Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 558 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
TÀi LIỆU THAM KHẢO
Chú Thích 1.

❊ ❊ ❊

[1]

Robert Darnton, ‘What is the History of Books?’, Daedalus, 111 (Summer, 1982): 65-83, tr. 65.

[2]

Margaret Cohen, The Sentimental Education of the Novel (Princeton, 1999), tr. 23.

[3]

David S. Shields, Civil Tongues and Polite Letters in British America (Williamsburg, VA, 1997), tr. xxx-xxxi.

[4]

Có rất nhiều loại quy trình kỹ thuật in hoạt bản, trong đó gồm hoạt bản khắc gốm, gỗ hay kim loại làm cho từng ký tự riêng lẻ xuất hiện tại Đông Á từ thế kỷ XI. Còn phương pháp in châu Âu chỉ bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XV, trong đó mô phỏng hệ thống chữ viết ghi âm, bằng việc đúc các chữ cái và ký hiệu bằng kim loại trong một khuôn có độ rộng có thể tùy chỉnh (gọi là printing type - con chữ in). Phương pháp này giúp tạo ra sự đồng nhất cho những chữ cái và ký hiệu về cả kích thước lẫn thiết kế, cho phép thợ in có thể lắp ráp (hay sắp chữ; “set” và “compose” trong tiếng Anh) để tạo ra các từ. Bề mặt của các con chữ in được quét mực và ấn lên trên giấy, tạo thành các chữ in trên trang in. Một hoặc nhiều trang in trên mỗi mặt của tấm giấy, có chữ in và ký hiệu được in theo “thể thức” (format) chung của cuốn sách. Khi ddã có đủ số tờ được in xong, thợ in sẽ gắp từng con chữ trả lại vào trong các hộp chữ chia thành nhiều hộc để chứa riêng các loại mẫu tự khác nhau.

[5]

Elizabeth Eisenstein, Divine Art, Infernal Machine: The Reception of Printing in the West from First Impressions to the Sense of an Ending (Philadelphia, 2011), tr. xi.

[6]

Gérard Genette, Paratexts: Thresholds of Interpretation, dịch bởi Jane. E. Lewin (Cambridge and New York, 1997), tr. 13.

[7]

Roger Chartier, The Author’s Hand and the Printer’s Mind, dịch bởi Lydia G. Cochrane (Cambridge, 2014), tr. 135.

[8]

Một dẫn nhập xuất sắc có thể kể đến là Joseph P. McDermott, A Social History of the Chinese Book: Books and Literati Culture in Late Imperial China (Hong Kong, 2006); xem chi tiết trong ‘Bibliographical Notes‘, tr. 263-78.

[9]

Một cách đơn giản thì, “thư” (shu) nghĩa là “sách” (书, là cách viết giản thể sử dụng tại Trung Quốc Đại lục, hoặc 書 là cách viết dạng phồn thể truyền thống từng được dùng trước đây và thậm chí hiện nay tại Đài Loan và Hồng Kông).

[10]

Genette, Paratexts, tr. 2, trích dẫn từ Philippe Lejeune, Le Pacte autobiographique (Paris, 1975), tr. 45.

[11]

D. F. McKenzie, Bibliography and the Sociology of Texts (London, 1985).

[12]

Một bộ phông chữ in (fount) là một bộ các chữ cái và ký hiệu khác, trong đó mỗi mẫu tự chữ in được đúc theo tỷ lệ số lượng tương ứng với tần suất sử dụng của chúng trong văn bản, tất cả có một kích cỡ thân (body-size) hay kích cỡ điểm (point-size) và kiểu thiết kế chung (Philip Gaskell, A New Introduction to Bibliography (Oxford, 1972), p. 33). Trong tiếng Anh-Mỹ, “font” cũng từng được sử dụng để chỉ một bộ chữ in có cùng thiết kế và được đúc theo cùng cỡ thân chữ cùng một lúc. Theo cách sử dụng hiện đại, khái quát hơn - và dường như phổ quát - “font” mang nghĩa là các mô phỏng số hóa của một bộ chữ có cùng thiết kế.

[13]

Eleanor Robson, ‘The Ancient World’, trong James Raven (chủ biên), The Oxford Illustrated History of the Book (Oxford, 2018).

[14]

Notably Harold Innis, The Bias of Communication (Toronto, 1951); Harold Innis, The Strategy of Culture (Toronto, 1952); và Harold Innis, Changing Concepts of Time (Toronto, 1952).

[15]

Joseph Needham và Tsien Tsuen-hsuin, Science and Civilization in China: vol. 5: Chemistry and Chemical Technology, Part 1: Paper and Printing (Cambridge, 1985), tr. 40.

[16]

Bức thư của Galen có tên De indolentia (Περλυττηοας) hay “Về việc tránh cảm giác khó chịu”, được phát hiện trong tu viện Vlatadon ở Thessaloniki - Hy Lạp, có lẽ xuất xứ từ thành phố Constantinople; bản dịch tiếng Anh của lá thư được trích dẫn trong Clare K. Rothschild; Trevor W. Thompson (biên soạn), Galen’s ‘De indolentia’: Essays on a Newly Discovered Letter, Studien und Texte zu Antiken und Christentum 88 (Tubingen, 2014), tr. 21-36 (trích dẫn số 19 trong trang 25).

[17]

Germaine Warkentin, ‘In Search of “The Word of the Other”: Aboriginal Sign Systems and the History of the Book in Canada’, Book History, 2 (1999): 1-27.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026