và tội phạm có tiền án, họ yêu cầu cải cách thuế toàn quốc, cắt giảm mạnh các dịch vụ xã hội. Tất cả đều là những bài ca cũ rích, nhưng Đảng Nước Mỹ Ngày Nay của Greg đã chơi những bài ca đó một cách đầy lôi cuốn.

Bảy nghị sĩ Hạ viện đã gia nhập đảng mới trước năm bầu cử, còn có hai nghị sĩ Thượng viện. Sáu nghị sĩ Hạ viện tái đắc cử, cùng với hai nghị sĩ Thượng viện. Chín người, tám người là Đảng Cộng hòa, sự quay đầu và tái đắc cử của họ cho thấy lợi ích của việc "gió chiều nào theo chiều ấy".

Đã có người nói Greg Stillson là nhân vật không thể xem thường, sự trỗi dậy của ông ta không còn xa nữa. Ông ta không ném rác của thế giới vào sao Mộc và sao Thổ, nhưng ít nhất ông ta đã thành công trong việc tống khứ hai kẻ xấu, một là nghị sĩ Hạ viện lợi dụng chức quyền trong một dự án bãi đỗ xe; hai là một trợ lý của Tổng thống thích đến quán bar đồng tính. Dự luật hạn chế giá dầu của ông ta rất có tầm nhìn, và nỗ lực để thông qua dự luật đó cho thấy sự khôn ngoan và năng lực của ông ta. Greg tranh cử Tổng thống năm 1980 thì còn quá sớm, năm 1984 thì có khả năng này, nhưng nếu ông ta kiên trì đến năm 1988, nếu ông ta không ngừng mở rộng nỗ lực của mình, và không có sự kiện bất ngờ nào xảy ra, thì ông ta gần như chắc chắn có thể trở thành Tổng thống Mỹ. Đảng Cộng hòa đã chia năm xẻ bảy, nếu Mondale hoặc Jerry Brown, thậm chí Howard Baker thay thế Carter làm Tổng thống, thì ai sẽ thay thế họ? Ngay cả năm 1992 đối với ông ta cũng chưa phải là quá muộn. Ông ta là một người khá trẻ. Phải, năm 1992 rất thích hợp...

Trong sổ tay của Johnny có vài bức tranh biếm họa chính trị. Trong tất cả các bức tranh, Stillson đều nở nụ cười lệch miệng đầy lôi cuốn, luôn đội chiếc mũ bảo hộ công nhân xây dựng của mình. Oliphant vẽ một bức, trên đó Greg đang lăn một thùng dầu trên lối đi của Hạ viện, trên thùng có ghi chữ "giới hạn giá", chiếc mũ bảo hộ đội lệch trên đầu ông ta. Phía trước, Jimmy Carter đang gãi đầu, trông rất bối rối, ông ta hoàn toàn không nhìn Greg, điều này dường như ám chỉ ông ta sắp bị đâm đổ. Chú thích dưới bức tranh viết: "Tránh ra, Jimmy!"

Mũ bảo hộ. Chiếc mũ bảo hộ khiến Johnny cảm thấy bất an nhất. Đảng Cộng hòa có con voi, Đảng Dân chủ có con lừa, còn Greg Stillson có chiếc mũ bảo hộ của mình. Trong giấc mơ của Johnny, Greg đôi khi dường như đội một chiếc mũ bảo hiểm mô tô, đôi khi lại đội một chiếc mũ bảo hộ của công nhân hầm mỏ.

Có một cuốn sổ tay, bên trong toàn là những mẩu tin cắt từ báo chí mà cha anh gửi cho, liên quan đến vụ hỏa hoạn tại Castle Rock. Anh đọc đi đọc lại những mẩu tin đó, dù Sam Rogel hay thậm chí là cha anh cũng không thể đoán ra lý do anh làm vậy. "Nhà ngoại cảm đã biết trước vụ hỏa hoạn. 'Con gái tôi vốn cũng sẽ chết', người mẹ tràn đầy lòng biết ơn vừa khóc vừa nói (người mẹ này chính là mẹ của Patti)."

"Nhà ngoại cảm giải quyết vụ án mạng ở Castle Rock lại tiên đoán về vụ hỏa hoạn." "Số người chết trong vụ hỏa hoạn lên tới chín mươi mốt, cha nói John Smith đã rời khỏi New England, từ chối tiết lộ lý do." Ảnh của anh. Ảnh của cha anh. Ảnh của vụ tai nạn xe hơi từ rất lâu về trước, lúc đó Sarah còn là bạn gái của anh, giờ đây Sarah đã là mẹ của hai đứa con, Herb nói trong một lá thư gần đây rằng Sarah đã bắt đầu có tóc bạc. Anh không dám tin mình đã ba mươi mốt tuổi, nhưng đó là sự thật.

Xung quanh những mẩu tin cắt là chi chít ghi chú do chính tay anh viết, anh cố gắng sắp xếp lại suy nghĩ của mình. Không ai hiểu được ý nghĩa thực sự của vụ hỏa hoạn, "nó ám chỉ việc phải làm gì với Greg Stillson. Anh viết: "Tôi phải hành động đối với Stillson. Tôi buộc phải làm vậy. Lời tiên đoán của tôi về Castle đã đúng, vậy thì lời tiên đoán về hắn cũng nên đúng. Tôi tin chắc vào điều đó. Hắn sẽ trở thành Tổng thống và phát động một cuộc chiến tranh - hoặc vì sự thiếu trách nhiệm mà gây ra chiến tranh, kết quả đều như nhau."

"Vấn đề là: cần phải thực hiện biện pháp gì?"

"Lấy ví dụ về Castle, giống như Chúa cố tình thông báo cho tôi vậy, lạy Chúa! Câu này nghe như lời mẹ tôi nói, nhưng đúng là như vậy, tôi biết sẽ có một vụ hỏa hoạn, ai đó sẽ chết. Liệu điều này có thể cứu được họ không? Câu trả lời là không, nó không thể cứu tất cả mọi người, bởi vì người ta chỉ tin vào sự thật. Những người đến nhà Chadwick đã được cứu, nhưng phải biết rằng, Chadwick tổ chức tiệc không phải vì ông ta tin vào lời tiên đoán của tôi. Ông ta hoàn toàn không tin. Ông ta tổ chức tiệc vì nghĩ rằng điều đó có thể làm tôi bình tĩnh lại. Ông ta... ông ta đang chiều lòng tôi. Ông ta... sau đó mới tin: mẹ của Patti cũng là sau đó mới tin. Sau đó - sau đó - sau đó, lúc đó đã quá muộn, người đã bị thiêu chết rồi."

"Vậy thì, câu hỏi thứ hai, tôi có thể thay đổi kết quả không?"

"Có thể. Tôi có thể lái xe đâm thẳng vào cửa trước của nhà Castle. Hoặc, chiều hôm đó tôi có thể tự tay đốt nó."

"Câu hỏi thứ ba: Hai hành động này sẽ gây ra hậu quả gì cho tôi?"

"Có thể phải ngồi tù. Nếu tôi chọn cách đâm xe, rồi tối hôm đó sấm sét lại đánh trúng nó, thì tôi còn có thể biện hộ... không, vô ích thôi. Bình thường mọi người có thể thừa nhận một loại siêu năng lực nào đó, nhưng pháp luật chắc chắn không công nhận điều này. Giờ tôi nghĩ, nếu có thể làm lại lần nữa, tôi sẽ bất chấp hậu quả mà làm. Có phải tôi không hoàn toàn tin vào dự cảm của chính mình?"

"Vụ Stillson này về mọi mặt đều giống vụ hỏa hoạn, chỉ là tôi có nhiều thời gian cân nhắc hơn."

"Vì vậy, quay lại chủ đề chính. Tôi không muốn Greg Stillson trở thành Tổng thống Mỹ. Tôi phải làm thế nào để thay đổi kết quả đó?"

"Một, quay lại New Hampshire, gia nhập đảng của hắn. Tìm cách phá hoại Đảng Nước Mỹ Ngày Nay, làm hoen ố danh tiếng của hắn. Nội bộ bọn chúng có rất nhiều bê bối, có lẽ tôi có thể tìm ra một vụ."

"Hai, thuê người đào bới những hành vi bẩn thỉu của hắn. Số tiền Rogel để lại đủ để thuê một người cực kỳ xuất sắc. Mặt khác, tôi cảm thấy Lankert rất xuất sắc, mà Lankert đã chết rồi."

"Ba, làm hắn bị thương hoặc khiến hắn trở thành kẻ tàn phế. Giống như Arthur Bremer đã làm với Wallace. Một kẻ nào đó đã làm Larry Flynt trở thành kẻ tàn phế."

"Bốn, giết hắn. Ám sát hắn."

"Bây giờ, một vài điểm yếu. Lựa chọn đầu tiên khó đảm bảo chắc chắn sẽ thành công. Tôi có thể cuối cùng chẳng được gì, lại còn bị đánh một trận nhừ tử. Tệ hơn nữa, gã Sonny Elliman kia có thể rất quen mặt tôi vì những gì đã xảy ra tại buổi tập hợp ở Trimble. Xây dựng hồ sơ về những kẻ có khả năng đe dọa bạn, chẳng phải đó là điều rất bình thường sao? Nếu tôi phát hiện Stillson thuê người chuyên thu thập tin tức mới nhất về những kẻ quái đản và điên khùng rồi đưa vào hồ sơ, tôi sẽ không lấy làm ngạc nhiên chút nào. Những kẻ quái đản và điên khùng đó chắc chắn bao gồm cả tôi."

"Vậy lựa chọn thứ hai thì sao? Có lẽ mọi hành vi xấu xa đều đã được che đậy rất kỹ. Nếu Stillson đã quyết tâm leo cao hơn nữa - hành vi của hắn cho thấy điều đó - hắn có lẽ đã tự làm cho mình rất sạch sẽ. Ngoài ra, chỉ khi báo chí muốn tạo ra bê bối thì những bê bối đó mới là bê bối, mà báo chí lại rất thích Stillson. Hắn có mối quan hệ rất tốt với họ. Trong tiểu thuyết, tôi có thể biến mình thành một thám tử, phát hiện ra khuyết điểm của hắn. Nhưng sự thật đáng buồn là tôi không biết bắt đầu từ đâu. Bạn có thể tranh luận rằng siêu năng lực của tôi sẽ giúp ích cho mình. Nếu tôi có thể tìm ra sự thật về cái chết của Lankert, thì có thể đạt được mục đích. Nhưng, Stillson có khả năng đã giao tất cả những việc này cho Sonny Elliman phụ trách. Hơn nữa, mặc dù tôi có nghi ngờ, nhưng không thể chắc chắn rằng Lankert vẫn đang theo dõi Stillson khi bị sát hại. Ngay cả khi tôi có thể tống cổ Elliman vào tù, cũng có thể vẫn không hủy hoại được Stillson."

"Nói chung, lựa chọn thứ hai cũng không nhất định sẽ thành công. Rất mạo hiểm, tôi thậm chí không dám nghĩ đến lựa chọn này thường xuyên, mỗi lần nghĩ đến, đầu tôi lại đau dữ dội."

"Đôi khi tôi suy nghĩ vẩn vơ, muốn làm cho hắn nghiện ma túy, hoặc lén bỏ thuốc độc vào đồ uống của hắn, giống như những gì được mô tả trong tiểu thuyết hay phim ảnh. Nhưng tất cả những thứ này đều là hư cấu, đều là nói nhảm. Khó khăn quá lớn, 'lựa chọn' này căn bản không khả thi. Có lẽ tôi có thể bắt cóc hắn. Dù sao gã đó cũng chỉ là một nghị sĩ. Tôi không biết lấy heroin hay morphine ở đâu, ở bộ phận tôi làm việc có rất nhiều thuốc gây ảo giác. Nhưng hắn có thích thuốc gây ảo giác không?"

"Bắn vào chân hắn? Có lẽ tôi làm được, có lẽ không. Trong những dịp như buổi tập hợp ở Trimble, tôi nghĩ mình có thể làm được. Giả sử tôi làm được. Sau sự kiện Wallace, cuộc đời chính trị của George Wallace coi như chấm dứt. Mặt khác, Roosevelt tranh cử trên chiếc xe lăn, thậm chí còn biến điều đó thành lợi thế cho mình."

"Vậy thì chỉ còn lại ám sát. Đây là lựa chọn không cần bàn cãi. Nếu bạn chết, thì không thể tranh cử Tổng thống được."

"Nếu tôi có thể bóp cò."

"Nếu tôi có thể, hậu quả đối với tôi sẽ là gì?"

"Đúng như Bob Dylan đã nói: 'Cưng ơi, em nhất định phải hỏi anh câu này sao?' Còn có nhiều ghi chú khác, nhưng dòng quan trọng nhất đã được khoanh tròn: 'Nếu ám sát là lựa chọn duy nhất? Nếu tôi có thể bóp cò? Ám sát vẫn là sai. Ám sát là sai. Ám sát là sai. Có lẽ còn có cách giải quyết khác. Cảm ơn Chúa, vẫn còn thời gian.'"

Nhưng đối với Johnny, thời gian không còn nhiều nữa.

Đầu tháng 12 năm 1978, nghị sĩ Leo Ryan của California bị bắn chết tại một sân bay tạm thời ở miền Nam nước Mỹ. Johnny nhận ra anh hầu như không còn thời gian nữa.

Hai giờ ba mươi phút chiều ngày 26 tháng 12 năm 1978, Bud Prescott đang tiếp một người đàn ông trẻ, người này trông rất hốc hác, tóc hơi bạc, hai mắt vằn tia máu. Bud là một trong ba nhân viên bán hàng của cửa hàng dụng cụ thể thao trên phố số 4 ở Phoenix, sau lễ Giáng sinh, phần lớn việc kinh doanh là đổi hàng - nhưng người này lại là một khách hàng trả tiền mặt.

Anh ta nói muốn mua một khẩu súng trường tốt, trọng lượng nhẹ, có khóa nòng vận hành bằng tay. Bud cho anh ta xem vài loại. Sau Giáng sinh, quầy súng rất vắng khách; mọi người hiếm khi mang những khẩu súng mua trong dịp Giáng sinh ra đổi lấy thứ khác.

Người đàn ông xem xét kỹ tất cả các khẩu súng, cuối cùng chọn khẩu Remington 700, cỡ nòng 0.243, loại súng này có độ giật rất nhỏ, đường đạn phẳng. Anh ta ký tên "John Smith" vào sổ đăng ký súng, Bud nghĩ: nếu mình chưa từng thấy tên giả bao giờ, thì giờ đã thấy rồi. "John Smith" trả bằng tiền mặt - lấy ra một xấp tiền hai mươi đô la từ chiếc ví căng phồng, rồi cầm súng từ trên quầy lên. Bud muốn thử anh ta, bảo rằng anh có thể in chữ cái đầu tên của anh lên báng súng mà không tính thêm phí. "John Smith" chỉ lắc đầu.

Khi "Smith" rời khỏi cửa hàng, Bud nhận thấy anh ta đi khập khiễng rất nặng. Sau này nhận dạng người đó sẽ rất dễ, anh nghĩ, người đó là một kẻ què, trên cổ lại có rất nhiều vết sẹo.

Mười giờ ba mươi phút sáng ngày 27 tháng 12, một người đàn ông gầy gò khập khiễng bước vào cửa hàng văn phòng phẩm Phoenix, đi đến chỗ nhân viên bán hàng Dean Clay. Clay sau này kể lại, anh nhận thấy trong một con mắt của người đó có cái mà mẹ anh gọi là "đốm lửa". Khách hàng nói muốn mua một chiếc cặp tài liệu lớn, cuối cùng chọn một chiếc cặp da bò đẹp mắt, giá 149,95 đô la. Người què thanh toán bằng một xấp tiền hai mươi đô la mới cứng, được giảm giá tiền mặt. Từ lúc xem hàng đến khi thanh toán, toàn bộ giao dịch không quá mười phút. Người đó bước ra khỏi cửa hàng, rẽ trái hướng về phía khu thương mại, Dean Clay chỉ gặp lại anh ta khi nhìn thấy ảnh anh trên tờ "Sun" của Phoenix.

Cuối buổi chiều hôm đó, tại sảnh bán vé Phoenix, một người đàn ông cao lớn tóc hoa râm đi đến quầy của Bonita Alvarez, hỏi cách đi tàu từ Phoenix đến New York. Bonita cho anh xem các tuyến chuyển tàu. Anh dùng ngón tay di chuyển dọc theo tuyến đường, sau đó ghi nhớ cẩn thận tất cả nội dung. Anh hỏi Bonita vé ngày 3 tháng 1 còn không. Bonita gõ bàn phím máy tính, báo cho anh biết còn vé.

"Vậy tại sao bạn không..." người đàn ông cao lớn mở lời, rồi lại dừng lại. Anh lấy một tay ôm đầu.

"Anh không sao chứ, thưa ông?"

"Pháo hoa." Người đàn ông cao lớn nói. Cô sau này nói với cảnh sát rằng cô nghe rất rõ: pháo hoa.

"Thưa ông? Anh không sao chứ?"

"Đau đầu," anh nói. "Xin lỗi." Anh muốn cười một chút, nhưng điều đó không làm gương mặt vừa trẻ trung vừa già nua của anh trông khá hơn chút nào.

"Anh có muốn uống aspirin không? Tôi có một ít."

"Không, cảm ơn. Sẽ sớm khỏi thôi."

Cô viết vé xong, báo cho anh biết trưa ngày 6 tháng 1, anh sẽ đến nhà ga trung tâm New York.

"Bao nhiêu tiền?"

Cô nói cho anh biết, rồi nói thêm một câu: "Thanh toán bằng tiền mặt hay séc, ông Smith?"

"Tiền mặt." Anh nói, lấy tiền từ ví ra - trong ví là một xấp tiền hai mươi và mười đô la dày cộp.

Cô đếm số tiền lẻ trả lại, đưa biên lai và vé cho anh. "Tàu của ông khởi hành lúc mười giờ ba mươi phút sáng, ông Smith," cô nói. "Vui lòng đến đây lúc mười giờ mười phút để chuẩn bị lên tàu."

"Được rồi," anh nói. "Cảm ơn cô."

Bonita nở nụ cười chuyên nghiệp, nhưng ông Smith đã bỏ đi rồi. Sắc mặt anh tái nhợt, Bonita cảm thấy anh như đang trong cơn đau dữ dội.

Cô tin chắc anh đã nói "pháo hoa".

Elton Carey là nhân viên trên chuyến tàu từ Phoenix đi Salt Lake. Mười giờ sáng ngày 3 tháng 1, người đàn ông cao lớn đến, Elton dìu anh lên tàu, đưa thẳng vào toa, vì anh đi lại rất khó khăn. Một tay anh xách một chiếc túi du lịch lớn rất cũ, các góc đã sờn rách, tay kia xách một chiếc cặp da bò mới tinh, anh xách chiếc cặp rất vất vả.

"Tôi có thể giúp ông xách cái đó không, thưa ông?" Elton hỏi, chỉ vào chiếc cặp, nhưng hành khách lại đưa chiếc túi du lịch cho anh, kèm theo đó là vé tàu của anh ta.

"Không, sau khi tàu chạy tôi sẽ thu vé, thưa ông."

"Được rồi, cảm ơn ông."

Một người rất lịch thiệp, Elton Carey sau này nói với đặc vụ FBI thẩm vấn mình. Ngoài ra, anh ta cho tiền boa rất hậu hĩnh.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »