Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Khôi phục các thực hành đọc

❊ ❊ ❊

Với tư cách là một diễn trình tinh thần, đọc là quá trình diễn giải các ký hiệu được viết hoặc in cùng nhiều điều khác mang tính cá nhân cao độ và chịu sự điều chỉnh của điều kiện văn hóa. Các kỹ năng đọc không tách rời lẫn nhau. Những cách thức đọc một bức hình, một tòa nhà hoặc thậm chí một cảnh quan đều có thể chuyển giao cho nhau và có tính tích lũy. Trong các tình huống khác nhau cũng như trong so sánh đơn giản và trực tiếp, sự đa dạng về kiểu cách in ấn hoặc đánh dấu, kiểu chữ và bố cục trang có thể khơi gợi những phản ứng rất khác biệt đối với cùng một ký hiệu và từ ngữ. Các phản hồi cũng có sự khác biệt giữa các hình thức truyền thông, dù nhiều vấn đề vẫn chưa được khám phá đầy đủ. Chẳng hạn, trong kỷ nguyên in ấn, mối quan hệ giữa việc đọc các con chữ in với chữ viết tay thường ẩn chứa nhiều vấn đề. Có vô vàn ý kiến khác nhau về cả tính rạch ròi lẫn tính chồng chéo của độc giả đã được đưa ra dựa theo mức độ phổ biến của kiểu chữ black-letter (“chữ đen”; còn được biết đến như là chữ Gô-tích, chữ nhỏ Gô-tích (Gothic minuscule), hay textura, được sử dụng khắp Tây Âu từ giữa thế kỷ XII), nối tiếp bởi chữ roman và các kiểu chữ in khác xuất hiện từ thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII. Ngoài ra còn có nhiều điểm tương tác khác từ các thí nghiệm chữ in giả viết tay cho đến việc sao chép kiểu chữ in kỳ công trong các thủ bản chép tay hay nhãn sách đơn giản.

Nỗ lực phân biệt các loại thực hành đọc đã đưa đến nhiều kết luận táo bạo và có giá trị. Một số người đã chỉ ra việc thực hành đọc to thành tiếng tập thể đã được thay thế bởi đọc trong yên lặng và nhập tâm, điều này là một sự phản tư và là một tác nhân tạo ra thay đổi. Paul Saenger nhận xét rằng, chiến thắng của phương cách đọc thầm vào cuối thế kỷ XV là kết quả lịch sử phát triển lâu dài của thực hành viết có phân tách từ ngữ, cùng việc khuyến khích đề cao sự riêng tư và trạng thái biệt lập*. Với trường hợp các sách in và ấn phẩm định kỳ phổ biến sau đó ba thế kỷ, Rolf Engelsing ghi nhận một sự dịch chuyển từ thực hành đọc sâu sang thực hành đọc rộng. Ông đưa ra một lập luận có ảnh hưởng rằng, khi các loại tài liệu in trở nên đa dạng, ngày càng phổ biến, nó tạo nên hệ quả là thực hành đọc đã bớt rộng hơn, có tính chọn lọc và chiết trung hơn.

Trong một nghiên cứu tương tự, Anne McLaren cũng gợi ý rằng, một thực hành đọc và cộng đồng đọc có tính phản hồi hơn, tốc độ nhanh hơn và chọn lọc hơn đã nảy nở tại Trung Hoa vào giai đoạn cuối thời Minh (thế kỷ XVI) trong quá trình phản hồi với các thể loại sách mới. Bà lập luận là, góc nhìn mới về sự đọc dần xuất hiện ở những nơi mà thực hành “đọc sâu” các Kinh điển Nho giáo trở nên tương phản với việc đọc các loại sách vở bình dân hơn. Giống như lập luận của Engelsing, đề xuất này được đưa ra dựa trên bằng chứng thư tịch, như việc các sách toàn thư và ấn phẩm tương tự khuyên khích sự độc (du; 讀) - “đọc” nghiêm cẩn, “sâu sắc” dành cho các Kinh điển Nho giáo; đối lập với khán (kan; 看) - nghĩa là “nhìn”, “xem” - chỉ phù hợp với các tác phẩm bình dân như tiểu thuyết chương hồi, hý kịch và các tác phẩm giả tưởng khác (bắt đầu xuất hiện dưới dạng ấn bản với số lượng lớn từ cuối thế kỷ XVI). Chính sự ra đời của các loại văn bản này đã kiến tạo nên một diễn ngôn mới về thực hành đọc dựa trên “việc đọc rộng, không liên tục một văn bản hấp dẫn, dễ tiếp cận, mang một thông điệp có tính thực tiễn hay quy phạm rõ ràng” [7]. Tuy vậy, đọc thuộc lòng vẫn là một thực hành phổ biến - điều này có thể được đặt trong thế đối sánh với các biến đổi tương tự tại châu Âu; trong khi các thực hành xoay quanh khái niệm lãm (lan; 覽), hay việc “ngắm” tranh ảnh nghệ thuật, cũng mở ra những hướng đi mới rất cần thiết cho các nghiên cứu so sánh. Hướng phân tích lịch sử những cách tiếp cận thực hành đọc khác nhau ở châu Á do đó vẫn còn rất nhiều dư địa phát triển.

Việc “học”, như cả McLaren và Daniel Gardner cùng nhấn mạnh, bao gồm một quá trình học bài và trả bài liên tục, căng thẳng nhằm mục đích buộc học sinh biết tự làm chủ nội dung văn bản. Nhà tư tưởng Trung Hoa cuối thế kỷ XII là Chu Hy 朱 熹 đã đưa phương pháp học thuộc lòng thành nền tảng của đức dục, đồng thời áp dụng nó đối với việc đọc mọi Kinh điển Nho gia. Theo đó, Chu Hy bổ sung các lời bình giải vào giữa các đoạn văn để mở rộng ý nghĩa cho văn bản - phương pháp này đã được các thế hệ Nho sĩ về sau làm theo*, tạo thành một hình thức đọc và học “ngắt quãng” có tính quy ước. Lối bình giải này cho phép những người san định sách, tác giả cũng như độc giả liên tục định hình và tái định hình ý nghĩa của văn bản. Nhưng mặt khác, có thể nói hệ quả tương tự cũng xảy ra khi văn bản chịu các thay đổi nội dung có chủ đích và tinh vi hơn trong quá trình liên tục sao chép qua nhiều thế kỷ. Sự tương tác có tính đối thoại này với văn bản giúp định hình diễn giải của độc giả theo cách gần tương tự như việc đọc để rồi nhắc lại nội dung từ các công cụ ghi văn bản tại châu Âu thời Trung cổ và Sơ kỳ Cận đại đã làm. Tương tự các nhà sư phạm ở châu Âu giai đoạn cổ điển và Trung cổ, cho đến khi nhà Thanh sụp đổ, các thầy dạy học Trung Hoa vẫn yêu cầu học trò của mình phải đọc thuộc lòng sách vở kinh điển trước khi bắt đầu được học về ý nghĩa của chúng.

Việc giải mã các ghi chú bên lề sẽ cho nhà nghiên cứu hiểu chính xác về cách các văn bản, cả viết và in, liên hệ với thực hành viết, chú thích, hiệu đính, nhấn mạnh, tranh luận của độc giả - là những trường hợp mà trong đó thực hành đọc tương tác tích cực, đôi khi là đối đầu với cuốn sách. Hướng nghiên cứu này hiện đạt được nhiều tiến bộ tại châu Âu và châu Mỹ hơn là tại châu Á, mặc dù một nghiên cứu gần đây về các bình luận nặc danh viết đè lên các trang sách Luận ngữ của Khổng Tử thời kỳ Cách mạng Văn hóa đã ít nhiều giành được sự quan tâm của học giới. Những bằng chứng này, vốn thường ngẫu nhiên và không đầy đủ như tình trạng các sách cổ còn lại đến nay, đã giúp củng cố tính bất ổn hay tính phức tạp của quá trình đọc, do đó gây ra sự đọc hiểu sai hay phản ứng không mong đợi từ phía người đọc. Nó cũng làm nổi bật các động lực - lý thuyết “trao đổi - hồi ứng trong thực hành đọc” (hay lý thuyết giao dịch trong thực hành đọc; transactional reading)* được mở rộng một cách sáng tạo bởi nghiên cứu của Anthony Grafton và Lisa Jardine. Nghiên cứu của hai người tìm hiểu về các ghi chú bên lề của nhà văn Gabriel Harvey nhằm phục dựng lịch trình đọc bản in sách Livy năm 1555 của ông trong thời gian từ đầu thập niên 70 đến thập niên 90 thế kỷ XVI [8]. Kế thừa thành tựu nghiên cứu của Grafton, William Sherman và các học giả khác đã tiếp nối và làm phong phú thêm hướng nghiên cứu phục dựng hoạt động đọc lịch sử, trong đó các trải nghiệm đọc đơn lẻ cũng có giá trị chứng minh sự tương đồng giữa độc giả và thực hành đọc với các quy ước chú thích và phép chuyển nghĩa (trope). Những ghi chú bên lề sách thường rất khó để có thể giải mã. Có thể dẫn chứng, Stephen Orgel* khi khai thác bộ sưu tập sách có chứa các chú thích cuối thời Trung cổ và Sơ kỳ Cận đại của mình đã phải vật lộn với những dòng chữ nhỏ, nguệch ngoạc khó đọc, những chữ ghi tắt khó hiểu bằng tiếng Latinh, các dòng suy nghĩ viết bằng phương ngữ và phương âm cổ [9]. Cũng giống như Grafton, ông làm như vậy để tìm ra những nhận thức mới về việc độc giả cá nhân đã thu hoạch được những gì từ sách vở, họ phản ứng với những đoạn văn cụ thể ra sao và họ đã đọc sai hoặc giải thích sai văn bản như thế nào. Orgel còn xem xét vai trò trung gian và chất lượng của thực hành sư phạm lịch sử dựa trên một ghi chép đặc biệt về một giáo viên cố tình lọc bỏ các đoạn văn đề cập đến tình yêu đồng tính trong thơ của Virgil, chống lại nỗ lực biện minh từ phía những nhà nhân văn chủ nghĩa đương thời với điều khi đó được xem là không thể chấp nhận được.

Việc sử dụng sách hiển nhiên không tương đương với hiện tượng được gọi chung là thực hành đọc. Việc khám phá thực hành đọc trong lịch sử bị phức tạp hóa bởi các hoạt động có tính nghi thức cho một đối tượng nào đó, trong đó việc đọc chỉ được ngầm định mà không được thực hiện bởi chủ thể. Đôi khi, các cá nhân và các tổ chức mua sách vì lý do không liên quan lắm đến việc đọc. Sách có thể không được đọc vì nó đại diện cho đức tin, sự tôn trọng hay tinh thần đoàn kết, có tầm quan trọng đối với sự hiện diện về mặt chính trị và xã hội hay nghi lễ tôn giáo. Như đã lưu ý, người Nhật Bản lần đầu tiếp xúc với in ấn thông qua các ấn phẩm gọi là “hanga”, một loại hình tranh khắc gỗ có liên hệ mật thiết đến niềm tin, cảm xúc và lời cầu khẩn; trong đó, việc tụng kinh trở thành một phần trong quy trình sản xuất và sử dụng mang tính nghi thức vì vai trò của pháp sư nhằm mục đích ngăn ngừa tai ương có ý nghĩa quan trọng hơn bất kỳ thực hành đọc nào. Một ví dụ khác nữa là hành động hôn lên Kinh Thánh ở châu Âu trong giai đoạn từ Sơ kỳ Cận đại đến Cận đại, được cho là mang lại quyền năng hay sự bảo trợ như một thứ bùa hộ mệnh. Các cử chỉ khác như đặt Kinh Thánh vào hai lòng bàn tay, đặt lên gối, hay thậm chí là đưa rước trang trọng trên một cây gậy dài, dường như trái ngược với việc David Cressy xem người Anh là “không cảm tính, có thái độ thực dụng với những cuốn sách bình thường” [10].

Từ vấn đề trên, những diễn ngôn lịch sử về “xuất bản” hay là việc ấn hành một văn bản trên bất kỳ phương tiện truyền tải nào sẽ phải tạo điều kiện cho một diễn giải rất rộng về các chức năng xã hội có chủ đích, thậm chí là trước khi xem xét đến các chức năng không có chủ đích khác. Sản lượng đầu ra tăng chóng mặt của sách in từ cuối thế kỷ XVIII qua thế kỷ XX không chỉ liên quan tới sự tăng mới số lượng người mua và - như ta tạm công nhận, các độc giả - mà còn tới từ sự gia tăng sức mua từ phía những người mua cũ. Nhu cầu của các thư viện, của tư nhân và cơ quan tổ chức mở ra tiềm năng lớn hơn cho việc thu thập các đầu sách chưa được đọc, một hiện tượng thường bị bỏ qua trong các nghiên cứu liên hệ giữa độc giả với tổng sản lượng sách, tuy vậy lại cung cấp một diễn ngôn lịch sử văn hóa khác về hoạt động tích lũy sách và của thẩm quyền mang tính biểu trưng. Từ cuối thế kỷ XVII, sự ngưỡng mộ mang tính thế tục hơn với sách bắt đầu trở nên phổ biến ở các địa điểm mới trên khắp thế giới, dù chúng ta có thể không nhận ra ngay hiện tượng này. Sự thành lập các thư viện tư nhân và công cộng, các bộ sưu tập gia đình và các chương trình lạc quyên truyền giáo cho thấy rõ nét sự hiện diện của những ý tưởng mới về sách như là hội tụ của tri thức, địa vị và sự tuân phục tập thể, dù có thể hiện ra ngoài hoặc không. Với bước phát triển mới về nhận thức này, khái niệm “sự đọc” đã tách biệt khỏi ý nghĩa sùng kính giản đơn, kể cả khi xét trên khái niệm sinh lý học. Có thể lấy ví dụ qua các tác động y tế của việc đọc quá nhiều (exsessive-reading) hoặc quá ít (ill-reading), cho đến cách tiếp thu thông tin đúng và tiếp cận đến hiện tượng mà ngày nay chúng ta thường gọi là nạn ngợp ấn phẩm (deluge of print)*.

Theo đó, người ta cũng nêu ra những giả định mới về tính lâu dài và quyền uy của ấn phẩm, và nhiều độc giả đã tự phân loại tài liệu của mình theo hoạt động và mục đích người đọc. Cụ thể, thư từ trao đổi giúp ghi lại cách thức độc giả nhìn nhận chính mình trong các nhóm tìm kiếm hướng dẫn thực hành, kết nối với đời sống học thuật hoặc tận hiến cho tôn giáo; những độc giả chỉ quan tâm tới lĩnh vực giải trí là những độc giả mong muốn phát triển bản thân; hoặc một kiểu độc giả khác, những người bước đầu chú tâm tới “sự khám phá” lại một mực theo đuổi nhiều tự truyện của tầng lớp lao động. Yếu tố thời điểm và địa điểm cũng xuất hiện. Sự phân chia cộng đồng độc giả thành cộng đồng buổi tối hay buổi sáng có liên hệ rõ nhất ở báo chí châu Âu - vốn sử dụng cách phân chia này lần đầu tiên vào thế kỷ XVIII - nhưng nó cũng thể hiện ở các tác phẩm tín ngưỡng cụ thể hay các hình thức thực hành với sách vở khác.

Theo những cách này, khác biệt giữa thực hành đọc công khai với thực hành đọc riêng tư mang tính cơ bản và đa dạng hơn nhiều so với mức các nghiên cứu trước đây từng khẳng định. Hệ quả là, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chiến lược đọc cụ thể. Các nhà nghiên cứu đã xác định những khó khăn nảy sinh từ ghi chép chủ quan về việc đọc, song nhiều người trong số họ vẫn cố gắng xác định các góc nhìn chung nhất thông qua những lời tự thuật về việc đọc được tích lũy lại theo thời gian. Những nghiên cứu theo hướng này, có thể kể đến phân tích tiên phong của Margaret Spufford về 141 cuốn tự truyện liên quan tới đời sống tâm linh trong thế kỷ XVII, hay khảo sát của David Vincent về các tự truyện của 142 độc giả thuộc tầng lớp lao động ở Anh vào thế kỷ XIX, hay ước tính ngoại suy trên phạm vi lớn của Jonathan Rose về đời sống tri thức của các độc giả trong cùng giai đoạn. Sự kết hợp của một lượng lớn các loại ghi chép khác nhau đã góp phần làm mở rộng hồ sơ lịch sử thực hành đọc, chẳng hạn như nghiên cứu của Paul Benhamou về cabinets des lectures - hay thư phòng - và việc phục hồi lịch sử thực hành đọc trong các hiệp hội thư viện người Mỹ gốc Phi của Elizabeth McHenry, cũng như nghiên cứu đầy uy lực của Richard Sher và Mark Towsey với trường hợp Anh và Bắc Mỹ thời kỳ Khai sáng.

Khi sáng kiến Cơ sở dữ liệu trải nghiệm đọc (Reading Experience Database; RED) khởi động, người ta có thể đọc những phần nhất định của cuốn sách; việc đọc theo sê-ri hoặc đọc ngắt quãng có thể theo những dòng khác nhau xuyên suốt một văn bản vào những dịp khác nhau. Khi đó con số độc giả và khán thính giả tham gia vào hoạt động đọc có thể thay đổi theo địa điểm hoặc theo mùa, đồng thời có thể xuất hiện nhiều biến cách như đọc to hoặc đọc thầm, giữa đám đông hoặc trong cô độc. Hiện nay, RED đang giữ hơn 30.000 tư liệu viết tay hoặc in ấn về “quá trình tương tác với văn bản chép tay hoặc in được lưu trữ - vốn nằm ngoài yếu tố sở hữu văn bản” của các công dân Anh cũng như du khách viếng thăm quần đảo Anh từ năm 1450 đến năm 1945. RED cũng đã nhân rộng các sáng kiến cơ sở dữ liệu tương tự ở Australia, Canada, Hà Lan và New Zealand. Tất cả nỗ lực này gợi ý rằng, khi ngày càng nhiều sách được lưu hành thì địa điểm đọc càng có nhiều ý nghĩa hơn. Một nơi làm việc hoặc nơi cư trú ổn định lâu dài của một độc giả được đặt trong sự đối lập với việc đọc ở vùng nông thôn, trên đường đi chiến dịch, tại trường đua ngựa, trong nhà thờ, trên kiệu, trong nhà vệ sinh hay trong tiệm hớt tóc. Trong một dẫn chứng đặc sắc, nghiên cứu của Bill Bell về hoạt động đọc trên boong tàu nêu ra một diễn ngôn lịch sử cho thấy địa điểm và mục đích đóng vai trò quyết định đặc biệt đối với trải nghiệm đọc.

Do đó, thực hành đọc có thể được đánh giá từ những chính bằng chứng thể hiện sự biến đổi trong sắp đặt hoạt động đọc. Khi nhìn vào những ghi chép lịch sử, sự bố trí sắp đặt vật lý cùng phản ứng của độc giả, hay cái được gọi là “la posturologie de la lecture”*, có thể cung cấp thêm manh mối về trải nghiệm đọc của độc giả. Sự phong phú đến kỳ lạ và thú vị của những thứ đồ nội thất phục vụ việc đọc còn được thể hiện trong chuyên khảo tuyệt vời có tên Die Kunst des Lesens (Nghệ thuật của sự đọc) của Eva-Maria Hanebutt-Benz. Chúng ta có thể nghiên cứu được nhiều vấn đề về không gian dành cho thực hành đọc, bất kể đó là phòng ngủ rộng rãi, phòng khách lụp xụp hay phòng ở đơn giản; ta có thể học từ nhật ký và bình luận đương thời, các ghi chép đấu giá tài sản và ghi chép thương mại khác, đến các tranh minh họa, tranh vẽ và tranh in mô tả hoạt động đọc. Cách một cuốn sách được bảo quản hay sắp xếp có thể gợi ý cho chúng ta biết rằng, cuốn sách đó đã từng là đối tượng được yêu quý hay dè bỉu, nổi loạn hay quyền uy, phát tán hay lưu giữ, là vật trang trí hay chỉ là công cụ thông tin. Vòng sách (book wheel) (đôi khi được gọi là vòng đọc (reading wheel) là một công cụ có từ thời Trung cổ, dùng để chỉ một giá đỡ sách có thể quay luân phiên theo phương thẳng đứng cho phép độc giả đọc được nhiều sách nặng mà không phải di chuyển) đã được thay thế bằng một tập hợp rất lớn các công cụ hỗ trợ chuyên dụng để sử dụng và trưng bày sách. Các ý tưởng về thực hành đọc và mục đích đọc đã được thể hiện qua ghế đọc, giá đỡ sách, bàn đọc sách, print-rack*, thang [để tìm sách trên các giá sách cao], giá sách xoay, quả địa cầu, các bức tượng bán thân và các tạp phẩm, đi cùng với thiết kế thực tế của kệ sách, cửa sổ, trần nhà, kệ âm tuờng hoặc không gian trước đây được bao bọc bởi các kệ book press (là một loại kệ sách đơn vừa dùng để trữ sách, vừa để đọc trên phần nóc kệ được làm nghiêng). Trong những năm gần đây, việc thay thế các thư viện công cộng bằng các “trung tâm sáng tạo” và sự nổi lên của các không gian chia sẻ makerspace (đôi khi được gọi là hackerspaces; hackspaces; fablabs)* đã góp phần thay đổi các khái niệm về địa điểm để mọi người gặp gỡ nhau, chia sẻ các nguồn tài nguyên và tri thức phục vụ việc học tập, sáng tạo và phát minh. Các hình thức không gian mới này thực sự thách thức các khái niệm lâu nay về vai trò của thư viện như là không gian khảo sát, tra cứu, tìm mượn tư liệu; đặc biệt là hình ảnh về thư viện công cộng như là một không gian tách biệt, yên tĩnh, đặc quyền, có trang thiết bị khang trang và được tài trợ.

Những sự thay đổi về bố trí các loại hình không gian đọc đã đưa đến những thông điệp cụ thể, thường là có tính chính trị về hoạt động sử dụng sách. Được lập nên như những ngôi đền tôn vinh văn hóa tri thức, các thư viện lớn làm sâu sắc thêm căng thẳng giữa một bên là thực hành đọc như một hoạt động độc quyền và đầy tính đặc quyền với bên kia là thực hành đọc như một sự khai sáng đại chúng.

Những bức tranh trên tường và trên trần, những bức tượng bán thân, những tủ sách hoành tráng và đồ nội thất tuyệt đẹp tạo nên khung cảnh thư viện của một quý ông thời Khai sáng. Đối với nhiều người, đó là một kho lưu trữ kiến thức nhưng cũng là một sự khẳng định về tính toàn hảo của Con người và một dấu ấn chắc chắn về sự tiến bộ của thành tựu nhân loại. Xây dựng dựa theo cảm quan sưu tầm sách vở trong thời kỳ Lãng mạn chủ nghĩa, thư viện tư nhân đóng vai trò như một nơi khép kín dành cho sự suy ngẫm, một địa hạt đối ngược hoàn toàn với trạng thái tự nhiên của con người, vốn là những kẻ mù chữ nguyên thủy ở bên ngoài ranh giới của những điền trang tư hữu. Quan điểm hoàn toàn đối lập với ý tưởng này giờ đây được thể hiện trong chương trình hoạt động dành cho các thư viện công cộng vào cuối thế kỷ XIX, trong thế kỷ XX, thậm chí còn rõ nét hơn trong thời đại kỹ thuật số. Dù cảm quan của kỷ nguyên hiện đại - thể hiện tính dân chủ, cởi mở, linh hoạt, phi chính thức và phản hồi nhanh với các công nghệ mới và có tính nhất thời - cảm quan này vẫn có tính áp đặt vào độc giả (hay đúng hơn là “khách hàng”).

Nhận thức của độc giả về hoạt động đọc có thể đa chiều và tương đối khác biệt so với những gì được văn bản đọc dự liệu. Nghiên cứu của Robert DeMaria về tác gia Samuel Johnson trong tư cách một độc giả đã tìm hiểu về việc một cá nhân có ảnh hưởng sẽ nhận thức việc áp dụng các hình thái đọc khác nhau ra sao và việc anh ta tuân thủ theo các nhóm đọc khác nhau như thế nào. Dù Johnson từng viết rằng, ông “đọc như một gã người Thổ khi bị cuốn sách làm cho xúc động sâu sắc”, và ông cũng tự phân tách được ít nhất bốn lối đọc khác nhau của bản thân: “đọc chú tâm nghiên cứu” có viết ghi chú cẩn thận, “đọc kỹ”, “đọc hiếu kỳ” và “đọc thường” hay đọc lướt qua [11].

Tiềm năng nghiên cứu về vấn đề này trên phạm vi rộng hơn là rất rõ ràng. Các bình luận đương thời về cách thức đúng sai trong tiếp cận sách và ấn phẩm vừa bổ sung vừa mâu thuẫn với trải nghiệm của độc giả cá nhân. Các báo cáo này phê bình độc giả đã chọn những nơi không phù hợp để đọc hoặc đọc sai, đọc quá nhanh, đọc một cách vô cảm hoặc đọc quá nhiều. Thực hành đọc có chia sẻ, các nhóm đọc và đọc có tổ chức, như trong nhà thờ hay khi học vẹt trên lớp, đều là các vấn đề cần phải được tìm hiểu thêm.

Xét đến cùng thì, những khám phá như vậy bị chi phối vào khả năng các bằng chứng rời rạc còn tồn tại, nhưng thách thức ở đây là cố gắng hài hòa quan hệ giữa văn bản với độc giả. Điều này liên quan đến lịch sử của năng lực đọc so sánh, nhận thức các kiểu chữ, của những thay đổi về hình thức của sách cũng như minh chứng về biến đổi trong nguồn lực của độc giả. Lịch sử của việc diễn giải ý nghĩa các văn bản đòi hỏi cần phải xem xét cách độc giả đối diện và chiếm lĩnh ý nghĩa các văn bản đó. Trên hết, những nỗ lực để hiểu độc giả cá nhân trong lịch sử như vậy có thể trùng khớp với các quan điểm duy tiến bộ* về mục đích và tác động của việc đọc. Đối với ngay cả de Certeau, ở tác phẩm bàn về vấn đề giải lãnh thổ hóa (deteritorializing)* trong thực hành đọc cho độc giả, cũng nhấn mạnh đến tính ưu việt của người độc giả tĩnh lặng, hiện đại hóa và nội tâm hóa. Lịch sử của thực hành đọc, tự nó hiển nhiên không phải một diễn ngôn lịch sử của tiến bộ và khai sáng, hay của một diễn trình đi lên từ mông muội và dã man đến dân chủ, nhân văn và phẩm hạnh. Thực hành đọc chưa chắc mang đến sự khai phóng và có khi lại là một sự giam cầm. Chúng ta phải đặt câu hỏi rằng, thực hành đọc truyền cảm hứng gì và nó chứa đựng hạn chế gì. Câu hỏi này đòi hỏi một sự tiếp nhận tư liệu với tư duy cởi mở. Đối với nhiều nhà quan sát trong quá khứ, năng lực đọc viết từng được xem là không phù hợp với nhiều nhóm xã hội. Người ta từng tin rằng, biết đọc biết viết sẽ dẫn tới sự đồi bại hay tư tưởng lật đổ, dù các nhà sử học xã hội đã quá sẵn sàng để cười nhạo và khinh miệt điều đó. Những quan điểm đầy châm biếm như vậy có thể can dự và gây cản trở, vừa làm nổi bật quá mức vừa hạ thấp quá mức các hạn chế trong cách mà con người quá khứ mô tả thế giới của họ. Tương tự như vậy, ta cũng cần phải hướng sự chú ý nghiêm túc vào ngôn ngữ của những người mô tả đời sống vật chất và tinh thần phong phú, vốn sinh ra từ niềm ham mê chữ nghĩa cũng như tình yêu họ dành cho sách vở. Như lời một tác giả nhật ký đã khiêm tốn tự nhận, đó là việc “bị hớp hồn bởi chữ nghĩa”. Qua đó, nhà nghiên cứu cần phải chú ý tránh vội vàng phủ nhận khả năng nhận thức bản thân của độc giả. Thực hành đọc vẫn là tác nhân chính tạo ra sự đa dạng xã hội và văn hóa, hái ngược với diễn ngôn lịch sử về các dạng thức và mẫu hình trao đổi phổ biến.

Mặc dù định hướng của các cộng đồng diễn giải lịch sử đã tăng cường cũng như khuyến khích việc nghiên cứu về trải nghiệm đọc được phác họa thông qua những lời chứng cá nhân, việc mở rộng khía cạnh “như thế nào” lại đặt ra các câu hỏi mới về thẩm quyền của những nghiên cứu trường hợp như vậy. Ngành nghiên cứu châu Âu và nghiên cứu lịch sử Sơ kỳ Cận đại đã dẫn dắt hướng đi này. Vô số ấn bản hay ghi chép thuật lại lời kể của các nghệ nhân biết đọc viết ở thời Sơ kỳ Cận đại đã góp phần tái tạo một vũ trụ tinh thần, vốn dựa trên lời kể về các trải nghiệm đọc (hoặc đọc sai) văn bản theo các mức độ khác nhau. Các nghiên cứu đáng chú ý đã khám phá một cách chính xác làm thế nào việc đọc có thể diễn giải các văn bản, khiến việc in ấn và trao đổi sách có thể trở nên nguy hiểm cũng như mang tính khai mở. Một nghiên cứu có tầm ảnh hưởng đặc biệt là nghiên cứu tiên phong tiếp cận dạng lịch sử vi mô của Carlo Ginzburg về phiên tòa xét xử Domenico Scandella*, thợ xay xát ở Friuli - Ý vào cuối thế kỷ XVI xoay quanh những cuốn sách ông này đã đọc [12]. Từ các tài liệu lưu trữ về Tòa án dị giáo (Inquisition) ở thành phố Udine (Đông Bắc Ý), Scandella hay còn gọi là “Menocchio” nổi bật lên như một vị anh hùng thế kỷ XX trong thiên ký sự pháp đình kinh điển của Ginzburg. Là nguồn cảm hứng cho hàng loạt nghiên cứu tương tự, Ginzburg mời gọi chúng ta tìm hiểu về vai trò truyền thông của ấn phẩm, giữa một bên là các văn bản được tiếp nhận ngẫu nhiên và thường không hoàn chỉnh với bên kia là một thợ thủ công biết đọc viết không đầy đủ, hay đúng hơn, có trình độ đọc viết tốt một cách kỳ lạ sống ở thời Sơ kỳ Cận đại. Tuy vậy, những cuộc chạm trán được ghi lại hoặc hồi ký như vậy, dù rất hiệu quả trong việc phục hồi các trạng thái tinh thần trong quá khứ với tất cả sự sinh động và khí chất của chúng, lại thường xuyên phủ bóng lên những hệ quả rộng hơn của “sự được in ấn” trong xã hội, chính trị và kinh tế.

Những diễn ngôn lịch sử vi mô dựa trên trải nghiệm đọc cung cấp cho chúng ta những tài liệu phong phú, song tính khác biệt của chúng đã làm nảy sinh các vấn đề về tính đại diện. Làm thế nào chúng ta có thể, theo lời của Roger Chartier, “sắp xếp cái đa nguyên vốn không thể phân biệt được này của các hành động cá nhân theo các thông lệ chung?” [13]. Một câu trả lời ngầm định trong các nghiên cứu gần đây là, hạ thấp tầm quan trọng của tính đồng nhất trên phạm vi rộng và thay vào đó tập trung vào sự khác biệt về chất của trải nghiệm. Nghiên cứu về phạm vi biến đổi của trải nghiệm đọc cá nhân đòi hỏi xem xét lại việc nhấn mạnh vào tính điển hình của những cá nhân có để lại ghi chép viết tay và vẫn còn tồn tại đến nay nhờ vào hoàn cảnh độc nhất cùng may mắn. Diễn ngôn lịch sử mới về thực hành đọc được đặt trên nền tảng của ý niệm cho rằng văn bản không tồn tại cho đến khi người đọc cung cấp ý nghĩa cho chúng, phủ nhận sự phân chia ngặt nghèo giữa người biết chữ và người mù chữ. Thay vào đó, nó chấp nhận nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực đọc viết cũng như những cách thức khác nhau để suy ngẫm và xem xét lại cùng một văn bản. Vấn đề ở đây là có nhiều cách thức thực hành đọc khác nhau cũng như nhiều cách để độc giả tin rằng họ được trao quyền thông qua thực hành đọc, dù thực hành đọc đó được thực hiện trực tiếp giữa cá nhân với văn bản hay thông qua hoạt động cộng đồng hay nghi lễ.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang