Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 540 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Mạch và Biểu đồ

❊ ❊ ❊

Nhiều công trình nền tảng trong nghiên cứu lịch sử của sách có kết hợp các sơ đồ minh họa. Khi những nghiên cứu trường hợp về lưu trữ học, thư mục học phát triển và đóng góp vào diễn ngôn lịch sử rộng hơn về tác giả, sản xuất và xuất bản sách, các câu hỏi rộng hơn cũng đòi hỏi phải có câu trả lời. Liệu chúng ta có thể phát triển các mô hình giải thích, hoặc chí ít là những chỉ dẫn hữu ích cho các mối quan hệ lịch sử phức tạp giữa các tác nhân có liên quan khác nhau? Điểm hấp dẫn đặc biệt của mô hình như vậy là khả năng vượt qua các ranh giới chuyên ngành truyền thống, dự báo những nhận định rộng hơn cho chính đối tượng nghiên cứu trong lịch sử của sách.

Hơn một thập kỷ sau phát biểu của McLuhan, Robert Darnton đã đề xuất “mô hình mạch truyền thông” (communications Circuit model) mà sau này sẽ có ảnh hưởng lớn lao. Như ông giải thích, mô hình này giả định “các sách in thường đi qua một vòng đời gần tương tự nhau”, và mục tiêu của ông là chỉ ra “làm thế nào để kết hợp các phân đoạn rời rạc của vòng đời sách in vào trong một cơ cấu khái niệm duy nhất” [24].

Các phân đoạn ông đã xác định trong quá trình sản xuất, lưu hành và tiếp nhận văn bản cũng giúp định nghĩa nên mối quan hệ lịch sử giữa con người như là trung gian của các thực hành và giao tiếp trong thương mại sách. Sự điều chỉnh sau này do Nicolas Barker và Thomas Adams thực hiện liên quan tới mô hình lưu thông ý tưởng thúc đẩy bởi vật chất, về cơ bản, đã thu hút thêm nhiều nghiên cứu về điểm giao với hoạt động bảo tồn sách, thư mục học văn bản và thư mục học mô tả, với quá trình lưu thông thường xuyên của sách cũ và hoạt động phát triển và khai thác thư viện. Các nhà thư tịch học, theo như Barker và Adams, đã phản ứng trước đề xuất của Darnton “với sự hứng thú và lo lắng lẫn lộn”, trong khi nhắc lại quan điểm của McKenzie rằng “nhiệm vụ thiết yếu của nhà thư tịch là thiết lập các dữ kiện về quá trình truyền tải một văn bản cụ thể” [25]. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, việc diễn giải lịch sử hoạt động đọc trên thực tế mới là thách thức lớn nhất và quan trọng nhất trong mô hình các phân đoạn mạch.

Nhìn chung, phương pháp mô hình hóa dựa trên tác nhân (agent-based modelling; AGM) như trên đã có ảnh hưởng lớn đến cách khái niệm hóa ban đầu về lịch sử của sách dưới tư cách một ngành nghiên cứu, mặc dù các mô hình luôn có tính ngẫu nhiên và có thể dễ thay đổi hơn là mang tính định hướng. Giống như Darnton là người đầu tiên thừa nhận, mô hình không là gì khác ngoài công cụ phục vụ cho hướng tư duy mới, dù công cụ này giúp tổ chức ý tưởng, trực tiếp hỗ trợ cho quá trình diễn giải lưu trữ và cứ liệu và khuyến khích xây dựng các khái niệm hóa khác có tính táo bạo và khiêu khích. Vì vậy mà Peter McDonald đã đưa ra một mô hình khác từ góc độ nghiên cứu văn học, trong đó tìm cách tinh chỉnh lại mô hình mạch dựa trên chức năng (functions-based Circuit) của Darnton và đào sâu kiến thức của chúng ta về văn hóa văn học trong lịch sử. Trong đó, McDonald đi vào các đề xuất rộng hơn của nhà xã hội học Pierre Bourdieu, người vốn say mê với lý thuyết các phương thức tái sản xuất văn hóa và coi mỗi lĩnh vực văn học như là một mô hình xã hội thu nhỏ, đại diện cho cấu trúc và quy luật vận động của chính xã hội đó. Mô hình của McDonald, sử dụng các đường nối đơn giản thay vì các mô hình đồ họa, đã tái cấu trúc thứ gọi là “tiền đề” của văn bản vốn được định hình mạnh mẽ bởi nhà xuất bản, thị trường và kể cả tác giả [26]. Một giao điểm khác có thể tìm thấy trong khái niệm “habitus”* của Bourdieu, hay là hiện thân vật lý của vốn văn hóa, hình thành bởi những thói quen và kỹ năng có gốc rễ sâu xa từ kinh nghiệm sống.

Mô hình của McDonald cho thấy rõ giá trị của việc tương tác với các cấu trúc lý thuyết. Trong khi đó, các mô hình khác cố gắng mô tả, làm rõ các tác nhân gây phức tạp thêm cho hệ thống các mạch tối giản đó. Những người khác như Elizabeth Le Roux đã vay mượn các mô hình từ khoa học chính trị và xã hội học khi nghiên cứu về tình hình xuất bản khi đặt dưới sự kiểm soát ngặt nghèo bởi yếu tố bên ngoài, mà cụ thể ở đây là các nhà xuất bản đại học Nam Phi dưới thời kỳ Apartheid. Các cách thức mô hình hóa dựa nhiều hơn vào toán học, hay là phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (least square regression) giúp kiểm thử độ mạnh (robustness) của mối quan hệ giữa các biến khác nhau trong các phương trình hàm cầu (demand equation) đơn giản được xây dựng nhằm truy vấn lịch sử thị trường sách. Các cách này sau cùng chịu phụ thuộc nhiều vào bản chất thường là đáng ngờ của các số liệu lịch sử kinh tế được nhập vào trong quá trình tính toán. Có lẽ mô hình kinh tế đơn giản nhất trong tất cả các mô hình là của William St Clair, trong đó nhấn mạnh vào việc giảm phân ngạch (tranche down), hoặc phân chia hoạt động tài chính thành các mức độ rủi ro và lợi nhuận khác nhau, qua đó giải thích các ưu tiên trong xuất bản sách dưới chế độ độc quyền ở Anh vào thế kỷ XVIII. Ông gắn liền vấn đề này với việc phê phán cách mà Darnton đã bỏ qua những độc giả mục tiêu, cũng như việc các ưu tiên của độc giả đã có ảnh hưởng ra sao tới lựa chọn của các nhà in và nhà kinh doanh sách. St Clair đã công khai bày tỏ sự bất bình về việc mô hình của ông hiện đang được các nhà nghiên cứu văn học và sử học kinh tế chấp nhận nhiều hơn là các nhà thư tịch và nhà nghiên cứu lịch sử của sách. Nhưng quả thực, tất cả các mô hình, dù có hấp dẫn đến đâu đi chăng nữa, vẫn đã và sẽ luôn phải chịu những phản đối từ phía các học giả vốn có nhiều hiểu biết hơn về các sắc thái trong nghiên cứu mô tả và tái cấu trúc thư mục. Để nhắc lại một lần nữa, mặc dù những mô hình hiện tại đã khuyến khích nỗ lực đặt ra nhiều vấn đề mới - bao gồm các vùng và địa điểm sản xuất (vấn đề “ở đâu” đã được thảo luận nhiều trong cuốn sách này) - chúng cũng cho thấy rõ các giới hạn của mình. Theo đó, chúng chỉ tập trung vào trường hợp châu Âu và châu Mỹ cũng như chỉ được áp dụng với các giai đoạn lịch sử từ sau thời Sơ kỳ Cận đại - và thường chỉ áp dụng với tác phẩm in. Hầu hết các mô hình hiện có đang cản trở nhận thức của chúng ta về mối quan hệ giữa các hình thức sản xuất, phân phối với thị trường vốn rất đa dạng ở những nơi khác nhau trên thế giới, đặc biệt là châu Á và Trung Quốc thời Sơ kỳ Cận đại, cũng như tất cả các khu vực trên thế giới cổ đại và hiện đại.

Mặc dù vậy, khía cạnh thú vị nhất trong việc sử dụng các biểu đồ giải thích như vậy là tình trạng mâu thuẫn hệ quả giữa mô hình hóa với lý thuyết đã khuyến khích các nhà nghiên cứu khác tìm đến cảm hứng mới và phương pháp mới. Việc William Warner và một số nhà nghiên cứu áp dụng lý thuyết chủ thể-mạng lưới (actor-network theory; ANT)*, trong đó coi các đối tượng là một phần của những mạng lưới xã hội và vẽ ra sơ đồ mối quan hệ giữa các vật chất (hay “vật”) với các khái niệm. Qua đó, họ đã làm mới mô tả - trong một số nghiên cứu trường hợp cụ thể - mối quan hệ giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Trong khi đó, Fiona Black và Bertrum MacDonald lại áp dụng Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System; GIS) nhằm chồng lớp các dữ liệu sách thuộc nhiều dạng thức lên trên các thông tin địa lý. Phương pháp này đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, áp dụng loại ứng dụng kỹ thuật số bổ trợ này vào công việc mô hình hóa lịch sử của sách. Phương pháp mô hình hóa rất tinh vi của Michael Werner và Bénédicte Zimmermann hướng lịch sử của sách đến trường phái lịch sử đan chéo hay histoire croisée, qua đó nhắc nhở chúng ta biết rằng, nguồn tài nguyên dữ liệu và tài liệu lưu trữ khác nhau, cũng như tiếp cận nhiều ngành nền tảng khác nhau sẽ khuyến khích hình thành các mô hình khác nhau. Vì sau cùng, những người sáng tạo và xét lại các mô hình nghiên cứu lịch sử của sách vẫn là các nhà nghiên cứu làm việc trong các trung tâm lưu trữ - từ Société typographique de Neuchâtel, các bộ sưu tập đặc biệt của Thư viện Anh, đến các sổ cái kinh doanh của nhà in, sổ đăng ký kho vận, hồ sơ thợ học việc của phường hội Stationers’ Company tại London, các bộ hồ sơ thuế dân sự và hồ sơ công chứng ở London, Paris cùng nhiều bộ tư liệu lưu trữ khác.

Cũng không nên bỏ qua một vấn đề nữa. Mặc dù không được công nhận trực tiếp trong các mô hình này, các kiểu hình (typology) của chúng [tức các mô hình] đã được định hình bởi sự phát triển trong ngành nghiên cứu truyền thông từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX. Sự phát triển của nghiên cứu truyền thông đại chúng, song song với sự nổi lên của phim ảnh, truyền hình và truyền thông kỹ thuật số, đã cho chúng ta thấy rằng, truyền thông là khuôn đúc chính định hình xã hội. Vấn đề này được tóm tắt rõ nhất trong tập sách hướng dẫn Mass Communication Theory (Lý thuyết Truyền thông đại chúng) của Denis McQuail. Là một tập sách rất hữu ích cho sinh viên nghiên cứu về lịch sử của sách, McQuail đặc biệt nhấn mạnh đến khó khăn trong việc xác định các ứng dụng truyền thông cụ thể cùng các vấn đề khác trong nỗ lực tìm hiểu sự tiếp nhận đối với bất kỳ phương tiện truyền thông cụ thể nào.

Đầu những năm 1980, McQuail và Sven Windahi xuất bản chuyên khảo có tên Communication Models (Các mô hình truyền thông), qua đó phổ biến rộng rãi cho độc giả hàn lâm các mô hình truyền thông của Claude Shannon. Mô hình này, được Warren Weaver phổ biến, tích hợp với các ý tưởng về nguồn thông tin, thông điệp, nguồn phát, kênh, đầu thu và điểm đích, lỗi, giải mã hay phiên dịch, và nhiều khái niệm khác. Đồng thời - trong khi các mô hình của Shannon-Weaver thường bị chê bai vì đã bỏ qua bối cảnh nhân văn và lịch sử - thì George Gerbner, khi đó đứng đầu Trường Truyền thông và Báo chí Annenberg đang ngày càng có nhiều ảnh hưởng tại Đại học Pennsylvania (Hoa Kỳ), lại phát triển thành công lý thuyết truyền thông cho phép tích hợp được các ngành học khác nhau. Đây là một vấn đề gặp rất nhiều thách thức, bao gồm việc vẽ sơ đồ các mô hình tương đối cụ thể về văn hóa và kinh tế lên các mô hình “hệ thống thế giới” (world-system) vĩ mô và tham vọng hơn. Trong số đó, nổi tiếng nhất là mô hình được phát triển bởi Immanuel Wallerstein*. Mô hình này nhấn mạnh vào các đế chế thế giới và các nền kinh tế thế giới, phân chia thế giới thành một bên là các quốc gia cốt lõi có trình độ kỹ năng cao, cường độ khai thác vốn cao cùng vị thế và ảnh hưởng lớn, còn bên kia là các quốc gia ngoại vi và bán ngoại vi, có cường độ khai thác lao động cao và có trình độ kỹ năng thấp hơn. Bản sắc và mối quan hệ giữa hai nhóm quốc gia này thay đổi theo thành tựu của các cuộc cách mạng giao thông và quá trình tăng cường tiềm lực kinh tế. Bản thân quá trình phát triển mở rộng trên quy mô toàn cầu của sách, tự nó đòi hỏi phải thành lập mô hình mới để qua đó làm rõ, trong nhiều biến số, quá trình phân công lao động quốc tế, các hệ thống kinh tế và đế quốc đã dựa vào các tập đoàn xuất bản toàn cầu và có vốn hóa cao ra sao.

Tiền thân thực sự của các mô hình truyền thông về sau này là công trình của nhà khoa học chính trị người Hoa Kỳ Harold Dwight Lasswell. Ông là một học giả dám vượt qua các giới hạn đơn ngành và qua đó dự đoán được bản chất vận động liên ngành của lịch sử sách. Lasswell đã đề xuất 5 câu hỏi quan trọng về truyền thông và sự chuyển tải của nó: “Ai?”, “Nói gì?”, “Qua kênh nào?”, “Cho ai?”, “Với hiệu ứng gì?”. Chúng là các câu hỏi truy vấn nhận thức lịch sử về truyền thông, trong đó bao gồm cả văn bản vật chất. Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1948, mô hình 5 câu hỏi truyền thông của Lasswell đã dẫn đến sự chú ý trong nghiên cứu truyền thông về việc xác định các hiệu ứng. Trọng tâm của mô hình này được chia nhỏ theo từng yếu tố truyền thông: Câu hỏi “ai?” đề cập đến chủ thể truyền thông, tức là người tạo ra thông điệp; Câu hỏi “cái gì?” đề cập đến nội dung của thông điệp; Câu hỏi “kênh nào?” đề cập đến phương tiện truyền dẫn; Câu hỏi “cho ai?” đề cập đến cá nhân tiếp nhận đơn lẻ hay đám đông khán giả của truyền thông đại chúng; Câu hỏi “với hiệu ứng gì?” đề cập đến kết quả/đầu ra của thông điệp. Sự vận động của dòng thông điệp diễn ra theo hướng từ chủ thể truyền thông đến khán giả. Mặc dù mô hình này chỉ đại diện cho dòng vận động truyền thông một chiều, vấn đề “hiệu ứng” cũng bao hàm phản hồi trong quan hệ công chúng.

Một người cùng thời với Lasswell là Paul Lazarsfeld đã đi xa hơn trong việc củng cố trọng tâm lý thuyết về hiệu ứng truyền thông. Trong khi đó, Gerbner mở rộng mô hình của Lasswell để tập trung vào “sự chú ý vào nhận thức cũng như phản ứng của đối tượng tiếp nhận và hệ quả của quá trình truyền thông”. Năm 1958, Richard Braddock đề xuất mở rộng mô hình này để bổ sung hai yếu tố từng bị bỏ qua trước đây: “vì mục đích gì?” và “trong những hoàn cảnh nào?”. Tuy vậy, vẫn có những chỉ trích cho rằng: mô hình Lasswell chỉ chú ý đến các yếu tố then chốt trong quá trình truyền thông đại chúng mà không liên kết các yếu tố này lại với nhau một cách cụ thể hay có ý thức về tính chất vận động tích cực của quá trình đó. Nhưng với việc hoàn thiện dần lý thuyết này trong giai đoạn sau, Lasswell, Richard Braddock và những người khác đã tạo ra nền tảng cho một hướng phê bình so sánh, cho phép dễ dàng tóm tắt các loại nguồn có sẵn nhằm trả lời - trong các khoảng thời gian khác nhau - các câu hỏi lớn khác nhau vốn tạo thành nền tảng cho các lý thuyết về lịch sử của sách.

Chúng ta sẽ tiếp tục bàn trong hai chương cuối, hai câu hỏi cuối cùng trong số các câu hỏi của Lasswell, được xem là hai câu hỏi thách thức nhất khi bàn về “sách”. Giải quyết câu hỏi “Cho ai?” (nhân dạng của độc giả) đã là một vấn đề rất nan giải. Trong đó, nó đòi hỏi - trong số nhiều vấn đề khác - việc trắc lượng trình độ văn hóa cùng những hạn chế của điều kiện kinh tế vốn ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với sách và ấn phẩm, vốn có thể có khoảng cách lớn như các giới hạn kỹ năng đọc và hiểu. Một vấn đề khác lớn hơn là cơ sở bằng chứng khi trả lời câu hỏi “với hiệu ứng gì?”, nhằm khẳng định và làm rõ tại sao việc đọc diễn ra cũng như nó đã diễn ra như thế nào. Các câu hỏi về khả năng, năng khiếu đọc sẽ có liên quan đến các yếu tố như tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh xã hội và kinh tế, môi trường, thậm chí cả ánh sáng và tư thế. Nhưng mặt khác, lịch sử của thực hành đọc cũng đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tìm hiểu về động lực đọc sách. Như nhiều nghiên cứu về lịch sử của sách đã lập luận một cách tích cực và rất thường xuyên, người tiêu dùng luôn tái gặp gỡ các văn bản; và qua đó, về cơ bản tái tạo các văn bản đó qua nhiều cách đọc khác nhau của bản thân mình. Những sự khác biệt trong quá trình diễn giải không chỉ được hình thành giữa những người khác nhau mang các giới tính khác nhau hay sở hữu năng lực khác nhau - vốn có thể là do trí thông minh, giáo dục, kỹ năng hay sự khích lệ - mà sự khác biệt đó còn hình thành bởi cùng một người khi người đó tái gặp gỡ văn bản vào những dịp khác nhau, ở các độ tuổi khác nhau hoặc vì những lý do khác nhau.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026