Doãn Đạt Bang Ngạn nhét chiếc vali vào khoảng không gian chật hẹp phía sau chiếc xe đua Ferrari, rồi cúi người ngồi vào ghế lái. "Cậu đúng là gã đàn ông làm phụ nữ phải điên đảo, nhìn thần sắc vẫn còn sung mãn lắm nhỉ!" Duy Đa Lợi Áo ngồi ở ghế phụ, vừa cười lớn vừa nói với Bang Ngạn. Hắn còn theo kiểu chào hỏi của người phương Tây mà hôn lên hai má Bang Ngạn.
"Cậu chắc vẫn như xưa, luôn khiến phụ nữ phải khóc lóc sướt mướt chứ gì?" Bang Ngạn vui vẻ đáp lại. Kể từ lúc cùng nhau trải qua huấn luyện tại trại huấn luyện bí mật trên đảo Đan Tái Ni, cậu và Duy Đa Lợi Áo đã là những người bạn thân thiết.
"Nói về phụ nữ, tôi vẫn cho rằng phụ nữ Ý chúng tôi là tuyệt nhất, cũng giống như trong các loại xe thì Ferrari là đỉnh nhất vậy. Trên đời này có những chiếc xe chạy nhanh hơn Ferrari, cũng có những chiếc dễ điều khiển hơn, hay ngồi thoải mái hơn, nhưng xét một cách tổng thể, chẳng có chiếc nào sánh được với gã này cả."
Bang Ngạn lái chiếc Ferrari rời khỏi sân bay, chạy với tốc độ trung bình một trăm cây số mỗi giờ dọc theo quốc lộ N20 bên bờ sông Po. Đến lúc này, cậu đã quen với quy định lái xe bên phải của lục địa châu Âu.
Chiếc xe băng qua cầu Mông Ca Lý Ngải trên sông Po, con sông đã lùi về phía bên phải. Dưới ánh tà dương, mặt sông Po lấp lánh sắc cam đỏ, lững lờ trôi. Bang Ngạn nhấn ga phóng hết tốc độ. Động cơ phát ra tiếng gầm kinh người, khiến cậu và Duy Đa Lợi Áo phải hét lớn mới nghe được tiếng nhau.
Chiếc xe rời xa sông Po tại Ca Mông Cách Lạp, rồi lại gặp sông Ma Y Lạp ở La Khả Ni Tư. Qua khỏi Thánh Đạt Nhĩ Mã Tùng, con đường trở nên dốc hơn. Lúc này đã gần đến biên giới giáp ranh với Pháp. Bang Ngạn lái xe lao vào trong rừng.
"Nếu cậu mệt thì để tôi lái cho?" Duy Đa Lợi Áo thở dốc một hơi rồi lẩm bẩm.
"Không cần. Tôi có việc cần giải quyết." Bang Ngạn xuống xe, lấy tài liệu liên quan đến gia tộc Bỉ Đắc Lạc Phu Tư từ trong túi áo trong ra rồi châm lửa đốt. Cậu nhìn những mảnh giấy hóa thành tro bụi bay tứ tán trong rừng, rồi lại khởi động xe chạy tiếp. Lúc này, bóng đêm chạng vạng đã lặng lẽ buông xuống.
Xe chạy qua thị trấn Phí Nhĩ Nam Đức, đường núi càng thêm hiểm trở, chiếc xe uốn lượn trên con đường nhỏ hẹp như ruột dê. Bang Ngạn không những không giảm tốc độ mà còn đạp mạnh ga, lao đi với tốc độ tối đa. Lốp xe ma sát nhả khói xanh, vòng tua máy mạnh mẽ khiến thân xe trượt ra phía ngoài.
Chiếc Ferrari như một mũi tên bạc lao vút trên con đường núi quanh co, tiếng rít của lốp xe trên mặt đường và tiếng ống xả gầm rú của động cơ vang vọng khắp thung lũng. Gương mặt Duy Đa Lợi Áo lộ vẻ say sưa như kẻ vừa uống rượu.
Bang Ngạn phải thừa nhận rằng Ferrari thích hợp với những con đường núi kiểu này hơn chiếc Aston của mình. Chiếc xe nhanh chóng đến thành phố Phổ Liệt Mông Đặc. Nơi đây chính là ga tàu cuối cùng trên lãnh thổ Ý của tuyến đường sắt quốc tế Torino - Nice, vốn chạy gần như song song với quốc lộ N20. Phổ Liệt Mông Đặc là một thành phố cao nguyên với độ cao khoảng một nghìn ba trăm mét. Duy Đa Lợi Áo bảo Bang Ngạn đỗ xe ở quảng trường nhà ga.
Lúc này màn đêm đã đậm đặc. Ánh đèn từ các quán cà phê và tiệm ăn nhỏ đầy quyến rũ đối với Bang Ngạn đang đói cồn cào.
Trên quảng trường nhà ga, vô số phương tiện đỗ lại một cách lộn xộn. Ở Ý, chỉ cần chịu nộp phạt thì đỗ xe giữa đường cũng chẳng hề hấn gì.
"Tôi sẽ đi tàu trở về Milan. Tôi không muốn hỏi cậu lần này đến Monaco thực hiện nhiệm vụ gì. Nhưng tôi chúc cậu may mắn." Duy Đa Lợi Áo chìa tay ra.
"Cảm ơn!" Bang Ngạn nắm lấy tay Duy Đa Lợi Áo.
"Đến trạm hải quan biên giới, cậu cứ đưa cho họ mười franc, họ sẽ không kiểm tra vali của cậu đâu." Duy Đa Lợi Áo nói xong liền xuống xe.
"Được rồi, chúc cậu may mắn. Nhớ tìm một cô gái xinh xắn trên chuyến tàu trở về nhé." Bang Ngạn vẫy tay tạm biệt.
Tại lối vào đường hầm biên giới giáp với Pháp có một trạm hải quan. Một nhân viên hải quan đang gặm miếng xúc xích đỏ dài tới năm inch cùng củ hành tây, lững thững bước ra. Bang Ngạn đưa tấm bằng lái xe quốc tế có kẹp mười franc cho ông ta. Ông ta nhanh chóng nhét tiền vào túi, nheo một mắt, cái miệng còn dính vụn thịt nở nụ cười rồi ra hiệu cho xe đi qua.
Đường hầm xuyên biên giới dài tổng cộng năm cây số. Phía bên Pháp là một con dốc thoai thoải, đèn chiếu sáng trong đường hầm kéo dài thành một đường thẳng như dẫn tới địa ngục.
Vượt qua đường hầm là đã tới Pháp, hai nhân viên bước ra từ trạm kiểm soát hải quan biên giới Pháp. Bang Ngạn đành phải kẹp mỗi tờ mười franc vào trong hộ chiếu và bằng lái xe.
"Nếu anh muốn chơi Roulette, không cần phải tới Monaco đâu, cứ chơi ở Nice đi. Ở đó thú vị hơn nhiều." Nhân viên hải quan lớn tuổi nói.
"Chiếc xe này tuyệt thật, tôi thực sự muốn thắng một vố lớn tại bàn Roulette để mua một chiếc xe thế này!" Nhân viên hải quan trẻ tuổi vừa lẩm bẩm vừa vo tròn tờ tiền trong tay. Phía trước đường hầm là quốc lộ số 2 của Pháp. Cũng giống như phía Ý, đây là con đường núi gập ghềnh. Tuy nhiên, phía Ý là đường lên dốc, còn ở đây là xuống dốc. Chiếc xe chốc chốc lại băng qua đường sắt, chốc chốc lại chạy dọc theo con sông La Trĩ quanh co.
Bang Ngạn mở cửa sổ xe, để gió thổi tung mái tóc, hít một hơi thật sâu không khí trong lành, trong đầu hồi tưởng lại những thông tin đã đọc về quá khứ của Onassis.
Onassis sinh ra tại một con phố nhỏ tên là Slaam ở Athens, Hy Lạp. Từ năm mười tuổi, ông ta đã làm hướng dẫn viên du lịch và sống bằng nghề móc túi hành lý của du khách để nuôi gia đình. Năm mười bốn tuổi, ông ta để ba người chị gái làm gái mại dâm, còn mình thì chèo kéo khách làng chơi để cùng kiếm tiền. Ông ta lấy một nửa số tiền các chị gái kiếm được từ những lần tiếp khách đầu tiên. Năm mười tám tuổi, cơ hội trời cho đã đến, ông ta trộm được chiếc ví chứa năm mươi nghìn đô la từ túi của một triệu phú người Mỹ đến ngủ nhờ tại nhà các chị gái. Ông ta mang theo năm mươi nghìn đô la đó cùng số tiền tích góp trước kia trốn sang Argentina. Tại Buenos Aires, ông ta mở một nhà thổ cao cấp.
Năm năm sau, các nhà thổ của Onassis đã có hơn bảy trăm cô gái. Mặt khác, ông ta cũng bắt đầu nhúng tay vào các hoạt động buôn lậu.
Mười năm sau, Onassis đã trở thành một nhân vật lớn, được người ta gọi là "Đêm hoàng đế" của Buenos Aires. Những cảnh tượng xấu xí của các quan chức chính phủ đến mua vui tại nhà thổ của Onassis đều bị chụp lén lại, khiến họ từ đó về sau không bao giờ ngẩng đầu lên được trước mặt ông ta. Onassis nhờ vậy mà công khai thực hiện các hoạt động buôn lậu không chút kiêng dè.
Có lẽ chính kinh nghiệm từ các hoạt động buôn lậu đã giúp Onassis nhận ra tầm quan trọng của việc sở hữu tàu thuyền. Trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, ông ta đã sở hữu một trăm con tàu. Đồng thời, ông ta còn mua lại với giá rẻ những con tàu do các xưởng đóng tàu được chính phủ trợ cấp xây dựng, rồi bán lại với giá cao gấp nhiều lần cho chính phủ Anh - vốn đang khốn đốn vì thiếu tàu vận tải do phải dồn lực đóng tàu chiến.
Khi chiến tranh bùng nổ, Onassis chỉ giữ lại mười con tàu để buôn lậu, số còn lại đều bán cho chính phủ với giá gấp ba lần giá mua vào, từ đó kiếm được một số tiền khổng lồ. Bề ngoài, ông ta rút khỏi ngành mại dâm, dùng những con tàu treo cờ Chữ thập đỏ chở đầy lúa mì và thịt bò Argentina bán với giá chợ đen cho nước Anh đang thiếu hụt lương thực trầm trọng.
Khi chiến tranh kết thúc, tình trạng dư thừa tàu thuyền trên toàn thế giới thường xuyên xảy ra, ngành vận tải biển rơi vào cảnh ảm đạm. Tình hình sau Thế chiến thứ hai cũng không ngoại lệ. Thế là, Onassis chuyển sang thu mua tàu thuyền với số lượng lớn.
Ông ta dùng đô la, bảng Anh để hối lộ, mua chuộc các quan chức chính phủ khắp nơi, mua lại tàu vận tải và tàu chở dầu quân sự của các nước với giá rẻ, đồng thời đặt hàng những con tàu lớn tại các xưởng đóng tàu đang đình trệ sản xuất. Khi tàu đóng xong, đúng lúc thế giới rơi vào suy thoái kinh tế và lạm phát, nếu thanh toán theo giá hợp đồng ban đầu thì các xưởng đóng tàu sẽ chịu tổn thất nặng nề. Nhưng vì không có người mua nào khác, họ đành đau lòng bán lại cho Onassis. Cứ như vậy, số tàu Onassis sở hữu nhanh chóng đạt tới hàng trăm chiếc, chỉ riêng tàu trên ba mươi nghìn tấn đã có ba trăm ba mươi đến ba trăm bốn mươi chiếc, tàu chở dầu cỡ lớn ba mươi chiếc, tàu săn cá voi sáu mươi chiếc.
Khi các nước thoát khỏi tình trạng hỗn loạn sau chiến tranh, thương mại quốc tế sôi động trở lại, cả thế giới lại đối mặt với vấn đề nan giải là thiếu hụt tàu thuyền trầm trọng. Đội tàu của Onassis mà các công ty thương mại khắp thế giới thuê lại rong ruổi trên khắp các đại dương.
Onassis hiện tại có thể nói lưu loát sáu ngôn ngữ. Ông ta sở hữu những dinh thự xa hoa ở Paris, Monaco, Buenos Aires, New York, Madrid, và thiết lập văn phòng kinh doanh tại hai mươi lăm quốc gia trên thế giới.
Onassis đam mê sắc đẹp, nhưng nếu không phải là người phụ nữ nổi tiếng thì ông ta không bao giờ đụng đến. Onassis thích nhất là các nữ minh tinh và tiểu thư quý tộc, điều này phần lớn là sự trả thù cho sự tự ti thời niên thiếu nghèo khó. Nếu không khiến những người phụ nữ này quỳ dưới chân mình, ông ta không thể thỏa mãn dục vọng chinh phục của bản thân.
Ngay trong lúc ông ta đang vui vẻ với những người phụ nữ này, hàng trăm triệu đô la từ các văn phòng kinh doanh trên khắp thế giới vẫn đang chảy vào túi ông ta. Mặc dù vậy, dục vọng tham lam theo đuổi lợi nhuận của Onassis vẫn không thể được thỏa mãn.
Tại Mỹ, ông ta từng bị chính phủ Mỹ khởi kiện vì trốn thuế một trăm hai mươi triệu đô la, và bị tịch thu chiếc tàu chở dầu cỡ lớn đang neo đậu tại San Francisco. Nhưng điều đó cũng không thể khiến ông ta thay đổi ý định hay dừng tay.
Khi ký hợp đồng đặt đóng tàu du lịch xa hoa bảy mươi nghìn tấn với một xưởng đóng tàu ở Nhật Bản, ông ta lại giở trò gian lận, dùng loại mực chỉ sau một thời gian mới hiện chữ để viết những con số giá rẻ, sau đó lại dùng loại mực sau một thời gian chữ sẽ biến mất để viết đè lên những con số giá cao, tạo ra một vụ lừa đảo lớn.
Hiện tại, Onassis lại đang âm mưu kế hoạch chiếm đoạt Monaco. Đây là một đối thủ khó đối phó...
Chiếc xe vượt qua đỉnh Nice, đại dương lấp lánh sóng nước hiện ra trước mắt. Bên phải là Cannes, phía trước là Nice, bên trái là dải Riviera dưới màn đêm nối liền Monaco và bờ biển Azure.
Ánh đèn rực rỡ từ các nhà hàng, khách sạn, quán cà phê, sòng bạc lớn cùng ánh đèn của các phương tiện qua lại trên đường phố đan xen vào nhau, tạo nên một thế giới của ban ngày, khơi gợi hứng thú du ngoạn của con người.
Bang Ngạn lái xe đi qua khu biệt thự bên bìa rừng yên tĩnh, tiến vào trung tâm thành phố Nice. Đèn neon nhấp nháy trên các tòa nhà hai bên đường, những quán trà ngoài trời dưới tán dừa chật kín du khách từ khắp nơi trên thế giới.
Bang Ngạn vòng qua quảng trường De Gaulle, lái xe về phía đại lộ ven biển. Nhìn ra xa về phía bên trái đại dương, ánh đèn của thành phố Cannes như những chuỗi ngọc trai kéo dài. Trong dòng xe cộ qua lại, ánh đèn báo rẽ màu cam vàng đặc trưng của xe Pháp vô cùng nổi bật. Đại lộ ven biển dài bảy cây số, được mệnh danh là "Lối đi của người Anh", được trang hoàng lộng lẫy bởi những hàng dừa, hoa hải đường và ánh đèn đường chói lóa. Ở giữa đường và hai bên vỉa hè đỗ đầy xe mang biển số của các quốc gia. Những du khách không đủ khả năng chi trả vài chục đô la để ở lại khách sạn sang trọng, đang ăn bánh mì, phô mai, xúc xích lấy từ trong giỏ, uống rượu vang hoặc trà sữa do phục vụ mang đến, tận hưởng một bữa tối đơn giản nhưng đầy phong vị.
Một đôi tình nhân ôm chặt lấy nhau, cơ thể bất động, cứ mỗi lần ăn một miếng thức ăn hay uống một ngụm đồ uống là lại hôn nhau nồng cháy.
Trong số các khách sạn sang trọng dọc theo đại lộ ven biển, nổi bật nhất là khách sạn Lulú. Trên mái nhà, đài quan sát rộng lớn được xây dựng mô phỏng hình dáng chiếc bình cổ dài của rượu vang trông như một đóa hành hoa kết bằng ngọc, lấp lánh tỏa sáng dưới ánh đèn neon.
Bang Ngạn lái xe đến trước cửa chính của khách sạn. Nhân viên trông giữ bãi đỗ và nhân viên khuân vác hành lý vội vàng chạy tới. Bang Ngạn đưa cho mỗi người năm mươi franc tiền boa, cả hai nhìn Bang Ngạn bằng ánh mắt đầy kính trọng.
Nhân viên trông giữ xe lái chiếc Ferrari vào bãi đỗ. Nhân viên khuân vác xách vali đi về phía quầy lễ tân ở sảnh. Bang Ngạn phong thái ung dung, đội chiếc mũ mềm màu xám đi theo phía sau.
Sảnh khách sạn hầu như không một bóng người, mọi người đều đã ra ngoài sân thượng ngắm biển. Nhân viên quầy lễ tân với đôi mắt xanh nhạt ánh lên nụ cười thân thiện đang đợi sẵn Bang Ngạn.
"Ngài đã đặt phòng trước chưa ạ?" Nhân viên hỏi bằng tiếng Pháp, rồi lặp lại bằng tiếng Anh.
"Tôi đến từ đảo Louise, tên là George Peterson, là tam hoàng tử Georg Petrovsky của vương quốc Carpathian trước đây."
Bang Ngạn trả lời bằng tiếng Pháp lưu loát, đồng thời đặt hai tờ tiền mệnh giá một trăm franc cuộn nhỏ dài lên cuốn sổ đăng ký khách lưu trú mà nhân viên đang cố tình lật xem.
"À, vâng, ngài quả thực đã đặt phòng..."
Nhân viên nhanh chóng đóng cuốn sổ lại. Anh ta giúp Bang Ngạn điền tên Peterson vào tờ khai lưu trú, rồi nói nhỏ với người phục vụ đang đi tới: "Cậu đưa vị khách này lên phòng 508, phòng 'Bạch Điểu' nhé." Sau đó lại nói với Bang Ngạn: "Giá là năm trăm franc một đêm - khoảng một trăm đô la. Ngài thấy sao ạ?"
"Được, tôi dự định ở đây một thời gian, trước hết cứ thanh toán ngần này đã!" Bang Ngạn rút mười tờ tiền mệnh giá một nghìn franc từ ví đặt lên quầy lễ tân.
"Thật xin lỗi ngài. Nếu ngài có điểm nào không hài lòng về dịch vụ của khách sạn, xin cứ việc góp ý. Được tiếp đón hoàng thái tử của vương tộc Petrovsky, chúng tôi cảm thấy vô cùng vinh hạnh." Nhân viên cúi chào Bang Ngạn thật sâu, rồi đưa chìa khóa phòng 508 cho người phục vụ.