Bên Bờ Tận Thế

Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
30

❊ ❊ ❊

Trong tủ lạnh có một miếng bánh dâu tây, được bao phủ bởi một lớp màng bọc thực phẩm Saran. Frannie nhìn nó bằng ánh mắt đờ đẫn, vô hồn một hồi lâu rồi mới lấy ra. Cô đặt nó lên quầy, cắt một miếng nhỏ. Khi đặt vào đĩa, những quả dâu tây dính dầu mỡ rơi xuống mặt quầy kêu "bộp" một tiếng. Cô nhặt lên ăn, rồi dùng khăn lau bát đĩa lau sạch nước quả trên quầy. Cô bọc lại miếng bánh còn thừa bằng màng Saran rồi cất ngược vào tủ lạnh.

Cô xoay người cầm miếng bánh vừa cắt, chợt liếc thấy giá để dao bên cạnh tủ chạn. Đó là thứ cha cô đã tự tay đóng lấy. Ánh nắng ban chiều chiếu lên những con dao, lấp lánh phản quang. Cô nhìn chằm chằm vào những con dao một lúc lâu.

Cuối cùng, khoảng 15 phút sau, cô mới nhớ ra mình đang làm gì. Rốt cuộc là gì nhỉ? Một câu kinh thánh, một câu châm ngôn, cô vô cớ nhớ lại: "Trước khi lấy cái dằm trong mắt người khác, hãy lo lấy cái xà nhà (chùm tia) trong mắt mình trước đã." Cô nghiền ngẫm mãi. Cái dằm? Cái xà nhà? Cách ẩn dụ đầy hình ảnh này cứ ám ảnh cô. Loại xà nhà (chùm tia) nào? Một tia trăng? Một cây cột cái? Hay là chùm tia từ đèn pin và nụ cười hớn hở, chưa kể thị trưởng thành phố New York cũng tên là Abe Beame (ghi chú của người dịch: trong tiếng Anh, "chùm tia" và "cây cột" đều là "beam"), đó là còn chưa tính đến câu hát cô từng học ở trường Kinh thánh kỳ nghỉ: "Con sẽ biến thành một tia nắng vì Ngài".

"Trước khi lấy cái dằm trong mắt người khác."

Nhưng đó không phải là một con mắt, mà là một miếng bánh. Cô quay sang miếng bánh dâu tây, thấy một con ruồi đang đậu trên đó. Cô xua tay đuổi con ruồi. Tạm biệt, ngài ruồi, sao ông lại nói chuyện với miếng bánh dâu tây của Frannie lâu đến thế.

Cô nhìn chằm chằm vào miếng bánh hồi lâu, cô biết, cha và mẹ đều đã chết. Mẹ cô chết ở bệnh viện Sanford. Cha cô, nằm trên chiếc giường ở tầng trên mà chết. Tại sao mọi chuyện cứ nối đuôi nhau ập đến? Tại sao cứ phải đến rồi đi trong cái sự hỗn loạn và bất hòa đáng sợ này, giống như những ký ức ngớ ngẩn tái hiện trong cơn sốt vậy? "Con chó của tôi sinh ra bọ chét, bọ chét lại cắn chân chó..."

Cô chợt bừng tỉnh, một nỗi sợ hãi bao trùm lấy cô. Trong nhà có mùi nóng hực, có thứ gì đó đang cháy.

Frannie vội quay đầu nhìn quanh, thấy chiếc chảo rán để quên trên bếp, món thịt rán kiểu Pháp đang cháy xèo xèo trong dầu. Khói bốc lên nghi ngút từ chiếc chảo. Dầu bắn ra ngoài, rơi xuống mặt bếp rồi bắt đầu bén lửa, từng chút từng chút lan rộng ra, như thể có một bàn tay vô hình đang không ngừng đánh một chiếc bật lửa ga vô hình. Mặt chảo rán đã chuyển sang màu đen kịt.

Cô chạm vào cán chảo rồi lập tức rụt tay lại. Nóng quá. Cô vớ lấy một cái giẻ lau bọc vào cán chảo, nhanh chóng mang thứ đang kêu xèo xèo như con rồng này ra cửa sau. Đặt chảo xuống, cô ngồi phịch xuống bậc thềm hiên nhà. Mùi hoa kim ngân xộc thẳng vào mũi, lũ ong bay vo ve quanh ngực và sau lưng, nhưng cô chẳng còn tâm trí đâu mà để ý đến chúng nữa. Trong khoảnh khắc, cái lớp vỏ thô kệch, đần độn đã giam hãm cảm xúc của cô suốt bốn ngày qua bỗng chốc tan biến, nhưng cô cũng bị dọa cho chết đứng. Chết đứng? Không - nỗi sợ hãi cấp độ thấp chỉ cách sự hoảng loạn một bước chân.

Cô có thể nhớ lại chuyện gọt vỏ khoai tây, cho khoai vào dầu Wesson để nấu ăn. Giờ cô có thể nhớ ra rồi. Nhưng chỉ được một lúc, cô lại... chà, cô lại quên mất.

Cô đứng trên hiên nhà, chiếc giẻ lau vẫn nắm chặt trong tay, cố gắng nhớ lại chính xác mọi việc đã xảy ra sau khi làm món thịt rán kiểu Pháp. Điều này có vẻ vô cùng quan trọng.

Được rồi, đầu tiên cô nhớ đến miếng thịt không ướp gì cả, thịt rán kiểu Pháp không bổ béo gì cho cam. Nếu tiệm McDonald's dưới đường cao tốc số 1 còn mở cửa, cô đã chẳng cần phải tự nấu ăn, sẽ có một chiếc hamburger. Chỉ cần đi nhờ xe đến quầy bán đồ mang về là được. Cô sẽ mua một miếng thịt rán 1/4 pound, rồi bước vào một gian hàng bằng bìa cứng màu đỏ nhạt, nơi đó gần như không có vết dầu mỡ. Ngoài ra, phụ nữ mang thai lúc nào cũng có những cơn thèm ăn kỳ lạ.

Điều này dẫn cô nhớ lại một chuỗi sự việc. Ký ức về những cơn thèm ăn kỳ lạ khiến cô lại nhớ đến miếng bánh dâu tây nhét trong tủ lạnh. Đột nhiên, cô cảm thấy mình khao khát miếng bánh dâu tây đó hơn bất cứ thứ gì trên đời. Cô đã từng có được nó, nhưng ánh mắt cô lại bị cái giá để dao cha làm cho mẹ thu hút, và dòng suy nghĩ của cô cứ thế... chập mạch.

Cái dằm... cái xà nhà... con ruồi...

"Ôi, lạy Chúa," cô nói với cái sân sau và khu vườn trống rỗng. Cô ngồi xuống, lấy tạp dề che mặt rồi bật khóc.

Khi nước mắt cạn khô, cô cảm thấy dễ chịu hơn một chút... nhưng cô vẫn thấy sợ. Mình bị mất trí nhớ sao? Cô tự hỏi. Mọi việc vốn dĩ là như vậy sao? Cảm giác này là sao chứ? Khi bạn bị suy sụp thần kinh, bạn biết kể lể cùng ai đây?

Kể từ khi cha cô qua đời lúc 8 giờ 30 tối qua, khả năng tập trung tinh thần dường như đã hoàn toàn biến mất. Cô sẽ quên mất việc mình đang làm, tinh thần rơi vào trạng thái mơ màng, cô sẽ ngồi đờ đẫn, chẳng nghĩ ngợi gì, hiểu biết của cô về thế giới này cũng chẳng hơn gì hiểu biết về một cây bắp cải.

Sau khi cha chết, cô đã ngồi bên giường rất lâu. Cuối cùng cô xuống lầu, bật tivi lên, không vì lý do đặc biệt nào cả, giống như người ta vẫn nói, đó có vẻ là một ý hay. Kênh truyền hình duy nhất còn phát sóng là đài WCSH trực thuộc NBC Portland, họ dường như đang phát cảnh một phiên tòa điên rồ nào đó. Một người đàn ông da đen trông như đang cắt đầu kẻ thù làm chiến lợi phẩm, giả vờ dùng súng lục giết hại vài người đàn ông da trắng, còn những khán giả tại hiện trường thì reo hò. Chắc chắn là đang diễn kịch. Tất nhiên rồi - nếu là thật thì họ sẽ không chiếu những chuyện đó trên tivi - nhưng trông lại không giống đang diễn. Điều này lại khơi dậy trong cô sự cuồng nhiệt với bộ phim "Alice ở xứ sở thần tiên", không phải là bà Hoàng hậu Đỏ vẫn hét "Chém đầu chúng đi!" trong hoàn cảnh đó, mà là... cái gì nhỉ? Là ai nhỉ? Hoàng tử da đen, cô đoán vậy. Cơ bắp trong chiếc khố trông cũng chẳng giống hoàng tử lắm.

Sau đó (cô cũng không nói rõ đã qua bao lâu), những người khác xông vào trường quay, xảy ra một cuộc đấu súng còn chân thực hơn cả cảnh giết người vừa chiếu. Cô nhìn thấy những người đàn ông đó, gần như bị đạn cỡ lớn thổi bay cả đầu, máu trào ra từ cổ, bị ném đầu xuống đất. Cô nghĩ, họ nên thỉnh thoảng phát thông báo trên màn hình tivi, cảnh báo các bậc phụ huynh cho con đi ngủ hoặc chuyển kênh. Cô còn nghĩ, đài WCSH có lẽ đã có giấy phép phát sóng loại phim này, nhưng chương trình này thực sự là một chương trình máu me cực kỳ kinh khủng.

Khi máy quay rung lắc dữ dội, chỉ hiển thị ánh đèn chiếu từ trần nhà xuống, cô tắt tivi, nằm ngửa trên ghế sofa, nhìn chằm chằm lên trần nhà mình. Cô ngủ thiếp đi ngay tại đó, sáng nay cô còn tưởng mình mơ thấy chương trình đó. Thực tế, trọng tâm của chương trình đó là: "Bất cứ điều gì" xảy ra, đều giống như một con quỷ lang thang khắp nơi. Bắt đầu từ cái chết của mẹ cô, cái chết của cha cô chỉ củng cố thêm tất cả những gì đã xảy ra. Bởi vì trong phim "Alice", mọi chuyện luôn ngày càng kỳ quái hơn.

Mặc dù lúc đó cha cô đã ốm, ông vẫn tham dự một cuộc họp đặc biệt của thị trấn. Tinh thần cha cô không có gì khác lạ so với ngày thường, Frannie đi cùng cha.

Hội trường thị trấn đã chật kín người, số người đến đông hơn rất nhiều so với các cuộc họp cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3. Nhiều người thở dài, ho hắng và sụt sịt mũi. Những người tham dự đều hoảng loạn, bất an, tức giận với bất kỳ lỗi lầm nhỏ nhặt nào. Họ nói lớn tiếng, thậm chí quát tháo ầm ĩ. Tất cả họ đều đứng cả dậy, ngón tay run rẩy, đưa ra những ý kiến độc đoán. Trong số đó nhiều người, không chỉ phụ nữ, đều đang khóc.

Kết quả thảo luận là quyết định phong tỏa toàn bộ thị trấn, không cho phép bất kỳ ai vào. Nếu có ai muốn rời đi thì tốt quá, nhưng họ nên hiểu rằng, họ không thể quay lại được nữa. Các con đường ra vào thị trấn, chủ yếu là đường cao tốc số 1 của Mỹ, thì dùng xe hơi phong tỏa lại (sau nửa giờ hò hét, chuyển sang dùng xe tải công cộng để chặn đường), tình nguyện viên đeo súng trường canh gác những rào chắn này. Những ai muốn sử dụng quốc lộ 1 để đi về phía bắc hoặc phía nam, thì phải đi lên phía bắc tới Wells hoặc tiếp tục đi về phía nam tới York, rồi từ đó lên đường cao tốc liên bang 95, rồi vòng qua Ogunquit. Bắn bất cứ ai còn cố tình đi qua đây. Chết ư? Có người hỏi. Tất nhiên rồi, những người khác trả lời.

Khoảng 20 người khăng khăng đòi trục xuất ngay những người đã bị bệnh ra khỏi thị trấn, nhưng họ thất bại trong cuộc bỏ phiếu. Bởi vì đến tối ngày 24, khi cuộc họp này được triệu tập, hầu như mọi người chưa bị bệnh trong thị trấn đều có người thân đã bị bệnh. Nhiều người tin vào tin tức nói rằng vắc-xin sẽ sớm có sẵn.

Sau đó, lại có đề nghị đuổi những người đến "tránh nóng" nhưng đã bị bệnh đi.

Đa số những người đến tránh nóng đều chỉ trích gay gắt rằng, nhiều năm qua họ đã hỗ trợ trường học, đường sá, người nghèo và bãi biển công cộng của thị trấn thông qua việc đóng thuế cho các căn biệt thự nhỏ. Các thương nhân thì nói, họ không kiếm được tiền khi ở đây từ tháng 9 đến tháng 6, mà bây giờ thì không thể để thu nhập mùa hè của họ trôi sông đổ bể. Nếu họ bị đối xử ngạo mạn như vậy, người Ogunquit chắc chắn sẽ không quay lại nữa. Họ có đến thì cũng chỉ là để bắt tôm hùm, mò nghêu và đào ngao trong bùn cát mà thôi. Đề nghị hộ tống những người tránh nóng bị bệnh ra khỏi thị trấn cũng thất bại.

Đến nửa đêm, rào chắn đã được dựng xong, đến rạng sáng ngày hôm sau, tức rạng sáng ngày 25, đã có vài người bị bắn gục bên cạnh rào chắn, đa số chỉ bị thương, chỉ có ba bốn người chết. Những người này hầu như đều từ phía bắc tới, họ trốn chạy khỏi Boston, ai nấy đều như chim sợ cành cong, thần trí tê liệt. Một số người trong đó đã quay lại York, rất sẵn lòng tiếp tục lên đường từ đó. Nhưng những người khác thì điên cuồng đến mức không hiểu tại sao lại như vậy, vẫn cố gắng di dời rào chắn hoặc đi vòng qua lề đường, đến mức bỏ mạng.

Đến đêm, hầu hết những người chịu trách nhiệm canh giữ rào chắn cũng đều đã bị bệnh, sốt cao, mặt đỏ bừng, cố gắng chống đỡ bằng khẩu súng trường kẹp giữa hai chân. Một số người trong đó, như Freddy Delancey và Curtis Beachum, thì "bịch" một tiếng ngã xuống đất rồi mất tri giác, sau đó được vận chuyển về trạm y tế tạm thời đặt cạnh hội trường thị trấn, rồi chết ngay tại đó.

Đến sáng hôm qua, cha của Frannie, người luôn phản đối việc dựng rào chắn, cũng đã đổ bệnh nằm trên giường, Frannie ở bên cạnh chăm sóc. Ông không đến trạm y tế. Ông bảo Frannie, nếu ông không sống nổi, ông cũng muốn chết ở nhà, chết một cách tử tế trong chính ngôi nhà của mình.

Buổi chiều, dòng xe cộ qua lại dừng hẳn, người quản lý bãi đậu xe bãi biển công cộng Gus Dinsmore nói, ông đoán chắc là có rất nhiều xe hơi bị kẹt cứng trên đường. Kỹ năng lái xe có giỏi đến đâu, xe có cao cấp đến mấy cũng đừng hòng nhúc nhích. Mọi chuyện đúng như dự đoán, đến chiều ngày 25, chỉ còn chưa đầy ba mươi người là còn đứng được để quan sát tình hình. Gus, người cho đến tận hôm qua vẫn cảm thấy khỏe mạnh, cũng sụt sịt mũi rồi ngã xuống. Thực tế, ngoài Frannie ra, người duy nhất trong thị trấn này có vẻ vẫn ổn là Harold, cậu em trai 16 tuổi của Amy. Amy đã chết trước cuộc họp thị trấn lần thứ nhất. Chiếc váy cưới chưa mặc lần nào của cô vẫn còn treo trong nhà vệ sinh.

Hôm nay Frannie không ra ngoài, kể từ khi Gus đến thăm cô vào chiều hôm qua, cô chưa từng gặp ai nữa. Sáng nay cô còn nghe thấy vài tiếng xe hơi và một tiếng súng trầm đục liên tiếp hai phát, ngoài ra không còn âm thanh nào khác. Sự tĩnh lặng không ai phá vỡ này lại càng làm tăng thêm cảm giác phi thực tế cho cô.

Và bây giờ, những vấn đề này cần phải cân nhắc một chút. Con ruồi... con mắt... miếng bánh. Frannie thấy mình đang lắng nghe tiếng của tủ lạnh. Chiếc tủ lạnh này có một thiết bị làm đá tự động, cứ mỗi 20 giây, máy lại phát ra một tiếng "bộp" lạnh lẽo.

Cô ngồi đó gần một tiếng đồng hồ, chiếc đĩa đặt ngay trước mặt. Dần dần, một ý nghĩ khác bắt đầu xuất hiện, thực tế là hai ý nghĩ, chúng dường như liên kết chặt chẽ mà lại hoàn toàn không liên quan. Hai ý nghĩ này có khả năng đang kết nối các phần của một ý nghĩ quan trọng hơn không? Trong khi dùng một bên tai nghe tiếng đá rơi của thiết bị làm đá trong tủ lạnh, cô đã kiểm tra những ý nghĩ này. Ý nghĩ thứ nhất là, cha cô đã chết, chết tại nhà như ông mong muốn.

Ý nghĩ thứ hai thì phải làm vào ban ngày. Đây là một ngày hè tươi đẹp, một ngày hè không tì vết, là thời tiết tuyệt vời mà những du khách đến bờ biển Maine hằng mơ ước. Vì lo nước biển chưa đủ ấm nên bạn vẫn chưa đi bơi, vậy thì hôm nay bạn nên thử một lần xem sao.

Mặt trời rực rỡ treo trên bầu trời, Frannie có thể nhìn rõ nhiệt kế ngoài cửa sổ sau bếp đang chỉ ngay dưới 80 độ F. Đây thực sự là một ngày đẹp trời, đáng tiếc là cha đã chết.

Cô nhíu mày tỏ vẻ bất mãn, đôi mắt cũng trở nên mơ hồ, lạnh lùng. Trong lòng cô luôn ám ảnh vấn đề này, sau đó cô muốn tìm việc gì đó khác để làm, nhưng lại luôn bị mắc kẹt trong đó không sao thoát ra được.

Đây là một ngày thời tiết "ấm áp" đẹp đẽ, mà cha cô lại chết rồi.

Vấn đề này giống như một cơn gió nhẹ, lập tức đưa cô trở về với thực tại, cô nhắm nghiền hai mắt lại.

Cùng lúc đó, hai tay cô vô thức giật mạnh khăn trải bàn, chiếc đĩa văng xuống sàn, nổ vang một tiếng như bom. Frannie bật khóc nức nở, hai tay áp vào má, để lại vài vết cào ở đó. Ánh mắt đờ đẫn, lạnh lùng và vô cảm đó lập tức biến mất khỏi đôi mắt cô. Đôi mắt đột nhiên trở nên sắc bén và trực diện, như thể vừa bị tát một cái mạnh hoặc có một lọ amoniac mở nắp đang quơ quơ dưới mũi.

Bạn không thể để một cái xác trong nhà, đặc biệt là trong mùa hè nhiệt độ cao.

Sự lạnh lùng lại bắt đầu âm thầm trỗi dậy, ý nghĩ này trở nên mơ hồ. Nỗi sợ hãi về việc này bắt đầu nhạt dần và bị kìm nén. Cô lại bắt đầu lắng nghe tiếng đá rơi...

Cô đẩy lùi nỗi sợ hãi. Đứng dậy, đi về phía bồn rửa bát, hứng đầy một bồn nước lạnh, rồi vốc nước rửa mặt, nhẹ nhàng chà xát làn da đầy mồ hôi.

Cô có thể gạt những việc muốn làm sang một bên, nhưng việc đầu tiên thì không thể không làm, "phải" giải quyết. Cô không thể để ông nằm đó từ tháng 6 đến tháng 7 được nữa. Những linh mục trong thị trấn này cũng chưa bao giờ biết cái mùi ghê tởm đó là như thế nào, nhưng chẳng bao lâu nữa cái mùi đó sẽ biến mất thôi. Nó... nó...

"Không!" cô hét lớn với căn bếp tràn ngập ánh nắng. Cô bắt đầu đi đi lại lại khi nghĩ về chuyện này. Ý nghĩ đầu tiên của cô là nhà tang lễ địa phương đó. Nhưng ai sẽ... sẽ...

"Ngừng nghĩ về nó đi!" cô hét lên đầy giận dữ trong căn bếp trống rỗng, "Ai muốn đi chôn ông ấy đây?"

Ngay khi vừa hét lên câu đó, câu trả lời cũng theo đó mà tới, và vô cùng rõ ràng. Tất nhiên, người đó chính là cô. Ngoài cô ra thì còn ai nữa chứ?

Khi cô nghe thấy tiếng xe hơi chạy vào lối đi, đúng lúc là 2 giờ 30 chiều. Động cơ hạng nặng gầm rú đầy tự đắc, trầm thấp và mạnh mẽ. Frannie đặt chiếc xẻng bên cạnh cái hố cô đang đào giữa luống cà chua và rau diếp trong vườn. Cô quay người lại, có chút sợ hãi.

Đó là một chiếc Cadillac đời mới, màu xanh đậm, gã Harold Lauder béo mập từ trong xe bước ra. Frannie cảm thấy một sự ghê tởm từ tận đáy lòng. Cô không thích Harold, cũng không muốn biết hắn là người như thế nào. Có lẽ mẹ hắn cũng là loại người đó thôi. Nhưng nó lại nhắc nhở cô ở một khía cạnh khác, ngoài cô ra, người duy nhất còn lại ở Ogunquit có lẽ là một trong số ít những người còn ở lại cái thị trấn mà cô cực kỳ không ưa này.

Harold năm nay 16 tuổi, hắn biên tập một tờ tạp chí văn học của trường trung học Ogunquit, thường viết những mẩu chuyện kỳ quặc, và tất cả đều dùng thì hiện tại hoặc thủ pháp ngôi thứ hai để kể. "Bạn bước xuống hành lang điên loạn, dùng vai đẩy qua cánh cửa đổ nát, nhìn chằm chằm vào ngôi sao định mệnh trên đường băng" - đó chính là phong cách của Harold.

"Hắn ị đùn trong quần," Amy từng có lần tiết lộ với Frannie, "Thật là bẩn thỉu phải không? Ị vào quần rồi mà hắn vẫn mặc, cho đến khi cái quần cứng đờ đến mức gần như có thể đứng thẳng được."

Tóc Harold đen bóng, người khá cao, 6 feet 1 inch, nặng gần 240 pound. Hắn thích những đôi bốt cao bồi mũi nhọn và những chiếc thắt lưng da quân đội có thể thắt chặt được, vì bụng hắn to hơn mông rất nhiều. Frannie không quan tâm hắn ị vào quần bao nhiêu, hắn nặng bao nhiêu, tuần này hắn đang bắt chước Wright Morris hay Hubert Selby Jr. Harold có thể là một kẻ nguy hiểm, hắn có thể chỉ như vậy khi không vừa ý, hoặc có lẽ còn nguy hiểm hơn.

Hắn không nhìn thấy cô. Hắn đang ngước nhìn ngôi nhà. "Có ai ở nhà không?" hắn hét lên, rồi với tay vào cửa sổ xe Cadillac, bấm còi. Âm thanh này kích thích thần kinh của Frannie. Cô nên tiếp tục giữ im lặng, trừ khi hắn quay người đi ra phía sau xe, mới có thể nhìn thấy cái hố đó, cô đang ngồi bên cạnh. Một lúc, cô muốn chui sâu vào trong vườn, nằm giữa đám đậu Hà Lan và đậu tằm, cho đến khi hắn chán rồi bỏ đi.

Đừng làm thế, cô tự nhủ, không thể làm thế được. Hắn cũng chỉ là một người còn sống khác mà thôi.

"Ở đây này, Harold." cô đáp lời.

Harold giật bắn mình, cái mông bự trong chiếc quần bó sát rung lên vài cái. Rõ ràng chỉ là làm bộ làm tịch. Hắn quay người lại, thấy Frannie đã đi tới mép vườn, đang lau đôi chân. Hắn tự nhiên nhìn chằm chằm vào chiếc quần thể dục trắng và chiếc áo ba lỗ của cô. Khi hắn đi tới nhìn thấy cô, đôi mắt đầy đam mê của Harold làm cô nổi hết da gà.

"Chào, Frannie." hắn vui vẻ nói.

"Chào, Harold."

"Tôi nghe nói cô đã chống chọi thành công với căn bệnh đáng sợ này, nên chỗ cô trở thành điểm dừng chân đầu tiên của tôi. Tôi đang kiểm tra tình hình toàn thị trấn." Hắn cười với cô, lộ ra hàm răng mà ngay cả bàn chải đánh răng cũng chỉ là người quen xã giao.

"Tôi rất tiếc về chuyện của Amy, Harold. Mẹ và cha cậu...?"

"Tôi cũng rất buồn." Harold nói. Hắn cúi đầu một lúc, rồi đột ngột ngẩng lên, làm mái tóc bết lại thành một cục của hắn bay lên. "Nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, phải không?"

"Tôi nghĩ vậy." Frannie đáp. Ánh mắt hắn lại chuyển sang bộ ngực cao vút của cô, làm cô chỉ muốn khoác thêm một chiếc áo len.

"Cô có thích xe của tôi không?"

"Đây là xe của ông Branigan phải không?" Roy Branigan là nhà môi giới bất động sản địa phương.

"Đúng vậy," Harold nói một cách lạnh nhạt, "Tôi thường nghĩ, trong những ngày thiếu thốn vật chất, bất cứ ai lái thứ cồng kềnh này đều nên bị treo cổ, nhưng bây giờ mọi thứ đã thay đổi rồi. Bây giờ là người ít xăng nhiều." Xăng, Frannie hoa mắt nghĩ, hắn thực sự nói là xăng. "Thứ gì cũng nhiều lên." Harold nói câu cuối cùng. Khi ánh mắt hắn từ rốn cô nảy ngược lại mặt cô, rơi xuống quần cô, rồi lại nảy ngược về mặt cô, trong mắt hắn xuất hiện một tia sáng thoáng qua, lời nói của hắn vừa không thú vị lại vừa không thoải mái.

"Harold, cậu có thể tha lỗi cho tôi..."

"Nhưng, cô có thể làm được gì đây, cô bé?"

Cảm giác phi thực tế đó lại cố quay trở lại, cô thấy mình muốn biết bộ não con người có thể chịu đựng được bao lâu trước khi đứt đoạn như một sợi dây thun bị quá tải. Cha mẹ mình đều chết rồi, nhưng mình phải đối mặt với tình huống này. Một căn bệnh quái đản nào đó dường như đã lan ra khắp cả nước, có lẽ là toàn thế giới, cũng đang quét sạch cả người quân tử lẫn kẻ tiểu nhân - mình có thể đối phó được. Mình đang đào một cái hố trong vườn rau mà cha mình vừa làm cỏ tuần trước, đào đến độ sâu mà mình đoán là có thể đặt ông vào đó. - Mình nghĩ mình có thể làm được. Nhưng Harold Lauder đang lái chiếc Cadillac của Roy Branigan, lại cứ nhìn chằm chằm vào mình, và gọi mình là "cô bé". Mình không biết tại sao, lạy Chúa. Mình thực sự không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

"Harold," cô kiên nhẫn nói, "Tôi không phải là cô bé của cậu, tôi lớn hơn cậu 5 tuổi. Xét về góc độ tự nhiên, để tôi làm cô bé của cậu cũng là điều không thể."

"Đó chỉ là cách nói tu từ mà thôi." hắn nói, hơi kinh ngạc nhìn vẻ mặt hung dữ đang cố kiềm chế của cô. "Nhưng, cái đó là gì? Cái hố đó?"

"Mộ. Đào cho cha tôi."

"Ồ." Harold thì thầm, không mấy thoải mái nói.

“Trước khi hoàn thành công việc, tôi muốn vào trong uống chút nước. Nói thẳng ra nhé, Harold, tôi hy vọng anh có thể rời đi sớm nhất có thể. Tôi thấy phiền lắm rồi.”

“Tôi có thể hiểu được.” Harold nói một cách gượng gạo, “Nhưng, Frannie... thực sự chôn ở trong vườn sao?”

Cô đã bắt đầu bước về phía ngôi nhà, lần này giọng điệu đã có phần giận dữ. “Được rồi, anh có cao kiến gì không? Tôi nên để ông ấy trong quán cà phê hay kéo đến nghĩa trang đây? Nhân danh Chúa, anh nói xem tôi nên làm gì? Ông ấy yêu khu vườn này! Việc này có liên quan gì đến anh không, hả? Anh là cái gì cơ chứ?”

Cô bắt đầu bật khóc, quay người chạy về phía nhà bếp, suýt nữa thì đụng phải cản trước của chiếc Cadillac. Cô biết Harold có lẽ đang nhìn cái mông đang lắc lư của mình, tưởng tượng ra nội dung cho một bộ phim hạng X nào đó trong đầu hắn. Điều này càng khiến cô phẫn nộ, đau buồn và tủi thân hơn bao giờ hết. Cánh cửa lưới đóng sầm lại phía sau lưng cô. Cô đi đến bên bồn rửa bát, uống liền ba cốc nước lạnh, đầu lập tức đau như kim châm. Bụng cô quặn thắt, cô phải chống tay lên bồn sứ một lúc, nheo mắt xem mình có nôn ra không. Một lát sau, cái bụng báo cho cô biết là do uống nước lạnh, cô lại một lần nữa vượt qua thử thách.

“Frannie?” Một giọng nói thấp và đầy do dự.

Cô quay người lại, thấy Harold đang đứng ngoài cửa lưới, đôi tay vung vẩy một cách gượng ép, trên mặt lộ rõ vẻ quan tâm nhưng không mấy dễ chịu. Frannie đột nhiên cảm thấy xót xa cho hắn. Harold Lauder lái chiếc Cadillac của Roy Branigan lang thang trong thị trấn hoang tàn bi thảm này, có lẽ đây là những ngày tháng chưa từng có trong đời hắn, khiến hắn chẳng còn coi trọng thế giới này nữa. Thời gian, con gái, bạn bè, tất cả mọi thứ, thậm chí bao gồm cả chính bản thân hắn, đều chẳng có gì khác biệt.

“Harold, xin lỗi anh.”

“Không, tôi không có quyền nói bất cứ điều gì. Cô thấy đấy, nếu cần tôi giúp, tôi có thể hỗ trợ.”

“Cảm ơn, tôi thà tự làm một mình, chuyện này là...”

“Là chuyện riêng tư. Tất nhiên rồi, tôi hiểu.”

Cô có thể lấy một chiếc áo len từ phòng tắm để mặc, nhưng hắn biết tại sao cô không làm vậy, bởi cô không muốn khiến hắn khó xử thêm lần nữa. Harold cố gắng đóng vai một gã trai tốt—nói vài lời tử tế. Cô quay lại hiên nhà, họ đứng đó nhìn khu vườn một lúc, nhìn đống đất đào lên từ cái hố. Cơn buồn ngủ buổi chiều đang ập đến, dường như ở đây chẳng có gì thay đổi cả.

“Bây giờ anh định làm gì?” Cô hỏi Harold.

“Tôi cũng không biết nữa,” hắn nói, “Cô biết đấy...” Hắn bỏ lửng câu nói.

“Sao?”

“Được rồi, tôi thật sự khó mở lời. Ở cái nơi nhỏ bé tại New England này, tôi quả thực không được lòng người cho lắm. Trong ký ức của tôi, tôi luôn nghi ngờ rằng, ngay cả khi tôi trở thành một nhà văn nổi tiếng như hằng mong ước, tôi cũng chưa chắc đã gây dựng được hình ảnh trong lòng người dân địa phương. Nhân tiện, tôi nghĩ trước khi có một nhà văn nổi tiếng khác xuất hiện ở đây, thì tôi có lẽ đã trở thành một ông già với bộ râu dài đến tận thắt lưng rồi.”

Cô không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm vào hắn.

“Vì vậy,” Harold giải thích, nhưng cơ thể lại đột ngột thẳng lên, như thể từ này vừa bùng nổ. “Vì vậy tôi buộc phải suy nghĩ về tất cả những bất công ở đây. Những bất công này, ít nhất là đối với tôi, thật nực cười làm sao.”

Hắn đẩy gọng kính bị tụt xuống mũi lên, cô với tâm trạng đồng cảm nhận ra mụn trứng cá trên mặt hắn quả thực cũng là một vấn đề lớn. Cô tự hỏi, có ai từng bảo hắn rằng xà phòng và nước sẽ có tác dụng tốt hơn với mụn chưa? Hay là những gã đàn ông đó đều chỉ mải mê nhìn ngắm Amy xinh đẹp, người nổi tiếng với điểm trung bình 3.8 và xếp thứ 23 trong số hơn ngàn sinh viên toàn khóa tại Đại học Maine? Amy xinh đẹp rạng rỡ và hoạt bát, còn Harold thì lại đầy vẻ khó hiểu.

“Điên rồ.” Harold khẽ lặp lại, “Tôi lái chiếc Cadillac đi khắp thị trấn với tư cách là một người mới tập lái. Nhìn đôi bốt này xem.” Hắn nhấc chân, vén quần jean lên, để lộ đôi bốt cao bồi tinh xảo và sáng bóng. “86 đô la. Tôi đi thẳng vào tiệm giày, chọn cỡ mình cần. Tôi cảm thấy mình như một kẻ lừa đảo, một nhân vật trong vở kịch. Xem ra còn lâu mới đến lúc tôi ‘thực sự’ điên.”

“Sẽ không đâu.” Frannie nói. Trên người Harold tỏa ra mùi như ba bốn ngày chưa tắm, nhưng lần này không khiến cô buồn nôn. “Sao có thể chứ? Chúng ta sẽ không điên đâu, Harold.”

“Thế thì còn gì bằng.”

“Sẽ có người đến thôi.” Frannie nói, “Chẳng bao lâu nữa sẽ đến, sau khi dịch bệnh chết tiệt này qua đi.”

“Ai sẽ đến?”

“Một số người của chính quyền.” Cô nói không mấy chắc chắn, “Sẽ có người... đến... dọn dẹp tàn cuộc.”

Hắn cười khổ, “Cô bé đáng mến của tôi... xin lỗi, Frannie. Frannie, chính những người cầm quyền đã tạo ra thảm họa này. Tất nhiên họ phải dọn dẹp tàn cuộc rồi, họ lần lượt giải quyết các vấn đề suy thoái kinh tế, ô nhiễm, thiếu hụt dầu mỏ và tất cả những cuộc Chiến tranh Lạnh. Phải, họ chắc chắn phải khôi phục mọi thứ như cũ. Họ giải quyết mọi vấn đề bằng cách chặt đứt nút thắt, giống như cách Alexander đã làm với nút thắt Gordian.”

“Đây chỉ là một chủng cúm lạ thôi, Harold. Tôi nghe trên đài phát thanh nói vậy.”

“Mẹ thiên nhiên sẽ không sử dụng cách này đâu, Frannie. Nghe nói những kẻ quyền quý đã sắp đặt một lượng lớn các nhà vi khuẩn học, virus học và dịch tễ học tại các cơ quan chính phủ để nghiên cứu ra nhiều loại vi khuẩn mà họ hằng mơ ước. Theo tôi biết, họ đang chế tạo vi khuẩn, virus. Có người đã nói: ‘Nhìn thứ được tạo ra này xem, nó gần như có thể giết chết tất cả mọi người. Chẳng phải vĩ đại sao?’ Thế là họ trao huân chương, tăng lương và thỉnh thoảng hỏi thăm cho người đó, nhưng sau đó có người đã gây ra sự rò rỉ thứ này.”

“Anh muốn làm gì, Frannie?”

“Chôn cất cha tôi.” Cô nói khẽ.

“Ồ... tất nhiên rồi.” Hắn nhìn cô một lúc, đột nhiên nói, “Tùy tình hình thôi, tôi dự định rời khỏi đây, rời khỏi Ogunquit. Nếu tôi còn ở lại, tôi sẽ phát điên mất, Frannie, tại sao không cùng tôi rời đi?”

“Đi đâu?”

“Tôi cũng không biết. Vẫn chưa nghĩ ra.”

“Được rồi, đợi khi nào anh nghĩ ra, hãy đến gọi tôi.”

Harold lập tức rạng rỡ hẳn lên. “Được, tôi sẽ đến. Nó... cô cũng hiểu mà, vấn đề là...” Hắn bỏ dở câu nói, với vẻ mặt ngẩn ngơ bước xuống bậc thềm hiên nhà. Đôi bốt cao bồi mới sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Frannie nhìn hắn với tâm trạng tìm niềm vui trong nỗi khổ.

Hắn ngồi vào ghế lái chiếc Cadillac, vẫy vẫy tay. Frannie cũng giơ tay đáp lại. Khi xe chuyển bánh, nó giật mạnh một cách vụng về, rồi chệch sang bên trái, cán nát hoa của Carla dưới bánh xe bên phải. Lúc khó khăn lắm mới quẹo ra được đường cái, lại suýt lao xuống mương. Sau đó hắn bấm còi hai cái rồi lái xe đi mất. Frannie nhìn theo cho đến khi hắn khuất tầm mắt mới quay trở lại khu vườn.

Khoảng 4 giờ sau, cô buộc mình lê những bước chân nặng nề quay trở lại tầng trên. Do trời nóng, mệt mỏi và căng thẳng, hai bên thái dương và trán cô đau nhức âm ỉ. Cô tự nhủ, vậy thì đợi thêm một ngày nữa, nhưng như vậy có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn. Cô lấy ra chiếc khăn trải bàn thêu hoa mà mẹ cô chỉ dùng trong những dịp lễ trọng đại.

Mọi việc diễn ra không suôn sẻ như cô mong đợi, nhưng cũng không khó khăn như cô lo sợ. Trên mặt ông có vài con ruồi, cô bật đèn, lũ ruồi quẹt quẹt đôi chân nhỏ đầy lông rồi bay đi. Da ông cũng hơi đen lại, công việc trong vườn đã làm ông rám nắng... Nếu không để ý thì sẽ không nhận ra điều này. Trên người ông vẫn chưa có mùi mà cô lo lắng nhất.

Lúc mất, ông đang nằm trên chiếc giường đôi mà ông ngủ cùng Carla. Cô trải chiếc khăn trải bàn lên phía mẹ cô thường nằm, để mép khăn sát vào cánh tay, hông và chân của cha. Sau đó, cô cố nén cơn đau (đầu cô còn đau hơn trước), chuẩn bị cuộn cha vào trong tấm vải liệm.

Peter Goldsmith đang mặc bộ đồ ngủ kẻ sọc, cô cảm thấy có chút không hài hòa, nhưng cũng chỉ có thể như vậy thôi. Cô thậm chí còn không nghĩ đến việc nên cởi bộ đồ ngủ ra trước để mặc cho ông một bộ quần áo đàng hoàng.

Trong khi cố gắng lấy can đảm, cô nắm lấy cánh tay trái của ông—nó nặng như một món đồ nội thất không thể di chuyển—rồi đẩy một cái để ông lăn qua. Khi làm vậy, ông phát ra một tiếng ợ dài kinh khủng. Tiếng ợ này kéo dài rất lâu trong cổ họng, như thể một con ve sầu chờ đợi lâu ngày trong bóng tối, vì muốn tiến tới cuộc sống mới mà kêu lên vậy.

Cô hét lên một tiếng. Ngã nhào vào tủ đầu giường. Lược, bàn chải, đồng hồ báo thức, một đống tiền lẻ cùng vài chiếc kẹp cà vạt và khuy áo sơ mi đều rơi xuống sàn nhà kêu lanh lảnh. Bây giờ thì có mùi rồi, một thứ mùi giống như khí phân hủy. Mùi nước hoa cuối cùng trên người cô cũng đã tan hết. Cô quỳ trên sàn, hai tay ôm đầu khóc nức nở. Thứ cô sắp chôn không phải là vật gì khác, mà chính là cha mình, lòng nhân từ cuối cùng của cha cô. Lại một luồng mùi nồng nặc bốc lên không trung, ngày càng đậm đặc.

Trời cũng tối, đất cũng mờ. Tiếng gào khóc liên hồi của cô dường như truyền đi rất xa, như thể ở phía xa cũng có người đang than khóc, có lẽ là một người phụ nữ nhỏ nhắn da nâu mà cô từng thấy trên bản tin truyền hình. Sau một hồi lâu, lâu đến mức chính cô cũng không biết là bao lâu, cô dần dần hồi tỉnh lại, biết rằng tất cả những việc này vẫn phải do mình làm. Đây là những việc cô chưa từng làm bao giờ.

Cô đi đến bên ông, lật người ông lại. Ông lại ợ một tiếng, nhưng lần này yếu hơn nhiều. Cô hôn lên trán ông.

“Con yêu cha, cha à.” Cô nói, “Con yêu cha, Frannie yêu cha.” Nước mắt rơi trên mặt ông, long lanh sáng bóng. Cô cởi bộ đồ ngủ của ông ra để mặc cho ông bộ vest đẹp nhất. Cô dùng hai cuốn bách khoa toàn thư kê đầu ông lên để thắt cà vạt. Trong ngăn kéo dưới cùng của két sắt, cô tìm thấy huân chương quân đội của ông: một Huân chương Trái tim Tím, vài tấm huy chương và huân chương hạnh kiểm tốt... cùng Huân chương Ngôi sao Đồng nhận được ở Triều Tiên. Cô ghim từng chiếc lên ve áo vest của ông. Trong phòng tắm, cô tìm thấy một hộp phấn rôm trẻ em nhãn hiệu Johnson, rắc lên mặt, cổ và tay ông. Mùi phấn thơm tho đầy hoài niệm khiến cô lại trào nước mắt. Mồ hôi thấm đẫm toàn thân, dưới mắt cô cũng xuất hiện quầng thâm do quá mệt mỏi.

Cô dùng khăn trải bàn bọc ông lại, tìm bộ dụng cụ may vá của mẹ, khép các mép lại, gấp đôi mép vải rồi khâu chặt lại. Kèm theo những tiếng nấc nghẹn ngào và hơi thở hổn hển, cuối cùng cô cũng đưa được thi thể ông xuống sàn nhà, rồi trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh nghỉ ngơi một chút. Khi cảm thấy có thể tiếp tục, cô nhấc thi thể lên, kéo về phía cầu thang, rồi cẩn thận hết mức có thể kéo xuống tầng một. Cô lại dừng lại một lúc, hơi thở ngày càng gấp gáp, đã thở không ra hơi. Đầu đau dữ dội hơn, như muốn nổ tung.

Cô kéo thi thể đến sảnh, kéo qua nhà bếp, kéo ra hiên nhà, đến dưới bậc thềm hiên, cô lại phải nghỉ một lát. Ánh sáng vàng vọt của buổi hoàng hôn đã rơi xuống đường chân trời. Cô thực sự quá mệt mỏi, ngồi xuống bên cạnh cha, gục đầu lên hai đầu gối mà khóc nức nở. Chim chóc kêu chiêm chiếp, cuối cùng cô cũng kéo được ông ra khu vườn.

Cuối cùng cũng xong, khi những mảnh cỏ cuối cùng (cô đặt từng mảnh dưới đầu gối mình như đang giải một bài toán phức tạp) vào vị trí, đã là 9 giờ 15 phút. Người cô lấm lem bùn đất, chỉ có vùng quanh mắt là trắng, đó là chỗ đã được nước mắt rửa sạch. Do kiệt sức, cô cảm thấy trời đất quay cuồng. Tóc xõa xuống má, từng sợi từng sợi một.

“Xin hãy yên nghỉ, cha nhé,” cô thì thầm, “Xin cha hãy yên nghỉ.”

Cô kéo cái xẻng quay lại xưởng làm việc của cha. Bước lên chiếc hiên chỉ có 6 bậc mà cô phải nghỉ tới hai lần. Cô không bật đèn, đi qua nhà bếp, bước vào phòng khách, đá văng đôi giày thể thao nhẹ.

Trong mơ, cô lại lên lầu đến bên cha để làm tròn bổn phận, thấy ông đang nằm ngay ngắn dưới đất. Nhưng khi cô bước vào phòng, chiếc khăn trải bàn đã phủ lên thi thể ông, nỗi đau buồn và mất mát của cô lại biến thành một thứ gì đó khác... giống như nỗi sợ hãi. Cô đi qua căn phòng tối om, không muốn nhưng đột nhiên chỉ muốn chạy trốn, cuối cùng lại bất lực đứng lại. Chiếc khăn trải bàn hiện lên trong bóng tối một cách đáng sợ như ma quái, rồi bay về phía cô:

Dưới khăn trải bàn hoàn toàn không phải là cha cô, và người đó chưa hề chết.

Một thứ có sức sống vô tận và mãnh liệt đáng sợ đang nằm dưới khăn trải bàn, có một sức mạnh còn mạnh hơn cả sức sống của cô đang đẩy chiếc khăn trải bàn ngược trở lại, còn cô... đứng không vững nữa rồi.

Cô vươn tay ra, che lấy tấm khăn trải bàn, cố sức kéo nó ngược lại. Hắn nhe răng cười, nhưng cô không nhìn thấy mặt hắn. Nụ cười nhe răng đó khiến cô rùng mình, một nỗi sợ hãi lập tức ùa vào lòng cô. Bây giờ, cô vẫn không nhìn thấy mặt hắn, nhưng có thể nhìn thấy món quà mà hồn ma đáng sợ đó mang đến cho đứa trẻ chưa chào đời của cô: một chiếc móc treo quần áo bị vặn xoắn.

Cô chạy trốn, thoát khỏi căn phòng này, thoát khỏi giấc mơ này, đến một thế giới tươi sáng...

Trong bóng tối lúc 3 giờ sáng ở phòng khách, cơ thể cô vẫn chìm trong đại dương sợ hãi, giấc mơ đó bắt đầu tan vỡ, dần dần rời xa, chỉ còn một cảm giác tai ương như dư vị sau khi ăn phải thịt thối vẫn đọng lại trong lòng. Cô nhớ lại tình trạng nửa tỉnh nửa mê: hắn, chính là hắn, kẻ không mặt đó là Walkin' Dude.

Sau đó cô lại ngủ thiếp đi, lần này không mơ nữa. Khi cô tỉnh dậy vào sáng hôm sau, đã hoàn toàn không nhớ gì về giấc mơ đó. Nhưng khi nghĩ đến đứa trẻ trong bụng, một cảm giác bảo vệ mạnh mẽ lập tức trào dâng, nỗi hoang mang và sợ hãi đó cũng giảm đi đáng kể về cường độ và chiều sâu.

Chương 29

Cùng đêm đó, Larry Underwood và Rita Blakemoor cùng ngủ; Frannie Goldsmith nằm một mình và mơ những giấc mơ kỳ quái; lúc này Stuart Redman đang đợi Elder, anh đã đợi được ba ngày, tối nay Elder sẽ không làm anh thất vọng.

Trưa hôm đó, Elder cùng hai y tá nam đến, muốn lấy đi chiếc tivi. Elder đứng bên cạnh, chĩa súng vào Stu. Tất cả những gì Stu có thể làm là đứng bên cửa sổ có song sắt, nhìn thị trấn nhỏ bên bờ sông. Như trong băng ghi âm đã nói: “Gió thổi hướng nào không cần dự báo thời tiết cũng biết.”

Ống khói nhà máy dệt không còn nhả khói, trên sông cũng không còn thấy những vòng xoáy của quần áo và thuốc nhuộm đủ màu sắc, nước trở nên trong vắt, những chiếc ô tô sáng loáng, nhìn từ đây trông như đồ chơi vậy. Cho đến hôm qua, vẫn thỉnh thoảng thấy vài chiếc ô tô chạy trên đường cao tốc thu phí, uốn lượn như những vận động viên trượt tuyết. Không có xe cứu hộ đến kéo những chiếc xe bị bỏ lại trên đường.

Thành phố như một bản đồ mô hình, không chút sức sống. Chiếc đồng hồ lớn vẫn đổ chuông đúng giờ trong thành phố, từ 9 giờ sáng nay đã đình công, đoạn nhạc dạo đầu trước khi đổ chuông nghe vừa trầm đục vừa kỳ quái, giống như âm thanh phát ra từ hộp nhạc bị nhấn chìm dưới đáy nước. Không biết là quán cà phê bên đường hay nhà kho nào ở ngoại ô bị cháy, cháy suốt cả buổi chiều, khói đen cuồn cuộn che lấp cả bầu trời, không có xe cứu hỏa. Nếu tòa nhà không được xây giữa bãi đỗ xe lộ thiên trải nhựa, Stu nghĩ rằng nó cũng sẽ bị vạ lây. Cả buổi chiều trời đều mưa, nhưng cho đến tận đêm nay, lửa vẫn âm ỉ cháy.

Stu cảm thấy mục đích cuối cùng của Elder là giết chết anh—tại sao không chứ? Anh đã không còn giá trị lợi dụng nữa, hơn nữa còn biết bí mật của chúng. Chúng không tìm ra cách nào khác để đối phó với anh, và cũng hiểu tính cách của anh khác với đám người quỳ gối cầu xin kia. Chúng không mong đợi anh sẽ tiết lộ bí mật nhỏ cho chúng.

Stu tin rằng các nhân vật chính trong phim truyền hình hoặc tiểu thuyết đều sẽ có ý định bỏ trốn, trong cuộc sống thực cũng có người làm vậy, nhưng anh không phải là kiểu người đó, anh quyết tâm, chỉ làm một việc, đó là chuẩn bị sẵn sàng, chờ đợi Elder.

Một thế lực ngoại lai đôi khi được gọi là "Màu xanh", đôi khi được gọi là "Chuyến đi của thuyền trưởng" đã phá vỡ thiết bị này, Elder chính là một dấu hiệu rõ ràng. Y tá gọi hắn là bác sĩ Elder, nhưng hắn hoàn toàn không phải là bác sĩ. Hắn hơn 50 tuổi, đôi mắt trũng sâu, không chút hài hước. Trước khi Elder đến, không có bác sĩ nào cảm thấy cần phải chĩa súng vào anh. Stu có chút sợ Elder, với một người như thế, không thể nói lý, cũng không thể cầu xin điều gì. Elder đang chờ lệnh, chỉ cần có lệnh, hắn sẽ thực thi. Hắn có súng trong tay, giống như Mafia vậy, hắn lên kế hoạch chu đáo, thực hiện sẽ không có vấn đề gì.

3 năm trước, Stu từng mua một cuốn tiểu thuyết tên là "Con tàu nhỏ chìm", tặng cho người cháu ở Waco, anh không thích đọc sách, càng ghét gói quà, trước khi bỏ sách vào hộp, anh tiện tay lật xem, tưởng rằng lật xem là hiểu được viết cái gì. Thực tế không phải như vậy, đọc xong trang đầu, tiếp đến trang thứ hai... anh bị mê hoặc, anh thức trắng một đêm, uống cà phê, hút thuốc, đọc một cách tỉ mỉ. Anh không quen coi việc đọc sách chỉ là tiêu khiển. Cuốn sách này mô tả những con thỏ—loài vật ngu ngốc và nhát gan nhất trên trái đất. Người viết cuốn sách này đã biến chúng trở nên có chút kỳ lạ, khi đọc, bạn thực sự rất quan tâm đến chúng. Đây là một câu chuyện hay được hư cấu, Stu đọc với tốc độ gần như bò của ốc sên suốt hai ngày, cuối cùng cũng đọc xong.

Ấn tượng sâu sắc nhất là câu "sắp kiệt sức", hoặc chính là "kiệt sức". Bởi vì anh đã thấy rất nhiều loài vật kiệt sức, chạy trên đường cao tốc, vài con vật kiệt sức nằm giữa đường, đôi tai rũ xuống, nhìn một chiếc ô tô lao đến, nhưng chúng lại không đủ sức thoát khỏi cái chết đang đến gần. Ánh sáng chói lòa của đèn pha sân bay có thể khiến hươu hoảng sợ chạy loạn, rồi kiệt sức; âm nhạc dữ dội sẽ khiến gấu mèo trở nên kiệt sức; tiếng đập lồng liên tục sẽ khiến vẹt kiệt sức.

Elder khiến Stu cảm thấy mình giống như những con vật đó, khi đôi mắt xanh nhạt của Elder chạm vào anh, anh cảm thấy toàn bộ ý chí của mình đều tan biến, Elder thậm chí không cần dùng súng để đối phó với anh, hắn chỉ cần karate, quyền Pháp và chút mưu mẹo, đánh bại một người như vậy thì có là gì? Chỉ cần nghĩ đến Elder, đã có thể đánh tan ý định phản kháng của anh. "Kiệt sức" là một từ hay để mô tả trạng thái tinh thần tồi tệ.

Vừa qua 10 giờ đêm, đèn đỏ sáng lên, Stu cảm thấy mồ hôi rịn ra trên tay và mặt, mỗi lần đèn đỏ nhấp nháy anh đều như vậy, bởi vì trong đó có một lần Elder đến một mình, hắn không muốn có nhân chứng, có lẽ ở đâu đó sẽ có lò cao để hỏa táng những nạn nhân này. Elder muốn nhét anh vào một cách bừa bãi, hơn nữa không để lại dấu vết.

Elder từ ngoài cửa đi vào. Một mình.

Stu ngồi trên giường bệnh, một tay đặt lên lưng ghế. Ngay khi nhìn thấy Elder, anh đã cảm thấy buồn nôn, trong bụng như có thứ gì đó rơi xuống. Anh cảm thấy một khao khát quen thuộc, muốn để những lời cầu xin hèn hạ tuôn ra, mặc dù anh biết những lời cầu xin như vậy chẳng qua chỉ là vô ích. Gương mặt đeo kính bảo hộ trong suốt đó không có lấy một chút lòng thương hại.

Bây giờ đối với anh, mọi thứ đã rõ ràng hơn bao giờ hết. Khi Elder bước vào phòng, Stu nhìn chằm chằm vào hắn: Elder cao lớn vạm vỡ, chiếc áo blouse trắng mặc trên người trông căng chật. Hắn nắm khẩu súng, nòng súng to lớn.

“Cảm thấy thế nào?” Elder hỏi, giọng không lớn, nhưng Stu nghe ra giọng mũi trong giọng của Elder. Elder bị ốm.

“Vẫn ổn,” Stu nói, giọng bình thản, đến chính anh cũng cảm thấy kinh ngạc, “Khi nào tôi mới có thể rời khỏi đây?”

“Sớm thôi.” Elder nói, hắn cầm súng chỉ lung tung vào Stu, hắn bịt miệng, hắt hơi một cái, “Anh không muốn nói thêm gì nữa sao?” Elder nói, “Đám người ăn hại các người, khoảng 20 phút trước, tôi vừa mới học được câu này từ chỗ anh, ông Redman, đây không phải là mệnh lệnh nguy hiểm gì cả. Nhưng tôi tin anh chắc chắn sẽ không sao đâu.”

“Mệnh lệnh gì?”

“Có người ra lệnh cho tôi...”

Ánh mắt Stu lướt qua vai Elder, nhìn lên cao, ánh mắt dừng lại ở khung cửa, “Chúa ơi!” Anh kêu lên, “Con chuột chết tiệt, anh nhìn xem con chuột chạy đi đâu rồi?”

Elder vậy mà quay người lại. Không ngờ anh dùng chút mưu mẹo, lại bất ngờ thành công, Stu gần như sững sờ, anh lập tức rời khỏi giường, hai tay chộp lấy chiếc ghế, lúc này, Elder đã quay người lao về phía anh. Elder mở to mắt, nhất thời hoảng loạn, Stu giơ chiếc ghế lên quá đầu, lao về phía trước, dùng hết sức bình sinh đập tới.

"Đứng lại!" Elder hét lên, "Đừng!" Chiếc ghế đập mạnh vào cánh tay phải của Elder, khẩu súng rơi xuống tấm thảm, viên đạn vừa thoát khỏi nòng rít lên bay về phía mặt đất.

Stu hy vọng có thể dùng ghế đập thêm một lần nữa trước khi Elder hoàn toàn tỉnh táo lại. Anh giơ cao chiếc ghế, dồn hết sức lực toàn thân ném mạnh tới. Elder cố gắng nâng cánh tay phải bị thương lên, những mảnh vụn từ chân ghế găm vào chiếc mũ trắng, trên mắt cũng dính đầy mảnh gỗ. Hắn thét lên rồi ngã gục xuống.

Elder lăn lộn trên sàn, quờ quạng tìm khẩu súng đang nằm trên thảm. Stu vung ghế thêm một lần cuối, giáng mạnh vào sau gáy Elder, khiến hắn ngất lịm đi. Stu thở dốc, vươn tay chộp lấy khẩu súng, rồi huých vào người Elder đang nằm sấp dưới đất. Elder không hề động đậy.

Một ý nghĩ kinh hoàng đột ngột lướt qua tâm trí: Elder đến để giết anh, hay là đến để thả anh ra? Nếu hắn đến để thả anh, tại sao trong lúc trò chuyện lại không hề có chút ám chỉ nào? Tại sao hắn lại gọi mệnh lệnh này là "không quá nguy hiểm"?

Elder không phải đến để thả anh, chắc chắn là đã được ai đó chỉ thị đến đây để giết anh.

Stu nhìn Elder đang nằm trên sàn, toàn thân run rẩy. Nếu lúc này Elder đứng dậy, Stu dù có bắn liền 5 phát ở khoảng cách gần như thế này cũng chưa chắc đã trúng. Anh tin rằng Elder sẽ không thể tỉnh lại được nữa, bây giờ không, và sau này cũng vậy.

Ý nghĩ phải rời khỏi nơi đó mãnh liệt đến mức anh gần như lao đi như bay về phía cánh cửa khí nén. Anh đã bị nhốt ở đây cả tuần trời, giờ anh chỉ muốn hít thở chút không khí trong lành, sau đó chạy thật xa, rời khỏi cái nơi đáng sợ này.

Stu nhấn nút có ghi chữ "Tuần hoàn". Máy bơm không khí vận hành một lát, cánh cửa bên ngoài mở ra. Căn phòng nhỏ bên ngoài chỉ đặt một chiếc bàn làm việc. Trên bàn là một xấp biểu đồ thuốc men...

Còn có cả quần áo của anh nữa. Là bộ đồ anh đã mặc suốt từ chuyến bay từ Braintree đến Atlanta. Nỗi sợ hãi lại một lần nữa ập đến. Không còn nghi ngờ gì nữa, những thứ đó vốn được chuẩn bị để đưa vào lò hỏa táng cùng với anh. Biểu đồ, và cả quần áo.

Stu nghe thấy tiếng động khẽ ở phía sau, anh nhanh chóng quay người lại. Elder lảo đảo bước về phía anh, phần thân trên ưỡn ra, đôi tay vung vẩy yếu ớt, một mảnh nhựa răng cưa găm vào mắt hắn, máu đang rỉ ra. Elder thế mà lại đang cười.

"Đứng yên đó!" Stu nói, đôi tay cầm súng run lên bần bật.

Elder không quan tâm đến anh, cứ thế tiến thẳng tới.

Stu vừa lùi lại vừa bóp cò. Elder dừng bước, nụ cười trên mặt đông cứng lại, như thể vừa trúng phải khí độc. Trước ngực chiếc áo blouse trắng xuất hiện một lỗ nhỏ, một lúc sau, hắn lảo đảo vài cái rồi đổ ập xuống đất. Stu trân trân nhìn hắn, rồi lảo đảo chạy về phía căn phòng nhỏ, nơi toàn bộ tài sản cá nhân của anh đang chất đống trên bàn làm việc.

Anh thử đẩy cánh cửa ở cuối phòng, cửa mở ra. Bên ngoài là hành lang được trang trí bằng những bóng đèn huỳnh quang mờ nhạt. Trên đường dẫn tới thang máy, có một chiếc cáng đẩy bốn bánh nằm cạnh nơi có lẽ là phòng nghỉ của y tá. Anh nghe thấy tiếng rên rỉ yếu ớt. Có người đang ho, âm thanh chói tai dường như kéo dài bất tận.

Anh quay lại phòng, cầm lấy quần áo của mình, kẹp vào nách. Sau đó, bước ra ngoài, thuận tay đóng cửa lại rồi đi dọc theo hành lang. Bàn tay cầm súng đẫm mồ hôi. Khi đi ngang qua chiếc cáng, anh ngoái nhìn lại, sự tĩnh lặng và trống trải khiến anh bồn chồn khó chịu, tiếng ho đã ngừng. Stu cứ mãi muốn nhìn xem Elder bò trườn phía sau mình như thế nào để cố bắn thêm một phát cuối cùng. Anh nhận ra mình khao khát được ghi nhớ mọi thứ trong căn phòng đó.

Tiếng rên rỉ lại bắt đầu, lần này âm thanh lớn hơn. Bên phải lối đi thang máy có một người đàn ông đang dựa nghiêng vào tường, Stu nhận ra đó là y tá của mình. Gương mặt sưng vù và thâm đen, lồng ngực phập phồng không ngừng. Khi Stu nhìn ông ta, ông ta lại bắt đầu rên rỉ. Phía sau ông ta là một xác chết nam đang co quắp, phía xa còn có ba xác chết nữa. Nam y tá Vic — Stu nhớ ra tên anh ta là Vic — lại bắt đầu ho.

"Chúa ơi," Vic nói, "Chúa ơi, anh ra ngoài đó làm gì? Anh không thể ở ngoài đó được đâu."

"Elder đến để xử lý tôi, nên tôi phải xử lý hắn," Stu nói, "Thật may là hắn bị bệnh."

"Người tội nghiệp, tốt nhất anh nên tin rằng Chúa có thể phù hộ cho anh." Vic nói, cơn ho lại kéo đến, lần này âm thanh rất yếu, đờm mắc trong cổ họng không khạc ra được, nghe như tiếng chiếc chiêng rách.

"Này, tôi có thể giúp gì cho anh không?" Stu lúng túng hỏi.

"Nếu anh muốn giúp tôi, thì hãy bắn một phát vào đầu tôi, làm cho tôi nổ tung thành từng mảnh đi." Ông ta lại bắt đầu ho, tiếp đó là những tiếng rên rỉ bất lực.

Stu không thể làm vậy, vì tiếng rên rỉ nặng nề của Vic vẫn tiếp tục. Stu suy sụp tinh thần, anh chạy về phía thang máy, hy vọng được tránh xa khuôn mặt đau đớn đen sạm kia, nhưng lại vừa hy vọng Vic gọi mình lại phía sau. Những bệnh nhân khi muốn giải thoát khỏi nỗi đau dường như luôn gào thét bằng cái âm thanh chói tai, bất lực đó. Thế nhưng Vic chỉ không ngừng rên rỉ, hơn nữa không hiểu sao âm thanh ngày càng lớn.

Thang máy vừa khởi động, vận hành với tốc độ bình thường, có thể là do khí độc, cũng có thể là thiết bị an toàn xảy ra hỏng hóc, thang máy lao thẳng xuống dưới. Anh bước vào giữa thang máy, bồn chồn lo lắng tìm kiếm các lỗ thông gió hoặc lỗ nhìn trộm bị ẩn đi. Chứng sợ cô độc như một bàn tay cao su vuốt ve lấy anh, thang máy dường như đột ngột thu nhỏ lại thành một bốt điện thoại, rồi lại co lại thành một chiếc quan tài. Chẳng lẽ anh sắp bị chôn sống quá sớm sao?

Anh chìa một ngón tay ra nhấn nút "Dừng", anh không biết thang máy có đang nằm giữa hai tầng hay không. Thang máy đến một mặt sàn bằng phẳng rồi dừng lại bình thường.

Nếu bên ngoài có người cầm súng thì sao?

Thế nhưng khi cửa thang máy mở ra, thứ nhìn thấy chỉ là một xác chết nữ mặc đồng phục y tá, bị kẹt trong tư thế bào thai bởi cánh cửa có ghi chữ "Nữ".

Stu nhìn chằm chằm vào cô ta một lúc lâu, đến mức cửa thang máy sắp đóng lại. Anh đưa tay ra chặn lại, cánh cửa ngoan ngoãn mở ra, anh bước ra ngoài. Hành lang có hình chữ T, anh đi về phía hành lang, muốn dọn một chỗ rộng rãi cho xác chết nữ này.

Phía sau anh có tiếng động khẽ. Anh vội vàng giơ súng lên, quay người lại, hóa ra là cửa thang máy lại đóng. Anh nhìn một lát, khó khăn nuốt nước bọt rồi tiếp tục đi về phía trước. Bàn tay cao su đó ở phía sau, vỗ vỗ vào lưng anh, bảo anh đừng đi đi dừng dừng, trước khi có người nào đó... hoặc thứ gì đó... hiểu ra chúng ta là ai, hãy rời khỏi đây nhanh nhất có thể. Tiếng vang trong hành lang tối tăm của khu khám bệnh nghe quá giống một bữa tiệc quỷ quái rùng rợn. "Chơi cùng không, Stu? Tuyệt lắm." Những cánh cửa kính mờ lần lượt lướt qua bên cạnh anh, trên mỗi cánh cửa đều treo một tấm biển: Tiến sĩ Sloan, Phòng sao chép, ông Baligo, Phòng tối, Phòng lưu trữ, bà Wiggers. Stu nghĩ, có lẽ đây là khu vực làm việc.

Tại điểm giao cắt hình chữ T có một vòi nước kiểu phun, nước ấm, mùi xử lý bằng clo khiến anh cảm thấy buồn nôn; phía bên trái không có lối ra, trên bức tường lát gạch có một mũi tên màu cam, ngay phía dưới viết: "Hành lang thư viện"; hành lang dường như dài cả mấy dặm, cách xác chết nam mặc áo blouse khoảng 50 mét còn có một xác chết nam khác, trông như quái vật trôi dạt trên bãi biển.

Sự tự chủ của anh ngày càng kém, nơi này lớn hơn nhiều so với tưởng tượng ban đầu, anh đoán đây là một bệnh viện khá lớn của thủ đô. Anh lảo đảo đi bộ ở đây vài tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng lại có tiếng vang bước chân, thỉnh thoảng lại bước qua một xác chết, giống như đang đi trong nơi tụ họp của người chết. Anh nhớ khi vợ mình được chẩn đoán mắc ung thư, anh đã đưa cô ấy đến một bệnh viện lớn ở Houston, trên mỗi bức tường đi qua đều có những tấm bản đồ nhỏ, chỗ chấm tròn có một mũi tên, mỗi mũi tên đều ghi: "Vị trí hiện tại của bạn". Làm những biển chỉ dẫn này là để mọi người không bị lạc. Như bây giờ đây, lạc đường rồi. Ôi, lạy Chúa, thật tồi tệ.

"Đừng đi đến kiệt sức, anh đã có chỗ thoải mái rồi mà." Anh tự an ủi mình, tiếng vang bình thản và kỳ lạ, anh không muốn nói to, nếu không mọi chuyện sẽ trở nên tồi tệ hơn.

Anh rẽ sang phải, quay lưng lại với hành lang thư viện, đi qua nhiều văn phòng, đến một hành lang khác. Anh bắt đầu thường xuyên ngoái đầu lại để đảm bảo phía sau không có ai. Elder không thể nào đi theo anh, nhưng anh vẫn không yên tâm. Lối đi hành lang kết thúc trước một cánh cửa treo biển "Khoa X-quang", một tờ thông báo viết tay treo trên tay nắm cửa: Khi nào mở cửa, sẽ thông báo sau. Randall.

Stu quay lại, quan sát kỹ từng góc anh đi qua. Xác chết mặc áo blouse đó nhỏ bé đến mức gần như chỉ còn là một chấm nhỏ, anh ta nằm đó bất động. Stu muốn rời đi càng sớm càng tốt.

Anh rẽ phải, quay lưng với hành lang thư viện, hành lang lại chia ra một nhánh khác, cách đó 20 mét, Stu rẽ phải, đi qua rất nhiều văn phòng, hành lang kết thúc trước Phòng thí nghiệm vi sinh. Trong một căn phòng nhỏ được thiết kế đặc biệt của phòng thí nghiệm, có một thanh niên mặc quần soóc của kỵ sĩ đua ngựa chuyên nghiệp đang nằm ngửa trên bàn làm việc, anh ta hôn mê, máu tươi chảy ra từ mũi và miệng, hơi thở khò khè như tiếng gió tháng Mười.

Stu thực sự bắt đầu chạy, từ hành lang này sang hành lang khác, ngày càng tin rằng không có đường ra, tiếng vang bước chân luôn đuổi theo anh. Giống như Elder, hoặc Vic đã sống lại, đang tổ chức một đội hiến binh quỷ dữ theo sau anh, tiếp đó, trước mắt lại xuất hiện một ảo ảnh, không hiểu sao, anh lại liên tưởng đến giấc mơ kỳ lạ mà mình đã mơ vài đêm gần đây, sợ rằng nếu mình đi, anh sẽ nhìn thấy bóng dáng của người mặc áo blouse lảng vảng phía sau, sau tấm kính hữu cơ dường như có một người mặc áo blouse không mặt, rất nhiều bóng ma đáng sợ, còn có cả bóng dáng của một sát thủ chuyên nghiệp.

Stu thở dốc, chạy một vòng, chạy hết tốc lực 10 feet mới nhận ra đây là một lối đi bị bịt kín, tình cờ đâm sầm vào một cánh cửa có đánh dấu, kết quả là biển báo "Lối ra" hiện ra.

Anh kéo tay nắm cửa, chắc chắn là không nhúc nhích, cánh cửa thế mà lại mở ra. Anh bước xuống 4 bậc thang, lại có một cánh cửa nữa, bên trái là cầu thang tối tăm đáng sợ. Phía trên cánh cửa thứ hai là tấm kính được gia cố bằng dây thép đan chéo, bên ngoài là đêm mùa hè tươi đẹp, dịu dàng, tất cả sự tự do mà một người đàn ông từng mơ ước.

Khi tay Stu rời khỏi tay vịn cầu thang tối tăm, anh vẫn luôn nhìn chằm chằm ra bên ngoài. Đột nhiên có người nắm chặt lấy cổ chân anh, lúc này như có một cái gai đâm vào cổ họng Stu, không thở nổi, sợ đến mức không thể cử động. Anh nhìn xung quanh, rùng mình một cái, trong bóng tối có một khuôn mặt đầy máu, mắt trợn ngược, nhe răng trợn mắt.

"Xuống đây ăn gà cùng ta đi, người đẹp," tiếng kêu thảm thiết trước khi chết, giọng vừa khàn vừa yếu, "Ở đây... tối quá."

Stu hét lên, cố hết sức bám lấy tay vịn cầu thang. Thứ nhe răng trợn mắt trong bóng tối đó đang vùng vẫy muốn đứng dậy, miệng lẩm bẩm, còn nhe răng cười hề hề, từ khóe miệng nó chảy ra từng giọt máu và mật. Stu đá vào bàn tay đang nắm chặt cổ chân mình, rồi dẫm mạnh lên. Khuôn mặt treo lơ lửng trong cầu thang tối tăm biến mất, tiếp đó là một tràng tiếng đồ vật vỡ vụn... sau đó là tiếng hét bắt đầu, là vì đau đớn, hay vì tức giận, Stu không rõ. Anh chẳng quan tâm, anh dùng vai húc mạnh vào cánh cửa bên ngoài. Cánh cửa bị húc mở, anh lảo đảo bước ra ngoài, vung vẩy cánh tay, hít thở sâu, tóm lại là anh đã hất văng hắn, còn bản thân thì ngã nhào trên con đường xi măng.

Anh từ từ, cẩn thận ngồi dậy. Tiếng hét phía sau đã ngừng hẳn, làn gió đêm mùa hè thổi lên mặt anh, làm khô những giọt mồ hôi trên trán. Anh kinh ngạc nhìn tất cả những thứ này, có bãi cỏ, có bồn hoa, anh dường như chưa bao giờ ngửi thấy mùi hương thơm ngát đến thế. Một vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên không trung. Stu mãn nguyện quay mặt lại, băng qua bãi cỏ, đi trên con đường dẫn tới thị trấn Stovington. Trên bãi cỏ bắt đầu đọng sương. Anh dường như có thể nghe thấy tiếng gió thì thầm trên những cây thông. "Mình vẫn còn sống," Stuart Redman nói với bầu trời đêm, sau đó anh bắt đầu hét lên, "Mình vẫn còn sống, cảm ơn Chúa, mình vẫn còn sống. Cảm ơn, Chúa, cảm ơn..."

Anh lảo đảo bước đi một lúc, rồi bắt đầu sải bước dọc theo con đường lớn.

Chương 30

Lúc hoàng hôn, cơn cuồng phong cuốn theo bụi bặm làm rung chuyển những bụi cây thấp ở Texas, thị trấn Arnette như bị bao phủ bởi một lớp màn bán trong suốt, trông giống như một bức chân dung ma quái màu nâu sẫm, tấm biển trạm xăng của Billy Harper nằm ngang giữa đường. Nhà của Norman Brut không biết ai đi đã quên tắt ga, một tia lửa nhỏ từ máy điều hòa thổi ra đã làm nổ tung cả căn nhà. Phố Laurel đầy rẫy những thứ rác rưởi, ván gỗ và những món đồ chơi rẻ tiền kêu lạch cạch. Trên đường phố của thị trấn, xác chó và xác lính nằm ngổn ngang trong rãnh đường. Trong tiệm của Randy, có một người đàn ông mặc đồ ngủ nằm trên quầy thịt, cánh tay buông thõng xuống, con chó nằm trong rãnh đường cứ liếm mặt người đàn ông đó cho đến khi chết. Mèo không bị nhiễm cúm, chúng len lỏi trong ánh sáng mờ ảo dịu nhẹ. Tiếng ồn của tivi không ngừng truyền ra từ các tòa nhà, cửa chớp đung đưa qua lại không theo quy luật. Một chiếc xe ngựa màu đỏ đã gỉ sét đỗ trên phố Dinkin phía trước "Nhà trọ đầu tiên của Ấn Độ", bên cạnh miễn cưỡng có thể nhận ra dòng chữ "Chuyển phát nhanh", trong xe ngựa có rất nhiều vỏ chai bia và chai soda được thu gom lại. Cơn gió hài hòa thổi trên con phố phồn hoa nhất của Arnette, hiên nhà của Tony trên phố Logan Lane. Chiếc "Hải điểu" của Tony dừng trên đường, cửa xe mở toang, sóc đã làm tổ ở ghế sau. Mặt trời lặn xuống, thị trấn bị bóng đêm bao phủ trở nên ngày càng tối tăm, ngoại trừ tiếng côn trùng kêu râm ran, tiếng thì thầm khẽ khàng của động vật và tiếng xào xạc của gió, thị trấn chìm trong tĩnh mịch.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:10
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »