Thám tử sắt đá

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương hai
Gia thế

❊ ❊ ❊

Cha tôi chưa bao giờ muốn tôi trở thành cảnh sát, nhất là một cảnh sát Chicago. Ông thường nói về đám cảnh sát trong thành phố này là những kẻ "bán mình vì món lợi nhỏ nhoi". Ông từng là hội viên công đoàn, bị bọn cảnh sát đó đánh đập, bị tống vào tù, vì thế ông luôn căm ghét lũ chính trị gia Chicago. Dù là một chính trị gia nhỏ cai quản một khu phố, hay lớn như Big Bill Thompson cai quản thành phố Chicago, trong mắt cha tôi, bọn chúng đều là đồng loại. Còn Thompson thì nói cho đúng, chẳng phải là "người sáng lập" của thành phố, mà giống một "con mèo say rượu" hơn.

Nếu tôi chịu rời khỏi sở cảnh sát, đó hẳn là điều khiến cha tôi vui nhất. Trong những năm cuối đời ông, chuyện này như một bức tường lớn chắn ngang giữa cha con tôi. Sự nghiệp cảnh sát của tôi có lẽ là nguyên nhân chính khiến ông mất mạng, nhưng rốt cuộc thế nào, tôi cũng không rõ. Vào cái đêm ông tự sát, ông thậm chí không để lại cho tôi một mẩu giấy nhắn nào, đã dùng khẩu súng lục của tôi để kết thúc cuộc đời mình.

Gia tộc của tôi – nhánh Hắc Lặc đến từ vùng Hắc Lũy phía đông nước Đức, họ của chúng tôi cũng bắt nguồn từ đó. Vào đầu thế kỷ 19, tất cả người Do Thái sống ở Đức đều bị cưỡng bức từ bỏ họ cũ của họ, đổi sang những họ bắt nguồn từ địa danh hoặc nghề nghiệp. Nếu tôi không mang họ Hắc Lặc, thì hôm nay rất có thể tôi đã mang họ Tài Lặc rồi – một hệ thống khép kín và cô lập của xã hội, bản chất giữa cá nhân và người khác là một cuộc xung đột, bởi vì ông cố của tôi – Jacob Hắc Lặc, từng làm thợ may.

Đó là những ngày tháng khó khăn. Để xây dựng đường sắt và phát triển công nghiệp, các xưởng thủ công gia đình truyền thống đã bị giáng một đòn chí mạng, việc sử dụng máy móc đã đưa đến xã hội một lượng lớn lao động dư thừa. Cả những thanh niên trước đây kiếm sống bằng nghề dệt vải, lẫn những tráng lao động nuôi gia đình bằng xe bò vận chuyển, đều khó có thể tiếp tục sinh tồn. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, đồng thời mất mùa khiến giá lương thực tăng gấp đôi. Nhiều người phải bỏ quê hương, vượt đại dương đến Mỹ. Ông cố tôi vẫn bám trụ với công việc buôn bán của mình, dù nó cũng chịu cú sốc rất lớn, nhưng may thay ông vẫn còn mối làm ăn cố định với những người Do Thái giàu có ở Hắc Lũy – bọn cho vay nặng lãi, chủ ngân hàng, doanh nhân. Năm 1848, cả vùng Hắc Lũy bị cuốn vào cơn cuồng chính trị, ông cố tôi chỉ có thể lạnh lùng quan sát diễn biến, bởi ông không thể nào cuốn vào cơn bão đó được, những khách hàng thượng lưu kia chính là người nuôi sống ông.

Đang lúc tiến thoái lưỡng nan, một bức thư từ Vienna chuyển đến tay ông cố tôi, em trai ông là Albert đã bị giết trong cuộc nổi loạn chống lại Metternich vào ngày 18 tháng 3 năm 1848, ông ta giao toàn bộ tài sản của mình cho Rabbi Cohn của phái Cải cách Do Thái ở Vienna tạm thời giữ hộ. Cân nhắc tình hình hỗn loạn lúc đó, ông cố tôi quyết định tự mình đến Vienna lấy lại di sản của em trai. Tại Vienna, ông ở lại nhà Rabbi Cohn vài ngày, và vô cùng yêu mến gia đình Rabbi. Vị Rabbi bác học cùng gia đình niềm nở của ông ta khiến ông cố tôi tình nguyện ở lại đó, nhưng sau đó cả gia đình Rabbi bị bọn cực đoan tôn giáo chính thống đầu độc chết, ông cố tôi đành phải quay về Hắc Lũy.

Tất cả những điều này giáng cho ông cố tôi một đòn nặng nề: ân oán chính trị khiến em trai ông chết oan; tại Vienna, ông lại tận mắt chứng kiến cảnh tàn sát lẫn nhau giữa những người Do Thái. Ông vốn luôn là một người làm ăn thực tế, về chính trị, đặc biệt về tín ngưỡng tôn giáo, ông có khuynh hướng nghiêng về phái Cải cách. Nhưng sau cái chết thảm khốc của gia đình Rabbi, ông đã từ bỏ tín ngưỡng tôn giáo, trở thành một kẻ bội giáo, và Do Thái giáo từ đó biến mất khỏi gia đình chúng tôi.

Rời khỏi Hắc Lũy không phải chuyện dễ dàng, nhưng tiếp tục sống ở đó sẽ càng khó khăn hơn. Sau năm 1848, mạng lưới mật thám len lỏi khắp nơi, khiến người dân sống trong lo sợ triền miên. Còn những kẻ cực đoan chính thống Do Thái giáo thì nghiến răng nghiến lợi căm hận hành vi bội giáo của ông cố tôi, chúng đồn đại với những chủ nợ giàu có của ông rằng em trai ông cố là một kẻ cấp tiến. Thế là những người giàu có không còn lui tới tiệm may của ông cố nữa. Làm ăn lặt vặt thông thường lại khó nuôi sống gia đình. Cuối cùng, ông cố tôi quyết định dọn cả nhà đến New York, lúc đó ông nội Halem của tôi mới ba tuổi. Năm 1850, gia đình bốn người của ông cố tôi di cư sang Mỹ.

Thuở nhỏ, ông nội Halem đã phụ giúp trong tiệm may của gia đình. Đáng lẽ đây có thể là điểm khởi đầu cho sự giàu có sau này của ông, nhưng Halem đã không tiếp tục như vậy. Năm 13 tuổi, ông nội tham gia Quân đội Liên bang. Cũng như nhiều thanh niên Do Thái thời đó, ông nội hy vọng bằng hành động này để chứng tỏ lập trường yêu nước của mình: khi đó người Do Thái bị coi là một tầng lớp ăn lời, để sửa chữa quan điểm bất công này, ông nội đã chiến đấu dũng cảm, kết quả là bị trúng đạn ở cả hai chân trong trận Gettysburg.

Ông lại quay về New York. Trong thời gian ông xa nhà, cha ông bị bệnh tật giày vò lâu ngày, cuối cùng chết trong bệnh viện, mẹ ông cũng đã mất từ mười năm trước. Lúc đó, hai anh trai và em gái của ông đang tranh cãi gay gắt về gia sản, cuối cùng cô Anna mang theo phần lớn gia sản lặng lẽ rời khỏi New York, từ đó bặt vô âm tín. Hai người anh của ông nội, Jacob và Benjamin, sống ở New York nhưng xa lạ như người dưng, họ cũng rất ít khi đến thăm ông nội – một kẻ cô độc khốn khó. May thay sau đó ông nội tìm được một chân làm việc trong một nhà máy nổi tiếng vì áp bức tàn tệ ở khu may mặc, nên không bị chết đói.

Năm 1891, ông nội cưới bà nội Naomi Rivitz, bà cũng làm việc trong một nhà máy. Cha tôi, Mahalon, sinh năm 1875. Hai năm sau, chú Louis của tôi ra đời. Năm 1884, ông nội vì lao lực sinh bệnh, không thể chịu nổi cuộc sống phi nhân trong nhà máy nữa, đành phải về nhà chăm sóc hai đứa con, còn bà nội tiếp tục làm lụng vất vả nuôi sống gia đình. Lại hai năm sau, một trận hỏa hoạn thiêu rụi căn hộ chung cư mà ông nội thuê, nhiều người chết trong biển lửa. Bà nội đưa cha và chú tôi ra ngoài an toàn, rồi lại quay vào tìm ông nội, lần này cả hai người không ai ra nữa.

Cô Anna của cha – tự xưng là đã lấy phần tài sản mình đáng được hưởng – sau nhiều năm xa cách đã liên lạc lại với những người khác trong nhà, cho họ biết sự "vinh quang" hiện tại của bà ta, thế là cha và chú tôi được gửi đến Chicago sống với cô Anna. Xuống tàu hỏa, lên xe điện, hai cậu bé mở to đôi mắt tò mò không được đưa đến khu Do Thái định cư ở Chicago – West Side, mà được đưa đến khu đèn đỏ nổi tiếng của thành phố – Levee District. Ở đó, biển hiệu "trung tâm mát-xa", "trung tâm làm đẹp" mọc lên khắp nơi, vừa có "Câu lạc bộ Everleigh" nổi tiếng nhất thành phố – do hai chị em Ida và Minna mở, vừa có vô số nhà chứa hạng bét tiếng tăm không tốt. Cô Anna "vinh quang" của họ chính là chủ một nhà chứa hạng bét.

Dĩ nhiên, cô Anna không phải là gái bán dân ở tầng đáy, bà ta có một chỗ "vinh quang" trong đám nhà chứa hạng bét san sát nhau đó. Những kiến trúc của các nhà chứa nhỏ đều rất tồi tàn, một trong số đó đã từng thuộc sở hữu của giám đốc sở cảnh sát, vài cái khác thuộc sở hữu của Carter Harrison, người từng đắc cử thị trưởng Chicago năm lần liên tiếp. Trên phố còn có những căn nhà tạm bợ lần lượt nối tiếp nhau, bên trong chỉ có một chiếc giường và một chiếc ghế, giường dành cho gái điếm và khách làng chơi, ghế dùng để để quần của khách. Qua các cửa bí mật hoặc cửa phòng, một vị khách không mời mà thường xuyên vào những lúc khó xử, đòi thêm một khoản phí phụ, thông thường khách làng chơi đều ngoan ngoãn trả tiền.

Ở đầu bên kia khu phố là "Câu lạc bộ Everleigh" và trước mặt nó là nhà chứa cao cấp thuộc sở hữu của Carrie Watson. Trong tòa nhà ba tầng màu nâu, có năm phòng khách, mỗi phòng khách lại có năm lối vào khác nhau. Ngoài ra, bên trong còn có hai mươi phòng ngủ, một phòng bi-a, và một sân chơi bowling dưới hầm. Trang trí nội thất bằng gấm đỏ hồng, đồ ngủ bằng tơ tằm, ga trải giường bằng vải lanh, rượu vang đựng trong thùng bạc, và cốc uống cao bằng vàng... tất cả đều thể hiện sự "tráng lệ xa hoa".

Rẽ qua một góc nữa là nhà chứa của cô Anna, bên trong cũng có rượu vang, tổng cộng mười mấy cô gái uống rượu vang trong bữa sáng của chúng. Lúc đó khoảng một giờ chiều, chúng ngồi quây quần bên bàn nhâm nhi bữa "thức ăn lỏng" thứ ba (ít nhất là thứ ba) trong ngày ngắn ngủi của chúng. Mỗi trưa, người giúp việc da đen đánh thức đám "hoa tàn liễu rũ" này dậy khỏi giường, nhờ hiệu quả của rượu Absinthe chúng trang điểm, rồi xuống ăn sáng. Chẳng bao lâu, các cô gái ngồi thành từng cặp bên cửa sổ, ném ánh mắt liếc mắt đưa tình về phía đàn ông đi qua. Nếu ai có hứng thú, họ có thể lại gần cửa sổ xem "quần áo" mà các cô gái mặc – đó cũng gọi là "quần áo"! Chúng thường để hở ngực hở lưng, thế là mối lái nhanh chóng thành công. Đến bốn năm giờ sáng hôm sau, "công việc" của các cô mới tạm kết thúc, chúng hoặc tìm cuốn tiểu thuyết để xoa dịu cơn buồn ngủ, hoặc uống say bí tỉ.

Các cô gái dưới tay Anna Hắc Lặc đều sống một cuộc đời mơ màng như thế. Anna biết cách khoác lác rằng mình đối xử với các cô gái thế nào là quan tâm chu đáo, mặc dù cảnh tượng như trong rạp xiếc thuần thú mỗi tháng cũng diễn ra ba bốn lần. Trời mới biết làm thế nào các cô gái ấy sống sót qua những lời dối trá của Anna! Trong căn nhà nơi Anna tự ở, bà ta nuôi sáu tên "quý ông" da đen. Bà ta còn thường xuyên đến các thành phố khác chiêu mộ nhân sự mới cho công việc buôn bán của mình, bằng cách hứa hẹn với các cô gái từ mười ba đến mười bảy tuổi rằng sẽ cho chúng làm diễn viên để lừa chúng mắc câu. Thủ đoạn lừa gạt thì nghìn vạn đổi thay, nhưng kết cục của các cô gái sau khi mắc câu thì một đi không thay đổi. Cô gái bao giờ cũng bị khỏa thân không mảnh vải nhốt trong phòng, bị sáu tên "quý ông" da đen hãm hiếp. Chẳng bao lâu, cô gái sẽ buông xuôi theo sự sắp đặt của "cuộc sống", lặng lẽ ngồi uống rượu vang trong bữa sáng. Nghe nói sự việc cứ lặp đi lặp lại như vậy.

Cha tôi không ưa cô của mình, càng không ưa "công việc buôn bán" của bà ta, cũng như cách đối xử thô bạo của bà ta đối với các cô gái. Bà ta thường tát vào mặt những cô gái say rượu, gọi chúng là "đồ đê tiện", và thường giật từ tay chúng những đồng tiền boa mà khách nhét cho chúng. Anna cũng không ưa cái cách cha tôi nhìn bà ta – một ánh nhìn khinh miệt không che giấu, giống như một hòn đá tĩnh lặng, cha tôi thường dùng cách đó để biểu lộ sự căm ghét, vì thế cha tôi cũng thường bị đòn.

Anna và chú Louis của tôi ngược lại rất hòa hợp. Phòng khách của nhà chứa là một nơi thú vị, nhưng chỉ có phòng khách của nhà chứa cao cấp thỉnh thoảng mới có thể thu hút được những khách hàng lớn như chính trị gia, doanh nhân thành đạt, chủ ngân hàng. Louis nhất định đã bị mê hoặc bởi lối sống của những người này, hoặc bị thu hút bởi cảnh phô trương bề ngoài của họ, từ đó mà nảy sinh tình yêu đối với chủ nghĩa tư bản. Dĩ nhiên, Anna là một người ủng hộ chủ nghĩa tư bản chính tông, cho nên chú Louis có lẽ đã hấp thụ điều đó từ bà ta. Qua cách Anna nịnh nọt những chính trị gia và khách quý hiếm hoi, Louis đã học được cách nịnh bợ, và dùng chiêu đó đối với Anna, để thỏa mãn lòng hư vinh bệnh hoạn của bà ta. Chiêu này rất hiệu quả, khi ba năm sau cha tôi buộc phải bỏ học để làm người gác cửa nhà chứa, thì chú Louis lại được gửi đến một trường nội trú ở phía Đông.

Cha tôi vì thế cũng không ưa chú Louis, chú Louis lại giả vờ không hay biết gì, ít nhất là trước khi chú rời khỏi "nhà" để đến trường nội trú phía Đông, nếu một nơi nhơ bẩn như thế cũng có thể gọi là "nhà". Anna và cha tôi chỉ nhất trí ở một điểm: đó là cả hai đều căm ghét sâu sắc cảnh sát. Cha tôi ghét nhìn thấy cảnh sát tuần cảnh hàng tuần đến thu phí bảo kê 2 đô la 50 xu, ngoài ra còn phải có rượu mạnh, đồ ăn, phụ nữ đi kèm. Anna cũng ghét phải mất không 2 đô la 50 xu, cùng rượu, đồ ăn và các cô gái của mình. Những tên cảnh sát tuần cảnh như thú vật không phải là những kẻ ăn không ngồi rồi duy nhất, các sĩ quan cảnh sát từ đồn Harrison cũng thường xuyên giơ tay đòi tiền, cùng với những chính trị gia đứng sau lưng chúng. Vì thế cha tôi căm thù lũ chính trị gia hèn hạ, còn em trai ông là Louis lại thèm muốn cuộc sống của chúng.

Sau khi tốt nghiệp trường nội trú, chú Louis được cô Anna gửi đến miền Tây Bắc tiếp tục học sâu. Anna rất tự hào về người cháu này, mỗi lần đều dẫn người cháu yêu quý của mình tham dự vũ hội Giáng sinh của Khu Một. Ở đó, các quan chức cao cấp và danh nhân chính khách tụ hội vui vẻ. Louis không chỉ có thể chiêm ngưỡng phong thái của các danh gia quan lại địa phương, mà còn có thể tán dóc vài câu với các chủ ngân hàng, luật sư, tổng giám đốc công ty đường sắt, cùng các doanh nhân thành đạt, cảnh sát trưởng, thậm chí ủy viên chức vụ quan trọng. Dĩ nhiên, những dịp như vậy cũng không thể thiếu bọn ma cô, chủ nhà chứa, gái điếm, kẻ cắp, kẻ nghiện thuốc phiện – những cặn bã xã hội. Tất cả đều đã qua cải trang, đàn ông thường hóa trang thành kỵ sĩ lịch thiệp hoặc người lực sĩ uy lực vô song, phụ nữ thường hóa trang thành thiếu nữ Ấn Độ, thiếu nữ Ai Cập hoặc thiếu nữ Nhật Bản. Báo chí chê bai những trò cải trang của họ là "hình ảnh thu nhỏ" của xã hội Chicago. Vũ hội thường được tổ chức vài ngày trước Giáng sinh, mỗi lần đều chật cứng Nhà hát Tròn của Chicago, mỗi năm ít nhất hai vạn rưỡi đô la nhờ đó chảy vào túi Hattie và Bathhouse.

Vũ hội thường do thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Chicago của Khu Một, John Coughlin, làm chủ tọa khách mời. Ông ta mặc trang phục kỳ dị, đeo nơ tía, choàng dải ruy băng đỏ chéo người, cao giọng ngâm một hai bài "đại tác" thô tục tự viết. Người chèo lái Câu lạc bộ Lewee – Hattie Dick – là một nhân vật tiêu điểm khác trên vũ hội. Hắn là một gã nhỏ thông minh, vừa hút xì gà, vừa tranh thủ thời cơ chào mời việc buôn bán cho sàn giao dịch Folkman của mình. Dưới nỗ lực của hắn, giá mua mỗi phiếu bầu ở Chicago được cố định là 50 xu. Vì sự xuất hiện của những "nhân vật phong vân" này trên vũ hội, báo cáo điều tra hình sự bang Illinois gọi vũ hội Giáng sinh Khu Một là "Lễ hội hóa trang Địa ngục hàng năm". Hattie Dick khinh thường điều đó, hắn nói: "Chicago không phải nơi để lũ nhát gan sống lay lắt."

Khi chú Louis bị vũ hội Giáng sinh Khu Một mê hoặc đến hồn xiêu phách lạc, cha tôi đã đi xa lâu rồi. Năm 1893, khi Hội chợ Thế giới lần thứ nhất ở Chicago khai mạc, việc buôn bán của Anna Hắc Lặc cũng phát đạt theo, bà ta nhờ đó lừa gạt thêm nhiều cô gái lên thuyền giặc, và liên tục sử dụng "chính sách gậy gộc" của mình. Gậy gộc vừa dùng với các cô gái, vừa dùng với cha tôi. Lúc đó, bệnh giang mai đã bắt đầu xâm nhập vào não của cô Anna, có lẽ đây là nguyên nhân hành vi biến thái của bà ta. Sau khi cô ta ngược đãi vô nhân tính một cô gái trẻ, sự khinh miệt tĩnh lặng như đá của cha tôi cuối cùng như núi lửa bùng nổ, Anna vác một con dao thái lao về phía cha tôi, vết sẹo trên vai ông dài tới năm inch. Lâu lắm sau, cô Anna mới mời bác sĩ đến chữa thương cho cha, sau đó cha tôi lên chuyến xe lửa chở hàng đi về phía Nam.

Gần đường số 115, cha tôi bị đuổi xuống tàu hỏa, trở thành công nhân Nhà máy Pullman gần đó. Một năm sau, ông tham gia bãi công, và vì lập trường cứng rắn của mình, ông mất việc sau khi cuộc bãi công kết thúc.

Trải nghiệm này từ đó trở thành điểm khởi đầu cho công việc công đoàn của cha, ông làm việc trong Công đoàn công nhân Hebrew gần West Side, lại làm việc trong Công đoàn Wobblies gần phía Bắc, sau đó trở thành người tổ chức công đoàn. Ông đổi qua nhiều nhà máy, dù ở đâu, ông cũng là trụ cột trong các hoạt động công đoàn và bãi công.

Chú Louis đi theo một con đường hoàn toàn khác. Bây giờ chú đã là chủ nhiệm phòng tín thác của "Ngân hàng Dawes", ngân hàng nổi tiếng do Charles Gates Dawes – từng giữ chức Phó Tổng thống thời Coolidge – sáng lập, tên chính thức của nó là "Công ty Tín thác Trung ương Illinois", một trong những ngân hàng hàng đầu ở Chicago. Cô Anna chết trong bệnh viện tâm thần vào năm chú Louis tốt nghiệp trường Northwestern, vì thế chú Louis thuận lý thành chương thừa kế một khoản tài sản lớn, không phải trải qua gian nan tay trắng dựng cơ đồ. Mặc dù số tiền ấy đến từ nhà chứa hèn hạ và đám gái điếm bán thân, chú Louis vẫn nhờ đó lột xác, bỏ lại quá khứ dơ bẩn sau lưng.

Bởi vậy mỗi lần gặp nhau giữa cha tôi và chú đều đầy mùi thuốc súng, một bên là nhân viên ngân hàng trẻ tuổi tiền đồ rộng mở, một bên là công nhân cấp tiến cống hiến cho tổ chức công đoàn, thường cuộc gặp kết thúc bằng việc cha tôi hô khẩu hiệu, còn chú im lặng không nói. Chú quen dùng cách im lặng để tỏ thái độ khinh miệt đối với lời nói và hành động của cha, chú cho rằng mình hoàn toàn không cần hạ mình trả lời câu hỏi của cha, thú vị thay, cách phản kháng im lặng này vốn là sở trường của cha. Ngoài việc tham gia hoạt động công đoàn ra, cha vẫn luôn là người kiềm chế được tính khí của mình, như thể trong năm mất mùa

Cha tôi đã quen với cuộc sống gian khổ, và dì Anna đã sớm nhận ra điều đó. Cha luôn có sức khỏe rất tốt, thể hình ông tương đương tôi, cao khoảng sáu feet, nặng tầm bảy mươi đến tám mươi ký. Dẫu vậy, một tháng tù tội vẫn giáng đòn chí mạng lên sức khỏe của ông; sau khi được thả, ông sụt mất khoảng mười ký. Ba bữa ăn trong tù rất tệ hại, bữa sáng chỉ có vài lát bánh mì, bữa trưa là bánh mì với canh loãng, còn bữa tối vẫn là bánh mì kèm theo một thứ hỗn hợp kỳ quặc, bên trong có đậu Hà Lan, "vụn" thịt bò cùng vài thứ khó lòng nhận diện khác. Khẩu phần ăn cực kỳ ít ỏi, cha và bạn tù chỉ sống lay lắt qua ngày nhờ ba lát bánh mì mỗi ngày. Kỳ lạ thay, cha luôn miệng nói đó là loại bánh mì nướng giòn nhất mà ông từng ăn. Do hít phải quá nhiều bụi bặm khi làm việc ở mỏ đá, cha thường xuyên ho hắng, nhưng ông luôn tự hào về thắng lợi đạo đức của mình, hãnh diện vì bản thân có thể trở thành một "kẻ tử vì đạo" của công đoàn.

Tuy nhiên, Janet không nhiệt tình với chuyện này như cha, bà cũng chẳng thấy được ý nghĩa sâu xa gì ở đó. Bà lo lắng cho tình trạng sức khỏe của cha sau khi ra tù, đồng thời cũng chẳng muốn chịu đựng thêm nỗi phấp phỏng âu lo và đau lòng xót dạ mỗi khi phải rửa vết thương và băng bó cho ông sau những vụ ẩu đả vì đình công. Trước khi vào tù, cha đã cầu hôn bà, chính thức xin cha mẹ Janet gả con gái cho ông, và Janet đã đồng ý cân nhắc. Giờ đây, bà nói rằng chỉ cần cha hứa với bà một điều, bà sẽ gả cho ông.

Thế là cha rời khỏi công đoàn.

Cha rất thông thạo phố Maxwell, ông từng dạy các khóa học về chính trị và công đoàn ở đó. Ông không muốn làm việc cho công ty của giới tư bản, ví dụ như ngân hàng chẳng hạn, ông để dành những nơi như thế cho người em trai Louis; hơn nữa, ông cũng không thể quay lại nhà máy làm việc, hầu hết các nhà máy ở Chicago đều liệt tên ông vào danh sách đen, còn những nơi chưa làm vậy thì rất có thể sẽ lại khơi dậy lòng nhiệt huyết công đoàn trong lòng cha. Thế nên, cha dựng một quầy sách nhỏ trên phố Maxwell, bán sách mới và sách cũ, chủ yếu là tiểu thuyết bình dân, ngoài ra còn có một ít văn phòng phẩm — bút máy, bút chì, tập vở — để thu hút lũ trẻ, chúng chính là những khách hàng tốt nhất của cha. Mặc dù phụ huynh của lũ trẻ và Janet, người vốn nhạy cảm với chính trị, không hề hài lòng về những cuốn sách có màu sắc chính trị rõ rệt như "Buffalo Bill" hay "Nick Carter" trên quầy của cha, ông vẫn cứ làm theo ý mình. May thay, không khí cởi mở ở phố Maxwell giúp những cuốn sách chính luận này không gây rắc rối cho cha.

Phố Maxwell nằm cách Loop một dặm về phía tây nam, là trung tâm của khu vực người Do Thái sinh sống với bán kính một dặm vuông, cũng là khu vực kinh doanh thương mại. Trong trận đại hỏa hoạn năm 1871, tương truyền là do con bò sữa của ông O'Leary đá đổ một chiếc đèn dầu, phố Maxwell đã may mắn thoát nạn. Sau đám cháy, một làn sóng người tị nạn mất nhà cửa ồ ạt đổ về phố Maxwell, mật độ dân số nơi đây tăng vọt, kéo theo hàng loạt tiểu thương, trong đó rất nhiều người là dân Do Thái đẩy xe hai bánh. Chẳng bao lâu sau, mặt phố đã chật kín những ông lão Do Thái để râu, tà áo dài của họ quét qua quét lại trên những lối đi bộ bằng gỗ đầy bụi bặm, dưới ánh nắng gay gắt, những chiếc mũ đen của họ bạc phếch thành màu xám. Họ rao bán đủ loại hàng hóa suốt cả ngày: giày dép, trái cây, tỏi, ấm sắt, chảo rán, gia vị, vân vân.

Khi cha tôi bày quầy bán sách ở đó, phố Maxwell đã trở thành trung tâm chợ búa của Chicago, người giàu kẻ nghèo đều đổ về đây mua sắm. Những tấm bạt che mưa của các tiểu thương san sát nhau, dày đặc đến mức đi trong lối đi hẹp ở giữa chẳng khác nào xuyên qua một đường hầm tăm tối, vì vậy, thương nhân hai bên đều treo đèn chiếu sáng để khách hàng nhìn rõ món đồ mình muốn mua — tuy nhiên những chiếc đèn đó độ sáng rất kém, để tránh khách hàng phát hiện ra hàng hóa của chủ tiệm là những đôi tất lòi ngón chân, bàn chải đánh răng đã qua sử dụng, áo sơ mi lỗi mốt cùng nhiều thứ hàng hóa đặc trưng khác của phố Maxwell. Tôi cũng không nói rõ đặc trưng của phố Maxwell là gì, nhưng tôi biết rất rõ mùi của nó: mùi hành tây chiên, ngay cả mùi rác thải đốt trong thùng rác cũng không thể lấn át được cái mùi đặc thù này. Đi kèm với mùi hành tây chiên là hơi nóng bốc lên nghi ngút từ những chiếc hot dog, thịt nguội hành tây, ăn kèm với bánh mì tròn tươi mới, điều này đủ để khiến không khí sống ở phố Maxwell trở nên như thiên đường.

Cha và cô dâu mới chuyển vào một căn nhà nhỏ nằm giữa phố 12 và phố Jefferson, căn nhà này nằm trong một tòa nhà điển hình của phố Maxwell: tòa nhà ba tầng vách gỗ, mái lợp nhựa đường, cầu thang ngoài. Trong mỗi tòa nhà có khoảng chín căn hộ và tám mươi người cư trú, một căn hộ ba phòng có thể chứa tới mười hai người. Gia đình Heller sống riêng trong căn hộ nhỏ của họ, dùng chung một nhà vệ sinh với hai, ba mươi hộ dân khác, mỗi tầng chỉ có một nhà vệ sinh duy nhất.

Tôi có thể tưởng tượng ra cuộc sống tĩnh lặng ngột ngạt mà cha đã trải qua, cuộc sống công đoàn từng chiếm phần lớn năng lượng của ông, nay tất cả đã trở thành chuyện cũ. Nơi ông bày quầy sách, mùi tiền của chủ nghĩa tư bản còn nồng nặc hơn cả những ngân hàng mà ông căm ghét tận xương tủy. Một người đọc rộng hiểu nhiều và giàu trí tuệ như cha, tuyệt đối không thể không cảm nhận được sự trớ trêu trong đó, vì thế toàn bộ trọng tâm cuộc sống của ông đều đặt vào người vợ Janet yêu dấu, cùng với niềm hy vọng về tương lai gia đình.

Thế nhưng, thể chất của mẹ vẫn rất yếu ớt, năm 1905, vì sự ra đời của tôi, bà suýt chút nữa đã mất mạng. Một bà đỡ từ hiệu thuốc phố Maxwell đã cứu mạng cả hai mẹ con, sau đó, bà đỡ ấy còn dùng những lời lẽ mang tính chiến lược khuyên nhủ cha một cách tế nhị rằng, Nathan Samuel Heller tốt nhất nên là đứa con duy nhất của họ.

Tuy nhiên, thời đó gia đình đông con mới là hình mẫu lý tưởng, kết quả là vài năm sau, mẹ qua đời vì sảy thai. Trước khi bà đỡ kịp đến, mẹ đã nhắm mắt trong đôi tay đẫm máu của cha. Tôi nghĩ có lẽ lúc đó tôi đã đứng bên cạnh, chứng kiến cảnh tượng này, hoặc là cha đã kể lại cho tôi nghe bằng giọng trầm đục đầy chân thực, dù sao đi nữa, tôi vẫn thường nhớ lại cảnh tượng ấy. Khi mẹ qua đời vào năm 1908, tôi chưa đầy ba tuổi.

Cha không bao giờ bộc lộ nỗi đau buồn của mình, điều đó không giống với tính cách mạnh mẽ của ông, tôi thậm chí không nhớ nổi mình đã từng thấy ông rơi lệ hay chưa, thế nhưng mất mẹ là một đòn giáng nặng nề đối với ông. Nếu lúc đó cha có người thân đáng tin cậy để dựa vào, thì rất có thể tôi đã được một người dì hay ai đó nhận nuôi. Sau này tôi mới biết, chú Louis cùng chị em và một người anh trai của mẹ đều từng đề nghị nhận nuôi tôi, nhưng cha đều từ chối tất cả. Sau khi mẹ mất, tôi trở thành tất cả của ông, là kỷ niệm duy nhất mà mẹ để lại. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng tôi thân thiết khăng khít, mặc dù từ sáu tuổi tôi đã bắt đầu phụ giúp ở quầy sách, tôi và cha vẫn có rất ít điểm chung. Điểm duy nhất chúng tôi giống nhau là cả hai đều thích đọc sách, nhưng tôi đọc sách chỉ để giải trí, hoàn toàn không thể so bì với cha. Mười tuổi, tôi bắt đầu đọc những câu chuyện trinh thám về Nick Carter và bộ tiểu thuyết Sherlock Holmes bìa cứng, theo năm tháng, mong muốn trở thành thám tử của tôi ngày càng mãnh liệt.

Môi trường cộng đồng ngày càng tồi tệ. Kinh doanh ở phố Maxwell quả thực có lợi nhuận, nhưng sống ở đó chẳng khác nào sống trong cơn ác mộng. Tòa nhà chúng tôi ở chật kín một trăm ba mươi người, biến thành một khu ổ chuột đúng nghĩa, hàng xóm xung quanh đều nhìn hai cha con chúng tôi với ánh mắt đố kỵ vì chúng tôi thuê được một phòng riêng. Gần phố Maxwell có rất nhiều xưởng bóc lột, điều này rất có thể sẽ khơi dậy lại "phức cảm công đoàn" trong máu cha, hơn nữa bệnh tật hoành hành nơi đây — khi mẹ mất vì sảy thai, bệnh cúm đang càn quét khắp phố, cha luôn cho rằng chính nó đã cướp đi sinh mạng của bà, có lẽ nghĩ như vậy khiến ông cảm thấy dễ chịu hơn một chút. Xung quanh luôn nồng nặc mùi thùng rác, nhà vệ sinh và chuồng ngựa. Điều khiến cha bất an hơn là, trường học Welsh nơi tôi theo học thường xuyên xảy ra ẩu đả, mặc dù tôi luôn cẩn thận hết mức để không bị cuốn vào, nhưng vẫn thường xuyên chứng kiến cảnh những cậu bé dùng dao hoặc súng để đánh nhau đẫm máu, mà phần lớn chúng chỉ mới bảy, tám tuổi, những đứa lớn hơn thì càng vô pháp vô thiên. Sau khi tôi bình yên trải qua hai năm ở trường Welsh, cha tuyên bố chúng tôi phải chuyển nhà. Tôi muốn biết khi nào, nhưng ông nói ông cũng không rõ, dù sao thì chúng tôi cũng phải đi.

Ngay từ khi tôi bảy tuổi, tôi đã biết rõ cha không phải là một người kinh doanh nhạy bén. Bán tiểu thuyết bình dân và văn phòng phẩm chỉ đủ cung cấp thu nhập ổn định cho ba bữa cơm, nhưng chẳng tích góp được gì, hơn nữa khi cha làm việc quá sức, đầu ông sẽ đau — sau này tôi mới biết đó gọi là "chứng đau nửa đầu chu kỳ", những lúc đó quầy sách của ông phải đóng cửa vài ngày. Tất nhiên, chứng đau nửa đầu của ông là sau khi mẹ mất mới mắc phải.

Mặc dù cha vô cùng miễn cưỡng, nhưng cuối cùng ông vẫn phải tìm đến chú Louis. Vào một buổi chiều Chủ nhật, ông đến nhà chú Louis ở khu căn hộ cao cấp công viên Lincoln bên bờ hồ. Chú Louis giờ đã là trợ lý phó giám đốc ngân hàng Dawes, một doanh nhân giàu có và thành đạt, nói ngắn gọn là hoàn toàn trái ngược với cha. Khi cha yêu cầu chú Louis cho vay tiền, người em trai đáp: "Tại sao không đến ngân hàng? Tại sao lại đến nhà tôi? Hơn nữa, sau bao nhiêu năm như vậy, tại sao tôi phải giúp anh?"

Cha nói: "Vì giữ thể diện cho cậu nên tôi mới không đến ngân hàng, tôi không muốn người em trai đang phất lên của mình cảm thấy mất mặt, vì anh trai nó là một kẻ bán hàng rong rách rưới ở phố Maxwell đến cầu xin người em chủ ngân hàng giúp đỡ, điều này có thể khiến cậu cảm thấy không thoải mái. Tuy nhiên..." cha nhấn mạnh giọng, "nếu cậu không thấy xấu hổ vì điều đó, tôi tất nhiên có thể đến ngân hàng của cậu hết lần này đến lần khác, cho đến khi cậu đồng ý cho tôi vay tiền. Có lẽ, đồng nghiệp và những khách hàng hiếu kỳ của cậu sẽ không bận tâm việc anh trai cậu là một kẻ bán hàng rong rách rưới, hay là một kẻ vô chính phủ, một thành viên công đoàn; có lẽ họ cũng không bận tâm việc hai anh em chúng ta đều được nuôi lớn bởi một mụ tú bà, như vậy họ sẽ hiểu tài sản của cậu cũng giống như tiền của họ, đều là nhờ bóc lột mồ hôi nước mắt của người khác mà có."

Nhờ khoản vay này, cha mở một hiệu sách nhỏ ở khu vực gần North Lawndale gọi là "công viên Douglas". Phía trước là mặt tiền cửa hàng nhỏ, phía sau có ba căn phòng: bếp, phòng ngủ và phòng khách, phòng khách cũng chính là phòng ngủ của tôi. Điều làm chúng tôi hài lòng nhất là chúng tôi đã có nhà vệ sinh trong nhà. Tôi chuyển sang học tại trường Ravison đối diện hiệu sách Heller. Cha vẫn duy trì cuộc sống của hai cha con bằng việc bán văn phòng phẩm và tiểu thuyết giá rẻ, ông mất tổng cộng mười hai năm mới trả hết khoản nợ cho chú Louis, lúc đó là khoảng năm 1923.

Vì cha là người không bao giờ bộc lộ cảm xúc, nên tôi mãi không biết rằng mình mới là tất cả cuộc sống của ông, cho đến tận hôm nay, tôi mới thấu hiểu sâu sắc điều đó. Tôi hiểu ông tự hào về mỗi điểm số tốt mà tôi đạt được, và giờ tôi mới hiểu việc chuyển nhà hoàn toàn là vì lợi ích của tôi, có thể đổi sang một ngôi trường an toàn hơn, cũng không cần tốn quá nhiều thời gian chăm sóc công việc kinh doanh cho cha như trước. Cha vẫn là một doanh nhân không mấy nhạy bén, số lượng sách chính trị và kinh tế ông dự trữ vượt xa tiểu thuyết phổ biến, trong mắt ông, chỉ có những cuốn như "The Jungle" của Sinclair mới xứng đáng là tiểu thuyết phổ biến. Hơn nữa, ông luôn từ chối bán kẹo và đồ chơi giá rẻ trong hiệu sách, trong khi những thứ này mới là thứ thu hút nhiều khách hàng học sinh trường Ravison hơn. Đối với cha, văn phòng phẩm và tiểu thuyết bình dân là sự nhượng bộ lớn nhất mà ông dành cho lý tưởng trước đây. Mặc dù chúng tôi sống trong một khu vực chủ yếu là người Do Thái, cha cũng kiên quyết không bán những cuốn sách liên quan đến tôn giáo. Sự yêu thích đối với đồ ăn Do Thái là điểm duy nhất mang màu sắc Do Thái trên người cha, tôi cũng vậy, ở điểm này, chúng tôi rất giống nhau.

Cha muốn tôi vào đại học, đây là ước mơ ấp ủ từ lâu của ông, còn tôi chọn chuyên ngành gì thì cứ tùy ý, ông chẳng hề bận tâm. Dù là làm bác sĩ hay luật sư, điều ông hy vọng chỉ là tôi có thể vào đại học. Tôi nghĩ nếu tôi làm giáo viên thì có lẽ ông sẽ cảm thấy vui, nhưng đó chỉ là suy đoán của tôi mà thôi. Điều duy nhất ông xác định rõ về lựa chọn nghề nghiệp của tôi là ông không muốn tôi trở thành một thương nhân, dù là nhà tư bản lớn như chú Louis hay kẻ bán hàng rong như ông, thế nên tôi luôn làm ông yên tâm rằng mình tuyệt đối sẽ không đi theo con đường đó. Từ năm mười tuổi, mong muốn trở thành thám tử của tôi ngày càng mãnh liệt, đó là lý tưởng duy nhất của tôi. Cha đáng lẽ nên lắng nghe những lời tâm sự của tôi như hầu hết những người cha khác, nên biết rằng có những đứa trẻ sau khi lớn lên đã thực hiện được ước mơ làm lính cứu hỏa từ thuở nhỏ. Đáng tiếc là thời niên thiếu, cha không mấy để tâm đến lý tưởng này của tôi, cũng giống như bao bậc cha mẹ khác, họ hiếm khi dành cho con cái sự quan tâm mà chúng xứng đáng có được, nhưng trong lòng đứa trẻ, có những việc là rất nghiêm túc.

Khi tôi tốt nghiệp trung học, cha hãnh diện trao cho tôi năm trăm đô la, trời mới biết ông đã mất bao lâu để dành dụm được khoản tiền lớn như vậy. Ông bảo tôi rằng ông không muốn hạn chế cách tôi tiêu số tiền này, nhưng ông hy vọng tôi có thể dùng nó để vào đại học. Để làm ông vui, tôi đã học hai năm tại đại học Crane. Thế nhưng trong thời gian đó, công việc kinh doanh hiệu sách của cha dần xuống dốc, vì ông một mình trông coi, lại thường xuyên phải đóng cửa do đau đầu, nên tôi quyết định về nhà phụ giúp. Ông hy vọng sau khi dành đủ học phí tôi có thể quay lại trường, tôi bảo ông rằng tôi nghĩ hai năm đại học là đủ rồi. Theo lệ thường, chúng tôi không bàn thêm về chuyện này nữa, mỗi người làm theo cách của mình.

Vào cái ngày tôi nói với cha rằng mình đã nộp đơn vào sở cảnh sát Chicago, hai cha con đã xảy ra cuộc cãi vã đầu tiên. Đó là lần đầu tiên trong đời cha gào thét với tôi, và cũng là lần cuối cùng. Sau đó, ông lại quay về thái độ mỉa mai khinh khỉnh, dù có tranh cãi thì cũng rất trầm lắng. Thái độ của cha lúc đó khiến tôi vô cùng bàng hoàng, tôi nghĩ ông cũng bị sốc trước hành động phản kháng của tôi. Mặc dù lúc đó tôi đã hai mươi bốn tuổi, nhưng cha vẫn coi tôi là một đứa trẻ. Tuy nhiên, sau khi gào thét một trận, ông lại cười bảo tôi: "Con không đời nào có được công việc đó đâu, con không có chỗ dựa, không có tiền, càng chẳng có người ủng hộ." Cuộc cãi vã của chúng tôi kết thúc như vậy.

Tôi chưa bao giờ nói với cha rằng chính chú Louis đã sắp xếp cho tôi vào sở cảnh sát, nhưng chắc chắn cha thừa biết điều đó. Đúng như ông nói, muốn có được công việc như vậy, hoặc là phải có người, hoặc là phải có tiền. Chú Louis là nhân vật lớn duy nhất tôi quen ở Chicago, giờ chú đã là phó chủ tịch ngân hàng Dawes, nên tôi đã tìm đến chú nhờ giúp đỡ.

Chú Louis nói: "Nate, cháu chưa từng yêu cầu chú điều gì, lần này là ngoại lệ. Nhưng chú sẽ tặng cháu một món quà, ngoài ra đừng trông mong gì thêm từ chú. Cứ yên tâm, chú sẽ sắp xếp món quà này thật tốt." Tôi hỏi đó là gì, chú nói: "Chú sẽ nhắc chuyện này với A.J." A.J chính là Cermak, lúc đó ông ấy chưa là thị trưởng, nhưng đã là nhân vật nắm thực quyền trong thành phố.

Thế là tôi vào sở cảnh sát, mặc dù vẫn sống ở nhà, nhưng mối quan hệ giữa tôi và cha không bao giờ quay lại như trước được nữa. Vai trò không mấy vẻ vang của tôi trong vụ án Ringer đã khiến tôi từ một cảnh sát giao thông nhỏ bé vươn lên thành một thám tử mặc thường phục. Chẳng bao lâu sau, cha dùng súng của tôi chĩa vào đầu mình.

Khẩu súng đó chính là khẩu súng tôi đang dùng hôm nay, tôi đã dùng nó bắn chết một gã thanh niên trong văn phòng của Frank Nitti.

[DeepSeek phụ dịch] C.2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026