Bậc thầy mưu lược

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 18

❊ ❊ ❊

Tony từng đến Paris trước đây, nhưng lần này tình thế đã khác. "Kinh thành Ánh sáng" trở nên ảm đạm dưới ách chiếm đóng của quân Đức. May thay, nhờ tuyên bố là một thành phố không phòng bị ngay từ đầu, nơi đây mới tránh được cảnh bị tàn phá. Thế nhưng, người dân vẫn phải chịu đựng vô vàn gian khổ. Dù phát xít đã cướp đi những báu vật trong bảo tàng Louvre, Tony nhận thấy Paris về cơ bản vẫn không thay đổi nhiều. Hơn nữa, lần này anh sẽ sống ở đây, trở thành một phần của thành phố chứ không phải một du khách. Anh hoàn toàn có thể ở trong căn hộ của Kate trên đại lộ Foch, căn nhà vốn không bị hư hại gì trong suốt thời kỳ quân Đức chiếm đóng. Tuy nhiên, anh lại thuê một căn hộ không nội thất nằm trong một tòa nhà cũ đã được cải tạo phía sau đại lộ Montparnasse. Căn hộ có một phòng khách với lò sưởi, một phòng ngủ nhỏ và một gian bếp tí hon không có tủ lạnh. Giữa phòng ngủ và nhà bếp là một phòng vệ sinh, bên trong trang bị một chiếc bồn tắm bốn chân, một chiếc chậu rửa vệ sinh loại nhỏ đã hoen ố, cùng một cái bồn cầu thường xuyên hỏng hóc với phần nắp đã vỡ.

Khi bà chủ nhà tỏ ý ái ngại, Tony ngăn bà lại: "Như vậy là tốt lắm rồi."

Cả ngày thứ Bảy, anh dành thời gian lượn lờ ở các khu chợ đồ cũ. Thứ Hai và thứ Ba, anh chạy khắp các cửa hàng đồ cũ dọc bờ sông bên trái. Đến thứ Tư, những vật dụng cần thiết đã cơ bản đầy đủ: một chiếc ghế sofa giường, một cái bàn đầy vết trầy xước, hai chiếc ghế bành nhồi bông căng phồng, một chiếc tủ quần áo cũ kỹ được chạm khắc tinh xảo, vài chiếc đèn, một cái bàn bếp chông chênh và hai chiếc ghế gỗ bình thường. "Mẹ chắc sẽ phát hoảng lên mất," Tony thầm nghĩ. Anh hoàn toàn có thể lấp đầy căn hộ bằng những món đồ cổ giá trị liên thành, nhưng làm thế chẳng khác nào đang đóng giả làm một thanh niên họa sĩ người Mỹ sống ở Paris, trong khi anh muốn trở thành một họa sĩ thực thụ.

Bước tiếp theo là tìm một trường mỹ thuật danh tiếng. Trường có uy tín nhất nước Pháp là Học viện Mỹ thuật Paris. Tiêu chuẩn nhập học ở đó rất cao, hiếm có người Mỹ nào được nhận. Tony nộp đơn ứng tuyển. "Có lẽ họ sẽ không nhận mình," anh nghĩ, "nhưng nhỡ đâu họ đồng ý thì sao!" Anh phải chứng minh cho mẹ thấy mình đã đưa ra một lựa chọn đúng đắn. Anh gửi đi ba bức tranh sơn dầu của mình và phải đợi một tháng mới biết kết quả. Cuối tuần của tuần thứ tư, người gác cổng đưa cho anh một bức thư từ trường, thông báo anh hãy đến trình diện vào thứ Hai tới.

Học viện Mỹ thuật là một tòa nhà bằng đá đồ sộ gồm hai tầng. Hơn chục phòng học chật kín sinh viên. Tony đến trình diện thầy hiệu trưởng Gessan. Ông là người có vóc dáng cao lớn, khuôn mặt nghiêm nghị, không có cổ và sở hữu đôi môi mỏng nhất mà Tony từng thấy.

"Tranh của cậu vẫn còn non nớt lắm," ông nói với Tony, "nhưng có tiềm năng. Hội đồng nhà trường chọn cậu, phần nhiều là vì những gì chưa có trong tranh của cậu, chứ không phải vì những gì đã có sẵn, cậu hiểu không?"

"Tôi chưa hiểu lắm, thưa thầy."

"Rồi cậu sẽ hiểu. Tôi phân cậu vào lớp thầy Cantal. Trong năm năm tới, ông ấy sẽ là người hướng dẫn cậu — nếu cậu có thể trụ lại được lâu như thế."

"Tôi nhất định sẽ trụ lại đến cùng," Tony thầm hạ quyết tâm.

Thầy Cantal là người thấp lùn, hói đầu, trên đỉnh đầu lúc nào cũng đội một chiếc mũ nồi màu tím. Ông có đôi mắt màu nâu sẫm, cái mũi to như củ tỏi và đôi môi dày như dải xúc xích. Vừa gặp Tony, ông đã hỏi ngay: "Người Mỹ không hiểu về nghệ thuật, họ là những kẻ dã man. Cậu đến đây làm gì?"

"Để học tập, thưa thầy."

Thầy Cantal hừ lạnh một tiếng qua mũi.

Lớp học có hai mươi lăm sinh viên, đa số là người Pháp. Căn phòng bày đầy giá vẽ, Tony chọn một vị trí gần cửa sổ. Nhìn ra ngoài, anh có thể thấy một quán rượu của công nhân. Trong phòng rải rác các bức tượng thạch cao mô phỏng các bộ phận cơ thể người theo phong cách điêu khắc Hy Lạp. Tony đảo mắt tìm kiếm người mẫu nhưng không thấy ai.

"Các trò bắt đầu đi —" thầy Cantal nói với cả lớp.

"Xin lỗi thầy," Tony lên tiếng, "tôi — tôi không mang theo sơn dầu."

"Cậu không cần sơn dầu, năm thứ nhất chỉ học vẽ phác thảo."

Thầy chỉ vào những bức tượng Hy Lạp kia: "Cứ vẽ theo chúng đi. Nếu các trò thấy quá dễ, thì tôi cảnh báo trước: chưa hết năm nay, hơn một nửa số các trò sẽ bị loại." Sau đó, giọng thầy dịu xuống đôi chút: "Năm thứ nhất, các trò học giải phẫu. Năm thứ hai, những ai đạt yêu cầu sẽ được học vẽ người mẫu thật bằng sơn dầu. Năm thứ ba, tôi dám chắc lúc đó sĩ số sẽ còn ít hơn nữa. Các trò sẽ vẽ theo tôi, theo phong cách của tôi, và tất nhiên là phải nâng cao hơn một bậc. Trong năm thứ tư và thứ năm, các trò sẽ dần dần tìm ra phong cách của riêng mình, cất lên tiếng nói của riêng mình. Được rồi, bắt đầu đi."

Cả lớp bắt đầu hành động.

Thầy giáo đi lại quanh phòng, dừng lại trước mỗi giá vẽ, chỉ ra những lỗi sai và đưa ra nhận xét. Khi đến trước tranh của Tony, thầy thẳng thắn nói: "Không được, vẽ thế này không được. Cái tôi thấy chỉ là bề ngoài của cánh tay, tôi muốn thấy cái bên trong là gì, cơ bắp, xương cốt, dây chằng, tôi muốn thấy máu đang lưu thông bên trong đó. Cậu có biết cách vẽ không?"

"Tôi biết, thưa thầy. Tôi cần suy nghĩ, quan sát, cảm nhận, rồi mới vẽ."

Những lúc không lên lớp, Tony thường ở trong căn hộ của mình để vẽ phác thảo. Anh có thể vẽ suốt ngày đêm. Vẽ tranh mang lại cho anh một cảm giác tự do chưa từng có. Anh ngồi trước giá vẽ, cầm cọ trên tay, tự thấy mình như một vị thần. Chỉ bằng một bàn tay, anh có thể tạo ra cả thế giới. Anh có thể vẽ một cái cây, một bông hoa, một con người, một vũ trụ. Một cuộc đời thật say đắm làm sao. Anh quả thực là một họa sĩ bẩm sinh. Khi không vẽ, anh lại dạo quanh các con phố Paris để tìm hiểu thành phố kỳ diệu này. Giờ đây, đây là thành phố của anh, nơi nghệ thuật của anh ra đời. Thực tế có hai Paris, sông Seine chia thành phố thành khu Tả Ngạn và Hữu Ngạn. Đó là hai thế giới khác biệt. Khu Hữu Ngạn là nơi ở của những người giàu có và thành đạt; khu Tả Ngạn thuộc về sinh viên, nghệ sĩ và những người đang vật lộn với cuộc sống. Ở đây có khu Montparnasse, đại lộ Raspail, khu Saint-Germain, có quán cà phê Les Deux Magots, Henry Miller và Elliot Paul. Với Tony, đây là nhà của mình. Anh thường ngồi ở quán Le Dôme hay La Rotonde, cùng bạn học thảo luận về thế giới bí ẩn của họ.

"Tôi nghe nói giám đốc bộ phận mỹ thuật của bảo tàng Guggenheim đã đến Paris, ông ấy thấy gì cũng mua."

"Bảo ông ấy đợi để mua tác phẩm của tôi đi!"

Họ đọc cùng những tạp chí. Vì những tạp chí đó rất đắt đỏ, nên họ thường chuyền tay nhau đọc. Chẳng hạn như: "L'Atelier", "Art Notes", "Formes et Couleurs" và "Beaux-Arts".

Tony đã học tiếng Pháp từ khi còn ở trường Rose, nên anh dễ dàng kết bạn với các bạn cùng lớp vì họ có chung sở thích. Họ không biết hoàn cảnh gia đình Tony, chỉ coi anh là một người trong số họ. Những họa sĩ nghèo khó tụ tập tại quán cà phê Les Deux Magots, quán Café de Flore trên đại lộ Saint-Germain, ăn cơm tại nhà hàng Adrienne ở phố Petit-Champs hoặc các quán ăn nhỏ ở phố Université. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ đặt chân vào nhà hàng Lasserre hay Maxim's.

Năm 1946, một số bậc thầy nghệ thuật đang vung cọ tại Paris. Tony thỉnh thoảng có thể nhìn thấy Picasso. Một ngày nọ, Tony và một người bạn trông thấy Marc Chagall. Ông là một người đàn ông ngoài năm mươi, vóc dáng vạm vỡ, phong thái đĩnh đạc, mái tóc rối đang bắt đầu điểm bạc. Chagall ngồi ở một chiếc bàn phía cuối quán cà phê, đang nghiêm túc trò chuyện với vài người.

"Thật may mắn khi được thấy ông ấy," bạn của Tony thì thầm, "ông ấy rất ít khi đến Paris. Nhà ông ấy ở Vence, gần Địa Trung Hải."

Còn có Max Ernst đang ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, nhấp một ly rượu khai vị. Alberto Giacometti vĩ đại đang dạo bước dọc đại lộ Rivoli, trông ông giống hệt như một trong những bức tượng của chính mình: cao gầy, gân guốc. Tony ngạc nhiên khi thấy đôi chân của ông bị dị tật. Tony cũng đã gặp Bellmer, người nổi tiếng với những bức tranh kỳ dị, trong đó các cô gái biến thành những con búp bê bị tháo rời. Có lẽ khoảnh khắc xúc động nhất đối với Tony là khi anh được giới thiệu với Georges Braque. Vị nghệ sĩ này vô cùng hòa nhã, còn Tony thì lắp bắp không nên lời.

Những thiên tài tương lai này thường lui tới các phòng tranh mới để nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các trường phái. Phòng tranh Drouant-David đang triển lãm tác phẩm của một họa sĩ trẻ vô danh tên là Bernard Buffet. Anh ta từng học tại Học viện Mỹ thuật Paris. Còn có Soutine, Utrillo và Dufy. Các sinh viên tụ tập tại "Salon d'Automne", phòng tranh Charpentier và phòng tranh của cô Rosa ở phố Seine, dành hết thời gian rảnh để bàn tán về những đối thủ đã thành danh.

Lần đầu tiên Kate nhìn thấy căn hộ của Tony, bà không khỏi sững sờ. Bà khôn ngoan không bình luận gì, nhưng trong lòng lại nghĩ: "Chết tiệt thật! Sao con trai mình lại có thể sống trong một cái tủ nhỏ tồi tàn thế này chứ?" Bà lên tiếng: "Căn phòng này rất có phong cách, Tony. Nhưng sao mẹ không thấy tủ lạnh đâu nhỉ? Con để thực phẩm ở đâu?"

"Để ở bậu cửa sổ ngoài kia ạ."

Kate bước về phía cửa sổ, mở ra và cầm một quả táo từ bậu cửa bên ngoài vào. "Mẹ không đang ăn món đồ tĩnh vật mà con định vẽ đấy chứ?"

Tony cười nói: "Kh-không ạ, mẹ."

Kate cắn một miếng táo. "Bây giờ," bà yêu cầu, "hãy kể cho mẹ nghe về việc học vẽ của con đi."

"Cũng ch-chưa có gì nhiều để n-nói ạ," Tony thành thật thú nhận, "năm nay chúng con chỉ học vẽ ph-phác thảo thôi."

"Con có thích thầy Cantal này không?"

"Thầy ấy rất tuyệt. Điều quan trọng là liệu thầy ấy có th-thích con không, vì sang năm chỉ một phần ba số sinh viên được ở lại thôi."

Kate không hề nhắc đến chuyện Tony gia nhập công ty.

Thầy Cantal không thích khen người khác. Lời khen tốt nhất mà Tony nhận được cũng chỉ là một câu miễn cưỡng: "Tôi nghĩ tôi đã thấy những bức còn tệ hơn thế này," hoặc "Tôi bắt đầu có thể nhìn thấy cái bên trong rồi đấy."

Kết thúc học kỳ, Tony là một trong tám sinh viên được lên năm thứ hai. Để ăn mừng, Tony cùng vài người bạn trút được gánh nặng đã đến một hộp đêm ở khu Montmartre, uống đến say mèm và vui chơi suốt đêm cùng vài cô gái người Anh đang du lịch ở Pháp.

Sau khi khai giảng, Tony bắt đầu vẽ người mẫu bằng sơn dầu. Cảm giác này giống như một đứa trẻ được thả ra khỏi nhà trẻ vậy. Tony đã vẽ phác thảo các bộ phận cơ thể người suốt một năm ròng, anh tự tin rằng mình đã nắm rõ từng thớ cơ, từng sợi thần kinh, từng tuyến thể của cơ thể người. Tuy nhiên đó chưa phải là hội họa, chỉ là vẽ theo khuôn mẫu mà thôi. Giờ đây, với cây cọ trong tay và một người mẫu sống trước mặt, anh đã có thể bắt đầu sáng tạo. Ngay cả thầy Cantal cũng tỏ ra ấn tượng với điều này.

"Cậu có cảm xúc," thầy nói một cách dè dặt, "giờ chúng ta phải giải quyết vấn đề kỹ thuật."

Trường có hơn chục người mẫu cho các lớp học. Người mà thầy Cantal hay dùng nhất là Carlos, một chàng trai trẻ đang vừa làm vừa học trường y; Annette, một phụ nữ thấp đậm nhưng rất đầy đặn, da ngăm đen và lưng đầy mụn; và Dominique Masson, một cô gái trẻ xinh đẹp, dáng người uyển chuyển, tóc vàng, có gò má tinh tế và đôi mắt xanh lục thẳm. Dominique cũng làm mẫu cho một số họa sĩ nổi tiếng. Ai cũng yêu mến cô, mỗi khi tan học, đám nam sinh thường vây quanh cô để mời đi chơi.

"Tôi không bao giờ trộn lẫn công việc với giải trí," cô nói với họ. "Dù sao thì," cô đùa, "điều này không công bằng, các anh đều đã nhìn thấy những gì tôi phải phơi ra rồi, sao tôi biết các anh có gì để cho tôi xem chứ?"

Những kiểu đối thoại thẳng thắn như vậy vẫn tiếp diễn, nhưng Dominique chưa bao giờ đi chơi với bất kỳ ai trong trường.

Một buổi chiều tối, khi các sinh viên khác đã về hết, Tony chuẩn bị hoàn thành bức tranh sơn dầu vẽ Dominique, cô bất ngờ đến phía sau anh: "Mũi của tôi dài quá."

Tony hoảng hốt nói: "Ồ, xin lỗi, tôi sẽ sửa lại."

"Không, không, mũi trong tranh thì được, là mũi của tôi mới dài quá."

Tony cười: "Nếu vậy thì tôi e là mình không giúp được gì rồi."

"Còn một người Pháp sẽ nói: 'Mũi của em rất đẹp, người đẹp của anh ạ'."

"Tôi thích mũi của cô, và tôi không phải người Pháp."

"Điều đó rõ ràng mà. Anh chưa bao giờ mời tôi đi chơi, tôi tự hỏi tại sao."

Tony ngạc nhiên: "Tôi — tôi không biết. Tôi nghĩ là vì ai cũng mời cô đi chơi, mà cô thì chưa từng đi với ai cả."

Dominique cười nói: "Ai cũng có người của riêng mình, chúc ngủ ngon!"

Cô rời đi.

Tony nhận thấy, mỗi khi anh ở lại vẽ đến muộn, sau khi Dominique mặc quần áo xong, cô luôn quay lại đứng phía sau nhìn anh vẽ.

"Anh vẽ đẹp lắm," một buổi chiều cô nhận xét, "anh sẽ trở thành một họa sĩ quan trọng."

"Cảm ơn cô, Dominique. Hy vọng lời cô nói là đúng."

"Hội họa là một việc nghiêm túc đối với anh, phải không?"

"Đúng vậy."

"Một họa sĩ quan trọng tương lai có sẵn lòng mời tôi một bữa tối không?" Cô thấy vẻ ngạc nhiên hiện trên mặt anh, "Tôi ăn không nhiều đâu, tôi phải giữ dáng mà."

Tony bật cười: "Tất nhiên là được rồi, rất vinh hạnh."

Họ ăn tối cùng nhau tại một quán ăn nhỏ gần nhà thờ Sacré-Cœur, suốt buổi chỉ nói về họa sĩ và hội họa. Cô kể những chuyện thú vị khi làm mẫu cho các họa sĩ nổi tiếng, Tony nghe đến say mê. Khi đang uống cà phê sữa, Dominique nói: "Tôi phải nói với anh rằng, anh không hề kém cạnh họ đâu."

Tony cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng anh chỉ nói: "Tôi vẫn còn kém xa lắm."

Ra khỏi nhà hàng, Dominique hỏi: "Anh có muốn mời tôi về xem căn hộ của anh không?"

"Nếu cô muốn. Chỉ sợ là không có gì để xem thôi."

Sau khi vào nhà, Dominique nhìn quanh căn phòng nhỏ bé, bừa bộn rồi lắc đầu: "Anh nói đúng, quả thực không có gì để xem cả. Vậy ai chăm sóc cho anh?"

"Có một người giúp việc đến dọn dẹp mỗi tuần một lần."

"Sa thải cô ta đi, chỗ này bẩn quá. Anh không có bạn gái à?"

"Không."

Cô nhìn anh một lúc: "Anh không phải đồng tính chứ?"

"Không phải."

"Thế thì tốt, nếu không thì thật đáng tiếc. Tìm cho tôi một cái xô và ít xà phòng đi."

Dominique bắt đầu bắt tay vào việc, cô cọ rửa, quét dọn, cuối cùng căn phòng sạch bong. Sau khi làm xong, cô nói: "Giờ thì tạm ổn rồi. Lạy Chúa, tôi phải đi tắm cái đã."

Cô bước vào phòng vệ sinh nhỏ bé, bắt đầu xả nước vào bồn tắm.

"Cái bồn tắm nhỏ thế này, làm sao anh ngồi vừa?" cô lớn tiếng hỏi.

"Tôi co chân lại."

Cô cười: "Tôi muốn xem co kiểu gì."

Mười lăm phút sau, cô bước ra từ phòng vệ sinh, chỉ quấn một chiếc khăn tắm quanh eo. Mái tóc vàng óng của cô ướt át xoăn tít. Dáng người cô cân đối xinh đẹp; có khuôn ngực đầy đặn, vòng eo thon nhỏ và đôi chân dài quyến rũ. Tony trước đây chưa từng nhận ra cô là một người phụ nữ. Trong tâm trí anh, cô chỉ là một người mẫu khỏa thân trước giá vẽ. Kỳ lạ thay, chiếc khăn tắm kia đã thay đổi tất cả. Anh cảm thấy dòng máu nóng đột ngột dồn xuống bụng dưới.

Dominique nhìn anh: "Anh có muốn làm tình với tôi không?"

"Rất muốn."

Cô chậm rãi tháo chiếc khăn. "Tôi muốn xem thử."

Tony chưa từng kết giao với một người phụ nữ nào như Dominique. Cô cho anh mọi thứ nhưng không bao giờ đòi hỏi điều gì. Hầu như tối nào cô cũng đến nấu ăn cho Tony. Khi họ đi ăn tối, Dominique luôn kiên quyết chọn những quán ăn rẻ tiền hoặc các tiệm đồ ăn nhanh. "Anh phải tiết kiệm một chút," cô dạy bảo, "ngay cả với một nghệ sĩ kiệt xuất thì khởi đầu cũng luôn gian nan. Anh chính là người kiệt xuất đó, anh yêu."

Họ đi dạo chợ từ sớm tinh mơ; đôi khi đến quán ăn chân giò để uống súp hành; họ tham quan bảo tàng Carnavalet, còn đến những nơi xa xôi mà du khách ít ghé thăm, như nghĩa trang Père-Lachaise, nơi yên nghỉ của Oscar Wilde, Chopin, Balzac và Proust. Họ còn tham quan cả hầm mộ dưới lòng đất. Có một tuần nghỉ lễ, họ mượn một chiếc thuyền của bạn Dominique, xuôi dòng sông Seine và chơi đùa thỏa thích.

Ở bên Dominique luôn rất vui vẻ, cô rất hài hước, mỗi khi tâm trạng Tony sa sút, cô lại làm anh vui. Cô dường như quen biết tất cả mọi người ở Paris. Cô đưa Tony đến tham dự những buổi tiệc thú vị, nơi anh gặp gỡ những nhân vật nổi tiếng nhất đương thời như nhà thơ Paul Éluard, hay André Breton, người đứng đầu phòng tranh Galerie Margot danh giá.

Dominique luôn không ngừng khuyến khích anh: "Anh sẽ vượt qua tất cả bọn họ, anh yêu. Tin tôi đi, tôi hiểu rõ điều đó."

Nếu Tony có hứng thú vẽ vào buổi tối, Dominique sẽ rất vui vẻ làm người mẫu cho anh, mặc dù cô đã làm việc cả ngày dài. "Lạy Chúa, mình thật may mắn," Tony thầm nghĩ. Đây là lần đầu tiên anh khẳng định được rằng, có người yêu anh vì công việc anh làm chứ không phải vì gia đình anh. Đây là thứ tình cảm anh vô cùng trân trọng. Tony không dám nói với Dominique rằng anh là người thừa kế của khối tài sản lớn nhất thế giới, vì anh sợ cô sẽ thay đổi, lo lắng họ sẽ mất đi những gì đang có. Tuy nhiên, vào ngày sinh nhật cô, Tony không kìm lòng được mà mua tặng cô một chiếc áo khoác lông linh miêu do Nga sản xuất.

"Đây là chiếc áo đẹp nhất mà tôi từng thấy trong đời!" Dominique mặc nó xoay vòng vòng, nhảy múa trong phòng. Cô đang xoay thì đột ngột dừng lại: "Nó ở đâu ra vậy? Tony, tiền đâu anh mua chiếc áo khoác này?"

Anh đã chuẩn bị sẵn câu trả lời: "Nó vừa bị đánh cắp đấy. Anh mua lại từ một gã đàn ông nhỏ con bên ngoài bảo tàng Rodin. Gã đang cần tiền bán gấp. Giá cũng chẳng đắt hơn một chiếc áo khoác vải tốt ở trung tâm thương mại Printemps là bao."

Dominique nhìn chằm chằm anh một lúc rồi bật cười: "Dù chúng ta có phải ngồi tù, tôi cũng sẽ mặc nó!"

Cô dang tay ôm lấy Tony rồi bật khóc: "Ồ, Tony, anh là đồ ngốc, đồ ngốc tốt bụng của em."

Tony nghĩ lời nói dối này cũng đáng giá.

Một đêm nọ, Dominique đề nghị Tony chuyển đến sống cùng cô. Ngoài công việc tại Học viện Mỹ thuật, Dominique còn làm mẫu cho một số họa sĩ Paris có tiếng tăm hơn, nên cô có thể thuê một căn hộ rộng rãi, hiện đại ở phố Saint-Séverin. "Anh không nên sống ở nơi như thế này, Tony. Chỗ này tệ quá, hãy đến sống cùng em, không cần anh trả tiền thuê nhà, em sẽ giặt giũ, nấu nướng cho anh. Còn nữa —"

"Không, Dominique, cảm ơn cô."

"Nhưng tại sao chứ?"

Anh biết giải thích sao đây? Lẽ ra anh có thể nói ngay từ đầu rằng mình rất giàu, nhưng giờ thì quá muộn rồi. Cô sẽ nghĩ anh luôn lừa dối cô. Vì vậy anh nói: "Như thế chẳng phải là đang sống dựa vào cô sao, những gì cô cho tôi đã là quá nhiều rồi."

"Vậy em sẽ trả căn hộ của mình, chuyển đến đây ở với anh, em muốn ở bên anh."

Ngày hôm sau cô chuyển đến.

Giữa họ có một sự gần gũi tự nhiên, kỳ diệu. Cuối tuần họ cùng nhau đi chơi ở vùng ngoại ô, nghỉ lại tại những nhà trọ nhỏ. Tony dựng giá vẽ ở đó để vẽ lại vẻ đẹp của thiên nhiên. Khi đói, Dominique bày ra những món ăn cô đã chuẩn bị, hai người cùng ăn dã ngoại trên bãi cỏ. Tony chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc đến thế.

Tranh của anh tiến bộ rất nhanh. Một buổi sáng, thầy Cantal cầm bức tranh của Tony lên, nói với cả lớp: "Hãy nhìn cơ thể này xem, các trò có thể cảm thấy nó đang thở đấy."

Tối hôm đó, Tony nóng lòng kể lại với Dominique: "Em có biết làm thế nào anh có thể thể hiện được một cơ thể đang thở không? Đó là vì đêm nào anh cũng ôm người mẫu đó ngủ đấy."

Dominique cười rạng rỡ, rồi lại nghiêm túc trở lại: "Tony, em nghĩ anh không cần học thêm ba năm nữa đâu, giờ anh đã đủ kỹ năng rồi. Mọi người trong trường đều thấy vậy, ngay cả thầy Cantal cũng nghĩ thế."

Tony sợ mình vẫn chưa đạt đến trình độ thượng thừa, lo lắng tương lai chỉ là một họa sĩ tầm thường. Hiện nay trên thế giới có hàng ngàn họa sĩ mỗi ngày sáng tác ra vô số tác phẩm, anh sợ tác phẩm của mình sẽ bị nhấn chìm trong cơn lũ hội họa đó. Chỉ cần nghĩ đến điều này, Tony đã thấy rùng mình. "Phải chiến thắng là quan trọng nhất, Tony, hãy nhớ lấy điều đó."

Đôi khi, khi Tony hoàn thành một bức tranh và trong lòng tràn ngập sự hân hoan, phấn khởi, anh sẽ cảm thấy mình có tài, thực sự có tài. Nhưng cũng có lúc, anh nhìn vào tác phẩm của chính mình rồi thầm nghĩ: "Mình chỉ xứng đáng làm một họa sĩ nghiệp dư mà thôi".

Nhờ sự khích lệ của Dominique, Tony ngày càng tự tin hơn với những tác phẩm của mình. Anh đã vẽ riêng được hơn hai mươi bức tranh sơn dầu, trong đó có tranh phong cảnh, tĩnh vật, và một bức tranh vẽ Dominique đang khỏa thân nằm dưới gốc cây. Ánh nắng đổ xuống cơ thể cô những mảng màu lốm đốm, ở tiền cảnh là một chiếc áo khoác và một chiếc sơ mi của đàn ông. Người xem có thể nhận ra, thiếu nữ ấy đang chờ đợi người tình của mình.

Khi Dominique nhìn thấy bức tranh đó, cô reo lên: "Anh nhất định phải tổ chức một buổi triển lãm cá nhân."

"Em điên rồi, Dominique, anh vẫn chưa đến lúc đó đâu."

"Anh sai rồi, cưng à."

Chiều hôm sau, Tony về nhà rất muộn. Anh phát hiện trong phòng không chỉ có Dominique mà còn có một người đàn ông gầy gò tên là Anton Gorg. Ông ta có cái bụng phệ, đôi mắt màu nâu nhạt lồi ra, là chủ của phòng tranh Gorg nằm trên phố Dauphine. Tranh của Tony được bày đầy khắp căn phòng.

"Chuyện gì thế này?" Tony hỏi.

"Chuyện là thế này đây," Anton Gorg dõng dạc nói, "Tôi cho rằng tranh của cậu vô cùng xuất sắc." Ông ta vỗ vỗ vào lưng Tony, "Được trưng bày tác phẩm của cậu trong phòng tranh của tôi, đó sẽ là vinh hạnh rất lớn đối với tôi."

Tony nhìn về phía Dominique, cô đang cười tươi rói với anh.

"Tôi... tôi thật không biết nói gì cho phải."

"Cậu đã nói hết rồi đấy thôi," Gorg đáp, "Lời của cậu đều nằm cả trong những bức sơn dầu này rồi."

Tony và Dominique đã bàn bạc về chuyện này suốt nửa đêm.

"Anh cảm thấy mình vẫn chưa đủ tầm, mấy tay phê bình sẽ chửi bới anh không ra gì mất."

"Anh sai rồi, cưng à. Đây là cơ hội phù hợp nhất với anh. Đây là một phòng tranh nhỏ, chỉ có người địa phương tới xem và đánh giá. Anh sẽ chẳng bao giờ bị tổn thương gì đâu. Nếu ông Gorg không tin tưởng anh, ông ấy đã chẳng đồng ý tổ chức triển lãm cá nhân cho anh ở đó. Cả ông ấy và em đều tin rằng anh sẽ trở thành một nghệ sĩ vô cùng quan trọng."

"Được rồi," cuối cùng Tony nói, "Ai mà biết được chứ? Biết đâu anh còn bán được một bức tranh ấy chứ."

Bức điện tín viết: "Thứ Bảy tới Paris, hãy cùng mẹ ăn tối nhé, yêu con, mẹ."

Khi Tony nhìn thấy mẹ mình bước vào phòng vẽ, ý nghĩ đầu tiên của anh là: Bà quả là một người phụ nữ tao nhã. Bà đã ngoài năm mươi, mái tóc không nhuộm, những sợi bạc lấp ló trong làn tóc đen. Cơ thể bà tràn đầy năng lượng và sức sống. Tony từng hỏi tại sao bà không tái hôn, bà khẽ đáp: "Chỉ có hai người đàn ông chiếm vị trí quan trọng trong cuộc đời mẹ, đó là cha con và con."

Giờ đây, đứng trong căn hộ nhỏ ở Paris, đối diện với mẹ mình, Tony mở lời: "Gặp mẹ... thật... thật vui, mẹ à."

"Tony, trông con tuyệt lắm! Bộ râu này mới để à?" Bà mỉm cười, chạm vào râu anh rồi nói: "Con trông hơi giống Lincoln đấy." Ánh mắt bà lướt qua căn hộ nhỏ. "Cảm ơn Chúa, con có một người giúp việc tốt, nơi này đã hoàn toàn thay đổi."

Kate đi tới trước giá vẽ nơi Tony vừa làm việc, bà nhìn chằm chằm một lúc lâu, còn anh đứng bên cạnh vô cùng căng thẳng, nín thở chờ đợi phản ứng của mẹ.

Khi Kate cuối cùng cũng lên tiếng, giọng bà rất dịu dàng: "Tuyệt diệu, Tony, thực sự tuyệt diệu." Bà không hề che giấu niềm tự hào trong lòng. Trong lĩnh vực nghệ thuật, không ai có thể lừa được bà. Kate cảm thấy vô cùng vui mừng vì con trai mình lại có tài năng xuất chúng đến thế.

Bà quay người lại, đối diện với anh: "Cho mẹ xem thêm vài bức nữa đi."

Họ đã dành hai tiếng đồng hồ để thưởng thức hết các bức tranh của Tony. Kate thảo luận chi tiết với anh về từng tác phẩm. Trong giọng nói của bà không hề có chút cảm giác bề trên nào. Bà từng cố gắng kiểm soát cuộc sống của anh nhưng đã thất bại. Dẫu vậy, bà vẫn rộng lượng chấp nhận hiện thực, điều này khiến Tony vô cùng khâm phục.

Kate nói: "Mẹ có thể sắp xếp một buổi triển lãm, mẹ quen vài nhà buôn mỹ thuật, họ..."

"Cảm ơn mẹ, mẹ không cần bận tâm đâu. Thứ... thứ Sáu tới, con sẽ tổ chức một buổi triển lãm. Có một phòng tranh mời con trưng bày."

Kate ôm chầm lấy Tony: "Tốt quá rồi! Là phòng tranh nào?"

"Phòng tranh Gorg."

"Mẹ nghĩ là mẹ chưa từng nghe tên nó."

"Nó là một phòng tranh nhỏ, nhưng đối với phòng tranh Hammer hay Wildenstein, con vẫn chưa đủ trình độ."

Bà chỉ vào bức tranh Dominique nằm dưới gốc cây và nói: "Con sai rồi, Tony. Mẹ nghĩ bức này..."

Đúng lúc đó có tiếng mở cửa chính. "Em nhớ anh quá, cưng à, mau cởi..." Dominique nhìn thấy Kate, "À, chết tiệt! Xin lỗi, em... em không biết anh có khách ở đây, Tony."

Không khí như đông cứng lại, sự im lặng kéo dài hồi lâu.

"Dominique, đây là mẹ anh. Mẹ, con giới thiệu với mẹ, đây là Dominique Masson."

Hai người phụ nữ đứng đó, nhìn nhau đánh giá.

"Chào bà Blackwell."

Kate nói: "Tôi đang thưởng thức bức tranh con trai tôi vẽ cô." Câu nói phía sau bà không nói ra.

Lại một sự im lặng khó xử nữa.

"Tony đã nói với cô chưa? Bà Blackwell, anh ấy sắp tổ chức một buổi triển lãm."

"Rồi, nó đã nói với tôi, tin này thật đáng mừng."

"Mẹ có thể... ở lại xem buổi triển lãm này không?"

"Tất nhiên mẹ rất muốn có mặt, nhưng ngày kia mẹ phải tới Johannesburg tham dự một cuộc họp hội đồng quản trị, mẹ không thể không có mặt. Nếu mẹ biết sớm hơn, mẹ đã sắp xếp lại lịch trình rồi."

"Vậy cũng... không sao đâu ạ," Tony nói, "Con hiểu mà." Tony rất lo mẹ mình sẽ lại bàn chuyện công ty trước mặt Dominique. Tuy nhiên, tâm trí của Kate hoàn toàn tập trung vào hội họa.

"Quan trọng là phải mời được đúng người tới xem triển lãm của con."

"Ai là người phù hợp ạ, bà Blackwell?"

Kate quay sang Dominique: "Những người tạo dư luận, các nhà phê bình, những nhân vật như André Dussault nên có mặt."

André Dussault là nhà phê bình nghệ thuật danh giá nhất nước Pháp. Ông ta giống như một con sư tử hung dữ, canh giữ ngôi đền nghệ thuật. Một câu nói của ông có thể khiến một họa sĩ trở nên nổi tiếng hoặc bị hủy hoại chỉ sau một đêm. Mỗi buổi triển lãm đều mời ông Dussault tham dự lễ khai mạc, nhưng ông chỉ xuất hiện ở những buổi triển lãm tác phẩm quan trọng. Các chủ phòng tranh và họa sĩ đều nơm nớp lo sợ chờ đợi bình luận của ông. Ông rất giỏi ăn nói, những lời châm biếm của ông giống như có đôi cánh độc, bay khắp thành phố Paris. André Dussault là người bị ghét nhất nhưng cũng là người được tôn trọng nhất trong giới nghệ thuật Paris. Sự mỉa mai cay độc và những bình luận tàn nhẫn của ông được mọi người chấp nhận vì ông thực sự là chuyên gia trong lĩnh vực này.

Tony quay sang Dominique: "Một người mẹ... như thế đấy." Rồi lại quay sang Kate, "André Dussault sẽ không tới... phòng tranh nhỏ đâu ạ."

"Ồ Tony, ông ấy nhất định phải tới, ông ấy có thể giúp con nổi tiếng chỉ sau một đêm."

"Cũng có thể hủy... hủy hoại con."

"Con không có lòng tin à?" Kate nhìn con trai hỏi.

"Tất nhiên là anh ấy có rồi," Dominique nói, "Nhưng chúng em không dám hy vọng ông Dussault sẽ tới."

"Mẹ có thể tìm vài người bạn quen ông ấy."

Gương mặt Dominique lập tức bừng sáng. "Vậy thì tốt quá!" Cô quay sang Tony, "Cưng à, nếu ông ấy thực sự tới, anh biết điều đó có ý nghĩa gì không?"

"Bị ném vào bãi rác?"

"Nghiêm túc đi. Em hiểu khẩu vị của ông ấy, Tony. Em biết ông ấy thích gì, ông ấy sẽ khen ngợi tranh của anh."

Kate nói: "Chỉ khi biết con đồng ý, mẹ mới sắp xếp cho ông ấy tới, Tony."

"Tất nhiên là anh ấy đồng ý rồi, bà Blackwell."

Tony hít một hơi thật sâu: "Con... sợ lắm, nhưng kệ đi! Hãy... hãy thử xem sao."

"Vậy mẹ sẽ cố gắng hết sức." Kate nhìn những bức tranh sơn dầu trên giá, hồi lâu không muốn rời đi. Cuối cùng bà quay người lại, đối diện với Tony. Trong mắt bà có vẻ buồn bã: "Con trai, mẹ phải rời Paris vào ngày mai, tối nay, chúng ta cùng ăn tối được không?"

Tony đáp: "Tất nhiên là được rồi, mẹ, chúng ta... có thời gian mà."

Kate quay sang Dominique, khách sáo nói: "Cô có muốn tới nhà hàng Maxim hay..."

Tony vội nói: "Dominique và con biết một nhà hàng nhỏ khá... khá ngon ở gần đây."

Họ tới một nhà hàng giá rẻ ở Quảng trường Chiến Thắng. Đồ ăn ngon miệng, rượu thơm nồng. Hai người phụ nữ có vẻ hòa hợp với nhau. Tony cảm thấy vô cùng tự hào về cả hai người họ. Đây là buổi tối đẹp nhất trong đời mình, anh thầm nghĩ, mình được cùng mẹ và cô gái mình sắp cưới tận hưởng buổi tối tuyệt vời này.

Sáng hôm sau, Kate gọi điện từ sân bay. "Mẹ đã gọi sáu bảy cuộc điện thoại," bà nói với Tony, "Về chuyện của André Dussault, vẫn chưa có ai đưa cho mẹ câu trả lời khẳng định. Nhưng dù thế nào đi nữa, cưng à, mẹ rất tự hào về con. Tranh của con tuyệt lắm, Tony, mẹ yêu con."

"Con cũng yêu... yêu mẹ."

Quy mô phòng tranh Gorg cũng chỉ lớn hơn một chút so với những phòng tranh tư nhân không mở cửa cho công chúng. Hơn hai mươi bức tranh của Tony được treo vội vã lên tường, chuẩn bị cho lễ khai mạc. Trên một chiếc tủ nhỏ mặt đá cẩm thạch, đặt những miếng phô mai cắt lát, vài chiếc bánh quy cùng những chai rượu vang Chablis. Phòng tranh vắng lặng, chỉ có Anton Gorg, Tony, Dominique và một nữ trợ lý trẻ, cô đang treo bức tranh sơn dầu cuối cùng.

Anton Gorg nhìn đồng hồ: "Trên thiệp mời ghi là 7 giờ, mọi người sắp tới rồi."

Tony không ngờ mình lại căng thẳng đến thế. Mình không phải là căng thẳng, anh tự nhủ. Mình là sợ chết khiếp!

"Nếu không có ai tới thì sao?" Anh hỏi, "Ý tôi là, nếu không có lấy một người tới thì phải làm sao đây?"

Dominique mỉm cười, vỗ vỗ vào má anh: "Vậy thì đống phô mai và rượu này dành cho chúng ta thưởng thức thôi."

Mọi người bắt đầu lục tục kéo tới. Ban đầu là vài nhóm nhỏ, sau đó thì đông dần lên. Ông Gorg đứng ở cửa, ân cần chào hỏi khách khứa. Họ trông không giống những người sưu tầm tác phẩm nghệ thuật, Tony u sầu nghĩ. Ánh mắt sắc bén của anh chia họ thành ba loại: một số là họa sĩ hoặc sinh viên mỹ thuật, mỗi khi có triển lãm đều tới để đánh giá đối thủ cạnh tranh. Một số khác là nhà buôn mỹ thuật, họ tới xem triển lãm để tung ra những tin tức gây bất lợi cho những họa sĩ có tham vọng. Số còn lại là những kẻ đua đòi phong nhã. Phần lớn trong số đó là những người đồng tính. Họ dường như luôn sống ở bên lề nghệ thuật. Mình sẽ chẳng bán được bức tranh nào mất, Tony thầm nghĩ.

Ông Gorg vẫy tay với Tony từ phía bên kia căn phòng.

"Tôi không muốn gặp những người này," Tony thì thầm với Dominique, "Họ tới đây là để xé xác tôi ra."

"Nói bậy, họ tới để gặp anh đấy. Hãy thể hiện phong thái lên, Tony."

Thế là anh tỏ ra phong thái, chào hỏi mọi người với nụ cười rạng rỡ. Những lời khen ngợi cũng được anh đáp lại hết sức khéo léo. Nhưng liệu họ có thực sự đang khen ngợi không? Tony nghi ngờ. Qua bao năm, trong giới nghệ thuật đã hình thành những câu sáo rỗng để đối phó với các buổi triển lãm của những họa sĩ vô danh. Những câu nói đó nói ra tất cả nhưng lại chẳng nói lên điều gì.

"Cảm giác như được tận mắt chứng kiến..."

"Tôi chưa từng thấy tác phẩm nào có phong cách như thế này..."

"Nhìn kìa, đây mới là một bức tranh thực thụ!"

"Nó đang nói chuyện với tôi..."

"Anh đã leo lên đỉnh cao rồi..."

Khán giả liên tục kéo vào. Tony nghĩ, không biết họ bị trí tò mò thúc đẩy hay vì rượu và phô mai miễn phí nữa. Cho đến giờ, vẫn chưa bán được bức nào, trong khi rượu và phô mai thì vơi đi khá nhanh. "Kiên nhẫn chút đi," ông Gorg khẽ nói với Tony, "Họ rất hứng thú. Trước tiên họ phải thưởng thức những bức tranh này đã. Nếu chấm được bức nào, họ sẽ quay lại xem đi xem lại. Sau đó họ sẽ hỏi giá, khi họ mặc cả, nghĩa là họ đã cắn câu rồi!"

"Chúa ơi, tôi cứ như đang chao đảo trên một chiếc thuyền đánh cá vậy," Tony nói với Dominique.

Ông Gorg vội vã chạy tới trước mặt Tony: "Chúng ta bán được một bức rồi!" Ông kêu lên, "Tranh phong cảnh Normandy, năm trăm Franc."

Đây là khoảnh khắc Tony không bao giờ quên. Có người mua tranh của anh! Có người nhận ra giá trị tác phẩm của anh, thậm chí còn bỏ tiền ra mua nó, treo trong nhà hay văn phòng để thưởng thức, lưu giữ hoặc mời bạn bè tới xem. Đây là một sự bất tử nhỏ bé. Nó có thể ban cho bạn sự sống, nó có thể khiến bạn tồn tại ở nhiều nơi cùng một lúc. Một họa sĩ thành công sống ở khắp mọi nơi trên thế giới, sống trong hàng ngàn hộ gia đình, vô số văn phòng và bảo tàng, mang lại niềm vui cho hàng ngàn, đôi khi là hàng triệu người. Tony cảm thấy như mình vừa bước chân vào đền thờ của những vĩ nhân như Da Vinci, Michelangelo và Rembrandt. Anh không còn là họa sĩ nghiệp dư nữa, anh là một họa sĩ chuyên nghiệp, có người bỏ tiền mua tác phẩm của anh.

Dominique bước nhanh tới chỗ anh, đôi mắt cô lấp lánh: "Anh lại bán được một bức nữa rồi, Tony."

"Bức nào?" Anh vội hỏi.

"Bức tranh hoa ấy."

Phòng tranh nhỏ chật kín khán giả. Mọi người nói chuyện ồn ào. Thỉnh thoảng lại vang lên tiếng chạm ly lách cách. Đột nhiên căn phòng lặng ngắt. Có người xì xào to nhỏ, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía cửa vào.

André Dussault bước vào. Ông đã ngoài năm mươi, cao hơn người Pháp bình thường, có khuôn mặt cương nghị như sư tử và mái tóc bạc bờm xờm. Ông khoác một chiếc áo choàng bóng loáng, đội chiếc mũ kiểu Borsalino. Theo sau ông là một đám đông vây xem. Khán giả trong phòng bắt đầu tự động nhường đường cho ông Dussault, vì ở đó không ai là không biết ông.

Dominique véo tay Tony: "Ông ấy tới rồi!" Cô nói, "Ông ấy thực sự tới đây!"

Vinh dự này ông Gorg chưa bao giờ được hưởng, vì vậy ông có chút luống cuống. Ông cúi đầu khom lưng trước vị vĩ nhân này, không ngừng vuốt tóc ra sau.

"Ông Dussault," ông luyên thuyên nói, "Thật là một niềm vui lớn! Thật là vinh hạnh quá! Tôi có thể mời ông chút rượu, chút phô mai không?" Ông tự trách mình không mua loại rượu tử tế hơn.

"Cảm ơn," vị nhân vật lớn đáp, "Tôi tới chỉ để thưởng lãm thôi. Tôi muốn gặp người họa sĩ này."

Tony hoàn toàn chết lặng. Dominique đẩy anh lên phía trước.

"Cậu ấy đây ạ," ông Gorg nói, "Ông André Dussault, đây là Tony Blackwell."

Tony cuối cùng cũng cất được tiếng: "Chào ông, tôi... cảm ơn ông đã tới."

André Dussault khẽ gật đầu, rồi đi về phía những bức tranh sơn dầu trên tường. Mọi người đều lùi lại nhường đường cho ông. Ông đi rất chậm, mỗi bức tranh đều ngắm nghía hồi lâu, xem xét kỹ lưỡng mới đi tới bức tiếp theo. Tony muốn đoán ý qua biểu cảm trên mặt ông nhưng chẳng thấy gì cả. Dussault không nhíu mày, cũng không mỉm cười. Có một bức tranh, ông đứng lại rất lâu, đó là bức tranh khỏa thân của Dominique. Sau đó ông lại di chuyển tiếp. Tony đứng một bên mà mồ hôi nhễ nhại.

Khi André Dussault xem xong, ông đi về phía Tony: "Tôi rất vui khi được tới đây." Ông chỉ nói đúng một câu đó.

Chỉ vài phút sau khi vị phê bình gia nổi tiếng rời đi, tất cả các bức tranh đều được bán sạch. Một nghệ sĩ lớn mới ra đời, ai cũng hy vọng mình có mặt tại thời điểm anh ta chào đời.

"Cảnh tượng này, tôi chưa từng thấy bao giờ," ông Gorg kêu lên, "André Dussault tới phòng tranh của tôi, phòng tranh của tôi! Ngày mai cả Paris sẽ đọc được tin này. 'Tôi rất vui khi được tới đây.' André Dussault không bao giờ nói thừa một câu. Cần phải khui sâm panh, chúng ta hãy ăn mừng thôi."

Đêm muộn hôm đó, Tony và Dominique lại ăn mừng riêng một lần nữa. Dominique nép vào lòng anh: "Trước đây em cũng từng ngủ với họa sĩ khác," cô nói, "Nhưng chỉ có một người có được danh tiếng mà anh sắp đạt được thôi. Ngày mai cả Paris sẽ biết tên anh."

Lời Dominique nói hoàn toàn chính xác.

5 giờ sáng hôm sau, Tony và Dominique vội vã mặc quần áo, ra ngoài mua tờ báo sáng đầu tiên. Báo vừa tới sạp, Tony chộp lấy một tờ, vội vàng lật đến chuyên mục nghệ thuật. Bài phê bình của anh là bài báo chính, ký tên André Dussault. Tony đọc to:

"Buổi triển lãm cá nhân của họa sĩ trẻ người Mỹ Anthony Blackwell đã khai mạc tối qua tại phòng tranh Gorg. Với tư cách là nhà phê bình nghệ thuật, tôi đã học được rất nhiều điều trong buổi triển lãm này. Sau khi tham quan triển lãm của nhiều họa sĩ tài năng, tôi đã quên mất tranh vẽ tệ hại thực sự trông như thế nào. Thế nhưng buổi triển lãm tối qua đã buộc tôi phải nhớ lại..."

Sắc mặt Tony lập tức trở nên xám ngoét.

"Đừng đọc nữa," Dominique van nài, cô muốn giật tờ báo từ tay Tony.

"Buông ra!" Anh ra lệnh.

Anh tiếp tục đọc.

"Ban đầu tôi tưởng ai đó đang đùa cợt. Tôi không thể tin được, có người lại nghĩ đến việc treo những bức tranh trẻ con như thế này lên, còn dám gọi chúng là tác phẩm nghệ thuật. Tôi cố gắng tìm kiếm bất kỳ tia tài năng nhỏ nhoi nào, nhưng hoàn toàn không có. Kẻ đáng bị treo cổ không phải là những bức tranh kia, mà chính là họa sĩ đó. Tôi chân thành khuyên vị Blackwell hồ đồ này hãy quay về với nghề nghiệp thực sự của mình, tôi chỉ có thể đoán anh ta là một gã thợ sơn tường mà thôi."

"Em không thể tin được," Dominique thì thầm, "Em không tin là ông ta lại không nhìn ra. Hừ, cái gã khốn này!" Dominique đau lòng bật khóc.

Tony cảm thấy trong ngực như bị đè bởi những khối chì, nghẹt thở không thôi. "Ông ta nhìn ra đấy," anh nói, "Và ông ta biết, Dominique à, ông ta biết." Giọng anh tràn đầy đau khổ, "Vì thế mới đâm vào tim tôi đau đớn đến thế. Chúa ơi! Mình mới ngu ngốc làm sao!" Anh bắt đầu bước đi.

"Anh đi đâu thế, Tony?"

"Anh không biết."

Anh dọc theo những con phố lạnh lẽo lúc bình minh, nước mắt tuôn rơi mà không hề hay biết. Vài tiếng nữa thôi, tất cả mọi người ở Paris sẽ đọc xong bài phê bình đó, anh sẽ trở thành mục tiêu chế giễu của mọi người. Nhưng điều khiến anh đau lòng hơn cả là chính anh đã tự lừa dối mình. Anh đã thực sự tin rằng mình có thể lấy hội họa làm sự nghiệp cả đời. Giờ đây, André Dussault ít nhất đã cứu anh ra khỏi sai lầm đó. Lưu danh hậu thế, Tony u sầu nghĩ, lưu danh cái con khỉ! Anh bước vào quán bar đầu tiên mở cửa, uống cho đến khi say khướt.

Khi Tony cuối cùng cũng trở về căn hộ của mình, đã là 5 giờ sáng hôm sau. Dominique đang chờ anh, cô gần như phát điên: "Anh đi đâu thế, Tony? Mẹ anh cứ tìm anh mãi, bà ấy sắp phát ốm rồi."

"Em đã đọc báo cho bà nghe rồi à?"

"Rồi, bà ấy nhất quyết muốn đọc. Em..."

Điện thoại reo, Dominique nhìn Tony rồi nhấc máy. "Alo? Vâng, bà Blackwell. Anh ấy vừa về." Cô đưa ống nghe cho Tony, anh do dự một chút rồi cầm lấy.

"Alo, mẹ."

Giọng Kate tràn đầy bi thương: "Tony, cưng à, nghe mẹ, mẹ có thể bắt ông ta đăng một bài đính chính. Mẹ..."

"Mẹ," Tony yếu ớt nói, "Đây không phải là một... một vụ làm ăn. Đây là một nhà... nhà phê bình đang bày tỏ quan điểm, quan điểm của ông ta là con đáng bị treo cổ."

"Cưng à, mẹ thực sự không muốn con bị tổn thương nặng nề đến thế. Mẹ thực sự không chịu nổi..." Bà nức nở, không thể nói thêm được nữa.

"Không sao đâu mẹ, con cũng đã vật lộn một hồi rồi. Con đã thử, kết quả là... không được, con không có tài năng trong lĩnh vực này, chuyện chỉ đơn giản thế thôi. Con căm ghét sự ngạo mạn của Dussault, nhưng ông ta là nhà phê bình nghệ thuật xuất sắc nhất thế giới. Con buộc phải thừa nhận điểm đó. Ông ta đã cứu con ra khỏi một sai lầm khủng khiếp."

"Tony, ước gì mẹ có thể nói điều gì đó để an ủi con..."

"Dussault đã nói... đã nói hết rồi, thà như vậy còn hơn là mười... mười năm sau mới phát... phát hiện ra, đúng không? Em phải rời... rời khỏi thành phố này thôi."

"Đợi anh, người yêu dấu. Ngày mai anh sẽ rời Johannesburg, chúng ta sẽ cùng nhau trở về New York."

"Được rồi." Tony nói. Cậu gác ống nghe, quay sang nhìn Dominic. "Xin lỗi, Dominic, cô tìm nhầm người rồi."

Dominic không nói gì cả, cô chỉ nhìn cậu, đôi mắt tràn đầy nỗi bi thương khó tả.

Chiều ngày hôm sau, tại văn phòng công ty Kruger-Brent trên phố Martinon, Kate Blackwell đang viết một tấm chi phiếu. Người đàn ông ngồi đối diện bà thở dài: "Thật đáng tiếc, con trai bà là người có tài, bà Blackwell ạ. Cậu ấy hoàn toàn có thể trở thành một họa sĩ nổi tiếng."

Kate lạnh lùng trừng mắt nhìn ông ta. "Ông Dussault, trên thế giới này có hàng ngàn hàng vạn họa sĩ, con trai tôi không thể đứng chung hàng ngũ với bọn họ."

Bà đẩy tấm chi phiếu về phía bên kia bàn. "Ông đã hoàn thành nghĩa vụ của mình trong giao dịch này, tôi cũng sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình. Công ty trách nhiệm hữu hạn Kruger-Brent sẽ mở các phòng trưng bày nghệ thuật tại Johannesburg, London và New York, ông sẽ chịu trách nhiệm lựa chọn các tác phẩm—tất nhiên, tiền hoa hồng sẽ vô cùng hậu hĩnh."

Rất lâu sau khi Dussault rời đi, Kate vẫn ngồi bên bàn làm việc, lòng tràn đầy nỗi buồn sâu sắc. Bà rất yêu con trai mình. Nếu nó phát hiện ra tất cả những chuyện này... Bà biết mình đang mạo hiểm những gì, nhưng dù thế nào đi nữa, bà cũng không thể đứng nhìn Tony vứt bỏ gia nghiệp mà lẽ ra nó có thể kế thừa. Bất kể phải trả giá đắt đến đâu, bà cũng phải bảo vệ cậu, bảo vệ công ty. Kate đứng dậy, đột nhiên cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Đã đến lúc phải đi đón Tony, đưa cậu về nhà. Bà phải giúp cậu vượt qua nghịch cảnh hiện tại, để cậu có thể tiếp tục công việc mà cậu vốn dĩ sinh ra để thực hiện.

Quản lý tập đoàn khổng lồ này.

[DeepSeek phụ dịch] C.7
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026