Đừng gửi hoa (Never Send Flowers)

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
4 Anh em nhà Đới Duy

❊ ❊ ❊

Ông vừa đọc xong bốn đoạn đầu, cánh cửa ký ức đã mở toang, toàn bộ câu chuyện ùa về như thủy triều. Ít nhất, ông vẫn nhớ rõ những sự thật từng được báo chí đăng tải thời bấy giờ. Một vài tình tiết được tường thuật rất chi tiết, dù bị giới truyền thông tàn nhẫn xào nấu đến mức giật gân, nhưng ông tin chắc rằng, dù một số sự thật đã trở nên quá đỗi quen thuộc sau các phiên tòa, vẫn còn những điều chưa từng được công bố. Ông nhớ mình từng trò chuyện với một cảnh sát lão luyện nhiều năm trước; một cô gái bị sát hại khoảng sáu tháng mới được tìm thấy chôn trong khu rừng rậm, viên cảnh sát đó đã hỗ trợ nhận dạng thi thể nạn nhân.

"Có những sự thật ngay cả ở tòa chúng tôi cũng không tiết lộ," vị thám tử nói. "Tôi thực sự đã giám định vân tay của cô gái đó, nhưng để làm được vậy, họ phải cắt rời đôi tay của cô ấy và mang về London. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy thi thể của cô gái tội nghiệp đó cả."

Hồ sơ đồ sộ kia là báo cáo chú giải chi tiết về vụ án của viên cảnh sát phụ trách - Lý Tra Đức Tây Ma. Mặc dù tài liệu dài dòng này được viết bằng thuật ngữ chuyên môn của cảnh sát, ngôn ngữ của nó chẳng hề giúp xóa tan cảm giác kinh hoàng mù quáng.

Chuỗi sự kiện xảy ra sâu trong khu vực nhà máy dệt bông cũ tại thành phố Phổ Lôi Tư Đốn, cách Tây Bắc Mạn Triệt Tư khoảng 35 dặm. Băng Đức nghĩ đến những tòa nhà bằng đá hoa cương xám trắng và người dân Lan Khai Hạ, họ tuy vô ưu vô lo nhưng lại kiên cường bất khuất. Điều này không hề vô nghĩa, vì họ đã đóng một vai trò trong câu chuyện kinh dị này.

Khắc Lý Tư Đình Lại Đặc, trú tại số 30 đường Ngải Bá Đặc, thành phố Phổ Lôi Tư Đốn, mất tích vào đêm trước lễ Giáng sinh năm 1971, tên cô được đưa vào hồ sơ người mất tích. Cô 22 tuổi, tóc vàng óng, rất xinh đẹp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với cha mẹ. Cô luôn nói với bạn bè rằng cha mẹ vẫn đối xử với cô như một đứa trẻ. Hồ sơ quả thực đã được gửi đến bàn làm việc của thám tử chủ trì Tây Ma, nhưng mọi dấu hiệu đều cho thấy Khắc Lý Tư Đình trẻ tuổi đã bỏ trốn: cô luôn miệng nói muốn rời nhà, tự kiếm sống hoặc đi tìm tổ tiên nhà Lại Đặc① - câu nói sau cùng dĩ nhiên chỉ là trò đùa nhỏ với bạn bè. Nhưng không ngờ, sau đó nó lại mang hương vị của sự hài hước điềm gở trước tai họa.

① Nghĩa là cái chết - ND

Cô có một người bạn thân nhất tên là Kiệt Tây Tư Thái Nhĩ Tư, làm cùng cô tại Ngân hàng Tây Mẫn Tư Đặc quốc doanh. Cô thực sự đã nói với người bạn thân này rằng mình đã gặp một người đàn ông thực sự khiến cô rung động. Báo cáo ghi lại nguyên văn lời bạn cô: "Khắc Lý Tây① nói, cô ấy nghĩ chàng trai đó rất vừa ý. Cô ấy không nói nhiều về việc này, chỉ bảo anh ta có phong thái công tử bột, giàu có, còn nói điều đó có thể giúp cô ấy có một cuộc sống mới trong tương lai. Họ đang yêu nhau. Điểm khác biệt lần này là cô ấy không kể cho tôi bất kỳ chi tiết nào. Thường thì cô ấy sẽ có ảnh bạn trai và kể tôi nghe mọi thứ. Lần này, ngay cả tên của người bạn trai đó cô ấy cũng không nói."

① Khắc Lý Tây là tên gọi thân mật của Khắc Lý Tư Đình - ND

Đầu xuân năm 1972, hai người đi dã ngoại suýt chút nữa vấp phải thi thể của cô gái mất tích. Dựa vào dấu vân tay, xác nhận đó là Khắc Lý Tư Đình Lại Đặc - khi còn sống cô ở tại nhà cha mẹ trên đường Ngải Bá Đặc, cảnh sát đã lấy dấu vân tay từ phòng cô để kiểm tra hoạt động của cô.

Thứ mà hai người dã ngoại tìm thấy chỉ là phần thân đang bắt đầu phân hủy. Toàn bộ phần đầu bị chặt đứt, các phần còn lại bị chôn trong một ngôi mộ sâu chưa đầy 8 inch; ngôi mộ cách không xa một trong những con đường lớn chạy qua khu đầm lầy Mạn Triệt Tư. Khí hậu miền Bắc Anh rất lạnh, nhiệt độ xuống mức đóng băng kéo dài từ đầu tháng 12 năm 1971 đến tháng 4 năm 1972; nhiệt độ như vậy giúp thi thể được bảo quản rất tốt, vì chỉ khi xuân ấm áp thi thể mới bắt đầu phân rã.

Chủ trì Tây Ma bắt đầu điều tra vào ngày sau khi nhận dạng thi thể. Ông điều tra không sâu. Trong ghi chép của mình, ông nghi ngờ về việc người cha và cô con gái nạn nhân thường xuyên cãi vã; nhưng sau quá trình hỏi đáp kéo dài, viên cảnh sát này chỉ ra rằng, ông cho rằng cha của Khắc Lý Tư Đình, theo thuật ngữ cảnh sát Anh, thậm chí không phải là một người "tỉnh táo bình thường".

Thứ Ba tuần lễ Phục sinh, Bố Lý Kỳ Đặc Bối Lạp Mễ nói với cha mẹ rằng cô muốn đến ở cùng bạn gái Bối Đặc Tây Tát Gia. Đến tối thứ Tư cô vẫn chưa về, nên mẹ cô cuối cùng đã gọi điện đến nhà Bối Đặc Tây. Ban đầu bà rất tức giận. Dù Bố Lý Kỳ Đặc đã 21 tuổi, bà Bối Lạp Mễ vẫn cho rằng con gái mình luôn nói thật. Thực ra tối đó Bố Lý Kỳ Đặc không ở cùng gia đình Tát Gia, ngày hôm sau, tức ngày gọi điện thoại, cô cũng không đi làm.

Sau khi Bối Đặc Tây nói ra sự thật, ông Bối Lạp Mễ mới gọi điện cho cảnh sát. Một tuần qua, Bố Lý Kỳ Đặc luôn vui vẻ hớn hở, cô đã gặp được người đàn ông trong mộng và kể với bạn gái Bối Đặc Tây rằng họ đang yêu nhau, anh ta khẩn khoản cầu hôn cô. Mẹ anh ta đã qua đời; nhà anh ta có một căn biệt thự rất đẹp, một khi người cha già yếu qua đời, căn nhà này cùng một khối tài sản lớn sẽ do người bạn trai này thừa kế. Bố Lý Kỳ Đặc Bối Lạp Mễ tóc vàng óng, tuy cô thực sự đã nói bạn trai mới của mình sống không xa nhà cha mẹ cô, nhưng có một điều cô chưa bao giờ nói với Bối Đặc Tây, đó là tên của người trong mộng của cô.

Đầu tháng 6, vẫn tại khu đầm lầy Mạn Triệt Tư, thi thể của cô được tìm thấy. Lần này càng khó nhận dạng hơn, nhưng đó đích thị là thi thể của cô. Điều này không còn nghi ngờ gì nữa, cũng giống như việc cái đầu của cô có lẽ bị chặt bằng rìu hoặc cưa vậy.

Mùa hè năm đó lại xảy ra hai vụ án nữa. Hai nạn nhân đều tóc vàng óng, tuổi ngoài 20; cả hai đều được tìm thấy trong tình trạng không đầu; cả hai cô gái đều mất tích ngay sau khi nói với bạn bè rằng họ sắp tuyên bố đính hôn.

Những ngày đó, khái niệm "kẻ giết người hàng loạt" vẫn chưa lọt vào đầu óc cảnh sát, cũng chưa xuất hiện trong ngôn ngữ đại chúng; nhưng Tây Ma hiểu rõ, trong khu vực đó có một kẻ sát nhân vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Kẻ đó đã sát hại bốn lần; hắn đặc biệt thích phụ nữ tóc vàng; hành vi ma quỷ của hắn bao gồm cả việc chặt đầu nạn nhân - có lẽ là giữ lại làm vật kỷ niệm.

Ghi chép của vị thám tử chủ trì trong hai tuần tiếp theo khiến người ta vô cùng căng thẳng. Không có bất kỳ gợi ý nào, cũng không có manh mối nào. Ông cố gắng làm cho giới truyền thông rơi vào mê hồn trận. Có đoạn ông viết: "Nếu cứ tiếp tục như thế này, tôi sẽ buộc phải tiết lộ sự thật. Tất cả phụ nữ trẻ tóc vàng trong khu vực này rõ ràng đều đang gặp nguy hiểm. Nhưng nếu tôi tiết lộ toàn bộ chi tiết, sẽ gây ra sự hoảng loạn, và sẽ bị giới truyền thông tấn công đồng loạt. Họ sẽ chất vấn tại sao chúng tôi không bắt được ai. Nếu có thêm một vụ sát hại nữa, chúng tôi chỉ còn cách khuất phục, đưa ra một tuyên bố toàn diện rằng kẻ này là một kẻ điên. Tôi không phải chuyên gia pháp y, nhưng có thể khẳng định, việc chặt đầu được thực hiện trong trạng thái điên loạn. Hai người tiến hành kiểm tra y tế đã giúp đỡ tôi trong những vụ án này, cả hai đều đồng ý rằng, các cô gái đều chết do cổ bị tấn công - nói cách khác, đều chết do đầu bị chặt đứt. Tôi thực sự sợ lại có báo cáo về người mất tích."

Điều ông sợ đã xảy ra vào tuần cuối cùng của tháng 8. Trân Ni Đặc Phí Lạc Tư, 21 tuổi, cũng tóc vàng như các nạn nhân khác. Tuy nhiên cô lại khác biệt. Bạn bè cô không phải không thân thiện khi nói cô là một cô gái "cởi mở" - một trong những người bạn từng nói: "Vì cô ấy để bất cứ ai cũng có thể cưỡi." Trân Ni Đặc còn rất hay nói. Đêm mất tích, cô nói với An Ni Phất Lý Khắc - vị thám tử chủ trì chỉ ra rằng cô ấy có thể là thành viên cùng câu lạc bộ - rằng cô thực sự vẫn luôn đùa giỡn với một chàng trai trẻ tự cao tự đại. Theo báo cáo, cô từng nói: "Tôi luôn coi anh ta như thằng ngốc mà trêu chọc. Anh ta cứ nói đang yêu tôi, nhưng tôi biết anh ta muốn gì - và tối nay anh ta sẽ được toại nguyện."

Trân Ni Đặc còn nói, lấy anh ta ra làm trò tiêu khiển giết thời gian cũng rất hợp, nhưng một thời gian gần đây lại không thấy bóng dáng anh ta trong vùng. Anh ta nói với Trân Ni Đặc rằng vì anh ta là sinh viên. "Anh ta nói đang học ở Đại học Oxford, phải quay lại trường cho học kỳ mới." Những lời này là bước đột phá đầu tiên và cũng là then chốt nhất.

Trong khu vực Phổ Lôi Tư Đốn có 24 sinh viên đại học, trong đó chỉ có 15 người học tại Đại học Oxford. Đới Duy Mã Kỳ là chàng trai trẻ thứ ba mà thám tử chủ trì Tây Ma gặp.

Tại phiên tòa, bằng chứng được đưa ra, anh ta biện hộ rằng đó là do thần kinh không bình thường mà phạm tội - lúc đó đây là lựa chọn hợp pháp duy nhất của anh ta - Tây Ma chỉ nói, sau một loạt thẩm vấn, Mã Kỳ đã nhận tội. Suy nghĩ của Băng Đức là đúng. Không phải tất cả sự thật đều được tiết lộ tại tòa án công khai. Còn báo cáo chính thức của chủ trì thì đã nói ra toàn bộ những sự thật kinh hoàng.

Gia đình Mã Kỳ sống trong một tòa nhà khổng lồ thế kỷ 18; ngôi nhà được xây trên khu vườn rộng 4 mẫu Anh ở ngoại ô Phổ Lôi Tư Đốn. Phía sau tòa nhà chính có vài tòa nhà phụ, một trong số đó vốn là nhà xe; cha của Đới Duy đã cải tạo hoàn toàn nhà xe này thành căn biệt thự hai tầng rộng rãi, để Đới Duy, người đã nhận được học bổng của Học viện Cơ Đốc Đại học Oxford, có không gian sống riêng tư trong kỳ nghỉ, không phải bị nhốt trong nhà.

Khi Tây Ma cùng một thám tử đi cùng đến nơi, Đới Duy đang thu dọn hành lý chuẩn bị quay lại trường. Ấn tượng đầu tiên của ông là gặp một chàng trai trẻ có ngoại hình xuất chúng, trầm tĩnh, đẹp trai, phong thái học giả, tự tin, chỉ số thông minh cao. Sau này ông tiết lộ rằng mình từng lập tức gạch tên Mã Kỳ khỏi danh sách nghi phạm. Họ nói chuyện trong một phòng khách rộng rãi, đầy sách. Tây Ma bắt đầu hỏi han lịch sự, cho anh xem ảnh đời thường của các cô gái, bàn về tương lai của Đới Duy, hỏi han lơ đễnh về hoạt động của anh trong những ngày quan trọng đó. Đồng thời, Tây Ma cũng có cơ hội nhìn những cuốn sách trên giá. Đa số là sách liên quan đến luật, nhưng sách về quỷ thần, quái đản và tôn giáo cũng chiếm hẳn một ngăn.

Đới Duy Mã Kỳ trong khoảng 30 phút đầu nói năng cử chỉ rất bình thường; anh nhiệt tình trả lời câu hỏi, xin lỗi vì phòng khách bừa bộn, còn mời cà phê. Sau đó Tây Ma nhận thấy anh đột nhiên thay đổi. Anh dường như muốn tách biệt khỏi hai viên cảnh sát; đầu nghiêng sang một bên, như đang lắng nghe âm thanh gì đó hoặc người gần đó nói chuyện. Khi trả lời câu hỏi về sở thích và hoạt động tại Đại học Oxford, Đới Duy đột nhiên nói: "Họ nói, các ông đến đây để tìm họ." Giọng điệu anh trở nên đơn điệu như đang nói mớ.

"Ai nói?" Tây Ma nhận ra Đới Duy có thể trả lời đơn giản bằng những câu khẳng định.

"Sứ giả của thần nói. Vẫn chưa tập hợp đủ họ - đây là điều ông biết mà. Ái Sắc Y Tháp① nói, phải có ít nhất 6 người. Nhưng tôi mới thu thập được 5 người."

① Nữ thần quản lý sinh sản và phồn thực trong thần thoại Ai Cập - ND

"Đới Duy, Ái Sắc Y Tháp thường nói chuyện với cậu sao?" Tây Ma rất hứng thú với thần thoại Ai Cập nên cũng khá quen thuộc với nội dung của nó. Ái Sắc Y Tháp có lẽ là nữ thần quan trọng nhất mà người Ai Cập cổ đại thờ phụng. Trong số sách quỷ thần quái đản và tôn giáo của Đới Duy, Tây Ma nhìn thấy ít nhất 4 cuốn về quỷ thần sùng bái và người Ai Cập cổ đại.

"Đây là vinh quang, là vinh dự to lớn. Nếu bà ấy sai khiến ông, ông cũng biết đây là vinh dự to lớn." Tây Ma viết, lúc này Đới Duy đã ở trong trạng thái như bị hồn ma nhập. "Ái Sắc Y Tháp, mẹ của vạn vật, thủy tổ của các nguyên tố, nguồn gốc của mọi thời gian, em gái kiêm vợ của Ái Sắc Lý Tư, nói thông qua sứ giả của thần mà tôi tạo ra cho các người."

Chữ viết của Tây Ma trên giấy rất cẩu thả, ông thừa nhận những lời này dường như là những lời lảm nhảm đầy kịch tính của một kẻ thần trí rối loạn. Ông viết trong báo cáo: "Giọng của Đới Duy dường như đã thay đổi, như đang bắt chước người khác nói chuyện, âm điệu hoàn toàn khác biệt. Đây là sự thay đổi đáng kinh ngạc nhất mà tôi từng chứng kiến trên một con người trong đời. Khuôn mặt anh ta cũng như thay đổi. Tôi cảm thấy rùng mình. Còn thám tử Bảo Nhĩ Tư sau đó nói, anh ấy cảm thấy trong phòng dường như có một bóng ma đáng sợ đang ở cùng chúng tôi."

"Bà ấy nói thông qua sứ giả của thần. Bà ấy nói sứ giả đã đủ rồi. Bà ấy nói tôi phụ trách quản lý những sứ giả này." Đới Duy Mã Kỳ hoàn toàn bị tín ngưỡng kỳ quái này che mắt. "Đây đúng như những gì bà ấy nói, họ đã đồng thanh nói chuyện rồi."

Chủ trì Tây Ma bổ sung trong báo cáo: "Trong mắt anh ta, việc chúng tôi tin những gì anh ta nói là vô cùng quan trọng. Đây là một việc cực kỳ quan trọng, nhưng không phải là một việc cực kỳ quan trọng về mặt pháp luật hay tư pháp. Đây là việc một người tuyên bố anh ta đã làm những việc được yêu cầu."

Mã Kỳ nói tiếp: "Tôi đã làm mọi thứ bà ấy yêu cầu. Họ đều là những người tôi chọn lựa rất kỹ lưỡng, đều là phụ nữ da trắng trắng trẻo. Tôi theo gợi ý của Ái Sắc Y Tháp mà bày tỏ sự yêu mến với họ, cũng đúng như bà ấy nói với tôi, vào thời điểm chính xác và môi trường thích hợp khiến mỗi người trong số họ thực hiện sự hy sinh. Tôi đảm bảo với các ông, tất cả đều làm theo lời bà ấy, vì bà ấy là mẹ của sự sống. Bà ấy chỉ nói qua sứ giả của thần. Bà ấy nói thông qua họ rằng, các ông sẽ bắt tôi đi."

"Được rồi, Đới Duy," Tây Ma nhận ra mình đang run rẩy. "Họ bây giờ ở đâu?"

"Họ rất an toàn. Tôi cất giữ họ rất an toàn."

"Vậy chúng ta nên đi xem họ."

Những cái đầu được đựng trong những chiếc bình miệng rộng lớn - bình thủy tinh lớn đậy kín, ngâm trong dung dịch formaldehyde; những cái đầu chìm nổi trong dung dịch, những chiếc cổ bị cưa nham nhở kinh hoàng chảy ra máu nhuộm hồng cả cái đầu. Làn da đầy vết cưa như cánh bướm đang bay, đóng mở tạo ra cảm giác sống động đến rợn người. Những chiếc bình thủy tinh lớn đậy kín rõ ràng được đặt theo thứ tự trong một chiếc tủ lạnh lớn ở nhà bếp của Đới Duy Mã Kỳ. Hai cái đặt ở tầng trên; một cái ở tầng giữa; còn hai cái ở tầng dưới cùng.

Mã Kỳ còn lắp hai chiếc khóa lớn trên cửa tủ lạnh; khi anh mở cửa, những cái đầu đều đang nhấp nhô lên xuống; tóc của họ trôi nổi tán loạn trong dung dịch formaldehyde; đôi mắt vô hồn của họ trợn trừng, lộ vẻ vừa kinh ngạc vừa sợ hãi; những vết sẹo màu hồng dưới cái cổ bị cưa nham nhở nổi lên, phát ra ánh huỳnh quang huyền bí dưới ánh đèn trong tủ lạnh.

"Nói chuyện với họ đi!" Mã Kỳ thì thầm với những cái đầu, giọng điệu tràn đầy vẻ tự đắc. "Họ nói chuyện luôn ôn tồn nhỏ nhẹ, chẳng phải rất tuyệt sao?"

Thám tử Bảo Nhĩ Tư nghe xong không nhịn được mà nôn mửa; thám tử chủ trì Tây Ma có một dòng ghi chú rằng, sau đó một thời gian dài đêm nào ông cũng gặp ác mộng.

Phiên tòa xét xử Đới Duy Mã Kỳ tuy chấn động một thời nhưng không công bố mọi chi tiết ra công chúng. Lời biện hộ rằng bản thân thần trí không bình thường của anh ta rất có sức nặng, và đã được luật sư bào chữa cùng viện kiểm sát xác nhận, vì vậy chỉ tiết lộ những sự thật đơn giản rõ ràng. Dĩ nhiên báo chí dựa vào lời kể của bạn bè nạn nhân hoặc dựa vào những mảnh vụn thông tin từ người làm vườn và đầu bếp nhà cha mẹ Đới Duy mà đưa tin về một số câu chuyện lừa bịp - nhưng những câu chuyện này chỉ được đưa tin sau khi có phán quyết chính thức rằng Đới Duy có tội nhưng thần trí không bình thường, bị kết án "Nữ hoàng bệ hạ ban ơn cho giam giữ". Cái gọi là "Nữ hoàng bệ hạ ban ơn cho giam giữ" là cách nói của Anh dành cho việc phạm tội do thần trí không bình thường nên bị giam giữ suốt đời cộng thêm 99 năm trong một cơ sở công cộng.

Phiên tòa xét xử Đới Duy có thể nói là đầu voi đuôi chuột. Những vụ sát hại tàn nhẫn cùng việc Đới Duy Mã Kỳ bị bắt đã làm lu mờ tất cả. Những mô tả sống động gây chấn động mạnh trong lòng Băng Đức, khiến ông rùng mình; ông ngẩng đầu nhìn lên, kinh ngạc phát hiện mình đang ngồi trong khách sạn xinh đẹp này ở Thụy Sĩ, tiếng cười nói của những hành khách khác vang vọng xung quanh. Tập báo cáo dài dòng này ông đã đọc gần nửa giờ. Mặc dù báo cáo viết không hề khoa trương và bình thản, nhưng vị thám tử chủ trì này đã thể hiện hết mọi cảm xúc ghê tởm và chấn động. Vài giây trước, ông còn cảm thấy mình đang ở trong nhà bếp cùng Mã Kỳ và chiếc tủ lạnh, nhìn chằm chằm vào năm cái đầu người trôi nổi trong những chiếc bình thủy tinh lớn trong suốt.

Giờ đây ông ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào đôi mắt xanh lục đầy mê hoặc của Phất Lệ Khắc, như thể đôi mắt cô là xoáy nước sắp nhấn chìm ông. Sau đó ông lắc đầu, thoát khỏi cảm giác này, mới thấy cô đang nhìn mình, như thể nỗi sợ hãi của chính ông đang lây sang cô. Cảm giác sợ hãi truyền dẫn giữa họ như tĩnh điện.

"Anh hiểu ý tôi không?" Cô rót cà phê cho ông. "Uống cà phê đậm không?" cô hỏi.

"Cho thêm chút đường." Giọng ông dường như truyền đến từ nơi xa xôi. Báo cáo bình thản của thám tử Tây Ma có một sức mạnh làm lòng người cuộn trào, như thể một sức mạnh đã bị lãng quên từ lâu quay lại ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của chính mình. "Đây là anh trai của nạn nhân sao?" ông hỏi, như thể đang tự hỏi chính mình.

"Đọc những gì bác sĩ tâm thần phải nói đi! Đây là sự thật mang tính quyết định; đây cũng là một lý do khiến Lao Lạp phải che giấu việc này."

Ông đưa tay cầm tách cà phê, nhấp một ngụm, rồi nói: "Tôi nghĩ kết luận của bác sĩ tâm thần thậm chí không cần xem." Băng Đức luôn giữ thái độ hoài nghi với năng lực của bác sĩ tâm thần.

"Được rồi, vậy hãy để chúng ta đoán xem họ sẽ nói gì!" cô mỉm cười, cố gắng để Phất Lệ Khắc thấy lại khiếu hài hước của ông. "Tôi có thể tưởng tượng ra, một trong những biện hộ quan trọng nhất mà họ nhắc đến là, Đới Duy Mã Kỳ từ khi còn rất nhỏ đã có sự quan tâm không lành mạnh đến những thứ huyền bí. Đúng chứ?"

Cô gật đầu. "Anh ta bắt đầu với thần thoại Ai Cập chỉ như một sở thích, vô hại, cũng không có giá trị giáo dục. Nhưng dần dần lớn lên, anh ta bắt đầu tin rằng, chân lý về vũ trụ chỉ có thể tìm thấy ở Ai Cập cổ đại. Cha mẹ anh ta phát hiện ra khi anh ta mới 16 tuổi đã xây một bàn thờ trong vườn, tôn thờ Ái Sắc Y Tháp. Họ vì thế mà lo lắng."

"Tôi không phải đang đóng vai Sherlock Holmes," ông cười nhạt, gần như không có chút hài hước nào. "Nhưng dự đoán tiếp theo của tôi là, mẹ anh ta có cá tính độc đoán, ý chí của bà là luật lệ trong nhà Mã Kỳ, không chỉ Đới Duy mà em gái anh ta là Lao Lạp cũng chịu ảnh hưởng từ tính cách này của mẹ - việc này vô cùng quan trọng với chúng ta, nguyên nhân chính là ở đó."

"Đúng! Hai bác sĩ tâm thần đã mất rất nhiều thời gian để truy nguyên tuổi thơ và thời niên thiếu của Đới Duy. Bà Mã Kỳ dường như là người chấp hành kỷ luật nghiêm khắc. Bà còn mắc một chút bệnh cuồng tín tôn giáo. Khi anh trai của Lao Lạp bị bắt, Lao Lạp mới 15 hoặc 16 tuổi, nhưng tổn thương tinh thần rất sâu sắc, vì lúc đó mẹ cô đã hoàn toàn kiểm soát cô trong các vấn đề tôn giáo. Bà Mã Kỳ là một tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo thực thụ, nhưng làm việc gì cũng thích cực đoan. Ngày Chủ nhật của nhà Mã Kỳ giống như quay ngược lại thời đại Victoria, sáng tối làm lễ, đọc Kinh Thánh hoặc những cuốn sách có giá trị khác, giữa hai thời điểm sáng tối đó không cho phép chơi trò chơi, không cho phép làm những việc vô nghĩa."

"Tôi nghĩ, Đới Duy nhỏ luôn kể cùng một câu chuyện cho mỗi nạn nhân của mình." Băng Đức ngẩng đầu suy tư.

"Kể câu chuyện nào?"

"Kể về việc cha anh ta già yếu, mẹ anh ta đã qua đời. Tôi biết đây là điều anh ta đã nói với cô gái thứ hai - Bố Lý Kỳ Đặc Bối Lạp Mễ."

"Điểm này anh ta thừa nhận. Anh ta dường như thực sự nghĩ rằng mẹ mình đã qua đời."

"Hợp lý. Bác sĩ tâm thần có giúp được gì cho anh ta không? Ý tôi là, trong bệnh viện tâm thần họ có giúp được anh ta không?"

"Họ chẩn đoán anh ta mắc một loạt hội chứng. Anh ta dường như là một hỗn hợp rất không lành mạnh, tất cả những chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng nhất mà một phù thủy có thể nguyền rủa ra - hỗn hợp của trầm uất, bệnh tâm thần, cuồng loạn, tâm thần biến thái. Họ dùng thuốc mê kiểm soát anh ta một thời gian, nhưng anh ta luôn giữ được sự tỉnh táo. Anh ta trải qua vài giai đoạn dài trông hoàn toàn bình thường, đáng yêu, nhiệt tình thân thiện - ý tôi là mỗi lần vài tháng. Sau đó, sét đánh ngang tai, chuyện kinh hoàng lại xảy ra..."

"Lại muốn giết người?"

"Nghe nói là vậy. Anh ta từng cố gắng sát hại một người ở chung, còn từng có một lần tấn công một y tá, suýt chút nữa giết chết cô ấy."

“Ừ! Nhìn vào tất cả những điều này, cô nghĩ Laura cũng bị ảnh hưởng sao?”

“Tôi không thấy cô ấy có thể tránh khỏi sự ảnh hưởng đó bằng cách nào. Một bác sĩ tâm thần đã dành thời gian dài tiếp xúc với cha của Laura và kết luận rằng ông ta bị mất cân bằng tâm lý nghiêm trọng. Điều này tạo ra sự nguy hiểm bao trùm lên toàn bộ tình trạng của người bạn đời. Một người mẹ mê tín dị đoan, độc đoán chuyên quyền cộng với một người cha nhu nhược, tinh thần bất ổn, kết quả là họ đã sinh ra một con quỷ. Điều này khiến người ta tự hỏi, liệu hai đứa trẻ mà họ sinh ra có phải đều là quỷ dữ hay không.”

“Chúng ta cứ tạm cho là Laura March mất cân bằng tâm lý đi! Cô ấy là nạn nhân trong vụ án này, vì vậy, khi điều tra vụ sát hại cô ấy, chúng ta phải cân nhắc đến trạng thái tâm lý mà cô ấy có thể gặp phải.” Anh lại mỉm cười nhạt, giọng đầy mỉa mai: “Đồng nghiệp của cô ấy bây giờ chắc hẳn đang bận tối tăm mặt mũi với đủ loại công việc rồi. Nào là tổ chức các cuộc họp tư vấn, điều tra những người chịu trách nhiệm kiểm tra định kỳ cho Laura, cứ thế mà bận rộn không ngơi tay. Những chuyện như vậy sẽ không bao giờ xảy ra với người làm việc nghiêm túc một chút.”

Anh ngẩng đầu nhìn Flick, phát hiện trong mắt cô vẫn còn ẩn chứa vẻ sợ hãi. Anh vỗ vào tập hồ sơ dày đặt trên đầu gối mình: “Thứ này thực sự làm cô sợ đến mất hồn rồi, đúng không?”

“Sợ đến mức khó lòng diễn tả bằng lời, lúc khám nghiệm hiện trường vụ án trên núi, tôi đã bàng hoàng run rẩy. Câu chuyện này quá kinh khủng, tôi thực sự sợ hãi. James, thật vô lý hết sức, rốt cuộc cục của chúng ta đang nghĩ gì mà lại phái chúng ta lên đó để điều tra bí mật, ngay cả việc kiểm tra di vật của Laura cũng khiến tim tôi đập loạn xạ.”

“Cảnh sát không mang di vật đi sao?”

“Căn phòng Laura từng ở tại khách sạn Victoria-Jungfrau ở Interlaken vẫn được giữ nguyên trạng như lúc họ tìm thấy nó, đó là một việc tốt mà họ đã làm cho chúng ta.”

“Họ không di chuyển bất cứ thứ gì sao?”

“Họ nói là vậy. Tất nhiên, khi làm việc với cảnh sát thì ai mà biết họ có nói thật hay không. Căn phòng đã bị niêm phong. Chủ khách sạn đang chờ chúng ta đến. Nhưng, kể từ khi đọc xong những tài liệu này, đây lại là điều tôi không muốn làm nhất.” Cô dừng lại một chút, đưa tay lên tóc, xòe ngón tay chải lại mái tóc mượt mà. “James, chúng ta có thể ở lại đây qua đêm không? Hoãn đến ngày mai rồi hãy đi, thế nào?” Cô mỉm cười, ánh mắt bỗng chốc trở nên rạng rỡ. Ý đồ của cô đã quá rõ ràng. “Thời tiết ở đây đẹp làm sao, lại không có ma quỷ. Chúng ta còn có thể ân ái với nhau một chút!”

Gần 30 giây trôi qua, cả hai không nói một lời.

“Nếu đây là điều cô thực sự muốn, chúng ta ở Interlaken vẫn có thể ân ái với nhau mà, Flick.”

“Đúng vậy, nhưng…”

“Chúng ta tốt nhất nên tiến thẳng về phía trước để đối mặt với sự thật ngay lập tức. Cô nói chủ khách sạn đang chờ chúng ta, vậy chúng ta nên nhanh chóng đi thôi. Thực sự, chúng ta nên đi.”

Mắt cô chợt nhìn sang chỗ khác, một lúc sau mới thu hồi lại nhìn anh, cười gượng, đưa tay qua chiếc bàn vuông thấp, dùng đầu ngón tay khẽ gõ lên mu bàn tay anh. Sau đó cô bất lực gật đầu, vẻ mặt ảm đạm, chậm rãi cầm túi xách lên, chuẩn bị rời đi.

Khi họ lái xe ra khỏi bãi đỗ, Bond thoáng thấy đèn pha của một chiếc xe khác bật sáng. Bằng kinh nghiệm bản năng, anh biết chiếc xe đó sắp khởi động và chuẩn bị rời bãi đỗ từ vị trí cách họ vài chỗ đậu về phía sau bên phải. Đèn hơi natri chiếu sáng bãi đỗ rực rỡ, chiếc xe đó hiện ra rất rõ. Anh cho rằng đó là một chiếc Volkswagen màu đỏ, nhưng cũng không chắc chắn lắm. Khi họ đến nhánh đường dẫn ra đường số 6, anh lại thấy chính chiếc xe đó, nó quá gần xe của họ khiến anh cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, việc chiếc xe đó đi quá sát chứng tỏ tài xế không phải tay lái chuyên nghiệp. Mặc dù không loại trừ khả năng bị bám đuôi, anh vẫn bật đèn hậu để đối phương chú ý. Bất kỳ kẻ theo dõi có kinh nghiệm nào cũng sẽ không sử dụng xe màu đỏ, càng không đi sát như vậy để thu hút sự chú ý của người khác vào mình.

Chưa đầy một giờ sau, xe của họ đã dừng trước khách sạn Victoria-Jungfrau tráng lệ — tòa nhà nguy nga này vẫn giữ được ảnh hưởng của phong cách kiến trúc thời Victoria Anh quốc đối với rất nhiều khách sạn tại Thụy Sĩ. Trong suốt hành trình còn lại, họ không còn thấy bóng dáng chiếc xe màu đỏ đó nữa.

Bước vào khách sạn để làm thủ tục đăng ký, không khí nghiêm nghị thường thấy bao trùm lấy nơi này — một nữ phó giám đốc ăn mặc chỉnh tề, gương mặt không chút biểu cảm, mái tóc đen nhánh nhìn chằm chằm vào họ như thể muốn lấy dấu vân tay của họ vậy; bảng tên trước ngực cô ta ghi tên Marietta Bruchi. Sau đó cô ta làm theo thủ tục, kiểm tra hộ chiếu của họ. Rồi mới nói: “Người thân của các vị qua đời quá sớm,” — đó là nguyên văn lời cô ta — “tôi cảm thấy rất tiếc.” Tiếp đó cô ta lại nói: “Tôi tin rằng các vị đã nhận được tài liệu từ phía cảnh sát rồi, đúng không?”

Flick mỉm cười, đưa tay vào chiếc túi xách lớn, cẩn thận giữ nó ở dưới tầm nhìn của quầy lễ tân để không ai nhìn thấy khẩu súng của cô. “Vâng, tôi đã nhận được tài liệu rồi, cưng à, phải không?” Cô nhanh chóng nhướn mày với Bond, khẽ mỉm cười.

“Ừm! Tôi đã giao tài liệu cho cô ấy, nhưng tôi biết trước đây đồ đạc rất dễ bị mất trong túi xách.” Anh quay sang, nháy mắt ám hiệu với nhân viên phục vụ. Người phục vụ dường như coi anh là một người hào phóng vừa gọi một phần cá lưỡi trâu Dover vậy.

Cô lấy tài liệu chính thức ra đưa cho cô Bruchi nghiêm nghị, cô ta kiểm tra kỹ lưỡng như thể đang tìm kiếm vi khuẩn vậy. “Những tài liệu này có vẻ không có vấn đề gì.” Cuối cùng cô ta lên tiếng. “Các vị muốn đi xem phòng của em họ mình trước hay nhận phòng của mình trước?”

Việc người khách sạn muốn họ kiểm tra phòng của Laura March càng sớm càng tốt là điều quá rõ ràng.

“Cảnh sát đã cho phép, ngay khi các vị kiểm tra đồ đạc của cô ấy là có thể dọn dẹp căn phòng đó.” Marietta Bruchi cười gượng với họ. Bond nhận ra đằng sau nụ cười đó là mong muốn không hề bất hợp lý của ban quản lý khách sạn, họ muốn dọn dẹp di vật của cô gái bị sát hại càng sớm càng tốt để trống phòng cho thuê. “Chúng tôi có đủ kho để cất giữ vali của cô ấy, nếu các vị muốn tận dụng…”

“Được!” Giọng Bond nghe rất dứt khoát. “Được, chúng tôi rất hiểu, tôi nghĩ tốt nhất là bây giờ chúng ta nên đi kiểm tra đồ đạc của cô ấy, hơn nữa bây giờ kiểm tra cũng dễ dàng hơn. Tất nhiên, chúng tôi cũng yêu cầu các vị giúp bảo quản vali của cô ấy cho đến khi mọi việc được sắp xếp ổn thỏa.”

Cô Bruchi gật đầu dứt khoát nhưng đầy vẻ kiêu kỳ, rồi hỏi: “Còn chồng của bà March thì sao? Lần này khi đến đây cô ấy nói ông ấy bị bệnh nên không thể đi cùng cô ấy. Tôi hy vọng ông ấy không bị nặng. Cô ấy nói ông ấy bệnh không nặng lắm.”

“Vậy thì cô ấy đã không nói thật với cô rồi. Chồng của bà March đã qua đời vài tháng trước.” Bond nói dối.

“À!” Vẻ mặt cô Bruchi lần đầu tiên thực sự lộ vẻ kinh ngạc. Sau đó cô ta lại “À” một tiếng rồi nói: “Họ là một cặp đôi ân ái như vậy. Có lẽ đó là lý do tại sao…?”

Khi lấy chìa khóa từ giá treo, cô ta dường như lại nghĩ đến chuyện gì đó, “Các vị đi theo tôi nhé?” Cô ta quay người, đi về phía bên cạnh quầy lễ tân, thần thái cũng khôi phục bình thường, không chút khách khí gọi một nhân viên phục vụ mang vali của ông bà Bond đến phòng 614, nhấn mạnh vào mấy chữ “bà Bond” như thể muốn ám chỉ cô ta hoàn toàn không tin cô là bà Bond vậy.

Laura March đã chọn một căn phòng rõ ràng là rẻ tiền và dễ chịu. “Đây không phải là một trong những căn phòng xa hoa của chúng tôi.” Trung sĩ Bruchi — bây giờ Bond coi cô ta là Trung sĩ Bruchi — gỡ niêm phong, cắm chìa khóa vào ổ rồi xoay. “Cô ấy thông báo rất muộn mới giữ phòng, và nói rằng nếu chúng tôi giữ cho cô ấy một căn phòng rẻ hơn thì sẽ phù hợp hơn.”

Trong phòng có đầy đủ thiết bị cơ bản của khách sạn, một chiếc giường hẹp, bên cạnh giường đặt một chiếc bàn vuông nhỏ, trên bàn để điện thoại; còn có một tủ quần áo âm tường, một chiếc ghế, một bàn viết nhỏ và một phòng tắm chỉ to bằng cái nhà vệ sinh, trong phòng tắm chứa đầy những đồ dùng mà khách du lịch thường dùng.

Nữ phó giám đốc gật đầu với họ và nói, sau khi kiểm tra xong nếu muốn quay lại quầy lễ tân, cô ta sẽ dẫn họ đến phòng riêng của họ, đó là “một trong những căn phòng xa hoa hơn của chúng tôi”. Nụ cười trên mặt cô ta xuất hiện rồi biến mất nhịp nhàng, thay đổi nhanh như biển quảng cáo đèn neon vậy. Cô ta đứng trong phòng một lúc rồi lui ra ngoài.

Bond kiểm tra phòng tắm, nhận thấy phòng tắm nhỏ đến mức Laura không thể bày biện mỹ phẩm và đồ trang điểm, cô đành phải nhét hầu hết vào một chiếc tủ nhỏ có gương phía trên bồn rửa mặt. Cô dường như thích sống cuộc sống giản dị. Anh tìm thấy một hộp nhựa đựng thuốc, trên nhãn hộp có ghi đơn thuốc và địa chỉ của dược sĩ ở Knightsbridge. Dấu hiệu cho thấy cảnh sát có thể đã lấy hai viên thuốc đi kiểm nghiệm và phân tích. Anh nhét cả cái hộp vào túi, chen ra khỏi phòng tắm, thấy Flick đang kiểm tra quần áo treo trong tủ.

“Không có gì đáng chú ý.” Cô vừa khẽ vỗ vào từng món quần áo vừa nói: “Một chiếc váy đen cơ bản mặc buổi tối, một chiếc màu trắng, một chiếc màu xám — chiếc này khá đẹp —” cô nheo mắt nhìn nhãn mác — “À! Marks & Spencer. Đây là loại hàng khá rẻ, nhưng tôi nghĩ cũng rất giá trị. Hai chiếc quần lót bó, một chiếc quần jean để thay, giày, không còn gì nữa.”

“Kiểm tra kỹ túi quần áo đi.” Câu này nói ra như một mệnh lệnh.

“Không, James, anh kiểm tra túi đi! Để tôi kiểm tra ngăn kéo.” Phía bên phải tủ quần áo có ba ngăn kéo nhỏ từ trên xuống dưới. Khi Bond bắt đầu lần mò từng túi của bộ quần áo treo, Flick đã bắt đầu mở ngăn kéo, đầu tiên là mở ngăn dưới cùng, như một tên trộm chuyên nghiệp vậy.

“Túi nào cũng không có gì.” Khi anh lục xong túi quần jean thì cô vừa mở ngăn kéo cao nhất.

“Ừm!” Flick thò hai tay vào những món đồ ren lụa. “Cô ấy là khách hàng trung thành của thương hiệu ‘Victoria’s Secret’ đấy! Anh nhìn xem, James, đẹp quá!” Cô lấy ra vài món đồ lót rất sặc sỡ cho James xem.

Anh gật đầu. “Cô nghĩ điều này nói lên vấn đề gì?”

“Nó nói lên rằng đời sống tình dục của cô ấy rất sôi động, hoặc ít nhất là rất sôi động trước khi cô ấy đến đây.”

“Thật sao?”

“Các cô gái mua loại đồ lót này là để cho đàn ông chiêm ngưỡng và hưng phấn, sau đó cởi chúng ra. Tôi cũng mua đồ của thương hiệu Victoria’s Secret, tuy nhiên loại đồ này gần đây chẳng giúp ích gì được cho tôi cả.”

“Vậy thì, Laura rất có thể cùng cảnh ngộ với cô rồi!”

“Tôi nghĩ không phải cùng cảnh ngộ. Những thứ này… ừm, rõ ràng là vậy, những bộ đồ này đều cùng một kiểu dáng. Cô ấy có một người bạn trai thích loại đồ này. Còn tôi thì chỉ có một vị khách trung thành, đến tận bây giờ vẫn chưa mang lại lợi ích gì cho tôi cả.”

“Tình hình sẽ thay đổi thôi, Flick. Ai mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra trong thời tiết dễ chịu ở Thụy Sĩ này.” Anh đi đến chiếc bàn viết nhỏ đối diện, bắt đầu kiểm tra cặp tài liệu của khách sạn, phát hiện bên trong có tờ rơi và văn phòng phẩm… “Ôi chao! Tôi không thể tin được cảnh sát lại không phát hiện ra cái này.” Anh lấy ra hai tờ giấy viết thư chuyên dụng của khách sạn được gấp đôi, hóa ra đó là một bức thư, có chữ ký của Laura, nét chữ của cô to và thô. Nét chữ rất to, vì cô không viết nhiều nhưng lại muốn chiếm hết một tờ rưỡi giấy, cô dùng những vòng tròn đặc lớn và vòng tròn rỗng nhỏ để chấm lên chữ “i”.

“Đây là cái gì?” Flick đứng bên cạnh anh. Anh có thể ngửi thấy mùi hương cơ thể của cô và mùi xạ hương trên mái tóc cô.

Bond hơi di chuyển cơ thể để cô cũng có thể nhìn thấy nội dung bức thư. Trên thư không có địa chỉ, Laura viết:

David yêu dấu của em:

Được rồi! Em nói cho anh biết, em đã trở lại nơi cũ mà chúng ta yêu thích nhất rồi. Ở đây mọi thứ không có gì thay đổi, những ngọn núi vẫn nằm ở vị trí cũ của chúng. Em vẫn luôn nhớ anh, nhưng em biết, đối với em thì anh đã chết rồi. Tuy nhiên ở vùng này, anh lại hiện hữu ở khắp mọi nơi. Có lẽ em không nên đến, nhưng em cần được gần gũi với tất cả những gì chúng ta từng chia sẻ.

Hôm nay ở đây mưa suốt cả ngày, em đi dạo khắp khách sạn, cố gắng đọc sách, nhìn ra những ngọn núi mờ ảo phủ trong mây mù. Họ nói ngày mai trời sẽ hửng nắng, vậy thì em sẽ đi tham quan nơi chúng ta yêu thích nhất.

À, lạy Chúa! David, anh trai của em, người yêu của em, em thực sự không biết phải làm sao.

Như mọi khi, gửi đến anh tình yêu sâu đậm không bao giờ thay đổi của em.

Laura của anh

“Lạy Chúa!” Flick khẽ nói: “James, chúng ta mau rời khỏi căn phòng này đi!”

Anh gật đầu, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác kinh hãi đến dựng tóc gáy, như thể người phụ nữ đã chết đó đang ở trong phòng cùng với họ vậy. Nếu Bond tin vào ma quỷ, anh thậm chí sẽ cho rằng con quỷ David March và em gái Laura của hắn đều đang nằm trên chiếc giường kia mà cười khúc khích đầy ám muội. Đó là lần thứ hai trong đêm, Bond cảm thấy lông gáy mình dựng đứng lên.

Bond cẩn thận gấp bức thư lại bỏ vào túi, lúc này mới quay người nhìn Flick. Cô tái mét, sợ hãi đến run rẩy, đôi mắt cũng trào nước mắt, toàn thân cô đều lộ rõ dấu hiệu bị chấn động, như thể bị thương nặng vậy. Bond dùng đôi tay ôm chặt lấy cô, biết rằng chính mình cũng đang run rẩy.

“Đúng vậy, Flick, chuyện như thế này chắc chắn sẽ khiến bất cứ ai cũng cảm thấy như nhìn thấy ma quỷ. Chúng ta đi thôi!”

Họ bước ra khỏi phòng, tiện tay đóng cửa lại. Không ai nói một lời, bước chân vội vã, đi thẳng vào thang máy, quay lại quầy lễ tân, cô Bruchi với thần thái lạnh lùng ngẩng đầu nhìn họ, không chút nụ cười.

“E rằng tối nay chúng tôi không thể xử lý hết tất cả di vật của em họ tôi.” Giọng anh khôi phục bình thường, tỏ ra bình tĩnh và tự tin. “Hôm nay có nhiều việc quá, chúng tôi đã bận cả ngày rồi, vì vậy chúng tôi đành phải nhờ các vị đợi đến ngày mai, sáng mai tôi sẽ đích thân xử lý nó như việc đầu tiên.”

Trên mặt Marietta Bruchi thoáng qua vẻ giận dữ, bất lực nói rằng cô ta rất thông cảm. Cô ta búng tay một cái gọi người phục vụ đến, bảo anh ta đưa ông bà Bond về phòng của họ, nhấn mạnh vào mấy chữ “bà Bond” như thể muốn ám chỉ cô ta hoàn toàn không tin cô là bà Bond vậy.

Trong phòng ngủ có một chiếc giường cực lớn, xung quanh giường có gắn những mô hình đầu và chân của Nữ hoàng Victoria — bốn thanh kim loại đen dựng đứng cao lên như muốn đóng chặt hai đầu giường lại vậy, những món đồ trang trí bằng đồng hình đầu người khổng lồ được mài giũa sáng bóng. Trong phòng khách rộng rãi có một bộ ghế sofa da đen, một bàn làm việc, bàn vuông có gắn gương tròn, một chiếc tivi và một tủ lạnh nhỏ. Bond không khỏi rùng mình, vì chiếc tủ lạnh nhỏ đó khiến anh nhớ đến kho lạnh kinh hoàng của David March.

Phía bên kia phòng khách có vài cánh cửa kính lớn dẫn ra một ban công dài, từ ban công có thể nhìn xuống phía trước của khách sạn tráng lệ này. Sau khi trả tiền tip và cho nhân viên phục vụ đi, Flick đi tới, băng qua cửa kính ra ban công.

Bond cũng theo ra, đứng bên cạnh cô, nhìn xuống những người dân địa phương và du khách đang tản bộ trên con phố rực rỡ ánh đèn. Họ đều ra ngoài đi dạo sau bữa tối, đi lại rất trật tự, trông giống như một đội diễu hành vậy. Đây cũng là một phần trong nghi lễ của bất kỳ điểm du lịch nào ở Thụy Sĩ. Bây giờ họ đứng trên ban công cảm thấy hơi lạnh, nhưng họ đứng sát vào nhau, một lúc lâu không nói gì, cho đến khi anh khẽ vòng một cánh tay ôm lấy vai cô, đưa cô trở lại phòng, dẫn đến chiếc ghế sofa đen dài ngồi xuống.

“Về chuyện này chúng ta phải có một câu trả lời hợp lý.” Anh kẹp bức thư giữa ngón tay và ngón cái của bàn tay phải. “Chúng ta có thể chắc chắn David March đã chết cách đây 5 năm không?”

“Chắc chắn, không còn nghi ngờ gì nữa.” Đôi má cô đã có lại chút huyết sắc, nhưng giọng vẫn tỏ ra hơi sợ hãi. “Tôi đã xem qua giấy chứng tử — tuy nhiên chỉ là bản sao — và…”

“Anh ta chết vì bệnh gì?”

“Có một khối u trong não. Không liên quan gì đến trạng thái tâm lý cả. Lúc đó trạng thái tâm lý của anh ta đã sớm xuống dốc thực sự rồi. David March đã trở thành một người chỉ biết đi lại, lẩm bẩm, không chút sức sống, thuốc men đã vô phương cứu chữa. Ba tháng trước khi chết, bác sĩ đã phát hiện anh ta có dấu hiệu đau đầu nghiêm trọng, hơn nữa còn bị bệnh về mắt. Họ đã làm tất cả những việc thông thường như chụp X-quang, điện não đồ, v.v. Khối u não không thể phẫu thuật. Mặc dù đã cho dùng liều thuốc giảm đau cao, nhưng anh ta vẫn chết trong đau đớn.”

“Chúng ta có ai biết Laura đã từng đến thăm anh ta không?”

“Không. Không ai trong nhà đến thăm anh ta. Trong mắt người thân, anh ta dường như đã chết từ lâu rồi.”

“Vậy thì có ba khả năng.” Anh chỉ vào bức thư nói, “Bức thư này hoặc là một thủ đoạn lừa dối, điều này có vẻ rất khả thi vì cảnh sát đã không lấy nó đi; hoặc Laura viết cho một người nào đó, mà người này cô ấy cho rằng vừa là anh trai, vừa là người tình của mình; cuối cùng còn một khả năng nữa, đó là trạng thái tâm lý của cô ấy không cân bằng, điều này chỉ có nghĩa là bức thư này là một phần trong hoạt động tâm lý ảo tưởng của cô ấy. Tôi nghĩ, trước tiên chúng ta phải làm rõ xem bức thư này có thực sự do chính cô ấy viết hay không.”

Anh đi đến phía bên kia căn phòng, lấy chiếc cặp công văn của mình, mở khóa bảo hiểm, mở vali ra, lộ ra một chiếc máy tính nhỏ, bên cạnh máy tính là một chiếc máy fax cầm tay. “Ngành của chúng ta thay đổi nhiều thật,” anh cười nói, “bây giờ đã đến lúc cặp công văn của tôi cũng trở thành vũ khí chết người rồi, vũ khí của chúng ta hầu như hoàn toàn được điện tử hóa.” Anh vẫn chưa nhắc đến cái vali đó, thực ra trong vali có hai thứ được giấu kín, nếu sử dụng đúng cách cũng đủ để gây chết người.

Anh cắm phích cắm điện thoại vào máy điện báo, xé một tờ giấy trắng từ tập giấy của khách sạn, đặt lên mặt bàn kính, sau đó viết một mật mã làm trang đầu của điện báo. Anh đưa trang giấy này vào máy fax, rồi nhấn số bảo hiểm điện báo của London. Trang này đã được gửi đi, theo sau là hai trang thư mà họ lấy được từ phòng của Laura March.

“Đến sáng mai, chúng ta sẽ nhận được một bản điện báo trả lời đơn giản từ máy fax của khách sạn. Nó chỉ đơn giản nói ‘Có’ hoặc ‘Không’. Nếu nó nói ‘Có’, thì chúng ta phải làm rõ rốt cuộc cô bé Laura đang nói cái gì — là ảo tưởng hay là sự thật.”

“Anh chỉ hỏi về bức thư thôi sao?”

“Tôi yêu cầu họ giám định nét chữ, xem nét chữ trên bức thư đó có phải của Laura không, còn yêu cầu họ kiểm tra lại sự thật về cái chết của David March. Việc đầu tiên chúng ta phải làm là quay lại kiểm tra phòng của cô ấy một lần nữa. Cô ở lại đây, vì nơi đó có ảnh hưởng không tốt đến cô.”

Cô cười gượng. “Anh không hề bận tâm đến nơi đó, đúng không?”

“Không. Cô biết không phải vậy mà. Cả hai chúng ta lúc đó đều sợ chết khiếp.” Anh đi đến chiếc tủ lạnh nhỏ đối diện. “Brandy, Vodka, Whiskey, cô muốn uống loại nào?”

“Tôi muốn uống Brandy.”

Anh đặt ly rượu lên bàn, mỉm cười với cô, dùng ngón tay vuốt ve vai cô. Vẻ mặt cô vẫn tỏ ra bất an.

Bond rót rượu từ chai rượu có dán hình nhỏ của Remy Martin. Anh xoay xoay ly rượu, nhìn chất lỏng màu hổ phách đang xoay tròn, rồi nhấp một ngụm. “Loại chất lỏng này sẽ giúp cả hai chúng ta thả lỏng thần kinh căng thẳng. Chúng ta thực sự nên nghỉ ngơi cho tốt. Ngày mai là một ngày bận rộn đấy!”

Cô đưa ly rượu lên môi, không nhìn anh lấy một cái, gật đầu vẻ chán chường.

“Tôi sẽ ngủ trên ghế sofa dài ở đây, cô đi ngủ trên giường đi.”

Cô không trả lời. Một lúc sau Bond nói anh muốn đi tắm, để cô ngồi yên một mình một lúc. Bond mở túi quần áo, lấy đồ thay, mặc áo choàng tắm của khách sạn, rồi đi tắm. Khi tắm xong quay lại, cô vẫn ngồi bất động, đôi mắt nhìn vào khoảng không vô định.

Cô rời khỏi phòng khách và nói rằng trước khi đi ngủ sẽ ghé qua xem tình hình anh. Bond cảm thấy bồn chồn khó chịu, anh rót nốt chỗ rượu brandy còn lại vào ly, tựa lưng vào ghế xem tin tức trên truyền hình. Nửa tiếng sau, anh mơ hồ nghe thấy tiếng cửa phòng ngủ mở ra, tiếp đó là tiếng vải vóc ma sát sột soạt mơ hồ ở phía sau. Anh quay đầu lại, thấy Flick xuất hiện ở cửa. Cô mặc một chiếc quần lót tam giác bằng lụa mỏng tang như sương khói, viền ren tinh tế. Mái tóc cô óng ả, đôi mắt xanh quyến rũ mở to, khiến anh một lần nữa cảm thấy chỉ riêng ánh nhìn đó thôi cũng đủ sức nuốt chửng lấy anh.

"A! Bí ẩn của Flick!"

"Bí ẩn của anh, James."

Anh đứng dậy. Cô bước về phía anh, toàn thân dán chặt vào người anh, giơ một bàn tay ra, năm ngón tay choãi rộng giữ lấy đầu anh, ép môi anh áp chặt vào môi cô.

"Tuy thời gian đã muộn," cô thì thầm, "nhưng đêm nay em nhất định phải thấy thoải mái, làm ơn đi nào!" Từ cuối cùng không phải là sự khẩn cầu, mà xuất phát từ cảm xúc sâu thẳm trong lòng cô. Sau đó, cô dắt tay anh bước vào phòng ngủ.

Khi anh chậm rãi bước vào, cổ họng cô phát ra tiếng kêu khẽ đầy thỏa mãn — tiếng reo vui của một kẻ đang khát cháy cổ họng nhìn thấy thứ giải khát. Một lát sau, anh nhìn thấy một khuôn mặt, không phải khuôn mặt của Flick, mà là một người khác, người mà anh cảm thấy quen quen nhưng đã quên từ lâu. Sau đó, khi khuôn mặt và thân hình cô tạo ra hiệu ứng kỳ ảo đặc biệt, khuôn mặt kia biến mất.

Cả hai người họ đều không nghe thấy tiếng khóa cửa phòng khách vang lên, cũng không nghe thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng đi ngang qua cửa phòng, bởi vào lúc đó, căn phòng ngủ dường như đã trở thành một chiếc bè gỗ trôi dạt giữa đại dương, cách biệt hoàn toàn với đất liền.

Ngay sau đó, không hề báo trước, Bond khẽ dùng tay bịt miệng cô lại.

"Cái gì...?" Cô vừa định hỏi thì Bond đã lớn tiếng quát: "Ai ở đó?"

Từ phòng khách truyền đến giọng một người phụ nữ, nghe đầy vẻ hoảng loạn. Cô ta nói: "Là tôi, người hầu phòng đây ạ, thưa ông. Xin lỗi, tôi cứ tưởng các ông bà cần tôi vào dọn dẹp phòng."

"Không cần, không cần, phòng vẫn rất gọn gàng." Anh đanh mặt lại, cười khổ với Flick. "Thật sự quá mức ngượng ngùng." Anh nói khẽ, "Tốt nhất tôi nên ra ngoài treo tấm biển 'Xin đừng làm phiền' lên."

"Anh muốn đi thì cứ đi! Nhưng phải nhanh lên, nếu không, không có anh bên cạnh, cơn nghiện của em lại tái phát mất."

Anh đi xuyên qua phòng ngủ, bước vào phòng khách, treo tấm biển lên rồi tiện tay cài chốt an toàn vào cửa. Trước khi quay lại phòng ngủ, anh nhìn thấy chiếc cặp táp của mình, vì lý do an toàn nên đã xách nó vào trong. Trong lòng anh luôn có thứ gì đó quấy nhiễu khiến anh bất an. Giọng nói của người hầu phòng kia, anh cảm thấy mình từng nghe ở đâu đó, nhưng lại không nhận ra rốt cuộc là của ai.

Anh đặt chiếc cặp lên đầu giường mà không hề để ý rằng nó đã bị phá hoại.

Một lát sau, Flick dang đôi bàn tay thon dài cào cấu lên phần lưng dưới của anh, để lại những vết cào sâu hoắm. Họ cùng nhau đắm chìm trong cuộc hoan lạc, không còn ai quấy rầy nữa. Trong một khoảng thời gian rất dài, trên thế giới này không còn tồn tại ai khác ngoài hai người họ, bởi họ đã quên sạch những ảo mộng hiểm ác và nỗi kinh hoàng chôn giấu tận đáy lòng.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 6 năm 2026