Hoàng Hà quỷ quan

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 6
quỷ tiến thôn

❊ ❊ ❊

Điều quan trọng nhất là, tiền trong người tôi thực sự chẳng còn bao nhiêu. Năm ngàn tệ đó là để gửi cho gia đình Vương Toàn Thắng, tôi không thể đụng vào. Nếu anh ta có thể đi cùng tôi, thì những khoản chi tiêu dọc đường tôi sẽ tiết kiệm được kha khá.

Tôi tính toán kỹ lưỡng trong đầu, rồi gật đầu đồng ý. Thiếu gia vừa nghe thấy liền mừng rỡ khôn xiết, lập tức gọi người trong bếp làm vài món ngon để thết đãi tôi.

Thừa thắng xông lên, chuyện mua vé tàu cũng giao hết cho cậu ta. Định xong thời gian, mọi việc coi như đã chốt hạ.

Chẳng ai ngờ được rằng, thứ đang chờ đợi chúng tôi phía trước lại là một cơn ác mộng.

Ngày hôm sau, chúng tôi thay bộ quần áo giản dị hơn, ngồi tàu hỏa bốn tiếng đồng hồ để tới Lâm Hà. Huyện Lâm Hà phát triển cũng tạm ổn, có nhà cao tầng, đèn điện, điện thoại, nhưng so với Thái Nguyên thì vẫn cách biệt một trời một vực. Chủ yếu là ở đây không có ngành kinh tế mũi nhọn, nông nghiệp lẫn công nghiệp đều không mấy khởi sắc.

Lần này thiếu gia đi cùng tôi, cậu ta có hai mục đích: một là muốn tôi giúp cậu ta thu gom vài món đồ, hai là học hỏi chút kinh nghiệm. Đồ quý của Vương Toàn Thắng, nếu có thể lấy được vài món từ chỗ tôi để làm vốn cho cậu ta mở hàng thì tốt biết mấy. Cậu ta cứ líu lo bên tai tôi không ngừng, tôi thấy phiền quá nên bảo cậu ta bây giờ đừng hỏi nữa, đến lúc thu đồ tự khắc sẽ dạy.

Tới huyện Lâm Hà, thiếu gia hỏi tôi trong huyện có món nào thu được không. Tôi bảo cậu ta đừng tốn công vô ích, tuy quanh vùng Lâm Hà từ xưa tới nay vốn nhiều mộ cổ, mỗi năm Hoàng Hà lũ lụt đều có thể cuốn trôi ra một hai ngôi mộ, nhưng dù sao đây cũng là người trong huyện, dân vùng ngoại ô đều đã có ý thức về việc mua bán cổ vật, nên giá cả ở đây không hề rẻ. Trừ khi nhắm được món cực phẩm, nếu không chẳng ai muốn tới đây thu gom cả. Chúng ta tới đây không cần mua, nhưng có thể đi dạo một vòng để cậu làm quen với công việc.

Thế là chúng tôi ở lại Lâm Hà một ngày, tôi lấy lệ dẫn thiếu gia đi dạo một vòng vùng ngoại ô, đông xem tây gõ, chém gió với cậu ta chuyện trên trời dưới biển suốt năm ngàn năm lịch sử, coi như bù lại tiền chi tiêu dọc đường cho cậu ta.

Kỳ lạ là, số điện thoại Vương Toàn Thắng viết đằng sau vé tàu, tôi gọi rất nhiều lần nhưng chẳng ai bắt máy. Nhân lúc rảnh rỗi, tôi tới bưu điện địa phương hỏi xem số đó có vấn đề gì không. Sau khi hy sinh một bao Hồng Tháp Sơn, một lão nhân viên bưu điện cho biết, số này bắt đầu bằng đầu số 6, không phải ở trong huyện, mà là một thị trấn nhỏ sát bờ Hoàng Hà thuộc huyện Lâm Hà, tên là Đông Hoa Sơn.

Tôi thầm nghĩ, hóa ra anh ta ở Đông Hoa Sơn, không bắt máy có lẽ vì lý do khác. Thế là tôi bảo thiếu gia, chúng ta nên tới nơi cần đến để khai trương làm ăn thôi.

Đi Đông Hoa Sơn không có tàu hỏa, chỉ có xe tải nhỏ (xe khách nhỏ), người đông tay tạp, miếng đồng thời Tây Hán trong người tôi giá trị không nhỏ, để trên xe này không an toàn lắm nên tôi gửi bưu điện đi trước. Chỉ có mảnh đồng kia là không có giá trị, tôi sợ gửi đi rồi thất lạc, nên tìm một nhà vệ sinh, quấn nó vào bụng rồi mới lên xe.

Chiếc xe lao nhanh trên đường núi, xóc nảy dữ dội. Không gian bên trong xe vốn chẳng rộng rãi gì, giờ nhồi nhét tới mười bảy người tính cả tài xế, cộng thêm đống hành lý cồng kềnh, không khí trở nên đặc quánh, ngột ngạt.

Đường xá xa xôi, tôi tựa đầu vào cửa sổ nhìn ra cao nguyên hoàng thổ, muốn tìm chút phong cảnh, nhưng vùng này năm nào cũng bị nước Hoàng Hà xói mòn, phong hóa vô cùng nghiêm trọng. Nhiều núi non đã sạt lở nặng nề, sau khi nước sông cuốn trôi lớp đất mặt, thực vật không thể sinh trưởng, cứ thế tạo thành vòng lẩn quẩn năm này qua năm khác. Cuối cùng chỉ còn lại những cái cây thưa thớt, đất đai đầy rẫy khe rãnh, cảnh sắc vô cùng đơn điệu.

Thiếu gia dọc đường vô cùng phấn khích, hết chuyện này tới chuyện nọ, tán gẫu với những người xung quanh, hỏi thăm về Đông Hoa Sơn.

Đi cùng chuyến xe có hai tay buôn hàng tới Đông Hoa Sơn, một béo một gầy, cả hai đều rất khéo miệng. Họ bảo chúng tôi Đông Hoa Sơn vị trí hẻo lánh, nhưng có đặc sản là một loại thuốc Đông y, tương truyền là phương thuốc của dân tộc thiểu số địa phương, có tác dụng ức chế bệnh động kinh rất tốt. Nhưng loại thảo dược này mỗi năm chỉ mọc một mùa nên rất quý, năm nào họ cũng tới mua một lần.

Còn ba người nữa là một giáo sư đại học và hai sinh viên, nghe nói là học ngành dân tộc học. Trường họ giao đề tài nên họ tới đây thu thập tư liệu. Thiếu gia cho rằng đây là kiểu đi du lịch bằng tiền công, rất ngưỡng mộ. Tôi bảo cậu ta, làm đề tài vất vả lắm, nhất là kiểu này, kinh phí ít ỏi, có khi còn phải bỏ tiền túi ra, nếu không có đam mê cá nhân thì ai mà thích tới cái nơi khỉ ho cò gáy này.

Mấy người kia nghe chúng tôi là thương nhân cổ vật cũng rất hứng thú. Thiếu gia rất biết cách "chém gió", nói khiến họ ngẩn ngơ, thế là họ hẹn đi cùng nhau để xem quá trình chúng tôi thu mua cổ vật. Ban đầu tôi không đồng ý, nhưng sau nghĩ lại, đi cùng những người này có lẽ hành động sẽ thuận tiện hơn, hơn nữa một nữ sinh tên Vương Nhược Nam rất xinh đẹp, cô ấy chớp mắt một cái là khó lòng từ chối.

Số còn lại là học sinh tiểu học, đi huyện học, một tháng mới về nhà một lần, thời gian còn lại đều ở trường, giống hệt hồi tôi còn đi học, nên nhìn thấy cũng có chút hoài niệm.

Chiếc xe chạy qua sáu tiếng đường núi xóc nảy, cuối cùng cũng tiến vào địa phận trấn Đông Hoa. Dọc đường đi, trên nhiều sườn núi, chúng tôi thấy lác đác vài ngôi nhà đá thấp bé, tôi biết ở vùng núi xa xôi, đôi khi vài ngôi nhà này chính là cả một cái thôn.

Đi qua vài cái cổng chào rách nát, phía sau xuất hiện rất nhiều nhà sàn (những ngôi nhà dùng cột gỗ dài treo lơ lửng trên vách đá), một bên đã có thể nhìn thấy thấp thoáng một góc sông Hoàng Hà. Mấy sinh viên có lẽ chưa từng thấy cảnh này nên chụp ảnh liên tục, khiến mấy đứa nhỏ tò mò không thôi.

Tôi thầm nghĩ đây là tin tốt, đã vậy thì nơi có điện thoại sẽ không nhiều, hỏi thăm cũng dễ dàng.

Thời đó ở vùng núi, điện thoại là thứ xa xỉ phẩm, chủ yếu tập trung ở cơ quan chính phủ, khách sạn, nhà máy lớn hoặc bưu điện. Tôi nghĩ cháu ngoại của "Nam Bả Tử" không thể nào chui rúc trong cơ quan chính phủ, ở đây cũng chẳng có nhà máy lớn, vậy thì chỉ có thể là khách sạn hoặc bưu điện.

Xe đến cửa trấn thì không vào được nữa vì không có chỗ quay đầu. Chúng tôi dỡ hành lý xuống, hai tay buôn dược liệu thấy chúng tôi chân ướt chân ráo nên bảo cứ đi theo họ, dù sao họ cũng phải tìm chỗ nghỉ. Tôi vội vàng cảm ơn rồi theo họ vào trấn. Thiếu gia còn học tập tấm gương Lôi Phong, giúp lão giáo sư xách đồ.

Người trong trấn đa phần sống bằng nghề đãi cát sông Hoàng Hà, ăn mặc chẳng khác gì thời trước giải phóng. Thị trấn nhỏ vốn yên bình tĩnh lặng, hiếm khi có người lạ ghé thăm, sự xuất hiện của chúng tôi khiến người ở đây thấy rất lạ lẫm, nhiều người nhìn chúng tôi với ánh mắt kỳ quặc, thậm chí có mấy đứa trẻ còn đi theo sau chúng tôi, y như cách chúng tôi ở Bắc Kinh vây quanh người nước ngoài vậy.

Trong trấn không có khách sạn cũng chẳng có nhà nghỉ. Đi một đoạn, thấy một nhà khách chính phủ, so với nơi này thì chỗ tôi ở cạnh Nam Cung cứ như khách sạn Hilton vậy.

Tay buôn dược liệu nói, đây vốn là nhà ống bằng gỗ của địa chủ địa phương, là công trình duy nhất ở đây có sử dụng gạch. Thời "Cách mạng văn hóa", địa chủ bị đánh chết nên bỏ trống.

Nhà ống này vốn dùng làm kho chứa đồ của trấn, ba năm trước có một người đi làm thuê ở nơi khác kiếm được tiền về đây thầu lại làm nhà khách. Vì cả trấn chỉ có một chỗ này, tuy rách nát nhưng việc làm ăn cũng ổn, không ngủ ở đây thì phải ngủ ngoài đường.

Thiếu gia nghe xong liền khoái chí, nói nhỏ với tôi: "Hóa ra nơi này là cổ trạch đấy, lão Hứa, anh xem ở đây có cổ vật không, chúng ta thu hết đi."

Tôi đập cậu ta một cái, bảo giữ cái miệng lại. Thời đại này ra ngoài không được gọi là thu cổ vật, phải gọi là "thu đồ nát". Gọi là thu cổ vật thì giá không ép xuống được, hơn nữa còn liên quan tới "Tứ cựu", tuy giờ không sao nhưng người ta nghe vẫn thấy khó chịu.

Nhà khách có nhà ăn, ở lại là bao ăn. Tôi thấy thế cũng tốt, đỡ được tiền cơm, liền đặt một phòng.

Nhà khách chỉ có hai nhân viên phục vụ, người tiếp chúng tôi là một trung niên tên lão Thái. Ông ta có vẻ quen với mấy tay buôn dược liệu, vừa gặp đã chào hỏi rất nhiệt tình, còn giúp tôi xách đồ, hỏi chúng tôi ở đâu tới, tới đây có dự án gì.

Tôi bảo ông ta chúng tôi là người đi thu đồ nát, ông ta cũng chẳng biết có hiểu ám hiệu này không, sau khi sắp xếp chỗ ở xong liền mời chúng tôi tới nhà ăn dùng cơm. Bữa tối là cơm trắng, rau hoàng hoa và một đĩa trứng. Vị cũng khá ổn. Tôi thấy lão Thái này khá biết chuyện nên hỏi ông ta ở dưới này còn mấy thôn nữa? Rồi lấy tấm vé tàu ra, hỏi số điện thoại kia có biết ở đâu không?

Lão Thái cầm vé tàu xem một lúc, cau mày nói: "Số này ở bến đò công trường Hoàng Sa, các anh tìm người à? Công trường Hoàng Sa ở bên kia núi, cách trấn xa lắm. Hiện tại Hoàng Hà cạn nước, công trường chưa khởi công, đám người đó nghỉ việc hết rồi, đều về thôn của họ cả. Xa xôi cách trở thế này, muốn tìm người thì khó lắm."

Tôi ậm ừ một tiếng rồi hỏi: "Trên công trường có người trực không? Tôi tìm người trực hỏi thử, họ làm việc cùng nhau, chắc chắn phải biết đồng nghiệp ở đâu." Ở đây thôn xóm đều không lớn, thực ra chỉ cần biết ở thôn nào là chắc chắn tìm được.

Lão Thái nói: "Không có, công trường không ai trực cả, trực cái gì chứ? Ở đó chỉ có mấy con thuyền nát với cát, chẳng lẽ còn sợ người ta ăn trộm cát sao? Ai rảnh rỗi không lo việc chính mà đi ra bờ Hoàng Hà hứng gió tây bắc? Hơn nữa, cứ đến lúc Hoàng Hà cạn nước là chuyện quái dị lại nhiều, buổi tối chẳng ai dám ở đó. Người ta đều bảo những người chết đuối dưới sông Hoàng Hà lúc này đều ngoi lên thở, ma quỷ lộng hành dữ lắm. Người ở đây mê tín, buổi tối tuyệt đối không ai ở lại bờ sông."

Tôi "ồ" một tiếng, thầm nghĩ thế này thì khó rồi. Nếu số điện thoại này không gọi được, tuy người ở đây không nhiều nhưng các thôn cách nhau quá xa, lại không có đường xe, chỉ có đi bộ, không mất mười ngày nửa tháng thì không đi hết được.

Lão giáo sư kia nghe lão Thái nói vậy thì rất tò mò, hỏi: "Sao lại có ma, sông Hoàng Hà cũng có ma sao? Nhưng bên đó không có người, ma quỷ lộng hành cũng đâu ai biết?"

Lão Thái ngồi xuống cạnh chúng tôi, hạ thấp giọng: "Tôi cũng chỉ nghe người già kể lại thôi, nghe nói thôi nhé... Mỗi năm khi Hoàng Hà cạn dòng, ban đêm rất nhiều người nghe thấy tiếng xích sắt truyền tới từ đoạn sông gần xưởng Hoàng Sa. Tiếng đó giống như rất nhiều người đeo gông xiềng đi lại. Sáng hôm sau mọi người ra xem thì thấy trên cát toàn là dấu chân nhỏ dài ba tấc. Người già bảo đó là dấu chân thủy quỷ, nước sông cạn, Hà Thần thả thủy quỷ lên thở."

"Không thể nào, ông tận mắt thấy rồi sao?" Thiếu gia cũng tò mò.

Lão Thái gật đầu: "Tất nhiên, tôi thấy mấy lần rồi, dấu chân nhỏ đó y hệt dấu chân khỉ, nhìn mà lạnh cả sống lưng."

Tay buôn dược liệu cũng hứng thú, nói nhỏ: "Chuyện quái dị thế này, không có ai gan dạ buổi tối ra xem sao?"

Hai sinh viên liền hỏi lão giáo sư: "Chúng ta có nên đi xem thử không?"

Lão giáo sư giáo huấn họ: "Đây là mê tín, mê tín và dân tục là hai chuyện khác nhau, rất dễ nhầm lẫn nên phải nghiên cứu kỹ. Nhưng đi xem thì cũng được."

Lão Thái thấy chúng tôi bị bầu không khí này làm cho dựng cả tóc gáy thì đắc ý, lại nói: "Hồi đó, họ ở phía trên, ngày hôm đó ba người họ quay về, tôi hỏi xảy ra chuyện gì, họ cũng không nói. Nhưng sau đó nghe họ cãi nhau, cãi rất dữ dội. Tiếc là tôi không hiểu họ nói gì, nhưng lúc họ tranh cãi gay gắt, tôi nghe thấy một người nói một câu tiếng Sơn Tây, các anh đoán xem là gì?"

Lão Thái này có tố chất kể chuyện, tôi thúc giục: "Ông cứ nói một mạch đi, đừng treo cái dạ dày của chúng tôi nữa."

Lão Thái cười hì hì: "Một người trong đó nói là: Dưới cái ao đó chắc chắn có thứ gì đó, các người không tin thì thôi!"

Tôi ngạc nhiên: "Câu này nghĩa là sao?"

Lão Thái lắc đầu tỏ ý không biết, nhưng trên công trường xưởng Hoàng Sa quả thật có một cái ao, đó là một cái hồ cạn nước trong lòng sông. Hồ này rất lớn, thường là nơi cạn nước muộn nhất. Người ở xưởng Hoàng Sa thường bơi lội trong đó, cũng chưa từng nghe họ nói thấy thứ gì dưới đáy.

"Thế nên tôi mới thắc mắc." Lão Thái ra vẻ bí hiểm, "Liệu có phải ở dưới đó, thấy thủy quỷ ngoi đầu lên không."

Tôi nghe ông ta nói mà tò mò muốn chết, cũng muốn ra bờ sông xem thử. Lão Thái bảo nếu thực sự muốn xem thì đi ban ngày, ngày mai ông ta có thể dẫn chúng tôi đi, chỉ cần mười tệ một người là ông ta lo liệu xong hết.

Tôi thầm cười, tên này chắc là làm nghề du lịch à? Hai tay buôn dược liệu nói họ không đi nữa, họ phải xuống các thôn khác thu mua thuốc. Tôi nghĩ bây giờ không có manh mối gì, thôi thì cứ đi theo đại quân vậy, trước hết tới xưởng Hoàng Sa xem sao, nếu gặp được một hai người thì có hy vọng, nếu không gặp được thì thời đó đều có hồ sơ, tôi tới xem trong văn phòng họ có manh mối gì không.

Thế là hẹn với lão giáo sư và mấy sinh viên, sáng mai xuất phát.

Ăn cơm xong, chúng tôi ai về phòng nấy. Ánh sáng trong nhà ống rất kém, nhà ăn có đèn nhưng trong phòng thì không. Mỗi người chúng tôi cầm một chiếc đèn dầu, leo cầu thang gỗ lên tầng hai. Tầng hai cứ như ngôi nhà ma trong phim kinh dị, trên cột gỗ toàn là mạng nhện. Nơi này tuy nhìn có cảm giác kỳ lạ như thời Minh Thanh, nhưng chúng tôi có ở quen được hay không thì đúng là vấn đề.

Lúc này trời còn sớm, thiếu gia ưa sạch sẽ nên ra giếng bên dưới múc nước quét dọn một chút. Tôi thì thấy chẳng sao cả, trước kia ở công trường, chỉ cần có vài cọng cỏ là ngủ được rồi. Vứt đồ lên giường, tôi nằm xuống, mượn ánh đèn dầu xem mảnh đồng kia. Thứ này nghe nói được bóc ra từ dưới lòng sông, hoa văn trên đó rất đặc biệt, tôi chưa từng xem kỹ, giờ rảnh rỗi nên nghiên cứu thử.

Mới xem vài cái, tôi đã ngồi bật dậy, cảm thấy khó mà tin nổi.

Sự nghiên cứu của tôi về đồ đồng còn cao hơn cả đồ sứ, nên khi thu đồ đồng tôi khá bạo tay. Lúc này nhìn mảnh đồng này, tôi phát hiện ra điểm kỳ lạ.

Hoa văn trên món đồ này vô cùng cổ xưa, là đồ thời Tây Chu, nhưng mấy món đồ đồng nhỏ khác lại rõ ràng là thời Tây Tây Hán, cách nhau tới hơn một ngàn năm.

Không đúng, nếu dưới sông Hoàng Hà là một ngôi mộ cổ, thì đồ tùy táng trong mộ sao có thể cách nhau thời gian xa như vậy? Chẳng lẽ ở đó tình cờ có đồ tùy táng của mộ cổ hai triều đại bị cuốn vào nhau?

Khả năng này quá thấp, tôi cau mày. Chẳng lẽ là Vương Toàn Thắng lừa tôi? Hai món đồ này không phải lấy từ cùng một nơi? Nhưng nhìn dáng vẻ Vương Toàn Thắng cũng không giống.

Cách tôi phán đoán một người có phải kẻ lừa đảo hay không chủ yếu là nhìn vào cách làm việc của họ. Nếu Vương Toàn Thắng là tay lão luyện, chắc chắn anh ta sẽ không trộn lẫn hai món đồ khác triều đại rồi dựng chuyện, cũng không cần thiết phải tặng mảnh đồng này cho tôi. Tôi tin những gì anh ta nói là thật. Vậy thứ dưới lòng sông Hoàng Hà rốt cuộc là gì, có phải mộ cổ hay không, thì phải suy nghĩ thêm.

Tôi nhớ tới lão giáo sư kia, họ Lý, nghe nói cũng thuộc lĩnh vực khảo cổ, nên nghĩ có cơ hội có thể nhờ ông ta xem thử mảnh đồng này thế nào. Chỉ là không biết ông ta có chịu tư vấn cho tôi không, vì tôi thấy ông ta có vẻ không coi trọng hai gã thương nhân chúng tôi lắm.

Thiếu gia thấy vẻ si mê của tôi, tưởng tôi bị "nghiện" cổ vật, liền mỉa mai: "Xem đi, xem đi, tốt nhất là nuốt luôn vào bụng đi."

"Cút!" Tôi nói: "Đây gọi là mài đao không lầm việc đốn củi. Nghiệp không rời tay, khúc không rời miệng, hiểu không? Chúng ta làm nghề thu đồ nát cũng phải nghiên cứu nghiệp vụ mọi lúc mọi nơi, nếu không nhãn lực sẽ giảm sút. Cậu xem đồ thật nhiều rồi, đồ giả tự nhiên sẽ không lọt vào mắt cậu nữa."

Thiếu gia bảo đừng xem nữa, chuyện đã đến nước này, anh có dự định gì chưa.

Tôi biết cậu ta sợ tôi không tìm được nhà Vương Toàn Thắng rồi quay về, liền nói chúng ta lần này xuống đây cũng tốn không ít thời gian, về tay không thì không cam tâm, chắc chắn vẫn phải đi xuống dưới dạo một vòng xem có thu được món gì không.

Thiếu gia gật đầu bảo nghe theo tôi. Chúng tôi trò chuyện thêm một lúc, tôi dạy cậu ta vài kiến thức cơ bản về thu mua cổ vật.

Tôi thầm nghĩ sau chuyến này mình thực sự phải đi lánh nạn, chắc phải ba năm năm năm mới gặp lại thiếu gia. Nếu cậu ta thực sự mở tiệm cổ vật, cái trình độ này của cậu ta sẽ lỗ tới mức bà nội cậu ta cũng không nhận ra, nên tôi đem hết những gì mình biết truyền cho cậu ta.

Thực ra kinh nghiệm xuống thị trấn thu đồ của tôi cũng không nhiều, tính cả lần đầu mới vào nghề và lần đi với bố vợ mấy năm trước, tính ra lần này mới là lần thứ ba, chỉ là thiếu gia không biết thôi.

Nhưng thu cổ vật thực ra cũng giống thu đồ nát, cậu không thể coi cổ vật là cổ vật mà thu, cậu phải coi nó là đồ nát. Kỹ thuật gì chứ, thực ra cũng chỉ có một hai chiêu, giờ đều bị phơi bày cả rồi. Đó là thói quen của người thu cổ vật, thích mua kiểu "gộp". Tức là tôi mua một món đồ không giá trị, rồi bảo không có tiền lẻ, chủ nhà bảo để tôi trả lại, tôi bảo không cần đâu, tôi tìm đại món gì đó gộp vào là được, anh đừng trả lại nữa.

Cái gộp này có khi là một cái bát sứ nát dùng cho chó ăn, hoặc một cái hộp gỗ cũ, hoặc một cái vại gốm muối dưa. Thực ra thứ chúng tôi cần chính là cái đó, nhưng trực tiếp mua thì người ta chắc chắn nghi ngờ, cái món đồ rách nát này mà chịu bỏ giá cao thế thì chắc chắn là bảo bối rồi.

Nông dân chất phác nhưng không ngốc, đến lúc đó họ ôm khư khư không bán nữa, lý lẽ cũng không thông. Có lần tôi gặp một cô gái, nhắm trúng cái bàn bát tiên nhà cô ấy, nói mãi không được, kết quả lỡ lời một câu, cô ấy ôm lấy không bán nữa. Tôi bảo lỗi tại tôi, cô muốn bao nhiêu tiền, cô ấy cứ khăng khăng đòi một triệu, thiếu một xu cũng không bán, tôi suýt tức hộc máu. Cười hì hì, một triệu, cô bán cho người ngoài hành tinh đi.

Sau đó tôi quay lại, cái bàn vẫn còn đó, trên đó có dán nhãn: một triệu. Nhà này thành "đinh tử hộ" (hộ khó giải tỏa) luôn.

Còn chiêu thứ hai là "bao trọn gói". Chạy tới nhà người ta, dù tìm lý do gì cũng mua sạch những thứ đồ nát có thể mua, trong đó có món cậu cần. Có lần tôi thấy một người dùng chiêu rất hiểm, nhắm trúng cái bát "Hồng Vũ men đỏ" của người ta. Cậu mua lẻ cái bát người ta chắc chắn biết có vấn đề, cậu mua hết thì người ta lại thấy lạ, mua bát cũ người ta làm gì? Thế là anh ta tự mang hơn chục cái bát mới tới cửa nhà người ta bán, một xu một cái. Bà chủ nhà thấy một xu một cái thì đúng là cho không rồi, thế là mua hết, thay mới toàn bộ đồ trong nhà. Anh ta liền nói, bát cũ của chị không cần nữa nhỉ, tôi mang đi vứt giúp cho. Bà chủ nhà còn tưởng người này đúng là Lôi Phong sống. Ai ngờ bảo bối của mình đã bị người ta "vớt đáy biển" tráo mất rồi.

Cho nên trong này chẳng có bao nhiêu lý thuyết, đều phải xem phản ứng của bản thân. Theo lời bố vợ tôi, đó là xem "nước bẩn" trong bụng có đủ nhiều hay không. Về mặt này, thiếu gia muốn học được của tôi thì còn phải tốn nhiều hơi sức lắm.

Chúng tôi nói chuyện một lúc đã gần nửa đêm, dọc đường cũng mệt, cả hai đều buồn ngủ nên đi nghỉ.

Sáng sớm hôm sau, lão Thái tới gọi chúng tôi. Hành lý của chúng tôi vốn chẳng nhiều nên đều đeo trên lưng, cả đoàn người theo ông ta xuất phát.

Xưởng Hoàng Sa không nằm cạnh trấn mà gần vùng núi, ở một nơi gọi là Long Than. Đó là một thôn nhỏ, lão Thái nói đường núi hơi xa, cần ngồi máy kéo rồi đi bộ.

Đối với người thành phố như chúng tôi, khái niệm vào núi tôi không có, nên đợi máy kéo chạy bốn tiếng đồng hồ mà vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, tôi hỏi lão Thái, xưởng Hoàng Sa ở Đông Hoa Sơn xa thế sao? Ông ta bảo tôi, thực ra khoảng cách đường chim bay không xa, nhưng ở giữa ngăn cách bởi núi, có một đoạn đường núi dài. Có máy kéo ngồi là tốt rồi, vào sâu trong núi chúng tôi phải tự đi bộ.

Lúc này tôi mới hiểu, cái gọi là vào núi, không hề nhàn nhã như đi dạo.

"Truyền thuyết ma quỷ kiểu này đa phần xảy ra ở nơi ít dấu chân người, vì người nghe không dễ xác minh. Rất nhiều khe núi và hang động đều truyền là có ma, đây cũng là cách ứng phó bản năng của con người đối với những sự vật chưa biết." Lão giáo sư kia có vẻ đã nghiên cứu qua, rất nghiêm túc giải thích với chúng tôi.

Dọc đường đi chẳng có mấy bóng cây, chỉ toàn là những quả đồi nối tiếp nhau. Lại đi thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa, máy kéo không thể chạy tiếp được vì hết đường. Chúng tôi đã đến một ngôi làng nhỏ, sau khi xuống xe, chúng tôi tìm một hộ dân mua bữa cơm, ăn qua loa rồi bắt đầu đi bộ vào núi.

Nếu là ngày thường, kiểu hành quân thế này chắc chắn mí mắt tôi đã dính chặt vào nhau rồi. Nhưng gió trên đường rất lớn, lão giáo sư lại là người thú vị, ông kể rất nhiều chuyện hay ho nên tôi chẳng thấy buồn ngủ chút nào, ngược lại còn vô cùng tỉnh táo và phấn chấn.

Trong lúc trò chuyện, tôi biết lão giáo sư họ Lý, lai lịch không hề nhỏ, nghe nói còn là đại biểu cấp tỉnh gì đó. Hai sinh viên ông mang theo là hai người ông coi trọng nhất. Còn cô gái kia có quan hệ huyết thống với ông, chắc là cháu gái hay gì đó.

Mục đích chuyến đi này của họ chủ yếu là để sưu tầm các truyền thuyết dân gian và kỳ văn lịch sử ở Sơn Tây, sau đó biên soạn thành sách. Phong cách làm việc của lão giáo sư rất nghiêm cẩn, kiên quyết phải đích thân nghe thấy mới tính là thật. Ông cho rằng những thứ này là cổ vật vô hình, có giá trị hơn nhiều so với những thứ hữu hình kia.

Tôi và lão giáo sư rất tâm đầu ý hợp về phương diện này, hai người cảm thấy gặp nhau quá muộn.

Sau khi vào núi, vì địa thế rất cao nên cây cối dần trở nên rậm rạp, bắt đầu giống với những cánh rừng lá rụng nguyên sinh ở phương Bắc. Lão Thái và cháu ngoại của ông đi trước dẫn đường. Cháu ngoại lão là người ở xưởng Hoàng Sa, khá thông thuộc nơi đó nên mới đi cùng. Hai người họ đi không nhanh không chậm, thỉnh thoảng lại quay lại nhắc nhở chúng tôi chú ý đá vụn và gai góc.

Chúng tôi dọc theo thung lũng mà đi, gai góc mọc tràn lan, xung quanh thường xuyên truyền đến những tiếng bước chân không phải của chúng tôi. Lão Thái nói đó là tiếng của dã thú, khiến chúng tôi vô cùng hoảng sợ. Tôi không kìm được mà bắt đầu nhớ đến vùng đồi núi bị xói mòn bằng phẳng lúc chúng tôi mới đến.

Đi ròng rã thêm hai tiếng đồng hồ, không nghỉ lấy một phút, khi trời sắp tối, tôi đã đến xưởng Hoàng Sa trong truyền thuyết. Tôi nhìn thấy một dãy nhà ngói cũ nát, đó là nơi công nhân nghỉ ngơi khi xưởng Hoàng Sa còn hoạt động.

Một bên dãy nhà ngói chính là sông Hoàng Hà. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ nhìn thấy một con sông Hoàng Hà như thế này. Trong ấn tượng của tôi, con sông Hoàng Hà thời thơ ấu dù là mùa cạn nước cũng rất đáng yêu, chúng tôi có thể nghịch cát, bắt cá ở trong đó. Nhưng ở xưởng Hoàng Sa trước mắt, tôi lại thấy lòng sông dài mấy cây số, rộng mênh mông này đã bị mặt trời phơi khô thành lớp bùn vàng nứt nẻ, trông vô cùng đáng sợ.

Trong lòng sông, những con tàu nạo vét đã đào thành những rãnh sâu không bằng phẳng. Lão Thái dẫn đường đưa chúng tôi leo lên một dải núi bên bờ Hoàng Hà, xuyên qua ánh tà dương, lão chỉ vào một vệt đen mờ mịt phía xa: "Chính là ở vùng này!"

Tôi nhìn ra xa, ở đó có một hồ nước cạn lớn không theo quy luật nào, cách chúng tôi khoảng ba bốn trăm mét, hình thù kỳ dị.

Một hồ nước cạn lớn như vậy chắc không phải do hoạt động nạo vét cục bộ tạo thành, mà giống như có thứ gì đó từ trên trời rơi xuống. Nói một cách bình dân, nó giống như một cái hố thiên thạch nhỏ. Trông vô cùng quái dị.

Tôi thấy sau khi lão giáo sư leo lên dải núi, ông đón gió nhìn một vòng quanh những ngọn núi xung quanh, sắc mặt hơi thay đổi, đột nhiên hỏi lão Thái: "Tiểu huynh đệ, ở chỗ các anh có truyền thuyết gì về 'Hoàng Hà Long Vương' không?"

Lão Thái "à" một tiếng, rõ ràng không biết tại sao ông lại đột nhiên hỏi chuyện này, suy nghĩ một chút rồi nói: "Truyền thuyết thì nhiều lắm, nhưng nếu giờ bảo nói thì tôi cũng không nhớ ra được. Cái này phải hỏi mấy ông cụ trong làng, thời trẻ chúng tôi, trong thời kỳ 'Cách mạng Văn hóa', suốt ngày chỉ lo học thuộc Mao Tuyển thôi."

Lão giáo sư "ồ" một tiếng, cũng không hỏi thêm nữa, nhưng ánh mắt nhìn lòng sông Hoàng Hà này dường như lại thêm một chút vẻ nặng nề khó mà nhận ra.

Hai sinh viên và Thiếu gia đều muốn đến chỗ hồ nước xem thử ngay bây giờ. Lão Thái bảo thôi đi, trong đó có rất nhiều túi bùn, rơi xuống đó thì tìm cũng không thấy xác đâu. Hơn nữa trời đã tối, người địa phương có quy tắc vào ban đêm không được vào Hoàng Hà, sợ bị thủy quỷ kéo đi, hay là để ngày mai đi.

Chúng tôi vốn định ở nhờ trong nhà của công nhân phía dưới, nhưng chạy đến xem thì thấy đều khóa chặt, còn có cả niêm phong. Thời đó niêm phong lớn hơn trời, chúng tôi không ai dám xé, thế là quay lại dải núi bên cạnh, đốt lửa trại, chuẩn bị co cụm ở đây một đêm.

Vì ở trên dải núi nên đá nhiều cây ít, gió đêm rất lớn, chúng tôi đều khoác chăn, vây quanh đống lửa trại, ăn lương khô và uống rượu trắng. Vì đã đến gần Hoàng Hà, lão Thái và cháu ngoại của ông đều không nói gì nhiều, chỉ có tôi, lão giáo sư và Thiếu gia là ba người không ngừng trò chuyện để xua đi cái lạnh.

Thiếu gia uống nhiều, không biết làm sao lại vỗ mông nhìn quanh bốn phía, không biết đang tìm kiếm thứ gì. Tôi hỏi cậu ta làm gì.

Cậu ta nói: "Cái bánh gạo lứt lão Thái chuẩn bị cho tôi không ra gì cả, mẹ kiếp đứa nào nhào bột thế không biết, ông đây ăn vào bụng khó chịu quá, phải tìm chỗ giải quyết thôi."

Tôi nói: "Cậu đúng là lắm chuyện, xung quanh đây toàn là dã thú, tối tăm mù mịt, nếu cậu bị tha đi thì chúng tôi biết tìm cậu ở đâu. Cậu giải quyết ngay tại đây đi."

Thiếu gia bảo: "Tôi không ý kiến, nhưng mùi này các người chịu nổi không?"

Lão Thái nói với tôi: "Không sao đâu, đây là đỉnh núi, lại ở ngay bờ Hoàng Hà, dã thú bình thường không đến đây đâu, chỉ cần đừng vào rừng là được. Cậu cầm đèn pin đi, có động tĩnh gì thì gọi chúng tôi. Bây giờ trong núi cũng không có dã thú quá lớn, chỉ cần cẩn thận rắn là được."

Thiếu gia "ai" một tiếng, xách quần đi về phía đống cỏ bên cạnh. Một lát sau đã nghe thấy tiếng "phá núi lấp biển" của cậu ta. Tôi vốn không ăn được bao nhiêu, bây giờ nghe thấy lại càng không nuốt nổi, đành bỏ luôn. Lão giáo sư đùa rằng: "Tiếng động này của cậu chàng béo, hổ cũng phải sợ chạy mất dép, chúng ta cứ yên tâm."

Tôi nghe mà cười khoái chí, nhưng mới cười được hai tiếng thì đột nhiên nghe thấy Thiếu gia khẽ gọi ở phía đó: "Lão Hứa! Mau qua đây xem này!"

Mọi người đều giật mình, vừa mới bảo không có dã thú, sao lại kêu lên rồi? Mấy người cầm vội lấy gạch đá lao qua đó.

Thiếu gia cách chúng tôi không xa, chúng tôi đi vài bước là tới. Nhìn lại thì thấy Thiếu gia đang trốn sau một bụi cây, vừa xách quần vừa thấy chúng tôi tới liền ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, rồi chỉ tay về phía Hoàng Hà trước mặt.

[DeepSeek phụ dịch] C.3
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 6 năm 2026