Tuyển Tập Truyện Nick Adams

Lượt đọc: 113 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mảnh đất thanh tịnh cuối cùng

❊ ❊ ❊

"Nick," em gái nói với anh, "Nghe em này, Nick."

"Anh không muốn nghe."

Anh chỉ chăm chăm nhìn vào con suối nhỏ, nước từ trong mắt suối phun lên ùng ục, kéo theo từng đợt cát mịn trào ra ngoài. Bên cạnh suối, một cành cây khô có chạc cắm trong đám đá cuội, trên đó treo một chiếc cốc sắt. Nick Adams nhìn chiếc cốc rồi lại nhìn dòng suối, làn nước trào ra tụ lại thành dòng chảy trong vắt, len lỏi qua đám đá cuội bên đường.

Anh có thể nhìn thấy cả hai đầu con đường, anh ngước nhìn lên sườn đồi, rồi lại nhìn xuống bến tàu và mặt hồ. Phía bên kia vịnh là dải đất nhọn nhô ra với rừng cây rậm rạp, ngoài bờ hồ nơi những con sóng vỡ tan thành bọt trắng là mặt hồ bao la. Anh tựa lưng vào một cây linh sam lớn, phía sau là khu đầm lầy linh sam đen kịt. Em gái ngồi trên đám rêu bên cạnh, vòng tay ôm lấy vai anh.

"Họ đang đợi anh về ăn tối đấy," em gái nói. "Tổng cộng có hai người. Họ đi bằng xe ngựa tới, họ hỏi anh đã đi đâu rồi."

"Có ai nói cho họ biết không?"

"Chẳng ai biết anh ở đâu cả, chỉ mình em biết thôi. Anh câu được nhiều cá không, Nick?"

"Câu được hai mươi sáu con."

"Đều là cá lớn hả anh?"

"Đủ để người ta làm món ăn rồi."

"Ôi, Nick, anh đừng bán nhé."

"Bà chủ quán đồng ý mua với giá một đô la một pound," Nick Adams nói.

Em gái anh có làn da rám nắng, đôi mắt màu nâu sẫm, mái tóc cũng nâu sẫm, điểm xuyết vài lọn tóc cháy nắng ngả vàng. Hai anh em vô cùng thân thiết, những người khác đối với họ chẳng đáng bận tâm. Các thành viên khác trong gia đình trong mắt họ chỉ là "người ngoài".

"Họ biết hết cả rồi, Nick," em gái nói với giọng đầy tuyệt vọng. "Họ nói muốn lấy anh ra làm gương cho người khác xem, bảo là sẽ tống anh vào trại giáo dưỡng."

"Họ chỉ mới nắm được bằng chứng về một việc thôi," Nick nói. "Nhưng xem ra anh vẫn phải đi lánh nạn một thời gian."

"Em đi cùng anh được không?"

"Không được. Anh rất tiếc, em gái. Chúng ta còn bao nhiêu tiền?"

"Mười bốn đô la sáu mươi lăm xu. Em mang hết cả đây rồi."

"Họ còn nói gì khác không?"

"Không. Chỉ bảo là không thấy anh về thì họ không đi."

"Mẹ lại phải chuẩn bị cơm nước tiếp đãi họ, chắc là đau đầu lắm."

"Đã mời họ ăn bữa trưa rồi."

"Họ làm gì ở đó?"

"Chỉ ngồi trên hiên nhà có lưới chắn mà chẳng làm gì cả. Họ đòi mẹ đưa súng săn của anh ra xem, nhưng vừa thấy họ xuất hiện ở hàng rào là em đã giấu súng vào nhà kho rồi."

"Em đoán trước họ sẽ đến?"

"Vâng. Chẳng phải anh cũng đoán được sao?"

"Đúng thế. Mấy tên khốn!"

"Em cũng thấy họ đúng là khốn nạn," em gái nói. "Em lớn thế này rồi, không để em đi cùng sao? Súng em cũng đã giấu kỹ. Tiền cũng mang hết cả rồi."

"Đưa em đi cùng anh không yên tâm," Nick Adams nói với cô bé. "Chính anh còn chưa biết mình sẽ đi đâu đây này."

"Sao anh lại không biết chứ."

"Nếu hai chúng ta cùng đi, người ta sẽ càng chú ý hơn. Một cậu thiếu niên và một cô bé, nổi bật biết bao."

"Em cải trang thành con trai là được chứ gì," cô bé nói. "Dù sao em cũng luôn muốn làm con trai. Chỉ cần cắt ngắn tóc đi, ai còn nhận ra em là con gái nữa."

"Đúng vậy," Nick Adams nói. "Điều đó thì đúng thật."

"Chúng ta vẫn cần suy tính chu đáo hơn," cô bé nói. "Cầu xin anh đấy, Nick, cầu xin anh. Em đi cùng có thể giúp anh rất nhiều việc, hơn nữa không có em, anh sẽ thấy cô đơn lắm. Anh nói xem có phải không?"

"Ngay lúc này nghĩ đến việc phải rời xa em, anh đã thấy cô đơn rồi."

"Anh thấy chưa? Hơn nữa lần đi này không biết chừng phải mất mấy năm. Ai mà biết được chứ? Đưa em đi cùng đi, Nick. Cầu xin anh đấy." Cô bé hôn anh, hai cánh tay siết chặt lấy anh. Nick Adams nhìn em, cố gắng sắp xếp lại suy nghĩ của mình. Chuyện này thật khó xử. Nhưng anh chẳng còn cách nào khác.

"Theo lý mà nói thì anh không nên đưa em đi. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, theo lý thì anh cũng chẳng nên gây ra chuyện này," anh nói. "Được rồi, anh sẽ đưa em đi. Nhưng anh e là nhiều nhất chỉ có thể đưa em đi trong hai ba ngày thôi."

"Không sao cả," em gái nói. "Khi nào anh không cần em nữa, em sẽ về nhà ngay. Nếu anh thấy em phiền phức, thấy em đáng ghét, thấy em tốn kém, em nhất định sẽ về nhà."

"Chúng ta phải bàn bạc kỹ lưỡng," Nick Adams nói với em. Anh nhìn hai đầu con đường, lại ngước nhìn trời, trên bầu trời đang trôi những đám mây tầng cao của buổi chiều, rồi nhìn ra mặt hồ phía ngoài dải đất nhọn, trên hồ đầy rẫy những bọt sóng trắng xóa.

"Anh phải đi xuyên qua rừng để tới quán trọ phía bên kia dải đất nhọn, bán cá hồi cho bà chủ," anh nói với em gái. "Cá này là bà ấy đã đặt trước, hôm nay phải làm món ăn cho chợ đêm. Hiện tại trong quán người ăn cá hồi còn nhiều hơn ăn gà. Anh cũng chẳng hiểu tại sao. Mấy con cá hồi này khá ngon. Anh đã làm sạch, bọc bằng vải phô mai nên chắc chắn sẽ giữ được độ tươi, không bị biến chất. Anh định nói với bà ấy là kiểm lâm địa phương đang gây khó dễ với anh, họ đang tìm anh khắp nơi, anh phải đi nơi khác lánh nạn một thời gian. Anh định hỏi xin bà ấy một chiếc chảo phẳng, xin ít muối và hạt tiêu, thêm ít thịt muối, ít bơ, ít bột ngô. Anh còn phải hỏi xin một cái túi vải để đựng đồ, anh cũng định đi kiếm ít mơ khô, mận khô, ít trà, mang nhiều diêm hơn, và mang theo một chiếc rìu nhỏ. Nhưng chăn thì anh chỉ có thể kiếm được một cái. Bà ấy sẽ giúp anh thôi, vì bán cá hồi là phạm pháp, mà mua cá hồi cũng vậy."

"Em có thể đi kiếm một chiếc chăn," em gái nói. "Em sẽ bọc súng vào trong chăn, mang theo cả giày da hươu của anh và em, em sẽ đi thay một chiếc quần yếm khác, thay một chiếc áo sơ mi, giấu bộ đang mặc đi để họ tưởng em vẫn mặc bộ đó. Còn phải mang xà phòng, lược, kéo, bộ kim chỉ, một cuốn "Lorna Doone", một cuốn "Swiss Family Robinson"."

"Tìm được bao nhiêu đạn cỡ 22 thì mang bấy nhiêu," Nick Adams đang nói thì giọng chợt hối hả: "Mau lại đây! Trốn đi!" Anh nhìn thấy một chiếc xe ngựa đang đi tới trên đường.

Họ nằm rạp xuống sườn dốc đầy rêu mềm sau cây linh sam, nghe thấy tiếng móng ngựa gõ nhịp nhẹ nhàng trên đường cát, xen lẫn tiếng bánh xe cọt kẹt. Người trên xe không ai nói gì, nhưng khi xe đi qua, Nick Adams ngửi thấy mùi trên người họ, còn ngửi thấy cả mùi mồ hôi ngựa. Anh tưởng họ sẽ dừng xe lại để cho ngựa uống nước bên suối nên lo đến mức vã mồ hôi, cho đến khi chiếc xe đi xa về phía bến tàu mới thở phào nhẹ nhõm.

"Là họ phải không, em gái?" anh hỏi.

"Không sai," cô bé nói.

"Đi thôi, bò ra phía sau," Nick Adams nói. Anh kéo túi cá của mình bò vào khu đầm lầy phía sau. Khu đầm lầy này đầy rêu nhưng không hề bùn lầy. Lúc này anh mới đứng dậy, giấu túi cá sau thân cây linh sam, ra hiệu cho em gái đi sâu vào trong. Họ nhẹ chân như loài hươu, chui vào trong khu đầm lầy toàn cây linh sam này.

"Trong đó có một tên anh quen," Nick Adams nói. "Thằng khốn này là một kẻ xấu xa."

"Hắn nói đã theo dõi anh bốn năm rồi."

"Anh biết."

"Còn tên kia, gã to con mặc bộ đồ màu xanh, mặt mũi trông như bã thuốc lá, là từ phía nam của bang tới."

"Được," Nick nói. "Người cũng thấy rồi, anh nên đi nhanh thôi. Em về nhà không xảy ra chuyện gì chứ?"

"Không đâu. Em đi đường tắt qua núi, không đi đường lớn. Tối nay em gặp anh ở đâu, Nick?"

"Anh thấy em thực sự không nên đi."

"Em nhất định phải đi. Anh không biết đấy thôi, chuyện này chẳng có gì to tát cả. Em có thể để lại một mẩu giấy cho mẹ, nói là em đi cùng anh, nói là anh sẽ chăm sóc em chu đáo."

"Được rồi," Nick Adams nói. "Anh sẽ đợi em cạnh cây thông già bị sét đánh đó. Cứ đi thẳng vào trong rừng, thấy cây đổ xuống là nó. Em biết cây đó không? Đi đường tắt ra đường lớn đều phải đi qua cây đó."

"Chỗ đó gần nhà chúng ta lắm."

"Anh không muốn em mang nhiều đồ như vậy mà chạy đường dài."

"Em nghe lời anh là được chứ gì. Nhưng anh tuyệt đối đừng mạo hiểm đấy nhé."

"Anh thực sự ước gì trong tay có khẩu súng, lúc này chạy ra bìa rừng, nhân lúc hai tên khốn đó còn ở bến tàu, bắn chết cả hai đứa, rồi đến xưởng xay cũ kiếm cái lõi sắt, dùng dây thép buộc chặt vào người chúng, dìm xuống nước sâu."

"Sau chuyện này, anh định làm thế nào nữa?" em gái hỏi. "Họ là người trên phái tới đấy."

"Tên khốn thứ nhất chẳng ai phái hắn cả."

"Nhưng anh bắn chết nai, anh còn bán cá hồi, bao nhiêu thứ họ tìm thấy trên thuyền của anh đều là do anh săn được."

"Săn mấy thứ này không tính là phạm pháp."

Anh không muốn nhắc đến đó là những thứ gì, vì đó chính là bằng chứng họ nắm giữ.

"Em hiểu. Nhưng anh cũng không thể đi giết người được, em đi theo anh cũng chính vì lý do này."

"Chúng ta không nhắc chuyện này nữa. Nhưng hai tên khốn đó, anh thực sự muốn giết chết chúng."

"Em hiểu," cô bé nói. "Tâm trạng em cũng giống anh. Nhưng chúng ta không thể đi giết người được, Nick. Anh hứa với em là không làm vậy, được không?"

"Không được. Nói thế này, mang cá hồi cho bà chủ quán e là cũng không an toàn lắm."

"Để em mang cho."

"Không. Nặng lắm. Anh mang hàng đi qua đầm lầy, vòng ra khu rừng phía sau quán trọ. Em cứ đi thẳng đến quán trọ, xem bà chủ có ở đó không, có tình hình gì không. Nếu không có gì bất thường thì em ra khu rừng, anh đợi em dưới cây đoạn đó."

"Đi vòng qua đầm lầy xa lắm, Nick."

"Thế này thì cũng xa trại giáo dưỡng hơn."

"Em đi cùng anh xuyên qua đầm lầy không được sao? Đến đó anh đừng vào vội, để em đi tìm bà ấy, lát nữa em ra thì cùng anh mang hàng vào."

"Được thì cũng được," Nick nói. "Nhưng anh vẫn hy vọng em làm theo cách của anh."

"Tại sao, Nick?"

"Vì như thế có lẽ em có thể nhìn thấy họ trên đường, rồi em có thể nói cho anh biết họ đi đâu. Anh đợi em dưới cây đoạn ở khu rừng thứ hai phía sau quán trọ là được."

Nick đợi trong khu rừng hơn một tiếng đồng hồ, em gái vẫn chưa tới. Sau đó cuối cùng cũng tới, Nick thấy vẻ phấn khích của em, biết là cô bé chắc chắn đã rất mệt rồi.

"Họ đang ở nhà chúng ta đấy," cô bé nói. "Đang ngồi trên hiên nhà uống rượu whisky pha nước ngọt gừng, ngựa cũng đã tháo yên dắt vào chuồng rồi. Họ nói kiểu gì cũng phải đợi anh về nhà. Là mẹ nói với họ, bảo là anh đi câu cá ở suối rồi. Em thấy mẹ không phải cố ý đâu. Dù sao mẹ cũng không thể cố ý được."

"Bên phía bà Packard thế nào?"

"Em gặp bà ấy trong bếp quán trọ, bà ấy hỏi em có thấy anh không, em bảo không. Bà ấy nói đang đợi anh mang cá tới, chợ đêm cần dùng. Bà ấy sốt ruột lắm. Anh mau mang đi đi."

"Được," anh nói. "Cá vẫn còn tươi lắm. Anh lót cỏ đuôi phượng rồi."

"Em đi cùng anh được không?"

"Được," Nick nói.

Quán trọ là một ngôi nhà gỗ dài, có hiên hướng ra hồ. Những bậc thang gỗ rộng dẫn thẳng xuống bến tàu, bến tàu vươn dài ra giữa hồ. Hai bên bậc thang có lan can gỗ linh sam trắng, xung quanh hiên cũng có lan can gỗ linh sam trắng. Trên hiên đặt những chiếc ghế gỗ linh sam trắng, ngồi trên ghế đều là những người trung niên mặc đồ trắng. Trên bãi cỏ có lắp ba đường ống nước, nước suối phun lên ùng ục, vài con đường nhỏ dẫn thẳng đến đường ống nước. Mùi nước giống như mùi trứng thối vì đó là suối khoáng, anh em Nick trước đây thường đến đây uống nước, coi như là một cách rèn luyện thân thể. Nhưng lúc này họ lại đi về phía nhà bếp phía sau quán trọ, cạnh quán trọ có một con suối nhỏ chảy vào hồ, trên suối có cây cầu gỗ, họ qua cầu rồi lén lút vào bếp.

"Rửa cá rồi để vào tủ lạnh đi, Nick," bà Packard nói.

"Lát nữa con quay lại cân."

"Bà Packard," Nick nói. "Con có thể nói với bà vài lời không?"

"Cứ nói đi," bà nói. "Con không thấy ta đang bận sao?"

"Không biết bà có thể đưa tiền cho con ngay bây giờ được không."

Bà Packard đeo một chiếc tạp dề kẻ ô, bà là một người phụ nữ khá hào phóng, dung mạo cũng rất xinh đẹp, nhưng lúc này đang rất bận, hơn nữa người giúp việc trong bếp đều ở đó.

"Chẳng lẽ con định bán cá hồi cho ta sao. Con không biết là phạm pháp à?"

"Con biết," Nick nói. "Cá này con tặng bà. Con chỉ xin bà tiền công bổ củi thôi."

"Để ta đi lấy," bà nói. "Để ở nhà ngoài ấy, phải sang đó lấy."

Anh em Nick đi theo bà ra ngoài. Đến lối đi bằng gỗ từ nhà bếp tới phòng lạnh, bà đột nhiên dừng lại, thọc tay vào túi tạp dề, lấy ra một chiếc ví da.

"Con mau rời khỏi đây đi," bà ân cần nói một cách vội vã. "Phải mau rời khỏi đây. Con cần bao nhiêu tiền?"

"Con đáng được mười sáu đô la," Nick nói.

"Cầm lấy hai mươi đô la đi," bà nói với anh. "Em gái không thể chịu khổ cùng con được. Để con bé về nhà trông chừng họ, đợi con đi xa rồi thì không còn việc của nó nữa."

"Chuyện của họ bà biết từ khi nào?"

Bà lắc đầu với anh.

"Bán cá phạm pháp, mua cá cũng vậy, có lẽ tội còn nặng hơn," bà nói. "Con hãy đi nơi khác lánh nạn một thời gian, đợi gió êm sóng lặng rồi tính tiếp. Nick, dù người ta nói con thế nào, con rốt cuộc vẫn là một đứa trẻ tốt. Nếu tình hình thực sự không ổn, con có thể tìm đến ông Packard. Cần gì thì đêm đến chỗ ta là được. Ta rất dễ tỉnh giấc. Chỉ cần gõ cửa sổ là được."

"Tối nay bà không định làm món cá hồi nữa phải không, bà Packard? Bà sẽ không làm món này nữa chứ?"

"Không làm nữa," bà nói. "Nhưng cá này cũng không lãng phí đâu. Một mình ông Packard có thể ăn được sáu bảy con, bạn bè của ta cũng có khối người ăn khỏe như vậy. Con phải cẩn thận đấy, Nick, đợi mọi chuyện lắng xuống là được. Đi lánh nạn đi."

"Em gái muốn đi cùng con."

"Sao con có thể đưa nó đi được," bà Packard nói. "Đêm nay con quay lại một chuyến, ta chuẩn bị ít đồ cho con mang đi."

"Có thể cho con một chiếc chảo phẳng không?"

"Thứ gì con cần ta đều sẽ chuẩn bị cho con. Con cần gì ông Packard đều biết cả. Tiền thì ta không đưa thêm nữa, tránh cho con rước họa vào thân."

"Con rất muốn gặp ông Packard, hỏi xin ông ấy ít đồ."

"Chỉ cần con cần, ông ấy cái gì cũng sẽ cho. Nhưng con tuyệt đối đừng đến cửa hàng tìm ông ấy."

"Con viết giấy để em gái mang đến là được."

"Vậy con cần gì cứ viết giấy gửi đến," bà Packard nói. "Con không cần lo lắng. Ông Packard sẽ nghĩ cách cho con."

"Tạm biệt, dì Harry."

"Tạm biệt," bà nói rồi hôn anh. Anh cảm thấy khi bà hôn mình có một mùi hương rất dễ chịu. Lúc nướng bánh mì trong bếp chính là mùi này. Mùi trên người bà Packard giống hệt như bếp của bà, trong bếp của bà lúc nào cũng rất thơm.

"Đừng lo lắng, cũng tuyệt đối đừng làm việc xấu."

"Con sẽ không làm việc xấu đâu."

"Đương nhiên rồi," bà nói. "Ông Packard luôn có cách giúp con."

Hai anh em sau đó hội ngộ tại khu rừng thông già trên ngọn đồi nhỏ sau nhà. Lúc đó đã là chạng vạng, mặt trời đã lặn sau ngọn núi phía bên kia hồ.

"Đồ đạc gom đủ cả rồi," em gái nói. "Đóng gói xong cái túi này cũng to thật đấy, Nick."

"Anh biết. Hai tên đó đang làm gì?"

"Ăn tối no nê, giờ đang ngồi trên hiên uống rượu đấy. Hai đứa đang khoe khoang với nhau, hết lời tự khen mình thông minh."

"Xét ở hiện tại thì chúng chẳng thông minh chút nào."

"Chúng định để anh nhịn đói, đói đến mức anh không chịu nổi," em gái nói. "Bảo là chỉ cần ở trong rừng hai ba đêm, anh sẽ ngoan ngoãn quay về thôi. Chỉ cần bụng đói kêu ùng ục, anh sẽ ngoan ngoãn quay về."

"Bữa tối mẹ cho chúng ăn gì?"

"Tệ lắm," em gái nói.

"Tốt."

"Đồ trong danh sách em tìm đủ cả rồi. Mẹ sợ đau đầu nên đã đi ngủ rồi. Mẹ còn viết một bức thư cho bố nữa."

"Em đọc thư chưa?"

"Chưa. Thư để trong phòng mẹ, đặt cùng với danh sách đồ cần mua ngày mai. Đợi đến sáng mai phát hiện đồ đạc trong nhà đều biến mất, danh sách này mẹ lại phải viết lại từ đầu rồi."

"Chúng uống bao nhiêu rượu rồi?"

"Chắc khoảng bảy chén rồi."

"Nếu có thể bỏ chút thuốc mê vào rượu thì sướng thật."

"Anh bảo em cách bỏ thế nào, em đi bỏ cho. Thêm trực tiếp vào chai rượu à?"

"Không. Thêm vào ly rượu. Nhưng chúng ta không có thuốc mê."

"Trong tủ thuốc có không?"

"Không có."

"Em thêm chút bột thuốc nhuận tràng vào chai rượu vậy. Chúng còn một chai rượu nữa. Không thì thêm chút calomel. Cái này em biết nhà mình có."

"Không được," Nick nói. "Em đợi chúng ngủ say, rồi tìm cách đổ nửa chai rượu đó cho anh. Tìm một lọ thuốc cũ, đổ vào đó."

"Để em đi trông chừng chúng chút đã," em gái nói. "Ôi, giá mà chúng ta có thuốc mê thì tốt quá. Loại thứ này em còn chưa nghe thấy bao giờ."

"Thực ra cũng chẳng có gì quá thần thánh," Nick nói với em. "Đây là một loại thuốc gọi là chloral hydrate. Một số cô gái làm nghề mại dâm muốn nhắm vào túi tiền của đám thợ rừng, thường bỏ loại thuốc này vào rượu cho họ uống."

"Nói vậy thì loại thuốc này hơi tà đạo," em gái nói. "Nhưng chúng ta có lẽ vẫn nên chuẩn bị một ít, phòng hờ."

"Để anh hôn em một cái," người anh nói. "Cũng là phòng hờ thôi. Chúng ta xuống xem chúng uống rượu đi. Anh rất muốn nghe xem ngồi trong nhà mình chúng sẽ nói xấu những gì."

"Anh hứa với em là không được nổi giận, cũng không được làm việc xấu, được không?"

"Được."

"Cũng không được làm hại ngựa. Chuyện này không liên quan đến ngựa."

"Không làm hại ngựa."

"Giá mà chúng ta có thuốc mê," em gái bày tỏ sự trung thành.

"Nhưng chúng ta không có," Nick nói với em. "Anh thấy ở ngoài thành Boyne này thì ở đâu cũng chẳng có đâu."

Hai anh em ngồi trong nhà kho, quan sát động tĩnh của hai tên đó đang ngồi bên bàn trên hiên nhà có lưới chắn. Trăng vẫn chưa lên, trời rất tối, nhưng phía sau hai tên đó là mặt hồ, nên bóng người nhìn rất rõ. Lúc này chúng không nói chuyện, mà đều rướn người về phía trước, cúi xuống bàn. Sau đó Nick nghe thấy tiếng đá trong thùng đá.

"Hết nước ngọt gừng rồi," một tên nói.

"Tao đã bảo lượng nước ngọt gừng này không đủ cho chúng ta uống rồi," tên kia nói. "Nhưng mày cứ bảo đủ rồi, đủ rồi."

"Đi lấy ít nước đi. Trong bếp có xô có gáo cả đấy."

"Rượu của tao đủ rồi. Tao đi ngủ đây."

"Mày không đợi thằng nhóc đó nữa à?"

"Không đợi nữa. Tao đi ngủ một lát. Mày canh chừng đi."

"Mày thấy tối nay nó sẽ đến không?"

"Khó nói. Tao đi ngủ một lát. Mày thấy buồn ngủ thì đến gọi tao."

"Tao không ngủ cả đêm cũng không sao," tên kiểm lâm địa phương nói. "Để bắt lũ săn trộm ban đêm, tao canh cả đêm là chuyện thường ngày, chưa bao giờ nhắm mắt cả."

"Tao cũng vậy," tên từ phía nam tới nói. "Nhưng giờ tao phải nhắm mắt một lát đã."

Anh em Nick nhìn hắn đi vào trong. Mẹ đã nói với hai tên đó, nếu muốn ngủ thì có thể ngủ ở phòng ngủ cạnh phòng khách. Nick và em gái nhìn thấy hắn quẹt diêm. Tiếp đó trong cửa sổ lại tối om. Nhìn lại tên kiểm lâm kia, lúc đầu còn ngồi trước bàn, sau đó cũng khoanh tay, gục đầu xuống. Một lát sau đã nghe thấy tiếng ngáy.

"Chúng ta đợi hắn thêm chút nữa, xem hắn thực sự ngủ say chưa rồi hãy vào lấy đồ," Nick nói.

"Anh cứ đợi ngoài hàng rào đi," em gái nói. "Em đi lại trong nhà không sao. Lỡ hắn tỉnh dậy, thấy anh thì không hay."

"Được rồi," Nick nói. "Anh cứ lấy hết đồ ở đây trước đã. May mà đồ đạc phần lớn ở đây."

"Tối tăm thế này, anh có tìm thấy hết không?"

"Không vấn đề gì. Súng săn đâu rồi?"

"Đặt nó lên trên đòn tay cao ở phía sau mái hiên. Cẩn thận đừng để rơi, cũng đừng làm đổ củi đấy, Nick."

"Yên tâm."

Từ trong nhà bước ra, cô liền đi tới góc rào phía bên kia, Nick đang đóng gói đồ đạc sau một cây thông xanh đổ. Cây thông xanh ấy mùa hè năm trước bị sét đánh, đến mùa thu cùng năm thì ngã xuống trong một trận bão. Lúc này trăng vừa ló ra sau ngọn núi xa, ánh trăng xuyên qua kẽ lá chiếu xuống một khoảng rộng, Nick có thể thấy rõ mọi thứ để gói đồ. Em gái đặt chiếc túi đang cầm xuống, nói: "Bọn họ ngủ như chết vậy, Nicky."

"Tốt."

"Cái gã từ phía nam tới cũng ngáy như cái tên ngoài ban công. Tôi nghĩ tôi đã tìm được tất cả những thứ cần thiết rồi."

"Giỏi lắm, em gái."

"Tôi đã viết một mẩu giấy cho mẹ, nói với bà rằng tôi đi cùng anh, để trông chừng anh, kẻo anh gây chuyện, tôi bảo bà đừng nói cho ai biết, và rằng anh sẽ chăm sóc tôi tốt. Tôi nhét mẩu giấy ấy xuống dưới cửa phòng bà ấy. Bà ấy đã khóa cửa phòng lại rồi."

"Trời, chết tiệt!" Nick vừa thốt ra đã vội xin lỗi: "Xin lỗi, em gái."

"Cũng không thể trách anh, dù sao tôi cũng không thể giúp anh hỏng chuyện được."

"Em thực sự rất giỏi."

"Chúng ta có thể thoải mái một phen rồi chứ?"

"Được."

"Tôi đã mang rượu whisky theo rồi," cô bé hớn hở nói. "Tôi còn chừa lại một ít trong chai cũ. Để bọn họ chỉ đoán là nhau uống hết thôi. Dù sao bọn họ vẫn còn một chai kia mà."

"Em có mang chăn riêng của em không?"

"Còn phải nói."

"Vậy chúng ta đi thôi."

"Để tôi đoán chúng ta đi đường nào: nếu tôi đoán đúng, chúng ta sẽ thuận buồm xuôi gió. Cũng chẳng có gì, chỉ là thêm chăn của tôi, cái ba lô này to hơn thôi. Súng để tôi mang cho."

"Được thôi. Em đi giày gì?"

"Đi giày da lộn đi làm."

"Mang theo sách gì?"

"《Lorna Doone》, 《Kidnapped》, và 《Wuthering Heights》."

"Chỉ có 《Kidnapped》 là em có thể xem, còn lại là sách người lớn."

"《Lorna Doone》 không phải sách cho người lớn đâu."

"Chúng ta sẽ đọc to," Nick nói. "Đọc to thì một cuốn sách có thể đọc được nhiều ngày hơn. Nhưng này, em gái, em mà đến thì mọi chuyện hơi khó xử, vậy nên chúng ta mau đi. Hai thằng khốn đó, đừng nhìn bộ dạng ngu ngốc của chúng, thực ra chúng không ngu như vẻ ngoài đâu. Chuyện ngu ngốc, có lẽ là do rượu."

Nick lúc này đã đóng gói xong, thắt chặt dây đeo, liền ngả người ra sau, xỏ giày da lộn. Anh ôm lấy em gái: "Em thực sự muốn đi?"

"Tôi nhất định phải đi, Nicky. Đã đến lúc này rồi, đừng có lưỡng lự như bà già nữa. Tôi đã để lại tờ giấy rồi."

"Được rồi," Nick nói. "Chúng ta đi thôi. Em cầm súng trước, mỏi thì đưa lại cho tôi."

"Tôi đã sẵn sàng, chỉ chờ lên đường thôi," em gái nói. "Để tôi giúp anh xách ba lô."

"Em chưa chợp mắt một phút nào, vậy mà chúng ta phải lên đường ngay, em có nghĩ tới không?"

"Tôi biết. Cái gã gục trên bàn ngáy khoe rằng hắn có thể thức trắng đêm, nhưng thực ra tôi mới có thể thức trắng đêm."

"Biết đâu hắn trước đây cũng từng có bản lĩnh đó," Nick nói. "Nhưng có một điều em phải chú ý, đó là đôi chân không được hỏng đấy. Giày da lộn của em có chật không?"

"Không. Suốt mùa hè tôi đi chân đất, chân đã cứng cáp rồi."

"Tôi cũng có đôi chân sắt," Nick nói. "Nào, chúng ta đi thôi."

Họ bước đi trên lớp lá thông mềm, nơi đây cây cối rất cao, giữa những thân cây lớn hầu như không có bụi rậm. Họ men theo sườn đồi đi lên, trăng ló ra giữa ngọn cây, chiếu sáng bóng dáng của hai anh em: Nick đeo một cái ba lô to, em gái đeo khẩu súng trường cỡ nòng 22. Lên tới đỉnh đồi nhỏ, họ ngoái đầu lại, nhìn thấy mặt hồ dưới ánh trăng. Rõ ràng, thậm chí còn thấy cả mũi đất nhọn hoắt đen thui, đằng sau mũi đất là những ngọn núi cao bên kia bờ hồ.

"Chúng ta tạm biệt cái hồ này tại đây nhé," Nick Adams nói.

"Tạm biệt hồ nhé," em gái nói. "Em yêu nó mãi mãi."

Họ xuống đồi, băng qua một vùng đồng hoang rộng lớn, xuyên qua vườn cây ăn trái, vượt qua một hàng rào, đến một cánh đồng đầy gốc rạ. Khi băng qua cánh đồng gốc rạ, ngoảnh sang phải, họ nhìn thấy lò mổ và nhà kho lớn trong thung lũng, và còn thấy ngôi nhà gỗ cũ của nông trại trên một khu đất cao khác cạnh hồ. Dưới ánh trăng, một con đường dài hai bên trồng cây dương vươn thẳng đến bờ hồ.

"Đi trên mặt đất này chân em có đau không, em gái?" Nick hỏi.

"Không đau," em gái nói.

"Tôi chọn đường này vì muốn tránh chó," Nick nói. "Mấy con chó ấy hễ nhận ra là chúng ta, sẽ im ngay. Nhưng dù chỉ sủa vài tiếng, cũng có thể khiến người ta nghe thấy."

"Tôi biết," cô nói. "Người ta nghe tiếng chó sủa vài tiếng rồi im ngay, sẽ biết là chúng ta tới."

Nhìn về phía trước, có thể thấy bên kia đường là những dãy núi nhấp nhô đen thẫm. Đi hết cánh đồng lúa mạch đã gặt duy nhất, vượt qua con suối nhỏ thấp dẫn đến nhà kho lạnh nước, men theo địa thế dần cao lên, xuyên qua một cánh đồng gốc rạ khác, trước mặt lại là một hàng rào, bên ngoài hàng rào là con đường cát lớn, qua đường là những khu rừng non dày đặc.

"Khi tôi trèo qua xong, tôi sẽ đỡ em," Nick nói. "Tôi phải xem xét con đường này một chút đã."

Vừa lên đến đỉnh hàng rào, vùng đất rộng lớn nhấp nhô, khu rừng đen thẫm bên cạnh ngôi nhà cũ, mặt hồ lấp lánh dưới ánh trăng, tất cả hiện ra trước mắt. Một lúc sau, anh mới ngoảnh lại quan sát con đường lớn.

"Họ không thể đuổi theo dấu vết của chúng ta được, con đường này có cát dày, tôi nghĩ để lại dấu chân cũng không đáng chú ý," anh nói với em gái. "Nếu cát không quá ghê chân, chúng ta cứ cố gắng đi sát lề đường thôi."

"Nicky, nói thật đấy, tôi thấy bọn họ không có nhiều đầu óc đến mức nghĩ tới chuyện đuổi theo. Em chỉ cần nhìn bọn họ biết ngay: họ cứ chờ anh về ăn tối, đến bữa tối chưa ăn mà đã say xỉn rồi, sau đó thì khỏi nói."

"Bọn họ vẫn xuống cầu tìm tôi mà," Nick nói. "Tôi lại không có ở đó. Nếu không phải em báo trước, tôi đã bị bọn họ tóm gọn rồi."

"Tuy bọn họ không có nhiều đầu óc, nhưng mẹ nói có lẽ anh đi câu cá, bọn họ đương nhiên cũng nghĩ ra anh ở con suối lớn ấy. Sau khi tôi đi, bọn họ chắc chắn đã đi kiểm tra thuyền, thấy thuyền vẫn còn đủ, đương nhiên cho rằng anh đang câu cá ở suối. Ai mà chẳng biết nơi anh câu cá thường ở hạ lưu cối xay và nhà ép dầu. Bọn họ suy nghĩ vấn đề đúng là chậm chạp."

"Được, em nói đúng," Nick nói. "Nhưng phán đoán của bọn họ cũng không sai lắm."

Em gái đưa nòng súng về phía trước qua khe rào cho anh trai, rồi tự mình trèo qua giữa các thanh ngang. Cô đứng sát bên anh trên con đường cát, Nick đặt tay lên đầu cô, nhẹ nhàng xoa.

"Em mệt lắm rồi, em gái?"

"Không, không sao. Em vui quá, chẳng thấy mệt tí nào."

"Nếu em chưa thấy mệt lắm, thì em cứ đi dọc bên này, đường cát dày. Trên cát có vết lõm do vó ngựa của họ, mà cát lại tơi xốp và khô, để lại dấu chân cũng khó thấy. Bên kia mặt đường cứng, tôi đi bên đó."

"Em đi bên đó cũng được mà."

"Không. Tôi không để em bị xước chân."

Họ men theo con đường đi về phía khu đất cao giữa hai hồ, toàn bộ là đường lên dốc, thỉnh thoảng có vài đoạn xuống ngắn. Hai bên đường là những khu rừng non dày đặc, từ lề đường đến rừng cũng đầy bụi rậm, toàn là mâm xôi đen và mâm xôi tím. Nhìn về phía trước, từ trong rừng có thể thấy những đỉnh núi, như một dãy răng cưa. Lúc này trăng sắp lặn rồi.

"Thấy thế nào, em gái?" Nick hỏi em gái.

"Tràn đầy sức lực. Nicky, mỗi lần anh bỏ nhà đi, đều phấn khởi như vậy sao?"

"Đâu có. Luôn cảm thấy rất cô đơn."

"Cô đơn thế nào?"

"Chỉ thấy khổ sở, bức bối. Thực sự không dễ chịu chút nào."

"Có em ở đây, anh nghĩ anh còn thấy cô đơn không?"

"Sẽ không."

"Lần này anh không đi tìm Trudy, mà lại ở với em, anh có hơi không vui không?"

"Sao em cứ phải nhắc đến cô ta?"

"Em đâu có luôn nhắc. Em nghĩ có lẽ anh cứ nghĩ đến cô ta, nên mới tưởng em nói hoài."

"Em đúng là một con ma tinh ranh," Nick nói. "Tôi nhớ đến cô ta vì em nói cho tôi biết cô ta ở đâu. Đã biết cô ta ở đâu, thì đương nhiên phải nghĩ xem cô ta lúc này làm gì, đại loại những chuyện như vậy."

"Em nghĩ em không nên đến."

"Tôi đã bảo em không nên đến."

"À, thôi bỏ đi," em gái nói. "Chúng ta là gì nào, chẳng lẽ lại học theo người ta xấu mà cãi nhau? Em sẽ về ngay. Anh cũng không phải thiếu em là không được."

"Im đi!" Nick nói.

"Làm ơn đừng có dạy đời như thế, Nicky. Em về, hay ở lại, tùy anh quyết định. Anh bảo lúc nào em về thì em về. Nhưng em không muốn cãi nhau. Nhà nào có người thân cãi nhau, chúng ta còn thấy ít sao?"

"Ừm," Nick nói.

"Em biết, anh bị em ép nên mới mang em đi. Nhưng em làm mọi điều đều vì anh, chỉ muốn giúp anh tránh họa. Phải không, anh không bị bọn họ tóm được, đều nhờ có em."

Đang nói chuyện, họ đã lên tới khu đất cao, nơi này lại có thể thấy hồ, nhưng nhìn từ đây, mặt hồ dường như bỗng chốc trở nên chật hẹp, gần như một con sông lớn.

"Tới đây chúng ta phải đi tắt qua cánh đồng," Nick nói. "Rồi ra đó đi theo con đường xưa của thợ đốn gỗ. Nếu em muốn quay về, nên quay đầu ở đây."

Anh tháo ba lô, mang sâu vào trong rừng đặt xuống, em gái cũng dựa súng vào ba lô.

"Ngồi nghỉ một chút đi, em gái," anh nói. "Ai cũng mệt rồi."

Nick nằm xuống, gối đầu lên ba lô, em gái nằm xuống bên cạnh, gối đầu lên vai anh.

"Em có quay về đâu, Nicky, trừ phi anh bảo em đi," cô nói. "Em không muốn cãi nhau với anh. Hứa với em rằng chúng ta sẽ không cãi nhau, được không?"

"Được, hứa với em."

"Em sẽ không nhắc đến Trudy nữa."

"Trudy mặc xác cô ta!"

"Em sẽ hết sức giúp đỡ anh, làm một người bạn đồng hành tốt cho anh."

"Em vốn đã là người bạn đồng hành tốt rồi. Đôi khi tôi nóng nảy, lại thêm cô đơn nên dễ cáu gắt, em không trách đấy chứ?"

"Đâu có. Chúng ta chỉ cần chăm sóc lẫn nhau, kiếm chút niềm vui, có thể sống vui vẻ."

"Tốt. Từ giờ trở đi, hãy sống vui vẻ."

"Em vốn đã luôn vui vẻ rồi."

"Phía trước có một đoạn đường khá khó đi, tiếp đến còn một đoạn nữa còn khó hơn, qua hai đoạn này là đến nơi. Chi bằng chúng ta đợi trời sáng hãy đi. Em ngủ đi, em gái. Em có thấy lạnh không?"

"Không lạnh chút nào, Nicky. Em mặc áo len dài tay."

Cô cuộn người vào sát Nick, chốc lát đã ngủ say. Một lúc sau Nick cũng ngủ. Anh ngủ được hai tiếng, hửng sáng làm anh tỉnh dậy.

Nick đi vòng vèo đủ kiểu trong khu rừng non, rồi mới dẫn em gái bước lên con đường xưa của thợ đốn gỗ.

"Chúng ta không thể để dấu vết rời đường lớn mà đi đường xưa," anh nói với em gái.

Trên đường xưa cây cối um tùm, anh phải liên tục cúi khom người để tránh những cành cây.

"Như một cái hầm," em gái nói.

"Đi một lúc sẽ rộng ra."

"Trước đây em có đến chỗ này không?"

"Chắc chắn chưa. Trước đây anh dẫn em đi săn, chưa bao giờ xa đến thế."

"Từ đây đi ra, có phải tới chỗ bí mật đó không?"

"Không, em gái. Dọc đường này đi, sẽ qua vài bãi gỗ đổ rộng lớn, khá vất vả. Nơi chúng ta đến là nơi không người lui tới."

Họ men theo con đường xưa đi tiếp, rồi ngoặt vào một con đường khác, nơi đó cây cỏ càng um tùm hơn. Sau con đường này mới thấy một khoảng đất trống. Trên khoảng đất trống có những bụi cỏ dại và cây bụi mọc sau khi đốt rừng, còn có vài túp lều gỗ cũ của thợ đốn gỗ. Các túp lều nhỏ rất cũ nát, một số mái đã sụp đổ. Nhưng bên đường có một mạch suối trong vắt, hai anh em đến uống nước. Mặt trời chưa lên, đi suốt một đêm, sáng sớm trời đã thấy bụng đói cồn cào.

"Xung quanh đây trước đây toàn là rừng thông xanh," Nick nói. "Năm đó họ chặt thông xanh ở đây chỉ để lấy vỏ, gỗ họ chưa bao giờ lấy."

"Thế còn con đường này?"

"Họ chắc hẳn là bắt đầu chặt từ xa, lôi vỏ về chất bên đường để mang ra ngoài rừng. Cứ như vậy mà chặt dần, cuối cùng chặt tới bên đường, lại chất vỏ ở đây, rồi lại kéo ra ngoài."

"Phải qua bãi gỗ đổ rộng lớn này mới tới chỗ bí mật?"

"Vâng. Qua bãi gỗ đổ này, đi một đoạn nữa, lại là một bãi gỗ đổ, qua đó mới là rừng nguyên sinh."

"Đã chặt cả khu rừng lớn như vậy, sao lại chừa lại một khu rừng không chặt?"

"Tôi không biết. Có lẽ khu rừng bên đó có chủ, không chịu bán. Rìa một dải vẫn bị chặt trộm khá nhiều, thế nào cũng phải bồi thường phí chặt phá cho chủ rừng. Nhưng phần lớn khu rừng vẫn chưa bị đụng tới, muốn vào thì ngay cả một con đường tạm đi được cũng không có."

"Nhưng sao người ta không đi theo con suối nhỏ? Con suối đó ắt hẳn phải có nguồn chứ?"

Nhân lúc nghỉ ngơi, chưa vội xông vào bãi gỗ đổ khó nhằn trước mặt, Nick rất muốn giảng cho em gái hiểu đạo lý trong đó.

"Chuyện là thế này, em gái. Con suối nhỏ đó sau khi chảy qua con đường lớn chúng ta vừa đi, sẽ phải chảy qua đất của một người nông dân. Người nông dân đó đã rào hết đất của hắn, dùng làm đồng cỏ, hễ ai muốn câu cá trong suối, hắn đều đuổi đi. Vậy nên dưới cây cầu nằm trong ranh giới đất của hắn, người ta không thể qua nổi. Giả sử có ai muốn băng qua đồng cỏ sau nhà hắn, thì cũng phải lội qua suối, mà hắn lại cố tình thả một con bò mộng ở đoạn suối đó. Con bò này hung dữ lắm, thấy ai cũng đuổi. Tôi chưa từng thấy con bò nào hung dữ như vậy, nó cứ canh giữ ở đó, lúc nào cũng hung tợn, chỉ chờ có người đến để nổi điên. Đất của người nông dân đó đến đây là hết, nhưng phía trước lại là một vùng đầm lầy linh sam, chỗ nào cũng có hố nước sâu, người không quen địa hình thì không thể qua. Kể cả người quen địa hình, đi cũng khổ lắm. Từ đó đi tiếp mới tới chỗ bí mật. Còn chúng ta thì đi đường núi, nên không tránh khỏi hơi xa. Qua chỗ bí mật đó, phía trước đầm lầy mới thực sự là đầm lầy. Đó đúng là một vùng đất tuyệt lộ, không ai có thể qua. Được rồi, bây giờ chúng ta hãy đi đoạn đường khó nhằn trước mặt này."

Đoạn đường khó đã đi qua, đoạn đường còn khó hơn cũng đã bỏ lại sau lưng. Nick không biết đã trèo qua bao nhiêu đống gỗ, có đống cao quá đầu anh, có đống thấp đến ngang lưng. Anh luôn đỡ súng trước, đặt lên đỉnh đống gỗ, rồi kéo em gái lên, để cô trèo sang bên kia tụt xuống, hoặc có lúc anh xuống trước, đỡ súng, rồi giúp em gái xuống. Những đống cành cây rối bời, họ hoặc giẫm lên trên, hoặc vòng bên cạnh, khu vực gỗ đổ nực nội, các loại cỏ dại phấn hoa bay đầy, tóc cô bé dính đầy, không chỉ vậy còn bị húng hắng hắt hơi.

"Khu gỗ đổ này chết người thật," cô nói với Nick. Lúc đó họ đang ngồi nghỉ trên một khúc gỗ lớn đã bóc vỏ, chỗ ngồi ngay phía đầu cây mà người lột vỏ đã chặt đổ. Chỗ đã lột vỏ có màu xám xịt, thực ra toàn bộ khúc gỗ mục nát dần cũng xám xịt, những thân cây cao nằm la liệt khắp nơi không cây nào không xám xịt, cành cây bụi rậm cũng xám xịt, chỉ có hoa dại và cỏ dại mọc um tùm xanh tươi.

"Qua được chỗ này thì phía trước không còn khu gỗ đổ nào nữa," Nick nói.

"Chán ghét thật," em gái nói. "Còn loại cỏ dại chết tiệt kia, trông như bãi đất trồng cây trong nghĩa trang không người chăm sóc, trên đất mọc đầy hoa."

"Đó là lý do em hiểu tại sao anh không muốn đi đường trong đêm tối rồi chứ?"

"Khu này ban đêm qua không nổi."

"Ừm. Nhưng qua khu này cũng không sợ có người đuổi theo phía sau. Tới đây, con đường phía trước dễ đi rồi."

Họ ra khỏi khu gỗ đổ nắng chói chang, bước vào khu rừng già bóng mát xanh rì. Khu gỗ đổ kéo dài tới tận đỉnh một dãy núi, qua khỏi đỉnh núi không xa, phía trước toàn là rừng rậm. Trong rừng, mặt đất trải một lớp thảm màu nâu, đi lên đàn hồi, rất mát mẻ. Dưới tán rừng không có cây bụi thấp, cây cối phải đến sáu mươi mét mới bắt đầu phân nhánh. Trong bóng rừng thật mát mẻ, Nick nghe thấy trên ngọn cây cao vời vợi dần dần nổi lên tiếng gió thổi vi vu. Dọc đường đi, không thấy một tia nắng nào. Nick biết, trước buổi trưa nắng nhất định không thể xuyên qua những tán cây cao đan chằng chịt. Em gái nắm tay anh, sát người đi bên cạnh.

"Em sợ thì không sợ, Nicky. Nhưng tới đây em thấy không thoải mái."

"Không thể tính như vậy. Dù sao thì, nếu chưa phải là người lớn, thì chỉ có thể bị đưa vào trại giáo dưỡng. Còn đã thành người lớn rồi, thì vào tù là đủ tiêu chuẩn."

"Nói như vậy, thật may là cậu vẫn chưa được tính là người lớn."

"Họ đừng hòng đưa tôi đi đâu cả," Nick nói. "Mặc dù tác phẩm của tôi viết nghe thật sầu muộn, nhưng chúng ta đừng nói những lời sầu muộn nữa."

"Tôi đâu có nói tác phẩm của cậu viết sầu muộn."

"Tôi biết. Nhưng ai cũng nói như vậy cả."

"Chúng ta nên vui vẻ lên một chút, Nicky," cô em gái nói. "Đến khu rừng này, cả hai chúng ta đều chẳng còn chút tươi cười nào nữa rồi."

"Chúng ta sẽ sớm ra khỏi rừng thôi," Nick bảo cô bé. "Đến lúc đó em sẽ nhìn thấy nơi chúng ta định dừng chân. Em đói không, em gái nhỏ?"

"Có chút đói ạ."

"Chắc chắn là đói lả rồi," Nick nói. "Chúng ta ăn hai quả táo nhé."

Đi xuống một con dốc dài, họ thấy ánh mặt trời xuất hiện giữa những thân cây phía trước. Đến bìa rừng, xung quanh đã bắt đầu mọc đầy cây bạch châu và một vài bụi gai, mặt đất đã là một mảng cỏ cây xanh tốt. Nhìn xuyên qua những thân cây, thấy một bãi cỏ rộng lớn trải dài theo sườn dốc đến tận hàng cây bạch dương bên bờ nước. Qua bãi cỏ và hàng bạch dương ấy, phía dưới nữa là một vùng đầm lầy cây sam xanh thẫm, xa xa ngoài đầm lầy là một dải núi màu xanh đen. Giữa đầm lầy và dãy núi có một khúc hồ uốn lượn. Tuy nhiên, họ đứng đây không thể nhìn thấy được. Chỉ cảm thấy khoảng cách ở giữa rất lớn, khúc hồ uốn lượn này chắc chắn nằm ở đó.

"Đây là suối nước," Nick chỉ cho em gái xem. "Những hòn đá xếp chồng kia chính là nơi anh từng cắm trại trước đây."

"Nicky à, nơi này thật sự quá đẹp, quá đẹp," cô em gái nói. "Còn có thể nhìn thấy hồ nữa, đúng không anh?"

"Có một chỗ nhìn được ra hồ. Nhưng làm nơi ở thì ở đây tốt hơn. Anh đi nhặt ít củi, chúng ta cùng làm bữa sáng."

"Mấy hòn đá chịu lửa này trông thật cổ xưa."

"Nơi này vốn dĩ đã có người ở từ rất lâu rồi," Nick nói. "Mấy hòn đá chịu lửa này vẫn còn là của người da đỏ đấy."

"Trong rừng không có đường mòn, cũng chẳng thấy cây cối nào đánh dấu chỉ đường, sao anh lại nhận đường chuẩn xác đến vậy?"

"Em không thấy trên ba dãy núi đều có dựng cột chỉ đường sao?"

"Không thấy ạ."

"Sau này anh sẽ chỉ cho em xem."

"Là anh dựng ở đó à?"

"Không. Là đã có từ lâu rồi."

"Vậy sao trước đây anh không chỉ cho em?"

"Cái này thì anh cũng không nói rõ được," Nick nói. "Có lẽ anh chỉ muốn thể hiện một chút cho em xem thôi."

"Nicky, ở đây họ đừng hòng tìm thấy chúng ta."

"Hy vọng là vậy," Nick nói.

Khoảng thời gian Nick và em gái bước vào mảnh rừng hoang đầu tiên, người quản lý săn bắn đang ngủ trên hiên có lưới chắn của nhà họ bị ánh mặt trời làm cho tỉnh giấc. Ngôi nhà nằm trong tán cây xanh trên cao cạnh hồ, mặt trời nhô đầu lên từ sườn núi rộng lớn phía sau nhà, chiếu thẳng vào mặt anh ta.

Người quản lý này đêm qua đã dậy uống nước, từ bếp trở về liền nằm xuống sàn, lấy đệm ghế làm gối. Lúc này tỉnh dậy mới biết mình đang nằm dưới sàn, liền vội vàng bò dậy. Anh ta vốn nằm nghiêng bên phải, vì dưới nách trái có đeo một bao súng, bên trong cắm một khẩu súng ổ xoay Smith & Wesson cỡ .38. Giờ đầu óc đã tỉnh táo, anh ta vội vàng sờ vào khẩu súng trước, lúc này mới thấy ánh mặt trời chói mắt, liền ngoảnh mặt đi, sau đó đi vào bếp, múc một gáo nước từ thùng gỗ cạnh bàn thái rau để uống. Cô giúp việc đang nhóm lửa trong lò, người quản lý liền nói với cô: "Làm chút bữa sáng ăn đi, được không?"

"Không có bữa sáng đâu," cô giúp việc nói. Cô ngủ ở căn nhà nhỏ phía sau, nửa tiếng trước mới vào bếp. Vừa vào nhìn thấy người quản lý nằm dưới sàn hiên, chai rượu whiskey trên bàn gần như chỉ còn không khí, cô vừa giật mình vừa cảm thấy phản cảm. Sau đó không nhịn được mà sinh lòng oán giận.

"Không có bữa sáng, cô có ý gì?" Người quản lý nói, chiếc gáo trong tay vẫn chưa buông xuống.

"Thì chính là không có bữa sáng."

"Sao lại không có bữa sáng?"

"Không có gì để ăn cả."

"Thế cà phê thì sao?"

"Cà phê cũng không có."

"Trà thì sao?"

"Trà cũng không có. Không thịt muối, không yến mạch, không muối, không hạt tiêu, không cà phê, không kem đóng hộp nhãn hiệu Borden, không bột kiều mạch nhãn hiệu dì Jenny, không có gì cả."

"Cô đang nói nhảm cái gì thế? Tối hôm qua đồ ăn rõ ràng còn rất nhiều mà."

"Giờ thì hết sạch rồi. Chắc chắn là bị tên 'Ngũ Đạo Mi' tha đi rồi."

Người quản lý từ phương Nam đến nghe họ nói chuyện liền dậy, lúc này đã đi vào bếp.

"Chào buổi sáng?" Cô giúp việc chào hỏi anh ta.

Người quản lý kia không thèm đáp lời, chỉ chăm chăm nói với người quản lý còn lại: "Chuyện gì vậy, Evans?"

"Thằng nhãi con đó đêm qua đã tới, lấy đi rất nhiều đồ ăn, đủ cả một gánh."

"Trong bếp của tôi không được chửi bới," cô giúp việc nói.

"Chúng ta ra ngoài đi," người quản lý từ phương Nam nói. Hai người cùng bước ra hiên, tiện tay đóng cửa bếp lại.

"Chuyện này là thế nào?" Người từ phương Nam chỉ vào chai bia "Old Green River" một lít, chỉ còn lại chưa đầy một phần tư. "Nhìn xem cậu say đến mức nào rồi!"

"Tôi không uống nhiều hơn cậu đâu. Tôi vẫn luôn giữ tỉnh táo ngồi ở bàn..."

"Ngồi đó làm gì?"

"Đợi thằng nhãi nhà Adams xuất hiện."

"Chẳng lẽ không uống chút rượu nào sao."

"Tôi không uống. Sau đó đến khoảng bốn giờ rưỡi, tôi dậy vào bếp uống chút nước, quay lại thì nằm nghỉ ở cửa này một lát."

"Muốn nghỉ một lát sao không nằm trước cửa bếp?"

"Nếu nó đến, nhìn từ đây dễ phát hiện hơn."

"Sau đó thì sao?"

"Chắc là nó cạy cửa sổ vào, dù sao cũng đã lẻn vào bếp, lấy đi nhiều đồ như vậy."

"Nói dối!"

"Thế cậu đang làm gì?" Người quản lý địa phương hỏi.

"Cũng giống cậu, đang ngủ."

"Thế thì xong rồi! Chúng ta việc gì phải tranh cãi. Tranh cãi thì giải quyết được cái gì."

"Cậu đi gọi cô giúp việc ra hiên đi."

Cô giúp việc đi ra hiên, người từ phương Nam nói với cô: "Cô đi nói với bà Adams rằng chúng tôi có chuyện muốn nói với bà ấy."

Cô giúp việc không đáp, nhưng vẫn đi vào trong nhà, tiện tay đóng cửa lại.

"Cậu dọn dẹp mấy chai rượu chưa mở và đã uống hết đi," người từ phương Nam nói. "Chai này còn lại chút rượu, dù sao cũng chẳng dùng được nữa. Cậu có muốn uống một ly không?"

"Cảm ơn, tôi không uống. Hôm nay tôi còn việc phải làm."

"Vậy tôi uống một ly," người từ phương Nam nói. "Cậu đã uống nhiều hơn tôi rồi."

"Sau khi cậu đi tôi không uống một ngụm nào cả," người quản lý địa phương vẫn không chịu bỏ qua.

"Sao cậu cứ nói nhảm mãi thế?"

"Tôi không nói nhảm."

Người từ phương Nam đặt chai rượu xuống. Thấy cô giúp việc mở cửa đi vào, lại tiện tay đóng cửa lại, anh ta liền nói với cô: "Được rồi. Bà ấy nói sao?"

"Bà chủ lại bị đau nửa đầu, không thể gặp các anh. Bảo rằng nếu các anh có lệnh khám xét thì cứ việc khám, khám xong thì xin mời đi cho."

"Chuyện con trai bà ấy thì sao?"

"Bà ấy không nhìn thấy cậu chủ, chuyện của cậu chủ bà ấy chẳng biết gì cả."

"Còn những đứa trẻ khác thì sao?"

"Đi làm khách ở Charlevoix rồi."

"Đi làm khách nhà ai?"

"Không biết ạ. Bà chủ cũng không biết. Dù sao thì chúng cũng đi nhảy múa, ở nhà bạn bè, qua Chủ Nhật mới về."

"Đứa trẻ lảng vảng ở đây hôm qua là ai?"

"Hôm qua tôi không thấy đứa trẻ nào lảng vảng ở đây cả."

"Rõ ràng là có."

"Có lẽ là bạn nhỏ nào đó đến tìm đứa trẻ ở đây chơi. Cũng có thể là con của du khách phương xa nào đó. Là nam hay nữ ạ?"

"Là một cô bé mười một mười hai tuổi. Tóc nâu, mắt nâu. Mặt đầy tàn nhang. Da rám nắng. Mặc quần yếm, áo sơ mi nam. Chân trần."

"Cái này thì không chắc," cô giúp việc nói. "Anh nói mười một mười hai tuổi ạ?"

"Phi, thôi đi," người từ phương Nam nói. "Hỏi được cái gì từ miệng mấy kẻ nhà quê này chứ!"

"Anh nói tôi là kẻ nhà quê, vậy anh ta thì tính là gì?" Cô giúp việc vừa nói vừa liếc nhìn người quản lý địa phương. "Ông Evans thì tính là gì? Con của ông ấy còn học cùng trường với tôi đấy."

"Cô bé đó là ai?" Evans hỏi cô. "Nói mau đi, Susan. Cô không nói thì tôi cũng điều tra ra thôi."

"Sao tôi biết được," cô giúp việc tên Susan nói. "Dạo này người đến đây thăm thú đủ loại người. Tôi thật sự cảm thấy như đang sống ở một thành phố lớn vậy."

"Cô không định tự rước lấy rắc rối chứ, Susan?" Evans nói.

"Sao tôi có thể chứ, thưa ông."

"Tôi không nói đùa với cô."

"Còn ông thì sao, không định tự rước lấy rắc rối chứ?" Susan hỏi lại.

Họ ra ngoài chuồng ngựa đánh xe, người từ phương Nam nói: "Việc của chúng ta không được suôn sẻ lắm nhỉ?"

"Lần này nó có thể cao chạy xa bay rồi," Evans nói. "Đồ ăn đã có, súng chắc chắn cũng lấy được rồi. Nhưng hiện tại nó vẫn chưa chạy ra khỏi vùng này. Tôi chắc chắn bắt được nó. Cậu giỏi nhận biết dấu chân không?"

"Không. Thú thật là tôi không giỏi. Còn cậu?"

"Trên tuyết thì được," người quản lý kia cười nói.

"Nhưng chúng ta cũng không nhất thiết phải tìm thấy dấu chân của nó. Chỉ cần nghiên cứu kỹ, tính toán xem nó đi đâu là được."

"Nó mang theo nhiều đồ như vậy, sẽ không đi về phương Nam đâu. Đi phương Nam chỉ cần mang chút đồ ăn, đến đường sắt là có tàu để đi."

"Tôi cũng không chắc trong nhà củi rốt cuộc đã mất những gì. Nhưng đồ trong bếp chắc chắn nó đã lấy đi một đống lớn. Nó bỏ trốn chắc chắn có mục đích. Tôi phải đi điều tra xem ngày thường nó có thói quen gì, có những bạn bè nào, thường đến đâu. Charlevoix, Petoskey, St. Ignace, Cheboygan, muốn chặn nó thì đến mấy nơi này mà chặn. Cậu nói xem, nếu là cậu thì cậu sẽ đi đâu?"

"Tôi sẽ đi bán đảo phía Tây Bắc."

"Nghĩ giống tôi đấy. Vùng đó nó đã từng đến. Đến bến phà bắt nó là tiện nhất. Nếu không thì rất phiền phức, từ đây đến Cheboygan địa bàn rộng lớn, với nó đều là đường quen lối cũ."

"Chúng ta vẫn nên đi xem Packard thế nào. Hôm nay cứ đi kiểm tra dọc đường này đã."

"Nó sẽ đi tàu tuyến East Jordan - Grand Traverse sao?"

"Cũng không phải không thể. Nhưng như vậy thì xa quê nó quá. Ước chừng nó phần lớn sẽ đến nơi quen thuộc."

Họ đang mở cổng rào định đi ra, Susan từ trong nhà đi ra.

"Có thể đi nhờ xe các anh ra cửa tiệm không? Tôi phải đi mua chút thực phẩm tạp hóa."

"Sao cô biết chúng tôi định đi ra cửa tiệm?"

"Chẳng phải hôm qua các anh đang bàn bạc muốn đi tìm ông Packard sao?"

"Cô mua đồ xong thì vận chuyển về bằng cách nào?"

"Tôi nghĩ đi nhờ xe chắc không vấn đề gì, không thiếu người ra ngoài du lịch, hoặc đến bên hồ chơi. Hôm nay là thứ Bảy mà."

"Được rồi. Lên xe đi," người quản lý địa phương nói.

"Cảm ơn ông, ông Evans," Susan nói.

Đến tiệm tạp hóa kiêm bưu điện, Evans buộc gia súc vào máng cỏ, anh ta và người từ phương Nam không vào tiệm ngay, họ đứng đó bàn bạc vài câu.

"Cô Susan này ghét thật đấy, tôi thật không muốn nói với cô ta một câu nào."

"Đúng vậy."

"Packard lại là người tốt. Ở vùng này không tìm được người thứ hai được lòng như ông ấy. Cho nên chuyện mua cá hồi này, cậu tuyệt đối không được nói ông ấy có gì không phải. Dọa, là dọa không được ông ấy đâu, chúng ta không thể khiến ông ấy đối đầu với chúng ta."

"Cậu thấy ông ấy sẽ hợp tác với chúng ta không?"

"Cậu mà thái độ không tốt là hỏng việc ngay."

"Chúng ta đi gặp ông ấy đi."

Lúc này Susan đã vào tiệm từ lâu, cô đi thẳng qua cửa hàng, qua tủ trưng bày bằng kính, qua những thùng hàng mở nắp, qua những hàng hộp giấy, qua kệ đầy đồ hộp, nhưng chẳng nhìn vào thứ gì, cũng chẳng nhìn thấy người nào. Cô đi thẳng đến bưu điện phía trong, bưu điện có nhiều hòm thư chuyên dụng, có cửa sổ nhận thư và bán tem. Thấy cửa sổ đóng, cô liền đi thẳng ra nhà sau. Ông Packard đang dùng một chiếc xà beng mở một thùng hàng ở đó. Ông nhìn Susan một cái, mỉm cười.

"Ông John," cô giúp việc nói nhanh như chớp. "Có hai người quản lý săn bắn đến tiệm, họ muốn bắt Nick. Nick tối qua đi rồi, em gái nhỏ của nó cũng đi cùng nó. Chuyện này ông tuyệt đối đừng để lộ tin tức. Mẹ nó cũng biết rồi, phía mẹ nó ước chừng vấn đề không lớn. Ít nhất bà ấy sẽ không nói ra đâu."

"Nó mang theo đồ ăn trong nhà đi rồi phải không?"

"Mang đi hơn một nửa rồi."

"Cô cần gì cứ việc chọn, lập một danh sách, lát nữa tôi sẽ đối chiếu từng món với cô."

"Họ sắp vào rồi đấy."

"Cô đi ra từ cửa sau, rồi hãy đi vào từ cửa chính. Tôi đi tiếp họ."

Susan đi vòng qua căn nhà gỗ dài này, lại bước lên bậc cửa chính. Lần này cô vừa bước vào cửa tiệm, thì cái gì cũng nhìn thấy hết. Mấy người da đỏ mang giỏ tới cô biết, hai thanh niên da đỏ đứng trước tủ trưng bày kính bên trái xem đồ câu bên trong cô cũng biết. Trong tủ kính bên cạnh bày những loại thuốc gì cô đều nắm rõ, còn biết những người thường đến mua thuốc là ai. Một mùa hè cô từng làm nhân viên bán hàng ở tiệm này, cho nên biết những ký hiệu chữ cái và con số viết bằng bút chì trên những hộp giấy đó nghĩa là gì, giày dép, ủng đi tuyết mùa đông, tất len, găng tay, mũ, áo chui đầu, trong những hộp giấy này cái gì cũng có. Cô biết mấy người da đỏ mang tới những chiếc giỏ này bán được bao nhiêu tiền, hiện tại đã qua thời vụ, giỏ đã không bán được giá tốt nữa.

"Sao đến lúc này bà mới mang giỏ tới vậy, bà Tabeshaw?" Cô hỏi.

"Ngày 4 tháng 7 chơi vui quá, nên không để ý mang tới," người phụ nữ da đỏ cười nói.

"Billy khỏe không?" Susan hỏi.

"Tôi cũng không biết nữa, Susan. Đã bốn tuần rồi tôi không gặp nó."

"Sao bà không mang giỏ đến khách sạn, tìm cách bán cho du khách ở đó?" Susan nói.

"Cái đó tất nhiên cũng được," bà Tabeshaw nói. "Tôi đã đi một lần rồi."

"Bà nên ngày nào cũng mang đi bán."

"Nhưng đường xa quá," bà Tabeshaw nói.

Trong khi Susan vừa nói chuyện với người quen, vừa lập danh sách mua sắm cho chủ nhà, thì hai người quản lý săn bắn đã gặp ông John Packard ở phía sau cửa tiệm.

Ông John có đôi mắt màu xanh xám, tóc đen, ria mép đen, nhìn dáng vẻ của ông luôn khiến người ta cảm thấy như vị tiên sinh này đi nhầm chỗ, mới đâm sầm vào một cửa tiệm tạp hóa vậy. Khi còn trẻ ông rời khỏi phía Bắc Michigan, đi là mười tám năm, dáng vẻ của ông hoàn toàn không giống một chủ tiệm, mà giống một quan chức an ninh, hoặc giống một tay cờ bạc hào sảng. Thời trẻ ông từng mở vài tửu quán, kinh doanh khá tốt. Nhưng sau đó gỗ rừng vùng này khai thác hết, ông bèn mua ruộng đất, vẫn ở lại địa phương. Sau đó nữa, cả huyện thực thi quyền tự quyết địa phương quyết định cấm rượu, ông lại mua lại cửa tiệm này. Lúc đó ông đã mở một khách sạn. Nhưng ông nói, một khách sạn mà không có quán bar thì không thành quy cách, cho nên khách sạn đó ông hầu như chưa bao giờ tới. Khách sạn do vợ ông kinh doanh. Vợ ông còn hăng hái hơn cả ông, ông nói ông không muốn lãng phí thời gian vào những vị khách này, những vị khách này có tiền, muốn đi nghỉ mát ở đâu thì cứ việc đi, nhưng họ lại cứ thích đến ở một khách sạn không có quán bar, ngồi trên ghế bập bênh ở hiên, đung đưa đung đưa giết thời gian. Ông gọi những du khách này là "đồ thay phiên", hễ bàn với vợ là phải châm chọc một trận, may là vợ ông rất yêu chồng mình, ông có trêu chọc thế nào bà cũng không chấp.

"Ông muốn gọi họ là 'đồ thay phiên' thì cứ gọi," vợ ông một đêm nọ nói bên gối. "Tôi tuy có chút bản lĩnh, nhưng trên đời này chỉ có mình tôi là phải phục tùng sự quản giáo của ông thôi, đúng không?"

Vợ ông hoan nghênh những du khách này, là vì trong số du khách có những người mang đến hơi thở văn hóa tu dưỡng. Ông nói, vợ ông yêu văn hóa tu dưỡng cũng giống như tiều phu thích nhai thuốc lá "Vô Địch" vậy. Thực ra, đối với sở thích này của vợ, ông không hề bất kính, vì chính vợ ông đã nói, tình yêu của bà đối với văn hóa tu dưỡng cũng giống như tình yêu của ông đối với rượu whiskey lâu năm thượng hạng, bà còn nói: "Packard, văn hóa tu dưỡng hay không, ông cũng không cần phải bận tâm nhiều. Dù sao tôi cũng sẽ không yêu cầu ông thế này thế kia. Nhưng tôi cảm thấy có văn hóa tu dưỡng là cao thượng."

Ông nói, bà muốn thưởng thức văn hóa tu dưỡng thì cứ việc thưởng thức, trời có sập xuống ông cũng không quản, chỉ cần đừng bảo ông đi tham gia Chautauqua hay lớp bồi dưỡng người lớn gì đó là được. Ông từng tham gia hội trại truyền giáo, còn tham gia một hội truyền giáo gọi là "Phấn Hưng", nhưng Chautauqua thì ông chưa bao giờ tham gia. Ông nói, hội trại truyền giáo và hội "Phấn Hưng" tuy đều vô cùng tẻ nhạt, nhưng ít nhất cũng có người thật sự bị lay động, sau hội sẽ có chuyện nam nữ tâm đầu ý hợp, mặc dù hội trại truyền giáo hay hội "Phấn Hưng" ông chưa từng thấy ai sau hội chịu trả phí tham gia. Ông bảo với Nick Adams rằng, mỗi lần vợ ông tham gia hội truyền giáo "Phấn Hưng" do những nhân vật lớn như nhà truyền giáo nổi tiếng "Người Digan" Smith chủ trì xong, luôn phải lo lắng một hồi, chỉ sợ linh hồn của ông không được cứu rỗi, tương lai khó được vĩnh sinh, nhưng may là ông Packard trông rất giống Smith, cho nên kết quả luôn có thể tan thành mây khói, vẫn tâm an lý đắc như cũ. Nhưng cái thứ Chautauqua này thế nào, thì ông không nắm chắc. Ông John thầm nghĩ: Văn hóa tu dưỡng có lẽ luôn tao nhã hơn tín ngưỡng tôn giáo nhỉ. Nhưng cái này lẽ ra là một chủ đề nên đối đãi bình tĩnh, mà mọi người lại mê mẩn đến điên cuồng. Ông nhìn ra được, đây tuyệt đối không chỉ là vấn đề chạy theo thời thượng.

"Thứ này thực sự có sức hấp dẫn đối với mọi người," ông từng nói với Nick Adams như vậy. "Bản chất có lẽ hơi gần với giáo phái 'lắc lư gào thét', chỉ là biểu hiện ở phương diện tư tưởng. Vấn đề này sau này cậu có thể nghiên cứu một chút, nói cho tôi nghe suy nghĩ của cậu. Cậu đã muốn làm nhà văn, thì nên sớm làm quen một chút. Muộn là không theo kịp tình hình đâu."

Ông John thích Nick Adams, nói là vì trên người cậu mang theo "nguyên tội". Nick không hiểu ý nghĩa của câu nói này, nhưng nghe xong lại cảm thấy rất tự hào.

"Cậu khó tránh khỏi sẽ làm ra những chuyện, tương lai phải vì thế mà sám hối, chàng trai trẻ," ông John lúc đó nói với Nick như vậy. "Chuyện ấy, có thể nói là một chuyện tốt đẹp lớn lao trên thế gian. Sám hối hay không, dù sao tương lai hãy đi đấu tranh tư tưởng đi. Vấn đề là, loại chuyện này cậu khó tránh khỏi phải làm ra."

"Tôi không muốn làm việc xấu," Nick nói ngay.

"Tôi cũng không hy vọng cậu làm việc xấu," ông John nói. "Nhưng con người sống trên đời luôn sẽ làm ra chuyện này chuyện kia. Làm người không được nói dối, không được trộm cắp. Nhưng nói dối lại là điều ai cũng khó tránh khỏi. Vậy thì cậu phải dùng con mắt để xác định, đối với người nào tuyệt đối không được nói dối."

"Tôi xác định đối với ông tuyệt đối không được nói dối."

"Tốt. Cậu bất kể gặp chuyện gì, tuyệt đối đừng nói một câu dối trá với tôi, tôi cũng tuyệt đối không dùng lời dối trá lừa cậu."

"Tôi nhất định cố gắng làm được," Nick lúc đó nói.

"Không phải cố gắng làm được," ông John nói. "Là tuyệt đối phải làm được."

"Được rồi," Nick nói. "Tôi tuyệt đối không nói dối ông."

"Cô gái của cậu thế nào rồi?"

"Có người nói cô ấy làm việc ở sông Soo phía Bắc."

"Cô gái này trông rất đẹp, tôi luôn rất thích cô ấy," ông John còn nói thêm.

"Tôi cũng vậy," Nick nói.

"Nghĩ thoáng ra, đừng đau khổ quá."

"Tôi cũng không tự chủ được," Nick nói. "Thực ra chuyện này hoàn toàn không thể trách cô ấy. Cô ấy sinh ra đã có tính cách như vậy. Nếu tôi gặp lại cô ấy, tôi nghĩ tôi vẫn sẽ tốt với cô ấy."

"Có lẽ sẽ không đâu."

"Sợ là vẫn sẽ thôi. Tôi chỉ có thể cố gắng kiềm chế bản thân mình thôi."

Ông Packard bận tâm về Nick, đi vào quầy hàng phía sau cửa tiệm, thấy hai người kia đang đợi sẵn ở đó. Ông đứng lại, quan sát từ đầu đến chân cả hai người, chỉ thấy một kẻ cũng chẳng vừa mắt. Đối với tên người bản địa tên Evans, ông chưa bao giờ có thiện cảm, thậm chí là coi thường từ tận đáy lòng. Thế nhưng, khi nhìn thấy gã đến từ phương Nam kia, ông càng nhận ra đây là một nhân vật nguy hiểm. Ông chưa kịp phân tích cụ thể, chỉ nhìn qua tướng mạo đã thấy: ánh mắt thâm trầm khó đoán, đôi môi mím chặt, người thường nhai thuốc lá cũng không cần phải mím chặt đến thế. Trên dây đồng hồ của gã còn treo một chiếc răng nai sừng tấm thật. Đây đúng là hàng quý, ước chừng lấy từ một con nai đực khoảng năm tuổi. Chiếc răng nai đẹp quá, ông Packard không kìm được nhìn thêm lần nữa, rồi lại liếc xuống mảng nhô cao bên trong áo khoác của gã, đó là bao da đựng súng ngắn dưới nách.

"Con nai đực đó là do anh dùng khẩu súng lớn mang theo bên người bắn chết sao?" Ông Packard hỏi gã người phương Nam.

Gã người phương Nam nhìn ông Packard với vẻ khinh khỉnh.

"Không," gã đáp. "Đó là tôi dùng súng trường Winchester 45-70 bắn ở khu vực mở tại Wyoming."

"Ra là anh còn biết dùng súng trường, giỏi thật đấy nhỉ?" Ông Packard nói. Ông ghé đầu nhìn xuống dưới quầy. "Đôi chân cũng không nhỏ đâu. Anh đi truy bắt lũ trẻ mà cũng cần đến khẩu súng lớn thế này à?"

"Ông nói 'lũ trẻ', ý là sao?" Gã người phương Nam hỏi. Gã chọn cách ra đòn phủ đầu.

"Tôi đang nói đến đứa trẻ mà anh đang tìm."

"Rõ ràng ông vừa nói là 'lũ trẻ'," gã người phương Nam vặn lại.

Ông Packard phát động phản công. Không phản công không được. "Evans mang súng gì đi truy bắt đứa trẻ đó? Con cái của chính hắn còn từng bị đứa trẻ đó đánh cho hai trận đấy. Chắc anh mang theo đồ chơi hạng nặng rồi nhỉ, Evans. Cẩn thận không chừng đứa trẻ đó cũng đánh cho anh một trận đấy."

"Tại sao ông không giao thằng bé ra để chúng tôi thử xem?" Evans nói.

"Rõ ràng anh vừa nói là 'lũ trẻ', ông Jackson," gã người phương Nam nói. "Tại sao ông lại nói như vậy?"

"Vì nhìn thấy cái loại khốn nạn như các người nên tôi mới nói vậy," ông Packard nói. "Đồ chó đẻ chân vòng kiềng."

"Nếu ông thực sự có gan nói kiểu đó, sao không bước ra khỏi quầy mà nói?" Gã người phương Nam nói.

"Hãy nhớ cho kỹ, anh đang nói chuyện với Cục trưởng Bưu chính của Hợp chúng quốc đấy," ông Packard nói. "Lời anh nói, ngoài cái thằng Evans mặt phân ra thì chẳng có ai làm chứng cho anh cả. Chắc anh cũng biết tại sao người ta gọi hắn là 'Evans mặt phân' rồi nhỉ. Anh đi mà suy nghĩ cho kỹ đi. Dù sao anh cũng là kẻ làm nghề thám tử mà."

Giờ ông thấy vui vẻ hẳn. Ông đã đẩy lùi được đòn tấn công của đối phương, hòa nhau một ván. Đã bao nhiêu năm rồi ông mới có được tâm trạng như lúc này, giống như ngày xưa, chứ không phải như những năm tháng sau này, vì mưu sinh mà phải phục vụ khách du lịch ăn ngủ, để họ ngồi trên ghế bập bênh gỗ thô ra vào trên ban công khách sạn ngắm cảnh hồ.

"Nghe đây, đồ chân vòng kiềng, tôi nhớ ra anh là ai rồi, nhớ ra hết rồi. Anh không nhớ tôi sao?"

Gã người phương Nam nhìn chằm chằm vào ông, nhưng vẫn không tài nào nhớ nổi.

"Tôi nhớ cái ngày Tom Horn bị treo cổ, anh cũng ở Cheyenne," ông Packard thẳng thừng vạch trần. "Lúc đó lão đại hứa cho lợi lộc, nên có một đám người đứng ra vu khống hắn, trong đó có anh. Giờ thì nhớ ra rồi chứ? Ngay lúc anh giúp người ta mưu sát Tom, anh còn nhớ quán rượu ở Medicine Bow là của ai không? Người cũng đã già rồi mà còn làm chuyện như vậy, chẳng lẽ là do bản tính sao? Trí nhớ của anh thực sự tệ đến mức đó à?"

"Ông rời miền Tây đến đây từ khi nào?"

"Hai năm sau khi vụ án của Tom kết thúc."

"Quỷ tha ma bắt thật."

"Anh còn nhớ lúc chúng ta thu dọn hành lý rời khỏi Greybull, tôi đã tặng anh chiếc răng nai đó không?"

"Nhớ. Nghe này, Jim, đứa trẻ này tôi nhất định phải bắt được nó."

"Tên tôi là John," ông Packard nói. "John Packard. Nào, ra phía sau làm một ly đi. Còn vị kia, anh cũng nên làm quen một chút. Hắn tên là Evans 'mặt mụn'. Trước đây chúng tôi gọi hắn là 'Evans mặt phân'. Để nể mặt hắn, giờ tôi đổi tên cho hắn rồi."

"Ông Packard," ông Evans nói. "Ông thân thiện một chút, giúp chúng tôi một tay, được không?"

"Tôi đã đổi cho anh cái tên khó nghe rồi, không phải sao?" Ông Packard nói. "Xin hỏi hai vị huynh đệ còn muốn tôi giúp gì nữa đây?"

Đến phòng sau, ông Packard lấy một chai bia từ ngăn dưới kệ hàng ở góc phòng, đưa cho gã người phương Nam.

"Uống đi, đồ chân vòng kiềng," ông nói. "Nhìn bộ dạng anh là biết phải làm vài ly rồi."

Đợi mỗi người uống xong một ly, ông Packard mới hỏi: "Các người bắt đứa trẻ đó làm gì?"

"Vì nó vi phạm luật săn bắn," gã người phương Nam nói.

"Vi phạm thế nào?"

"Ngày 12 tháng trước nó đã bắn chết một con nai đực."

"Hai gã đàn ông đường đường chính chính mang súng đuổi bắt một đứa trẻ, hóa ra chỉ vì đứa trẻ đó bắn chết một con nai vào ngày 12 tháng trước thôi sao?" Ông Packard nói.

"Hành vi vi phạm của nó không chỉ có thế."

"Nhưng chỉ có chuyện này là các người nắm được bằng chứng."

"Cũng gần như vậy."

"Nó còn hành vi vi phạm nào khác?"

"Nhiều lắm."

"Nhưng các người đều không có bằng chứng."

"Tôi đâu có nói thế," Evans nói. "Nhưng chuyện này thì bằng chứng sắt thép."

"Ngày 12?"

"Đúng," Evans nói.

"Sao anh không đặt câu hỏi cho nó, cứ để nó dắt mũi vậy?" Gã người phương Nam nhắc nhở đồng bọn. Ông Packard nghe vậy bật cười. "Đừng làm phiền hắn, đồ chân vòng kiềng," ông nói. "Tôi muốn cái đầu xuất sắc của hắn phát huy tác dụng chút."

"Ông có quen đứa trẻ đó không?" Gã người phương Nam hỏi.

"Khá quen."

"Có giao dịch mua bán gì với nó không?"

"Nó thỉnh thoảng đến tiệm của tôi mua vài thứ. Luôn trả bằng tiền mặt."

"Ông có biết nó có thể đi đâu không?"

"Nó có người thân ở Oklahoma."

"Lần cuối ông gặp nó là khi nào?" Evans hỏi.

"Thôi đi, Evans," gã người phương Nam nói. "Anh đang lãng phí thời gian của chúng ta đấy. Cảm ơn bia của ông nhé, Jim."

"Là John," ông Packard nói. "Còn tên anh là gì, đồ chân vòng kiềng?"

"Porter. Henry J. Porter."

"Đồ chân vòng kiềng, anh tuyệt đối không được nổ súng vào đứa trẻ đó đấy nhé."

"Nhiệm vụ của tôi là bắt nó về."

"Anh vốn là kẻ giết người không chớp mắt mà."

"Đi thôi, Evans," gã người phương Nam nói. "Ở đây chỉ tổ phí thời gian."

"Nhớ lời tôi, tuyệt đối không được nổ súng," ông Packard hạ thấp giọng nói.

"Nghe rồi," gã người phương Nam đáp.

Hai người đi qua cửa tiệm, ra ngoài dắt ngựa kéo xe nhẹ rồi rời đi. Ông Packard nhìn theo họ chạy về phía cuối con đường lớn. Người đánh xe là Evans, gã người phương Nam đang nói gì đó với hắn.

"Sao lại gọi là Henry J. Porter nhỉ," ông Packard thầm nghĩ. "Tôi chỉ nhớ tên hắn là 'đồ chân vòng kiềng' gì đó. Chân hắn to, giày đều phải đặt đóng. Mọi người đều gọi hắn là chân vòng kiềng. Sau đó lại thành 'đồ chân vòng kiềng'. Cậu thanh niên nhà Nester bị bắn chết, nghe nói chính hắn là người tìm thấy dấu chân gần hiện trường, từ đó mới hại Tom bị treo cổ. 'Đồ chân vòng kiềng'. 'Đồ chân vòng kiềng' gì nhỉ? Có lẽ tôi vốn không biết họ của hắn. Nhưng cũng không thể gọi là 'đồ chân vòng kiềng' chân vòng kiềng được. Có khi nào là 'đồ chân vòng kiềng' Porter không? Không, chắc chắn không phải Porter."

"Xin lỗi, tôi không thể nhận mấy cái giỏ này của bà, bà Tabeshaw," ông nói. "Bà mang đến muộn quá, giờ đã hết mùa rồi, cái này cũng không để lại đến năm sau bán được. Nhưng nếu bà có thể mang đến khách sạn kiên nhẫn chào mời khách du lịch, thì chắc chắn sẽ bán hết thôi."

"Ông mua lại rồi mang đến khách sạn bán đi," bà Tabeshaw gợi ý.

"Không. Bà trực tiếp bán cho họ dễ hơn," ông Packard nói với bà. "Bà trông rất dễ mến."

"Đó đều là chuyện cũ rồi," bà Tabeshaw nói.

"Susan, tôi có chuyện muốn nói với cô," ông Packard nói.

Vừa vào phòng sau, ông liền nói: "Nói cho tôi biết, chuyện là thế nào?"

"Chẳng phải tôi đã nói với ông rồi sao? Họ đến bắt Nicky, muốn đợi nó về nhà là tóm gọn. Em gái nhỏ của nó đi báo tin, Nicky biết trong nhà có phục kích, nên nhân lúc họ say khướt, nó lấy ít đồ ăn rồi lẻn đi mất. Đồ nó mang theo đủ ăn trong hai tuần, súng nó cũng mang đi, em gái cũng đi cùng nó."

"Tại sao em gái nó lại đi theo?"

"Tôi cũng không biết, ông Packard. Tôi thấy chắc nó muốn chăm sóc anh trai, mặt khác cũng để trông chừng, không cho anh trai làm chuyện gì dại dột. Ông biết tính khí của Nicky mà."

"Quê cô ở gần nhà Evans. Cô có biết Nick thường đi đâu không?"

"Những gì có thể hỏi thăm thì nó đều hỏi rồi. Còn nó có biết rõ hay không, thì tôi không biết."

"Cô thấy hai anh em chúng nó đi đâu rồi?"

"Chuyện này tôi chịu, ông Packard. Nicky đi qua nhiều nơi lắm."

"Gã đi cùng Evans không phải người tốt đâu. Hắn là một tên khốn thực sự đấy."

"Người này không thông minh lắm đâu."

"Đừng nhìn bộ dạng hắn, thực ra gã này tinh ranh lắm. Hắn uống nhiều rượu nên mới ỉu xìu như vậy thôi. Chứ thực ra hắn rất tinh và lòng dạ độc ác. Tôi từng biết về hắn."

"Ông có việc gì cần tôi làm không?"

"Không có gì, Susan. Có tình hình gì nhớ báo cho tôi biết."

"Ông Packard, đợi tôi quyết toán xong tiền hàng, ông kiểm tra lại giúp tôi nhé."

"Cô về bằng cách nào?"

"Tôi có thể đi thuyền đến bến tàu nhà Henry, rồi từ nhà chủ cũ chèo một chiếc thuyền nhỏ ra, đón đồ về bến tàu. Ông Packard, họ định xử lý Nicky thế nào ạ?"

"Tôi cũng đang lo việc đó đây."

"Nghe họ nói, hình như định đưa nó vào trại giáo dưỡng gì đó."

"Giá như nó không bắn chết con nai đó thì tốt."

"Bản thân nó cũng hối hận. Nó nói với tôi là nó vừa đọc trong sách, bảo rằng bắn thú hoang chỉ cần súng chuẩn, đạn có thể chỉ sượt qua da mà không làm chết. Có thể chỉ bắn cho ngất đi mà không chết, nên Nicky rất muốn thử. Nó nói nó biết thừa đó là việc ngu ngốc, nhưng vẫn rất muốn thử. Thế là nó bắn con nai đó, kết quả làm gãy cả cổ con nai. Nó thấy đau lòng lắm. Cái gì mà sượt qua không chết, nó thấy mình không nên thử những chuyện như vậy."

"Hóa ra là thế."

"Nó treo thịt nai ở chỗ làm lạnh dưới nước, sau đó chắc chắn bị Evans phát hiện. Dù sao cũng bị người ta lấy mất rồi."

"Ai lại đi báo với Evans chứ?"

"Tôi nghĩ vấn đề nằm ở thằng con trai nhà Evans. Thằng nhóc này cứ bám đuôi Nick. Nó đi theo sau mà ông không thấy được đâu. Rất có thể việc Nick bắn chết con nai nó cũng thấy rồi. Thằng nhóc này không phải dạng vừa đâu, ông Packard. Nhưng khả năng bám đuôi của nó thì đúng là không chê vào đâu được. Biết đâu giờ này nó đang trốn trong căn phòng này cũng nên."

"Điều đó không thể nào," ông Packard nói. "Nhưng trốn bên ngoài nghe lén thì có thể."

"Tôi thấy chắc nó đi đuổi theo Nick rồi," người nữ giúp việc nói.

"Cô có nghe họ nhắc đến nó ở nhà chủ cũ không?"

"Một câu cũng không," Susan nói.

"Evans chắc chắn giữ nó ở nhà làm việc. Tôi thấy đối với thằng nhóc này chúng ta tạm thời không cần bận tâm, có chuyện gì cũng phải đợi hai gã kia về nhà Evans mới có biến."

"Chiều nay tôi chèo thuyền qua hồ về nhà một chuyến, phái một đứa trẻ đi dò hỏi xem nhà Evans có thuê người làm việc không. Nếu có, tức là hắn đã để thằng nhóc đó ra ngoài rồi."

"Hai gã kia tuổi đã cao, làm việc theo dõi không ổn đâu."

"Nhưng thằng nhóc đó lợi hại lắm, ông Packard, nó hiểu rõ tình hình của Nick, Nick thường đi đâu nó đều nắm rõ. Nó sẽ tìm thấy hai anh em, rồi dẫn người lớn đến bắt chúng."

"Nào, vào bưu điện nói chuyện đi," ông Packard nói.

Đến phía sau những ô thư, hòm thư chuyên dụng, những xấp tem thư được sắp xếp ngăn nắp, cùng sổ đăng ký, con dấu, khay mực, cửa sổ nhận thư đóng lại, Susan lại cảm nhận được niềm tự hào khi ngồi vào bưu điện lúc còn làm thuê ở cửa tiệm. Vừa vào trong, ông Packard liền nói: "Theo cô, họ đi đâu rồi, Susan?"

"Chuyện này tôi chịu, thật đấy. Tôi thấy chắc không đi xa đâu, nếu không nó đã không mang theo em gái. Hơn nữa đó chắc chắn là một nơi cực tốt, nếu không nó cũng không mang theo em gái. Việc câu cá hồi làm món ăn cho khách sạn họ cũng biết rồi, ông Packard."

"Cũng là do thằng nhóc đó biết?"

"Đúng vậy."

"Thằng nhóc nhà Evans đó, chúng ta e là phải nghĩ cách đối phó với nó."

"Tôi thật muốn giết nó. Em gái đi theo anh trai, tôi tin chắc cũng vì lý do này. Để tránh việc Nick giết nó."

"Cô nghĩ cách đi, chúng ta không được để mất dấu chúng."

"Vâng. Nhưng ông cũng phải nghĩ cách đi, ông Packard. Bà Adams đã hoàn toàn suy sụp rồi. Bệnh đau nửa đầu cũ lại tái phát. Này, đây có lá thư, ông cầm lấy đi."

"Cô bỏ vào hòm thư đi," ông Packard nói. "Đây là gửi qua bưu điện."

"Tối qua nhìn thấy hai người họ ngủ, tôi thực sự muốn giết họ."

"Không được," ông Packard nói với cô. "Lời này tuyệt đối không được nói, ý nghĩ này cũng tuyệt đối không được có."

"Ông chẳng lẽ chưa từng có ý nghĩ muốn giết ai sao, ông Packard?"

"Cũng có chứ. Nhưng ý nghĩ đó không được phép, và cũng không giải quyết được gì."

"Bố tôi từng giết một người."

"Điều đó chẳng có lợi gì cho ông ấy cả."

"Ông ấy thực sự không nhịn được."

"Phải học cách kiềm chế," ông Packard nói. "Cô nên đi đi, Susan."

"Tối nay hoặc sáng mai tôi lại đến thăm ông," Susan nói. "Giá mà tôi còn có thể làm việc ở đây thì tốt biết mấy, ông Packard."

"Tôi cũng ước cô có thể làm việc ở đây, Susan. Nhưng bà Packard thì không nghĩ vậy."

"Tôi hiểu," Susan nói. "Chuyện trên đời đều là như vậy cả."

Hai anh em Nick nằm trên chiếc giường trải bằng cỏ non, phía trên có một mái che nghiêng do hai anh em cùng dựng lên. Địa điểm nằm ngay rìa rừng thông, phía trước cách một sườn đồi là vùng đầm lầy cây tùng, ngoài vùng đầm lầy chính là những ngọn núi xanh xa xăm.

"Nếu anh thấy chưa đủ thoải mái, em gái, chúng ta có thể bóc thêm ít nhựa cây thông mềm lót bên dưới. Đêm nay mệt rồi, cứ tạm bợ qua đêm nay thôi. Ngày mai sẽ dọn dẹp lại cho tử tế, thế nào cũng phải làm cho ưng ý mới thôi."

"Thế này đã đủ dễ chịu rồi," người em nói. "Duỗi tay duỗi chân thế này, còn gì dễ chịu hơn nữa, Nicky."

"Nơi này qua đêm khá tốt," Nicky nói. "Hơn nữa lại không lộ liễu. Đống lửa của chúng ta phải đốt càng nhỏ càng tốt."

"Ở đây đốt lửa bên núi đối diện có nhìn thấy không?"

"Có thể nhìn thấy," Nick nói. "Đêm tối lửa sáng rất dễ bị phát hiện, nhìn từ xa cũng thấy. Nhưng anh có thể căng một tấm chăn che ánh lửa. Như vậy sẽ không ai nhìn thấy nữa."

"Nicky, nếu phía sau chúng ta không có quân truy đuổi, đến đây chỉ để chơi thôi thì tốt biết mấy."

"Đừng quá sớm ôm hy vọng đó," Nick nói. "Chúng ta mới chỉ bắt đầu thôi. Hơn nữa, nếu chỉ để chơi thôi, chúng ta cũng sẽ không đến đây."

"Xin lỗi anh, Nicky."

"Không sao đâu," Nick nói với em. "Này, em gái, anh xuống dưới câu vài con cá hồi về làm bữa tối."

"Em đi cùng được không?"

"Đừng. Em cứ ở lại đây nghỉ ngơi đi. Mệt mỏi cả ngày rồi, cũng vất vả cho em. Em cứ đọc sách, hoặc nghỉ ngơi yên tĩnh một lát."

"Khu rừng gỗ hỗn độn đó mệt thật đấy, phải không? Em thấy cái đó mới thực sự khó đối phó. Em làm cũng được chứ?"

"Em làm rất tuyệt, dựng lều cắm trại em đúng là có năng khiếu. Nhưng giờ em vẫn phải nghỉ ngơi cho tốt."

"Trại của chúng ta đã đặt tên chưa?"

"Cứ gọi là Trại số 1 đi," Nick nói.

Cậu đi xuống dốc về phía con suối, gần đến bờ suối thì dừng lại chặt một cành liễu dài khoảng bốn feet, gọt sạch cành, nhưng không cạo vỏ. Từ đây có thể nhìn thấy dòng suối trong vắt và chảy xiết. Con suối không rộng nhưng rất sâu, bờ suối mọc đầy rêu, từ đây chảy thẳng vào vùng đầm lầy. Dòng nước trong veo chảy rất nhanh, chỗ gấp khúc có thể thấy từng đóa bọt nước trào lên mặt nước. Nick không đi ra tận bờ vì biết dưới đất bờ suối cũng là dòng nước, cậu không muốn giẫm lên làm kinh động đến cá.

Cậu thầm nghĩ: Giờ này chắc chắn cá ở giữa dòng suối không ít. Đã vào cuối hè rồi.

Cậu lấy từ túi áo ngực bên trái ra một túi thuốc lá, từ đó rút ra một cuộn dây tơ, ước chừng độ dài cành liễu rồi cắt một đoạn, buộc vào rãnh nhỏ đã được tạo sẵn ở đầu cành liễu. Sau đó lại lấy từ túi thuốc lá ra một chiếc lưỡi câu buộc vào, thử độ bền của dây và độ cong của cành liễu. Cậu đặt cần câu xuống, quay lại khu rừng bạch dương nhỏ cạnh rừng cây tùng bên bờ suối, ở đó có một cây bạch dương đã chết khô từ lâu, thân cây nằm ngang trên mặt đất. Cậu lật thân cây khô lên, thấy bên dưới có vài con giun đất. Giun không lớn nhưng đỏ tươi, đang ngọ nguậy, cậu nhặt hết bỏ vào một chiếc hộp tròn vốn đựng thuốc lá Copenhagen, nắp hộp được đục sẵn vài lỗ nhỏ. Cậu còn rắc ít đất lên giun, rồi đặt lại thân cây vào chỗ cũ. Ở nơi này mỗi lần đến cậu đều tìm được mồi, tính ra đã là năm thứ ba liên tiếp; sau khi lật thân cây lên, lần nào cậu cũng đặt lại như cũ.

Cậu thầm nghĩ: Không biết đáy của con suối này rộng đến mức nào. Thượng nguồn còn có một vùng đầm lầy khác, cái đó mới đáng sợ, lượng nước lớn trong đầm lầy đều đổ qua con suối này. Cậu nhìn hai đầu con suối, rồi ngước nhìn nơi chuẩn bị ngủ lại dưới rừng thông trên núi. Sau đó quay lại cầm cần câu, dây và lưỡi đã lắp xong, cậu cẩn thận móc mồi vào lưỡi câu, còn nhổ nước bọt cầu may. Cậu cầm cần câu đã móc mồi bằng tay phải, rón rén đi về phía bờ con suối nhỏ mà dòng chảy lại cực mạnh.

Đoạn này mặt nước đặc biệt hẹp, cành liễu của cậu chỉ cần vung nhẹ là dây câu chắc chắn văng sang bờ bên kia. Gần đến bờ, chỉ nghe tiếng suối chảy xiết ầm ầm. Để tránh bóng mình in xuống mặt nước, cậu đứng xa bờ, lấy từ túi thuốc lá ra hai viên chì có xẻ rãnh, kẹp vào dây câu cách lưỡi khoảng một foot, dùng răng cắn chặt, viên chì liền bám chặt vào dây câu.

Trên lưỡi câu móc hai con giun đất đang cuộn mình, cậu vung tay ném lưỡi câu ra mặt nước rồi nhẹ nhàng thả xuống. Lưỡi câu xoay một vòng trong dòng nước chảy xiết rồi chìm nghỉm. Cậu hạ thấp đầu cần câu bằng liễu, để mặc dòng nước kéo dây câu, lưỡi câu cùng mồi nhử trôi vào con lạch tối tăm dưới bờ suối. Cậu cảm thấy dây câu căng thẳng, rồi đột ngột bị giật mạnh. Cậu liền nhấc cần câu lên, nhưng chiếc cần cong vút trong tay, không sao thẳng nổi. Cậu chỉ cảm thấy sợi dây đang căng cứng cứ giật qua giật lại, cậu dùng sức kéo lên, nhưng dây câu tuyệt nhiên không hề lỏng ra. Mãi sau, lực giật mới dịu lại, con vật đó theo dây câu mà trồi lên mặt nước. Chỉ thấy trong con suối hẹp và sâu ấy, một hồi quẫy đạp điên cuồng, con cá hồi bị kéo lên khỏi mặt nước, treo lơ lửng rồi đập cánh, văng ra sau lưng Nick, rơi xuống bờ suối phía sau. Con cá lấp lánh dưới ánh mặt trời, chói lóa cả mắt, Nick định thần lại mới nhìn rõ nó đang quẫy đạp trên đám cỏ phượng vĩ. Nick nâng con cá lên, một con cá thật cường tráng, nặng trịch, mùi cá thơm lừng thật quyến rũ. Nhìn kỹ lại, da lưng cá có màu rất đậm, những đốm đen khắp thân mình sáng bóng, mép vây lại càng rực rỡ sắc màu. Mép vây trắng bệch, bên trong khảm một đường chỉ đen, phần bụng cá là một màu vàng đáng yêu, tựa như ráng chiều. Nick cầm con cá trong tay phải, phải gắng sức mới nắm chặt được.

Cậu nghĩ thầm: "Con cá này hơi lớn, cái chảo đáy bằng không chứa nổi. Nhưng đã lỡ làm nó bị thương rồi, thì cứ giết quách đi thôi."

Cậu dùng chuôi dao săn đập mạnh vào đầu con cá hồi, rồi tựa nó vào thân một cây bạch dương.

"Chà, tiếc thật," cậu tự nhủ. "Cá lớn cỡ này mà đem làm món ăn cho khách sạn của bà Packard thì còn gì bằng. Nhưng để mình và em gái ăn thì lại hơi quá."

Cậu nghĩ thầm: "Hay là mình lên thượng nguồn, tìm chỗ nước nông câu hai con nhỏ hơn vậy. Mà cũng lạ thật, con cá bị mình kéo mạnh ra khỏi lưỡi câu như thế, chẳng lẽ không đau chút nào sao? Người ta cứ bảo câu cá là thú vui, họ thích nói thế thì cứ để họ nói, nhưng kẻ nào chưa từng gỡ cá ra khỏi lưỡi câu thì sẽ chẳng bao giờ biết được cú giật đó gây cho cá nỗi đau đớn lớn đến nhường nào. Dẫu chỉ là nỗi đau trong chớp mắt, thì chẳng phải vẫn là đau đớn sao? Đang yên đang lành, tự do tự tại, bỗng đâu có kẻ bắt mình cắn câu, rồi lại bị lôi lên khỏi mặt nước, treo lơ lửng giữa không trung, cậu thử hỏi xem cái cảm giác đó có dễ chịu không?"

Cậu thầm nghĩ: "Con suối này thật kỳ lạ. Đi câu mà lại phải tìm con cá nhỏ hơn để câu, chẳng phải là quái đản sao!"

Cậu nhặt chiếc cần câu vừa vứt xuống. Lưỡi câu bị cong, cậu dùng tay bẻ thẳng lại. Sau đó xách con cá lớn lên và đi về phía thượng nguồn.

Cậu nghĩ thầm: "Qua khỏi vùng đầm lầy ở thượng nguồn không xa, có một bãi sỏi, nước suối rất nông. Mình có thể đến đó câu hai con cá hồi nhỏ. Con cá lớn này chưa chắc em gái đã thích. Nếu nó nhớ nhà, mình vẫn phải đưa nó về. Không biết hai lão già kia giờ này đang làm gì? Chỗ này của mình, chắc thằng nhãi ranh nhà Evans kia cũng chẳng biết đâu. Đồ chó đẻ! Mình thấy ở đây ngoài người da đỏ ra, chẳng ai đến câu cá cả. Làm người da đỏ thật tốt biết bao - cậu nghĩ. Làm người da đỏ có thể tránh được bao nhiêu là phiền phức."

Cậu cứ men theo con suối đi ngược lên, cố gắng không đi sát mép nước, nhưng rồi vẫn có lúc giẫm phải một chỗ đất rỗng có dòng chảy ngầm bên dưới. Chỉ thấy "vút" một cái, một con cá hồi lớn lao ra, tạo nên một vệt nước bắn tung tóe. Con cá hồi lớn như vậy, ở trong con suối này e rằng có muốn xoay mình cũng không xoay nổi.

Con cá hồi trốn lên thượng nguồn, lại chui vào dòng chảy ngầm dưới bờ suối. Nick nhìn theo cái bóng con cá mà nói: "Mày từ đâu đến thế? Chà, con cá hồi lớn thật!"

Tại đoạn bãi cạn đầy sỏi đó, cậu đã câu được hai con cá hồi nhỏ. Cá tuy nhỏ nhưng trông khá đẹp và chắc nịch. Cậu mổ bụng cả ba con cá, vứt nội tạng xuống suối, còn cá thì rửa sạch bằng nước lạnh, lấy trong túi ra một chiếc túi đựng đường nhỏ đã bạc màu để gói lại.

Cậu nghĩ thầm: "May mà em gái thích ăn cá. Nếu tìm được thêm ít quả dại thì tốt. Nhưng mình biết chỗ nào có, đằng nào cũng sẽ hái được một ít." Cậu xoay người lên sườn đồi, đi về phía nơi cắm trại của họ. Mặt trời đã lặn, thời tiết rất đẹp. Cậu ngước mắt nhìn xa xăm, nhìn tận ra ngoài vùng đầm lầy, thấy trên bầu trời phía đó có một con chim ưng biển đang bay lượn, theo phương hướng mà tính thì phía dưới hẳn là vũng hồ đó.

Cậu lặng lẽ đến trước căn lều, em gái chẳng hề hay biết. Nó đang nằm nghiêng đọc sách. Để tránh làm nó giật mình, cậu nói rất khẽ.

"Đồ quỷ nhỏ, em đang làm gì đấy?"

Em gái quay đầu lại nhìn cậu, mỉm cười rồi lắc đầu.

"Em cắt tóc rồi," nó nói.

"Cắt thế nào?"

"Dùng kéo chứ sao. Anh bảo còn cắt thế nào được nữa?"

"Em không có gương, sao mà cắt được?"

"Em dùng một tay giữ tóc, một tay cắt. Có gì khó đâu. Nhìn em có giống thằng con trai không?"

"Giống một thằng nhóc man di ở Borneo."

"Muốn em cắt cho gọn gàng như học sinh trường Chủ nhật thì làm sao mà được. Em cắt trông có giống đồ dã nhân chính hiệu không?"

"Cũng không hẳn."

"Thú vị thật," nó nói. "Giờ em vừa là em gái anh, lại vừa là con trai rồi. Anh bảo liệu em có thể biến thành con trai từ nay về sau không?"

"Làm sao mà được."

"Được thì tốt biết mấy."

"Em cứ nói linh tinh, em gái ạ."

"Chắc là có hơi ngốc thật. Anh nhìn em có giống thằng nhóc ngốc không?"

"Có hơi giống."

"Anh sửa lại cho bằng đi. Anh có thể cầm cái lược vừa nhìn vừa cắt."

"Anh cũng phải sửa cho em trông tàm tạm một chút, chứ để đẹp thì anh không có bản lĩnh đó. Em đói chưa, thằng em ngốc?"

"Em không thể làm thằng em không ngốc của anh được sao?"

"Anh chẳng đời nào chịu đổi em lấy một thằng em trai khác đâu."

"Nhưng giờ anh không đổi không được, Nicky, anh chẳng lẽ không nhìn ra sao? Chúng ta không làm thế này không được. Lẽ ra em nên hỏi anh trước, nhưng cứ nghĩ đến việc không làm thế này không xong, nên em cứ lặng lẽ làm trước rồi tính sau."

"Em làm tốt lắm," Nick nói. "Sợ gì chứ! Em làm tuyệt lắm."

"Cảm ơn anh, Nicky, cảm ơn anh nhiều lắm. Vừa rồi em cứ theo lời anh dặn, nằm đây định nghỉ ngơi cho tử tế. Nhưng trong đầu cứ suy nghĩ vẩn vơ, luôn nghĩ xem nên làm gì cho anh. Ví dụ như vừa rồi em đang nghĩ, em sẽ lấy một cái hộp đựng thuốc lá, đến những nơi lớn như Sheboygan tìm một quán rượu lớn, lấy cho anh một hộp thuốc mê."

"Em đi hỏi xin ai?"

Nick lúc này đã ngồi xuống, em gái ngồi trên đầu gối cậu, vòng tay ôm lấy cổ cậu, mái tóc ngắn cọ cọ vào má cậu.

"Hỏi bà hoàng trong đám kỹ nữ ấy chứ," nó nói. "Anh có biết quán rượu đó tên là gì không?"

"Không biết."

"Tên là 'Cửa hàng khách sạn đồng tiền vàng mười đô la Hoàng gia'."

"Em làm gì ở đó?"

"Làm tùy tùng cho kỹ nữ."

"Tùy tùng cho kỹ nữ là làm cái gì?"

"Này nhé, kỹ nữ ra ra vào vào, em đi phía sau xách váy dài cho cô ấy; cô ấy muốn lên xe ngựa, em mở cửa xe cho cô ấy; cô ấy nên đi đến phòng nào, em dẫn đường cho cô ấy kẻo đi nhầm. Chắc là cũng giống nữ quan tùy tùng bên cạnh nữ hoàng vậy."

"Làm tùy tùng thì nói chuyện với kỹ nữ thế nào?"

"Chỉ cần không phải là lời lẽ thất lễ, nghĩ gì nói nấy."

"Em thử nói một câu cho anh nghe xem nào, em trai."

"Ví dụ nhé: 'Ôi chao, tiểu thư, cái ngày nóng nực như hôm nay, dù có là con chim ở trong lồng mạ vàng, chắc chắn cũng mệt mỏi lắm rồi.' Đại loại là như vậy đó."

"Vậy kỹ nữ nói thế nào?"

"Cô ấy sẽ nói: 'Nói cũng đúng. Nhưng đó cũng có cái thú riêng của nó.' Bởi vì kỹ nữ mà em làm tùy tùng này, xuất thân của cô ấy rất hèn mọn."

"Thế còn xuất thân của em thì sao?"

"Em là em gái của một nhà văn sầu muộn, không, là em trai, em có giáo dục tốt. Thế nên em rất được bà hoàng đó hoan nghênh, đám kỹ nữ kia cũng rất chào đón em."

"Thuốc mê em đã lấy được chưa?"

"Tất nhiên là lấy được rồi. Cô ấy nói: 'Cục cưng nhỏ, linh dược này em cầm lấy đi.' Em còn nói 'Cảm ơn' nữa đấy! Cô ấy còn nói: 'Hãy thay mặt ta gửi lời hỏi thăm đến người anh sầu muộn của em, khi nào anh ấy đến Sheboygan, nhớ bảo anh ấy ghé cửa hàng của chúng ta chơi nhé.'"

"Em xuống đi," Nick nói.

"Người ở cửa hàng đó nói chuyện đều bằng cái giọng điệu này đấy," em gái nói.

"Anh phải nấu cơm tối đây. Em không đói à?"

"Cơm tối để em nấu."

"Không," Nick nói. "Em cứ nói tiếp đi."

"Anh nhìn xem chúng ta có sống vui vẻ không, Nicky?"

"Chẳng phải chúng ta đang sống rất vui vẻ đây sao?"

"Việc em làm cho anh còn một chuyện nữa, anh có muốn nghe không?"

"Đó là chuyện trước khi em quyết định cắt tóc, làm mấy việc thực tế à?"

"Việc này cũng rất thực tế. Anh nghe em nói là hiểu ngay. Lúc anh nấu cơm tối, em hôn anh một cái có sao không?"

"Lát nữa anh trả lời em. Rốt cuộc em còn muốn làm việc gì cho anh?"

"Nhưng tối qua em đã trộm rượu whisky, em thực sự lo mình đã bị suy đồi đạo đức. Anh thử nói xem, chỉ làm mỗi việc này thôi, có thể coi là suy đồi đạo đức không?"

"Khó nói lắm. Dù sao thì bia đó cũng đã khui rồi."

"Nói cũng phải. Nhưng em mang chai rượu nhỏ đã hết cùng với chai rượu lớn còn đầy vào bếp, rót đầy một chai rượu nhỏ, lúc làm không cẩn thận làm rượu bắn vào tay, em dùng lưỡi liếm rượu đi, lúc đó em đã nghĩ phen này mình chắc là suy đồi đạo đức rồi."

"Em thấy mùi vị rượu thế nào?"

"Gắt lắm, lại còn lạ nữa, hơi làm người ta buồn nôn."

"Thế nghĩa là em không hề suy đồi đạo đức."

"À, thế thì tốt, vì nếu em mà suy đồi đạo đức thì làm sao có ích được cho anh nữa?"

"Cái này thì anh cũng không biết," Nick nói. "Rốt cuộc em còn muốn làm việc gì cho anh?"

Cậu đã nhóm lửa xong, chảo đáy bằng cũng đã đặt lên đống lửa, những lát thịt xông khói đang được xếp từng miếng vào chảo. Em gái chụm hai tay ôm lấy đầu gối, đứng nhìn một bên. Nick thấy nó buông tay ra, một cánh tay duỗi xuống, cố sức chống một cái, hai chân liền duỗi thẳng ra. Muốn làm con trai, nó phải học mọi thứ.

"Em còn phải học xem hai tay này nên để thế nào."

"Chỉ cần đừng có vuốt tóc hay làm gì đại loại thế là được."

"Cái đó em biết. Nhưng nếu trước mắt có một thằng con trai cùng tuổi cho em bắt chước theo thì dễ dàng hơn nhiều."

"Bắt chước anh là được rồi."

"Bắt chước anh tất nhiên là thích hợp nhất rồi, phải không? Nhưng anh đừng có cười em đấy nhé."

"Cái đó thì khó nói."

"Ôi chao, mong là em đừng có sơ ý lộ ra dáng vẻ con gái trên đường đi."

"Sẽ không đâu."

"Vai của chúng ta mọc giống hệt nhau, chân cũng gần như vậy."

"Rốt cuộc em còn muốn làm việc gì cho anh nữa?"

Nick lúc này đang rán cá hồi. Họ dùng một đoạn gỗ vừa chặt được từ cây khô đổ trên đất làm củi, những lát thịt xông khói đã rán vàng giòn cuộn lại, dầu thịt tiết ra để rán cá hồi, cả hai đều ngửi thấy mùi thơm lừng. Nick lấy dầu rưới lên mình cá, lát sau lại lật mặt cá, rồi tiếp tục rưới dầu. Trời dần tối lại, phía sau đống lửa nhỏ đã căng một tấm vải bạt để tránh người nhìn thấy ánh lửa.

"Rốt cuộc em còn muốn làm việc gì cho anh?" cậu lại hỏi. Em gái nhoài người về phía trước, nhổ một bãi nước bọt vào đống lửa.

"Bãi nước bọt này em nhổ có giống không?"

"Dù sao thì cũng chưa tới được cái chảo."

"Ôi chao, chiêu đó của em lợi hại lắm đấy. Đó là em học từ trong 'Kinh Thánh' ra. Em phải lấy ba cái đinh sắt lớn, cho hai lão già kia cộng thêm thằng nhãi ranh hư hỏng đó mỗi đứa một cái, em phải thừa lúc bọn chúng ngủ say, đóng đinh sắt vào thái dương của chúng."

"Đinh này em định dùng cái gì để đóng?"

"Búa không tiếng."

"Cái búa này em làm thế nào để nó không phát ra tiếng?"

"Em có cách gói nó lại cho không phát ra tiếng."

"Việc đóng đinh này không dễ làm đâu."

"Hầy, người đàn bà trong 'Kinh Thánh' chính là làm như thế đấy. Còn em, em thấy bọn đàn ông lớn xác mang theo súng uống rượu say mèm, em thừa lúc đêm tối lượn một vòng giữa bọn chúng, trộm đi rượu whisky của bọn chúng, em đã làm được những việc này rồi, tại sao không làm cho trót luôn? Huống hồ đây là em học từ trong 'Kinh Thánh' ra."

"Trong 'Kinh Thánh' làm gì có búa không tiếng."

"Chắc em nhớ nhầm, chắc là có mái chèo không tiếng thì phải."

"Có lẽ là có. Nhưng chúng ta không thể đi giết người được. Em đi cùng anh, chẳng phải cũng vì lý do đó sao?"

"Em biết. Nhưng tính tình của anh và em rất dễ phạm tội, Nicky. Chúng ta không giống người ta. Hơn nữa, em nghĩ vì mình đã suy đồi đạo đức rồi, thì cứ làm tới bến luôn."

"Em điên rồi, em gái," cậu nói. "Anh hỏi em, em uống trà xong có ngủ được không?"

"Em cũng không biết. Buổi tối em chưa bao giờ uống trà. Nhiều nhất chỉ uống trà bạc hà."

"Anh pha trà nhạt một chút, rồi cho thêm sữa đặc đóng hộp vào."

"Nếu chúng ta không mang nhiều, Nicky, thì em đừng uống nữa."

"Em uống thử xem, sữa thêm vào trà có một hương vị nhạt nhạt rất riêng."

Họ lúc này đã đang ăn tối. Nick cắt cho mình và em gái mỗi người hai lát bánh mì đen, trước tiên mỗi người nhúng một lát vào dầu thịt trong chảo. Khi ăn bánh mì nhúng dầu thì vừa ăn vừa ăn cá hồi, cá hồi bên ngoài giòn mà bên trong cực kỳ mềm, rán thật là ngon tuyệt. Ăn xong liền ném xương cá vào lửa, rồi lấy lát bánh mì khác kẹp thịt xông khói ăn, em gái còn uống trà nhạt pha sữa đặc. Nick lại tìm hai đoạn gỗ nhỏ, bịt kín lỗ trên hộp sữa đặc.

"Em ăn có đủ không?"

"Đủ rồi. Cá hồi này ngon thật, thịt xông khói cũng không tệ. Trong nhà còn có bánh mì đen, anh nhìn xem chúng ta có may mắn không?"

"Ăn thêm một quả táo đi," cậu nói. "Ngày mai có lẽ chúng ta sẽ có đồ ngon. Bữa tối này e là không đủ ăn, em gái ạ."

"Đâu có. Em ăn no căng cả bụng rồi."

"Em thật sự không đói?"

"Không đói, bụng no lắm rồi. Em còn mang theo ít sô-cô-la, anh có muốn ăn một chút không?"

"Em lấy sô-cô-la ở đâu ra?"

"Trong túi kho báu của em có."

"Em nói ở đâu cơ?"

"Túi kho báu của em. Những thứ em tích góp được đều giấu ở đó."

"Ồ."

"Miếng này là loại mới. Ngoài ra còn có ít lấy từ trong bếp ra, không được mới lắm. Chúng ta ăn loại mới trước, để loại không mới lại chờ khi nào cần thì ăn nhé. Anh nhìn xem, miệng túi kho báu của em còn có một sợi dây có thể thắt chặt lại, giống như túi thuốc lá vậy. Nếu chúng ta có thể nhặt được vàng tự nhiên hay gì đó, để trong túi này là hợp nhất. Nicky, anh bảo lần này chúng ta bỏ trốn, liệu có thể chạy thẳng đến miền Tây không?"

"Anh vẫn chưa nghĩ ra."

"Em thật sự hy vọng túi kho báu này của mình có thể chứa đầy vàng tự nhiên, cái đó phải đáng giá mười sáu đồng một ounce đấy."

Nick rửa sạch chảo, mang ba lô vào trong lều, đặt ở phía đầu giường. Một tấm chăn trải trên cỏ non làm chỗ nằm, tấm chăn kia cậu lấy ra đắp lên trên, ở phía em gái gấp một đường viền nhét xuống dưới. Cậu rửa sạch cái thùng sắt nhỏ vừa dùng pha trà, ra bờ suối múc đầy một thùng nước lạnh. Xách nước về, thấy em gái đã ngủ say trên chỗ nằm, lấy quần jeans xanh bọc giày da hươu làm gối. Cậu hôn em gái một cái, em gái không tỉnh, cậu liền khoác chiếc áo khoác vải dạ kẻ sọc đã cũ lên người, lục lọi trong ba lô một hồi, cuối cùng cũng tìm thấy chai rượu whisky nhỏ đó.

Cậu mở nắp ra ngửi, mùi rượu thật thơm. Cậu múc nửa cốc nước suối vừa mới xách về từ thùng sắt nhỏ, đổ thêm một chút whisky vào. Thế là ngồi đó nhâm nhi chậm rãi, mỗi ngụm đều phải ngậm dưới lưỡi một hồi lâu, mới từ từ đảo lên đầu lưỡi rồi nuốt xuống.

Ánh mắt cậu rơi vào đống than lửa nhỏ: gió đêm nhè nhẹ thổi tới, ánh lửa lại sáng lên. Trong miệng nhấm nháp rượu whisky pha nước lạnh, mắt nhìn đống than, cậu nảy sinh tâm sự. Sau đó rượu trong cốc uống hết, cậu lại múc thêm ít nước lạnh uống, uống xong mới ngủ. Súng đặt dưới chân trái, giày da hươu bọc quần cũng làm gối, dựa vào cứng cứng cũng không tệ, cậu quấn chặt viền chăn ở phía này vào người mình, làm xong lời cầu nguyện rồi ngủ thiếp đi.

Nửa đêm cậu thấy lạnh, liền đắp chiếc áo khoác vải dạ lên người em gái, tự mình xoay người lại, dịch lưng về phía nó một chút, để tấm chăn ở phía này chia sẻ nhiều hơn một chút đè dưới thân. Cậu lấy tay sờ thử, lấy súng ra đặt lại dưới chân trái. Không khí ban đêm lạnh buốt, cậu còn ngửi thấy mùi thông tươi mới chặt và mùi nhựa trên cành thông. Mãi đến lúc này bị lạnh tỉnh, cậu mới nhận ra mình hóa ra đã kiệt sức đến thế này. Một lát sau cậu mới lại thấy thoải mái hơn một chút, sau lưng ấm áp là thân thể em gái, cậu thầm nghĩ: "Mình nhất định phải chăm sóc tốt cho nó, phải làm cho nó sống thật vui vẻ, phải đưa nó về nhà an toàn." Nghe tiếng thở của nó, nghe sự tĩnh lặng của đêm này, một lát sau lại ngủ thiếp đi.

Khi cậu tỉnh dậy, trời mới tờ mờ sáng, những ngọn núi xa xa ngoài vùng đầm lầy còn chỉ miễn cưỡng nhìn rõ. Cậu nằm đó không phát ra tiếng, chỉ duỗi thân thể cứng đờ ra. Một lát sau mới ngồi dậy, mặc quần kaki, xỏ giày da hươu. Cậu thấy em gái ngủ rất say, chiếc áo khoác vải dạ ấm áp đã kéo lên lót cổ áo dưới cằm, gò má cao và khuôn mặt đen sạm lấm tấm tàn nhang lộ ra màu hồng nhạt trong bóng tối, mái tóc cắt ngắn càng làm tôn lên khuôn mặt nhỏ nhắn thanh tú, đặc biệt là sống mũi trông rất thẳng, đôi tai trông rất sát. Cậu chỉ hận không thể vẽ lại dáng vẻ của nó lúc này, hàng mi dài rủ xuống mặt trông thật đẹp, khiến cậu nhìn mãi không thôi.

Cậu nghĩ thầm: "Nhìn nó thế này thật giống một con thú nhỏ, dáng ngủ của nó cũng giống hệt một con thú nhỏ." Cậu lại nghĩ: "Vậy em nói mái tóc ngắn này của nó lại giống cái gì? Theo anh thấy, ví von sát nhất nên nói là giống như có người cầm tóc nó chặt một nhát trên thớt vậy. Trông tổng thể luôn có một cảm giác như tượng điêu khắc. Anh rất yêu em gái, em gái yêu anh lại có vẻ hơi quá. Nhưng, cậu nghĩ: Chuyện này anh thấy luôn sẽ không có gì đâu. Ít nhất anh hy vọng sẽ không có gì."

Cậu lại nghĩ: "Đánh thức người ta dậy thì không hay. Ngay cả anh còn kiệt sức thế này, nó chắc chắn là mệt lử rồi. Chúng ta ở đây nếu có thể bình an vô sự, thì chứng tỏ chúng ta làm thế này là đúng: chúng ta chính là nên trốn đi thật xa, đợi tình hình lắng xuống, đợi tên thanh tra săn bắn từ phía nam tới tự cút đi. Nhưng anh vẫn nên để em gái ăn uống tốt hơn. Đáng tiếc là, thứ thực sự tươm tất anh thực sự không lấy ra được gì."

Đồ đạc, tất nhiên vẫn còn một ít. Cái ba lô kia chứa cũng nặng đấy. Nhưng hôm nay chúng ta thực sự nên đi hái ít quả dại. Bắt được thì tốt nhất có thể bắt một hai con gà rừng. Còn có thể hái ít nấm tươi ngon. Thịt xông khói tất nhiên phải tiết kiệm mà dùng, nhưng chúng ta cũng không đến nỗi không đủ dùng, vì chúng ta còn có một chai bơ. Tối qua anh sợ cho nó ăn ít quá. Hơn nữa nó quen uống nhiều sữa, lại rất thích ăn đồ ngọt. Nhưng cũng không cần lo lắng. Chúng ta tự có đồ ngon để ăn. May mà nó rất thích ăn cá hồi. Mấy con cá hồi hôm qua thật sự ngon tuyệt. Cho nên không cần vì nó mà lo lắng. Nó sẽ ăn thỏa mãn thôi. Nhưng Nick em trai à, tối qua chắc chắn anh không để nó ăn no đủ rồi. Bây giờ vẫn đừng đi gọi nó dậy, cứ để nó ngủ đi. Việc trước mắt thì có việc cho anh làm đấy.

Cậu cẩn thận lấy vài thứ ra khỏi ba lô, lúc này em gái lại mỉm cười trong giấc mơ. Nụ cười này, khuôn mặt đen sạm trên gò má liền căng lên, lộ ra màu nền ban đầu. Nó không hề tỉnh, Nick liền mặc kệ nó đi chuẩn bị nấu bữa sáng, nhóm lửa lên. Củi chặt sẵn còn không ít, cậu lại chỉ nhóm một đống lửa nhỏ, trước tiên pha trà, lát nữa mới nấu bữa sáng. Cậu uống trà nhạt, còn ăn ba quả mơ khô, lại cầm cuốn "Lorna Doone" lên định đọc một đoạn. Nhưng cuốn sách này cậu đã đọc từ lâu, giờ đọc lại cảm thấy đã không còn chút hấp dẫn nào, nghĩ thầm: "Chuyến đi này, đây quả là một tổn thất."

Sau khi dựng trại vào chiều muộn hôm qua, anh lấy ra vài quả mận khô cho vào một chiếc thùng sắt để ngâm, đến giờ này thì đem những quả mận đã nở ra đun từ từ trên lửa. Trong ba lô, anh thấy có bột kiều mạch tinh luyện, liền lấy ra cùng với một chiếc nồi tráng men và một chiếc cốc sắt, hòa bột với nước rồi quấy thành dạng hồ. Hộp mỡ thực vật dùng để rán cũng đã được lấy ra. Anh lại cắt một mảnh từ đáy túi bột mì rỗng, bọc vào một cành cây vừa chặt, dùng dây câu buộc thật chặt lại. Cô em gái đã mang đến tổng cộng bốn cái túi bột mì cũ, anh thật sự cảm thấy tự hào khi có một người em gái như vậy.

Sau khi pha xong bột, anh đặt chảo lên bếp, lần này cho mỡ vào chảo, dùng cành cây bọc vải để phết mỡ. Đáy chảo trước tiên ánh lên một lớp màu đen bóng, sau đó bắt đầu kêu xèo xèo rồi lách tách, anh thêm mỡ một lần nữa mới đổ bột vào dàn phẳng, nhìn miếng bánh bắt đầu sủi bọt, chẳng mấy chốc rìa ngoài đã dần cứng lại. Anh nhìn miếng bánh phồng lên, hiện ra những đường vân và chuyển sang màu xám trắng. Anh dùng một mảnh gỗ sạch mới vót cạy bánh ra khỏi đáy chảo, lật mặt rồi lại cho vào chảo, mặt vàng giòn ở trên, mặt kia vẫn còn kêu xèo xèo. Rõ ràng nhìn trong chảo thấy bánh cứ phồng lên, nhưng khi cầm trên tay lại thấy khá nặng.

"Chào buổi sáng," cô em nói. "Em ngủ nướng hơi lâu, phải không?"

"Không có chuyện đó đâu, nhóc con."

Cô đứng dậy, vạt áo sơ mi buông xuống che khuất đôi chân rám nắng.

"Anh đã làm hết mọi việc rồi."

"Vẫn chưa đâu. Anh vừa mới bắt đầu rán bánh."

"Miếng bánh này thơm quá, phải không? Em ra bờ suối tắm một cái rồi về giúp anh."

"Đừng tắm ở suối."

"Em đâu phải loại người cao quý gì," cô nói xong liền biến mất sau túp lều.

"Anh để xà phòng ở đâu rồi?" cô hỏi.

"Ở bờ suối ấy. Chỗ đó còn một cái thùng đựng mỡ lợn rỗng. Làm ơn lấy giúp anh hộp bơ ở trong đó. Nó đang được ngâm trong suối cho mát đấy."

"Em về ngay đây."

Hộp bơ nặng chừng nửa cân, cô cầm cả cái thùng rỗng quay lại, bên trong thùng là hộp bơ được gói bằng giấy dầu.

Họ lấy bơ và siro hiệu "Nhà Gỗ" phết lên bánh kiều mạch để ăn. Siro hiệu "Nhà Gỗ" được đựng trong lon sắt nguyên bản, trên lon có một cái vòi hình ống khói, chỉ cần xoay nắp là có thể rót siro ra từ cái vòi đó. Hai anh em đều đói lả, bánh kiều mạch ăn kèm bơ và siro ngon tuyệt, bơ vừa phết lên bánh đã tan chảy, cùng với siro len lỏi vào từng kẽ bánh. Mận đã nấu chín được múc ra hai chiếc cốc sắt, họ ăn mận rồi uống nước cốt. Ăn xong lại dùng chính những cái cốc đó pha trà để uống.

"Mận ngon thế này chỉ có dịp lễ mới được ăn," cô em nói. "Vị ngon tuyệt cú mèo! Đêm qua anh ngủ ngon không, Nicky?"

"Rất ngon."

"Cảm ơn anh đã đắp áo cho em. Nhưng đêm nay vẫn rất vui, phải không?"

"Đúng vậy. Nửa đêm em không tỉnh giấc chứ?"

"Đến giờ này em vẫn chưa tỉnh đây. Nicky, chúng mình cứ ở đây cả đời được không?"

"Sao mà được. Em còn phải lấy chồng khi lớn lên chứ."

"Dù sao thì em cũng lấy anh thôi. Em cứ sống chung với anh coi như vợ anh là được. Em từng đọc trong một bài báo nói về chuyện này rồi."

"Chắc là bài báo nói về luật bất thành văn rồi."

"Đúng. Em cứ dựa vào luật bất thành văn mà sống với anh như vợ chồng. Có được không, Nicky?"

"Không được."

"Em cứ muốn làm thế đấy. Em muốn giấu anh để làm. Chuyện này dễ ợt, chỉ cần sống chung với nhau một thời gian là được. Em muốn họ tính thời gian từ bây giờ. Giống như quy định khai khẩn đất đai vậy."

"Anh không cho phép em đi làm đơn."

"Chuyện đó đâu phải anh muốn là được. Đây gọi là luật bất thành văn. Em suy đi tính lại, không biết đã nghĩ bao nhiêu lần rồi. Em sẽ đi in vài tấm danh thiếp, trên đó viết thế này: Bà Nick Adams, trú tại làng Cross, bang Michigan - hiện đang trong giai đoạn sống chung. Em sẽ công khai phát những tấm danh thiếp này hàng năm cho đến khi đủ thời hạn quy định."

"Anh thấy cách này của em không ổn."

"Em còn một phương án khác nữa. Em sẽ tranh thủ lúc chưa thành niên, sinh cho anh vài đứa con. Đến lúc đó, dựa vào luật bất thành văn, anh không thể không cưới em."

"Thế thì không còn là luật bất thành văn nữa rồi."

"Em cũng rối hết cả lên."

"Chuyện này có khả thi hay không, bây giờ ai mà nói trước được."

"Chắc chắn là khả thi," cô nói. "Ông Thaw cũng đang trông chờ vào chiêu này đấy."

"Có khi ông Thaw nhầm rồi cũng nên."

"Sao có thể chứ, Nicky, cái thứ luật bất thành văn này thực ra là do ông Thaw nghĩ ra đấy."

"Anh nghĩ là luật sư của ông ta thì đúng hơn."

"Ôi, dù sao thì vụ kiện này cũng là ông Thaw đứng ra đấu."

"Với ông Thaw, anh không thích lắm," Nick Adams nói.

"Được rồi. Có vài điểm ở ông Thaw em cũng không thích. Nhưng ông ta làm thế này thì báo chí mới có cái để đọc chứ, phải không?"

"Ông ta làm thế này thì cũng có người càng ghét ông ta hơn."

"Người ta cũng rất ghét ông Stanford White đấy thôi."

"Anh nghĩ là người ta ghen tị với cả hai người họ."

"Em tin là đúng như vậy, Nicky. Giống như người ta ghen tị với chúng mình vậy."

"Em thấy giờ còn ai ghen tị với chúng mình không?"

"Giờ này chắc không ai ghen tị đâu. Chỉ sợ ngay cả mẹ cũng coi chúng mình là kẻ trốn chạy pháp luật, đầy tội lỗi. May mà bà không biết em còn lấy trộm cho anh chai rượu whisky đó."

"Tối qua anh nếm thử rồi. Rượu này rất ngon."

"À, vậy thì tốt. Đời em đây là lần đầu tiên ăn trộm rượu đấy. Trộm được rượu ngon, anh nói xem có kỳ diệu không? Em cứ tưởng dính líu đến hai kẻ đó thì sẽ chẳng có gì tốt đẹp."

"Cứ nhắc đến hai kẻ đó là anh thấy bực mình. Chúng ta đừng nhắc đến họ nữa," Nick nói.

"Được thôi. Hôm nay chúng mình làm gì đây?"

"Theo ý em thì sao?"

"Theo ý em thì em muốn đến cửa hàng của ông John, thiếu cái gì mua hết về."

"Sao mà được."

"Em biết là không được. Thế rốt cuộc anh có dự định gì?"

"Chúng ta nên đi hái quả dại, anh sẽ đi săn một con gà gô, được nhiều hơn thì càng tốt. Cá hồi thì không lo không câu được. Nhưng anh không muốn em cứ ăn cá hồi mãi, ăn đến ngán cả người."

"Anh đã bao giờ ngán cá hồi chưa?"

"Chưa. Nhưng nghe nói có người ăn nhiều thì ngán."

"Cá hồi thì em không bao giờ ngán," cô em nói. "Không như cá chó, ăn là ngán ngay. Cá hồi, và cả cá vược, ăn mãi cũng không chán. Cái này em biết, Nicky. Không lừa anh đâu."

"Còn cá walleye nữa, ăn cũng không chán," Nick nói. "Chỉ có cá tầm là không được thôi. Này em, loại cá đó đảm bảo em ăn nhiều là ngán tận cổ."

"Em không thích ăn cá 'grass pickerel'," cô em nói. "Loại cá đó ăn vào là mất cả ngon."

"Chúng ta dọn dẹp chỗ này trước đã, anh sẽ tìm chỗ giấu đạn, lát nữa chúng ta cùng đi hái quả dại, gặp chim chóc thì săn vài con."

"Em mang theo hai cái thùng mỡ lợn, với lại hai cái túi bột mì nữa," cô em nói.

"Em gái à," Nick nói. "Làm ơn đừng quên 'đi vệ sinh' đấy nhé."

"Vâng."

"Chuyện này không được lơ là đâu."

"Em biết rồi. Anh cũng đừng quên đấy."

"Anh không quên đâu."

Nick quay lại trong rừng, chôn một hộp đạn súng trường dài cỡ .22 và vài hộp đạn súng trường ngắn cỡ .22 rời dưới lớp lá thông mục nát dưới gốc một cây thông xanh lớn. Sau khi chôn xong, anh phủ lớp lá thông kết dính vừa đào lên như cũ, rồi vươn tay thật cao, gọt một mảnh nhỏ trên lớp vỏ dày của cây thông xanh đó. Anh ghi nhớ vị trí của cái cây, rồi mới ra khỏi rừng đi lên sườn núi, men theo sườn dốc xuống túp lều.

Bấy giờ trời đã sáng bừng rực rỡ. Bầu trời cao vút, xanh trong, không một bóng mây. Nick ở bên cạnh em gái, cảm thấy thật vui vẻ. Anh thầm nghĩ: Chuyện này dù kết quả sau này thế nào, trước mắt chúng ta vẫn nên sống thật vui vẻ. Anh đã hiểu ra một đạo lý: Làm người chỉ có thể sống ngày nào hay ngày đó, chỉ có hiện tại mới là quan trọng. Chỉ cần trời chưa tối thì vẫn là hôm nay, đến ngày mai, lại là một ngày hôm nay khác. Trong suốt cuộc đời này, đạo lý anh hiểu được, chính là điều này quan trọng nhất.

Hôm nay trời đẹp, anh đeo súng đến trại, trong lòng tràn đầy vui sướng, nhưng những chuyện phiền muộn bao trùm lấy họ giống như chiếc lưỡi câu giấu trong túi, thỉnh thoảng trên đường lại đâm anh đau nhói. Họ để ba lô lại trong lều, ban ngày ban mặt chắc không có gấu đến lục lọi, vì ở đây nếu có gấu thì cũng chỉ ở dưới vùng đầm lầy dưới núi tìm quả dại mà ăn. Tuy nhiên Nick vẫn chôn chai rượu whisky sau suối. Cô em vẫn chưa về, Nick ngồi xuống thân cây khô đổ, kiểm tra lại súng, củi đốt của họ đều là từ cái cây khô này mà ra. Họ định đi săn gà gô, nên anh tháo băng đạn, đổ những viên đạn dài trong đó vào tay, bỏ vào một cái túi da hươu, rồi nạp đạn ngắn cỡ .22 vào băng đạn. Đạn ngắn bắn không quá ồn, săn gà gô dù không trúng đầu cũng không làm nát thịt.

Mọi thứ đã chuẩn bị xong, anh định xuất phát. Trong lòng thầm nghĩ: Con bé này rốt cuộc đi đâu rồi? Nhưng lại nghĩ: Đừng nóng giận. Chẳng phải chính mình bảo nó đi chậm lại sao. Gấp gáp cái gì chứ. Nhưng trong lòng vẫn thấy sốt ruột, vì vậy anh tự giận chính mình.

"Đến rồi, đến rồi," cô em nói. "Xin lỗi anh, em đi lâu quá. Chắc là em đi xa quá rồi."

"Không sao," Nick nói. "Đi thôi. Em mang thùng mỡ lợn theo chưa?"

"Vâng, cả nắp cũng mang theo rồi."

Họ men theo sườn núi đi xuống, đến bên con suối nhỏ. Nick quan sát kỹ thượng nguồn một lúc, lại nhìn quanh sườn núi trên dưới. Cô em chỉ nhìn anh. Cô đặt thùng vào một cái túi bột mì, lấy cái túi kia buộc lại, khoác lên vai.

"Anh không mang theo cần câu à, Nicky?" cô hỏi.

"Không. Muốn câu cá thì anh cứ chặt một cái là xong."

Anh cầm súng trên tay, đi trước em gái, luôn giữ một khoảng cách nhỏ với con suối. Thế này chính là đang đi săn rồi.

"Con suối này lạ thật," cô em nói.

"Con suối anh thấy thì con này là lớn nhất đấy," Nick nói với cô.

"Gọi là suối mà lại sâu đáng sợ như vậy."

"Con suối này không ngừng có nguồn nước mới," Nick nói. "Hơn nữa còn thông xuống dưới bờ, sâu lắm. Nước cũng lạnh lạ thường, em gái à. Không tin em thử chạm vào xem."

"Ôi, đúng thật," cô nói. Lạnh đến mức đầu ngón tay tê dại.

"Có nắng chiếu vào mới ấm hơn một chút," Nick nói. "Nhưng cũng không ấm hơn được bao nhiêu. Chúng ta cứ từ từ vừa đi vừa tìm mục tiêu nhé. Đi xuống dưới nữa có chỗ hái quả dại đấy."

Họ đi dọc theo con suối. Nick vừa đi vừa quan sát mặt đất hai bên bờ. Anh thấy dấu chân của một con chồn, liền chỉ cho em gái xem. Họ còn thấy vài con chim chích họng vàng nhỏ xíu đang bắt côn trùng trong rừng thông, nhảy nhót nhanh nhẹn, thấy hai anh em đi qua cũng không né tránh. Họ thấy loài chim sáp cánh tuyết tùng thật tĩnh lặng nhã nhặn, khí chất cao quý, dáng đi thật đẹp đẽ mê hồn, những đốm sáng như lửa trên lông cánh và lông đuôi càng thêm quyến rũ. Cô em thấy vậy còn nói: "Loài chim này thật sự đẹp đến mức cực điểm, Nicky. Trên thế giới này chắc chắn không còn loài chim nào đẹp hơn nữa."

"Trông cũng giống y hệt vẻ ngoài của em vậy," anh nói.

"Thôi đi, Nicky. Đừng đùa nữa. Em nhìn thấy chim sáp cánh tuyết tùng, trong lòng chỉ thấy vừa xúc động vừa vui sướng, đến cả nước mắt cũng trào ra."

"Loài chim này bay lượn một vòng rồi nhẹ nhàng hạ cánh, bước vài bước, dáng vẻ thật là khí phái, nhã nhặn và thân thiện," Nick nói.

Họ tiếp tục đi tới, đột nhiên Nick giơ súng lên, cô em còn chưa kịp nhìn rõ mục tiêu của anh là gì, tiếng súng đã vang lên. Ngay sau đó liền nghe thấy tiếng một con chim lớn rơi xuống đất đập cánh loạn xạ. Cô thấy Nick liên tiếp bấm cò, bắn thêm hai phát đạn nữa, sau mỗi tiếng súng đều nghe thấy trong rừng liễu lại có tiếng đập cánh loạn xạ. Tiếp đó chỉ nghe tiếng vỗ cánh vù vù, từ trong rừng liễu đột nhiên bay vọt ra một đàn chim lớn màu nâu, trong đó có một con bay ra chưa xa đã đậu trên cây liễu, nghiêng cái đầu có mào, cúi cái vòng lông cổ, nhìn xuống mấy đồng bọn đang giãy giụa dưới đất. Con chim đang nhìn xuống từ trên cây liễu đỏ trông vừa đẹp đẽ vừa mập mạp, kích thước đặc biệt lớn, nó vươn đầu xuống, dáng vẻ thật ngốc nghếch. Nick lại chậm rãi giơ súng lên, cô em khẽ nói: "Thôi đi, Nicky. Đừng bắn nữa. Thế này là đủ rồi."

"Được thôi," Nick nói. "Con này em bắn được không?"

"Không đâu, Nicky. Em không muốn bắn."

Nick đi vào rừng liễu, nhặt ba con gà gô lên, lấy báng súng đập đầu chúng từng con một, rồi đem trải lên đám rêu. Cô em dùng tay chạm vào, vẫn còn ấm, con nào con nấy ức đầy đặn, lông vũ đẹp đẽ.

"Em cứ đợi mà ăn đi," Nick nói. Trong lòng anh vui sướng vô cùng.

"Bây giờ em lại thấy buồn cho chúng nó," cô em nói. "Chúng nó vốn cũng giống chúng ta, buổi sáng sống vui vẻ biết bao."

Cô ngẩng đầu nhìn con gà gô vẫn còn đậu trên cây liễu.

"Trông dáng vẻ nó đúng là có chút ngốc nghếch, giờ này vẫn còn đang nhìn chằm chằm xuống dưới kìa," cô nói.

"Gà gô vào mùa này, người da đỏ gọi chúng là gà ngốc. Chúng phải nếm trải cảm giác bị đánh mới học được cách khôn ngoan hơn. Loại gà gô này thực ra chưa phải là gà ngốc thực sự. Có loại gà gô thì thế nào cũng không khôn ra được. Đó là gà gô liễu. Loại trước mắt này gọi là gà gô ruffed."

"Chúng mình đừng để không khôn ra nhé," cô em nói. "Anh đi đuổi nó đi, Nicky."

"Em đi mà đuổi."

"Đi đi đi, gà gô."

Con gà gô vẫn không hề cử động.

Nicky giơ súng lên, con gà gô vẫn nhìn anh. Nick biết nếu anh bắn chết con gà này, cô em chắc chắn sẽ buồn, nên anh tặc lưỡi một cái, bĩu môi huýt sáo, giả làm tiếng gà gô từ chỗ tối vọt ra, nhưng con gà gô đó vẫn cứ ngây ngốc nhìn anh.

"Chúng mình đừng trêu chọc nó nữa," Nick nói.

"Thật xin lỗi, Nicky," cô em nói. "Con gà gô này quả nhiên ngốc hết thuốc chữa."

"Đợi mà ăn thịt gà gô đi," Nick nói với cô. "Em ăn rồi sẽ hiểu tại sao chúng ta phải săn gà gô."

"Hiện giờ gà gô cũng không được phép săn à?"

"Đúng vậy. Nhưng giờ gà gô đang béo tốt, loại gà gô này ngoài chúng ta ra còn ai săn được chứ? Những con đại bàng bị anh bắn chết nhiều lắm, đại bàng chỉ cần bắt được gà gô là mỗi ngày đều ăn một con. Loại đại bàng này cứ bắt chim ăn, chim quý đều bị chúng ăn sạch cả."

"Đại bàng muốn ăn con gà gô ngốc này thì dễ thôi," cô em nói. "Nói như vậy em lại thấy không khó chịu nữa. Anh có muốn lấy túi bột mì ra đựng không?"

"Để anh móc nội tạng ra, gói thêm ít cỏ dương xỉ rồi cho vào túi. Từ đây đến chỗ hái quả dại không xa đâu."

Họ ngồi dựa lưng vào một cây linh sam, Nick mổ bụng gà gô, móc nội tạng vẫn chưa nguội ra, nâng trên tay phải vẫn thấy nóng hổi, nhặt ra những thứ có thể ăn được như gan lá lách, bỏ những thứ khác đi, rồi đem ra suối rửa sạch. Sau khi làm sạch gà gô, anh vuốt lại lông, lấy cỏ dương xỉ gói lại, cùng cho vào túi bột mì. Anh buộc chặt miệng túi và hai góc túi bằng dây câu, vắt lên vai, quay lại bên suối, vứt hết những thứ không ăn được, anh cố ý ném vài lá phổi gà gô tươi đỏ xuống, nhìn cá hồi nổi lên mặt nước trong dòng chảy xiết.

"Vốn dĩ làm mồi câu thì rất tốt, đáng tiếc là chúng ta không cần dùng mồi câu," anh nói. "Cá hồi của chúng ta cứ tạm gửi ở con suối nhỏ này đi, cần thì lúc nào cũng có thể đến lấy."

"Con suối này nếu ở gần nhà chúng ta thì chúng ta có thể phát tài nhờ nó rồi," cô em nói.

"Nếu thế thì cá cũng sớm bị bắt sạch rồi. Như con suối nguyên sinh thực sự thế này, giờ cũng chỉ còn lại mỗi con này thôi. Qua khúc uốn của hồ, chỗ đó cũng có một con, chỉ là nơi đó thật sự quá khó đi. Ở đây anh chưa bao giờ dẫn ai đến câu cá cả."

"Trong con suối này có ai đến câu cá không?"

"Chắc chắn là không có ai."

"Thế nghĩa là con suối này chưa từng có ai đến câu cá ư?"

"Cũng không hẳn. Trước kia thường có người da đỏ đến bắt cá. Nhưng từ khi họ không làm nghề bóc vỏ thông nữa thì họ dỡ trại, không đến nữa."

"Thằng nhóc nhà Evans có biết không?"

"Nó không biết đâu," Nick nói. Nhưng lời vừa ra khỏi miệng, anh lại nghĩ ngợi, trong lòng lại thấy bất an. Thằng nhóc nhà Evans như hiện ngay trước mắt.

"Anh đang nghĩ gì vậy, Nicky?"

"Anh không nghĩ gì cả."

"Anh rõ ràng đang nghĩ gì đó. Nói cho em biết đi. Chúng ta là đối tác mà."

"Nói không chừng nó sẽ biết," Nick nói. "Thật chết tiệt! Nói không chừng nó sẽ biết!"

"Nhưng anh cũng không thể chắc chắn là nó biết, phải không?"

"Không chắc chắn! Vấn đề nằm ở chỗ đó. Nếu chắc chắn thì anh đã đến chỗ khác rồi."

"Nói không chừng giờ này nó đã mò đến trại của chúng ta rồi cũng nên," cô em nói.

"Đừng nói những lời gở như vậy. Em thực sự muốn gọi nó đến à?"

"Đâu có," cô nói. "Thật xin lỗi, Nicky, em không nên khơi chuyện này ra."

"Anh lại thấy không phải vậy," Nick nói. "Anh rất cảm ơn lời nhắc nhở của em. Chuyện này anh đã nghĩ đến từ lâu rồi. Chỉ là nhất thời quên mất, không đi nghĩ đến thôi. Sau này anh thật sự phải dùng não nghĩ kỹ, cả đời cũng đừng quên."

"Não anh lúc nào cũng đang nghĩ chuyện."

"Chỉ là không nghĩ đến chuyện như thế này."

"Thôi, chúng mình xuống núi hái quả dại đi," cô em nói. "Bây giờ có muốn cứu vãn cũng không kịp nữa rồi, phải không?"

"Đúng vậy," Nick nói. "Chúng ta hái quả dại rồi về trại thôi."

Tuy nhiên Nick bây giờ luôn cảm thấy chuyện này không thể không phòng, anh suốt dọc đường đều nghĩ vấn đề này nên giải quyết thế nào. Hoảng sợ thì tuyệt đối không được hoảng sợ. Tình hình không có gì thay đổi. Lúc anh quyết định đến đây lánh nạn là tình thế như thế nào, bây giờ vẫn là tình thế như vậy. Nói thằng nhóc nhà Evans trước kia từng theo dõi anh đến đây, khả năng này không phải không có, nhưng khả năng không lớn. Có một lần anh đi con đường nhà Hodges đến đây, chuyện đó có thể bị thằng nhóc này theo dõi, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì cũng chưa chắc. Con suối này căn bản không có ai đến câu cá. Điểm này anh hoàn toàn có thể khẳng định. Tuy nhiên, thằng nhóc nhà Evans đó lại không thích câu cá.

"Thằng nhóc tạp chủng đó cứ thích theo dõi anh," anh nói.

"Chuyện này em biết, Nicky."

"Nó tìm rắc rối với anh đã ba lần rồi."

"Chuyện này em biết, Nicky. Nhưng anh tuyệt đối đừng giết nó đấy."

Nick thầm nghĩ: Cô ấy chính là đề phòng điểm này, mới đi cùng với mình. Cô ấy chính là đề phòng điểm này, mới cùng mình đến nơi như thế này. Có cô ấy ở bên cạnh, chuyện này mình không làm được.

"Anh biết anh không thể giết nó," anh nói. "Bây giờ dù sao cũng không còn cách nào khác. Chúng ta đừng nhắc đến chuyện này nữa."

"Chỉ cần anh không giết nó," cô em nói, "thì chúng ta không có vấn đề gì không giải quyết được, không có tai họa nào không tránh được."

"Chúng ta về trại đi," Nick nói.

"Không hái quả dại nữa à?"

"Để hôm khác hái vậy."

"Anh hơi không yên tâm phải không, Nicky?"

"Đúng vậy. Thật xin lỗi."

"Nhưng về trại thì có thể làm được gì chứ?"

"Có tình hình gì thì có thể biết sớm hơn."

"Cứ đi tiếp theo dự định ban đầu không được sao?"

"Hôm nay thôi vậy. Anh không sợ hãi, em gái à. Em cũng không cần sợ hãi. Nhưng không biết sao anh cứ thấy hơi không yên tâm."

Nick đã vội vã rời khỏi con suối, đi vào trong rừng, họ men theo bìa rừng đi trong bóng râm. Như vậy có thể vòng lên núi, rồi từ trên cao nhìn xuống trại.

Họ cẩn thận từng li từng tí từ trong rừng đi về phía trại. Nick cầm súng đi trước. Ở trại rõ ràng không có ai đến.

"Em cứ ở lại đây," Nick nói với em gái. "Anh đi xa một chút xem sao." Cậu đưa túi bột đựng gà gô cùng chiếc thùng dự định hái quả mọng cho em gái, rồi một mình đi ngược lên phía thượng nguồn con suối một quãng khá xa. Vừa khuất tầm mắt của em gái, cậu liền thay đạn ngắn cỡ .22 trong súng bằng đạn dài. Trong lòng thầm nghĩ: "Mình không muốn giết gã, nhưng dù sao cũng nên thay đạn." Cậu cẩn thận tìm kiếm khắp cánh đồng, không thấy dấu vết con người, bèn xuống núi đến bên suối, đi thêm một đoạn xuôi dòng nữa rồi mới trở về trại.

"Anh xin lỗi, em gái, anh hơi căng thẳng quá," cậu nói. "Hay là chúng ta cứ ăn một bữa trưa thật no, để tối đến khỏi phải nấu nướng mà nơm nớp lo sợ ánh lửa lộ ra ngoài."

"Nhưng bây giờ em thực sự thấy lo lắng," cô bé nói.

"Em lo cái gì chứ. Có tình hình gì mới đâu."

"Nhưng gã kia còn chưa tới mà đã làm chúng ta sợ đến mức chẳng dám đi hái quả mọng nữa rồi."

"Anh biết. Nhưng gã đâu có tới. Có lẽ gã chưa từng đặt chân đến vùng suối này. Biết đâu cả đời này chúng ta cũng chẳng gặp lại gã nữa."

"Nicky, việc gã không xuất hiện còn làm em sợ hơn là gã đang ở đây đấy."

"Anh biết. Nhưng sợ hãi cũng chẳng giải quyết được gì."

"Vậy chúng ta phải làm sao đây?"

"Thế này đi, chúng ta đợi trời tối hẳn rồi hãy nấu ăn."

"Sao anh lại đổi ý?"

"Trời tối rồi thì gã không tới được nữa. Gã không thể nào mò mẫm trong đêm tối qua đầm lầy để đến đây. Sáng sớm, hoàng hôn và đêm khuya, ba thời điểm này không cần phải lo gã tới. Chúng ta phải học theo loài hươu, chỉ hoạt động vào ba khung giờ đó thôi. Ban ngày đành phải ngủ bù vậy."

"Rất có thể gã sẽ chẳng bao giờ tới."

"Ừ. Rất có thể."

"Vậy em vẫn ở lại đây nhé, được không?"

"Anh nên đưa em về nhà."

"Đừng. Xin anh đừng đưa em về, Nicky. Nếu em không ở đây, anh muốn giết gã thì còn ai ngăn anh lại được nữa?"

"Em nghe anh nói này, em gái, em đừng nhắc đến chữ 'giết' đó nữa. Nhớ kỹ, anh chưa bao giờ nói là muốn giết ai cả. Anh không giết người, và cũng sẽ không bao giờ giết người."

"Thật không?"

"Thật."

"Em mừng quá."

"Thậm chí chẳng cần phải mừng. Vốn dĩ chẳng ai nói là muốn giết người cả."

"Được rồi. Vậy thì coi như em chưa từng nghĩ, cũng chưa từng nói gì cả."

"Anh cũng vậy."

"Tất nhiên rồi."

"Anh vốn dĩ còn chẳng nghĩ tới chuyện đó."

Cậu thầm nghĩ: "Hay lắm, em nói em vốn chẳng nghĩ tới. Thực ra từ sáng đến tối lúc nào em chẳng nghĩ. Chỉ là trước mặt em ấy thì tuyệt đối không được nghĩ, vì em ấy là em gái mình, tình cảm anh em sâu nặng, mình mà nghĩ là em ấy sẽ nhận ra ngay."

"Em đói chưa?"

"Cũng tạm."

"Vậy ăn chút sô-cô-la cứng đi, anh đi lấy ít nước suối mát."

"Em không ăn gì cũng không sao."

Họ nhìn lên bầu trời phía trên dãy núi xanh bên kia đầm lầy, mười một giờ gió bắt đầu thổi như thường lệ, những đám mây trắng lớn cuồn cuộn dâng lên phía trên đỉnh núi. Bầu trời một màu xanh cao vời vợi, trong vắt, những đám mây cuộn lên đều trắng tinh khôi. Theo đà gió mạnh dần, mây từ sau núi bay vút lên không trung, lướt qua đầm lầy rồi lướt qua cả sườn núi. Lúc này trong rừng cũng đã có gió, họ nằm trong bóng cây, cảm thấy gió mát rười rượi. Nước suối múc trong thùng sắt vừa mát vừa ngọt, sô-cô-la tuy không đắng lắm nhưng khá cứng, nhai nghe răng rắc.

"Nước suối ở đây vẫn ngon, chẳng kém gì chỗ nước suối đầu tiên chúng ta nếm thử hôm qua," em gái nói. "Ăn sô-cô-la xong uống nước vào lại càng thấy ngon hơn."

"Nếu em đói thì chúng ta nấu cơm đi."

"Anh không đói thì em cũng không đói."

"Anh cứ thấy đói bụng mãi. Anh thật ngốc, sao giữa đường lại bỏ dở, không đi hái quả mọng nữa chứ."

"Anh không ngốc. Anh là muốn quay về kiểm tra tình hình thôi."

"Anh nói em nghe này. Gần chỗ rừng cây đổ chúng ta đi qua có một nơi rất tốt, anh đã tới đó rồi, ở đó cũng có quả mọng. Đợi anh giấu hết đồ đạc đi, chúng ta sẽ xuyên qua rừng lên đó, hái đầy hai thùng, như vậy là có cả phần cho ngày mai nữa. Chuyến này bảo đảm em đi không uổng công đâu."

"Được thôi. Nhưng em vẫn còn đi nổi."

"Em không đói à?"

"Không đói. Ăn sô-cô-la xong chẳng thấy đói chút nào. Em rất muốn ở lại đây đọc sách một lát. Lúc chúng ta đi săn gà gô, đi bộ cũng đủ mệt rồi."

"Cũng được," Nick nói. "Hôm qua em đi nhiều như vậy, giờ còn mệt không?"

"Có lẽ vẫn còn chút ít."

"Vậy chúng ta nghỉ một lát đi. Để anh đọc cuốn 'Wuthering Heights' cho em nghe."

"Em lớn thế này rồi mà còn bắt anh đọc cho nghe sao?"

"Thế thì có sao đâu nào."

"Vậy anh đọc đi."

"Được."

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:9
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »