Marjorie Bristol đứng dưới ánh trăng, tĩnh lặng và tuyệt mỹ tựa như một bức tượng - một bức tượng quyến rũ và đáng yêu. Nếu nàng là một tác phẩm nghệ thuật, thì nghệ sĩ tạo ra nàng hẳn đã sở hữu nét bút của thần linh: làn gió nhẹ thổi tung vạt váy, điểm xuyết thêm vài phần sống động cho nàng.
Tôi cố hết sức đẩy chiếc Citroën mang hai tông màu nâu đậm nhạt của De Marigny vào bãi đỗ xe rải sỏi của câu lạc bộ đồng quê. Trên bãi đã đỗ vài chiếc xe, ánh đèn từ cửa sổ bên phải câu lạc bộ hắt ra cho tôi biết bên trong đang tổ chức sự kiện. Không ai chú ý đến việc Marjorie đang đợi tôi ở bãi cỏ gần đó, chỉ có ánh đèn pha xe tôi đang tiến dần lại gần mới thấu hiểu sự chờ đợi của nàng.
Sáng nay, tôi đã quay số điện thoại mà ông Harry để lại, gọi cho nàng và hẹn gặp. Nàng có chút bồn chồn, nhưng vẫn đồng ý, đồng thời dặn tôi rằng cổng biệt thự sẽ khóa, nhưng tôi có thể đỗ xe ở lối vào câu lạc bộ đồng quê gần đó rồi đi bộ đến. Vì giữa biệt thự và câu lạc bộ không có tường hay hàng rào ngăn cách, nàng có thể đợi tôi ở bãi cỏ phía bên kia. Tôi khóa xe rồi rảo bước về phía nàng. Một cây cọ đổ bóng tuyệt đẹp sau lưng nàng, trăng tròn vành vạnh, những vì sao lấp lánh trên bầu trời, ánh trăng sáng rực khiến đêm nay tựa như ban ngày. Gió mang theo hơi thở của biển cả một cách đầy tình tứ, đây quả là một đêm hoàn hảo. Chỉ có bầu không khí ẩm ướt là điểm trừ duy nhất, nó bao bọc lấy cơ thể bạn như một chiếc áo khoác len nặng nề.
Tôi suýt quên mất nàng đẹp đến nhường nào—đôi mắt sâu thẳm đầy cảm xúc đặc trưng đó, thậm chí còn có sức hút lòng người hơn cả đôi mắt của Medusa; chiếc mũi nhỏ nhắn tinh xảo; đôi môi hé mở đầy mê hoặc, chẳng cần tô vẽ mà vẫn tự nhiên kiều diễm.
Bộ đồng phục nữ hầu màu xanh kia đã biến mất, tối nay nàng mặc một chiếc áo phông trắng tay ngắn dáng rộng, thắt một chiếc đai lưng đen bản to quanh eo, bên dưới là chân váy phong cách nhiệt đới và dép xăng đan. Tôi mặc chiếc áo sơ mi thể thao vải lanh trắng, thật thoải mái biết bao khi làm việc mà không cần thắt cà vạt. Vô tình, trang phục của chúng tôi trông như một cặp đôi đang hẹn hò dưới ánh trăng, điều này khiến cả hai đều có chút ngượng ngùng.
“Chào anh, ông Heller.”
“Chào cô Bristol, rất cảm ơn cô đã đến gặp tôi.”
Nàng xua tay tỏ ý không có gì, chiếc vòng tay hạt gỗ kêu lanh lảnh theo nhịp cử động của cổ tay. Nàng nói: “Hiện giờ cổng nhà đã đóng, chủ nhân của tôi đang ở cùng bạn bè. Chúng ta có thể đến căn nhà nhỏ của tôi…”
“Thật tốt quá, miễn là không gây bất tiện cho cô.”
Nàng khẽ cười: “Tôi tin tưởng anh, ông Heller. Tôi nghĩ anh là một người cao thượng.”
Quan điểm này khá mới mẻ đối với tôi. “Nhưng cô đừng nghĩ tôi quá cao thượng làm gì.”
Nàng nhìn xuống đất, nói: “Tôi nghĩ anh chưa bao giờ nói với ai rằng anh là một thám tử.”
“Nhưng cô đã nói điều đó với Nancy De Marigny.”
Nàng gật đầu: “Tôi nghĩ cô ấy nên biết. Họ đã giết cha cô ấy.”
“Họ là ai?”
“Tôi không biết là ai, nhưng tôi không nghĩ là ông Freddy. Ông ta đúng là kẻ làm càn, nhưng kẻ sát nhân không phải là ông ta.”
“Có lẽ cô đúng. Căn nhà nhỏ của cô ở đâu?”
Nàng chỉ cho tôi: “Ở phía bên kia sân tennis. Anh giận tôi à?”
“Không. Nhưng việc để tôi giúp Nancy trong chuyện này là ý của cô phải không?”
Chúng tôi đi về phía sân tennis. Gió thổi nhẹ, tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ biển như thứ âm nhạc nền khiến tâm hồn thư thái. Trang sức kêu lanh lảnh trên người Marjorie lại giống như nhạc cụ gõ đệm cho thứ âm nhạc ấy.
“Có lẽ cũng có một chút ý của tôi.” Nàng tỏ vẻ rất e thẹn, “Tôi chỉ cảm thấy mình nên làm gì đó. Hơn nữa, ông Harry đã thuê anh với số tiền lớn như vậy, mà anh mới chỉ làm việc có một ngày…”
“Đức Mẹ vùng Caribbean của tôi ơi. Cô là người Công giáo à, cô Bristol? Hay có lẽ là người thuộc Giáo hội Anh?”
“Cả hai đều không, tôi thuộc Giáo hội Giám lý.”
“À, một tín đồ sùng đạo đã lôi tôi vào vụ án mạng, lại còn giúp tôi một tay.”
Tôi cứ ngỡ nàng sẽ cười, nhưng trái lại, khuôn mặt nàng đanh lại.
“Nếu có thể tìm ra hung thủ sát hại ông Harry, tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì.” Nàng nói. “Tôi biết ông Harry là một người thô lỗ, nhưng với tôi, ông ấy lại rất công bằng và nhân từ.”
“Cô khăng khăng cho rằng hung thủ sát hại ông ấy là một nhóm người, tại sao cô lại nghĩ như vậy?”
Đôi mắt nàng mở to như một đứa trẻ ngây thơ: “Tôi đã đến xem căn phòng đó, chẳng lẽ anh nghĩ đó là việc của một người làm sao?”
Tất nhiên tôi không nghĩ đó là việc của một người. Con đường chúng tôi đang đi bây giờ, chính là con đường mà hung thủ đã đi ngày hôm đó, điều này khiến tôi cảm thấy phấn khích. Những hung thủ đó cũng đỗ xe trên bãi cỏ của câu lạc bộ đồng quê như vậy.
Phòng của nàng lắp một loại cửa chớp kiểu Nassau điển hình, tường quét vôi trắng, mái lợp ngói nâu hình nón. Căn phòng hướng ra bãi biển, bãi cát nghiêng xuống như bãi cỏ trước cửa nhà nàng. Dưới ánh trăng, cát tỏa ra sắc trắng ngà, biển cả lấp lánh, thứ màu xanh xám đó khiến người ta say đắm.
“Tôi có hâm một ấm trà trên bếp,” nàng nói, “anh muốn uống một tách không?”
“Tuyệt quá.” Tôi đáp.
Nàng mở cửa, tôi bước vào. Căn phòng rất gọn gàng, gồm một phòng khách và một phòng tắm. Tường sơn màu hồng nhạt dịu nhẹ, sàn gỗ trải những tấm thảm dệt hình bầu dục màu trắng xanh. Bên phải tôi là một căn bếp nhỏ, bên trái là chỗ ngủ, có một chiếc bàn trang điểm kèm gương và một chiếc đồng hồ báo thức nhỏ kiểu mới màu đen trắng, nhưng lại không có giường. Giường được đặt dựa vào tường bên trái cửa ra vào, đó là một chiếc giường gấp bằng gỗ óc chó có ngăn kéo. Tôi cảm thấy rất gần gũi với mọi thứ trong phòng, vì nhiều năm trời tôi cũng ngủ trên chiếc giường gấp ở văn phòng.
Nếu không có mấy chiếc ghế mây bày xung quanh cái bàn ở giữa phòng, thì căn phòng này hầu như không còn chỗ để ngồi. Trên bàn, những bông hoa màu hồng, trắng, vàng đang nở rộ trong bình. Dưới cửa sổ, dọc theo bức tường là những chiếc kệ tự chế bằng gỗ và gạch, chất đầy sách và đủ loại sổ tay giá 25 xu. Tủ sách cùng những món đồ bên trong và những bông hoa đó mang đậm dấu ấn cá nhân của nàng. Những góc khác trong phòng, dù ấm cúng, nhưng rõ ràng vẫn là phòng ngủ của một người hầu. Nàng bảo tôi ngồi xuống và rót trà. Một cuốn sách bìa mềm đang mở nằm trên bàn, nhan đề là "Thế giới tốt đẹp của Pearl Buck".
“Đây là một cuốn sách về Trung Quốc.” Nàng nói, đưa cho tôi một tách trà nhỏ cùng một đĩa bánh rán.
“Vậy sao?” Tôi nói, cầm lấy một chiếc bánh rán rồi hỏi: “Vẫn là nhân ốc biển à?”
Nàng cười, cũng ngồi xuống, cầm tách trà lên rồi nói: “Là nhân chuối. Tôi cá là anh sẽ thấy nó ngon y như nhân ốc biển vậy.”
“Này, vị ngon thật đấy.”
“Cảm ơn lời khen của anh, ông Heller…”
“Cô không nghĩ chúng ta nên bỏ những cách gọi trang trọng này đi sao?”
Nàng nhìn chằm chằm vào tách trà của mình, e thẹn cười: “Nên như vậy, Nathan.”
“Marjorie, tôi rất vui khi cô gọi tôi như vậy. Nhưng nếu cô muốn, cô có thể gọi tôi là Nate, bạn bè tôi đều gọi tôi như thế.”
“Tôi thích cái tên Nathan hơn, vì nó trôi chảy và có nhạc điệu.”
Đây lại là một cách diễn đạt rất mới mẻ. “Marjorie, tôi biết đêm đó cô không làm việc ở căn nhà đó…”
“Ý anh là đêm ông Harry bị sát hại? Đêm đó tôi làm việc đến 10 giờ. Khi tôi rời đi, ông Harry và ông Christie đang chơi cờ nhảy Trung Quốc.”
“Nhưng Samuel vẫn đang làm việc, vì anh ta là bảo vệ ca đêm.”
Nàng gật đầu: “Anh ta đang đi tuần cùng một cậu bé tên là Jim.”
“Cảnh sát vẫn chưa nói chuyện với họ nhỉ?”
Nàng lại gật đầu: “Vâng, cả Samuel và Jim đều rời khỏi đây rồi.”
“Samuel đã làm việc cho ông Harry một thời gian, tôi cảm thấy anh ta là một nhân viên đáng tin cậy.”
“Anh ta là, hoặc từng là.” Nàng nhún vai, “Nhưng anh ta đã rời khỏi đây.”
Nếu cảnh sát đang tìm Samuel, tôi nghĩ họ sẽ tốn không ít công sức. Nhưng tôi tin chắc rằng dù có xuống địa ngục cũng không thể khiến anh ta hé răng nửa lời.
“Marjorie, cô có thể liên lạc với gia đình và bạn bè của Samuel không?”
“Có, bạn bè anh ta đều ở Nassau, gia đình thì ở đảo Eleuthera.”
“Cô có thể giúp tôi tìm anh ta không?”
Tôi gần như nghe thấy tiếng thở dài của nàng. Nàng miễn cưỡng nói: “Nếu Samuel không muốn bị tìm thấy, hẳn anh ta có lý do của mình.”
“Nói một cách nghiêm túc, là tôi bắt buộc phải nói chuyện với anh ta. Những gì anh ta nhìn thấy đêm đó sẽ khiến cả vụ án được sáng tỏ.”
Nàng gật đầu, nhíu mày nói: “Tôi sẽ thử xem.”
“Còn cậu bé tên Jim thì sao?”
“Tôi không rõ về cậu ta lắm, cậu ta mới được thuê gần đây, chủ yếu là sửa chữa các loại dụng cụ trong nhà. Họ đang xây một ngôi nhà mới bên phía câu lạc bộ đồng quê.”
“Cô cũng có thể giúp tôi tìm cậu ta không?”
“Tôi sẽ cố gắng hết sức để tìm Samuel. Anh nên biết đấy, Nathan, trên những hòn đảo này, công nhân đến đi tự do, rất nhiều người thậm chí còn được trả lương theo ngày và theo giờ.”
“Nhưng cô chắc chắn sẽ thử tìm chứ?”
“Vâng, tôi sẽ nghe được những thứ mà anh không nghe thấy.”
“Tôi cũng nghĩ vậy, đó là lý do tôi tìm cô giúp đỡ.”
Lông mày nàng lại nhíu vào nhau: “Thực ra thì…”
“Sao vậy?”
“Tôi nghe được vài lời đồn, về đảo Lyford.”
“Đó là đâu?” Tôi hỏi.
“Đó là mũi phía tây của đảo New Providence, nó đâm ra biển như một hòn đảo vậy. Nhưng nó không phải là đảo. Giống hơn là…” Nàng tìm kiếm từ ngữ thích hợp, một lát sau, nàng cười, nàng đã tìm thấy từ đó trong đầu, “một bán đảo. Đúng rồi, là một bán đảo. Nhưng hiện nó đang trong quá trình phát triển.”
“Phát triển?”
“Xây nhà cho những người giàu có. Hiện tại ở đó chỉ có cây cọ và bãi biển, cùng những mảnh đất vừa được phân chia. Nhưng họ nói, một ngày nào đó, ở đó sẽ có đèn điện, điện thoại, lắp đặt đường ống nước và xây những ngôi nhà đáng yêu.”
“Đây là kế hoạch của ai?” Tôi hỏi, thực ra trong lòng đã có đáp án.
“Tại sao còn phải hỏi nữa, tất nhiên là kế hoạch của Christie rồi.”
“Kể cho tôi nghe những lời đồn đó đi, Marjorie.”
“Ở đó có một bến tàu, trên bến có một người quản lý. Đảo Lyford là tài sản tư nhân.”
“Tôi biết.”
“Nhưng ở đó chưa xây hàng rào và cổng. Anh có thể lái xe đến đó, người quản lý là dân địa phương, tên là Arthur.”
“Là người da màu sao?”
“Vâng. Lời đồn tôi nghe được là, vào đêm ông Harry bị sát hại, sau nửa đêm, Arthur đã nhìn thấy một con tàu chở vài người da trắng cập bến tại đảo Lyford, một chiếc ô tô đang đợi họ.”
“Đây quả là một lời đồn thú vị.”
“Tôi biết Arthur. Tôi cùng đi lễ với anh ấy ở nhà thờ Wesley tại Grant Town. Chị gái anh ấy cũng đi lễ ở đó, chị ấy nói em trai mình chưa từng kể chuyện này với cảnh sát.”
Tôi rướn người về phía trước, nói: “Cô có thể nói chuyện với anh ta không?”
“Chiều nay tôi còn tán gẫu với chị gái anh ấy, chị ấy làm phục vụ tại khách sạn British Colonial. Chị ấy nói tối nay tôi có thể tìm thấy anh ấy ở Will Willie.”
“Will Willie là nơi nào?”
“Đó là một quán bar, ở trên đỉnh đồi.”
Tôi đứng dậy, nói: “Đưa tôi đến đó đi.”
“Trên đỉnh đồi” không chỉ đại diện cho một phương hướng, mà còn là tên gọi của cả khu vực đó, các cơ quan chính phủ đều được xây dựng trên sườn núi này. Phía nam các cơ quan chính phủ, mọi thứ hoàn toàn khác xa với khu nhà giàu mà tôi từng thấy. Phía sau biệt thự của Công tước và Nữ công tước xứ Windsor, những ngôi nhà nhỏ mái nhọn của người da đen chen chúc nhau trên sườn đồi, giống như một đám quân tấn công mãi chẳng thể leo tới đỉnh.
Càng lên cao, địa thế dần bằng phẳng, kiến trúc hai bên cũng kiên cố hơn. Thế nhưng, ánh nến le lói trong những ô cửa sổ không có kính, chỉ lắp cửa chớp, cho thấy khu vực rộng lớn trên đỉnh đồi vẫn chưa có điện. Trên những con phố tối tăm đầy rác rưởi này, không có lấy một ngọn đèn đường để dẫn lối cho người đi đêm. Ven đường có rất nhiều quầy bán kem (giờ đã đóng cửa), bị che khuất bởi những cây bơ và cây bông gòn. Thế nhưng, ánh trăng lại phủ lên những công trình chen chúc của cả thị trấn một lớp ánh bạc huyền ảo, phản chiếu một bầu không khí bi thương.
Tôi không sợ hãi, nhưng khi đi đêm trong khu dân cư của người da màu này, tôi vẫn thấy hơi bất an. Đây là nỗi bất an mà tất cả người da trắng đều cảm thấy. Nỗi bất an này tôi từng trải qua khi mạo hiểm dấn thân vào khu South Bronzeville ở Chicago.
“Đi lên từ phía này.” Marjorie chỉ vào quán bar đó bảo tôi.
“Là nơi có hàng rào bao quanh bên phải kia à?”
“Vâng.”
Tôi dừng bước trước một tòa nhà gỗ chưa sơn, tòa nhà này có mái tranh, trên cánh cửa kiểu quán bar đang đung đưa có khắc vài chữ viết tay: “Will Willie”. Xung quanh không đỗ chiếc xe nào, nhưng tiếng cười đùa ồn ào truyền ra từ cửa sổ mở không khác gì các quán bar khác.
“Người da trắng vào đó uống rượu liệu có bất tiện không?”
“Không sao đâu.” Nàng nói với nụ cười trấn an, “Khách du lịch thường xuyên đến đây, còn phải soi kỹ tấm biển trên cửa nữa cơ.”
Tôi nhìn kỹ lại, bên dưới chữ “Will Willie” có một dòng chữ nhỏ: “Tại nơi này ở Bahamas, bạn có thể thoáng thấy hình bóng của châu Phi.”
Trong quán bar không có một khách du lịch nào, chỉ toàn những khuôn mặt đen, đôi mắt trắng dã nhìn tôi đầy ác cảm, hay nói đúng hơn là nhìn tôi và Marjorie đi cùng nhau. Những người công nhân làm việc vất vả cả ngày mặc những bộ quần áo rách rưới đẫm mồ hôi, cầm những chai rượu Sallys tự nấu địa phương, đứng uống ừng ực. Trên những chiếc bàn tròn không trải khăn bàn đặt những ngọn đèn dầu, chiếu sáng quán bar gần như trống trơn này. Một người đàn ông địa phương và một người phụ nữ địa phương béo mập, đầy đặn đang ôm nhau say khướt, nhu cầu tình dục là thứ không phân biệt chủng tộc. Trên bức tường xa chúng tôi nhất, hai ngọn giáo phong cách châu Phi treo chéo nhau. Một thanh niên da đen gầy gò, tuấn tú ngồi dựa vào tường, cậu ta mặc chiếc áo sơ mi trắng dáng rộng, quần đùi nâu, chân trần. Cậu ta nhận ra Marjorie, hai người gật đầu chào nhau. Chúng tôi tiến về phía cậu ta.
“Chúng tôi ngồi đây được không, Arthur?” Marjorie hỏi.
Cậu ta nửa giơ cánh tay lên, thực hiện một cử chỉ đầy vẻ thần kinh: “Ngồi đi.” Một gã phục vụ quán bar béo mập đeo tạp dề nhanh nhẹn lau bàn, rồi nhanh chóng để chúng tôi gọi đồ uống: Tôi gọi nước ép trái cây thập cẩm giống Marjorie, còn Arthur tất nhiên là gọi một chai Sallys.
Marjorie rướn người về phía trước, nói: “Arthur, đây là ông Heller.”
Tôi đưa tay ra, cậu ta nhìn nhìn, như đang xem xét một món đồ không liên quan, rồi mới đưa tay ra bắt. Tay chúng tôi nắm chặt lấy nhau, thậm chí còn hơi đổ mồ hôi. Trên khuôn mặt gần như được chạm khắc đó, đôi mắt cực kỳ cảnh giác.
“Anh ấy muốn giúp ông Freddy một tay.” Marjorie giải thích với cậu ta.
“Ông Freddy là người tốt.” Cậu ta nói bằng chất giọng nam trung trầm tĩnh đầy từ tính, “Anh họ của tôi làm việc cho ông ấy.”
Tôi nói: “Tôi muốn biết vào đêm ông Harry bị sát hại, anh đã nhìn thấy gì ở đảo Lyford.”
“Đêm đó tôi trực ca đêm.” Cậu ta nói, “Thực ra, tôi ra ngoài lúc 10 giờ tối, chuẩn bị câu thêm vài con trước khi sứa nổi lên mặt nước.”
Tôi cố gắng lái câu chuyện vào chủ đề chính: “Arthur, đêm đó anh đã nhìn thấy gì?”
Cậu ta lắc đầu: “Đó là một đêm cực kỳ tồi tệ, bão tố bất ngờ ập đến hòn đảo nhỏ này. Tôi nhìn thấy một chiếc canô lạ tiến lại gần và cập bến tàu. Hai người da trắng, một trong số đó cao lớn bước xuống tàu, người kia ở lại trên chiếc thuyền lạ đó. Con thuyền lắc lư dữ dội như thể sắp bị biển cả nuốt chửng.”
“Anh không lại gần xem thử sao? Đảo Lyford là tài sản tư nhân mà, đúng không?”
“Vâng, nhưng thống đốc ở đây lại là người da trắng. Tôi không biết liệu mình có đủ tư cách không, trong đêm bão tố ập đến thì càng không muốn biết. Đúng như lời thống đốc nói – trong những khoảnh khắc buông thả sẽ xảy ra rất nhiều chuyện kỳ quái.”
“Khoảnh khắc buông thả?” Tôi tò mò hỏi.
Marjorie kiên nhẫn giải thích: “Trên những hòn đảo này, khoảnh khắc buông thả chỉ khoảng thời gian từ lúc trời tối đến sáng hôm sau.”
Đồ uống của chúng tôi được mang đến, tôi đưa cho gã phục vụ một đô la, bảo ông ta không cần thối lại, và bày tỏ mong muốn làm bạn với ông ta. Nước ép thập cẩm có vẻ là hỗn hợp giữa rượu Rum và nước dứa.
“Đêm đó mưa rất lớn.” Arthur nói, “Một trong số họ bị trượt chân, tóc rơi xuống, dính đầy bùn đất.”
“Tóc của anh ta?”
“Có thể nói là mũ của anh ta bị gió thổi bay, tóc cũng bị mưa làm ướt sũng.” Arthur cười ha hả, “Dáng điệu đuổi theo ‘cái mũ’ của anh ta giống hệt một con thỏ.” Nghĩa là, một trong hai người đàn ông đó đang đội tóc giả.
“Anh còn chú ý thấy anh ta có điểm gì đặc biệt khác không?”
“Gì cơ?”
“Ngoại hình anh ta có điểm gì khác người không? Người kia có gì đặc biệt không?”
Mắt cậu ta nheo lại: “Mưa to quá. Nhưng anh biết đấy, thống đốc từng đi ngang qua lều của tôi, nên tôi rất nghiêm túc và có trách nhiệm. Tôi đã lén quan sát từ cửa sổ một hồi lâu. Gã làm rơi tóc giả để ria mép, mũi rất nổi bật. Gã kia là một kẻ béo, trên mặt có một vết sẹo.”
Tôi cảm thấy vô cùng phấn khích: “Vết sẹo như thế nào, Arthur?”
Cậu ta dùng một ngón tay vẽ một đường zic-zac trên không trung, nói: “Giống như tia chớp trên bầu trời, rất chói mắt trên khuôn mặt gã.”
Chúa ơi – hai người mà Arthur mô tả chẳng phải chính là hai vệ sĩ Miami do Meyer Lansky thuê sao?
“Một chiếc ô tô đang đợi họ, một tiếng sau, hoặc lâu hơn, họ mới quay lại. Họ trở về tàu rồi quay lại trong cơn bão. Họ làm thế chẳng khác nào kẻ điên, biển cả lúc đó đáng sợ đến mức có thể nuốt chửng tất cả.”
“Đó là xe hiệu gì? Anh có nhìn thấy tài xế không?”
“Tôi không thấy tài xế. Đó là loại xe thân dài, ghế ngồi rất thoải mái, các anh gọi nó là xe loại gì nhỉ?”
“Là xe Wagon (xe du lịch) à?” Marjorie hỏi.
Cậu ta gật đầu chắc chắn: “Đúng, là một chiếc Wagon.”
“Anh có nhớ biển số xe không?” Tôi hỏi.
“Không.” Biết được những điều này tôi đã thấy mình may mắn lắm rồi.
“Liệu có phải là chiếc Wagon của ông Christie không?” Marjorie hỏi, rồi nói với tôi: “Ông Christie có một chiếc xe kiểu đó.”
“Có lẽ vậy,” Arthur nói, “xe của ông ấy quả thực rất giống chiếc xe đó, nhưng tôi không thấy tài xế là ai. Anh biết đấy, tôi không thể chú ý một chiếc ô tô như chú ý một con tàu cập bến được. Tôi nghĩ, con tàu này có lẽ không muốn làm ăn trên đảo chúng ta, nên tiện tay ghi lại số hiệu tàu.”
Tôi vui mừng cười lớn: “Arthur, anh đúng là một người tốt, anh lại tình cờ ghi lại tên và số hiệu tàu sao? Có lẽ anh còn giữ chúng chứ?”
“Không, tôi chỉ ghi chúng lại thôi.”
“Tuyệt quá, thật tuyệt vời… anh có cho người khác xem không? Hoặc nói với ai đó, ví dụ như ông Christie, về những gì anh thấy đêm đó?”
Cậu ta dùng ngón cái lau hơi nước trên chai bia, lắc đầu nói: “Không. Tôi nghĩ, nếu đó thực sự là xe của ông Christie, ông ấy sẽ không thích tôi hỏi đông hỏi tây về chuyện này đâu.”
“Anh đã nói với chị gái mình rồi.” Marjorie nhắc cậu ta.
“À, tôi có nói với vài người bạn, muốn xem câu chuyện này sẽ phát triển thế nào.”
“Nhưng anh không làm việc cho bất kỳ ai.” Tôi nói.
“Vâng. Tôi càng nghĩ về chuyện này, lại càng không muốn làm ầm ĩ. Hơn nữa, ông Harry lại bị sát hại vào đúng đêm đó. Điều này rất đáng để anh suy ngẫm.”
Điều này thực sự rất đáng để tôi suy ngẫm. Tôi thọc tay vào túi quần đùi, lấy ra năm đô la nhét vào tay Arthur, cậu ta vô cùng cảm kích. Tôi nói: “Tôi đang làm việc cùng một luật sư tên là Higgs, ông ấy hy vọng anh có thể từ chức.”
Hắn nhíu mày hỏi: "Tại sao?"
"Bởi vì những chuyện cậu đã nhìn thấy."
"Tôi không hiểu, thưa ông."
"Này, cậu sẽ kiếm được nhiều tiền hơn nhờ việc đó, Arthur, một trăm đô la thì sao?"
Arthur cười tươi, đáp ứng: "Được thôi."
Tôi mỉm cười nói: "Được rồi. Nhưng cho đến khi tôi đưa tin cho cậu, cậu phải giữ im lặng."
"Im lặng như một con chuột, thưa ông."
"Tôi muốn xem qua đảo Raiford này, tìm hiểu về kế hoạch đang phát triển kia. Bây giờ tôi chở cậu đến đó, tiện thể kiểm tra tình hình xung quanh luôn."
Cậu ta từ chối: "Cảm ơn ông, tôi có xe đạp rồi. Hơn nữa, tôi cũng muốn tìm lại mảnh giấy ghi tên và số hiệu con tàu đó."
"Được. Vậy tối mai tôi liên lạc với cậu ở bến tàu thế nào đây? Mười giờ tối cậu đến được không? Hoặc mười một giờ cũng được. Ngày mai cậu chuẩn bị sẵn mảnh giấy đó cho tôi, tôi sẽ sắp xếp cho cậu gặp Higgs tại văn phòng của ông ta vào một thời điểm nào đó ngày kia."
"Được ạ. Xin hãy sắp xếp cuộc hẹn vào buổi chiều, vì sáng nào tôi cũng ngủ."
"Không vấn đề gì. Bây giờ, Arthur, cậu nhất định phải giữ im lặng."
"Tôi hiểu rồi." Cậu ta hứa, lại cười một lần nữa. Lần này cậu ta chủ động đưa tay ra, tôi bắt tay cậu ta rồi cùng Marjorie chuẩn bị rời đi. Lúc này, chỉ còn một hai ánh mắt đổ dồn về phía chúng tôi, gã phục vụ quán bar béo mập thậm chí còn chạm tay vào mũ để chào tạm biệt.
Trên đường quay về, Marjorie hỏi: "Nathan, anh nói xem điều này có ý nghĩa gì?"
"Anh không chắc nữa. Có thể chẳng có ý nghĩa gì, mà cũng có thể là tất cả."
"Những kẻ mà Arthur nhìn thấy là hung thủ sao?"
"Phải. Nhưng anh phải đưa ra một lời khuyên cho em giống như với Arthur: đừng nói chuyện này với bất kỳ ai."
Tôi đỗ xe trên lối đi của câu lạc bộ đồng quê, đưa cô ấy về căn nhà gỗ của mình. Thỉnh thoảng tay chúng tôi chạm vào nhau, cả hai đều vội vàng né tránh một cách bối rối, chỉ tùy ý bước đi cùng nhau. Chúng tôi không nói gì cả, khi công việc rời xa khỏi chúng tôi, chúng tôi lại trở nên ngượng ngùng một cách bất ngờ. Ngay lúc tôi cảm thấy mình giống như một thiếu niên nhút nhát, đứng trên bậc cửa nhà cô ấy định nói chúc ngủ ngon thì một thứ gì đó trong bãi cát đột nhiên chạy ra, làm tôi suýt chút nữa thì chết khiếp.
Cô ấy cười: "Đây chỉ là một con cua cát thôi mà."
Tôi vô thức đặt tay lên trán, nói: "Tôi biết rồi..."
Ánh mắt cô ấy tràn đầy quan tâm, dùng những ngón tay mềm mại chạm vào má tôi, kiểm tra xem tôi có bị sốt không, rồi nói: "Anh rất phiền muộn, dường như là bị ốm rồi... chuyện này là sao..."
"Không có gì."
"Anh chắc chắn là rất khó chịu! Nói cho em biết đi."
"Tôi phải đi dạo một lát, tôi cần hít thở..."
Cô ấy đi cùng tôi trên bãi biển, chúng tôi thong dong tản bộ, những con sóng biển và ánh trăng xinh đẹp làm tôi bình tĩnh lại.
"Bây giờ tôi thấy khá hơn rồi." Tôi nói. Tôi không nói với cô ấy rằng, lần đầu tiên con cua cát xuất hiện trên con đường tôi đi qua, tôi đang ở trên một hòn đảo nhiệt đới khác, trốn trong một hang động, đang nơm nớp lo sợ chờ đợi sự tuần tra của quân Nhật và những hành vi tàn bạo cuối cùng của chúng.
Cô ấy khoác tay tôi, áp sát vào người tôi hơn, dùng đôi mắt nhìn chằm chằm vào tôi. Đó là một đôi mắt to khiến đàn ông phải mê mẩn, tôi cảm thấy mình đã lạc lối trong đó rồi. Tôi dừng bước, cô ấy cũng dừng lại. Tôi muốn tìm kiếm sự cho phép trong đôi mắt cô ấy, cho phép tôi ôm cô ấy vào lòng và hôn cô ấy. Tôi sẽ hôn cô ấy thật nhẹ nhàng, nhưng lại tràn đầy sức mạnh. À, đôi môi mềm mại, ngọt ngào ấy chẳng cần bất kỳ ngôn từ nào cả. Cô ấy vẫn khoác tay tôi, ánh mắt lại nhìn qua thân thể tôi, nói: "Chúng ta đi đến phía Tây Uyển rồi." Tòa nhà nơi ông Harry qua đời hiện lên đường nét trong màn đêm, được ánh trăng bao phủ một lớp hào quang huyền bí. "Chúng ta nên quay về thôi." Cô ấy nói.
Tôi đồng ý, đi đến trước căn nhà gỗ của cô ấy, trước khi cô ấy vào nhà, tôi nhanh chóng đặt lên môi cô ấy một nụ hôn. Cô ấy mỉm cười đi vào trong. Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều cảm nhận được, khoảnh khắc tuyệt vời này sẽ không bao giờ quay trở lại nữa.