Lịch Sử Của Sách

Lượt đọc: 558 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Thư mục hồi cố và trắc lượng thư mục

❊ ❊ ❊

Hoạt động đóng vai trò căn bản đối với việc xác định và nghiên cứu các ấn phẩm in trong quá khứ là việc xây dựng các thư mục nhan đề ngắn (short-title catalogue; STC) hồi cố cấp độ quốc gia, trong đó giúp tạo ra một hồ sơ có tính hệ thống về sách in tồn tại trong các thư viện cũng như các bộ sưu tập khắp thế giới. Các bộ STC đầu tiên được lập cho các sách in ở Anh từ năm 1640 trở về trước có mục đích - như cần phải được nhắc lại - nhằm hỗ trợ cho nhận thức chi tiết về quá trình truyền tải các văn bản văn học Anh nổi tiếng, từ bản thảo đến bản in [13]. Tuy nhiên, về đại thể, các danh mục này thường bỏ qua trường hợp sách thất truyền hay những tác phẩm ngắn chỉ gói gọn trong một trang hoặc thậm chí ngắn hơn. Hạn chế này ảnh hưởng tương đối lớn đến nghiên cứu lịch sử sách vì nó tác động tiêu cực tới khả năng đánh giá lịch sử lưu hành - trong từng thời điểm xác định hay một giai đoạn lịch sử - của các văn bản cũ hơn từng tồn tại hay các thủ bản chép tay.

Các nghiên cứu thư tịch ở phương Tây thường được định hình trong khuôn khổ quốc gia-dân tộc, tương tự như ở Trung và Đông Âu, là khu vực trong những năm gần đây có nhiều trung tâm lưu trữ thư tịch được mở cửa hay thu hút nhiều sự chú ý. Việc đặt trọng tâm trong khuôn khổ quốc gia-dân tộc là có thể hiểu được nếu xét đến các lĩnh vực mang tính truyền thống hơn như văn chương và ngôn ngữ, hoặc xét trên các vấn đề thực tiễn từ tài trợ, nhân lực cho đến hỗ trợ từ thể chế và chuyên môn về ngôn ngữ. Dù vậy, khung nghiên cứu này vẫn bộc lộ một số vấn đề đối với giới sử học. Tuy in ấn thường bị đánh đồng với sự nổi lên của các ngôn ngữ bản địa, hoặc với các chiến dịch và phong trào phản kháng thúc đẩy sự hình thành nhà nước giai đoạn Sơ kỳ Cận đại, quốc gia theo nhiều cách vẫn là một đơn vị địa lý sai lệch trong nghiên cứu lịch sử in ấn. Đơn vị chính trị, không phải đơn vị ngôn ngữ, mới thường xuyên là nhân tố rõ ràng nhất thúc đẩy các bộ STC hồi cố quy mô quốc gia, dù thực tế là các sách vở lưu hành trong đơn vị chính trị đố đã và vẫn là các hàng hóa trao đổi mang tính quốc tế.

Sự gia tăng ảnh hưởng của các dự án STC đã thúc đẩy mối quan tâm hướng đến các bộ sưu tập ở nhiều thư viện quốc gia và giúp thúc đẩy các khảo sát trắc lượng thư mục, hay kiểm đếm sách, trong khuôn khổ quốc gia. Một trong những mục tiêu chính của Hiệp hội Thư tịch Anh Quốc là hỗ trợ xây dựng các bộ hồ sơ được sắp xếp theo thứ tự về tất cả sách in tồn tại trước và trong năm 1640. Mục tiêu này có thể xem là mô phỏng hoạt động của các cơ quan di sản lớn thời Victoria như ủy ban Thủ bản Lịch sử (Historical Manuscripts Commission), Phòng trưng bày Quốc gia (National Gallery) hay Phòng trưng bày chân dung Quốc gia (National Portrait Gallery). Các ấn bản STC (đến mốc năm 1640) đầu tiên được xuất bản vào năm 1926 với vai trò chủ biên của A. W. Pollard và G. R. Redgrave, tiếp tục mở rộng đến mốc năm 1700 bởi Donald Wing trong giai đoạn từ 1945 đến 1951. Sự phát triển của các bộ STC trong suốt thế kỷ XX đã mang lại cơ sở vững chắc, đặc thù cho ngành thư mục học lịch sử đầy tham vọng - đặc biệt nhờ vào các công trình bổ sung của Wing và Katharine Pantzer. Họ là những người đã sửa đổi, bổ sung bộ STC cho đến năm 1640, qua đó cung cấp nhiều phụ lục lịch sử và phụ lục phái sinh, trong đó chứa đựng thông tin các địa điểm, nhà in và thương hiệu. Những phần mở rộng có thể kể đến như Index of Printers and Publishers (Chỉ mục các nhà in và nhà xuất bản) của Paul G. Morrison, bộ thư mục British Newspapers and Periodicals, 1641-1700 (Báo chí và ấn phẩm định kỳ tại Anh Quốc giai đoạn 1641-1700) của Carolyn Nelson và M. Seccombe, cho đến English Verse 1701-1750 (Thơ Anh Quốc giai đoạn 1701-1750) của David Foxon.

Các công tác khác có liên quan bao gồm việc in chi tiết chỉ dẫn, chỉ mục và sao chép các bộ lưu trữ từ hàng loạt nhà in cổ. Trong đó, đáng chú ý nhất là công trình biên tập và tái bản cuốn sổ cái của nhà in Bowyer ở London thế kỷ XVIII của Keith Maslen và John Lancaster (xuất bản năm 1991), và các công trình biên mục về sưu tập tài liệu đặc biệt như Bộ sưu tập Truyền đơn Nội chiến Anh của Thomason*, lưu giữ tại Thư viện Anh. Tại Hoa Kỳ, từ 1903 đến 1934, Charles Evans đã xuất bản một bộ STC mang tên American Bibliography: A Chronological Dictionary of All Books, Pamphlets, and Periodical Publications Printed in the United States of America (Thư mục Hoa Kỳ: Từ điển lịch đại của tất cả sách, pamphlet và ấn phẩm định kỳ in tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Kỳ vọng mô tả lại mọi ấn phẩm in tại các lãnh thổ ngày nay thuộc Hoa Kỳ giai đoạn từ 1639 đến 1820, công trình này cũng gợi lên một tranh luận về vấn đề có nên quy thuộc những lãnh thổ trước năm 1776 nào vào trong sách. Evans và Melvil Dewey cũng là những người sáng lập Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ (American Library Association). Các nghiên cứu về lịch sử in ấn giai đoạn này ở Hoa Kỳ cũng tiếp thu thành quả từ các công trình như Descriptive Checklist of Book Catalogues Separately Printed in America 1693-1800 (Danh lục Mô tả các Danh mục Sách in riêng rẽ tại Hoa Kỳ giai đoạn 1693-1800) của Robert B. Winans (xuất bản 1981) và American Library Book Catalogues, 1801-1875: A National Bibliography (Các danh mục sách Thư viện Hoa Kỳ 1801-1875: Một Thư mục Quốc gia) của Robert Singerman (xuất bản 1996).

Ta sẽ xem xét kỹ hơn về các bộ STC và trắc lượng thư mục ở những phần phần sau, nhưng công sức khổng lồ cho việc biên soạn các thư mục hồi cố và danh mục tài nguyên liên quan đã tạo ra một nền tảng và nguồn tư liệu không thể thiếu trong nghiên cứu lịch sử của sách. Dù nội dung các bộ STC bị hạn chế trong các tác phẩm in và phần lớn số đó có dung lượng dài hơn một trang, chúng vẫn là một loại nguồn cung cấp tài nguyên thư tịch vô song, đồng thời là cơ sở cho nghiên cứu lịch sử trước mốc năm 1801. Nỗ lực biên mục nối tiếp cho các thư tịch Anh ngữ thế kỷ XIX hiện đang được tập trung trong công trình Thư mục nhan đề ngắn thế kỷ XIX (Nineteenth-Century Short Title Catalogue; NSTC). Dù bộ thư mục này mới chỉ giới hạn ở khối lưu trữ của 8 thư viện lớn, nó đã bắt đầu được chuyển đổi từ dạng in sang định dạng trực tuyến có đăng ký. Các công nghệ mới đã thay thế hình thức cũ, đem lại những khả năng tra cứu mới, mặc dù nó cũng phải giải quyết vấn đề không tương thích giữa các hệ thống biên mục đọc máy* khác nhau. Bộ Thư mục nhan đề ngắn thế kỷ XVIII (Eighteenth Century Short Title Catalogue), từng gọi tắt là ESTC, được phát hành thương mại trên CD-ROM vào năm 1992 trước khi chuyển lên định dạng trực tuyến 4 năm sau đó, với nội dung ban đầu bao gồm các tài liệu xác định thông qua Dự án In ấn Bắc Mỹ (North American Imprints Project) vốn bao quát hầu hết các niên đại cho đến mốc năm 1876. Cũng vào thời điểm này, Marcus McCorison, một trong những thủ thư nổi tiếng nhất ở Bắc Mỹ, vào năm 1991, đã lên tiếng đề nghị cộng đồng học thuật chào đón ngành “lịch sử sách”, dù cho ông đặc biệt nhấn mạnh vào vấn đề sưu tập, kho tài liệu nội sinh bảo tồn và một loại hình kinh tế dịch vụ:

Ta đại diện cho bóng ma của thư tịch quá khứ, kẻ nối dài các bản danh sách liệt kê khốn khổ, cho nhà sưu tầm cổ vật và nhà sưu tầm sách. Ta đến để hoan nghênh ngành lịch sử sách - một thứ lịch sử mang trong mình nhiệm vụ xây dựng lại các bộ sưu tập lớn từ thế hệ này sang thế hệ khác, bằng tài nguyên và tư liệu đặt nền móng cho một lĩnh vực nghiên cứu, thậm chí từ trước khi đề tài đó ra đời; một thứ lịch sử biên soạn các hồ sơ ghi chép và mô tả đầu ra của từng nhà in hay nhà xuất bản… một thứ lịch sử khi đi theo đúng lý tưởng… [sẽ cung cấp] dữ liệu cơ sở mà tất cả nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu lịch sử kinh tế, các nhà thư tịch khác hay mọi học giả đều phải trả công để sử dụng. [14]

Sau vài năm, bộ ESTC đầu tiên này đã được sáp nhập vào một công trình tham vọng hơn là bộ Thư mục nhan đề ngắn Anh ngữ (English Short Title Catalogue), rất may có cùng tên viết tắt. Bộ thư mục mới đã chỉnh sửa và hoàn thiện lại các bộ STC từng được xuất bản trước đây. Hiện nay, với việc cho phép tìm kiếm trực tuyến, nội dung bộ ESTC mới cũng tổng hợp các loại sách in, pamphlet, báo chí, ấn phẩm nhiều kỳ và một số loại tạp bản* khác, được in dưới mọi loại ngôn ngữ trong giai đoạn trước năm 1801 tại Quần đảo Anh, các thuộc địa Bắc Mỹ và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (giai đoạn 1776-1800), Canada và các lãnh thổ do đế chế Anh quản lý trước năm 1801. Để minh họa cho việc mở rộng phạm vi nội dung này của bộ ESTC mới, chúng tôi cần phải lưu ý rằng, nó bao gồm mọi đơn vị được in ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, với toàn bộ hay một phần nội dung văn bản bằng tiếng Anh, các phương ngữ khác trong tiếng Anh hoặc bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong trường hợp nhận sai là xuất bản tại Anh hay các lãnh thổ thuộc Anh. Bộ tài nguyên được nâng cấp kể trên do đó sẽ chứa đựng, giả sử, một ấn phẩm nào đó viết bằng tiếng Bồ Đào Nha in tại Ấn Độ, bằng tiếng Đức in tại Bắc Mỹ, bằng tiếng Gael in tại Scotland và bằng tiếng Pháp in tại cả Pháp và Hà Lan. Phạm vi này bao gồm các bộ atlas và các văn bản in khắc, dù không tập hợp bản khắc nhạc, bản đồ và tranh khắc rời, ngoại trừ các đơn vị khắc đã được liệt kê trong các bộ STC trước đó. Một số loại ấn phẩm quảng cáo, như các tờ bài hát (slip-song)* và tờ rơi vận động bầu cử hiện cũng bao gồm trong bộ thư mục, nhưng loại trừ các đơn vị ấn phẩm nhỏ như thẻ trò chơi, tem nhãn, thư mời, nhãn sách, tiền, tờ quảng cáo kịch, tờ chương trình hòa nhạc và sân khấu, thẻ bài, tờ trò chơi hay tờ câu đố.

Câu hỏi và thách thức mà các bộ STC được thiết kế để giải quyết do đó đã thay đổi. Về mặt kỹ thuật chúng bắt đầu như các bộ thư mục liệt kê, các thư mục ngày nay đã phát triển qua ESTC để có tính mô tả cao hơn. Các tiêu đề đã không còn “ngắn” nữa, và các đầu mục giờ có thể cung cấp thông tin về vị trí lưu giữ bản sao, ghi chú chi tiết hơn về lịch sử, và thậm chí cung cấp cả các liên kết từ đầu mục đơn lẻ tới các nguồn tài nguyên và trang web khác. Dự án xây dựng Thư mục nhan đề ngắn sách incunabula (Incunabula Short Title Catalogue; hay ISTC), phối hợp với Thư viện Anh, ghi lại khoảng 30.400 ấn bản được in trong 50 năm đầu tiên áp dụng kỹ thuật in dập tại châu Âu, nhưng loại trừ tài liệu được in hoàn toàn từ bản mộc hay tranh khắc. Thông tin về mỗi đơn vị bao gồm tên tác giả, nhan đề ngắn, ngôn ngữ văn bản, tên nhà in, địa điểm và thời điểm in, định dạng. Vị trí của các bản sao được xác nhận bởi các thư viện trên toàn thế giới và đường liên kết được cung cấp tới các bản sao kỹ thuật số trực tuyến và bộ thư mục sách incunabula trực tuyến khác như Gesamtkatalog der Wiegendrucke (Thư mục sách incunabula liên kết) hay Bayerische Staatsbibliothek Inkunabelkatalog (Thư mục sách incunabula tại Thư viện bang Bayern).

Đáng chú ý là tất cả các bộ STC này đang giúp giới nghiên cứu hiệu chỉnh lại nhận thức về độ hiếm của các đầu sách và ấn bản liên quan. Toàn bộ nỗ lực chuyên môn được tăng cường của một thế hệ các nhà thư tịch lịch sử mới đã cung cấp những hồ sơ lịch sử rõ nét hơn về số liệu in ấn mỗi đầu sách, qua đó - nếu bỏ qua hạn chế của nó - góp phần bạch hóa dần dần sự mơ hồ trong vấn đề thời điểm cũng như chiều kích của ấn phẩm. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều khoảng trống. Nhiều chủ đề cụ thể khác như phát hành báo chí, danh sách đặt mua dài hạn, đấu giá nội bộ (trade sale)* hay tình hình sản xuất, phân phối sách chapbook* và các tạp bản đại chúng khác vẫn đặt ra nhiều câu hỏi trong nghiên cứu. Dù các tư liệu như bộ chỉ mục khổng lồ liệt kê trong sổ cái của nhà in William Bowyer và con trai vào thế kỷ XVIII có thể giúp cho việc ước lượng trở nên ít rủi ro hơn [15], song việc tính toán chính xác số lượng bản in là bất khả. Chúng ta phải chấp nhận thực tế rằng, trong hầu hết trường hợp, tỷ lệ “sống sót” của sách vượt quá xa khả năng tính toán; và rằng nhà nghiên cứu sẽ chỉ có thể ước đoán được số lượng bản in của phần lớn những lần ấn hành nhờ các thông tin liên quan từ một vài sổ cái và thư từ làm ăn còn sót lại. Một thất bại nghiêm trọng của phần lớn các bộ STC tại châu Âu hiện nay là việc chúng loại trừ hình thức ấn phẩm tờ đơn (single-leaf) sơ khai (là loại tài liệu một trang được in trên cả hai mặt, chẳng hạn như một tờ ballad) và thậm chí là các chapbook 24 trang in trên một tấm giấy đơn gấp lại. Những bản ballad, tập chapbook và nhiều loại tạp bản đáng chú ý khác đã từng được lưu hành với số lượng hàng chục nghìn đầu bản in trên khắp châu Âu lục địa.

Ở góc độ tích cực hơn thì dự án ESTC cũng khuyến khích nỗ lực xây dựng các bộ thư mục hồi cố ở những nơi khác trên thế giới, ngay cả khi chúng có thể mang nặng thiên kiến quốc gia-dân tộc. Bộ Thư mục nhan đề ngắn Hà Lan giai đoạn 1540-1800 (STCN) phiên bản trực tuyến chứa các mô tả thư mục của tất cả sách vở còn tồn tại xuất bản trên lãnh thổ Hà Lan hay bằng tiếng Hà Lan ở nước ngoài trong giai đoạn nói trên. STCN cũng bổ sung về nội dung cho bộ Short Title Catalogue Vlaanderen (Thư mục nhan đề ngắn vùng Flanders; STCV) vốn bao quát các tài liệu tiếng Hà Lan được in từ năm 1601 đến năm 1700 còn tồn tại trong địa giới vùng Flanders thuộc Bỉ*, kể cả Brussels. Trong giai đoạn thứ hai, dự án thư mục sẽ bổ sung cả các ấn phẩm từ vùng Flanders nhưng được in bằng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Hà Lan - trong đó đặc biệt có tiếng Latinh, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp. Một lần nữa, các nhan đề không còn “ngắn” nữa. Các dự án STC khác cũng đang tiếp tục được triển khai tại Pháp và Đức, nhưng hiện bị giới hạn bởi phạm vi lịch đại cũng như số lượng các bộ sưu tập được liệt kê. Trong đó, bộ Catalogue Collectif de France (Thư mục Tổng hợp Pháp; CCFr), có thể truy cập qua trang web của Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France), có tiến bộ hơn về nội dung nhưng lại bị giới hạn trong các bản in trước 1701. Tương tự là trường hợp hai bộ Verzeichnis der im deutschen Sprachraum erschienenen Drucke des 16./17. Jahrhunderts (Thư mục các Sách in tại các vùng nói tiếng Đức Thế kỷ XVI và Thế kỷ XVII; gọi tắt lần lượt là VD16 và VD17), hiện đã được mở rộng đến bộ VD18 (tới năm 1800), được triển khai từ năm 2009.

Hiện nay vẫn chưa có một bộ công cụ dễ truy cập và mang tính toàn diện để xác định nhan đề các sách tập và pamphlet có nguồn gốc từ các vùng lãnh thổ từng thuộc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hoặc Ý. Thư viện Quốc gia Tây Ban Nha (Biblioteca Nacional de España) là đơn vị đứng ra thành lập một bộ STC trực tuyến cho các ấn phẩm tiếng Tây Ban Nha trong thế kỷ XV và XVI. Một dự án khác cũng đang được triển khai tại Ý là Censimento nazionale delle edizioni Italiane del XVI secolo (Điều tra toàn quốc các sách in tiếng Ý thế kỷ XVI; hay EDIT 16), một sáng kiến trực tuyến của Ban thử nghiệm thư mục hồi cố (Labouratorio per la bibliogra a retrospettiva) trực thuộc Viện nghiên cứu biên mục thống nhất trung ương (Istituto Centrale per il Catalogo Unico; ICCU). Ngoài ra, Trung tâm nghiên cứu Lịch sử truyền thông thuộc Đại học Dublin cũng đang thực hiện Dự án Sách Iberia (The Iberia Book Project), một công trình biên mục tất cả các đầu sách in bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, hoặc in tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mexico và Peru trong giai đoạn từ năm 1472-1700. Dự án Thư mục nhan đề ngắn phổ quát (Universal Short-Title Catalogue; USTC) của Đại học St Andrews tập hợp 52.000 đầu mục ấn phẩm xuất bản trước năm 1601 và dự án đã tài trợ cho một số dự án bổ trợ khác trong đó có Trench Vernacular Books: Books Published in the French Language before 1601 (Sách bản ngữ Pháp: Sách xuất bản bằng tiếng Pháp trước năm 1601) (khởi động năm 2007). Một trong những chủ biên của dự án này, Alexander Wilkinson, cũng đã biên soạn một bộ danh mục tái lập các nhan đề sách hiện không còn tồn tại. Một hình thức thư mục khác có quy mô rộng hơn, dù ít tinh chỉnh hơn là trang mạng có tên Gabriel (Gateway and Bridge to Europe’s National Libraries - Cánh cửa và con đường kết nối các Thư viện quốc gia châu Âu) do Trung tâm thư viện máy tính trực tuyến (Online Computer Library Center; OCLC) và dịch vụ The European Library (Thư viện châu Âu) thành lập từ năm 1997. Gabriel cho phép người truy cập tìm kiếm 200 triệu đầu mục ấn phẩm thuộc 48 thư viện quốc gia và thư viện nghiên cứu toàn châu Âu. Ngoài ra chúng ta còn có trang Heritage of the Printed Book Database (Cơ sở dữ liệu Di sản sách in), trước đây được gọi là Hand Press Book Database (Cơ sở dữ liệu Sách in Thủ công), tập hợp trong một file các thư mục ấn phẩm in của châu Âu giai đoạn khoảng năm 1455-1830 đang lưu giữ tại các thư viện nghiên cứu lớn tại châu Âu và Bắc Mỹ.

Các nghiên cứu qua thư mục với các thủ bản hiện còn, chẳng hạn như các tập trong bộ Index of English Literary Manuscripts 1800-1900 (Chỉ mục các bản thảo văn học Anh giai đoạn 1800-1900), cũng đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong vấn đề tuyển chọn và định nghĩa. Mặc dù vậy, các dự án lớn vẫn có tác dụng khuyến khích nghiên cứu mới, chẳng hạn như Catalogue of English Literary Manuscripts 1450-1700 (Thư mục các bản thảo văn học Anh 1450-1700) đặt tại Senate House, Đại học London, cung cấp một bộ dữ liệu trực tuyến về các nguồn bản thảo của trên 200 tác giả lớn của Anh trong giai đoạn 1450-1700. Một số trang mạng truy cập tự do khác có kết hợp việc số hóa hình ảnh của tất cả các trang tài liệu - đơn cử như mạng Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp. Gallica hiện hỗ trợ công nghệ nhận dạng ký tự quang học (optical character recognition; OCR) cho việc đọc các bản thảo viết tay trong số 250.000 đầu mục ấn phẩm xuất bản sau năm 1500 mà trang này cho phép truy cập. Qua đó, máy tính có khả năng quét nhận dạng điểm ảnh (pixel) một cuốn sách và chuyển chúng thành ký tự tìm kiếm và chỉnh sửa được. Trung tâm Số hóa Munich (Münchener Digitalisierungs Zentrum; MDZ) hiện đang lưu trữ hơn 900.000 đầu tài liệu trực tuyến. Ngày càng có nhiều trang web lưu trữ thủ bản số hóa có tính tương tác ngày càng cao hiện còn bao gồm Cơ sở dữ liệu các thủ bản đã biến mất Mandragore (Mandragore, base des manuscrits enluminés) dành cho các sách thời Trung cổ, và Thư viện Parker trên mạng (Parker Library on the Web) hoàn thiện năm 2009. Dự án Thư viện số Wren (The Wren Digital Library) tiếp tục được triển khai tại Trường Trinity thuộc Đại học Cambridge, Anh. Ở những nơi khác, cũng có nhiều nỗ lực và dự án tài trợ lớn hỗ trợ sự phát triển các dự án số hóa đầy tham vọng tương tự.

Sự tương phản lớn nhất của thư mục hồi cố tại châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, không chỉ thể hiện ở lịch sử phát triển khác biệt so với châu Âu, mà chính ở tỷ lệ tồn tại thấp của các sách xuất bản từ giữa thế kỷ XIX trở về trước. Theo ước tính chi tiết nhất có được, có khoảng 277.000 đầu sách Trung Quốc trước năm 1912 hiện còn tồn tại và ở Nhật Bản là khoảng 400.000 đầu sách xuất bản trước năm 1868 (dù con số này không tính đến các văn bản Hán văn phi kinh điển ở cả hai nước). Để so sánh, Eltjo Buringh và Jan Luiten van Zanden tính toán rằng, có hơn 1,7 triệu đầu sách in khác nhau ở châu Âu trước năm 1801 hiện còn tồn tại. Sự chênh lệch này rất ấn tượng, dù cũng phải lưu ý rằng các phương pháp ước lượng vẫn có rất nhiều nhược điểm và biến số. David McKitterick và những người khác đã phê phán nặng nề cơ sở tính toán số liệu của châu Âu [16], mặt khác số lượng đầu sách tại châu Á thấp không chỉ do bị hủy hoại hay điều kiện bảo quản kém hơn, mà còn bởi sự khác biệt trong thực hành thư mục và phương pháp xếp gộp nhiều ấn bản trong cùng một đề mục thư tịch. Để so sánh, con số 400.000 đầu sách của Nhật Bản trước 1868 còn tồn tại đã bằng khoảng hai phần ba toàn bộ số bản in hiện còn trên lãnh thổ Trung Quốc - vốn rộng hơn và có lịch sử lâu đời hơn nhiều - gợi ý rằng có rất nhiều sách vở Trung Quốc đã bị mất, chưa được biên mục hoặc đơn giản là không được biên mục. Hầu hết các đầu sách Trung Quốc được xuất bản bằng một ngôn ngữ duy nhất và phát hành trên lãnh thổ rộng lớn hơn nhiều khu vực Tây Âu đa ngôn ngữ. Do đó, một đầu sách được in nhiều lần ở Trung Quốc sẽ có số bản in lớn hơn nhiều so với bất kỳ đầu sách tương ứng nào viết bằng một ngôn ngữ châu Âu.

Một lưu ý nữa liên quan đến liệt kê phái sinh. Việc phụ thuộc vào tính toán các hạng mục tiêu đề đòi hỏi sự chừng mực, như những người ủng hộ phương pháp truy vấn thư mục thống kê đã nhiều lần chứng minh, từ Daniel Mornet năm 1910 (sẽ thảo luận trong phần tiếp theo) cho đến Michael Suarez trong phần giới thiệu tổng hợp tập 5 của bộ The Cambridge History of the Book in Britain (Lịch sử Cambridge về sách tại Anh) vào 90 năm sau. Đã có những cảnh báo nghiêm khắc được đưa ra với việc áp dụng phương pháp thống kê, nhưng không phải ai cũng chú ý đến chúng. Chẳng hạn, sự mở rộng của ngành sách có thể được minh họa bởi sự gia tăng số lượng đầu sách hoặc ấn bản đơn được xuất bản, nhưng việc ước tính con số này thường đi liền với việc bỏ qua số lượng các bản in khác nhau của mỗi lần ấn hành, cũng như bỏ qua số liệu từ các loại giao dịch khác như sách nhập khẩu và sách cũ - vốn diễn ra liên tục. Nhiều biểu đồ thể hiện sự biến thiên số liệu xuất bản đầu ra, trên thực tế, chỉ dựa trên tính toán số lượng đầu sách chứ không thể hiện được khối lượng sản xuất thực - vì số lượng bản in mỗi đầu sách có thể dao động từ trên 10.000 bản (như Kinh Thánh và các sách nguyện), cho đến mức phổ biến hơn từ 500 đến 750 bản (như các sách tiểu thuyết). Bởi vậy nên, chỉ khi ta có các tài liệu cho biết số lượng bản in (sẽ thảo luận sau) thì ta mới có được các ước lượng về quy mô sản xuất ấn phẩm. Thực tế thì chỉ có một số ít đầu sách còn lưu lại số liệu trong các kiểu tài liệu như vậy. Hầu hết sổ sách ghi chép đã bị mất. Hơn nữa, kể cả khi ta có thể tạo ra một lát cắt số liệu về tất cả sách và tạp chí lưu hành trong bất kỳ năm nào, lát cắt đó cũng sẽ cho thấy một sự pha trộn giữa sách mới với sách cũ, sách nhập khẩu với sách nội địa, sách có đóng bìa hay không đóng bìa, không đầy đủ và đã bị hư hại.

Nguy hiểm không kém là việc sử dụng các bộ phận cấu thành trong STC để xây dựng các diễn ngôn lịch sử cụ thể. Dù ESTC có liệt kê thông tin của ấn bản, song các đầu mục truy cập của sách được xuất bản và in bởi những nhóm hợp doanh lớn thường không thống kê đầy đủ tất cả các nhà xuất bản cũng như nhà bán sách khác có nêu tên trong ấn bản gốc. ESTC sau khi liệt kê khoảng 5 cái tên nhà bán sách đầu tiên có liên quan, sẽ chỉ ghi thêm số lượng các đơn vị làm sách “khác” còn lại. Chẳng hạn như ấn bản niên đại 1790-1791 của cuốn The Lives of the Most Eminent English Poets (Cuộc đời của các nhà thơ Anh tiêu biểu nhất) của tác giả Samuel Johnson, sau khi ESTC nhập tên của 5 nhà sách liên kết xuất bản đầu tiên, ta chỉ nhận được thông tin kèm theo một ghi chú “và 35 đơn vị xuất bản khác”. Vào thời điểm tôi viết cuốn sách này, có gần 3.000 đầu mục trong ESTC vẫn bỏ trống tên các đơn vị xuất bản chỉ với một ghi chú giản đơn “và các đơn vị khác” như vậy. Ở đây, cách thức liệt kê của ESTC cũng bị phức tạp hóa bởi các thay đổi chế độ hiển thị, do đó những tìm kiếm không giới hạn phải mở rộng ra chế độ “danh sách” đầy đủ thì mới hiển thị tất cả các đầu mục thư mục. Thêm vào đó, việc một số danh sách tên đơn vị xuất bản, đặc biệt trong các sách trước năm 1700, còn bao gồm cả tên những người viết lời tựa sách tiếp tục làm phức tạp hóa vấn đề. Hệ quả là, tìm kiếm từ khóa để xác định tên đơn vị xuất bản cũng cho ra tên tuổi không liên quan khác, được liệt kê chỉ nhằm mục đích quảng cáo như tên đơn vị xuất bản tiền nhiệm của đơn vị mới chẳng hạn.

Bỏ qua vấn đề cần cẩn trọng khi sử dụng các bộ STC, những tiến bộ trong kỹ thuật sao chụp, quét (scan) và số hóa đã biến các bộ thư mục này thành bệ phóng để nhà nghiên cứu khai thác các nguồn tư liệu thư tịch mới, và qua hai bước, cung cấp một số lượng lớn hình ảnh trực tuyến, cơ sở dữ liệu có tính năng tìm kiếm và siêu dữ liệu (metadata). Bước đầu tiên bao gồm việc chụp ảnh, chụp vi phiếu (microfiche) sau đó là scan và tạo bản sao văn bản số hóa, mặc dù phần nhiều văn bản được scan từ ảnh chụp gốc và điều này vẫn thường được chấp nhận trong khuôn khổ hướng dẫn STC. Tác động của các nguồn tài nguyên này có thể rất lớn. Dưới sự điều phối của Hiệp hội cổ vật Hoa Kỳ (American Antiquarian Society; AAS), các ấn phẩm liệt kê trong công trình American Bibliography của Evans đã được sao chụp và số hóa trong chương trình Readex Microprint-AAS Early American Imprints. Tất cả các đầu mục thư mục của Evans giai đoạn 1640-1800, ngoại trừ phần lớn đầu mục giai đoạn 1801-1819 do Shaw-Shoemaker bổ sung về sau, hiện cũng đã được gộp trong ESTC. Dù bản thân các bản sao số hóa văn bản không thể thay thế được việc nghiên cứu bản gốc vật lý hoặc thậm chí là các ghi chép cụ thể về từng bản sao của phương pháp đối sánh thư mục tinh vi, nhưng các hình ảnh này tạo điều kiện truy cập chưa từng có và mang tính so sánh với các ấn bản hiếm, đôi khi là độc nhất vô nhị, nằm rải rác trên thế giới. Có lẽ chỉ riêng hai bộ sưu tập trực tuyến phái sinh quan trọng nhất là Sưu tập sách Anh ngữ cổ trực tuyến (Early English Books Online; EEBO) và Bộ sưu tập thế kỷ XVIII trực tuyến (Eighteenth Century Collections Online; ECCO) đã có thể thay thế hàng trăm cuộn vi phim.

Scan số hóa cũng bao gồm cả công nghệ OCR - một công cụ tiên tiến và thường khó xử lý hiệu quả. Dựa vào công nghệ này, tính năng tìm kiếm đã xuất hiện trong ECCO. EEBO, dù đang tiến hành nhiều thử nghiệm công nghệ “đọc” ảnh gốc, vẫn chưa có tính năng này. Công nghệ tìm kiếm cũng đối mặt với một số trở ngại như việc nhầm lẫn khi nhận dạng chữ “f” thấp và chữ “s” dài*, hay vấn đề trong việc xác định đúng chữ in bị hỏng nét, bị lem mực hay mắc các lỗi khác. Dù vậy, tính năng tìm kiếm các từ và cụm từ khóa hiện đại như ECCO lại hỗ trợ tốt cho việc khai thác văn bản (text-mining) và nghiên cứu cách thức sử dụng ngôn ngữ, đơn cử như nghiên cứu của Peter de Bolla về lịch sử định nghĩa khái niệm “nhân quyền” trong thế kỷ XVIII. Mặt khác, phương pháp triển khai thống kê lại chứa đựng nhiều hạn chế như của Franco Moretti về vô số hướng hành trình của tiểu thuyết châu Âu*, hợp nhất dưới khái niệm ông gọi là “đọc từ xa” (distant reading), hoàn toàn thuộc về trường phái nghiên cứu nhân văn số thức cấp tiến. Phương pháp này thúc đẩy trắc lượng thư mục tiến gần hơn tới phê bình tính toán (computational criticism) - trong đó sử dụng truy vấn bằng máy tính với hàng nghìn văn bản để phát hiện ra các hình mẫu và cấu trúc văn học ngầm ẩn trong nền văn học thế giới. Bởi vậy nó cũng rất dễ bị phê phán bởi phê bình phương pháp luận.

Các bộ lọc văn bản được hỗ trợ bằng công nghệ số khác còn có thể theo dõi từng bộ sưu tập sách đơn có quy mô lớn hoặc so sánh các yếu tố cụ thể trong các bộ sưu tập như bản mộc, tờ ballad hoặc thể loại văn học. Việc này đặt ra vấn đề về quyền truy cập, chi phí đăng ký, tính bảo mật và minh bạch, nhưng các câu hỏi lớn hơn vẫn xoay quanh vấn đề phương pháp và việc làm sao để tránh đặt quá nhiều kỳ vọng vào nhầm chỗ. Trong số hàng loạt dự án hợp tác quy mô rộng lớn hơn, Thư viện số HathiTrust đang phát triển các cơ sở nghiên cứu để “tạo điều kiện truy cập tính toán hiện đại tới nguồn tư liệu tri thức nhân loại kỹ thuật số đang ngày càng mở rộng”. Cùng lúc đó, Google Books đã scan khoảng 30 triệu cuốn sách với nhiều mức độ tiếp cận khác nhau tùy điều kiện bản quyền, thương mại và các vấn đề khác, trong khi với hướng phát triển siêu dữ liệu phái sinh chúng ta có thể kể đến công cụ tìm kiếm Ngram do Google phát triển từ năm 2010, cho phép truy vấn các văn bản số hóa xuất bản từ năm 1800, được lưu trữ tại hơn mười thư viện đại học khác nhau. Tìm kiếm các từ hoặc các cụm từ khóa sẽ “cho ra kết quả là mức độ phổ biến của chúng trong hàng triệu cuốn sách, và 450 triệu từ bỗng nhiên có thể được truy cập chỉ bằng vài lần nhấp chuột” [17]. Kết quả có được thường có tính “giải trí” hơn là nghiên cứu lịch sử sách nghiêm túc, nhưng các kết quả này cũng có thể mang tính chất gợi mở.

Các giới hạn nghiêm túc hơn mang tính ngôn ngữ, hình thái và địa lý. Hầu như không bộ dữ liệu nào tại châu Á có thể so sánh với ECCO - tương tự là ở Trung và Nam Mỹ, châu Phi, Trung và Đông Âu. Với các công cụ tìm kiếm và thư mục bắt đầu mở rộng ra ngoài phạm vi châu Âu, những dự án hợp tác quốc tế về thư viện số có thể kể đến như dự án hợp tác Pháp-Nhật và Pháp-Trung, hay Dự án Đôn Hoàng Quốc tế (International Dunhuang Project; IDP) tập hợp nhiều nguồn tư liệu từ các bản viết tay, tranh vẽ, hiện vật vải dệt và các tạo tác mỹ thuật từ Đôn Hoàng và các địa điểm khảo cổ khác dọc Con đường Tơ lụa qua Trung Á. Dự án Thư viện số thế giới (World Digital Library) được UNESCO cho ra mắt vào năm 2007 cùng cổng thông tin di sản số Europeana cung cấp khả năng truy cập vào hơn 53 triệu đầu mục sao ảnh kỹ thuật số (một phần hoặc toàn bộ) của 3.300 thư viện, kho lưu trữ, bảo tàng và bộ sưu tập nghe nhìn (cho đến hiện tại). Các nhà sử học về sách in trước thế kỷ XIX thực tế nhận được nhiều quan tâm hơn các nhà nghiên cứu sách in thế kỷ và XIX và XX. Lý do vì số lượng ấn phẩm tương đối ít của các giai đoạn trước khiến chúng dễ sắp xếp hơn vào các bộ STC, cũng như xử lý sao chụp và số hóa dễ hơn (với điều kiện ta tạm bỏ qua vấn đề phương pháp). Sự mất cân bằng nghiêm trọng về điều kiện nghiên cứu giữa các giai đoạn như trên xuất hiện bởi sự sai lầm trong cách chọn mốc phân kỳ lịch sử: chẳng hạn mốc 1640 tại Anh, hoặc thậm chí là mốc 1700 và 1801. Cũng cần phải khẳng định lại rằng, nhận thức thông qua STC về tình hình xuất bản sách và việc truy vấn các văn bản sao chụp, số hóa và có thể tìm kiếm, thực ra liên hệ đến nền sản xuất mới, chứ không phải là lịch sử của các sách đang lưu hành hay có thể tham vấn được bất cứ lúc nào. Không những hầu hết các thư mục này đều không thể cho biết mức độ phổ biến của mỗi đầu sách từ số lượng bản in đến phản ứng của độc giả, mà về bản chất, nó còn ưu tiên các ấn phẩm mới vượt lên trên các ấn phẩm khác cũng từng được lưu hành trong quá khứ (có thể suy luận được nếu không định lượng được qua các nguồn khác).

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang