Vọng Tộc Phong Lưu

Lượt đọc: 1128 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 188
Đề "Luận Ngữ" không đơn giản

❊ ❊ ❊

Ba bài văn Tứ Thư, liên quan đến việc Kỷ Ninh cuối cùng có thể đỗ đạt cao trong kỳ thi mùa thu hay không, cũng là ba bài văn quan trọng nhất trong kỳ thi kéo dài chín ngày này.

Đề "Luận Ngữ" ra rất đơn giản, khiến người ta nhìn vào là thấy đây hẳn là một đề bài rất dễ: "Thiên táng dư."

Đề "Mạnh Tử" là: "Thị cố đắc hồ khâu dân nhi vi Thiên Tử, đắc hồ Thiên Tử vi chư hầu, đắc hồ chư hầu vi đại phu."

Đề cuối cùng là "Trung Dung", nhưng cũng là một đề khá đặc biệt trong ba đề: "Quốc vô đạo chí tử bất biến. Thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã?"

Ba đề bài nhìn qua, Kỷ Ninh chắc chắn sẽ thấy đề thứ ba khó nhất, vì đề thứ ba là đề cắt ghép, vế trước xuất xứ từ "Trung Dung", mà vế sau "Thị khả nhẫn thục bất khả nhẫn" lại xuất xứ từ "Luận Ngữ". Trong chế độ khoa cử phong kiến, đề khó nhất chính là loại đề cắt ghép ngắt câu thế này, vì bản thân vốn không xuất phát từ một câu, nội dung luận bàn cũng khác nhau, muốn sắp xếp mạch lạc để làm văn rất dễ dẫn đến lệch lạc.

Nhưng Kỷ Ninh nhìn kỹ lại những đề bài đó thì phát hiện đề thứ ba ngược lại mới là dễ nhất, còn đề khó nhất lại chính là đề Luận Ngữ ở câu hỏi đầu tiên, chỉ vỏn vẹn ba chữ.

Câu đầu tiên, "Thiên táng dư", xuất xứ từ "Luận Ngữ - Tiên Tiến thiên", là lời cảm thán của chính Khổng Tử. "Dư" thông với "dư", nghĩa là ta. Giải thích ý nghĩa của ba chữ này, Khổng Tử cảm thán rằng: "Đây là ông trời muốn mạng ta a". Lý do gì khiến bậc đại thánh nhân như Khổng Tử lại oán trời trách người đến vậy? Thông qua ngữ cảnh câu này thì có thể biết được đôi chút, trong "Luận Ngữ - Tiên Tiến thiên" cũng đã chỉ rõ: "Nhan Uyên chết, Tử viết: Ồ! Trời hại ta! Trời hại ta!"

Nhan Uyên, chính là người học trò đắc ý nhất của Khổng Tử, Nhan Hồi.

Nhan Hồi, tự Tử Uyên, mười bốn tuổi đã bái nhập môn hạ Khổng Tử, là người học trò mà Khổng Tử cho là đắc ý nhất trong đời, không một ai sánh bằng. Trong "Luận Ngữ - Ung Dã thiên", có một đoạn rất dài mô tả việc Nhan Hồi trở thành học trò đắc ý của Khổng Tử như thế nào, nói rằng Nhan Hồi "một giỏ cơm, một bầu nước, ở ngõ hẻm, người khác không chịu nổi sự lo âu đó, còn Hồi thì không thay đổi niềm vui", vô cùng cần cù hiếu học, đối nhân xử thế khiêm tốn, "không trút giận lên người khác, không mắc lỗi lần hai", nghĩa là không bao giờ trút giận lên người khác, cùng một sai lầm không bao giờ phạm lại, cho nên Khổng Tử mới phát ra lời cảm thán "Thiên táng dư" sau khi Nhan Hồi qua đời.

Nhan Hồi xưa nay luôn được công nhận là người đứng đầu trong bảy mươi hai vị đệ tử của Khổng Tử. Trong thời không mà Kỷ Ninh quen thuộc, Đường Thái Tông tôn ông là "Tiên sư", Đường Huyền Tông tôn là "Duyện Công", Tống Chân Tông gia phong là "Duyện Quốc Công", Nguyên Văn Tông lại tôn là "Duyện Quốc Phục Thánh Công". Nhưng ở thời đại này, vì Nhan Hồi mất sớm, thế nhân vốn dĩ luôn thực dụng, nên Nhan Hồi trong số bao nhiêu đệ tử của Khổng Tử lại tỏ ra không mấy nổi bật.

Với bối cảnh này, thí sinh sau khi nhìn thấy đề bài và suy tính kỹ lưỡng, chắc chắn sẽ tập trung hướng nghị luận vào việc thảo luận "cái nhìn về cái chết của Nhan Hồi", luận thuật vì sao Khổng Tử lại phát ra lời cảm thán "Thiên táng dư", tóm tắt lại sự tích cuộc đời Nhan Hồi, bày tỏ sự cảm thán về việc Thánh nhân yêu quý đệ tử, vậy là bài làm coi như hoàn thành.

Nhưng Kỷ Ninh lại nhận ra, đề bài không hề đơn giản như vẻ bề ngoài.

Trong trí nhớ của Kỷ Ninh, lý do Khổng Tử sùng bái Nhan Hồi như vậy hoàn toàn nằm ở việc Khổng Tử rất sùng bái chữ "Nhân" của Nhan Hồi, mà Nhan Hồi lại rất phù hợp với tiêu chuẩn "Lễ Nhạc" mà Khổng Tử sùng bái. Ngay cả trong phần mở đầu của "Luận Ngữ - Tiên Tiến thiên", vừa vào đã nêu rõ chủ đề: "Tiến bộ về Lễ Nhạc trước, là kẻ nhà quê (dã nhân); tiến bộ về Lễ Nhạc sau, là quân tử. Nếu dùng, thì ta theo người tiến bộ trước". Nghĩa là: "Người học Lễ Nhạc trước rồi mới làm quan, là bình dân; người làm quan trước rồi mới học Lễ Nhạc, là quân tử. Nếu hỏi ta muốn dùng loại nhân tài nào trước, ta sẽ chọn "dã nhân" tiến bộ về Lễ Nhạc trước".

Lý do gì khiến Khổng Tử cảm thấy dùng người phải dùng "dã nhân" trước? Chính vì "dã nhân" là học Lễ Nhạc trước rồi mới làm quan. Điều này rất giống với mô hình khoa cử phong kiến, đều là bình dân bách tính, học tư tưởng Nho gia trước, rồi học Lễ Nhạc, sau đó thông qua khoa cử mà làm quan, trong mắt Khổng Tử thì đây mới là nhân tài. Còn những kẻ làm quan trước rồi mới học Lễ Nhạc, tức là những vương công quý tộc thế tập, họ có chức quan trước rồi mới học Lễ Nhạc, trong mắt Khổng Tử, những người này dù có là "quân tử hào hoa" đi nữa cũng không thể giao trọng trách.

Mà Nhan Hồi, chính là một "dã nhân" chưa từng làm quan, chỉ theo Khổng Tử không ngừng nghỉ học tập, mà đứng vững trên "Nhân Lễ".

Vậy quay trở lại vấn đề này, lý do Khổng Tử đau xót trước cái chết của Nhan Hồi đến vậy là vì ông cảm thấy đã mất đi một nhân tài đứng vững trên "Nhân Lễ". Ông phát biểu "Trời muốn hại ta", thực chất cũng là phát biểu rằng, đây là trời muốn diệt nước Lỗ của ta. Ta bồi dưỡng được một đệ tử ưu tú như vậy, còn chưa kịp làm quan mà người đã chết rồi, ta dù là thánh nhân cũng phải cảm thán một phen.

Vậy chủ đề của bài thi đầu tiên, đã chuyển thành "Luận bàn về ý nghĩa của Nhân và Lễ trong con đường trị học cũng như trị quốc của Khổng Tử".

Đề bài này chính là phiên bản thăng hoa của cách hiểu chủ đề thông thường là "cái nhìn về cái chết của Nhan Hồi". Chỉ có hiểu được tâm thái trị học và trị quốc mà Khổng Tử sùng bái, mới cảm nhận được vì sao Khổng Tử lại cảm thấy đau xót như vậy trước cái chết của Nhan Hồi.

Nghĩ đến điểm này, Kỷ Ninh đặt bút viết sẽ dễ dàng hơn nhiều. Chàng bắt đầu phác thảo phần mở đầu bài văn của mình trên giấy nháp: "Nhân chi Lễ Nhạc tại ư ứng Thiên, đạo chi nhân hiếu trí ư an bang. Trị quốc chi đạo, tại ư Lễ Nhạc nhân hiếu..."

Kỷ Ninh trong lòng đã có sẵn mưu lược, khi đã hiểu rõ chủ đề bài thi, đặt bút cũng đặc biệt có thần, một bài văn viết ra có lý có cứ, toàn văn nói năng hùng hồn, bất tri bất giác đã viết được khoảng ba trăm chữ, cần phải kết bài, thực ra cũng là một lần tổng kết cho bài văn. Kỷ Ninh viết: "Thánh chi ta ư thất dĩ nhân nhân, quốc chi thán ư Lễ Nhạc bất hưng."

Nghĩa là, tiếng than thở của Thánh nhân nằm ở chỗ mất đi người nhân nghĩa, mà quốc gia nếu mất đi thì phải than thở vì Lễ Nhạc trong nước không thể hưng thịnh. Vừa chỉ rõ được "Thiên táng dư" trong nguyên văn đề bài, vừa bày tỏ được quan điểm của Kỷ Ninh về việc trị quốc cần dùng Lễ Nhạc nhân hiếu.

Viết xong, chàng thở phào một hơi dài. Bài văn này chàng viết rất cẩn trọng, dù sao cũng là bài văn đầu tiên của kỳ thi Hương. Sau khi viết xong phải kiểm tra lỗi chính tả và các húy kỵ, không được phạm cấm, sau khi sửa chữa đôi chút, đề "Luận Ngữ" của chàng coi như đã hoàn thành. Đây cũng là đề khó nhất trong ba đề theo góc nhìn của Kỷ Ninh, viết xong cũng có thể thả lỏng một chút. Lúc này mới chỉ bắt đầu thi được khoảng nửa canh giờ, chàng đã hoàn thành một đề.

Lúc này chàng đặt tâm trí vào đề "Mạnh Tử" thứ hai. Theo Kỷ Ninh thấy, đây có lẽ là một đề bài không có gì xuất sắc.

"Thị cố đắc hồ khâu dân nhi vi Thiên Tử, đắc hồ Thiên Tử vi chư hầu, đắc hồ chư hầu vi đại phu".

Xuất xứ từ "Mạnh Tử - Tận Tâm hạ", câu này có lẽ không nổi tiếng lắm, nhưng câu phía trước nó lại vô cùng quen thuộc: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". Dùng câu này để dẫn ra một câu trong đề bài, nghĩa là: "Cho nên nói người nhận được sự ủng hộ của bách tính mới có thể làm Thiên Tử, người nhận được sự tin tưởng của Thiên Tử mới có thể làm quân chủ nước chư hầu, người nhận được sự tin tưởng của quân chủ nước chư hầu mới có thể làm đại phu."

Chủ đề chính, cũng nằm ở chỗ "Dân quý quân khinh".

[Dịch từ bản hv] ChuongId:159
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »