Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Kiểm soát: Bản quyền, kiểm duyệt và lưu hành

❊ ❊ ❊

Một câu hỏi không thể thiếu trong lịch sử của sách đặt ra từ thời cổ đại là: Các loại hình kiểm soát khác nhau, được thực hiện bởi các tác nhân khác nhau đã ảnh hưởng ra sao đến hoạt động sản xuất và phổ biến sách. Hầu hết tác giả đầu tiên của một cuốn sách và văn bản trong sách không thể nào giám sát được các tác động của cuốn sách hoặc hưởng lợi từ thành công của cuốn sách đó. Sự “thoát ly” của văn bản khỏi tầm kiểm soát của tác giả và những người chi tiền cho việc xuất bản thách thức các quan điểm đã được chấp nhận về quyền tác giả; đồng thời điều đó cũng đòi hỏi phải có hiểu biết lịch sử mới về vấn đề: lợi nhuận từ “tài sản văn học”, và các quá trình mà nhờ đó sự hình thành một kinh điển văn chương có liên hệ đến sự tự do sẵn có của một số đầu sách nhất định dưới mọi hình thức khác nhau. Bước “thoát ly” cuối cùng của văn bản thậm chí còn mang tính căn bản hơn: những diễn giải đa dạng mang tính cá nhân của độc giả với văn bản cùng tác động của hành động đọc lên chính các độc giả đó. Chính cái uy lực to lớn của những cuốn sách không bị kiểm soát đó đã đặt chúng trong thế đối đầu trực tiếp với tất cả - nhà nước, nhà thờ và kể cả những người bảo trợ ban đầu - những người e sợ hàng loạt hậu quả mà nó đem lại. Đa số nghiên cứu xuất sắc nhất về lịch sử của sách trong thời gian gần đây đã đào sâu tìm hiểu về vai trò của các thợ ghi chép, thợ in, chủ cơ sở xuất bản, về những cách thức lưu hành sách cũng như phương thức áp đặt những biện pháp kiểm soát khác nhau trong các giai đoạn bất ổn, nội chiến hay cách mạng chính trị và xung đột tôn giáo.

Ở những nơi không có luật pháp hay biện pháp giúp xác định quyền sở hữu trí tuệ, như ở La Mã cổ đại chẳng hạn, và trên thực tế là trên phần lớn thế giới thời kỳ Tiền Cận đại, không có cách thức thống nhất nào để xác định trạng thái ban đầu của văn bản. Ở Trung Quốc cuối thời Minh, việc nới lỏng kiểm duyệt của triều đình cùng sự thiếu vắng các lợi ích liên quan đến bản quyền cho tác giả và các cơ sở xuất bản đã dẫn đến việc bất cứ ai cũng có thể tự in lại và phát hành sách. Tuy nhiên, hành trình truy cầu quyền sở hữu trí tuệ và quyền kinh doanh, tập trung trong vấn đề bản quyền, sẽ tiếp tục là một chủ đề rộng lớn, nhiều tiềm năng trong nghiên cứu lịch sử của sách. Sự tồn tại hay thiếu vắng luật bản quyền là một phần không thể tách rời đối với nghiên cứu lịch sử kinh tế và chính trị của hoạt động xuất bản, đồng thời là một vấn đề có tác động liên hệ đến thế giới ngày hôm nay, từ vi phạm bản quyền kỹ thuật số, quyền lực của mạng internet cho đến tin giả. Các nghiên cứu khai mở về lịch sử bản quyền trong thế giới Anh-Mỹ của James Barnes, Mark Rose và John Feather thể hiện một sự nhạy bén với sự thay đổi đương đại trong quan hệ giữa nhà xuất bản và tác giả, tương tự với cách mà nghiên cứu xuất sắc của Adrian Johns bàn luận về nạn ăn cắp bản quyền và các cuộc “chiến tranh sở hữu trí tuệ” như một phản ứng trước vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay.

Sự phản ứng trước những mối đe dọa hiện nay đối với quyền tự do ngôn luận cũng thúc đẩy nhiều diễn ngôn lịch sử về hoạt động kiểm soát trong lĩnh vực xuất bản (theo nghĩa rộng), sách, nội dung báo chí và hoạt động phân phối bởi thẩm quyền nằm bên ngoài chúng, cũng như về lịch sử sự xé rào kiểm duyệt, sản xuất và lưu hành các tác phẩm lậu (samizdat literature). Các phản ứng như thế đối với nỗ lực kiểm soát của các thiết chế chính trị và tôn giáo đã làm sinh động thêm những nghiên cứu quan trọng về lịch sử của sách trên khắp thế giới, đặc biệt khi xét sự đối lập trong các diễn ngôn lịch sử kiểm duyệt. Chẳng hạn, các triều đình quân chủ Trung Quốc và Triều Tiên từng có tác động định hình rất lớn đến nền văn hóa sách của mỗi nước bằng cả việc tài trợ lẫn kiểm duyệt hoạt động sản xuất văn bản. Ngược lại, cho đến thời Cận đại, có vẻ các chính quyền tại Nhật Bản hầu như vẫn bỏ mặc, không xem xét các giá trị chính trị và ảnh hưởng gây ra bởi hoạt động in ấn. Tương tự như vậy, tại châu Âu thời Sơ kỳ Cận đại, các diễn giải lịch sử về tác động của các công nghệ mới tới hoạt động sản xuất sách thường bị bẻ cong rất nhiều từ việc nhận thức cả những can thiệp trực tiếp của nhà thờ và nhà nước lẫn những hình thức kiểm soát và trị an gián tiếp hơn. Ở Anh, phường hội xuất bản chính là Stationers’ Company được trao quyền tự quản lý ngành của mình. Quyền lực này tất yếu xung đột với lợi ích kinh tế của các thành viên quyền lực nhất trong phường hội. Ở những nước khác như Pháp chẳng hạn, việc thiết lập một hệ thống cấp phép tiền xuất bản (pre-publication) đặc quyền có nghĩa là việc kiểm duyệt sẽ nằm trong quy trình thẩm định chất lượng tác phẩm được nhà nước bảo trợ. Vấn đề này đang được phát triển bởi các nghiên cứu của Elizabeth Armstrong với thời kỳ Phục Hưng tại Pháp hay của Anne Goldgar về “học thuật không phải phép” (impolite learning) thời Khai sáng, cũng như của Robert Darnton về lịch sử kiểm duyệt tại Ấn Độ thời thuộc Anh, nơi tòa án không chỉ can thiệp vào việc quyết định nội dung mà cả các vấn đề định tính của tài liệu được xuất bản.

Các nhà sử học cũng nghiên cứu cả những hành vi vi phạm hoặc lách qua hệ thống kiểm duyệt, ví dụ như hàng loạt bằng chứng về sự phản kháng chống lại Danh mục ấn phẩm dị giáo bị cấm đoán của Giáo hoàng. Xuất hiện lần đầu tiên năm 1529 ở Vùng Đất thấp (lúc đó thuộc Giáo hội Công giáo La Mã)*, bản danh mục khét tiếng của Giáo hoàng mang tên Index Librorum Prohibitorum* được ban hành chính thức tại Rome vào năm 1559 và tồn tại cho đến khi bị bãi bỏ vào năm 1966. Các điều tra tương tự đã được thực hiện với các hồ sơ cấp phép địa phương, như giấy phép do Thượng Hội đồng Brabant* cấp cho nhà Moretus để xuất bản Kinh Thánh và các sách phụng vụ khác. Nội dung giấy phép và đặc quyền xuất bản thường được in ở mặt trước hoặc mặt sau của cuốn sách. Tuy nhiên, những thông tin chi tiết về các thách thức pháp lý, xung đột pháp lý và các thỏa thuận đòi hỏi quá trình tìm kiếm tư liệu cần mẫn, ví dụ như trong các nghiên cứu của Ronan Deazley và H. Tomás Gomez-Arostegui tại Anh. Đối lập với hiện tượng như đã trình bày tại phương Tây, nghiên cứu về lịch sử hoạt động kiểm duyệt ở Trung Quốc của Trần Học Lâm (Cha Hok-lam; 陳學霖) lại mô tả nhiều biện pháp tác động từ trên xuống của triều đình trung ương thời Tống, Nguyên, Minh nhằm cấm đoán việc in ấn, vận chuyển lịch và các sách vở nhạy cảm khác, cũng như yêu cầu quan chức địa phương phải sàng lọc tất cả các bản thảo cá nhân trước khi cho phép xuất bản.

Sự mở rộng các diễn ngôn lịch sử như vậy sẽ phụ thuộc vào việc nghiên cứu đánh giá cẩn thận các nguồn tư liệu địa phương. Trong khi đó, để có thể diễn giải hoạt động kiểm duyệt trên quy mô lớn của nhà nước như diễn ra dưới triều Thanh - nhất là các cuộc thanh trừng văn chương (văn tự ngục) đầy khắc nghiệt dưới triều Khang Hy, Ung Chính và Càn Long cuối thế kỷ XVII - đòi hỏi việc nghiên cứu các kho lưu trữ tư liệu quan phương cũng như một sự hiểu biết nhất định về động lực chính xác ẩn đằng sau các quyết nghị và hành động của chính quyền. Sự kiểm soát có tính áp bức không kém từ phía nhà nước và nhà thờ cũng diễn ra tại Nga, nhưng như Timothy Brook gợi ý, lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc cùng bản chất lưu động và thường khó nắm bắt của kỹ thuật in mộc bản đã giúp đảm bảo việc trốn tránh sự áp chế chính quyền diễn ra một cách thường xuyên. Một nghiên cứu khác về Ấn Độ cũng cho thấy, Đạo luật năm 1835 của chính quyền thực dân Anh nới rộng quyền sở hữu máy in cho người Ấn Độ đã tạo điều kiện cho kỹ thuật in thạch bản - vốn dễ sử dụng và có giá thành rẻ hơn so với kỹ thuật in dập - được những người không chuyên khai thác, và nhiều người trong đó đã từng theo nghề chép thủ bản. Những thực hành như vậy cũng né tránh được sự kiểm soát từ các đạo luật và quy định khác, tạo điều kiện cho sự phát triển của thông tin và đa dạng hóa quan điểm nằm ngoài sự kiểm soát của bất kỳ chính quyền châu Âu nào, kể cả khi đó lẫn sau này.

Theo những cách này, lịch sử của hoạt động lưu hành ấn phẩm trở thành một phần không thể tách rời trong mọi diễn ngôn lịch sử của sách trên toàn thế giới, cả thời cổ đại lẫn thời Hiện đại. Nó đóng vai trò trung gian cần thiết, kết nối các khía cạnh sản xuất, nỗ lực kiểm soát và tiếp nhận, cũng như - với tư cách một tiến trình tiếp diễn - vượt qua các múi giờ và các vùng địa lý. Hoạt động lưu hành vừa đảm bảo sự phân bổ theo không gian, vừa đảm bảo sự vận chuyển có thể tiếp diễn trong nhiều năm và nhiều thế kỷ. Hệ quả là, nó tạo ra sự không đồng đều về mặt thời gian khi sách xuất hiện trên các kệ sách nhỏ cũng như tại các thư viện lớn, đồng thời tạo ra hiện tượng di chuyển sách qua nhiều năm hay nhiều thế kỷ sau lần xuất bản đầu tiên. Vai trò trung gian kết nối này có thể mang nhiều hình thức khác nữa, từ phân phối tư nhân, bán sách thương mại đến việc cho mượn sách của thư viện và các tổ chức khác. Nó cũng sẽ gây biến động và làm phức tạp hóa khả năng “sống sót” của sách qua thời gian, khiến cho nhiều nghiên cứu lịch sử sẽ luôn phải đi vào việc phục dựng quá trình phân phối và mức độ phổ biến của các đầu sách trong lịch sử. cần lưu ý là nghiên cứu này sẽ không chỉ đơn giản bao hàm việc phục hồi các ấn bản đầu tiên hoặc thời điểm xuất hiện của chúng, mà còn chứa đựng quá trình lưu hành kế tiếp của các ấn bản đó và các ấn bản về sau với tư cách là sách second-hand, sách được trao đổi thường xuyên hoặc kể cả sách lậu.

Lịch sử di chuyển của sách đã rất phức tạp và biến hóa dù chỉ xét trong phạm vi châu Âu, châu Mỹ hay hoạt động vận tải xuyên đại dương. Trong khi đó, tại những địa điểm khác, các yếu tố phức tạp về thể chế, văn hóa, chính trị, kinh tế, địa hình và khí hậu cũng nên được tính đến, như cách mà Nelly Hanna, Geoffrey Roper cùng một số nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra trong trường hợp của khu vực Trung Đông.

Bước ngoặt trong ngành kinh doanh sách quốc tế và quốc gia trên quy mô lớn đã đến cùng với việc giảm bớt các hạn chế trong hoạt động tổ chức phân phối cuối thế kỷ XVII, biến đổi căn bản trong giao thông vận tải hay cách thức tổ chức tài chính mới giúp gia tăng liên kết với các hình thái xã hội và trung tâm đô thị mới. Đến nửa sau thế kỷ XVIII, ảnh hưởng này đã được tiếp nhận tại gần như mọi nơi thuộc châu Âu. Đặc biệt, như Graham Pollard và Albert Ehrman đã chỉ ra trong nghiên cứu của họ, các danh mục sách bán* được phát hành và sử dụng bởi cả các nhà bán buôn và bán lẻ đã trở thành phương tiện chính để thông báo và quảng bá cho các nhà bán sách. Một lịch sử của sách có tính xuyên quốc gia và toàn cầu cũng không chỉ giới hạn trong nghiên cứu mối quan hệ quốc tế hoặc mối quan hệ trung tâm-ngoại vi, mà bao gồm cả các cách thức độc giả ở nước ngoài có thể gây ảnh hưởng đến các nhà xuất bản và người viết ở trong nước hay ngược lại. Thêm nữa, bất kỳ khảo sát nào về thương mại in ấn cũng phải công nhận một thực tế rằng, bán hàng không phải là phương thức phân phối duy nhất. Trong các giai đoạn khi mà phần lớn thị trường sách nói chung xoay quanh các bộ sưu tập sách đồ sộ, thì sách đôi khi được lưu chuyển trong vai trò quà biếu, làm tốt thí trong các xung đột tôn giáo hay chiến lợi phẩm chiến tranh. Tại châu Âu, cuộc Tái Chinh phục (Reconquista)*, sự nổi lên của đế chế Ottoman, phong trào Cải cách tôn giáo và Phản Cải cách tôn giáo, cùng nạn cướp bóc trong Chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648) đã tạo ra những biến động lớn đối với thị trường sách. Các cuộc cách mạng diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII và giữa thế kỷ XIX cũng làm mới lại hoạt động trao đổi sách và thủ bản cổ. Chính sách Thế tục hóa (Säkularisation)* dưới thời Hoàng đế Joseph II* và Napoleon đã buộc các tu viện phải tự giải tán tài sản và di chuyển vô số thùng sách vượt qua các dãy núi ở phía Tây châu Âu, xuôi theo dòng Danube và Rhine - đồng thời, cũng có rất nhiều ví dụ tương tự khác về hiện tượng tái phân phối sách trên quy mô lớn.

Một lợi ích vô giá nữa của nghiên cứu lịch sử lưu hành sách là việc nó giúp phá bỏ các quan điểm dân tộc chủ nghĩa, các ranh giới và đường biên kiến tạo sai lầm vốn tác động tiêu cực đến quá trình biên soạn lịch sử sách, đặc biệt với một số công trình lịch sử của sách nhiều tập tại Anh, Scotland, Hoa Kỳ cùng nhiều bộ sách khác [7]. Các cuộc thám hiểm khoa học, sự bảo trợ của hoàng gia, các ấn phẩm truyền giáo, sách nhập khẩu và hoạt động tập hợp, phân phối và cung cấp tin tức đều là một phần trong lịch sử này. Tuy nhiên, một khi xem xét từ góc độ đọc sách của cá nhân, hoạt động lưu hành sách chắc chắn sẽ không bị hạn chế trong các ấn phẩm mới viết hoặc in, hoặc ấn phẩm chỉ có xuất xứ từ khu vực hay quốc gia nơi người đọc cư trú. Các nghiên cứu như của Robert Darnton, Laurence Fontaine và Jeffrey Freedman đã chứng minh tầm quan trọng của sự lưu chuyển có tính quốc tế và xuyên biên giới của sách, mở rộng dưới góc độ phân tích phân bố địa lý của sách, trong hướng nghiên cứu về các kết nối và đối sánh Đông-Tây đang nổi lên. Darnton khởi đầu bằng việc tìm hiểu trong các nguồn tài liệu đặc biệt của một nhà sách ở Thụy Sĩ, Société typographique de Neuchatel (STN), và hành trình di chuyển của 220 đầu sách mà nhà sách này xuất bản trong giai đoạn 1769-1794, phần lớn số đó là các sách giả và sách cấm bán rất chạy tại Pháp. Fontaine theo dõi hành trình của những người bán dạo dưới tư cách là một loại kênh tin tức và giao tiếp. Ông lập luận rằng, việc bán dạo các loại hàng hóa mới như sách, đồng hồ và thuốc lá từ thế kỷ XVI đã củng cố nền kinh tế châu Âu. Hiện nay, dự án kỹ thuật số “Ngành kinh doanh sách của Pháp ở châu Âu thời kỳ Khai sáng” (French Book Trade in Enlightenment Europe; FBTEE) đã tiếp tục phát triển việc khai thác tiềm năng của nghiên cứu STN và phương pháp bản đồ hóa mà nó áp dụng với các hoạt động sản xuất, tiếp thị, phổ biến, quản lý chính sách, tiếp nhận sách vở và ý tưởng.

Các tài liệu hồ sơ giúp nhà nghiên cứu xây dựng lại các mạng lưới phân phối sách - ở cấp độ địa phương, xuyên quốc gia và xuyên đại dương - thường rất đa dạng và rời rạc. Ví dụ, hồ sơ hàng lưu kho và hồ sơ doanh số là một loại manh mối rất hỗn tạp hoặc thiếu tập trung để nhà nghiên cứu có thể nhận thức về số lượng giao dịch khổng lồ sách niên giám và sách chapbook. Thị trường sách second-hand - giờ đây chỉ nhận biết được qua các danh mục bán hàng và quảng cáo còn sót lại - bao gồm các đầu sách cổ quý hiếm cùng cả các đầu sách thừa bỏ và sách phổ thông giá rẻ. Đối với những nhà đam mê sưu tầm sách giàu có, việc thuê các nhà buôn sách hay đại lý trung gian trở thành việc không thể không làm. Một thị trường sách cũ ngày càng sôi động và được tổ chức hệ thống đã trở thành thực tế vào cuối thế kỷ XVII. Khoảng trước năm 1650, nếu các chương trình đấu giá sách và các tủ sách cũ dường như chưa diễn ra phổ biến, thì sau đó đã nhanh chóng gia tăng về cả quy mô lẫn tần suất. Chỉ số ít các nhà đấu giá tiên phong rao bán kho sách của chính mình; hầu hết số còn lại là những người bán hộ/bán giúp người khác qua một thỏa thuận phân chia hoa hồng tương đối hào phóng. Nghiên cứu lịch sử về thái độ nhiệt tình dành cho sách tập cũ trong giai đoạn Sơ kỳ Cận đại đã bị lu mờ bởi xu hướng mới nghiên cứu về thị trường trao đổi và mua bán các sách incunabula* và các sách hiếm thuộc loại ấn bản đầu tiên vốn phát triển rất mạnh vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Quy mô của cuộc cách mạng sưu tầm sách cổ và sách hiếm ở giai đoạn sau đã lấn át sự tồn tại của những người đam mê sách thế kỷ XVII, nhưng các nhà nghiên cứu cũng cần thiết phải đánh giá giai đoạn trước đó, xét trong bối cảnh một nền sản xuất sách tương đối nhỏ nhưng đang phát triển từng bước, trong một kết cấu kinh tế còn hạn chế và thu nhập khả dụng còn tương đối khiêm tốn. Dẫu vậy, giai đoạn này vẫn cho ra đời một số bộ sưu tập sách ngoạn mục (Hình 5).

Một nhà sưu tầm sách đang chăm chút cho bộ sưu tập lớn của mình, Carl Spitzweg minh họa vào năm 1850

Cũng trong những giai đoạn này, quá trình phân phối các đầu sách mới, cũ và nhập khẩu đã được mở rộng qua vai trò của thư viện tư nhân, câu lạc bộ sách, chương trình đăng ký đọc, các hội nhóm tranh biện, các cộng đồng tôn giáo và, từ đầu thế kỷ XIX là các trung tâm bổ túc văn hóa cho người lao động (mechanics’ institute)*. Ít nhất từ đầu thế kỷ XVIII, các quán cà phê ở London, sau đó là Paris và các thành phố lớn khác ở châu Âu đã bắt đầu giúp khách hàng đặt mua báo chí. Ở các thị trấn vùng nông thôn, nhiều hội tranh biện xây dựng các kho sách riêng. Tất cả các xu hướng này đã lan tỏa thành công tới hàng loạt thị trấn vùng thuộc địa và các khu định cư từ Bắc Mỹ, vùng Ca-ri-bê, Nam Mỹ cho đến Ấn Độ và vùng Viễn Đông. Hoạt động truyền bá sách vở từ châu Âu đến các thuộc địa và sau đó là giữa các nhà xuất bản ở châu Âu, châu Mỹ và khắp thế giới đã nảy nở, cộng hưởng cùng sự gia tăng các tuyến đường và công nghệ vận tải biển, với sự ra đời của tàu thủy động cơ hơi nước, các cơ chế tín dụng quốc tế và kỹ thuật điện báo trong thế kỷ XIX. Tương tự, mạng lưới hạ tầng đường sắt, tài chính ngân hàng và thương mại cũng làm thay đổi nhanh chóng hoạt động phân phối nội địa. Ngược lại, mạng lưới phân phối sách rộng khắp tồn tại trong nhiều thế kỷ ở Trung Quốc và Ấn Độ thời Tiền Cận đại phát triển trên nền tảng các cơ sở sản xuất nằm bên ngoài những trung tâm đô thị lớn, nhờ vào tính đơn giản và di động của các công cụ và công nghệ cơ bản trong kỹ thuật in mộc bản.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang