Vào năm 1932, khi nhà thư tịch học người Anh Walter. W. Greg tuyên bố rằng “thư mục học (bibliography)*, hay là ngành nghiên cứu về sách, về cơ bản là khoa học về quá trình truyền tải các tài liệu văn học” [1], ông đã căn cứ vào sự phát triển trong suốt một thế kỷ của ngành mô tả thư mục. Thư mục học liệt kê (Enumerative bibliography; hay thư mục học hệ thống (Systematic bibliography)) hỗ trợ tập hợp các nhan đề có chia sẻ đặc điểm chung, tuy nhiên nó có hạn chế trong khả năng phân tích thư mục. Một ngành thư mục học phân tích phát triển đầy đủ hơn đã có thể chỉ ra bằng chứng về hoạt động sản xuất sách từ chính cuốn sách đó. Đầu năm 1818, William Upcott với công trình Bibliographical Account of the Principal Works Relating to English Topography (Ghi chép Thư mục các tác phẩm chính liên quan đến Địa hình học Anh Quốc) đã phát triển phương pháp nhận thức một cuốn sách dựa trên khía cạnh hiện vật. Dù vậy, để mô tả trọn vẹn hơn về thành phần vật lý của sách, chúng ta phải chờ đợi vai trò của Henry Bradshaw, thủ thư thư viện tại Đại học Cambridge từ năm 1867, và phương pháp mã hóa có hệ thống của ông về trình tự vật liệu trong quá trình sản xuất một cuốn sách.
Một công trình khác đóng vai trò bản lề cho việc đặt cuốn sách vật lý và hoạt động sản xuất sách vào vị trí trung tâm trong các nghiên cứu văn học là Introduction to Bibliography for Literary Students (Thư mục học nhập môn dành cho sinh viên ngành văn học) của R. B. McKerrow xuất bản năm 1927, bắt đầu in thành từng kỳ trên tạp chí The Library trong các năm 1912-1913. Cuốn sách này đã báo hiệu sự ra đời của một trường phái khi đó được gọi là “thư mục học mới”. Theo Thomas Tanselle, “cái yếu tố mới… là việc lấy những thông tin vật lý có trong mỗi cuốn sách làm cơ sở để thử xác định các thành phần của công việc làm sách, phương pháp hiệu đính cùng các chi tiết khác trong lịch sử in ấn một cuốn sách, và chúng có liên hệ đến những quyết định biên tập tính chính xác của văn bản bên trong cuốn sách” (tác giả nhấn mạnh) [2]. Là một hướng mở rộng của thư mục học liệt kê, thư mục học phân tích nghiên cứu về sách như các đối tượng vật lý, quá trình sản xuất và kết quả thành văn của nó, và hành trình của đối tượng vật lý đó, từ bản thảo viết tay đến sách đã xuất bản, bao gồm cả giấy in và bìa sách. Nhiều nhà thư tịch học tiếp tục phân chia khái niệm này thành nhiều tiểu bộ phận trùng lặp nhau. Ta có:
1. Thư mục học mô tả (descriptive bibliography), đôi khi liên quan đến văn bản cơ sở đối chiếu (copy-text)* được tạo ra cho mỗi ấn bản mới thông qua việc vừa tra xét nhiều bản sao cụ thể, vừa mô tả trạng thái vật lý của bất kỳ bản sao nào khác hiện còn tồn tại, từ đó đưa ra các mô tả chi tiết về trạng thái vật lý của một cuốn sách, bao gồm cả định dạng, chữ in, giấy in và hình minh họa. Điều này đặc biệt cho phép phân biệt một phiên bản này với một phiên bản khác, cho phép xác định các bản sao từ mỗi ấn bản chính cũng như cho phép các phương tiện - được chọn và có thể xác định được - ghi lại các mô tả bản sao cụ thể với độ chính xác và tiết kiệm tối ưu. Cách ghi lại các nhan đề sách dài và phức tạp cùng nhiều khía cạnh khác của cuốn sách thường phát sinh nhiều vấn đề. Mỗi quốc gia khác nhau có những quy ước ghi chép khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là việc có một mô tả đối chiếu mang tính công thức và có thể nhận biết được, bao gồm thông tin về định dạng của cuốn sách, số đăng ký hoặc trật tự các tay sách, số tờ sách. Thư mục học mô tả, cùng với các thể loại thư mục học khác, cung cấp một nền tảng thiết yếu cho mọi nghiên cứu về sách, dù nó thường được xem là công cụ trợ giúp dành riêng cho nhà nghiên cứu văn học, nhà biên mục, nhà sưu tầm và nhà buôn bán sách.
2. Thư mục học văn bản (textual bibliography) cũng phụ thuộc vào các kỹ thuật trong thư mục học phân tích và là một phương pháp giúp chúng ta hiểu biết về quá trình truyền tải văn bản từ tác giả sang ấn bản in hoặc nhiều ấn bản in, mô tả quá trình chính thức hóa một cuốn sách, được xuất bản ở dạng vật chất, bao gồm cả công đoạn viết, hiệu đính và tổng hợp, và theo truyền thống, cố gắng phục dựng văn bản chuẩn xác nhất (thường là bản in) với chủ đích của tác giả văn bản.
3. Thư mục học lịch sử (historical bibliography) giới thiệu các nguồn tài liệu nằm bên ngoài một cuốn sách và thường được đặt ở phần ghi chú (notes) trong thư mục học mô tả chính thống; nó mô tả lịch sử của quá trình các cá nhân và tổ chức tạo ra sách, cũng như quyền sở hữu và lai lịch của họ - về sau còn được mở rộng ra vấn đề bản quyền, kiểm duyệt và các vấn đề quản lý khác. Bởi vậy nên thư mục học lịch sử đôi khi được xem là khá tách biệt so với thư mục học phân tích. Nó cũng dự báo khả năng tiếp cận mạnh mẽ hơn, thậm chí mang tính xã hội học của “thư mục học” theo quan điểm của McKenzie và những người ủng hộ trường phái của ông.
Neil Harris đã tóm tắt một cách hữu ích những mô tả khái quát của Fredson Bowers khi ông sắp xếp lại các mối quan hệ giữa các tiểu bộ phận này:
[Nhà thư tịch học] bắt đầu công việc bằng cách tập hợp tất cả các thông tin liên quan đến chủ đề đã chọn (thư mục học liệt kê); họ tìm hiểu các bối cảnh lịch sử, xã hội và kinh tế của một hay nhiều tác phẩm mà họ quan tâm (thư mục học lịch sử); họ nghiên cứu các cuốn sách vật lý để thu được thông tin về quá trình làm ra chúng (thư mục học phân tích); nếu công việc yêu cầu, họ cũng sẽ lập một báo cáo về chính những đặc điểm vật lý đó (thư mục học mô tả); và một lần nữa, nếu công việc yêu cầu, họ tiếp tục phân tích ý nghĩa của những kết quả có được để phục vụ cho việc truyền tải văn bản và san định thành một ấn bản biên tập (thư mục học văn bản) [3].
Các phương pháp mô tả sách tuy vậy cũng thay đổi với từng yêu cầu khác nhau. Rất lâu trước Upcott thì việc giải quyết các nan đề khác về trật tự, tính phân loại và cách thức truy cập thực tiễn đã thúc đẩy sự phát triển các hệ thống mã biên mục thư viện đa dạng. Hình thức thực hành này cũng có trước thời Naudé thế kỷ XVII, nhưng khi các phương pháp biên mục thư viện tại châu Âu và châu Mỹ - vẫn rất đa dạng vào cuối thế kỷ XVIII - được chia sẻ và mã hóa, thì chúng đã có thể hỗ trợ rất nhiều cho công tác mô tả thư tịch và nghiên cứu lai lịch thư tịch. Bộ tiêu chuẩn xuất hiện sớm nhất tại các nước nói tiếng Anh được cho là của Anthony Panizzi, vị quản thủ sách in nổi tiếng của Bảo tàng Anh. Bộ tiêu chuẩn này được xuất bản vào năm 1841, có 91 quy tắc và đã trở thành cơ sở cho công tác biên mục trong suốt 150 năm. Dù chính quyền Phổ cũng đề ra một bộ quy tắc biên mục cho các thư viện trong toàn vương quốc vào năm 1899, nhưng chúng ta dường như không thể tránh khỏi việc áp dụng điểm nhìn Anh-Mỹ khi bàn về lịch sử các bộ tiêu chuẩn kiểu này. Tại Hoa Kỳ, như David D. Hall đã gợi ý, việc quảng bá một “nền văn hóa học vấn” là kết quả của quá trình biên mục tài liệu chặt chẽ hơn đi cùng công tác nhận dạng thư mục, mà theo đó cũng làm thay đổi quy mô cũng như bản chất của hoạt động sưu tầm sách tư nhân. [4]
Để thể hiện mối quan hệ giữa biên mục thư viện và mô tả thư mục thì E. Gordon Duff, thủ thư đồng thời là nhà biên mục đầu tiên của Thư viện John Rylands* ở Manchester, đã mở rộng thư mục học mô tả bao gộp cả việc xem xét kỹ thuật đóng sách, và quan trọng hơn, việc “thu thập và mô tả các sách in cổ” [5]. Trong đó, ông chú ý đặc biệt đến trạng thái vật lý nguyên thủy và tính toàn vẹn, lai lịch cùng mô tả riêng từng ấn bản. Trọng tâm của phần lớn các mối quan tâm giai đoạn này vẫn là các sách incunabulum (hay số nhiều là incunabula), từ tiếng Latinh dùng để chỉ các áp phích và sách in ở châu Âu xuất hiện trước năm 1501. Cụm từ “prima typographicae incunabula” hay “thuở sơ sinh của in ấn” lần đầu tiên xuất hiện trong một tập pamphlet của von Mallinckrodt năm 1639. Ông cũng là người đầu tiên đặt mốc năm 1500 - vẫn được sử dụng đến tận ngày nay - làm mốc phân kỳ lịch sử sách.
Ngành thư mục học được phát triển ở Anh và Bắc Mỹ từ cuối thế kỷ XIX xác định cuốn sách theo nghĩa vượt ra ngoài các thông điệp truyền tải trong văn bản sách. Các nhà thư mục học mới đã chứng minh, tất cả văn bản đều có thể hiểu là các tạo phẩm có tương tác qua lại thông qua “vật trung gian” (medium) - thứ sau này người ta sử dụng để biểu thị đặc tính của cuốn sách - là sản phẩm của các can thiệp xã hội ngay cả khi chỉ giới hạn trong một kho dữ liệu hữu hạn các ấn bản kinh điển bằng tiếng Anh, trong khi đó nó lại làm giảm đi tầm quan trọng trong hoạt động tạo lập của vô tận văn bản. Tuy nhiên, nhận thức kể trên, đặc biệt là việc theo dõi các thông tin nằm ngoài cuốn sách vật lý cùng các cơ sở xuất bản chúng đã gợi ý cho các nhà nghiên cứu sau này mở rộng phạm vi quan tâm của mình. Do đó, cuốn A Transcript of the Registers of the Company of Stationers of London; 1554-1640 A.D. (Bản kê đăng ký các Công ty Văn phòng phẩm ở London; giai đoạn 1554-1640) của Edward Arber xuất bản lần đầu tiên năm 1875 đã mở ra một hướng nghiên cứu dài lâu và tạo ra một nền tảng rộng lớn hơn nhiều cho thư mục học lịch sử. Nỗ lực của Arber đã truyền cảm hứng cho việc biên soạn các danh mục về thợ in và nhà in trong lịch sử cũng như cuốn sách The Century of the English Book Trade (Thế kỷ của ngành kinh doanh sách Anh Quốc) mà Duff soạn. Bộ từ điển của H. R. Plomer và những người khác đã bổ sung trong các mục từ tên riêng các thợ in, người bán sách và các nhân vật khác trong ngành sách ở Anh - những mục từ sau này sẽ được đưa vào trong bộ mục từ điện tử British Book Trades Index (Mục từ ngành kinh doanh sách Anh Quốc), cùng các ấn bản của phường hội Stationers’ Company* và các bộ danh mục khác do Walter Greg, Eleanor Boswell và William A. Jackson hoàn thiện. Các công trình này trở thành tiền đề cho một loạt nghiên cứu mẫu mực, trong đó có nghiên cứu của D. F. McKenzie về hồ sơ của thợ học việc tại Stationers’ Company. Các bộ từ điển của Duff và Plomer đã cung cấp các mô hình cho Mary Pollard và Charles Benson xây dựng các bộ chỉ dẫn phong phú về các nhà in và người bán sách ở Dublin (Ai-len). Khi hướng nghiên cứu điều tra này mở rộng phạm vi ra nhiều kho lưu trữ khác nhau, các mô hình trên cũng được sử dụng trong xây dựng địa chí lịch sử ngành kinh doanh sách.
Những bước phát triển vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ở Đông Á tương đồng một cách ngạc nhiên với tình hình nghiên cứu thư tịch ở Anh khi đó. Dù có lẽ các tác giả Đông Á có hiểu biết rất hạn chế về tình hình phát triển tại Anh và châu Âu, nhưng chắc chắn rằng tầm nhìn kết hợp với niềm tự hào dân tộc tương tự đã khuyến khích hoạt động bảo tồn và biên mục các thư tịch đặt trong mối quan hệ với quốc ngữ, văn hiến học và văn học dân tộc. Mặc dù hiện nay các khoa, trường ngôn ngữ và văn học mới ở cả phương Tây lẫn phương Đông đã thúc đẩy việc nghiên cứu thư tịch học và văn hiến học, thư mục học mô tả theo phương pháp Anh-Mỹ vẫn còn xa lạ với giới nghiên cứu Trung Quốc. Truyền thống kê biên sắp xếp sách vở ở Trung Quốc - đặc biệt là dựa theo phân kỳ các triều đại - đã có lịch sử gần 2.000 năm. Nó tồn tại cùng với khái niệm bản bổn từ thế kỷ XII, trong đó phân biệt các phiên bản của cùng một văn bản - thường là văn bản in - có nội dung cơ bản sai lệch không đáng kể. Tuy vậy, từ cuối thế kỷ XIX, các học giả Trung Quốc như Diệp Đức Huy 葉德輝 (sinh năm 1864) đã bắt đầu bổ sung các ghi chú về lịch sử sách và hoạt động sản xuất sách. Diệp Đức Huy tự đặt mình vào vị trí người bảo vệ các truyền thống Trung Quốc. Cho đến cuối đời, ông đã sưu tầm được khoảng 200.000 quyển (卷) sách hiếm và cũ của Trung Quốc [6]. Mặc dù được các học giả Trung Quốc ngưỡng mộ vì kiến thức truyền thống văn học uyên bác, Diệp Đức Huy là một người kiên quyết bảo vệ các thiết chế xã hội cũng như thể chế chính trị triều Thanh. Ông tin rằng Khổng giáo, dưới hình thức định hình bởi các luận giải mang tính chính trị hóa của thời đại ông sống, sẽ thống trị “các quốc gia văn minh khắp Đông Tây” bởi vì đó là hình thái mẫu mực trong “biểu hiện tối cao của lẽ phải, chẳng những hợp với Đạo Trời mà còn hợp với nhân tâm”* [7]. Diệp Đức Huy khẳng định tính vượt trội không thể chối cãi của văn hóa Trung Quốc, dù ông có thừa nhận rằng châu Âu và châu Mỹ đã sản sinh ra nhiều công nghệ hữu ích - qua đó cho thấy ông có lẽ cũng nhận thức được tình hình phát triển của lĩnh vực nghiên cứu thư tịch tại châu Âu khi đó.
Diệp Đức Huy từng là cố vấn thời kỳ đầu cho nhà từ điển học vĩ đại người Nhật Morohashi Tetsujirō 諸橋 轍次 soạn giả chính của bộ sách Đại Hán-Hòa từ điển (Dai Kan-Wa jiten; 大漢和辭典), hoàn thành năm 1943, với một tập đã xuất bản, tập thứ hai đang được in, trong khi các bộ chữ in cho 11 tập còn lại vẫn đang trong quá trình khắc thì đã bị thiêu hủy bởi bom đạn chiến tranh. Việc biên tập bộ từ điển này từ các bản thảo còn lại đòi hỏi thêm 10 năm nữa để thiết kế lại 50.000 ký tự trước khi in lại bằng kỹ thuật chế bản phim (phototypesetting; quang ảnh ấn) hiện đại. Bằng việc tìm cách giải cứu các tác phẩm của những bậc danh sĩ thời cổ đại, mục tiêu của Diệp Đức Huy là thiết lập cách phát âm, bố cục hình họa và ngữ nghĩa chính xác. Tất cả đã góp phần làm nên giá trị cho công trình thư tịch học của Diệp Đức Huy, từ việc xác thực và đính chính các văn bản cổ điển, cho đến khôi phục và tái lập bố cục các ấn bản chính thống. Công trình đáng chú ý nhất của Diệp Đức Huy là Thư lâm Thanh thoại (Shulin qinghua; 書林清話, 1911), mô tả chi tiết lịch sử thư tịch từ thời Đường - Tống (617-906) trở đi, với những nghiên cứu tỉ mỉ về tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo quản và sưu tập, bước phát triển của thiết kế và công nghệ. Một công trình khác xuất bản cùng năm là Tàng thư Thập ước (Ts’ang-shu Shih-yüeh; 藏書十約). Một tác phẩm được xuất bản bằng tiếng Anh với nhan đề The Bookman’s Decalogue của nhà Trung Quốc học tại Đại học Harvard là Achilles Fang, tập hợp những lời khuyên của Diệp Đức Huy về cách thức tìm mua sách hay các thủ bản, phục hồi và trưng bày. Tác phẩm cung cấp cho độc giả phương Tây một góc nhìn hiếm hoi vào truyền thống kết tinh của giới sưu tầm sách Trung Quốc cuối thời đại quân chủ. Joseph McDermott cho rằng, các các sách của Diệp Đức Huy “một thế kỷ từ khi ra đời cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, được xem như những công trình tham khảo quan trọng bậc nhất cho tất cả những ai có ý định nghiên cứu nghiêm túc lịch sử Trung Quốc” [8], giống như cách thức sách của McKerrow* và thậm chí cả Blades tiếp tục đóng vai trò là các công trình nhập môn thiết yếu với sinh viên ngành thư tịch học phương Tây.
Mặc dù làm việc trong các môi trường truyền thống khác nhau, những học giả tiên phong tại Đông Á vẫn là những người song hành, hoặc thậm chí có những giao cắt với các nhà sáng lập ngành thư mục học Anh-Mỹ. Từ thời thanh niên, những nhà nghiên cứu này đã bắt đầu lập ra các bộ danh sách và phát triển các hình thức thư mục học liệt kê, tiêu biểu như: Arber (sinh năm 1836), Charles Evans (sinh năm 1850), Plomer (sinh năm 1856), Alfred W. Pollard (sinh năm 1859), Duff (sinh năm 1863), McKerrow (sinh năm 1872) và Greg (sinh năm 1875). Thế hệ các nhà thư tịch Trung Quốc cận đại trẻ tuổi có thể kể đến Nagasawa Kikuya 長澤規矩也 (sinh năm 1902), một nhà nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc người Nhật, giảng viên Khoa Thư viện, đồng thời là một trong những học giả đầu ngành trong nghiên cứu thư tịch cổ Trung Quốc và kinh điển Hán văn in tại Nhật Bản. Cũng trong thời gian này, Tôn Điện Khởi 孫殿起 (1894-1958) biên soạn Thanh đại cấm thư chi kiến lục, 1644-1911 (Ghi chép về các sách cấm thời Thanh; 清代禁書知見錄) và Phiến thư ngẫu ký (Fanshu ouji; 販書偶記; Ghi chép ngẫu hứng của người bán sách), được coi là một nguồn tài liệu bổ trợ cho bộ Tứ khố Toàn thư Tổng mục (Siku quanshu zongmu; 四庫全書總目) thế kỷ XVIII. Phiến thư ngẫu ký được xuất bản lần đầu vào năm 1936 với các lần tái bản có cập nhật bổ sung vào năm 1959 và 1982. Phần lớn trong số 10.000 cuốn sách được liệt kê có niên đại từ cuối thời Thanh, hầu hết được bán tại nhà xuất bản riêng của họ Tôn là Thông học trai thư điếm (Tongxuezhai shudian; 通學齋書店). Mỗi mục từ được liệt kê phải đáp ứng yêu cầu rằng chúng phải tồn tại dưới dạng ấn bản đơn (danyinben; 單印本) nhưng Tôn Điện Khởi đã mở rộng phạm vi của điều kiện này để có thể tập hợp cả các sách được tìm thấy trong các tuyển tập hay thường được ghi lại trong một chỉ mục sưu tầm. Ông chia bộ thư mục của mình thành bốn loại theo truyền thống kinh điển Nho gia - gồm Kinh (jing 經), Sử (shi 史), Tử (zi 子), Tập (ji 集). Trong mỗi loại, ông đã đưa ra quy định về nhan đề, khuôn khổ, tên tác giả và các phiên bản của mỗi cuốn sách, với ghi chú về nội dung. Thư mục bao gồm không chỉ sách in, mà cả bản cảo (gaoben; 稿 本), bản sao (chaoben; 抄本) và bản hiệu đính hay bản giáo (jiaoben; 校本). Nó cũng liệt kê các sách cấm và bị hủy (jinhuishu; 禁毀書), tiểu thuyết, văn chương lãng mạn, và cả các tập kịch.
Ở Anh và Hoa Kỳ cũng như ở châu Á, lợi ích quốc gia-dân tộc đóng vai trò như là bối cảnh cho các bước phát triển theo hướng mở rộng của ngành lịch sử sách vào cuối thế kỷ XIX. Như McKenzie đã lưu ý trong một chuyên luận kỷ niệm thì lịch sử về sách (the history of books), nếu không phải là “Lịch sử của sách” (history of the book), đã luôn là một phần trong hoạt động của Hiệp hội Thư tịch (Bibliographical Society), thành lập năm 1892 [9]. Những hiệp hội như vậy phát triển lên từ tiền thân là các câu lạc bộ văn chương và sưu tầm cổ vật. Hiệp hội Thư tịch Anh Quốc cùng Hiệp hội Thư tịch Edinburgh thành lập hai năm trước đó (1890) đã khuyến khích những nhận thức chung về lịch sử mối quan hệ giữa hoạt động viết, tái tạo và lưu hành văn bản qua thư mục học mô tả và thư mục học phân tích. Hiệp hội Thư tịch Hoa Kỳ được thành lập sau đó vào năm 1904. Theo lời tự giới thiệu, đây là “hiệp hội học thuật lâu đời nhất ở Bắc Mỹ dành cho nghiên cứu về sách và thủ bản như là những đối tượng vật lý”. Hiệp hội đã dành nhiều hỗ trợ cho những công trình quan trọng trong nghiên cứu đối chiếu các ấn bản khác nhau. Chúng được tóm tắt và mở rộng một cách xuất sắc trong công trình của Walter Greg xuất bản năm 1951 có nhan đề The rationale of the copy-text (Phân tích cơ sở của văn bản cơ sở đối chiếu) và sau đó là công trình của Fredson Bowers từ Hoa Kỳ. Bowers cũng là người sáng lập tạp chí Studies in Bibliography xuất bản thường niên kể từ những năm 1948 - 1949, đồng thời là tác giả của cuốn Principles of Bibliographical Description (Các nguyên tắc mô tả thư mục).
Các hiệp hội thư tịch tương tự nở rộ khắp nơi, tiêu biểu ở Glasgow (thành lập năm 1912), Oxford (1922), Canada (1946), ở Đại học Virginia (1947), Cambridge (1949), Australia và New Zealand (1969). Với tư cách là tổ chức hỗ trợ những người yêu sách, các nhà sưu tầm, nhà bảo tồn, thủ thư, nhà nghiên cứu và giảng viên, các nhà in, nhà xuất bản, nhà bán sách cổ cùng các thành phần khác trong ngành sách, các hiệp hội thư tịch đã xây dựng được nhận thức bao quát và đa dạng về những vấn đề thư tịch học có thể giải quyết. Nội quy và sứ mệnh của hầu hết các hiệp hội này hiện nay đều chứa đựng khái niệm “lịch sử của sách” gắn với định hướng nghiên cứu thư tịch từ buổi ban đầu. Hoạt động nghiên cứu gồm các khảo sát về công nghệ, lao động, chuyên môn, quy trình cùng hoạt động sản xuất, phân phối và bảo quản sách - nổi bật lên với các khảo sát chuyên đề như, nghiên cứu tiên phong về kỹ thuật đóng bìa sách của G. D. Hobson và E. P. Goldschmidt, rồi nghiên cứu (vẫn rất kinh điển) về lịch sử hoạt động hiệu đính của Percy Simpson. Dù đã có các công trình về các nhà in và hồ sơ của phường hội Stationers’ Company, không có nhiều sự quan tâm dành cho lịch sử của hoạt động bán sách ở Anh Quốc, ít nhất là cho đến khi một chuỗi các nghiên cứu về ngành kinh doanh sách ra đời - của Stanley Morison, Theodore Besterman, Graham Pollard và rất nhiều cá nhân khác.
Tại châu Âu, các hiệp hội dành cho người yêu sách như Société des bibliophiles thành lập năm 1820, và các Hiệp hội thư tịch như La Società bibliografica italiana (kể từ năm 2015 có thêm Société bibliographique de France) chia sẻ chung một số mục tiêu và thành viên, cũng như mối quan hệ dựa trên các ưu tiên và góc nhìn khác nhau về giá trị của sách [10]. Các hiệp hội này đặt ra nhiều trọng tâm nghiên cứu khác nhau với tư liệu in và tư liệu ghi chép, và bản thân hoạt động của từng hiệp hội cũng bị giới hạn theo địa lý. Các hệ thống, truyền thống khác nhau trong giáo dục đại học và tổ chức hiệp hội học thuật, hiệp hội địa phương, sử học và khảo cổ học có thể giúp ta giải thích được sự khác biệt giữa các cộng đồng nghiên cứu thư tịch có tổ chức ở mỗi quốc gia, cũng như sự khác nhau trong mối quan tâm chính yếu của những người đam mê sách và tính chất hiệp hội mà họ tham gia.
Tại Pháp và Ý, các tạp chí chuyên ngành có ảnh hưởng như Bulletin du bibliophile và La Bibliofilia xuất bản công trình nghiên cứu và bình luận tương tự như các tạp chí The Library, Papers of the Bibliograpical Society of America, Script and Print, Papers of the Bibliographical Society of Canada cùng các tạp chí, chuyên luận khoa học xuất bản bởi các hiệp hội thư tịch khác. Có ít tạp chí ở châu Âu lục địa được hỗ trợ bởi các hiệp hội thành viên lớn hơn, mặc dù Hiệp hội thư tịch quốc tế (Association Internationale de bibliophilie) có xuất bản các bài viết chuyên khảo đặc biệt và thường niên - tương tự hoạt động của các tổ chức thư viện chuyên nghiệp như Hiệp hội thư tịch Ý (Associazione italiana biblioteche). Sự bảo trợ từ những nhà xuất bản như Leo S. Olschki Editore với tờ La Bibliofilia đóng vai trò quan trọng hơn trong khi hàng loạt tạp chí cùng chương trình hoạt động khác trên thế giới được duy trì bởi các thư viện chuyên ngành, thư viện trường đại học, hiệp hội học thuật địa phương (hoặc, như trường hợp tờ The Book Collector, được bảo trợ bởi một nhóm độc giả trung thành và một biên tập viên làm việc không biết mệt mỏi). Một số tạp chí khác tổ chức nhiều thảo luận học thuật sôi nổi như Revue française d’histoire du livre, Publishing History, Book History, Histoire et Civilisation du livre, Queerendo, Wen xian (Văn hiến) 文献, và gần đây hơn là tạp chí East Asian Publishing and Society do Peter Komicki chủ biên. Tại Đức, ấn phẩm thường niên Gutenberg-Jahrbuch (ra đời từ năm 1926) được xuất bản bởi Internationale Gutenberg-Gesellschaft (Hiệp hội Gutenberg Quốc tế), với một giải thưởng Gutenberg thường niên do thành phố Leipzig trao tặng kể từ năm 1987, mô phỏng thể thức trao tặng huy chương vàng của Hiệp hội Thư tịch Anh Quốc khởi đầu năm 1929. Tuy nhiên, đối với Martin Boghardt, sự thiếu vắng một hiệp hội thư tịch học thống nhất đã phần nào khiến cho nghiên cứu thư tịch ở nước Đức phát triển chậm chạp, bất chấp việc đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu và một số bài viết có giá trị. Lý do theo Boghardt là vì “cộng đồng người đam mê sách quá cục bộ, các nhà nghiên cứu sách incunabula không dám vượt qua giới hạn của niên đại năm 1500, trong khi các nhà phê bình văn bản lại tự đóng khung chính mình trong một vài ấn bản cụ thể” [11].
Sự phân chia giữa các nghiên cứu sách in sơ khai và nghiên cứu thủ bản chép tay vẫn tiếp tục trên những phương diện khác, và cho dù phần lớn giới nghiên .cứu gần đây đã thừa nhận vai trò của lịch sử lưu hành thủ bản chép tay hiện đại, nhưng các phương pháp nghiên cứu vẫn để lại một khoảng cách về chuyên môn. Sự phát triển của các nghiên cứu thủ bản chép tay sơ kỳ và hiện đại đã bổ sung cho những nghiên cứu mới về quá trình sản xuất giấy, đóng sách, về thư phòng, kỹ thuật lao động và kinh doanh, các quy trình sản xuất khác nhau, lịch sử của hoạt động mua bán và sưu tầm thủ bản, những hướng nghiên cứu đang có tương tác mạnh mẽ với sự phát triển của ngành lịch sử thư viện. Một số đóng góp nghiên cứu từ châu Âu và ngoài châu Âu cũng tìm được một nhóm nhỏ độc giả. Công trình nghiên cứu tiên phong của Johannes Pedersen về Arabiske bog (Sách tiếng Ả Rập), xuất bản ở Đan Mạch năm 1946; và cũng giống như nhiều cuốn sách phi Anh ngữ khác, phải đến năm 1984 nó mới được dịch sang tiếng Anh, thu hút nhiều sự chú ý. Một số nghiên cứu quan trọng khác, như công trình về lịch sử sách chiến lợi phẩm của Thụy Điển sau cuộc Chiến tranh Ba mươi năm, Storhetstidens litterära krigsbyten (xuất bản năm 1916 và 1920) của Otto Walde, thủ thư tại Uppsala, đến nay vẫn chờ người phiên dịch. Ở Nhật Bản, những nhà nghiên cứu thư tịch với các công trình vượt ra ngoài nền tảng học thuật đầu thế kỷ XX như Chiyoji Nagatomo và Toshiyuki Suzuki đã tiếp thu từ công trình về lịch sử sách Nhật Bản của Peter Kornicki xuất bản năm 1998 viết bằng tiếng Anh, qua đó đã mở rộng phạm vi nghiên cứu về hình thức vật chất của sách cũng như mạng lưới truyền thông ở Nhật Bản thời Tiền Cận đại.
Nghiên cứu hiện đại về các bản thảo chép tay ở phương Tây đã phát triển từ đầu thế kỷ XX nhờ các công trình nghiên cứu và biên mục có tính khai mở của Falconer Madan đi liền với những cống hiến về cổ văn tự học của M. R. James, Sydney Cockerell, Neil Ker, Albinia de la Mare cùng nhiều người khác. Các công trình ban đầu của nhà cổ văn tự học kiêm giáo sư chuyên trách đầu tiên chuyên ngành tiếng Latinh Trung cổ tại Đức, Ludwig Traube (1861-1907) đã đóng góp phương pháp chia các thủ bản chép tay thành các họ nhóm dựa trên các lỗi ghi chép đặc trưng trong quá trình tự chép văn bản hay đọc chép. Hướng phân tích tiếp theo sẽ nhằm vào quá trình can thiệp chỉnh sửa trên chính các văn bản đó. Ở Anh, công trình hợp tác nghiên cứu của Ker từ những năm 1930 đã tìm kiếm bằng chứng xuất xứ của các sách thời Trung cổ và qua đó cổ động cho ý tưởng thành lập Bộ Ngữ liệu các thư mục thuộc thư viện Trung cổ ở Anh Quốc (Corpus of British Medieval Library Catalogues). Việc sử dụng cổ văn tự học để xác định niên đại, nguồn gốc xuất xứ cũng như lịch sử sở hữu một thủ bản chép tay - dù nó có giúp tái tạo hình thức ban đầu của văn bản hay không - cũng đóng góp cho nghiên cứu lịch sử văn bản, hoặc như Traube gọi là Überlieferungsgeschichte. Sự kết hợp giữa phê bình văn bản với cổ ngữ học trong hình thức nghiên cứu lịch sử văn học và lịch sử sách đặc biệt này vừa giúp chúng ta khám phá những con đường truyền tải văn bản thông qua các cộng đồng trong lịch sử đến ngày nay; vừa tăng cường hiểu biết chung về lịch sử học thuật và tư tưởng. Các bộ Thư mục thủ bản chép tay có niên đại đã xác định và có thể xác định (Catalogues of Dated and Datable Manuscripts) được xây dựng nhờ vai trò của ủy ban cổ văn tự Latinh quốc tế (Comité international de paleographic latine; CIPL) - một hiệp hội toàn châu Âu có trụ sở tại Paris, được tài trợ trong những năm 1960 cùng với Hiệp hội cổ văn tự học quốc tế: Văn hóa, văn chương, xã hội (Association paléographique Internationale: culture, écrỉture, société; APICES). Đồng thời, việc các kho lưu trữ ở nhiều nơi trên thế giới áp dụng kỹ thuật số trong đối chiếu các thủ bản sao chép văn bản đã giúp đổi mới hoạt động nghiên cứu. Dự án Thư phòng Kỹ thuật số (Digital Scriptorium) tại Berkeley, California tập hợp một nhóm các thư viện và bảo tàng đã cung cấp quyền truy cập trực tuyến miễn phí vào kho lưu trữ hình ảnh các thủ bản thời Tiền Cận đại. Trong khi đó, thư viện Folger (Washington, D.C.) cũng đang có kế hoạch công khai kho lưu trữ số hóa thủ bản Sơ kỳ Cận đại trong dự án EMMO. Nhiều hình thức và công thức mô tả thư mục vẫn chưa bắt kịp thực tiễn nghiên cứu - vẫn bị thúc đẩy không chỉ bởi khảo sát kỹ thuật in nói chung mà còn là bởi kỹ thuật in dập trên khuôn nổi (letterpress printing) với kết cấu và sắp xếp vật lý của nó. Tuy nhiên, sự phát triển của hình thức khảo sát kỹ thuật số và các loại nguồn ghi chép thông tin đang thay đổi tình hình nghiên cứu thư mục học kỹ thuật số đối với các thủ bản chép tay.
Việc các nhà nghiên cứu sử dụng các công cụ hỗ trợ như máy đối chiếu Hinman (Hinman Collator) đã thúc đẩy nỗ lực xây dựng các công thức đối chiếu phức tạp hơn, tạo bước phát triển mới trong thư mục học phân tích, đặc biệt với các sách incunabula và sách in sơ khai. Được một học giả về Shakespeare là Charlton Hinman phát minh vào năm 1963, máy đối chiếu sẽ chiếu hình ảnh từ các trang sách cổ và đặt chúng nằm kề nhau để tìm ra điểm dị biệt giữa chúng. Máy đối chiếu sau này được tinh chỉnh và giảm kích thước thành máy đối chiếu quang học di động của Carter Hailey (còn gọi là máy “Sao chổi Hailey”). Trong khi đó, các kỹ thuật chụp ảnh sơ khai từ năm 1839 đã cho phép làm rõ nét chữ viết bị mờ, và từ 1894, cho phép giải mã các palimpsest* - các văn bản chép tay không chỉ khó đọc mà còn bị xóa và viết đè lên - nhờ đó trở thành các kỹ thuật quan trọng trong nghiên cứu thủ bản. Bức xạ cực tím (UV), sử dụng lần đầu tiên ở Đức vào năm 1914, tiếp tục cách mạng hóa hướng nghiên cứu này; sau đó đến việc khảo sát hình mờ (watermark), xơ giấy, mực, kỹ thuật in ấn, dấu vết khắc lại và định vị sản phẩm in mộc bản. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này đã được thay thế trong nhiều trường hợp bằng thiết bị hình ảnh siêu phổ. Thiết bị này kết hợp giữa chụp ảnh độ phân giải cao với hình ảnh đa phổ, cho phép điều chỉnh các chế độ ánh sáng có chọn lọc, chẳng hạn như lọc cách ly ánh sáng huỳnh quang trong kết hợp với bức xạ cực tím. Phương pháp này tạo điều kiện cho các khảo sát chi tiết chưa từng có với những đối tượng như giấy da, giấy papyrus, giấy thường, các loại xơ sợi và mực khác.
Những hình ảnh kỹ thuật số như bộ tài nguyên lưu trữ các công đoạn của việc đóng sách Einbanddatenbank (Ngân hàng Dữ liệu về kỹ thuật đóng sách Đức) giúp mở rộng hơn khả năng ghi lại thông tin của sách incunabula và sách in sơ khai, luôn đi cùng các phương tiện (vốn vẫn chưa phát huy hết tiềm năng) để ghi lại công đoạn và cấu hình trong kỹ thuật in thạch bản và in intaglio. Lịch sử thiết kế chữ in cũng như thiết kế và sắp xếp chữ in trên trang giấy - từ nghiên cứu tiên phong về “trình bày” của nhà thiết kế đồ họa Mỹ Douglas McMurtrie đến những kết quả khám phá gần đây của Roger Stoddard và Michael Twyman - giờ đây cũng có thể được hưởng lợi từ những dự án đối chiếu kỹ thuật số. Một khi đi đến cấp độ xa nhất, ta có thể nói không một bản sao nào của ngay cả một cuốn sách in với số lượng lớn lại có thể giống hệt những bản sao khác, hay như Bettina Wagner kết luận, “mỗi bản sao của một cuốn sách in sơ khai là một đối tượng riêng biệt, có các đặc điểm đặc thù giúp phân biệt nó với tất cả các bản sao khác của cùng đợt ấn hành” [12].
Nghiên cứu như vậy sẽ giúp mở rộng tính liệt kê đến một mô tả đầy đủ về các quy trình tạo ra sách, dù vô tình hay cố ý, đồng thời giúp ta xác định mục đích sử dụng chúng - và cung cấp cho ta bằng chứng về mục đích sử dụng đó. Chúng có thể là những thói quen đóng bìa sách mang dấu ấn cá nhân, dấu hiệu của chủ sở hữu hoặc những chú thích viết tay. Thư mục học liệt kê, đôi khi còn được gọi là “thư mục học hệ thống”, sẽ liệt kê thay vì mô tả các đối chiếu và đặc điểm của ấn bản cụ thể - dù trong những năm gần đây, các dự án liệt kê và tái tạo mở rộng cũng đã phát triển. Thư mục học lịch sử của một số thể loại cụ thể, như tiểu thuyết cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX bao hàm các nguồn tư liệu giúp ta hiểu biết về số lượng in ấn, thời điểm xuất bản, bình luận đánh giá, xuất xứ của các bản sao còn tồn tại và bản quyền tác giả. Đóng vai trò quan trọng là các bình luận đánh giá sách và hồ sơ kinh doanh - chứ không phải thông tin quảng cáo hay danh mục xuất bản, vốn có thể bị sai lệch - giúp mang lại sự chi tiết và tính chắc chắn để hiểu một quá trình xuất bản các cuốn sách vốn không còn tồn tại và do đó không còn điều kiện để thực hiện một mô tả vật lý đầy đủ. Việc sử dụng các khái niệm mô tả đương đại như “tiểu thuyết”, rút ra từ các tiêu đề danh mục trong nhiều ấn phẩm định kỳ, cũng hỗ trợ sự phân định rõ ràng hơn về mặt lịch sử giữa các thể loại sách phổ thông và phi kinh điển.